Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Thế Phong

Post by Sơn râu 12 May 2024

Thủy Và T6

cho T… va chiếc sân nhỏ. TỪ đấy T trải mình sầu vút lên tận trời cap tăm tối không ánh sao.

Chín giờ tối, tôi vẫn băn khoăn, do dự nhiều, để sửa soạn đi làm. Với tôi, đi làm là từ mười giờ đêm đến hai giờ sáng. Bốn tiếng đồng hồ, có gì là lâu đâu! Tôi không quên N, cai gà nhắc tôi câu nói đó. Chiều hôm qua, khi chị đến thăm tôi, vì biết rằng tôi đã sinh cháu nhỏ ngoài ba tháng. Lại nữa, chị N kể chuyện rằng trong những kẻ đến mua vui, ở những tiệm khiêu vũ như Tự Do, Moulin Rouge, Olympia, đều là khách phong lưu, mã thượng; không ai là không nhắc đến tôi. Một vì sao sáng của dĩ vãng, nói theo kiểu trong nghề; nay đã hoàn lương.

Tôi lập gia đình rồi, thì không đi làm nữa. Vẫn chị N kể chuyện về con Nguyệt “Bây giờ chắc Thủy không biết nó, nhưng nó biết tiếng Thủy. Nó là một con gà được nhiều khách hào hoa mời bàn nhiều nhất. Nó hỏi chị, có phải trước kia chị Thủy là hoa khôi của những vũ trường không? Chị gât đầu”. Trước khi ra về, N còn tặng tôi cái phong bì, mà trong đó tôi biết chắc rằng chị tặng gì vì thấu hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của chúng tôi bây giờ.

Tôi tiễn chị ra ngoài đầu ngõ, trước khi lên taxi, tiếng chào hỏi thiêt tha vọng lại, gởi cho tôi nỗi buồn đau. Đã mười năm, tôi sống với nghề này, thử thách nhiều đêm mặn nồng tình ái, thấu rõ tâm lý đàn ông của nhiều lứa tuổi. Nói rõ hơn là thuộc như thuộc tâm tình con cháu trong nhà, chúng muốn và thích những gì, thì tôi đã đi guốc trong bụng từng đứa một trong những đứa chúng nó.

Dĩ vãng của tôi như mỗi người bạn thân thiết bủa vây. Như Đà Lạt của những ngày tôi gần hai mươi tuổi. Quán cà phê Huyền và những đứa con trai. Để rồi viên thị trưởng đã ra lệnh trục xuất chúng tôi. Những tấm ảnh vào thời son trẻ của tôi, mà vài tiệm chụp hình còn trưng bày. Theo như một anh bạn nhà văn của vợ chồng tôi kể lại, “nào họ có chịu bỏ đi, vẫn nhớ một ngôi sao sáng vụt đến vụt đi, rồi đi tận phương trời xa”. Hình hài tôi vẫn còn như hiện diện trong thành phố mù sương. Cả những khung cảnh gần gũi, như Suối Vàng, thác Pongour, Gougah, Rừng Thông. Mớ tóc dài như nước của Thủy. Vẻ ngây thơ xưa kia, bây giờ thay vào đấy, là chán và buồn về cuộc sống.

Bạn bè chồng tôi thật nhiều và đủ loại. T1 là luật sư. T2 là giáo sư đại học. T3 là văn sĩ. T4 là thẩm phán. T5 là kỹ sư và T6. Còn tôi là T ngoại hạng. Bảy, tám chúng tôi họp thành một nhóm, tiếng dội của cuộc đời và cũng là âm thanh vang vọng của cuộc đời. Nhiều vui và nhiều ray rứt. Từ ba mươi, nhìn lại thấy cuộc đời không quá vui và không quá buồn. Chồng tôi là T6. Bây giờ, tôi không muốn bỏ dĩ vãng. Tôi sẽ khó quên được những ngày ấy, trước khi lấy nhau. Thời kỳ 63 chưa đảo chánh, chồng tôi bị tù đày. Bao nhiêu là hình ảnh, bao nhiêu là nước mắt và tiếng cười chát chúa. Xa lộ vào những buổi chiều hàng ngày, hàng tuần. Với chiêc xe Hillman loại Minx của T4. Với cách tiêu tiền không biết tiếc tay, cũng vẫn của T4. Nói thao thao bất tuyệt và đầy lý sự của T1. Với cái nghèo, nhưng bất cần đời của T3, văn sĩ. Với nét lầm lì, nhiều suy tư của T5, kỹ sư. Còn là em của giáo sư đại học T2. Và dáng hào hoa, trí thức của T6, chồng tôi bây giờ, lại hay chơi trội. Anh ta còn là giáo sư Anh văn, dạy ở các trường Tư thục.

Những T kia đang xiết chặt lấy tôi, thì đứa cháu lên gác gọi, hỏi xem dì nó đã sửa soạn xong chưa? Mẹ nó giục tôi đi làm vì chị N tới đón.

Bao vây trong cảnh túng quẫn, vì từ lâu, chồng tôi không còn làm gì, sau ngày ở tù ra. Vì trước đó, anh tham gia vào phong trào vận động sinh viên, trí thức chống chính phủ Diệm. Anh ôm lấy tì vết cuộc đời lao tù, nên đau và ốm, thấm đòn, đành nằm khàn. Chúng tôi sinh ra cãi nhau, một phần vì đồng tiền eo hẹp và tính độc quyền quyết định của anh đối với gia đình tôi. Lại giữa vào thời kỳ sinh nở, bao nhiêu thứ tiền cần phải chi dùng. Đồng tiền thu vào thì ít tiêu ra phải nhiều, anh em bạn không sao giúp đỡ nổi nữa. Tôi còn biết làm gì, để bảo vệ hạnh phúc của chúng tôi bây giờ. Giữa lúc ấy, N đến với tôi, như một ân nhân mà cũng là một người gieo tai họa. Cứu vớt đường sinh kế, nhưng hạnh phúc mỏng manh đi. Tôi định từ chối không đi làm nữa. Cái nghề này tuy kiếm ra tiền dễ thật, nhưng tôi chán nó. Song đến lúc con trai kháu khỉnh của tôi thức giấc, nó khóc, tôi với tay kéo giây đưa võng, rồi lặng đi để ngắm nó. Vẳng vẳng dội lại từ đâu đây, một lời nói của ai đó, có thể là tôi, chồng tôi, chúng tôi và chúng tôi đành chịu khổ. Nhưng đứa con kìa, con chúng tôi, tại sao nó lại bị khổ? Má hồng hồng thơm thơm của nó, đôi môi mọng kia thơm như hương trầm luân mà đầy thánh thiện, nó đã làm gì cho đời hắt hủi, bắt nó chịu số phận hẩm hiu.

Tôi nghĩ vậy nên bấm bụng, đi ra phía bàn gương chải tóc. Tôi vẫn còn đẹp, cái đẹp buồn và trầm xuống, như một nghệ sĩ thẩm định, là căn cứ vào tâm hồn và đào sâu sau lớp da mày phấn sáp. Vóc dáng tôi, ở bề ngoài ư, còn toát ra nhiều vẻ khêu gợi và quyến rũ. Tôi không có vẻ đẹp tỉa tách từng chi tiết buông rời. Một T3 bày tỏ ý kiến của anh về tôi, hình như tôi nhớ mang máng thế.

Tôi xuống gác rồi ra phố cùng với chị N. Những lời an ủi của một người bạn tuổi chị, vốn là người miền Bắc, nên tài hoa, lịch lãm, dễ khơi cho tôi niềm xúc động chân tình. Song tôi vẫn buồn nhiều hơn, vì là đêm khởi sự đi làm, qua nhiều năm bỏ. Đêm nay tôi lại phải làm đẹp lòng khách, bằng những câu nói thiết tha mà chắc gì tha thiết, hoặc phải dùng lời vũ phu cảnh cáo những thú tính lợi dụng của một số khách hàng. Một vòng tay ôm sát, một cái thúc bằng khuỷu tay, một cái véo đùi… Tôi thì đã chán ngấy sự giả dối, càng hơn nữa, là khi tiếp xúc với nhóm bạn bè của chồng tôi.

Tôi nhớ đến hôm nào T3 hỏi tôi “Rồi ra Thủy sẽ trở thành nữ sĩ, vì Thủy chân tình và có tâm hồn”. Từ lâu, tôi không thấy T3 lại nhà chơi, tôi nhắc đến T3, thì chồng tôi lại ghen bóng ghen gió. Tôi chắc chắn là giữa T3 và T6 có chuyện xích mích chăng? Thấy tôi ít nói, chị N khuyên nhủ:

– Rồi ra nó lại quen đi Thủy ạ. Ai mà chẳng vậy. Em biết chứ, trước ngày cách mạng, chị có ngờ đâu rằng lại còn được sống lại với nghề này. Mà em có nhớ con C chứ, dạo này nó còn chán chường hơn em nữa cơ.

Tôi nhớ đên C. Một dạo, nó tưởng chừng đã xây dựng hạnh phúc với một chàng văn sĩ mặt ngựa, thiếu xương sống, lại sống kiểu hiện sinh nửa vời. Để cho vợ đi làm, còn mình ở nhà. Như là anh ta sống đời sống ký sinh trùng. Nhưng ba bảy hai mươi mốt ngày, C phải bỏ nó. Anh chàng bất lực. Con C sống thác loạn. Cũng chẳng đi tới đâu, chị N kể.

Nghe xong truyện, tôi dửng dưng. Và riêng tôi, tôi định dấu chị N về truyện gia đình tôi. Giữa tôi và T6. Nhưng chắc rằng chị N cũng biết rõ một phần nào rồi. Như vậy, tại sao tôi lại còn biện bạch, chẳng hoá vậy là trơ trẽn quá sao? Nên giữ im lặng mà nghe là đắc sách nhất. Tới tiệm làm, tôi ngồi vào bàn. Nhưng tôi vẫn thấy mình như là khách, chứ không phải là vũ nữ. Vẫn còn gặp lại một số quen thuộc, nhưng vô cùng ít ỏi. Thêm một số khách mới, phần đông lạ mặt. Và bọn con nít mới lớn lên, là con nhà giàu, học đòi ăn chơi và tìm cảm giác lạ. Một bạn trẻ vào loại ấy đi qua nhìn thấy tôi, gọi giật lại:

– Thủy, em sang ngồi bàn với anh đi.

Trong lòng tôi, thầm nghĩ thôi, nó vào trạc tuổi thằng X, phăng của tôi hay lại nhà, trước khi tôi lấy T6. Nó hơi hỗn đấy nhé, nhưng nó là khách, còn tôi vũ nữ đi làm, nên chẳng cần tỏ phản ứng làm gì! Tôi lại càng nhớ đến T3, thời gian gần anh, tôi bất chấp cuộc đời xã hội, tôi sống cho cuộc đời của tôi, thích nói thì nói, chán thì nói là chán, không úp mở và che dấu sự bộc lộ tình cảm của mình một cách khác đi. Hẳn rằng, bây giờ thì trái lại với đời sống có lối úp mở của tôi hôm qua. Thằng con nít mới lớn, làm sao nó biết tôi. Nghĩ là nghĩ vậy thôi. Tôi vẫn phải ra sàn nhảy với nó. Nó hành tôi, kể ra cũng ghê ghớm, đáng đồng tiền bát gạo mà cha, ông, nó kiêm ra. Rồi cha ông nó dành cho nó phung phá. Luật thừa trừ có nghĩa từ đấy.

Nó hỏi tôi:

– Anh nghe danh tiếng em từ ngày anh lớn. Bây giờ được hân hạnh nhảy cùng em một bài blue. Em nhảy tuyệt, nhưng sao em ít nói thế. Hay là em mang tâm sự buồn?

Tôi trả lời bằng tiếng cười. Tiếng cười của tôi, theo như T3, thì khó mà biết tôi nghĩ gì và tôi sao lại cười. Có một đêm tôi còn nhớ rõ lắm. Đêm ấy hạt mưa nho nhỏ đủ làm ướt mặt đường. T4 lái xe, T1 ngồi ngoài, T3 ngồi giữa, cùng một băng đầu. Cả ba tên đi tìm tôi và T6. Khi đi qua rạp xi-nê gần nhà tôi bây giờ, họ thoáng nhìn thấy tôi và T6 ngồi ở quán phở. Chẳng ngần ngại gì, họ vòng xe lại, đậu lên lề. Tôi chạy ra đón họ, còn T6 ngồi trong hiệu. Chưa bao giờ chúng tôi vui như vậy. Ngồi chung một bàn, chúng tôi nô đùa như sắp sửa coi hiệu ăn là nhà mình vậy. T4, người mảnh khảnh, khuôn mặt dắn dỏi, quắc thước; hẳn lúc xử án mà anh chàng nhăn mặt, nhiều tội nhân sợ khiếp đảm. Chỉ riêng với tôi thôi, anh chàng hơi thấp nhưng tính tình lại rất vui, nói đúng hơn là dại gái, theo kiểu nhà tu xuất trở về đời. Chàng ta là một trong hai tên say mê tôi nhất vào thời gian đó. Sự chạy đua giữa T4 và T6, thì T6 trông thấy thua ra mặt. Tôi biết điều này, nếu trong một bọn đàn ông, hễ có thêm một người đàn bà, mà một kẻ trong đó si mê người đàn bà kia, là cả bọn bắt đầu nhảy vào vòng chiến. T1 phụ hoạ, nhưng phụ hoạ cho T4; song lại thật thân với T6 từ xưa, khiến T3 đứng giữa, với anh chàng này, tôi phục anh ta hơn hết thảy. Có lẽ chàng chưa mê tôi và chẳng có cái gì giống mọi kẻ trong bọn. Hoặc là hay hoặc là dở thì chưa biết. Có lần T4 kể truyện lại, vì T3 không ưa đi chơi chung với chúng tôi, thì T4 nói rất sỗ sàng:

– Tôi vừa bảo T3 như thế này, nếu anh không cùng đi chơi với bọn này, anh sẽ không thành người được.

Nói xong T4 cười. Và quay sang phía tôi, như để dẫn giải:

– Thủy biết sao không? T3 tức, anh ấy tức quá mà chẳng làm gì được. Anh ta bèn dẫn tôi đi qua một con đường có cái cầu khỉ, dẫn từ Nguyễn Thông sang Trương Minh Giảng, qua nẻo trại di cư Bùi Phát. Còn ai ở đây, mà không biết cái cầu ấy, dưới kia là rác rưới, phân lềnh bềnh trôi, trên là hai cây tre chông chênh. Đi không khéo là được dẫn xuống cầu lịch sử đó. Rồi anh ấy chỉ xuống dòng nước vàng vàng kia, trả đũa tôi, là “nếu tôi không dẫn anh T4 qua cầu này, làm sao mà anh thành người được, chứ chưa nói đến làm chánh án xử những việc mà chỉ sai tóc tơ là đầu người ta mất thăng bằng”.

T4 cười ròn vang, sau câu nói kia. Rồi tôi kể lại cho T3 nghe về T4 đã nói như vậy, anh nhận là đúng. Anh chàng này đã có bản lĩnh, vì trước mặt tôi mà dám nhận với bạn một câu nói khá tàn nhẫn, cay đắng, mà không chối đi, để cho người đẹp thấy rằng mình có giá trị, không phải chỉ giá trị khi nhận điều nào tốt đẹp và chối bỏ cái không đẹp. Trở lại đêm gặp gỡ trước quán phở kia, chúng tôi đặt một nguyên tắc, chấp nhận những ai nói hay và phạt những ai nói chuyện vô duyên, nhạt nhẽo, chọc cười quê. Người nói hay thưởng một đồng. Thủ quỹ là tôi. T4 bị phạt, T1 ít hơn, T3 được thưởng.

Giữa lúc ấy T3 ngoắc hai người bạn quen đi qua đấy. Hai người ngồi vào chỗ, rồi giới thiệu lẫn nhau. Người dỏng cao, gầy, là hoạ sĩ Tuýt. Người nói giọng miền Nam, tóc dài là thi sĩ Tô Tô. Có mái tóc lòa xòa như tu dòng Hòa Hảo, hay gần hơn là mái tóc vô chính phủ của Nguyễn An Ninh xưa kia.

Tôi rất ghét những tên đàn ông đa tình, lộ liễu, cứ trông thấy gái đẹp là mê cuống lên. Như anh chàng Tuýt chẳng hạn. Gặp tôi, chàng ta mở lời ngay:

– Em đẹp lắm, hôm nào anh phải vẽ cho em Thủy một bức họa mới được.

Tôi đáp ngay:

– Vẽ như thế nào mới được chứ ?

Rồi tôi cười, tiếng cười của tôi lúc ấy mang thật nhiều ý nghĩa. Mà tôi thấy T3 tủm tỉm, tôi biết ngay là anh đã nhận được nụ cười kia mang ý nghĩa nào rồi. Rồi anh em cười toang lên như nắc nẻ theo sau.

Làm cho Tuýt luống cuống. Tuýt lại đề nghị tiếp:

– Vẽ một bức họa chứ vẽ thế nào nữa. Em tưởng rằng được một họa sĩ cỡ anh đề nghị vẽ là một truyện dễ hay sao?

T3 thấy có sự gay gắt ở phía Tuýt, họa sĩ bị chạm tự ái rồi, T3 tiếp:

– Ngôn ngữ của cậu chưa hợp với bọn này. Thôi để ngày khác lại chơi, rượt lại ít ngôn ngữ đã.

Tôi tiếp theo:

– Phạt một đồng nữa.

Đáng thương cho họa sĩ, chẳng hiểu đầu đuôi gì, chỉ còn cách há hốc miệng nhìn. Thi sĩ Tô Tô ra cái điều ta đây lắm. Tôi ít đọc thơ văn anh ta, nhưng qua dáng điệu và xử sự, anh ta cũng cừ lắm. Bây giờ Tô Tô lên tiếng:

– Này T3, mày có quyển gì viết về ông Quỳnh đó, tao muốn đọc mà kiếm không ra. Đi đến đâu cũng thấy anh em xì xào về cuốn đó. Tao xin một cuốn, được không?

T3 trả lời rằng cuốn kia đã hết. Tôi bèn ra cái điều bảo họ:

– Ở nhà Thủy có, hôm nào lại đây tôi cho mượn.

Thi sĩ gật gù. Nhưng chàng ta có vẽ bực, chắc nghĩ rằng, một đứa con gái như tôi mà lại có sách của T3 mà Tô Tô lại không có để đọc. Song thực ra, tôi nói là nói vậy thôi, cũng chỉ là ra cái điều, chứ tôi không có cuốn đó.

Tô Tô quay sang hỏi bạn:

– Về chứ Tuýt, hôm nào tôi tới thăm cô (quay sang phía tôi) và luôn thể mượn cô cuốn kia. Chúng mình hôm nay rượt một màn kịch vui quá tay!

Tôi nói đùa ngay:

– Tại vì các anh đóng dở quá. Chưa ăn tiền được, còn bị phạt nhiều.

Hai bạn đi ra ngoài. Tự dưng tôi thương hại, ấy là tôi chưa phải dùng đến, cái bùa, cứ mỗi lần nghe bạn kể truyện xong, mệt nhọc lắm, tưởng câu truyện của mình làm mọi người chú ý lắm, thì tôi đáp gỏn lọn hai tiếng “thế à”. Tức thì, kẻ nói chuyện với tôi đâm ra luống cuống và hết hứng kể. Chúng tôi còn nhiều ngôn từ lạ, trò chơi đặc biệt, ngay ở trong nhóm với nhau, chỉ cần đôi ba lần không đi chơi chung, cứ như là hội viên mới gia nhập hội vậy. Anh em nói chuyện, mình cứ ngẩn người ra, chẳng hiểu đầu đuôi ra sao cả.

Bỗng tôi trở về với công việc đang làm. Phòng trà khiêu vũ. Tiếng nhạc. Và tiếng người khách hỏi tôi:

– Sao em ít nói thế?

Tôi cười. Quá ngấy. Với thằng con nít này, lợi dụng ghê ghớm. Trên da thịt tôi. Tôi cau mặt. Nhưng không hiểu sao là chẳng cần phản ứng thêm. Nhảy với nó hai bài, tôi sang bàn khác đang chờ. Một bạn quen từ xưa. Thế là tôi bỏ thằng bé ngồi một mình. Nó lại ngoắc cai gà. Cũng khen cho nít nhiều bạc. Chị N bảo tôi:

– Thủy không biết sao, đó là văn sĩ H. Nổi tiếng lắm. Tôi bèn hỏi lại văn sĩ sao ? Báo nào ? Chị N bảo Điện Ảnh. Tôi à một tiếng.

Khách mời tôi sang bàn trạc ngoài bốn mươi. Dáng người cao và nét sắc sảo của một người có học. Trắng trẻo ở màu da, loại người có tiền. Tư cách ở chỗ ít nói loạng quạng. Không lợi dụng da thịt. Kể ra là khá. Nhảy từng bài chọn lựa. Blue và Slow. Tôi không nhớ rõ chàng lắm, quen ở đâu, bao giờ, thì xin chịu. Hẳn là chàng biết rõ về tôi, với tôi thì có quen sơ sơ. Nhưng tôi quên chàng nhiều hơn. Khi nhảy xong, chàng dìu tôi về chỗ ngồi. Bây giờ, chàng gợi chuyện:

– Tôi là bạn của anh ấy (T6). Cùng trong tù với nhau, thời chính phủ Diệm, các anh đứng dậy hô hào chống chế độ cũ rồi bị bắt. Tôi biết cả luật sư X, thẩm phán L (là T4) và anh bạn văn sĩ R (là T3) và cả Thủy.

– Vâng, thưa anh có lẽ vậy.

– Tôi biết tiếng Thủy từ khi Thủy còn mở cà-phê Huyền ở Đà Lạt. Và gốc tích của Thủy là người miền Nam, nhưng nói giọng Bắc thật tài. Ngay với chính người sinh trưởng ở Hà Nội cũng khó mà phân biệt được. Bây giờ anh ấy (tức T6) ở đâu Thủy?

– Nhà tôi đi Đà Lạt ít hôm anh ạ.

Một cái ngoắc tay, gọi bồi. Gọi chị N cho khách. Qua câu nói chuyện với chị N, khách muốn mời tôi sang Moulin Rouge. Cho khách tính tiền luôn thể. Chị N bảo với khách, là tính sáu, nhưng với khách quen tính năm. Quay sang phía tôi, chàng xin lỗi trong ít phút, để chàng đi tìm người bạn. Tôi gật đầu.

Trước đó, anh bồi đưa lại cho tôi một gói Salem. Thầm nghĩ, anh chàng này hào hoa lắm, tại sao chàng biết tôi hút Salem. Tôi ngồi vào ghế cuối phòng. Gác lửng, ở tận cuối. Chẳng muốn thò mặt ra. Tôi bảo chị N rằng, không tiếp ai nữa, vì hôm đầu đi làm mệt. Nhân dịp này, tôi muốn nhắc lại với chính tôi, một vài truyện gần nhất. Sống với T6. Một dịp may hiêm có và cũng là một tai họa hiếm có. Nhờ chàng bốn mươi vô danh bặt thiệp, tự nhiên chị N thấy sự đi mời tôi làm lại là chị có con mắt tinh đời. Bây giờ tôi đã thấy mình thua sút xưa. Về sức khoẻ. Xưa kia, rong chơi suốt sáng không biết gì là mệt…

Trước hết tôi quen T1 trong nhóm. Sỡ dĩ tôi chỉ kể ra đây có T6 vì chính những người ấy, với tôi là những nhân vật chính. Ngoài ra, còn nhiều t nhỏ, như Tối Văn Sáng, cựu trung úy tình báo, rất giỏi về nghề điều tra tiểu sử đàn bà con gái Sài Gòn. Rồi có lẽ chỉ vì vậy, mà bị sa thải trong nghề chăng? Nhiều khi muốn tỏ ra là tay ăn chơi, hắn biết cả những tiểu sử không biết về mọi người con gái đẹp đi qua quán La Pagode. Thêm một tên t nhỏ nữa là Thùng, cử nhân hai. Một lần T3 bảo Thùng (tức t nhỏ) rằng:

– Thời đại nào thì mày cũng vẫn chỉ là thằng môi giới con gái. Nhưng mày hơn đời là trí thức, vì có kiến thức chứng chỉ hai cử nhân.

Sau khi quen t nhỏ Tối Văn Sáng rồi, tôi quen T4. Vì t Tối tối ngày ở La Pagode với tôi, rồi tán tụng T4 có nhiều tính nết giống tôi. Như T4 thích cảnh ngồi đây uống cà phê vào chiều, màu tím hoàng hôn buông thả thật thơ mộng trên cành lá ở vườn cây, công viên. Ít lâu sau, gặp T2 rồi T5. Và cuối cùng là T3. Anh này rất ít khi đi chơi với anh em và không đứng về phe nào, cũng chẳng góp ý kiến gì, về sự tranh chấp tôi, giữa T4 và T6, vì chàng có dáng của một đàn ông hơn T4. Và tôi phục T6 ở điểm dám chửi chính phủ Diệm thật bạo miệng. Tôi thú vì đó một phần: Còn về tiền T4 chắc chắn có số lương thẩm phán. Nhưng tôi không ưa dáng người tủn mủn và lối nói truyện của chàng, nếu cần phải lựa chọn một người chồng, có đủ yếu tố giữ thăng bằng cho gia đình thì tôi chọn chàng. Xong với tình yêu và hợp gout tôi không thích cái vẻ lễ phép của T4 mà chọn T6. Nhưng nếu không có T6, chắc chắn là tôi lấy T4. Đàn ông độc thân là một điều thua thiệt. Một lần, t Tối tới mời tôi đi chơi rồi nhân đó anh nói chuyện với tôi về T3 nhiếc T6:

– Mày đừng tưởng mày làm cách mạng là hay đâu. Thứ cách mạng của mày không có tao trong đó. Lúc nào cũng bô bô cái miệng. Tao cần dẫn giải câu ngạn ngữ này cho mày dễ hiểu. Con hoãng không cắn chết ai vì nó to miệng. Con rắn nọc độc cắn chết người lại lầm lủi nằm bên vệ đường, rồi phun nọc vào mày, ít phút sau mày thấy hiệu nghiệm ngay.

Tôi hỏi t Tối tại sao lại có vụ lộn xộn kia. t Tối đáp:

– Một buổi tối, tôi gặp T6 và T3 ngồi uống cà-phê. Một trong hai chúng nó ngồi gác chân lên thành ghế.

Cái lối ngồi của T3 làm phiền mọi người và điệu bộ coi đời như cọng rác làm T6 nóng mặt. T6 bảo nó :

– Tao không hiểu sao anh em thằng T2 và T5 chịu khó đọc sách của mày. Và hết lời tán tụng.

T3 trả đũa:

– Tao cũng cần nói thêm cho mày nghe, mày còn là một thứ vô liêm sỉ, anh hùng vỏ của bao Salem. Mày có cần hiểu rằng tao không ưa lối phê phán về tao theo kiểu mày không? Vì mày làm gì có tư cách của mày mà mày phê phán tư cách tao. Khi mày không có một đồng, xin bè bạn được rồi, lại tiêu như con nhà trọc phú, thử hỏi mỗi đêm không có bao Salem tặng em thì mày có còn dọa làm cách mạng nữa không?

Khi tôi nghe t Tối kể đến đây tôi chợt hiểu rằng T6 yêu tôi chân tình và tha thiết. Chính điểm này khiến tôi cảm động, vì anh biết tôi thích hút Salem. Bao giờ anh cũng chờ tôi tới khuya, hồi ấy các vũ trường chỉ được dùng vũ nữ làm chiêu đãi viên thôi.

Không được phép khiêu vũ, theo lệnh của bà Ngô Đình Nhu, với T6 một kẻ không tiền bạc, không nghề nghiệp yêu mình, tôi thấy chân tình hơn hết. Nên tôi quyết định lấy T6 làm chồng. Hai chúng tôi vẫn sống với nhau trên căn gác thuê hiện tại. Anh chạy xoay sở tiền nong, có khi bí quá, bán cả chiếc Solex, đồ dùng, để có tiền chi tiêu trong gia đình. Nhưng từ ngày anh rể làm ăn thất bại, gia tài khánh tận, T6 bị rơi vào vực thẳm. Rồi hai ông bà thân sinh ra T6 tiếp nhau qua đời, T6 buồn và cô đơn hơn ai hết, anh là người theo đạo Thiên chúa, nhưng không bao giờ đi nhà thờ và tham gia phong trào chống chính phủ Diệm, tiếp tay cho Phật giáo. Như vậy tôi sung sướng rồi còn gì nữa! Còn tinh thần, cũng như sự lo lắng về đời sống vật chất cũng tàm tạm đầy đủ. Tôi sống cho tôi và tình yêu vừa hé rạng. Khi tôi mang thai con so, bây giờ là cháu trai tôi, một mình đơn lẻ. Anh ấy bị cầm tù. Tờ nhật báo xuất bản vào khoảng tháng tám năm đảo chính, đăng hình anh và những hoạt động. Sau cách mạng rồi, hẳn đời sống của chúng tôi sẽ khá lên. Có thể một trong băng của anh ấy sẽ là Tổng, Bộ trưởng và khi ấy như tôi đã đóng góp vào danh dự đường mây của anh đã đạt được khi người ta có lý tưởng để theo, thì chấp nhận mọi khổ ải.

Vào những đêm nằm một mình trên ghế xích đu, từ trên cao sân thượng nhìn xuống, tôi hút Bastos xanh, để giải nỗi buồn, thở khói vút lên không trung cao thẳm. Nhưng lòng tôi sung sướng, ít ra cái ngõ này đã nhìn tôi bằng con mắt khác xưa. Khi chồng tôi bị bắt và ít lâu sau báo chí đăng tải hình ảnh, bài vở, thì lúc ấy tôi thương và quý anh, như chưa từng dành cho một người đàn ông nào biết tới được hưởng. Anh bị hành hạ, tôi càng yêu mến anh nhiều vì anh tranh đấu cho chính nghĩa. Tôi hãnh diện có người chồng như vậy. T1 thì trốn chạy. T4 ở ngoài. Một lần t Tối lại báo tin cho tôi biết T6 mời T3 tham gia phong trào nhưng chàng văn sĩ từ chối. Tôi khinh T3 ra mặt, người mà xưa kia tôi cho là khá. Chỉ khi nào nguy hiểm, người ta mới rõ lòng người. Cổ nhân dạy không mấy sai lầm. Nhưng một hôm chàng văn sĩ tới nhà tôi. Qua câu truyện tôi biết anh không tham gia với băng của chồng tôi vì lẽ anh coi thường băng kia và không muốn thí thân vào lý do cách mạng. Anh ta vẫn bị chánh phủ theo dõi.

Tôi có một người bạn phụ trách về an ninh, một hôm anh kia hỏi thăm về T3, và cho biết anh ta đang bị ruồng bắt. Tôi định đi tìm T3, báo tin này cho anh hay, nhưng không biết là anh ở đâu. Tôi cứ thắp thỏm lo cho anh, có thể là anh đã bị tóm rồi. Sau này gặp lại anh, tôi biết anh lánh ở cao nguyên Đà Lạt.

Ngày đảo chính thành công, nhà tôi được trả tự do. T1 và t Tối trốn ở nhà T4. T3 bảo anh em:

– Thằng T4 cũng không đến nỗi gì như tao tưởng, nghĩa là nó không hèn đâu. Vì nó còn dám chứa hai thằng bạn tranh đấu…

Từ chồng tôi ở tù ra, tôi thấy anh có phần thay đổi ít nói bông lông và suy nghĩ chín chắn. Anh thú thật với tôi, ở giai đoạn về sau này, anh cũng chưa có thể làm gì cho gia đình khá được. Chúng tôi vẫn sống chật vật như ngày xưa và T1 cung cấp cho chúng tôi, nhưng chẳng là bao. Cho rằng bạn bè có giúp tiền, chỉ là qua cơn túng ngặt, chứ không thể dùng nó vào viêc lâu dài hàng tháng được. Nhà tôi nói lại với tôi về câu T3 nói với anh, có lý:

– Tao mừng cho chúng mày, Thằng T3 nó nói với anh vậy, là không mục thân trong nhà đá. Sẽ vẫn chẳng có gì thay đổi đâu. Nhưng có lợi về kinh nghiệm cho mỗi bản thân. Khi thấy cần tranh đấu, dấn thân vào. Nhưng đừng mong rằng mọi việc có thể thay đổi dễ dàng và chóng vánh. Muôn năm bất công vẫn còn đấy. Chỉ có một điều là thay đổi, đó là cái bất công sẽ biến dạng nhiều hình thức. Chẳng hạn thằng t nhỏ Cử nhân hai vẫn đóng tuồng tích cũ của nó. Thằng t Tối vẫn lếu láo, nói dóc cả điều mà tự nó đổ cho, và thuộc tiểu sử tất cả cô gái Sài Gòn qua lượn La Pagode. Có nhiều tiểu sử mà nó huyênh hoang là biết ấy chính là biết cả điều không biết. Nhưng với T6 tao khuyên mày một điều. Sức khoẻ. Mày đã chạy được tiền nằm nhà thương chưa? Những trận đòn của chánh phủ có hiệu lực làm cho mày hao mòn trong nhiều tháng dưỡng sức.

Gia đình chúng tôi, từ sáu tháng nay vẫn eo óc. Hai đứa thôi, có thể nhịn được, sự kham khổ có gì là câu nệ. Nhưng con của chúng tôi, thì không thể không có tiền nuôi nó. Nó cần sữa, cần thuốc tây khi ốm và cần quần áo thay đổi hàng ngày. Những thứ đó phải có tiền. Mà chồng tôi vẫn chưa có việc làm xứng đáng với công lao xưa mà anh tham gia chống chánh phủ Diệm. Nên tôi quyết đi làm vũ nữ lại. Tôi biết điều này sẽ làm chồng tôi đau đớn, nếu anh có ý thức làm chồng. Còn gì khổ hơn, mỗi lần anh thấy có người đàn ông khác đưa đón tôi về, tiếng em, tôi buộc phải xưng hô với họ. Dầu là sau mặt chồng tôi. Nhưng con tôi cần tôi có tiền nuôi nấng. Tôi trình bày sự khó khăn muôn mặt đó với một con bạn đồng nghiệp. Từ đó mới có sự móc nối với N. Và chị N đã buộc tôi phải đi làm.

Tôi nhìn đồng hồ tay. Sao lâu vậy, tôi đợi khách đã trả năm tích kê bảo tôi đi nhảy nơi khác. Vẫn chưa thấy chàng trở lại. Tôi chưa gặp loại khách như vậy bao giờ. Hơi là lạ, có phải vậy không? Tôi nhớ lại rồi, chàng ta quen gần hết cả băng T. Chàng thuộc vào loại khách biết điệu và sành giữa lúc này. Chị N đưa một đồng nghiệp của tôi vận com lê đen tới. Và nó khá xinh, nhưng theo tôi, hơi nhà quê. Chị N giới thiệu tôi với nó. Thì ra nó tên là Nguyệt. Tôi nói với Nguyệt:

– Tôi có nghe chị N nói về Nguyệt nhiều.

Chị N tiếp:

– Nguyệt nó vẫn nhắc đến Thủy luôn… Nguyệt kể rằng khách thường hỏi thăm về Thủy luôn.

Nguyệt nói với tôi:

– Hèn nào mà khách sang không hỏi thăm chị. Chị nhận em làm em của chị nghe, chị Hai ?

– Có gì đâu mà Nguyệt khen tôi. Chị em cả mà.

Nguyệt nhìn tôi từ đầu tới chân. Sau khi ngắm nghía chán rồi, Nguyệt kể chuyện về loại khách tới đây. Trong số đó có một văn sĩ, thường đi với khách ngồi bàn với tôi lúc nãy. Nguyệt không biết tên văn sĩ ấy.

Nhưng Nguyệt bảo chàng ta lạ kỳ lắm. Tôi đoán chàng là T3, nhưng T3 vốn ghét không khí trà đình tửu quán, sao anh có mặt ở đây được. Nguyệt tả lại cho tôi nghe vóc dáng chàng văn sĩ ấy. Đúng là T3 và Nguyệt có cảm tình với con người ấy rồi đây, tôi nghĩ vậy.

Khách của tôi đợi đã trở lại. Chàng xin lỗi tôi, vì đi tìm bạn. Chàng ta ở quá xa, chàng lại không có nhà, nên trở lại trễ. Chàng mời tôi sang Moulin Rouge. Và nói nhỏ đủ nghe:

– Tôi muốn dành cho em một ngạc nhiên. Tôi đi tìm văn sĩ R (T3) nhưng chàng không có nhà.

Sau hai tiếng đồng hồ ngồi bàn với chàng, những giờ vui gần chấm dứt. Chàng đưa tôi về nhà. Tôi không từ chối. Vì đợi tắc-xi còn lâu và lại không an toàn. Ít ra là như thế. Khi gần tới ngõ nhà tôi, chàng hỏi:

– Ngõ vào nhà em có sâu lắm không?

Tôi tinh ý hiểu ngay là chàng muốn biết nhà riêng của tôi. Tôi gật đầu và chàng dìu tôi đi. Trước khi giã từ, chàng đưa tôi một gói giấy, tôi đoán chắc là thuốc lá Salem. Rồi chàng nói câu giã từ:

– Tôi rất phục em. Vì hạnh phúc mà em hy sinh rất nhiều. Như xưa, em thường hút Salem, mà bây giờ đổi sang Bastos xanh. Người cho tôi biết điều này, chính là văn sĩ R.

Mà lúc nãy, để em ngồi chờ lâu, cũng chỉ vì tôi đi tìm R.

…….

Tôi cảm ơn chàng. Và đi lên gác. Chồng tôi nằm ở đó. Anh không nói với tôi một câu nào. Tôi không dò hỏi vì tôi biết lý do rồi. Người khách đưa tôi chắc ra tới ngoài lộ. Chồng tôi nhìn sang phía tôi. Và nhìn thấy trên tay tôi gói thuốc Salem. Anh hướng về bao thuốc đó. Từ lâu không có. Tôi đi lại võng nựng đứa con, dù nó đang ngủ. Chồng tôi trở dậy, tay cầm bao thuốc định xé, vò lại. Tôi xua tay và bảo:

– Để con ngủ. Anh hãy cho Thủy nói câu này. Thủy không muốn anh hút một điếu của bao thuốc đó. Vì gout của anh là Lucky Thủy đã mua cho anh đây này.

Tôi mở ví lấy bao Lucky. Chồng tôi im lặng cầm, không lời cám ơn tế nhị. Anh bóc ra ngay, châm một điếu lên giường nằm lại. Tôi vào nhà trong thay quần áo ngủ. Chúng tôi nhìn nhau như không cùng một hướng. Tôi vào giường nằm. Chồng tôi nằm trong, tôi nằm ngoài. Hai đứa xây lưng lại nhau. Tôi đang nghĩ đến màu xanh lá cây của bao Salem trên bàn ngủ, dưới ánh đèn ngủ lờ mờ. Cũng màu xanh, cũng vẫn là Salem. Nhưng bao Salem hôm nay không phải là bao Salem của đêm nào, chồng tôi đưa lại. Có thể bao Salem này tiễn đưa hạnh phúc chúng tôi?

Tôi ngủ thiếp đi và tin rằng chồng tôi không hiểu vậy.

……

THẾ PHONG
1964

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Thanh Tâm Tuyền

Post by Sơn râu 12 May 2024

26. Dọc Đường

Ba người đàn ông ngồi quây xung quanh cái bàn gỗ tròn trong quán và cùng hướng về phía quốc lộ chạy mất hút vào trong rừng cao su ở hai bên. Quán bằng lá nằm cuối dãy phố mươi lăm chiếc nhà, sát cạnh con đường đất xe hơi có thể vào, ngăn phố với rừng cao su. Đầu trên dãy phố là đồn dân vệ rào ba lần thép gai trên treo lủng lẳng những ống lon rỉ. Người đàn ông ngồi ngoài cùng kế cây cột chống, mặc áo lá và quần xà lỏn, một chân co lên mặt ghế, tay bưng ly cà phê uống từ hớp nhỏ. Người đàn ông liền bên vận quần áo kaki sờn rách, đầu đội nón bẻ vành, chân đi giày không vớ, cầm chiếc muỗng nhỏ xíu gõ nhịp lên bàn. Người ngồi tách riêng một phía già hơn hết, tóc tiêu muối, vận quần lãnh đen bám bụi đỏ, áo túi trắng ngả màu, trước một ly cà phê sữa.

“Có lẽ tụi nó về hết rồi”. Ông già nói.

“Còn mà. Ít nhất còn cái 601 chưa về”.

“Vậy ai chơi nổi với mày nữa. Mày thuộc hết số xe còn gì? Thằng này điếm quá”.

“Ờ… tôi nhớ nhưng biết cái nào tới trước cái nào tới sau?”

Người vận quần áo kaki đỏ mặt cãi với ông già. Người vận áo lá quần xà lỏn nói:

“Ăn chung gì. Giờ mình chơi hết các thứ xe đi”.

“Đâu có được mày. Mắt tao nhìn không rõ. Xe ben chạy cà rề cà rề tao còn ngó thấy. Chớ bọn xe đò, xe nhà chạy giờ này nó chạy trối chết làm sao tao trông kịp”.

“Ai ăn lận tía mà tía sợ”.

Ông già lắc đầu:

“Tao không chơi nữa”.

Bà chủ quán mập bự, ngồi phía trong, nửa dòm vô trong nhà, nửa dòm ra trước, hỏi giọng khan như bị cúm:

“Nãy giờ cha nào ăn?”

“Huề. Không ai ăn thua hết”. Người đàn ông đội nón phân trần. Ông già xỏ dép, đứng lên thọc hai tay vô túi áo, móc tiền:

“Nè, trả tiền ly cà phê. Tao về cho sớm. Tối nay thế nào cũng có hành quân”.

Ông đặt mấy đồng bạc cắc lên bàn, bỏ ra theo phía hông quán, bước ngay xuống con đường đất đi sang phía rừng cao su, vòng vào một gốc cây ngoài bìa đứng tiểu. Tiếng nước chảy mạnh soi vào thân cây, người đội nón nghiêng đầu ngó là to:

“Ông già gân dữ quá ta”.

Người ngồi ngoài cũng chợt vểnh tai nghe ngóng. Tiếng ầm ì ở tít xa.

“Còn tao với mày hả?”

“Đâu có ngán”.

“Bài cào hay sóc đĩa?”

“Thứ nào cũng được. Cho mày lựa”.

Người vận áo lá vừa nhíu mày suy nghĩ vừa lắng nghe tiếng động. Khuôn mặt dài ốm nhăn nhó. Người đội nón dở chiếc nón xuống nghĩ dò xét kín đáo hơn, cặp mắt mơ màng nhìn vào những lối cao su thẳng tối. Ông già từ sau gốc cây bước ra đường cũng ngửa cổ nghe.

“Đậu cái này rồi về tía”. Người đội nón gạ gẫm.

“Tụi bay tuột dù hết rồi. Máy trực thăng đó”.

Hai người đàn ông còn ngồi trong quán ngó nhau. Người đàn bà cũng nói:

“Trực thăng thiệt”.

Vài phút sau, tiếng động cơ nổi rõ, tới gần. Chiếc trực thăng, bay sà thấp ngang qua quán, sang phía rừng cao su bên kia lộ, quần vài vòng lớn rồi trở lại hướng cũ. Ông già nhìn theo, cười khoái trá biểu: “Tao biểu mà”. Rồi ông bước đi. Con đường đất chạy men bìa rừng cao su dẫn tới một xóm lá lơ thơ. Buổi chiều vàng rực ở phía sau đồn dân vệ, nhưng phía rừng cao su xanh thẫm. Xuyên qua những gốc cây thẳng tắp đến cả hai cây số là một chút chói sáng của quãng lộ quẹo như rớt xuống ngang tầm đất. Hai người dân vệ từ trong lối xóm trở ra, chân mang giày bó túm ống quần bám sình và bụi đất; một người đeo súng hai tay bưng trên miệng nút vào chiếc lá tre non kêu chít chít từng hồi như tiếng chim, một người quàng hai tay trên hai đầu súng đặt ngang cần cổ ngó phía trước, cả hai đều mặc đồ đen đội những chiếc nón vải đen có lưỡi. Họ rẽ vào quán, dựng súng vô vách, ngồi vào chiếc bàn gỗ còn dư trống. Một người kêu người đàn ông vận áo lá:

“Còn nước đá không?”

Người sau này vẫn ngồi nguyên thế co chân, chỉ xoay nửa thân trên hỏi lại người đàn bà:

“Còn nước đá không mày?”

“Để coi. Chắc còn…”

Người đàn bà vác tấm thân nặng, lê bước vô sau bếp, lục cục tìm kiếm và hỏi ra ngoài:

“Mấy chú uống gì?”

“La de”.

Người dân vệ vẫn bưng tay lên miệng hút kêu những tiếng chít chít, trong khi người bạn ngó lên tấm vách trong có cái giá bầy các chai nước hơi màu xanh, màu đỏ, màu vàng, màu trắng, màu nâu, xếp dài theo tấm vách ván ám khói đen. Chỉ còn hai chai la de trên giá. Người đàn ông vận áo lá, chủ quán, nhăn mặt ngó chỗ khác vì tiếng nút kêu của người dân vệ. Người đàn ông đội nón liệng chiếc muỗng xuống bàn kêu lên:

“Cha. Lâu thấy mẹ”.

Người đàn bà mang hai cái ly đá chặt cục bự nhô khỏi miệng ly đặt trước mặt hai dân vệ, rồi lại ì ạch quay trở vô giá lấy nước. Mụ dùng răng cắn mở nút chai xong rồi cất tiếng hít hà, đưa cánh tay áo quẹt ngang mồm. Ly của người dân vệ tràn bọt sủi tròn xuống bàn. Anh ta buông tay, chiếc lá tre xanh nõn ép dính dọc theo ngón tay bên phải. Anh thủng thẳng lột chiếc lá liệng vào vũng nước trên bàn. Người bạn hỏi:

“Uống lẹ đi mày. Bọn chúng đi qua thấy về lại cằn nhằn”.

Người đàn ông đội nón bỏ ghế ra ngoài hè đứng ngó mông hai đầu đường vắng ngắt như tờ. Đằng chân trời trước mặt, tiếng phi cơ ầm ỳ rồi tắt lặng không thấy dáng. Cách quán hai ba nhà là tiệm sửa xe máy. Một người thợ liu hịu làm việc với chiếc xe máy lật chổng bánh lên trời. Người đội nón quay vô biểu:

“Tối nay về Biên Hòa ngủ. Còn cái sáu lẻ một mà”.

“Ờ, để coi”.

Hai người dân vệ uống cạn ly đứng lên sửa lại quần áo, đội mũ đeo súng, trả tiền sửa soạn bước ra khỏi quán. Người đàn bà vừa nhét tiền vô túi vừa nói với chồng:

“Có đi Biên Hòa coi chừng giùm tôi đó”.

Hai người dân vệ đi ra khỏi quán, tiến về phía đồn, dáng đi nghiêm chỉnh hơn. Người nút lá tre đi trước cách bạn chừng hai ba thước, cả hai đều quay dòm vô các mặt phố. Có tiếng gọi trong rào kẽm gai ở đồng và họ cất bước chạy lúp xúp. Trong quán người đàn bà nói, trong khi người chồng mở hộc tủ của cái bàn trên bày mấy ve bánh kẹo, chai tôm khô củ kiệu chỉ còn thấy nước đục vàng, kê bên dưới giá xếp nước, lấy tiền. Trên đầu người đàn ông treo tòn ten vào móc sắt hai nải chuối già và chuối sứ:

“Mấy cha chỉ bày chuyện đi chơi không à?”

Người đàn ông đi tới chiếc ghế bố đặt bên vách, nơi người vợ ngồi để vừa ngó phía sau phía trước, lượm áo sơ mi khoác lên thân, nói:

“Mầy không thấy trực thăng quần nãy giờ sao. Bộ mày muốn tao chết…”

“Còn tôi dễ không chết hả. Cứ đi hoài tiền đâu chịu cho thấu”.

“Tao là đàn ông mày nghe chưa? Ở nhà để lỡ như lần trước chúng vô bắt kéo thây về rừng cho chúng. Một mình tao phải kéo bốn cái thây mày nhớ không, cả đêm cả ngày tới chừng về phát đau còn bị người ta kêu lên kêu xuống hỏi hoài… Đ.m. thứ đồ đàn bà ngu!”

Người vợ kéo quần tới bắp vế gãi, mặt mụ đờ đẫn không còn phản ứng. Người đội nón trở vô quán nói tiếp:

“Máy bay quần là có chuyện mà…”

Người đàn ông chủ quán tỏ vẻ khinh bỉ vợ, bỏ vô sau rửa mặt, rửa chân, rồi thủng thẳng trở ra xỏ quần. Hai người đàn ông ra đứng trước quán. Trong rừng cao su nghe tiếng còi xe nhấn inh ỏi, hai ba chiếc xe đò đua nhau chạy tới. Dẫn đầu là một chiếc “bờ dô” mũi khoằm theo sau là hai xe cá. Chiếc “bờ dô” thắng ngay trước quán, hai chiếc xe cá vượt đi luôn. Người đàn ông chủ quán quay vô biểu vợ:

“Tao đi nghe mày”.

Người vợ nặng nề bước ra, dặn dò:

“Mai sáng về ghé chợ mua đồ về nghe”.

Người đàn ông mới dớm đặt chân lên thang phía sau xe, đợi bạn chui vô khoang nói:

“Đ.m. Nhớ mà”.

Người lơ chạy vô quán nói: “Xin miếng nước chị Hai”. Không đợi trả lời, thót vô sau nhà. Người tài xế nhấn còi thúc hối, ló đầu ra ngoài:

“Tính ngủ trong đó sao mày?”

Người lơ xe chạy ra mặt còn nhẫy nước, nhảy bám vào đuôi xe la lên:

“Rồi, chạy đi”.

° ° °

Chiếc xe từ từ ngừng trước đồn dân vệ. Người lính gác trong chòi canh bắc loa tay kêu đuổi: “Tới trong kia đậu”. Chiếc xe chuyển bánh đi qua hết đoạn đường rào kẽm gai đậu trước quán hớt tóc. Người lơ nhảy xuống đất kêu vô trong:

“Xuống lẹ lên cha nội”.

Một người đàn ông tay ôm bọc giấy dầu, lom khom bước xuống. Tới đất, người đàn ông muốn trở lên, nói:

“Không phải đây…”

Người lơ đã bước lên bực gỗ đưa tay cản ngang:

“Vậy tía quên hay tía lầm đường rồi. Tía ráng đợi đây đón xe mà về. Chớ tôi cứ ngừng hoài đợi tía kiếm nhà tới đêm tụi tôi mới về tới nhà. Cô bác kêu quá trời”.

“Cho tôi đi khúc nữa”.

“Tía hết tiền rồi. Rồi, chạy đi”.

Chiếc xe rồ ga chạy vọt thẳng vào phía rừng cao su sẫm lạnh. Người đàn ông đứng lại bên đường ngơ ngác. Hắn vận đồ bà ba đen, chân đi săng đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao. Hắn ngửa mặt nhìn lên trời trông chiếc trực thăng từ phía rừng cao su bay tới. Tiếng nổ ù tai, cánh quạt bay cuốn bụi đất mù một khoảng; cỏ cây ngả rạp. Người lớn, con nít túa ra khỏi nhà ngắm coi, bọn con nít chạy băng ngang lộ tới đứng bên bãi cỏ, tiếng người kêu gọi bị gió và tiếng động cơ quạt bay tung mất hút. Chiếc trực thăng đáp xuống nhưng không tắt máy, nó đậu vài phút rồi lại từ từ cất lên và bay về hướng đồn dân vệ tránh xa quốc lộ. Trẻ con và người lớn còn đứng lại ngắm và bàn tán. Một vài người nhìn thấy người đàn ông vận bà ba đen ôm bọc giấy dầu đứng trước quán hớt tóc. Quán hớt tóc là một bức vách gỗ thùng sữa và hai cây cột ngoài, ba mặt bỏ trống. Trong quán không có người, thợ đã nghỉ, nhưng vẫn còn một chiếc ghế ngồi trước một tấm gương đóng chặt lên vách dưới tấm gương là một cái hộc gỗ buộc treo bằng dây kẽm, không có một vật dụng nào để trên. Người đàn ông ngó thấy mặt mình trong gương, con lộ, bãi cỏ, mộ đất cao xa mờ; hắn ngoảnh mặt bước tới quay lưng lại đồn dân vệ hướng về phía rừng cao su. Kế bên quán hớt tóc là một tiệm chạp phô của người Tàu tới một căn nhà ở đóng cửa, trên các cửa đóng dán những bích chương và khẩu hiệu tuyên truyền tới một tiệm trữ Âu dược, một tấm bảng gỗ treo ngang đong đưa với dấu thập đỏ. Qua khỏi tiệm trữ Âu dược là một nền nhà đổ rồi một khoảng đất vuông cao hơn mặt đồng trồng rau muống, làm chỗ họp chợ. Trên nền đất có vết cháy đen loang, cỏ vàng úa không mọc được. Sát chợ là nhà việc, mái thủng, tường lỗ chỗ vết đạn, các cửa sổ bể gãy, tấm bảng treo rớt chỉ còn một đầu dính trên tường, nhìn vào trong gạch ngói bừa bãi chưa thu dọn. Nhà kế bên nhà việc cũng bị sập mái trước. Khỏi gian nhà gỗ, dãy phố nguyên vẹn. Người đàn ông đi qua một tiệm một người con gái Tàu ngồi đọc báo sau quầy hàng; một tiệm bán sách vở và tạp hóa; một lớp học với mươi bộ bàn ghế và tấm bảng đen; tiệm sửa xe máy với người thợ đang lui hui sửa ngoài hè. Người đàn ông ôm gói đứng lại nhìn người thợ làm việc. Anh này chợt ngửng lên toe miệng cười với người đàn ông nhưng nụ cười tắt ngay tức thời. Anh thợ ngừng hẳn tay ngắm nghía người lạ. Người đàn ông cố gắng cười, gượng gạo hỏi:

“Giờ này xe còn trở xuống không anh Hai?”

“Có lẽ hết”.

Nói xong, người thợ tiếp tục làm việc, bỏ mặc người lạ đứng ngẩn ngơ nhìn xuống. Một hồi im lặng người đàn ông nói:

“Cám ơn anh Hai”.

Người thợ không đáp, cũng không ngó lên. Và người đàn ông lại bước đi. Kế tiệm sửa xe là tiệm chạp phô của người di cư. Người đàn bà quần áo nâu răng đen, vấn khăn, mắt hấp háy đứng bên mấy bó củi và tĩn nước mắm ngó người lạ mặt chằm chằm. Người đàn ông ngó mông sang rừng cao su bên kia lộ. Hắn đi qua hai căn nhà nữa. Trước mặt căn nhà đóng cửa, đặt một cái lu nhỏ đậy nắp gỗ và một cái ca nhôm trên tường. Người đàn ông tiến lại bên cái lu, đặt gói giấy xuống hè, mở nắp lấy cái ca múc nước trong lu uống ừng ực. Uống xong hắn lại múc thêm một ca đầy đứng xích ra gần lộ để vào tay rửa mặt và cổ. Nước trà màu nâu đen. Lấy khăn trong túi áo lau khô mặt, hắn đậy nắp lu, mang ca trở lại chỗ cũ, ôm gói đồ đi tới chỗ tận cùng dãy phố là con đường đất đỏ vắng hoe ngăn cái quán và rừng cao su. Hắn đứng ở đầu đường đất ngó mông vào xóm, nhìn con lộ chảy ẩn giữa hai hàng cao su tối. Hắn bước vào quán ngồi bàn phía ngoài, đặt gói đồ lên một cái ghế. Người đàn bà mập từ sau bếp bước ra nói:

“Hết trơn nước đá rồi. Cà phê cũng hết…”

“Thím cho ngồi nghỉ đỡ đón xe”.

Người đàn bà ngó khách từ đầu tới chân. Trong rừng cao su tiếng ve bỗng kêu từ xa lan tới gần. Người đàn ông ngó quanh khắp quán hỏi:

“Thím có bán cơm không?”

“Không, không có cơm”.

Người đàn bà bỏ vô sau nhà. Người đàn ông ngồi thẳng lưng, mó máy lật cái dây thun buộc gói giấy dầu. Hắn móc trong một túi áo lấy ra một xấp giấy gói kỹ kiểm lại và đếm những tờ giấy bạc. Mấy tờ giấy năm đồng, mười đồng. Người đàn bà trở ra hỏi:

“Không có xe hả?”

“Không có. Sợ hết”.

Người đàn bà bỗng lắng nghe bảo:

“Có xe be tới đó”.

Người đàn ông vội ôm gói đồ chạy ra lề đường. Hai chiếc xe be kềnh càng rần rần từ trong rừng cao su, xe chạy chậm. Người đàn ông đưa tay lên cao vẫy kêu: “Cho quá giang…” Hai người tài xế đưa tay vẫy chào và xe vẫn chạy.

Người đàn ông thất vọng lầm lũi trở vô quán. Từ một trại binh xa lắc vọng lại tiếng kèn chào cờ buổi chiều. Ve kêu rộn hơn. Người đàn bà hỏi:

“Chú ở đâu tới?”

“Tôi kiếm thằng em của tôi làm đồn điền cao su. Có lẽ tôi đi lộn xe, mấy năm trước tôi có lên một lần nhưng không nhớ rõ. Tôi nhớ khu nó ở gần lộ”.

“Ôi, đồn điền cao su biết mấy mà kiếm? Đồn điền tên gì ở đâu mới được chớ?”

“Tôi không nhớ, tới đúng nơi thì tôi biết”.

“Chú nói chuyện trời đất không à”.

Người đàn ông đặt gói đồ lên bàn, hai tay ngồi ôm lấy nó. Người đàn bà đột ngột xẵng giọng hỏi:

“Giờ chú tính sao?”

“Tôi không biết tính sao hết. Tôi đón xe”.

Người đàn bà cao giọng hơn:

“Chú nói cà rỡn hoài. Giờ này kiếm xe… Chú tính mà mất toi. Bộ khi không chú ngồi đó không cho tôi đóng cửa tiêm đi ăn cơm hả. Chú tính chuyện gì? Tôi kêu lính trên đồn tới đây bây giờ…”

Người đàn ông sửng sốt, giật hai tay ôm gói đồ vào bụng ngó trân người đàn bà:

“Tôi nói thiệt mà thím. Tôi đón xe mà”.

“Mà tôi biểu chú không còn xe nữa. Chú tính cách sao?”

Người đàn ông ngó ra lộ, ra ngoài rừng, nói một mình:

“Ờ. Không còn xe”.

Tiếng ve kêu chỉ còn lẻ tẻ, rời rạc xa xa. Trời bắt đầu tím trên nền bóng núi xa. Người đàn bà tìm quẹt đốt cây đèn dầu hôi mắt vẫn dòm chừng khách lạ. Một chiếc xe díp vụt ngang ngoài lộ như một cơn gió. Người đàn ông dợm đứng dậy như tính rượt theo kêu, lại ngồi xuống ghế. Đèn thắp lên. Cửa bên hông mở ra phía con đường đất bên bìa rừng đã đóng. Người đàn bà đặt cây đèn lên bàn trong, tiến đến người đàn ông hỏi:

“Giờ chú tính sao?”

Người đàn ông ngập ngừng:

“Thím cho tôi ngủ đậu. Thím làm phước. Mai tôi đón xe về sớm”.

Người đàn bà kêu lên:

“Đâu có được chú. Nhà tôi đâu phải nhà cho mướn. Biết chú là người thế nào mà cho chú ngủ đậu. Lỡ đêm chú cắt cổ tôi sao? Chồng tôi đi khỏi, tôi không chứa đàn ông…”

“Thiệt tình mà thím, tôi đi kiếm thằng em tôi. Thím làm ơn làm phước… Chớ giờ này tôi biết tính sao?”

Người đàn bà suy nghĩ vài giây:

“Bộ chú lỡ đường thiệt à…”

“Thiệt mà thím. Chớ khi không tôi tới đây làm gì”.

Người đàn bà lại cao giọng:

“Không được! Chú ở đâu tới, tôi không biết. Chú xin ngủ dậu, không được. Lỡ đêm có chuyện gì người ta xét nhà, tôi nói sao. Không được. Tôi thương chú, ai thương tôi. Thôi chú đi đi, cho tôi ăn cơm. Tôi đói bụng rồi”.

“Tôi đi đâu?”

“Đi đâu thây kệ chú chớ. Mắc mớ gì đến tôi”.

Người đàn ông chậm chạp đứng lên nhưng chưa bước đi. Người đàn bà tự động lùi lại một bước thủ thế. Người đàn ông nài nỉ:

“Tôi đi đâu? Thím nghĩ coi…”

“Tôi không biết. Mấy người rắc rối lắm… Tôi không kêu lính trên đồn là may phước lắm”.

Người đàn ông ngập ngừng bước ra khỏi quán. Dãy phố và con lộ im lặng như tờ, chỉ nghe tiếng ve rộn rã và tiếng côn trùng khởi trỗi lẻ tẻ ở bãi cỏ. Người đàn bà khép cửa quán lại nhưng vẫn còn ló đầu dòm theo người lạ. Người đàn ông đi trở ngược dãy phố. Trong tiệm chạp phô, gia đình đang ăn cơm trên bộ ngựa ở ngoài. Người đàn bà vấn khăn đang bới cơm không ngó thấy bên ngoài.

Người lạ mặt đứng lại trước tiệm sửa xe. Người thợ đã tắm rửa, thay đồ, ngồi trên ghế ngay trong cửa ôm cây đàn ghi ta đang khẩy. Người đàn ông đứng lại, rồi tiến tới bên cửa:

“Chào anh”.

Người thợ ngừng tay khẩy, ngó lên hỏi:

“Gì anh?”

Người đàn ông đứng trân một hồi mới nói:

“Anh Hai làm ơn chỉ dùm tôi có chỗ nào ngủ đậu một tối, tôi lỡ đường hết xe về”.

Người thợ cười riễu, gác cẳng lên thềm cửa:

“Chỗ ngủ đâu. Anh tới quán kia hỏi coi…”

“Tôi hỏi rồi. Họ không chịu”.

“Vậy tôi cũng chịu”.

Người thợ lại tiếp tục khẩy đàn và cười một mình. Người đàn ông vẫn đứng yên tại chỗ:

“Anh Hai cho tôi ngủ đậu. Dưới đất cũng được. Mai tôi đón xe về sớm”.

“Cha này giỡn hoài ta. Tôi đâu quen biết anh”.

“Anh cho tôi ngủ đậu một tối thôi”.

“Bộ anh cho tôi khùng hả. Cha này kỳ quá…”

Người đàn ông quay mặt về phía rừng cao su trong ấy bóng tối đã dày. Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Người đàn ông đi tới bên lề đường. Một vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa. Hắn đi vài bước về hướng nhà việc rồi bỗng quay bước. Trong tiệm xe máy tiếng đàn dạo đến khúc mùi mẫn. Hắn đến trước căn nhà có đặt lu nước ở ngoài và đứng lại. Nhà cửa đóng kín không thấy ánh sáng. Hắn gõ nhẹ lên cánh cửa rồi nghe ngóng. Có cả mấy phút không tiếng trả lời. Trong nhà tiếng niệm Phật rất nhỏ. Hắn đứng đợi nghe tiếng mõ đều đều thỉnh thoảng đệm tiếng chuông. Trời cứ tối dần. Một hồi hắn lại gõ cửa và sau tiếng ho là tiếng hỏi nhỏ:

“Ai đó?”

Người đàn ông không đáp. Hắn lại gõ cửa. Trong nhà lại nghe tiếng hỏi: “Ai đó?” Tiếng động trên cửa và một lỗ hổng tròn được kéo ngang tầm ngực người đàn ông.

“Ai ở ngoài đó?”

Người đàn ông cúi nghiêng xuống ngang mặt với lỗ hổng:

“Tôi lỡ độ đường”.

“Chú kiếm ai?”

“Dạ không, thưa bác con kiếm chỗ ngủ tối nay. Bác cho con ngủ nhờ”.

Bên trong im lặng khá lâu, tiếng thì thào rồi nghe giọng già cả run rẩy:

“Thôi chú ơi, tôi tu hành chú đừng phá tôi”.

“Thưa bác, thiệt tình con lỡ đường. Con đi kiếm thằng em mần trong đồn điền cao su lại lên lộn xe. Giờ không có xe về. Bác cho con ngủ đậu một tối. Mai con đón xe về sớm”.

“Thôi mà chú, chú kiếm nơi khác. Tôi tu hành mà”.

“Không đâu họ chịu cả. Bác làm phước thương con”.

“Tôi biết chú nói thật. Nhưng chú thương chúng tôi. Chúng tôi không làm gì hại ai cả. Chú cảm phiền. Trong nhà chỉ có mấy bà cháu không có đàn ông. Lỡ ra tội nghiệp, chú ơi…”

“Thưa bác con thật tình. Con không gạt. Con đi kiếm người em”.

Bỗng trong nhà có giọng thiếu nữ ngắt ngang:

“Bà tôi nói thiệt mà. Khi không tới đòi ngủ đậu. Ai mà tin được. Tụi tôi la bây giờ là lính trên đồn nghe thấy xuống tới”.

“Tôi thiệt tình mà cô Hai”.

“Thiệt hay không thiệt cũng không ai chứa người lạ trong nhà”.

Một tiếng nổ ầm rung chuyển đất. Lỗ hổng đóng sập lại và tiếng chân chạy trong các nhà. Mọi cửa đều đóng vội. Những tiếng nổ tiếp theo còn cách xa. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường. Trên trời phía rừng cao su trái hỏa pháo bắn vọt lên lơ lửng vài phút rồi tắt. Tiếp theo một trái hỏa pháo khác. Người đàn ông đứng ôm bọc giấy dầu bên lu nước.

THANH TÂM TUYỀN

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

 Thanh Nam

Post by Sơn râu 12 May 2024

25. Vai Phụ

Bây giờ, mỗi lần đi coi hát, nhìn thấy những diễn viên thủ những vai phụ, tôi lại chợt nhớ đến Liêm. Tôi nhìn lên những diễn viên đó (những diễn viên mà suốt một vở tuồng chỉ xuất hiện vào khoảng độ mười phút trở lại) lòng se sắt một nỗi buồn. Hình ảnh của họ là hình ảnh của Liêm mười năm về trước. Cũng những vai trò tầm thường ấy, cũng những câu nói ngắn ngủi ấy, có khi là một vai lính hầu suốt buổi hát chỉ chờ để “dạ” một tiếng thật lớn, có khi là một vai tướng cướp, một tên côn đồ hung dữ mà vở tuồng chưa qua khỏi màn đầu đã bị giết chết. Tôi nhìn họ, nghĩ đến những chiếc tầu nằm ở những ga hẻo lánh, suốt đời chỉ giữ có mỗi một nhiệm vụ là đẩy giúp những con tầu chính lên khỏi một đoạn đèo dốc. Ngày xưa, đã có lần tôi ví Liêm là chiếc đầu tầu xe lửa đó.

Liêm với tôi quen nhau hết sức tình cờ. Ngày ấy tôi đi theo một đoàn hát cải lương lưu diễn quanh năm tại các tỉnh miền Bắc. Tôi giữ vai trò cũng không lấy gì làm quan trọng lắm trong đoàn hát này. Suốt ngày, tôi chỉ có một nhiệm vụ là cùng với một anh soạn giả chính trong đoàn, sáng tác những vở mới. Công việc thật nhàn hạ. Cốt tuồng thì đã có anh soạn giả nhà nghề nghĩ ra, cả đến lớp lang và những bản ca trong vở, tôi càng không phải nghĩ đến. Tôi chỉ có việc viết đối thoại hoặc sửa lại những bản ca cho nó có vẻ… văn chương một chút. Những lúc rảnh rang, tôi thường la cà đi thăm những diễn viên trong đoàn. Phần nhiều tất cả đều ở ngay rạp hát. Bên dưới các bục gỗ dùng làm sân khấu của rạp là những gia đình tài tử hạng trung. Còn những người phụ diễn, những tài tử chỉ cần có mặt mười phút trong một đêm thì ở ngay trên sân khấu. Khi khán giả đã về hết rồi và những chiếc đề-co đã được dỡ đi thì họ kê lên đó những chiếc ghế bố.

Cứ như vậy mà ngủ, không mùng, không chăn. Vào những tháng lạnh, họ ngủ chung với nhau, ba bốn người đắp chung một chiếc chăn. Cuộc sống của họ không hơn gì những người phu sân khấu, những công nhân khuân dọn đề-co. Còn đào kép chính lẽ dĩ nhiên là đời sống sáng sủa hơn. Họ được ở trong những phòng riêng, ăn uống cũng riêng biệt. Liêm thuộc vào hạng tài tử phụ, bởi vì anh chuyên môn đóng những vai lính hầu, người ở và đôi khi trong một vài vở tuồng huyền bí anh được thủ những vai quái vật. Cả bộ mặt đẹp trai của anh bị vẽ xanh đỏ lòe loẹt và phần nhiều bị che giấu sau những chiếc đầu ác thú gớm ghê. Sở dĩ tôi chú ý tới Liêm giữa số hàng chục diễn viên phụ của ban hát là vì anh không giống như những người kép hát khác.

Cuộc sống của anh không hùa theo đa số. Có nhiều người sau khi vãng hát là kéo nhau đi ăn uống hoặc xà vào một tiệm hút nào đó nằm cho tới sáng, buông trôi cái đời mà họ cho là nghệ sĩ, song Liêm thì thật là khác hẳn. Tôi đã để ý nhiều lần và thấy ở Liêm có nhiều nét đặc biệt, nổi bật lên giữa đám người sống trà trộn đó. Ngay cả từ dáng dấp đến cách nói năng, mỗi thứ ở người Liêm đều biểu lộ ra sức sống phong phú mãnh liệt. Khi được nói chuyện với Liêm rồi, tôi lại càng thấy sự nhận xét của tôi là đúng và không khỏi ngạc nhiên về sự có mặt của anh ở trong đoàn hát này. Nhất là sự có mặt ấy lại chẳng có vinh dự gì. Tôi nghĩ, một người như anh với trình độ học thức tương đối khá, anh có thể dễ dàng kiếm được một chân thư ký ở ngoài, vừa có tiền vừa đỡ cực nhọc, mà tại sao anh lại lao đầu vào đi theo đoàn hát để tự đày đọa, rẻ rúng cái thân mình như vậy? Cũng vì sự thắc mắc đó mà chúng tôi chóng trở nên thân thiết với nhau, Liêm cho tôi biết qua về gia cảnh của anh.

Cha mẹ buôn bán, những người anh của Liêm đều có một địa vị xứng đáng trong xã hội. Nghĩa là gia đình anh thuộc vào hạng trung lưu nếu không muốn gọi là giàu có. Tôi biết là khi nói về gia đình mình Liêm đã hết sức thành thật. Tôi hỏi tại sao anh không trở về với gia đình hoặc là theo đuổi việc học, hoặc là tìm một việc làm gì hợp với khả năng hơn thì anh chỉ im lặng rồi nói lảng sang chuyện khác. Từ khi biết Liêm, tôi bao trùm lấy con người anh. Có lúc, tôi đoán là Liêm đã thi trượt mảnh bằng Tú Tài nên phẫn chí mà tự làm hư hỏng cuộc đời hoặc giả anh là một người có tâm hồn phiêu đãng thích cuộc sống giang hồ nay đây mai đó. Cũng có khi tôi lại khoác cho anh một bộ mặt si tình. Tôi nghĩ đến câu chuyện một anh học sinh vì mê một cô đào hát mà bỏ gia đình để đi theo đoàn hát làm một chân khuân vác đề-co và thấy rằng rất có thể Liêm đang đóng vai trò của anh học sinh kia.

Song, bằng ấy giả thuyết đưa ra, tôi vẫn chưa thấy hài lòng. Cuộc sống của Liêm ví như những con sóng ngầm ở dưới đáy đại dương, sự luân lưu của nó không bao giờ hiện lên mặt. Liêm vẫn có vẻ mãi mãi là một con người bí mật đối với tôi, nếu câu chuyện mà tôi sắp kể lại dưới đây không xảy ra.

Cuối năm đó, đoàn hát của chúng tôi về diễn ở một tỉnh duyên hải miền Bắc. Bà chủ gánh có yêu cầu chúng tôi viết cấp tốc một vở tuồng mới để kịp diễn trong buổi đầu năm. Đây là một dịp để cho đoàn hát thâu tiền mạnh nhất trong năm, nếu có được một vở tuồng mới ăn khách.

Anh soạn giả chính của đoàn đã bàn luận với tôi suốt cả một đêm về cốt truyện để viết. Tuồng La Mã, Nghìn Lẻ Một Đêm, loại ca vũ nhạc diễm huyền, loại phiêu lưu, loại xã hội, v.v… được nêu lên để thảo luận. Sau cùng, chúng tôi đồng ý đưa ra một vở tuồng “xã hội, tâm lý, ái tình” thuộc các loại “Lan và Điệp.” Bởi vì chúng tôi nghĩ rằng các loại đó bao gồm đủ cả ái tình và nước mắt cũng như những trận cười hoan hỉ, rất hợp với thị hiếu của đa số khán giả. Công việc bắt đầu. Lần này, nhiệm vụ của tôi nặng hơn. Tôi vừa phải nghĩ cốt chuyện lại vừa phân cảnh, soạn lớp và viết luôn đối thoại. Anh bạn soạn giả chính vì còn mắc viết tiếp vở tuồng mới khác nên chỉ giúp tôi công việc soạn lời ca. Trong thời gian tôi viết vở tuồng mới này không lúc nào là Liêm không có mặt bên cạnh tôi.

Về sau, anh ta biến thành một thư ký riêng của tôi. Viết xong trang nào tôi lại giao cho Liêm đánh máy thành nhiều bản để tiện kiểm duyệt và trao cho các tài tử tập dượt. Để cho vở tuồng có được kết quả chắc chắn về mặt diễn xuất, tôi yêu cầu họ tập luôn từng màn đã xong trong khi tôi đang viết màn tiếp. Lẽ dĩ nhiên, cũng như bao nhiêu vở trước, hai vai chính đều giao cho hai tài tử chính của đoàn. Hai người này tôi phải nói rằng, đối với họ tôi không có cảm tình cho lắm, mặc dù họ là những cây tiền của đoàn hát. Vở tuồng của tôi nếu có thành công hay không một phần lớn trông cậy vào họ. Nhưng nói về diễn xuất thì họ là những kẻ bừa bãi nhất. Những giờ tập dượt ít khi được họ tôn trọng.

Đã vậy, họ lại ỷ vào cái tài “cương” của họ mà không chịu học vở đến nơi đến chốn. Chỉ có bài hát là họ bắt buộc phải học kỹ vì họ biết khán giả thích nghe họ hát hơn là xem tài diễn xuất của họ. Tuy biết vậy, song tôi cũng đành chịu, không dám động đến họ. Có một điều lạ là trong vở tuồng, Liêm chỉ đóng một vai rất nhỏ trong màn đầu, nhưng tất cả những buổi tập anh đều có mặt và rất chăm chú theo dõi cách thức của các tài tử. Những lúc đó tôi thấy anh như một nhà đạo diễn ngồi coi các tài tử diễn thử. Anh ngồi vào hàng ghế góc rạp trong làn ánh sáng nửa vời, nét mặt linh động lạ thường. Tôi nghĩ đến giấc mơ của tất cả những diễn viên phụ. Chắc Liêm cũng đang ước mơ một ngày nào đó sẽ được thủ những vai như tài tử chính trong đoàn.

Nghĩ vậy tôi càng thấy thương Liêm hơn. Buổi tối, hôm tập xong màn chót vở tuồng, tôi rủ anh sang một tiệm cà-phê gần đó và muốn cho anh thấy rằng dù anh chỉ là một kép phụ, rất phụ, trong đoàn tôi vẫn coi anh như một nghệ sĩ, tôi liền ngỏ ý muốn anh cho ý kiến về vở tuồng. Lúc đầu thì tôi nghĩ rằng hỏi anh là để cho có chuyện mà thôi, nhưng sau tôi đã vô cùng kinh ngạc khi thấy anh đưa ra những nhận xét xác đáng lạ thường. Ngoài một vài chỗ yếu của vở tuồng mà tôi đã phải đồng ý với anh, anh lại còn có những nhận xét thật là tế nhị về sự diễn xuất của các vai. Anh không hề bỏ qua một cử chỉ nào của mỗi diễn viên. Anh phê bình cặn kẽ đến nỗi mà trong một lúc, tôi thấy vở tuồng hoàn toàn hỏng về mặt diễn xuất. Tôi không hiểu Liêm đã học những kinh nghiệm diễn xuất ấy ở đâu. Trong sách vở hay qua kinh nghiệm của những năm tháng đi theo đoàn hát.

Sau buổi nói chuyện đó tôi càng thấy quý mến Liêm hơn. Và dù không thể nào làm theo ý kiến của anh để sửa đổi lại hoàn toàn vở tuồng, tôi cũng đã cố gắng can thiệp để cho các tài tử phải sửa đổi vài đoạn diễn xuất trong vở.

Thế rồi, ngày diễn vở tuồng đó tới. Một việc không may xảy ra. Trước hôm diễn một ngày, Lộc vai chính trong vở bị khản đặc tiếng. Cả đoàn chỉ trông cậy vào vở này. Nếu Lộc khản tiếng thì vở tuồng coi như phải bỏ vì không có một nam diễn viên nào có thể thay Lộc được. Bà chủ gánh cuống quýt. Chúng tôi thi nhau đi tìm thuốc cho Lộc. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lộc vẫn không thể nào nói được thành tiếng chứ đừng tính đến chuyện hát nữa. Chết một nỗi là đoàn hát đã quảng cáo rùm beng từ một tháng trước vở tuồng này và lại là dịp đầu năm không thể nào tìm vở khác thay được.

Sau cùng, tôi chợt nghĩ đến Liêm, không hiểu tại sao lúc đó tôi lại cho là Liêm có thể thay Lộc được và, táo bạo hơn nữa, tôi lại đem ngay ý kiến đó đề nghị với bà chủ gánh và anh bạn soạn giả kiêm đạo diễn của đoàn. Lúc đó thì mọi người cùng tưởng là tôi nói đùa, về sau thấy bộ mặt quả quyết của tôi thì mọi người lại nghĩ là tôi điên. Nhưng, dù muốn dù không cũng là một cách giải quyết cuối cùng.

Mọi người cho gọi Liêm tới. Như tôi đã nói, mặc dù chỉ là một kép phụ, nhưng Liêm là một tài tử đẹp trai nhất đoàn, nên cái khuôn mặt của anh cũng đã gây được một phần tin cậy cho bà chủ gánh hát. Đến lúc tôi bảo anh đọc thử một đoạn trong vở thì đề nghị của tôi được chấp thuận ngay. Thế là cả ngày hôm sau mọi người lại bắt đầu tập dượt lại vở tuồng cho ăn khớp với nhau.

Điều mà không ai ngờ tới là Liêm thuộc vở một cách nhanh chóng lạ lùng. Chỉ có một đêm mà anh đã thuộc gần hết đối thoại trong vở. Bà chủ gánh bấy giờ mới thấy yên tâm và chỉ còn tiếc là giọng ca của Liêm bị yếu quá, không thể nào làm cho khán giả quên Lộc được. Buổi tập hôm đó, tôi thấy Liêm sung sướng ra mặt. Chưa bao giờ tôi thấy nét mặt của anh tươi sáng như thế. Chỉ có một điều đáng buồn là cô đào chính khi thấy mình bị đóng với Liêm, một kép phụ tầm thường, thì liền biểu lộ sự bất mãn ra bằng cách thờ ơ trong việc tập dượt. Chúng tôi phải dùng đủ mọi cách để khuyến khích nàng song tình thế chẳng thay đổi được một chút nào. Trong khi tập, nàng không chịu đứng cạnh Liêm lấy cớ bị mệt, ngồi trên chiếc bàn nhỏ và nói:

– Tôi quen quá rồi, khỏi cần dượt thêm cho tốn công. Chỉ ngại anh Liêm chưa đóng vai chính bây giờ mới cần phải tập thôi.

Rồi tới những đoạn hai người tình tự với nhau, trong khi Liêm để hết tinh thần vào sự diễn tả từ điệu bộ cho đến lời nói thì nàng… vừa… ăn nho vừa diễn một cách gượng gạo. Tôi thấy mặt Liêm tái đi. Mồ hôi lấm tấm trên trán vì tức giận. Ngay đến tôi cũng thấy khó chịu và chướng mắt vì cử chỉ đó. Tôi biết là Phượng – cô đào chính – đã mang sẵn một thành kiến không tốt đẹp đối những anh kép phụ như Liêm. Có lẽ nàng nghĩ rằng đóng với một diễn viên không có tên tuổi như Liêm thì cái danh tiếng của nàng sẽ bị mất hết.

Tuy nhiên, buổi tối hôm đó, vở tuồng cũng được khai diễn. Người coi đông như nêm cối. Mới tám giờ mà vé đã bán hết phải bán lố tới vé ngày hôm sau. Trước giờ mở màn, Liêm gọi tôi ra một góc sân khấu, nói khẽ:

– Bao nhiêu năm trời tôi chờ đợi phút này.

– Liêm có cảm động không?

– Có, nhưng ít thôi. Anh nên đứng nhắc vở giúp tôi. Tôi sợ một vài đoạn chưa được thuộc lắm.

Tiếng chuông reo báo hiệu giờ khai diễn. Nhạc bắt đầu nổi. Tôi thấy Liêm đứng sau một tấm cánh gà, nhẩm lại vở. Trông anh lúc bấy giờ thật là đẹp. Chưa bao giờ tôi thấy một diễn viên nào tôn trọng vở tuống bằng anh. Còn Phượng thì hình như không để ý gì tới buổi diễn cả. Nét mặt nàng buồn như đến nhà có tang. Nàng đủng đỉnh thay áo, vẽ mặt và hầu như không hề chú ý – dù chỉ một giây ngắn ngủi – tới Liêm. Tới lúc vở tuồng bắt đầu, Phượng bước ra sân khấu như một cái máy. Nàng đã đóng sai lạc hết cả ý nghĩa vai trò của nàng nhưng khán giả vẫn cứ hoan nghênh như thường. Tôi đặt hết tin tưởng vào Liêm và hy vọng nhờ vở tuồng này, anh sẽ bước lên một địa vị khá hơn trong làng sân khấu.

Giờ phút nghiêm trọng đã tới. Liêm xuất hiện trên sân khấu giữa tiếng ổn ào của khán giả từ dưới vọng lên:

– Kép mới, kép mới!

Tôi nghe tim mình như ngừng đập và không ngớt cầu mong cho Liêm trấn áp được những tiếng ồn ào kia. Đúng như ý tôi muốn, Liêm tỏ ra bình tĩnh. Đứng trong hậu trường nhìn ra, tôi không khỏi khen thầm cho tài diễn xuất già dặn của anh.

Hết màn thứ nhất. Tôi thở ra một hơi dài như vừa trút được gánh nặng. Liêm chạy đến nắm tay tôi:

– Tất cả sự thành công của tôi đêm nay là nhờ anh.

Tôi khuyến khích Liêm mấy câu rồi chạy lại chỗ Phượng gợi chuyện:

– Chị thấy Liêm đóng sao? Khá đấy chứ?

Giọng Phượng lạnh lùng đến tàn nhẫn:

– Khá? Tôi mong khán giả cũng nghĩ như anh.

Biết nàng không bao giờ có thể đồng ý với mình được, tôi bỏ đi chỗ khác. Ít nhất, trong tôi lúc đó cũng chớm nở một niềm kiêu hãnh vì đã khám phá ra một tài năng mới của sân khấu. Và tôi yên tâm chờ đợi màn thứ hai. Lần này cũng như màn trước, theo sự nhận xét của tôi, Liêm vẫn đóng trọn vai trò của mình. Tôi nhìn thấy tương lai của anh bắt đầu mở rộng từ phút này. Và, tôi nghĩ đến những vở tuồng sắp viết để cho Liêm có thể trổ được hết tài nghệ diễn xuất. Từ trong sân khấu, tôi ném cho Liêm một cái nhìn trìu mến. Liêm cũng trả lời tôi bằng một nụ cười tin tưởng.

Nhưng, bỗng nhiên từ dưới sân khấu, tiếng rì rầm mỗi lúc một lớn và chuyển thành những lời phê bình ầm ỹ mà đến nỗi đứng trong hậu trường, tôi cũng nghe thấy rõ hết:

– Diễn gì mà chỉ toàn thấy nói từ đầu tới cuối thế này! Sao không thấy hát gì cả.

– Văn Lộc đâu? Văn Lộc? Kép chánh đâu?

Những tiếng Văn Lộc, kép chánh được truyền từ miệng người nọ sang người kia, phút chốc vang lên như một lời đòi hỏi cương quyết. Tôi thấy Liêm bắt đầu bối rối không còn tự nhiên như trước nữa. Anh đã cố gắng để trấn áp những tiếng ồn ào kia, nhưng lần này thì hoàn toàn thất bại.

Một vài tiếng huýt sáo nổi lên.

Rồi đến tiếng ghế lọc xọc báo hiệu một vài khán giả đứng dậy bỏ về. Bà chủ gánh mặt cắt không còn hột máu chạy lại cạnh tôi:

– Làm thế nào bây giờ hả ông? Họ mà đòi vé bây giờ thì thật chết hết!

Tôi cố tìm một vài câu nói để cho bà vững dạ nhưng chính tôi lúc bấy giờ, tôi cũng đã bắt đầu lo sợ. Cũng may là màn hai đã hết. Liêm bước xuống. Liêm bước vào, ngã ngồi ngay xuống một chiếc ghế gần đó, không nói không rằng. Còn Phượng thì nét mặt sa sầm, nặng chĩu, nói một câu còn đau đớn hơn cả những tiếng ồn ào của khán giả:

– Thật các người đã giết tôi. Tôi đã nói ngay từ đầu mà không ai chịu nghe tôi cả, đi bắt tôi đóng chung với một anh kép không có tên tuổi như thế thì khán giả hoan nghênh làm sao được.

Liêm bỗng chồm dậy nhìn Phượng định nói một câu gì đó, song không hiểu nghĩ sao, anh lại ngồi xuống ghế rũ ra như tàu lá héo. Chúng tôi không còn biết làm thế nào hơn là ra xin lỗi khán giả và hứa sẽ diễn lại vở tuồng này khi nào kép Văn Lộc khỏi bệnh. Màn thứ ba mở lên. Bên dưới, khán giả chỉ còn một nửa. Và cứ thế khán giả lần lượt bỏ về gần hết khi biết tin là kép Văn Lộc bị khản tiếng. Khi vở tuồng chấm dứt, một không khí nặng nề bao phủ hậu trường. Tôi biết là nếu có mặt ở đó thì chắc chắn sẽ phải nghe một câu nói không đẹp đẽ gì của bà chủ gánh hát, bèn bỏ ra ngoài và có ý định rủ Liêm đi chơi đêm đó để an ủi anh. Nhưng, cả đêm hôm đó, tôi không thấy mặt Liêm ở đâu.

Ngày hôm sau, chương trình bắt buộc phải đổi lại. Chúng tôi phải diễn một vở tuồng Tàu để chờ cho Văn Lộc khỏe lại mới có thể diễn tiếp được vở mới. Và, như vậy có nghĩa là Liêm lại trở về vai trò cũ của mình trong đoàn hát, anh không hề có một ý kiến gì về chuyện này. Nét mặt anh già hẳn đi sau đêm diễn xuất thất bại. Tôi ít gặp anh và có cảm tưởng rằng anh muốn trốn tránh tất cả mọi người, ngay cả tôi nữa.

Một tuần sau, Văn Lộc khỏi bệnh, chúng tôi lại bắt đầu chương trình quảng cáo cho vở tuồng được diễn tiếp. Đêm đầu tiên của buổi trình diễn lại này, khán giả vẫn đông nghẹt rạp. Và khi Văn Lộc bước ra sân khấu từng hồi vỗ tay nổi lên. Tôi nhìn sang phía Liêm. Lúc ấy anh đang ngồi phụ với người kéo màn. Mặt anh gục lên hai bàn tay. Toàn thân anh rúm ró lại như chiếu bị rách, mỗi lần từ dưới sân khấu vọng lên những tràn vỗ tay khen thưởng Văn Lộc.

Hết màn hai, tôi không thấy Liêm đâu nữa. Vì còn vướng nhắc tuồng nên tôi không thể đi tìm Liêm ngay lúc đó được. Tôi biết mỗi một tiếng vỗ tay khen thưởng Văn Lộc lúc đó là một nhát dao chém vào người Liêm. Tôi thấy anh bỏ đi như vậy là hợp lý. Vì nếu còn ngồi lại, Liêm sẽ còn khổ tâm hơn nữa khi thấy từng xấp bạc từ dưới ném lên sân khấu để thưởng cho tài diễn xuất của Văn Lộc và nghe thấy từng tiếng suýt soa, rên rỉ của khán giả vẳng lên khi Văn Lộc vào sáu câu vọng cổ quá mùi.

Thấy vở tuồng ăn khách, bà chủ quyết định cho diễn mười đêm liền. Và quả nhiên như dự tính của bà, chín đêm sau đêm nào cũng chật rạp!

Một tháng sau khi xảy ra câu chuyện trên thì Liêm đã rời khỏi đoàn hát. Anh bỏ đi một cách hết sức kín đáo đến nỗi hai ngày sau người ta mới khám phá ra sự vắng mặt của anh.

Người kép phụ đó như bao nhiêu người kép phụ khác đều chịu chung một số phận hẩm hiu: có mặt hay không, ở sân khấu hay ở trong hậu trường, chẳng ai cần để ý tới. Thiếu Liêm, đoàn hát vẫn không có một chuyện gì thay đổi. Một anh công nhân đề-co được chọn vào thay thế cho Liêm.

Người ta làm việc bình thản như khi ta thay bức ảnh cũ trên tường. Tất cả mọi người không còn một ai nhớ đến Liêm nữa. Chỉ có tôi. Tôi không sao quên được Liêm. Hình ảnh của anh đè nặng trong tôi. Cho mãi tới bây giờ, tôi đã rời xa đoàn hát cũ, không còn làm cái nghề soạn tuồng cải lương nữa, và đã mười năm rồi, mỗi lần đi coi hát nhìn những vai trò không quá mười phút trong một vở tuồng, tôi lại nhớ tới Liêm, nhớ đến những con tầu suốt đời làm cái việc đẩy những con tầu khác vượt khỏi những đoạn đèo dốc…

THANH NAM

Lâu đài Cochem

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on February 23rd, 2023
Post by Sơn râu 11 May 2024

Lâu đài Cochem như một ngọn tháp, sừng sững trong quang cảnh của thị trấn Cochem, nằm bên sông Moselle, nhưng không phải là cái lâu đài nguyên thủy đã được xây ở đó từ thế kỷ thứ 12. Lâu đài đẹp đẽ này đã có một lịch sử lâu dài, đầy màu sắc cho đến khi vua Louis XIV của Pháp xóa sổ vào năm 1689.

Toàn cảnh vùng Cochem. Nguồn. DronestagramDronestagram      

Lâu đài Cochem vẫn còn giữ được màu gạch đỏ cho tới khi người thương gia giàu có Louis Jacques Ravené (1823-1879)  ở Bá Linh quyết định mua phế tích này và xây lại lâu đài vào năm 1868. Nhưng ông lại không thích tái thiết lâu đài này với điều kiện và phong cách La Mã nguyên thủy. Ông đã yêu cầu kiến trúc sư xây dựng lâu đài với phong cách tân Gothic để sử dụng làm nơi nghỉ hè cho gia đình mình.

Tuy nhiên, có những phần kiến trúc nguyên thủy của phong cách Romanesque và Gothic elements như tháp bát giác 4 tầng lầu, và Hexenturm (Tháp phù thủy), đã được giữ lại và ráp chung với lâu đài mới của Ravené.

Trước khi bị quân đội Pháp phá hủy năm 1689, lâu đài Cochem đã có một lịch sử hấp dẫn và lâu đời. Lâu đài đã đổi qua tay bao nhiêu chủ và cũng giống như các lâu đài khác, nó đã thay đổi hình dạng qua nhiều thế kỷ.

Năm 1699, quân Pháp xâm lăng vùng Rhine, Moselle của Palatinate, bao gồm cả Cochem và lâu đài. Quân Pháp cai trị vùng Reichsburg và bỏ hoang lâu đài cùng vùng đất Cochem. Suốt thời điểm đó vùng Cochem và lâu đài được chuyền tay giữa Ðức và Pháp. Năm 1815, khu phía Tây Palatinate và Cochem cuối cùng thuộc về một phần của nước Ðức.

Dốc đá nhỏ hẹp, quanh co, vô cổng chính của lâu đài. Nguồn. Pinterest

Louis Jacques Ravené không còn sống để nhìn thấy lâu đài Cochem được sửa sang đẹp đẽ vì ông qua đời trong khi thực hiện công việc tu bổ của mình, nên con trai ông Louis Auguste Ravené (1866-1944) là người hoàn thành công việc của ông. Louis Auguste chỉ mới 2 tuổi khi công việc trùng tu lâu đài Cochem năm 1868, hầu như các lâu đài thường thành hình theo kiểu của năm 1874-1877, theo mẫu của các kiến trúc sư ở Berlin. Sau cái chết của cha năm 1879, Louis Auguste đã giám sát công việc cuối cùng, phần trang trí nội ốc cho lâu đài, việc trùng tu hoàn tất vào năm 1890. Cũng như cha mình, Louis Auguste là người mê nghệ thuật, nên ông đã treo đầy lâu đài với những tác phẩm hội họa có giá. Hầu hết những tác phẩm này đã thất lạc trong Thế chiến hai.

Năm 1942, suốt thời quốc xã, Ravené bị bắt buộc phải bán ngôi lâu đài của giòng họ cho Bộ Trưởng Tư Pháp Ðức, sau đó trở thành trường luật của quốc xã, cho đến cuối chiến tranh thì lâu đài trở thành tài sản của tiểu bang mới Rhineland-Palatinate. Năm 1978, thành phố Cochem mua tòa lâu đài với giá $664,000 tiền mark của Ðức, hiện nay do công ty Reichsburg điều hành…

Từ căn phòng thuê qua đêm rẻ tiền ở Brussels ẩm, hôi mùi thuốc sát trùng, phòng tắm chỉ một bóng đèn vàng, vòi tắm hư, chảy tè tè, 7 người tụi tôi cuốn gói, lên xe từ 5 giờ sáng qua Cologne (Ðức) ăn sáng.

Mẹ ơi! Tui thèm tô phở một cách kỳ lạ.

– Hay em vô tiệm mua phở gói.

Quảng trường phố cổ trong lâu đài. Nguồn. Flickr

Xe ngừng, tôi và mấy bạn làm vài chai bia đen, vợ tôi bước ra, mặt sáng như trăng.

– Còn 7 gói, em mua hết với 3 bó hành lá.

Ở đây có nhà hàng, tiệm có nước nóng pha cà phê.

Người bạn đưa lên, 2 bao thịt đông lạnh.

– Thịt bò xắt lát, nhân vật chính.

Mọi người ra xe. Bạn mở bếp gaz. 10 phút sau, mùi phở bò ngào ngạt tại góc nhỏ trạm nghỉ. Cologne-Cochem.

– Sao tui thấy tô phở giống tô sâm hầm óc khỉ, tinh trùng nam của bà Từ Hi quá!

Vợ tôi.

Phố cổ, nơi buôn bán, tiệm ăn, nhà hàng. Nguồn. Alpha Coders

– Nói bậy! Giống phở Dâu, cư xá hàng không Công Lý hồi xưa…

Ðúng! Tô phở Bắc giả, chỉ có nước và thịt bò, hành lá.

7 người húp rột rẹt như trận đói Ất Dậu.

Tới Cochem 10 giờ sáng. Trời còn mờ sương, ngừng xe ngay bãi đậu, lâu đài Cochem sừng sững, thoáng ánh đèn màu cam trên đồi cao bên kia sông, dưới chân là đường phố dài, tiệm, khách sạn, nhà hàng với kiến trúc kiểu Ðức xa xưa, lung linh sông nước…

Rick Steve trong show du lịch của mình, đã nói “Cái lâu đài Cochem, tái thiết từ thời thế kỷ 19 đẹp một cách lung linh hơn cái cũ”.

Tụi tôi đi bộ vô lâu đài, đường hẹp, trải đá xanh từng cục vuông. Những du khách ăn sáng trong các quán ăn nhỏ, trang trí với kính màu và kèo cột gỗ đen, bàn thô sơ, đã lên nước bóng, như nằm đó từ trăm năm, mùi xúc xích Ðức nướng, mùi bia, tiếng cụng ly muôn thuở.

Khu giữa lâu đài đầy quán ăn, các tiệm bia, tiệm cà phê, chợ nhỏ và các quầy bán đồ kỷ niệm, phía bên kia, người ta đang chuẩn bị show biểu diễn những con chim ó nổi tiếng của vùng Cochem. Buổi tối, tại lâu đài có bữa tiệc Vua thời Trung Cổ (vé riêng). Lãnh Chúa của lâu đài sẽ mời bạn rượu vang của Moselle và dùng bữa tối với thực phẩm cùng tập quán thời Trung Cổ. Những người hầu và phục vụ bạn một cách xa hoa như đưa nước rửa tay đựng trong các thau vàng, bạn rửa trước khi ăn bốc. Bánh mì nóng làm tại chỗ giòn tan, ăn với những viên mỡ heo sấy nhỏ, các nồi súp nóng, cay bốc khói, bữa ăn chính là đùi gà tây nhỏ và thịt heo nướng. Có những người làm trò hề, các nhạc công, triển lãm những đồ nghề tra tấn thời Trung Cổ, và buổi tối có lễ hiệp sĩ…

Đêm tiệc vua. Nguồn. gasterey1

– Không! Tiệc này không có nhậu.

Tôi phán.

– Tới Ðức, tới Cochem là phải dzô rượu đỏ của Moselle, thịt nguội nổi tiếng vùng Cochem và bia đen Ðức quốc, không ăn tiệc vua, mấy ổng không biết nhậu… Nên qua đời hết rồi!

Tụi tôi tới Bistro AM Mart, bàn trước cửa, vắng người, vì chắc không ai nhậu lúc 2 giờ trưa.

– Hai xúc xích bò ướp tỏi, 2 xúc xích lòng bò quấn, 2 dồi lòng trừu sấy khô, 7 ống xương tủy heo hấp.

Cô phục vụ tóc vàng má đỏ môi đỏ, mặc đồ trắng đen kiểu Ðức cười.

– Và ông sẽ dùng với bánh mì nóng, tỏi chua, hành chua?

Một tiệm ăn xưa kiểu Đức. Nguồn. thingstodopost.org

– Ðúng, cám ơn!

– Và mỗi người 1 cái đen? (Tiệm bistro có bán luôn cà phê)

Tôi ú ớ.

– Cà phê?

Cô cười.

– Không ai ăn đồ nguội với cà phê! Bia đen.

5 phút sau, lần đầu tiên tôi biết.

– Ở Ðức, 1 cái đen là 1 lít bia đen.

Vậy thì 7 mạng dzô 7 lít!

Lâu đài Cochem, lung linh trong sương sáng. Nguồn. pixels.com

HĐV

Điệu bi bốp

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

February 16th, 2023

Post by Sơn râu 11 May 2024

Một cuộc thi nhảy bi bốp Nguồn. http://www.pinterest.com     

Năm đó tôi về Huế nghỉ hè. Cuối tuần, các dì, cậu thường mở máy pick up (máy nghe nhạc ngày xưa giống cái tủ thấp, mở nắp, có radio và máy nghe dĩa tự động) nhảy các điệu như tango, cha cha, đặc biệt dì Ti (Nhảy hay nhất nhì ở Huế, thời đó) và cậu Tâm thường chơi nhạc Elvis, nhảy bi bốp

Tôi biết tên điệu nhảy này, từ đó.

Lúc 13 tuổi, tôi về Ðà Nẵng nghỉ hè nhà Dì, tối cuối tuần vui chơi tiệc tùng nhảy nhót. Họ và 2 cô gái thường nhảy điệu bi bốp, cũng với máy pick up thùng.

Tôi thấy thích điệu nhảy này.

Bi bốp và tôi

Khi vô Sài Gòn, 14 tuổi, tôi có hai quyết định, thứ nhất học võ, thứ nhì học nhảy đầm. Võ thì tôi bắt đầu với Thiếu Lâm tại đền thờ Trần Hưng Ðạo nằm trên đường Hiền Vương, Tân Ðịnh, nhảy đầm thì học với thằng bạn 16 tuổi, tập mỗi đêm tại nhà nó, cách nhà tôi mấy căn ở Phú Nhuận.

– 1,2,3 1,2,3 1,2 hỉ.

Tôi tập hoài, vẫn trật nhạc.

– Nì! Không bước trong chữ “Hỉ”, tao lộn

Và tôi biết tại sao trật nhạc.

– Ðừng “Hỉ” giùm cái

Cho nên, bước của bi bốp là 1,2,3 1,2,3 1,2…

Một động tác đẹp của bi bốp. Nguồn. http://www.eventlovershideout.com

Vậy bi bốp là gì?

Ðó là cuộc cách mạng đổi mới cuối cùng của phong cách nhảy đầm và âm nhạc mà chúng ta được biết tới (Nguồn gốc của chữ “Bebop” bắt nguồn từ loại ca hát ngẫu hứng,) như một nhánh của các dàn nhạc swing lớn, bi bốp đã bị ảnh hưởng bởi loại nhạc khiêu vũ swing. Trong bi bốp, nhịp điệu nhấn mạnh vô tiếng trống bass (Trầm) tới tiếng cymbal (Chập chả), điều này đã làm cho bi bốp trôi chảy hơn.

Nhưng thật ra thì lúc đó đâu phải ai cũng khoái nhảy bi bốp, vì loại nhạc này không dùng cho khiêu vũ, bởi được chơi với nhịp điệu quá nhanh, hơn nữa bi bốp với kiểu chơi ngẫu hứng và kỹ thuật trình diễn điêu luyện nên được coi như một loại âm nhạc của nghệ thuật, không phải cho nhảy đầm.

Bắt đầu nổi tiếng

Từ các bản bi bốp được thu âm và phát hành, sau đó, đã có nhiều thay đổi, đơn giản hơn vào những năm cuối 40, đầu 50, người ta bắt đầu thích và nhạc bi bốp đã được phổ biến, bốc lên, trở thành thời đại hoàng kim của loại nhạc này. Riêng trong khiêu vũ, những biến cải của nhạc swing, jazz đã được tạo ra thành điệu nhảy bi bốp với cái tên khác như: “Nhảy bước nhanh, nhảy swing nhanh”.

Đặc trưng của điệu Bebop

Tuy thoát ra từ điệu nhảy swing, nhưng swing chậm, còn có màn kèn saxo sô lô buồn quá, nên bớt chất rộn ràng vui tươi, còn bi bốp, lại giống sắc thái của loại rock của thời kỳ 60-70 với màn ghi ta sô lô tưng bừng, sôi động, nên gây cảm hứng nhiều cho người nhảy.

Bi bốp là một điệu nhạc, đa âm, tiết tấu nhanh (giống như kiểu swing nhanh), và những nhịp nhanh, chính được viết rất rõ, đều đặn, cho nên điệu nhảy bi bốp cũng mang đặc tính đó. Bước nhảy bi bốp từ ban đầu có 6 bước, sau đó được phát triển thành 8 bước (Căn bản lên và xuống gồm 24 bước), có thể cộng vào đúng nhịp bằng những bước (riêng) khác. Những động tác của tay có một phong cách riêng gọi là “Kiểu”, như cụng cánh tay (Từ bàn tay tới chỏ), đẩy tay xoay vòng, kéo tay lại (Xoay ngược lại), chéo tay ôm hông, cụng 2 tay, đôi khi các người nhảy bi bốp giỏi chơi luôn màn nhảy với 2 cô cùng một lúc, nhưng không hay ho gì vì thường chỉ nhảy những động tác căn bản.

Nhảy bi bốp thời xa xưa. Nguồn. http://www.pinterest.com

Bi bốp Việt Nam

Cũng như rượu sâm banh, phô mai, các điệu nhảy đầm đã theo chân người Pháp tới Việt Nam, trong đó có món bi bốp (Bi bốp kiểu Pháp). Nhưng Việt đã chế món bi bốp Pháp đơn giản và động tác tay ít, bước chân hay cà giựt (Như nhảy swing, rock) thành món bi bốp Việt có nhiều động tác tay, chân bước thấp, đẹp hơn.

… Học bước, biết loại nhạc, nghe nhạc, tập đi cho đúng nhịp điệu bi bốp trong 1 tháng. Vậy là xong!

– Tháng ni học phi- guya tay.

Tôi bị lẩm cẩm vụ thiếu lâm

– Ðòn tay?

– Mi nhà quê, nhảy đầm không có đòn, chỉ có p-h-i-g-u-y-a.

Bây giờ thì tôi biết hậu quả của vụ nói tiếng Pháp giọng Huế!

Thêm màn học tay là đủ bộ bi bốp.

Nhưng học xong phải thực tập thì mới khá.

– Nì! Mi tìm đào đi.

– Bạn gái còn chưa có lấy đâu ra đào nhảy đầm, cha tìm đi.

– Coi có bum thì nhào vô nhảy bi bốp.

Nhưng lúc đó bum ở Sài Gòn thường là của choai choai tổ chức, mà choai choai không nhảy bi bốp, chỉ toàn xì lô, twist, giựt gân, chỗ khá hơn thì có cha cha, rumba.

Bước đẹp căn bản bi bốp. Nguồn. http://www.pinterest.com

Mấy ngày sau, tập bi bốp xong, P nói.

– Có đào nhảy rồi!

– Ai?

– Nhỏ này mới quen, cũng mới học xong bi bốp, đang muốn nhảy “Sống”

Hai hôm sau, 6 giờ tối thứ Bảy, phòng khách nhà bạn, đèn vàng ấm áp, 6 chai cô ca mua sẵn, 10 cái bánh pa tê sô của tiệm bưu điện, 3 phong kẹo cao su Mỹ, 4 phong sô cô la Pháp bày trên bàn.

Tôi và bạn đang dài cổ chờ cô bạn nhảy tới như lời hứa.

6 giờ 15… 6 giờ 30…

7 giờ thì cô bạn tới, chuông reng.

– Xin lỗi! Em phải cho cá ăn nên trễ, má em la hoài, không cho đi, em trốn cửa sau.

Em ngồi bàn, ăn sơ sơ có 3 cái pa tê sô, nốc 1 chai Cô ca, xơi phong sô cô la, xong!

Nhảy!

Nhạc bi bốp từ máy quay dĩa nổi, bài “California’s dreaming” bạn tôi mần trước. Xong tới phiên tôi.

– Trật nhịp rồi anh.

Tôi đứng, chờ nhạc.

Một động tác ngã người của bi bốp. Nguồn. http://www.studios1.ca

– Anh bắt nhịp nhạc, vô liền, nhảy đầm không ai đứng đợi nhạc lâu như vậy.

Tôi theo nhịp, những bước nhảy bắt đầu ngon trớn, các động tác tay khớp nhạc.

Bây giờ thì tôi và cô bạn nhảy rất thoáng, tay chân ăn khớp với âm nhạc.

Bỗng có tiếng la lớn, tiếng đập cửa.

– Ê! Mở cửa

Nhà của bạn là nhà phố, buôn bán sát đường, nên phòng khách nằm ngay cửa vô.

Thằng bạn mở cửa, tôi đang nhảy bi bốp với cô gái

Một bà lớn tuổi, mặt sần sùi, đỏ ké nhảy vô, chỉ tay, ré lên

– Mụ nội cha tụi bây! Làm cái chi mà ôm con tau sát rạt hỉ?

Bà đập cái xách tay vô đầu tôi.

– … Dụ con gái tau tới đây làm chuyện ôm ấp tư tình hả?

Thi nhảy bi bốp. Nguồn. http://www.pinterest.ca

Tôi lễ phép

– Dạ đâu có! Tụi con tập nhảy đầm.

Cô gái.

– Mạ ơi! Tụi con tập bi bốp.

Tôi, thả tay cô gái, cô bước qua bên bà.

Tôi phân trần

– Dạ không có ôm ấp, tư tình gì hết bác ơi!

– Thì mi mới ôm hắn tề!

Bà kéo tay cô gái.

– Về! Tụi hắn dụ mi tới đây để gạ gẫm chuyện nớ!

Bà chỉ mặt tôi.

– Mụ nội Mi!

Bà hầm hầm kéo con gái ra cửa, chỉ vô mặt cô.

– Không có bi bốp bi béo gì hết! tụi nó muốn bóp bi con thì có! Về.

HĐV

1 phút cho 15 năm

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

March 23rd, 2023

Post by Sơn râu 11 May 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ

Mùa Hè, năm 1995, 8 giờ tối tại nhà hàng Tong Por, phố tàu Montreal, Canada.

Khách dự đám cưới đã ngồi đầy mấy chiếc bàn tròn có lẵng hoa hồng tím đen nằm giữa tấm khăn đỏ phủ dài, hai bên là 2 chai Martell X.O đứng hầu, chung quanh chén dĩa đũa muỗng sắp ngay ngắn. Khách khứa cười nói, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh lao xao.

– Kính thưa quý vị quan khách, chúng tôi xin giới thiệu chú rể và cô dâu…

Tiếng vỗ tay, đèn tắt, nguồn ánh sáng tròn rọi vô chiếc màn nhung đỏ đang từ từ vén lên.

– Ðùng!

Phát súng chát chúa, nẹt lửa, đèn sáng.

Mọi người sững sờ, không một tiếng động.

Trước mặt cô dâu, chú rể là 3 người bịt mặt, đưa cao 1 khẩu shotgun, 2 khẩu súng ngắn.

Người tóc dài, ốm, mặt vết đen ở giữa, bước tới.

– Tất cả ngồi xuống, để tay trên bàn, yên lặng, có hành động chống đối…là!

Ðùng!

-… Ði tàu suốt!

Một người ra canh cửa, 2 người còn lại tới từng bàn, lột vòng vàng nữ trang, tiền bạc của khách bỏ đầy trong cái quả đám cưới màu đỏ.

Sau 15 phút.

Một người ôm quả, người kia đẩy cô dâu chú rể ra cửa, người thứ 3, nhảy lên chiếc Toyota nhấn ga, cô dâu chú rể ú ớ nhìn theo.

Cũng 10 phút sau.

Nhà hàng Kamfung, khu cote des neiges, Montreal, một đám cưới mới bắt đầu, chú rể, cô dâu vừa ra mắt khách khứa, thì, 3 người bịt mặt nhào vô, khóa cửa.

Cũng người tóc dài, ốm, mặt vết đen ở giữa, bắn lên trần.

– Ðùng!

Chả lận khẩu súng vô lưng, bước tới, nói.

– Yêu cầu mọi người ngồi xuống, để tay trên bàn, yên lặng, có hành động chống đối…là!

Rút súng.

Ðùng!

Nói tiếp.

– Là… đi tàu suốt!

Một người ra canh cửa, 2 người còn lại tới từng bàn, lột vòng vàng nữ trang, lấy tiền trong bóp của khách bỏ vô quả đám cưới. Ba người đi ra, cùng quay lại, la lớn.

– Bye! Có ai muốn đi tàu suốt không?

Rồi nhảy lên chiếc Toyota đang nổ máy sẵn, chạy.

Bị gài

10 giờ 20, tối, tại trạm đậu xe tải gần cầu Cartier, Hướng về New York.

Thành, Hiệp,Vinh, 3 tay ăn cướp, bước ra khỏi xe.

Thành mở cốp, mở 2 cái quả đám cưới.

– Vố này trúng đậm! Vài trăm thước!

Mọi người thay đồ, Vinh vỗ vai Thành.

– Xong! Cha với Hiệp chạy về hướng Boston, đường 89 về Boston.

Thành quay vô cốp xe, sắp xếp gì đó, đưa cho Hiệp.

– Mang quả này về, tui đi hướng New York đánh lạc hướng, hôm sau ăn tối ở phố Tàu. OK?

30 phút sau, tới biên giới Mỹ.

Ông Hải Quan hỏi.

– Chào các anh.

– Chào!

– Các anh đi chơi khuya quá, vui không?

– Dạ! Ði ăn cưới, nên về khuya.

– Ở đâu?

– Montreal.

Ông cười, trả lại 2 sổ thông hành.

– Cám ơn!

Thành thở hắt.

– Mẹ! Hồi hộp quá!

– Qua rồi!

Hiệp chạy ra xa lộ 89, đêm tối thui, rừng cây hai bên loáng thoáng ánh đèn xe.

Qua khỏi Vermont, 10 phút sau.

Trong bóng đêm, bỗng nhấp nháy đèn xanh, đỏ của cảnh sát.

Hiệp tấp vô lề.

– Qua luôn hay vòng lại Vermont?

Thành đang lúng túng, chưa biết phải làm gì.

Bỗng từ sau xe, đèn xanh đỏ bật sáng trong bóng đêm, 2 chiếc xe cảnh sát hụ còi, trờ tới, thắng gấp.

– Chúng tôi kiểm tra xe, yêu cầu tài xế đưa 2 tay ra ngoài.

Hiệp gục đầu trên tay lái.

– Mẹ! Dính rồi.

2 cánh tay đưa ra.

– Yêu cầu tài xế và hành khách bước ra khỏi xe, 2 tay đưa lên cao.

Hiệp đẩy cửa xe, ló đầu.

Tiếng la người cảnh sát.

– Ê!

– Ðùng! Ðùng!

Anh nã 2 phát súng, nhảy vô xe, quay đầu, chạy về Vermont.

Nhưng chỉ vài phút sau, chiếc trực thăng áp sát trên trần.

– Yêu cầu ngừng lại, nếu không chúng tôi bắn…

Và trực thăng đã bắn trước khi anh ngừng xe, chiếc xe đụng thân cây.

Thành bỏ mạng tại chỗ, Hiệp bị thương nhẹ.

2 hôm sau, tại Tòa Án Trung Tâm Massachusetts.

Hiệp, mặt mày xanh xao, đầu cạo trọc, mặc áo đỏ của tù trọng án, tay mang còng, đứng bên vòng móng ngựa, nghe Công tố đọc lệnh xử.

– … Bị cáo lãnh án 30 năm, với tội danh, cướp của tại Montreal, sử dụng vũ khí bất hợp pháp, vận chuyển 2 kg bạch phiến, và bắn trọng thương nhân viên công lực

– Tôi không tàng trữ 2 kg bạch phiến!

Hiệp nói với tay luật sư miễn phí, đang ngáp.

– Cảnh sát tìm thấy tang vật trong xe anh.

– Không phải của tui.

Luật sư ngáp tiếp.

– Vậy ai bỏ vô xe anh à?

– Ðúng vậy!

Hiệp hoang mang “Vậy ai đã bỏ vô xe mình? Ðể làm gì?”

Và trong cơn hoang mang, khối não nhão nhẹt của Hiệp đã mơ hồ biết được “Ai đã bỏ vô xe mình. Ðể làm gì.”

– … Thôi xong rồi, tôi đếch cần biết bạch phiến của ai, nhưng nó nằm trong cốp xe của anh! Là của anh! Ok.Tôi chỉ giúp anh tới đó, bye.

Tay luật sư miễn phí của nhà nước, tóc tai bờm xờm như ca sĩ nhạc rock ế sô, xách cặp ra khỏi phòng.

Hiệp lãnh mền gối vô Trại Cải Huấn Trung Tâm Massachusetts, bắt đầu cưa cái án 30 năm của mình.

-oOo-

… 6 năm trước

Hiệp, dân Sài Gòn, ba mẹ vượt biên, bỏ mạng vì đói, Hiệp sống sót ngoi ngóp, trôi dạt 15 ngày được vớt vô đảo Liminangcong, chuyển về trại tị nạn Palawan, Phi Luật Tân, sau đó được bảo trợ, định cư ở Boston.

Ông mục sư già, người bảo trợ, trông coi việc Chúa cho nhà thờ Melrose.

– Hiệp! Cuối tuần con ra nhà thờ phụ lễ, lấy ít tiền tiêu vặt.

Và mỗi cuối tuần, trong 2 năm, Hiệp lặng lờ tới lui trong nhà thờ, đốt nến, xếp kinh thánh vô chỗ ngồi, lau bàn thờ, tắt, mở đèn, sắp sẵn áo lễ cho mục sư để có được 80 đô tiêu vặt trong tháng.

Nhưng.

Một lần đi với bạn Tàu Việt ra phố Tàu ăn Mì. Ông chủ tiệm là bác của bạn, kéo tay Hiệp vô sau bếp.

– Hầy! Nị cao, to, muốn làm cuối tuần không?

Hiệp chưa trả lời.

Ông tiếp.

– Chỉ ngồi chơi, khi nào cần thì lấy xe gắn máy của ngộ, giao hàng chung quanh vùng này, $60 đô 1 giờ, làm từ 10 giờ sáng tới 6 giờ chiều, thứ Bảy, Chúa Nhật.

Vậy! Hiệp bỏ nhà thờ, làm công việc giao các món hàng nhỏ như bao mì gói của ông chủ tiệm. Tiền bạc bắc đầu rủng rỉnh, Hiệp kiếm gần $3,000 đô một tháng với công việc nhàn hạ đó.

Năm sau, đúng 18 tuổi, Hiệp quen với Thành, Vinh, hai tay này làm ăn trong thế giới ngầm ở phố Tàu, Boston.

Sau bữa ăn tối, Hiệp nói với ông mục sư già.

– Con cám ơn ông đã bảo trợ trong mấy năm qua, hôm nay con muốn…

Ông Mục Sư cười nhẹ, tay đẩy cặp mắt kính.

– … Bắt đầu tự sống?

– Dạ, con vẫn đi học và làm nghề giao hàng cuối tuần.

– Ở đâu?

– Phố Tàu.

Ông mục sư thở dài.

– Ở đó quỷ ma nhiều lắm, con dễ bị sa ngã vô những việc làm của Sa Tăng…

– Như?…

Hiệp ngạc nhiên hỏi.

– Cờ bạc, thuốc, gái.

Ông đứng dậy, móc túi.

– Giúp con $300, ráng giữ mình, con có thể quay lại đây bất cứ lúc nào.

Hiệp mướn căn phòng nhỏ trong dãy phố cũ ở tầng một, đường Kneeland, tự sống, đi học và làm cuối tuần.

-oOo-

Vinh, dân Tàu Việt, lai Mỹ sống vỉa hè, bán cần sa lòng vòng khu Tòa Ðô Chánh, công viên Lam Sơn. Qua Mỹ năm 1985, ở Malden, nhưng kiếm tiền ngoài phố Tàu, biệt danh, Vinh Ẹo vì bóng chính hiệu.

Sòng bài cẩu, trên lầu 2 nhà hàng CC, phố tàu, Boston.

Hiệp thua liên tục mấy cây bài, cháy túi, anh tới bàn, uống chai bia, mặt xụi lơ.

– Ê! Thua đậm hả em?

Hiệp quay lại.

– Dà! Ủa anh không phải Mỹ à?

– Mỹ lai! Anh là Vinh.

Anh ta bắt tay Hiệp, gọi 2 chai bia, cụng ly, móc túi, bỏ ra bàn xấp tiền.

– Nè! Cho em mượn $2,000, gỡ đi, mai trả lại vốn cho anh.

Từ đêm đó Hiệp trở thành bạn và sát cánh với Vinh như cặp bài trùng, dân phố Tàu rỉ tai.

“Vinh Ẹo có chồng”

– Hiệp! Em ra phố Tàu lấy tiền cho anh.

– Hiệp! Em qua New York lấy hàng cho anh.

– Hiệp! Tới Vermont…

Hiệp đã là cánh tay phải trong chuyện làm ăn của Vinh. Hiệp không lại cái, nhưng có thể là 2 hệ, trống mái gì cũng xài tuốt, nên ăn ở với Vinh như người chồng thật sự, cả hai hái ra tiền bằng tổ chức cờ bạc lưu động tại phố Tàu mỗi đêm, bán ma túy, lâu lâu tham gia với băng đảng BTK (Born to kill) của phố Tàu New York cướp mấy tay đại gia, tiệm vàng. Vinh là kẻ có máu mặt từ Boston tới New York.

Vinh ném mạnh chai X.O vô tường.

– Anh không ngờ em tệ vậy!

Hiệp.

– Gì mà tệ?

– Thằng Ý Vincent!

– À! Nó chỉ là người cung cấp cho mình, nhưng chơi đẹp, nên em hay ăn nhậu, vui chơi, mỗi lần qua New York, có sao đâu?

Vinh cười lớn.

– Không chỉ như vậy

Chỉ mặt Hiệp.

– Em ăn chơi, ngủ lại nhà nó 2 lần.

– Nhưng đâu… Làm gì.

– Ha! Ông Ðịa biết có làm hay không.

Vinh ngồi xuống bàn, mở hộc tủ, lấy khẩu P-38 đập lên bàn.

– Rầm!

– Tao muốn chấm dứt chuyện này! Trước khi tao xử đẹp.

Hiệp lầm lì đứng dậy, ra khỏi phòng. Anh đã không đo lường được cơn ghen của Vinh Ẹo, anh không biết đã có bao nhiêu vụ giết người tình, chỉ vì những cơn ghen bóng gió của dân bóng.

Thật ra Hiệp có quan hệ với Vincent, vì tay Ý này thuộc loại bóng đậm, mê dân Á Châu, nên khoái Hiệp, muốn anh về ở chung, cung cấp hàng, để anh đứng ra bán riêng trong đường dây của chả tại New York. Muốn làm giàu nhanh, Hiệp đã không từ chối, anh định bụng sẽ cho Vinh Ẹo biết khi có dịp, không ngờ Vinh đã phản ứng trước.

Nhưng.

– Hiệp!

Hai hôm sau, Vinh phone.

– Thôi, anh bỏ qua mọi chuyện…

– Ok!

– Anh có món lớn ở Montreal, 2 anh em mình làm với Thành…

– Thuốc?

– Ngon hơn thuốc! Ðàn em bên đó cho biết có 2 đám cưới của dân giàu, làm trong một đêm, cách nhau 15 phút lái xe… Em tới gặp anh.

10 phút sau, tại nhà hàng Ba Tây, Fogo de Chão, khu Copley.

Vinh khui chai Louis 13, rót 2 ly.

– Uống em!

Cụng ly.

Vinh.

– Mình xơi 2 đám cưới trong một đêm, cả thảy 30 phút, xong vọt ra biên giới về Mỹ, trước khi mọi khai báo xảy ra… Ðám cưới là lúc mấy mẹ mang hết nữ trang đắt tiền vô người để khoe của, mấy ông thì đồng hồ Rolex, Cartier, Patek Philippe, nhận đầy hột xoàn… Vố này tiền triệu cưng ơi!

Hiệp đứng dậy.

– Cám ơn anh! Ðây là trận cuối em làm với anh, vì… Em không muốn cướp nữa, em muốn làm thuốc, đỡ nguy hiểm hơn.

– Em ơi! Cả hai đều án chung thân như nhau!

– Nhưng giết người dễ bị chơi lại! Mất mạng.

– Anh biết!

Vinh cười, đưa cho Hiêp khẩu Walter không số.

Vinh ôm vai Hiệp.

– I love you.

Và cuối mùa Hè, năm 1995, 2 vụ cướp đám cưới ở Montreal, đã tròng đầu Hiệp với cái án 30 năm.

Ra tù năm 2010. Trước lễ Tạ ơn, chính phủ ân xá cho những tù nhân có hạnh kiểm tốt trong thời gian ở tù trên 10 năm.

12 giờ trưa Ngày 26-11-2010, sau khi ăn bữa sáng cuối cùng, chào bạn bè, người cảnh sát đưa Hiệp đi từng bước tới cánh cửa sắt to của nhà tù Trung Tâm Massachusetts.

Ông nói.

– Bên ngoài là tự do, mừng lễ Tạ ơn, mừng ông có lại cuộc đời hạnh phúc với gia đình.

– Cám ơn, Tôi không có gia đình.

Hiệp lẩm bẩm.

Ông cảnh sát nhún vai, mở cửa.

Tuốt bên kia bãi cỏ xanh của nhà tù, ông mục sư già vẫy tay.

– Hello Hiệp!

Hiệp chạy tới, ôm ông ta, anh lặng yên khóc.

Ăn tối xong, ông mục sư rót cho Hiệp ly rượu nho.

– Anh có thể ở đây, cho đến khi tìm được việc làm, chỗ ở.

Hiệp nằm trong cái phòng nhỏ, sau lưng nhà thờ, mỗi ngày nghe cầu kinh, phụ giúp mục sư dọn dẹp, cắt cỏ.

– Con đã trở thành người hiền lương, ngoan đạo, Chúa sẽ giúp con.

Mỗi ngày Hiệp đi xe điện ra Boston tìm việc.

Hai tháng sau.

– Thưa cha! Con có việc làm.

– Con làm gì?

– Ðổ xăng cho trạm Mobil ở Quincy.

– Mừng cho con!

– Cha cho con trả tiền ăn ở.

Ông mục sư cười.

– Khỏi! Cha mong con ở đây luôn, giúp cha, phụ việc Chúa.

Hiệp cúi đầu.

– Dạ! Con còn chuyện phải làm…

-oOo-

1 tháng sau.

7 giờ tối, những chiếc xe hơi đắt tiền, đã đậu kín 2 bên đường của căn biệt thự đối diện bờ biển Quincy. Gian phòng rộng đầy khách mặc đồ hóa trang, lấp lánh mặt nạ đủ màu. Lao xao cười nói, chào hỏi, chúc tụng, cụng ly. Những người phục vụ áo vét đỏ mời khách các món khai vị, trứng cá muối chính gốc Nga, bào ngư Úc, các cô gái đặt xuống tận bàn những ly cognac vàng óng…

Dãy nến giữa bàn tiệc dài được đốt sáng, đèn nhà bỗng tắt, mọi người yên lặng.

Vinh, đúng là Vinh, chủ nhân ngôi biệt thự, trong bộ vét đuôi tôm đỏ, bộ đồ lụa đen bó sát, tay cầm điếu xì gà, tay kia ly cognac, bước từng bước xuống cầu thang, anh dừng lại, đưa cao ly rượu.

– Chúc mừng Giáng sinh! Dzô!

Mọi người.

– Dzô!

Chừng 10 giờ đêm, Vinh kéo tay anh chàng bóng Thái Lan ngồi sát bên lên lầu. Mọi người ăn nhậu tưng bừng.

Anh chàng bóng xô Vinh xuống giường, nó cởi áo, cởi quầnVinh, lấy chai cognac tưới vô hạ bộ, chồm tới…

Chiếc giường lớn rung rinh, căn phòng ngập mùi cognac, tiếng rên rỉ ư ử như nghẹn trong họng…

Vinh và thằng bóng đang mùi mẫn.

Bỗng.

– Ê!

Tiếng la, đèn bật sáng.

Hiệp bước ra từ sau cửa.

Vinh há miệng,

– Ngồi lên!

Thằng bóng Thái Lan cũng há miệng, ngóc đầu từ hạ bộ của Vinh.

– Mầy! Ra khỏi phòng, câm miệng lại.

Thằng bóng chụp lấy áo quần, cúi lạy, ra khỏi phòng.

– Hiệp đây Vinh.

– Mầy cho tao mặc quần.

– Khỏi! Chút xíu nữa tao xài.

– Ủa? Mầy còn muốn xài?

– Ừa!

Hiệp kéo chiếc ghế, lấy chai cognac, rót một ly, uống cái ực.

– Sau 15 năm tù, tao về đây thăm mầy.

Vinh lắp bắp.

– Cám… Cám ơn!

Vinh chống tay.

Hiệp đứng phắt dậy, chĩa khẩu súng Browning nhỏ xíu.

– Ê! Thằng phản bạn, 1 viên này đủ để đầu mầy nát bét…

Vinh gục xuống, ú ớ.

– Hiệp! Tha cho tao.

– Ha ha! Tao là người bạn tốt… Tao sẽ tha tội bán đứng bạn cho mầy.

Hiệp đổ chai Cô Nhắc vô hạ bộ trần truồng của Vinh, rót phần còn lại cho mình.

– Vinh! Cạn ly cho 1 phút của 15 năm

Anh bật chiếc zippo, ném vô, lửa bùng lên…

Vinh la như con heo bị thiến, Hiệp tống một đạp vô mặt chả.

Cũng may, khách khứa báo động, chạy lên phòng, xịt bình chữa lửa, cứu mạng Vinh.

Một tuần sau, đám ăn chơi Việt Nam rỉ tai.

“Vinh Ẹo bị bóng Thái Lan nổi cơn ghen, đốt cháy chim, thành thằng bóng “NO Q,”

…

Hiệp quỳ trước tượng Chúa mang thánh giá, ông mục sư già từ bàn thờ bước tới.

– Cha cám ơn con đã về đây.

Hiệp đứng dậy.

– Con xin được ở lại đây, thờ phượng Chúa.

HĐV

Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 3

Cuộc đi vòng quanh Trại, chúng tôi gặp rất nhiều bạn, mỗi người chào hỏi một câu, cũng mất khá nhiều thời giờ. Tuy cùng sống trong một chu vi hạn hẹp, nhưng thực tế, do sự phân phối bất ngờ, nên khó chiều theo ý muốn. Không ai có quyền lựa chọn cả tốt lẫn xấu. Tất cả đều buông trôi theo định mệnh.

Khu chúng tôi đang ở là khu 4. Toàn Trại có nhiều khu, để giam giữ theo từng cấp. Mỗi khu cách biệt nhau ít nhất 6 lớp kẽm gai. Sự liên hệ giữa khu này, khu khác bị tuyệt đối ngăn cấm. Nơi đây, đúng trại tù, không thể nói khác. Toàn Trại rất ít cây, nếu có, chỉ loại cây thấp vì là vùng đất cát.

Chúng tôi đi loanh quanh đã đến giờ lãnh cơm. Cũng như ở Long Giao, Tổ cắt người trực cơm luân phiên. Cơm nước đại khái cũng như vậy, nhưng ngoài cơm, canh bí đỏ nấu muối, cứ 4 người được chia 1 hộp thịt băm Trung Quốc.

Buổi trưa, nằm trong nhà, nóng không chịu nổi. Nhiều người tìm bóng rợp do dẫy nhà tạo nên, để tránh nắng. Tay người nào cũng cầm chiếc quạt hoặc miếng bìa cứng. Không một ngọn gió thổi qua. Tôi liếc nhìn những khuôn mặt và thân hình ngồi xếp hàng dưới bóng mát. Trên mỗi sắc diện đều lộ vẻ lo âu, mệt mỏi! Thân hình đen đúa do nắng gió tạo nên. Nhiều thân xác mang những vết sẹo nhăn nhúm, có cái sâu hoắm nhăn nheo! Chiến tranh đã để lại những dấu tích trên da thịt và đeo đuổi tới lúc lià đời.

Đôi nạng gỗ lướt qua chỗ tôi ngồi. Tôi nhìn chằm chặp vào người chống nạng. Anh gầy dộc hẳn, nếu không vì đôi nạng, khó nhận ra. Bộ râu mép đè nặng trên cặp môi mỏng, bám chặt như không muốn hé ra. Tôi chắc anh đã hối hận nhiều, vì đã cố tình xin đi cải tạo, trong khi có cơ hội vượt thoát ! Một bài học quá đắt giá. Khi tất cả các con cá đã vào lưới, ai có thì giờ lựa chọn từng con xấu tốt, hơn nữa, Bản Tự Khai đã biến thành bản án, không cách nào hủy bỏ. Nhưng tôi tin, trong thâm tâm anh vẫn ước mơ, Cách Mạng sẽ cứu xét về trường hợp đặc biệt này, sớm cho về! Nhưng anh có biết đâu, con đường cải tạo là con đường không có trạm dừng chân, cũng như không có ga xép! Vì thế, anh vẫn phải lê đôi nạng với chiếc chân què đi qua nhiều Trại Tập Trung từ Nam ra Bắc.

Những tên bộ đội vũ trang vác A.K. đi tuần, dù ban ngày, có lẽ đây là ngày đầu, họ sợ chúng tôi có phản ứng. Ngay sát khu, bên ngoài 3 lớp kẽm gai, có con lộ đất. Con lộ này chạy vòng quanh trại, khá lớn, đủ chỗ cho 2 xe tránh nhau. Phía bên kia, rừng kẽm gai. Nếu trong chúng tôi, có ai đủ can đảm và mưu trí trốn trại, vượt qua được 3 lóp kẽm gai này, rồi bằng cách nào có thể băng qua được rừng kẽm gai kia với bãi mìn chống cá nhân ghim đầy mặt đất? Ngay góc lộ, có vọng gác cao, Cách 500 thước, lại vọng gác, cứ như vậy chạy dài suốt con lộ, khó thoát khỏi tầm quan sát của những tên cảnh vệ gác thường trực suốt ngày đêm.

Trong những ngày đầu, chúng tôi chưa phải làm gì, chỉ ăn và nằm nếu không muốn đi rong. Ánh nắng chiều dịu dần. Tôi nhìn qua rào kẽm gai, mặt trời đã khuất sau đám mây dầy, những tia sáng còn tỏa ra, tạo nên một vùng trời rực rỡ. Cảnh vật im lìm như bức tranh tĩnh vật. Sau khi ăn cơm chiều xong, tôi đứng nhìn hoàng hôn chết dần sau rặng cây phía xa. Có bàn tay đặt nhẹ lên vai, tôi ngoảnh nhìn:

– A, người Hà Thượng, ông ở K mấy?

– K21. Sao, có mạnh không?

– Cũng vậy thôi!

Tôi nhìn Hà Thưọng Nhân, anh vẫn vậy, không thay đổi bao nhiêu, sau những tháng đầu gian khổ. Thấy tôi mặc chiếc áo rách, anh hỏi:

– Không còn áo sao?

– Làm gì còn, mình đâu có chuẩn bị đi tù dài hạn!

– Mai, tôi biếu ông chiếc áo 4 túi, kiểu phóng viên, chịu không?

– Chịu quá! A, khi ở Long Giao, tôi nghe nói, ông có bài “Mưa Long Giao”, anh em thích lắm. Đọc cho nghe đi!

Nhân nhìn tôi cười, nụ cuời nhếch môi quen thuộc.

– Bài này, Vũ Đức Nghiêm đã phổ nhạc. Để tôi bảo Nghiêm hát cho ông nghe thử.

– Tìm Nghiêm bây giờ được không?

– Có gì khó đâu.

Nói xong, Nhân kéo tôi đến tìm Nghiêm. Trước đây, Nghiêm cũng đã sáng tác nhiều ca khúc, nhưng không mấy nổi tiếng. Người ta biết anh nhiều, qua việc giảng dạy sinh ngữ tại Hội Việt Mỹ. Chúng tôi đến, Nghiêm vừa rửa xong chén, muỗng.

Nhân hỏi Nghiêm:

– Rảnh chưa?

– Dạ, rảnh.

– Ông cho ông này nghe bài Mưa Long Giao!

Nghiêm cười, nụ cười rất hồn nhiên.

– Nếu các ông anh muốn.

Nghiêm vào nhà cầm đàn. Chúng tôi kéo nhau tìm một chỗ tương đối vắng người, ngồi xuống.

Tiếng đàn dạo, âm thanh réo rắt làm ấm buổi chiều trong trại tù. Giọng hát nương theo tiếng đàn cất lên:

Trời có điều chi buồn
Mà trời mưa mãi thế
Cây cỏ có chi buồn
Mà cỏ cây đẫm lệ
Mà cỏ cây lệ tuôn!…

Anh nhớ em từng phút
Anh thương con từng giây
Chim nào không có cánh
Cánh nào không thèm bay
Người nào không có lòng
Lòng nào không ngất ngây?…

Gửi làm sao nỗi nhớ
Trao làm sao niềm thương
Nhớ thương như trời đất
Trời đất cũng vô thường
Xưa cánh chim hồng hộc
Vượt chín tầng mây cao

Xưa đi khắp năm châu
Bước chân coi nhỏ hẹp
Bây giờ giữa Long Giao
Ngồi nghe mưa sùi sụt!…
Cuộc đời như chiêm bao
Có hay không nẻo cụt?

Anh châm điếu thuốc lào
Mình say, mình say sao?

Tiếng hát của Nghiêm quấn vào cung bậc nấc nở, nghẹn ngào. Bài thơ đã hay, nhạc của Nghiêm cũng không kém phần súc tích. Sau này, Nghiêm có phổ thêm mấy bài thơ nữa của Hà Thượng Nhân và vài bạn khác. Mỗi bài, được Nghiêm dùng âm thanh đưa vào không khí uất nghẹn, giận hờn, tha thiết tùy theo nội dung mỗi bài thơ. Nhưng nói chung, bài nào cũng hay, âm điệu không giống một ca khúc nào lúc trước, chỉ ở môi trường này, mới có Vũ Đức Nghiêm và những ca khúc bên trong vòng đai kẽm gai tù ngục!

Xung quanh, đã đầy cứng người yêu ca nhạc từ lúc nào. Chúng tôi đứng lên, chia tay ai về nhà nấy.

Ánh sáng đỏ lòm từ ngọn đèn tỏa xuống làm nóng thêm. Liêm, đang ngồi đánh cờ với người bạn. Tôi cầm điếu, kéo một hơi. Khói thuốc làm toàn thân tôi đê mê. Cả đêm qua mất ngủ, tôi thấy muốn nằm. Ngả lưng trên tấm nylon, hơi đất thấm lên lành lạnh. Ở Long Giao, chúng tôi còn có thể tìm được vài mảnh ván để lót lưng, chứ ở đây, chịu chết, không sao kiếm được, dù một mảnh.

Tôi vơ vẩn nghĩ đến ngày mai, một ngày mai mù mịt. Chúng tôi đang di hành trong một đường hầm sâu hoắm, không ánh sáng. Nếu cuộc sống này kéo dài, mỗi đêm hơi đất hút mất nhiều ca-lo, ăn uống thiếu dinh dưỡng, vệ sinh không có, làm sao kéo dài hơi thở? Đã đành, thể lực mỗi con người, cũng như sức chịu đựng có khác nhau, nhưng không phải vô biên! Nằm nghĩ miên man, tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Tiếng kẻng báo thức gõ dồn dập, nghe chát chúạ hơn tiếng kẻng Long Giao. Tôi nhổm dậy chưa kịp rửa mặt, đánh răng, chạy nhanh ra ngoài cổng, xếp hàng đi cầu. Khi tới nơi, đoàn người đã dài lắm, nhưng chiếc cổng chưa mở. Tên cảnh vệ từ vọng gác trên cao, quay mặt nhìn chỗ khác, hình như không để ý đến lũ người đang chờ phía dưới, bụng dạ bồn chồn, mặt mày nhăn nhó!

Những con én chao qua, chao lại như những mũi tên trong không gian vắng lặng. Mặt trời chưa lên. Cảnh vật chìm đắm dưới lớp sương mù. Một tiếng nói cất lên.

– Cán bộ, cho đi cầu!

Tên bộ đội nhòm xuống, gật đầu. Người đứng trước đẩy cánh cổng. Khoảng 20 người đi nhanh ra, băng qua con lộ sang phía bên kia, được quây kỹ bằng những tấm tôn cũ, sét rỉ, nhăn nhúm. Những người còn lại đứng chờ, khi nào có người về, mới qua được.

Chờ độ nửa tiếng, đến lượt, tôi băng nhanh qua lộ. Những con chim én bay lượn tới tấp, đôi lúc tưởng như đụng vào mình, nhưng không, với tốc độ lao nhanh như vậy, chúng tránh né rất tài tình, chẳng những tránh người, chúng còn phải tránh nhiều tấm tôn, ngăn cách các hố cầu nữa. Mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Hàng triệu con ruồi nhặng bay loạn xa. Tiếng vỗ cánh vo vo. Những con én lao xuống để bắt, nhưng không xuể vì nhặng quá nhiều! Tôi bước vô chiếc nhà cầu phía trong. Một bãi phân to ở ngay lối đi. Tôi chửi lầu bầu trong miệng, tên khốn kiếp nào đó sợ bẩn không dám vô trong, đã đi bậy bên ngoài! Tụt quần ngồi nhanh xuống, nhưng chẳng may, vì ăn uống thất thường mấy bữa trước nên bị bón. Tay bịt mũi, tay đuổi nhặng tôi mong chóng thoát. Những con dòi bò lổn nhổn trên miệng hố. Quá khiếp đảm, tôi không dám ngồi lâu hơn nữa, xốc quần đi nhanh vô. Đàn nhặng bay rào rào. Những con én lượn không biết mỏi , sà xuống, vút lên làm tôi hoa mắt.

Nhìn thấy có người vô, một anh chắc chờ lâu, mừng quá, tay ôm quần chạy nhanh ra. Từ trên cao tiếng hét vọng xuống:

– Anh kia, đi vào!

Vừa chạy tới giữa lộ, anh ngẩng mặt nhìn lên:

– Dạ, thưa cán bộ, tôi đi cầu!

– Ai cho ra, khi anh kia chưa qua cổng?

– Dạ xin lỗi, tôi… mót quá!

– Đi vào! – Tiếng lên đạn lách cách.

Anh bẽn lẻn, cùng tôi đi vào với nét mặt thê thảm. Khi vừa đến cổng, anh toan quay lại, nhưng tên cảnh vệ phạt, không cho đi. Nó cho người kế tiếp ra trước. Anh lại ôm quần chờ, mắt nhìn xuống đất.

Về tới nhà, tôi mang chuyện nói với Mậu, Huy và Lâm. Mậu cười khùng khục.

– Đù mẹ, bữa qua tôi cũng bị y như vậy. Gần chết. Chán ghê, chán ghê!

– Đêm trước, chột bụng quá, tôi lấy chiếc que đào lỗ, làm bậy một bãi ngay sát rào kẽm gai, thế mà êm.

Google images

Lâm nói chậm rãi:

– Các ông “đi bậy” chỉ khổ anh em. Bình thường không sao, nhưng khi có mầm bệnh, chết đấy các ông ạ.

– Mấy ông “tu bíp” [Bác sĩ] nguyên tắc lắm. Đời tù còn sợ chó gì, ngay cái chết. – Tôi nói dằn giọng.

Tiếng K. Trưởng cất lên ở đầu nhà:

– Thưa các anh em, hôm nay chúng ta học Nội Quy. Yêu cầu anh em lấy giấy bút ghi theo lời tôi đọc.

Mọi người cắm cúi chép, chừng 30 phút thì xong. Bản Nội Quy gồm 10 điều, toàn những điều bó buộc, bắt các người tù phải cúi đầu chấp nhận. K. Trưởng còn cho biết theo lệnh, mọi người phải học thuộc lòng, mỗi khi cán bộ hỏi, trả lời ngay, nếu không thuộc sẽ bị nghiêm phạt. Vừa ghi xong Nội Quy, anh em lại phải khai báo lý lịch. Sống trong Trại Cải Tạo hay nhà tù Cộng Sản nào cũng vậy, vấn đề khai báo là chuyện thường. Nhưng xin đừng ai coi nhẹ vấn đề này, vì chỉ một sơ xuất nhỏ, trước sau không như một, sẽ bị Cộng Sản truy ngay để từ đó phanh ra nhưng sơ hở khác, nếu có.

Bữa cơm trưa, vẫn như hôm qua, ngoài cơm canh, 4 người lại chia nhau 1 hộp thịt. Nhưng chỉ 1 tuần sau, 8 nguời một hộp, tuần sau nữa 12 người 1 hộp, cho đến cuối tháng, hết thịt, chỉ còn cơm và canh bí, canh su su, đu đủ xanh nấu muối trường kỳ. Mỗi lần nhìn thấy muốn ói!

Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 11 May 20214

Phần 2

Tôi thấm mệt, mọi người chắc cũng vậy, nên bước chân người nào cũng lảo đảo. Từ cổng đi vào nơi ở mới cũng khá xa. Chỗ tối, chỗ sáng, đôi khi phải nhảy qua những rảnh nước, nên càng mất sức.

Chiêc cổng thứ ba còn đóng. Nơi đây, không có người gác. Tên áp tải tiến lên ẩy mạnh.

– Đi vào! – Tiếng ra lệnh khô khan.

Lần lượt, mọi người qua cổng, rồi men theo con đường nhỏ, dọc bên hông dẫy nhà sâu hun hút. Trong những căn đầu, đã có người ở. Tôi liếc nhìn, dưới làn ánh sáng đục ngầu, những thân người cởi trần, mặc quần xà-lỏn, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang trên nền đất. Một vài chiếc đầu bù xù ngó ra vì tò mò.

– Nhanh “nên”!

Tên áp tải giục. Chúng tôi rảo bước. Bỗng có vật gì gieo mạnh phía sau. Tôi quay lại: Huy hụt cẳng, té xuống đường mương. Tôi cúi xuống kéo Huy. Hai ống quần Huy lấm be bét toàn bùn!

Chúng tôi đi qua chừng mười mấy căn nhà đầy người. Căn nào, có người mới đến còn lộn xộn, đồ đạc để ngổn ngang. Tiếng nói chuyện ồn ào như vỡ chợ.

Tên bộ đội cho lệnh dừng lại nơi căn nhà trống. Chúng tôi bước vô. Nó nhíu mày nhìn chúng tôi quăng vật dụng lung tung xuống nền đất.

– Ê, kể từ giờ phút này, các anh ‘nà” tù! Các anh phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của chúng tôi, nếu không sẽ bắn bỏ!

Ngón tay nó để vào cò súng, như có ý bắn thật, nếu có ai phản đối câu nói đó.

Chúng tôi, ai nấy sững người, khi nghe tiếng “tù”!

Đây, lần thứ nhất, người đại diện cho Cách Mạng gọi chúng tôi băng danh từ “tù”. Tên Đại Tá Bình, khi thuyết giảng đã khẳng định: các anh, những cải tạo viên, chứ không phải tù. Nếu là tù, các anh phải được đưa ra Tòa Án xét xử! Đảng và nhà nước khoan hồng, muốn cải tạo các anh từ xấu trở nên tốt, để mai sau thành những người “lương thiện”, có ích cho gia đình, xã hội!

Chúng tôi ngó nhau với ánh măt buồn rầu ! Từ một góc nhà, tiếng Mậu rên khe khẽ: chán ghê, chán ghê! Tên bộ đội đi đi, lại lại giữa căn nhà, liếc nhìn sang hai bên soi mói. Đôi mắt hắn, toát ra thù hận. Có lẽ gia đình hoặc bà con nó đã bị chết về B.52 hay các loại phi cơ “cánh cụp, cánh xòe” những năm trước !

– Mấy anh nằm xích lại, còn để chỗ cho toán khác. Căn nhà này không phải dành riêng cho các anh !

Chúng tôi vội vã thu dọn, gom vào một góc. Căn nhà khá rộng, nó thuộc loại nhà gỗ, vách và mái lợp tôn. Dưới cái nóng buổi trưa miền Nam, phải sống trong kích thước này, làm sao chịu nổi?

Một toán khác bước vô. Cửa hẹp, người nào cũng muốn vô trước để chọn chỗ tốt, nên dòng người ứ đọng. Họ đang tranh nhau vô tù mà không biết.

– Ê, các anh kia, “nàm” gì, xô nhau như đi ăn cướp vậy? Từng người một, đi vào!

Tên bộ đội, hai tay nắm chặt khẩu A.K., chiếc lưỡi lê sáng chói, chĩa thẳng ra phía cửa. Lạ thay, dòng người đang chen lấn như vậy, vì câu nói đó bỗng ngưng hẳn. Từng người lần lượt đi vô dưới cái nhìn khinh mạn của tên bộ đội. Tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn! Những người mới đến cùng cấp bậc với chúng tôi. Anh em nào quen biết từ trước, khe khẽ chào hỏi, sắp xếp chỗ ngủ gần nhau. Dưới làn ánh sáng quá yếu, tôi không nhận diện rõ ai với ai. Vài người thấy tôi, đưa tay chào, tôi đáp lại nhưng không nhớ tên.

Độ nửa tiếng đồng hồ sau, căn nhà đã chật cứng người. Những tấm nylon đủ màu, đủ kích thước trải kín khuôn đất. Trên 100 con người chen chúc trong một chu vi đáng lẽ chỉ chứa được chừng 80 người là tối đa. Đã trên 2 giờ sáng, chỗ ngủ vẫn chưa thu xếp xong. Có tiếng cãi cọ về chỗ rộng, hẹp. Mệt quá, tôi gieo người xuống tâm nylon cũ, do một người bạn cho, trước khi rời Long Giao.

Hơi đất mát lạnh làm tôi thấy dễ chịu. Chắc mọi người đều nghĩ đã gần sáng nên chẳng ai buông mùng. Vài người dễ ngủ đã thở đều, có cả tiếng ngáy. Tôi cũng nhắm mắt, nhưng không tài nào ngủ được. Đàn muỗi bay vo ve bên tai như sáo thổi. Tôi quạt luôn tay bằng tấm bià. Mậu và Phát không còn nằm kế bên, vì chỗ tôi nằm sát cửa ra vào để thoáng hơi. Người nằm cạnh tôi là Liêm, (Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Trực Thăng), cùng B nhưng khác Tổ. Liêm hãy còn trẻ đã mang cấp Trung Tá, vì nhu cầu quân sự. Quân chủng Không Quân, mỗi ngày mỗi bành trưóng, lớn mạnh theo đòi hỏi chiến trường. Trong thời gian chinh chiến, đã bao lần tôi dõi mắt lên vòm trời, nhìn những cánh chim thép bay lưọn chập chùng giữa không gian bát ngát. Nhờ có Không Quân, các chiến sĩ Bộ Binh yên lòng chiến đấu. Đã nhiều lần, những cánh chim thép đã cứu nguy trên chiến trường, đổi bại thành thắng. Các chiến sĩ phi công đều trẻ. Họ sống phóng túng, vì mỗi chuyến bay, mỗi chuyến có ước hẹn với Tử thần! Một viên đạn phòng không, một trái hoả tiễn SA7, hay một bất ngờ nào đó, có thể biến thành chuyến bay vĩnh biệt! Trong đầu tôi, hình ảnh chiếc L119, bốc cháy giữa lưng chừng trời, trưa ngày 30-4-75, chợt sống động. Chiếc máy bay như ngọn đuốc khổng lồ, cháy rừng rực trên cao, từ miệt Phú Lâm lao thẳng về hướng Sàigòn, hạ dần cao độ nghiêng cánh chúi mũi xuống, xuống mãi!… Một tiếng nổ chát chúa vọng đến tai tôi. Thế là hết! Chiếc phi cơ và phi hành đoàn đã tan vào tro bụi!… Nó như điềm báo trước của một thảm họa vô cùng to lớn. Xế trưa ngày 30-4, bộ binh Việt Cộng đã tràn ngập Sàigòn. Các đơn vị Quân Lực Cộng Hòa, có nhiệm vụ bảo vệ Thủ Đô hoàn toàn tan rã. Các chiến sĩ Dù đã cởi bỏ những bộ đồ hoa oai hùng để trở thành người dân bình thường, đi chân đất. Súng ống, quần áo trận, bốt-đờ-sô vứt từng đống trên các ngả đường. Những sợi dây chiến thắng được lũ trẻ con buộc ngang bụng giả làm dây lưng. Những chiếc xanh-tuya-rông, quăng bừa bãi còn ghim đầy lựu đạn tấn công. Những tên Cộng Sản nằm vùng thứ thiệt cũng như giả, tay mang brassard đỏ, cây súng M16, ngồi trên xe jeep có cắm cờ Giải Phóng đi tuần hành trên các ngã phố. Mặt mũi đứa nào cũng vênh váo, đáng ghét ! Những tràng đạn liên thanh được bắn lên trời như để chào mừng chiến thắng. Đoàn T54 chạy ầm ầm giữa đường phố Sàigòn. Vài chiếc xe đạp buộc lủng lẳng bên pháo tháp. Mấy tên Việt Cộng giơ cao khẩu A.K. reo hò điên loạn.

Tất cả, sao đêm nay bỗng sống lại trong tôi, giữa lúc Liêm đã ngủ vùi, tấm mền che kín anh, như chiếc poncho bọc thấy chiến sĩ! Tên bộ đội đã rời căn nhà từ lâu. Nhưng bên ngoài, các tên khác vẫn qua lại rầm rập. Bước chân người đi không ngớt cho tới gần sáng mới êm. Tôi thiếp đi một lúc, khi tỉnh giác, trời hãy còn mờ mờ.

Tôi rít một hơi thuốc, nhưng không dám kéo mạnh sợ tiếng động làm phiền giấc ngủ của anh em. Tuy vậy, khói thuốc ngấm, làm choáng váng. Cố giữ cơn say trong tư thế ngồi, tôi cảm thấy ngây ngất hơn.

Trời sáng dần. Xung quanh vắng lặng. Tôi nhẹ nhàng đứng lên, ra ngoài, không một bóng người. Trước mắt tôi từng từng, lớp lớp kẽm gai. Lớp cao, lớp thấp, những vòng concertina nối nhau thành một vòng xoắn bất tận. Tôi nhìn qua từng lớp kẽm gai, từng dẫy nhà lợp tôn đứng ngang dọc. Vài bóng người qua lại, trông lạc loài buồn bã! Một hồi kẻng vang lên dồn dập. Sau tiếng kẻng, tôi nghe phía trong nhà, đã có tiếng rít thuốc lào cùng tiếng ho sặc sụa. Tôi quay vô. Liêm còn ngủ, cũng như nhiều anh em khác. Những khuôn măt mệt mỏi, bơ phờ, ngáp thật dài vì giấc ngủ chưa đẫy. Tôi cố tìm trên những nét mặt hiện diện sự tinh anh khi trước, nhưng không thấy. Không hiểu sao, mới có vài tháng chịu đựng chưa mấy gian khổ, trước sự đối xử chưa có gì quá đáng của Việt Cộng, sao tinh thần anh em đã quá sa sút? Những chiếc Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng, sao bạc được trao tặng trong thời chiến, đâu phải những miếng vải màu vô giá trị? Đã đành, tổ chức Quân Đội Cộng Hoà có nhiều sơ hở do cảm tình chi phối, nên vấn đề trao tặng loại huy chương cao quý đó, có bị lợi dụng để tranh thăng cấp hàng năm, nhưng không phải tất cả. Có nhiều chiến sĩ rất can đảm, anh dũng, xứng đáng được trao tặng những chiếc huy chương cao qúy đó. Vậy tại sao buổi sáng nay, tôi không nhìn thấy một nét kiêu hùng nào trên những vóc dáng đã từng làm mưa gió trên chiến trường Đồng Xoài, Bình Giả, Plei-me, Quảng Trị, Kontum, An Lộc v.v… Các Công Trường và Sư Đoàn Cộng Sản lẩn lút ở Miền Nam khi trước, đã bị các lực lượng ta giáng cho những đòn chí tử chạy trối chết. Có lẽ, vì mặc cảm thua trận, thất thế, nên tinh thần dễ sa sút! Mỗi ngày mòn mỏi một chút, lâu dần trở thành một khối ù lì… Thật đau đớn cho những ai còn có chút “máu nóng” trong người, còn biết thế nào là uất hận, nhục nhã!

Tên bộ đội đứng ngoài cửa hỏi vọng vào:

– Anh nào “nà” K.Trưởng?

– Dạ, chưa có ai. Anh em mới tới đêm qua, chưa kịp bầu.

– Thế ai “nà” B.Trưởng cũ?

– Thưa, tôi! – Một người đứng lên.

– Tạm thời, tôi chỉ định anh “nàm” K. Trưởng K15. Anh tên gì?

– Dạ, tên Lương!

Tên bộ đội ghi vào cuốn vở.

– Anh “Nương” sáng nay, K anh phụ trách việc nấu cơm cho 5 K khác ăn. 6 K nấu chung một bếp. Cứ “nuân” phiên, mỗi ngày một K. 6 K gồm có: 15, 14, 13, 12, 11 và 10. “Nát” nữa, anh gặp tôi để nhận “nệnh”.

Anh Lương (Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh ở miền Cao Nguyên) người to lớn dềnh dàng. Tôi có biết anh trong chuyến công tác những năm trước.

Mọi người lục tục ngồi dậy. Có nhiều người tôi chưa quen biết tuy cùng cấp. Đó đây tiếng điếu cày rít rèn rẹc. Hầu như tất cả, lúc này đều biết hút thuốc lào. Thuốc lá đắt và cũng bắt đầu hiếm thấy những gói Bastos Luxe và Capstan. Những tên bộ đội từ miền Bắc vô, gọi bao thuốc Bastos Luxe là “Bát-tô luy-xe”, cũng như gọi bao gạo Mỹ là gạo “Ri-xe” vì không đọc được chữ “Rice”! Anh em vì chế nhạo, nên quen miệng cũng gọi thuốc luy-xe và gạo Ri-xe!

Những khớp xương kêu lục cục vì cái vặn mình.

– Đù mẹ, mệt quá ta! Mỗi lần di chuyển, lại một đêm mất ngủ. Cái quân Việt Cộng này sống như ma, chỉ hoạt động ban đêm. Lúc trước, đánh du kích ban đêm, công đồn đả viện cũng ban đêm, hội hè, sinh hoạt, liên hoan cũng ban đêm, cái đéo gì cũng ban đêm, bây giờ chiến thắng rồi, cũng vẫn ban đêm, đếch hiểu nó là cái giống gì?

Tiếng nói lè nhè kéo dài như chế riễu. Tôi nhìn xem ai? Một thân hình mảnh mai, mặc bộ bà ba nâu, gương mặt khắc khổ, bộ râu mép dầy đen nhánh, trông có vẻ đã lăn lộn nhiều với cuộc đời!

Nhiều tiếng cười cất lên.

– Thôi, cha nội, tùy từng lúc nói nhé!

– Sợ cái đéo gì. Trận XX tại vùng 3, tăng của nó tiến đến cửa hầm, tớ còn chả sợ nữa là! còn một viên M72 cuối cùng, cũng thẩy luôn, ai ngờ nó kềnh!

– Xưa khác, nay khác!

Giữa lúc ấy, Mậu sà đến cầm điếu, nhồi thuốc, bật lửa ngữa mặt rít sòng sọc. Vừa buông điếu xuống, Mậu nằm quay lơ ngay giữa lối đi, thở hồng hộc. Nhìn thấy cảnh tượng đó, cả buồng cười hô hố. Mấy phút sau, Mậu hả cơn say, lồm cồm ngồi dậy:

– Say quá ! Sao thuốc của ông sáng nay say dữ vậy? chán ghê, chán ghê!

– Ai bảo nuốt khói? Nghèo mà ham, còn kêu ca nổi gì?

Chờ Mậu tỉnh hẳn, tôi đưa tay chỉ nguời mặc bộ bà ba nâu hỏi xem ai?

– Cái ông nội đó hả? Tiểu Đoàn Trưởng đó! Tiểu Đoàn của hắn được thẩy vào XX trước nhất. Lúc ra khỏi mặt trận, quân số chỉ còn 1/3. Hắn bị thương nát người vẫn không chịu rời bỏ chiến trường. Một cây gan lì. Anh Dũng Bội Tinh xếp đầy một rổ!.

– Tên gì?

Google images

– H. râu! Ngang tàng đếch chịu được!

Tôi nhìn đăm đăm về phía H., trong lòng thầm cảm phục. Nhưng chỉ một thời gian sau, thực tế đã mặc khải cho tôi những gì. Chỉ có sự đụng chạm với quyền lợi mới biết được chân giá trị! Con người khi có quyền lực trong tay, khác xa với con người bị tước đoạt hết, kể cả nhân phẩm trước miếng cơm, khoanh cá! Hoàn cảnh đã tạo cho con người trở thành anh hùng, nhưng hoàn cảnh cũng dìm con người xuống đáy sâu ô nhục tùy theo ý chí của mỗi cá nhân cứng hay mềm!

Lương đi họp từ lúc nào đã về. Anh phổ biến các tin tức mới. Lương ăn nói không lưu loát lắm. Anh nguyên gốc người Nùng thuộc miền Đồng Mỏ – Lạng Sơn. Theo anh em nói lại, anh đi từ Binh nhì lên cấp Trung Tá qua khóa sĩ quan đặc biệt. Anh nói chậm rãi, như cố tìm chữ:

– Theo lệnh của cán bộ, Buồng ta có 4 B: B20, B30, B40 và B50. Các B. Trưởng cũ, nay là Tổ Trưởng. Riêng B20, tôi vừa làm K. Trưởng, kiêm Tổ Trưởng, còn các B khác cứ y lệnh. Nay B20 là Tổ 1, B30 là Tổ 2, B40 là Tổ 3, B50 là Tổ 4. Hôm nay, Tổ 1 phụ trách nấu cơm cho 6 K ăn, Tổ 2 phụ trách lấy củi, kéo nước. Hai Tổ kia lần tới phụ trách. Nhân tiện đây, tôi cũng xin đề nghị, anh Tổ Trưởng Tổ 4, kiêm K. Phó Hậu cần. Anh em ai có ý kiến gì không?

Một phút yên lặng trôi qua, bỗng phía sau có tiếng nói:

– Xin có ý kiến!

Tôi quay nhìn, hóa ra là Định.

– Mời!

– Theo anh K. Trưởng vừa cho biết, Tổ 1 phụ trách nấu cơm, có nghĩa là lo cả vấn đề lấy gạo, làm rau v.v… Bữa đó có món gì phải làm hết, đúng không ạ?

– Đúng!

– Còn Tổ 2 chỉ lo lấy củi, kéo nước, nhưng còn vấn đề chẻ củi ai lo?

– Lẽ dĩ nhiên, Tổ 2.

Có tiếng xì xầm quanh quất đâu đây:

– Ấm ớ bỏ cha. Dẹp! Mất thì giờ!

Buổi hội thứ nhất tan trong một không khí tẻ nhạt. Tiếng điếu cày lại rít ròn rã. Nhiều người túa ra ngoài. Vài người cẩn thận loay hoay tổ chức lại chỗ ngủ, nơi máng đồ sao cho gọn gàng, dễ coi!

Tôi cũng ra ngoài. Ở đây, mỗi gian nhà cách nhau khoảng 8 thước. Không có đường sá gì hết. Chỉ có hai lối đi hẹp ở hai bên nách nhà, chỗ rộng chỗ hẹp, rất khó khăn khi cần phải chuyển vận đồ vật nào cồng kềnh. Đến bên lối đi hẹp, tôi vô cùng ngạc nhiên, không hiểu sao, đêm qua mình có thể đi môt cách an toàn qua bao nhiêu chỗ lồi lõm khúc khuỷu? Nếu Huy có té mương, cũng không có gì lạ! Chiếc mương đầy bùn đen, đặc sệt trông dễ sợ! Tôi cũng chẳng hiểu, đêm qua Huy có ngủ được với đôi chân hôi mùi bùn? Tôi tìm chỗ lấy nước rửa mặt, đánh răng, nhưng xung quanh chỉ toàn kẽm gai. Câu nói của tên Việt Cộng đeo quân hàm Thượng Sĩ chiều qua hoàn toàn láo khoét. Ở đây không có chút tiện nghi nào hết, ngay cả cái coóng đựng nước! Xã Hội Cộng Sản, một xã hội chuyên nói dối, chuyên đánh lừa, càng lừa được nhiều càng tốt, ngay cả chuyện Miền Nam thua trận, cũng một phần do sự đánh lừa xảo quyệt mà thành! Tay cầm khăn mặt, tay cầm bàn chải, tôi cứ đi ngược lên, men theo vách nhà, bỗng nhìn thấy Cung, từ ngoài đi vô, mặt mày sáng sủa.

– Ê, cậu. Rửa mặt chỗ nào?

– Ông đi thẳng hết dẫy nhà, quẹo trái có giếng nước, tha hồ rửa!

Tôi hấp tấp đi theo hướng chỉ. Qua hết dẫy nhà, đến chiếc sân nhỏ. Tôi thấy dòng người đang như kiểu trẻ con chơi rồng rắn, trước một cánh cổng chưa mở. Tôi nhớ, hồi đêm tôi đã vào bằng chiếc cổng này. Tôi chẳng hiểu họ chờ đợi gì, đông dữ vậy. Từ trên vọng gác cao, tên cảnh vệ ôm súng A.K. gườm gườm nhìn xuống. Vì cần rửa mặt, đánh răng, tôi đi vội ra phía giếng. Hàng trăm con người đang bu tròn chen lấn, tiếng sắt chạm nhau cùng tiếng cãi lộn, chửi thề văng tục tùm lum. Vài người đang súc miệng đánh răng bằng chiếc bình nhựa 2 lít, đựng nước mắm. Người nào cũng cởi trần trùng trục. Mỗi phút số người đến giếng mỗi đông. Tay người nào cũng cầm bình nước mắm và sợi dây dài. Tôi thầm phục, họ đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh và có dự phòng bất trắc. Tôi không có vật gì trong tay nên đành đứng ngó. Giữa lúc ấy, bỗng thấy Huy từ trong đám đông lách ra, tay xách bình nước. Tôi chạy lại:

– Ông ơi, cho xin chút nước đánh răng, rửa mặt. Cái thằng bộ đội già hồi hôm nó bắt tụi mình để lại các thùng đạn vì chỗ sắp đến có đầy đủ tiện nghi. Tiên sư cha nó, lại nói dối!…

Huy cười khục khục:

– Nghe Cộng Sản có mà bỏ mẹ. Tôi thủ bình nước cho chắc ăn. Nếu dư vứt đi, khi cần, có ngay.

– Tối qua, sao ông ngủ được với đôi chân bê bết bùn?

– Quá mệt, lăn kềnh ra, ngủ ngay. Sáng nay mới rửa được đấy. Chen vô lấy được thùng nước, cả một kỳ công. Giếng bé bằng lỗ mũi, cả trăm người bu vô. Ai cũng thả gầu xuống. Lúc kéo lên vướng dây, gỡ ra, cũng mất cả mươi phút. Vất vả lắm ông ơi! Gần 2,000 con người chỉ có chiếc giếng nhỏ này. Còn chiếc nữa, ở phía sau, chỉ dùng cho việc nấu cơm! Giếng này tuy nhỏ, nhưng cũng khá sâu đó ông!

Vì lòng tốt, Huy để tôi xử dụng bình nước. Chiếc khăn mặt ướt sũng đưa lên. Hơi nước mát lạnh làm tôi thấy khoan khoái. Tôi cứ muốn áp nó luôn trên mặt, nếu bình nước này thuộc về riêng tôi. Nhưng Huy đứng chờ đó, tôi phải làm vội vàng và không dám xử dụng hết chỗ nươc. Có lẽ, thấu rõ tâm trạng tôi, Huy nói :

– Ông cứ dùng hết nước đi, tôi lấy bình khác!

Tôi ngỏ lời cảm ơn Huy, rồi cho tay vén quần, cầm bình nước xối từ đùi xuống. Đôi chân đầy bụi đất được rửa sạch, sự sung sướng tăng lên. A, thế ra ở đời, nhiều khi một bình nước cũng làm nên hạnh phúc! Tôi đưa tay chỏ ra phía cổng, hỏi Huy:

– Họ đứng chờ gì, đông thế ông?

– Chờ đi ỉa. Từ 5 giờ sáng đã có người chờ rồi! Sáng nay, tôi mót gần chết, cố nhịn vì thấy dòng người đông quá, chả biết đến bao giờ tới lượt mình?

– Thế nhỡ chột bụng, Tào Tháo đuổi thì sao?

– Ai biết, mình sẽ tìm hiểu sau. Bây giờ hãy biết đến đó thôi!.

Tôi quay về lối cũ. Dòng người chờ lúc nãy đã ngắn bớt. Dưới ánh nắng gay gắt của buổi sáng, mặt mũi người nào cũng nhăn nhó như khỉ ăn ớt. Trước khi trở về, tôi ném cái nhìn trải rộng qua những lớp kẽm gai. Phía xa kia, ruộng đồng bát ngát. Mấy con bò màu vàng ung dung gặm cỏ. Sắc lông của chúng trở nên rực rỡ dưới ánh mặt trời. Tự nhiên tôi muốn được chạy nhảy trên cánh đồng phía trước, tôi muốn được nhìn ngắm tất cả những gì mình ưa thích, nhưng chiếc tháp canh cao ngất và những vòng kẽm gai đã bắt tôi phải chấp nhận thực tế, tức là tôi đang bị giam cầm ! Tôi cúi mặt đi từng bước hờ hững.

Về đến nơi ở, Liêm đã dậy. Hai mắt hắn sưng húp vì ngủ nhiều. Lúc này đã gần 9 giờ sáng, những bao gạo “Ri-xe” được vác lên vai chạy ào ào xuống nhà bếp. Những gánh củi cao su mới bổ, màu vàng tươi, được khiêng bằng chiếc đòn to, tới tấp đi ngang qua trước mặt tôi. Những bước chân dồn dập như không bao giờ ngưng làm không khí nơi đây sinh động chứ không trầm trầm như ở Long Giao.

– Đánh răng, rửa mặt ở đâu ông? – Liêm hỏi.

– Xa lắm, tận ngoài giếng, nhưng ông có gầu không?

– Không!

– Vậy ông cứ nằm ngủ đi!

Nghe tôi nói vậy, Liêm nhổm dậy, tay cầm khăn đi ra cửa. Từ lúc nào, Mậu đã đứng bên tôi, mặt mày tươi tắn, đầu tóc chải tử tế. Tôi hỏi Mậu, lấy đâu ra nước?

– Có khó gì, tôi xuống giếng sau, kéo hộ nhà bếp mấy thùng, xong mình có quyền xin một thùng riêng. Hồi nãy, tìm khôngg ra ông, nên đi một mình, chán ghê, chán ghê!

– Ông đi thăm Trại cho biết sự tình chưa?

– Tôi định rủ ông cùng đi cho vui đây. Kéo một “bi”rồi đi !

Mậu nhồi thuốc vào điếu, mồi lửa, kéomột hơi dài. Làn khói đùng đục tỏa mùi ngát đậm. Trả điếu vào chỗ cũ, Mậu đứng lên. Chúng tôi cùng đi ra.

– Đù mẹ, nhiều kẽm gai quá ta! Chỗ này, ông biết trước kia là Trại gì không? – Mậu hỏi.

– Không.

– Chỗ này, lúc trước, mình giam tụi nó, nay nó giam lại!

Tôi cãi:

– Ai bảo ông vậy? Mình giam tụi nó ở đảo Phú Quốc cơ mà. Tôi đã đi công tác cả tháng ở đấy!

– Ông không biết, đừng có làm tàng. Sớm nay ở giếng, tôi gặp tên Chung, Trung Tá Công Binh. Hắn nói, chính đơn vị của hắn xây cất Trại này để tạm giam tù binh Cộng Sản trước khi trao đổi theo Hiệp Định Paris! Hắn, cho biết, khi xây cất, tất cả mọi nhà đều có sập gỗ để nằm, nay tụi Cộng Sản đã gỡ hết, bắt mình nằm đất có đau không? Đây là Suối Máu, thuộc Tân Hiệp, Biên Hòa.

– Sao nhiều kẽm gai vậy?

– Mình lúc trước, thiếu chó gì kẽm gai. Đối với tụi Cộng Sản, quây kỹ chừng nào tốt chừng nấy. Nếu sơ suất, nó đào hầm trốn thoát, mình tù thay nó. Bên ngoài còn chôn mìn đó ông!

– Cộng Sản đểu ghê! Nó trả thù kiểu này đau hơn đánh. Thế là hết mơ ước Sóng Thần và lễ mãn khóa. Những đứa ngây thơ không biết giờ này đã mở mắt ra chưa?

– Ông thông cảm, lúc khổ và thất vọng quá, ông cũng cho phép anh em có chút hy vọng chứ? Nếu không thế, làm sao sống? Có phải ai cũng có can đảm tự tử đâu. Tôi phục mấy ông Tướng đã dám bắn Colt vào đầu để khỏi bị ô nhục như Tướng Hai, Tướng Hưng, Tướng Vỹ Sư Đoàn 5, Tướng Nam, Tướng Phú dù ông Tướng này quả thực bất tài!…

Chúng tôi tới khu nhà bếp. Mọi người làm việc nhộn nhịp. Các miệng lò đều đỏ rực ! Người phụ trách nấu cơm đang đứng dạng chân trên mặt bếp, dùng chiếc xẻng to đảo cơm. Mùi cơm thơm phức tỏa ra làm tôi thấy đói. Xung quanh giếng nước cũng bu đầy nguồi. Chiếc guồng quay liên tục. Nước quay lên được đổ vào những chiếc chảo to, dùng cho việc nấu nướng.

– Cho xin một thùng anh!

– Đi chỗ khác chơi. Cơm nước nấu chưa xong, trễ cha nó giờ rồi!

Người xin bẽn lẻn lảng xa, tay cầm chiếc xô sét rỉ, trong đựng mấy chiếc áo quần.

Chúng tôi đi vòng qua giếng, xuống mấy căn nhà phía cuối.

– Ông ơi, vô chơi!

Tôi nhìn về phía tiếng gọi. A, Hưng, người bạn cùng ngành. Trong thời gian trước đây, vì hăng say trong công tác, Hưng bị anh em cùng ngành ngộ nhận, xuyên tạc: Tên Cộng Sản Nằm Vùng! Ông Tướng, Tổng Cục Trưởng, tuy quý mến khả năng và đạo đức của Hưng, nhưng vì dè dặt, không dám trao cho những chức vụ xứng đáng. Có một thời gian, tôi làm việc dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Hưng. Trong những ngày đầu, tôi cũng rất khó chịu về lề lối làm việc hùng hục và sự kiểm soát quá nghiêm khắc, nhưng lâu dần, thông cảm nhau qua công việc, tôi và Hưng trở nên đôi bạn chí thiết. Hưng thường quan niệm: muốn chiến thắng Cộng Sản phải làm việc bằng 2 Cộng Sản, mà sĩ quan chúng ta lại lè phè quá ! Cấp dưới họ có làm việc hay không do cấp trên. Nghệ thuật chỉ huy đã thay đổi, thay vì: En avant, nay là Suivez – moi! Tất cả ngộ nhận, nay đã được chứng minh, Hưng cũng đi tù như mọi người, trong khi đang bị bệnh phổi nặng.

Tôi nói:

– Hồi ở Long Giao, nghe tin ông ở Khu B, không có dịp qua thăm nhau được!

Hưng cười, nụ cười buồn nở trên khuôn mặt gầy guộc!

– Mình còn gặp nhau phút này, quý rồi! Sao, gia đình bình an không?

Chúng tôi nói chuyện chưa đâu vào đâu, Mậu đã kéo đi:

– Lẹ lên ông, trưa đến nơi rồi.

Tôi nắm chặt tay Hưng, hẹn sẽ lại thăm sau. Ở đây, ngày rộng tháng dài mà!

Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Phần 1

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 1

Bây giờ cuối mùa mưa. Vòm trời vẫn cao dù đã chạng vạng tối. Từng cơn gió thổi nhè nhẹ, mơn man. Cảnh vật xung quanh vẫn vậy. Những mầu sắc chìm dần vào vắng lặng. Tôi quay mặt nhìn về căn nhà, nơi đã sống hơn 5 tháng, đã chịu đựng bao nhiêu vui buồn trong suốt thời gian trú ngụ. Sự thực, trong đời, không bao giờ tôi có thể ước tính được, vùng đất đỏ này có một thời gian tôi phải góp mặt, dù cho sự góp mặt này không mấy thích thú. Tôi đã sống, đã ăn, đã ở, đã trằn trọc từng đêm, đã hối hả từng ngày trong kích thước hạn định, để trải dài quá khứ trên những mũi nhọn do kẻ thù giăng mắc ! Những giọt nước mắt và những giọt máu tuy không nhìn thấy, tuy không thấm qua da thịt, nhưng đích thực nó âm ỉ, chảy len lén rỉ ngầm dưới mọi hình thức, có thể trong đêm khuya, có thể ở nơi nào không có bóng người, chỉ riêng mình với hổ thẹn!

Hàng chục ngàn con người hiện diện nơi đây, hàng chục ngàn trái tim và khối óc đã suy nghĩ gì, cảm nhận gì, trong suốt khoảng thời gian vừa qua, tuy không dài và bao quát, nhưng sao nó chứa chất muôn vạn ưu phiền ? Con người, một khi mất đi chí hướng, không còn ham muốn, ganh đua, tức con người đã hoàn toàn thất bại ! Cái vùng trời vinh quang nào đó, bây giờ trở thành một khối âm u, nhức nhối trong mỗi suy nghĩ về nó. Nhưng muốn phủ nhận nó, không phải chuyện đơn giản. Nó là chứng tích, là ung nhọt, nó quấn quít đeo đuổi, ám ảnh mình còn lâu, có lẽ, đến giây phút nào vắng mặt!

Căn nhà tôi ở, phía xa kia, mầu xám của mái tôn ẩn hiện lờ mờ. Nó bé bỏng, nhỏ nhoi, lạc lõng giữa khu vực rộng rinh đang chìm dần vào bóng tối. Những ngọn đèn đã bật sáng. Ánh lửa đỏ lòm thấp thoáng đó đây, sao giờ này nó trở thành buồn thảm? Vài bóng người qua lại, không làm cảnh vật thêm sinh động. Tôi nhìn xoáy vào nó, ghi lại lần cuối, hình ảnh đó để mong giữ lại trong tôi chút gì để nhớ, để quên ! Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xẩy ra, đã khắc sâu vào tâm cảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận ! Cũng như mai đây, tôi sẽ phải quên đi từng nỗi nhục nhằn đã gánh chịu trong suốt hơn 100 ngày mưa nắng giữa vùng đất đỏ, rừng cao su vây lút bốn bề !…

Chúng tôi, những kẻ bại trận, lẽ dĩ nhiên phải hứng chịu hậu quả tất nhiên. Nhưng sức chịu đựng của con người có hạn, chắc gì tất cả mọi người có mặt nơi đây, hay ở một nơi nào khác, đều có thể kinh qua được mọi khó khăn, trở ngại mà kẻ thù đã cố tình buộc mỗi cá nhân phải cúi đầu chấp nhận, như đã chấp nhận tội lỗi quá khứ của mình!

Những chiếc Molotova, lát nữa sẽ đưa chúng tôi đến nơi nào chưa đoán biết. Có thể, căn cứ Sóng Thần, có thể địa điểm khac ngoài dự tưởng!

Hơn 100 ngày qua, chúng tôi đã ước đoán nhiều, nhưng tất cả đều sai! Chúng tôi quá ngây thơ trước một kẻ thù quá xảo quyệt. Chúng tôi như đàn cừu trước lũ sói. Họ muốn đưa chúng tôi đi ngả nào tùy họ, kể cả vấn đề sống, chết. Theo Thông Cáo, giấy trắng mực đen, một tháng học tập cải tạo, đã bị Cộng Sản bội tín. Cũng nhờ vào sự bộị tín đó, nên một số trong chúng tôi đã nhìn rõ thực tế. Sự tin tưởng vào đường lối, chính sách cũng bớt đi phần nào, nhưng không phải vì thế, tất cả đều suy nghĩ và hành động như nhau để tạo thành lực lượng, có sức mạnh đoàn kết đấu tranh với kẻ thù trong mọi trường hợp bất lợi cho tập thể!.

Trong thời gian tại ngũ, tôi có dịp đi công tác tại Phú Quốc! Những ngày sống ở đảo, tôi đã được nhìn, được nghe về mọi sinh hoạt của các tù binh Cộng Sản. Sĩ quan có khu riêng, Hạ sĩ quan và Binh sĩ có khu riêng, nhưng khu nào cũng có sập gỗ và chiếu, mền tử tế, nơi nằm rộng rãi, khoảng khoát chứ không như Cộng Sản nhốt chúng tôi, bắt nằm đất, không cho manh chiếu. Sự sinh hoạt của Cộng Sản trong trại giam, tương đối thoải mái. Ngoài giờ lao động bắt buộc, họ có thể làm mọi công việc riêng tư theo ý thích. Mỗi tối, họ lén lút sinh hoạt chính trị để xây dựng lẫn nhau. Những “phần tử trung kiên của Đảng” vận dụng mọi hình thức để tuyên truyền, lôi kéo phần tử nào xét thấy tinh thần đấu tranh đã chao đảo ! Mọi hình thức nghiêm khắc được áp dụng triệt để, nhiều khi đến đổ máu ! Tôi cũng biết, trong giai đoạn ấy, họ dám đấu tranh tích cực vì đang thời chiến, sau lưng họ còn có lực lượng vũ trang cũng như chính trị yểm trợ. Ngày nào đó, cuộc chiến chấm dứt, họ còn hy vọng quay về hàng ngũ qua hình thức trao đổi tù binh.

Còn chúng tôi hiện nay, phía trước cũng như phía sau trống trơn, không có, không còn gì cả. Chúng tôi, một lũ người mất đất đứng ! Người nào cũng lo “thử” làm sao có thể tạo thành lực lượng đấu tranh hữu hiệu ?

Bóng tối đã hoàn toàn xóa mờ cảnh vật. Vì sự chờ đợi quá lâu, mọi người đều phải ngồi trên túi hành trang của mình cho đỡ mỏi. Việt cộng luôn luôn dùng đêm tối để thi hành mọi thủ đoạn, từ chính trị đến quân sự. Ai nghĩ gì cứ nghĩ, riêng tôi, không bao giờ tin việc di chuyển này có lợi cho chúng tôi.

Mấy tên bộ đội vác súng đi kiểm tra từng chiếc xe. Cũng như lần đưa chúng tôi từ Don Bosco tới đây, đoàn xe che bạt kín mít. Trong bóng tối, không nhận rõ mặt nhau, nhưng tôi chắc mọi người đều cảm thấy lo âu hơn vui mừng, ngay cả những ai lạc quan nhất. Trong trường hợp, nếu họ định thả chúng tôi sau hơn 5 tháng laọ động, học tập, khai báo tại Long Giao, họ phải đối xử cách khác. Xe họ không cần che bạt, vấn đề áp tải đâu cần đến nhiều súng ống như vậy ? Vẫn cái không khí ngột ngạt, tức thở. Vẫn những khuôn mặt lầm lì đầy bí mật. Tất cả như biểu lộ sự đe dọa và sẵn sàng dùng bạo lực nếu cần.

Mậu ghé tai tôi, nói nhỏ :

– Ông ơi, có chắc sẽ Sóng Thần không?

– Bố ai biết được. Tôi nghĩ, không dễ dàng đâu!

– Thế họ đưa tụi mình đi đâu?

– Ông hỏi thẳng họ, tôi biết gì!…

– Đù mẹ, chán ghê, chán ghê!

Thấy tôi và Mậu thì thầm, Lâm tưởng có tin gì quan trọng tiến đến:

– Có gì vui không?

– Còn lâu mới vui! – Tôi gằn tiếng.

– Ông là chúa bi quan! Học tập như vậy, quá đủ rồi, ông nghĩ coi, còn gì để học, để khai báo. Về lao động, tụi mình đã lao động, nào làm cỏ, nào chữa nhà, nào làm đường, chả nhẽ họ còn bắt đạp xích-lô nữa chắc ?

Không muốn câu chuyện biến thành cuộc tranh luận tại nơi đây, sợ tụi bộ đội chú ý, tôi lảng qua chuyện khác.

– Nè, bạn Lâm, khi được tha về, ông còn mở phòng mạch nữa không?

– Ô, cái đó, tùy hoàn cảnh. Nhưng nghe nói, ngoài Bắc, mọi Bác sĩ đều phải làm việc cho nhà nước, không có quyền mở phòng mạch tư. Thôi đổi đời rồi, ai sao mình vậy!

– Ông lo gì, sau mấy chục năm làm ăn, vốn liếng cũng khá rồi, chẳng làm cũng sống, phải không ông?

Lâm không trả lời vào câu hỏi, lái câu chuyện sang ý khác.

– Làm với nhà nước, nghe nói, có cái lợi được ăn gạo hộ khẩu, thực phẩm được phân phối đồng đều, các nhu yêú phẩm cũng vậy. Như thế, đâu có cần lương nhiều.

Tự nhiên, Mậu nói đâm ngang:

– Cái cứt khô! chờ đấy mà phân phối đều. Khi mới giải phóng cái ông người Bắc ở sát nhà tôi, có tên cán bộ họ hàng vào công tác ghé thăm nói, lương thực và thực phẩm được phân phối theo từng cấp Đảng viên. Lớn hưởng nhiều, nhỏ hưởng ít, còn nhân dân thì ngáp dài! Chán ghê, chán ghê! Ông bác sĩ này ngây thơ bỏ mẹ!

Lâm không trả lời, lôi trong túi ra bao thuốc, mời hút. Ánh lửa loé lên một giây rồi tắt ngấm. Những làn khói toả ra, tan nhanh theo chiều gió.

Google images

Chúng tôi vừa rít mỗi người được vài hơi thuốc, bỗng hồi còi rúc từ xa vọng lại.

– Cho tất cả đồ “nên” xe, người “nên” sau. – Tên cán bộ quản giáo cho lệnh.

Những túi hành trang được quăng đại vào lòng xe, nhưng chẳng ai chịu lên, vì rút kinh nghiệm lần trước, càng vào sâu càng nghẹt thở.

– Anh này, chờ gì, chưa chịu “neo nên”? còn anh kia nữa, sao đứng ì ra vậy? mau “nên” xe chạy tới nơi rồi.

Tên quản giáo la hét lần cuối, trước khi trao quyền cho người khác.

Biết rằng, có chùng chình cũng vô ích, anh em bắt đầu leo lên. Tôi bị đẩy sát vào thành xe.

Một tiếng nói cất lên giữa bóng tối.

– Thưa cán bộ cho đi tiểu!

– Ngồi chán chê không đi, lúc xe gần chạy “nại nôi” thôi. “Neo nên!”

Tên quản giáo gắt. Một bóng người bíu vào thành xe leo vội vã.

Lòng xe chật cứng. Tên bộ đội vũ trang áp tải đeo A.K. trên vai, môi ngậm điếu thuốc phì phèo còn đứng dưới.

– Ê, mấy anh xích vào trong, “nấy” chỗ tôi ngồi.

Tấm sắt hậu được nâng lên, khóa chặt. Tên bộ đội cho tay lay lay, tiếng sắt chạm nhau ken két.

Mồm vẫn ngậm cứng mẩu thuốc, tên bộ đội bám vào tấm sắt hậu, đu người lên. Sau khi ngồi yên chỗ, hắn tháo dây súng từ vai xuống, kẹp chặt khẩu A.K. giữa hai bắp đùi. Tiếng máy xe bắt đầu nổ. Khi xe vừa lăn bánh, hắn cho tay kéo tấm bạt xuống. Cũng may, tấm bạt này bị rách một mảng khá lớn, nên dù bỏ xuống, chúng tôi vẫn có thể nhìn thấy bên ngoài. Vài ánh đèn pin quét nhanh vào bóng tối. Tôi cố gắng thu nhỏ mình lại, nhưng vẫn chật, có phần chật hơn chuyến di chuyển trước. Không ai có thể nhúc nhích, dù xoay trở cho đỡ tức tay chân.

Chiếc xe giật mạnh, chồm tới phía trước. Bánh xe nghiến trên con lộ đá xào xạo. Chính con lộ này, các cải tạo viên đã đổ nhiều công sức lao động mới tạo thành. Con lộ, anh em ước mơ dành cho quan khách thăm viếng trước ngày lễ mãn khóa, giờ này thực tế đã chứng minh.

Đoàn xe lần lượt qua cổng. Một khối bụi đỏ khổng lồ bốc lên qua ánh đèn pha trông dễ sợ. Mọi người cho tay bịt miệng, nhưng cơn lốc bụi đỏ kéo dài làm khó thở. Tôi nhắm nghiền mắt. Con lộ quá xấu, chiếc xe nghiêng ngã, chồm lên, tụt xuống. Bị nhồi quá mạnh, gan ruột tôi cồn cào khó chịu. Nhưng khoảng mười phút sau, xe ra tới đường nhựa. Chiếc xe trôi êm với tốc độ trung bình. Tôi mở mắt nhìn. Từ phía sau, khối bụi đỏ kéo dài cả mấy cây số đang cuồn cuộn tung lên cao, đám bụi máu.

– Ai ngồi ngoài, nhìn xem xe chạy hướng nào. Quẹo trái hay phải?

– Quẹo trái đó ông.

– Nếu vậy, hướng Sàigòn rồi. Có thể đến căn cứ Sóng Thần đấy.

Tôi không nói gì, nhìn ánh đèn xe mờ mờ trải dài mút tầm mắt. Tên bộ đội vũ trang quay mặt ra phía ngoài tấm bạt, không để ý đến chúng tôi. Trong đêm tối, tôi cũng chẳng nhận diện được hắn ra sao. Đoàn xe chạy miết, thỉnh thoảng lướt qua một dẫy phố buồn hiu dọc theo lộ chính, những ánh đèn mờ nhạt chiếu ra từ các quán hàng. Tôi nhìn, trong lòng thấy vướng mắc. Tuy không định rõ được địa điểm mình đã đi qua là đâu, vì đêm qua tối, xe lại chạy nhanh và khoảng rộng cần thiết cho tầm mắt không có, nhưng tôi cũng cảm thấy cảnh tượng đó như gần gũi với mình trong quá khứ.

Cách đây mấy tháng, tất cả những gì Việt cộng có trong tay hôm nay là của chúng tôi, của người dân Miền Nam, chỉ vì một tính toán sai lầm, làm mất tất cả !

Đoàn xe lăn đều bánh giữa đêm tối mù mịt. Bên ngoài tối om nên không phân định được, cây cối hay xóm làng?

Vì nhờ có miếng rách của chiếc bạt nên trong xe có nhiều không khí. Tôi thấy thèm thuốc quá. Giá lúc này có được thuốc lào để kéo, chắc khoái lặm. Tuy đã cố gắng chịu đựng cơn thèm, nhưng ý nghĩ về cái khoái cảm của khói thuốc làm tôi thấy khó chịu. Sau không dằn được, tôi hỏi:

– Ông Lâm ơi! còn thuốc cho xin một điếu. Thèm quá trời, không chịu nổi.

– Điếu của ông đâu?

– Điếu đã đổ hết nước từ chiều, cất kỹ rồi!

– Ráng chịu! Ngồi kẹt cứng sao lấy được?

Tôi cố nài nỉ:

– Ông ơi, thương nhau chút mà!

Một vài tiếng càu nhàu nổi lên, phản đối Lâm.

– Thuốc đây, vì ông, anh em la dữ quá!

Tôi cầm chặt điếu thuốc đã bẹp rúm, quăn queo trong tay, đưa lên môi. Ánh lửa bùng lên. Tôi rít một hơi dài, thật dài. Khói thuốc vô đầy lồng ngực. Vì không còn hoàn cảnh hút thuốc lào, nên phải hút đỡ thuốc lá, tuy nhiên, giữa lúc này bất cứ thứ khói nào đối với tôi cũng có giá trị. Tôi thầm cám ơn Lâm. Vừa kéo được vài hơi, có bàn tay đạp nhẹ vào vai:

– Cho xin một hơi, ông! Chán ghê, chán ghê!

Tôi đưa thuốc cho Mậu. Trong bóng tối, tôi nhìn đầu điếu thuốc đỏ liên tục. Khi Mậu đưa trả lại tôi, điếu thuốc chỉ còn mẩu cuối!

– Ông hút hết đi, trả lại làm gì? Vừa xin được điếu thuốc, mới kéo được một, hai hơi, ông đã làm hết. Như vậy chơi với ai?

Mậu cười khục khục:

– Tôi thèm, cũng như ông thèm. Khi nào xuống xe, tha hồ hút, tôi mời ông cả bao!

Không trả lời, tôi rít hơi thuốc cuối, rồi quăng nhanh ra ngoài vì hơi nóng đã bén vào ngón tay. Tôi ngậm chặt miệng không cho sợi khói nào thoát ra.

Có tiếng nói, cất lên:

– Gần tới Biên Hoà rồi đó, mấy ông!

– Sao biết?

– Quê tôi mà! Căn cứ Sóng Thần là cái chắc!

Không ai nói thêm câu nào. Mọi người hình như đang sống với suy nghĩ của riêng mình. Có thể, trong số anh em có mặt giữa lòng xe chật chội này, nhiều người vẫn hy vọng dù cho hy vọng chen lẫn lo âu ! Vì không ước đoán được dự tính của Cộng Sản , nên luôn luôn chúng tôi sống trong trạng thái chập chờn, không dám khẳng định gì, trước khi sự thực đã phơi bày trước mắt. Chúng tôi đã sống như vậy hơn 5 tháng trời, nên nếu có ai nêu lên những hình ảnh dù lạc quan, dù bi quan, thái độ của hầu hết vẫn là chờ xem ! Nếu quả thực, đoàn xe đi về căn cứ Sóng Thần, đó là điều may mắn. Tôi không hoàn toàn phủ nhận niềm tin đó, nhưng sao trong lòng vẫn dâng lên nỗi hoài nghi, giống như cây nến nhỏ đặt trước cơn bão !

Đoàn xe đang chạy ngon trớn, bỗng đổi tốc độ, chạy chậm lại, quẹo vô con lộ đất, tương đối hẹp.

– Chết cha rồi! – Một tiếng kêu nhỏ thốt lên.

Tôi choài người, thò hẳn đầu ra ngoài, qua khoảng bạt rách. Đoàn xe dừng lại. Tên bộ đội áp tải lao mình khỏi lòng xe. Tôi nhìn thấy những mái tôn thấp thoáng sau dẫy đèn đục ngầu hiu hắt. Từng chiếc một, từ từ lăn bánh qua chiếc cổng sắt mở rộng. Những khẩu A.K. cầm ngang ở tư thế tác chiến. Ngay đầu cổng, một bên có vọng gác, một bên đặt ổ đại liên, chĩa nòng về phía đoàn xe.

– Ông nào quê Biên Hòa đâu? Đây là nơi nào?

Không có tiếng trả lời. Trong lòng xe như chứa toàn xác chết! Mậu cũng nhoài người, vén cao chiếc bạt, đưa mắt nhìn quanh quất.

– Chết cha rồi, mấy ông ơi ! Nhiều kẽm gai lắm!

Tôi bám chặt vào thành xe, ngoái đầu ngó về phía trước. Chiếc xe trên, đang bò từ từ vô cổng. Trước mắt tôi, một khoảng trống khá rộng. Quá nhiều kẽm gai thực. Từng lớp, từng lớp, trải dài dầy đặc. Vùng ánh sáng mờ nhạt phía sau cổng, cho tôi nhìn thấy đám người tay ôm đồ vội vã nhảy xuống. Có người không hiểu sao, từ trên ngã chúi, chiếc ba lô to kềnh đè lên người, khiến anh không dậy được. Một người bạn cúi xuống, nâng lên. Mấy tên lính Việt Cộng đứng gần đấy cười nham nhở. Qua cảnh tượng đó, tôi đoán biết, những gì đang chờ đón chúng tôi phía sau chiếc cổng kia. Chiếc xe chở chúng tôi rồ máy, lăn bánh. Tên bộ đội áp tải lúp xúp chạy theo sau.

Sau khi qua cổng, chiếc xe ngừng lại, không tắt máy. Tiếng kéo chốt nghe kèn kẹt, tấm sát chắn hậu được hạ xuống. Tên bộ đội áp tải cho lệnh: Xuống! Chúng tôi lần lượt nhảy ra khỏi lòng xe. Một người chuyển đồ từ trên cho người đứng dưới đó. Vài gói đồ được quăng đại trên nền đất, khi chưa ai nhận. Một tên Việt Cộng đeo súng ngắn đứng giữa sân ra lệnh:

– Các anh tập họp hàng hai!

Chúng tôi lếch thếch ôm đồ trong tay, vì quá vội chưa kịp đeo lên vai. Chiếc xe chạy vòng phía trước mặt, biến nhanh vào bóng tối nơi cuối sân.

Sau khi điểm số xong, tên Việt Cộng, nhìn vào miếng giấy do tên vũ trang áp tải trao, hắn gục gặc đầu, quay người ngoắc tên đứng phía sau:

– Đồng chí đưa toán này vào khu 4.

Tên bộ đội nghe lệnh, tiến đến bên chúng tôi, cầm khẩu A.K. bằng một tay, sợi dây súng xả xuống gần chấm đất.

– Đi thẳng phía trước!

Chúng tôi bước đi, tên Việt Cộng chờ mọi người qua hết, mới theo sau. Từng bước nặng nề, chúng tôi lết theo hàng rào kẽm gai tiến tới chiếc cổng gỗ. Tên bộ đội gác cổng sửng mắt nhìn, như nhìn lũ quái vật. Sự thực, lúc này tôi cũng không có thì giờ để quan sát kỹ cảnh vật xung quanh. Túi hành trang nặng chĩu trong tay, tôi phải nghiêng người để giữ thăng bằng mỗi bước chân.

Đêm đã quá khuya, nhìn đồng hồ tay, gần 1 giờ sáng.

Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 17
Bố tôi đã lầm lẫn khi cho tôi sinh hoạt Câu Lạc bộ Âm nhạc thiếu niên Hà Nội từ khi tôi mới lên năm. Có lẽ ông muốn tôi trở thành một giảng viên âm nhạc như ông chăng, hoặc là một thiên tài cỡ Bethoven ấy. Cũng có thể trong thời của ông, nghệ sỹ có cái tự hào của họ khi biểu diễn trước công chúng, và không chừng lại xuất hiện lác đác vài thiên tài cỡ tác giả bài quốc ca nữa. Nhưng tôi cho rằng dù đó là ý của bố tôi thì ông vẫn lầm lẫn như thường. Làm một nghệ sỹ sáng tác theo kiểu người-thực-việc-thực thì làm sao mà thành thiên tài được, thậm chí “sáng tác” để mỗi tháng hưởng chế độ nửa lạng bột ngọt và một hộp sữa đã mệt đến ngất đi rồi, nói gì đến tài với cán.
Ấy thế mà tôi phải học hát, học nhạc lý, học đàn và cả đánh trống nữa. Lúc tôi vừa tốt nghiệp cấp II phổ thông thì trường Trung cấp Văn hóa và Nghệ thuật mở khóa chiêu sinh. Do quá trình tham gia sinh hoạt trong Câu Lạc bộ Âm nhạc tôi được nhận vào học lớp ca nhạc. Tuy chỉ có cấp II nhưng tôi được xếp vào thành phần “có văn hóa cao” vì hầu hết học sinh của trường được tuyển chọn theo yêu cầu về năng khiếu hơn là về trình độ học vấn. Nhưng cả cuộc đời tôi chỉ huy hoàng một chút đó mà thôi. Năm sáu bốn đi nghĩa vụ quân sự. Năm sáu tám bị thương. Năm sáu chín được phục viên về nhà không biết làm gì.
Thời gian ở trong quân đội chiến đấu nhiều hơn là làm công tác văn nghệ. Vì ôm súng nhiều hơn ôm đàn nên tôi xoay qua bộ môn… “sáng tác ngầm” những vở kịch tưởng tượng về hình ảnh đói khát anh hùng của bộ đội chiến đấu cho lý tưởng cao đến mức khó sờ.
Cái ý thích viết kịch nó kịch cho tôi nhiều quả lăn chiêng ngã ngửa sau khi phục viên. Chẳng phải vì lý lịch bản thân xấu, hay thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản (tôi mà trí thức cái mẹ gì, tiểu tư sản thì có lai rai vài sợi vì ông nội tôi trước kia là thợ sửa ô tô giàu có, chuyên sửa xe Stai của Tây). Tôi không xin được việc là vì tôi chưa biết cái luật chơi trong một xã hội ưu việt và dân chủ cùng mình. Đi xin việc mà túi áo trên không cồm cộm thuốc cán, không biêt tâng bốc mùi thơm của thuốc lá với thủ trưởng cơ quan, chỉ rặt tự báo cáo thành tích đánh đấm và khả năng văn nghệ của mình thì thậm chí đến Bác và Đảng cũng phải bảo đồng chí chưa theo kịp đà tiến của xã hội. Đồng chí có khả năng viết kịch à. Đó là một khả năng phù phiếm, không cần đâu, Đảng và nhà nước chỉ cần những người có khả năng làm ra của cải vật chất và tư liệu sản xuất thôi.
Cuối cùng thì ông bố già nua còm cõi của tôi phải ra tay. Ông bán vật gia bảo độc nhất trong nhà là cái dương cầm từ thời Tây để lấy tiền “lo” cho tôi. Ông khóc ròng mấy đêm liền, chửi tôi là đồ bất hiếu ăn hại đái nát. Ban đêm mơ ngủ ông cũng réo tên tôi ra mà chửi, chửi đã rồi ông khóc hu hu như đứa trẻ mất quà.
Thế là tôi có việc. Mới đầu chỉ làm công tác trông xe cho nhà văn hóa. Sau thấy tôi có khả năng văn nghệ, lãnh đạo cất nhắc cho tôi vào diễn thử vài vở kịch. Thường thường tôi sắm vai bọn xấu chuyên bẻ khóa đào tường, hoặc tệ hơn là phá hoại thành quả cách mạng. Tôi diễn mấy vai nầy rất đạt. Có lẽ trước hết là nhờ bộ mặt cô hồn khó coi của tôi. Cái lỗ mũi tốc hốc, hai tròng mắt sâu hoắm thế kia mà sắm vai du thủ du thực thì đạt chỉ tiêu yêu cầu là cái chắc. Có khi tôi còn cương ẩu trên sân khấu khiến khán giả cười khúc khắc đã đời. Tôi nghĩ có lẽ nhờ óc quan sát, và hễ ra tới ngõ là gặp ngay “bọn xấu” nhan nhản thế kia, nên tôi chỉ việc bắt chước chúng nó chẳng khó khăn nghĩ ngợi gì cả.

Google images

Tôi cũng là người ham học hỏi. Thì giờ rảnh là tôi kiếm sách đọc, từ sách gối đầu giường của lãnh đạo cỡ nhục bồ đoàn cho đến các loại sách xấu của bọn một thời bị chê là tiêu cực trong Tự Lực Văn Đoàn. Tôi nghiệm ra rằng hễ càng đọc nhiều chừng nào là đầu óc mình càng rối như ăn cục mỡ lợn không tiêu vậy. Mà đã rối thì khó làm lãnh đạo lắm (tôi vẫn nuôi mộng làm lãnh đạo) vì các đồng chí lãnh đạo anh minh sáng suốt là nhờ không đọc nhiều như tôi vậy. Tôi cũng nghiệm ra rằng làm một diễn viên mà chỉ sắm vai bọn xấu thì dù mình có diễn đạt yêu cầu thì cũng khó mà ngoi lên được. Phải sắm vai nào thật tốt, chẳng hạn một “chú” nông dân nghèo bị sập hố bom, chú ta quên cả thân mình, quên cả vợ con mới cưới cũng bị sập gần đó, để nhào lên cứu đồng chí Bí thư đang đạp mìn loanh quanh đâu đấy. Tôi triển khai ý này với các bạn diễn viên, tìm những chỗ sơ hở mà thoạt tiên tôi không nghĩ đến. Thí dụ đồng chí Bí thư thì chẳng thể nào mà đạp mìn được vì đồng chí lúc nào cũng đi sau nhân dân vào chỗ chết mà. Thế!
Tôi bị phê bình là có tư tưởng tiêu cực, xem thường lãnh đạo, cần chấn chỉnh tư duy. Tôi chấp hành liền, trong đầu lại nảy ra nhiều ý khác. Tuy nhiên từ một diễn viên mà muốn tiến nhanh tiến mạnh thành nhà soạn kịch thì còn một bước xa cỡ từ chủ nghĩa xã hội ưu việt đến chủ nghĩa tư bản hốc hác. Phải kinh qua nhiều khâu tế nhị và trắng trợn. Một mặt phấn đấu học hỏi các bậc thầy nghệ thuật, một mặt phát huy truyền thống móc ngoặc, nhờ phấn đấu kịch liệt như thế nên tôi nghiễm nhiên trở thành nhà soạn kịch đạt chất lượng yêu cầu. Nếu như tôi an phận với những vở kịch chỉ đủ làm hài lòng lãnh đạo thì hẳn bây giờ tôi đã được hưởng chế độ lương bổng bậc 7 và như thế là không chừng tôi đủ mua trả bố tôi một cái dương cầm “cực kỳ”.
Thưa ngài giám đốc Cục Di Dân, cuộc đời nó không đơn giản như thế, chung qui là tại trong mỗi con người chúng ta đều có cái phần mỏng hơn sương nhưng chắc hơn núi mà ta thường gọi tên nó là liêm sỉ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cùng tinh thần yêu chuộng dân chủ cao độ, ở nước chúng tôi hoàn toàn không có chế độ kiểm duyệt. Văn nghệ muốn viết gì thì viết, hoàn toàn tự do suy nghĩ. Nhưng để cho một tác phẩm, trong trường hợp của tôi là một vở kịch, thì bản thân người cầm bút không phải chỉ viết rào rào trên giấy mà hắn phải hình dung là đã có bao nhiêu khâu phải qua nếu muốn kịch bản được công diễn. Đầu tiên phải diễn cho lãnh đạo xem thử, lọt qua rồi lại phải diễn cho lãnh đạo tỉnh. Rồi phải sửa tới sửa lui trước khi cho nó ra ràng. Ra tới công diễn rồi thì nhân dân không muốn xem nữa vì kịch bản đã trở thành tác phẩm của lãnh đạo, của tập thể, nhân dân tìm hoài chẳng thấy mình nằm đâu trong đó cả.
Năm tám tư, nhà nước bỏ chế độ bao cấp. Đoàn văn nghệ chúng tôi phải tự túc kinh tế, cân bằng thu chi. Muốn cân bằng thu chi thì cần khán giả. Khán giả đông không khó, khó lãnh đạo có thông qua buổi biểu diễn hay không. Chúng tôi được lãnh đạo cho chọn một, lãnh đạo chọn một, như thế thì ít ra nghệ sỹ chúng tôi cũng có tự do lựa được một tác phẩm để biểu diễn. Cái bài chúng tôi chọn phải được phát thanh trên đài phát thanh Hà Nội hoặc diễn trên ti vi. Dù đã tự do đến thế những lần biểu diễn cũng chỉ thu hút dăm ba khán giả. Lãnh đạo chủ trương dù chỉ có một khán giả (giác ngộ) thì vẫn biểu diễn nhưng chúng tôi không thể sống với sự xa xỉ như thế.
Vì thế tôi phải sáng tác một vở hài kịch lấy tên là “Thuốc cán đầu câu chuyện” lên án nạn quan liêu cửa quyền, móc ngoặc, bè phái. Khán giả đông không ngờ. Tôi xông theo bánh xe lịch sử viết tiếp một vở có nội dung chỉ trích truyền thống đưa tiền trước nói chuyện sau của công an nhân dân. Khán giả chật rạp. Lãnh đạo vẫn làm thinh. Tôi viết một vở kịch ngắn cực kỳ cảm động diễn tả một cô gái Nam Bộ bán mình cho cán bộ để cứu cha ra khỏi trại cải tạo. Đêm thứ nhất chật rạp. Đêm thứ nhì khán giả ngồi toàn xuống cả lối đi. Lãnh đạo phản ứng. Vở kịch bị cấm diễn đêm thứ ba dù đã quảng cáo ầm ĩ. Đoàn tổ chức kiểm điểm cái thằng có tư duy phản động là tôi. Tôi làm kiểm điểm, vẫn chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, giữ vững lập trường là chỉ mô phỏng “người thực việc thực” trong xã hội chủ nghĩa. Tôi bị cho nghỉ việc, bị truy tố là tuyên truyền chống chính sách nhà nước, đưa đi cải tạo 20 tháng ở Thanh Phong, Thanh Hóa.
Tôi ở chung với đám phạm nhân có tên trong “Hồ Sơ Tiêu Diệt”. Đói xanh ruột. Có khi bắt được con chuột cứ bỏ vào mồm mà nhai sống, máu bắn vọt ra đầy miệng. Có khi đi chôn một thằng chỉ gần chết chứ chưa chết hẳn, khiêng cái hòm gỗ ra nghĩa trang mà cái thằng sắp chết nó chưa chịu đi trình diện Bác, cứ lồm cồm lục đà lục đục trong hòm. Kệ, bọn khiêng hòm chúng tôi cứ thảy xuống hố, lấp đất. Trước sau gì cũng chết thì chết trước cho rảnh tay người khác, người anh em đồng chí!

Google images

Năm tám tám được trả tự do về không biết ở đâu. Bố tôi đã chết phần vì hận thằng con, phần vì tiếc thương cái dương cầm bán đi mà không được việc gì. Chắc là ông không nhắm mắt. Tôi lang thang ngồi đồng ở nhà mấy thằng nghệ sỹ quen biết. Cái hỏng của bọn làm văn nghệ là chúng nó đều nghèo đói rách rưới cả. Đến ngay cả thằng đã vào biên chế mỗi tháng lãnh hộp sữa cũng đem bán cho bà đầu ngõ, trong khi con hắn thiếu sữa cứ khóc ầm cả lên. Thế đấy! chúng còn đói rạc người ra thì làm sao mà giúp nổi bạn bè. Có đứa thương cho ở nhờ gác xép. Tôi quay qua làm nghề chế tạo thuốc trị hôi nách, cái bí quyết tôi được một anh bạn tù (nói anh hồn anh bạn) truyền cho trước khi chết. Có gì đâu, một nhúm bột khoai trộn hàn the, rắc thêm một thứ bột gia truyền mà tôi thà chết chứ không chịu khai ra đây e mấy ngài học lóm. Lấy thìa múc bỏ vào gói giấy bán mười cắc. Cái nghề làm chơi mà ăn thiệt. khách hàng đồn đãi đông như ri. Toàn là các bà các cô đi nắng mồ hôi ướt nhẹp nách áo. Đã có thuốc rút nước, thoa vào bên phải một ít, bên trái một ít, thế là thơm lừng cả lên. Công việc làm ăn càng ngày càng khá. Tôi cúng vọng anh bạn truyền nghề cái thủ lợn gọi là vọng cố nhân. Thuốc của tôi bán tận vô Nam, gửi cả bằng đường xe, đường tàu suốt. Một năm sau thì tôi tạ từ đứa bạn cho ở nhờ, dọn qua căn nhà mới mua. Cuộc đời tưởng đã yên, ai dè thằng ăn không được nó tức, nó thấy mình ăn nên làm ra toàn nhờ sức lao động của mình, nó truy tố. Công an khám nhà, tịch thu gần tấn bột, bao gói, nhãn hiệu. Bao nhiêu mồ hôi công sức tan theo mây khói, nhà bị niêm vì tội “không đăng ký giấy phép kinh doanh”.
Ấy thế, làm một người dân lương thiện cũng khó. Tôi gom góp một ít tư trang đã gửi nhờ bạn bè làm vốn ra đi. Lý do bác đơn xin tỵ nạn của tôi cũng hợp lý thôi. Vì ông không đăng ký kinh doanh, ông lại viết kịch đả kích chính sách của nhà nước. Chúng tôi nhận thấy rằng nhà nước đưa ra chính sách đăng ký xin môn bài hành nghề là hợp lý với luật pháp của mọi đất nước. Sau đó ông cũng được nhà nước khoan hồng không bắt đi tập trung cải tạo. Sau khi đã cứu xét tất cả lời khai của ông, giám đốc Cục Di Dân đã không đồng ý là ông bị ngược đãi ở Việt Nam chiếu theo công ước về người tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc năm 1951. Do đó ông không được phép lưu trú ở Hồng Kông để chờ định cư ở nước ngoài. Ông sẽ bị giam giữ theo điều khoản 13D của Sắc lệnh Di trú cho tới ngày rời khỏi Hồng Kông.
Đúng! Đúng! Đúng! Các ngài thật sáng suốt và công bằng. Các ngài không muốn dang tay đón những con người đến từ ma quỉ, những kẻ đã đánh nhau tơi bời từ đó, mang theo thù hận qua bên này, tiếp tục đánh nhau, tiếp tục hiềm khích, nghi ngờ, lại được đặt trong một cõi sống quá chật hẹp, là phân bón cho dục vọng sinh sôi. Các ngài muốn chúng tôi trở về với ma quỉ để ma ở với ma, và cộng đồng nhân loại không muốn ở chung với những kẻ đã lớn lên trong thế giới quỉ, cộng đồng nhân loại không chịu san sẻ bất cứ một điều gì tốt đẹp với chúng tôi…
Tôi xin kính cẩn đi giật lùi trước bàn thờ tự do dân chủ để trở về với địa ngục xưa.