Lê Đại Lãng
Post by Sơn râu 7 May 2024

6. Phần 6
Rừng phi lao xanh mướt oằn oại lượn trong gió dọc theo bờ biển xa mút tầm mắt. Từ điểm xa mút ấy lố nhố hiện những ngôi nhà trắng nhỏ cứ như những hộp vuông bé nhỏ ấy được cắm trên đọt xanh của lá, của màu xám núi. Ở một góc mắt khác, những tảng đá chồng lên nhau, xếp thành hàng lắt lẻo từ đất liền đổ ra biển trông như những đàn rùa nối đuôi nhau từ bỏ đất liền. Sóng tóe lên trắng xóa, hung dữ đập vào những….mu rùa nín lặng chịu đựng. Mây trời sà thấp, thấp đến mức chui vào những cánh cửa bé xíu của những ngôi nhà bé xíu.
Họ phấn khởi khi càng tới gần màu đỏ chói của nhiều nóc nhà càng tỏ hiện một sự phú túc dư dả nào đấy. Mặt đất nghiêng dốc ra phía biển, nhưng cả ngôi làng được xây trên một mặt bằng khá phẳng. Kể từ khi thấy hình dáng của những ngôi nhà cho đến khi thấy được màu ngói, họ vẫn còn cách một quãng xa. Mặc dù khoảng cách càng lúc càng ngắn lại nhưng hoài không đến đích. Hải tựa vào gốc cây, hào hễn bảo:
– Bao giờ…tới…Dũng…chắc chết quá ông ơi!
Dũng tỉnh táo hơn, động viên cả bọn:
– Thế nào mà chả có cái để ăn. Ráng lên, thiên đường cụ Mác kia rồi.
Sương ngã chúi vào lòng lão Mục, đôi chân nàng tê dại không còn cảm giác. Lão Mục lựa thế ngồi xuống đất, ngửa mặt lên trời uống không khí. Một con chó từ đâu trong bụi chạy xẹt ra, lông nó vàng óng đến phát thèm. Dũng chặc lưỡi, tưởng tượng ra đĩa thịt chó thơm đến ngạt. Nhớ. Anh còn hình dung ra có cả chén rượu nốc vào nóng ran người. Bỗng như trí tưởng tượng khiến tinh thần Dũng phấn khởi, anh giục mọi người đi tiếp bảo:
– Mình có cơ sống. Có chó là có đồ ăn mà.
Bóng người xuất hiện lấp ló trong rừng phi lao khi bọn Hải tới gần. Chẳng còn gì để sợ, họ đang muốn gặp công an, hoặc bất kỳ một người nào may mắn hơn họ. Dũng hối thúc:
– Ông ráng tí nữa ông ơi. Trông kìa, có cả lều giăng trên bãi tắm. Hẳn phải là xứ giàu.
Dưới những cây phi lao mởn lá, quả nhiên Hải nom thấy những túp lều nhỏ che nghiêng ra hướng biển. Nhưng kỳ, những túp lều chỉ có một mảnh, làm bằng đủ thứ vải đã cũ, có cái còn rách bươm ra nữa. Bỗng nhiên có tiếng hô hoán:
– Ê, Việt Nam hở, các đằng ấy Việt Nam phải không?
Người vừa hỏi là một thanh niên gầy gò, da mặt anh ta bong ra từng mảng. Anh ta cầm một khúc cây vót nhọn, chắc đang nới thêm lều.
– Đằng ấy là Việt Nam hả? Trời ơi…
Dũng la lên mừng rỡ. Người thanh niên cười, hàm răng cửa cái còn cái mất:
– Hải Phòng đấy à. Đồ Sơn đây.
Anh ta nghe Dũng kể cuộc hành trình, mặt không đổi sắc:
– Tụi tôi đắm thuyền ở đây. Chỗ kia kìa. Năm hôm rồi.
Người thanh niên chỉ ra bờ biển. Có thấy gì đâu. Chỉ có mặt biển phẳng lì không vết tích. Anh ta bảo chỉ một đêm, con thuyền bị sóng nâng lên đập xuống vài lần là vỡ tan từng mảnh. Thuyền anh ta đi 47 người. Giờ tản mác đi ăn xin hết. Chỗ này tên là Ô Thạch. Anh ta kêu bọn Hải vào lều ngồi trên miếng vải lót nhăn nhúm.

Google images
– Làm sao đi tiếp? Hải băn khoăn hỏi.
– Mọi người đang tìm cách hùn tiền mua thuyền đấy. Các đằng ấy có tiền bạc gì không đấy, cứ chung cả vào với tụi tôi.
Dũng thầm đánh giá người thanh niên. Hàm răng sún khiến anh ta có vẻ bần hàn nhưng đôi mắt lại thẳng thắn. Gần tháng trời nay Dũng vẫn nhất quyết không chịu bán hai cái nhẫn chỉ đợi đến lúc này. Hải cũng có ý nghĩ tương tự. Một cái nhẫn cưới và hai mươi đô còn sót lại. Hải đã tiêu mất hai mươi đô la cho ngày ba mươi Tết hôm đến đảo Hải Nam.
– Tôi còn một ít. Những phương án của các anh ra sao?
Người thanh niên mắt sáng rỡ:
– Tôi tên Tịnh. Cả thuyền chỉ có tôi biết lái thuyền buồm. Tụi tôi đã tìm được chỗ mua một chiếc thuyền cũ nhưng họ đòi đến hai ngàn nhân dân tệ cơ. Thành ra phương án tụi tôi thế này: Hiện đã có chừng một nghìn, 47 người sẽ đồng loạt tản đi ăn xin, mỗi người kể cả con nít thì hai đứa chia thành một suất, cơ bản chia thành 40 suất. Mỗi suất phải xin đủ 40 đồng. Khi mọi người xin đủ số rồi thì sẽ tiến hành việc mua thuyền. Tôi chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật.
Tịnh nhìn lão Mục:
– Thế ông đây chắc là dân trong nghề?
Lão Mục gật đầu mệt nhọc:
– Vâng, tôi phụ được.
Tịnh có vẻ phấn khởi:
– Các anh…à chị nầy nữa muốn nghỉ cứ nằm đây. Nếu muốn có gì ăn thì lên trên làng xin.
Tịnh mở can nước rót ra ca nhựa:
– Uống thì được. Tôi chẳng có gì đãi. Chờ vợ con xin ăn về mới “phụ” chúng nó cầm hơi.
Lão Mục gượng đứng lên. Hàm râu của lão như rụng đi gần nửa, xoắn tít vào nhau bẩn thỉu. Hải bảo:
– Thôi ông và cô Sương nằm nghỉ để tụi cháu đi xin ăn được rồi.
Dũng dồn thêm:
– Ông trông mệt lắm đấy, lại phải trông chừng cô Sương chứ.
Lão Mục gật đầu. Lão cởi áo làm gối biểu Sương kê lên. Những bắp thịt cuồn cuộn của lão đã tan theo bọt sóng, chỉ còn những lóng xương sườn nhô cao và hai cánh tay cong queo đường gân máu.
Hải và Dũng đi ngược lên hướng núi. Những ngôi nhà ngói đỏ có lối kiến trúc na ná như ở Việt Nam khiến cả hai đều có cảm giác gần gụi. Chỉ có khác là dường như đây là ngôi làng của người già. Những bà lão hom hem đội nón lá không chóp, tóc cắt ngắn ngang cằm nên trông có vẻ dịu dàng dễ mến của người đàn bà Việt Nam. Có người đang ngồi tựa cửa ngủ, miệng há hốc thở. Cả khu làng xây trên một khu đất cằn, đá lổm chổm che kín cả đất thịt, chằng chịt những rãnh nước hôi thối và bẩn thỉu. Hải đi ngang một ngôi trường tiểu học, ruột thắt lại khi thấy trẻ con nô đùa. Chàng rảo bước tránh xa ngôi trường nhưng như có điều gì giữ lại khiến Hải cứ ngoái lui. Dũng bảo:
– Vào đây thử.
Một người đàn bà trạc năm mươi tuổi đang phơi cá trước nhà. Hải trù trừ, nhớ sực bà lão xua đuổi bố con chàng hôm nào.
– Sao vậy?

Google images
– Trông bà ta hiền.
Người đàn bà trông hiền lành thật. Có lẽ nhờ mái tóc bới lên sau gáy, một vầng trán thẳng trên khuôn mặt đầy, và cái quần đen dài chấm gót khác hẳn đàn bà Trung Quốc lúc nào cũng mặc quần ngắn cũn cỡn. Người đàn bà quay phắt lên, nói. Ôi chao, bà ta nói tiếng Việt, mà nghe như giọng Hải Phòng mới chết chứ:
– Này các cậu, vào cả đây.
Hai người quýnh quáng mừng rỡ. Người đàn bà cười, hai hàm răng đều như hạt lựu:
– Các cậu ở dưới kia đấy phải không? Bà ta chỉ ra hướng biển. Mấy hôm liền người mình đi qua đây nhiều lắm…Cơ khổ!.Bà ta mời hai ông khách bất đắc dĩ vào nhà. Dũng rụt rè bảo:
– Bà giúp cho chúng em nhỡ đường…
Người đàn bà xua tay:
– Bày vẽ nào. Tôi hiểu.
Chủ nhà rót chè ra tách, đon đả. Hải duỗi chân, lòng như nhẹ đi một gánh ưu phiền. Người đàn bà ngồi trên sập gụ, một chân thùng xuống đất, chân kia co lên. Ôi chao, sao mà Việt Nam thế.
– Các cậu đi Hồng Kông đấy chứ gì. Rõ thời thế, tôi mà ở lại thì cũng đến nước này thôi.
Thì ra người đàn bà trước kia ở Hải Phòng. Chính sách “bài Hoa” đã đẩy bà về nguyên quán năm 78. Bà ta về đây lập nghiệp với chồng cũng là người gốc Hoa. Chủ nhà rành rẽ giảng:
– Cái làng này được tổ chức theo lối công xã, nó như hợp tác xã bên mình vậy. Có chế độ bao cấp…
– Nhà nước ta hết bao cấp…
– À thế…
-…rồi cơ bác!
-…nào tôi có biết. Tất cả nhà cửa đều được xây cất ở những nơi thật khô cằn sỏi đá, vì những vùng đất tốt thì phải để dành cho canh tác. Đấy hai cậu coi, đến cỏ cũng không mọc ở đây được nữa là. Ruộng nương thì ở xã kia, đàn ông con trai đều ra đấy cả.
– Thế…
– Nhà tôi cũng ngoài ấy. Hai cậu người Hải Phòng?
– Vâng, em ở chợ Sắt. Bác còn nhớ không?
Người đàn bà bỏ một chân xuống, khuôn mặt bỗng mơ màng. Một chốc, mắt bà ta rớm lệ.
– Nào…
Bà hỉ mũi, ngập ngừng nói lảng:
– Để tôi thết hai cậu, nói mãi sao cho hết chuyện đời.
Chủ nhà xuống bếp lục lạo. Cả Hải lẫn Dũng đói xanh mặt, ngồi tựa vào bàn chờ. Thời gian trôi qua chầm chậm. Ngoài sân nắng đã nghiêng hiên. Rồi chủ nhà bưng lên hai bát mì bốc khói, đặt xuống bàn:
– Các cậu cứ tự nhiên.
Dũng nói vài câu chiếu lệ. Chưa bao giờ anh cảm thấy sung sướng đến như vậy. Cuộc đời đẹp vì con người còn đối nhau tử tế thế kia. Tình đồng hương, ôi dào, sao mà đáng bát cơm tô mì đến vậy.
Người đàn bà lại rót chè. Hai ông khách đã nuốt trọn tô mì trong nháy mắt, họ cáo từ. Chủ nhà đưa một gói nhỏ:
– Hai cậu cầm ít bánh sắn ăn đường.
Hải cảm ơn chủ nhà. Chàng thấy khỏe khoắn, sức lực hồi phục. Hải bảo Dũng:
– Mình về kẻo lão Mục trông, tội nghiệp.

Google images
– Hượm đã nào. Hay tớ với cậu đi tham quan chút chơi. Vội gì. Biết đâu chừng lại được thêm gói bánh, cất ăn dần.
Hải nghiệm thấy chí lí. Chàng lò dò theo Dũng đi ngược lên dốc. Chàng thấy từ xa một người đàn ông đang bồng con đi cạnh một người đàn bà. Áo quần họ rách bươm, mặt mày vơ váo. Họ đang bàn cãi gì nghe rất căng. Rõ ràng là họ đang nói tiếng Việt. Khi đi đến gần Hải, người đàn bà vụt im tiếng, đôi mắt e ngại nhìn hai người đàn ông lạ mặt. Người đàn ông dáng chừng đã mỏi, trao con cho vợ, khuôn mặt lườm lườm ra chiều bất ý. Đứa bé đâu chừng hai tuổi, hai mắt sáng long lanh nhìn Hải nhoẻn miệng cười. Hải nghe cả mùi hôi từ cặp vợ chồng khi họ đi ngang qua. Chàng nghe tiếng người chồng gắt:
– Em nghĩ kỹ đi, đến nước này…
Người vợ cương quyết:
– Em thà chết…
– Bộ em tưởng chết dễ à…
Anh ta nhỏ giọng, Hải nghe tiếng còn tiếng mất:
– Mất đứa nầy mình…đứa khác.
Dường như chị vợ khóc thút thít. Hải không nghe tiếng chị ta trả lời. Anh chồng vẫn kiên quyết thuyết phục. Có lẽ chưa bao giờ trong đời anh ta thấy quyền làm chồng bị tổn thương đến thế. Một chốc anh ta bỏ bà vợ, hậm hực vượt lên phía trước. Người vợ chỉ chờ có thế, ngồi phịch xuống bên đường ôm con khóc rấm rức. Anh chồng chợt dừng chân, quát:
– Có đi không nào, hôm nay người ta đi đấy!
Rồi anh ta dỗ đứa bé:
– Lạc ngoan của bố nào, nào đi theo bố!
Người vợ hoảng hốt ôm rịt thằng bé. Anh chồng xấn lại, lôi vợ đi xềnh xệch. Dũng cau mày khi thấy cảnh đó:
– Cái thằng cha…
Hải bảo:
– Nó muốn bán con đó.
Chàng nghe lòng buồn dằng dặc, nhớ con da diết. Gói bánh cầm trên tay chừng nặng trĩu. Chàng chưa lần nào cho bé Ngọc ăn cái bánh như vậy suốt cuộc hành trình. Cả khi con chết, chàng chỉ có một củ khoai méo mó đã cạp vỏ để trên một cục đá dưới gốc thông già. Chàng lột sạch vỏ thông, khắc ngoằn ngoèo mấy chữ: nơi an nghỉ Lê Thị Mai Ngọc, 5 tuổi, chết ngày…tháng…năm… Rồi nếu có hôm nào trở lại, chàng có còn tìm gặp cây thông nguyên vẹn hay không? Chàng hy vọng, sợ hãi con đường sắp tới, mà ngoái lui chẳng một lối về.
Dũng bỗng hít hà:
– Nghe gì không?
– Mùi rượu.
Dũng hít hít như con chó đánh hơi. Rồi anh quả quyết lôi Hải đến trước một căn nhà ngói. Rõ ràng mùi rượu ai đang cất xuất phát từ đây. Một thanh niên đứng choán ngay cửa, quan sát hai người rồi lạnh lùng bảo:
– Vào đây.
– Thế ra nhà bác…
– Cứ vào đây hẳn…

Google images
Căn nhà lót ván kêu ọp ẹp dưới sức nặng của ba người. Gã thanh niên bảo hai ông khách ngồi, tự tay rót…rượu ra chén. Dũng sướng tưởng ngất lên được.
– Thế ra nhà bác…
– Ừ, tôi là Cảng Quảng Ninh đây. Nhìn dạng hai ông biết ngay dân vượt biên. Uống đi.
Nguyên Cảng từng là công an ở Quảng Ninh. Bị cho về hưu non vì bố là người gốc Hoa. Cảng trốn sang Trung Quốc thời nhà nước đánh “nạn kiều”, làm nghề nấu rượu lậu, vẫn ôm giấc mơ vượt biển đến Hồng Kông. Y đã vượt đến Hồng Kông một lần nhưng liền bị trả ngay về Hoa lục vì chính quyền Hồng Kông không nhận bất cứ một người nào đã định cư ở Lục địa. Sau lần thất bại đó, Cảng rút kinh nghiệm, nghĩ ngay một phương án mới. Y bàn tính với một số người trong làng hùn mua thuyền, chờ có “nạn dân” tức người tỵ nạn ở Việt Nam đến sẽ nhập bọn để cùng đi với họ đến Hồng Kông. Khi đó y sẽ khai là từ Việt Nam, và đương nhiên sẽ được chính quyền thuộc địa chấp nhận. Y chắc mẩm như vậy.
Gặp Hải và Dũng, Cảng biết ngay là người Việt Nam. Y đã gặp nhiều người ăn xin do thuyền bị đắm ở rừng phi lao để gạ gẫm cho y đi theo những chưa ai chịu. Rốt cuộc Cảng dùng phương án cuối cùng: đi bằng chiếc thuyền y mua nhưng sẽ dùng người Việt làm chủ thuyền. Thế là thượng sách. Cảng nói:
– Các đằng ấy cứ nhậu cho say một bữa. Vội gì.
Thực sự thì Hải và Dũng chẳng vội gì. Hai người cứ uống liền tù tì, nghe Cảng nói tiếng còn tiếng mất. Đầu óc chếnh choáng, hơi men khiến họ hứng chí, Dũng khề khà:
– Được, tôi là tài công. Có thêm ông thông thạo đường đi nước bước nữa lại càng hay.
Cảng hớn hở nốc cạn chén rượu, mặt y đỏ khè:
– Bọn tôi cả thảy trên 20 người. Thêm hai ông…
– Bốn người.
Hải nói, kể thêm cha con lão Mục:
– …thì cũng chưa tới ba chục nhân mạng. Ta cùng nhất trí là đi từ Đồ Sơn.
– Thuyền to bé thế nào?
– Ối dào, đi cho hết thì phải năm mươi người có dư. Nào vô nào.
Ừ, thì “vô”. Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu. Uống cho tiêu mối sầu kim cổ. Chàng còn gì nữa đâu mà sợ, cứ gặp chăng hay chớ, cứ đánh bè kết bạn ung dung, cùng nhau đi, cùng nhau tới, và chết! Hải say tít, say lử, say cúp bình thiếc, say cho đến gần nửa đêm. Chàng đã ngủ không biết bao lâu trên nền đất, ấy thế mà nóng ran mình mẩy. Đầu óc chếnh choáng nhưng Hải nhớ ngay là cả chàng lẫn Dũng đều quên đem thức ăn về cho lão Mục và Sương. Hải lay Dũng dậy:
– Về thôi ông, khuya lắm rồi.
Không thấy Cảng đâu, nhưng vừa ra tới cửa thì đụng ngay Cảng đang ngồi trên bậc thềm, hút thuốc phì phào:
– Đi hả. Ừ, ta nhất trí nhé. Sáng mai ghé lại tôi.
Hai người im lặng ra biển, lòng áy náy. Trăng đã mọc trên đầu, chiếu vằng vặc cả quả đồi hoang vắng và tĩnh mịch. Hải chỉ còn nghe tiếng chân mình trên đường dốc vắng, thỉnh thoảng tiếng chó sủa trăng vu vơ cô độc. Vừa đến rừng phi lao, đột nhiên có tiếng tù và nổi lên rợn gai ốc và cả tiếng chim kêu quang quác khua động cả màn đêm yên ngủ.
Dưới ánh trăng, gần cả trăm bóng đen đang tụ tập trên bãi biển. Họ quây quần chung quanh hai chiếc thuyền độc mộc, rồi hè nhau đẩy thuyền xuống biển. Một chiếc lưới căng ra từ hai chiếc thuyền sóng sánh ánh trăng từ từ chìm xuống nước. Cả đoàn người, bây giờ Hải đã nhận ra toàn là những ông già trong làng, chèo thuyền ra khơi. Hải đoán họ lưới cá theo kiểu tập đoàn, nhúm gia sản là cái lưới và hai chiếc thuyền độc mộc nhỏ nhoi trên biển cả.
Thốt nhiên Hải giật thót người. Cả bãi biển sao quạnh hiu không một bóng người. Dũng cũng phát hiện cái vắng lặng bất thường ấy. Anh lẩm bẩm:

Google images
– Không lẽ mình về lầm chỗ.
Cả hai người xồng xộc khắp rừng phi lao. Không một dấu tích nào của người tỵ nạn để lại. Hải cấu tay Dũng thật mạnh:
– Á…
– Ông đau hả, đúng là không phải mơ rồi.
Chiếc lều của Tịnh đã biến mất. Không còn gì hết, cả lão Mục, cả Sương. Họ đi rồi. Hải điếng người:
– Họ đi rồi?
– Vô lý!
– Vô lý! Lẽ nào…
Quả thực thì họ đã đi rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa. Hai người đều không muốn tin như thế. Trăng lưỡi liềm đang nghiêng cười trêu cợt. Tiếng xào xạc của đôi chân trên cát chỉ trả lại một âm thanh buồn hiu hắt. Hải nghe một tiếng xào xạc khác. Bước chân của Dũng. Không phải, vì Dũng đang đi bên trái. Phải là một bước chân khác. Đúng vậy, rồi có tiếng va chạm của hai vật chạm nhau, tiếng ngã. Hải bắt loa gọi lớn:
– Ông ơi…
Tiếng kêu của Hải rền rền trong cây, mất hút. Rồi một tiếng vọng, rõ ràng không phải tiếng vọng của Hải:
– Ơi…
Hải chạy như điên về hướng tiếng kêu. Trăng đuổi theo rần rật sát nút. Một bóng đen đang lảo đảo đi, bóng đen đụng vào một cây phi lao ngã xuống, lồm cồm ngồi dậy, hai tay quơ quào trong không khí. Mái tóc xõa che kín cả khuôn mặt. Hải rú lên:
– Sương…!
Phải, bóng đen đó chính là người con gái mù lòa. Nàng ngã ập vào lòng Hải, khóc nức nở, tiếng khóc khản đặc vỡ trong không gian trắng màu tã.
Thuyền lướt nhẹ trong ráng chiều êm ả. Cảnh trí trên bờ đẹp như bức tranh thủy mặc. Có chỗ, từ trên cao một dòng thác bé như dải lụa vắt vẻo trên màu xanh của núi. Cạnh đó, một ngôi nhà nhỏ chìa ra trên mỏm đá chơ vơ giữa lưng trời. Hải nghĩ có lẽ ngày xưa Lưu Nguyễn lạc thiên thai chắc cũng chỉ chừng này sương khói. Chàng ước khi nào bước chân mình đã có chỗ quay về, chàng sẽ đứng trên mỏm đá lưng trời kia, sẽ đánh một tấu khúc làm rung động những đám mây đứng sững yên bình, và dưới chân chàng, sẽ có…
Cảng trải tấm bản đồ giảng giải:
– Chỗ xanh này là nước sâu, ta đi gần bờ được. Nếu ông…Cảng nhìn Dũng, cắt được đường xuyên qua đông hải đảo thì đến Hồng Kông chỉ mất vài hôm.
Dũng hờ hững:
– Cái đó còn tùy.
Chiếc thuyền của Cảng dài 11 thước, từ đáy thuyền đo lên cao phỏng độ một thước rưỡi, nước cứ mấp mé mạn thuyền chực tràn cả vào khoang. Dũng nào vui được khi đoàn người cùng đi đã tản lạc hết, anh bực bội trong cái thế phải đi cùng với hàng chục người địa phương cải danh là người Việt Nam đến Hồng Kông. Đêm Dũng và Hải say sưa ở nhà Cảng cũng là đêm công an tập hợp đám người Tịnh dưới rừng phi lao, buộc họ phải nhổ neo ngay vì đã mua được thuyền buồm. Lúc đó Sương đang mò mẫm ra ngoài tìm chỗ đi ngoài. Đúng ra nàng đã thức lão Mục dậy dẫn đi như mọi lần, nhưng nghe tiếng bố ngáy đều, nàng nghĩ bụng cứ đi cho đến chừng nào không nghe tiếng người nói thì sẽ ngồi xuống. Dường như chỗ nào cũng vang lên tiếng ngáy ngủ khiến Sương đi càng lúc càng xa chỗ cũ. Đến lúc tìm được chỗ mà nàng cho là “an toàn” thì công an ồ ạt đến. Họ đánh thức tất cả dậy, khẩn trương tập hợp mọi người. Lão Mục quýnh quáng vừa đi vừa gọi tên con cho đến khi bị xô ngã xuống thuyền. Lão cứ nghĩ Sương chắc ở trong đám đông người nhốn nháo. Lão không biết là Sương không thể tự về lại căn lều cũ.

Google images
Dũng lái liên tục gần tám tiếng đồng hồ. Linh tính cho anh biết là Cảng chẳng biết gì về chuyện đi biển. Y nhiều lắm chỉ rành tên địa phương mà thuyền đi ngang qua. Dũng bắt y xác định tọa độ con thuyền, đo mực nước, rồi bẻ ngoặt 45 độ. Theo hướng nầy, anh sẽ đến thị trấn Trạm Giang trong vòng bốn giờ nữa.
Nhưng càng lúc nước biển càng đen sì, bờ càng lúc càng xa. Dũng hoàn toàn không nghĩ là Cảng đã định trật chỗ đậu của con thuyền. Mà thật vậy, thay vì chỉ đúng chỗ thì y lại đánh dấu trật lên một cái mỏm cách chỗ xuất phát 150 cây số. Khi Dũng phát hiện ra thì đã quá trễ. Bốn bề chỉ là màu đen của biển, màu đen của mây của trời hú gọi. Chỉ trong một tích tắc của sự nhầm lẫn, bão ồ ập kéo đến. Con thuyền nằm gọn trong hai lượn sóng, cứ thế lượn đi như chiếc diều bị gió đùa. Mũi thuyền bị đánh vỡ, nước xối xả tràn vào. Tát, tát…tất cả cùng tát nước. Con thuyền ưỡn lên oằn xuống như có một bàn tay vô hình đẩy đưa. “Cạch”, từ đáy thuyền vang lên một âm thanh va chạm.
– Đụng cồn cát rồi.
Có tiếng hét. Rồi tất cả cùng sững sờ khi trước mặt họ hiện ra một ngôi chùa trơ trọi trên cồn cát. Ánh lửa leo lét từ bên trong chập chờn soi bốn cây cột những hình thù quái dị. họ ngừng trước một cái miếu! Tất cả rùng mình trước run rủi lạ lùng. Dũng bảo:
– Ông dìu cô Sương vào trong chùa nghỉ, tôi phụ kéo thuyền lên bờ không lại vỡ nữa.
Hải run cầm cập trước những ngọn gió cắt thịt. Chàng chỉ cảm thấy một chút hơi ấm khi thân hình sũng nước của Sương tựa vào người. Trong lòng chàng dấy lên một niềm tin mãnh liệt. Hẳn phải có đấng vô hình nào đã đưa bọn chàng đến đây, nếu không thì giữa biển mênh mông và đêm tối vô cùng chiếc thuyền đã không tấp vào một ngôi chùa cũ nát.
Bóng người lao xao qua mặt Hải chui vào mái chùa. Chàng nghe họ nói:
– Ngài thiêng lắm.
– Ai cũng biết tiếng mà.
Qua câu chuyện trao đổi giữa những người Trung Quốc đi trên thuyền, Hải lờ mờ đoán chùa thờ một vị võ tướng ngày xưa. Vị tướng này thắng một trận hải chiến lừng lẫy ở đây, được dân chúng lập đền. Mỗi năm, ngư phủ Trung Quốc dù hành nghề bất cứ ở đâu cũng về đây cúng tạ để xin đi biển được bình an.
Bên hông chùa có một đống lửa nhỏ của ai đó đốt sẵn. Thấy Hải đến những người đang ngồi xung quanh đống lửa liền nhích ra chừa một chỗ. Bọn người này rõ ràng không phải đi chung thuyền với Hải vì người họ khô ráo. Một người hỏi:
– Anh chị bị đắm thuyền mới tới phải không?
– Vâng, còn các bác. Hải đáp.
– Bọn này lên đây đã năm hôm.
Hải “à” lên mừng rỡ. Thì ra thuyền họ từ Việt Nam đi hơn nửa tháng nay, nghĩa là sau ngày Hải xuất phát. Họ ghé nhiều nơi trên đất Trung Quốc nhưng may mắn là không gặp bão tố suốt cuộc hành trình. Lúc đi, thuyền họ chỉ có chín mươi người nhưng suốt dọc đường họ đã cho khá đông người bị thuyền đắm đi nhờ nên bây giờ con số đã hơn một trăm.
Hải vừa phơi áo vừa hỏi chuyện. Chàng ở trần trùng trục nhưng đã hết lạnh vì ngọn lửa cháy đều ánh sáng rực rỡ. Một chốc, tiếng xèo xèo do nước nhỏ từ áo xuống than hồng đã bớt. Hải dắt Sương ra sau chùa, bóng đêm dày đặc. Chàng ngượng ngập bảo:
– Sương thay cái áo này đi. Cởi áo đưa anh phơi kẻo rét đấy.
Chàng nói thêm:
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.