Lê Đại Lãng
Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 16
Biển lặng đã mang những người đi từ miền Bắc đến Hồng Kông với số lượng chưa hề có trước đây. Khắp nơi người ta nói đến “nạn dân” với vẻ cáu kỉnh, bực dọc. Trại giam lại mọc lên để đáp ứng nhu cầu. Ngay ở trại Bạc Đầu, từng đoàn xe chở người đổ xuống, tấp nập, náo nhiệt, bàng hoàng mỗi lần cổng trại giam mở ra đón hàng loạt, hàng loạt những con người xác xơ tơi tả như miếng giẻ rách, hôi mùi biển, mùi dầu, mùi đoạn trường theo suốt cuộc hành trình. Những căn phòng trống lót ván, nóng hừng hực, mặt trời nóng hổi, tiếng khóc trẻ thơ…không còn một phút yên tĩnh nào nữa. Bên ngoài hàng rào, những cái lều lính mọc lên để chứa thuyền nhân, nền bê tông đổ lên cỏ xanh làm móng nhà, tiếng đập, tiếng cưa, tiếng hàn xì rần cả khoảng trời nhỏ khiến nước biển còn xao xuyến rung rinh.
Hải và cậu bé Thơ phải nằm sít lại để nhường bớt vài phân vuông giường cho một người mới đến. Nhiều đêm nóng quá lại chật chội, Hải bò dậy đi ra ngoài, lủi thủi tản bộ dưới ánh đèn trắng bạc. Sương đêm mát rượi những cọng thép lỗ rào. Một vài người khó ngủ cũng ra ngồi chồm hổm bên hàng rào ngó ra biển, ôm ngực ho sù sụ. Hải bấu tay vào lưới, ngón tay lành lạnh hơi sắt thép. Mặt biển bị cắt thành ô nhỏ, rung rung những xao xuyến đợi chờ. Những người đàn bà dắt díu nhau đi qua trước mặt Hải. Một người đã chết, chết thật rồi. Hải không còn mơ dáng Thu dắt con chạy trên sóng nữa. Có lẽ nàng đã xa, đã bỏ Hải. Rồi thân hình lõa lồ của Sương trên bờ biển thành phố ma lung linh sương khói. Người chết đã khuất mà người sống cũng xa. Người con gái mù đang ở đâu, nàng còn sống hay đã chết? Nàng có là vì sao băng xẹt qua bầu trời đêm sáng lòa và tắt phụt, không cả một dư âm, không cả một dấu tích!
Hai người đàn bà đau khổ đã đi qua đời Hải khổ đau. Chàng thương con xót vợ, chàng khóc âm thầm dưới những cơn mưa lất phất, dưới những vì sao ưa ứa lệ. Những con người chưa vừa ý với sự đau khổ của Hải, họ muốn Hải phải khổ hơn nữa. Họ muốn Hải phải vẹn toàn, phải làm tròn đạo đức, luân lý, thủy chung, là gánh luôn gánh nặng của người khác. Nhiều bà rủa:
– Ối cái thằng cha mồ vợ chưa xanh cỏ.
– Cái ngữ ấy, không có “tươi mát” chắc chết tươi.
Có lẽ đúng thật. Hải đã chủ động trong cuộc sống. Hải có những khát khao tầm thường, những ham muốn bình thường, những rung động bình thường, và cả những tư duy về cái đẹp. Con người thật chỉ khác con sên điều đó, không giấu tấm thân nhớp nhúa nhễ nhãi trong lớp vỏ cứng cáp xấu xí. Tấm thân phải thè ra, phải trườn trên đá, thậm chí cả trên điếm nhục, để lăn tới, lăn về đâu đấy.
Hải ăn “cánh gà” đợt một. Chàng đã triển khai những chi tiết, những tâm tư tình cảm để trình bày với Cục Di Dân. Hải bị những người chủ trương ba không (không thanh lọc, không về, không tin Cao ủy) cười vào mũi:
– Bà con chống thanh lọc, anh lại đi tiếp kiến có ăn cánh gà cũng lô-gich thôi.
Thật sự Hải nhận cánh gà chỉ vì quá chủ quan. Chàng đầu tư vào đơn kháng cáo, tập trung những điểm chủ yếu chứng minh mình bị ngược đãi. Tuyệt đại đa số bà con ăn cánh gà chỉ vì chủ quan cho rằng chỉ cần khai lý do ra đi là “tìm tự do”, “bất mãn với đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước” là xong chuyện. Thật sự không đơn giản như thế. Cục Di Dân bảo:
– Anh bất mãn kệ xác anh. Tôi cũng đéo cần biết anh đi tìm tự do. Di dân kinh tế. Cút!

Google images
Người đi tiếp kiến kể buổi phỏng vấn với luận điệu đại loại như thế. Cục Di Dân hỏi gì, thông dịch viên quờ quạng ra sao không cần biết, chỉ tóm gọn buổi tiếp kiến như thế. Bất mãn, hậm hực, chửi thề và đau đớn vì mình đã khai thật. Phải tuyên truyền ăn gian nói dối như Thuyên trong khối Trật tự trại thì đã được cho ra tự do rồi. Thuyên, tay đầu gấu Quảng Ninh đâm cha chém chú hiếp chị dâu, chân lý của gã là con dao dài tám tấc mài nhọn đầu, nước thép xanh biếc trông ghê hồn. Cục Di Dân hỏi nghề nghiệp gã. Nghề? Thì lắm. Bẻ khóa, đục tường, ăn cắp vặt, ăn cắp lớn, trấn và lột. Gã không được vào hàng ngũ tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa hay móc ngoặc (thuộc giai cấp thượng lưu). “Trấn” người ta không được ư! Thì chém. Tay anh chị khét tiếng như thế mà Cục Di Dân hỏi nghề. Ấy vậy mà gã “được”.
Gã khai: “Bản thân cá nhân tôi phục vụ trong ngành công an nhân dân. Nhưng càng ngày, nhận thấy rằng ný tưởng cao đẹp nà phục vụ nhân dân không còn nữa. Cấp lãnh đạo tham ô móc ngoặc, nhân dân bị chèn ép. Bản thân tôi cũng nhiều nần va chạm với lãnh đạo, do những cọ xát như thế nên tôi bị trù dập. Sớm ý thức được và chỉ có việc lật đổ chế độ cộng sản thì nhân dân mới hết đói khổ, tôi bí mật tập họp một số anh em đồng chí âm thầm hoạt động chống phá. Không may, chúng tôi bị phát hiện, khi công an khám nhà tôi thì tìm ra một khẩu súng nục. Biết nếu không trốn ra nước ngoài thì sớm muộn cũng bị bắt nên tôi quyết tìm đường đi tìm tự do nhân phẩm. Nếu bị trở về thì các ngài cứ bắn cho tôi một phát súng còn hơn, bởi vì chắc chắn tôi sẽ bị trù dập ngược đãi với một lý lịch phản cách mạng như thế”.
Hải phải nhìn nhận là gã khai có cơ sở. Buồn cười nhất là có một bà làm chủ hụi ở Hải Phòng, giật hụi trốn qua Hồng Kông. Không biết bà chủ hụi gốc Hoa này khai làm sao mà được công nhận tỵ nạn chính trị vì trở về Việt Nam chắc chắn bị ngược đãi. Có lẽ Cục Di Dân sợ nếu cưỡng bức bà chủ hụi về thì sẽ bị các con hụi ngược đãi bà chăng?
Trong khi những người chống đối chính sách thanh lọc lần lượt (và lén lút) đi tiếp kiến cục di dân, “cánh gà” mọc lên um sùm trong trại thì ngoài đảo Tài Á Châu, một đảo hoang xa tít, bọn đầu gấu lại nổi loạn. Chúng tấn công luôn cảnh sát để cướp thực phẩm. Cảnh sát vì bất ngờ phải rút lên tàu nhổ neo chạy. Bọn đầu gấu được dịp “trả thù dân tộc”. Chúng “ngược đãi” người Việt gốc Hoa trên đảo, hãm hiếp đàn bà con gái cho đến ngất. Thảm kịch kinh hoàng xảy ra trong một đêm làm rúng động toàn bộ các trại giam ở Hồng Kông. Khối trật tự và buồng trưởng trại Đầu Bạc họp khẩn, viết kiến nghị bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đối với nạn nhân ở Tài Á Châu. Hải được bố trí đem kiến nghị lên gặp Cao ủy Jack. Hải gõ cửa văn phòng nằm sát hàng rào.
Tiếng Jack:
– Vào đi.
Hải đẩy cửa. Trại trưởng Siu đang bàn thảo gì với Jack. Hai người nhìn Hải chờ đợi. Hải trình bày bức thư có chữ ký của các buồng trưởng, trình bày mục đích và đề đạt nguyện vọng của tập thể trại là nếu cần bà con sẽ tự động quyên góp áo quần trong trại, nhịn một ngày cơm gửi tặng trại Tài Á Châu trong tinh thần “lá rách đùm lá nát”. Lão Siu ậm ừ nói:
– Hừm, các anh tình nghĩa thế thì làm sao có những chuyện đáng tiếc như vừa rồi. Jack, ông nghĩ sao hả?
Jack mỉm cười, khuôn mặt trầm ngâm:
– Để coi, ít ra cũng là một nghĩa cử.
Hải nói:
– Xin các ông hiểu là tuyệt đại đa số bà con đều là người tốt, chỉ có ít phần tử xấu gây rối loạn mà thôi.
Lão Siu bỗng hung hăng:
– Ít phần tử thôi à! Anh lạc quan đấy. Các anh đối xử với nhau như thế trách gì chúng tôi.

Google images
Jack nói:
– Cao ủy đại diện cho người tỵ nạn nhưng đại diện cho sự xấu xa và kỳ thị. Các anh kỳ thị Nam Bắc. Người miền Nam xa lánh người miền Bắc. Nếu cũng trong tinh thần đó thì người Tây phương như tôi sẽ cư xử với các anh thế nào đây. Các anh chung tiếng nói, chung màu da…
Hải cãi:
– Ông chủ quan đấy thôi. Giả sử như trong trại này có một trăm người Đức, một trăm người Anh và một trăm người Ái Nhĩ Lan, hừm…Các ông giết nhau đấy chứ, đánh nhau sứt đầu lỗ trán như chúng tôi là còn nhẹ quá mà.
Jack gục gặc đầu:
– Khá đấy. Nhưng các anh là người chung một nước. Các anh cùng một mục đích, cùng ra đi tìm tự do và thậm chí cùng lý tưởng nữa. Phải thế không?
Hải đỏ mặt:
– Có thể. Nhưng bản thân mỗi cá nhân không ai giống ai. Trong mỗi con người đều có phần hèn mạt, cả ông, cả tôi, cả ngài trại trưởng, chúng ta có thể là người khôn ngoan biết giấu cái phần thấp hèn đấy. Một lúc nào đấy, cái phần đớn hèn nó phát triển, nó vùng lên trong người thì sinh ra cái nọ cái kia.
Jack cười ha hả. Ông cựu giáo sư đại học thích thú:
– Như vậy chúng ta là…chó cả. Các phần hèn ấy nằm trong tất cả chúng ta như cục cứt ở trong ruột, có ỉa cục nầy đi thì cục khác xuất hiện. Anh về đi. ha…ha…ha…ráng mà giấu cục cứt trong người anh cho khéo, như ngài trại trưởng đây.
Hải cáo lui, thấy mặt lão Siu đỏ rần. Lẽ ra lão nên đỏ mặt khi đi ngang phòng khám bệnh nhìn hai hàng dài đàn bà con nít đầu úp thau che nắng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại chờ vào khám bệnh. Lẽ ra lão nên xấu hổ cái hôm có người đàn bà đau đẻ, nhân viên lão lề mề chở ra nhà thương ngoài phố. Sự chậm trễ và coi thường nhân mạng khiến người đàn bà đẻ dọc đường. Thấy đứa bé thò đầu ra, nhân viên Cục Cải Huấn cầm hai chân người đàn bà ép lại chận không cho đứa bé ra ngoài. Đứa bé ngạt thở chết trước khi xe đến bệnh viện. Lão phải xấu hổ vì sự bất nhân như thế hơn là vì một câu nói của Jack. Dĩ nhiên lão cũng có quyền hãnh diện về một đôi điều tốt đẹp, chẳng hạn như nhân viên lão phớt lờ nếu bị một vài đứa trẻ ném đá, hoặc bị chúng chửi rủa thô tục nữa. Sự nhẫn nhịn đó Hải cho là bản chất của một xã hội trọng dân chủ, nếu phải vào tay công an nhân dân ta thì bố mẹ bầy trẻ phải “mệt” hay đại khái một cái gì gần như thế.
Những lớp người từ các trại khác được chuyển dồn về Đầu Bạc. Lớp học đóng cửa chỉ trừ khối mẫu giáo. Giáo sư dạy Anh ngữ Lào thất nghiệp bèn mở lớp kèm…đàn bà độc thân. Thật sự Lào đã bị Phương mời ra khỏi Khối Giáo Dục khi một hôm cầm cuốn sổ tay của một đứa học trò, cô khám phá ra Lào dạy “What want” là “anh chị muốn gì”, “What get” là “anh chị lấy cái gì”.
Lào cự:
– Chị biết răng được, tui có cử nhân Luật.
Phương suýt chửi thề bằng…tiếng Anh. Cô kiên nhẫn tìm thầy trong số những người vừa từ trại khác chuyển đến. Vừa may lúc đó có người giới thiệu một nhà báo thông thạo nhiều thứ tiếng mới ở trại tù Victoria chuyển về. Phương không ngạc nhiên khi gặp nhà báo ấy, là Lê Khắc.
Hôm gặp Nam ở Kai Tak, Lê Khắc đã không thổ lộ thân phận của mình. Ông yêu cầu Tứ cho ở một thời gian nữa, bảo:
– Trước sau gì tao cũng ra đầu thú. Mày lại sắp đi.
Tứ đã được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Ông biết tính bạn vui buồn bất thường, chỉ nói:
– Tao chỉ sợ nhỡ bị bắt chúng tẩm quất mày không chịu nổi mà thôi. Ở thì cứ ở.

Google images
Lê Khắc ậm ừ. Ông thực sự xao động từ khi gặp Sương. Ông bắt gặp ở nàng cái hình tượng ấp ủ cho một nhân vật. Sắc đẹp của nàng, sự mù lòa của nàng, và thậm chí cả sự trong sáng của nàng đã tạo trong lòng ông nỗi xót xa đè lên hy vọng, vừa đau khổ vừa sung sướng. Mỗi sáng, ông đem tờ báo Hoa ngữ đọc cho Sương nghe. Ông đọc bằng cả tâm hồn mình, bằng những hình ảnh mà ông cố nặn lên để một người mù có thể cảm thông được. Điều đó đối với ông không dễ. Lắm khi, Sương sờ bàn tay xương xẩu của ông, mơ màng hỏi:
– Những lâu đài chú tả có lạnh như thế này không chú?
Lê Khắc lúng túng bảo, chắc là không, lâu đài nào cũng ấm cả, nỗi cơ hàn không có ở những nơi dư thừa ánh sáng. Có lẽ, cháu ạ, chỉ có bàn tay chú lạnh thôi.
Lê Khắc hỏi xin Nam một hộp đồ chơi sắp chữ của trẻ con. Ông dạy cho Sương cách nhận diện mặt chữ. Nàng thích thú với trò chơi mới, có vẻ như Sương đã tiếp xúc được với thế giới tràn đầy bí mật. Nàng đã đến gần hơn với cuộc sống, nàng đã nghe được tiếng thở dài của cuộc sống, tiếng trăn trở của những bước chân trần cô độc, nàng đoán ra được sự kèn cựa của cuộc đời, tiếng trở mình, tiếng rung chuyển của ngục tù, và thậm chí cả màu hư không của những giọt lệ lặng thinh. Nàng kể những điều đó cho người đàn bà ở chung mỗi tối, chị ta đi làm ngoài Hồng Kông về. Sương bảo:
– Bây giờ em đã hình dung ra cái cửa sắt màu gì, và chị đã đi tìm trong nắng vàng ra sao.
Đó là một người đàn bà tội nghiệp. Chị không bao giờ bảo Sương làm gì bên ngoài Hông Kông. Chị chỉ kể cho Sương nỗi buồn của chị. Chị có đứa con mười hai tuổi. Đứa con chị ở với ông bà ngoại khi chồng chị vào Nam lấy vợ bé. Chị được bà con cho đi vượt biên. Tới Hồng Kông rồi chị mới biết là bằng cách nào đó ông bà ngoại đã gửi đứa con đi theo chị trong một chuyến khác. Thành thử, chị hy vọng là con chị đang ở một trong những trại giam nào đấy. Chị không tài nào biết được. Chị phải đi làm gửi tiền về nuôi ông bà ngoại đứa trẻ. Chị kiên nhẫn đi làm. Chị kể Sương nghe trưa nào cũng đến trại giam Shamshuipo, ở đó có cánh cổng sắt màu đen, bên dưới có khoảng cách nhỏ vừa đủ kê khuôn mặt vào. Chị quỳ trên đất cứng, thò mặt vào nhìn vô trại. Những đứa trẻ đang chạy nhảy chửi thề trong sân đá. Chị cứ nhìn hoài như thế, hy vọng đứa con chị sẽ xuất hiện. Chị chỉ thôi nhìn khi gã A Xòe gác cổng đuổi chị đi. Chị không muốn tuyệt vọng. Đứa con chị đến sau ngày 16 tháng 6, thế nào nó cũng ở trong ấy, hoặc…đâu đấy. Chị đến trại buổi trưa, quì giữa trưa, và ra đi cũng giữa trưa, nắng đổ mồ hôi cay cả mắt, xé nát lòng người mẹ tả tơi.
Một sáng Sương bảo Lê Khắc:
– Chú coi thử cái này nghe.
Nàng giở tấm vải đậy trên sạp. Lê Khắc cảm động khi thấy Sương sắp tên ông ngay ngắn. Chữ L đỏ rực, chữ A xanh biếc hồn nhiên…không nghe Lê Khắc nói gì, Sương hỏi:
– Bộ cháu sắp trật rồi hở?
Ông cười khỏa lấp cảm xúc của mình:
– Cháu giỏi lắm. Đúng phom. Bây giờ chú sắp để cháu đoán thử nha.
Lê Khắc lấy hộp chữ. Sương lắng tai nghe ngóng âm thanh xì xạc của chữ cái đụng vào nhau.
– Nào, cháu biết chữ gì không?
Sương rờ rẫm cái chữ mới sắp bên cạnh tên “Lê Khắc”. Nàng lẩm nhẩm…reo lên:
– “Sương”! Đúng không nào.
Cả hai cười nắc nẻ. Tiếng cười bay lên những tàn phượng nở hoa vàng. Lê Khắc giở cuốn vở học trò, đọc trang đầu của một chuyện tình viết vội. Sương ngơ ngác:
– Chú viết về cháu đấy?
– Ừ, chuyện tình của cháu.
Sương bảo chắc gì đã là chuyện tình, cháu nghĩ…
Lê Khắc vén những sợi tóc trên trán nàng, nói:
– Cháu đã kể cho chú nghe anh ấy săn sóc cho cháu như thế thì hẳn phải có cái gì. Cháu không thích à?
– Không phải…Sương ngập ngừng bảo. Cháu không biết nữa, có thể… là gì đấy. Cháu không biết…
-…mặt mũi anh ta. Thế chú có biết chú ra làm sao đâu. Cần gì, cháu. Tình yêu không có hình tượng nào cả. Nó không có tên, nó là gì đấy như cháu nghĩ. Thế thôi.

Google images
Lê Khắc đọc tiếp. Chuyện tình của một cô gái mù trên đường vượt biển. Những cơn mưa lạnh. Những ngày gió chướng. Tiếng sóng. Lời thì thầm. Sự đói khổ…Họ tắm cho nhau trên biển vắng…
Sương khóc rưng rức. Giọng Lê Khắc như lá vàng rơi trên kỷ niệm. Người con gái bắt nhận ánh trăng tàn ảo mộng cháy tự đáy lòng. Chàng trai chỉ thấy đường chân trời. Thế giới của cô gái kỳ bí và diễm lệ, những lớp mây sâu thẳm trong ký ức. Họ lạc đến một hoang đảo. Chàng trai kiệt lực. Trước mắt anh, thế giới mù đục một màu sương. Lê Khắc nói:
– Cháu thích một đoạn kết không?
– Cháu không biết.
– Một chuyện tình đẹp thường không có đoạn kết, thế là toàn vẹn sự lãng mạn. Cháu biết không, người đi làm cách mạng và tình yêu đều cần lãng mạn để thánh hóa những điều tầm thường. Chú sẽ đi tìm hoàng tử cho cháu.
Sương nức nở:
– Thôi chú ạ. Cháu đã nghiệm ra hạnh phúc là điều không nên thấy. Cháu…đã có chú!
Lê Khắc chợt muốn ôm cô gái để hôn lên tâm hồn trong sáng những vì sao. Ông quệt ngón tay thấm nước mắt trên hai hàng mi dài máy động:
– Chú…sắp xa cháu rồi.
Sương ngồi im không nhúc nhích. Hơi thở của người đàn ông bỏng cả mặt. Nàng nói:
– Cháu biết sẽ có ngày ấy.
– Chú Tứ sắp đi rồi. Chú sẽ ra trình diện. Chú không ân hận vì đã gặp cháu trong những ngày đào thoát. Cháu đã thay đổi cả chương trình của chú.
– Cháu không hiểu.
– Chú đã nghĩ là sẽ làm cho các dân tộc yêu tự do sẽ nhìn lại những con người đang sống trong cõi chết. Và bây giờ chú thấy đó chỉ là một ý nghĩ lãng mạn mà thôi. Tiếng nói của chú đâu có lớn hơn một động cơ tám máy trên đường phố. Còn cháu, cháu sống trong thế giới mù lòa bằng cả lương tâm của thế giới. Lòng cháu sáng hơn mắt chú, Sương ạ.
– Cháu sẽ xin về.
– Đừng, ở nước ngoài các phương tiện vật chất tiên tiến sẽ làm cho mắt cháu sáng lại. Họ sẽ chữa mắt cháu.
– Chú đi đâu?
– Chú sẽ sống cuộc sống của đồng bào mình, còn cháu sẽ thấy ánh sáng tự do.
Sương không gượng được nữa, nàng ngã chúi đầu vào vai người đàn ông cô độc. Nàng lại mất một lần nữa, không ai muốn ở lại với nàng. Nàng đâu cần sống trong ánh sáng mà lại cô độc. Sự mù lòa chia sẻ vẫn quí hơn, vô ngần.
Dù đã được Nam bố trí cho Lê Khắc đến gặp một viên Cao ủy, Lê Khắc vẫn bị tống vào nhà giam Victoria. Trong nhà tù, ông gặp vài đồng hương phạm tội hình sự, ông gặp mặt trái của Hồng Kông. Có thể do sự can thiệp của viên Cao ủy, Lê Khắc không bị đánh đập gì. Rồi ông được đưa về trại Đầu Bạc, ở đó, ông gặp nhân vật người đàn ông trong chuyện tình viết vội của ông. Ông được Tứ vào thăm một ngày trước khi cha con Tứ qua trại chuyển tiếp ở Phi Luật Tân. Sương vẫn chưa được nước nào nhận. Tứ bảo ông tặng Sương tất cả những bức tranh không bán được, dạy cho nàng cách rờ tranh để nhận màu.

Google images
Tháng lương đầu tiên mà Lê Khắc nhận nhờ được tuyển làm giáo viên là một trăm hai chục đồng Hồng Kông. Ông đưa cả cho Phương nhờ mua hộp chữ. Khi biết ý định của Lê Khắc, Phương bảo:
– Tôi sẽ mua cho chú. Chú cứ giữ tiền phòng khi cần.
Lê Khắc xúc động. Cuộc đời không tệ như ông tưởng. Ở hoàn cảnh nào cũng có những trái tim bác ái. Ông bảo Phương:
– Chị cứ cầm hộ tôi. Nếu không dùng thì nhờ anh Nam trao hộ cho cô ấy. Tôi ăn cơm Cao ủy cần gì tiền.
Lá thư đầu tiên ông gửi cho Sương to như một hộp quà. Lê Khắc sắp chữ, xin băng keo dán lại. Ông ngạc nhiên khi thư trả lời của Sương không phải là “hộp quà” mà là trên giấy trắng mực xanh đoàng hoàng. Thì ra Sương đọc nhờ Nam viết hộ. Sương viết:
“Chú xa nhớ!
Từ ngày chú đi cháu không biết phải làm gì cho hết ngày. Cháu sờ những bức tranh của chú Tứ. Chú ấy bảo tranh chú dầy sơn dù lúc nào chú ấy cũng thiếu tiền để mua sơn, có thể bề dầy của không gian và thời gian – chú Tứ bảo đấy nhé – mới thấm nhập vào hồn người thưởng lãm. Chú ấy bắt cháu để tay lên màu đen cho đến chừng nào màu đen thấm vào từng tế bào não của cháu. Rồi lại để tay lên màu xanh cho đến chừng nào cháu “thấy” được màu trời lồng lộng. Chú ấy lại bảo cháu hãy bắt lấy màu đỏ cho đến khi cháu cảm thấy dòng máu mình chảy đẫm lòng bàn tay. Thế đấy, cháu đã thấy được những cuộn sóng hung hãn xô đẩy trên xác những thi thể lõa lồ của người con gái trong một hoàng hôn nhuộm máu đỏ. Chú ạ, cháu đã hiểu tại sao chú Tứ lại bắt cháu học nhận màu đen đầu tiên trong bài học đầu tiên chú ấy dạy. Toàn bộ tranh của chú ấy bị màu đen ngự trị chú ạ (có phải chú Tứ muốn nói về cháu). Cả biển cũng màu đen chú Khắc ạ. Thỉnh thoảng lắm cháu mới “thấy” một màu xanh lẻ loi. Cháu kiểm tra với anh Nam thì anh ấy bảo màu xanh của chú Tứ là màu xanh của rừng cây đã trút hết lá. Nghĩa là màu xanh tuyệt vọng, màu xanh chết! Sao cuộc đời buồn thế chú? Có khi cháu không muốn “xem” tranh nữa. Nếu như thế giới này chỉ toàn màu đen như thế thì cháu sáng mắt để làm gì. Thà đui mù như cháu còn hơn.
Cháu viết dài sợ phiền anh Nam quá. Chú cảm ơn anh ấy hộ cháu nhé. Chú thấy không, ở đâu cũng có người tốt như chú vậy. Chú ráng phấn đấu để qua thanh lọc nhé. Chừng ấy, chú cháu mình lại gặp nhau.
Có tìm gặp bố cháu ở đâu không?”
Dưới bức thư có chữ Sương nguệch ngoạc. Lê Khắc run rẩy vì cảm động. Ông có cảm tưởng sự bức xúc trong lòng khiến ông muốn đạp hàng rào để phóng đi tìm Sương. Ông hiểu những điều Sương muốn nói về tranh của Tứ. Màu đã chọn , đã ở sẵn trên khung vải trước khi Tứ nhúng cọ vào. Tứ đã dùng cái hữu hạn của kinh nghiệm sống để thể hiện cái vô cùng của tâm thức lưu đày. Ở một lúc nào đó, tranh của Tứ bị gò bó trong hình tượng cuộc sống. Lê Khắc đã bảo Tứ phải đập nát con đê hữu hình kia đi, để nước loạn, là Tứ, vỡ tràn trên khung vải, chảy ra trăm nghìn ngả, không lối, không đường, không biên giới, biên cương, thể hiện cái cuồng loạn của tâm tư, của ý thức, bất chấp lề luật, bất chấp kỷ cương, ấy là đi gần đến ngã, không màu, không sắc, không hình tượng. Cuộc đời nó thế, sống trong cái hữu hình mà vượt lên với vô hình. Một họa sĩ tài ba cũng phải thế, không bị tràn ngập bởi màu sơn, cũng không chọn màu sắc mà cứ cầm cọ vung lên khung vải, như càng cây đâm vào hư không có theo một hình hướng nào đâu.
Sau ngày lên tiếp kiến thanh lọc, Lê Khắc lại nhận được một bức thư khác của Sương. Ông biết mình sẽ nhận “cánh gà” trong buổi sơ ngộ với Cục Di Dân. Khuôn mặt người phỏng vấn nhìn ông ác cảm ngay từ đầu. Tướng Lê Khắc không phải dễ nhìn. Trán vồ, hai lỗ mũi to hếch lên trời như hai ống thổi lửa, cái cằm bạnh dữ tợn. Lê Khắc biết thế. Ông đọc đi đọc lại thư Sương để vơi buồn bực trong lòng.
“Chú Khắc xa nhớ!
Cháu nhận được thư chú rồi. Anh Nam đọc cho cháu nghe. Cháu mừng lắm. Cháu biết là chú không quên con bé tàn tật nầy mà. Có thế chứ.
Cháu đã sờ đến bức tranh thứ tám, bức cuối cùng đấy, của chú Tứ. Bây giờ cháu đã hiểu tại sao khi đưa bức này cho cháu, chú Tứ bảo: “Chú tặng bạn chú bức tranh vô hình này, chờ bạn chú ra khỏi cõi hữu hình mà lấy”. Chú Tứ tặng chú đấy, chú biết không?

Google images
Cháu sờ mãi mà không tìm được hình tượng nào cụ thể của bức tranh chú ạ. Nó cứ bàng bạc làm sao ấy. Đến cả anh Nam cũng chịu, không đoán ra. Dường như chú ấy vẽ một cơn mộng, cơn mộng mỏng như khói sương vậy đó. Toàn bộ bức tranh là màu trắng, màu xám, màu lá xanh, toàn là màu lạnh thôi chú ạ. Nó là sự trăn trở, thao thức, ước vọng và thậm chí cả dục vọng nữa. Một cái gì không thể nắm bắt được mà rất thực, rất cụ thể, rất người.
Cháu không hiểu đâu. Cháu để cất bức này cho chú đấy. Anh Nam hỏi mua một bức nhưng cháu nhất quyết không lấy tiền. Mình mang ơn không hết, phải không chú.
Chú đã đi tiếp kiến chưa? Ở Kai Tak có mấy người ở trại chú vừa được ra tự do đấy. Cháu có hỏi thăm chú nhưng không ai biết cả. Chú có khỏe không? Ráng phấn đấu công tác tốt chú nhé. Nhớ viết thư cho cháu, kể cho cháu nghe cuộc sống, tâm tư tình cảm của chú đi.
Có tìm gặp bố cháu ở đâu không?”
Dưới bức thư lại ký chữ “Sương” nguệch ngoạc. Lê Khắc muốn ứa nước mắt. Ông đã không làm được một điều gì cho Sương. Có lẽ bố nàng đã mãn số, đã đến một cõi vô hình mà ông thường nói. Ông thất thểu đi trong trại, thấy Hải đứng bên Hà nơi hàng rào phía biển. Nhân vật của ông đã làm nên cuộc tình mới, đã…xong!
Ông nhớ Sương quằn quại, nửa đêm rên rỉ một mình. Ông đã quyết định cho ông một đời sống khác. Hôm cảnh sát tấn công trại bắt những người biểu tình chống cưỡng bách hồi hương, mắt ông cay xè, đỏ ngầu vì đau khổ, vì những quả lựu đạn cay cảnh sát bắn vào trại. Trong tiếng kêu thảng thốt của đàn bà, tiếng rên khóc của trẻ con sợ hãi, tiếng chân chạy hỗn loạn và màu đục mờ của khói lửa. Lê Khắc viết bản kháng cáo.
Ông ghi tiêu đề: Kháng Cáo Của Một Thuyền Nhân Đến Muộn.

































