Chương 1: Bài học đầu tiên
Phần 2
Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 8 May 2024

Mảnh trăng thượng tuần cong veo đã xế về hướng tây. Chúng tôi lại bắc ghế ra sân ngồi tán láo.Tôi và Lâm rì rầm ước tính ngày học tập chính trị.
– Vấn đề lao động là bước đầu đó ông. Chúng ta phải tỏ ra nhiệt tình để gây thiện cảm, tôi thấy nhiều anh em làm phất phơ quá! – Lâm nói.
Sự thực, tôi chẳng có ý kiến gì về vấn đề này, vì vốn yếu, nên lao động cầm chừng, chi bằng im lặng là hơn. Tôi phát biểu chung chung :
– Ông ạ! Tôi thấy vấn đề học tập chính trị mới cần, lao động như vậy là được rồi! Còn hơn 20 ngày nữa, làm gì không dọn xong mấy bãi cỏ?
Giữa lúc ấy, Phát đến bên, ngồi xuống ghế. Phát (Hải quân Trung tá, cựu Hạm Trưởng). Sở dĩ hắn không đi được trước ngày 30-4 vì lý do kỷ luật, đã bị giải ngũ. Phát không giấu điều đó. Phát người miền Trung, cũng còn trẻ như Lâm và Mậu.
– Cứ tưởng lao động vất vả thế nào chứ, nếu lao động kiểu này, sướng quá hỉ? Nghe đồn, tuần sau mình sẽ học tập chính trị, học rồi, ra căn cứ Sóng Thần làm lễ mãn khóa, thế là xong! Một tháng đi lẹ lắm mà!
Nói chung, mọi người đi học tập cải tạo, ít nghi ngờ về chính sách của Mặt Trận Giải Phóng, do Ủy Ban Quân Quản ban bố. Dù sao, họ cũng đã thắng trận, Quân Đội miền Nam đã tan rã, còn lực lượng quân sự nào có thể chống được họ, do đấy, họ chỉ dùng chính trị để cải hóa những người khi trước đã chống lại, vì không hiểu đường lối và chủ trương của Cách Mạng! Một khi đã phục tùng, chắc họ sẵn sàng theo đúng chính sách hòa giải, hòa hợp Dân Tộc, để cùng xây dựng lại đất nước sau mấy chục năm dài chinh chiến!
Cũng có vài ý kiến trái ngược với số đông, nhưng vì dè dặt, họ không nói huỵch toẹt ra, sợ bị hiểu lầm, mà chỉ tâm sự với một, hai người bạn chí thiết. Trong số đó có Hải (Trưởng Phòng 3, Quân Đoàn A) và Tường (Tham Mưu phó Chiến Tranh Chính Trị, Quân Đoàn G). Cả hai, đều khẳng định, công việc học tập cải tạo này sẽ lâu dài. Ngoài Bắc có những sĩ quan thuộc chế độ cũ và những nhà trí thức bị nhà nước Cộng Sản cầm tù từ năm 1954 tới năm 1974 mới thả, như trường hợp nữ văn sĩ Thụy An Hoàng Dân. Vị nữ sĩ nay, trong thời gian bị giam cầm, đã dùng bút chọc thủng một bên mắt để phản đối chế độ nhà tù Cộng Sản và mang tật suốt đời …
“Đừng tin những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn những gì Cộng Sản làm!” Trong suốt thời gian làm Tổng Thống của ông Thiệu, chỉ mỗi câu này có giá trị thôi!
Hải cười mỉa mai! Tôi nghe, trong lòng nhức buốt nhưng rất đồng ý với Hải, vì vẫn thường nghĩ, không lý do nào Cộng Sản có thể dễ dàng buông tha cho kẻ thù đã bao năm truờng làm họ điêu đứng. Chúng tôi có mặt trong Trại Cải Tạo này, vì không có phương tiện di tản, trước và sau ngày 30-4. Nói vậy, không có nghĩa, tất cả mọi người đều muốn di tản, có người vì lý do này, lý do khác, muốn ở lại Việt Nam, nhưng số này tương đối ít. Ở lại, là điều không may, nhưng nghĩ cho cùng, không hoàn toàn vô ích cho vốn sống của mỗi người, nếu có nuôi trong tâm tư ý chí phục thù!
Đứng lên, nhìn vùng ánh sáng phía xa, tôi mường tượng ra những sinh hoạt của người dân dưới chế độ mới, nhưng chắc chắn, còn hơn phải sống giữa vòng đai cải tạo, tràn ngập bóng tối và phiền muộn, dù chỉ mấy ngày đầu!
Sương xuống uớt vai áo. Cảm thấy lạnh, chúng tôi cùng đi vào. Tìm điếu, làm hơi thuốc lào, tôi nằm vật xuống!

Google images
Hôm sau, Tổ tôi được phân công đào hố xí, thay vì phát cỏ. Tổ Trưởng chia anh em làm 2 toán: 5 đào đất, 5 đi kiếm vật dụng. Tôi thuộc toán đào đất. Long Giao là vùng đất đỏ, có lẫn đá ong nên rất cứng. Chúng tôi thay phiên nhau kẻ đào, người bốc, suốt buổi sáng mà chưa được 1 thước khối, trong khi chỉ tiêu đề ra 2 thước trong buổi sáng. Tay chân người nào cũng bê bết bùn đất. Mồ hôi chảy nhễ nhại. Trong số chúng tôi, cũng có người mạnh, nhưng vấn đề ở đây là quen việc. Toán đi lo vật dụng khiêng về nào gỗ, nào tôn cũ, cong queo, rỉ sét! Đinh không có, họ phải tháo ở những tấm ván, bằng cách dùng cục đá đập qua đập lại, rồi lấy tay nhổ ra. Cứ như thế, chúng tôi làm đến trưa vẫn chưa đạt được một phần công việc. Mọi người đều mệt nhoài, sau hồi kẻng. Nhưng rồi căn nhà xí cũng xong, sau 3 ngày lao động. Nó không kín đáo và vững chải gì, cũng may, khu này không có đàn bà!
Trong khi chúng tôi làm có tính cách thông thường, bên khu Đại Tá, xây dựng chiếc cổng chào vĩ đại, như kiểu cổng chào mừng ngày Quốc Khánh hoặc ngày Quân Lực khi xưa, ngay trên con lộ đá, trước căn nhà quản giáo. Trên nóc cổng, có đặt một trái cầu lớn, tượng trưng cho trái đất. “Con chim hoà bình” xoè rộng cánh, đậu ngất ngư trên đó. Công tác này rất vất vả, do một Đại Tá Công Binh chịu trách nhiệm. Vị Đại Tá này quá quen thuộc với công việc, vì khi còn tại chức, ông quen làm cổng chào và khán đài trong các ngày lễ lớn. Đôi lúc, tôi ngưng tay, nhìn các vị Đại Tá leo trèo, vác cây, đào lỗ, đóng đinh, làm mọi công việc mà lúc trước, thường chỉ tay 5 ngón! Khi xưa, tất cả những công việc nặng nhọc đều do “em út” đảm nhiệm. Nay thời thế đã thay đổi, làm đảo lộn mọi giá trị. Đó cũng là một bài học, tuy đắt giá, nhưng không phải vô ích!
Một tuần lễ trôi qua. Vẫn những công tác lao động có tính cách cỏ-vê. B. Trưởng nêu ý kiến, nên đánh vài luống khoai và rau muống. Có người phản đối, cho rằng, thời gian 1 tháng có lâu la gì mà trồng với trọt? Khoai lang ít nhất 3 tháng mới có củ, còn rau muống cũng phải trên 1 tháng, ai ở lại mà ăn?
B. Trưởng không nói gì, cứ tiến hành dự định, chắc nghĩ, không làm việc này cũng làm việc khác. Anh đề nghị, anh em mỗi người đóng chút tiền, nhờ cán bộ mua hộ hạt giống rau muống, còn dây khoai, anh lo được! Ngày ngày qua đi, không ai nói chi đến việc học tập chính trị. Một hôm, tên quản giáo vô nhà, nói với B. Trưởng:
– Các anh có cần điện ban đêm không?
B. Trưởng nhỏ nhẹ trả lời:
– Dạ, tốt quá! Nếu có đèn, anh em có thể học tập, sinh hoạt buổi tối, còn gì bằng!
– Được, mỗi anh đóng 10 đồng, tiền mua bóng và dây!
– Thưa cán bộ, bao giờ đóng?
– Mai, nhất chí chứ?
– Dạ, nhất chí!
A! B. Trưởng tiếp thu từ ngữ Việt Cộng nhanh thực, chưa chi đã “nhất chí”! Buổi tối sinh hoạt, mọi người đều vui vẻ đóng 10 đồng, vì nghĩ Cách Mạng mới cầm quyền còn nghèo, mình đóng tiền để có phương tiện học tập buổi tối, chứ đèn dầu sao học? Thời gian trôi vùn vụt. Vấn đề đèn điện cũng như học tập không được nhắc đến. Anh em lại bàn tán xôn xao, mỗi tối ngồi tán dóc. Tin đồn này, tin đồn khác bay đến càng làm hoang mang ! Hàng ngày anh em vẫn đi lao động, khi chặt hom trồng sắn, khi dọn dẹp các nhà cửa đổ nát, khi sửa đường, khi làm cỏ! Đời sống đi từng bước đều đặn, riêng vấn đề lấy nước, gây cho anh em nhiều khổ cực. Nếu mỗi ngày đều có cơn mưa, không nói làm gì, nhưng mưa là chuyện của Trời, ai biết được? Ngoài chiếc giếng kéo giây, ở phía bên kia đường còn chiếc giếng nữa, dành riêng cho tụi quản giáo và bộ đội.

Google images
Vì số người học tập cải tạo quá đông, một chiếc không đủ cung cấp nước tắm giặt, nấu cơm, nên họ cho phép những người học tập được xử dụng chung chiếc giếng, nhưng muốn lấy nước phải xếp hàng, mỗi lần qua được 3 người. Khi 3 người về, 3 người khác mới qua. Mỗi lần, đều phải xin phép tên bộ đội gác cổng, khi nào nó gật đầu mới được. Nếu tự tiện, nó nạt nộ, chửi bới, đuổi về! Do vậy, anh em trong Tổ phải chia phiên, chầu chực lấy nước. Chúng tôi kiếm một cây đòn dài, xỏ những thùng đạn vô, 2 người khiêng, còn 1 người xách 2 tay, 2 thùng. Sở dĩ phải đi 3 người vì giếng sâu, lại kéo bằng thùng tôn 20 lít, quá nặng. Hai người quay nước, một người đón bắt đổ vô thùng đạn. Trung bình, mỗi chuyến phải chờ 1 tiếng.
Mỗi sáng sớm, dẫy thùng đạn xếp hàng 6, đã dài cả trăm thước. Ai ra muộn, phải chờ đến trưa, may ra mới qua được, chưa kể hôm nào tụi Việt Cộng mổ heo cần nhiều nước, phải chờ đến chiều.
Buổi nay, Tổ chia công tác cho tôi đi lấy nước cùng Mậu và Phát. Từ sớm, tội đã ngồi chầu giữa một đống thùng đạn to, nhỏ, đủ cỡ. Tên bộ đội đứng trong vọng gác ngay đầu cổng. Mặt nó đầy mụn trứng cá sần sùi. Hai con mắt nhỏ như 2 sợi chỉ, liếc ngang về phía chúng tôi. Có tiếng cãi nhau về chỗ ngồi trước, sau gì đó. Tiếng cãi to dần rồi trở thành cục cằn:
– Đù má mày, tao đập bể mặt mày ra bây giờ!
– Có giỏi đập đi! Tôi đến trước, anh đến sau, sao dành chỗ trên tôi?
– A, mầy thách hả?
Tiếng sắt chạm vào nhau rộn ràng. Tôi quay lại. Một anh to con đang sấn tới, giơ cao quả đấm.
– Ê, thôi đi, hay gì chuyện đó! Nhường nhịn nhau chút, không được sao?
Tiếng nói vọng ra giữa đám đồng. Gã to con chưa hạ cơn nóng:
– Tao đập chết cha mày, không biết tao là ai hả?
Mậu nói nhỏ:
– Dạ, biết rồi, ông là Trung tá Dù, đàn em tướng Cảnh-sát. Một dạo, ổng làm Quận Trưởng, Quận 1 Sàigòn, tức là vua Snack Bar và điếm thượng lưu. Ông cũng là trùm ba gai, khổ lắm, ai không biết?
Nghe tiếng cãi nhau, tên bộ đội ôm súng đi ra ngoài vọng gác, nhíu cặp mày rậm:
– Mấy anh “nàm” gì đấy?
Gã to con vừa hung hăng như thế, sao lúc này đứng trước tên lính Cộng Sản, gã có vẻ hiền lành, ngoan ngoản:
– Dạ, thưa cán bộ, anh kia lộn xộn quá ! Hôm nay, chúng tôi lấy nước nấu cơm chứ đâu phải cho cá nhân. Xin phép cán bộ cho qua!
Tên lính Việt Cộng gật đầu. Thế là mấy người trong phe gã khiêng thùng qua cổng, dù hàng của phe gã ngồi mãi dưới xa. Trước khi đi, gã còn ném cái nhìn thách thức, đe dọa vào mặt người gã định đánh. Trong lòng tôi nổi lên sự bất mãn. Ở trong hoàn cảnh này còn dùng sức mạnh, thủ đoạn để lấn hiếp nhau trước mặt tên Cộng Sản nhãi ranh, không đáng gì. Như vậy, sao không thua trận? Sao Cộng Sản nó chẳng khinh mình? Tôi cho tay kéo chiệc mũ vải che lấp khuôn mặt, một phần để che nắng, phần khác, không muốn nhìn thấy ai.
Bữa ấy, chúng tôi lấy được mấy thùng nước vừa hết buổi sáng. Vì việc lấy nước quá vất vả, cực khổ, chưa kể thùng đứt giây phải dùng móc, câu lên mất cä tiếng đồng hồ, nên chúng tôi dùng rất tằn tiện, trừ hôm nào trời mưa.

Google images
Trong khi ăn com, Huy đố tôi biết, căn nhà có gì lạ? Tôi nhìn quanh quất một lúc, nhận ra căn nhà mới có 2 bóng điện, mắc bằng những sợi giây cũ mèm, trong khi chúng tôi góp tiền để mua giây mới. Tôi hỏi Huy:
– Công tắc đặt ở đâu?
Huy cười, nụ cười chế nhạo:
– Ông tưỏng việc tắt, mở đèn mỗi tối, do ông sao? Còn lâu!
Tôi lùa nốt miếng cơm cuối vô miệng, đi rửa gà-mèn, muỗng, rồi vô nhà rít một hơi thuốc lào như thường lệ. Buổi tối, căn nhà có đèn vui hẳn lên. Từ ngoài sân, tôi nhìn khắp, nơi nào cũng có chút ánh sáng, chứ không còn tối mò như trước. Sự có ánh điện ban đêm làm anh em tin tưởng ngày học tập chính trị sắp tới. Một tháng đã trôi qua, ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến tinh thần, dù cho ai có nhiệt tình với Cách Mạng mấy đi nữa !.
Tất cả câu chuyện lại xoay quanh vấn đề, bao giờ học, học cái gì ? Một bóng người từ xa đi lại, đúng B. Trưởng! Anh đi hội mỗi tối để nhận lệnh của quản giáo. Vừa bước chân vô cửa, anh la to: Có điện, “dui”quá ta ! – rồi anh mời tất cả mọi người vô nhà để phổ biến tin tức.
Giở tập vở ghi chép, lấy nét mặt trang nghiêm, anh đưa mắt nhìn khắp lượt, chậm rãi nói:
– Tất cả dự đoán anh em đều đúng. Vấn đề học tập của chúng ta đã đến. Buổi hội tối nay, cán bộ quản giáo cho biết, cấp lãnh đao Trại quyết định đặt 2 câu hỏi, để qua đấy, đánh giá mức độ hiểu biết của chúng ta về Cách Mạng! Các anh hãy lấy giấy bút ghi theo lời tôi đọc.
Tất cả đứng dậy đi về chỗ nằm tìm giấy bút. Khi mọi người đã ở trong tư thế sẵn sàng, B. Trưởng dõng dạc:
– Thứ nhất, ghi số La Mã, Lao động là gì? Các anh quan niệm thế nào là lao động?
– Thứ nhì, cũng ghi số La Mã, Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập từ năm nào? Do ai lãnh đạo?
Sau khi ghi xong, tôi liếc nhìn mặt mọi người có phần thờ thẫn dưới ánh điện chẳng sáng là bao nhiêu. Có lẽ, 2 câu hỏi vừa nêu, phần nào xa lạ đối với mọi người. Có tiếng hỏi:
– Bao giờ phải viết xong?
– 2 ngày! hôm nay thứ Tư, đến chiều thứ Sáu, các Tổ Trưởng thu bài trong Tổ mình, đưa tôi nộp cán bộ quản giáo!
Sau khi giải tán, một số ra sân, một số ngồi quây quần hút thuốc lào, bàn tán về 2 câu hỏi.
Ra đến ngoài, chiếc ghế đã đầy người, tôi đành đứng ngơ ngơ nghe Mậu, Huy, Lâm, Phát và Định đang thì thầm to nhỏ. Trong số đó, tôi nhận thấy Lâm tương đối là một sĩ quan có kiến thức cao, có suy luận sâu sắc trong mọi vấn đề thảo luận. Nhưng đứng trước 2 câu hỏi này, Lâm cũng chỉ có thể phát biểu loanh quanh:
– Bố ai biết được Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập từ năm nào. Mình có là Đảng viên đâu? Còn ai lãnh đạo, cái đó dễ rồi. Vấn đề lao động, tuy câu hỏi đơn sơ, nhưng hóc búa đấy các cụ a! Mình có lao động tay chân bao giờ đâu, mà quan niệm? Việc này phải hỏi mấy ông làm ruộng ở miệt quê, hoặc mấy cha xích lô ở thành phố, may ra!
Tôi đứng ngoài nghe, không tham gia ý kiến. Định kéo tay tôi, hỏi:
– Nè ông, phải có ý kiến giúp anh em chứ? Khi nào học tập xong được trở về, tôi mời ông nhậu một bữa, làm toàn món Huế.
Sự thực, tôi nào hơn gì anh em về vấn đề này, nhưng trước sự nài nỉ của Định, tôi đành trả lời ngu ngơ:
– Lao động, ai chẳng phải lao động, do đó, Marx mới quan niệm “Người là con vật lao động” trái hẳn với quan niệm của Pascal “Người là động vật siêu hình”!
– Hay, hay! – Tiếng vỗ tay nhè nhẹ. – Còn ngày thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương, ông biết không?
– Tôi nhớ mang máng, vì trước có được đọc cuốn tài liệu nói về Đảng này, hình như ngày 3-2-1925, nhưng không chắc đâu nhé!

Google images
Nghe tôi nói vậy, anh em ngồi im như phân vân. Ít lâu sau, khi được học tập một bài về Lao động, tôi mới biết, mình chẳng hiểu lao động là cái quái gì cả.
Hai ngày qua đi rất nhanh. Trong hai ngày đó, chúng tôi không phải làm cỏ-vê. Sự bàn tán về 2 câu hỏi không ngớt, nhưng cũng có người phớt tỉnh như Kiên (thuộc Đơn vị 101) cứ nằm võng đu đưa suốt ngày, ban đêm anh cũng ngủ võng luôn! Do đó, chỗ nằm của anh không có ván kê.
Sự thực, viết không lâu, chỉ trong vòng nửa tiếng, nhưng có người cẩn thận, cứ sửa đi sửa lại, để chứng tỏ khả năng hiểu biết của mình, họ viết tới 5, 6 trang giấy, nhưng càng viết nhiều, càng nhầm, hối không kịp.
Sớm nay, tôi đang đứng nhìn đôi chim khuyên chuyền cành, bỗng có tiếng nói nhỏ nhẹ:
– Ông cho tôi mượn bài đi!
Tôi ngoảnh nhìn thấy Bích (Cựu Tỉnh Trưởng, mới mất chức trước ngày 30-4 vì tham nhũng).
– Cọp-dê sao cha?
– Ừa, nghĩ mệt quá. Sao y bản chính cho tiện!
Bích cười khà khà:
– Ở đời, nghĩ cũng tức cười. Khi trước đi trận, có bữa mình uýnh tụi nó chạy vãi cứt ra quần, nay nó bắt mình trả bài, ức thật!
Buổi chiều, sau khi nộp bài, mọi người như vừa trút xong gánh nặng, dù câu trả lời đúng hay sai? Có người ngụy biện:
– Mình dốt mới phải học chứ? Dốt mới thua!
Nhưng rồi hình như, mọi người quên đi, lại quây quần xung quanh chiếc điếu để nhắc nhở đến kỷ niệm và những gì đã xảy đến cho mình trước ngày 30-4. Nhưng những chuyện được nhắc đây, không phải để căm thù, hoặc ân hận về những quyết định sai lầm trong khi trong tay còn quyền lực và vũ khí mà chỉ để chứng minh, sự thua trận không phải do lỗi lầm của họ.
Bỗng không khí căn nhà vui nhộn hẳn lên vì tiếng vỗ tay đôm đốp:
– Có chuyện gì vậy?
– Ciné! A, thích quá ta! Lâu lắm mới được coi.
B. Trưởng, dáng điệu chững chạc đứng giữa nhà nói:
– Chiều mai, thứ Bẩy, 6 giờ, anh em sẽ sang khu Tiểu Đoàn xem chiếu phim. Có vài điều, anh em cần nhớ: khi đi, giữ đội hình. Lúc xem, ở đâu ngồi đấy, không nói chuyện. Nếu ai vi phạm sẽ bị kỹ luật!
Tiếng bàn tán lại xôn xao. Người đoán phim này, kẻ đoán phim nọ. Vấn đề học tập tự nhiên chìm xuống. Ai cũng mong chóng đến chiều mai, như trẻ thơ chờ áo mới. Thời gian 1 tháng đã qua được mấy bữa rồi. Các luống rau muống đã lú cao, sắp sửa được ăn lứa đầu. Các luống khoai, lá mọc xanh um, tươi tốt. Bãi cỏ gianh đã được dọn sạch. Toàn trại trông gọn gàng vì có bàn tay con người săn sóc. Chúng tôi đã kiến tạo được trái bếp nhỏ để đun nấu và có cả một số soong, chảo, nồi niêu đủ đùng.
Nóng quá, không ngủ được, buổi trưa tôi ngồi ngoài thềm tựa lưng vào chiếc cột, nhìn những cụm mây trôi lang thang trên vòm tròi. Có nhiều cụm hình thù kỳ dị, sần sùi như mặt quỷ. Có những dải mây mỏng như lụa bay lang thang, bình bồng. Bỗng có tiếng còi xe rúc vang phía bên kia đường. Tôi nhìn sang. Một chiếc Molotova không mui, trên chở độ 4,5 người, trong đó có một cụ già khoảng trên 70 tuổi, râu tóc bạc phơ, rối bời theo chiều gió. Chiếc xe vòng qua lối cổng, chạy thẳng đến khu Đại Tá. Tôi không hiểu những người trong xe thuộc thành phần nào, nhưng chắc chắn, họ được đưa đến đây không phải để chơi! Tên bộ đội mang khẩu AK, ngồi nghiêm chỉnh sát tấm chắn hậu. Lát sau, chiếc xe vòng ra, khoang sau trống rổng. Vì tò mò, tôi rủ Mậu cùng đi xem những người mới đến. Chúng tôi đi qua căn nhà Nữ Quân Nhân. Tôi ngạc nhiên, thấy căn nhà đó bỏ trống.

Google images
Tôi hỏi Mậu:
– Nè ông, các “phún” biến đâu rồi?
Mậu cười khục khục:
– Ông ngu ngơ bỏ cha! Tụi Việt Cộng đã chuyển các “bà cố nội” nó đi từ tuần trước.
– Đi đâu?
– Nghe đồn về Trường Thủ Đức!
Vài bóng người lố nhố chạy ra, chạy vô trong một căn nhà nhỏ. Nhìn thấy Sơn, nhà viết sử, tôi vẫy tay gọi. Sơn ngó ra, nét mặt cau có như còn đang cơn tức giận. Sơn nói với tôi, như phân trần:
– Tụi khốn nạn! Người ta già cả, ốm đau như vậy, còn bắt đi cải tạo!
– Ai vậy, bạn?
– Đại tá Cẩm đó! Ông cụ đang bị bệnh rề rề, máu trỉ chảy tùm lum, gần đất xa trời rồi, cũng không tha!
Tôi ghé mắt nhìn vô trong. Một ông già, quá già, nằm dài trên tấm ván đặt sát mặt đất, mồm há ra, thở mệt nhọc.
Tôi hỏi:
– Còn mấy người nữa đâu ông?
– Mấy người kia thuộc diện Trung Tá, trốn học tập cải tạo, bị bắt ở dọc đường. Họ được đưa đến khu D rồi!
Mậu kéo tay tôi.
– Thôi về ông, chán ghê, chán ghê!
Vừa đi, tôi vừa nhìn bóng mình lẩn quẩn trên mặt đất đỏ, như vết nhọ.
Quả thực, không có gì nản bằng khi mắt mình phải nhìn mãi một cảnh tượng không ưng ý. Chẳng còn chi vui thú khi biết tự do của mình đã mất. Vùng trời xanh thẳm trên kia, hàng cây giăng dài phía trước, những vòng kẽm gai quấn quít, tua tủa muôn ngàn mũi nhọn như đe dọa, những mũi súng lạnh lùng ẩn khuất đâu đó, tất cả chẳng khơi động trong tâm trí tôi mảy may xúc động! Những bước chân, quanh quẩn vẫn là những bước chân tù túng, bị hạn chế trong một chu vi nhất định.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.