Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Mai Thảo

Post by Sơn râu 7 May 2024

11. Cửa Sau

12 giờ đêm

Chàng yêu nhất là cái hình bóng lay động thấp thoáng của những chùm lá, dấu vết duy nhất còn lại của đời sống trên một vùng bao la mênh mông nín thinh, khi con đường khuất nẻo sau chợ Phú-nhuận đó, lúc chàng trở về, chỉ còn là một mặt nhựa khép kín nằm với đêm giữa hai dẫy nhà thấp đã tắt ngấm đèn lửa và đóng chặt mọi cánh cửa. Đêm. Đêm trong vắt, đêm lững lờ, đêm như một con mắt đăm đăm sát gần và phóng lớn đến vô tận, đêm của thứ đêm riêng, đêm của riêng chàng, vừa bắt đầu, lúc này, lúc này chàng đã trở về. Chiếc taxi đậu lại cách nhà chàng một quãng xa, đèn pha lóe lên, vệt ánh sáng xoay tròn về một hướng đối nghịch chàng đứng lặng nhìn chiếc xe trở đầu và mất hút. Trí nhớ, tan loảng, nhận chìm theo nó mớ ghi nhận chập chờn đeo bám hững hờ vào thần trí lãng đãng suốt dọc đường trở về, ngồi thu mình trong một góc xe và ném một cái nhìn gần như e sợ bàng hoàng ra cảnh vật chung quanh. Đêm chỉ còn chàng với nó, thành phố buông màn không còn gì đáng thấy, chàng bàng hoàng e sợ là vì thế, suốt một ngày chàng nhòa vào đám đông, lẫn vào tiếng động, chàng không có, nhưng đêm tới, và bóng hình chàng hiện lên và đêm là một tấm gương, nó dồn đuổi chàng suốt một ngày chạy trốn ở những vùng ngoài nó tới trước nó, và như thế, không bao giờ lẩn tránh được. Trí nhớ nhòe. Người tài xế nào ? Mỗi đêm một người tài xế khác. Chiếc xe nào? Mỗi đêm một số xe một đời xe khác. Cái gáy y sần sùi, những ngón tay y đặt trên vành bánh, một khuôn mặt mơ hồ và trông nghiêng, lũ cây cối lũ lượt lùi ngược, lối vào một nghĩa trang im lìm với những hàng thập tự mờ sương sau cánh cổng sắt, rồi con đường nhỏ lại, sự thu hẹp bất chợt của hai bờ án ngữ tầm mắt đánh thức chàng khỏi sự mơ màng bất động, chàng đã về gần đến nhà, và một đêm mới, một đêm riêng đã bắt đầu, và chàng chỉ còn nhớ được có thể, trước sự nhớ ra mới, nhớ ra chàng đã lại đứng trước hình bóng lay động của những chùm lá nơi đầu con ngõ tối đen. Đứng sững. Rồi đôi chân khởi sự bước. Qua một đống rác, dưới những chùm lá. Khoảng khắc, chàng không thấy mình đâu nữa. Cái ngõ tối thẳm hút lấy chàng như một cửa hầm. Nghe thấy tiếng giầy dội lên trong một âm thanh kỳ lạ. Ngửi thoáng thấy trong không khí, hương của một loài hoa đêm. Tôi đã đi hết con ngõ như một vô định mù lòa. Đến cuối ngõ là vùng ánh sáng cuối cùng và đôi chân tôi dừng bước lại, Tôi đã trở về. Với căn nhà của tôi, cái thế giới ấy của bắt đầu một đêm riêng tôi đối diện hoàn toàn với nó.

Tiếng khóa. Tách. Cánh cửa hé mở. Chàng đã lọt vào bên trong, và đêm trong nhà cũng sáng lên bằng một thử ánh sáng riêng. Ngọn đèn treo lưng chừng và chính giữa căn phòng khách. Chàng ném mình xuống chiếc ghế bành ôm ấp lấy thân xác mỏi mệt hai chân duỗi dài, đầu ngả vào thành ghế, và trong căn nhà này, trên cái ghế bành này, dưới làn ánh sáng lạnh lẽo, chàng dần dần tìm lại được chàng. Trí nhớ sắp xếp lại từ một tia hồng của mặt trời rạng xuống bên kia đường sau một gờ mái cao. Như thường lệ, chàng ra khỏi nhà đã muộn. Gió đã mát từ ngoài đầu ngõ, nhưng chàng đã bỏ lại căn nhà nóng bỏng như một lò lửa. Dừng lại trước một sạp báo đầu phố, chàng ném tiền mua mấy tờ nhật báo cuộn tròn lại, và bước lên một chiếc cyclo. Người phu xe quen, y biết chàng ngày nào cũng ra đi vào giờ này, chàng đến đâu y cũng biết trước. Thành phố nhạt nắng. Bánh xe trườn lăn nhẹ nhàng đưa chàng qua những con đường nhộn nhịp, những ngã tư xe cộ nghẹn ứ, chàng ngồi ngả người để mặc cho chiếc xe hàng ngày đón đưa quen thuộc chở chàng đến nơi chiều nào chàng cũng tới đó.

Đó là một tiệm ăn. Một tiệm ăn nằm dưới chân một cây cầu xi-măng vắt qua dòng sông ở khúc ôm vòng lấy thành phố như một cánh tay âu yếm. Từ ngày hai người gặp nhau, chàng đã chọn nơi chốn nhất định này để chờ đợi nàng. Bàn chàng ngồi kê gần một khung cửa sổ có những chùm hoa đỏ chói rủ xuống, những chùm hoa thật mùa hè, nổi bật lên nền xanh thẳm bao la của trời chiều, mỗi cánh hoa, có một vẻ đẹp bất tử không yên tâm do nơi buông rủ rớt đọng lưng chừng của hoa, và qua những cánh đỏ như từng điểm tựa cho tầm mắt, chàng thu được vào cái nhìn toàn vẹn cái hiện tượng phơi phới rực rỡ là dòng sông trước mặt chảy qua. Những buổi chiều yên tĩnh hơn những buổi chiều khác, gió từ bãi thấp vượt qua những chân cầu và con đường thoai thoải đổ dốc phả đến tai chàng nhịp điệu luân lưu rì rào của nước suôi dòng, âm thanh vấn vương ôm ấp triền miên không dức của nước gờn gợn sóng sánh vào bờ cỏ chàng không nhìn thấy được từ chỗ này. Thời gian đợi chờ, như nước của dòng sông trước mặt, trôi chảy êm đềm, hoà hợp với sự đợi chờ của chàng thư thái và bình yên. Nàng có thể đến chậm. Dăm, mười phút. Nhưng chưa lần nào nàng không tới. Nàng bảo chàng tình yêu là không lỗi hẹn bao giờ, lời này, nàng nói, bằng một giọng thật nghiêm trọng, chàng nghe, mỉm cười và nín thinh. Cuộn tròn mấy tờ báo trong tay, chàng lững thững đi vào tiệm ăn vắng người, và phải mất công một chút trong sắp đặt thế ngồi làm sao cho nàng có thể nhìn thấy chàng từ xa, khi nàng từ phía bên kia bờ sông đi sang. Tà ào bay múa trong gió chiều, nàng đến. Cái bóng dáng thanh thoát trên cây cầu cao cắt vạch lên nền trời, nàng tới. Những chùm hoa đỏ mầu đỏ chói chang của mùa… hè, chỗ ngồi gần cửa sổ, trước cái khăn trải bàn trắng phau tinh khiết không một vết bẫn, bãi cỏ xanh nõn thoai thoái đổ xuổng một dòng sông với những sóng nắng trùng trùng gợn gợn, nụ cười sung sướng của nàng khi hai người thấy nhau, tiếng chân nàng bước êm ở sau lưng khi một cánh cửa vừa mở ra và đóng lại ; cảm giác ấm áp tỏa ra khắp cùng thân thể, khi từ phía sau, bàn tay nàng đặt nhẹ trên vai, đó là buổi chiều của chàng, hạnh phúc duy nhất của chàng, với riêng nó, chàng được sống và không suy nghỉ. Chàng thường theo dõi từng bước một, khi nàng từ bên kia cây cầu hiện ra và đi sang. Lúc nàng kéo ghế ngồi xuống trước mặt chàng, chàng cũng ít nói như lúc nàng chưa tới, như lúc nàng lớn dần, rõ dần, đẹp dần và thực dần trước tầm mắt trên cây cầu chàng nhìn từ dưới thấp nhìn lên. Cảnh trí tiểu thuyết. Không khí hoang đường, thơm tho, ngọt ngào và im lặng lớn. Phải thế là tình yêu ? Cái đang có và đang mất, đang tới và đang qua, một buổi trưa dịu dịu trong ca dao, niềm rưng rưng của một giọt nắng vàng, nỗi hắt hiu của một màn mưa thoáng ? Suốt một đời người, như mọi ngưòi, chàng đi tìm kiếm tình yêu, như đi tìm mầu đen thăm thẳm kỳ lạ của một đài hoa khép kín, lối đi nhỏ chưa khám phá ẩn chìm dưới cỏ hoang ngút ngàn một cánh rừng vĩ đại, điểm lân tinh sáng muôn đời nơi rốn biển mịt mùng, sự rung động không phải chỉ nơi cửa trái tim, mà phía bên trong kia của cánh cửa đóng kín, căn phòng thơm hương của một thạch động ngoài đời và bí mật. Riêng tây, không phân giải được, nhịp vờn đẩy dịu dàng, sự lãng quên thần thánh, một búp ngà muốt trên làn mi rủ xuống, ngồi với nhau không nói, gần gũi đây nhưng một đời xa vắng, đó là tình yêu, trạng thái trong vắt và khoan thai của sự chết trong huy hoàng rực rỡ tỏa lan bao trùm và chiếm ngự dần dần. Chàng yêu như thế, sự rớt đọng lưng chừng đầy hoài nghi của chùm hoa đỏ treo hẫng trước khung cưa có dòng sông vàng nắng chảy qua, một chiều nào và câu trả lời là buổi chiều nay, một nơi chốn nao và câu trả lời là chỗ này, khăn bàn trắng muốt, không khí động hờ chạm nhẹ vào làn khói thuốc như một tơ chỉ thẳng vút, chùm hoa đỏ này và khung cửa sổ này, nơi chàng vượt hết một phần thành phố tới đây, ngồi đợi chờ nàng hiển hiện trên cây cầu và từ từ đi tới. Chỗ này. Chỗ này. Và không thể ở một nơi chốn nào khác. Chiều nào, chàng cũng muốn giữ nàng ở lại đây với chàng thật lâu, mãi mãi, cùng nhìn buổi chiều xuống trên bãi cỏ thẫm mầu đẩy dòng sông xa và sâu hơn, cho tới khi những vì sao thứ nhất mọc lên, cho tới khi những hình thù gắn gũi cũng nhạt nhòa cùng bóng tối, cho đến khi chung quanh đá trở nên hoàn toàn xa lạ, khi đó chàng tận hưởng một im lặng kỳ diệu khác thường, và giọt sương hoa kia cũng đọng dần, đọng dần thành một giọt lệ hân hoan.

Nhưng mà cuối cùng rồi hai người vẫn phải đứng lên. Và nàng đã tới nhà chàng nhiều lần, nàng đã ăn ở với chàng bao nhiêu lâu, chàng đã là một đường quen một nẻo thuộc với nàng, nàng với chàng cũng vậy, và nàng không muốn, kéo dài mãi những buổi chiều mơ mộng và lãng quên như thế. Chúng ta phải trở về. Tình yêu phải khác đi. Nó phải là một đưa tới. Anh ngồi với em đây, nhưng tình yêu theo nàng còn phải là đêm nay và buổi sáng ngày mai.

một giờ sáng

Đã một tiếng đồng hồ trôi qua. Rời khỏi cái ghế bành, nơi đêm nào lọt vào tới trong nhà, chàng cũng đến ngồi ở đó một lát, nghe đêm yên tĩnh ở chung quanh và để cho trí nhớ nhạt nhòe sáng rõ trở lại, chàng đứng lên, đi từ buồng khách vào phần trong của căn nhà. Ngăn chia bởi một bức tường phần trong này so với căn phòng khách bỏ lại ở ngoài là một thế giới khác, bé nhỏ, tầm thường và thân mật hơn. Chàng cởi quần áo, vắt trên một thành ghế, chống tay đứng nhìn quanh quất. Đêm mênh mông và đêm đang đi qua. Chàng châm một điếu thuốc hút một hơi thật dài, dụi tàn thuốc nơi cái gạt tàn đặt trên cái bàn gỗ cũ, đã long một chân, nơi mỗi buổi sáng nàng vẫn đứng chải đầu khi chàng còn ngủ thiếp, nàng dậy thật sớm, nàng mở cửa sau và nàng bỏ về lúc nào chàng thường không hay, khi chàng trở dậy, cánh cửa sau mở ngỏ và căn nhà trống không buồn bã. Lúc này, chỉ có mình chàng với căn nhà, và chàng đứng đó, tần ngần, ngó nhìn quanh quất. Thảy đều cũ kỹ. Chàng yêu lắm, sự cũ kỹ đó. Cái bàn cũ, tỳ tay xuống, thân rung lên. Mấy cái mắc áo treo trên một hàng dây thép, dưới cái ống máng kẽm chạy dài mà những ngày mưa lớn, nước sối qua những kẽ thủng ào ào khiến cho nền nhà cũng lênh láng ướt sũng như khoảng sân nhỏ là cái diện tích lộ thiên duy nhất và tận cùng ở phía sau. Nàng vẫn đứng chải đầu ở đây, ngó ngó nghiêng nghiêng trước tấm gương hình chữ nhật, bàn tay nàng lùa đẩy mái tóc óng ả, cử chỉ đó thật đẹp, thật đàn bà là của riêng nàng, và chàng quay lại, nhìn chàng, khuôn mặt chàng phản chiếu gương. Soi gương, lúc một hai giờ sáng, sau một cơn say và một buổi tối choáng váng trở về, cái nhìn thấy về mình lạ lắm, chàng mở lớn đôi mắt và tự nhủ thầm. Sống mũi, đôi mắt, vầng trán, của ai đây? Ta. Nhìn thêm : sự khẳng định đã trở thành một hoài nghi chớm nhú. Không phải, chàng lại nhủ thầm mặt chàng lạnh lùng rửng rưng không một thoáng gợn lặn chìm của cảm giác, chàng đưa bàn tay lên bịt kín lấy khuôn mặt đàn ông nào đó trong gương, và cúi đầu đi qua một khung cửa thấp, ra khoảng sân sau. Nước lạnh làm chàng tĩnh táo. Chàng nhận chìm thật lâu khuôn mặt chàng trong làn nước mát, nhắm nghiền mắt lại mà nghe thầm cái âm thanh luân lưu dạt dào, nhịp vỗ đầy mơ hồ không dứt đó của một dòng sông. Khi ngửng đầu lên vòi nước chảy lướt thướt trên người, tự bao giờ, những vì sao đêm đang trầm ngâm ngó xuống. Người đàn ông đứng bất động thật lâu, hai cánh tay duỗi thẳng theo thân, và đêm, đêm mênh mông, đêm lặng lẽ nhìn người. Tôi yêu những cái lủi thủi, những cái hắt hiu, những cái nhỏ mọn, những cái chẳng ra sao, những cái chẳng thành hình. Đêm. Đêm. Chàng thở dài thật nhẹ và trở vào nhà tắt đèn đi.

ba giờ sáng

Nàng đến. Nàng đến và kim đồng hồ trên tay chỉ đúng ba giờ sáng. Như thế này là nàng đi muộn hơn mọi đêm về trước, những đêm trước nàng tới sớm hơn, đôi khi nàng phải ngồi ngoài phòng khách đọc sách, hoặc để đèn sáng trong buồng ngủ, đợi chàng trở về. Đến muộn thế này cũng phải, đêm cuối cùng mà, nàng tự nhủ thầm khi chiếc xe thả nàng xuống sát ngay đầu ngõ. Nàng rảo bước thật nhanh qua con ngõ tối đen, nhưng khác với chàng, đi hết con ngõ, nàng không đứng lại trước cửa vào phía trước, mà men theo hông tường tay mặt, đi vòng về lối cửa sau. Nàng là người duy nhất vào nhà chàng bằng lối cửa sau này. Cửa khóa ở ngoài. Chàng giao chìa khóa cho nàng giữ. Như thế tiện hơn, nàng có thể đến lặng lẽ và tự nhiên, lúc nào cũng được, ngay cả những lúc chàng đi vắng, ban đêm nàng lại không làm phiền bận chàng nếu như chàng phải mở cửa cho nàng vào từ phía trước, vào bằng cửa sau như thế này hàng xóm chung quanh không hay biết, và sự đi về thăm lén như tạo được một cái gì nồng nàn và đằm thắm hơn nữa cho tình yêu. Nàng vẫn mặc cái ắo dài buổi chiều khi nàng đi qua cầu đến gặp chàng ở tiệm ăn bên bờ sông. Nàng vẫn còn buồn bã và tức giận vì những lời nói gay gắt quyết liệt hồi chiều vẫn còn vang vang trong đầu óc, và bởi vậy mà nàng đã trở lại, lúc này thì kim đồng hồ trên tay nàng đã chỉ đúng ba giờ sáng. Đèn ngoài phòng khách buồng ngủ đã tắt, nhưng cánh cửa mở ra sân sao vẫn mở và đèn vẫn sáng trong căn nhà bếp. Cái áo, cái quần của chàng vắt trên thành ghế kia. Chàng về từ lúc nào. Nàng xô ghế đứng lên, trong giây phút mất hẳn bình tĩnh, nàng đã lỡ tay hất đổ ly nước vỡ tan trên nền đá hoa, chàng ngồi lại, nín thinh trên ghế nhưng sau phút nàng bỏ đi rồi chàng đi đâu, làm gì cho hết buổi tối, chàng về nhà với ai hay chàng về nhà một mình ? Phải tìm được ngay, tức khắc, trả lời cho câu hỏi này. Theo một thói quen rất đàn bà, trong bất cứ một trường hợp nào cũng không bỏ được, nàng bước mấy bước và đứng lại nhìn nàng trong tấm gương. Khuôn mặt này của tôi là một khuôn mặt đau đớn, tròng mắt trong gương kia là một vùng yêu mê chân thành, và cái ý nghĩ đang hiện hình kia là ý nghĩ về một tan vỡ chừng như thế nào rồi cũng phải xẩy đến và nó đã xẩy đến đêm nay. Thật không ngờ. Sự tan vỡ dễ dàng và mau chóng thế ư? Nàng chỉ đòi hỏi chàng điều mà người đàn bà nào cũng đòi hỏi ở người yêu sau một cuộc tình đằm thắm đã kéo dài và không thể ở yên trong tình trạng cũ. Chàng muốn gì ? Nàng phải hỏi, phải bắt chàng trả lời. Ít nhất cũng một lần, Rời chỗ đứng của nàng trước tấm gương, nàng mạnh bạo đi lại phía buồng ngủ, mở mạnh cánh cửa và bật đèn.

Nàng định nói thật lớn, Nhưng nàng không nói được nữa và nàng nhìn. Chàng đang ngủ thật say. Nàng đến và chàng không hay biết gì hết. Trên mặt đệm phẳng phiu chàng nằm nghiêng, quay mặt vào tường, một cánh tay hơi co lên bàn tay hững hờ trong Không khí; chàng ngủ, bằn bặt, đoán thấy nét mặt phẳng lặng khép kín, nhịp thở liên tục đều hòa. Lần đầu tiên, nàng ngó thấy chàng ngủ, như thế này, một mình dưới ánh đèn, trong khi nàng đứng đó, cái bóng in nghiêng lên một vì tường và cũng là lần đầu tiên, nàng bàng hoàng vì thấy chàng xa lạ, chàng xa lạ quá chừng, chàng hoàn toàn xa lạ, như nàng mới thấy chàng lần đầu và không hay biết gì về chàng hết. Không, chàng không thuộc về nàng. Chàng bao giờ như thế hết. Hơi thở đều hòa kia, những sợi tóc bò lan trên gáy, cánh tay và thân thể và da thịt kia không bao giờ thuộc về nàng. Hiện hữu chói chang và bất động với ánh đèn ấy dội đập vào nhân thức thảng thốt của nàng sự cắch biệt và riêng tây một đời của nó. Một đời. Đời nàng và đời chàng nàng hằng nghĩ tới bằng nước mắt, bằng tiếng cười, bằng ái ân hoan lạc nồng nàn, bằng những xâu chuỗi mơ mộng triền miên đắm đuối như một hòa nhập lý tưởng và tận cùng không chống cưỡng được của định mệnh, hòa nhập đó chỉ là hư ngụy và ảo tưởng, nàng và chàng chỉ là hai bờ lưng tiếp giáp, gần gụi đó nhưng sự kế liền đã mang hình ảnh và ý nghĩa của muôn trùng và nghìn dặm cách chia nhau ? Thế còn kỷ niệm, kỷ niệm của những đêm nàng tới đây, tâm hồn thơm hương, của những buổi chiều qua cầu gió bay tà áo, chàng ngồi đó đợi chờ nàng dưới chùm hoa đỏ như những trái tim bé nhỏ thắm thiết của mùa hè, dòng sông rực rỡ vắng, bãi cỏ vàng dáng chiều, tâm hồn nàng dào dạt hân hoan, và chàng cũng vậy chứ, bao nhiêu kỷ niệm, làm sao cho hết, bao nhiêu sợi dây hồng quấn quýt, cái bước hoa hương đó của kỷ niệm ràng buộc lớp lớp từng từng đã đứt tung từng mắt hay sao ? Nàng gặp chàng lần thứ nhất trên một chuyến xe đò từ miền Tây về Sài-gòn. Buổi chiều vàng bụi. Phấn nắng lung linh, lúa đồng dào dạt. Chàng nhìn sang nàng và chàng mỉm cười. Hạnh phúc hé cánh từ một hoài nghi kỳ thú. Tình yêu nổi lên như một dòng sông xanh trên từng bờ kỷ niệm có dần, và nàng với chàng cùng nổi chìm giữa một dòng lướt thướt. Kỷ niệm. Những đêm nàng tới đây, hương của loài hoa đêm đón bước chân nàng nơi mở vào con ngõ tối đen, chiếc chìa khóa chàng giao cho nàng như một bằng chứng của ưng thuận tận cùng, ưng thuận cho nàng được làm chủ, được chia sẻ, được có mặt, nàng mở cánh cửa sau nhà, nàng bước vào trong nhà, ra sân sau rửa mặt dưới vòm trời sao, trở vào thay quần áo. Và một lát sau, nàng đã vén nhẹ cái mùng, mặt đệm đón đỡ lấy thân thể nàng nóng dẫy ngã xuống. Chàng cựa mình tỉnh thức, chàng hơi còn buồn ngủ một chút, em đấy ư, bàn tay chàng tìm kiếm và bắt gặp nàng mau chóng trong bóng tối dầy đặc hoa mắt. Nàng trả lời bằng lăn áp vào chàng, tiếng cười của hai người trong thân mật kế liền trộn lẫn rồi là giấc ngủ mệt mỏi thần tiên lúc tảng sáng. Đôi khi nàng thiếp đi trong thoáng nghe thấy như một xôn xao mơ một tiếng thùng quẫy nước tiếng chân người lạt sạt trong tinh sương khô khan ngoài hẻm nhỏ sát hông tường nhà là nơi nàng đến với chàng trong đêm. Đã tỏ đường đi. Đã thuộc lối về. Đã vào đời nhau. Đã những chiều tình nhân, đã những đêm vợ chồng. Nàng còn nhớ được mãi cái cảm giác thư thái ấy của những buổi sáng nàng thức giấc và ra khỏi giường trước, nàng di động thoải mái trong căn nhà còn đằm chìm trong yên tĩnh, từ buồng trong ra buồng ngoài, từ buồng ngoài ra sân sau. Buổi sáng trải rộng. Nàng dư thừa thì giờ. Nàng đứng chải đầu thật lâu trước tấm gương, nhìn ngắm và yêu mến, hơi thẹn thùng một chút, nhưng sung sướng biết chừng nào, những dấu nếp mỏi mệt còn lẳng đọng nơi khóe mắt là dấu tích của trận tình dữ dội đêm qua. Cảm giác sung sướng kéo dài thênh thanh khi nàng mặc áo, mở cửa buồng ngó vào để thấy chàng vẫn bẳn bặt ngủ say, sau đó, nàng khép cánh cửa sau lại, đi ra với những lòng đường bên ngoài đã chan hòa ánh nắng. Những buồi sáng ở nhà chàng về, nàng muốn hót như chim, muốn xanh như trời, trong nàng con suối nhỏ của tình yêu róc rách thủy tinh, nàng vừa đàn bà biết bao nhiêu và cũng biết bao nhiêu ở nàng là sự trẻ trung dậy thì thiếu nữ. Trên hè phố nàng tiến những bước hồng. Dưới bóng cây, nàng đi từng điệu biếc. Nàng nhìn đám người đi đường, nàng muốn nói lớn với họ là tình yêu của nàng và của chàng tràn đầy hơn hết thảy mọi cuộc sống của mọi người cộng lại, và chiều nay tình yêu lại gặp nhau, và đêm nay, nàng lại đến.

Tại sao nàng đòi chàng thay đổi? Tại sao nàng đòi chàng đi hơn một bước nữa, tại sao nàng muốn thực hiện một chiếm hữu hoàn toàn? Chàng trả lời một câu gì đó, mơ hồ không đúng với mộng ước của nàng. Thế là nàng đã tức giận, đã đi ra. Bây giờ, nàng trở lại đây lặng người trong ngắm nhìn trần trần chàng nằm đó, dưới ánh đèn, và bao nhiêu chi tiết chứa giấu của một sự thực chứa giấu nhất loạt và thình lình ngoi bồng lên bề mặt. Không, bây giờ, chỉ bây giờ, chỉ giây phút này, trong đêm khuya, trong ánh sáng, trong chàng đang ngủ và trước nàng đứng đó, nàng mới nhận thức được, bàng hoàng vì thấu triệt là chàng chưa từng một phút thuộc về nàng. Lúc chàng ngồi chung một ghế với nàng trên chuyến xe đò từ miền Tây về Sài-gòn của lần gặp gỡ thứ nhất, buổi đi chơi với nhau ở vùng ngoại ô bên kia

bờ sông của lần hò hẹn đầu tiên, những buổi chiều ngồi đối diện nhau trước cánh cửa sổ tiệm ăn chân cầu có những chùm hoa đỏ chói, trên mặt đêm, trong tay nhau, không một lúc nào, ở đâu, cảnh trí và trường hợp nào, chàng hoàn toàn thuộc về nàng. Mọi ý tưởng trái ngược lại chỉ là nhầm lẫn. Không ai thuộc về ai bao giờ. Không một cuộc đời nào là vĩnh viễn của một cuộc đời nào. Không. Không. Bây giờ nàng mới thấy, và sự mới thấy này, tuy mới chỉ là một thoáng sợ, một linh cảm, chưa phá đổ tan tành một thế giới. Nước mắt nàng chảy ra, ướt đẫm hai gò má. Nàng khóc không tiếng, nức nở. Rồi cuối cùng chỉ còn là một mớ kỷ niệm tàn héo. Và chỉ còn kỷ niệm là không còn gì nữa. Nàng muốn nói, vừa nói vừa khóc: đáng ân hận cho anh, cho em biết chừng nào. Ân hận. Phải, nàng đã, nàng đang ân hận rồi đó. Nàng biết hết thảy mọi cố gắng tuyệt vọng chỉ là vô ích. Con mắt chàng đôi khi nàng bắt gặp bất thần nhìn về một hướng khác, những khoảng khắc im lặng bất thường khiến cho nàng lo âu và xao xuyến không đâu, mỗi lần nàng ra về trong đêm khuya hay trong buổi sáng, chàng không một lần nào đưa tiển nàng ra đầu ngõ, những lần gặp nhau ở tiệm ăn, khi nàng đứng lên, sự đứng lên của nàng đã là một chia tay, phút này nàng mới nhớ lại được hết thảy những chi tiết bé nhỏ đó, nàng quay đảo điên cũng trong cơn lốc choáng váng của tình yêu, nàng mù loà không nhìn thấy, đến phút này mới đồng loạt hiện hình. Điều làm nàng đau đớn nhất không phải là nàng sẽ không bao giờ trở lại nơi này nữa, mà là sau tan vỡ là vĩnh biệt, cũng sẽ không có một chuyện gì ghê gớm và khốc liệt xảy ra đâu. Nàng sẽ trở về đời sống trước đó của nàng, hay nàng sẽ thay đổi. Chàng cũng vậy, nhưng không ai chết. Những người tình nhân sẽ gặp nhau ít lâu sau, trên thành phố này hay ngoài thành phố này hay một thành phố khác, trên một chuyến xe đò hay trong một tiệm ăn, sẽ cùng bất ngờ một chút, nhưng sẽ lấy lại được bình tĩnh và nụ cười, hỏi thầm nhau một vài câu, chào, rồi đi sang hè phố bên kia. Và chuyện cũ chỉ còn là nhánh hoa mùa hè đỏ chói ấy buông rủ bất động trên một thành cửa sổ nào. Nàng vẫn nhớ chứ. Mỗi lần nhớ có thể vẫn là một lần nhỏ lệ. Chàng cũng vậy. Dấu vết vẫn còn như kỷ niệm không bao giờ vẹn toàn và vĩnh viễn thuộc về nhau.

Nàng nhìn chàng ngủ say một lần nữa, rồi tắt đèn. Căn nhà tối thẳm. Bóng nàng đi ra lẫn vào đêm tối.

năm giờ sáng

Thân thể chàng thoạt đầu chỉ cảm thấy mong manh và chập chờn như một bức tường khói mỏng, tiếng động ngu ngơ thứ nhất đầu ngày chạm tới và đi suốt qua, không ngăn giữ lại. Tiếng động đó phảng phất như tiếng thở dài tàn phai của một vì sao nào vừa rụng xuống ở một cuối trời nào. Rồi chàng tỉnh thức dần dần, và nghe thấy rõ hơn nhiều tiếng động khác kế tiếp nổi lên, bên ngoài cánh cửa sau, trên con đường men theo hông nhà đoán thấy còn nhờ nhờ bóng tối. Bà lão già người Nam vẫn sáng sáng quẩy nước cho chàng đã từ ngoài máy trở về. Tiếng chân người trong ban mai chìm chìm, cùng với tiếng nước sóng sánh trong đôi thùng va chạm lanh canh. Đôi thùng và bước chân ngừng lại bên ngoài, ngay chính giữa cánh cửa sau mở rộng. Trong im lặng bất chợt, tiếng bà lão già, giọng đầy ngạc nhiên, nói với người chồng đã thức từ bao giờ trong căn nhà nhỏ sát đó:

– Ủa! Cửa sau nhà thầy Hai mở kìa.

– Thật hả? Giọng người chồng, khàn khàn.

– Mở mà!

– Vậy chắc là cô ấy đến hồi đêm và không đóng lại.

Bà lão hỏi:

– Cô ta đến hồi đêm sao?

– Đến hồi đêm. Đến thường mà, bà không biết sao?

Chàng trở dậy, đi ra cùng một lúc với bà lão già quẫy đôi thùng bước vào. Chàng bật đèn. Chàng đứng trước tấm gương, và trong khi tiếng nước đổ ào ào vào chum ở sân sau, chàng nhìn thấy trên cái kệ thủy tinh gắn trước tấm gương, cái lược, ở đó còn vướng lại một sợi tóc dài, sợi tóc dài của nàng đã đến và bỏ lại. Đổ nước xong, bà lão quẩy thùng đi trở ra. Liếc nhìn vào buồng ngủ của chàng, bà lão đứng ngẩn người. Một lát rồi bà lão hỏi nhỏ:

– Chứ cô đâu thầy?

Chàng đáp, không quay đầu lại:

– Về rồi. Bà đóng cửa vào cho tôi.

Chàng tắt đèn trở vào giường. Trời sáng dần. Chàng rũ chăn đắp lên ngang ngực, nằm quay mặt vào tường. Và ngủ tiếp. Trong giấc ngủ lại này, những chùm hoa đỏ đã tàn và một mùa hè đã đi qua.

MAI THẢO

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Lê Tất Điều

Post by Sơn râu 7 May 2024

10. Cỏ Hoang

Như một con sâu nhỏ bé có thể tự bảo vệ bằng bề ngoài kinh khiếp của nó, như một cô gái, thiếu sắc đẹp, hấp dẫn kẻ khác phái bằng một thứ duyên thầm, bằng chính sự không may của mình, ngôi trường của tôi càng ngày càng trở nên dễ thương đối với những người đã từng chán ghét nó trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Tất cả những điều đáng ghét, đáng sợ của ngôi trường này dần dần trở thành những sự khôi hài. Rồi sau này, khi những sự kỳ quái của ngôi trường đã hoàn toàn biến mất thì chúng tôi vẫn muốn nhắc nhở lại chuyện cũ như nói đến những kỷ niệm êm đềm, khó quên.

Hồi mới được xây lên, trường chỉ có hai lớp nhỏ bé, thấp và sơ sài như những căn nhà nghèo. Mái tôn thấp và nung nóng đến nỗi tôi có cảm tưởng thà vứt bỏ mái đi ngồi ngay dưới ánh nắng mặt trời còn thoải mái, dễ chịu hơn. Trong những ngày nắng to, nhìn lũ trẻ vừa vuốt mồ hôi vừa cặm cụi làm toán, thỉnh thoảng lại ngừng bút cầm vở quạt phành phạch, tôi nghĩ rằng nếu nhà trường không cho chúng được một số vốn kiến thức thì ít nhất cũng đã dạy chúng một bài học kiên nhẫn và chịu đựng. Ngày mưa thì còn tệ hơn, nước dội ào ào xuống mái tôn, tôi có gân cổ gào to đến mấy chúng cũng chẳng nghe thấy gì, tốt hơn hết là cho chúng ngồi xúm vào một chỗ không bị dột, để chờ mưa ngớt. Và như thế tôi lại còn có thì giờ để lo bảo vệ sổ sách khỏi bị ướt sũng.

Ngày đầu được gửi đến làm việc ở đây tôi đã đi hàng giờ để kiếm cái bảng tên trường mà mãi ba năm sau mới có. Rồi tôi mất nửa giờ nữa để đứng lặng nhìn ngôi trường, tồi tàn quá sức tưởng tượng, cứ phân vân chẳng hiểu kẻ chỉ đường có chủ tâm chơi xỏ hay đánh lừa mình không.

Một cái hàng rào để định ranh giới của ngôi trường cũng không có. Trường nằm chung trên một phần đất rộng với trạm y tế độc nhất của vùng ngoại ô, và một cái chợ nhỏ. Sân trường đầy cỏ hoang và những cây gai um tùm, đó là nơi tụ họp của các loài ngan, ngỗng, vịt, gà, chó, heo. Người lao công trông coi ở đây già yếu đến nỗi không ai nỡ nặng lời với ông ta. Ông ta chỉ cầm nổi cái chổi khi đã tỉnh rượu, và thường thường ông ta chỉ tỉnh rượu khi đã lên giường ngủ được một vài giờ, thời gian độc nhất có thể khiến ông ta tạm xa chai rượu.

Những ngày làm việc sau đó tôi phải đối phó với đủ thứ chuyện bất ngờ. Có nhiều lúc tôi ngẩn ra không biết phải phản ứng như thế nào cho hợp. Trong tất cả những sách vở viết về khoa sư phạm mà tôi đã được đọc, tôi chưa thấy một tác giả nào nêu ra trường hợp một ông thầy đang hăng hái giảng bài phải giật mình vì thấy một con heo đùng đùng chạy vào lớp mình. Con heo to lớn, dẫn theo một bầy con lít nhít, kêu eng éc, chẳng coi ai ra gì. Lớp tôi có hai cửa nên đã trở thành con đường giao thông ngắn nhất từ sân trường về chuồng của lũ heo, ở trong một căn nhà hàng xóm của nhà trường. Thấy tôi vô tình đứng cản đường đi của mẹ con nó, con heo đứng lại kêu to phản đối, mấy con heo con nhân dịp đó, bỏ hàng ngũ chạy đại vào những khoảng trống giữa hai dãy ghế học trò ngồi. Ấy thế là cái trật tự của lớp mà tôi đã mất bao công lao mới tạo được đột nhiên bị phá vỡ. Lũ trẻ nhao nhao nhảy ra khỏi chỗ để chống lại sự xâm lăng của bầy heo, dĩ nhiên, tôi cũng phải ngừng giảng bài để hợp tác với lũ học trò. Lớp học tràn đầy một không khí kỳ quái với tiếng trẻ la hét, dậm dọa, xen lẫn tiếng heo kêu. Mấy con chó cũng thi nhau chạy vùn vụt qua lớp luôn luôn. Về sau tôi không dám mở to cửa lớp ra nữa và lúc nào cũng phải để ý canh chừng để xua đuổi kịp thời những sự bất ngờ này.

Cái chợ ở ven trường thì lúc nào cũng ồn ào và có nhiều vụ cãi nhau hơn cả các chợ khác. Khi có vài bà bán tôm bán cá đùng đùng nổi giận mà chia làm hai phe đấu khẩu, chửi rủa nhau thì khó mà ngăn những câu nói của họ khỏi bay vào lớp học, dù tôi có đóng hết các cửa lại. Tôi bắt lũ học trò ngồi thật nghiêm trang, và cố gắng giảng cho chúng nghe những điều thật đặc biệt, nhưng vô ích, một vài câu chửi gợi lên những hình ảnh quá tục tĩu vẫn làm cho vài đứa bật ra khúc khích cười.

Phải mất hàng hai ba tháng trời tôi mới triệt được cái bệnh văng tục, bệnh ở bẩn của lũ học trò. Nhưng đó chỉ là những điều vụn vặt, khiến tôi bực mình, không gây nên sự chán nản.

Cái việc gây nhiều khó khăn, cản trở cho công việc của tôi, chính là đời sống của người dân ở đây. Ngoài một số rất hiếm người khá giả, thì người dân ở đây đều nghèo khổ. Họ không có một cơ sở hay việc làm vững chắc như người thành phố hay có một việc làm hiền lành như người miền quê. Họ như từ bốn phương tụ lại, đại diện cho khắp nơi và sống bằng đủ các thứ nghề, lương thiện có mà không lương thiện cũng có. Như những cây cối mọc chen chúc trong một khu vườn hoang họ vươn lên, tìm sống bằng các phương tiện hợp với khả năng họ, trong tầm tay họ. Và họ đã tạo nên được cái vẻ muôn mặt, hỗn độn, bí mật của một vùng ngoại ô cằn cỗi.

Vì thế, tôi không thể giảng một bài đức dục nào mà lại hoàn toàn không động chạm đến nghề nghiệp, tật xấu, hay quá khứ của một ông chủ gia đình. Khi tôi nêu ra một điều tệ hại cần tránh và thấy lũ học trò quay cả về phía một đứa đang cúi đầu ngượng nghịu thì tôi biết ngay rằng ba thằng bé này làm nghề gì. Có lần, sau một hồi hăng hái giảng về sự tai hại của tính mê tín dị đoan và sự láo khoét của mấy ông thầy pháp, tôi phải ngẩn người vì một thằng học trò bỗng đứng bật dậy, chỉ vào một đứa khác tố cáo:

– Thưa thầy, tía anh nầy cũng là thầy pháp, tối nào tía anh ấy cũng đi cúng.

Ðứa học trò có người cha bị tố cáo ngượng ngùng lấm lét nhìn tôi, miệng cười gượng, tay cấu mãi vào một góc vở, đôi mắt nó nhìn tôi để lộ những tia sợ hãi, tuyệt vọng, khổ sở. Thì ra ba nó chính là cái ông thầy pháp đã từng làm tôi mất ngủ, khó chịu. Ðêm đêm, khi cúng bái cho một nhà nào ông ta thường mặc bộ quần áo màu sặc sỡ, khua chiêng đánh mõ om sòm và thỉnh thoảng lại thổi một tiếng kèn ngắn ngủi, quái đản, nghe thật ghê sợ. Tôi vội vàng mắng át đứa kia và quả thực, sau đó, phải chật vật lắm tôi mới có thể làm cho lũ học trò, vừa biết rõ sự bịp bợm của mấy ông thầy pháp, lại vừa tin rằng ba của đứa học trò kia, dù thế nào cũng vẫn phải được kính yêu. Chúng chưa đủ trí khôn để tìm thấy sự mâu thuẫn trong cách giải thích của tôi. Nhưng thế nào mà chả có đứa phân vân. Thành ra tôi đã mở mắt cho chúng để chúng nhìn thấy những sai lầm trên các người sinh thành ra chúng. Lũ trẻ thường bị rơi vào giữa gọng kìm của một cuộc đời thực tế và một cuộc đời tốt đẹp trong sách vở. Chúng trở nên hiền lành, sợ hãi một cách thật đáng thương.

Nhưng càng mến yêu lũ học trò thì tôi càng tỏ ra nghiêm khắc với chúng. Tôi đã làm ngược lại những điều mà lớp người trước căn dặn tôi: phải tạo một không khí thân mật giữa thầy và trò, phải cho học trò thấy rõ là mình rất thương mến chúng. Nếu tôi cố gắng tạo cho lớp học một không khí quá vui tươi, cởi mở thì sẽ có nhiều đứa học trò của tôi nhìn thấy gia đình chúng là một nơi thật đáng ghét, đáng sợ, đôi khi mang dấu vết xấu xa, tối tăm của địa ngục. Có đứa coi những giờ đến trường là những giờ được nghỉ ngơi sung sướng nhất, bởi vì khi trở về nhà nó phải làm việc quần quật suốt ngày. Khi được giao công việc nhẹ nhàng nhất là việc bế em thì lập tức chúng lại tìm đến sân trường, chơi đùa với lũ học trò ở đây, sung sướng như đang sống trong một thiên đường nhỏ. Tôi cố giả vờ tạo một bộ mặt nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể làm cho chúng sợ hãi bằng nét mặt cau có của một người cha say rượu khi ông ta cầm trong tay một thanh củi lớn và hung hăng đập lên người chúng như đập lên một kẻ tử thù. Phải thấy cha mẹ mình lầm lỗi và bị hàng xóm khinh ghét một đứa học trò cảm thấy đau đớn, tủi hổ gấp trăm, ngàn lần những khi nó bị phạt ở nhà trường. Có những đứa trẻ quen chịu đựng sự cực khổ đến nỗi lúc nào nó cũng giữ được vẻ thản nhiên, ấy thế mà khi bị ốm nằm nhà, thấy thầy và bạn đến thăm nó lại đâm sững sờ rồi bật khóc nức nở. Tình thương, sự săn sóc đến bất ngờ quá khiến nó ngẩn ngơ, kinh ngạc.

Ðối với những đứa trẻ không được đi học tới năm năm trời thì sự sung sướng của thế giới học trò thường làm chúng khổ sở khi phải rời khỏi học đường. Trường hợp của trò Dũng đã khiến tôi thấy rõ điều này. Ðã có nhiều đứa đang học thình lình phải bỏ ngang để đi học nghề. Nhưng chỉ có cái buồn rầu của trò Dũng trong lần cuối cùng nó rời khỏi lớp học là được ghi đậm trong ký ức tôi.

Cho đến bây giờ, ngôi trường đã được kiến thiết đẹp đẽ, sân trường không còn một sợi cỏ, thế mà mỗi lần nhìn thấy những luồng gió lốc tung cát, chạy quanh trong sân trường, tôi tưởng như vẫn thấy bóng trò Dũng ngập ngừng bước bên đám cỏ hoang, đôi bàn chân đen đủi của nó còn ghi vết trên con đường nhỏ.

Trong buổi học của ngày đầu niên học tôi đã chú ý ngay đến nó. Ngồi ở dãy bàn cuối lớp, Dũng cao hơn các bạn nó hẳn một đầu. Nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, làn da đen xám khiến nó càng có vẻ láu lỉnh, khôn ngoan. Nó quay sang bên phải nhe răng cười rồi lại quay sang bên trái nháy mắt như có điều gì thú vị lắm. Ðầu tiên tôi tưởng nó thuộc loại những đứa trẻ lớn đầu và ngỗ nghịch. Nhưng khi tôi gọi đến nó thì nó lại tỏ ra là một đứa trẻ hết sức lễ phép và ngoan ngoãn. Tôi chưa thấy đứa trẻ nào tha thiết, sốt sắng với công việc của lớp học như trò Dũng. Tính sốt sắng ấy nhiều khi trở nên quá đáng. Tôi vừa hỏi có trò nào viết trên bảng được không thì lập tức Dũng nhỏm ngay dậy. Ngoài cánh tay giơ cao nhất lớp nó còn át các bạn của nó bằng cách nói lia lịa:
– Con viết được, con viết được, thầy cho con viết.

Và tôi vừa gật đầu là nó đã hấp tấp chạy lên bảng để rồi viết ra những hàng chữ ngả nghiêng, leo dốc xuống đèo làm cho cả lớp kêu ầm ĩ vì không đọc nổi. Trong những ngày sau đó Dũng trở thành nguồn vui của lớp học. Trước câu hỏi của tôi, dù khó khăn đến đâu nó cũng giơ tay xin trả lời, và trả lời mười lần sai hết chín. Dũng viết những chữ rất xấu, nhưng nó có tài giữ gìn sách vở. Nó thường chỉ nổi giận khi có một đứa bạn làm dây mực vào sách vở của nó. Thỉnh thoảng nó lại đem tặng lớp học một món quà nhỏ. Và lớp học dần dần có vẻ tươi mát với những cây leo trồng trong một cái bóng đèn điện chứa đầy nước, hay trong một con ốc nhiều màu. Thỉnh thoảng Dũng lại đem đến lớp một cái búa và mấy cái đinh để sửa lại những bàn ghế quá ọp ẹp, mà bọn học trò nhỏ của tôi thường vin vào đó để lấy cớ cãi nhau.

Dần dần bọn học trò tôi cũng khám phá ra cái tính sốt sắng của Dũng và bắt đầu lợi dụng nó. Chúng giao cho thằng Dũng đủ các việc lặt vặt, nhất là những việc có liên can đến mục vệ sinh của lớp. Dũng nhận làm hết. Ðứa nào có đồ chơi hay một vật dụng gì hư hỏng đều có thể nhờ đến bàn tay sửa sang của thằng Dũng. Có lần nó sửa được cả bộ máy của một chiếc xe hơi nhỏ chạy dây cót, khá rắc rối mà nó mới được mở xem lần đầu. Chủ nhân của chiếc xe khoái quá thưởng công Dũng bằng cách cho nó mượn về chơi hẳn một ngày.

Nhờ cái tài khéo tay này mà Dũng vẫn đứng đầu về môn thủ công. Trong kỳ chấm bài lũ trẻ thường hồi hộp chờ xem tác phẩm của nó. Ðể cho những món nó làm ra thêm phần giá trị, Dũng thường có một lối giấu giếm và pha trò rất khôn khéo. Một lần nó nặn được một quả chuối, tô màu giống hệt như quả chuối thật, nó gói kỹ trong một tờ giấy, và mặc cho mấy đứa trẻ khác chạy theo gạ gẫm, năn nỉ, nó không cho đứa nào xem cả. Gần tới giờ thủ công Dũng mới giở quả chuối ra giơ lên rồi, miệng há tròn, nó giả vờ như sắp đớp quả chuối làm cho những đứa khác cùng ồ lên, phục lăn.

Vì học hành thất thường nên Dũng chỉ đứng hạng trung bình trong lớp, nhưng nó khá thông minh và chăm nên không mấy khi tôi phải trách nó về tội lười. Vẻ tha thiết với việc học của nó hiện rõ nhất khi nó làm một bài làm chậm hơn các bạn, nó cuống quít lên và dù hay dù dở nó cũng cố gắng xin tôi cho điểm. Nếu chỉ vì chậm chân mà nó không được phê điểm thì nó tỏ ra khổ sở, bực bội lắm. Vào những ngày trả bài luận, Dũng có vẻ hồi hộp, lo lắng của một con bạc trước khi biết kết quả tiếng bạc của mình. Cầm cuốn vở luận trong tay, Dũng ngửa mặt lên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm như khấn khứa, rồi thình lình nó mở bung quyển vở ra để xem điểm. Nếu thấy được điểm khá nụ cười liền cũng bật tung ra, tràn lan trên khuôn mặt đen xạm của nó, làm cho đôi mắt long lanh sáng. Nhấp nhổm trên chỗ ngồi, hai tay nó hích phải hích trái, nó có vẻ muốn cười phá lên, vỗ tay mà rồi không dám. Nó cười với đứa bên phải, khẽ “hì hì” vào tận tai đứa bên trái, và kéo cả cổ áo của đứa ngồi trước mặt để cho thằng kia rõ sự thành công của nó. Có lần tôi phải mắng nó về cái tội đã dám đóng khung, tô màu và vẽ hoa lá xung quanh con số mười điểm mà nó kiếm được nhờ một bài chính tả không có lỗi.

Ðiều đáng tiếc nhất là Dũng làm luận rất dở, bao giờ nó cũng ba hoa đến độ thành lạc đề và chẳng mấy khi được điểm cao. Trong suốt năm học nó chỉ có mỗi một bài thật khá mà lại không được điểm, đó là bài tả một đám cãi nhau. Nó viết kín ba trang giấy, nhắc lại rất trung thành lời nói của hai địch thủ tặng cho nhau. Tuy nó cũng biết loại bỏ những câu quá đáng, nhưng bài ấy vẫn bị tôi kiểm duyệt, giống như những bài văn tả chân thường gặp bước không may.

Quả thực, chưa bao giờ tôi thấy trò Dũng nói chuyện trong lúc tôi giảng bài. Mỗi lần tôi lên tiếng là nó khoanh tay, chăm chú ngước nhìn, chờ đợi. Những lần có một con heo hay con chó nhào vào phá đám giữa lúc tôi đang nói thì Dũng thường nổi giận, nó kêu với vẻ vừa thất vọng vừa tức tối:

– Trời đất ơi!…

Và nó tự động nhảy ra khỏi chỗ, vừa hò hét vừa đuổi theo con vật cho đến cuối sân trường.

Vì là đứa lớn tuổi nhất lớp nên nó cũng thường tỏ ra khôn ngoan, dễ biết ý tôi hơn các trẻ khác. Khi ở các nhà bên cạnh trường có những vụ cãi vả, những vụ đánh nhau, trong lúc những đứa khác đứng dậy, nhìn qua cửa sổ thì thằng Dũng cau có xin phép tôi cho đóng các cửa sổ lại. Nó đã biết những lời thô tục làm vẩn đục cả không khí của học đường. Nó mến thầy, mến bạn, mến lớp học và lúc nào cũng chỉ muốn bảo vệ, che chở cho cái lớp học của nó.

Nhưng học đều đặn được chừng ba tháng thì thằng Dũng bắt đầu đến lớp thất thường, bỏ bê việc học hành. Tôi đã quen với những vụ nghỉ học trường kỳ của lũ học trò. Vào những ngày cuối năm, khi một người Tàu già đội chiếc mũ cói rộng vành bắt đầu bón nhiều phân lên một vườn rau cải nhỏ của ông ta ở gần trường, thì lớp học của tôi bắt đầu thưa thớt. Chẳng phải lũ trẻ không chịu đựng nổi mùi phân bón bốc lên nồng nặc, làm chúng phải vừa bịt mũi vừa học, mà chính vì trong thời gian này, chúng phải đem cái sức nhỏ bé ra để giúp đỡ cha mẹ chúng. Có đứa vừa phải coi nhà vừa giữ em cho cha chúng đem hoa đi bán. Có đứa phải phụ với cha mẹ trong công việc gánh hàng ra chợ. Có đứa phải gạt hết sách vở để suốt ngày cưa sừng làm lược, hay cặm cụi đánh từng con suốt chỉ cho bà mẹ dệt vải. Buổi tối, trong lúc ngồi hóng gió trước nhà, tôi thường thấy hai đứa học trò ngoan nhất của tôi đi bán bánh trên con đường dài, không có ánh đèn, dẫn vào các xóm nhà nghèo. Chúng là con một người đàn bà gốc Trung Hoa sống bằng nghề bán hoa quả lặt vặt. Ðồ đạc của hai đứa trẻ này là một cái thúng có đựng những miếng bánh bò màu trắng, hoặc vàng úa đã cắt sẵn, để thành từng lớp có thứ tự. Mỗi đứa khiêng một đầu đòn gánh, lồng qua quang gánh mang cái thúng. Thằng em đi trước cầm chiếc đèn bão soi đường thỉnh thoảng lại cất tiếng rao. Thằng anh đi sau giữ tiền. Hai đứa giống nhau từ mái tóc, nét mặt đến bộ quần áo. Khi có người gọi lại, chúng vội vàng đặt gánh xuống. Thằng em nhấc ngay cái lồng bàn che bánh lên, thằng anh ngồi thụp xuống, dùng một cái xiên sắt lấy bánh ra, gói vào giấy, trao hàng và nhận tiền. Chúng đã chia nhau từng cử chỉ lặt vặt ấy. Ánh đèn bão mập mờ soi hai nét mặt trẻ lúc nào cũng bình thản, không còn dấu vết tinh quái, nghịch ngợm của những đứa trẻ bình thường.

Có khi lên giường nằm rồi tôi còn nghe tiếng rao của chúng vang lên đột ngột, cô đơn như một tiếng động vừa rơi lơ lửng vào giữa bầu trời mênh mông của miền ngoại ô. Ánh đèn của chúng hắt qua khe cửa nhà tôi tạo thành những vệt sáng dài, vừa run rẩy vừa di chuyển chậm chạp trên tường. Nếu trong buổi học ngày hôm sau đó chúng có không thuộc bài tôi cũng gắng cho chúng điểm trung bình. Nhưng bọn trẻ này nghỉ học bận việc có định kỳ, một năm chúng chỉ nghỉ một lần thật lâu rồi lại đi học đều đặn. Trái lại, trò Dũng nghỉ vài ngày rồi lại đi, rồi lại nghỉ vài ngày. Mỗi lần đến trường nó vẫn tỏ ra sung sướng, vui vẻ say mê với việc học. Cuối buổi học, trong giờ hoạt động thanh niên nó vẫn hăng hái cộng tác với các bạn để làm vui cho cả lớp. Hoặc nó ca vài câu, kể một câu chuyện, hoặc nó xắn quần ống cao ống thấp, bôi phấn vào mặt, vẽ râu để làm anh hề trong một kịch vui, làm cho cả lớp cười bò. Từ sau bảng bước ra, nó mới nheo mắt, nhe răng, đi khệnh khạng, chưa kịp nói câu gì, là lũ bạn nhỏ của nó đã không nín cười được. Thành ra, những hôm vắng thằng Dũng tự nhiên lũ trẻ mất vui, cảm thấy nhớ. Có đứa tức quá đứng lên tố cáo:

– Thưa thầy, anh Dũng bỏ học đi chơi đấy ạ.

Vài đứa khác lại nhao lên bênh vực:

– Thưa thầy anh ấy ở nhà bế em cho má anh ấy đi chợ.

– Anh ấy phải trông nhà.

Dũng cũng nêu những lý do đó để xin nghỉ học. Tôi đành phải tin nó vì cha mẹ nó chẳng bao giờ chịu đến trường xin phép nghỉ cho con. Một lần gặp thằng Dũng đang loay hoay phụ giúp với một người đàn ông sửa một chiếc xe trong một căn nhà nhỏ, mái tranh, lập chênh vênh ven bờ ruộng, trên con đường vào thành phố, tôi mới biết người đàn ông đó chính là cha Dũng. Ông ta làm nghề sửa xe đạp, xe gắn máy chứ không phải “buôn bán” như ông ta đã ghi trong lý lịch của con. Hai cha con đều mặc những bộ quần áo ka-ki đen đặc dầu mỡ, chắc trước kia màu vàng. Thấy tôi, thằng Dũng vội vàng vứt cả kìm, búa đứng dậy khoanh tay chào, nét mặt hân hoan. Cha Dũng cũng gật đầu chào tôi, mấy sợi tóc uốn quăn xõa xuống cái trán cao có một vết sẹo ngang của ông ta làm cho khuôn mặt ông ta vừa có vẻ dày dạn lại vừa có vẻ phong lưu của một công tử giàu tiền. Ông ta trẻ hơn tôi tưởng. Ông nói với tôi:

– Nhà tôi độ này bận quá, thành ra phải xin thầy cho cháu Dũng nghỉ ít bữa.

Tôi chỉ gặp ông ta một lần ấy thôi. Từ đấy về sau mỗi lần đi qua đây tôi chỉ thấy một mình thằng Dũng đang loay hoay làm việc. Thằng bé khéo léo này đã có thể thay thế cha nó trong công việc sửa xe, vá những lỗ thủng trên ruột xe. Hỏi thăm về cha nó thì nó cho tôi biết là ông ta đi vắng. Càng ngày nó càng đến trường ít hơn, và mỗi lần đến là một lần nó cuống quít đi mượn vở chép bài. Sách vở của nó bắt đầu mất cả sự sạch sẽ, quần áo của nó cũng không còn gọn gàng như trước. Nhưng nó vẫn vui vẻ, sốt sắng, vẫn ca hát và làm hề cho cả lớp cười, vẫn nhảy nhót khi được điểm cao. Ngoài giờ học, nó lại mặc bộ quần áo đầy dầu mỡ, làm bạn với kìm, búa, với những chiếc xe hỏng.

Buổi trưa, thỉnh thoảng có dịp đi qua căn lều nhỏ của gia đình Dũng, tôi thường thấy nó ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, dựa lưng vào một chân cột, dáng điệu nửa thức nửa ngủ. Ðồ đạc, dụng cụ sửa xe xếp ngổn ngang quanh nó. Nó không nhìn thấy tôi vì ngồi quay lưng về phía con đường nhựa mềm ánh nắng buổi trưa, có lẽ nó đang thả tầm mắt mơ hồ qua cánh đồng không, tới những ống khói cao ngất trong thành phố. Những luồng gió nóng như hơi nước trong một nồi nước sôi thổi phần phật vào mái lá, hoặc xoay tròn, bốc cát bụi mù trên con đường đất đỏ chạy ngang cánh đồng. Tôi tưởng như thằng bé ngồi bất động, cô đơn kia không thể nào là thằng Dũng, một đứa trẻ láu táu, vui tính nhất lớp tôi. Bầu không khí, phong cảnh cằn cỗi ở vùng ngoại ô này có thể nung khô tất cả những tâm hồn dịu dàng, vui tươi, và đốt cháy những nguồn hy vọng nhỏ bé. Quả thực tôi không như những người dạy học khác, mong mỏi nhìn thấy sự thành công trong tương lai của đám học trò mình, tôi chỉ muốn lũ trẻ được ngồi học yên ổn và đều đặn trong lớp tôi cho đến cuối năm.

Tôi không đoán nổi trong lúc ngồi cô đơn như thế bé Dũng đã nghĩ gì, mơ đến những điều gì. Nhưng một trong những sự mơ ước của nó, đột nhiên hiện ra trước mắt tôi vào một buổi học, khi nó bị tôi phạt về tội nói chuyện trong lớp. Và ngay sau đó tôi nhìn thấy tất cả nỗi tuyệt vọng của nó. Sự vùng vẫy, phấn đấu, để thoát ra khỏi ngõ bí của nó đầy tính cách mong manh, khờ dại khiến ta xúc động, xao xuyến như khi ta nhìn thấy một con chim non lạc tổ sắp chết vì một trận mưa.

Dũng để một vật gì dưới ngăn bàn, hai đứa bên cạnh nó cùng chụm đầu lại để nhìn. Vừa nói, Dũng vừa cười có vẻ thích thú và hai đứa bên cạnh nó cũng cười theo. Bị gọi tên thình lình, Dũng giật mình đứng dậy, luống cuống khoanh tay. Nó chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi thì một trong hai đứa bên cạnh nó đã nói:

– Thưa thầy, anh Dũng khoe cái xổ số anh ấy mới mua.

Rồi nó cố nín cười để giữ giọng tự nhiên:

– Anh ấy nói nếu trúng độc đắc anh ấy sẽ mua cái xe hơi chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng.

Cả lớp cười, vài đứa xì xào:

– Xe hơi nào mà chở được cả lớp…

Dũng có vẻ ngượng, nó mỉm cười và cúi đầu. Nhìn vẻ tiều tụy của nó tôi không nỡ mắng, bao giờ cũng thế, khi biết sắp bị mắng nó thường buồn rầu và lo sợ. Tôi bảo:

– Thôi cất xổ số đi… bao giờ trúng hãy đem khoe.

Dũng tươi tỉnh hẳn lại, đôi mắt nó long lanh tin tưởng, nó đã trở lại vẻ nhanh nhẩu bình thường:

– Thưa thầy, mấy người nghèo hết tiền mua giấy số hay trúng lắm thầy.

– Vậy hả. Ờ, thầy cũng hy vọng sẽ được đi xe hơi của trò Dũng. Bao giờ mở số đấy?

– Chiều nay ạ.

Nó ngồi xuống, trịnh trọng nhét tấm xổ số vào cặp. Tôi vội giảng bài tiếp để chặn đứng cuộc bàn về xổ số đang lan tràn trong lớp. Hình như có tấm vé xổ số trong cặp, Dũng vững tin ở cuộc đời hơn. Suốt giờ học tôi không nhận thấy vẻ buồn rầu thoáng qua mặt nó như mấy buổi học trước. Nó chịu đặt cả hai tay lên bàn nhưng không ngồi yên, thỉnh thoảng lại quay nhìn phải, nhìn trái, môi lúc nào cũng hé như sẵn sàng cười thật to. Cuối giờ, trước khi về học nó còn đi quanh lớp để ngắt lá úa trên những dây vạn niên thanh và siết lại những đầu dây thép gắn vài con ốc vào đầu đinh trên tường. Niềm vui, sự hân hoan của trẻ con thường tràn ra thành các cử chỉ như thế.

Buổi chiều, khi nghe máy thu thanh, tôi nhớ đến tấm xổ số của trò Dũng và ý nghĩ của tôi, tôi mỉm cười như những lần tôi nhớ đến một kỷ niệm ngộ nghĩnh về đám học trò. Sáng hôm sau, bầu không khí có vẻ oi bức khiến tôi cảm thấy khó chịu. Những đám mây đen mờ che khuất mặt trời báo hiệu một ngày không có nắng. Vùng ngoại ô quá rộng để ta có thể cảm thấy tất cả sự khó chịu của một bầu trời nặng nề. Sức nóng không tỏa từ ánh nắng một cách tự nhiên mà như xuất hiện bất cứ chỗ nào. Sự bình thản, vui vẻ trong tâm hồn tôi hình như bị sự oi bức làm rạn nứt và đã trở thành một cái gì mong manh dễ vỡ.

Buổi học lại bắt đầu bằng vài chuyện lộn xộn. Hai đứa nhỏ ở cạnh nhau, đến lớp còn cãi vả om sòm vì một chuyện đã xảy ra giữa hai gia đình trong ngày hôm trước. Ðứa này bảo bố đứa kia là đồ ăn cắp gỗ và đứa kia tố cáo việc anh đứa này bị người ta đánh vì dám cướp tiền một đám bạc. Một thằng học trò khác thì đem lên bàn tôi một quyển vở chỉ còn độ bốn năm tờ giấy trắng, nó kêu rằng nó không hề xé vở mà chính ba nó đã lấy giấy gói hàng. Tôi không thể nén sự bực mình, tôi đã gửi một bức thư cho ông ta về việc này và ông ta chưa trả lời. Tôi thở dài nhìn đứa trẻ, nó chớp mắt sợ hãi, cả nó và tôi đều lọt vào cái thế đáng chán. Tôi vừa lấy giấy ra định biên thêm cho ba đứa trẻ mấy dòng thì cuối lớp, một đứa đứng dậy báo cáo:

– Thưa thầy, hôm nay anh Dũng lại nghỉ.

– Lại nghỉ. Nó học hành thế thì còn ra làm sao…

Ðứa bé cọ bàn tay phải vào cạnh bàn rồi nói rất nhanh, có vẻ kiêu hãnh vì những điều nó biết:

– Con thấy mấy người lối xóm nói: ba trò Dũng bị tù rồi. Hồi trước ổng mua vỏ ruột xe hơi của mấy người ăn cắp, bị tù mười lăm ngày mới được tha ra. Giờ không biết sao lại bị bắt nữa…

Một đứa khác đứng phắt dậy, vừa xếch lại quần vừa nói như sợ đứa khác nói tranh mất:

– Ba trò Dũng ăn cắp xe gắn máy, thầy. Cả những người khác cũng bị bắt hết, mấy bữa nay rồi thầy.

Sự bất ngờ làm tôi bất động, chỉ biết chăm nhìn vào mắt những đứa trẻ vừa đứng lên nói, những lời nói vừa mở tung bức màn che giấu một thảm kịch. Lớp học hình như không bị xao động một chút nào. Vài đứa định đứng lên nói thêm nhưng tôi ra hiệu bắt chúng ngồi xuống. Chúng yên lặng, khoanh tay, mở mắt chăm chú nhìn tôi, hình như chờ đợi tôi nói một điều gì về việc ba trò Dũng. Tôi nói gì được? Cái sự làm tôi khó chịu, bực bội nhất là nét thản nhiên trên mặt lũ học trò. Chúng đã quen với những sự này đến thế cơ ư?

Ðưa tờ giấy viết thư lên ngang tầm mắt, tôi nhìn chăm chú vào đó để tránh những đôi mắt ngây thơ, khờ dại và bình thản. Tờ giấy chưa có một chữ nào, đang mở dần thành một khoảng trời trắng, rỗng và xa vời. Tôi lấy lại sự thản nhiên bằng một ý nghĩ tàn nhẫn. Giữa buổi học thì trò Dũng đến. Nó lững thững đi qua cổng trường, hai vai co lên một chút như bị lạnh. Nó không đá chân vào đám cỏ hoang cho những con châu chấu bay vụt lên như mọi lần, trong bộ quần áo đẹp nhất của nó, Dũng có vẻ trịnh trọng. Nó bước vào lớp và nói với tôi:

– Thưa thầy, con xin thôi học.

Dũng đưa ra một cái đơn, chữ viết nghiêng ngả.

– Con phải về tỉnh ở với bà nội.

– Ở đó có trường công không mà về?

– Dạ, thưa thầy, khỏi cần. Con không đi học nữa. Bà nội con ở làng, trồng khoai với bắp.

Tôi cúi xuống đọc lại tờ đơn, phân vân. Dũng nhìn tôi thật lâu rồi chợt quay xuống với các bạn nó, nó đi qua các dãy bàn để thanh toán mọi việc. Trả đứa này món nợ một đồng, cho đứa kia mấy viên bi, trao lại đứa khác chiếc xe hơi hỏng nhờ nó chữa. Công việc đó diễn ra không gây một tiếng ồn nhỏ nào. Lũ trẻ đã giữ được một sự yên lặng lạ lùng. Dũng trở lại bàn cúi đầu thật thấp chào tôi rồi đi ra, lên phòng hiệu trưởng. Suýt nữa thì tôi mở miệng khuyên nó nên cố gắng chăm học. Mười phút sau nó trở lại đứng ở cửa lớp học, hai tay nắm vào một bên khung cửa, tần ngần nhìn lũ bạn đang ngồi học, những ngón tay nhỏ của nó cong lại, vuốt nhẹ lên mặt gỗ.

Tôi hỏi:

– Lấy hồ sơ rồi chưa?

– Thưa thầy, lấy rồi, con chờ thầy trả bài thi.

– Bài thi?… à, bài thi toán ấy hả.

Tôi ra hiệu cho nó vào lớp và giở tập bài thi ra. Dũng hớn hở đứng cạnh tôi, chăm chú chờ đợi.

– Thưa thầy, hôm đó con làm đúng hết…

Và chợt nó reo khẽ:

– Ðây rồi… trời! mười tám điểm!

Bài thi nó làm hoàn toàn, chỉ hơi bẩn một chút.

Dũng nắm tờ giấy trong hai tay, nhìn chăm chú vào con số mười tám màu đỏ. Miệng nó, đôi má nó, đôi mắt nó đều chan hòa một nụ cười. Nó giương đôi mắt long lanh nhìn tôi rồi lại nhìn vào bài thi của mình. Rồi chợt nó nghiêng tờ giấy và nháy mắt với mấy đứa bạn ngồi ở bàn cuối cùng, kiêu hãnh mỉm cười với chúng. Nó cứ đứng lặng như thế để tỏ lộ tất cả sự hân hoan của mình. Tôi buột miệng nói:

– Bài này trò làm khá lắm.

Có lẽ chính câu khen của tôi đã làm cho trò Dũng phập phồng muốn khóc khi nó chậm chạp để bài thi xuống bàn. Tôi không đủ can đảm để nói một lời thân mến với nó. Khi chào tôi lần cuối, Dũng cúi đầu thật thấp như muốn giấu tất cả sự thê thảm trên mặt nó vào đôi tay khoanh lại. Nó trở ra rất nhanh, đá bung mấy viên gạch trên sân trường, nhìn mấy cây nhỏ, mới được trồng ở đầu sân để cho lũ trẻ có bóng mát sau này. Rồi nó cúi đầu, ra khỏi cổng trường.

Dũng là đứa học trò độc nhất mà tôi mong cho nó chóng quên thầy, quên bạn…

LÊ TẤT ĐIỀU

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 7 May 2024

Chương cuối

Phần 21

Chuyện hứa hẹn với ông bố của Tửu tôi tưởng sẽ thực hiện được lâu dài, nhưng không ngờ cuộc đời lại đưa tôi tới một ngã rẽ mới.

Số là hồi trước 1975, tôi có một người bạn đồng nghiệp, tuy dạy cùng một môn học nhưng lại không cùng trường với nhau. Ấy vậy mà chúng tôi lại quen biết nhau là do anh bạn này kết hôn với một học sinh cũ của tôi. Cặp vợ chồng này là người miền Nam, tính tình rất đôn hậu. Cô vợ lúc nào cũng nhắc nhở đến những kỷ niệm về Thầy cũ, trường xưa vào cái thời mà cô còn là một nữ sinh nhởn nhơ cắp sách đến trường trong những năm dài ở bậc trung học. Trước chỉ là quen biết lâu lâu đi lại, sau trở nên thân thiết hơn, tôi và người chồng còn soạn chung với nhau những tài liệu giáo khoa mà cả hai cùng giảng dạy.

Vậy mà sau năm 1975, chỉ có một mình tôi xin trở lại trường. Vợ chồng người bạn nhờ may mắn , lại cũng quen biết cả những người đi tập kết trở về nên họ thành lập ngay được một xưởng in dưới danh nghĩa một công ty Hợp Doanh. Ở thời buổi ấy, mọi lãnh vực thuộc các ngành nghề sản xuất khác đều có nhiều người đứng ra tham dự dưới danh nghĩa Hợp Tác xã, Tổ Hợp, Công ty Hợp doanh….nhưng riêng ngành in thì ai cũng ngao ngán. Bởi người ta sợ in ấn thì có thể bị dính líu đến chuyện chính trị. Chỉ một vài sơ xuất kỹ thuật thôi cũng có thể bị gán ép là có ý đồ phản động, đi tù như chơi.

Nhưng vợ chồng anh bạn tôi lại không ngán ngẩm vì những sự lo xa đến như thế. Lại thêm nhu cầu in sách cho cả miền Nam trong năm đầu tiên khai giảng niên học mới là một nhu cầu rất khẩn trương và cấp thiết. Những ai dám đứng ra đảm trách đều nhận được sự dễ dãi và hỗ trợ tối đa của ngành Giáo Dục. Đó là lý do mà công việc làm ăn của vợ chồng anh bạn mau chóng phát triển, cung ứng được rất nhiều công ăn việc làm cho những công nhân ngành in vốn đang thất nghiệp và nhất là đem lại chỗ trú an thân cho nhiều gia đình không bị đuổi đi kinh tế mới.

Sau vài năm kinh doanh một cách hợp pháp, đời sống của vợ chồng anh bạn đã thay đổi nhiều hơn xưa. Họ không còn lo phải đắp đỗi bữa ăn qua ngày, mà trái lại còn có của ăn của để. Thỉnh thoảng, cô học trò cũ của tôi còn mang tới tận nhà cho các cháu ký thịt, hay cho tôi ký đường, cân cà phê….

Rồi bỗng một hôm, khi biết tôi có quen biết một đường dây đáng tin cậy có thể sắp xếp cho tôi ra đi nếu tôi có vài cây vàng đóng trước, phần thiếu sẽ trả sau, thì người vợ đề nghị rằng nếu tôi muốn ra đi thì họ có thể cho tôi vay cái khoản ứng trước này.

Quả là một chuyện bất ngờ. Bởi ‘đường dây” mà tôi quen biết cũng chỉ là một người bạn cũ, thời thế đã tạo anh trở nên con người lang bạt kỳ hồ, giao dịch với đủ mọi loại người có chung một ước nguyện là vượt thoát để ra đi. Anh bạn này thật ra cũng không giầu có gì. Anh cũng cần có sự đóng góp của tôi dù chỉ là phần nhỏ, còn thỉ cho thiếu, để trang trải mọi thứ chi phí cho một chuyến đi.

Thế là như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, một lúc tôi có cả hai ân nhân mở đường cho tôi vượt thoát khỏi cái đời sống tù túng, chật chội, cứ thường xuyên o ép đầu óc và tư tưởng của mình. Trong thời gian tôi vẫn thản nhiên đến trường thì nhà tôi đã âm thầm sắp xếp mọi thứ với hai phía ân nhân ấy để cho tôi được ra đi.

Tôi cũng giấu kín không cho bạn bè đồng nghiệp nào trong trường hay biết kể cả thằng Tửu, mặc dù tôi cũng đã viết cho nó một lá thư ngắn. Lá thư này tôi đã bỏ vào thùng thư vào buổi sáng hôm tôi ra xa lộ đón xe đò đi Vũng Tầu với ý định sẽ xa Sài Gòn mãi mãi. Nội dung lá thư chỉ vắn tắt như sau :

“Tửu thân mến,

Thầy đã quyết định rời xa Sài Gòn và rất tiếc là không cho Tửu biết trước để thầy trò cùng nhau ăn một bữa tiễn biệt tại quán bà Hoa ở ngã tư Bẩy Hiền. Cám ơn Tửu về sự ân cần, quý trọng mà Tửu đã dành cho thầy. Quả là thầy trò mình đã có đủ mọi thứ kỷ niệm vui buồn trong suốt mấy năm vừa qua. Thầy sẽ không bao giờ quên Tửu và mong trò cũng vẫn còn ghi nhớ những điều thầy dặn dò hay chỉ bảo. Cho thầy gửi lời xin lỗi tới Ba của Tửu. Chúc tất cả mọi người đều bình an may mắn và hẹn ngày gặp lại dù là rất vô vọng hay xa vời.

Thầy Tiến.”

Sau một cuộc hành trình khá gian nan vào cuối năm 1979, rút cục tôi cũng đã tới được bến bờ tự do.

Tính từ buổi sáng hôm đó, cái hôm mà tôi che giấu mình trong bộ đồ rách rưới và cái mũ nỉ úp chụp trên đầu, len lén đi ra khỏi ngõ từ lúc còn tinh mơ để đi ra xa lộ Biên Hòa đón chuyến xe chạy bằng than củi đi Vũng Tầu, cho đến nay đã là 33 năm!

Trong suốt thời gian dài dằng dặc kể trên, dài hơn cả thời kỳ tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội (18 năm) hay trưởng thành ở Sài Gòn (21 năm), thỉnh thoảng tôi vẫn còn nhớ lại những ngôi trường cũ và những bạn đồng nghiệp hay những học trò xa xưa. Tôi không rõ những cô Thu, cô Hường, thầy Hải, thầy Vinh…hay những trò Sơn, trò Tửu bây giờ ra sao, cuộc đời trôi nổi đã hướng họ đi tới những ngã rẽ nào.

Tất nhiên mọi con người, mọi hoàn cảnh sau ngần ấy năm đều cũng đã thay đổi. Có khi vài người trong số đó đã nằm xuống, hay vẫn còn vất vưởng với cuộc sống khốn khó, chật vật, nhưng hẳn cũng có một số người nay trở thành những đại gia, những kẻ có chức có quyền, chiếm lĩnh một giai tầng ăn trên ngồi chốc trong một xã hội mà xét ra nó còn tồi tệ gấp bội phần cái xã hội vốn đã bị lật đổ vào thời điểm tháng 4-1975.

Bởi vì trước năm 75, dù đất nước có lâm vào hoàn cảnh chiến tranh ngặt nghèo, dân quê có tan tác bỏ nhà lên tỉnh để tránh cảnh bom đạn cầy nát xóm làng, thì cũng chẳng bao giờ những cô gái quê hiền lành chất phác lại phải chịu cảnh lõa lồ xếp hàng cho đám đàn ông nước ngoài xăm xoi, lựa chọn. Sự ô nhục này chỉ xuất hiện sau khi miền Bắc chiếm trọn miền Nam để thống nhất đất nước và quyền cai trị vẫn chỉ nằm trong tay độc quyền của Đảng CSVN.

Ba mươi ba năm đằng đẵng. Sau ngần ấy năm, nhà nước CSVN đã để lại những gì?

Dĩ nhiên là trên cả nước đã mọc lên đầy dẫy những tòa building cao ngất ngưởng, những trung tâm bách hóa mua bán đồ tiêu dùng hiện đại không thua kém gì các nước phương Tây, hay ngay cả những xa lộ thẳng băng đang dần phủ kín các khu vực thiết yếu trên khắp mọi miền đất nước.

Nhưng những thành quả vật chất đó đâu phải là những thành tích đáng đem ra để tự hào. Bởi chỉ cần một tập đoàn tư bản ngoại quốc xuất ra một cái vốn đầu tư vài tỷ bạc thì building cao cỡ nào, xa lộ dài cỡ nào, shopping center to cỡ nào, tất cả rồi cũng sẽ có hết.

Cái mà tiền bạc không thể nào mua được phải là những giá trị tinh thần mà nhà nước phải tạo dựng nên sau ngần ấy năm cầm quyền. Nhưng khi nói về những giá trị ấy, thì ôi thôi, chỉ cần nghe những người trong cuộc phát biểu cũng đủ thấy thực chất nó ra làm sao.

Đầu năm 2012, đài Á Châu Tự Do qua ký giả Thanh Quang đã có nhắc đến những lời nhận xét của Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” như sau:

“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”

Thật là hãi hùng! Trong một xã hội mà  “Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa” thì đâu có còn cái ý nghĩa cao đẹp nào để cho con người nương tựa vào đó mà vươn lên.

GS Hà Văn Thịnh ở Huế cũng đã cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở VN giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội VN. Ông nói:

“Trong bản chất xã hội VN có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa VN hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được. Một xã hội như vậy làm sao không loạn được.”

Vì đâu mà gây nên nỗi thảm thê như vậy?

Theo tôi nghĩ, đích danh thủ phạm phải là chính sách Giáo Dục ở Việt Nam!

Là một nhà giáo đã từng giảng dạy dưới mái nhà trường XHCN, tôi biết chắc rằng ở đó đã khởi sự dạy dỗ con người biết nói dối và buộc con người phải nói dối. Mà thê thảm thay, tình trạng dối trá ấy vẫn còn kéo dài cho tới tận bây giờ. Tôi xin đơn cử một tài liệu trong ngành giáo dục ở VN vào niên học bây giờ tức năm học 2011-2012. Tôi nhận thấy nhà giáo ở VN bây giờ vẫn cứ còn phải loay hoay, chìm đắm trong những bản văn tự soạn để giao nộp hàng năm cho cấp trên ngõ hầu được an thân dạy dỗ. Những thứ văn bản như thế, cả người soạn lẫn người coi, ai nấy đều biết là giả dối nhưng nó vẫn ngang nhiên tồn tại. Xin được bỏ tên trường, tên giáo viên và tên Phòng , sở Giáo dục thuộc đơn vị nào:

Sau đây là “chỉ tiêu phấn đấu” của giáo viên ….., sinh năm 1978 tại …, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm năm 2000, hiện giảng dạy môn Toán tại trường ….., tỉnh…….

Nhà giáo kể trên đã trình bầy trong “Kế hoạch Cá nhân năm học 2011-2012” của chính mình như sau :

(Trích)

Chỉ tiêu phấn đấu:

” Thực hiện có hiệu quả chủ đề của năm học : “Đổi mới quản lý nâng cao chất lượng giáo dục” và tiếp tục triển khai phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực“. Đồng thời thực hiện tốt cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Nâng cao phẩm chất chính trị đạo đức lối sống bản thân, Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua của ngành. Tham gia đầy đủ các hoạt động do nhà trường và ngành phát động. Không vi phạm đường lối chính sách pháp luật của đảng CSVN và nhà nước. Vận động gia đình và người thân đồng nghiệp thực hiện tốt đường lối chính sách pháp luật của nhà nước. Thực hiện nghiêm túc nề nếp quy chế của ngành và nhà trường.”

Biện pháp thực hiện:

1)Tìm hiểu tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt là tư tưởng Hồ chí Minh về công tác giáo dục.

2)Từng bước làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ như cần, kiệm, liêm, chính, chí công, công, vô tư. Khắc phục mọi khó khăn về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh khách quan, chủ quan để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3) Tìm hiểu về cuộc đời và thân thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Tham gia các buổi sinh hoạt, tọa đàm và sưu tầm về tấm gương đạo đức của Bác đồng thời làm theo lời Bác.

4) Tích cực tham gia phong trào tự học, tự nâng cao kiến thức, viết sáng kiến kinh nghiệm và có ý thức tiết kiệm trong gia đình cũng như ở nhà trường.

4) Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nhà giáo. Cụ thể thực hiện tốt theo các tiêu chí trong Chuẩn giáo viên.

5) Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chính trị. Luôn trau dồi đường lối chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối trung thành với Đảng.

6) Tiếp tục coi phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là giải pháp đột phá và lâu dài để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh.

7) Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các đoàn thể, xã hội, giữa giáo viên với học sinh và phụ huynh học sinh.

(ngưng trích)

° ° °

Vốn cũng là một giáo viên, cũng đã từng giảng dạy vài năm dưới mái nhà trường Xã Hội Chủ nghĩa, tôi đã quá quen thuộc với cái lối viết tự cung khai và đánh bóng bản thân để bầy tỏ lòng trung thành của cá nhân người viết đối với cấp trên như thế nào rồi. Nó sặc mùi giả tạo, kể cả sự dối trá mà người viết cũng như người đọc đều nhận rõ của nhau. Nhưng cái “truyền thống giả dối’ ấy vì vẫn còn được duy trì nên người ta vẫn phải nhai lại như thế hàng năm.

Khi nói như vậy, tôi không có ý định vơ đũa cả nắm và tôi không muốn nghi ngờ thiện chí của nhà giáo trẻ nói trên. Trái lại, tôi còn thầm cầu mong cho những điều mà ông viết ra là hoàn toàn trung thực với ý nghĩ của ông, để ít ra tôi không thấy lương tâm của nhà giáo bị thương tổn khi phải đọc lên những lời mà tôi cho là đầy ắp sự dối trá.

Sở dĩ tôi cứ phải biện minh lòng vòng như vậy là vì tôi cũng đã từng sinh hoạt trong một môi trường giáo dục hoàn toàn khác biệt với môi trường mà nhà giáo trẻ đang tham dự. Nói một cách ngắn gọn là tôi không bao giờ thấy bất cứ một đồng nghiệp nào của tôi khi giảng dạy trong nhà trường trước 1975 mà lại phải viết “kế hoạch cá nhân” từng năm học để đệ nạp lên cấp trên như các nhà giáo VN phải thực hiện. Tôi luôn luôn nghĩ rằng, nhà giáo là một ông Thầy trong ngành giáo dục. Ông ta chỉ có trách nhiệm đối với những học trò của mình chứ không thể tự biến mình thành một thứ học trò của bất cứ cấp trên nào để mà cứ phải “nộp bài” hàng năm mong được an thân hay để lấy điểm thi đua cho dù đó cũng chỉ là những thứ bánh vẽ.

Nói chung là nhà giáo VN bây giờ vẫn còn bị kìm kẹp bởi đủ thứ hình thức, từ “Mục tiêu phấn đấu” (bao gồm Tư tưởng đạo đức, lối sống, Chất lượng giảng dạy, Danh hiệu thi đua) cho đến “Nội dung hoạt động và biện pháp thực hiện” ( bao gồm Tư tưởng đạo đức, lối sống, Nhận thức tư tưởng, chính trị, Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Đảng, của Nhà nước, Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy và công tác; tinh thần phê bình và tự phê bình)..,.vân..vân..và.. vân vân …

Tôi thực tình tự hỏi trong toàn thể những ‘công đoạn” bó buộc nhà giáo hằng năm như thế, cái tỷ lệ “giả dối” được nhà giáo cho vào khi họ ngồi viết, nó lên tới con số là bao nhiêu?

Tôi tiết tưởng, lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc như đã trích dẫn ở trên cũng đã đủ cho một câu trả lời.

Trong cương vị một nhà giáo, tôi cũng lại hoàn toàn đồng ý với nhà văn Nguyên Ngọc khi ông nói đến nhiệm vụ tối hậu của chính sách giáo dục khi đào tạo một con người. Đó không phải là việc đào tạo nên những con người chỉ biết nói dối. Đó cũng không phải là việc đào tạo nên những con người ngoan ngoãn, chỉ biết cúi đầu tuân phục trước giai cấp cầm quyền để mong an thân hay được chút ơn mưa móc.

Phẩm chất của một công dân trong một xã hội đáng sống là con người nhận biết được là mình có độc lập và tự do để biết phản đối khi nhận ra điều sai trái. Như nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu:

“Cái hổng nhất của giáo dục nước ta là ở triết lý giáo dục. Giáo dục tiên tiến dạy cho con người ta khả năng đầu tiên là khả năng phản đối trước khi đồng ý, với nguyên lý cơ bản là tạo ra con người độc lập, tự do cho xã hội.”

Không biết đến bao giờ con người Việt Nam mới có được cái phẩm chất đó

Bao giờ? Biết đến bao giờ?

Nhưng dù khó khăn thế nào và cho đến bao giờ thì điều kiện ắt có và đủ để con người VN có được phẩm chất ấy sẽ phải là cái lúc mà đảng CSVN đã bị giải thể để nhường chỗ điều hành đất nước cho những thành phần yêu nước và yêu dân tộc hơn.

California ngày 24-2-2012
NHẬT TIẾN

Baguette Paris

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on April 6th, 2023

Post by Sơn râu 6 May 2024

Nếu hamburger như một nét ẩm thực đặc trưng của dân Mỹ thì bánh mì baguette cũng tương tự với dân Pháp. Với hơn 330 triệu dân, mỗi ngày dân Mỹ tiêu thụ khoảng 136 triệu cái hamburger thì nước Pháp cũng không thua kém khi với khoảng 65 triệu dân, nước Pháp tiêu thụ khoảng 30 triệu bánh mì baguette mỗi ngày. Baguette đi ra ngoài nước Pháp, sang đến Việt Nam. Có đi Tây, bạn ghé một tiệm bánh mì baguette xem thế nào.

Một người Pháp với bánh mì baguette trên đường phố    

Bánh mì baguette không thiếu trong các chợ thực phẩm tại Mỹ, từ Walmart đến Kroger. Cũng một đôi lần, tôi có ăn baguette tại các nhà hàng La Madeleine, ắt không khác biệt nhiều so với tại Pháp bởi nó là hệ thống nhà hàng bán món ăn Pháp.

Nhưng đã đến Paris, chắc chắn du khách phải ăn bánh mì baguette mới ra lò hơn một lần. Bởi như nói trên, baguette không thể thiếu trong đời sống thường nhật của dân Pháp và các tiệm bánh mì baguette hiện diện khắp mọi nơi. Những khu trung tâm, ra khỏi khách sạn không khó để tìm ra các tiệm bánh mì baguette có xa lắm thì cũng chỉ đi bộ đôi ba trăm mét, tùy vị trí khách sạn. Tôi cũng chẳng là ngoại lệ.

Những tiệm bánh mì baguette nho nhỏ này có khi chỉ là tiệm bán mang đi, không có bàn ghế bên trong hay hàng hiên cho khách ngồi ăn sáng. Có những tiệm không lớn nhưng bàn ghế đầy đủ cho khách muốn ăn ngay tại tiệm. Có khác nhau thế nào thì những kiểu bánh mì baguette đã chuẩn bị sẵn để trong quầy kính trông thật bắt mắt và hấp dẫn.

Buổi sáng đầu tiên tại Paris, tôi bấm điện thoại tìm các tiệm bánh mì baguette gần quanh khách sạn mình ngụ. Có ít nhất là ba, bốn tiệm theo các hướng khác nhau và chỉ đi bộ vài phút. Tôi không có khái niệm tiệm nào ra tiệm nào, chọn đại Paris Baguette vì có chữ … “Paris” và nhớ từng thấy đâu đó tại Mỹ. Về xem lại mới biết là đây là hệ thống bánh mì Baguette khá lớn của… Nam Hàn, nghe nói có mở cả tại Việt Nam. Nhưng chẳng sao, của nước nào thì bán cho dân Paris phải làm đúng kiểu Pháp, họ đâu mở ra để nhắm bán cho du khách.

Bánh mì baguette Paris

Mà quả thật là vậy, vài buổi sáng tại Pháp chúng tôi ghé các tiệm baguette nho nhỏ của người dân địa phương, chắc phải có nhưng tôi không nhận ra nhiều sự khác biệt. Mỗi ngày, tôi thử một loại nhưn khác nhau. Chỉ trên dưới 5 Euro một ổ, cũng khoảng chừng ấy so với tiền Mỹ vì tỉ giá dollar và Euro cũng chẳng chênh lệch bao nhiêu, cộng thêm ly cà-phê dăm Euro, giá cả rất bình dân cho một buổi sáng. Ðiều còn lại là nó có đủ ngon cho bạn ăn mỗi ngày hay không?

Tôi thích bánh mì và đến Paris muốn thử baguette ra sao. Nhưng thú thật không thể ăn lâu hơn vài ngày. Với tôi thì baguette chẳng thể nào ngon hơn bánh mì Việt Nam. Hay cũng do mình đã ăn quen bánh mì Việt Nam. Bởi dù mới ra lò, baguette được  chuẩn bị sẵn, nếu không phải loại có thêm salad, cà chua… thì có thể yêu cầu nướng sơ. Nhưng nó vẫn dai, nhiều bột, không xốp và giòn rụm như bánh mì Việt Nam. Tất nhiên loại hay tiệm bánh mì Việt Nam “có nghề”, chứ ngay tại Mỹ này mà tìm một tiệm bánh mì Việt Nam cho ngon, cho vừa ý chắc cũng chạy hết xăng. Nhất là khi phải mua đại dăm ba ổ bánh mì không, nhăn nhúm như những người “đau khổ kinh niên”, được bỏ bịch ny-lông và bán trong các chợ Việt thì muốn … thở ra. Nhưng cũng không có chọn lựa khác hơn.

Như nhiều thứ đã xuất hiện từ lâu đời, nguồn gốc và lịch sử của chúng có nhiều đồn đãi, thêu dệt hay khó kiểm chứng. Nhưng các tài liệu bảo rằng bánh mì baguette dù là một “văn hóa”, một “quốc hồn quốc túy” của người Pháp lại do một thợ bánh mì người Áo đến từ thành Vienna tạo ra. Tất nhiên có phần khác biệt so với ổ bánh mì baguette dài thòng ngày nay, bởi “baguette” có ý nghĩa là “gậy, que” (baton, stick). Giai thoại khác thì bảo chính Napoleon đã nghĩ ra cách làm bánh mì dài như vậy để cho binh sĩ nhét và mang theo dễ dàng hơn loại bánh mì ổ hay tròn. Ðại loại kiểu tích vua Quang Trung cho binh lính mang theo bánh tráng trên đường tiến quân ra Bắc dẹp quân Thanh. Thật hư thế nào thì các giai thoại cũng thú vị.

Tác giả và một nhân viên nhà hàng Pháp

Một quốc gia lâu đời như Pháp mà còn có các giả thuyết về nguồn gốc baguette khác nhau thì huống gì Việt Nam nên dù là “cháu cố” vài đời của  baguette, cũng khó ai xác định bánh mì kiểu Việt Nam ra đời từ lúc nào. Tất nhiên phải theo đoàn quân lính viễn chinh Pháp đến Việt Nam. Nhưng ai là người có công chế biến ra những ổ bánh mì ngắn và giòn, xốp hơn nhiều baguette như vậy thì đố ai biết được. Nếu có dài, thì ắt nhiều người còn nhớ những ổ bánh mì to, dài bóng lưỡng bán ngoài Hàng Xanh hay tại các bến xe miền Ðông hay miền Tây ở Sài Gòn sau 75. Ai về quê mua dăm ba ổ, sang hơn là thêm  con vịt quay, làm quà cho người thân nhà quê là món quà Sài Gòn quý giá và hiếm hoi.

Nghe bảo Sài Gòn đang tổ chức “lễ hội bánh mì”, không hiểu có ai lần dò lại nguồn cội bánh mì Việt Nam hay không. Có dăm bài báo sơ sài đó đây, mang tính báo chí hơn là tra khảo học thuật nên rốt lại người ta cũng đoán là bánh mì Việt được thịnh và phổ biến từ khoảng thập niên 30s, tức trên dưới 100 năm trước. Và cả hai “ông cháu”, baguette Tây và bánh mì Việt Nam đều được UNESCO công nhận là “di sản văn hóa phi vật thể” (Intangible Cultural Heritage). Tất nhiên là đùa nếu bảo rằng, bánh mì (chai cứng) có thể đánh lỗ đầu người khác chứ “phi vật thể” gì.

Tôi đã “chia tay” với Paris và nước Pháp từ kỳ báo trước, không định quay lại cùng nó dù cũng còn nhiều điều riêng mình đã ghi nhận. Nhưng một anh bạn tôi có hỏi rằng, hãy chia sẻ chuyện sang Paris “ăn gì” cho chuyến đi sắp đến của anh.

Làm sao tôi biết được?

Một “quán cóc”

Ðêm đầu tiên tôi hỏi người nhân viên tiếp tân rất thân thiện và nhiệt thành chào đón, hướng dẫn du khách. Anh chỉ cho tôi hai ba quán Tây gần khách sạn, đến lúc đi ăn tối thì gặp người chủ khách sạn ắt đã nghe anh chàng tiếp tân kể lại. Ông chỉ chúng tôi đến một quán Tây khá đẹp, chuyên bán đồ Tây chính hiệu cũng khá gần khách sạn. Nói thêm là Paris có khá nhiều khách sạn nhỏ do chính các chủ nhân tự vận hành. Khách sạn tôi ngụ cao sáu tầng lầu và chỉ có … sáu phòng, mỗi tầng chỉ có một phòng. Hay nói khác hơn, nó như một nhà lầu bên Việt Nam hơn là kiểu khách sạn bề thế hàng trăm phòng tại Mỹ.

Các nhà hàng Tây trang nhã, bài trí đẹp, món ăn thì tùy khẩu vị mỗi người hơn là nói chắc ngon hay dở. Chúng tôi ăn tối tại các nhà hàng này vài đêm và chỉ có tôi là thành viên gia đình duy nhất còn muốn quay lại. Mà bởi vì cái không khí cũng như tôi muốn “sống” với không khí Paris hơn là vì thức ăn. Mỗi dĩa thức ăn trung bình chỉ khoảng dưới 20 Euro, không kể tại các tiệm ngay điểm du lịch, như tháp Eiffel chẳng hạn có thể đắt hơn, trên dưới 30 Euro phần ăn. Khó thể gọi là đắt đỏ so với tại một thành phố du lịch lớn ngay tại Mỹ. Tôi chỉ không ghé thử Quận 13, “thủ phủ” của các tiệm ăn người Việt. Một phần vì thời gian, phần khác do một người gốc Việt sống lâu năm tại Pháp bảo rằng, “anh ở Mỹ sang thì ghé đó ăn đồ Việt làm gì?”.

Không cần ăn đồ Việt trên đất Pháp nhưng bạn nhớ ghé các tiệm bánh mì  baguette tại Paris. Ngồi chiếc bàn nho nhỏ ngoài hàng hiên với ổ bánh mì trên tay và ly cà phê sáng, ngắm người Paris qua lại cũng là cái thú.

Cái không khí, trải nghiệm của mỗi chuyến đi là điều đáng nhớ và còn sót lại. Còn chuyện ăn uống thì có gì quan trọng phải không bạn?

Một nhà hàng sang trọng

ĐYT

Hoa mùa Đông

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 30/12/2016 

Post by Sơn râu 6 May 2024

Dù có tuyết hay không, ở chốn đây bao giờ hàn thử biểu cũng rơi xuống âm độ. Trừ 10 trừ 20 cũng chả lạ gì, như cơm bữa. Lạnh, chẳng ai chối cãi, nhưng không vì mùa màng kiểu đó khiến đảo lộn mọi sinh hoạt, người ta vẫn thức khuya dậy sớm dù quang cảnh ngoài trời đang đóng băng, đang cóng thân cùng tiếng gió rít.

Tôi đã làm cho ông bình cà phê. Ông ăn bánh mì trứng với bacon hay điểm tâm tô mì ăn liền? Người chồng đứng rửa mặt ngó vợ qua tấm gương: Bà ăn gì thì tôi ăn nấy. Bà đã gói giúp tôi món quà ấy chưa? Rồi, xong từ tối hôm qua kia.
Người đàn ông khoá lại vòi nước. Tĩnh lặng. Chỉ có tiếng nồi niêu lách cách đặt trên lò, tiếng chân bước qua về của người vợ loay hoay chu toàn bữa ăn sáng. Ông lau mặt, ông chải tóc rồi chậm rãi tới ô cửa vác mặt dòm ra. Tiếng bà vợ cất lên sau lưng: Coi bộ lạnh dữ à nghe, mặc áo cho nhiều vào.

Chỉ bà nói ông nghe, ông nói bà nghe. Quen rồi, muốn thay đổi không khí thì giả bộ làm trái ý nhau rồi lời qua tiếng lại cãi lẫy. Nhưng điều đó chỉ xẩy tới một hai lần, không có “sự bất quá tam” bởi bà đã cảnh báo: Tui yếu tim lắm nghe ông, muốn giết người không gươm đao à? Ông luôn nhường nhịn bà, luôn cởi giáp quy hàng, đến độ mấy đứa con cũng từng nhận xét: Hạnh phúc thay khi ba biết sợ má! Và thằng út đã đích thân mang lại nhà, tự tay nó đóng đinh tấm poster vào cánh cửa phòng ngủ: “Sau lưng một người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của phụ nữ”.

Con cháu họ đều ở xa, chúng phải lo liệu việc sở việc nhà nên theo chương trình đã lên lịch, đôi ba hôm nữa mới về thăm. Bà đã hối ông chở ra chợ, trong đầu bà tự động hiện ra ba món ăn để gia công nấu nướng. Ông phê bình: Quá nhiêu khê cầu kỳ, mất công sức, lỡ không hợp khẩu chúng thì xôi hỏng bỏng không. Bà nhìn ông: Tui đẻ ra chúng mà bộ tui không biết miệng lưỡi chúng sao? Vậy thì bà có đọc ra những ý nghĩ thầm kín của ba đứa con không? Có đấy, chúng bảo rằng ông chẳng chịu lượng sức, già yếu mà cứ ưa ôm đồm đi lo chuyện bao đồng. Ông nghe, như mọi khi, ngồi rụt cổ lại chẳng đưa ý kiến.

Khi ngồi vào bàn ăn, bà rót cà phê ra cho ông: Chỗ đó cũng tình nghĩa, nghỉ hưu đã hơn hai năm mà họ còn nhớ tới ông để gọi lại chung vui. Ông múc muỗng đường, khuấy ly cà phê. Mình có quyền từ chối, nhưng bữa nay đúng lúc lão Fred thôi làm, buộc mình phải mang quà tới dự buổi chia tay. Thì hôm tôi giã từ cũng xôm trò vậy, họ mời cả những cựu nhân viên già lọm khọm. Ừ, nói chung thì có tình có nghĩa thật. Bà nhìn lên chiếc đồng hồ treo gần bàn ăn, đó là món quà công ty tặng cho một nhân viên lao động ròng rã suốt mười lăm năm không gián đoạn. Nhân viên nhác chơi xin ăn hưu non và cái đồng hồ chỉ cần thay battery thì vẫn chuyên cần gõ nhịp thời gian, chưa gặp mệnh hệ để đường đột bỏ cuộc. Tại sao khi người ta giũ áo thôi đi cày bừa lại tặng người ta cái vật nhắc nhở giờ giấc ra đồng áng?

Tôi đi nghe bà. Trước khi mở cửa ông nhắc: Tôi đã để sẵn bộ phim Hàn quốc bà đòi xem trên bàn. Tiệc tùng đôi lúc không kéo dài bằng những chồng chéo éo le trong phim ảnh đâu. Ông khoá cửa nhà, ông để gói quà trong xe, mở máy. Cầm đồ cạo tuyết bám rồi dùng chổi quét quanh khối kim loại đang ho hen thở khói đen. Tờ tạp chí chuyên đề về auto cho hay, trung bình mỗi chiếc xe sẽ rệu rã sau khi gồng mình chịu qua 5 mùa đông. Ông đã than thầm: Sắt thép còn vậy huống chi xương thịt con người. Nói nào xa xôi, đêm hôm trái gió trở trời, ông muốn thương vợ nhưng bà la lên, đau lưng lắm, gân cốt tui đang mỏi gối chồn chân, sức người có hạn; và trời trở gió trái ông đã làm thằn lằn chắc lưỡi trong canh thâu, đêm dài lắm mộng!

Ông lái xe đi, thử đạp thắng để dò đường xem có trơn trợt không. Cũng chẳng việc gì phải gấp rút, kim chỉ vận tốc ở con số 40, Ông lấy làm lạ khi đọc phải một bản tin, rằng các ông bà già thường gây ra tai nạn xe cộ hơn hạng tuổi năng động háo thắng của bọn thanh niên. Có thể do ở phản ứng đã mất đi sự nhanh nhạy, hoặc mắt yếu, hoặc dễ buồn ngủ bất chợt, hoặc một đầu óc lơ đãng thiếu tập trung. Những lầm lỗi ấy không có ở người ông, ông điều khiển xe chạy chậm vì ông đang tự vẽ ra một hình ảnh, một dung nhan, một thứ khiến ông nóng lòng chạm mặt. Radio băng tần FM lóng rày siêng phát nhạc mừng Giáng Sinh, hầu như đài nào cũng thế, từ nguyên bản truyền thống cho tới biến đổi thành thể điệu rock. Quá đỗi chộn rộn. Ông bẻ tay lái ở ngả tư đèn xanh, kia rồi tảng đá xám hùng vĩ của bệnh viện trung ương thành phố đứng chắn lối. Tuần trước ông đi đổ xăng và tình cờ gặp Fred. Lão ta loan tin sắp về hưu rồi thông báo: Anne, làm kế toán ở văn phòng đó, bị ngã đến độ gãy xương, hiện nằm trong nhà thương, hay tin chưa?

Ông đậu xe không mấy xa cổng bệnh viện. Trường học, công sở, hãng xưởng hay chợ búa thường vắng thưa người tuỳ theo giờ giấc nhưng nhà thương, bốn mùa đều nhộn nhạo kẻ vào người ra không dứt. Muốn mở mắt chào đời phải chui vào, băng bó, khâu vá hoặc thở hắt ra hơi cuối cũng từ chốn này mà quyết định việc sinh tử, chẳng thể làm khác đi. Một kẻ bị gãy xương, không khó cho ông tìm tới nơi Anne nằm. Mùa Giáng Sinh năm xưa, sau buổi tiệc chung vui ở chỗ làm, Anne uống hơi quá chén và chẳng hiểu do đâu, bà chỉ định riêng ông mang sứ mạng chở người đi quàng xiên về tận nhà. Ông để cho Anne quàng tay nơi cổ, ông xốc nách tấm thân hơi đẫy đà và mọi thứ không gây trở ngại một mảy may. Bà ở cùng người con gái, có tấm giấy màu dán nơi cánh cửa: Con dự tiệc đằng chỗ Julie, muộn lắm thì cỡ 1AM. Vẽ một trái tim màu đỏ thế dấu chấm. Và khi đọc xong lời nhắn kia, tim ông nghe rộn tiếng đập nhanh, khó cắt nghĩa một nỗi niềm. Ngay cả chữ già cũng chớ đào bới, khoanh vùng đặt mốc. Không ai thấy mình già đi khi lâm vào cảnh này, ông dịu dàng đặt Anne nằm xuống giường bằng sức lực của một gã trung niên. Chịu khó pha cho tôi một tách trà chanh. Anne nói, dường không phải một người đang say rượu. Anne say thứ khác, nũng nịu chất giọng của một kẻ rất mực tỉnh táo.

Cửa thang máy mở ở lầu năm, hành lang sáng dọc dãy đèn vàng. Theo tay chỉ của cô y tá, ông cầm gói quà bước vào địa phận mãi tôn trọng sự yên lặng. Người nằm trên giường sửa lại thế, kê gối cao để xua đuổi khuôn mặt buồn ngủ, thắp sáng một nụ cười. Tôi sẽ chết vì cảm động. Bệnh nhân nói khi nhận quà, chiếc áo đặc thù được cột giây có hơi sai lạc vị trí, giống như những sợi tóc rối chưa hề biết qua răng lược; tựu trung nó bày ra thứ hình ảnh gần như đêm Giáng Sinh năm nào. Bàn tay Anne đang dồn lực để níu đầu ông xuống trao gửi một nụ hôn. Sao biết tôi ở đây? Tôi gặp Fred và tôi nghĩ nên lại thăm Anne. Mùa lễ, nằm trong chốn ảm đạm này, người ta cần tin tới một thứ mà chúa không đủ quyền năng để trao tặng. Đứa con gái của tôi cần học ở bạn nhiều thứ. Thấy đỡ phần nào không? Y tá không hỏi kiểu của bạn, họ chỉ nói từ một đến mười, bạn đang ở số mấy? Ừ, Anne đang ở thang điểm nào? Cách đây khoảng năm mười phút thì số sáu, hiện tại đang leo lên số tám. Bạn đáng yêu quá. Được nghỉ tới bao lâu? Tới tháng tư sang năm, hy vọng thế. Trở mình vẫn nghe đau. Đưa tay đây. Ông nghe lời và bàn tay ông được thăm dò lên vùng thịt đã bị dao kéo phẫu thuật. Ở bên hông, trần trụi suốt, không nội y. Mềm mại, ấm cúng. Ông thoáng nghĩ tới vợ, hai ba lớp vải đậy đệm, đang quấn thêm chiếc chăn mỏng để thả hồn vào những thước phim tình cảm lãng mạn của Hàn quốc. Vợ ông đưa cảm nhận: Trong phim ảnh, những đứa tráo trở xấu xa đều phải bị tiêu diệt vào đoạn cuối; còn ngoài đời thành phần ấy luôn sống dai, thọ hơn cả người hiền lương.

Người y tá mang thuốc vào. Ông nói tôi về nhé, sẽ trở lại thăm hoặc khi nào xuất viện tôi sẽ dìu đỡ và làm tài xế cho. Cô y tá cười, chúc ông mùa lễ an lành. Ông lập lại, phát hiện khuôn mặt thoáng buồn của Anne. Noel năm ấy, khi chưa bị tai nạn, ông ta đã nán ở với mình lâu hơn ước ao. Xương đã gãy thì còn ra cơm cháo gì nữa hở trời! Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa cũng mất sướng!

Ông về tới nhà bà vẫn xem chưa hết mấy tập phim. Vì lỡ đóng tuồng đi ăn với cựu đồng nghiệp, ông đã tạt vào tiệm người Việt ăn bát phở dằn bụng sau khi từ bệnh viện trở ra. Biết ông về, bà chẳng hỏi han bởi phim đang gặp hồi gay cấn. Thằng con rể âm mưu bất chính, dối gạt cả nhà cho tới khi bị vợ đương sự phát hiện. Dĩ nhiên vợ ông, đàn bà với nhau, đã thoá mạ chẳng tiếc lời thằng tài tử đẹp trai đóng vai kẻ bội phản. Ông nói: Có trường hợp nào người ta ca ngợi và đồng lòng tiếp tay với kẻ dối gạt không? Ông uống mấy chai bia mà trở chứng đi nói ba cái chuyện khó nghe vậy? Bà nghĩ sao về vụ ông già Nô-en hằng năm từ chốn xa cỡi xe về trao quà cho bọn con nít trên toàn thế giới? Đánh lừa người lớn thì khoan xét tội trạng, nhưng dối gạt bọn trẻ con thì cần lên án, cần ngăn chận ngay.

Bà vợ nhìn ông, thăm dò vẻ mặt chồng: Ăn liên hoan cùng bọn tây ở chỗ làm cũ, có phải không? Sao tui đánh hơi toàn cả mùi phở vậy? Ông cười to tiếng như ông già Nô-en: Đằng sau một người đàn ông thật thà luôn có bóng dáng phụ nữ đa nghi. Có cần tui nhắc lại bệnh tình không: Tui chúa yếu tim, là bông hoa trong mùa đông không biết sẽ tàn héo đi lúc nào… Ồ, thấy chưa, phải vậy chứ, thằng rể ấy bị cảnh sát đến bắt rồi kìa. Hừ, chạy trời sao khỏi nắng!

Hồ Đình Nghiêm
cuối năm 2016

Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

4. Phần 4
Tia nắng nong nóng rọi vào mặt khiến Hải mở mắt, đầu nhưng nhức nhưng hơi lạnh buổi sáng còn cóng cả đầu ngón tay. Chàng ngạc nhiên thấy bé Ngọc thản nhiên ngồi bó gối, ngó đăm đăm vào bờ. Vừa lúc những chiếc thuyền đánh cá Trung Quốc bỗng đâu từ tứ phía xô lại vây quanh thuyền. Họ chỉ chỏ nói cười, rồi ra dấu muốn mua vàng. Dũng đứng trên mui, hò hét:
– Mua đồ bà con ơi, ta ăn Tết lớn trên đất Trung Quốc một phen chơi.
Hải sực nhớ hôm nay đã là 28 Tết. Thảo nào người Trung Quốc có vẻ tưng bừng nhộn nhịp. Họ đổi chác, mặc cả, lắc đầu, gật đầu loạn cả lên. Đang hồ hởi đổi chác thì có người hô lên báo động, một chiếc tàu chiến công an xộc tới. Chiếc tàu hú còi đuổi thuyền đánh cá đi rồi quăng dây qua thuyền Hải, ra lệnh cột dây vào mũi để họ kéo. Dũng chỉ vào ngón tay đeo nhẫn, nói với:
– Chúng tôi có vàng, cần đổi dầu.
Viên công an nheo mắt, gật đầu. Chiếc thuyền bị kéo phăng trên biển, dọc theo bờ. Chí, thợ máy, cau có:
– Mả mẹ, nó kéo căng thế khéo vỡ cả thuyền.
Thuyền chạy qua những xóm chài lưới lục đục nhà tranh, ngư dân áo quần rách rưới ngẩn ngơ nhìn, có người đưa tay vẫy bâng quơ. Mãi chừng bốn tiếng sau, Hải nhìn thấy một thành phố khá lớn với cao ốc tân kỳ ngấp nghé trên bầu trời. Ai đó reo lên, phấn khởi:
– Nó cho mình vào đây thì thích nhỉ.
Tàu công an hướng mũi chếch vào bờ. Thoáng chốc, chiếc tàu sắt cập vào cầu tàu. Dăm kẻ trên bến như đã được lệnh sẵn, quăng dây qua thuyền buộc vào trụ sắt. Một viên công an nhảy xuống thuyền giải thích:
– Các anh không được lên bờ. Cần gì bảo chúng tôi.
Viên công an không mang quân hàm nhưng có vẻ là người chỉ huy bến cảng. Đầu ông ta hói khi cái mũ cát két nhổm lên vì một cơn gió bất ngờ thổi tới. Ông ta yêu cầu đếm số người. Dũng đột nhiên giãy nẩy khi mới đếm được một nửa nhân mạng:
– Địch mẹ, nhẩy dù hử!
Mọi người đổ dồn mắt về phía người thanh niên Dũng đang quát. Dũng vừa phát hiện anh ta nhẩy dù, đi chẳng tiền nong gì ráo trọi. Anh quát:
– Ai có tiền nong gì cầm tay sẵn sàng. Đù mẹ, không có tiền mua dầu thì chết đống cả này.
Một người đàn ông đứng cạnh Hải len lén cởi chiếc nhẫn vàng dúi vào lưng quần. Thấy Hải nhìn, anh ta lẩm bẩm chữa:
– Bạc vàng chi mô, cũng phải phòng hờ chứ.
Hải nhớ sực anh ta qua giọng nói Trung kỳ. Chính là gã từ chối “cọng” đứa bé khi lội sục vào bờ hôm đổ bộ đầu tiên. Khuôn mặt gã trắng nhợt. Cái khuôn mặt vô hồn của đồng loại người chuyên trốn trong buồng và biết uốn nắn phải lúc, mắt ít khi nhìn thẳng. Hải lờ đi cho anh ta dễ chịu. Nhẩm tính số vàng Dũng thu được một nhúm vừa lòng bàn tay. Anh thương lượng với viên chỉ huy công an:
– Anh mua hộ một phuy dầu, còn bao nhiêu mua hộ lương thực khô cho chúng tôi.

Google images

Viên công an nhận vàng, ra lệnh đem mấy thùng nước ngọt xuống. Trời như đã về chiều, gió biển hây hây thổi. Rồi gió càng lúc càng mạnh khiến cả thuyền đều lo ngại. Chẳng mấy chốc, mây đen sật sật, rồi ngùn ngụt kéo tới. Trời tối mịt. Nước biển sôi òng ọc như nồi canh đang nấu. Trẻ con ré lên sợ hãi. Cơn bão khi không ập đến dữ dội, giận dữ đập be thuyền vào cầu tàu cành cạch, cành cạch. Dũng nói qua màn nước mưa xối xả:
– Cho bà con lên bờ.
Lão Mục ngăn, thuyền lắc lư và có tiếng kêu răng rắc như sắp vỡ:
– Không, ra ngoài ngã xuống nước đấy. Chỉ một chốc thôi. Mọi người dồn cục vào trong mui.
Hải ôm cứng bé Ngọc. Có lúc nước biển chồm lên như một tấm mền trắng, chụp xuống hai cha con. Hải có cảm tưởng mình sắp ngộp thở, chàng nghe tiếng kêu thảng thốt, không phải của bé Ngọc mà của ai đó sát bên mình:
– Bố ơi…Bố ơi…
Hải lắc lắc bé Ngọc. Con bé dường như đã ngất đi vì sợ hay vì ngộp. Hải vuốt nước trên mặt con, bối rối. Khoảnh khắc, bé Ngọc hé mắt, hai hàng mi mọng đỏ.
– Không sao con, không sao con, chỉ tí thôi.
– Bố ơi…bố ơi…
Hải đã nhận ra tiếng kêu của Sương. Hai tay nàng ôm trước ngực, mái tóc phủ kín cả mặt. Hải trấn an:
– Cô Sương! Cô Sương! Không sao đâu, rồi sẽ tạnh ngay ấy mà.
Thuyền đập cách một cái. Sương mất thăng bằng ngã chúi vào Hải. Nàng sợ hãi lùi lại, miệng lại kêu lên khe khẽ:
– Bố ơi…bố ơi…
Lão Mục đang trấn trước mũi thuyền, bỗng nói:
– Dứt rồi!
Gió quả nhiên hạ dần, hạ dần, làm như câu nói của lão Mục là lệnh truyền chứ không phải lời tiên báo. Thuyền chỉ hơi đưa lên đưa xuống nhè nhẹ.
Những hạt mưa lâm râm, chừng muốn ngưng nhưng còn luyến tiếc. Một viên công an mặc áo tơi thùng thình xuất hiện:
– Cho chúng tôi lên bờ. Dũng nói.
Viên công an nhìn từ đầu tới cuối thuyền, rồi cương quyết lắc đầu:
– Không, các anh không được phép. Chừng nào muốn đi thì đi.
Dũng chán nản hỏi lão Mục:
– Tính sao ông?
Lão Mục nhìn trời, nhìn nước. Lão ngẫm nghĩ nói:
– Mình đi thôi.
– Liệu còn bão không ông?
– Chắc không. Giông đấy thôi.
– Nhưng …Mình ăn Tết đây đi ông.
Một khắc im lặng sau đề nghị của Dũng. Ăn Tết, ăn Tết trên thuyền. Hải nói:
– Có gì đâu mà…ăn!
– Ta đón Tết đấy mà.
Một ý tưởng kỳ lạ đến với Hải. Chàng bảo:
– Mình đón Tết giữa biển đi.
Lão Mục cười, lần đầu tiên Hải thấy lão cười:
– Tôi còn lạ gì. Thôi, cứ đi men theo bờ tới đâu hay tới đấy.

Google images

Dũng nhảy đại lên bờ, vươn chân vài cái rồi tháo dây, kêu Chí nổ máy cho thuyền “de” lui. Anh đưa tay chào viên công an, giỡn:
– Đồng chí ở lại vui Tết nhé.
Dũng nhảy xuống thuyền, chống nạnh nhìn lên những cao ốc ngất ngưởng xa xa:
– Không bao giờ ta trở lại đây.
Màu trời đang chùi về phía hoàng hôn. Không khí thơm phức mùi nước mưa. Lão Mục kêu Dũng lấy bản đồ để hội ý hướng đi. Từ chỗ thuyền đang trôi, theo ý Dũng, phải mất nhanh lắm là một ngày mới tới thị trấn Hải Khẩu, thủ đô của Hải Nam, nếu đi theo đường tắt. Như vậy, đến Hải Khẩu đã là ba mươi Tết.
– Tính sao ông.
– Mua ít đồ rồi đi tiếp.
Hải vẫn giữ ý định ăn Tết trên biển. Từ Hải Khẩu vượt qua eo biển Lôi Châu là tới đại lục.
– Chẳng mấy chốc là tới Hồng Kông.
Dũng phấn khởi. Theo dự trù thì từ Việt Nam đi chỉ mất bảy ngày là tới Hồng Kông. Vậy mà đã mười ngày qua, Hồng Kông còn xa tít. Lão Mục đo mực nước, rồi ra lệnh cho thuyền chạy hết ga. Hình như lão cũng đang nôn nóng điều gì đó. Bóng đêm đã buông, những đốm sáng lấp lánh trên bờ như hồn ma trêu chọc đoàn người lạc bước đang lênh đênh ngoài đại dương mông quạnh.
Chạy đến gần sáng, Dũng đề nghị cho máy nghỉ. Lập tức, một thanh niên hỏi:
– Ta nghỉ đây bao lâu?
– Chừng non tiếng.
Gã thanh niên cởi phăng áo, làm vài động tác giả cho ấm rồi nói:
– Anh chờ tôi về rồi đi nhá.
Không chờ Dũng đồng ý, gã phóng ngay xuống nước bơi vào bờ. Lão Mục hỏi:
– Thằng nào đấy?
– Thằng này đi nhẩy dù ông ạ. Nhưng thôi, đến nước này có đòi tiền nó cũng không được.
– Nó làng cậu đấy à?
– Nó Quảng Ninh. Hôm trước trốn theo cháu lên bờ trộm mía đấy. Chắc giờ lại giở trò cũ.
Một chị đàn bà hóng chuyện góp tiếng:
– Thằng Thớt đấy. Đầu gấu Quảng Ninh, tôi còn lạ gì quân ấy.
Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua mà Thớt chưa trở lại. Dũng sốt ruột, cau mày ngó đăm đăm vào bờ. Mặt trời đã sắp sang thóp cây. Màu đỏ của bình minh như được pha thêm sắc trắng, nhạt dần, nhạt dần trên sườn núi sững. Giữa lúc ấy, một bóng người trên bờ xuất hiện. Bóng người đang hì hục đẩy một mảng bè xuống nước, rồi cứ thế vừa bơi vừa đẩy bè hướng ra chiếc thuyền đang neo. Dũng cảnh giác hô:
– Nổ máy chuẩn bị.
Tiếng máy gầm gừ chờ đợi. Cái đầu nhấp nhô trên mặt nước như một trái dừa khô. Cặp mắt Dũng nheo lại:
– Thằng Thớt.
Thớt vừa bơi vừa đẩy. Những cây mía dài khẳng khiu như thiếu ăn trồi sụp trên sóng bạc. Gã đã đến sát thuyền, ngước cổ lên, giọng gã lục sục:
– Này, mía đây. Kéo hộ tớ tí.
Dũng quăng móc cặp bó mía. Mía sổ ra rơi bõm xuống. Thớt vừa lên thuyền, phóng ngay xuống vớt lên lại:
– Ấy, đừng thế chứ. Bố nhọc công lắm mới mang mầy về đây.
Người đàn bà khi nãy bình phẩm về Thớt, trầm trồ nịnh:
– Chậc, anh tài thế. Bà con có một bữa như thế này là anh công đầu đấy.
Thớt cười lục cục trong họng. Hai bắp tay gã loang loáng hàng chữ xăm bằng mực Tàu: “Xa quê hương nhớ chị dâu”. Cánh tay kia xăm hình một chàng trai và cô gái đang trần truồng ôm nhau. Gã tự động chặt mía. Chia đều trên thuyền, vẻ mặt hể hả.

Google images

Tiếng cạp mía rôm rả vang trên thuyền, dường như lấn cả tiếng máy. Trong khốn khó, ai cũng cần có miếng ăn, dù là ăn của “quân ấy”, như lời người đàn bà. Bã mía trôi lềnh bềnh trên sóng, sui sủi bọt biển như bọt nước miếng. Nắng chói, hừng hực hơi người xông lên. Hải rờ trán bé Ngọc, có cảm tưởng đứa bé đang sốt. Chàng nhai từng lóng mía, để nguyên chất nước ngọt trong mồm rồi áp vào miệng con, đẩy ngụm nước qua. Lòng chàng quặn thắt nhớ đến Thu, đến thằng Quỳnh. Nếu có nàng ở đây, hẳn chàng đã không vụng về mớm nước cho con như vậy.
Gần trưa, thuyền càng lúc càng đi gần đến những chiếc tàu sắt đang ngược xuôi trên biển, hoặc đậu san sát gần bờ. Lần đầu tiên Hải, và có lẽ tất cả những người trên thuyền, trông thấy một chiếc tàu chạy hổng mặt nước lao vùn vụt trên biển, một tia sóng nhọn chẻ trên không. Phía xa, những tòa nhà chọc trời vươn mình lộng lẫy và kiêu hãnh. Một thành phố văn minh mà chỉ có trong trí tưởng tượng của mọi người đã thực sự xuất hiện rõ dần, rõ dần.
Tàu công an lại xuất hiện, cứ như là họ đã rình sẵn đâu đó rồi, chỉ chực chờ thuyền vượt biển. Con thuyền Việt Nam được hướng dẫn đi theo, cặp bến, nhỏ bé và khiêm tốn giữa những thuyền sắt ngạo nghễ.
– Trung Quốc mà đã thế này.
– Văn minh nhỉ.
– Chả bù cảng Hải Phòng.
– Kinh thật.
– Bì thế nào được, người ta nước lớn.
Mấy viên công an ngồi chồm hổm trên bến, sát thuyền. Họ mỉm cười. Chao ôi, công an mỉm cười với nhân dân mới lạ chớ. Hải không nghe Dũng đang trao đổi gì với viên công an vì mấy bà nhặng cả lên.
– Trông chúng hiền lành nhỉ.
– Chẳng có ta đây tí nào.
– Thích thật!
– Hay hôm nay Tết nó mới vui vẻ thế. Chả nhẽ nào công an lại cười bao giờ.
– Bậy nào, xứ người có khác!
Dũng báo tin: không ai được lên bờ, muốn ở đây ăn Tết thì vẫn phải…đốt pháo trên thuyền. Một công an xuống thuyền đếm người, ghi chú cẩn thận bao nhiêu đàn ông, đàn bà, trẻ con. Bỗng có người đề nghị:
– Ai có đô la muốn đổi thì nhờ người ta đổi.
Hải lấy tờ hai mươi đô la Mỹ gói kỹ trong bọc nhựa, nhờ viên công an mua ít thuốc cảm. Chàng dặn thêm:
– Còn bao nhiêu, xin ông cho bình rượu uống mừng xuân.
Viên công an cười thông cảm. Chỉ một chốc sau, ông ta mang rượu, lương khô, rồi cả thuốc lá lại. Lão Mục nói:
– Cậu xin thử họ cho mình chỉ đứng trên bờ hết đêm nay thôi. Qua Giao thừa mình sẽ đi.
Dũng quay qua viên công an, cắt nghĩa. Thấy gã cứ lắc đầu, anh chán nản nói:
– Chúng tôi không cần đứng trên đất của các anh, chúng tôi chỉ muốn…
-…Thôi khỏi, tỵ nạn mà!
Biết có nói nữa cũng không được, Dũng hậm hực ra lệnh nổ máy đi. Tiếng máy ròn rã mà nghe buồn như tiếng khóc của kẻ lạc đường. Hình như có một phút im lặng đi, nghèn nghẹn sao đó. Lão Mục nói, đánh dạt cái không khí sắp trở thành bi thảm:
– Thôi cứ khui rượu đi. Mình lai rai đón Tết là vừa. Các cậu chỉ lãng mạn đấy thôi, Tết ở đâu chả vậy.

Google images

Chiều tàn. Màu đỏ của trời dội lên nước, tắm đẫm một điều gì ghê rợn, tựa như máu đỏ vừa loang, đang loang, dàn ra cả mặt nước. Hải chưa bao giờ thấy một màu đỏ rùng rợn như vậy, phải chăng vì chàng và những người đồng cảnh đang bị đẩy ra từ bến bờ chu du qua chân trời bơ vơ trước mặt, nên tâm hồn cũng nhuộm gắt một màu đỏ ứa máu. Con thuyền hùng hổ lao về phía trước, một chân trời tua tủa những cụm mây nhọn như hầm chông vừa xuyên qua da người, đâm xuyên ruột, bày ra những vũng máu đỏ gắt, đỏ thẫm. Hải cho con uống thuốc, lấy áo trùm kín thân thể nóng hầm hầm của bé Ngọc. Chàng đón chén rượu từ tay Dũng, chiêu một ngụm lớn. Hải thấy mình bất lực như một con sóng nhỏ, cứ bị ngọn sau đẩy tới trước mà không cách nào dừng lại để tan vào một nơi nào thật bình yên. Chàng nghĩ giá chàng là ngọn sóng nhỏ như câu sáu trong bài thơ lục bát, cứ bị câu tám đẩy tới, xô tới trong một nhịp lẻ day dứt thì đỡ khổ hơn, hoặc nếu ngắt ở một nhịp chẵn đồng điệu chẳng hạn, thì càng sung sướng hơn thế nữa. Phải chăng nước sẽ không còn là nước nếu không bao giờ có sóng? Phải chăng đã là người thì phải xô tới trước, sẽ không bao giờ ngưng đọng, bị xô đẩy chính tư duy của mình, bởi chính cuộc đời xung quanh, bởi những vần điệu đặt lấy, để ru cuộc đời. Hải thấy bừng bừng, huyết quản như có muôn ngàn động cơ nổ, nổ đều một lúc. Bây giờ đây, chiếc thuyền như ngọn lá giữa bốn bề mênh mông. Không còn thấy cao ốc đằng sau, không còn thấy gì cả. Chiếc lá lênh đênh trong mây đỏ, hướng về phía trời đỏ, nhưng càng đi càng thấy xa dần. Như ảo tưởng không bao giờ túm được, một ảo tưởng đỏ gắt, vây quanh những máu và máu.
Rồi từ đằng xa, rợn trong mây đỏ là một cái quạt. Đúng như vậy, một cái quạt đang chìa ra chắn bước. Lão Mục gầm lên, kinh khủng:
– Chết rồi!
Lão đưa tay chỉ, tuyệt vọng. Mặt trời núp sau cụm mây đỏ, rồi màu mây chuyển dần sang màu đen, xòe ra như hình rẽ quạt. Từ dưới lòng biển đen thăm thẳm nghe như có tiếng gầm gừ của dã thú vọng lên. Lão Mục hét:
– Trở vô bờ.
Nhưng đã trễ. Thuyền vừa ra đúng giữa hai dòng nước ngược. Một dòng chảy từ vịnh Bắc Bộ ra biển, bị cắt ngay giữa eo biển Lôi Châu và đảo Hải Nam nên dòng nước như một dòng thác đang ngon trớn bỗng bị ép lại thình lình khiến sức chảy càng hung hãn. Một dòng từ ngoài biển Đông chảy ngược vào vịnh Bắc Bộ cũng bị bán đảo Lôi Châu từ đại lục ép qua. Hai dòng nước xiết chảy ngược nhau, va vào nhau tạo nên những xoáy nước réo điên cuồng. Cái hình rẽ quạt từ trên trời càng lúc càng tỏa rộng, như năm ngón tay quái thú úp chụp xuống những con người bơ vơ bé nhỏ. Trong tích tắc, thuyền bị sóng nhồi lên đến tuyệt đỉnh cao, cao đến mức không thể cao nữa, rồi từ đỉnh cao ấy, vụt xuống một thung lũng bốn bề là nước đen dựng thành tường. Tiếng ré kinh hoàng của tất cả bị hút ngay vào bức tường đen, mất biệt, như sự thẩm âm tuyệt hảo nhất do tạo hóa cấu thành. Từ đỉnh sóng xuống vực sâu, rồi từ vực sóng thuyền tung lên đỉnh sóng, Hải nghe tiếng hét thất thanh của lão Mục:
– Con…ơi ơi…!
Tiếng hét xoáy tít vào tiếng nước reo hăm hở, ác độc. Thần biển đang hể hả xoa tay, chờ từng sinh mạng nạp mình. Trong giây phút ấy, lạ thay bé Ngọc vẫn trừng mở mắt, nhìn chằm chằm bức tường nước sùng sục quanh thuyền. Hải ôm chặt con, chàng nhìn thấy bóng dáng Đức Phật, chàng nhìn thấy thánh giá của Chúa Giê su, chàng nhìn thấy hồn thiêng của cha mình sừng sững trên sóng, dưới vực thẳm, đang nắm tay nhau kết thành vòng tròn lớn, cùng ca hát bài ca luân hồi sinh tử. Hải trừng mắt. Chàng muốn thấy kỹ cái tích tắc vô thường mà đời người không tránh khỏi. Chàng sắp dắt con xuống yết kiến thủy thần. Chàng sẽ cười khà vào mặt lão già có chòm râu bạc lướt thướt và đôi mắt buồn thăm thẳm:

Google images

– Ông đã thắng!
– Ta lúc nào cũng thắng.
– Trẻ thơ có tội gì?
– Trót sinh ra làm người.
– Tôi đi tìm đất sống.
– đất nào sống được nói ta nghe.
– Không phải nơi tôi được sinh ra. Nơi tôi có quyền ca khi hoa nở, nơi tôi có quyền khóc khi tôi muốn và nơi không có lão già râu bạc như ông.
– Ha…ha…ngươi tưởng không có người như ta là ngươi sống được ư…ha…ha…ta cho ngươi thấy.
Thủy thần vụt tan ra thành xoáy nước, vỗ tay reo. Lão cong mình thành một ngọn sóng, ngọn sóng dài hơn chiều dài của chiếc thuyền chở Hải. Lão trườn lên lặn xuống không biết bao nhiêu lần. Đột nhiên, lão đổi trò chơi, lão xoay tít trên không gian đen như vũng nước trâu nằm, hất tung cả chiếc thuyền lao vào hư vô nín lặng…
Hải nghe cả mặt đất gợn mình chuyển động. Một hơi nóng phà lên một bên mặt khiến chàng tỉnh dậy. Ô hay, chàng nhớ rõ mình đang chất vấn lão già có chòm râu bạc, chàng nhớ rõ là mình đang cỡi trên lưng lão, rồi bỗng nhiên…sao chàng lại nằm đây, chung quanh là rừng thông xanh lá, một khoảng trời xanh ngắt, một bờ cát óng ả điểm thưa vài hàng lá mục. Tiếng sóng thì thầm nhắc nhở, đâu đó.
Hải gượng dậy. Chung quanh là xác người nằm lổn ngổn trên cát. Chàng bỗng thót người nhớ tới con. Một sức mạnh kỳ bí thúc đẩy chàng dậy, lao tới trước. Chiếc thuyền đã bể tan tành nằm nghiêng trên bãi, một nửa thân sau chìm xuống nước, Hải chợt nghe tiếng gọi:
– Hải ơi…Hải ơi…con ông đây nè.
Dũng đang ôm bé Ngọc trong lòng, một bên má anh bị một đường cắt ngọt, máu khô quặp. Anh ngồi dựa vào gốc cây, đôi mắt lạc thần. Dũng trao bé Ngọc cho Hải:
– Nó không sao cả. Tôi tỉnh trước, thấy người nó đè lên mình. Lạ quá!
Hải siết chặt thân hình tiều tụy của con, nước mắt ứa ra. Cha con chàng đã được tha mạng. Chàng đã sống, chỉ có phép màu mới giải thích nổi. Hải thấy mình tỉnh trí phần nào. Phía bên kia một góc rừng vài người đang lóp ngóp bò dậy, tụ vào nhau. Dũng nói:
– Sóng đẩy thuyền vào đây. Tôi đếm sơ vẫn chưa đủ số người. Chắc rớt xuống biển.
Từ một kẽ đá, Hải thấy dáng lão Mục đang lom khom kéo Sương lên bờ. Thân hình nàng nằm sóng soải, hai chân chìm trong nước. Lão Mục hì hục một hồi mới đưa được cô gái lên. Hải thấy lão ngồi phịch xuống, thở hào hễn. Chàng dợm người thì cả thân hình như không còn tí hơi sức nào, ngã uỵch xuống. Dũng ôm đầu:
– Ông kiệt rồi.
Hải gượng nói, cổ họng khô đắng:
– Tính sao bây giờ? Đây là đâu?
– Đại lục. Chắc chắn là đại lục.
– Không thấy ai cả.
– Hẳn là bãi hoang.
Mặt trời đã lên quá nửa ngọn sào. Những xác người nằm trên cát đã bắt đầu cựa quậy. Có người vừa ngồi dậy thì ọc một cái, nước từ miệng trào ra xối xả. Nhưng rồi họ cũng lê lết tụm lại vào nhau, bàng hoàng trao đổi. Hải lim dim mắt, chàng thiếp đi, tỉnh dậy, rồi lại ngất. Chàng mơ thấy Thu dắt thằng Quỳnh đang chạy băng băng trên triền sóng. Chàng mừng rỡ la hét chạy lại. Nhưng đột nhiên, một đợt sóng lớn trùm lên, cả Thu và thằng Quỳnh biến mất. Hải rú lên sợ hãi. Chàng tỉnh giấc, mồ hôi vã như tắm. Nghe tiếng Dũng:
– Ông sốt rồi.
Anh thở dài nói tiếp:
– Chỉ còn nước đi xin ăn.
Một bầy quạ đen từ đâu bay lại, rít lên the thé.



Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

3. Phần 3
Những cây hương cháy đỏ hực hực. Đêm đang gần về sáng, đêm trong một khối huyền, đêm sạch cả dòng nước. Vũ trụ lồng lộng úp xuống lòng biển xanh, úp xuống những con người thoi thóp thở trên những đầu hương hy vọng cháy.
Hải nằm ngửa trên nóc thuyền. Từ cao, những vì tinh tú hững hờ lấp lánh. Tiếng cầu kinh, mùi hương thoang thoảng vào mũi, xông lên tận não…rồi bỗng như Hải trôi bồng bềnh vào một cõi vô trọng lực, cảm thông sâu sắc sự sinh động của vũ trụ, sự bé nhỏ của con người trước bao la và bóng tối. Con người, dân tôi, và Hải, chạy trốn từ một đất nước hữu hình này đến một đất nước hữu hình khác. Cuộc hành trình tưởng dài bất tận đối với sức trần của bàn chân bé nhỏ, tưởng chừng cả đời người chỉ mong đạt được cái thành tích ghê gớm đó. Nhưng thực ra khi nhìn lên cái vũ trụ không bến bờ trên cao kia, khi vầng trán chạm vào hư vô cùng bất tuyệt thì sự lao nhọc, những tranh giành, những kèn cực vất vả suốt kiếp người cũng không bằng con số không của hư không bình thản vẫn luôn ở đó nhưng không ngừng biến chuyển. Hải thương cho mình, thương cho bàn tay người nhỏ bé muốn cất giữ nhiều thứ nhưng không bao giờ cất giữ được hư vô. Hải thương cho người vợ trẻ không vượt được một trạm kiểm soát, Hải thương cho sự bất lực của con người, tâm thức Hải như đang ở nơi cao nhìn xuống thấy mình vượt qua mọi chướng ngại vật nhưng thịt cứ cù nhầy ở mãi một nơi.
Hải bỗng muốn rũ bỏ tất cả, những ước mơ thực tại và cả luôn quá khứ. Chàng muốn con thuyền cứ lặng lờ tắt máy và có trôi đến đâu cũng đành để tâm hồn phiêu diêu cùng ảo ảnh. Thì đúng lúc ấy, tiếng máy thuyền nổ hục lên giòn giã. Hải nhổm dậy, bàng hoàng nhận ra mình vừa trải qua một phút giây rất thực với con người chàng. Bọt sóng trắng tung tóe đằng sau, vút lên giục giã cùng tiếng reo hò của mọi người. Hải nghe tiếng Dũng hò hét gì đó bên dưới, một lát thấy Dũng ló lên cười rạng rỡ:
– Chắc lọt rồi ông ạ. Kìa, ông xem!
Hải nhìn theo tay Dũng chỉ. Hướng đông, một vùng sáng đỏ nhạt hiện lên cuối chân trời. Ánh sáng như mọc từ mặt nước loang loáng tĩnh lặng. Con thuyền từ bóng tối tiến về phía mặt trời đang mọc. Ánh sáng càng lúc càng tỏa rộng. Những cụm mây trắng pha sắc hồng nằm chết trên cao xúi vào lòng người đi sự thúc giục và hứa hẹn đẹp đẽ. Hải nhìn đăm đăm mặt trời nhỏ như quả hồng đang trồi đầu lên từ mặt biển, hỏi:
– Mình đi tới đâu rồi ông nhỉ?
Dũng ngắm bốn bề chỉ thấy chân trời, rồi thò đầu vô mui hỏi vọng:
– Chắc tới hải phận rồi ông nhỉ?
Lão Mục chậm rãi từ trong mui chui lên đứng trước mũi thuyền, hai chân xoạc ra với dáng vóc của một thuyền trưởng nhà nghề nói:
– Tới rồi.
Cả thuyền dồn ra ngoài, tất cả đều quơ tay reo hò mừng rỡ. Hải thấy Sương đang len lỏi chen lên đầu thuyền, tay nàng nắm chặt vào mạn như sợ ngã dù lúc ấy biển rất êm. Lão Mục đến bên con, thầm thì giảng giải điều gì đó. Sương nhìn đăm đăm lên bầu trời sáng xanh thăm thẳm, rồi cúi xuống đo lường sự thẩm nhập của màu trời trong đáy đại dương. Có lẽ nàng đang thực tập kiến thức khoa học căn bản mà nàng đã lượm được ở đâu đó, chẳng hạn như màu xanh của biển đồng bộ với màu xanh của trời. Lão Mục thình lình quay lại nhìn Hải khiến chàng ngột ngạt có cảm tưởng bị lão bắt gặp ý nghĩ của mình về Sương.

Google images

Nhưng may quá, lão Mục cười hiền hậu. Hải trèo xuống mui theo cái ngoắc tay của lão:
– Cháu nghe Dũng nói về ông nhiều.
Lão Mục cười hà hà:
– Cái gì thế?
– Dũng bảo ông sành biển lắm. Cả thuyền chỉ trông vào mình ông đấy thôi.
Nghe tiếng đàn ông, Sương quay lại, đôi mắt nàng mở to nhìn Hải không chớp:
– Cô đây là con gái ông? Hải hỏi, hơi ngạc nhiên không thấy Sương chào lại cái gật đầu của chàng.
– Vâng, tôi có mình nó thôi.
Lão Mục âu yếm nhìn con, chợt cằn nhằn:
– Ấy, áo con rách hồi nào thế?
Lão lật tay áo Sương nhìn vết rách dài nơi cổ tay, ngẫm nghĩ:
– Lại bị cái gì móc vào rồi, may không sướt vào tay đấy
Sương “dạ” nhỏ, dường như không quan tâm lắm đến lời phê bình của cha. Lão Mục lại nói:
– Chắc cũng sắp đến bờ đấy thôi. Để bố khâu lại cho nhé.
Hải suýt phì cười. Ai đời con gái lớn thế mà con để bố khâu áo cho. Nhưng Sương thản nhiên nghe bố nói, nàng hơi mỉm cười với Hải rồi lại tì người vào mạn thuyền nhìn ra biển. Mặt trời đã lên cao, thuyền êm ả lướt. Hải có cảm tưởng mình đang tham dự một chuyến du lịch. Lão Mục vào cầm lái thay Dũng, dặn:
– Con đứng đây chơi nhé.
Chờ lão Mục đi, Hải cười nhỏ:
– Bố cưng Sương quá nhỉ!
Sương đáp:
– Bố chỉ có mình em thôi mà.
Nàng nhìn chân trời không chớp. Ánh nắng soi lên khuôn mặt rám hồng của nàng rực rỡ. Một lúc, mồ hôi bắt đầu đọng trên trán Hải, lăn xuống mắt cay sè. Trong phút chốc, Hải hình dung hình ảnh Thu đang bế thằng Quỳnh đứng trước cửa nhà, đôi mắt nàng dõi trông ngóng đợi tin chồng. Rồi Hải lại tưởng ra dáng mẹ chàng đang quỳ gối lẩm nhẩm đọc kinh. Hình ảnh của vợ con, mẹ già, chập chờn theo sóng nước lăn từ thân thuyền, có lúc như chạy theo chàng, có lúc như đứng lại nhìn theo chới với. Cái khoảng cách vô cùng từ nơi Hải đang đứng, hải phận quốc tế – Ô! Mình đang ở một nơi gọi là quốc tế rồi đến mái nhà thật rất đỗi xa lắc xa lơ trong lòng Hải. biết đến thuở nào chàng lại được dầm mình trong cơn mưa bấc lạnh, trở về trong buổi chiều buông nào đó, và tâm thức thật an bình với bản trường ca đang dậy trong hồn.
Cơn thao thức theo Hải đi vào giấc ngủ. Buổi chiều, hoàng hôn thấm đỏ màu máu tươi. Rồi màu đó tắt đi chầm chậm trả cho bóng tối quyền ngự trị. Thuyền trôi, tiếng máy nghe chừng như mỏi mệt. Đột nhiên, tiếng báo động của Dũng vang lên:
– Có ánh đèn.
Lão Mục hét:
– Giảm tốc độ. Neo thuyền!
Động cơ rú lên một tiếng nổ bình bịch cầm chừng, có người góp ý:
– Thấy đèn rồi thì chạy tới luôn đi. Neo làm gì.
– Ừ, phải rồi. Đến Trung Quốc rồi đấy.
– Thích nhỉ.
– Hoan hô đồng chí Trung Quốc vĩ đại.
Dũng lên tiếng trấn an:
– Bà con bình tĩnh. Ta neo đêm nay sáng mai đi tiếp ngộ nhỡ đụng phải đá ngầm là tan xác đấy.

Google images

Tiếng ồn ào giảm dần. Hẳn tất cả đang chuẩn bị tinh thần cho cuộc đổ bộ ngày mai khi bàn chân giẫm lên xứ lạ. Quê hương xa lắc.
Tờ mờ sáng, thuyền nhích lại gần bờ hơn. Hải đã có thể nom rõ những thuyền tôm của người Trung Quốc đậu ven bờ san sát. Dũng bàn với lão Mục:
– Ông đợi ở đây, để cháu bơi vào bờ xem hư thực ra sao.
Lão Mục cản:
– Khoan đã, vùng Trà Cổ rất giống đất Trung Quốc. Ngộ nhỡ gặp lính biên phòng của ta thì khốn.
Lão Mục cho thuyền chạy dọc theo bờ quan sát. Hải ngạc nhiên khi thấy ngư phủ Trung Quốc thản nhiên kéo lưới dù đã nhìn thấy thuyền vượt biển. Chàng cứ nghĩ là họ sẽ nhào ra đón tiếp nồng nhiệt con thuyền đang tìm bến đỗ. Nhưng không, sự thờ ơ và những cái nhìn cúi mặt né tránh của dân chài khiến tất cả bàng hoàng sợ hãi, không biết điều gì đang chờ đón. Chừng hai tiếng sau, lão Mục quyết định:
– Neo thuyền, chuẩn bị vào bờ.
Hải áng chừng từ chỗ thuyền neo đến đất liền khoảng 100 mét nước. Chàng nói với Dũng:
– Đàn bà trẻ con thế kia!
Dũng ra lệnh:
– Tất cả trẻ con cho lên vai để kiệu, cõng đàn bà để đưa vào bờ.
Những khuôn mặt bỗng xạm đi hồi hộp. Không ai nói với ai một lời nào trước giây khắc đặt chân lên đất lạ. Thì ra là xuất ngoại. Thì ra là xa quê xa nước. Chính là giây phút nầy đây. Hải nhảy xuống nước, hai tay bám vào mạn thuyền lấy thế cho vững. Cũng may mực nước đã nông, chỉ ngang tầm cổ của người đàn ông trung bình. Chàng hối bé Ngọc đang trù trừ chưa chịu bám vào cổ:
– Con bỏ cái cẳng xuống trước. Thế…thế…
Chợt Hải nghe một tiếng “bõm” khiến chàng giật thót người tưởng bé Ngọc hụt chân. Thì ra là một người đàn ông đang hấp tấp phóng xuống, hì hục lội vào bờ. Ở phía sau, tiếng Dũng ơi ới:
– Ế, anh kia, cõng giùm cháu bé này.
Người đàn ông lẩm bẩm:
– Cọng gì, có phại con tui mô.
Có lẽ Dũng không nghe giọng trọ trẹ của gã đàn ông. Anh vỗ về đứa bé:
– Để chú cõng cháu vào nhé. Nín đi nào.
Hai tay bé Ngọc đã nắm chặt tóc Hải, chàng vòng tay ngược ra sau ôm con, ngước mặt nói:
– Giữ chặt nhé…đấy…đâu có sao nào.
Đến bờ, Hải lảo đảo té uỵch xuống. Dũng nói:
– Ấy, say đất đấy. Nghỉ một chốc lại khỏe ngay.
Đất Trung Quốc! Những dãy núi mờ xa xa kia ẩn một điều gì bí mật nhưng trong có vẻ gần gụi quá. Trời đang trở tiết sang xuân, tưởng như mùa xuân hiện vào lòng, nở trên một chặng đường gian khó. Phía xa, sau những rặng cây già rũ lá, những mái nhà nho nhỏ hiền lành hướng ra biển đợi trông người đến. Một tốp người đầu đội nón lá đang cào muối trên bờ. Đàn ông đàn bà đều đội nón đan bằng tranh, nhưng viền nón dài cụp xuống che ngang tầm mắt, khi nhìn họ, Hải có cảm tưởng đây là những nhân vật bí mật trong truyện kiếm hiệp vì khuôn mặt của họ chỉ chừa từ sóng mũi trở xuống. Dù thế, Hải chắc là bọn người cào muối đang theo dõi đoàn người mới đến, những cái cào muối đã ngưng đưa tới đưa lui, chờ đợi. Im lặng. Chỉ có tiếng xào xạc rón rén của những bàn chân dè dặt trên cát. Hải đại diện nói, bằng thứ tiếng Quảng Đông “ăn đong” của mình:
– Lạy chú, cho các cháu nhỏ ít cháo ăn đỡ lòng.
Người đàn ông giơ ngón tay đẩy chiếc nón lên, tựa cằm vào cán cào. Khuôn mặt ông ta rám nắng, khắc khổ. Cả bộ quần áo lấm tấm màu trắng muối.

Google images

Ông ta đang ngần ngừ thì đột nhiên cả đám người đằng sau đưa cào lên chỉ ra phía biển, ra dấu đã hiểu xuất xứ của đoàn người vượt biển. Họ nhao lên:
– Cai chỉ, cai chỉ? (có nhẫn vàng không?)
Đoàn người mới đến nhìn nhau phân vân. Chợt có tiếng Sương vang lên nhỏ nhẹ:
– Gì thế bố?
Lão Mục nói:
– Họ đòi vàng.
– Ai cơ bố?
Vừa lúc đó đám người Trung Quốc bỗng tản ra, rồi người nào người nấy cắm cúi làm việc như không hề biết có đoàn người mới tới. Hải ngạc nhiên chưa biết chuyện gì xảy ra thì từ đằng xa, một tốp công an Trung Quốc xuất hiện. Trong chốc lát họ bao vây toán Hải. Một người áng chừng là chỉ huy hỏi:
– Ai nói được tiếng Quảng Đông?
Một bà mập nhanh nhẩu:
– Ngộ nè, ngộ nói được.
Viên chỉ huy ra lệnh sắp hàng hai, đếm tới đếm lui số người rồi bảo:
– Xong rồi, mấy nị xuống thuyền đi tiếp đi.
Hải chưng hửng tưởng mình nghe lộn. Có đâu là một sự lạnh nhạt phũ phàng như vậy. Người ta phải reo hò đón tiếp mới phải chứ. Hải nói:
– Chúng tôi là tỵ nạn Việt Nam. Chúng tôi xin các anh giúp đỡ cho mua tí đồ cần thiết rồi sẽ khởi hành đi tiếp đến Hồng Kông. Các anh trông…
Viên chỉ huy ngắt lời:
– Các anh ở đây chúng tôi không chịu trách nhiệm, với lại chúng tôi không có thẩm quyền giúp đỡ. Đến thị trấn kế các anh sẽ được giúp đỡ đi tiếp.
Mọi người đều căng thẳng. Có một người mệt quá ngồi phịch xuống cát, ý muốn nằm vạ. Viên chỉ huy ra hiệu, mấy gã công an khác lập tức nhào tới, xốc nách những người ngồi ỳ áp tải xuống…nước. Không một ai chống cự. Họ chán nản buông xuôi. Dũng hét lớn, gió đưa tiếng nói anh vang vang cuối trời:
– Đi thôi bà con. Thuyền ta còn tốt.
Hải đến cạnh viên chỉ huy hỏi:
– Trước khi đi, tôi muốn biết đây là đâu?
Viên chỉ huy nghiêm nghị nhìn Hải:
– Thị trấn Xương Giang, Hải Nam.
Hải “à” lên tiếng nhỏ ngạc nhiên. Ra là thuyền đã đi chệch ra đảo Hải Nam, vậy mà cả bọn đều nghĩ đang ở đại lục. Chàng bế xốc bé Ngọc cho ngồi lên cổ, chậm rãi lội ra thuyền. Một chiếc thuyền công an vũ trang bỗng xuất hiện cặp sát thuyền vượt biên, những bóng người nhảy qua thuyền lục soát. Khi Hải vừa đẩy được bé Ngọc lên thì họ đã làm xong nhiệm vụ. Có gã còn cúi xuống lôi hộ những người yếu sức. Công an lại đếm số người, báo cáo với viên chỉ huy trong bờ trước khi cho thuyền chạy. Dũng cầm lái, lẩm bẩm chửi:
– Biết thế vào làm gì. Mà sao họ lại đếm kỹ thế hả ông?
Lão Mục đứng bên cạnh, mắt vẫn dõi trông vào bờ. Nắng trưa đổ một màu trắng xuống một bờ đảo Trung Quốc y như một giải đất nào đó mà lão đã trở về trong một lần nào đó ở quê Bắc. Cũng là màu trắng lung linh thơm mùi biển. Cũng những chấm người lù khù trên cát. Rồi những mái nhà cũ sì kiên nhẫn chờ sau những tàn cây. Lão nhảy lên bãi, đi ngược lên dốc dựng ngược, đếm một lối đất nhỏ dẫn về làng, trìu mến ngó con chó đang trằn lưng trên bãi cát rửng mỡ. Xóm làng của lão vẫn nhẫn nhịn mỗi lần lão đi biển về. Lão yêu nó lắm. Lão yêu cái lối nhỏ về làng không kể sao cho xiết. Những mối tình thơ dại vẫn đọng trên dấu chân hằn trên cát bỏng, in trên đất khô, và như có cả mùi gì ấy phưng phức trong gió nữa. Ấy vậy mà lão lại bỏ đi, đôi bàn tay cứng tạo dựng một đời giờ chỉ còn là những cục u nhức nhối. Những cục u quá vãng.

Google images

– Hở ông?
Dũng hỏi lại, tưởng lão Mục không nghe.
– Họ sợ có người trốn theo mình đấy.
Nắng đổ đầy thuyền, vương trên tóc, nắng loáng cả chân trời, sóng sánh như làn nước mắt nức nở của người vợ hiền xa xăm khuất nẻo. Hai tròng mắt trắng dã, uất ức ngước nhìn bầu trời đen thẳm những hình thù ma quái, và những rách rưới từ tím thẫm tâm can ứa tràn hai bên miệng, nghẹn ngào. Lão đổ ập trên xác vợ, người khô khốc, không có tiếng nấc nào vang lên trong lão. Thế là hết…một đời. Vợ lão là con người cô độc. Một bận, dè chừng sắp đến ngày sinh nở, lão về đến nhà thì đứa con gái đã ra đời. Vợ lão nằm trên chõng tre, một lò than ngun ngún đỏ bên dưới. Lão ngồi xuống, vuốt đầu đứa bé, rồi cứ thế lặng yên. Người đàn bà vừa làm mẹ giương đôi mắt thao láo nhìn lão, nước mắt lã chã tuôn. Sự cân nín bẩm sinh của người đàn bà đã dẫn lão lại gần, và cũng chính nỗi câm nín ấy lần nữa đẩy lão đi, như một trò chơi ú tim ma quái, vừa thiết tha vừa lạnh nhạt, vừa dung dị vừa lãng mạn. Bây giờ thì người đàn bà đã toại nguyện, đã hoàn toàn câm nín dưới ba lớp đất đen nín lặng, muôn đời…
– Tao đái cho bõ ghé..ét!
Một giọng nói ở cuối thuyền. Rồi nghe tiếng nước chảy tồ tồ. Gã con trai tinh nghịch day mặt về hướng đất liền, vén quần. Có tiếng cười khúc khích đồng lõa của mấy bà trong khoang. Rồi như một thứ bệnh dịch, tiếng cười lan nhanh khắp cả thuyền. Cả Sương cũng chúm chím, cổ vũ một trò chơi thời thơ dại. Dũng vừa lái, vừa nhìn lui lắc đầu:
– Cái thằng, cứ làm mình nhớ hồi đi học, ghét ông thầy nào là thế nào cũng tìm cách tưới vào nhà ông ta.
Hải góp chuyện, mắt nheo lại vì ánh nắng. Cái bóng lão Mục đứng đầu mũi in sắc trên bầu trời xanh lơ.
– Ấy, ai bảo ông là kẻ đàng hoàng tử tế đâu nào.
Hải có cảm giác an bình. Chàng hình dung chẳng mấy chốc sẽ vượt qua eo biển Lôi Châu, rồi cứ thế dọc theo bờ mà đến Hồng Kông. Cuộc đời sẽ mở ngõ ở đấy, bao ước vọng sẽ tuôn ra, lao vun vút theo tiếng gọi mơ hồ từ những phương trời xa thẳm.
Bầu trời đã sang màu tím thẫm. Những cụm mây lặng đứng sẫm đặc như một rừng hoa sim tím nghẹn ngào. Hoa sim in trên nước, rung rinh từng cánh nhỏ xô vào bờ. Những kiếp người trùng trùng theo nhau, tựa như cảnh sống ngày hôm nay đã có từ muôn kiếp trước. Tất cả với tâm hồn ngưng đọng, đi tìm những huyễn tượng không bao giờ hiện hữu, bị thúc giục bởi chính những dục vọng ẩn kín trong ngách ngõ linh hồn mà tưởng là điều gì cao vời vợi, xô đẩy nhau lăn về phía trước. Phía con người. Chỉ có hoàng hôn bàng hoàng. Một hoàng hôn tím sẫm. Tím vô cùng. Không có tự do. Không có con người. chỉ có một màu tím thuở hoang sơ, đổ dần xuống, đổ dần xuống, nhọn như một mũi dao cắt, đâm vỡ những vết thương đau nhức mang theo từ dặm cũ.
Hải ngồi yên lặng như thế sau đuôi thuyền cho đến khi cả không gian tím ngắt màu tối. Bé Ngọc say sưa ngủ trong lòng, hai hàng mi nhắm nghiền, một bình an trông thấy. Chàng nhìn hộ con những vì sao sóng sánh nước loi ngoi giữa muôn trùng cô độc. Những giọt nước đang rỏ xuống đời chàng đang bập bềnh trên sóng, đã rỏ xuống những đêm ở quê hương ngửa mình trên bãi cỏ cùng người tình thi đếm những vì sao.
Hải có một đêm nồng hương đất.
Người con gái ngả đầu lên cánh tay Hải, nghiêng mặt lắng nghe chàng đang hồi tưởng một quãng đời xanh ngắt thơ ấu. Nàng cười rung rúc, vuốt ve bộ ngực căng phồng sức sống của người yêu. Hải kể đến bài học về tên các vì sao định hướng, dẫn dắt người thủy thủ đi đúng nẻo đường, dẫn tới một tương lai ước định. Chàng miên man tưởng tượng thay nàng những cõi trời xa thẳm. Nàng dụi mặt vào cổ chàng. Mùi lúa chín ngào ngạt khiến Hải ngây ngất. Chàng chưa bao giờ sung sướng như thế.

Google images

Nàng là cô giáo trẻ mới ra trường với những ước mơ dung dị như đồng cỏ, như hương lúa, như màu tím bông cà mượt vườn sau. Chàng chợt dấy lên sự thèm muốn, tuổi trẻ nung nấu trong lòng như bếp lửa ngày xuân, hừng hực, hừng hực… Chàng siết chặt thân hình mảnh mai của nàng, tê dại. Hạnh phúc thật gần, trong tầm tay. Chàng chưa nếm thử vị ngọt của tình yêu, đầu đời, bao giờ, mãi mãi.
Một tia sáng mơ hồ đâu đó hắt vào mặt khiến Hải nhắm mắt lại, lắc lắc đầu. Dĩ vãng tan đi.
– Đến đâu nữa?
Có tiếng càu nhàu. Trong đêm tối, mọi cặp mắt đều giương lên ngó vào bờ rưng rưng những ngọn đèn vàng. Hải nghe giọng Dũng nói với lão Mục:
– Ông coi thuyền để con vào bờ tham quan thử. Một chập, cái bóng đen thui thủi của Dũng phóng ùm xuống nước. Cả thuyền im lặng hồi hộp chờ Dũng mang tin về. Thuyền neo. Sóng êm ả vỗ bành bạch vào thuyền, mơn man những dịu dàng ru ngủ. Những vì sao nức nở gọi sầu.
Nàng cuồng nhiệt hưởng ứng. Nhưng khi bàn tay Hải vừa cởi tung hàng nút áo thì nàng đẩy ra, năn nỉ:
– Anh Hải, mình chưa cưới. Em…
Hải nói, hơi thở nóng bỏng:
– Thì mình sẽ cưới. Thu… Anh yêu em…
Thu để yên cho Hải hôn lên ngực, rồi dứt khoát đẩy bật Hải ra, van vỉ:
– Anh…đừng…Không còn bao lâu nữa…
Người Hải muốn nổ tung trong cơn thèm muốn. Chàng tự nhủ, ừ, chẳng còn bao lâu nữa. Chàng nhìn Thu cài lại khuy áo, gò ngực trắng nõn của nàng phập phồng phơi ra từ chút ánh sáng mơ hồ nào đấy chẳng còn bao lâu nữa chàng sẽ theo đoàn đi biểu diễn cho các chiến sĩ đang đồn trú ở biên giới, chàng sẽ phải bóp óc cho lòi ra dăm bài ca chống bành trướng, ca ngợi hình ảnh hào hùng của bộ đội ở tuyến đầu. Chàng sẽ về lại thành, sẽ chung sống đời đời với Thu. Nào có bao lâu nữa mà nôn nả.
Hải đi qua những bản làng xơ xác. Cuộc tấn công chớp nhoáng của bộ đội Trung Quốc đã cày nát những thôn xóm yên lành suốt những năm dài của cuộc chiến tranh giải phóng. Vài con chó đói sủa ăng ẳng khi ngửi hơi người, cuống quýt chui đầu vào bụi chuối lòi ra xương đít còm cõi. Những buổi chiều ánh dương tàn trên rừng tím sẫm, xào xạc khúc ai điếu những giọng sầu hoang dã. Trong lòng Hải chẳng dậy lên một nỗi căm thù nào như những lời ca mà chính Hải, và đồng nghiệp của chàng, vẫn bắt bỏ vào sáng tác của mình. Có lẽ khi người ta lặp đi lặp lại hoài một lời ngữ thì ý nghĩa ban đầu của nó không còn nguyên vẹn nữa. Có lẽ cuộc chiến này không nhắm vào những người như Hải như những con chó đang đút đầu vào bụi chuối ngây ngô chổng mông ra ngoài.
Rồi Hải về. Mùa thu lại tắm đẫm sương đêm. Nhưng mùa thu không còn là mùa thu, lá không rụng để nuôi mầm nhú. Thu nói, mặt cúi gầm:
– Anh tha lỗi cho em!
Lòng Hải sung sướng. Hẳn Thu phải nhớ nhung nhiều lắm nên mới vò võ xanh xao đến thế. Chàng sẽ xin cưới nàng, chàng sẽ sáng tác một tình khúc thực sự ca ngợi tình yêu, chàng sẽ…
– Em không đáng…
– Anh không hiểu?
Thu bật khóc. Một chiều sau giờ tan học, Thu lúi húi sắp xếp đồ đạc chuẩn bị ra về thì bỗng dưng nàng có cảm giác đang bị nhìn trộm. Một bóng đen vụt qua cửa sổ đứng choáng ngay cửa lớp. Lão hiệu trưởng.
– Cô giáo về trễ thế.
Thu thủ thế:
– Đồng chí cũng chưa về cơ à.

Google images

Lão hiệu trưởng cười híp mắt. Thu trong phút bối rối khi đối đầu với lão hiệu trưởng trong cảnh trường vắng vẻ, đỏ bừng mặt. Khóe mắt nàng long lanh ướt rượt khiến lão ngây ngất. Nàng la lên khi thấy lão hiệu trưởng khép cửa:
– Đồng chí làm gì thế?
– Chiều anh tí mà.
Lão hiệu trưởng xông lại, hùng hổ như con hổ đói vồ mồi. Lão cười sằng sặc điên dại, bàn tay chuối mắm xòe ra đè vật Thu xuống, thân hình lão tong teo nhưng mạnh như khối sắt nguội mặc cho Thu la gào, quẫy đạp. Lão hào hễn:
– Anh sẽ…anh sẽ…
Nước mắt Thu ứa ra khi một tay lão đè nghẹt trên cổ, nàng sắp ngất đi. Nếu biết, nếu biết…Hải! Nàng đã làm ô uế nơi thiên đường thánh thiện, ngay trước bảng phấn rao giảng luân thường.
Hải lặng im nghe Thu nói. Đôi mắt chàng hắt ra tia hằn học. Thu sợ hãi níu tay Hải:
– Anh…
Nàng ôm mặt khóc nức nở. Hải đã nằm dài trên cỏ, những thớ thịt giựt giựt. Lòng quặn thắt. Có gì đâu, có gì đâu. Nếu cái đêm hôm đó… nhưng ích gì. Ừ, Thu vẫn yêu chàng. Thế là đủ. Những vì sao ngắc ngoải ứa tràn, sóng sánh màu nước vỡ. Hương lúa vẫn ngạt ngào nồng thắm, hương lúa của ngày xưa…
Hải cúi xuống ngắm bé Ngọc say ngủ. Một chân chàng tê dại vì thân hình đứa bé đè lên. Chàng đau nhức tự hỏi không biết Ngọc có phải con mình. Không, ai cũng bảo nó có mái tóc dầy nghệ sỹ như chàng, còn vầng trán phẳng phiu của bà nội. Nó phải là kết tinh tình yêu trung hậu giữa chàng và Thu. Hẳn là như vậy.
Giọng lão Mục gắt nhẹ ở đầu thuyền:
– Cẩn thận nghe. Nó tóm thì khổ.
Hai thanh niên đang chuồi mình xuống nước, lẻn lên bờ thám thính. Trời đã về khuya. Cơn sốt ruột của những người còn trên thuyền giảm dần. Đã có tiếng ngáy ngủ. Hải cũng ngả người dựa vào be thuyền, mơ màng một vì sao xa thăm thẳm.


Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

2. Phần 2
Thu xuống ô tô thì trời đã chạng vạng tối. Thằng Quỳnh mê mệt trên tay nàng suốt tuyến đường cũng tỉnh ngủ, khóc y ỷ mệt nhọc, trán và lưng nó rịn mồ hôi nhơn nhớt dù đang mùa rét cuối năm. Thu quấn con trong tấm áo choàng bằng ni-lông, nàng ngập ngừng không biết có nên theo đoàn người xô đẩy nhau đi chuyến phà cuối trong ngày, hay trở lại tuyến đường vừa đi qua. Thằng Quỳnh đang lên cơn sốt. Thu cảm được hơi nóng hừng hực thoát ra từ bộ ngực lép kẹp của nó truyền qua người mình. Nàng biết qua tới bên kia chỉ có làng xóm nghèo nàn khó tìm được một chỗ tử tế cho ngủ nhờ, rồi còn phải theo xe đi cho kịp tới chỗ hẹn với Hải. Lòng nóng như lửa, Thu ôm con đi tới đi lui chưa biết phải quyết định thế nào thì có tiếng gọi:
– Này, xuống đi kẻo nhỡ phà chứ!
Một người đàn bà rảo bước, gọi. Bà ta gánh hai thúng đồ, chân bước thoăn thoắt. Thu gật đầu tỏ ý đã nghe, rồi sợ bị để ý, nàng làm bộ đi theo người đàn bà. Đến đầu cầu tầu, nàng quay ngược trở lại, leo lên chiếc ô tô từ bên kia bờ vừa được phà chở sang. Tài xế đang hối khách chất hàng lên xe vì trời đã tối, nhìn mặt biết ngay Thu không phải là khách đi từ bên kia sông sang, liền cự:
– Chị nầy, xe chật rồi. Ở đâu tới?
Hành khách tò mò ngó mẹ con Thu. Nàng đỏ mặt, lí nhí:
– Bác thương tình, cháu nó bệnh phải đưa về nhà gấp. Bác cho mẹ con cháu…
– Ngồi trên sàn, đưa tiền đủ.
Thu vui mừng rút ví trả tiền. Nàng khéo léo tìm chỗ ngồi, vừa vỗ lưng con vừa nghĩ tới Hải. Nàng chắc giờ này Hải đang trên đường từ Hải Phòng xuống, hoặc chàng đang chắc mẩm là Thu đã có mặt tại nhà Cường chờ chàng để tối mai cùng tập kết ra bãi. Thu nóng ruột muốn bay về nhà ngay để thằng Quỳnh nghỉ, sáng sớm mai sẽ dắt con đi cho kịp. Giao bé Ngọc cho Hải, Thu thấy không yên lòng, không phải vì Thu sợ chàng không lo cho con đầy đủ mà bởi vì nàng, với sự tự tin tuyệt đối của người mẹ, cho là không có ai trên đời này có thể chăm sóc con chu đáo hơn mình. Thu lại nghĩ nếu bé Ngọc ốm như thằng Quỳnh, thì chắc chắn Hải cũng bất chấp mà đi cho tới chốn. Nàng biết tính Hải tuy hiền lành nhưng liều lĩnh, huống gì chàng đang bị săn đuổi đến tận chân tường. Nàng hình dung vầng trán của Hải cau lại, đôi mắt hiền từ của chàng đọng tia buồn khi nghe nàng chưa tới điểm hẹn, rồi bé Ngọc trăn trở rấm rức. Lòng nàng thổn thức.
Xuống xe, Thu đi một mạch về nhà. Mẹ Hải đang trằn trọc lo lắng, thấy con dâu bồng cháu nội trở về thình lình, cụ chưng hửng, vừa mừng vừa sợ:
– Sao thế? Thằng Hải đâu? Cháu bà sao thế nầy?
Cụ dằn thằng Quỳnh từ tay Thu, giẫy nẩy:
– Nó lại ốm? Cơ khổ cháu tôi!
Cụ bồng cháu, hối hả đi bắt cháo, vừa nghe Thu kể chuyện, cụ ngắt lời:
– Con tính thế là phải. Đi mà bỏ xác dọc đường à.

Google images

Thu cảm động nghe mẹ chồng nói. Từ ngày về với Hải, nàng không phải làm dâu một ngày. Mọi việc bà cụ đều lo toan quán xuyến. Cụ chỉ có mình Hải, ông cụ chết nhục nhã từ thời cải cách ruộng đất, lúc đó Hải còn nằm ngửa, thời xuân sắc của bà cụ trôi qua thê thiết. Cụ phải ẵm con trốn qua làng khác, không kịp thắp một nén nhang trên ngôi mộ của người chồng chết oan khiên. Cụ ở vậy nuôi Hải lớn lên bằng tất cả sự nhục nhằn của người mẹ, quyết không bước thêm một bước nữa. Hải cũng được ăn học, đỗ vào trường Âm nhạc, ra trường theo đoàn ca múa lưu diễn khắp nơi để kiếm sống. Cụ tưởng vậy đã mãn nguyện lắm rồi, chỉ chờ ngày xuôi tay nhắm mắt đi gặp cụ ông. Phận làm mẹ của cụ đã mãn, phận làm vợ đã tròn thủy chung. Khi biết một lý do nào đó Hải bị cho nghỉ việc, rồi bị cảnh sát lùng bắt, cụ lo lắng nhưng hài lòng vì hình ảnh chồng bỗng sống lại mãnh liệt nơi đứa con độc. Ừ, há bố nó chả từng ba lô trên vai lên đồi xuống lũng là gì! Hải đã làm tròn phận sự làm con, sinh cho cụ hai đứa cháu kháu khỉnh (cái thằng Quỳnh còn nhỏ mà đã giống tạc ông nội), cụ hài lòng lắm. Bây giờ, chúng nó tính bỏ cả nước mà đi, cái chuyện này thiệt ngoài sức nghĩ của cụ. Cụ làm mặt tỉnh bảo Hải, hôm chàng về chào mẹ:
– Ừ, thì giờ mẹ chịu, trông cả vào các anh thôi.
Cụ đau đớn nhìn vợ chồng Hải trước sau có một ngày bế lẽ sống duy nhất của cụ ra đi. Trong lòng cụ dấy lên sự mâu thuẫn: vừa muốn con cháu đi lọt cho yên thân chúng nó, vừa muốn vì một lẽ gì đó chúng nó an toàn quay trở về. Trong tâm trạng ấy, thử hỏi cụ không sung sướng khi thấy Thu bế thằng Quỳnh về sao được.
Cho con ăn uống, tắm rửa xong, Thu đi ngủ. Nàng trằn trọc trông thằng Quỳnh chóng hạ sốt để sớm mai lên đường. Phía bên kia bức màn, mẹ Hải ư ử ru cháu, tiếng ru buồn như tiếng mõ khuya hôm. Nằm một chập, Thu nhổm dậy, thắp đèn để lên bàn, tẩn mẩn lục lại mớ giấy nháp Hải viết nhạc. Nàng có cảm tưởng là Hải còn luẩn quẩn đâu đây. Những nốt nhạc thẳng cứng bỗng như hiện hồn bốc thành giai điệu day dứt toát từ cây vĩ cầm của Hải. Một chập, Thu gục xuống bàn, chập chùng hình dáng chồng trong bao la đại dương.
Sáng hôm sau, Thu tỉnh giấc vì một tiếng động nhỏ trên bàn. Mẹ Hải đang rót chè ra tách, khuôn mặt cụ hốc hác:
– Nó cứ sốt con ạ, biết tính làm sao.
Thu dụi mắt, nàng ái ngại vì suốt đêm đã ngủ thẳng giấc phó mặc thằng bé cho bà cụ. Thu nói
– Chắc nó lên sởi đấy, ít hôm là khỏi thôi mẹ.
Bà cụ bảo:
– Mẹ cũng nghĩ thế. Nhưng thế thì con đi làm sao được?
Thu lưỡng lự không biết tính sao. Nàng ra sân, tần ngần bên lu nước. Tiếng thằng Quỳnh khóc, nhai nhẳng. Tiếng khóc của con bỗng giúp Thu quyết định, nàng nói vọng vào:
– Hay cứ để bố con anh ấy đi trước thôi, mẹ ạ.
Bà cụ cũng đang nghĩ thế, nghe con dâu nói giống ý mình, cụ gật đầu:
– Chỉ sợ…thôi, phó mặc số trời.
Ừ, thì Đảng định nhưng trời tính. Nàng ngồi ghé lên mép giường, mân mê cọng chiếu lò thò trên đường chỉ sút. Cả nhà, chỉ cái giường ba-xà nầy là vật có giá. Hải đã chạy vạy tranh thủ lắm mới mua được cái giường quốc doanh hồi mới đẻ con bé Ngọc. Nàng đỏ mặt nhớ hôm Hải đem cái giường về, lui cui tìm chỗ đặt giường, rồi đùa bảo vợ:
– Cái giường nầy mới là…giường tân hôn thứ thiệt.
Từ ngày cưới, vợ chồng Hải chỉ ngủ trên chiếc giường tre kẽo kẹt. Một cái giường ba-xà vẫn là ước mơ thầm kín của hai vợ chồng, bởi nó vừa chắc, lại không bao giờ có tiếng ọp ẹp nghe mà đỏ mặt. Thằng Quỳnh là sản phẩm đầu tiên của cái giường này, đúng như “lời hứa” của Hải. Chàng bảo vợ, khi ấy Thu đang mang thai thằng Quỳnh:
– Nhà nước ta cái gì cũng tệ, duy có làm cái giường là tốt. Đó, em thấy không, thảo nào dân số nước mình không tăng.

Google images

Thu nhéo vào đùi Hải, gắt yêu: “Làm bố rồi mà không đứng đắn cho con nó cười cho đấy”. Thời gian cứ vùn vụt trôi qua, hạnh phúc trôi theo mau vóc dáng ngày mỗi cứng cáp của thằng Quỳnh. Thu biết Hải sẽ đi, sẽ không chờ mẹ con nàng vì chàng hết cả lối về rồi. Nàng sẽ cô đơn trên chiếc giường kỷ niệm, trên cái gia sản quý báu mà cả một đời chàng mới để lại được. Nước mắt Thu chảy dài, đổ xuống cái đầu đen nhánh tóc của thằng Quỳnh.
Sáng ấy, nhà có khách. Khách đứng lâu lắm trước ngõ, ngắm Thu đang ngồi day lưng đun nước nấu chè. Tấm lưng dài thon thả của mẫu người thắt đáy lưng ong khiến lòng khách bỗng xao xuyến, tần ngần. Chừng như thấy cứ đứng mãi như thế bất tiện quá, khách đằng hắng, giọng nói không giấu được vẻ rụt rè:
– Chị Thu…vậy mà tôi cứ tưởng.
Thu nhận ra Cường ngay. Đôi má hồng lửa đỏ của nàng càng làm long lanh ánh mắt khi biết có tin chồng. Thu hối Cường lên nhà trên, đun thêm củi cho nước mau sôi rồi chế vô bình. Nàng hối bà cụ dậy, ríu rít:
– Có anh Cường đem tin chồng con đấy, mẹ.
Cường vui lây cái xoắn xuýt của bà cụ. Anh chậm rãi nói:
– Trước khi anh Hải lên thuyền, có dặn tôi tìm cách đưa chị đi. Thiệt là may quá.
Thu hỏi:
– Anh bảo “tôi cứ tưởng” là sao?
– Không thấy chị và cháu xuống, anh Dũng tôi đoán có lẽ chị bị bắt trên đường, may không phải thế!
Bà cụ chen vô:
– Anh nó tính đưa mẹ con thằng Quỳnh đi luôn à?
– Dạ, đó là ý anh Hải. Cháu đã chuẩn bị hết cả rồi, chỉ đưa chị và cháu xuống bãi tập kết là nhổ neo ngay.
– Thế đã có tin gì của nhà tôi chưa?
– Dạ chưa, nhưng thế nào mà chả lọt, bị bắt là ta biết ngay.
Cường ung dung uống trà, thái độ có vẻ tự tin trước trạng huống nhiều bất trắc đang chờ trước mặt. Anh lặng lẽ ngắm Thu, thầm khen sắc đẹp kín đáo mà mặn mà của nàng. Tóc thu cắt ngắn, sóng mũi thẳng khiến khuôn mặt nàng có vẻ gì mơi mới sang trọng dù chiếc áo đang mặc đã cũ sờn. Mỗi lần xoay qua phía bà cụ nói chuyện, nàng để lộ cái cổ trần phơn phớt lông măng. Cường bỗng có ý nghĩ là Hải phải gặp điều gì khó khăn lắm trong cuộc sống, chứ không dễ gì một người đa cảm như Hải lại dễ dàng để người vợ trẻ đẹp ở lại mà ra đi một mình.
Tám giờ tối, Thu bồng thằng Quỳnh đổ bộ xuống con thuyền chiều dài bốn mét, chiều ngang một mét rưỡi. Trời mưa phùn buồn bã, gió lồng lộng thổi tưởng chừng trong giây lát cánh buồm có thể rách nát như tờ giấy mục ngâm trong nước. Thu hoảng sợ khi đặt chân lên thuyền, áo quần nàng thấm ướt nước biển vì phải lội một quãng ngắn, nàng cảm thấy cổ khô đắng như đi giữa ngày tháng hạ dù trời đang mưa. Cả thuyền đều im lặng, đến trẻ con cũng câm miệng hến, nín thin thít. Bầu trời vần vũ khiến có người muốn đổi ý, trèo xuống thuyền không đi nữa. Nhưng Cường không để những tư tưởng thụ động kịp thời hành động, anh căng buồm chạy. Ngoài Cường là tài công chính, trên thuyền còn có Đặng cũng rất có kinh nghiệm về đường biển. Hai người thay nhau lái, lòng tràn ngập lo sợ. Họ không sợ sóng dữ vì đã tiên liệu được thời tiết, họ chỉ lo ngại bị chận bắt bất ngờ. Gần hai tiếng đi trong mưa, cả Cường và Đặng đều bắt đầu thấy hai hòn Đầu Tán và Đảo Tần, nơi có bộ đội tuần biển rất gắt. Họ đưa thuyền đi vào giữa hai hòn núi, êm ái như bóng ma xuyên lách trên đại dương. Có lẽ thời tiết xấu nên không gặp một tàu tuần duyên nào cả. Đặng lên tiếng:
– Trời sắp nổi cơn cố ông ạ.
– Sao ông biết?

Google images

– Theo kinh nghiệm đi biển, lát nữa trời sẽ tối đen như mực, gió cỡ cấp 9 chứ chẳng chơi.
– Tìm chỗ núp à?
– Núp ngay. Thuyền ta bé quá.
Cường tán thành. Anh cho thuyền bỏ xa một quãng nữa, rồi quay đầu nhắm hướng đảo Yên Tử. Quả nhiên, dự đoán của Đặng hoàn toàn đúng. Những luồng gió mạnh hùng hục xé trời đen, đánh rách cánh buồm tơi tả. Cường và Đặng hò hét khan cả cổ, vừa hội ý, vừa trấn tĩnh bà con trên thuyền. Họ chống chọi tới sáng thì trời dịu. Bằng kinh nghiệm, Đặng nói gió chỉ độ cấp 4, lại là gió nam rất thuận tiện cho việc tiến về hướng bắc. Đặng cho thay buồm, trong khi Cường ngồi nghỉ mệt, giở cơm ăn. Mấy thanh niên bây giờ mới lại hồn, tán kháo. Riêng Thu say sóng đến mửa mật, nàng lấy làm lạ là thằng Quỳnh vẫn tỉnh bơ như không hề hay biết chuyện gì. Nàng bỗng ao ước sống lại những ngày thơ ấu, bằng tâm hồn trẻ thơ không biên giới để nhìn đời bằng đôi mắt thong thả. Nàng ôm con vào lòng, có cảm tưởng cả hồn và xác nàng đã mất trọng lực và phiêu diêu giữa hư không. Buổi sáng nhẹ như tơ trời lang thang dưới nắng, sương mờ lung linh một màu trắng nhợt vừa lạnh, vừa hư ảo bồng lai. Những chỏm núi thình lình hiện ra, rồi khuất nhạt đây đó nhúm vào lòng Thu một sự bình tâm lạ kỳ. Nàng ước có Hải bên cạnh để cùng chia sẻ cái tâm cảm bình yên đang có. Nàng tưởng tượng khi nhìn thấy cảnh này Hải sẽ lặng lẽ ngồi hút thuốc, trước mặt chàng mở ra tập vở ghi nhạc, và Hải sẽ rót xuống những giai điệu thoang thoảng như hương biển, hoặc trồi lên một siêu âm hết vượt cung đàn. Nàng sẽ sung sướng tựa đầu vào vai Hải, lắng nghe từ môi chàng thoát ra những âm thanh chàng đang trau chuốt, rồi khi đạt được một câu đắc ý, chàng sẽ nghiêng đầu hôn nhẹ lên tóc nàng… Cứ như là tiểu thuyết vậy, mà cuộc đời chỉ là chương sách dở, không làm gì có tấm phông đẹp bôi lên một kết cấu vẹn toàn và chặt chẽ như ý nàng muốn. Thành ra, phải trở về với hiện thực gần đây, với sóng, với gió, rất đỗi não nề.
Từ phía đầu thuyền giọng một thanh niên bình phẩm, phá tan cái không khí trơn tru buổi sáng:
– Cứ như thế này đi đến Hồng Kông thì thích nhỉ!
Dường như lời ước của người thanh niên được nghe thấy nên thuyền cứ êm ru thuận gió lướt phăng phăng trên biển. Cường đã nấu xong nồi cháo, vất vả tìm chỗ đặt chân lên con thuyền chật cứng để phân phát. Nhìn bà con xì xụp húp, anh liên tưởng đến cũng độ thời gian này năm ngoái, anh lên chợ Sắt ở Hải Phòng tìm mua những món cần thiết cho chuyến vượt biển. Cường gặp từng toán ăn xin từ tỉnh lẻ do công an chở lên đi ăn xin. Hình ảnh những người ăn xin không phải là già yếu hay tật nguyền mà phần lớn là thanh niên trai tráng có sức vóc mạnh khỏe gợi cho Cường một ý nghĩa khôi hài chua chát. Những thanh niên đi ăn xin không chút ngập ngượng vì được nhà nước cấp giấy y như “môn bài” kinh doanh, họ đi đi đến từng sạp hàng, kéo vào quán ăn, tranh thủ húp đồ ăn thừa hùng hổ như lính ra trận vì giấy phép ăn xin chỉ có một tuần và không được gia hạn.
Cường đưa thìa cháo cho Thu, cảm thấy áy náy khi đứng trước một người đàn bà xinh đẹp. Anh hướng tia nhìn đi chỗ khác, không muốn Thu lúng túng khi mút mút chỗ cháo còn sót lại trong thìa. Tuy không nhìn nhưng Cường cũng “thấy” một nửa mái tóc Thu buông xuống che một bên mặt, hàng lông mi dài của nàng cong vút như hứng được cả không gian xao động những sương mù ảo ảo trên biển. Nắng xuyên qua thuyền, rớt trên tóc Thu một ánh hào quang, hồng hào óng ả. Cường đỡ cái thìa từ tay Thu, một ý nghĩ kéo đến khiến anh cảm thấy ngượng ngập. Tâm trạng anh lúc ấy là tâm trạng của một thanh niên mới lớn, dễ xúc động trước phái đẹp và lòng tràn ngập những mông mơ có từ sách vở.
Bỗng tiếng Đặng từ đầu thuyền vọng xuống:
– Cường lên đây tớ hội ý tí coi.
Khuôn mặt Đặng nhuốm màu lo âu, Cường đọc được điều đó. Từ phía chân trời, một cụm mây đen đang di chuyển nhanh như cái chảo lớn lướt trên trời. Đặng bảo:

Google images

– Trời sắp nổi cơn cố ông ạ!
– Ông chắc không?
Đặng đáp lại:
– Theo kinh nghiệm. Bây giờ mình nên tiến ra hay tiến vào đây?
Cường chau mày, quyết định của hai người có thể đưa ngần ấy nhân mạng hoặc trở về bến cũ để vô tù hoặc ra khơi rơi vào vực thẳm. Cường bàn:
– Hay cứ neo thuyền ở đây, nếu trời nổi cơn cố thực sự thì mình vào, không thì cứ tiếp tục đi.
– Nhưng neo bao lâu mới được chứ?
– Đây mới là vấn đề. Ông cứ thả neo, tôi cho bà con ăn xong rồi tính.
Thuyền neo đến chiều thì gió bắt đầu nổi lên. Cả Đặng lẫn Cường đều hiểu họ đang neo giữa hai bờ định mệnh. Bỗng thuyền lắc mạnh một cái, cả thuyền ré lên sợ hãi. Cường nói:
– Mình về thôi.
Đặng hét, gió thổi mạnh khiến anh không rõ ý kiến vừa rồi của Cường:
– Cái gì?
Cường hét trả:
– Nhổ neo về!
Khuôn mặt vốn tái của Đặng đỏ rần. Cường nghe rõ từng lời của Đặng, át cả tiếng gió:
– Không! Chết cũng đi.
Đặng ra dấu nhổ neo, nương thuyền ra biển. Hơn ai hết, Cường hiểu quyết định liều lĩnh của Đặng. Vốn là bộ đội nhưng bị xuất ngũ vì kỷ luật khi trốn không qua Cam Bốt, Đặng đã sống những ngày khốn khó nhất suốt chiều dài đất nước. Đặng biết nếu trở về, anh sẽ tiếp tục sống cuộc đời của con chó hoang. Chỉ có tiến về phía chân trời đang đen kịt mây đen kia, và cỡi trên phong ba cuồng nộ của biển khơi, Đặng mới còn hy vọng sống cho ra một con người. Dưới màu nước xanh biếc, xanh thẳm, giữa chân trời đen tối không chút ánh sáng đằng trước mặt, Đặng nhìn thấy một tia sáng lẻ loi kêu gọi anh đến.
Cường chợt nói:
– Người ta kéo về kìa.
Chừng non chục thuyền chài đang vội vã chạy ngược hướng thuyền của Đặng. Khi hai bên đã ngang tầm nhau, thuyền bên kia có tiếng hét hỏi:
– Về thôi. Trời đang nổi cơn cố đấy!
Cường nhanh nhẩu trả lời:
– Chúng tôi đang tìm chỗ trú đây.
Trả lời xong, Cường bàn với Đặng:
– Mình phải vờ quay mũi, không họ nghi về báo công an rượt đấy.
Nếu cứ hướng ra biển giữa phong ba thế này thì chỉ có đi vượt biên, thế nào trong đám thuyền vừa rồi cũng có người báo. Mũi thuyền lệch đi một góc, Đặng làm như thế như chứng tỏ mình đang cố gắng cho thuyền đi vào bờ. Mưa rơi những giọt lất phất ướt lạnh. Đặng cảm được những giọt nước mưa bắn vào mồm mỗi khi anh há miệng nói với Cường. Trời tối sầm lại, có nhiều lúc thuyền như nằm lọt dưới đáy vực và hai bên là mỏm sóng dựng cao như tường thành. Trong một lúc Đặng có cảm tưởng là mình không chủ động được con thuyền. Tiếng đàn bà con nít than khóc vang rân hòa với tiếng sóng làm nên bản ai điếu chết chóc. Cường nói:
– Về thôi ông…
Đặng chưa kịp trả lời thì anh bỗng có cảm tưởng là người anh bay bổng lên trời, hai bàn tay rắn chắc đang giữ cần lái sút ra. Anh cố ghìm một tiếng thét thất thanh khi nhận ra trong tích tắc cả chiếc thuyền bị hất ngược lên không như chiếc lá bay trên những đợt sóng đang nham hiểm cười bên dưới.



Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Hồ Hữu Tường

Post by Sơn râu 6 May 2024

9. Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp

Giữa một con đường truông thăm thẳm, vắng vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi. Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.

Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:

– Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.

Nhà sư ung dung, chắp tay đáp:

– Mô Phật, cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.

Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp:

– Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện, may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng là duyên trước….

Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi :

– Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?

Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:

– Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, lòng huệ được mở ra…. Và từ ấy, tôi chỉ tụng kinh Di Lặc.

Một người khách hỏi:

– Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng?

– Mô Phật. Chỉ có lời nói mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời? Vậy tôi xin vui lòng nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp. Di Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại. Nay cũng đã gần đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành. Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc đạo.

Người khách thứ hai hỏi:

– Sư cụ đã tụng được bao nhiêu lần rồi?

– Đã được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn; lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy….

Đến đây, bữa cơm chay đã mãn. Khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước tới trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên, đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng….

Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu:

– Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đã hai nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát xiển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ ; rồi sanh ra môn ra phái. Ấy là nguồn gốc của sự chi li. Nay rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.

– Tôi cũng đồng ý với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong của Thích Ca chăng?

Lời nói của hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư : là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu…. Rồi nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?

Rồi con thằn lằn quyết định: Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn. Nó nghĩ được một kế : Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, rán sức mà uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa. Một sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện : chỉ trong một hơi mà dĩa dầu đã cạn : bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên, nhưng nghĩ : hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy. Nhưng, sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.

Và một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:

– Loài nghiệt sức! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!

Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình.

Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:

– Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã dạy phải trừ hết dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều : bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là Tham; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si. Có đủ Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời, cũng chưa bù được.

Tội ngươi lới lắm, phải rán tu luyện thật nhiều mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi một hột tro đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được quy nguyên, trở hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả.

Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:

– Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. Còn nhà ngươi, được giác một phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là mười.

Con thằn lằn lạy mà thưa rằng:

– Bạch Phật tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?

Phật phán:

– Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người? Đã đành rằng việc tụng làm của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt người vào, thì làm sao cho được. Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi tự tại?

Một lần nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà xin tội:

– Xin Phật tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.

Phật đáp:

– Ta cho ngươi được toại nguyện.

Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch rằng:

– Xin Phật tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?

Phật đáp:

– Nhà ngươi đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện mình để bước vào cõi tự tại.

Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề có lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổng đến thế.

Một hôm, trong hồi xiêu bạt, nó trông thấy bóng của hai ông khách khi xưa đã đến ngủ ở am. Vội vã, nó bay theo, vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:

– Hai ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.

Hai ông khách đáp:

– Chúng tôi đâu dám lên mặt thay đổi mà dạy người, huống chi lại dám đèo bòng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đã lở gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.

Hồn con thằn lằn gật đầu, cám ơn trước. Một người khách nói:

– Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ mình, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự «đắc đạo» của mình. Nếu phải mong muốn điều gì, thì cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa : được thì tốt ; bằng không thì thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người…

Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:

– Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ này được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu triệu người… Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một diêm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa lên…

Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:

– Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi cùng đường, ắt có thể đến trước tòa sen mà chầu Phật Tổ. Vậy tôi xin cố gắng.

HỒ HỮU TƯỜNG

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 6 May 2024

8. Cũng Đành

Tôi chỉ còn tìm cách nào vào thành may ra kiếm được ký ninh uống.

Không ai dám bảo đảm xin giấy thông hành cho tôi. Tôi vẫn liều ngày ngày ra bến xe trèo lên để vào, nhưng dù ngồi yên chỗ rồi khi hỏi đến giấy không có, chuyến xe lại bỏ tôi lại. Rất nhiều lần như thế, đến khi có xe cho đi thì tôi lại không có một đồng. Hà Nội – Sơn Tây 43 cây số, với những cơn sốt tôi không còn đủ sức để lê về. Mãi sau vì nài nỉ quá có chiếc xe chở củ nâu, với người phu xe thương hại cho tôi đi bằng cách ấn tôi vào giữa những bao củ nâu. Hắn bảo tôi trước là nếu vô phúc bị khám mà lộ ra thì chịu khó mà ở tù đừng oán thán gì. Tôi hơi mỉm cười bảo:

– Thì sao mà cưỡng được…

Khi xếp những bao tải củ nâu lên xe hắn chừa lại một chỗ trống ở giữa cho tôi ngồi vào đấy rồi hắn lấy thêm những bao khác lấp lên trên. Tôi ngồi co rúm không thể cựa quậy, nhúc nhích. Mùi củ nâu, mùi bao tải hôi sì, mùi xăng nhớt như muốn chết ngạt. Giữa trưa xe từ giã tỉnh Sơn vào con đường trở về. Xe chạy nhanh sóc trên những quãng đường gồ ghề, những bao củ nâu bị lắc mạnh cứ dẹp mãi xuống, chung quanh tôi kín bưng chả thấy gì, tôi nghĩ như mình bị bỏ vào quan tài đã đậy ván thiên lại chỉ có điều là tôi còn thở. Cơn sốt lại đến với tôi giữa những quãng đường ấy, chân tay run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau và tôi lả người đi vì mệt mỏi.

Khi tỉnh dậy thì xe đang dừng. Tôi lắng tai nghe tiếng giày đinh lộp cộp, những bao củ nâu bị lay động và có tiếng chọc của một chiếc gậy sắt. Tôi biết là xe đang bị khám, nên hai lần bị gậy sắt thọc vào lưng tôi không dám nhúc nhích và thở mạnh, tôi nghiếng răng, nhắm mắt lại… Những chặng gác thoát dần sự khám xét khiến cho xe về đến bến thì trời đã tối mịt. Bến xe Kim Mã hoang vắng người phụ xe dở bao tải cho tôi chui ra, tôi nghe tiếng chuông xe điện đổ dồn, tôi bước xuống mặt đường chân tay run lẩy bẩy vì đói vì lạnh. Tiếng đầu tiên tôi được nghe là của người phụ xe:

– Tới rồi đấy, có thể đi về nhà được không? Không có giấy thì coi chừng tụi Ba-tui nó nhặt bỏ nhà Tiền đấy.

Tôi cứng cả lưỡi không nói được. Tôi không biết về đâu cho qua đêm để sáng mai có thể đi tìm kiếm, dù tôi chưa biết là sẽ tìm kiếm cái gì. Về nhà. Người phụ xe nhìn tôi ái ngại. Hắn có khuôn mặt đen khắc khổ, đôi gò má cao làm cho hai mắt đen sâu bóng tối. Tôi nói với hắn tình cảnh của tôi, tôi muốn hắn cho tôi nằm ở trên xe cho đến sáng hôm sau. Nhưng hắn từ chối. Hắn nói với tôi một ít điều phân trần không sao có thể giúp tôi được. Tôi cám ơn hắn. Hắn xếp lại mấy bao củ nâu, đóng thùng xe rồi hắn quay lại nhìn tôi. Nghĩ thế nào hắn móc túi dúi cho tôi mấy đồng bạc. Không nói thêm nửa lời hắn trèo lên phía trước xe. Chuyến xe chạy vào con đường có đèn thắp sáng.

Tôi không thể đứng lâu hơn được nên ngã quỵ xuống. Quá mệt tôi phải cố sức bò dần vào một túp lều bỏ không rồi lăn mình xuống đấy. Tôi nằm im một lúc cho hồi tỉnh rồi cố dậy sờ soạng trong bóng tối xem có cái gì có thể ôm vào người được cho đỡ cô đơn, nhưng sờ soạng mãi tôi mới nhận ra có một cái bàn nhỏ và có một cái ghế dài nhỏ. Ðó là đồ dùng của một quán nước, hoặc quà bánh gì đó. Tôi không có gì để ôm vào người. Tôi sờ mặt đất nhớp nháp, vơ những rác rưới ẩm nước hôi hám, những bã mía, lá bánh, giấy vụn. Tôi cố vơ thành một đống rồi rúc mình vào cho đỡ lạnh và êm hơn mặt đất. Muỗi kêu vo ve, những con chuột kêu thành tiếng chui vào đống rác kiếm ăn. Chúng cắn chân mà tôi không muốn cựa, chúng cắn chán lại rúc, lại kêu. Tôi vớ những nắm lá chuối ướt nhép bỏ vào mồm nhai cho đỡ buồn miệng. Tôi nghĩ chắc thịt tôi đã hết máu nên lũ chuột chả thèm ăn, và chắc chúng nó nhiều máu hơn tôi là khác, nghĩ thế tôi há lớn miệng tự nhủ: để chú nào vô phúc rúc vào mình sẽ ngậm miệng lại mà nhai một miếng cho khoái bao tử. Bởi vì nếu có con nào đến gần tôi cũng khó chộp được, chúng khoẻ và nhanh lạ. Lũ chuột rúc mãi chắc cũng chả kiếm được gì nên bỏ đi dần cho tôi nằm một mình nghe tiếng muỗi kêu vo ve.

Mãi tôi cảm thấy như có một con vật nào đó rất kỳ dị, to lớn tiến đến ôm choàng lấy tôi, tôi bị nghẹt thở không kêu được, thân thể cứng đờ rồi thiếp dần đi…Tôi thức dậy khi trời đã sáng rõ, bụng đói cồn cào, chân tay rời rã, nhưng đầu óc tỉnh táo kỳ lạ. Tôi nằm im cho mãi đến khi có một người đàn bà bước vào lều. Khi bà ta đưa mắt nhìn đến đống rác thì kêu thét lên. Tôi ngọ ngoạy rồi chui đầu ra. Chắc hẳn người đàn bà tưởng tôi là một con vật, như con chó ốm ghẻ lở nào đấy. Khi thấy cả thân hình tôi ngồi dậy được thì trên khuôn mặt bà ta hiện ra nhiều nét ngạc nhiên đầy kinh dị:

– Trời ơi tao tưởng mày là xác chết rồi chứ… thế mà đêm lính nó không nhặt đi…

Tôi trở ra ngoài vươn vai, thở mạnh, phủi những rác rưởi bám trên quần áo, mắt tôi kèm nhèm. Tôi nhổ một chút nước bọt ra bàn tay rồi chét vào mắt mà dụi cho tỉnh táo. Những chuyến xe không, bắt đầu vào bến nằm. Mặt đường nhựa rét cứng. Mùa đông vào thành phố, vẻ buồn thảm càng nhiều. Người đàn bà dọn quán. Bà ta bán bún riêu, bánh đúc. Sau khi bầy bát đĩa, tôi ngồi vào tấm ghế dài, kẹp tay vào giữa hai bắp đùi rồi nói với bà ta:

– Cho một bát bánh đúc.

Người đàn bà mãi mới nhìn lên dò xét, tôi biết bà ta đang nghĩ gì:

– Này người ta chưa bán mở hàng đâu đấy. Có tiền không mà ăn?

Tôi moi mấy đồng bạc của người phụ xe cho mà để lên bàn, tôi lên giọng chững chạc:

– Cho hai đồng thôi…

Hai bát bánh đúc chan canh riêu nóng hổi vừa ăn vừa thổi làm tôi tỉnh táo. Tôi ngốn rau chuối như lợn cốt đầy dạ dày. Tôi ăn thật nhiều ớt cho tê cả miệng và ràn rụa nước mắt. Nghĩ đến chuyện bị hỏi giấy, tôi đi vào phố xá lén lút như một kẻ ăn cắp, như chú cừu đang lạc vào bầy sói tôi đang lẩn thân bên những xác ma chập chờn lẩn quất. Trông người nào tôi cũng thấy họ hung ác ngay cả những đứa trẻ con cũng vậy và lúc nào tôi cũng tưởng họ sắp thộp lấy gáy mình hỏi lăng nhăng rồi bỏ vào nhà tù cho đông đảo thêm.

Việc đầu tiên tôi nghĩ đến là trở về nơi bãi Phúc Xá xem nhà cũ thế nào. Thành phố xa lạ một cách không ngờ. Những dấu vết chiến tranh đang được cố gắng lấp đầy để quên lãng. Tôi đứng ở đầu nhà máy đèn, nhìn xuống bãi Phúc Xá vắng tanh chơ vơ vài bức tường đứng cô đơn. Cầu Long Biên xám đứng đằng xa. Tôi không dám lần xuống bãi. Tôi cố nghĩ xem, quen ai, tìm ai, ở đâu, ăn gì, uống gì. Tôi ngồi ở vỉa hè nhìn nền trời xám.

Tôi đi men theo nhà Ideo lên phiá Yên Phụ. Những rặng cây trút lá chạy dài. Những tên lính Tây la thét cười cợt hát hổng ở phía trong bức tường cao. Tôi thấy chúng vứt những ống bơ ra theo lối cửa sổ. Tôi đến những đống rác ấy bới móc nhặt những chút vỏ bánh mì đen thui ấn vào mồm mà nhai mà nuốt. Tôi bới hết đống này đến đống khác. Tôi vét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu thối, từng chút đầu hay đuôi cá tanh lợm còn sót lại trong những chiếc ống bơ. Tôi nhặt cả từng miếng bánh mặn nhỏ ấn vào hai túi áo. Ði bới hết những đống rác tôi ngồi nhai những mẩu bánh, khi cổ khô vì khát tôi tìm một cái máy nước áp mặt vào nốc. Tôi đi lang thang lẩn lút từ phố này sang phố khác. Chen vào đám đông nhìn vào từng khuôn mặt xem có ai quen không. Nhưng suốt buổi tôi không tìm kiếm được gì.

Ðến buổi trưa tôi theo đường tàu điện ra tận Giám, ngồi trong Văn Miếu bên những bia đá, nhà đổ, gạch ngói và cỏ hoang buồn buồn tôi lộn hai túi áo ra nhặt nốt những vụn bánh còn sót lại bỏ vào mồm. Ngồi chán leo lên bức tường đổ ra chợ Con Bò. Ðang thơ thẩn bỗng nghe tiếng cười hỏi giật:

– Kìa cậu Kha, cậu mới hồi cư à? Ông bà ở đâu?… Cháu vẫn để ý tìm mà không gặp – may quá…nhà cháu ấy… Tôi ngạc nhiên phủi áo rồi nhìn vào mặt người đàn ông một lúc. Tôi không nhận ra ai. Thấy tôi im lặng, người đàn ông lại nói tiếp:

– Cháu đây mà – cả Mạnh hồi xưa trông cửa hàng cho ông bà nhà…

Bây giờ thì tôi đã có người quen rồi cho dù tôi không nhận ra ai.

– Tôi nhớ, chết thật lâu ngày… tôi cũng đang đi kiếm…

– Thế ông bà nhà?

– Có mình tôi thôi… thầy đẻ tôi… Tôi đang đi tìm một chỗ ở.

– Thế ra có một mình cậu.

– Vâng…

– Thật rõ…

– Tôi muốn có một chỗ ở tạm – nhà bác?

Người đàn ông lưỡng lự. Bác ta vào độ 40 tuổi, mặt già nua đen sạm, những vết nhăn chằng chịt trên trán. Một con mắt bị tật để lộ ra một mí đỏ lòm và ít râu thưa mọc lởm chởm trên mép.

– Cho tôi ở tạm thôi…

– Nhà cháu cũng không có chỗ tử tế. Sợ cậu ở không được.

– Vẽ ra, đến có ổ chuột mà rúc vào cũng hay rồi đấy, loạn mà bác?

Sau cùng – bác Mạnh – bây giờ tôi có thể nhớ được tên bác – đưa tôi về ngõ Thông Phong ở tận mãi chỗ Ô Chợ Dừa nơi con đường Hàng Bột. Vừa vào đầu ngõ đã phải đi qua một xưởng thuộc da hôi thối và những ruộng muống tanh lợm mùi bùn. Bác Mạnh làm nghề thổi thông phong cho một xưởng nhỏ ở luôn tại đó làm người gác nữa. Bác có một chỗ ở bằng ba chiếc chiếu ngánh bằng mấy tấm tôn vào cái lò nấu thủy tinh. Trong nhà chỉ có một cái gường tre độc nhất là chỗ ăn, chỗ ngồi chơi hút thuốc lào và chỗ ngủ cho hai vợ chồng và một đứa con gái hai tuổi gầy teo. Tiếng nó khóc như tiếng mèo kêu nhưng cũng nhờ tiếng khóc đó tôi biết nó còn sống. Tôi nói tình cảnh tôi cho bác Mạnh nghe. Bác tỏ vẻ ái ngại về chuyện vật đổi sao dời làm tôi khó chịu. Tôi nhờ bác xin cho một việc làm ngay ở xưởng. Ở đây người ta mua những mảnh vụn chai, kính vỡ về nấu rồi thổi thông phong, những ve chai nhỏ để đóng thuốc cho mấy tiệm thuốc bắc. Tôi không biết thổi nên nhận một chân đốt lò, khuân thủy tinh, quét dọn. Buổi tối tôi giải chiếu ngay nơi cửa lò – chỗ làm việc của bọn thợ ban ngày mà ngủ cho ấm.

Bây giờ thì tôi đỡ lo là chưa chết ngay. Mùa đông kéo dài những ngày rét mướt. Tôi vay tiền mua hai cái bao tải tối đến chui vào đó. Với những ngày làm việc mệt nhọc những cơn sốt vẫn trở lại với tôi. Tôi lãnh tiền công chỉ trả tiền cơm cho bác Mạnh và mua thuốc ký-ninh vàng về uống hoài. Uống mãi những cơn sốt lui dần thì tôi hoá ra nghễnh ngãng, ù tai nghe không rõ. Người ta sai bảo tôi chẳng nghe được, người chủ đuổi tôi không cho làm vì không thể mượn một người điếc. Tôi buồn sao không điếc hẳn mà lại còn đủ sức để nghe tiếng quát tháo. Theo lời khuyên của bác Mạnh. Tôi đeo lên vai một cái giỏ rách, với một cái móc sắt đi theo những người móc rác đi nhặt mảnh chai, kính vỡ, vụn sắt về bán. Tôi tìm ra bãi đổ rác, bới những đống hôi thối, nhặt chai, kính… từng chút sắt vụn, vỏ cam, rẻ rách. Khi chiều về lọc ra từng thứ bán cho bà Cả Ới. Bà ta chuyên mua lại của những người đi nhặt rồi bán cân cho xưởng thổi phong long, cho lò đúc, rẻ rách bán cho dân Bưởi làm giấy cho xưởng ô-tô làm rẻ lau. Vỏ cam vỏ quýt cho tiệm bào chế và cả lông vịt lông gà…

Tôi kiếm đủ ăn, tối về ngủ ở chỗ bác Mạnh như một con chó vô chủ. 

Tôi bới chán ở đống rác lại đi tìm bới ở những căn nhà đổ nát chưa có chủ về. Tôi nghĩ đến nhà tôi, và những thứ còn lại ở đấy chắc chưa ai nhặt nên muốn mò về. Một bữa tôi lên đê Yên Phụ nhìn sang bãi Phúc Xá với ý nghĩ ấy nhưng rồi không dám qua. Tôi đi dọc bờ sông lên chỗ xưởng dép cao-su Con Hổ chen vào một đám đông đảo tụ lại ở chân đê. Tôi thấy người ta đang đào một cái hố lớn, họ đào sâu và vứt lên vô kể những mảnh chai sắt vụn mà không ai nhặt thì mừng quá. Tôi nhặt lại từng đống rồi thuê xe ba gác chở về. Tôi vớ được một món bất ngờ. Tôi không hiểu họ đào gì mà chốc có người lại cúi xuống nhặt lên một mẩu xương, khi to khi nhỏ rồi xem xét, truyền tay nhau. Khi thì xương bò, khi thì xương lợn, khi xương gà, xương chó… Khi biết thế họ lại vứt đi và đào nữa – Sau tôi mới biết họ tìm xương người. Toán người ở đó được một nhà giàu ở đây thuê đào tìm xương của ông bố chết hồi chạy loạn mà người đó nghi là chết ở tăng-xê nơi chỗ này. Bởi thế nên mỗi khi gặp một chút xương họ phải xem có phải là xương người không, nhưng mỗi lần họ đều thất vọng, đào mãi cũng không thấy gì. Ngày thứ hai họ có ý thôi, tôi nghĩ đến sắt vụn mảnh chai nên bảo:

– Tăng-xê này sâu lắm, ở dưới nữa kia. Ðào chưa tới đâu. Thấy nói vậy họ tưởng tôi biết nên xúm lại hỏi, yên trí tôi biết. Tôi bảo chính hồi Nhật thả bom tôi đã chui vào đây và có lẽ mẹ tôi cũng bị chôn ở đây nữa. Họ tiếp tục đào và cho tôi kiếm ăn. Nhưng lẽ dĩ nhiên họ không tìm ra một chút xương người nào. Khi họ yên trí bảo chắc ông cụ không chết ở đây. Tôi vỗ tay vào trán như mới nhớ ra: – À, nhưng chỗ này có những hai cái tăng-xê cơ – hay ông cụ chui ở cái đằng này…

Tôi chỉ cho họ chỗ cách đó độ năm thước, tôi quả quyết còn một cái nữa – và họ tiếp tục đào cho tôi nhặt mảnh chai, sắt vụn. Tôi nghĩ giá hồi xưa biết vậy tôi chết quách chỗ này cho bây giờ họ nhặt lấy xương mà làm ma, làm chay và cho là bố họ có hơn không. Rồi đào mãi họ cũng bỏ. Tôi nghiêm nét mặt rồi nói lớn:

– Sao không đào cái đống thịt thối này của tao mà lấy đầu lâu và xương cốt…

Lũ người bảo tôi là thằng điên họ tức bực muốn dần cho chết. Có một đứa bông lơn cho cả lũ cười.

– Ðến vứt cái xác mày cho chó nó cũng chả gặm nữa là xương cốt…

Tôi cất tiếng cười lớn theo đám đông xúm quanh làm họ thôi cười.

Số tiền kiếm được làm tôi phè phỡn. Một bữa tối tôi qua phố Hàng Buồm mua hai con gà luộc sẵn về cho vợ chồng bác Mạnh một con, còn một con tôi ngồi xé ra ngoạm. 

Tôi đang ăn thì có đứa con gái đứng ở cửa nhìn vào. Tự nhiên tôi nói lớn:

– Có ăn thì vào cho miếng chứ nhìn gì?

Nó vào ngồi ở bên cạnh rất thản nhiên. Tôi nghĩ chắc nó cũng sống như tôi – thật tội nghiệp. Tôi nhìn vào mặt nó. Nó cũng chỉ độ tuổi tôi. Tóc uốn quăn môi son và mặt chát phấn. Nó mặc quần áo trắng. Nó ăn hết rồi ngồi mút mười đầu ngón tay còn vẻ thèm nhạt. Tôi hỏi:

– Ở đâu?

– Trong ngõ

– Có nhà à?

– Có

– Hạnh phúc, hạnh phúc.

– Còn anh?

Nó nói tiếng anh ngọt sớt. Tôi vứt bỏ mẩu xương cuối cùng rồi co vạt áo lên chùi mồm.

– Không có gì cả… không có gì cả mà…

– Về ở với em…

Nó lại xưng em. Tối hôm đó tôi theo về nhà nó – một gian nhà lá mãi trong cuối ngõ. Nó chỉ cho tôi nằm ở một cái chõng con và vứt cho tôi một cái chăn đơn. Nó ngủ ở một cái gường có màn buông và hai cái gối. Lần đầu tiên tôi được một chút êm ấm. Ðêm nó thắp đèn kể chuyện tâm sự cho tôi nghe. Nó chả có cha mẹ gì và nó làm nghề kiếm khách. Tôi về ở đó ngày ngày đi móc rác, đêm về ngủ. Nó thì ban ngày ngủ, đêm đến mặc quần áo, đánh phấn chải đầu rồi đi kiếm mối đem về nhà. Chúng nó cởi truồng ra đùa rỡn với nhau chán rồi ôm nhau lên giường ngủ như không có tôi. Những ngày mùa đông rét mướt kéo dài mãi nền trời xám và mưa đêm. Những ngày không có khách nó co tôi sang ngủ chung cho ấm. Có đêm cơn sốt rét lên nó thấy tôi run như sắp chết thì hoảng sợ.

– Ê chết sao mà rãy dữ vậy?

– Không.

– Ðừng rỡn, chết làm sao ta chôn.

– Thì cứ vứt ra đường là xong

– Vứt sao được…

– Ðùa chứ chết gì, ôm cho chặt vào thì không chết đâu, khỉ.

Nó cởi hết quần áo tôi ra mà đùa rỡn coi tôi như một khúc gỗ. Ðêm nào nó cũng cần ôm lấy một thân thể mới ngủ được. Tôi là một cái thân thể để cho nó đắp vào những đêm không có khách. Có đêm tôi lên cơn rét, thân thể hoàn toàn bất lực, nó cố vác bỏ tôi sang chõng rồi ngồi chờ thằng tầm quất đi qua. Thằng tầm quất tới nó gọi vào rồi đóng cửa lại, nó bảo đấm bóp chán rồi ôm lấy. Thằng tầm quất không cưỡng lại được, sáng hôm sau như lả đi. Nó bảo tôi giúp sức kéo bỏ ra ngoài đường. Ðến một hôm có một gã đàn ông khoẻ mạnh đến rồi ở luôn lại. Tôi nằm một mình buồn tủi. Rồi đứa con gái bảo tôi:

– Em sắp lấy chồng.

– Gã đó?

– Chứ sao.

Tôi buồn rầu bảo:

– Lấy anh đi… tương lai mà…

Nó bĩu môi rồi tát vào mặt tôi một cái mà bảo:

– Ứ ừ… để rồi tao đi móc rác với mày à – Rồi con cái – rồi tuổi già?…

– Ðồ khỉ – Lại còn con cái? Lại còn tuổi già? Rồi sống được đến già à?

Tôi ôm lấy nó như chưa ôm bao giờ.

– Ðừng lấy gã đó. Ở với anh…

Mấy ngày sau chúng nó tống tôi đi với mấy chục bạc. Tôi ngày ngày đi móc rác, chiều đến mò vào Văn Miếu nằm. Ðêm đêm sờ soạng những bia đá, những gạch ngói nằm im mà thấy tủi thân. Ôm vào lòng cũng chỉ thấy cứng ngắc. Buổi sáng thức dậy soi mặt xuống làn nước hồ nghe tiếng quạ kêu trên những ngọn cây khô già cỗi. Ðến một khuya kia tôi thức dậy vì ánh sáng đèn bin soi vào mặt. Tôi mở mắt nhìn tụi lính chĩa súng vào người. Chúng hỏi giấy tờ tôi không có gì nên bị điệu về bót. Chúng giam tôi đến sáng hôm sau mới dẫn lên hỏi:

– Tên gì?

– Con tên Kha.

– Thẻ căn cước?

– Con mới vào nên chưa có.

– Ở đâu?

– Con ở ngõ Thông Phong

– Số nhà?

– Con quên.

– Với ai?

– Với vợ con.

Chúng bắt tôi dẫn về ngõ Thông Phong, tôi đưa vào nhà đứa con gái. Tôi chỉ vào nó mà bảo với

tụi lính:

– Vợ con đây.

Tụi lính cất tiếng hỏi:

– Có phải bà là vợ nó không?

– Không, tôi có chồng.

– Bà biết nó không?

– Không – tôi không biết nó là ai cả.

– Nó là vợ tôi mà…

– Này thằng kia – mày trông rõ xem tao ngủ với mày bao giờ…

Tôi thấy yêu đứa con gái vô cùng. Tụi lính đánh tôi túi bụi.

– Khai láo, khai láo… quân lưu manh… đánh cho chết đi…

Ðêm chúng đem tôi về nhận vào bể nước rồi đánh nữa. Khi tôi ngất đi chúng lại phun nước cho tỉnh dậy và tiếp tục đánh như nhồi một trái banh – rồi chúng lại bắt tôi cung khai. Tôi không còn biết mình nói gì:

– Mày mới ở ngoài vào phải không?

– Vâng… dạ

– Ðịnh phá hoại phải không?

– Dạ vâng…

– Với ai, tổ chức nào?

– Vâng…

– Ai?

– Dạ…

– Ai?

– Nguyễn-mạnh-Kha…

– Ở đâu?

– Số bảy, tám, chín Hàng Khay.

– Ðúng không?

– Nó cho ở…

Tụi lính lại dẫn tôi đi, tới nơi tôi vừa tỉnh để bảo:

– Không, tôi nhầm. Tôi là Nguyễn-mạnh-Kha.

Tôi khai lung tung, bạ gì nói nấy. Chúng đánh chán tay rồi giam tôi vào buồng tối như một con chó cho muỗi nó đốt. Chúng tra khảo tôi mãi cũng chán nên giam tôi lại cùng với những người khác, mỗi ngày ném cho một nắm cơm. Có một ngày lũ người bị giam được tập trung vào một khoảng sân ngó thấy nền trời. Tay bị xích lại. Hôm đó có một viên cố đạo bảo là đến làm phép lành cho lũ tù. Hắn nói những điều tôi chưa hề nghe bao giờ như: yêu mến chúa, thiên đường, địa ngục, cứu rỗi, tội lỗi, xám hối, quỷ quái, thánh thần, yêu thương, huynh đệ… Lũ lính vác súng bắt lũ tù ngồi yên nghe.

Viên cố đạo làm dấu nhìn chúng bị đánh đập. Nhưng tôi còn đủ sức chửi bới và văng tục. Tụi lính lại tra khảo tôi mà không chịu buông tha:

– Mày tên gì?

– Con khỉ

– Ở đâu?

– Con khỉ… cởi truồng…

– Cha mẹ mày tên gì?

– Ai?…

– Cha mẹ mày?

Khi nghe rõ đến hai tiếng cha mẹ thì tôi khóc rống lên chúng tiếp tục đánh đập tôi nữa:

– Mày tên gì?

– … thịt thối…

– Ở đâu?

– Viên cố đạo

– Cha mẹ mày tên gì?

– A ha!… A ha!…

Ðến một đêm tối lũ lính dồn tôi lên một chiếc xe bọc kín mang tới một cánh đồng cùng mấy đứa nữa. Chúng bắt đào hố. Tôi biết là sắp được tự chôn mình. Tôi nghe tiếng lên đạn lách cách,

xong chúng bắt quay mặt vào hố. Tôi nhớ đến câu hỏi, và tự nhắc.

– Cha mẹ mày tên gì?

DƯƠNG NGHIỄM MẬU
1958