Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 11 May 20214

Phần 2

Tôi thấm mệt, mọi người chắc cũng vậy, nên bước chân người nào cũng lảo đảo. Từ cổng đi vào nơi ở mới cũng khá xa. Chỗ tối, chỗ sáng, đôi khi phải nhảy qua những rảnh nước, nên càng mất sức.

Chiêc cổng thứ ba còn đóng. Nơi đây, không có người gác. Tên áp tải tiến lên ẩy mạnh.

– Đi vào! – Tiếng ra lệnh khô khan.

Lần lượt, mọi người qua cổng, rồi men theo con đường nhỏ, dọc bên hông dẫy nhà sâu hun hút. Trong những căn đầu, đã có người ở. Tôi liếc nhìn, dưới làn ánh sáng đục ngầu, những thân người cởi trần, mặc quần xà-lỏn, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang trên nền đất. Một vài chiếc đầu bù xù ngó ra vì tò mò.

– Nhanh “nên”!

Tên áp tải giục. Chúng tôi rảo bước. Bỗng có vật gì gieo mạnh phía sau. Tôi quay lại: Huy hụt cẳng, té xuống đường mương. Tôi cúi xuống kéo Huy. Hai ống quần Huy lấm be bét toàn bùn!

Chúng tôi đi qua chừng mười mấy căn nhà đầy người. Căn nào, có người mới đến còn lộn xộn, đồ đạc để ngổn ngang. Tiếng nói chuyện ồn ào như vỡ chợ.

Tên bộ đội cho lệnh dừng lại nơi căn nhà trống. Chúng tôi bước vô. Nó nhíu mày nhìn chúng tôi quăng vật dụng lung tung xuống nền đất.

– Ê, kể từ giờ phút này, các anh ‘nà” tù! Các anh phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của chúng tôi, nếu không sẽ bắn bỏ!

Ngón tay nó để vào cò súng, như có ý bắn thật, nếu có ai phản đối câu nói đó.

Chúng tôi, ai nấy sững người, khi nghe tiếng “tù”!

Đây, lần thứ nhất, người đại diện cho Cách Mạng gọi chúng tôi băng danh từ “tù”. Tên Đại Tá Bình, khi thuyết giảng đã khẳng định: các anh, những cải tạo viên, chứ không phải tù. Nếu là tù, các anh phải được đưa ra Tòa Án xét xử! Đảng và nhà nước khoan hồng, muốn cải tạo các anh từ xấu trở nên tốt, để mai sau thành những người “lương thiện”, có ích cho gia đình, xã hội!

Chúng tôi ngó nhau với ánh măt buồn rầu ! Từ một góc nhà, tiếng Mậu rên khe khẽ: chán ghê, chán ghê! Tên bộ đội đi đi, lại lại giữa căn nhà, liếc nhìn sang hai bên soi mói. Đôi mắt hắn, toát ra thù hận. Có lẽ gia đình hoặc bà con nó đã bị chết về B.52 hay các loại phi cơ “cánh cụp, cánh xòe” những năm trước !

– Mấy anh nằm xích lại, còn để chỗ cho toán khác. Căn nhà này không phải dành riêng cho các anh !

Chúng tôi vội vã thu dọn, gom vào một góc. Căn nhà khá rộng, nó thuộc loại nhà gỗ, vách và mái lợp tôn. Dưới cái nóng buổi trưa miền Nam, phải sống trong kích thước này, làm sao chịu nổi?

Một toán khác bước vô. Cửa hẹp, người nào cũng muốn vô trước để chọn chỗ tốt, nên dòng người ứ đọng. Họ đang tranh nhau vô tù mà không biết.

– Ê, các anh kia, “nàm” gì, xô nhau như đi ăn cướp vậy? Từng người một, đi vào!

Tên bộ đội, hai tay nắm chặt khẩu A.K., chiếc lưỡi lê sáng chói, chĩa thẳng ra phía cửa. Lạ thay, dòng người đang chen lấn như vậy, vì câu nói đó bỗng ngưng hẳn. Từng người lần lượt đi vô dưới cái nhìn khinh mạn của tên bộ đội. Tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn! Những người mới đến cùng cấp bậc với chúng tôi. Anh em nào quen biết từ trước, khe khẽ chào hỏi, sắp xếp chỗ ngủ gần nhau. Dưới làn ánh sáng quá yếu, tôi không nhận diện rõ ai với ai. Vài người thấy tôi, đưa tay chào, tôi đáp lại nhưng không nhớ tên.

Độ nửa tiếng đồng hồ sau, căn nhà đã chật cứng người. Những tấm nylon đủ màu, đủ kích thước trải kín khuôn đất. Trên 100 con người chen chúc trong một chu vi đáng lẽ chỉ chứa được chừng 80 người là tối đa. Đã trên 2 giờ sáng, chỗ ngủ vẫn chưa thu xếp xong. Có tiếng cãi cọ về chỗ rộng, hẹp. Mệt quá, tôi gieo người xuống tâm nylon cũ, do một người bạn cho, trước khi rời Long Giao.

Hơi đất mát lạnh làm tôi thấy dễ chịu. Chắc mọi người đều nghĩ đã gần sáng nên chẳng ai buông mùng. Vài người dễ ngủ đã thở đều, có cả tiếng ngáy. Tôi cũng nhắm mắt, nhưng không tài nào ngủ được. Đàn muỗi bay vo ve bên tai như sáo thổi. Tôi quạt luôn tay bằng tấm bià. Mậu và Phát không còn nằm kế bên, vì chỗ tôi nằm sát cửa ra vào để thoáng hơi. Người nằm cạnh tôi là Liêm, (Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Trực Thăng), cùng B nhưng khác Tổ. Liêm hãy còn trẻ đã mang cấp Trung Tá, vì nhu cầu quân sự. Quân chủng Không Quân, mỗi ngày mỗi bành trưóng, lớn mạnh theo đòi hỏi chiến trường. Trong thời gian chinh chiến, đã bao lần tôi dõi mắt lên vòm trời, nhìn những cánh chim thép bay lưọn chập chùng giữa không gian bát ngát. Nhờ có Không Quân, các chiến sĩ Bộ Binh yên lòng chiến đấu. Đã nhiều lần, những cánh chim thép đã cứu nguy trên chiến trường, đổi bại thành thắng. Các chiến sĩ phi công đều trẻ. Họ sống phóng túng, vì mỗi chuyến bay, mỗi chuyến có ước hẹn với Tử thần! Một viên đạn phòng không, một trái hoả tiễn SA7, hay một bất ngờ nào đó, có thể biến thành chuyến bay vĩnh biệt! Trong đầu tôi, hình ảnh chiếc L119, bốc cháy giữa lưng chừng trời, trưa ngày 30-4-75, chợt sống động. Chiếc máy bay như ngọn đuốc khổng lồ, cháy rừng rực trên cao, từ miệt Phú Lâm lao thẳng về hướng Sàigòn, hạ dần cao độ nghiêng cánh chúi mũi xuống, xuống mãi!… Một tiếng nổ chát chúa vọng đến tai tôi. Thế là hết! Chiếc phi cơ và phi hành đoàn đã tan vào tro bụi!… Nó như điềm báo trước của một thảm họa vô cùng to lớn. Xế trưa ngày 30-4, bộ binh Việt Cộng đã tràn ngập Sàigòn. Các đơn vị Quân Lực Cộng Hòa, có nhiệm vụ bảo vệ Thủ Đô hoàn toàn tan rã. Các chiến sĩ Dù đã cởi bỏ những bộ đồ hoa oai hùng để trở thành người dân bình thường, đi chân đất. Súng ống, quần áo trận, bốt-đờ-sô vứt từng đống trên các ngả đường. Những sợi dây chiến thắng được lũ trẻ con buộc ngang bụng giả làm dây lưng. Những chiếc xanh-tuya-rông, quăng bừa bãi còn ghim đầy lựu đạn tấn công. Những tên Cộng Sản nằm vùng thứ thiệt cũng như giả, tay mang brassard đỏ, cây súng M16, ngồi trên xe jeep có cắm cờ Giải Phóng đi tuần hành trên các ngã phố. Mặt mũi đứa nào cũng vênh váo, đáng ghét ! Những tràng đạn liên thanh được bắn lên trời như để chào mừng chiến thắng. Đoàn T54 chạy ầm ầm giữa đường phố Sàigòn. Vài chiếc xe đạp buộc lủng lẳng bên pháo tháp. Mấy tên Việt Cộng giơ cao khẩu A.K. reo hò điên loạn.

Tất cả, sao đêm nay bỗng sống lại trong tôi, giữa lúc Liêm đã ngủ vùi, tấm mền che kín anh, như chiếc poncho bọc thấy chiến sĩ! Tên bộ đội đã rời căn nhà từ lâu. Nhưng bên ngoài, các tên khác vẫn qua lại rầm rập. Bước chân người đi không ngớt cho tới gần sáng mới êm. Tôi thiếp đi một lúc, khi tỉnh giác, trời hãy còn mờ mờ.

Tôi rít một hơi thuốc, nhưng không dám kéo mạnh sợ tiếng động làm phiền giấc ngủ của anh em. Tuy vậy, khói thuốc ngấm, làm choáng váng. Cố giữ cơn say trong tư thế ngồi, tôi cảm thấy ngây ngất hơn.

Trời sáng dần. Xung quanh vắng lặng. Tôi nhẹ nhàng đứng lên, ra ngoài, không một bóng người. Trước mắt tôi từng từng, lớp lớp kẽm gai. Lớp cao, lớp thấp, những vòng concertina nối nhau thành một vòng xoắn bất tận. Tôi nhìn qua từng lớp kẽm gai, từng dẫy nhà lợp tôn đứng ngang dọc. Vài bóng người qua lại, trông lạc loài buồn bã! Một hồi kẻng vang lên dồn dập. Sau tiếng kẻng, tôi nghe phía trong nhà, đã có tiếng rít thuốc lào cùng tiếng ho sặc sụa. Tôi quay vô. Liêm còn ngủ, cũng như nhiều anh em khác. Những khuôn măt mệt mỏi, bơ phờ, ngáp thật dài vì giấc ngủ chưa đẫy. Tôi cố tìm trên những nét mặt hiện diện sự tinh anh khi trước, nhưng không thấy. Không hiểu sao, mới có vài tháng chịu đựng chưa mấy gian khổ, trước sự đối xử chưa có gì quá đáng của Việt Cộng, sao tinh thần anh em đã quá sa sút? Những chiếc Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng, sao bạc được trao tặng trong thời chiến, đâu phải những miếng vải màu vô giá trị? Đã đành, tổ chức Quân Đội Cộng Hoà có nhiều sơ hở do cảm tình chi phối, nên vấn đề trao tặng loại huy chương cao quý đó, có bị lợi dụng để tranh thăng cấp hàng năm, nhưng không phải tất cả. Có nhiều chiến sĩ rất can đảm, anh dũng, xứng đáng được trao tặng những chiếc huy chương cao qúy đó. Vậy tại sao buổi sáng nay, tôi không nhìn thấy một nét kiêu hùng nào trên những vóc dáng đã từng làm mưa gió trên chiến trường Đồng Xoài, Bình Giả, Plei-me, Quảng Trị, Kontum, An Lộc v.v… Các Công Trường và Sư Đoàn Cộng Sản lẩn lút ở Miền Nam khi trước, đã bị các lực lượng ta giáng cho những đòn chí tử chạy trối chết. Có lẽ, vì mặc cảm thua trận, thất thế, nên tinh thần dễ sa sút! Mỗi ngày mòn mỏi một chút, lâu dần trở thành một khối ù lì… Thật đau đớn cho những ai còn có chút “máu nóng” trong người, còn biết thế nào là uất hận, nhục nhã!

Tên bộ đội đứng ngoài cửa hỏi vọng vào:

– Anh nào “nà” K.Trưởng?

– Dạ, chưa có ai. Anh em mới tới đêm qua, chưa kịp bầu.

– Thế ai “nà” B.Trưởng cũ?

– Thưa, tôi! – Một người đứng lên.

– Tạm thời, tôi chỉ định anh “nàm” K. Trưởng K15. Anh tên gì?

– Dạ, tên Lương!

Tên bộ đội ghi vào cuốn vở.

– Anh “Nương” sáng nay, K anh phụ trách việc nấu cơm cho 5 K khác ăn. 6 K nấu chung một bếp. Cứ “nuân” phiên, mỗi ngày một K. 6 K gồm có: 15, 14, 13, 12, 11 và 10. “Nát” nữa, anh gặp tôi để nhận “nệnh”.

Anh Lương (Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh ở miền Cao Nguyên) người to lớn dềnh dàng. Tôi có biết anh trong chuyến công tác những năm trước.

Mọi người lục tục ngồi dậy. Có nhiều người tôi chưa quen biết tuy cùng cấp. Đó đây tiếng điếu cày rít rèn rẹc. Hầu như tất cả, lúc này đều biết hút thuốc lào. Thuốc lá đắt và cũng bắt đầu hiếm thấy những gói Bastos Luxe và Capstan. Những tên bộ đội từ miền Bắc vô, gọi bao thuốc Bastos Luxe là “Bát-tô luy-xe”, cũng như gọi bao gạo Mỹ là gạo “Ri-xe” vì không đọc được chữ “Rice”! Anh em vì chế nhạo, nên quen miệng cũng gọi thuốc luy-xe và gạo Ri-xe!

Những khớp xương kêu lục cục vì cái vặn mình.

– Đù mẹ, mệt quá ta! Mỗi lần di chuyển, lại một đêm mất ngủ. Cái quân Việt Cộng này sống như ma, chỉ hoạt động ban đêm. Lúc trước, đánh du kích ban đêm, công đồn đả viện cũng ban đêm, hội hè, sinh hoạt, liên hoan cũng ban đêm, cái đéo gì cũng ban đêm, bây giờ chiến thắng rồi, cũng vẫn ban đêm, đếch hiểu nó là cái giống gì?

Tiếng nói lè nhè kéo dài như chế riễu. Tôi nhìn xem ai? Một thân hình mảnh mai, mặc bộ bà ba nâu, gương mặt khắc khổ, bộ râu mép dầy đen nhánh, trông có vẻ đã lăn lộn nhiều với cuộc đời!

Nhiều tiếng cười cất lên.

– Thôi, cha nội, tùy từng lúc nói nhé!

– Sợ cái đéo gì. Trận XX tại vùng 3, tăng của nó tiến đến cửa hầm, tớ còn chả sợ nữa là! còn một viên M72 cuối cùng, cũng thẩy luôn, ai ngờ nó kềnh!

– Xưa khác, nay khác!

Giữa lúc ấy, Mậu sà đến cầm điếu, nhồi thuốc, bật lửa ngữa mặt rít sòng sọc. Vừa buông điếu xuống, Mậu nằm quay lơ ngay giữa lối đi, thở hồng hộc. Nhìn thấy cảnh tượng đó, cả buồng cười hô hố. Mấy phút sau, Mậu hả cơn say, lồm cồm ngồi dậy:

– Say quá ! Sao thuốc của ông sáng nay say dữ vậy? chán ghê, chán ghê!

– Ai bảo nuốt khói? Nghèo mà ham, còn kêu ca nổi gì?

Chờ Mậu tỉnh hẳn, tôi đưa tay chỉ nguời mặc bộ bà ba nâu hỏi xem ai?

– Cái ông nội đó hả? Tiểu Đoàn Trưởng đó! Tiểu Đoàn của hắn được thẩy vào XX trước nhất. Lúc ra khỏi mặt trận, quân số chỉ còn 1/3. Hắn bị thương nát người vẫn không chịu rời bỏ chiến trường. Một cây gan lì. Anh Dũng Bội Tinh xếp đầy một rổ!.

– Tên gì?

Google images

– H. râu! Ngang tàng đếch chịu được!

Tôi nhìn đăm đăm về phía H., trong lòng thầm cảm phục. Nhưng chỉ một thời gian sau, thực tế đã mặc khải cho tôi những gì. Chỉ có sự đụng chạm với quyền lợi mới biết được chân giá trị! Con người khi có quyền lực trong tay, khác xa với con người bị tước đoạt hết, kể cả nhân phẩm trước miếng cơm, khoanh cá! Hoàn cảnh đã tạo cho con người trở thành anh hùng, nhưng hoàn cảnh cũng dìm con người xuống đáy sâu ô nhục tùy theo ý chí của mỗi cá nhân cứng hay mềm!

Lương đi họp từ lúc nào đã về. Anh phổ biến các tin tức mới. Lương ăn nói không lưu loát lắm. Anh nguyên gốc người Nùng thuộc miền Đồng Mỏ – Lạng Sơn. Theo anh em nói lại, anh đi từ Binh nhì lên cấp Trung Tá qua khóa sĩ quan đặc biệt. Anh nói chậm rãi, như cố tìm chữ:

– Theo lệnh của cán bộ, Buồng ta có 4 B: B20, B30, B40 và B50. Các B. Trưởng cũ, nay là Tổ Trưởng. Riêng B20, tôi vừa làm K. Trưởng, kiêm Tổ Trưởng, còn các B khác cứ y lệnh. Nay B20 là Tổ 1, B30 là Tổ 2, B40 là Tổ 3, B50 là Tổ 4. Hôm nay, Tổ 1 phụ trách nấu cơm cho 6 K ăn, Tổ 2 phụ trách lấy củi, kéo nước. Hai Tổ kia lần tới phụ trách. Nhân tiện đây, tôi cũng xin đề nghị, anh Tổ Trưởng Tổ 4, kiêm K. Phó Hậu cần. Anh em ai có ý kiến gì không?

Một phút yên lặng trôi qua, bỗng phía sau có tiếng nói:

– Xin có ý kiến!

Tôi quay nhìn, hóa ra là Định.

– Mời!

– Theo anh K. Trưởng vừa cho biết, Tổ 1 phụ trách nấu cơm, có nghĩa là lo cả vấn đề lấy gạo, làm rau v.v… Bữa đó có món gì phải làm hết, đúng không ạ?

– Đúng!

– Còn Tổ 2 chỉ lo lấy củi, kéo nước, nhưng còn vấn đề chẻ củi ai lo?

– Lẽ dĩ nhiên, Tổ 2.

Có tiếng xì xầm quanh quất đâu đây:

– Ấm ớ bỏ cha. Dẹp! Mất thì giờ!

Buổi hội thứ nhất tan trong một không khí tẻ nhạt. Tiếng điếu cày lại rít ròn rã. Nhiều người túa ra ngoài. Vài người cẩn thận loay hoay tổ chức lại chỗ ngủ, nơi máng đồ sao cho gọn gàng, dễ coi!

Tôi cũng ra ngoài. Ở đây, mỗi gian nhà cách nhau khoảng 8 thước. Không có đường sá gì hết. Chỉ có hai lối đi hẹp ở hai bên nách nhà, chỗ rộng chỗ hẹp, rất khó khăn khi cần phải chuyển vận đồ vật nào cồng kềnh. Đến bên lối đi hẹp, tôi vô cùng ngạc nhiên, không hiểu sao, đêm qua mình có thể đi môt cách an toàn qua bao nhiêu chỗ lồi lõm khúc khuỷu? Nếu Huy có té mương, cũng không có gì lạ! Chiếc mương đầy bùn đen, đặc sệt trông dễ sợ! Tôi cũng chẳng hiểu, đêm qua Huy có ngủ được với đôi chân hôi mùi bùn? Tôi tìm chỗ lấy nước rửa mặt, đánh răng, nhưng xung quanh chỉ toàn kẽm gai. Câu nói của tên Việt Cộng đeo quân hàm Thượng Sĩ chiều qua hoàn toàn láo khoét. Ở đây không có chút tiện nghi nào hết, ngay cả cái coóng đựng nước! Xã Hội Cộng Sản, một xã hội chuyên nói dối, chuyên đánh lừa, càng lừa được nhiều càng tốt, ngay cả chuyện Miền Nam thua trận, cũng một phần do sự đánh lừa xảo quyệt mà thành! Tay cầm khăn mặt, tay cầm bàn chải, tôi cứ đi ngược lên, men theo vách nhà, bỗng nhìn thấy Cung, từ ngoài đi vô, mặt mày sáng sủa.

– Ê, cậu. Rửa mặt chỗ nào?

– Ông đi thẳng hết dẫy nhà, quẹo trái có giếng nước, tha hồ rửa!

Tôi hấp tấp đi theo hướng chỉ. Qua hết dẫy nhà, đến chiếc sân nhỏ. Tôi thấy dòng người đang như kiểu trẻ con chơi rồng rắn, trước một cánh cổng chưa mở. Tôi nhớ, hồi đêm tôi đã vào bằng chiếc cổng này. Tôi chẳng hiểu họ chờ đợi gì, đông dữ vậy. Từ trên vọng gác cao, tên cảnh vệ ôm súng A.K. gườm gườm nhìn xuống. Vì cần rửa mặt, đánh răng, tôi đi vội ra phía giếng. Hàng trăm con người đang bu tròn chen lấn, tiếng sắt chạm nhau cùng tiếng cãi lộn, chửi thề văng tục tùm lum. Vài người đang súc miệng đánh răng bằng chiếc bình nhựa 2 lít, đựng nước mắm. Người nào cũng cởi trần trùng trục. Mỗi phút số người đến giếng mỗi đông. Tay người nào cũng cầm bình nước mắm và sợi dây dài. Tôi thầm phục, họ đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh và có dự phòng bất trắc. Tôi không có vật gì trong tay nên đành đứng ngó. Giữa lúc ấy, bỗng thấy Huy từ trong đám đông lách ra, tay xách bình nước. Tôi chạy lại:

– Ông ơi, cho xin chút nước đánh răng, rửa mặt. Cái thằng bộ đội già hồi hôm nó bắt tụi mình để lại các thùng đạn vì chỗ sắp đến có đầy đủ tiện nghi. Tiên sư cha nó, lại nói dối!…

Huy cười khục khục:

– Nghe Cộng Sản có mà bỏ mẹ. Tôi thủ bình nước cho chắc ăn. Nếu dư vứt đi, khi cần, có ngay.

– Tối qua, sao ông ngủ được với đôi chân bê bết bùn?

– Quá mệt, lăn kềnh ra, ngủ ngay. Sáng nay mới rửa được đấy. Chen vô lấy được thùng nước, cả một kỳ công. Giếng bé bằng lỗ mũi, cả trăm người bu vô. Ai cũng thả gầu xuống. Lúc kéo lên vướng dây, gỡ ra, cũng mất cả mươi phút. Vất vả lắm ông ơi! Gần 2,000 con người chỉ có chiếc giếng nhỏ này. Còn chiếc nữa, ở phía sau, chỉ dùng cho việc nấu cơm! Giếng này tuy nhỏ, nhưng cũng khá sâu đó ông!

Vì lòng tốt, Huy để tôi xử dụng bình nước. Chiếc khăn mặt ướt sũng đưa lên. Hơi nước mát lạnh làm tôi thấy khoan khoái. Tôi cứ muốn áp nó luôn trên mặt, nếu bình nước này thuộc về riêng tôi. Nhưng Huy đứng chờ đó, tôi phải làm vội vàng và không dám xử dụng hết chỗ nươc. Có lẽ, thấu rõ tâm trạng tôi, Huy nói :

– Ông cứ dùng hết nước đi, tôi lấy bình khác!

Tôi ngỏ lời cảm ơn Huy, rồi cho tay vén quần, cầm bình nước xối từ đùi xuống. Đôi chân đầy bụi đất được rửa sạch, sự sung sướng tăng lên. A, thế ra ở đời, nhiều khi một bình nước cũng làm nên hạnh phúc! Tôi đưa tay chỏ ra phía cổng, hỏi Huy:

– Họ đứng chờ gì, đông thế ông?

– Chờ đi ỉa. Từ 5 giờ sáng đã có người chờ rồi! Sáng nay, tôi mót gần chết, cố nhịn vì thấy dòng người đông quá, chả biết đến bao giờ tới lượt mình?

– Thế nhỡ chột bụng, Tào Tháo đuổi thì sao?

– Ai biết, mình sẽ tìm hiểu sau. Bây giờ hãy biết đến đó thôi!.

Tôi quay về lối cũ. Dòng người chờ lúc nãy đã ngắn bớt. Dưới ánh nắng gay gắt của buổi sáng, mặt mũi người nào cũng nhăn nhó như khỉ ăn ớt. Trước khi trở về, tôi ném cái nhìn trải rộng qua những lớp kẽm gai. Phía xa kia, ruộng đồng bát ngát. Mấy con bò màu vàng ung dung gặm cỏ. Sắc lông của chúng trở nên rực rỡ dưới ánh mặt trời. Tự nhiên tôi muốn được chạy nhảy trên cánh đồng phía trước, tôi muốn được nhìn ngắm tất cả những gì mình ưa thích, nhưng chiếc tháp canh cao ngất và những vòng kẽm gai đã bắt tôi phải chấp nhận thực tế, tức là tôi đang bị giam cầm ! Tôi cúi mặt đi từng bước hờ hững.

Về đến nơi ở, Liêm đã dậy. Hai mắt hắn sưng húp vì ngủ nhiều. Lúc này đã gần 9 giờ sáng, những bao gạo “Ri-xe” được vác lên vai chạy ào ào xuống nhà bếp. Những gánh củi cao su mới bổ, màu vàng tươi, được khiêng bằng chiếc đòn to, tới tấp đi ngang qua trước mặt tôi. Những bước chân dồn dập như không bao giờ ngưng làm không khí nơi đây sinh động chứ không trầm trầm như ở Long Giao.

– Đánh răng, rửa mặt ở đâu ông? – Liêm hỏi.

– Xa lắm, tận ngoài giếng, nhưng ông có gầu không?

– Không!

– Vậy ông cứ nằm ngủ đi!

Nghe tôi nói vậy, Liêm nhổm dậy, tay cầm khăn đi ra cửa. Từ lúc nào, Mậu đã đứng bên tôi, mặt mày tươi tắn, đầu tóc chải tử tế. Tôi hỏi Mậu, lấy đâu ra nước?

– Có khó gì, tôi xuống giếng sau, kéo hộ nhà bếp mấy thùng, xong mình có quyền xin một thùng riêng. Hồi nãy, tìm khôngg ra ông, nên đi một mình, chán ghê, chán ghê!

– Ông đi thăm Trại cho biết sự tình chưa?

– Tôi định rủ ông cùng đi cho vui đây. Kéo một “bi”rồi đi !

Mậu nhồi thuốc vào điếu, mồi lửa, kéomột hơi dài. Làn khói đùng đục tỏa mùi ngát đậm. Trả điếu vào chỗ cũ, Mậu đứng lên. Chúng tôi cùng đi ra.

– Đù mẹ, nhiều kẽm gai quá ta! Chỗ này, ông biết trước kia là Trại gì không? – Mậu hỏi.

– Không.

– Chỗ này, lúc trước, mình giam tụi nó, nay nó giam lại!

Tôi cãi:

– Ai bảo ông vậy? Mình giam tụi nó ở đảo Phú Quốc cơ mà. Tôi đã đi công tác cả tháng ở đấy!

– Ông không biết, đừng có làm tàng. Sớm nay ở giếng, tôi gặp tên Chung, Trung Tá Công Binh. Hắn nói, chính đơn vị của hắn xây cất Trại này để tạm giam tù binh Cộng Sản trước khi trao đổi theo Hiệp Định Paris! Hắn, cho biết, khi xây cất, tất cả mọi nhà đều có sập gỗ để nằm, nay tụi Cộng Sản đã gỡ hết, bắt mình nằm đất có đau không? Đây là Suối Máu, thuộc Tân Hiệp, Biên Hòa.

– Sao nhiều kẽm gai vậy?

– Mình lúc trước, thiếu chó gì kẽm gai. Đối với tụi Cộng Sản, quây kỹ chừng nào tốt chừng nấy. Nếu sơ suất, nó đào hầm trốn thoát, mình tù thay nó. Bên ngoài còn chôn mìn đó ông!

– Cộng Sản đểu ghê! Nó trả thù kiểu này đau hơn đánh. Thế là hết mơ ước Sóng Thần và lễ mãn khóa. Những đứa ngây thơ không biết giờ này đã mở mắt ra chưa?

– Ông thông cảm, lúc khổ và thất vọng quá, ông cũng cho phép anh em có chút hy vọng chứ? Nếu không thế, làm sao sống? Có phải ai cũng có can đảm tự tử đâu. Tôi phục mấy ông Tướng đã dám bắn Colt vào đầu để khỏi bị ô nhục như Tướng Hai, Tướng Hưng, Tướng Vỹ Sư Đoàn 5, Tướng Nam, Tướng Phú dù ông Tướng này quả thực bất tài!…

Chúng tôi tới khu nhà bếp. Mọi người làm việc nhộn nhịp. Các miệng lò đều đỏ rực ! Người phụ trách nấu cơm đang đứng dạng chân trên mặt bếp, dùng chiếc xẻng to đảo cơm. Mùi cơm thơm phức tỏa ra làm tôi thấy đói. Xung quanh giếng nước cũng bu đầy nguồi. Chiếc guồng quay liên tục. Nước quay lên được đổ vào những chiếc chảo to, dùng cho việc nấu nướng.

– Cho xin một thùng anh!

– Đi chỗ khác chơi. Cơm nước nấu chưa xong, trễ cha nó giờ rồi!

Người xin bẽn lẻn lảng xa, tay cầm chiếc xô sét rỉ, trong đựng mấy chiếc áo quần.

Chúng tôi đi vòng qua giếng, xuống mấy căn nhà phía cuối.

– Ông ơi, vô chơi!

Tôi nhìn về phía tiếng gọi. A, Hưng, người bạn cùng ngành. Trong thời gian trước đây, vì hăng say trong công tác, Hưng bị anh em cùng ngành ngộ nhận, xuyên tạc: Tên Cộng Sản Nằm Vùng! Ông Tướng, Tổng Cục Trưởng, tuy quý mến khả năng và đạo đức của Hưng, nhưng vì dè dặt, không dám trao cho những chức vụ xứng đáng. Có một thời gian, tôi làm việc dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Hưng. Trong những ngày đầu, tôi cũng rất khó chịu về lề lối làm việc hùng hục và sự kiểm soát quá nghiêm khắc, nhưng lâu dần, thông cảm nhau qua công việc, tôi và Hưng trở nên đôi bạn chí thiết. Hưng thường quan niệm: muốn chiến thắng Cộng Sản phải làm việc bằng 2 Cộng Sản, mà sĩ quan chúng ta lại lè phè quá ! Cấp dưới họ có làm việc hay không do cấp trên. Nghệ thuật chỉ huy đã thay đổi, thay vì: En avant, nay là Suivez – moi! Tất cả ngộ nhận, nay đã được chứng minh, Hưng cũng đi tù như mọi người, trong khi đang bị bệnh phổi nặng.

Tôi nói:

– Hồi ở Long Giao, nghe tin ông ở Khu B, không có dịp qua thăm nhau được!

Hưng cười, nụ cười buồn nở trên khuôn mặt gầy guộc!

– Mình còn gặp nhau phút này, quý rồi! Sao, gia đình bình an không?

Chúng tôi nói chuyện chưa đâu vào đâu, Mậu đã kéo đi:

– Lẹ lên ông, trưa đến nơi rồi.

Tôi nắm chặt tay Hưng, hẹn sẽ lại thăm sau. Ở đây, ngày rộng tháng dài mà!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply