This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Từ ngã ba đi vào, cảnh tàn phá vì trận đánh lan rộng đến những con lạch nhỏ. Trước ngày Tết, đi qua khu phố này người ta chỉ nhìn thấy những dẫy nhà hai bên đường với những cửa tiệm buôn bán tấp nập. Sau trận đánh dẫy nhà bị cháy trơ trụi, những bức tường đổ nát lỗ chỗ những vết đạn, những mái tôn cháy đen xạm cong queo trên đống than. Một vài chiếc xe chỉ còn trơ lại cái khung đen thui. Người đi qua con đường này bây giờ có thể phóng tầm mắt nhìn thấy những cây dừa nước hai bên bờ những con rạch nhỏ. Những cây dừa nước vài chỗ cũng bị cháy nám. Xa hơn nữa, người ta có thể nhìn thấy cánh đồng mênh mông miền ngoại ô thành phố.
Qua khu cháy vào bên trong, xóm nhà may mắn thoát được ngọn lửa thì cũng bị những vết đạn phá vỡ lỗ chỗ. Những tấm bảng hiệu bị dùi nhiều lỗ, chênh vênh treo trên những cây sắt, gió thổi lắc lư, như còn cố bám víu cho khỏi bị rơi.
Nhà của gia đình bé Thục ở khu còn lại đó. Bé Thục đang cầm một cây đinh loay hoay xoi một lỗ đạn trên tường nhà.Thục hì hục nhẫn nại moi cái đầu đạn nằm trong đó. Thục đã mất cả giờ nhưng mới chỉ nhìn thấy cái đuôi viên đạn đồng đỏ lòm. Mồ hôi vã ra hai bên má. Thục quì gối tiếp tục xoi. Thỉnh thoảng mỏi tay Thục lại bỏ cái đinh trên vỉa hè rồi vẫy vẫy hai tay cho đỡ mỏi. Thục ngồi nghỉ rồi lại tiếp tục.
Một người lính đi tới đi lui. Anh ta thuộc đơn vị trấn thủ khu này. Anh ta chú ý đến Thục và thả bước đến trước cửa nhà Thục. Người lính đeo khẩu súng lên vai rồi đứng tì tay vào hàng dậu gỗ nhìn Thục làm việc. Thục vẫn hăng say mải miết cầm cái đinh xoi lỗ đạn.
Chợt Thục vùng đứng lên ném mạnh cây đinh ra góc sân. Thục nhìn thấy người lính rồi đưa mắt nhìn theo hướng tiếng leng keng của chiếc đinh va xuống nền xi măng. Thục nhìn lại người lính. Anh ta nhe răng cười Thục. Thục phì cười, hai tay quệt mồ hôi trên trán. Người lính hỏi:
– Em làm gì thế?
Thục chỉ lỗ đạn:
– Tôi moi cái đầu đạn trong đó để làm kỷ niệm.
Người lính hỏi:
– Làm kỷ niệm, em cũng thích kỷ niệm?
Thục gật đầu:
– Tôi cần một đầu đạn giữ chơi. Mẹ tôi cũng có một đầu đạn như thế. Mẹ tôi cất trong sắc tay.
Người lính nói:
– Tôi có đạn đây, em thích tôi sẽ tháo cái đầu đồng ra cho em một viên.
Thục lắc đầu:
– Tôi muốn moi lấy cái đầu đạn từ trong lỗ kia. Tôi không thích cái đầu đạn chú tháo ra. Đầu đạn kia đã bắn vào nhà tôi. Chú biết cái đầu đạn của mẹ tôi lấy ở đâu ra không?
Người lính lắc đầu, Thục khoe:
– Cái đầu đạn của mẹ tôi lấy từ ngực ba tôi.
Người lính ngạc nhiên:
– Từ ngực ba em? Ba em ở đâu rồi?
Thục ngồi xuống bờ hè:
– Ba tôi chết rồi. Ba tôi là quận trưởng, ba tôi là đại úy chú là gì uý?
Người lính cười:
– Anh là lính.
– Chú là lính trơn à?
Người lính lại cười gật đầu. Thục ngồi nghĩ rồi kể tiếp:
– Ba tôi đi đánh giặc bị thương nơi ngực đưa về bệnh viện thì ba tôi chết. Nhà thường người ta gửi cho mẹ tôi cái đầu đạn lấy từ ngực ba tôi. Mẹ tôi gói nó cất trong sắc tay và nói “để làm kỷ niệm”.
Người lính như chợt hiểu, gật gù:
– Và bây giờ em cũng muốn moi cái đầu đạn trên tường kia làm… kỷ niệm?
Bé Thục gật đầu:
– Tôi chưa có chồng nên chồng tôi chưa chết. Tôi lấy viên đạn người ta bắn vào nhà tôi để cất đi làm kỷ niệm. Chú… bắn chết nhiều người chưa ?
Người lính nhìn chằm chằm vào bé Thục rồi vung cánh tay lên trời phác một cử chỉ bâng quơ:
– Nhiều.
Bé Thục nói một mình:
– Như vậy chắc nhiều người có đầu đạn kỷ niệm, cứ gì mẹ tôi.
Người lính kéo ống quần lên đến đầu gối rồi chỉ một vết sẹo nơi chân cho Thục. Thục nghiêng đầu nhìn qua khe hai thanh gỗ hàng dậu xem vết sẹo của người lính.
Thục hỏi:
– Chú cũng bị đạn?
Người lính gật đầu giơ hai ngón tay. Thục hỏi:
– Hai lần?
Người lính gật đầu lần nữa. Thục lại hỏi:
– Đâu?
Người lính cởi khuy áo ngực, vạch một bên cho Thục xem một vết sẹo trên vai.
Thục lè lưỡi:
– Ba tôi bị có một viên đạn mà chết. Chú bị hai viên đạn sao chú không chết?
Người lính lắc đầu:
– Tôi không biết.
Thục chống hai khuỷu tay lên đầu gối, cằm tì trên bàn tay yên lặng. Một lát Thục hỏi:
– Viên đạn kỷ niệm của chú đâu?
Người lính lắc đầu:
– Tôi không có giữ. Tôi vứt đi rồi.
Thục ngạc nhiên:
– Sao chú lại vứt đi. Chú không thích kỷ niệm sao?
Người lính gật đầu:
– Tôi không thích. Đầu đạn bị vấy máu bẩn lắm, giữ làm gì.
Thục lại yên lặng. Thục nhìn người lính từ đầu đến chân.
Người lính cười. Thục chợt hỏi:
– Ai bắn chú?
Người lính trả lời:
– Đứa mà tôi tìm bắn nó.
Thục như chiều suy nghĩ rồi hỏi:
– Địch quân ấy hả?
Người lính lại cười, gật đầu, rồi hỏi:
– Tôi vào ngồi nói chuyện với em được không?
Thục đứng lên ra mở chốt cánh cổng:
– Được chứ. Ai cũng vào nhà tôi được. Hôm đánh nhau ở đây có hai người bộ đội cũng vào nhà tôi. Họ mở cửa vào tự nhiên và bảo mẹ tôi dọn cơm cho họ ăn. Họ có hỏi tôi đâu. Sao chú lại phải hỏi tôi?
Người lính mở cánh cổng gỗ bước vào sân, anh ta đi bên Thục đến chỗ bờ hè. Ngồi xuống cạnh Thục, anh ta nói:
– Có lẽ tại tôi thương em.
Thục trề môi:
– Không phải. Chỉ có mẹ tôi thương tôi mà thôi. Chắc chú là người lịch sự. Ở trường cô giáo bảo tôi thế.
Người lính gật đầu:
– Chắc vậy. Em học lớp mấy?
Thục giơ bốn ngón tay. Người lính nói:
– Lớp Tư?
Thục gật đầu hỏi lại:
– Chú học lớp mấy? Cô giáo của chú cũng dạy chú muốn vào nhà người ta phải hỏi sao?
Người lính gật đầu, trên môi anh ta vẫn nụ cười, đôi mắt trìu mến nhìn Thục. Thục rờ khẩu súng của người lính, hỏi:
– Nhưng mà chú có súng, chú cần gì phải hỏi ai.
Người lính ôm ngang vai Thục:
– Cô giáo đâu có dạy thế.
Thục nhoẻn miệng cười nhìn người lính gật đầu. Người lính chợt rút lưỡi lê ra khỏi bao, hỏi Thục:
– Em có muốn lấy cái đầu đạn trong tường kia không? Tôi lấy hộ.
Thục khoanh tay trước ngực lắc đầu:
– Không. Chú đừng rỡn tôi. “Hôm đánh nhau ở khu này, hai người bộ đội mang súng vào nhà tôi ăn cơm, tôi có nhờ họ lấy hộ cái đầu đạn, họ quát tôi bắt ngồi yên ở xó nhà.”
Người lính hỏi tiếp:
– Hai người đó ở đây lâu không ?
Thục giơ ba ngón tay. Người lính nói:
– Ba ngày?
Thục lắc đầu:
– Họ ăn ba bữa cơm.
Người lính lại hỏi:
– Họ có ngủ trong nhà em đêm nào không?
Thục lắc đầu:
– Họ chỉ vào trong nhà khi ăn uống, xong họ ngồi ngoài hiên, “họ ngồi chỗ chú đang ngồi”.
Người lính nhìn xuống chỗ mình ngồi như tìm kiếm một dấu vết gì còn lại. Một lát anh ta hỏi Thục:
– Hai người mang súng đó có hỏi chuyện gì em không?
Thục gật đầu:
– Có.
Người lính:
– Họ hỏi gì?
Thục kể:
– Họ hỏi ba tôi đâu.
Người lính lại hỏi:
– Em trả lời sao?
Thục kể tiếp:
– Tôi nói ba tôi chết rồi! Ba tôi đi đánh giặc bị thương rồi chết. Ba tôi là đại úy. Ba tôi là quận trưởng.
Người lính:
– Em nói vậy hai người cầm súng có làm gì em không?
Thục lắc đầu:
– Không. Họ không làm gì tôi nhưng họ đứng rột dậy. Họ vào lục soát nhà tôi. Họ bắt mẹ tôi phải mở tất cả các tủ, các hộc bàn, các buồng cho họ xét. Họ trèo cả lên trần nhà nhưng không thấy gì cả.
– Rồi sao?
– Rồi họ lại ra “ngồi chỗ chú đang ngồi”.
Người lính cầm cái lưỡi lê cạo cạo bùn trên đôi giầy của anh ta. Thục tiếp:
– Đến tối họ vào trong nhà tôi bảo mẹ tôi đưa cái đèn pin của ba tôi cho họ.
Người lính gõ gõ cái lưỡi lê vào đôi giầy cho đất rơi ra.
Thục nhìn cái lưỡi thép nhọn hoắt ở tay người lính hỏi:
– Chú đã đâm ai chưa?
Người lính lắc đầu:
– Chưa.
Thục lại hỏi:
– Thế cái đó để làm gì?
Người lính nói:
– Để đâm. Nhưng tôi chưa có dịp đâm ai. Bây giờ tôi muốn dùng nó để moi cái đầu đạn kia cho em. Em bằng lòng không?
Thục lưỡng lự:
– Tôi phải hỏi mẹ tôi. Mẹ tôi bảo đừng nói chuyện với những người mang súng mang dao. “Hôm đánh nhau ở khu này, hai người bộ đội cầm súng vào nhà tôi đòi ăn cơm, tôi nhờ họ moi hộ cái đầu đạn, họ quát tôi bắt ngồi yên ở xó nhà. Sau đó mẹ tôi bảo tôi đừng nói chuyện với những người cầm súng cầm dao”.
Người lính lại ôm lấy vai Thục:
– Thôi em đừng hỏi mẹ em nữa. Em đừng làm phiền mẹ em nữa, chắc mẹ em đang làm công việc trong bếp. Tôi muốn lấy hộ cái đầu đạn cho em vì cô giáo tôi ngày xưa có dạy phải giúp đỡ những người già cả và những người còn trẻ dại.
Thục ngồi yên, đôi mắt nhìn ra thửa ruộng đầy cỏ nước trước cửa nhà. Lát sau Thục nói lí nhí:
– Nhưng mẹ tôi bảo như vậy. Tại chú mang súng mang dao.
Người lính như ghì chặt Thục vào bên mình:
– Tôi mang súng cũng như ba em ngày xưa. Tôi cũng như ba em mà thôi. Em có nhớ ba em không?
Thục phóng tầm mắt đến một quận lỵ hẻo lánh. Thục đã theo mẹ đến chỗ ba Thục làm việc và đã sống ở đó một thời gian.
Thục nhớ lại dẫy phố quận nhỏ hẹp, với một hàng hủ tíu duy nhất mà mỗi sáng mẹ con Thục đi xe jeep của ba ra đó ăn. Thục nhớ rõ người chủ quán mỗi sáng cúi rạp mình chào mẹ mình là bà Quận. Thục cũng nhớ đến cái cột cờ giữa ngã tư tỉnh lộ, hàng rào kẽm gai bao xung quanh ngôi nhà lớn, ở trong đó ba Thục làm việc và ở ăn. Thục cũng nhớ những buổi chiều đứng từ hiên ngôi nhà đó nhìn ra ngoài qua hàng rào kẽm gai, ngôi trường cũ kỹ với những đứa học trò bằng tuổi Thục ra về. Những chiếc xe ngựa lộc cộc chạy qua trước quận, người đánh xe phải nhảy xuống dẫn bộ qua khúc đường đó. Thục cũng nhớ đã hỏi chú lính tài xế của ba Thục tại sao họ lại phải nhảy xuống dẫn ngựa đi qua trước quận, chú lính bảo “để đề phòng việt cộng tấn công”. Thục không hiểu nhưng cũng lặng yên.
Thục nhớ ba Thục cũng đeo súng và mỗi khi đi hành quân, ba đã hôn mẹ, hôn Thục, uống một ly rượu, rồi cười ha hả trèo lên xe dẫn đoàn quân phóng chạy ra khỏi quận xả bụi mịt mù.
Mẹ con Thục thỉnh thoảng đáp xe đò lên ở với ba vài ngày rồi lại về. Ba Thục làm quận trưởng một thời gian thì xây được căn nhà này. Trước kia nó chỉ là một nhà gỗ, sau được phá bỏ xây lại đẹp hơn và có lầu. Thục cũng được nằm giường đẹp hơn và có đệm. Thục được coi truyền hình và nghe nhạc nổi Thục đã biết tự mở máy truyền hình và máy quay đĩa. Thục hỏi người lính:
– Chú có thích nghe nhạc không? Ba tôi thích cải lương như mẹ tôi. Tôi thì ghét. Tôi thích nghe hát tân nhạc. “Hôm đánh nhau ở khu này, hai người bộ đội vào nhà tôi đòi ăn cơm, tôi nhờ họ moi hộ cái đầu đạn, họ quát tôi bắt ngồi yên nơi xó nhaø”. Tôi có mở nhạc nghe. Nhưng một ông bắt tôi tắt máy còn một người bảo tôi cho ông ấy nghe một bài vọng cổ.
Người lính hỏi:
– Vậy em tắt máy hay để nhạc vọng cổ?
Thục lắc đầu:
– Tôi vẫn để bài hát tôi đang nghe, mẹ tôi la rầy tôi rồi tắt máy kéo tôi vào trong buồng. Tôi khóc và mẹ tôi xin lỗi tôi, giỗ dành tôi, bế tôi nằm dưới gầm giường tránh đạn.
Người lính xỏ lưỡi lê vào bao, hỏi:
– Hôm đánh nhau ở khu này em có sợ không?
Thục tròn xoe đôi mắt:
– Sợ chứ. Mẹ tôi ôm chặt tôi nấp ở trong xó nhà. Mẹ tôi lấy những tấm đệm cao su ghế bành chặn xung quanh tường để đỡ đạn. Hai mẹ con ngồi như thế và nghe tiếng nổ. Hai người bộ đội trèo lên gác đứng nhìn xuống đường.
Thục đang kể chợt hỏi:
– Hôm đó chú ở đâu?
Người lính ngập ngừng:
– Tôi… nghỉ phép.
Thục lại hỏi:
– Chú về ăn Tết với vợ chú à?
Người lính lắc đầu:
– Không. Tôi không có vợ. Tôi về ăn Tết với mẹ tôi.
Thục ôm lấy đầu gối người lính và tì cằm trên đó:
– Mẹ chú có thương chú không?
– Có. Như mẹ em thương em.
Người mẹ từ trong nhà bước ra kiếm Thục. Thấy người lính ngồi với con mình trước thềm nhà, bà ta nói:
– Mời ông vào nhà ngồi ghế uống nước, ông có cần gì cứ tự nhiên.
Rồi bà ta quay sang nói với con:
– Thục, sao con không mời ông khách vào nhà mà lại ngồi trước thềm vậy?
Người lính lúc đó đã đứng dậy chào ba ta và nói lí nhí vài lời cám ơn. Tay anh ta cầm tay Thục và nói:
– Bà cứ mặc tôi và cho phép tôi nói chuyện với cháu cho đỡ buồn. Cháu nói chuyện dí dỏm lắm.
Bà mẹ lại mời người lính một lần nữa. Anh ta ngập ngừng bước vào nhà. Mẹ Thục lấy nước uống mời. Anh ta rón rén ngồi xuống chiếc ghế bành gỗ đã bỏ đi những tấm đệm. Anh ta uống nước và liếc nhìn người đàn bà. Một người đàn bà quá trẻ. Với đôi mắt u buồn, nhiều tư lự, những sợi tóc mai chảy dài xuống hai bên má, khuôn mặt ưu tư tội nghiệp, như có một nỗi buồn tiềm tàng tỏa ra từ đôi mắt lan tràn trên khuôn mặt. Người đàn bà ngồi trên một chiếc ghế và bế Thục trên lòng. Bà ta nhìn xa xôi ra ngoài thửa ruộng trước nhà.
Im lặng khá lâu và người lính cảm thấy bầu không khí không tự nhiên, anh ta lên tiếng:
– Mấy hôm đánh nhau ở khu này bà và cháu có chạy đi đâu lánh cư không ạ?
Người mẹ ôm Thục và kể:
– Ngay bữa đầu tiên thì đâu chạy cho kịp. Sáng ra thức dậy đã thấy các ông bộ đội đứng đầy đường. Trong khi đó thì hai bên đánh nhau ở phía đầu ngã ba vào thành phố. Tôi cũng định bế cháu chạy tản cư, nhưng ở đây chỉ có một lối ra duy nhất thì đã bị mắc kẹt rồi nên tôi đành ôm cháu núp ở nhà.
Bà ta nhìn Thục và nói tiếp:
– Có hai người bộ đội đứng trước nhà tôi mà con bé này nó chỉ định chạy ra ngoài. Tôi lo quá. Chúng tôi kẹt ở lại đây cho đến ngày hôm sau thì lửa cháy ở phía ngoài. Cháu lại cứ đòi ra xem lửa.
Thục nhìn người lính nói:
– Tôi xem đám cháy và nhìn thấy ngọn lửa từ những căn nhà ngoài kia. Chú có biết không? “Lửa cháy làm nóng cả mặt.”
Người lính nhìn Thục cười, bà mẹ cũng nhìn con cười với nó. Đoạn bà ta kể tiếp:
– Ngày hôm thứ ba tôi mới bế cháu chạy ra ngoài phố được vì hai người bộ đội đã bỏ đi. Tôi ra nhà một người quen ở nhờ trong khi gia đình nhà ông bà ấy cũng chạy đi ở nhờ một nhà khác họ cho là an ninh hơn.
Thục nói theo:
– Chú biết không? Khi mẹ tôi cõng tôi chạy vào thành phố, qua đám cháy kia tôi nhìn thấy nhiều người chết úp sấp và có cả xe tăng cháy thành than. Tôi còn thấy rõ những khẩu súng bên cạnh những xác chết đó. Họ có súng mà cũng bị bắn chết vì súng sao chú?
Bà mẹ xoa đầu Thục như không muốn con mình nói nữa. Bà ta quay sang người lính:
– Sáng nay tôi cho cháu trở về nhà. Chạy ra khỏi nhà mới hơn một ngày mà đã thấy khổ quá.Tôi nghĩ sống chết có số, nếu chết thì đã chết ngay cái hôm đánh nhau ở khu này. Bây giờ họ rút đi rồi mình cứ về đại nhà mà ở. May nhờ có các ông đến trấn đóng ở đây.
Người mẹ kể đến đây thì ngừng lại và mời người lính uống nước. Anh ta nâng ly uống cạn rồi đứng lên:
– Bà cho phép tôi moi hộ cháu bé cái đầu đạn ở ngoài bức tường kia. Cháu muốn có nó để làm kỷ niệm nhưng không lấy ra được. Tôi ngỏ ý moi ra hộ cháu thì cháu bảo là bà không chịu vì “tôi là kẻ mang súng mang dao”. Tôi nghĩ rằng bà sẽ cho phép tôi làm vui lòng cháu một chuyện nhỏ này. Tôi mang súng mang dao vì thời đại này không thể không cần những thứ đó. Cũng như ông đại uý trước kia.
Người đàn bà cúi đầu. Bà ta đưa bàn tay đẩy Thục ra với người lính. Người lính giơ tay nắm tay Thục giắt ra cửa. Bà mẹ nói theo:
– Con ra chơi với ông khách cho ông ấy vui.
Thục đi theo người lính ra chỗ bờ tường có vết đạn. Người lính rút lưỡi lê cho vào cậy nơi lỗ đạn, lát sau lôi ra được một mẩu đồng nhỏ đã quăn queo.
Thục cầm lên xem và hỏi:
– Phe nào bắn vào nhà tôi?
Người lính cầm cái đầu đạn xem xét một lúc rồi đưa trả lại cho Thục:
– Đạn này nhãn hiệu Mỹ. Có thể bắn ra từ phe tôi, nhưng cũng có thể đã bắn đi từ phe hai người bộ đội. Vì phe nào cũng có thứ súng đó hết.
Thục mân mê cục đồng nói bâng quơ:
– Như thế thì cũng khó hiểu thật, chú nhỉ?
Người lính nhìn vào trong nhà nói với Thục:
– Khó hiểu thật. Nhưng cũng may là nó đã không trúng vào em hay mẹ em, như viên đạn đã trúng vào ba em.
Sau khi học viện Phật giáo Việt Nam ra thông cáo tuyển sinh thạc sĩ Phật học với môn mác-lênin các thầy lại bẻ qua khúc ngoặc lịch sử khác dạy tăng ni phật tử cách sử dụng condom dạy ni cô sư nữ cách đếm chu kỳ trứng rụng dạy chiến lược lợi hại của vòng xoắn khi đặt vào địa đạo chống bọn giặc tinh trùng bành trướng khỏi phải bức xúc thưa gửi thượng toạ: thưa thầy đệ tử lỡ có mang rồi chừ biết tính làm răng
con ai đem bỏ chùa nầy a di đà phật con thầy thầy nuôi
kẻ ác buông đao xuống cũng có thể thành phật nay chúng ta học khoá bồi dưỡng này là hình thức tránh sử dụng tới gươm đao phá thai đồng nghĩa với sát sanh, tội lỗi bần tăng thử mang áo mưa xem có lên tới niết bàn kinh sách giảng đời là bể khổ người tu hành như ta phải tìm ra đường sướng sau hậu liêu từ nay thôi cô quạnh hãy ngủ chung xem thử đạt đạo chưa bồ đề đạt ma mắt long lên sòng sọc bọn chúng bây ưa chơi trò chùa bà đanh
từ nay sẽ chấm dứt chuyện tình lan và điệp vào chùa xuống tóc nam nữ đề huề cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam độc lập tham- tự do sân- hạnh phúc si ai biểu đi tu là khổ đi tu sướng lắm chớ ngồi tụng kinh có người nâng khăn lần tràng hạt có người sửa túi to nhỏ thầm thì bòn rút thùng phước sương xưa hoàng tử cải trang đi thăm dân tình ngoài thành nay thầy giả bộ cầm tô đi khất thực tì khưu này không ăn chẳng uống nhưng để đi hết cuộc lữ làm ơn trao cho ít viên viagra xưa hoàng tử quy y vì nghiệm chúng sinh quá khổ nay buổi mạt pháp bầy đại đức xum xoe dưới tượng ông hồ
tội lỗi! tội lỗi! hồ chủ tiệm không vào địa ngục thì ai vào?
Mới đây khi viết bài, tui có dùng cái thành ngữ của Úc là: “To have been born with a silver spoon in his mouth” (Sanh ra với cái thìa bạc trong mồm!).
Bên Anh, thế kỷ 18, đi ăn tiệc thường mang theo cây thìa; giống bây giờ người ta mang theo ví tiền hay chìa khóa xe hơi; như cái thông hành, bằng lái xe hay thẻ ngân hàng, ‘credit cards’, cho mua chịu tới 20 ngàn đô vậy! (Có máu mặt lắm mới được đó nhe!)
Ai mang theo thìa bằng bạc là thuộc về tầng lớp con địa chủ, có đất điền, chó chạy cong đuôi; cò bay thẳng cánh! Bạc Liêu quê mình có ‘Đồng Chó Ngáp’; chó chạy đến ‘ngáp ngáp’ mà chưa giáp một vòng.
Trong phim Far Away (1992), nhân vật Shannon định ăn cắp cái thìa bạc của ông nội nhà mình, vốn là địa chủ, đem bán đi, để có tiền lộ phí, di dân từ Ireland qua Mỹ.
Trái lại “I was born with a plastic spoon in my mouth” (Tui sanh ra với cái thìa bằng ‘plastic’ trong mồm) nghĩa là nghèo mạt rệp. Nghèo đến nỗi không có được tới một cục đất chọi chim; chớ không phải hàng trăm ngàn mẫu đất như Hắc Công Tử ở Bạc Liêu hoặc Bạch Công Tử ở Mỹ Tho.
***
Còn tại đất nước Triều Tiên, thìa bạc dùng để phát hiện ra độc chất trong thức ăn trước khi xơi.
Nên Kim Jong-un đi gặp Donald Trump mới rồi ở Singapore, chắc cũng có đem theo một cái; vì e cái thằng Đế quốc Mỹ chơi đểu, hạ độc ta sao? Lúc ký thông cáo chung, Mỹ chuẩn bị sẵn hai cây viết! Cận vệ của Ủn lấy giấy chùi tới chùi lui hai ba lượt mà Kim Jong-un cũng hỏng dám cầm.
Nếu tui là Ủn, tui sẽ móc túi mình, lấy cái thìa bạc ra là xong ngay! Đâu cần tới em gái móc trong túi ra đưa cho ‘ca ca’ (anh) mình một cây viết thì Kim Jong-un mới dám cầm tới mà vẽ lăng quằng lít quỵt, ký tên mình bằng tiếng Triều Tiên.
Trong khi Donald Trump thay vì ký tên thì vẽ cái hàng rào ngăn nước Mỹ với Mexico và Canada.
Kim Jong-un, tui nghi là bị bịnh hoang tưởng, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, thấy có đứa lăm le muốn làm thịt mình hết ráo.
Trước khi phó hội bàn đào, Kim Jong-un bắt Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh quân đội, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đem cất vô hộp trước cho chắc ăn. Kẻo vắng mặt ‘gia gia’ ở nhà nó làm ẩu!
***
Nói dông dài là vì tui có lỡ dại viết: “Thiên hạ thường nói rằng: Mọi người sanh ra đều bình đẳng! Nếu nhìn đứa bé sơ sinh, không có quần áo mặc, tất cả đều ở truồng như nhau quả là đúng vậy. Nhưng nhìn lên cái mồm thì có đứa có cái thìa bằng bạc; đứa khác có cái thìa bằng ‘plastic’ thì đúng ra là mới sanh ra đã bất bình đẳng rồi!
Người Việt mình có một thành ngữ, nghĩa tương đương nhưng thâm thúy hơn nhiều, đó là: “Giàu trong trứng giàu ra!”
Tui phục ông bà mình sát đất nhe. Không cần biết về sản khoa gì ráo trọi mà ông bà mình đều biết con người từ trong trứng mà ra! Mà biết từ hồi Lạc Long Quân và bà Âu Cơ lận.
Bằng chứng là bà Âu Cơ sanh ra một trăm cái trứng trong một cái bọc (sau nầy người ta gọi là đẻ bọc điều. Ðẻ bọc điều là hên hết biết; nên từ thuở lập quốc tới giờ giặc Tàu từ phương Bắc muốn xơi tái nước ta đều mắc… nghẹn).
Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi! Tất cả đều đẹp trai, khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời. (Lục gia phả cả mấy ngàn đời, tui mới biết là ông tằng tằng tiên tổ của tui là một trong trăm chàng trai ấy. Nhờ vậy ‘xí’ được một chút di truyền, đẹp trai và nói dai, nên ngày còn trẻ, em nào gặp tui cũng đều ‘trúng nắng’.
Nhưng thời gian đã nhẫn tâm hủy hoại nhan sắc ‘thiên kiều bá mị’ của tui; nên bây giờ em nào gặp tui cũng thảy đều ‘trúng gió” vì em tưởng gặp quỷ dạ xoa.)
***
Chuyện viết lách trước mua vui, sau kiếm chút tiền còm nhuận bút nhậu chơi cùng bè bạn; ai dè tạo thành một cơn ‘bão’ trong tách trà trên facebook!
Tác giả bị một truyền nhân của nhà thơ ngông Cao Bá Quát, ký tên là Thánh Quát ‘quát’ cho một câu hết biết là: “Muốn viết là viết, chẳng cần biết đúng hay sai!”
Xong ‘người’ chỉ ra cái sai của tui là: “Trong truyền thuyết, tổ tiên người Việt Nam là ông Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra 1 cái bọc có 100 trăm Trứng, nở ra được “50 LÀ TRAI VÀ 50 LÀ GÁI “”.
Không phải là 100 Trai. Mà là 50 gái theo mẹ lên miền núi; còn 50 trai thì theo cha xuống miền biển.
(Thánh Quát thời hiện đại, tức ‘hại điện’, viết hoa loạn xị hè, chắc để nhấn mạnh! Xưa giờ học văn phạm, tui chưa thấy cái luật nào muốn nhấn mạnh là phải viết hoa hết!)
Thấy vậy, một độc giả khác, ký là Cao Bá Nhạ, ngứa miệng hỏi ngặt: “Thế sau này lớn lên bọn nó gặp rồi ‘xoạc’ nhau thế chẳng qua là ‘trùng’ huyết à?!”
(Thiệt chữ ‘xoạc’ nầy hồi nhỏ tới lớn tui mới nghe và thấy cũng hay hết biết!)
Vậy là ông anh Cao Bá Quát, lên giọng thầy đời: “Lịch sử là một chuyện. còn chuyện ‘xoạc’ nhau là một chuyện khác. Có phân biệt được không?
Có nghĩa một chuyện là huyền sử; còn một chuyện là khoa học hiện thực! Biết chưa bác?” Đời không có gì ‘đã’ bằng chọc cho nó tức… mà nó tức thiệt; nên một ông nữa cười hi hi, phán rằng: “Thế khác gì ly dị… mâu thuẫn từ trong truyền thuyết! Từ nay là hết đẻ thêm.”
Hòn bấc ném đi hòn chì ném lại, Thánh Quát lại ‘quát’: “Từ ngữ bây giờ gọi là ly dị nhưng thời đó có chữ nầy không vậy ‘bro’ (tắt chữ brother, anh hoặc em)? Chắc là không có rồi… khi nói từ ‘ly dị’ là nó phải nói tới pháp luật, tòa án, giấy tờ, quyền lợi công dân, quyền cả đống luôn…
Thời xửa thời xưa… xưa ơi là xưa… làm gì có Tòa án mà có ly dị… (Việt Nam là nước đầu tiên trên trái đất có ly dị!)”
Rồi có một bậc thức giả khác, ký là Phó Bảng Nguyễn Văn Siêu, cũng nhào vô: “Truyền thuyết không nói 50 trai và 50 gái! Có sách ghi là “100 trứng nở ra 100 con”. Có sách kể giống như nhà văn: “Mỗi trứng nở ra 1 người con trai”. Nhưng truyền thuyết thường mang ý nghĩa tượng trưng!”
Thì ông Thánh Quát nầy quạt: “Hỏi lại ông thầy dạy Sử nhé! Nếu thầy không biết thì hỏi thầy của ông thầy! Chắc chắn bạn sẽ biết! Vì tôi biết bạn học Sử sau nầy! Hãy nghiên cứu tìm tòi thật sâu …thì sẽ biết nhiều điều thú vị!”
***
Thưa tui là tác giả! Bài viết mình đã bỏ biết bao công sức tra lên tra xuống, ngồi vò đầu bứt tóc, nhổ trụi lủi hàm râu dê, ‘phê’ gần bay một gói thuốc tốn hết 42 đô 50 xu Úc, uống hết chục tách cà phê vậy mà mà Thánh Quát nầy dám chê mình “Muốn viết gì thì viết chớ?”
Nóng mũi, tui ‘cóp’ trong ‘Wikipedia’ và nhiều trang web khác để phản bác và ‘ẳm hộ’ phe ta là:
“Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời!”
Bị tụi nó xúm lại bề hội đồng; nhắm hỏng ăn; thôi huề vậy! Thánh Quát bèn cười khè khè viết là: “Sau nầy có người sửa lại là 100 đứa…Toàn là gái… Thì tin hông nè? Hổng tin… rồi cãi… Cuối cùng ai đúng ai sai? Thôi thì 50/50 nhé… Vui nhà vui cửa… Hai họ nhá!”
Kết cuộc thì thằng chả, nhắm thua, hết dám lên mặt thầy đời, cãi chày cãi cối, cuốn nốp dông rồi bà con ơi!
***
Mấy thằng bạn nhậu kiêm bạn văn của tui nghe cãi qua cãi lại tưng bừng cũng vui bèn nhào vô bình loạn.
“Ối nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Viết báo ‘lèn èn’ như ông, may mà được độc giả phê bình, dẫu có chê rậm rề thì cũng nên hãnh diện là bài mình viết còn có bà con bỏ thời giờ vàng ngọc ra mà đọc! Dẫu đọc xong rồi chửi. Đỡ hơn là viết một bài, mà hỏng con ma nào thèm đọc hết ráo!” Nổi tiếng như nhà thơ ‘tầm cỡ’ Tản Đà, từng có thơ đăng trong sách giáo khoa còn bị chê; tay viết ‘tầm tầm’ như chú mầy thì ‘vô tư’ đi nhé.
Như bài ‘Gió Thu’, được dùng để quảng cáo thuốc ho ‘Acodin’ trong chương trình quảng cáo thương mại phát lúc 11 giờ sáng của đài phát thanh Sài Gòn mình hồi năm nẩm, lúc tụi mình chưa mất nước.
“Trận gió thu phong rụng lá vàng/ Lá rơi hàng xóm lá bay sang!”
Có đứa dám phê rằng: “Trận gió thu là đã đủ; còn trận gió thu phong là viết dư chữ ‘phong’ nhe!”
“Ê! Chữ phong đây không phải là gió mà là cây phong, giống như cây bàng!”
Cây phong bên Tàu của Đỗ Phủ trong bài ‘Thi Hứng’. Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm (Hạt sương như ngọc, rừng cây phong héo hắt buồn).
Hay trong cây phong của Trương kế trong bài ‘Phong kiều dạ bạc’ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên (Cây phong bên sông và ánh lửa chài đối giấc ngủ sầu)
Rồi bên ta, cây phong của Nguyễn Du trong Truyện kiều “Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san!”
Nghe biện giải tới đây tui đã ‘ngộ’ ra rồi. Viết bất cứ cái gì, hay thế mấy cũng có người chê hè. Nổi tiếng ‘Thi bá’ còn bị chê; huống chi mình là ‘Hà bá’ chớ!
Chê để chứng tỏ mình ‘giỏi’ hơn ‘Thi bá’ đó đấy thôi. Phần người Việt mình có khen ai bao giờ đâu nè (?!)
***
Tui chép miệng phán: “Đúng là văn mình vợ người mà!” Nghe vậy, anh bạn ‘văn học sử’ vặn vẹo, xin cắt nghĩa.
“Văn mình vợ người” là mình viết văn, bài của mình; mà nó tưởng là vợ của nó; muốn chê cái gì là chê, muốn ‘bụp’ lúc nào là ‘bụp’! (?!)
“Cắt nghĩa vậy là trật lất rồi cha nội. “Văn mình vợ người” là từ “Tự kỉ văn chương, tha nhân thê thiếp, nghĩa là văn của mình (thì hay), vợ của người khác (thì đẹp).
Úc cũng có câu tương đương là: “The grass is always greener on the other side of the fence!” Cỏ vườn hàng xóm bao giờ cũng xanh hơn. Vợ hàng xóm cũng ngon hơn con vợ ở nhà!” (Quả có vậy!)
Thưa tui vốn là người ngoan cố. Nghe cắt nghĩa rành rọt y như kinh, nhưng tui vẫn giữ rịt cái quan điểm của mình. Vì thế cho nên, có một độc giả ký là ‘Em yêu’ nhào vô ‘Facebook’ phê: “Tác giả rất cứng đầu! Dạy hổng bao giờ nghe”
Té ra đây là lời phê của ‘con vợ tui’ đó nhe! He he!
Sinh thời Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng, Võ Phiến và Nguyễn Mộng Giác trên các tạp chí Văn, Văn Học Nghệ Thuật rồi Văn Học ở California thường dành thời gian đọc, khám phá những ngòi viết mới. Một loạt các nhà văn nhà thơ thành danh sau này như Lê Thị Huệ, Trần Diệu Hằng, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trân Sa, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Đặng Thơ Thơ, Thế Giang, Cao Xuân Huy, Ngu Yên, Cao Đông Khánh, Lê Bi, Trịnh Y Thư, Đỗ Kh hay Nguyễn Ý Thuần … thậm chí các nhà phê bình như Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc đều xuất hiện đầu tiên trên các tạp chí này. Có thể kể thêm nguyệt san Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa và Nguyên Hương ở Toronto đã “trình làng” nhiều người viết khác, như Hồ Trường An, Hồ Đình Nghiêm và Tưởng Năng Tiến…
Vì sao Cây Bút Mới quan trọng? Mai Thảo, trước 75 đã nhặt truyện ngắn Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu bị một tạp chí khác vất vào sọt rác để đăng nguyên văn trên Sáng Tạo khi Dương Nghiễm Mậu hãy còn vô danh, giải thích: “Tôi cho rằng những ngòi viết mới chính là chồi non cần vun xới, vì văn chương là sự tiếp nối.” Gần đây, trên trang Văn Chương Miền Nam trên Facebook xuất hiện một Kim Nguyễn.
Rời Việt Nam bằng con đường vượt biên bán chánh thức, do Công An Rạch Giá tổ chức thu tiền vào năm lên 13 học đệ ngũ, chưa là một nhà văn chuyên nghiệp nhưng Kim Nguyễn biết giữ vốn liếng tiếng Việt và tái tạo trọn vẹn ký ức qua lối kể chuyện sống động. Văn dung dị là văn khó viết. Vì đòi hỏi sự tự nhiên mà các nhà văn lão luyện đã đánh mất.
Tết Giáp Thìn 2024, không hiếm bạn đọc đã vượt biên ở miền Tây cách đây 46 năm, sẽ bắt gặp ít nhiều tâm tư mình qua kỷ niệm của Kim Nguyễn. Vượt biên bán chánh thức, cũng là vượt biên. Là một tòa nhà do chủ tàu thuê để các thuyền nhân “nằm bãi” đợi “đóng bến” chờ một chuyến tàu ra khơi…
[Trần Vũ]
Kim Nguyễn
Trong một bài văn gửi đăng trên trang Văn Chương Miền Nam, tôi đã kể về 6 chị em chúng tôi đón đêm Noel cuối cùng trên quê hương tại Rạch Giá ra sao. Không ngờ hơn một tháng sau, chúng tôi vẫn còn mắc kẹt tại đó, vì bọn công an cứ hứa lần hứa lữa: “Tàu sắp được đi rồi” nên chẳng ai dám bỏ về Sài Gòn. Vậy mà lạ lắm, không ai buồn rầu, nhớ nhung những ngày sắp Tết. Có lẽ do tinh thần rất phấn chấn vì sắp được thoát khỏi Việt Nam rồi!? Một Việt Nam sau 3 năm thống nhất: lam lũ, nghèo đói tràn lan khắp nơi bất kể nông thôn hay thành phố; hầu như gia đình nào cũng có cha, anh, chú, bác đang bị trù dập, tẩy não trong những trại cải tạo nơi rừng thiêng nước độc; biên giới Việt Trung căng thẳng và nhà nước lại rục rịch bắt thanh niên, thiếu nữ đi nghĩa vụ quân sự cho chiến trường Campuchia … Thử hỏi trong bối cảnh đó, ai đã có được một chân trên tàu vượt biển bán chính thức, lại còn õng ẹo, bày đặt nhớ nhà, nhớ Sài Gòn làm chi!?
Chị em chúng tôi cũng vậy, ngày ngày lo ăn ngủ để lấy sức cho chuyến hải hành sắp tới đầy sóng gió. Sáng sáng, sau khi cuốn mùng và chăn chiếu vào một góc nhà để căn phòng 11 cô thiếu nữ chia với nhau được thoáng mát sạch sẽ, chúng tôi học ôn tiếng Anh với nhau. Không có sách nên chị lớn của tôi nhớ đến đâu thì dạy cho mấy em nhỏ như tôi đến đó. Đến trưa, thời gian đầu lúc còn tạm đủ tiền, cả bọn đi bộ đến quán cơm người ta nhận nấu cơm tháng cho. Về sau, khi không còn dư dả, chị tôi liều lĩnh dẫn cả bọn đi ăn tại quán cơm quốc doanh xéo nhà lồng chợ Rạch Giá. Thực đơn quanh đi quẩn lại chỉ có thịt kho lõng bõng nước, nhiều hột vịt hơn thịt heo; tô canh cải bẹ xanh lơ thơ vài cọng cải, tép khô thì… tuy… chết rồi, nhưng không nổi lên, lại lặn tuốt luốt đâu mất tiêu?! Nhưng như đã nói, chị em chúng tôi vẫn cứ vô tư lự, lại còn không biết sợ, không giữ ý, giữ kẽ. Lúc đầu còn kín tiếng, không dám cho người ta biết mình là người Việt, đi bằng giấy tờ giả làm người Hoa, nhưng chỉ được vài tuần, bọn tôi “m’ en fous” hết, dần hồi nói cười tỉnh queo. Chúng tôi đi ăn ở tiệm cơm quốc doanh nhiều tới nỗi quen cả một chị tiếp viên ở tuốt miền Bắc đưa vào đây. Chị nghe ra giọng Bắc của chị em chúng tôi nên lân la trò chuyện, chắc chị cũng nhớ nhà, nhớ quê và cảm thấy gần gũi với các cô em nói được giọng dễ nghe cho chị chăng? Quen khá thân tới nỗi đến đầu tháng Tư, khi chúng tôi được đi, bọn tôi tiếc của, đã gửi lại chị chỗ nồi niêu chén diã còn rất tốt đã mua ở chợ Rạch Giá để sau đó Mẹ chúng tôi ghé qua lấy. (Sau đó, Mẹ tôi có ghé qua chị thật, nhưng Mẹ gởi tặng lại chị hết) Nghĩ lại, thấy bọn tôi đúng là “điếc không sợ súng!” Cũng may, chắc chị ta chỉ là cán bộ quèn, hoặc tâm hồn cũng còn chất phác nên không tố giác chúng tôi hay làm tiền trực tiếp. (Nếu chị có đọc được những dòng này, xin ghi nhận lời-cảm-ơn chân thành của chúng em nhé!)
Cơm nước xong, chúng tôi về lại nhà trọ đánh giấc nghỉ trưa. Thị xã Rạch Giá thời đó đúng là “nửa chợ nửa quê”, ít xe cộ ồn ào nên không khí khá trong lành, hơn hẳn Sài Gòn. Vì ở gần biển nên không nóng nực lắm, lúc nào cũng có ngọn gió hiu hiu. Nhưng trưa nắng gắt, ai cũng trốn trong nhà, đó đây, thỉnh thoảng có chú gà trống giựt mình gáy bậy, liền có vài tiếng chó sủa vu vơ đáp trả. Tuyệt nhiên không nghe tiếng xe máy, không có tiếng Radio, vì những hàng này dù có, người ta cũng không dám xài một cách phô trương nữa. Những công việc nhà như gánh nước, giặt giũ, phơi phóng, chợ búa, quét dọn … người ta đã làm vào buổi sáng hết rồi. Còn những nông dân, chài lưới hay công nhân họ sinh sống ra sao, tôi không được biết, vì bọn tôi chỉ dám quanh quẩn ở nhà trọ mà thôi.
Có lẽ Rạch Giá là xứ trù phú, tự cung cấp thực phẩm cho chính mình được, nên cuộc sống người dân nơi đó không vất vả lắm như ở Sài Gòn. Độ 3-4 giờ chiều trở đi, thị xã mới lao xao thức giấc. Đó đây nghe tiếng nước máy, tắm rửa, nồi niêu lách cách, chắc người ta chuẩn bị bữa cơm chiều. Tôi nhớ hoài trong nhà trọ 2 tầng lầu, phòng bên kia có một gia đình người Tiều khá đông đúc, có đủ “tồ-hia”, “chế” và cháu chắt, của mấy gia đình cùng nhau đi vượt biển … có một chị tên Đ, siêng đi tắm sớm (để khỏi dành nhà tắm với nhiều người lúc chiều?), lúc nào tắm xong, chị cũng đứng trước cái gương nhỏ treo ở cửa sổ để uốn tóc bằng những cuốn tóc ny-lon, màu xanh, đỏ. Chị vừa ngắm nghía mình vừa ca nho nhỏ: “Chỉ còn gần em một giây phút thôi! Một giây nữa thôi là xa nhau rồi … Biển xanh vẫn xanh người đi sao đành?…” Lúc đó tôi còn nhỏ, đâu có biết bài hát đó của ai viết, nhưng tôi thấy tự dưng lòng mình xao xuyến kỳ lạ, mặc dù chẳng có ai để “một giây nữa thôi là xa nhau rồi”, chỉ mơ hồ thấy như một cái gì đó rất quan trọng sắp xảy ra!
Chiều chiều, chị em chúng tôi lại thả bộ đến quán cơm tháng bình dân. Phải công nhận là bọn chúng tôi lúc đó sống thiệt vô tư, hết sức “tiểu tư sản”, bởi vậy bà chủ nhà trọ ghét chúng tôi ra mặt. (Thưa dì Năm, những gì con sắp viết ra đều là sự thật, nếu Dì đọc được những dòng này, xin niệm tình tha thứ!) Chắc trong mắt bà, bọn tôi là một lũ con gái làm biếng, lại không biết điều, chẳng biết xum xoe lấy lòng “dì Năm” gì hết. Quý vị phải hiểu là người chị lớn nhất trong đám chị em chỉ mới 20 tuổi, tính tình quá hiền hậu, không biết “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”, chẳng biết giả lả biếu xén dì Năm gì sất mà dì lại là người rất thực tế; “Dạ thưa dì Năm” chay tịnh như thế không đủ cho dì hài lòng. Bà Năm “chiếu tướng” chúng tôi không rời mắt! Suốt ngày bà ngồi trên bộ ngựa hay đong đưa trên võng ngay chỗ cầu thang dẫn lên lầu. Tại nơi chiến lược đó, bà có thể quan sát nhất cử nhất động của mọi người ở trọ: ai khiêng mấy thùng nước, đầy hay vơi, hứng từ vòi nước ngoài hàng ba nhà bà để vô tắm; ai ngồi quá lâu trong nhà xí và xối bao nhiêu lon nước v.v. Tôi không nói ngoa đâu! Ai cũng ngán bà Năm, riêng với chúng tôi bà là “hung thần” một thời!
Chúng tôi ngồi nhà ăn như thế, núi Hy Mã Lạp Sơn cũng lở nữa là tiền Mẹ chắt chiu gởi cho! Thế là gần Tết, Mẹ tôi cử người chị lớn nhất trong nhà xuống Rạch Giá tiếp tế cho lũ em. Chị Hai khéo léo “Dạ Má con gởi dì Năm 2 cục xà bông Camay xài thử”, dì Năm vui vẻ liền. Thời đó, mặt hàng ấy bắt đầu hiếm hoi, là xa xí phẩm, chỉ còn mua được ở chợ trời. Được thế, chị Hai tôi ỏn ẻn xin dì Năm “cho mấy em con kê 2 ông Táo trên sân thượng của dì để tự nấu ăn”. Từ đó, tụi tôi sống dễ thở hơn, không còn hồi hộp khi đi ngang chỗ dì Năm ngồi nữa. Từ đó, chị thứ Năm lo phần cơm nước. Cũng “may”, nhờ 3 năm sau ngày thống nhất, chị tôi bất đắc dĩ được huấn luyện biết nấu cơm bằng bếp dầu hôi, rồi đến bếp than và cả bếp củi, nên chị không bỡ ngỡ, lo được cho đàn em ngày 2 bữa cơm tươm tất, nóng sốt. Tội nghiệp chị, nấu cơm chiều còn đỡ vì nắng đã khuất sau bức tường cao, nhưng cho bữa trưa chị phải dang nắng chang chang, lần nào chị cũng mặt đỏ bừng bừng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại … Giờ nhớ lại, thấy thương chị ghê!
Chúng tôi mau chóng chia công việc cho nhau: người lo giặt quần áo, kẻ đi chợ, đứa nhỏ như tôi được giao nhiệm vụ rửa chén bát. 6 chị em chỉ có độ 15 mét vuông để “sống”, có nghĩa là sáng sáng xếp dọn mùng mền chiếu gối vô góc phòng, tối tối lôi ra, nằm xếp lớp cạnh nhau, đầu quay vô tường, chân duỗi ra giữa phòng, bên phía kia là 5 cô gái Hoa kiều đi bán chính thức cùng trong tàu. Từ khi bà Năm bớt hằm hằm với tụi tôi, “hàng xóm” đang ở trọ phòng kế bên mới dám lân la qua chơi, trò chuyện với “6 cô tiểu thơ” – tên họ tặng cho tụi tôi mà sau này tụi tôi mới biết. Đêm về, bà Năm chỉ cho thắp một ngọn đèn tối mù mù nên tụi tôi không học hành chi, không có Tivi, ti-viếc, cũng không biết mùi Ciné ra sao, quý vị biết chúng tôi giết thì giờ ra sao không? Dĩ nhiên là ca hát, đụng đâu nhớ đó thì bắt giọng. Ca hát riết cũng mệt và hết bài, may mà có một cậu hàng xóm mặt mũi rất thư sinh, hoá ra là một Fan lớn của Kim Dung! Cậu ta lại có một trí nhớ đáng khâm phục, chịu khó ngồi kể lại cho tụi tôi nghe Lục Mạch Thần Kiếm là bộ các chị tôi chưa được đọc. Nhớ hồi trước 75, Sài Gòn lên cơn sốt vì truyện chưởng, mấy chị lớn trút hết tiền bỏ heo ống ra để đi mướn các bộ kiếm hiệp kỳ tình đó về đọc. Vì nhỏ nhất nhà, đọc chậm, nên tôi chỉ được lướt qua vài trang là bị lấy lại vì đã hết thời hạn mướn, các chị mau mau trả lại nhà sách để “thỉnh” cuốn kế tiếp! Tuy không được “luyện chưởng chính tông” nhưng tôi cũng biết hết Hoàng Dung, Quách Tĩnh là ai? Vô Kỵ, Triệu Minh là thường, tôi còn biết cả Chu Chỉ Nhược, Kim Hoa Bà Bà nữa là. Cũng nhờ công các chị lớn say sưa bàn luận với nhau những đoạn lâm ly, hấp dẫn nên tôi cũng biết kha khá. Những đêm nằm bẹp tại Rạch Giá đợi công an cho đi, trở nên bớt tẻ nhạt nhờ “cậu hàng xóm” phòng bên kia chịu khó ngồi kể lại tình sử Đoàn Dự với Vương Ngọc Yến. Tôi nhớ lúc đó tôi không thích nhân vật Đoàn Dự lắm vì thấy sao hắn ta có vẻ say mê “thần tiên nương tử” quá độ, nhưng người kể chuyện không chịu nhận yêu cầu khác của thính giả nên tụi tôi đành chăm chú ngồi nghe, thỉnh thoảng cười rộ vì những chi tiết ngôn tình!
Lụi hụi rồi năm hết, Tết đến. Tụi tôi cũng không suy tư, nhớ nhung gì nhiều. Tình hình chiến sự Campuchia ngày càng lao xao nên dân tình có lẽ cũng e dè, thắt hầu bao. Tôi không còn nhớ Rạch Giá có chợ hoa, chợ Tết như Sài Gòn không? Mãi đến khi còn độ một tuần trước Tết, cô con gái lớn của bà Năm quậy bột đổ bánh kẹp thơm lừng khắp nhà, tôi mới ý thức được Tết sắp đến rồi. Còn nhớ, tôi lăng xăng bên chị xin phụ và bây giờ thì má chị tức bà Năm không còn dữ dằn với chúng tôi nữa nên chị ấy cũng cho tôi tập đổ thử. Phải đổ trong một cái khuôn bằng sắt, kẹp chặt lại, nướng trên bếp than nên phải lật lẹ tay để không bị cháy khét. Khi bánh vừa chín, ụp ra là phải nhanh tay cuộn bánh lại bằng một khúc gỗ tròn. Bánh được cuộn lại như cái xì-gà, rồi xếp nhẹ nhàng, lớp lang vô hộp thiếc. Được cho phụ cuộn bánh, tôi vui lắm và trong lòng có chút hy vọng lát hồi chị sẽ cho tôi vài cái bánh ăn. Rốt cuộc tôi chỉ được hưởng vài cái bánh cuộn không khéo, bị bể hay bị cháy sém.
Buồn 5 phút!
Chiều 30 Tết tôi mới biết buồn thật sự, không gói bánh chưng, không cúng Giao Thừa, không dọn nhà dọn cửa, chà sân trước cho sạch sẽ và được để sẵn cái áo đầm hồng Ba tôi mua cho từ Hồng Kông để mặc vào sáng mùng Một. 6 chị em buồn bã đi ngủ sớm, cả thị xã cũng im ắng vì không được đốt pháo.
Sáng mùng Một tại nhà trọ cũng như mọi ngày trước, không đứa nào nhìn đứa nào, cũng không dám nhắc lại “Hồi đó …”. Nhắc làm chi nữa khi không có bao lì xì đỏ tươi; không có “Bầu Cua Cá Cọp” cho bọn con nít và “Tam Cúc” cho người lớn; không có lén Mẹ bóc bánh chưng ra đem chiên – một điều Mẹ tôi la hoài vì theo ý bà, bánh chưng mới nấu còn dẻo, thơm lừng, ăn như thế mới ngon. Chính thức thì sau 3 ngày Tết bà mới cho phép chúng tôi đem bánh chưng ra chiên, một món khoái khẩu cho bọn trẻ. Nhưng năm nào cũng vậy, thấy mẹ dắt xe đạp đi đến nhà bà con, họ hàng chúc Tết là tụi tôi lôi bánh ra chiên ngay!
Chị thứ Năm lo phần nấu nướng cho cả bọn uể oải không thiết đụng nồi, đụng niêu. À quên, theo tập tục, 3 ngày Tết ta không nên nấu nướng nhiều vì Ông Bà Táo còn đang bận dâng Sớ Táo Quân, thực chất là “mách lẻo” với Ngọc Hoàng Thượng Đế về gia cảnh chủ nhà cơ mà?! (Nói đùa chút chơi!) Chắc vì vậy nên chị tôi quyết định dẫn lũ em ra nhà lồng chợ Rạch Giá tìm món ăn. Lạ quá! Nhà lồng chợ khá đông đúc. Ngày xưa, buôn gánh bán bưng có cực khổ mấy cũng không bao giờ làm lụng vào 3 ngày Tết. Thế mà hôm nay có nhiều hàng quán mở đón thực khách. Nhìn kỹ thì thấy thực khách đa số là người trong tàu và của 2 tàu khác cũng đang chờ được cho đi bán chính thức. Cảm ơn những người dân chợ Rạch Giá, không có quý vị, chúng tôi không biết ăn uống làm sao vào ngày mùng Một Tết.
Chúng tôi sà vào sạp bánh cuốn, húp lấy húp để nước mắm pha ngòn ngọt và lần này chị tôi hào sảng cho mỗi đứa thử món bánh cống có con tôm đỏ au với vị bánh bùi bùi vì có đậu xanh – một đặc sản của miền Tây mà gia đình gốc Bắc như chúng tôi ở Sài Gòn chưa được nếm thử. Bỗng thấy đời đẹp trở lại!
Xế trưa hôm đó, cô con gái út của bà Năm lấy hết can đảm ghé qua, nhờ chị tôi dạy hát bài “One Day When We Were Young” của Richard Tauber đã được Phạm Duy phổ lời Việt. Lắt léo một chút là cô ấy muốn học bằng tiếng Anh cơ! Chị tôi cũng tận tâm dạy từng câu, tập phát âm từng chữ cho đúng. Phải mất gần 3 tiếng cô con gái bà Năm mới hát được sao cho người ta nghe ra được lời! Cũng tội, nơi đây nước phèn lờ lợ hay sao nên lưỡi chị ta hơi cứng, nhất là chữ “e-rờ” thật đúng là thử thách lớn cho trò lẫn thầy. Nhưng nhìn nét mặt rạng rỡ, sung sướng của chị ta, chúng tôi cũng vui lây!
Mùng Một của cái Tết cuối cùng trên quê hương chúng tôi như vậy đó. Không mai vàng, không bánh chưng xanh, không bao lì xì đỏ, nhưng chúng tôi cũng có những giây phút vui cười nên lòng thấy phơi phới. Nhất là viễn ảnh “sắp được đi” khiến chúng tôi nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, nhớ Ba Mẹ, Thầy Cô và bạn bè sắp bỏ lại hết sau lưng.
KN
Chùa Lá, 12/01/2024, cám ơn Rạch Giá đã cho chúng tôi những ngày ấm áp cuối cùng trên quê hương.
Ngày xưa, những cơn mưa đầu thu về qua đất Thuận Hoá tuyệt dữ dội. Lão Chu là người thường rũ tôi đi ngắm mưa. Lão đứng hàng giờ ở phá, ngẩng cổ, ngửa mặt thách thức cơn giận dỗi của trời đất. Mưa chúi xuống đất, mưa tắm lên đầu, mưa cắm đầy miệng lão, song lão Chu vẫn trơ trẻn cướp giật thức uống với thượng đế. Lão phá ra cười; tiếng cười sằng sặc lăn lộn trên sóng. Lão Chu nuôi tôi bằng tiếng cười khật khùng điên dại của lão. Nhưng dạo đó tôi còn trẻ, chưa khùng, cũng chưa dại. Tôi chỉ mới bắt đầu biết say mưa. Mà mưa ở phá đẹp kỳ ảo. Cả một vùng trắng ngần, trắng lịm, những tảng nước trắng xóa lồng lộn sa sầm xuống mặt đầm rồi tung bắn lên quẩy với hơi sương, giăng giăng mờ mờ, chạy chạy đường võng trên không. Mưa ở phá rầm rập, ào ạt mạnh mẽ. Bầu trời trắng lòa lòa những nước là nước.
Từ khi biết say mưa, tôi đâm biết say Ngự. Những lần theo lão Chu ra phá, Ngự đẹp man dã. Vải áo mớ ba chảy dán, bó rịt người, thân thể Ngự nổi lửng như một nhành lúa trổ vươn trên mặt ruộng lụt nước. Ngự xõa tóc xổ tung rã rượi, chân dầm trong nước, mắt dầm trong mưa. Ngự xòe hai cánh tay mở lòng đón mưa. Những hột mưa nhỏ mà tròn mọng. Ngự bảo là đốt tay Phật, vỡ vào đâu, phúc đến ấy. Phật tắm phúc lên người Ngự. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn phúc của Thượng Đế vỡ hoa trên da thịt Ngự. Lão Chu lại rống tiếng cười sang sảng, thỏa mãn đã uống hết cơn bão mùa vào bụng. Lão trỏ ngón tay lóng nhọn chỉ lên trời, rồi chỉ vào bụng hỏi: Cuộc đời muốn cái chi? Lần nào cũng như lần ấy, trăm lần như một, lão Chu tự giải đáp một mình. Lão gọi Ngự, vít lấy đầu cổ ướt nhẹp của Ngự, cắn vào rái tai Ngự, rồi run run trả lời: Ngự là cuộc đời!Ngự là cuộc đời! Lão Chu lại ré lên cười the thé sung sướng. Mỗi lẫn lão Chu làm những cử chỉ khật khùng đáng ghét đó, thay vì bực tức, Ngự lại phát tiếng cười con gái đương thì ròn tan. Giọng cười của Ngự cũng như của lão Chu bắn theo mưa, châm chích, rã rích, làm tay chân tôi bủn rủn. Vì không hẳn chỉ đơn thuần là giọng cười mà là tiếng kêu khát vọng của một loài sinh vật thèm khát thiên nhiên lẫn hạnh phúc của sự sống. Lão Chu ngắm Ngự, rồi nhìn tôi kiêu hãnh. Bão đã đong đầy bụng lão, bão ngập trong ruột, bão làm căng lòng dạ khác thường của lão Chu. Lão tiến lại gần hỏi: Mi hiểu không? Tôi trả lời: Tôi hiểu, tôi hiểu... Mưa ở Thuận Hóa cực kỳ huyền ảo.
*
Trời vần vần nước. Chúng tôi ở phá suốt buổi, đến khi chiều chạng vạng mới về làng. Cơn giận của thượng đế lắng dần, những cái quẩy thét sau cùng biến thành làn chớp lóe, chưa kịp xé trời đã mất hút. Dọc đường về lão Chu lừng khừng ít nói, lão mất hẳn cái nét xuất thần ngoài phá. Chỉ còn Ngự rủ tôi rình nghe những váng mưa đương vẩy qua đình, nghe giống đấu gạo huyền trân các mụ ưa vãi ra sân kêu lanh tanh, lách tách. Về tới nhà, lão Chu vụt đống quần áo ướt vào góc, xà ngay vào bếp khợi tro lửa. Lửa té tát lên mặt, lửa đỏ kè đôi con mắt lão, lửa phà cả vào mồm miệng bắt lấy hơi rượu cay lão đương tợp lấy tợp để, tu uống ừng ực như con vắt thèm máu. Nền nhà bằng đất, âm ẩm lạnh. Ngự thay áo trở ra than đói. Lão Chu vụt ngay bình rượu, nhào vào bắt siêu đun nước. Lão sàng sàng gạo như người làm xiếc. Lão Chu làm tất. Ngự muốn phụ lão, nhưng lão Chu đã lồng lên dằn lấy con dao trong tay Ngự. Giọng lão bực tức: Mi là cuộc đời!
Phải, Ngự chính là cuộc đời của lão Chu. Và lão chẳng muốn ai đụng đến cuộc đời của mình, chỉ muốn cuộc đời của lão sung sướng. Ngự và tôi đành ngồi im thin thít nhìn khúc cá bơi lội thoăn thoắt giữa bàn tay lão Chu. Thớt cá bóng mú, lão Chu đem cắt khía, bằm xả bỏ vào tượng kho. Cá chín, nước kho sánh mỡ, cặp mắt lão Chu sánh niềm vui. Lão ngửng lên ngó Ngự cười ngây ngô. Nét mặt lão giống y vẻ mặt của những đứa trẻ chóng già, mắt có đuôi nheo mà tròng mắt thì dại khờ. Lão Chu kỳ quặc như vậy mà Ngự lại nói Ngự yêu lão. Tôi thù Ngự mỗi khi nghe Ngự nói yêu lão Chu.
Mưa đêm nhả nước nhay nhắt từng nhịp. Tiếng mưa khuya nghe như tiếng mõ cầu siêu cho ai văng vẳng buốt vào từng thớ thịt. Tiếng mõ là tiếng kinh kệ, nghe mà thấy buốt là bởi tâm không sạch, Ngự diễn giảng lúc kéo tôi đi nằm. Lão Chu ngó theo chằm chằm, hai con ngươi lão chăm chắp rình mò, nghi kỵ, như thể lão biết hết. Mà lão Chu tinh như quỷ. Lão đe bọn trai làng: Thằng mô để con Ngự ốm nghén, tau giết! Tau xẻ hắn làm đôi, lóc nứa máng cho voi giầy! Lão nói là lão làm. Lão hung ác đến độ vác rựa rượt thằng Hiểm chạy băng đồng, năm ngày không dám về làng. Mẹ thằng Hiểm đang đi cầm bò trên núi phải vội vàng về lạy lão Chu ba lạy, lão mới tha. Mà có gì đâu, thằng Hiểm chỉ mới chòng ghẹo Ngự chưa quá hai câu.
Tôi len lén thả tay, chuồi mình dưới lớp chăn đay, cho bàn tay hoá con trăn trườn lên bụng Ngự. Thịt da Ngự lạnh ngắt. Hơi thở Ngự rùng mình bấu nghiếng lấy đùi tôi không cho cử động tiếp. Trong bóng tối, hai con mắt Ngự, hai mắt tôi, bốn con mắt ẩn trốn cặp mắt rình rập của lão Chu. Đôi mắt lão chăm bẳm lục lọi. Lão Chu nhìn tôi nằm chung với Ngự khó chịu. Ánh mắt lão đầy trăn trở, ánh mắt của một kẻ điên biết đang xảy ra điều ám muội mà lý trí không giải quyết. Ý nghĩ lão biết tôi ăn nằm với Ngự đem mổ bụng dồn trấu thả trôi sông làm tôi run lẩy bẩy. Ngự cũng sợ, ghì lấy nan giường mây, thứ mây quý lão Chu vào tận rừng sâu đốn về uốn làm chỗ ngủ cho Ngự. Càng sợ, hơi thở của tôi càng níu lấy hơi thở của Ngự. Trong bóng tối lão Chu d đốt củi suốt đêm, cháy lòe lòe khắp nhà như thể sợ đêm tối có ai vào đánh cắp mất cuộc đời của lão. Lão Chu chỉ mở hé một liếp cửa duy nhất, cho sao đêm ở Thuận Hóa những khuya dứt mưa lấp lánh, chiếu tắt, nhảy nhót động đạy giữa cái nền tím lặng mà sâu hút, đẹp không thua chi đôi mắt Ngự, tưởng chừng là nhúm ngọc trai ai vớt ở dưới đáy biển sâu đem gắn trên trời. Ngự thì thầm hạt sao đêm là mắt Phật. Tôi uống tiếng à ơi và nuốt con mắt Phật bà từ ái dưới mí mắt Ngự.
Lửa cháy lồng lộn, như lòng dạ hung dữ của lão Chu, tưởng sôi sục suốt đêm vậy mà cũng nguôi. Tôi đợi cho lửa tắt dần, tắt nhúm trên khuôn mặt lão, chỉ còn soi một đốm hồng cuối cùng mới dám cắn môi Ngự. Miếng lửa bỏng rát ở đầu lưỡi chảy lan vào người tôi những hột mưa châm chích, những váng mưa đã hắt qua mái đình còn nhiểu giọt tâm tích từ những trận nước tinh chất vỡ suốt trên cánh đồng bạt ngàn gió chướng kết lại trong tôi. Mãi sau này nhớ lại, tôi vẫn còn thấy đầy những cơn mưa tầm thu, bay trĩu trĩu qua vai, làm ướt áo lão Chu và ướt tóc Ngự.
*
Thuở đó, ai có sống ở làng Sình mới nghe danh lão Chu Khỏe. Lão Chu không khỏe việc đồng án, nhưng lại khỏe vẽ tranh. Mà lão Chu vẽ cực đẹp. Người ta nói lão có hoa tay. Nhìn lão miên man phóng bút khai họa, rồng bay phụng múa, voi quỳ hổ lạy, Phật bà, tố nữ, núi biển sông đồi, chim lồng cá chậu… tôi cứ ngẩn ngơ. Lão Chu vẽ cực lẹ. Lão vẽ tuyệt nhanh, nhanh như người ta đi tưới trên giấy. Chịch: một bức hình. Rồi chịch: bức nữa. Lại “chịch“, “chịch“, cứ thế lão “đi tả” một lúc mười mấy bức, mà bức nào cũng sắc, đường nét vun vút như roi quất. Chẳng thế mà tranh Sình của lão Chu bán chạy. Lão vẽ trên giấy mộc, rồi đem khắc in lên thếp gỗ mút. Người ta mua tranh Sình của lão để thờ, cúng bổn mạng, cúng gia tiên, cúng sao, tế lễ trời đất, lễ tạ mùa màng. Mấy năm liền ở đất Thuận Hóa được mùa, lúa cấy phơi phới trên ruộng vàng rức mắt. Nhà nông tranh nhau mua tranh Sình, thóc đổ vào túi lão Chu. Người ta càng trọng lão, trọng cái thiêng liêng của tranh Sình. Được tiếng hóa cuồng. Lão Chu rủng rỉnh tiền bạc, mặc nhiên tự xem mình như một thứ thần linh. Lão nhận càn là tổ họa của làng Sình, tên chữ là Lại-Ân. Danh tiếng càng cao, lão Chu càng khó ở. Hễ ai nói động đến, dù chỉ nói khóe, nói cạnh xa xa, tức thì lão nhảy cỡn lên rủa xã bằng cái giọng dấm đặc ợ hơi khế chua; chửi bới người này, xỉa xói kẻ nọ. Lão Chu quá quắt đến độ trong làng bắt đầu ghét lão. Những người xấu miệng thì bảo Lòng dạ hắn dơ dáy như rươi, vẽ tranh Sình Phật mô có chứng, thôi không mua nữa. Những kẻ độc mồm thì trù ếm Lão không biết nhân nghĩa, thị phi phép tắc, bữa mô trời phạt, cho sét đánh hộc máu. Người ta muốn lão Chu chết, nhưng lão không chết, vẫn trơ trơ ra phá, đứng phơi gan thách thức thượng đế. Lão là thần linh, lão có sợ chi. Lão Chu cười rung cả người, mỗi bận ở phá về, ướt nhẹp đầu cổ, lão lại kiếm chuyện để chửi bới, kiếm người để đay nghiến. Những khi ấy, hai con ngươi lão chạy sòng sọc, mùi rượu tanh nồng nặc ở mồm miệng nhớm nhúa ộc ra. Vậy mà Ngự yêu lão. Mà ở làng Sình cũng chỉ có mỗi mình Ngự là thương lão, cho nên lão Chu càng thích gọi Ngự là cuộc đời. Một hôm hứng chí, lão Chu quyết định vẽ lại cuộc đời mình. Lão nắn nót vẻ truyền thần cho Ngự một bức bán thân. Ngự mặc áo Mã-Tiên màu đỏ nghệ, ai cũng trầm trồ khen đẹp. Có người xin hỏi mua, lão Chu nghe được, trợn mắt, thè lưỡi: Mi dám mua cuộc đời của thần linh, tau vẽ mi ra con bòi! Lão Chu ném chai lọ, rác rưởi đuổi khách. Ngự buồn lắm. Tôi xin Ngự bức vẽ, song Ngự không cho. Ngự nói: Ngự muốn giữ giùm cuộc đời cho lão. Tự trong thâm tâm, tôi biết Ngự rất yêu bức vẽ truyền thần đó. Còn tôi? Tôi yêu Ngự. Tôi si tình Ngự, mà sao không ai biết?
Tháng Giêng, triều đình làm lễ tế đàn Nam Giao. Không hiểu vì cớ chi? Lão Chu nằng nặc đòi lên kinh thành Huế. Lão sắm sửa cho Ngự, mướn thuyền, thâu tóm tiền bạc, quyết định làm một chuyến thưởng ngoạn kinh kỳ. Trời tờ mờ sáng, những hàng cây ngô đồng dọc ven làng Sình còn chưa thức, lão Chu đã dắt díu tôi với Ngự xuống thuyền, bơi ngược khúc sông Bồ lên Bao-Vinh. Tôi với lão dầm mái chèo khoắn nước. Mặt sông trong như mặt kính, lai láng, sáng lưỡng, từ từ rạn vỡ lúc xuồng rẽ nước xa bờ. Lão Chu xăng xái, chèo lấy chèo để, mặt sông dậy sóng, sóng đánh tràn khoang. Ngự la hốt hoảng, nhưng lão Chu cứ bơi dầm cười nắc nẻ. Không phải chỉ có một mình lão Chu kích động, cả tôi lẫn Ngự đều háo hức. Nắng lên ối mui thuyền. Thếp nắng rạng đông, đỏ bừng, dọi vào những đám mây còn đọng ở đáy sông. Ngự hò tiếp sức tôi với lão Chu. Giọng hò Nam Ai của Ngự lẳng lơ, vọng tới cồn, váng trong lau lách. Lão Chu đắc chí cười khanh khách. Cười chán lão vỗ đùi làm nhịp, hai vai oằn xuống, hai chân xoạc, tay vươn tới, khủy kéo về, lão đẩy mái chèo khua thuyền trôi băng băng. Ngự hò một lúc rồi lôi truyện Tàu “Tuyết Hồng Lệ Sử’’ của Từ Trẫm Á đọc cho tôi và lão Chu nghe. Tôi nghe truyện kể thì ít mà say giọng đọc của Ngự thì nhiều. Tôi uống từng câu, nuốt từng chữ, ngậm từng cái ngắt hơi của Ngự.
Thuyền qua Thanh Hà, qua Bao Mỹ, đến Bao Vinh, mà giọng kể của Ngự hãy còn chạy trong máu tôi rần rần. Lão Chu cắm nọc, giam thuyền. Mặt lão bỡ ngỡ nhìn mái tường thành, đang ngã bóng đồ sộ, vĩ đại, đè lên người lão. Thân thể lão Chu bẹp dí, như bị tường thành nghiến nát. Lão vụt trở nên nóng nảy giục giả tôi với Ngự nhập vào đám người đi rước Hoàng Thượng ngự đạo. Tôi nắm tay Ngự, chen trong thác người khổng lồ đi dọc sông Hương, ngang chùa Diệu Ðế, ngang cổng Thượng Tứ, qua cầu phao, đổ dốc Nam Giao. Hoàng Thượng từ điện Cần Chánh trong Tử Cấm Thành ngự giá lên Trai Cung, lính hầu đánh chuông thét: Thiên tử thọ mệnh ư thiên! Cả giòng thác người cúi rạp đầu khiếp hãi! Lúc Thiên Tử đã đi qua, tôi ngửng lên còn trông thấy hai tròng mắt lão Chu thất đảm, hồn phi phách tán. Kiệu Rồng đi đến đâu, mây cuộn nước dạt, trăm họ vái lạy: Thiên tử vạn niên, Vạn thọ vô cương, Quần phương tập khánh, Vạn bảo trình tường! Lão Chu run lẩy bẩy, cái chức vị “thần linh” của lão xem ra nhỏ mọn, không sánh nổi với Thiên tử. Tranh Sình của lão vẽ trên giấy mộc bản thì có ra gì, so với cờ quạt, trướng liễn, tàn lọng, chiêng trống, voi ngựa, long đình, ngự liễn, hoành phi, lân cầu, bảo kiếm, chung đỉnh, đĩa chạm? Người lão Chu cứ co rúm lại từng chốc, lão đã thật sự gặp thượng đế!
Tiếng trống lùng thùng chiêu hô, tiếng chuông xướng họa, phường bát âm tấu nhạc cho đám vũ Bát Dật múa tế giao. Các ngón đàn tỳ, nhị, nguyệt, sáo, uốn éo vây lấy tôi và Ngự. Mặt lão Chu đang xám hóa đỏ bầm như gấc, tôi biết lão sắp lên cơn. Mà lão lên cơn thật. Một hai lão nhảy qua khuôn thành, đòi lên Viên Ðàn, chỗ lập án thờ, nhưng quan lính đuổi lão. Lão Chu lại đòi vô Phương Ðàn xem tế khí và tế phẩm, cũng không được. Mặt lão hầm hầm, cơn giận xé ruột, cơn giận xé gan, cơn giận bức bối trong óc lão. Song lão Chu cũng biết sợ. Thượng đế ở đàn Nam Giao, không chỉ làm mưa như ở phá, mà có quyền tế sống lão. Giữa rừng người đi xem tế giao, lão Chu lôi ngược tôi với Ngự. Lão xua tôi như xua tà, lão bắt Ngự về. Tội nghiệp Ngự khóc hết nước mắt, lão cứ lầm bầm chửi rủa: Trời sinh vua, sao còn sinh lão? Lão muốn thọ mệnh ư thiên, quần phương tập khánh, muốn mặc áo đại triều, đi guốc cẩn, uống rượu trong chén sứ cẩn tam khí, hút thuốc trong bình điếu bằng ngà, lão muốn tất. Ngự khóc ròng rã, lão Chu quầy quầy xô đuổi. Lần đầu tiên tôi thấy lão Chu xua đuổi cuộc đời của chính lão.
Những ngày sống ở Thuận hóa, chỉ có mối tình của tôi với Ngự là đẹp. Mưa xuân trắng mờ mịt cánh đồng. Cả một láng mưa bay vút qua mặt ruộng điểm sương, trổ mai trắng, mọc rưng rứt đến ngút ngàn. Ngự chạy băng đồng, ném chiếc nón Phú Cam xoáy tròn trong không khí. Vải áo lụa mỡ gà của Ngự tất tả, bén nước, nhễu rây trên đất. Tôi theo vết nước tìm bắt Ngự. Hai đứa chạy ra bờ ao, xem sen nở. Màu sen cánh phấn, chao chao, mặt ao chao sóng, những cánh sen dập dình nổi lửng trên cái nền rêu thẳm. Ngự hay cởi áo cho tôi cắn lưng để rụt cổ rùng mình. Tôi thích mơn trớn Ngự dưới gốc đại, nhìn lá đại rụng xuống bụng Ngự, phập phồng lên xuống theo hơi thở Ngự. Mà thịt da Ngự thẩm thấu lạ. Mỗi bận mưa giông, cả một láng mưa, nhọn hoắt, buốt như kim quất qua mái chùa trước khi đâm xuống mặt hồ xanh ngọc, vậy mà khi gieo xuống mình Ngự, những kim mưa tan biến không để lại dấu vết. Tôi săm soi tìm dấu tích của trận bão, chỉ thấy dấu vết con gái thâm sâu giữa bụng Ngự. Tôi mê mùi hương trầm thắp trong chùa đọng ở tóc Ngự. Tôi tưởng tôi sẽ sống với Ngự suốt đời, ai ngờ lão Chu đã nghĩ khác.
Từ khi viếng kinh thành Huế trở về, lão Chu đâm khó chịu. Lão dở người cả với Ngự và tôi. Lão giống kẻ thất chí, công không thành, danh không toại. Gặp ai lão cũng lải nhải: Cuộc đời phải cao sang quyền quý? Tôi chán lão, còn Ngự thương lão. Mưa Thuận Hóa vẫn trắng mị mờ những ruộng lúa, hương trầm tiếp tục nồng nàn trên da thịt Ngự. Chỉ có lão Chu là đổi khác.
Một sáng tôi đang ngủ với Ngự trên giường mây, thì lão Chu xồng xộc xông vào. Lão ném bắn tôi xuống giường, lôi Ngự dậy. Lão Chu loan cái tin động trời: Tau đem con Ngự tiến cung! Tôi thét: Lão không có quyền! Tôi thề không để lão bắt Ngự đi ở Nội. Nhưng lão Chu đã lồng lên như con báo đói mồi, lão gầm: Mi muốn cái chi? Lão vung tay tát tôi. Lão nện tôi như người ta nện chó hoang. Lão Chu đánh tôi giống lúc lão vẽ tranh Sình. Chịch; một thọi. Chịch; thọi nữa. Rồi chịch; chịch; cứù thế lão thọi. Ngự khóc oà, lão Chu xoay mình xáng Ngự một bạt tai ngã chúi vào góc nhà. Tôi cố chụp thanh củi, nhưng lão Chu đã nhanh tay lấy đòn gánh phang vào đầu tôi đổ máu. Lão đánh tôi ngất lịm ngay trên nền đất. Lúc tôi tỉnh dậy, nhà đầy tiếng khóc. Tiếng khóc của Ngự mang mang, thê thiết tủi hờn. Lão Chu đã trói nghiến tôi lại, lão buộc chân tay tôi quanh cột nhà, mình mẩy tôi còn tắm máu trận đòn ban sáng. Lão Chu thuê các mụ đến trang điểm cho Ngự, rẽ tóc giữa, đội khăn, bắt mặc áo mớ năm, đi hài, đeo kiềng. Ngự nhìn tôi ai oán, tiếng khóc Ngự tức tưởi, đặc khản, sầu thảm. Lão Chu cho mổ heo, mổ bò, giết trâu thết làng. Lão trịch thượng ra vào, trịch thượng độc thoại: Cuộc đời muốn cái chi? – Phú quý! Lão Chu ré lên cười thỏa mãn, giọng cười khé khắt hăng hắc như nước sôi quá độ, tiếng cười luộc bỏng tim gan tôi. Lão Chu vỗ đùi trỏ Ngự kêu: Mi ráng hầu hạ Ngài, Ngài thương cho làm quý phi thì tau được làm Quốc Công! Lão lại ré lên. Mọi người im thin thít, không ai dám phản đối. Người ta sợ lão lên chức Quốc Công thật, vì Ngự đẹp, xứng làm quý phi cho Hoàng thượng. Triều đình đưa kiệu tới đón, phường kèn trống so dây, trổi nhạc. Tiếng Sên Tiền, Tám Âm, đàn Sến, đàn Cầm, mõ Song Lan đệm nhịp ò e. Ngự không ngớt khóc thảm. Tôi lồng lộn chửi mắng lão Chu, đào bới ba họ nhà lão, song lão Chu hung dữ dị thường, lão lấy dẻ tộng vào miệng tôi, rồi lại đánh tôi chết ngất. Hôm Ngự bị mang tiến cung, tôi với Ngự không nói được với nhau một câu vĩnh quyết.
Mấy ngày sau, được các mụ cởi trói, tôi vác dao rượt lão Chu. Tôi đã thề giết lão là tôi giết lão. Tôi bửa lão làm đôi, tôi chém lão làm năm, tôi băm lão làm tám. Tôi cắt gân, chọc ruột, moi phèo lão Chu. Trời mưa bẩn xối nước, ruộng ngập sình, tôi vác dao lội sình đuổi lão Chu. Nước sình bắn lên mặt, cỏ lau cứa người, lão Chu chạy như gió, lão phóng mình như cáo nhảy chuồng gà, tôi lụi dao vào lưng lão. Nhưng lão Chu né tài tình, uốn người thót bụng cong lưng tránh những mũi dao tôi không ngớt lia tới. Lão rít kìn kịt: A! Mi giỏi! Mi đòi chém Quốc Công? Tau thưa triều đình cùm mi! Lão Chu vươn hai tay dài khẳng khiu chận lưỡi dao nhọn trong tay tôi, lão nắm chặt bản dao không cho tôi giật lại. Ðất sình dính bê bết lên người, tôi vòng tay lấy hết sức bình sinh rút con dao phai dắt ở hông, chém bổ xuống đầu lão Chu, thớt dao xé mưa phạt xuống. Lão Chu nhanh như sét oằn người tránh, làm lưỡi dao trợt trúng vai tóe máu. Tiếng rống lão Chu nứt trời đất. Lão rú lên trong lúc máu phụt có vòi, xịt trây vào mặt mũi tôi tối tăm đỏ kè. A! Mi giết Quốc Công! Lão Chu ngoác mồm trợn mắt, lão không chết, cũng không ngã, máu lênh láng tuôn ròng ròng tắm đẫm châu thân lão, máu chảy theo mưa xuống nước ruộng loang loáng đỏ ngầu, nhưng lão Chu chẳng có vẻ gì là hề hấn, lão chỉ ngạc nhiên vì chức Quốc Công không bảo vệ được lão. Tôi gồng tay, xĩa dao vào mặt lão, con dao nhọn tôi cắm vào mắt, con dao phai tôi chặt ngang bụng. Lão Chu phải chết, lão phải đền mạng cho Ngự dù mười cái mạng lão cũng không bằng một đốt ngón chân Ngự. Lão Chu vùng bỏ chạy. Lão chạy nhanh như cắt, hai đầu gối cất lên khỏi mặt ruộng phóng nước kiệu, chỉ có máu rớt lại đằng sau từng dúm, từng bệt lớn như có ai nhổ trầu. Tôi lao theo lão, mưa giăng kín trời đất, bóng lão hiện, bóng lão mất, mưa cứng như đá, mưa dầy như thép, tôi vụt mặt vào bức tường mưa rượt lão Chu. Tôi đã thề giết lão là tôi giết lão, có ba đầu sáu tay lão cũng không thoát. Tôi sẽ bằm lão ra cám. Ai bảo lão dạy tôi điên, ai bảo lão bắt tôi khùng? Lão đem Ngự tiến cung, tôi biết yêu ai? Tôi biết ngủ với ai nữa? Thịt da Ngự, thân thể Ngự, mắt môi mũi miệng tóc chân mày rái tai Ngự lão đem cho Hoàng Thượng thưởng nguyệt, tôi thù lão. Rừng mía lấp loáng, những đọt mía ròn tan hôm nào tôi cùng cắn với Ngự. Lão đã bẻ mía đứng đợi tôi ở bìa rừng. Mắt lão gườm gườm, môi lão thâm, miệng lão mím, chân lão xoạc xuống tấn, hai tay khuỳnh khuỳnh thủ thế. Mi giỏi, mi đến đây, mi ăn nằm với con Ngự mi tưởng tau khôn biết?Con Ngự mất trinh, tau đem gã cho vua, mi còn muốn chi? Mi muốn chi? – Tôi muốn bới mả con mụ lão, sanh nhằm giờ chi mà độc địa, lòng dạ dơ dáy muối biển cũng khôn rửa được! Tôi lao vào chém lão Chu, lão hươi quyền đỡ. Lão lấy cây mía gạt những mũi dao tôi lụi tới, lão nhảy qua, xạt lại, tiến lui tài tình, không cách chi tôi đâm được lão. Chém một lúc, tôi đuối sức, người vả mồ hôi, nhịp thở hổn hển, mất hết sức lực, lão Chu biết tôi tàn lực, cười khe khé: Răng mi không chém tau nữa? Mi thua rồi ư? Chừ tau độp mi cho mi biết! Lão Chu bất ngờ nhảy bổng lên khỏi mặt đất, quật gốc mía vào đầu tôi tới tấp, lão đánh văng hai con dao trên tay tôi, đè ngửa tôi ra ruộng. Tôi vùng vẫy, lão Chu nhúng đầu tôi xuống nước ruộng, tôi ngạt thở há mồm uống từng bụng nước thum thủm sền sệt đất sình, lão Chu nhấc đầu tôi lên cho thở một giây rồi lại dộng xuống mặt sình, lão la chói lói, tôi thét dẫy dụa cố vùng ra mà không được. Sình chui vào mắt, vào tai, vào lỗ mũi, tôi uống sình căng đầy ruột, mấy ngón tay lão Chu siết ở cần cổ tôi như kềm người ta siết cổ tội hình. Tôi ú ớ, lão Chu bẻ quặt tôi lên, hai tròng mắt lão trắng dã, to như hai cái thúng. Lão Chu ghé sát miệng vào mặt tôi gằn từng chữ: Con Ngự là cuộc đời tau, tau đem hiến vua để nó được quyền quý, sung sướng. Cuộc đời tau được ở trong cung, vàng châu, gấm lụa, một bước có người hầu, hai bước có kiệu khiêng, Ngài thương cho nó làm nhất giai phi, thì nó thành bậc mẫu nghi thiên hạ. Còn mi? Mi có chi cho nó? Răng tau nói khôn đúng ư? Mi là cái thớ chi trong trời đất?
Lão Chu buông tôi ra, cái bóng lão dọi lên giữa rừng mưa, cái bóng thấm đẫm máu lúc lão bước đi, tan biến vào hơi nước. Tôi nằm vật ra trên mặt ruộng, thân thể đau dần bãi hoãi, song cái đau thể xác cũng chưa bằng nỗi đau linh hồn bức từng sợi gân trong người tôi. Mỗi sợi thần kinh bức làm tôi quẫy mình trào nước mắt. Lão Chu đã nói ra sự thật, tôi có gì cho Ngự? Tôi nằm cho mưa nổ xuống mình, đốp chát từng hạt thù hận. Thượng đế là ai? Khóc cho tôi hay khóc giùm Ngự? Chừng nào thì lão Chu mới biết khóc?
Mưa ở đâu xót xa cho bằng mưa ở Thuận Hóa? Mưa ở đâu?
*
Những cơn mưa tầm thu trở về qua đất Thuận Hóa lạnh tăm tăm từ sau khi Ngự đi ở Nội. Váng mưa không còn trong mà đục. Hột mưa nặng như có huyết, nhễu xuống da buốt thấu xương tủy. Thời gian bỗng ngừng lại ở làng Sình, dài thậm thượt lê thê… Mỗi khắc mưa là một niên kỷ, đợi cho hạt mưa bám ở mái rỏ xuống sân, mất từng canh. Mỗi giọt nước là một khối chờ đợi, thai nghén, thành hình, dâng tròn rồi căng cứng mạch máu đầu óc đến lúc vỡ tung vào hư không vắng lặng. Tất cả tẻ nhạt, trầm buồn, u uất. Tất cả theo Ngự đằng đẳng mất biệt âm tín. Tất cả theo lão Chu đằng đẳng mõi mòn đợi chờ chiếu chỉ triều đình ban xuống tấn phong Quốc Công. Chiếu không đến, chỉ không về, lão Chu chỉ còn biết sống với nỗi điên khùng tạo tợn. Nhưng lão già đi trông thấy, người lão teo tộp lại chẳng khác trái ớt mất mùa, vừa dú lên, đã nhăn nheo như da mụ già. Lão giống một hình nộm cũ, Thượng Ðế lôi ở đáy rương mang ra giật dây, cho cử động, bắt ăn uống và cho nheo mắt ngủ gà ngủ gật những trưa thoi thóp tàn tạ. Lão Chu tuyệt vọng đợi một tờ chiếu có đóng ấn ngà.
Vết thương tôi chém vào vai lão Chu khép miệng liền da, thì viên mụt nhọt thâm sâu giữa bụng lão lở lói. Lão Chu đau căn bệnh cuộc đời. Lão cũng đoán lờ mờ là Ngự bị thất sủng. Nhưng lão Chu chỉ đoán, còn các mụ ở làng Sình thì bém xém sau lưng lão. A! Con Ngự mắt phụng mày ngài, mặt trái soan, vú non da hồng… Con nớ đi ở mô trong Nội, biệt tăm rồi, chắc là không biết cách giao hoan nên Ngài không thỏa mãn, răng cho làm nhứt giai phi! Một mụ nói, bốn mụ cười hăng hắc, tôi tránh ra đình những buổi chợ phiên. Chợ phiên ở làng Sình không giống chợ Gia Lạc trên kinh thành Huế, đông vui như ngày hội. Lúc xưa Ngự chỉ đợi phiên chợ họp để rủ tôi ra đình đánh bài thai, chơi bài ghế, đậu bài chòi… Giờ Ngự ở cung Ðoan Hòa, còn tôi trốn ở nhà, sợ hãi từng giọt mưa bay. Những sáng không có mưa thì thằng Hiểm dẫn con vợ mới cưới đi qua nhà lão Chu. Thằng Hiểm cay lão vác rựa rượt nó lúc xưa, bây giờ thấy lão mất Ngự thân tàn ma dại, nó lấy làm hả hê. Lúc vợ chồng thằng Hiểm đi ngang, lão Chu còn ngủ. Chỉ có tôi đứng dựa cửa. Con vợ thằng Hiểm vác bụng bầu chửa vượt mặt, đi thè lè nói lớn tiếng: Tưởng ăn nằm với con nớ, dạy hắn kiểu cách, ai ngờ cũng có biết chi tề! – Bậy! Hắn có dạy con nớ đó ri, răng khôn dạy sao con nớ vú tưng bụng ỏng? Thứ chi mờ hắn khôn dạy, nhưng dạy thét Hoàng thượng biết con nớ hết trinh, Ngài giận! Thằng Hiểm oang oang trả lời con vợ hắn nham nhở. Tôi nóng bừng mặt, trời đánh thánh đâm vợ chồng thằng Hiểm! Tôi bứt dây lạc lão Chu cột ở cửa, mười ngón tay tôi co giật run bắn muốn chém thằng Hiểm, nhưng thằng mất nết lực lưỡng như trâu, sô vai hắn nổi từng bện, thằng Hiểm quá tuổi dậy thì ngực nở chướng phình như cái trống, tôi có muốn chém hắn cũng khó. Ngự đâu biết sáng đó tôi cắn dập môi trong mình vì giận, vì bất lực?
Còn nhiều chuyện nữa mà Ngự không biết. Lão Chu sau này ít nói, hay nằm liệt ở một góc nhà cho đến lúc nắng đổ lửa vào đầu lão mới tỉnh dậy. Những lúc thức giấc, lão Chu như đứa trẻ sơ sinh, lão bặp bặp môi, mắt đảo loanh quanh, ngây thơ tìm kiếm… Ðến lúc nhận ra Ngự không còn nằm ở chiếc giường mây, lão mới khom lưng oằn mình cho cái lỗ miệng móm mém khạc đờm. Nắng rơi đầy vại nước, soi phơ phất mấy hàng tranh lão Chu tết trước nhà. Lập đông, nắng ở Thuận Hóa ui ui khô đét, xương xẩy theo lão Chu bước dần ra phá. Nhưng nắng không đủ ấm, chỉ chảy nhớt, bỡn cợt xuồng xả cắm loe hoe trên trán lão Chu đã gần rụng hết tóc. Tôi theo lão Chu ra phá đứng nghe tiếng thở mệt nhọc của đất. Cả một mặt đầm óc ách, nhấp nhô ruớn mình thở. Tôi lắng nghe, nhưng không tài nào phân biệt được đâu là hơi thở hổn hển của lão Chu, đâu là tiếng thở hì hục của phá. Chỉ thấy ở những kẽ nứt, hơi nước toát ra, tung phụt lên tỏa mờ trên không. Cái khối trắng ngần, trắng lịm, trắng mờ, trắng lòa lòa vẫn còn đó, vẫn còn giăng giăng quẩy mình cựa quậy, song lão Chu không còn gì để thách thức. Lão đã đem cuộc đời của lão tiến cung, lão không còn gì trong túi để dám ngửa mặt thách đố cơn giận dỗi của Thượng Ðế. Lão Chu đứng lặng trước mắt đầm. Ðến lúc tôi kêu lão về, lão Chu nghe tiêùng gọi quay lại, thì nước mắt đã giàn đầy ra má. Lần đầu tiên tôi chứng kiến lão Chu khóc.
Tin Ngự được tấn phong cửu giai Tài Nhân đưa về làng Sình như sét đánh. Lão Chu chạy bổ từ phá về làng, phủ phục trước sân thềm để nghe chiếu chỉ. Lão vỡ òa tiếng khóc như trẻ nít. Lão khóc vì mất chức Quốc Công. Trong triều đình, có cửu phẩm cho các quan, thì cũng có cửu giai cho các mệ. Ngự được phong giai áp chót, chỉ trên bọn cung nga thế nữ. Giọng khóc nấc của lão Chu đau đớn tủi hèn, lão khóc ngất hơn bọ chết mạ chết, lão dập đầu tóe máu, gục mặt nhận chỉ. Quỳ bên cạnh lão Chu, hai bàn tay tôi bảo dậy, vật vả trăm nghìn phen vì thương Ngự. Tiếng chuông chùa ai đánh gõ loong koong… Mỗi đêm lão Chu rên rỉ lảm nhảm độc thoại: Nhất giai phi, nhị giai phi, tam giai tân, tứ giai tân, ngũ giai tiếp dư, lục giai tiếp dư, thất giai mỹ nhân, bát giai quý nhân, cửu giai tài nhân… Ðến chữ tài nhân thì lão chết lịm đi, tròng mắt đứng lại, trong bóng tối lão thở hắt rồi há hốc mồm, quai hàm cứng lại như chết rồi, cho tới lúc lão từ từ hồi lại, nằm xụi lơ như cái xác sống. Cái buổi sáng mà thằng mõ đi gõ rao trong làng bản tin rùng rợn: Hoàng thượng băng hà! Lão Chu mới thật sự hóa cuồng. Tiếng rống khủng khiếp của lão Chu chạy khắp làng gào thảm thiết. Lão như một con quái vật trúng tên, lồng lộn tìm chỗ chết. Lão Chu tự cắt gân, rạch mặt, khợi cho máu phun, người ta phải buộc lão lại, kềm tay, giữ chân, đánh cho lão ngất, để lão đừng tự vẫn. Mùa mưa năm đó, cả kinh thành Huế để tang Hoàng Thượng, khắp lành Sình trắng khăn sô. Mình Rồng được khâm liệm để lên trướng chở qua sông Hương đi vào núi an nghỉ. Các mệ phi âm thầm, lẳng lặng lên ở Khiêm Lăng để suốt đời lo việc hương khói. Tôi trông thấy bóng Ngự đi theo các mệ lên Khiêm Lăng. Mặt Ngự tái nhờn nhợt, màu trắng của sợ hãi, màu trắng của những giọt mưa bay. Màu trắng của thần trùng. Những trận mưa trắng ngần trắng lịm khăn tang, màu trắng của vải sô bay phần phật trên khói hương thắp nghi ngút không đứt. Bao nhiêu bó nhang đốt đời Ngự? Lão Chu đã thật sự đánh mất cuộc đời.
Cuộc đời lão Chu đi khuất thì gió Lào nườm nượp thổi về đất Thần Kinh. Sức nóng dữ dội chui hút vào dãi đất nằm kề bên dãy Trường Sơn, giống con rắn hổ chui vào hũ tĩnh, bị đóng nắp, sùng sục tháo bẫy. Cái đuôi rắn quất lửa xuống những cánh đồng cháy oằn oại. Cái đầu rắn hổ mổ chan chát vào lưng vại sành chẳng khác chi tiếng chày các mụ nện lên cối đá. Hơi nóng tát lên mặt, hơi nóng bỏng rát làm đỏ dộp mình mẩy. Cả một biển lửa vàng thau cháy lan lan đến tận rừng chuối. Tôi tắm ở ao, thấy lửa xém vào gốc chuối, tức thì thân cây chuối teo xộp lại chẳng khác bị vắt hết nước. Những tàu lá chuối mới xanh non nõn rờn rờn phe phất, chạm phải nắng cứ khô ròn, khô ròn rồi vàng ỏng rụng dần, cho đến khi cả một rừng chuối mật chỉ còn là một bãi đất cằn đá. Buồng chuối nào thoát chết, thì đỏ toét màu máu, người ta gọi là chuối lửa. Ðất Thuận Hóa trở thành nứt nẻ. Ðất như thiêu, nung hừng hực. Buổi trưa ít khi nào có tiếng động, một cánh ruồi bay cũng nghe, từng tiếng chắc luỡi của thạch thùng nhấp môi giữa cái nóng ran người. Làng Sình vắng danh, vắng ngắt. Họ đổ hết ra sông, xuống biển, xuống đầm, phá. Lão Chu hồi sinh bởi cái sức nóng kinh khiếp của Thuận Hóa. Mà lão lấy lại sức lực nhanh không ngờ. Không ai có thể ngờ. Sét đánh lão không chết. Rạch mặt, cắt gân, cứa cổ tự vẫn lão cũng không chết. Lão Chu nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của một sinh vật bất tử. Mà chính lão Chu cũng tin rằng lão bất tử, sống mãi. Sống – nên lão sùng sục – xục xạo đi tìm lại cuộc đời. Thịt da lão đã mọc trở lại. Thịt mọc trên xương, mỡ bao lấy thịt, da bao lấy mỡ, lão Chu cường tráng như cũ. Trưa dập lửa xuống mình lão Chu. Gió đưa hơi nóng dộp lên trên tấm thớt lưng của lão, song lão Chu vẫn khởi công đi kiếm cuộc đời. Cuộc đời thứ nhì thay cho cái cuộc đời thứ nhất là Ngự lão đã vụng dại đánh mất. Cuộc đời ở mô? Mi biết cuộc đời ở mô? Lão Chu thè chiếc lưỡi dài đụng mặt tôi hỏi. Ðầu lưỡi lão nhọn hoắc, nháùm nhạp, trây vào đâu làm tôi nổi gai ốc tới đó. Cuộc đời ở mô? Tôi trả lời: Không biết, không biết… Lão Chu cởi trần trùng trục, ngâm mình xuống biển. Mồ hôi võng trên mặt lão nhễu xuống biển. Nước biển cũng hóa thành mồ hôi lão Chu mặn chát. Lão Chu chọn chỗ vắng, khúc biển cuối bãi Thuận An nối liền đầm Thanh Lam xanh ngời ngợi nước. Cả một mặt bể lõng trồi sụt, sóng té tạt vào bờ lôi rong rêu tràn ra đất. Rong bấu trên cát, rong quấn mình lão Chu, rong đu trên vai lão. Lão Chu bắt tôi xuống đứng nước cùng với lão, phơi mắt hứng ánh mặt trời bắn xuyên qua da từng nhát như lao phóng chọc bị. Cái khối lửa chói lọi, chói lòa, chói lòe làm tôi nhức mắt, nhưng lão Chu nhất định không cho tôi đội mũ, nhắm mắt, hay lấy tay che mặt. Lão bắt tôi nhìn trừng trừng vào đường chân trời đang cong oằn theo eo biển sẫm đậm, sẫm rịt. Mi thấy chi? Răng tau hỏi sao mi khôn trả lời? Cái ri ở ngoài nớ? Cái ri kia? Lão Chu xoắn tóc tôi nắm cứng bắt nhìn mặt biển. Giọng lão chắc nịch: Cuộc đời! Cuộc đời ở bên kia biển! Tiếng nói lão Chu tan trên mặt sóng dâng hân hoan bất thần. Thoắt cái lão buông tay cho tôi té vục mặt xuống nước, lão đã phóng mình bơi, hai đầu gối đạp nước, cần cổ lão bạnh ra như mang cá. Nước cản thân, nước ghịt lưng, nước lột vai, nước ngán chân, song lão Chu cứ rẽ sóng bơi vùn vụt. Lão bơi mau lắm, xa tít tắp, chừng muốn vượt đại dương để đến với cuộc đời ở bên kia biển. Nhưng sức lão Chu có hạn, hà bá lùa lão vào bờ, ném lão vật ra đất. Lão Chu thở hổn hển: Tau biết cuộc đời ở bên kia biển! Cuộc đời của tau ở bên kia biển, sống chết tau cũng qua, bão tố tau cũng đi, hải tặc cá kình chi tau khôn ngán! Lão Chu ngồi trở dậy, lão hỏi tôi: Mi thấy không? Thấy không? Tôi trả lời: Tôi thấy, tôi thấy… mặt biển giàn ra vĩ đại. Một sự vĩ đại mà lão Chu không thấy.
Thời gian đó, vợ thằng Hiểm sanh khó, làm băng suốt một đêm rồi đi khuất. Hài nhi lẫn sản phụ chết tức tưởi. Cái mặt thằng Hiểm trơ tráo, nham nhở hôm đi qua nhà tôi nói xấu Ngự, vậy mà lúc bốc từng vụm đất ném xuống áo quan cho vợ trông cũng thật thương tâm. Tôi thắp ba nén nhang cắm trong cái bát sành đặt trước linh sàn vợ thằng Hiểm gọi là xá vong, xin nó đừng về quấy rầy tôi với Ngọc Trản. Ngọc Trản chỉ mới mười lăm, không đẹp bằng Ngự, song nước da đã ngó sen, cổ tay tròn bầu bĩnh, và khóe mắt lẫy tình rớp hồn tôi. Tôi yêu Ngọc Trản không giống như say Ngự, với Ngự tôi đong từng nụ cười, hít chậm chạp mùi hương, quý từng phân xương thịt, ân ái dịu dàng, ôm ấp nhẹ nhàng, khẽ từng vuốt ve, nâng niu âu yếm, hứng đón cẩn trọng. Còn với Ngọc Trản, Ngọc Trản bắt tôi yêu khác thường. Chôn vợ rồi thằng Hiểm bỏ làng đi biệt tích. Ngọc Trản nói với tôi rằng bọ mạ Ngọc Trản nói thằng Hiểm đi theo phái Văn Thân. Hai chữ Văn Thân làm tôi rùng mình. Tôi cắn ghì lấy môi Ngọc Trản không cho kể tiếp. Mùi nắng dậy ở đầu lưỡi Ngọc Trản, tôi cắn vào nghe gió Lào thổi từng luồng phừng phựt. Rơm ở chỗ nằm đâm vào người tôi với Ngọc Trản như kim chích. Tóc vướng rơm, ngực vươn trái sữa, thân mình Ngọc Trản nhỏ bằng bàn tay, vết thương con gái còn bọc da non, đỏ hồng. Tôi lấy móng tay cào cho lưng Ngọc Trản chảy máu, để được uống những giọt máu son của Ngọc Trản vừa chảy vào đời mình. Gió Lào tát hơi lửa lên mình Ngọc Trản, cháy lan lan, hai cườm tay quỷ quái của Ngọc Trản đưa lên siết cổ tôi mạnh y hệt như hôm nào lão Chu ghịt đầu tôi nhúng xuống sình. Ngọc Trản khác Ngự ở phong cách, Ngự ngây thơ, Ngọc Trản tinh nghịch, không bao giờ chịu nằm yên lúc giao hoan. Qua kẻ rạ, tôi trông thấy bước chân chú tiểu cầm dùi dộng vào mặt trống đồng. Tiếng trống chùa hắt dội vào ngực Ngọc Trản nẩy lên cằm tôi tiếng nấc bật kêu lạc phúc. Lạc phúc? Cuộc đời ? Lão Chu thét: Tau đã tìm ra cuộc đời! Mi coi tau tìm ra cuộc đời! Lão Chu chồm vào trong đống rạ chỗ tôi đang nằm truy hoan với Ngọc Trản. Lão dí đầu, thè lưỡi, đặt một con mắt lão lên bụng Ngọc Trản, thả nốt con mắt còn lại vào mặt tôi. Tôi tưởng lão lại sắp hóa cuồng vì thấy tôi trần truồng bên cạnh Ngọc Trản, nhưng lão Chu chỉ cười khe khé, dáng điệu ở trên tột đỉnh của sung sướng mãn nguyện. Lão Chu rút đầu ra, lao vun vút về làng Sình, lão vừa chạy vừa cất tiếng hét: «Giô án nà! Giô án nà!» Tiếng hét của lão Chu mau lắm, nắng đuổi không kịp, rơi rớt lại tràn lên mình Ngọc Trản. Tôi bở ngỡ với cái thứ âm thanh lạ lùng, nửa kỳ quặc, nửa chói tai mà lão Chu vừa phát âm. Lão Chu học ở đâu thứ âm thanh kỳ lạ đó? Lão đã thật sự tìm thấy cuộc đời ở bên kia biển chăng? Hai bàn chân Phật, mười ngón chân bồ tát hiện ra trước đống rơm. Tia mắt sư ông trợn ngược trên thân thể Ngọc Trản, tia mắt đám sãi đuối lờ đờ khát vọng. Tôi quờ cào quần áo, kéo Ngọc Trản nhảy ùm xuống ao, bơi cắm mạng sang bên kia bờ. Những cuống sen xanh mát rượi, những lá sen mượt mà trải rộng như những lát chiếu hoa điều đỏ nắng, che chở cho tôi với Ngọc Trản trốn Phật Thích Ca. Nước hồ lạnh mát. Trong vắt. Ngọc Trản lặn thât sâu, tóc bềnh bồng như vi cá. Lúc tôi với Ngọc Trản trồi lên giữa những đài sen nhụy vàng óng ánh, sư ông và các sãi đã về chùa, chỉ còn âm vang của tiếng hét lão Chu «Giô án nà!» váng âm rơi vỡ rợp trên những tàu sen chật mặt nước. Cả một đầm sen xanh ngắt, run rẩy lay động. Các cuống sen cong búp, như thể tiếng kêu của lão Chu làm chúng sợ hãi. Từng hột nước, từng hột nước chảy lăn trên mình Ngọc Trản. Tôi cuối xuống vết thương giữa bụng Ngọc Trản còn nở ngát, hai đứa nắm tay nhau chạy bổ về làng, từ đầu lũy tre, người ta đã xì xầm bàn tán tin lão Chu gặp gỡ kẻ lạ.
Lão Chu kể oang oang, dưới nắng chan chan lão nói với mọi người là lão đã tìm lại được «cuộc đời». Những kẻ lạ đến từ bên kia biển lớn cho lão biết: Rằng bên kia đại dương có một người con gái mắt xanh hơn ngọc, tóc vàng hơn tơ, da trắng hơn tuyết, bằng lòng lấy lão làm ông giôn. Hỏi lão có thuận hay không? Lão thuận hay không? Lão Chu mừng quýnh! Lão té tát tươi tả trả lời: Lão thuận! Lão thuận! Lão Chu quýnh quáng lấy tiền dành dụm, những đồng Thông Bảo quý giá mà lão nâng niu, chắt chiu, bỏ trong rương, bỏ trong ruột, chôn dưới đất. Lão đào lên, đào lên, những đồng Thông Bảo nặng chịch sức lao động của mấy trăm, mấy nghìn bức họa mà lão Chu đã vẽ bán cho mọi người, lão đào lên trả công cho kẻ lạ đã đưa tin đến. Vợ lão tên chữ Giô-an-na, nhưng lão Chu thích gọi lãnh lót yêu thương là Giô-án-nà. Giô-án-nà có mái tóc vàng kim óng ả, mắt xanh màu lục lấp lánh ngọc quý và da trắng mịn hơn tuyết phủ trên đỉnh những ngọn núi ở bên Tàu. Lão Chu không ngớt nhắc đi, nhắc lại các chi tiết ấy. Lão hãnh diện vô ngần. «Cuộc đời» bên kia biển của lão cực kỳ đẹp đẽ. Cuộc đời bên kia biển tuyệt lộng lẫy, mà gặp ai lão Chu cũng khoe khoang kể lể. Lão chỉ không nghe thấy những tiếng xầm xì, rì rầm sau lưng lão.
Lão Chu bắt đầu nhảy múa trên những đường mương quanh mặt ruộng. Lão say ngất ngưỡng, một tay hồ rượu, một tay đánh quạt, lão phe phẩy điệu múa thỏa mãn. Giọng lão Chu nghêu ngao đầy khoái lạc: «Giôôáánnàà!». Cái bóng lão Chu tắt, cái bóng lão Chu hiện, chiếc bóng lão vờn vờn thoắt thoắt tắt hiện đi tìm kẻ lạ. Ngọc Trản tinh như quỷ, rủ tôi đi rình lão Chu. Nắng hầm hầm oi oi, nhễ nhại lửa cháy ngoằn ngoèo mặt biển lấm tấm đầy dấu chân lão Chu dẫm trên cát. Nắng thêu khắp rừng dương, đổ xuống chỗ tôi với Ngọc Trản núp. Nắng dữ dội vậy mà tay chân Ngọc Trản lạnh tướp mồ hôi vì hồi hộp. Trống cũng đánh trong bụng tôi quặn ruột, tiếng trống ngực dội kinh hơn tiếng trống cửa Ngọ môn. Từ biển lớn, ngược nắng chói lòa, vọng tiếng khoắn nước của mái dầm to bản bơi rẽ vào bờ. Kẻ lạ đến từ một khối nổi sừng sửng mọc nhú lên giữa biển cả. Gót giày của kẻ lạ lún bì bạch trên mặt cát. Bỗng chốc tôi hiểu tất cả! Những chiếc nón rộng vành to như cái mâm, những đôi ủng cao tới háng, muốn liếm bẹn: Thì ra chính là bọn lái Bồ Ðào! Những tấm áo choàng của bọn lái buôn Bồ Ðào Nha bay phập phùng uốn éo trên sóng biển, rồi rũ đứng trước mặt lão Chu. Gió đưa câu chuyện trọ trẹ giữa lão Chu với kẻ lạ mất, còn: «Vợ ngươi đã hạ sinh được một bé gái đặt tên cho nó là Ô-rô-ra! Ô-rô-ra, ánh mặt trời bình minh! » Tiếng hú lão Chu re ré vang lừng biển lớn. Tiếng lão cúi đầu lạy tạ, mở túi tiền, trút những đồng Thông Bảo chót cùng của đời lão trả cho bọn lái Bồ. Tiếng đồng thau chạm vào nhau loẻng xoẻng, tiếng kêu thương bát ngàn rừng dương của lão Chu. «Ô rô ra! Ô rô ra!» Lão Chu chết lịm đi vì hạnh phúc của đứa con gái mới sanh bên kia biển. Bọn lái Bồ Ðào căng áo choàng gói tiền Thông Bảo của lão Chu lại, chúng trở ra khơi, hẹn lần đưa tin khác. Trên bãi cát chỉ còn lại một mình lão Chu đơn độc nhảy múa, và một cái bóng nữa, cao lớn dị thường. Chiếc bóng lạ của kẻ lạ đứng im lìm từ nãy chờ đợi. Ngọc Trản đeo cứng lấy tôi: «Ai mờ dị rứa? Ai mờ dị rứa?Răng lão Chu khôn về đi, lão còn muốn cái chi?» Tôi lắc đầu chịu, không biết. Giải lụa đỏ buột quanh bụng kẻ lạ bay phất phới, tung giật, thướt tha cùng với thân vải đen phủ chùm kín đôi chân. Nếp vải chùng cứ gợn lên, trôi bập bềnh dọc theo mặt biển lưa thưa gió. Tôi với Ngọc Trản nhìn say mê kẻ lạ. Mà lão Chu cũng bất động. Ánh sáng ngời ngời từ mặt trời giăng sau lưng kẻ lạ làm sáng lừng bãi cát. Ngọc Trản nén tiếng kêu, tôi nén tiếng thở, kẻ lạ thong thả, từ tốn, chậm rãi trao cho lão Chu một cuốn sách và một vòng tràng, rồi răn dạy: «Hãy tạ ơn Thượng Ðế đã ban ân phước cho ngươi là tôi tớ của Ngài! Ta là đường đi, lẻ thật và sự sống, chẳng bởi ta, chẳng có sự sống đời đời!» Lão Chu phủ phục ngay xuống. Kẻ lạ chậm rải vốc từng vụm nước biển rưới lên đầu lão Chu. Từng vốc nước rơi thánh thót, nhễu bay. Tôi vụt hiểu. Tôi đã chứng kiến cảnh tượng này ở Hải Phố: Kẻ lạ chính là một giáo sĩ! Lão Chu đang chịu phép bí tích! Người tôi run lên, những thớ gân co giật liên hồi làm tứ chi lẩy bẩy không sao điều khiển được nữa. Những giáo sĩ đang bị triều đình truy nã, ai quan hệ thì lụy vào thân. Tôi kéo Ngọc Trản vùng chạy. Mây rượt trên đầu, nắng đuổi sau lưng, gió cản mặt, cát xiềng chân, những bài kinh La ngữ của giáo sĩ réo gọi. Ngọc Trản cuống cuồng ngã ngồi, tôi lôi dậy bắt chạy cho xa, thật xa tai họa. Biển gầm ở phía sau, sóng đập vào óc não tôi tê rần vì sợ, chân vấp đá, gối va vào cây, vai cứa gai, lá chém mặt. Trong nỗi sợ hãi bừng bừng, tôi với Ngọc Trản ngã lăn xuống triền đồi cát lún, cả một khoảng trời lõm trong ngần mây trắng đương tụ lại ở động cát. Ngọc Trản thở hào hển, mồ hôi ứa ở màn tang, tuôn xuống mắt mũi miệng cằm bắp tay bắp chân đùi ngực bụng trây vàng cát. Lẫn trong những bụm cát vàng ngập miệng, ngập trí não, tôi cũng còn đủ tỉnh táo để hiểu lão Chu đã đem vào làng Sình một Thượng Ðế mới.
*
Lão Chu ba lần lên hầu quan. Quan bắt lão giải thích quan hệ với giáo sĩ. Lão Chu nhận. Quan bắt lão bỏ đạo, lão Chu từ chối. Ba lần quan sai lính nọc lão ra đánh. Lính đánh đòn thù, gậy táng vào mặt, roi quất xối xả vào người, kềm bẻ ngón tay, búa đập dập chân, nhưng cả ba lần lão Chu đều không chết. Lão Chu không thể chết, thân thể lão có sức kháng cự phi thường. Lão Chu đã bất tử. Mùa hè đỏ rộ nắng Lào đi qua, lão Chu được thả về, lão cười ré lên hãnh diện: Tau khôn có tội, ngôi thứ ba chứng giám cho tau! Lão Chu cười ha hả. Người lão tàn dại, tay chân bầm dập, mắt mũi tan nát, xương sườn chằng chịt thẹo, song lão Chu bừng bừng sức sống. Người ta bu quanh lão. Một kẻ hỏi: Ngôi thứ ba là cái chi? Răng ngôi thứ nhất, thứ nhị ở mô? Lão Chu nghe hỏi, ngửng phắt lên, lấy ngón trỏ chỉ lên trời: Ngôi thứ nhất là Thượng Ðế của lão. Ngôi thứ hai là con Ngài đã xuống thế gian chịu chết thay cho lão, và ngôi chót là ngôi thứ ba giữ mình cho lão! Cái giọng ụa hơi khế chua, mắt sắc như thép nạo, móng tay nhọn như lưỡi câu của lão Chu làm người ta sợ. Mọi người dạt lối cho lão đi, song mọi người cũng khâm phục lão. Lão Chu là cái thứ chi mà Thượng Ðế phải cử con Ngài xuống chết thay cho lão? Lão đóng đến chức chi ở trên trời? Lão Chu cười khè khè: Giô án nà! Giô án nà! Lão đã về đây! Ô rô ra! Ô rô ra! Bọ đã về đây!
Lão Chu xộc vào nhà, dắt vợ con dạo chơi. Người lão Chu như mọc cánh, bay là là lướt trên những lẫm lúa khô, từng cọng lúa nặng trĩu hạt, mọc vươn muốn níu chân lão. Mọi người đổ dồn chạy theo xem lão Chu tung tăn lượn trên mặt ruộng. Hơi nắng rươm dầm dề quanh người, phông nắng chín vàng càng làm nổi bật tấm thân thương tích của lão chờn vờn, ngả nghiêng, xiêu vẹo. Lão Chu giang tay như thể đang dắt tay vợ con lão thật. Mỗi bận gần chạm một ngọn cỏ lau cao hút đầu, lão lại giật giật khuỷu tay như nhấc đứa trẻ lên tránh khỏi bị tranh cắt. Lão Chu cứ tiếp tục cái điệp khúc: Ô rô ra! Giô án nà!«cuộc đời» của lão.
Triều đình thôi không còn dám bắt lão Chu nữa, mà để yên cho lão an hưởng hạnh phúc, không phải nể vì Thượng Ðế của lão, nhưng vì những thế lực bên kia biển mỗi ngày một mạnh. Chiếu dụ cấm đạo thôi còn hiệu lực.
Dạo đó lão Chu đã quên hẳn mất Ngự. Lão quên sự hiện diện của tôi trong cuộc sống lão. Tôi làm gì? Yêu ai? Muốn ngủ với Ngọc Trản lúc nào, ở đâu, trước mặt hay sau lưng, lão Chu cũng mặc. Lão chỉ biết đòi lại chiếc giường mây của Ngự, để dành cho Ô rô ra và Giô án nà của lão từ bên kia biển trở về ngủ. Lão Chu trải nệm hồng thúy thơm tho mùi xạ, nhưng mặt giường mây thì cứ trống ngắt. Ngọc Trản trổ mã với cơn mưa tầm thu trở lại đất Thuận Hóa. Cái khối nước trắng mờ ngày xưa giăng trên tóc Ngự, kéo về gieo xuống rưới lên mình Ngọc Trản, mỗi bận Ngọc Trản tắm mưa, da thịt nẩy nở giống cuống hoa dú mình bung cánh đẹp lạ thường. Tôi bảo lão Chu lấy Ngọc Trản làm lẻ, song lão không ưng thuận, lão còn biết gì nữa ngoài mối tình vượt đại dương? Ðêm đêm tôi nằm với Ngọc Trản, nghe lão Chu ngâm khe khẽ: ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng, đêm năm canh tiếng lắng chuông rền… Lão Chu chờ cái ngày Giô án nà đưa Ô rô ra về thăm lão. Lão Chu đợi và tôi cũng đợi.
*
Phong trào Văn Thân có một năm phừng lên mãnh liệt. Nhắc đến Văn Thân là người ta nhắc đến ái quốc, mà cũng nhắc đến đầu rơi, máu đổ, tương tàn. Ai ở làng Sình nghe hai chữ Văn Thân cũng sợ. Chỉ có lão Chu là không sợ. Lão nói con thượng đế đã chết thay cho lão, lão không chết nữa. Ngôi thứ ba giữ mình cho lão, thì lão sợ thứ chi? Lão sợ chi? Lão Chu cười hăng hắc, xối xả. Tiếng cười khật khùng, điên dại của lão Chu trêu ghẹo Văn Thân đang tàn lụi dần, yếu ớt hẳn đi trước ảnh hưởng vũ bão, mỗi ngày một lan rộng của Tây phương. Lão Chu tin mình đã theo đúng chiều mạnh của lịch sử.
Nhưng cái đêm mà thằng Hiểm trở về làng, trán thích hai chữ Văn Thân, ngực xăm hình trống đồng Ðông Sơn, thằng Hiểm không có vẻ gì là yếu ớt. Nửa đêm trăng sáng, thằng Hiểm đạp tung cửa, rạch mùng, vác mã tấu chém đôi mình lão Chu. Ðôi cánh tay thằng Hiểm cuồn cuộn bắp thịt, ngực nó nở, sô vai nó dầy, thằng Hiểm điểm mặt lão Chu thét: Việt gian! đền tội! Rồi nó bổ phập xuống. Thằng Hiểm chém xuống, chém tới đâu lạc đứt, cột gẫy, mái đổ. Bản thém sáng lạnh trên tay thằng Hiểm giống trận cuồng phong quét ngang mình lão Chu, tưởng đứt làm đôi, tưởng nát thịt, tan xương. Gió đêm rào rào qua mái, gió thổi thốc vào nhà, gió đưa hơi thép của thanh mã tấu rờn rợn buốt thấu tủy. Tiếng gió giống tiếng gào của Thượng Ðế ở đất Thuận Hóa nổi giận sai thằng Hiểm trừng trị lão Chu. Song lão Chu cũng có Thượng Ðế của lão. Tấm thân ngỡ tàn phế của lão coi vậy mà nhanh như cắt, lão lăn xuống đất tránh thanh mã chặt bửa đôi chiếc giường tre. Thằng Hiểm lại hươi mã, hai bắp đùi lão Chu búng phắt lên, bẩy thân mình lão bỗng mềm dẻo giống thân báo nhảy thót lên mặt bàn. Thằng Hiểm trở đà dao chém nát mặt bàn, làm lão Chu té ngửa ra bếp. Ngọc Trản rú lên sợ hãi, còn tứ chi tôi tê liệt nằm chết cứng ở ổ rạ. Khuôn mặt thằng Hiểm lầm lì, dễ sợ, nó quát: Việt gian! Trả nợ máu! Rồi lại chém xuống nữa. Hai bàn tay thằng Hiểm cầm chắc cán mã, đừng tưởng thằng Hiểm chậm, nó nhanh kinh hồn, lão Chu vừa chụp lấy nan thép khợi lửa, nó đã chém bay tạt đi. Lão Chu túng thế giật thanh củi đương cháy dở chích vào giữa mặt thằng Hiểm mong lửa làm nó lóa mắt. Nhưng thanh mã tấu của thằng Hiểm đã chém vỡ vụn đầu củi, tàn lửa văng tung tóe, những đốm than hồng cháy xòe đôi con ngươi thằng Hiểm đỏ dừ. Lão Chu lồng lên, lão thét: A! Mi giỏi! Mi dám giết chiên của Ngài! Quỷ bắt mi đi! Lão Chu chưa kịp thốt gọi tên Thượng Ðế của lão thì thằng Hiểm đã chém phụp tới, bản thép sáng lóe phạt ngang bụng lão Chu, từ cái đường cắt mỏng thịt da lão Chu bỗng vỡ ào đổ ra, máu phụt thành vòi lia tia phun tứ phía. Ngọc Trản kêu rú lên úp mặt vào lòng tôi kinh hãi, tôi cũng kinh hãi, nhưng không sao xoay được đầu đi chỗ khác. Hai cánh tay lão Chu cào cấu, bơi cuống cuồng trong không khí, cằm lão bạnh ra, mắt trợn ngược thất thần không hiểu vì sao ngôi thứ ba không giữ mình cho lão? Lão Chu ngã ngồi xuống đất, mười ngón tay cố đỡ chùm ruột đương lòi ra, song lão kiệt lực ngã gục mặt vào đống máu bất động. Thằng Hiểm từ từ quay lại nhìn tôi với Ngọc Trản. Sắc mặt nó lạnh như lưỡi thép biếc ngời vết máu. Chúng tôi khiếp đảm vái lạy thằng Hiểm. Tôi với Ngọc Trản chắp tay xá không ngừng, như hôm đi đưa ma con vợ thằng Hiểm, tôi cũng chắp tay xá vong. Có lẽ thằng Hiểm bắt gặp lại hình ảnh đó, nhớ lúc hạ quan tôi cùng phụ với nó lắp đất cho người khuất mặt, nên chùn tay do dự. Lão Chu đã ngồi dậy, mắt lão đầy tròng trắng, thằng Hiểm không thấy, lão đứng sau lưng với cây đòn gánh, hươi cao, rồi quất xuống thật mạnh, lão Chu quất liền tay xối xả tàn bạo, man rợ vào sọ thằng Hiểm. Lão Chu quật tới tấp điên dại, không kịp thở cho tới lúc thằng Hiểm chỉ còn là một đống thịt bầy nhầy dẫy giụa. Ngọc Trản rú lên từng hồi, tiếng gió rít giữa đêm khuya khoắt lẫn vào với tiếng sấm làm mưa kinh hoàng.
Lão Chu bắt tôi với Ngọc Trản lôi xác thằng Hiểm ra bờ sông, buộc đá thả xuống. Mưa ướt mặt, sình bết chân, tôi với Ngọc Trản khó khăn lôi thằng Hiểm. Xác nó như các trâu nặng chịch. Ngọc Trản vừa kéo vừa khóc, tâm thần tôi chết đi sống lại, bị khủng bố bởi cảnh người Thuận Hoá giết người Thuận Hoá. Nhưng thằng Hiểm không chết, nước sông đêm mát lạnh làm nó tỉnh dậy, vùng vẫy tháo dây bơi tìm sự sống. Thân thể thằng Hiểm quẫy sóng chìm vào tâm tích của mặt sông. Thằng Hiểm không chết, Văn Thân không chết, chỉ tan vào lòng đất Thần Kinh mai ẩn rình rập.
Lúc tôi với Ngọc Trản ôm nhau ở bờ sông về, lão Chu đã tự nhét ruột gan vào bụng, và tự khâu vết thương lại. Lão nằm trên chiếc giường mây của Ngự, mắt nhắm nghiền, miệng lảm nhảm đọc những bài kinh La ngữ. Trong cái đêm rùng rợn đó, tôi đã tin lão Chu không bao giờ có thể chết. Lão đã biến thành một sinh vật bất tử, bởi niềm tin vào cuộc đời.
Vậy mà lão Chu chết. Lão Chu chết ba tháng sau khi thằng Hiểm chém lão, khi vết thương ở bụng đã lành, đã kéo da non, lão đã đi đứng được. Lão Chu chết giữa mùa đông, mưa trắng trời, trắng đất. Tôi khóc hết nước mắt, Ngọc Trản khóc khô giọng, đám ma lão Chu chỉ có mỗi mình tôi và Ngọc trản với giáo sĩ đi đưa. Lão Chu yên nghỉ ở ngoài làng Sình, trên đường đi Vĩnh Lại. Có ai ngờ lão Chu chết? Tôi chém lão không chết, sét đánh lão không chết. Vậy mà cái hôm bọn lái Bồ Ðào trở lại đưa tin: Vợ con lão ở bên kia biển, Giô án nà và Ô rô ra đã lâm trọng bệnh chết rồi, lão hãy để tang đi! Lão Chu khóc rống lên, thổ huyết ồng ộc, máu vãi ra đất, máu đẫm trên cát, máu nhuộm biển, máu đặc sánh một mặt đại dương đen thẫm. Và lão Chu chết. Suốt đời, chưa khi nào tôi chứng kiến một cái chết kinh khủng như vậy. Mưa bay nghiêng linh cữu hôm động quan. Giáo sĩ không cho thắp nhang, chỉ cho đốt đèn cầy, nên đám tang ảm đạm lạnh lẽo. Tôi với Ngọc Trản oằn vai gánh quan tài ra tới huyệt mộ. Giáo sĩ đi trước, chốc chốc vẫy vào hai bên mặt ruộng những giọt nước phép. Nước phép nhễu vào đâu thấm loang loang đến đó, như dấu ấn của vị Thượng Ðế mới ấn vào đất Thuận Hóa.
Ở làng Sình, cái chết của lão Chu gây ấn tượng rất mạnh. Các mụ kháo nhau rằng lão chết bởi chứng lạ, song tôi, tôi biết lão chết vì bệnh khát vọng. Tôi chờ giáo sĩ đi khuất, vập đầu khấn: Lão Chu sống khôn, thác thiêng, đừng về quấy rầy tôi với Ngọc Trản, đừng bắt ai phải chết giống lão. Nhưng lão Chu sống không khôn, thác không thiêng, lão không chịu nghe lời khấn của tôi. Hết mùa mưa, Ngọc Trản bỏ tôi lên sống trên kinh thành Huế. Mai trắng ở Huế, mọc quanh hồ Xung Khiêm Tạ có đẹp bằng mai trắng mọc rưng rức quanh làng Sình hay không? Hở Ngọc Trản? Sao bỏ tôi đi? Tình yêu tôi không đủ thắm hay Ngọc Trản cũng đi tìm quyền quý như lão Chu đã khát vọng? Mà lão có tìm được đâu? Mà người ta sau này chết giống lão?
Những cái chết sau quá khứ về sau vẫn tiếp tục tiếp diễn mãi cho đến tận bây giờ. Những cái chết trên biển, bên kia biển, và bên này đất liền. Tôi mãn tang chồng, mãn tang lão Chu, rồi tiến thêm bước nữa. Lập gia đình hạ sanh thêm một đứa con gái. Tôi sống sót bằng cách hạ sanh một đứa con. Ðứa con gái không đẹp bằng Ngự, song tôi cũng say nó như ngày xưa tôi say Ngự. Mưa ở Thuận Hóa vẫn trắng trời, trắng đất và kéo dài mãi cho tới tận bây giờ. Những cơn mưa của khát vọng vỡ trong suốt trên những cánh đồng bạt ngàn gió chướng.
Tôi tỉnh giấc vào khoảng 4 giờ sáng, vì quá lạnh, tấm vải đắp không đủ ấm. Tôi đứng lên tháo chiếc túi vải treo trên vách, tìm thêm áo mặc. Gió thổi tuy không mạnh như hồi tối, nhưng không khí như có ướp nước đá. Tay chân lạnh ngắt. Nằm co quắp trong tấm vải, tôi xoay qua trở lại, nhưng không tài nào nối lại giấc ngủ. Tôi vùng dậy, kéo hơi thuốc lào cho ấm. Cũng như mọi buổi sáng, điếu thuốc đầu tiên làm tôi ngây ngất. Cơn say thật đậm đà vì có gió lạnh. Do tiếng điếu rít, trong buồng có người thức giấc. Vài tiếng nói thì thầm đây đó.
Tôi ra ngoài đi tiểu. Đêm còn tối lắm. Những ánh đèn xa xa chạy vòng theo rào kẽm gai trông buồn hiu hắt. Tiếng chó tru đêm từ xa vọng lại não nề. Tôi quay mặt về hướng Sàigòn, nhưng mắt bị dẫy nhà ngăn lại. Chẳng biết có bao nhiêu thay đổi đã xẩy ra trong thời gian tôi vắng mặt! Trong lòng như có sự gì phân vân, cồn cào nửa đau đớn, nửa ê chề! Dòng nước tức tưởi tuôn ồ ồ xuống đường mương. Lạnh quá, chịu không nổi, tôi quay vào.
Đã sống ở miền Nam trên 20 năm, chưa một lần, tôi thấy cái lạnh như đêm nay. Không khí giá buốt, khó chịu như mùa Đông miền Bắc.
– Lạnh quá hé?
– Ừa, có lẽ cái lạnh theo tụi nó vô đây, chứ miền Nam có bao giờ lạnh như thế này đâu? Chán ghê, chán ghê!
Mậu đã thức vì lạnh, chứ không phải thích dậy sớm! Mọi người đều tỉnh trước tiếng kẻng báo thức. Những tấm mền trùm kín người, ngồi xung quanh ngọn nến hút thuốc lào vặt chờ sáng.
Tiếng kẻng khua vang, âm vọng kéo dài thê thiết giữa một buổi sáng rét buốt. Những chiếc mền tung ra khỏi người. Vài người ngại lạnh, ngồi nán lại, chưa muốn ra ngoài tập thể dục theo nội quy của Trại tù. Chúng tôi khoa tay, múa chân vài cái lấy lệ, hô vài câu rồi tan hàng. Tất cả ồ vào nhà. Những chiếc mền lại trùm lên người như những ụ đất, trong khi đó tiếng hò: một, hai, ba,… bốn, của những tên bộ đội, vọng đến nghe nhức nhối
Tôi xách gầu ra giếng. Vì trời lạnh, sáng nay giếng vắng hoe, nhưng dòng người đi cầu mỗi sáng vẫn dài ngoằng. Tuy kẻng đánh từ lâu, mà tên cảnh vệ trên vọng gác chưa cho lệnh mở cổng. Vấn đề mở sớm hay muộn, tùy theo ý muốn mỗi tên cảnh vệ. Bỗng, từ giữa hàng tách ra một người, vừa đi vừa ôm quần, mặt mày nhăn nhó có vẻ đau khổ. Sau mới hay, vì chờ lâu qua, chịu không nổi, anh đã bĩnh ra be bét!…
Cái lạnh kéo dài cả tuần chưa dứt, mỗi ngày hình như mỗi lạnh hơn. Ai mang theo áo len còn đỡ, người nào không có, đành đắp lên người bất cứ thứ gì che gió được.
Một buổi tối cuối tuần, tôi đang ngồi nói chuyện với Vũ Đức Nghiêm về ý định của anh muốn phổ nhạc một bài thơ của tôi làm trong tù, thì Chung (Trung Tá Công Binh) đến tìm.
– Ông ơi, đây dịp may, Ban Chỉ Huy Trại muốn thực hiện bức chân dung “Bác”, tôi giới thiệu ông đó!
Tôi sửng mắt ngó Chung:
– Ơ, ai khiến ông giới thiệu? Tôi bỏ vẽ lâu rồi, vẽ chân dung truyền thần đâu phải nghề của tôi?
Trong bóng tối, tuy không nhìn rõ sắc diện của Chung lúc ấy, nhưng tôi chắc hắn ngạc nhiên lắm. Giá ở cương vị tôi, hắn đã vồ ngay lấy cơ hội may mắn này. Tôi biết Chung, vì ngày trước có gặp nhau trong các dịp Đại lễ của Quân Đội. Đơn vị của hắn, chuyên môn làm cổng chào và khán đài. Chung có vẻ bối rối:
– Nhưng tôi đã trót giới thiệu rồi, sao bây giờ?
– Kệ ông chứ, tôi đâu biết!
Nói xong, tôi kéo Nghiêm đi chỗ khác nói chuyện.
Cũng tưởng như vậy là xong, tôi quên ngay chuyện đó. Đâu ngờ, tối hôm sau, Chung lại đến tìm, nói có cán bộ Ba muốn gặp, đang chờ ngoài cổng. Tôi bắt buộc phải đi theo Chung ra trước Trại. Tới chiếc sân nhỏ, dưới ánh đen chiếu chếch từ mé lộ, một tên bộ đội nhỏ thó, nhưng nét mặt già dặn, đang đứng đó. Chung tiến nhanh, đến gần:
– Thưa cán bộ, đây, người tôi đã giới thiệu, để thực hiện chân dung “Bác”!
Chung nói ngon lành, coi như tôi đã nhận lời. Tên cán bộ nhìn tôi, cười cười, tỏ cảm tình:
– A, chào anh. Nhân Tết sắp đến, Ban Chỉ Huy Trại, muốn thực hiện bức hoành phi có hình Bác, trưng bầy trên bàn thờ Tổ Quốc, anh Chung giới thiệu, anh có khả năng ….
Chưa để tên cán bộ nói hết câu, tôi vội trả lời.
– Thưa cán bộ, tôi đâu có khả năng vẽ truyền thần. Hơn nữa, tôi bỏ nghề lâu rồi tay chân lúc này bị bệnh thấp khớp, các đầu xương sưng lên, nhất là xương ngón tay, nên không thể cầm bút được, xin cán bộ tìm người khác.
Tôi quay sang Chung:
– Anh Chung, tối qua, tôi đã nói với anh về vấn đề này. Sao anh không trình cán bộ tìm người khác? Tôi không có khả năng!
Thấy thái độ tôi như vậy, Chung bẽn lẻn nhưng vẫn cố tình lấy lòng tên cán bộ, hắn nói:
– Chẳng mấy khi Cách Mạng nhờ tới bọn mình, tôi không có tài, nếu có, tôi xin làm ngay!
Hắn vừa nói vừa liếc nhìn tên cán bộ với cặp mắt sợ sệt. Quá giận, không dằn được, tôi nói:
– Tôi cũng bất tài như anh vậy.Nếu có khả năng tôi không để anh nói nhiều.
Qua lời đối thoại của chúng tôi, tên cán bộ nghe rõ hết, nhưng hắn không có ý kiến gì. Tôi chào, quay nhanh người đi sâu vào ngõ. Giữa đường, tôi gặp Hưng và anh em khác, hỏi có chuyện gì? Tôi nói đầu đuôi. Anh em khuyên, mình đang ở thế kẹt, không nên cứng rắn quá, thiệt thân. Nếu họ năn nỉ nữa, nên làm. Ăn thua gì chuyện đó, về chân dung Già Hồ cũng coi như công tác vác củi, nấu cơm, dọn hố cầu có gì quan trọng đâu? Tôi biết anh em thương, nói để yên lòng. Đêm đó, tôi mất ngủ không phải vì lạnh.
Tối hôm sau, tên cán bộ Ba, một mình đến tìm tôi. Hắn năn nỉ và coi như công tác khẩn cấp này không thể thiếu trong dịp Tết, mong tôi cố giúp.
– Tôi đã nói với cán bộ hồi hôm, tôi bỏ vẽ lâu rồi. Vẽ chân dung “Bác”, đâu phải chuyện đùa, tôi không dám nhận. Nếu vẽ phong cảnh hay thứ gì khác còn có thể gạch bậy bạ được, chứ chân dung, khó lắm, đòi hỏi kỹ thuật cao, nên tôi không dám nhận.
– Anh cứ nhận dùm đi, bôi ra cũng được, miễn có. Anh cần gì, chúng tôi mua đủ. Tôi đã qua các khu khác tìm người, ai cũng nói đến anh, vậy anh cố giúp chúng tôi, có mẫu mà, anh chỉ vẽ lại chứ đâu phải nghĩ ngợi gì?
Trước tình thế này, tôi nhớ lại lời khuyên của anh em, đành nhận, với câu nói dè chừng, không bảo đảm về nghệ thuật. Tên cán bộ Ba mừng quá, cười toe toét, hẹn mai sẽ vào gặp tôi để tìm hiểu nhu cầu.
Sáng sớm hôm sau, tên cán bộ Ba vô. Tôi đưa bản kê khai số lưọng vật dụng cần thiết để tôi bắt đầu công việc. Nhân tiện, tôi xin thêm một người có khả năng giúp tôi, sơn phết những chỗ không cần thiết.
Đúng 3 ngày sau, tên cán bộ Ba mang vật dụng vô. Hắn nói, những thứ tôi kê khai đều khó mua, vì các cửa tiệm đều giấu hết, phải mua với giá thương lượng, tức giá chợ đen. Chiếc khung căng vải bố, được làm bằng những nan giường tháo ra, tấm bố là tấm vải đắp. Đó, Việt Cộng thực hiện một công trình nghệ thuật bằng các phương tiện đơn giản như vậy, cũng như khi chiến tranh đang tiếp diễn, họ phóng hoả tiễn vào thành phố để sát hại dân lành bằng dàn phóng bằng tre!
manhhai flickr
Công việc tiến hành chừng một tuần lễ, bỗng có lệnh “biên chế”, tức thay đổi chỗ nằm toàn Trại. Cái lối này Cộng Sản dùng để tránh sự cấu kết đưa đến việc gây xáo trộn, hoặc tổ chức trốn Trại. Tôi được đưa đến K1, do Cúc (cựu Tiểu Đoàn trưởng Pháo Binh) làm K.Truởng. Tên Thiếu úy Tư cho lệnh ngăn một căn, bằng tấm liếp cho cách biệt. Trong căn nay chứa 5 kẻ:
– Cúc, K.Truởng, – Bác sĩ Cường, Phụ Trách Y Tế, – Khanh (Trung Tá Truyền Tin) làm “mõ”, khi có lệnh gì do Ban Chỉ Huy Trại đưa ra, Khanh phải đi khắp các K để báo tin và phụ trách việc mở, tắt tivi, – Trung Tá Sử (trước ở Tổng Cục Quân Huấn) có khả năng kẽ chữ – và tôi, người đang thực hiện tấm hoành phi có chân dung “Già Hồ”
Ngày lại ngày, qua đi một cách nhục nhằn, tẻ nhạt. Quanh quẩn đã gần đến lễ Giáng Sinh. Ai có đạo đã bắt đầu bàn tán về vấn đề tổ chức, phân công. Những chiếc đèn ngôi sao được thực hiện bằng giấy lấy từ quyển vở học trò. Chiếc hang đá nhỏ, cũng làm bằng tấm bìa bôi nhọ nồi giả mầu đá. Cây thông được cắt bằng giấy xanh, tuy không đẹp, nhưng cũng có hình thức để trưng bầy cho đêm Giáng Sinh tăng phần trọng thể!
Sự thực tất cả những thứ đó không đáng gì, nó là trò con nít nếu so sánh với các hình thức tổ chức ở ngoài đời. Nhưng trong hoàn cảnh này, tìm và nghĩ ra cách làm những thứ đó, quả một vấn đề. Toán cảnh vệ có nhiệm vụ kiểm soát thường xuyên tuy có nhìn thấy, nhưng không nói gì, do đó, anh em tin có thể tổ chức đêm Giáng Sinh một cách tốt đẹp. Người góp bột, kẻ góp đường làm bánh, nấu chè để ăn đêm Thánh Lễ. Chỗ nào, nơi nào có vài người châu đầu vào nhau thì thầm, y như rằng, họ nói về đêm Giáng Sinh. Có người nhắc đến những mùa Giáng Sinh trước với các tiện nghi tối đa. Những cành thông được mang từ đồi núi Đà-Lạt về. Những dây ngân nhũ, dây đèn tắt mở, toàn đồ ngoại quốc, kể cả tượng các vị Thánh, chúa Hài Đồng, máng cỏ v.v…. Người ta chuẩn bị đêm Giáng Sinh từ đầu tháng 12, khi những thiếp chúc mừng mùa Giáng-Sinh và Năm Mới bắt đầu bầy bán tại các tiệm sách và trên vỉa hè Đại lộ Lê Lợi. Cái không khí sinh động đó chẳng thuộc riêng các khu vực Nhà Thờ hoặc trong lòng các con chiên mộ đạo, nó còn tỏa rộng trong ý nghĩ mọi người, bất luận có đạo hay không.
Trời vẫn lạnh, đây, một mùa lạnh hiếm có tại miền Nam nước Việt. Cảnh vật khô cong dưới ánh nắng hanh hanh làm da mặt cũng như tay chân se lại. Các vị Linh Mục Tuyên Úy, tuy không mặc áo chùng đen, nhưng nhìn qua phong cách và lối xưng hô, mọi người đều dễ nhận.
Vào buổi chiều ngày 23-12, trong cuộc hội thường lệ giữa tên Trung uý Hải và các K.Trưởng để phổ biến công tác ngày mai, tại căn nhà nhỏ chỉ có mái không có tường, vách gì hết. Giữa chiếc bàn nhỏ, xung quanh là những chiếc ghế dài làm bằng ván đóng liền vào cột, không xê dịch được. Căn nhà đó, nằm gần căn buồng tôi ở. Tiếng tên Hải nói gắt gỏng:
– Chúng tôi biết, các anh đang chuẩn bị lễ Giáng Sinh. Với tư cách người quản “ný” các anh ở đây, chúng tôi tuyệt đối cấm không ai được tổ chức lễ Giáng Sinh tại Trại. Theo Hiến Pháp, mọi người đều được tự do tín ngưỡng, Đảng và Nhà Nước không ngăn cấm. Nhưng trong thời gian cải tạo các anh đã mất quyền công dân, nên phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của chúng tôi, nếu các anh không muốn có những sự phiền phúc xẩy đến. Muốn cầu nguyện, người nào cầu riêng cho người ấy thôi, không được rủ rê người khác cùng cầu ! Tôi cho “nệnh” các K.Trưởng tối nay về sinh hoạt, bắt tất cả những ai đã “nàm” đèn, hang đá phải hủy ngay. Nếu chúng tôi còn nhìn hoặc tìm thấy ở đâu, các K.Trưởng phải chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ Huy. Các anh nghe rõ chưa?
Mọi người đồng thanh nói: Nghe rõ!
Ghé mắt nhìn qua kẽ hở, tôi thấy mặt tên Hải đỏ ké, cặp mắt nó quắc lên, chứa chấp hận thù:
– Chúa, Chúa là cái gì? Chúa có cho các anh cơm ăn, áo mặc không, nếu các anh không “nao” động? Chúa có cho các anh súng đạn để chiến thắng quân thù không? Nếu không có giai cấp công nhân làm việc ngày đêm trong các cơ xưởng, sản xuất ra các phương tiện để phục vụ đời sống, nếu không có các nông dân làm ra thóc gạo, hoa mầu, các anh lấy gì mà sống? Vậy Chúa là gì, nếu không phải là người thường như mọi người, được bọn phong kiến và các tay sai đế quốc tâng bốc, vẽ vời, tô điểm, để mê hoặc lòng người, để dễ bề cai trị và nô lệ hóa con người qua hình tượng cũ rích từ gần 2000 năm qua!
Nói xong, tên Hải nhìn các K.Trưởng để dò xét phản ứng. Bàn tay nó để vào bao súng bên hông như thách thức. Một người đứng lên, Phú – K.Trưởng K 6.
– Thưa cán bộ, lịnh của cán bộ ban ra, anh em chúng tôi xin thi hành triệt để. Chúng tôi học tập cải tạo, nhằm hối cải những tội lỗi quá khứ của mình, chứ đâu phải để tạo ra những lỗi lầm khác, xin cán bộ yên tâm.
– Này anh Phú, tôi không cần yên tâm, nếu ai không thi hành “nệnh” của tôi, “nà” bắn bỏ ! Các anh nghe rõ chứ?
– Dạ, rõ!
Cuộc họp buổi chiều tan trong một không khí như vậy. Buổi sinh hoạt tối được mở đầu bằng sự thuật lại những lời của tên Trung uý Hải. Cúc, K. Trưỏng phổ biến xong, cẩn thận nhắc lại.
– Thưa anh em, lệnh cán bộ đã quyết định như vậy, tôi mong anh em ở K ta, có ai đã làm đèn hoặc hang đá nên tự giác hủy đi để tránh hậu quả chung. Tôi, cũng là con chiên của Chúa, nhưng Chúa đâu có buộc chúng ta phải làm những công việc quá khả năng của mình? Thánh Mathieu có nói….
Cúc vừa định trích dẫn câu nói của Thánh Mathieu, bỗng ngoài cửa có tiếng động. Mọi người nhìn ra. Tên Hải đã đứng đó từ bao giờ.
– Anh Cúc, nói gì vậy. Nội quy đã nghiêm cấm các anh không được dùng tiếng nước ngoài, sao vừa rồi, tôi nghe thấy Ma-tơ, ma tiếc, “nà” nghĩa “nàm” sao?
Cúc đứng lên, hơi luống cuống:
– Dạ, đó là tên người, chứ tôi đâu có nói tiếng nước ngoài!
Sắc mặt tên Hải lầm lầm, nhìn khắp lượt, rồi bỏ đi.
Cuộc sinh hoạt lại tiếp tục. Những ai không có đạo, nét mặt bình thường, ai có, trông thật buồn bã !
Nhưng dù lệnh cấm nghiêm ngặt như vậy, anh em vẫn cố tìm mọi cách tổ chức đêm Giáng Sinh bằng mọi cách. Những chiếc đèn được giấu đi thay vì phá hủy.
Từ sớm ngày 24, có nhiều tên cảnh vệ vác súng đi tuần. Chúng xông vào từng nhà dòm ngó, để tìm hiểu xem lệnh của chúng có được tù tôn trọng? Một không khí nặng nề bao phủ toàn Trại, tuy sinh hoạt bề ngoài có vẻ bình thường.
Vị Linh Mục chủ lễ, vẫn bình tĩnh ngồi trước thềm nhà dõi mắt nhìn theo đàn én. Bên cạnh đó, mấy người đang bàn tán, tôi nhìn thấy Tuệ. Lát sau, gặp lại, tôi hỏi tối nay sao?
– Vẫn làm lễ như đã hoạch định.
Tuệ trả lời vội vã xong đi xuôi về hướng nhà bếp.
Cơm chiều xong, mọi người nhởn nhơ đi rong chơi trong các lối hẹp. Tôi bước vòng vòng quanh chiếc sân nhỏ, chợt nghĩ đến Sàigòn, giờ này những năm Giáng Sinh trước. Cả thành phố như điên loạn trong nỗi vui mừng đêm Chúa ra đời. Những bài Thánh ca âm vang dưới mái giáo đường. Các hình thức nghi lễ được chuẩn bị tối đa. Đường phố Sàigòn như dấy lên nhịp sống mới. Có cái gì vừa vui tươi vừa thiêng liêng tràn ngập trong lòng mọi người, dù có đạo hay không.
Buổi chiều nay, trong kích thước nhỏ hẹp, khốn khổ này, tôi và cuộc đời bị ngăn cách bởi 12 lớp kẽm gai với những trái mìn!… Đêm xuống dần, bóng tối xóa nhòa cảnh vật. Trước mắt tôi, không còn hình thể nào rõ rệt, ngoại trừ vọng gác. Hai tên cảnh vệ, dựa lưng vào vách gỗ, đang nói chuyện gì đó. Thỉnh thoảng chúng lại cười sằng sặc.
Bữa sau, Tuệ được thả về chiếc đầu trọc lóc. Tôi hỏi Tuệ vì sao? Tuệ cho biết, hôm đó đi cầu, không vào kip lúc điểm số. Khi các tên cảnh vệ đi tìm, thấy Tuệ ở ngoài hố cầu lúc trời đang mưa, tưởng có ý đồ trốn Trại, nên họ bắt giam. Sau khi lấy cung, xét thấy ngay tình, nên tha, cảnh cáo bằng hình phạt cạo đầu.
– Thế sao Tử Vi không nói cho ông cái hạn này để tránh?
– Có chứ, nhưng đã gọi là số, tránh cũng chẳng được!
– Ngồi Connex có dễ chịu không?
– Ôi cha, con chắc bố không chịu nổi một dêm, đã tịch rồi! Ngày nóng như thiêu. Sắt bị hơ nóng giãn ra, kêu lốp bốp, lắc cắc suốt ngày. Đến đêm, trời lạnh, co vào lại lách cách, lắc cắc từ tối đến sáng, không tài nào ngủ được. Khát nước như điên, gào khan cả tiếng, nó không cho miếng nước. Gặp phiên thằng cảnh vệ nào có chút lương tâm còn khá, gặp thằng nào có họ hàng bị chết vì B52, đừng hòng.
Mới bị giam có 24 giờ, Tuệ gầy hẳn đi. Nét mặt lơ láo như còn sợ sệt cái hình phạt kinh khủng đó.
Nhằm mục đích tuyên truyền, Trại có đặt máy Tivi, mở mỗi tối, nơi căn nhà hội. Anh em tù, chả biết làm gì hơn, đi xem Tivi trước giờ ngủ. Có một tối, chúng tôi được xem nhà nhạc học Trần văn Khê nói về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Vẫn bài ông Khê đã nói ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc khi trước, trong chuyến ông về thăm quê nhà. Chúng tôi thầm phục tài hoạt động chính trị của ông Khê nhiều hơn về nhạc học. Ông đi hàng hai, chả mất lòng bên nào.
Chúng tôi còn được nghe nhà luật học Trần Thúc Linh ca tụng đạo luật bầu cử của Cộng Sản là Dân Chủ, Tự Do, còn luật bầu cử của miền Nam lúc trước là lừa bịp, độc tài! Cái lưỡi Esope ghê gớm thật! Nhưng rồi, sau mấy năm sống chung với Cộng Sản, ông Linh đã nhìn rõ bản chất của Cộng Sản, nên vội tìm cách chuồn đi ngoại quốc dưới lý do chữa bệnh! Chẳng biết, có lúc nào, ông tự vấn lương tâm về những gì ông đã nói trên màn ảnh nhỏ, ca tụng chế độ Cộng Sản là siêu việt, đầy sáng tạo, là trái tim của loài người tiến bộ, để được Cộng Sản cấp cho một ngôi nhà lớn với những tiện nghi do “đế qưốc” để lại! Trong mấy chục năm, ông sống nhờ cơm gạo Quốc Gia, nắm những địa vị cao trong chế độ, đến phút Quốc Gia lâm nguy, ông lại phản bội! “Trí thức không bằng cục phân” – Hồ chí Minh đã nói rất đúng về các trường hợp kể trên.
Cả Trại nhốn nháo về bệnh kiết ly. Hầu như không K nào thoát! Chưa bao giờ buổi sáng lại đông người chờ đi cầu như vậy! Mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, mệt mỏi trông thật thảm hại! Có tiếng chửi bới vì mới tìm thấy những bãi phân đi lúc ban đêm:
– Đù mẹ, nó không ỉa ở K nó, qua K khác ỉa bậy! Ông tóm được, nhừ đòn!
“Tu-bíp” Cường, một Bác sĩ Quân Y, thưộc quân chủng Không Quân, người mập lùn, không được anh em ưa, vì thái độ nịnh bợ tên Y tá Việt Cộng quá đáng. Hắn được Việt Cộng chỉ định phụ trách vấn đề Y tế trong Trại. Bệnh kiết lỵ mỗi ngày một lan rộng. Các loại thuốc trị bệnh kiết lỵ khan hiếm, phải gửi tiền nhờ tên Y tá Việt Cộng mua tại Biên Hòa hoặc Sàigòn. Chẳng biết “Tu-bíp” Cường có được tên Y tá chia cho chút tiền nào không, nhưng anh bị mang tiếng rất nhiều về vấn đề này. Trong Trại cũng có nhiều Bác sĩ đi tù, nhưng vì không ưa Cường, nên chẳng ai chịu hợp tác. Nhưng do áp lực của tên Y tá Việt Cộng, một Ban Vệ sinh được thành lập do Cường làm trưởng Ban, các “Tu-bíp” khác làm ”vệ sinh viên” để lo phòng bệnh và chữa bệnh cho anh em. Tôi cũng bị bệnh. Thật đau khổ, lúc nào bụng cũng quặn đau, mỗi lần đi cầu, són ra một chút, phân ít, mủ máu nhiều. Từ nơi tôi ở ra nhà cầu khá xa, để tiện việc, tôi không về nhà, ngồi ngay ở căn nhà chiếu Tivi, sẵn sàng chạy ra hố cầu khi cần. Không phải mình tôi như vậy, mà hàng chục người, tay cầm lon nước, ngồi bệt xuống mặt cát.
Bệnh của tôi kéo dài cả tuần, sau khi đã uống hết cả lọ Tetracyclin do Lan cho. Lan, người bạn mới quen trong tù, nhưng có tấm lòng đôn hậu. Khi trước anh đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng về quân sự cũng như hành chánh, nên quen nhiều, biết rộng. Trong một buổi chiều, anh đã tâm sự với tôi, anh và gia đình anh đã chờ trực thăng đón đi từ sáng ngày 30-4, chờ đến trưa, khi quân Cộng Sản đã vô Sàigòn, mà không xong. Theo ước hẹn của một nhân viên Toà Đại Sứ Mỹ, trực thăng sẽ đáp xuống sân thượng của căn nhà số Z, đường Gia Long, khoảng 9 giờ sáng.
Nhưng cả mấy chục người ngong ngóng từ sớm, đợi hoài đến trưa phá cửa, xông lên sân thượng. Nhà chẳng còn ai, ngoại trừ đồ đạc và giấy tờ quăng bừa bải, chứng tỏ có sự gì vội vàng, gấp rút. Lên tới sân thượng, nhìn khắp bốn phương trời, không thấy bóng chiếc phi cơ nào. Thất vọng, Lan cùng gia đình quay về. Nhà cửa đã bị phá tan hoang, bao nhiêu đồ quý giá không còn nữa.
– Ông ạ, ở đời có số cả. Số mình đi tù, có tránh cũng không thoát. Nhưng tôi nói thật với ông điều này, nếu tụi nó đối xử vừa phải, thì thôi, còn quá quắt, tôi sẽ tự xử!
– A, ông tự xử bằng cách nào?
– Thiếu gì cách!
– Tôi hỏi thật, ông có thuốc gì, Cyanure, Chloroquine, Optalidon, Valium?
– Trừ Cyanure, thứ gì cũng có!
– Ghê quá hé!
– Chịu mãi đâu được! Nếu cuộc sống nhục nhã cứ kéo dài, năm này qua năm khác, làm sao chịu nổi, chết sướng hơn!
– Thế vợ con, ông để lại cho ai?
– Trước khi đi tù, tôi đã dặn lại vợ con tất cả những gì cần thiết và cho bả biết, sẽ tự hủy nếu bị kẻ thù hạ nhục!
– Chị nói sao?
Tôi nhìn chằm chặp vào mắt Lan. Đôi mắt một mí, hơi nhỏ so với khuôn mặt chữ điền phốp pháp, cố mở to để chứng minh sự quyết tâm của mình.
– Còn nói gì nữa! Bả chỉ biết khóc dài. Tôi đã nói nhiều lần, lấy chồng nhà binh, phải chịu cảnh góa bụa bất cứ lúc nào. Tới hôm nay, tôi chưa chết, may quá trời rồi, còn ước mong gì nữa?
– Này ông, tôi nói thật với ông điều này, mong ông hiểu. Kỳ bệnh vừa qua, tôi khỏi được, nhờ ông cho thuốc!
Tưởng tôi cảm ơn, Lan gạt đi:
– Ồ, anh em cùng cảnh ngộ, có thể giúp được nhau gì, cứ giúp. Rồi đây, hoàn cảnh đẩy đưa, mỗi người một ngả, có muốn giúp cũng không được. Thôi, quên đi!
– Đó, chính là vấn đề tôi muốn nói hôm nay, mong ông thông cảm. Nếu có thể được, ông chia với tôi phân nửa số độc dược hiện có, để khi cần, tôi cũng phải quyết định như ông. Sợ mai đây, mỗi đứa mỗi ngả, muốn chia cũng không được!
Lan không nói gì, cúi mắt nhìn nền đất xám ngoét, tay cầm cục sỏi nhỏ vẽ lăng nhăng, như đang suy nghĩ lung lắm về lời yêu cầu của tôi
– Thôi ông ạ! Hoàn cảnh tôi khác. Ông còn phải sống, cố gắng sống, ghi lại bằng bút mực những gì đã xảy ra từ sau ngày 30-4-75 tới hôm nay và ngày mai nữa, để nói lên sự thực, một sự thực ghê tởm, chẳng riêng gì ở phía Cộng Sản , còn ở phía chúng ta nữa!
– Xin cảm ơn ông, đã quá mến tôi nên nghĩ vậy. Tôi tự xét, không đủ can đảm và kiên nhẫn để chờ đợi đâu. Ông đừng sợ trách nhiệm lương tâm về vấn đề ông đưa độc dược cho tôi. Chúng ta đâu còn trẻ để có những hành động xốc nổi, nhưng chúng ta cũng chưa quá già để trở thành ù lì, nhu nhược. Ông cứ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi đi.
manhhai flickr
Trước sự nài nỉ khẩn thiết đó, Lan không nở từ chối quyết liệt. Sợ tôi buồn, anh hứa sẽ chia độc dược với tôi, trước khi rời Trại, nếu không cùng di chuyển với nhau một lượt. Thấy không nên ép Lan quá, nhất là mình, kẻ ăn xin, nên tôi đành ưng thuận.
Buổi chiều nay, tôi đang đứng nhìn những đám mây bị gió xé nát, vung vãi trên nền trời như những mảnh vụn, phản chiếu ánh mặt trời đỏ rực trông vui mắt, bỗng Cung đến bên:
– Ông gặp Văn Quang chưa?
– Gặp rồi, hắn ở chung với Thông, Biệt kích Dù mà!
– Còn Thế Hoài và Thục Vũ?
– A, Thế Hoài có đọc cho nghe mấy bài thơ và Thục Vũ có hát ca khúc mới sáng tác, mở đầu bằng câu: “Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây. Áo rách ôm thân gầy!…”
– Sao, ông có ý kiến gì không?
– Ở trong hoàn cảnh này, anh em còn sáng tác được, dù vui hay buồn, đều đáng hoan nghênh rồi.
– Nhưng tôi thấy nó thê thiết quá, không có hướng đi lên.
Tôi ngó Cung như đoán hỏi. Cung nói tiếp:
– Dù ở hoàn cảnh nào, những người làm Văn Học Nghệ Thuật trong Quân Đội cũ, cũng không nên yếm thế, tự tạo cho mình nỗi thất vọng, trong khi chúng ta cần phải hòa đồng vào cuộc sống mới, nếu không nó nghiền nát!
– Hòa đồng bằng cách nào? Ai chấp nhận mình? Nếu hôm nay chúng ta có làm những câu thơ, hay lời ca buồn bã cũng do hoàn cảnh đẩy tới. Nỗi bi phẫn chứa chấp trong lòng mỗi con người làm văn nghệ cần được giải tỏa, cần phải nói ra, viết ra, miễn nó phản ảnh đúng tâm tư của mỗi con người suy nghĩ về nó .
Sự thực, từ Long Giao qua Suối Máu, chiều hướng suy tư của Cung về ”Cách Mạng” tôi nhận thấy, đã phần nào thay đổi. Có lẽ, thực tế đã mặc khải cho anh thấy cái ý đồ phi nhân của Cộng Sản sau gần 200 ngày gánh chịu. Hình ảnh “Cách Mạng” xuyên qua Thanh Nghị, chắc không còn được tôn vinh như những ngày đầu “Giải Phóng”! Nhưng tôi tin, phải thời gian nữa, Cung mới hoàn toàn rủ bỏ được những gì anh đã trót khoác vào tâm hồn vì vội vã, bồng bột.
Chúng tôi cứ đi vòng vòng quanh chiếc sân nhỏ, vừa đi vừa nói chuyện, đến khi mặt trời chìm sau rặng cây phía xa. Cảnh vật trở thành mầu xám rồi khỏa lấp vào bóng tối. Từ trên vọng gác cao, tên cảnh vệ nhìn xuống. Một tên khác tiến đến trèo lên thang. Khẩu A.K. đeo trên vai, sà xuống lủng lẳng. Tôi biết từ phút này, tụi nó gác kép, cho tới sáng. Ngoài ra, còn tụi đi tuần vòng theo con lộ, cũng như bên trong Trại. Chúng dòm vào từng buồng, chiếu đèn pin rọi tận mặt, làm mất ngủ. Chúng đi dép “râu” nên rất êm, không ai biết chúng có mặt lúc nào.
Tôi và Cung chia tay ai về nhà nấy, trong khi anh em đã tụ tập đầy căn nhà có đặt máy ti-vi. Tối nay trời quá nóng, tuy trong nhà chẳng còn lại bao nhiêu người. Tôi cởi áo, cầm quạt phẩy mạnh để xua đuổi cơn nóng nực. Lúc này còn sóm, chưa ngủ được. Tôi nằm dài duỗi thẳng tay chân cho đỡ mỏi. Phiá bên kia, mấy người đang coi bói bài Tây. Những quân bài sặc sỡ, không thích hợp với toàn thể không khí nơi đây.
– Ông sắp có tin vui vào ngày thứ Năm. Có người đàn bà đang chờ ông. Cẩn thận tránh khẩu thiệt!
– Ông đoán xem, bao giờ ra khỏi đây?
– Việc nay, bố tôi cũng không đoán được!
– Thế thì coi làm chó gì? Mất thì giờ! Dẹp!
Tiếng cười vang lên. Anh em sống trong tù, cũng cố tạo cho mình những phút vui dù ngắn ngủi. Qua cơn cười, mọi người lại chìm lắng vào sự suy tư riêng biệt!…
Chiều nay, trong khi tôi đang ngồi xem Liêm đánh cờ, bỗng Huy gọi:
– Ông ơi, ông có quà đó! Anh em đi khiêng về nói vậy. Tên ông khó nhầm lắm!
Tôi cảm ơn Huy và thầm mừng trong lòng. Sống trong hoàn cảnh giam cầm này, nhận được quà của gia đình là niềm an ủi. Từ phút ấy, trong lòng tôi xốn xang, bồn chồn mong ngóng đến giờ được gọi tên đi lĩnh quà. Việc gì đến sẽ đến, lúc gần tối, tôi được gọi tên cùng nhiều anh em khác lên Ban Chỉ Huy Trại để lãnh quà.
Chúng tôi tập họp, xếp hàng hai, đi ra cổng. Sau khi báo cáo số người với tên lính gác, chúng tôi đi thẳng đến chiếc sân lớn, nơi đó, các gói quà được quăng bừa bải trên mặt đất. K.Phó hậu cần, đang lom khom kiểm lại số qua theo bản danh sách cầm trong tay.
Tên Việt Cộng mang quân hàm Thiếu úy, có bí danh Tư, trông bề ngoài khá cao ráo, đứng trên chiếc ghế cao, nói lớn:
– Tôi gọi đến tên anh nào, anh ấy “nên” nhận gói quà của mình và mở ra để điểm nghiệm trước khi mang về. Các anh nghe rõ cả chứ?
– Nghe rõ!
Từng người tiến lên sau mỗi tiếng gọi, ôm chặt gói quà của mình trong tay như không muốn rời. Tên Tư cho lệnh mở tung gói ra để khám xem có thư từ, tiền bạc gì không ? Sau khi khám xong, vì không có thì giờ sắp xếp lại, người nào người nấy, ấn đại vô tờ giấy gói, lếch thếch ôm về. Vì quá đông, tôi phải chờ đến tối mịt mới lãnh được.
Dưới ánh đèn đỏ ngầu, căn nhà vui hẳn lên vì nhiều tiếng nói cười. Những người có quà vui đã đành, những người chưa có, cũng vui lây vì anh em mời kẹo bánh và thuốc lào ngon. Tôi ngồi gói lại từng thứ, xong treo lên cao, đề phòng chuột, vì chuột ở đây nhiều hơn tù. Đã gần nửa năm nay, tôi mới lại được nhìn thấy và được ăn vài món quen thuộc do chính tay vợ con thực hiện.
Bên ngoài gió thổi. Tôi nghĩ có cơn mưa, thò đầu nhìn ra ngoài, nhưng không, bầu trời vẫn cao, màu mây xam xám đóng cứng như một tấm thép vĩ đại. Không một ngôi sao nào xuất hiện. Gió thổi luồn qua mái tôn rít lên như tiếng sáo. Có lẽ, gần cuối năm, thời tiết thay đổi, nhưng cái lạnh miền Nam không có gì đáng sợ. Đêm đêm, lúc gần sáng tôi vẫn đắp tấm vải mỏng, vừa đủ ấm. Căn buồng không có cửa, nên gió lùa thoải mái. Sao tối nay cơn gió lại mang hơi lạnh về quá sớm? Mới hơn 9 giờ, người nào cũng nằm quấn tròn trong tấm mền dù dầy, dù mỏng!
– Tối nay chắc ngủ ngon ông nhỉ? – Liêm nói.
– Đời sống trong tù, ngủ được là một hạnh phúc, chứ đêm đêm thao thức, suy nghĩ vẩn vơ là mệt trí, chẳng ích lợi gì, còn hại cho sức khỏe. Về vật chất, chúng ta đã chịu thiếu thốn, hàng ngày chỉ có cơm và canh su su nấu muối, lấy đâu chất bổ dưỡng cho cơ thể? Đêm lại nằm đất, mai đây, lúc về già, có đau lưng , nhức cốt cũng do khoảng thời gian này đó, ông ơi!
Liêm gục gặc đầu ra chiều đồng ý. Tuy chưa nhận được quà, nhưng anh không buồn vì anh đã nói với tôi nhiều lần, nhà nghèo, vợ dại con thơ. Đời phi công, nay sống, mai chết, nên có bao nhiêu, tiêu bấy nhiêu, không cần biết tương lai là gì? Liêm nhìn bóng tối, chửi bâng quơ.
– Đù mẹ, đi được, đâu đến nỗi nào!
Chửi xong, nằm vật xuống giường, nhắm mắt lại.
Tôi cũng thiu thiu đi vào giấc ngủ vì trời mát.
Phía đất bên kia, Phát, từ ngày đến đây, không biết học ở đâu môn ngồi Thiền. Tối nào cũng xếp chân vắt lên đùi, ngồi thẳng như khúc gỗ, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhắm để mơ về cõi xa xôi nào đó. Tối nay Phát cũng ngủ khò chẳng buông mùng, chẳng Thiền!
Thời gian trôi qua thật buồn nản, nặng nề. Ở đây không phải lao động. Ăn rồi nằm, chán nản lại đi vòng vòng quanh Trại. Những ngày sống ở Long Giao tuy vậy còn vui, có phong cảnh để nhìn ngắm, có nhiều nơi khoảng khoát để rong chơi. Cuộc sống nơi này khô khan quá, chen chúc, bực bội. Trước mắt chỉ có tôn và kẽm gai. Tên Trung uý Hải, phụ trách Trại, mặt mũi cau có, lầm lũi luôn luôn rình rập, đe dọa, làm không khí càng nặng nề.
Sáng nay, Tổ tôi phụ trách vác củi từ cổng ngoài vô Trại. Những khúc củi cao su đuợc đổ từng đống cao, mọi người chia nhau vác dần về. Trước khi đi qua chiếc cổng, ngăn cách giữa khu tôi và toàn Trại, mọi người phải ngả nón, chờ trưởng Toán báo cáo số người và lý do đi ra ngoài cho tên cảnh vệ. Khi nào nó cho phép, mới được qua. Nón cầm tay, kiếng cận, kiếng mát đều phải bỏ ra, khi nào người cuối cùng qua khỏi vọng gác mới được đội nón, mang kiếng. Không hiểu sao tụi Cộng Sản rất ghét đeo kiếng, bất cứ loại kiếng nào. Tôi nghe nói, hôm trước, có một anh mang kiếng cận, khi qua vọng gác ỷ y không bỏ ra, tên gác bắt cả đoàn đứng lại, cho lệnh anh mang kiếng lại gần, đột nhiên nó cho tay giật mạnh, quăng xuống đất, rồi sừng sộ dọa nạt. Anh mất kiếng đứng ngay đơ như khúc cây. Cũng may, lúc ấy có tên chỉ huy đi ngang qua, hỏi chuyện gì? Sau khi biết nguyên do, tên chỉ huy cho phép nhặt cặp kiếng lên, nhưng hởi ôi, một bên mắt đã bể nát!
Tôi vác hai khúc củi cao su lên vai. Sự thực, không nặng bao nhiêu nhưng nó ngoằn ngoèo khó mang. Chúng tôi làm việc độ hai tiếng là xong. Công việc chẻ củi, thuộc toán khác. Có lẽ, vì thấy tù nhàn quá, ăn tốn cơm gạo, chả lao động sản xuất gì, nên tụi Cộng Sản bắt mọi người mỗi sáng phải tập hát những bài ca Cách Mạng. Mỗi K đề cử người biết qua về nhạc lý và có giọng, đến học tại K1, do Vũ Đức Nghiêm và vài bạn nữa dạy. Những bản hát do Cộng Sản cung cấp. Sau khi học xong bài nào về dạy lại anh em bài đó. Mọi người chỉ chép lời, còn hát ra sao, do quản ca huấn luyện. Tên Việt Cộng phụ trách vấn đề này, một y tá, mang quân hàm Trung Sĩ, thế mà có ông “Tu-bíp” cứ một mực tâng bốc: Bác sĩ!
Trong giờ tập hát, Mậu hay ngồi cạnh tôi để đấu láo. Cũng như tôi, Mậu không có giọng, nên hát lạc “tông” hoài. Mậu luôn miệng kêu: Chán ghê, chán ghê! mỗi lần gặp chuyện gì không ưng ý! Liêm, tuy nằm kế bên nhưng ít nói chuyện. Tuy nhiên, chẳng vì thế, mà không hiểu nhau. Chúng tôi đã sống chung B tại Long Giao tới hôm nay. Liêm vốn kín đáo, không hay đùa nghịch đúng với lứa tuổi, chỉ thích đánh cờ. Liêm ấp ủ trong lòng niềm ân hận sâu xa, chẳng biết đến bao giờ mới giải tỏa được? Trong những lúc buồn phiền, Liêm thường than thở: Là Phi Đoàn Trưởng, có tàu trong tay, giờ này bị tù, có ức không ? Nghĩ ít đau ít, nghĩ nhiều đau nhiều, càng nghĩ càng đau! Chỉ tại mình ghét Mỹ quá, không, muốn nhìn thấy mặt chúng nữa, nên mới quyết định ở lại, mặc dù vợ con đã khóc lóc, năn nỉ khuyên đi! Đù mẹ, lúc ấy mình tưởng là anh hùng, tự ái dân tộc cao, bây giờ biết hố, đã muộn! Liêm thường tự trách như vậy.
Sau nay tôi được biết, trường hợp Liêm, không phải trường hợp duy nhất, còn nhiều phi công ở cùng cảnh ngộ.
Mỗi buổi sáng tới giờ tập hát, anh em chùng chình như không muốn bắt đầu. Còn gì đau khổ hơn, cứ phải dài cổ ra hát những lời ca nó chửi cha mình ! Mỗi lần cất giọng, mỗi lần thấy xấu hổ. Tụi Cộng Sản hát thì không sao vì của nó, còn mình kẻ thua trận, hát lên chỉ chuốc lấy nỗi nhục! Tụi Cộng Sản thâm độc ở chỗ đó. Kẻ thua trận hát những bài ca thắng trận làm sao chịu nổi? Nhất là lời ca lại phách lối, đao to búa lớn, chỉ dùng để lừa bịp những người thiếu suy nghĩ. Nào “người người đứng lên phá tan xiềng xích, tiến vào Sàigòn đập tan Mỹ Ngụy, nhân dân đang đói khổ lầm than, bị o ép, kìm kẹp v.v… “ Bố ai chịu nổi ? Còn bản nhạc “theo lời bác dặn” của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát: “dù phải 20 năm hay 30 năm bước trên tuyến lửa … ớ! ta tiến lên! ta tiến lên …” nghe nó chói tai quá. Từ bản Thằng Bờm đến bản này, quả thực Nguyễn Xuân Khoát đã lột xác 100%.
Tôi và Mậu mồm cứ há ra như hát, nhưng kỳ thực đang nói chuyện đâu đâu, vì cả trăm con người cùng hát nên một, hai người không hát cùng chả sao. Trong số anh em, tôi nhận thấy cũng có nhiều người nhiệt tình lắm, họ hát trong giờ tập và cả ngoài giờ tập!…
Lúc này cuối mùa mưa, thỉnh thoảng mới có một cơn. Mỗi lần mưa, chỉ nhấp nháy là dứt. Nắng suốt ngày. Trời cao xanh thẳm, những phiến mây trắng trôi phiêu phiêu từ phương này qua phương khác. Tôi nhìn, trong lòng nổi lên sự thèm muốn, ao ước, tự hỏi tại sao lại phải mang kiếp người nặng nhọc này, trong một bối cảnh vô cùng khốn khổ?
Tôi đang ngồi suy nghĩ vơ vẩn, Phúc đến. Người ta thường biết anh qua những bài Tạp Ghi. Phúc hỏi:
– Ông đang mơ mộng gì đó?
– Hai thứ tóc rồi, còn mơ mộng gì ông? Tôi đang suy nghĩ về thân phận con người thua trận! ·
– A, thua trận ! chắc ông đã xem phim “Trên cầu Sông Kwai” rồi, và các cuốn khác, diễn tả cái cảnh tượng thê thảm của Paris dưới gót giày quân Đức, rồi đến lượt quân Đức buông súng trước quân đội Đồng Minh, quân Nhật đầu hàng quân Mỹ, qua Thế Chiến II ! Kẻ chiến thắng hôm qua, trở thành kẻ chiến bại hôm nay, nó cũng thê thảm như vậy thôi. Chỉ có khác, ở Thế Giới Tự Do, có nền văn minh cao, họ chỉ trừng trị những tội phạm chiến tranh. Còn các cấp thừa hành được trả về đời sống bình thường. Như Đức Quốc Xã sau khi thua trận, vùng nào do Mỹ, Anh, Pháp chiếm đóng, dân chúng Đức tương đối được hưởng đôi chút quyền làm người, dù người thua trận! Còn vùng nào do Nga Sô chiếm đóng, vùng đó coi như Địa Ngục. Quân Nga hảm hiếp, cướp bóc, giết người! Cái cảnh trả thù man rợ đuọc diễn tiến ngoài ánh sáng cũng như trong bóng tối ở vùng Đông Bá Linh, còn ác liệt hơn thời Trung Cổ. Không ai chối cãi, trong khi chiến tranh đang tiếp diễn, mọi thủ đoạn dù độc ác đến đâu cũng có thể được xử dụng để chiến thắng quân thù, “tous les moyens sont bons” [Tất cả mọi phương tiện đều tốt] mà! Nhưng sau khi thắng bại rõ ràng, người thắng cũng cần có chút tinh thần “mã thuợng” chứ? Nhưng với Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Việt Nam thì không. Họ quy trách nhiệm đồng đều cho các cấp sĩ quan dù văn phòng hay tác chiến!.
– Ông ơi ! nói chuyện đó mãi chán chết. Rít một “bi” cho quên đời đi ông. – Tôi đưa điếu cho Phúc.
– Tôi đâu có hút thuốc lào.
– Ờ nhỉ!
– Ông còn nhiều thuốc không?
– Sắp hết rồi, không có tiền mua. Đã viết thư về nhà, chưa nhận được hồi âm !
Phúc móc túi, đưa tôi 2 đồng, tiền Giải Phóng.
– Ông cầm tạm, đăng ký mua thuốc hút.
Tôi cám ơn Phúc. Cầm 2 đồng trong tay, suy nghĩ hoài về giá trị của nó bằng 1.000 đồng tiền Miền Nam khi trước. Tụi Cộng Sản chơi ức kẻ thua trận!
Tôi tiễn Phúc một quảng, xong vòng trở lại, đi mượn gầu ra giếng tắm. Khi tới chiếc sân nhỏ phía trước Trại, lúc này không còn đông người “làm đuôi” chờ đi cầu nữa. Tôi thấy nhữg thân hình cởi trần, bận xà-lỏn, đứng phơi nắng, hai tay đung đưa như hai chiếc quả lắc đồng hồ. Có những thân hình đầy lông lá, nham nhở. Có những thân hình ngực nở bụng thon, chứng tỏ trước đây cũng có tập tành. Có thân hình khô đét, khẳng khiu. Có cái đầy sẹo, nhăn nhúm. Có cái ghẻ lở trông gớm ghiếc ! Từ trên chòi gác, tên cảnh vệ nhìn xuống, chẳng biết nó nghĩ gì về một lũ nửa người, nửa ngợm, giết không được, tha cũng chẳng xong !
Tôi đi thẳng ra giếng. Chiếc giếng lúc nào cũng đông nghẹt. Đường kính miệng giếng khoảng l m, cả mấy chục chiếc gầu đủ loại, cùng buông xuống. Vì đã sống quen, tôi cũng len vô, chờ chiếc gầu nào vừa kéo qua miệng giếng, tôi thả ngay gầu xuống. Lắc qua, lắc lại một hồi, gầu mình cũng đầy nước, khi nghe nặng tay kéo lên. Có chiếc gầu, kéo lên gần tới miệng, bỗng đứt dây, rơi tòm xuống, chủ nhân chỉ có nước cầm sợi dây lùi ra, chờ mượn gầu người khác.
manhhai flickr
Vì việc lấy nước quá vất vả, tôi phải dùng chiếc lon nhỏ múc từng lon nước tưới lên người. Dù sao, nước cũng làm cho thân xác mát mẻ dưới cái nắng chói chang từ trên cao tỏa xuống. Mỗi ngày qua đi ở Suối Máu thật nặng nề, buồn bã. Vì Trại giam quá chật hẹp, lại đông người, nên lúc nào cũng huyên náo, ít khi tìm được giây phút yên tịnh. Trên 1,500 khuôn mặt, ngày nào cũng nhìn và nhận ra nhau làm nhàm chán. Câu chuyện gì nói mãi cũng thành nhạt nhẻo, những tin tức đều “lạc quan tếu”. Ở trong hoàn cảnh thực tế này, nhiều người vẫn chưa nhận thức được sự thực, còn mơ mộng hão huyền, hy vọng viễn vông ! Thật tội nghiệp !
Khi tôi vừa bước chân vô nhà, tiếng K.Trưởng nói:
– Các anh em, ai muốn đăng ký mua thuốc lào, đường thẻ, bột Bích Chi, đậu phọng v.v… xin ghi tên, đóng tiền cho Tổ Trưởng.
Tụ nhiên, tiếng ồn ào nổi lên:
-Tôi đăng ký 1đ thuốc lào!
– Nè, ghi đi, tôi 1đ thuốc rê!
– 1 gói Bích Chi đây!
– 2đ đường thẻ này!
Tổ Trưởng lui cui ghi vào tờ giấy đã được chia thành nhiều cột.
– Bao giờ có hàng, K.Trưởng ?
– Sau khi thu tiền và nhu cầu, K.Phó sẽ đem nộp cho cán bộ hậu cần. Khi có hàng, K.Phó sẽ lãnh về, trao lại cho anh em.
Vấn đề mua bán này sở dĩ có, do yêu cầu của tù, nhưng đích thực, đó là trách nhiệm của nhà nước Cộng Sản, không áp dụng đúng chính sách nuôi tù đã quy định theo Công Ước Quốc Tế về nhu cầu tối thiểu cho đời sống mọi người tù chính trị, nên mới có tình trạng này. Các K.Trưởng, K.Phó, một số lợi dụng sự mua bán, ăn bớt của anh em. Ví dụ: có 10 người mua đậu phọng, mỗi phần 2đ, cộng chung: 20 đ, nhưng K.Phó ghi: 12 người. Khi mua về, lẽ dĩ nhiên, theo giấy tờ phải chia làm 12 phần. 2 phần dư thuộc về K.Trưởng và K.Phó. Tên cán bộ hậu cần, không ai được gặp bao giờ để có thể hỏi, chỉ có K.Trưởng và K.Phó tiếp xúc với hắn tại Ban Chỉ Huy thôi. Việc ăn chặn, sở dĩ anh em biết, do sự tố cáo lẫn nhau vì chia chác không đều giữa họ.
– Đù mẹ, vào tù còn tham nhũng, thua là đúng! chán ghê, chán ghê!
Mậu nói oang oang giữa nhà . Tôi đang nằm, nhắm mắt lại vì không muốn nhìn thấy sự bỉ ổi diễn ra giữa anh em cùng cảnh ngộ, bỗng nhổm dậy vì có lệnh điểm số bất ngờ. Thường ra, việc điểm số được thi hành mỗi chiều vào lúc 6 giờ trước khi đóng cửa Trại, không một ai được ra khỏi cổng, dù đi cầu. Công việc điểm số, do hai tên bộ đội thực hiện. Tất cả, ai đứng vào chỗ ngủ người ấy, trên vách có ghi tên cùng số thứ tự. Tên chỉ huy đi trước, tên cảnh vệ đi sau, đôi khi tên này đứng ngoài cửa. Mọi người phải hô to số thứ tự của mình, do đó, nếu thiếu biết ngay.
Việc điểm số bất ngờ chiều nay do tên Trung úy Hải, đích thân làm. Với nét mặt hầm hầm, hắn đi vô.Mọi người đã nghiêm chỉnh đứng vào chỗ.
Một, hai, ba… từng con số hô to giữa căn buồng. Một anh có lẽ, đang suy nghĩ chuyện gì đó, nên hô nhầm!
-“Nàm nại” từ đầu! – Tên Hải gắt gỏng.
Con số lại được đếm từ 1. Trong khi đó tên Hải đi chầm chậm, nhìn chằm chặp vào mặt từng người như dò xét, soi bói. Con số cuối cùng được hô lên với tiếng: Đủ!
Trước khi ra khỏi, tên Hải còn ném cái nhìn hằn học về phía chúng tôi.
Bên ngoài, trời mưa tự bao giờ. Cơn mưa không to, những hạt mưa nhỏ nhưng đều đan mau ngoài ô cửa. Tiếng giọt gianh nhỏ tí tách. Tôi đoán đây chỉ là cơn mưa bóng mây, không lâu. Tiếng điểm số từ các nhà phía bên vọng đến nghe rất rõ. Toàn Trại điểm số. Anh em ngơ ngác hỏi nhau, không hiểu có chuyện gì?.
Tôi ghé mắt nhòm ra ngoài lối đi. Những tên cảnh vệ cầm A.K. đi lại lăng xăng, không thấy bóng anh em nào, không khí có vẻ căng thẳng. Tôi đoán có chuyện gì gay cấn lắm. Anh em lại có dip bàn tán, thì thầm. Tiếng điếu cày rít đó đây. Những bụm khói bay tản mác, tan nhanh theo hơi gió.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, có lệnh giải tỏa . Mọi người túa ra. Mậu đi một lúc, về cho biết:
– Có người trốn Trại, bị bắt lại rồi.
– Ai đó?
– Tuệ, trước ở An Ninh Quân Đội đó!
Tôi có biết Tuệ, hắn rất nhanh nhẹn, tháo vát. Không hiểu sao lúc này, hắn mê Tử Vi, suốt ngày học đoán các vì sao. Một buổi Tuệ nói với tôi:
– Ông ạ, Tử Vi là một khoa học, nó tinh vi và đúng ghê lắm, nếu nhớ rõ ngày, tháng, năm, giờ sinh. Tôi xem số cho mình, trúng phong phóc đó ông. Nếu ông muốn, tôi lấy cho ông một lá và đoán thử, xem có đúng không?
Tôi cảm ơn Tuệ và nói, chẳng tin bao nhiêu!
Lúc này, Tuệ đang bị nhốt ở chiếc Connex gần vọng gác ngoài cổng, không biết trong lá số Tử Vi của hắn có ghi cái hạn này không?
Chuyện Tuệ trốn Trại lan truyền nhanh như cơn gió. Đi đâu, đến đâu, cũng nói chuyện đó. Người bàn ra, kẻ tán vào, thêm thắt cho xôm tụ. Buổi chiều, tôi đứng ngay đầu lối đi, ngó ra chiếc Connex có Tuệ ngồi trong.
Ánh nắng chiều rọi chếch làm màu sơn ánh lên, chói sáng một cách dễ sợ. Chiếc Connex đóng kín. Tên cảnh vệ ngồi trong vọng gác, nói chuyện với tên đứng ngoài, thỉnh thoảng chỉ tay về phía đó.
Những cánh én vẫn chao qua, chao lại để bắt nhặng. Nó là cứu tinh của tù. Nếu không có chúng, làm sao chúng tôi có thể làm công việc vệ sinh với đám nhặng sinh sôi nẩy nở rất nhanh chóng như vậy ? Trước khi chúng tôi đến, nơi này đã giam giữ các sĩ quan cấp nhỏ, nên các hố phân mới tràn đầy như vậy.
Buổi sáng nay, tôi đi cầu trễ hơn mọi bữa để tránh sự đợi chờ. Đi trễ cũng có cái bất tiện, phải nhìn thấy tất cả sự dơ dáy phơi bày dưới ánh sáng mặt trời. Dù muốn dù không, mỗi ngày, tôi vẫn phải làm cho xong cái công việc “đóng thuế”! Vừa đứng lên, toan quay vào bỗng có một toán người nai nịt gọn ghẽ đi vô hố phân. Có người mặt che kín, chỉ để hở hai con mắt, tay đeo găng. Có người cởi trần, mặc mỗi chiếc quần xà-lỏn. Có người bện quần lên tới háng, miệng đeo miếng vải giống như miếng vải có tẩm thuốc sát trùng của mấy ông “Tu-bíp”. Người cầm cuốc, kẻ vác xẻng, đứng lố nhố trên miệng hố phân. Người nọ đùn người kia, không ai chịu xuống trước:
– Ông xuống đi!
– Thì cậu xuống trước đi, trưởng Toán mà!
– Trưởng Toán để chỉ huy chứ không phải để làm!
– Ai bảo cậu vậy? Ở đây thằng nào cũng tù như nhau, đéo ai hơn ai!
Tự nhiên, cả toán người nhốn nháo. Một anh, có lẽ trông thấy hố phân với đám dòi bọ nhung nhúc, khiếp quá nên ngất xỉu, ngã lăn trên miệng hố. Hai người trong toán, cúi xuống nâng anh ta lên, dìu vào. Tôi nhìn, một khuôn mặt vàng khè, hai mắt nhắm chặt, chân tay xuội lơ, cơ hồ không còn chút thể lực nào trong thân xác.
Rốt cuộc, hố phân cũng được hốt đi. Ở đây, mỗi tuần đều có toán hốt phân luân phiên làm việc. Đi tù Việt Cộng phải không sợ phân. Ở ngoài Bắc đã có “Anh Hùng Hót Phân”, giá trị ngang với anh hùng ngoài mặt trận. Tôi nghe nói, anh sợ phân bỏ cơm cả tuần! Chả biết thời gian sau này, sự gian khổ mỗi ngày mỗi tăng cường độ, không biết anh có chịu đựng nổi, hay đã vĩnh viễn chia tay với cuộc sống, ở nơi nào đó giữa núi rừng miền Bắc?
Phần 19 Người đàn bà đi tìm con buổi tối trở về mang theo hai gói cơm. Chị sớt ra chén, đặt vào tay Sương, bảo: – Có cả rau muống xào tỏi đấy. Chị lặng lẽ ăn. Sương lắng nghe tiếng nhai cầm chừng của chị, có khi trệu trạo, có khi nàng không nghe gì cả. Sương nói: “chị ăn đi”. Người đàn bà buông chén, nằm vật ra giường khóc thút thít. Sương cũng buông chén, lần tay tìm vai người đàn bà. Đôi vai rung dội vào lòng nàng như nhịp đều của quả tim. Có hôm người đàn bà ghìm không nổi, gục đầu vào Sương khóc như một đứa trẻ. Dường như cả cuộc đời này chỉ còn mỗi cô gái mù là để cho chị dựa vào, tỉ tê kể. Sương lắng nghe bước chân của chị trên hè phố, dưới trời nắng lửa, dưới những cơn mưa rào bất chợt. Nàng hình dung cả cánh cổng sắt đen, người đàn bà thò mặt vào, những đứa trẻ chơi đùa trong sân, ríu rít chửi tục. Cả đời sống bên ngoài trại, hay bên ngoài thế giới tối tăm của Sương được chị mang về mỗi tối, trút vào cái vực thẳm của nàng đủ màu đủ sắc, tiếng xe chạy, người nói, những ẩu đả, thậm chí nàng ngửi được cả mùi lựu đạn cay nữa. Chị bảo nếu không có Sương, người chị sẽ nổ tung lên vì ngần ấy chất chứa. Nước mắt chị thấm ướt đầu gối Sương. Chị thở ngập ngừng, mùi nước hoa xông lên mũi đắng cay khó nhọc. Sương bảo: – Chị nhớ chứ, em bảo chị đừng xức dầu thơm nữa. – Chị cần mùi dầu thơm. – Em thích mùi tóc cháy của chị. – Người ta không thích như thế. Sương vuốt mái tóc cứng của người đàn bà, người đàn bà nông thôn chân chất, đầu đội nón lá, gập mình trên bông lúa sừng sực. Nàng thích thế: – Mỗi lần nghe mùi dầu thơm em thấy em xa chị. Người đàn bà nghẹn ngào: – Chị cũng thấy chị xa lạ nữa. Người đàn bà khóc nỉ non. Chị không biết đọc, biết viết, tâm hồn chị trần trụi sơ sinh. Vậy mà chị phải xức dầu thơm. Nước hoa đục khoét tâm hồn chị, ăn mòn da thịt trần truồng của chị như chất cường toan gặm sắt thép. Mỗi sáng chị diện cái quần bò áo thun trắng, nhẹ nhàng sợ làm động giấc ngủ của Sương, lặng lẽ rời trại. Nhưng thính giác của người mù bén nhạy nên Sương nghe rõ cả tiếng kéo phẹc-ma-tuya của chị, cả khi chị cài nịt vú nàng cũng nghe được. Nàng nghe bước chân chị gõ trên thềm xi măng lóc cóc, xa dần. Buổi tối chị về, có khi đã quá nửa đêm, có khi mặt trời vừa chập choạng, bất thường như thế, nhưng luôn luôn có cái gì cho Sương ăn, thậm chí đủ ăn cho ngày hôm sau. Rồi chị nằm vùi trong lòng Sương, đôi vai rung động. Có dạo chị về lúc trời đã bình minh, ngủ vùi một ngày, mùi nước hoa mệt nhọc tan trong bầu khí càng lúc càng nóng. Căn phòng của Sương ba mặt tôn, mặt thứ tư có khung vuông bằng chu vi một tấm tôn tháo đi, quá nhỏ nếu là cửa lớn và quá lớn so với diện tích cái cửa sổ. Người đàn bà nằm xoay đầu ra cửa, nắng hắt chéo trên người chị, móng tay dài sơn đỏ để trên ngực, mái tóc xổ tung vắt ra ngoài ngạch cửa, đong đưa trong gió những sợi cứng. Lắm khi mấy gã thanh niên đi qua, cúi thấp đầu nhìn xuyên qua cổ áo để hở của người đàn bà, cười hô hố! Khi Sương kể những chi tiết cười khả ố của mấy gã thanh niên trước cửa, chị nghệch ra, lặng thinh. – Họ cười gì thế chị? Sương ngờ nghệch hỏi. – Chị mặc áo hở cổ.
Google images
Sương ngượng ngùng nhớ ngày nào nàng trần truồng đi trên bờ biển vắng. Nàng đứng yên nghe Hải tả bầu trời, màu trăng bàng bạc trên sóng biển, trên cát, trên da thịt nàng. Rồi Hải ôm ghì thân thể nàng trong cơn thèm khát tuyệt vọng, như một đốm lửa chỉ vừa hực lên đã tắt phụt. Nàng không hiểu tại sao nàng lại nghĩ đến Hải, trong khi tiếng nói trầm ấm của chàng, thân hình gầy xương của chàng đã lặng lờ khuất như viên sỏi lẳng lặng chìm sâu xuống đáy nước để nhường cho hình ảnh của Lê Khắc. Người mà nàng kêu bằng “chú”, tiếng kêu vừa xa cách vừa gần gũi, vừa yêu thương lẫn tuyệt vọng ấy, miệt mài trong lòng nàng mãi mãi. Buổi sáng lúc người đàn bà vừa đi khỏi thì Sương chợt có cảm giác là có người đứng trước cửa nhìn nàng. Dường như mặt trời bị cái gì đó che khuất. Sương sợ hãi lên tiếng: – Ai đó? Vẫn không có tiếng trả lời. Sương nghe rõ cả hơi thở của một người, một người đàn ông. Một tiếng thở dài phát ra từ phía cửa, nặng nhọc và buồn bã. Sương càng sợ, nàng lớn tiếng: – Ai? Tiếng người đàn ông cất lên, rõ, sát vào mặt nàng: – Sương, Sương, anh là Hải đây, Hải đây em. Tiếng nói của biển, của trăng sáng…Sương ú ớ, nàng bật khóc khi tay Hải vuốt nhẹ lên má nàng. Chàng nói: “Anh không ngờ có ngày gặp lại em, Sương, em sao thế”. Sương tránh bàn tay Hải, lùi lại góc phòng, run run bảo: – Phải anh Hải à? Nàng bật khóc thành tiếng. Hải hơi bất ngờ trước phản ứng của Sương. Chàng cởi giầy leo vào phòng, yên lặng nhìn người con gái đang xúc động. Đôi môi rung rung của nàng. Chàng đã hôn lên đôi môi ấy, tháng ngày đã là khoảng cách xa lạ. Hải nói: – Ừ, anh, em nhận ra tiếng anh chứ! Phải, nàng đã nhận ra tiếng chàng, cả hơi thở của chàng nữa. Tay nàng chợt chạm bức tranh của Tứ, những màu sắc của Tứ, những màu sắc mà Lê Khắc đã mang đến trong thế giới vô màu của nàng. Bỗng như nàng lấy lại bình tĩnh, hỏi: – Anh, gặp chú Lê Khắc không? Hải nói: “Có, anh đọc thư của chú ấy gửi em nè”. Chàng thò tay lên ngực áo. Bức thư của Lê Khắc, đôi mắt của người đàn ông buồn bã và cương nghị hiện ra qua ô lưới hàng rào trại buổi chiều nhìn Hải xách gói ra tự do. Và nước mắt của Hà, người vợ mới cưới buổi sáng buổi chiều nhìn theo chồng như nhìn một cánh chim thoát cũi sổ cánh bay về phương trời biền biệt. Hải ra đi với biết bao nhiêu thứ để lại, trong trại giam, trên đường vượt biển. Người vợ đã chết, đứa con đã chết ở một bờ bãi vắng. Người vợ mới trong hàng rào tuyệt vọng sau khi bị từ chối tư cách tỵ nạn lần thứ hai. Chàng cưu mang chừng ấy nhọc nhằn và hạnh phúc với hai bàn tay trắng. Bàn tay vẫn để trên ngực áo, đôi mắt dừng lại trên đôi mắt lặng yên của Sương, những ngón tay vân vê mép áo. Hải hỏi: – Ai cắt móng tay cho em thế? – Chị ở chung đấy. Anh đọc thư đi. Hải đọc. Chàng không hiểu một tí gì cả, có vẻ như đây là những dòng chữ nối tiếp bức thư trước. Một câu chuyện đúng hơn. Vì có một nhân vật, hai nhân vật. Ôi! Hải thấy nhân vật Lê Khắc kể sao giống chàng quá. Cũng đi vượt biển, một cô gái mù. Một nhân vật nhiều cá tính nhưng cũng thật tầm thường như những con người đang sống chung quanh Hải.
Google images
Anh ta có những giấc mơ đầy dục vọng, những sở thích, thậm chí chỉ làm lu mờ góc cạnh sắc sảo của một cá nhân bị mất tất cả chỉ để lấy được một điều, tự do. Nhân vật chỉ được ống kính của người viết dọi sáng một góc, không có gì đặc biệt, trừ tình yêu và cuộc sống. Anh ta kết hôn với cô gái trong trại trước khi ra tự do. Anh ta sẽ chờ đợi người yêu ngoài cổng trại, từ chối cả hạnh phúc lớn lao mà anh ta đã tìm gặp để đợi người con gái anh yêu đang mòn mỏi trong ô lưới. Lê Khắc viết những dòng cuối: “Chú nghĩ rằng đây có thể là một đoạn kết có hậu để cháu yêu thương cuộc đời hơn, cái phần sau của cuộc đời ấy chú không tài nào dẫn dắt cháu đi đến. Cái tột cùng của đời sống là hy vọng, phải không cháu? Nên chi người ta sống được là nhờ những ngày tháng chờ đợi nhau, hy vọng nhau, nối kết nhau bằng sự yêu thương rất mực đợi chờ. Như cô gái điên hoài thai thương yêu đứa con chưa chào đời mà vẫn ghét người đã tạo ra nó, mà vẫn chờ ngày về với làng xưa bên người mẹ tật nguyền đau khổ. Chú rất tiếc là cuộc tình thơ mộng của cô gái mù không trọn vẹn, bởi cuộc đời có mấy khi tròn trĩnh đâu. Người con trai đã lấy vợ vì anh ta là biểu thị của cá tính rất mực cảm xúc, rất mực khát khao, thậm chí rất mực tầm thường nhưng cũng rất đỗi con người. Sương ạ, có lẽ cuộc đời là thế, cháu không nên kỳ vọng nhiều, cháu chỉ nên sống trong hình tượng về màu sắc rực rỡ của thế giới mà thôi, không nên nhìn thấy nó, bởi kỳ quan đẹp nhất của cuộc đời là cái gì ta không nhìn thấy nhưng vẫn cất giấu nó trong sâu thẳm ước mơ. Một điều gì linh thiêng giấu tận đáy lòng. Khi cháu nhìn thấy Kim Tự Tháp, Kim Tự Tháp không còn là kỳ quan trong lòng cháu nữa. Khi cháu nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành, Vạn Lý Trường Thành chỉ còn là máu khô xương trắng. Khi cháu đến gần một nghệ sỹ, anh ta chỉ là một con người nghiện ngập, hút sách, rượu chè, kiêu căng và hợm mình. Khi cháu bắt được sợi tơ trời trong một ngày nắng gắt, màu trắng tơ trời sẽ chết lịm trong hai bàn tay của cháu. Khi cháu ngửi ra mùi hương, khói đã tan. Khi cháu nhìn thấy tự do, tự do chỉ là lá mục trôi trên ống rãnh chảy từ hầm cặn bã. Chú chúc cháu như một người có đủ ngũ quan nhưng không nhìn thấy giới hạn xung quanh mà chỉ thấy đường chân trời biền biệt, con người ấy sẽ chạy về phía chân trời rất gần nhưng vô cùng không gian xa thẳm ấy, sẽ chẳng bao giờ đến được, sẽ chẳng bao giờ với tới, sẽ chẳng bao giờ chạm tay nhưng linh hồn đã cao vút chân trời, đã ở trong lồng lộng hư vô. Chú chúc cháu, như thế, thay một lần gặp gỡ. Sương ơi, chú đã sống sót một nơi quá tàn tệ nhưng chú e rằng không qua nổi bầu trời tự do dân chủ cũng bởi vì khi ở quê hương, chú mơ đến đường chân trời nhân phẩm và đạo lý, và ác thay chú đã đụng đến chân lý cao vọi ấy. Giấc mơ của chú, của nhân loại về kỳ quan tự do dân chủ đã tắt lịm trong bầu trời giông bão của thực tế đen như tinh cầu tắt nắng. Chú đi tìm huyễn tượng mà cứ tưởng mình đi tìm chân lý. Nhưng cháu ạ, dù có đi tìm một huyễn tượng nào đi nữa cũng không có nghĩa là chú từ bỏ cả quá khứ của mình. Không bao giờ. Quá khứ của chú là gì? Là những tháng, những năm khôn lớn ở miền Bắc, ăn học ở miền Bắc, được người ta o bế ở miền Bắc. Một quá khứ rặt màu tang trắng, chết chóc, hận thù và trả giá nhưng chú đã nhận diện mình ở trong tất cả những điều ấy. Chú có một anh bạn dạy học ở đây sinh trưởng ở miền Nam, nghĩa là cái núm ruột phía bên kia. Anh bạn bảo: “Các anh ở phía bên kia, tìm tự do mà còn bám vào quá khứ thì đi làm gì?” Chú đã tâm tình nhiều lần nhưng dường như anh bạn không chịu hiểu, hoặc anh ta có hiểu nhưng nhất định không chịu tin. Trước hết, bạn chú chủ quan khi đồng hóa chú, và những người ở bên kia cùng với chế độ. Bạn chú lại đòi chú phải rửa bỏ cái quá khứ của chú cứ như là hãy lột da mình nhúng vào biển tự do cho sạch hết vị đắng mà chú đã thấm nhiễm suốt bao nhiêu năm. Anh bạn không chịu hiểu cho chú là trời ơi, một người không còn quá khứ thì còn gì là mình nữa, một người không có kỷ niệm thì còn gì là mình nữa, một người không có nguyên quán thì còn gì là mình nữa. Đó là một tất yếu lịch sử, lịch sử trong tiến trình cấu thành người.
Google images
Bạn chú có lý của bạn chú. Nhưng than ôi, cho dù quá khứ là đốm lửa cháy bỏng thịt da, cho dù quá khứ là tiếng bom gào đạn thét, cho dù quá khứ là giả trá phi nhân, cho dù quá khứ là chia cắt, là nghèo đói, chiến tranh, độc tài, lường gạt, thì những điều đau đớn ấy cũng là trú quán mà tất cả chúng ta phải nương về để sống bởi nào có được cái may mắn chọn lựa như bạn chú đâu! Chúng ta, Sương và chú, những người miền Bắc, những người đau khổ và không may, có phải đã sinh nhầm trên một mảnh đất bị ruồng rẫy? Chúng ta còn chia lìa dù đã có thể đi từ Hà Nội vào Sài Gòn trên chiếc tàu suốt chở mang bao nỗi niềm cơ cực. Có cuộc sum họp nào làm đau lòng lịch sử như thế nữa. Có giấc mơ thành hiện thực nào phũ phàng hơn thế nữa. Sự thống nhất đã làm nên kỳ quan, nhưng thế đấy, bao giờ kỳ quan mới trở thành hình tượng thể hiện được giấc mơ ngàn đời của nhân loại. Này cháu, bạn chú chưa cho chú tới gần, mà chú cũng không cho phép bạn chú bắt mình theo định hướng của bạn chú, nghĩa là bắt chú phải từ bỏ quá khứ đã nhào nặn nên con người. Chú tôn trọng quá khứ của bạn chú, chú đã mất tuổi thanh xuân và đau đớn nhìn vận nước, nhìn quá khứ trôi qua như cát ướt chảy qua kẽ tay. Có thể vì thế chăng, nên chi lửa đã nổi lên bão bùng. Có thể vì thế nên những người thuộc “phe” bạn chú đã đốt cháy, đốt thành than năm bé trai, năm bé gái, sáu đàn ông và sáu đàn bà, trong một ngày đầu xuân! Chú ngửi được bầu khí trời của sáng hôm nay mùi thịt cháy trong đống tro tàn lịch sử. Chú nghe tiếng khóc của em thơ đang bị đốm lửa đốt tiêu tan cả trái tim đỏ máu. Chú nghe tiếng gào đau đớn của những bà mẹ bị nung chín như trong chín tầng địa ngục, và tiếng la thống thiết của anh em trong ngọn lửa bốn bề sôi sùng sục đỏ không gian. Nước mắt chú rỏ xuống nền sân lạnh, và chú chỉ tiếc rằng là sẽ chẳng bao giờ nữa, sẽ chẳng bao giờ nữa, giọt nước mắt ấy sẽ được rơi cho ấm mềm lòng đất lạnh quê hương. Và như thế, chú lại chúc cháu một lần nữa, là sẽ như một người có ngũ quan bình thường ấp ủ đường chân trời vời vợi nhưng sẽ chẳng bao giờ đến được cõi miền biền biệt ấy.” Sương khóc nức nở, nước mắt nàng ướt đẫm trên ngực áo, nhòe nhoẹt trên gương mặt nhạt nhòa nắng hắt. Nàng linh cảm một điều chẳng lành. Cái điềm chẳng lành xoáy mãi trong linh hồn mẫn cảm của người con gái, nó không phải là đường chân trời biền biệt mà là một cái gì rất thực, rất lạnh, trong nàng. Hải gọi nhỏ: – Sương. Sương đã lớn, bằng đoạn dài khổ ải, và vì thế đã khổ. Thế giới của nàng không còn tối tăm một màu nữa, và vì thế nàng đã khổ. Nàng thấy những màu, những sắc, nàng đã nghe sự cô đơn giăng màu tang trắng, sự cô độc của biển cả, những đêm trăng, những ước mơ vụn vặt và tinh khiết, những đi về vội vã như tháng ngày vội qua của người đàn bà tìm con trên phố lạ, những mưa rơi thầm gõ trên mái tôn, tiếng chim hót, tàn phượng rung xanh lá dọi trên bóng mát thềm nhà. Nàng đã thấy tất cả, cả khí lạnh của cọng lưới giăng thành rào, những mảnh đất khô đổ vùi trên xác em chết trên tuyến đường đi tìm chân trời xa thẳm, tiếng kêu của bầy kên kên, tiếng khóc của cô gái bụng chửa trong ngục giam, mùi cay nghẹt của những trái lựu đạn, và thậm chí cả những gói mì từ ngục tù bên này mang về cho tù ngục bên kia. Sương khóc nghẹn ngào, những giọt nước rơi từ đời người trắc trở. Hải nói: – Mình vào thăm chú Khắc em nhé.
Google images
Hải giúp Sương khóa trái cánh cửa, cầm tay nàng dắt ra khỏi trại. Nắng đổ gắt, mùa hè biền biệt trên không. Hải vẫn còn tiền dạy học, đủ sống vài tuần trước khi kiếm được việc làm. Chàng khó nhọc dìu Sương lên xe đò, xuống hầm metro, đổi chuyến tàu điện. Một không gian bỗng trở lại trong lòng Hải. Chàng đã dìu Sương đi qua lắm nẻo đường, những nẻo đường xa lạ, mù mịt và chênh vênh cuộc hành trình. Có một lúc nào đó Hải tưởng chàng đã yêu Sương, người con gái đã nằm trọn trong hai tay chàng dưới những giọt nước mưa lách tách rỏ xuyên qua lá, dưới mái hiên nhà ai đó, trong một hoàng hôn tím rịm nhớ nhung, hay dưới ánh sáng vằng vặc của mảnh trăng treo trên khung trời của miền đất lạ. Tóc Sương ướp bụi đường, môi nàng nồng muối chát từ vùng biển này qua vùng biển khác, hoặc có thể hương môi ấy thấm đẫm từ nước mắt của nàng nữa. Chàng nghĩ là đã yêu Sương, yêu tha thiết mà đằm thắm. Chàng phải yêu người con gái cô độc trong cảnh man rợ và dịu dàng của những miền đất Trung Quốc, dưới những màu mây ngũ sắc, và trong những đìu hiu của những bàn chân lạc bước lên nhau. Định mệnh kỳ lạ thực. Định mệnh đưa chàng đến nhưng cũng đẩy chàng đi khỏi hình tượng của một người con gái, hình tượng của sự đẹp đẽ, một lúc nào mà chính chàng cũng không ý thức nổi nữa. Hải chỉ mường tượng ra rằng, từ khi xa Sương, là Sương bắt chàng nghĩ hoài về thôn xóm mà chàng đã bỏ lại đằng sau. Hình ảnh Sương tội nghiệp quá, tội như quê hương chàng, nó bắt chàng sống mãi với màu vàng ố của những mái tranh nghèo, với liếp cửa nghiêng nghiêng trong mưa chiều, thậm chí cả với hình ảnh những lữ hành run rẩy đi xiêu bạt muôn phương tìm cái sống. Hải biết toàn bộ con người chàng được nhào nặn từ từng ấy chất liệu quê hương. Hơi thở của chàng là hơi thở của những lữ khách sinh ra ở Nam Định nhưng phải dắt díu nhau lên Hải Phòng kiếm ăn độ ngày. Hơi thở của chàng có cả mùi đất xông lên trong một cơn mưa vội mùa hạ. Chàng sống trong những hình ảnh ấy, nghĩa là rất gần, thậm chí không có một khoảng cách nào giữa chàng và chúng vì chàng đã là cảnh những tình ấy, thế mà chàng vẫn bứt rứt không yên mỗi khi không gian thời gian ấy hiện về. Chàng chạy trốn quê nghèo vì quê nghèo bạc đãi chàng. Chàng chạy trốn chính mình! Hải đã thành một kẻ gần như khác biệt với con người ngày chưa vượt biển. Quả mật Kinh Kha dường như bị phơi khô sau cuộc bộ trình, sau hải trình bằng giấc mộng dài. Hải đau khổ không dám nói điều ấy cho ai khác, ngoại trừ nói với chính chàng. Có phải sự thay đổi là tất yếu, có sẵn trong mọi người? Chàng đã yêu nước, chàng tưởng chàng đã yêu Sương, và chàng xa hai hình tượng ấy. Sương là mặt kia của đất nước chàng. Nghèo đói, thô bạo, khủng bố, lường gạt là mặt này, mặt kia, ôi, vẫn ngọt ngào, ngọt ngào đến mức khiến Hải tưởng khó bứt rời xa được. Nhưng dù vậy Sương, cái mặt kia, cứ nhắc Hải hoài về cái vùng đất hai mặt hai lòng. Bàn tay Sương rịn mồ hôi khi Hải cầm tay nàng dắt xuống xe đò. Lâu lắm, lâu lắm…lâu bao nhiêu cũng không vừa, nàng mới đặt tay vào lòng bàn tay người đàn ông đã dắt nàng trôi nổi một khúc dài lưu lạc. Toàn thân nàng run lên, vừa sung sường vừa đau đớn, khi Hải vừa đi vừa nói, vừa tả cảnh. Bao lâu, bao lâu rồi. Tiếng rơi của giọt nước lên vai Hải những lần mưa nào đó. Tiếng sóng biển, tiếng quạ kêu, tiếng thì thầm. Kỷ niệm nàng đầy ắp âm thanh. Những lóng xương còm cõi của Hải khi nàng ép thân thể lên người chàng, khi nàng muốn truyền sức sống nung nấu trong những cơ bắp chưa kiệt vào lớp da quăn quắt héo khô. Định mệnh kỳ lạ thật, định mệnh đẩy nàng đi trước, một giây khắc huyền thoại nhưng đã trở thành miên viễn. Cách xa. Nàng đang đi bên cạnh người đàn ông đã hơn lần sống chết, sống trong tình yêu, chết trong cuộc đời, sống trong đợi chờ, chết trong mơ ước, sống trong hy vọng, chết dưới thời gian, sống trong nỗi nhớ, sống trong một lần trao gửi, sống trong nỗi rung động, và chết, chết hắt hiu bởi trái đất không bao giờ quay ngược vòng để khởi lại chu kỳ. Bên tai nàng vẫn là tiếng động, tiếng xe, tiếng người, tiếng bước chân chàng, tiếng bước chân nàng, những bước chân tan ra hai ngả đường. Bàn tay chàng vẫn ấm, vẫn đầm đập nhịp mạch, bàn tay nàng vẫn ướt, vẫn mồ hôi ướt sũng, nhưng hơi ấm không làm khô băng giá, nhưng tim mạch không làm hồi sinh những tiếng động đã viết thành dĩ vãng
Google images
Chàng vẫn đi, đang đi bên cạnh nàng đấy. Tiếng nói chàng vẫn đều đều bên tai nhưng chỉ cắt sâu vào nỗi đau hun hút nhức đau. Chàng đã đi quá xa rồi, Sương biết thế. Sương chỉ đuổi bắt một ảo ảnh kết bằng muôn trùng âm thanh, vô vàn tiếng động. Nàng không còn lại một điều gì để giữ trong lòng bàn tay. Nhưng Sương vẫn sống được, sống được vì nàng đang có một con người đau khổ hơn hướng về nàng nương tựa. Đó là người đàn bà đồng ruộng phải xức dầu thơm, người đàn bà đi tìm con trong trại giam, người đàn bà lang thang trên hè phố đông đúc cô đơn. Nàng nghe được tất cả những điều đó dù nàng đã bị cướp mất đời sống của một con người bình thường. Nàng không cần thấy gì hết, bởi nàng có cần nhìn thấy quê hương đau đớn của mình đâu mà vẫn phải chịu chung triệu nhục nhằn, nàng cũng nào cần nhìn thấy xứ sở tự do đâu mà vẫn phải nhận nghìn lời xua đuổi. Và như thế thì có khác gì nhau đâu giữa triệu nhục nhằn và nghìn lời xua tan tác. Năm tháng dài đã đi qua đời Hải và Sương khi họ đi đến con đường nhỏ dẫn vào trại Đầu Bạc. Chàng đã mua một ký lạp xưởng trên đường đi cho Hà, một gói thuốc cho Lê Khắc, một bó hương cho thân nhân người thanh niên chết hôm được Cục Di Dân công nhận tư cách tỵ nạn chính trị của anh ta. Hôm được giấy ra tự do, anh ta nhờ người mua rượu nhậu với bạn bè lần chót. Say quá, anh ngã từ giường ba xuống đất vỡ đầu chết. Có lẽ ở bên kia thế giới người thanh niên xấu số không cần thanh lọc cũng vào tới cửa tử. Chàng sung sướng nghĩ chút nữa sẽ gặp lại Hà trong nửa giờ ngắn ngủi, chán nản nhìn chiếc xe chở nhân viên Cục Cải Huấn đang ngược chiều, những khuôn mặt lạnh lùng mệt mỏi. Chàng thấy mệt nhọc như một người chạy đua sau khi đã đến đích muộn màng. Trong lòng chàng chỉ còn đốm lửa nuôi tinh thần sống sót là tình yêu của Hà. Có lẽ Lê Khắc đúng, chàng đã với tới chân trời nên cõi lòng nguội lạnh khát khao. Chàng sợ hãi nhìn lại những đêm tham gia đấu tranh chống cưỡng bức hồi hương, những cuộc đấu tranh mới đầu là tự nguyện nhưng về sau đã mất dần tính chất ấy, những đứa học trò của chàng mệt nhọc khi bị hối thúc ra ngồi giữa sân trong đêm lạnh. Cuộc chiến chưa tàn nhưng lòng người đã ly tán, đã tuyệt vọng, đã ngồi chờ định mệnh. Chuyện tỵ nạn! Hải thở dài không thấy lối thoát. Đồng bào của chàng, hỡi ôi, ra đi rồi trở về mang theo vài chục đô la Mỹ, để rồi lại ra đi, những con người chân đất khát khao sống. Người gác cổng chỉ Hải đường đến phòng đợi thăm nuôi. Chàng vừa đi vừa tả cho Sương nghe quang cảnh xung quanh, những tấm sắt nóng che kín khuôn viên trại. Những trạm canh dọc đường. Tiếng trẻ nô đùa vọng từ bên trong. Không một tàn cây che nắng, không một bóng râm còn giữ lại trên mảnh đất bàng hoàng những dãy nhà dài nối tiếp nhau, những hàng rào chất chồng nhau, cả bầu trời cũng bị cắt xén ra làm nhiều mảnh. Thời gian chết sững. Hải viết số thẻ của Lê Khắc và Hà, trình cho nhân viên phụ trách phòng thăm nuôi, ngồi chờ. Cái băng ghế dài chật ních những người từ trại mở hoặc từ nước ngoài vào thăm thân nhân. Chàng nóng ruột nhìn ra cửa, nhìn con đường dốc xuống uốn ngoằn dẫn vào trại. Đôi mắt mở to của Hà, tháng ngày ùn lại, những ngón tay đan kín tâm tư. Hải châm thuốc, rối rít đầu lửa đỏ. Điện thoại reo trong gian phòng nhỏ của nhân viên trực phòng đợi. Gã nhấc máy, nhíu mày, ghi lời đối thoại. Gã buông điện thoại, chồm người qua cái quầy thấp. Hải giật bắn người khi gã trọ trẹ đọc tên Sương bằng tiếng Việt. Hải dìu Sương đứng dậy, lúng túng trước những cặp mắt đổ dồn. – Thưa ông, chính là cô này.
Google images
Gã nhân viên Cục Cải Huấn nhíu mày ngắm Sương. Gã hỏi: – Cô là gì của Lê Khắc Sương run giọng: – Thưa, tôi là thân nhân của chú ấy. Gã thở phào, buông giọng: – Ông ấy chết hôm qua, tự tử. Khuôn mặt Sương tái đi, nàng khụy xuống. Hải hỏi dồn: – Thưa ông, ông ấy tên Lê Khắc, số thẻ VRD… lầm chăng? Chúng tôi vừa tiếp thư ông ấy. – Không lầm. Ông ấy thắt cổ trong buồng tắm, hồi đêm. Hải vẫn lặp lại câu hỏi cho đến khi gã đàn ông gắt. Chàng vẫn cho có một sự lầm lẫn chăng, nhưng Sương thì biết chắc nàng không lầm. Chú ấy chả bảo lời chúc thay một lần gặp gỡ là gì. Trời ơi, chú, chú Khắc. Cặp mắt kiếng gãy gọng của chú. Đôi mắt buồn thăm thẳm của chú. Mùa xuân mà chú mang lại, màu sắc mà chú mang về. Sương khóc rưng rức, những dòng nước ướt đẫm trên nền nhà cứng lạnh. Chú còn có Sương để nương tựa, như người đàn bà tội nghiệp đi tìm con vẫn về nương tựa cháu. Cháu đâu thể chết được khi sự sống của mình là nỗi tựa vô bờ của người mẹ đau khổ kia. Chú đã mang về cuộc đời cho cháu, đã chỉ cho cháu thấy đường chân trời mênh mông bát ngát. Ôi đường chân trời tím rịm tử sinh. Tiếng ồn ngoài con đường vắng. Ánh sáng trong phòng đợi dường như bị vật gì che khuất lại. Hải ngửng lên, hai bàn tay chàng ướt đẫm nước mắt Sương. Chàng thấy Hà đứng trơ ngay khung cửa. Không gian sau lưng Hà tưng bừng nắng chói. Ngoài xa, tiếng loa sắt đọc số thuyền rền trong trưa nắng:
– VRD220…VRD 769 …VRD 248…VRD 101…VRD 257…VRD 1433…VRD 266…VRD 177…VRD 174… Lê Đại Lãng
Phần 18 Ngay hôm Hải được công nhận tư cách tỵ nạn thì Hà ăn cánh gà đợt một. Trước mắt Hà chỉ còn con đường trở về mà thôi. Nàng bám tay vào hàng rào nhìn ra biển, thản nhiên bảo Hải: -Coi như là kỷ niệm, anh nhỉ! Hải nắm tay Hà, trong lòng chợt nghĩ đến ông thầy tướng nào đó đoán số Hải trắc trở đường tình. Có thể lắm. Dưới mắt Hải có một nốt ruồi, tướng “thương thê trích lệ” như nhiều người thường nói. Chàng đã mất vợ, mất con, và sắp sửa mất thêm một cuộc tình muộn nữa. Nay mai chàng sẽ ra đi tự do, còn Hà? Chàng yêu Hà tha thiết, chàng yêu Hà như yêu tuổi trẻ đang vùn vụt trôi qua của chàng. Đôi mắt trong sáng của Hà bắt chàng phải quay về với thế giới tuổi thơ, tuổi thơ của bé Ngọc, thằng Quỳnh…những tuổi thơ hồn nhiên chắt chiu trong một thời nào đó. Hải không thấy tuổi thơ ở những tuổi thơ thật sự trong trại. Chàng đã dắt dìu cậu bé Thơ từ trại Argyle qua tới đây nhưng dường như nó đang vuột khỏi tay chàng. Nó trổ mã trước tuổi, mắt đã chứng kiến cảnh chung chạ của người lớn, tai đã nghe tiếng rên rỉ…Đôi mắt nó là đôi mắt của con thú đục ngầu những kích thích tưởng tượng trước một trò chơi quá lớn. Một con thú cuồng loạn bị chết trong cũi sắt, không giao tiếp với sự sống mà vẫn phải chứng kiến cuộc đời. Thơ đã là cậu bé mang ước mơ của người lớn, quắt queo thân xác và tâm hồn tan hoang dưới nhiệt độ tàn phá của hoạn quan. Sự tàn phá! Những đôi mắt còn xanh, những đôi môi ươm đỏ nói cười bằng ngôn ngữ của người lớn. Hải nhận ra trong ngôn ngữ của tuổi thơ trong trại của những đứa lên ba mắt đỏ dính ghèn, của những đứa lên tư da đỏ vết đậu mùa chưa khô, của những đứa lên năm nước mũi chảy vào mồm, những đứa lên sáu ủ rũ dưới hiên – không có tiếng “không”. Chúng thay bằng tiếng khác: – Tao đéo thèm chơi với mày nữa – Tao đéo vào – Mầy có cái đó không? – Đéo có. Đó là những tiếng hoàn toàn trong sáng trên đôi môi thơ. Hải chỉ e là đến một lúc nào đó, khi có người tra tự điển tìm chữ “không” thì đọc thấy: đó là tiếng cổ có nghĩa phủ định, như ta nói đéo ngày nay vậy, thí dụ… Hải hình dung chàng có một đứa con sinh trong trại, lớn lên! Chàng nói: – Anh muốn làm đám cưới. Hà lặng thinh. Người lính canh đang đốt thuốc đi ngoài hành lang. Hà nói: – Anh ra tự do cưới em làm gì? Hải biết điều đó. Chàng hy vọng mong manh là Hà có thể thắng kháng cáo. Chính quyền chưa có chế độ một cặp vợ chồng chỉ cần một người ra tự do là người kia đi theo. Hải đánh liều cuộc đời với tình yêu. Chàng sẽ không để vuột một lần nào nữa, một lần nào nữa. Tự do là cái quái gì! Những người đi với chàng tới đây đã trở về, những người đã nhổ vào mặt tượng thần tự do, thế đấy. Người bạn Dũng trốn cuộc sống từ ngày đặt chân đến Hồng Kông, cạo đầu làm một tu sĩ không chùa miếu, giữ trong lòng một điều gì bí mật riêng anh. Nhưng Hải biết điều bí mật ấy. Sau khi biết tin Mân trở về, Dũng làm đơn xin hồi hương, từ chối không để ai thanh lọc mình. Cái im lặng dễ sợ của Dũng vượt lên mọi sự im lặng. Anh đã về, có lẽ anh đang tìm cách xuống Thanh Hóa. Hải thấy mình cũng phải sống như thế, cho đáng mặt bạn bè. Chàng sẽ ra tự do, nhưng chàng sẽ, chàng sẽ…
Google images
Hải đăng ký kết hôn ở văn phòng Phúc Lợi, chờ ngày ra Hồng Kông làm thủ tục. Chàng tin là chàng luôn luôn đúng trong những quyết định làm xoay cả cuộc đời. Chàng sẽ ở ngoài Kai Tak, chờ cho đến khi nào Hà thắng kháng cáo. Nếu nàng thua, chàng sẽ không đi đâu cả. Tự do đã không cần thiết nữa. Chỉ có tình yêu là đáng kể, chỉ có tình yêu là đáng giữ, ngoại giả là bèo bọt phù phiếm. Giữa lúc Hải sắp ra tự do thì toàn trại rúng động trước tin 48 thuyền nhân ở Chi Ma Wuan Thượng bị cảnh sát dã chiến bắt cóc. Buổi sáng sớm, bầu trời còn lấp lánh ánh sao đêm thì Phú kèn chợt nghe tiếng mở cổng. Gã tự nhủ: “Quái, chúng nó phát cơm sớm vậy cà”. Phú kèn đã ăn cánh gà và vừa được chuyển từ Chi Ma Wuan Hạ lên Chi Ma Wuan Thượng một tuần. Hai trại, cái trên cái dưới có thể trông rõ nhau nhưng trại trên chỉ nhốt thuyền nhân đã nhận đủ cánh gà. Phú kèn vén màn cửa, nhìn qua ô cửa lưới. Gã không tin ở mắt mình nữa khi cánh cổng sắt to lớn vừa mở ra thì ùn ùn cảnh sát dã chiến đầu mang mặt nạ, tay cầm dùi cui, tay cầm lá chắn, đeo thắt lưng da lủng lẳng lựu đạn xông thẳng vào trại. Vợ con gã đang ngủ, cái Ly nằm dang cẳng thở vi vu ngon giấc. Cả buồng gã ở ai cũng ngủ, dường như cả trại chưa ai thức vào giờ nầy. Phú kèn ú ớ muốn kêu lên mà như bị vướng gì vào cổ họng, gã ớ ớ tịnh khẩu, người cứng ngắt vì sợ hãi. Đột nhiên có tiếng la kinh khủng của một người đàn bà, tiếng la của người thấy ngày tận thế: – Dậy đi, dậy đi, tất cả mọi người dậy đi! Điện trong buồng chợt tắt phụt, bên ngoài trời vẫn tối. Những đôi giày nện rầm rậm trên sân. Tiếng người đàn bà rú lanh lảnh: – Cảnh saáátt!! Cả trại nhảy dựng lên, có người mới mở choàng mắt thì cảnh sát đã tràn vào chật buồng. Phú kèn ôm cứng vợ và cái Ly, gã run cầm cập. Một gã đàn ông vận quần bò mặc áo đỏ trong đám cảnh sát dõng dạc át tiếng hỗn loạn: – Yêu cầu ai ở giường nấy không được động đậy hay đứng lên… Từ các buồng bên: – Ối giời ơơii! Hục…hục…hục… – Huu…uu…u..u…! – Cứu tôi với! Gã áo đỏ đọc số thẻ, hét: – Những người có tên vừa rồi phải chuyển trại ngay bây giờ. Cho đúng một phút thu xếp đồ đạc… – Ôi giời ơi… – Chúng tôi không đi đâu cả… – Hu…u..u…! – Nhất định không đi đâu cả. – Giời ơ..i.. Hàng triệu thứ tiếng kêu kinh khủng cột vào nhau, tiếng rên khóc, tiếng hò hét chống cự xé toang im lặng, im lặng chết, im lặng thấy tử thần bên ngoài cửa lưới: – Bịch…bịch…bịch Cái dùi cui phạt xuống, đôi giầy trận móc lên: – Bịch…bịch…bịch… Dùi cui vung lên hiểm độc. Gã áo đỏ chỉ tay lên giường số 1. Sáu cảnh sát chơi trò bắt người đồng loạt đếm: “Dzách…dzì…xám…”.
Google images
Chúng nhào tới. Dùi cui đưa lên hạ xuống. Đứa bé ba tuổi ở giường số 1 ré lên thảm thiết. Người cha liều chết đè lên con. – Bốp…chảng… Hai tay đứa bé bị bẻ ra sau, một gã bóp mồm đứa bé. Ngất! người mẹ gầm thét giãy giụa, một chân người mẹ bị một cảnh sát túm chặt, hai tay hai đứa khác giữ, bẻ quặp ra sau. La hả! Bịt mồm, kéo sệt xuống đất, khiêng ra xe… – Hu..hu..hu…! – Ối…ô..ô.ô…! – Dzách…dzì…xám… Chụp tóc cô gái mười bốn tuổi. Bẻ tay, giữ chân, bóp chặt mồm nó. Lôi ra xe. – Dzách…dzì…xám… Người cha bị bấm huyệt sau ót, đá văng từ giường hai xuống nền xi măng, bẻ quặp tay, kéo xềnh xệch ra xe. – Dzách…dzì…xám… Phú kèn ôm chặt vợ con khi tay gã áo đỏ chỉ về giường gã. Tròng mắt gã lòi ra kinh khủng. – Dzách…dzì…xám… Sáu gã nhào lên. Cái Ly rú lên: – Mẹ…ơơi…! Nó ngất. Trong giây phút thập tử nhất sanh ấy, Phú kèn quên cả sợ, gã đấm mạnh vào mặt gã cảnh sát. Bàn tay chưa chạm mặt đối phương thì Phú kèn đã bị túm chặt, gã đạp, gào, đấm, đôi mắt sắp rớt ra ngoài khi vợ gã bị lôi xuống trước. Đôi giầy bị đá và ba sườn Phú kèn, một gã “vô tình” giẫm lên ngực gã, gã kia bóp mồm Phú kèn. Cái mồm thổi saxophone của gã bị hàn chặt, cửa ngõ giao dịch với cuộc đời bị bịt kín, vậy mà dường như trong cái mồm của con người nghệ sỹ ấy vẫn thoát ra một điệu kèn đồng, điệu kèn nức nức, tiếng kèn sùng sục giãy giụa, tiếng kèn hục hục như tiếng chó kêu lúc bị nhốt ngoài đêm lạnh. Gã nghe khán giả hò reo nức nở, khán giả đang cổ vũ lẫy lừng khủng khiếp. Rồi gã chỉ nghe tiếng cổ vũ của một người đàn bà mà thôi. Người đàn bà rú lên như thú hoang mang bị bầy thợ săn đuổi cùng đường. Người đàn bà rú, như tiếng mẹ gã. Ừ, mẹ gã đang vỗ tay reo hò điệu kèn của gã đấy. Mà mẹ gã chết lâu rồi. Gã cứ thổi, tiếng kèn hục hục, điệu kèn đưa đám, điệu kèn đưa đám ma nhân loại, điệu kèn ca ngợi tự do, ca hát tình người, một tiếng vui, một điệu buồn, gã cứ thổi, hục hục, hục hục…Cả nhân loại đang reo hò tở mở, tiếng chày vồ bắt nhịp, tiếng dùi cui, một giọng đồng, một cuồng điệu, một tấu khúc lạc loài…Gã thổi, gã thổi nghèn nghẹn nhưng dứt khoát không chịu ngưng. Cả cộng đồng đang đồng ca theo tiếng kèn của gã. Nghe không! ồ, trẻ thơ rú lên sung sướng, đàn bà reo lên hồ hởi, thế, gã thổi hục hục điên dại, gã thổi hục hục bài ca ngợi dân chủ, nhân quyền, tự do, nhân phẩm, tình người. Tiếng kèn hục hục của dân tộc gã, một trăm năm, một nghìn năm, dân tộc gã vùng lên, ngã xuống, cúi mặt tủi nhục, đau đớn. Một nghìn năm, một trăm năm dân tộc…dồn lại, ép lại, về đây với tiếng kèn uất nghẹn, nhục nhằn, đày đọa. Gã cứ thổi, gã sẽ thổi trên sân khấu đời, trên sông, dưới nước, trên non cao, trong hồn thiêng đất nước. Tổ tiên gã reo hò tở mở. Tổ tiên chau mày nức nở. Một nghìn năm, một trăm năm, năm mươi năm…ép về trái tim phồng của gã, hai lá phổi nghẹn ngào nghẹt thở. Gã cứ hục hục muôn triệu nhục nhằn đang dồn vào cuống họng. Bầu trời trong mắt gã mờ đi, tối đặc. Không phải đâu. Bầu trời đang bình minh đấy. Chỉ trong mắt gã thôi. Gã hục hục, hục hục, thế giới đã tắt lửa, những trái tim không còn đập trong lồng ngực còn sống. Gã nghẹn đi. Bầu trời đen đặc. Trời cao đen đặc, đen đặc, đen đặc…Người đàn bà rú như chó sói kêu trăng…đen đặc…tối! gã đã trở về với đất nước giống nòi gã, gã ở trong vũng lầy tổ tiên gã để lại, nhân loại chê gã, gã đi sau lãnh trọn. Bầu trời tối, tối sầm, tối đặc, tối tàn khốc tàn bạo cuộc đời. Tiếng chó sói rú vọng đêm trăng. Cô độc giọng thanh, cô đơn tiếng đục, hục hục, hục hục…
Google images
Tiếng kèn của Phú kèn gửi về Hải từ nhà tù Phượng Hoàng: “Bạn thân mến! Vĩnh biệt, vĩnh biệt bạn, vĩnh biệt tất cả. Vĩnh biệt tương lai, vĩnh biệt thần tự do dân tộc. Tôi đang mê trong ám ảnh đất nước bùn lầy. Ngày địa ngục hôm nay Ngày địa ngục hôm qua Ngay vào giây phút bị bắt đi tôi vẫn thoi thóp hy vọng là tự do sẽ hoàn sinh trên cái mồm bị bóp chặt. Tôi ngạt thở, tôi thèm một cốc khí trời từ đâu đó, tôi thèm môi đàn bà, tôi thèm, tôi thèm… Cảnh sát xích ba bốn người vào nhau, tay khóa trái sau lưng. Chúng tôi bị đẩy xuống ba chiếc tàu cảnh sát. Tôi ngất trọn vẹn cả cuộc hành trình. Ôi, từ bến tàu Chi Ma Wuan đến bến tàu Hồng Kông, nước biển không nhiều bằng nước mắt trẻ thơ rơi. Trời còn sáng, sương mù ảo ảo núi xa. Họ đưa chúng tôi đến trại tù có tên là Phượng Hoàng. Bạn chưa bao giờ thấy chim phượng hoàng nhỉ? (Bạn đừng tưởng tượng chim Hồng chim Lạc của ta đấy nhé) Có thật đấy! Cánh to, thân nhỏ, lông xù xì và trong lòng nó những xấu xa dơ bẩn. Đấy, chúng tôi đang ở trong lòng phượng hoàng, da thịt rời từng mảnh đau đớn khôn cùng, bạn ạ. Vĩnh biệt tự do! Bác sĩ đến khám, đàn ông bị đánh dữ nhất, có người trẹo cổ, bụng tức, như tôi bị giẫm lên ngực, hộc ra máu. Gã bác sĩ mặc áo blu trắng, nhưng bên trong là đồ cảnh sát dã chiến bạn ạ. Đấy! con người vẫn thích che đậy như thế, tiếc là màu trắng blu của gã che không nổi bộ đồ tác chiến dầy hung độc. Gã chích chúng tôi ban ngày, tối, muỗi chích cay độc. Hãy bám lấy tự do bạn nhé! Thế hệ chúng ta quằn quại, nhọc nhằn. Hãy sống giùm tôi ngoài cửa trại, sống giùm con tôi, sống giùm vợ tôi. Tôi phó thác cuộc chiến này cho bạn, tôi giao vợ con tôi cho bạn, tôi chỉ là con tằm yếu ớt, xéo thì oằn, giẫm thì nát, tôi muốn nhả tơ đời cho cạn. Mà hồn tôi đã cạn kiệt tơ tằm. Bạn ơi, tôi trở về với năm nghìn năm lịch sử. Tôi chạy trốn định mệnh. Không ai thoát khỏi định mệnh. Tôi yếu quá. Tôi khóc đây. Tôi yếu hơn cả đứa con bốn tuổi của tôi. Nó thấy tôi khóc, nó bảo: “Bố khóc gì thế! Con không khóc đâu”. Nó ôm tôi, người nó mỏng như tàu lá chuối, ấy vậy mà nó ôm tôi, vuốt ve thằng bố hèn yếu của nó. Cổ tay nó có vết bầm nhưng nó không cần biết. Bạn nghĩ coi, cái thằng Phú kèn chỉ giỏi làm vui thiên hạ, chọc cười bá tánh nhưng không thổi nổi điệu kèn ru con. Được con ôm, tôi tủi thân thương vợ xót con, càng khóc mùi mẫn. Nó thấy thế lại bảo: “Nín đi bố, nín đi bố”. Giời ơi! Đứa cha bất lực là tôi. Người chồng vô dụng là tôi. Kẻ đáng lẽ cầm giáo đi trước nay đã lùi sau mặt trận. Thê nhi xông trước ra cả rồi. Chúng tôi thòng biểu ngữ chống cưỡng bức hồi hương ra ngoài cửa. Chị Lê khóc vùi, nước mắt chị ấy chắc ướt ống kính của mấy ông nhà báo thập thò ngoài kia. Tôi không biết có ai thấy khuôn mặt thấm đẫm nỗi hờn căm và tuyệt vọng của chị. Có ai xúc động trước dòng lệ chứa chan nghẹn ngào của chị. Chị đã lặng lẽ ra đi, đã nằm chùm hum trên giường khi cảnh sát tấn công trại, chị lên thanh lọc, bảo Cục Di Dân là không ra đi vì lý do chính trị hay kinh tế gì hết, chị không biết những từ đao to búa lớn ấy. Chị ra đi vì chồng chị đánh chị mỗi ngày hai lần, ra phường thưa không ai xử, chị uất ức, thế là đi. Không vì chính trị không vì kinh tế, ngoài hai cái đó ra không có lý do bị chà đạp nhân phẩm. Mà nhân phẩm là cái quái gì! Bạn, tôi nhớ tiếng đàn tuyệt vời của bạn khi tiếng khóc của chị Lê vẫn vô cùng bên tai. Lịch sử sẽ không ghi những giọt nước mắt, lịch sử chỉ ghi những biến cố trọng đại. Xung quanh tôi tường dầy buốt lạnh, ở bên ngoài bạn có nghe lớp da trần run rẩy của tôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.