Chương II: Suối Máu
Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 3
Cuộc đi vòng quanh Trại, chúng tôi gặp rất nhiều bạn, mỗi người chào hỏi một câu, cũng mất khá nhiều thời giờ. Tuy cùng sống trong một chu vi hạn hẹp, nhưng thực tế, do sự phân phối bất ngờ, nên khó chiều theo ý muốn. Không ai có quyền lựa chọn cả tốt lẫn xấu. Tất cả đều buông trôi theo định mệnh.
Khu chúng tôi đang ở là khu 4. Toàn Trại có nhiều khu, để giam giữ theo từng cấp. Mỗi khu cách biệt nhau ít nhất 6 lớp kẽm gai. Sự liên hệ giữa khu này, khu khác bị tuyệt đối ngăn cấm. Nơi đây, đúng trại tù, không thể nói khác. Toàn Trại rất ít cây, nếu có, chỉ loại cây thấp vì là vùng đất cát.
Chúng tôi đi loanh quanh đã đến giờ lãnh cơm. Cũng như ở Long Giao, Tổ cắt người trực cơm luân phiên. Cơm nước đại khái cũng như vậy, nhưng ngoài cơm, canh bí đỏ nấu muối, cứ 4 người được chia 1 hộp thịt băm Trung Quốc.
Buổi trưa, nằm trong nhà, nóng không chịu nổi. Nhiều người tìm bóng rợp do dẫy nhà tạo nên, để tránh nắng. Tay người nào cũng cầm chiếc quạt hoặc miếng bìa cứng. Không một ngọn gió thổi qua. Tôi liếc nhìn những khuôn mặt và thân hình ngồi xếp hàng dưới bóng mát. Trên mỗi sắc diện đều lộ vẻ lo âu, mệt mỏi! Thân hình đen đúa do nắng gió tạo nên. Nhiều thân xác mang những vết sẹo nhăn nhúm, có cái sâu hoắm nhăn nheo! Chiến tranh đã để lại những dấu tích trên da thịt và đeo đuổi tới lúc lià đời.
Đôi nạng gỗ lướt qua chỗ tôi ngồi. Tôi nhìn chằm chặp vào người chống nạng. Anh gầy dộc hẳn, nếu không vì đôi nạng, khó nhận ra. Bộ râu mép đè nặng trên cặp môi mỏng, bám chặt như không muốn hé ra. Tôi chắc anh đã hối hận nhiều, vì đã cố tình xin đi cải tạo, trong khi có cơ hội vượt thoát ! Một bài học quá đắt giá. Khi tất cả các con cá đã vào lưới, ai có thì giờ lựa chọn từng con xấu tốt, hơn nữa, Bản Tự Khai đã biến thành bản án, không cách nào hủy bỏ. Nhưng tôi tin, trong thâm tâm anh vẫn ước mơ, Cách Mạng sẽ cứu xét về trường hợp đặc biệt này, sớm cho về! Nhưng anh có biết đâu, con đường cải tạo là con đường không có trạm dừng chân, cũng như không có ga xép! Vì thế, anh vẫn phải lê đôi nạng với chiếc chân què đi qua nhiều Trại Tập Trung từ Nam ra Bắc.
Những tên bộ đội vũ trang vác A.K. đi tuần, dù ban ngày, có lẽ đây là ngày đầu, họ sợ chúng tôi có phản ứng. Ngay sát khu, bên ngoài 3 lớp kẽm gai, có con lộ đất. Con lộ này chạy vòng quanh trại, khá lớn, đủ chỗ cho 2 xe tránh nhau. Phía bên kia, rừng kẽm gai. Nếu trong chúng tôi, có ai đủ can đảm và mưu trí trốn trại, vượt qua được 3 lóp kẽm gai này, rồi bằng cách nào có thể băng qua được rừng kẽm gai kia với bãi mìn chống cá nhân ghim đầy mặt đất? Ngay góc lộ, có vọng gác cao, Cách 500 thước, lại vọng gác, cứ như vậy chạy dài suốt con lộ, khó thoát khỏi tầm quan sát của những tên cảnh vệ gác thường trực suốt ngày đêm.
Trong những ngày đầu, chúng tôi chưa phải làm gì, chỉ ăn và nằm nếu không muốn đi rong. Ánh nắng chiều dịu dần. Tôi nhìn qua rào kẽm gai, mặt trời đã khuất sau đám mây dầy, những tia sáng còn tỏa ra, tạo nên một vùng trời rực rỡ. Cảnh vật im lìm như bức tranh tĩnh vật. Sau khi ăn cơm chiều xong, tôi đứng nhìn hoàng hôn chết dần sau rặng cây phía xa. Có bàn tay đặt nhẹ lên vai, tôi ngoảnh nhìn:
– A, người Hà Thượng, ông ở K mấy?
– K21. Sao, có mạnh không?
– Cũng vậy thôi!
Tôi nhìn Hà Thưọng Nhân, anh vẫn vậy, không thay đổi bao nhiêu, sau những tháng đầu gian khổ. Thấy tôi mặc chiếc áo rách, anh hỏi:
– Không còn áo sao?
– Làm gì còn, mình đâu có chuẩn bị đi tù dài hạn!
– Mai, tôi biếu ông chiếc áo 4 túi, kiểu phóng viên, chịu không?
– Chịu quá! A, khi ở Long Giao, tôi nghe nói, ông có bài “Mưa Long Giao”, anh em thích lắm. Đọc cho nghe đi!
Nhân nhìn tôi cười, nụ cuời nhếch môi quen thuộc.
– Bài này, Vũ Đức Nghiêm đã phổ nhạc. Để tôi bảo Nghiêm hát cho ông nghe thử.
– Tìm Nghiêm bây giờ được không?
– Có gì khó đâu.
Nói xong, Nhân kéo tôi đến tìm Nghiêm. Trước đây, Nghiêm cũng đã sáng tác nhiều ca khúc, nhưng không mấy nổi tiếng. Người ta biết anh nhiều, qua việc giảng dạy sinh ngữ tại Hội Việt Mỹ. Chúng tôi đến, Nghiêm vừa rửa xong chén, muỗng.
Nhân hỏi Nghiêm:
– Rảnh chưa?
– Dạ, rảnh.
– Ông cho ông này nghe bài Mưa Long Giao!
Nghiêm cười, nụ cười rất hồn nhiên.
– Nếu các ông anh muốn.
Nghiêm vào nhà cầm đàn. Chúng tôi kéo nhau tìm một chỗ tương đối vắng người, ngồi xuống.
Tiếng đàn dạo, âm thanh réo rắt làm ấm buổi chiều trong trại tù. Giọng hát nương theo tiếng đàn cất lên:
Trời có điều chi buồn
Mà trời mưa mãi thế
Cây cỏ có chi buồn
Mà cỏ cây đẫm lệ
Mà cỏ cây lệ tuôn!…
Anh nhớ em từng phút
Anh thương con từng giây
Chim nào không có cánh
Cánh nào không thèm bay
Người nào không có lòng
Lòng nào không ngất ngây?…
Gửi làm sao nỗi nhớ
Trao làm sao niềm thương
Nhớ thương như trời đất
Trời đất cũng vô thường
Xưa cánh chim hồng hộc
Vượt chín tầng mây cao
Xưa đi khắp năm châu
Bước chân coi nhỏ hẹp
Bây giờ giữa Long Giao
Ngồi nghe mưa sùi sụt!…
Cuộc đời như chiêm bao
Có hay không nẻo cụt?
Anh châm điếu thuốc lào
Mình say, mình say sao?
Tiếng hát của Nghiêm quấn vào cung bậc nấc nở, nghẹn ngào. Bài thơ đã hay, nhạc của Nghiêm cũng không kém phần súc tích. Sau này, Nghiêm có phổ thêm mấy bài thơ nữa của Hà Thượng Nhân và vài bạn khác. Mỗi bài, được Nghiêm dùng âm thanh đưa vào không khí uất nghẹn, giận hờn, tha thiết tùy theo nội dung mỗi bài thơ. Nhưng nói chung, bài nào cũng hay, âm điệu không giống một ca khúc nào lúc trước, chỉ ở môi trường này, mới có Vũ Đức Nghiêm và những ca khúc bên trong vòng đai kẽm gai tù ngục!
Xung quanh, đã đầy cứng người yêu ca nhạc từ lúc nào. Chúng tôi đứng lên, chia tay ai về nhà nấy.
Ánh sáng đỏ lòm từ ngọn đèn tỏa xuống làm nóng thêm. Liêm, đang ngồi đánh cờ với người bạn. Tôi cầm điếu, kéo một hơi. Khói thuốc làm toàn thân tôi đê mê. Cả đêm qua mất ngủ, tôi thấy muốn nằm. Ngả lưng trên tấm nylon, hơi đất thấm lên lành lạnh. Ở Long Giao, chúng tôi còn có thể tìm được vài mảnh ván để lót lưng, chứ ở đây, chịu chết, không sao kiếm được, dù một mảnh.
Tôi vơ vẩn nghĩ đến ngày mai, một ngày mai mù mịt. Chúng tôi đang di hành trong một đường hầm sâu hoắm, không ánh sáng. Nếu cuộc sống này kéo dài, mỗi đêm hơi đất hút mất nhiều ca-lo, ăn uống thiếu dinh dưỡng, vệ sinh không có, làm sao kéo dài hơi thở? Đã đành, thể lực mỗi con người, cũng như sức chịu đựng có khác nhau, nhưng không phải vô biên! Nằm nghĩ miên man, tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Tiếng kẻng báo thức gõ dồn dập, nghe chát chúạ hơn tiếng kẻng Long Giao. Tôi nhổm dậy chưa kịp rửa mặt, đánh răng, chạy nhanh ra ngoài cổng, xếp hàng đi cầu. Khi tới nơi, đoàn người đã dài lắm, nhưng chiếc cổng chưa mở. Tên cảnh vệ từ vọng gác trên cao, quay mặt nhìn chỗ khác, hình như không để ý đến lũ người đang chờ phía dưới, bụng dạ bồn chồn, mặt mày nhăn nhó!
Những con én chao qua, chao lại như những mũi tên trong không gian vắng lặng. Mặt trời chưa lên. Cảnh vật chìm đắm dưới lớp sương mù. Một tiếng nói cất lên.
– Cán bộ, cho đi cầu!
Tên bộ đội nhòm xuống, gật đầu. Người đứng trước đẩy cánh cổng. Khoảng 20 người đi nhanh ra, băng qua con lộ sang phía bên kia, được quây kỹ bằng những tấm tôn cũ, sét rỉ, nhăn nhúm. Những người còn lại đứng chờ, khi nào có người về, mới qua được.
Chờ độ nửa tiếng, đến lượt, tôi băng nhanh qua lộ. Những con chim én bay lượn tới tấp, đôi lúc tưởng như đụng vào mình, nhưng không, với tốc độ lao nhanh như vậy, chúng tránh né rất tài tình, chẳng những tránh người, chúng còn phải tránh nhiều tấm tôn, ngăn cách các hố cầu nữa. Mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Hàng triệu con ruồi nhặng bay loạn xa. Tiếng vỗ cánh vo vo. Những con én lao xuống để bắt, nhưng không xuể vì nhặng quá nhiều! Tôi bước vô chiếc nhà cầu phía trong. Một bãi phân to ở ngay lối đi. Tôi chửi lầu bầu trong miệng, tên khốn kiếp nào đó sợ bẩn không dám vô trong, đã đi bậy bên ngoài! Tụt quần ngồi nhanh xuống, nhưng chẳng may, vì ăn uống thất thường mấy bữa trước nên bị bón. Tay bịt mũi, tay đuổi nhặng tôi mong chóng thoát. Những con dòi bò lổn nhổn trên miệng hố. Quá khiếp đảm, tôi không dám ngồi lâu hơn nữa, xốc quần đi nhanh vô. Đàn nhặng bay rào rào. Những con én lượn không biết mỏi , sà xuống, vút lên làm tôi hoa mắt.
Nhìn thấy có người vô, một anh chắc chờ lâu, mừng quá, tay ôm quần chạy nhanh ra. Từ trên cao tiếng hét vọng xuống:
– Anh kia, đi vào!
Vừa chạy tới giữa lộ, anh ngẩng mặt nhìn lên:
– Dạ, thưa cán bộ, tôi đi cầu!
– Ai cho ra, khi anh kia chưa qua cổng?
– Dạ xin lỗi, tôi… mót quá!
– Đi vào! – Tiếng lên đạn lách cách.
Anh bẽn lẻn, cùng tôi đi vào với nét mặt thê thảm. Khi vừa đến cổng, anh toan quay lại, nhưng tên cảnh vệ phạt, không cho đi. Nó cho người kế tiếp ra trước. Anh lại ôm quần chờ, mắt nhìn xuống đất.
Về tới nhà, tôi mang chuyện nói với Mậu, Huy và Lâm. Mậu cười khùng khục.
– Đù mẹ, bữa qua tôi cũng bị y như vậy. Gần chết. Chán ghê, chán ghê!
– Đêm trước, chột bụng quá, tôi lấy chiếc que đào lỗ, làm bậy một bãi ngay sát rào kẽm gai, thế mà êm.

Google images
Lâm nói chậm rãi:
– Các ông “đi bậy” chỉ khổ anh em. Bình thường không sao, nhưng khi có mầm bệnh, chết đấy các ông ạ.
– Mấy ông “tu bíp” [Bác sĩ] nguyên tắc lắm. Đời tù còn sợ chó gì, ngay cái chết. – Tôi nói dằn giọng.
Tiếng K. Trưởng cất lên ở đầu nhà:
– Thưa các anh em, hôm nay chúng ta học Nội Quy. Yêu cầu anh em lấy giấy bút ghi theo lời tôi đọc.
Mọi người cắm cúi chép, chừng 30 phút thì xong. Bản Nội Quy gồm 10 điều, toàn những điều bó buộc, bắt các người tù phải cúi đầu chấp nhận. K. Trưởng còn cho biết theo lệnh, mọi người phải học thuộc lòng, mỗi khi cán bộ hỏi, trả lời ngay, nếu không thuộc sẽ bị nghiêm phạt. Vừa ghi xong Nội Quy, anh em lại phải khai báo lý lịch. Sống trong Trại Cải Tạo hay nhà tù Cộng Sản nào cũng vậy, vấn đề khai báo là chuyện thường. Nhưng xin đừng ai coi nhẹ vấn đề này, vì chỉ một sơ xuất nhỏ, trước sau không như một, sẽ bị Cộng Sản truy ngay để từ đó phanh ra nhưng sơ hở khác, nếu có.
Bữa cơm trưa, vẫn như hôm qua, ngoài cơm canh, 4 người lại chia nhau 1 hộp thịt. Nhưng chỉ 1 tuần sau, 8 nguời một hộp, tuần sau nữa 12 người 1 hộp, cho đến cuối tháng, hết thịt, chỉ còn cơm và canh bí, canh su su, đu đủ xanh nấu muối trường kỳ. Mỗi lần nhìn thấy muốn ói!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.