Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 11 May 2024

Phần 16
Biển lặng đã mang những người đi từ miền Bắc đến Hồng Kông với số lượng chưa hề có trước đây. Khắp nơi người ta nói đến “nạn dân” với vẻ cáu kỉnh, bực dọc. Trại giam lại mọc lên để đáp ứng nhu cầu. Ngay ở trại Bạc Đầu, từng đoàn xe chở người đổ xuống, tấp nập, náo nhiệt, bàng hoàng mỗi lần cổng trại giam mở ra đón hàng loạt, hàng loạt những con người xác xơ tơi tả như miếng giẻ rách, hôi mùi biển, mùi dầu, mùi đoạn trường theo suốt cuộc hành trình. Những căn phòng trống lót ván, nóng hừng hực, mặt trời nóng hổi, tiếng khóc trẻ thơ…không còn một phút yên tĩnh nào nữa. Bên ngoài hàng rào, những cái lều lính mọc lên để chứa thuyền nhân, nền bê tông đổ lên cỏ xanh làm móng nhà, tiếng đập, tiếng cưa, tiếng hàn xì rần cả khoảng trời nhỏ khiến nước biển còn xao xuyến rung rinh.
Hải và cậu bé Thơ phải nằm sít lại để nhường bớt vài phân vuông giường cho một người mới đến. Nhiều đêm nóng quá lại chật chội, Hải bò dậy đi ra ngoài, lủi thủi tản bộ dưới ánh đèn trắng bạc. Sương đêm mát rượi những cọng thép lỗ rào. Một vài người khó ngủ cũng ra ngồi chồm hổm bên hàng rào ngó ra biển, ôm ngực ho sù sụ. Hải bấu tay vào lưới, ngón tay lành lạnh hơi sắt thép. Mặt biển bị cắt thành ô nhỏ, rung rung những xao xuyến đợi chờ. Những người đàn bà dắt díu nhau đi qua trước mặt Hải. Một người đã chết, chết thật rồi. Hải không còn mơ dáng Thu dắt con chạy trên sóng nữa. Có lẽ nàng đã xa, đã bỏ Hải. Rồi thân hình lõa lồ của Sương trên bờ biển thành phố ma lung linh sương khói. Người chết đã khuất mà người sống cũng xa. Người con gái mù đang ở đâu, nàng còn sống hay đã chết? Nàng có là vì sao băng xẹt qua bầu trời đêm sáng lòa và tắt phụt, không cả một dư âm, không cả một dấu tích!
Hai người đàn bà đau khổ đã đi qua đời Hải khổ đau. Chàng thương con xót vợ, chàng khóc âm thầm dưới những cơn mưa lất phất, dưới những vì sao ưa ứa lệ. Những con người chưa vừa ý với sự đau khổ của Hải, họ muốn Hải phải khổ hơn nữa. Họ muốn Hải phải vẹn toàn, phải làm tròn đạo đức, luân lý, thủy chung, là gánh luôn gánh nặng của người khác. Nhiều bà rủa:
– Ối cái thằng cha mồ vợ chưa xanh cỏ.
– Cái ngữ ấy, không có “tươi mát” chắc chết tươi.
Có lẽ đúng thật. Hải đã chủ động trong cuộc sống. Hải có những khát khao tầm thường, những ham muốn bình thường, những rung động bình thường, và cả những tư duy về cái đẹp. Con người thật chỉ khác con sên điều đó, không giấu tấm thân nhớp nhúa nhễ nhãi trong lớp vỏ cứng cáp xấu xí. Tấm thân phải thè ra, phải trườn trên đá, thậm chí cả trên điếm nhục, để lăn tới, lăn về đâu đấy.
Hải ăn “cánh gà” đợt một. Chàng đã triển khai những chi tiết, những tâm tư tình cảm để trình bày với Cục Di Dân. Hải bị những người chủ trương ba không (không thanh lọc, không về, không tin Cao ủy) cười vào mũi:
– Bà con chống thanh lọc, anh lại đi tiếp kiến có ăn cánh gà cũng lô-gich thôi.
Thật sự Hải nhận cánh gà chỉ vì quá chủ quan. Chàng đầu tư vào đơn kháng cáo, tập trung những điểm chủ yếu chứng minh mình bị ngược đãi. Tuyệt đại đa số bà con ăn cánh gà chỉ vì chủ quan cho rằng chỉ cần khai lý do ra đi là “tìm tự do”, “bất mãn với đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước” là xong chuyện. Thật sự không đơn giản như thế. Cục Di Dân bảo:
– Anh bất mãn kệ xác anh. Tôi cũng đéo cần biết anh đi tìm tự do. Di dân kinh tế. Cút!

Google images

Người đi tiếp kiến kể buổi phỏng vấn với luận điệu đại loại như thế. Cục Di Dân hỏi gì, thông dịch viên quờ quạng ra sao không cần biết, chỉ tóm gọn buổi tiếp kiến như thế. Bất mãn, hậm hực, chửi thề và đau đớn vì mình đã khai thật. Phải tuyên truyền ăn gian nói dối như Thuyên trong khối Trật tự trại thì đã được cho ra tự do rồi. Thuyên, tay đầu gấu Quảng Ninh đâm cha chém chú hiếp chị dâu, chân lý của gã là con dao dài tám tấc mài nhọn đầu, nước thép xanh biếc trông ghê hồn. Cục Di Dân hỏi nghề nghiệp gã. Nghề? Thì lắm. Bẻ khóa, đục tường, ăn cắp vặt, ăn cắp lớn, trấn và lột. Gã không được vào hàng ngũ tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa hay móc ngoặc (thuộc giai cấp thượng lưu). “Trấn” người ta không được ư! Thì chém. Tay anh chị khét tiếng như thế mà Cục Di Dân hỏi nghề. Ấy vậy mà gã “được”.
Gã khai: “Bản thân cá nhân tôi phục vụ trong ngành công an nhân dân. Nhưng càng ngày, nhận thấy rằng ný tưởng cao đẹp nà phục vụ nhân dân không còn nữa. Cấp lãnh đạo tham ô móc ngoặc, nhân dân bị chèn ép. Bản thân tôi cũng nhiều nần va chạm với lãnh đạo, do những cọ xát như thế nên tôi bị trù dập. Sớm ý thức được và chỉ có việc lật đổ chế độ cộng sản thì nhân dân mới hết đói khổ, tôi bí mật tập họp một số anh em đồng chí âm thầm hoạt động chống phá. Không may, chúng tôi bị phát hiện, khi công an khám nhà tôi thì tìm ra một khẩu súng nục. Biết nếu không trốn ra nước ngoài thì sớm muộn cũng bị bắt nên tôi quyết tìm đường đi tìm tự do nhân phẩm. Nếu bị trở về thì các ngài cứ bắn cho tôi một phát súng còn hơn, bởi vì chắc chắn tôi sẽ bị trù dập ngược đãi với một lý lịch phản cách mạng như thế”.
Hải phải nhìn nhận là gã khai có cơ sở. Buồn cười nhất là có một bà làm chủ hụi ở Hải Phòng, giật hụi trốn qua Hồng Kông. Không biết bà chủ hụi gốc Hoa này khai làm sao mà được công nhận tỵ nạn chính trị vì trở về Việt Nam chắc chắn bị ngược đãi. Có lẽ Cục Di Dân sợ nếu cưỡng bức bà chủ hụi về thì sẽ bị các con hụi ngược đãi bà chăng?
Trong khi những người chống đối chính sách thanh lọc lần lượt (và lén lút) đi tiếp kiến cục di dân, “cánh gà” mọc lên um sùm trong trại thì ngoài đảo Tài Á Châu, một đảo hoang xa tít, bọn đầu gấu lại nổi loạn. Chúng tấn công luôn cảnh sát để cướp thực phẩm. Cảnh sát vì bất ngờ phải rút lên tàu nhổ neo chạy. Bọn đầu gấu được dịp “trả thù dân tộc”. Chúng “ngược đãi” người Việt gốc Hoa trên đảo, hãm hiếp đàn bà con gái cho đến ngất. Thảm kịch kinh hoàng xảy ra trong một đêm làm rúng động toàn bộ các trại giam ở Hồng Kông. Khối trật tự và buồng trưởng trại Đầu Bạc họp khẩn, viết kiến nghị bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đối với nạn nhân ở Tài Á Châu. Hải được bố trí đem kiến nghị lên gặp Cao ủy Jack. Hải gõ cửa văn phòng nằm sát hàng rào.
Tiếng Jack:
– Vào đi.
Hải đẩy cửa. Trại trưởng Siu đang bàn thảo gì với Jack. Hai người nhìn Hải chờ đợi. Hải trình bày bức thư có chữ ký của các buồng trưởng, trình bày mục đích và đề đạt nguyện vọng của tập thể trại là nếu cần bà con sẽ tự động quyên góp áo quần trong trại, nhịn một ngày cơm gửi tặng trại Tài Á Châu trong tinh thần “lá rách đùm lá nát”. Lão Siu ậm ừ nói:
– Hừm, các anh tình nghĩa thế thì làm sao có những chuyện đáng tiếc như vừa rồi. Jack, ông nghĩ sao hả?
Jack mỉm cười, khuôn mặt trầm ngâm:
– Để coi, ít ra cũng là một nghĩa cử.
Hải nói:
– Xin các ông hiểu là tuyệt đại đa số bà con đều là người tốt, chỉ có ít phần tử xấu gây rối loạn mà thôi.
Lão Siu bỗng hung hăng:
– Ít phần tử thôi à! Anh lạc quan đấy. Các anh đối xử với nhau như thế trách gì chúng tôi.

Google images

Jack nói:
– Cao ủy đại diện cho người tỵ nạn nhưng đại diện cho sự xấu xa và kỳ thị. Các anh kỳ thị Nam Bắc. Người miền Nam xa lánh người miền Bắc. Nếu cũng trong tinh thần đó thì người Tây phương như tôi sẽ cư xử với các anh thế nào đây. Các anh chung tiếng nói, chung màu da…
Hải cãi:
– Ông chủ quan đấy thôi. Giả sử như trong trại này có một trăm người Đức, một trăm người Anh và một trăm người Ái Nhĩ Lan, hừm…Các ông giết nhau đấy chứ, đánh nhau sứt đầu lỗ trán như chúng tôi là còn nhẹ quá mà.
Jack gục gặc đầu:
– Khá đấy. Nhưng các anh là người chung một nước. Các anh cùng một mục đích, cùng ra đi tìm tự do và thậm chí cùng lý tưởng nữa. Phải thế không?
Hải đỏ mặt:
– Có thể. Nhưng bản thân mỗi cá nhân không ai giống ai. Trong mỗi con người đều có phần hèn mạt, cả ông, cả tôi, cả ngài trại trưởng, chúng ta có thể là người khôn ngoan biết giấu cái phần thấp hèn đấy. Một lúc nào đấy, cái phần đớn hèn nó phát triển, nó vùng lên trong người thì sinh ra cái nọ cái kia.
Jack cười ha hả. Ông cựu giáo sư đại học thích thú:
– Như vậy chúng ta là…chó cả. Các phần hèn ấy nằm trong tất cả chúng ta như cục cứt ở trong ruột, có ỉa cục nầy đi thì cục khác xuất hiện. Anh về đi. ha…ha…ha…ráng mà giấu cục cứt trong người anh cho khéo, như ngài trại trưởng đây.
Hải cáo lui, thấy mặt lão Siu đỏ rần. Lẽ ra lão nên đỏ mặt khi đi ngang phòng khám bệnh nhìn hai hàng dài đàn bà con nít đầu úp thau che nắng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại chờ vào khám bệnh. Lẽ ra lão nên xấu hổ cái hôm có người đàn bà đau đẻ, nhân viên lão lề mề chở ra nhà thương ngoài phố. Sự chậm trễ và coi thường nhân mạng khiến người đàn bà đẻ dọc đường. Thấy đứa bé thò đầu ra, nhân viên Cục Cải Huấn cầm hai chân người đàn bà ép lại chận không cho đứa bé ra ngoài. Đứa bé ngạt thở chết trước khi xe đến bệnh viện. Lão phải xấu hổ vì sự bất nhân như thế hơn là vì một câu nói của Jack. Dĩ nhiên lão cũng có quyền hãnh diện về một đôi điều tốt đẹp, chẳng hạn như nhân viên lão phớt lờ nếu bị một vài đứa trẻ ném đá, hoặc bị chúng chửi rủa thô tục nữa. Sự nhẫn nhịn đó Hải cho là bản chất của một xã hội trọng dân chủ, nếu phải vào tay công an nhân dân ta thì bố mẹ bầy trẻ phải “mệt” hay đại khái một cái gì gần như thế.
Những lớp người từ các trại khác được chuyển dồn về Đầu Bạc. Lớp học đóng cửa chỉ trừ khối mẫu giáo. Giáo sư dạy Anh ngữ Lào thất nghiệp bèn mở lớp kèm…đàn bà độc thân. Thật sự Lào đã bị Phương mời ra khỏi Khối Giáo Dục khi một hôm cầm cuốn sổ tay của một đứa học trò, cô khám phá ra Lào dạy “What want” là “anh chị muốn gì”, “What get” là “anh chị lấy cái gì”.
Lào cự:
– Chị biết răng được, tui có cử nhân Luật.
Phương suýt chửi thề bằng…tiếng Anh. Cô kiên nhẫn tìm thầy trong số những người vừa từ trại khác chuyển đến. Vừa may lúc đó có người giới thiệu một nhà báo thông thạo nhiều thứ tiếng mới ở trại tù Victoria chuyển về. Phương không ngạc nhiên khi gặp nhà báo ấy, là Lê Khắc.
Hôm gặp Nam ở Kai Tak, Lê Khắc đã không thổ lộ thân phận của mình. Ông yêu cầu Tứ cho ở một thời gian nữa, bảo:
– Trước sau gì tao cũng ra đầu thú. Mày lại sắp đi.
Tứ đã được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Ông biết tính bạn vui buồn bất thường, chỉ nói:
– Tao chỉ sợ nhỡ bị bắt chúng tẩm quất mày không chịu nổi mà thôi. Ở thì cứ ở.

Google images

Lê Khắc ậm ừ. Ông thực sự xao động từ khi gặp Sương. Ông bắt gặp ở nàng cái hình tượng ấp ủ cho một nhân vật. Sắc đẹp của nàng, sự mù lòa của nàng, và thậm chí cả sự trong sáng của nàng đã tạo trong lòng ông nỗi xót xa đè lên hy vọng, vừa đau khổ vừa sung sướng. Mỗi sáng, ông đem tờ báo Hoa ngữ đọc cho Sương nghe. Ông đọc bằng cả tâm hồn mình, bằng những hình ảnh mà ông cố nặn lên để một người mù có thể cảm thông được. Điều đó đối với ông không dễ. Lắm khi, Sương sờ bàn tay xương xẩu của ông, mơ màng hỏi:
– Những lâu đài chú tả có lạnh như thế này không chú?
Lê Khắc lúng túng bảo, chắc là không, lâu đài nào cũng ấm cả, nỗi cơ hàn không có ở những nơi dư thừa ánh sáng. Có lẽ, cháu ạ, chỉ có bàn tay chú lạnh thôi.
Lê Khắc hỏi xin Nam một hộp đồ chơi sắp chữ của trẻ con. Ông dạy cho Sương cách nhận diện mặt chữ. Nàng thích thú với trò chơi mới, có vẻ như Sương đã tiếp xúc được với thế giới tràn đầy bí mật. Nàng đã đến gần hơn với cuộc sống, nàng đã nghe được tiếng thở dài của cuộc sống, tiếng trăn trở của những bước chân trần cô độc, nàng đoán ra được sự kèn cựa của cuộc đời, tiếng trở mình, tiếng rung chuyển của ngục tù, và thậm chí cả màu hư không của những giọt lệ lặng thinh. Nàng kể những điều đó cho người đàn bà ở chung mỗi tối, chị ta đi làm ngoài Hồng Kông về. Sương bảo:
– Bây giờ em đã hình dung ra cái cửa sắt màu gì, và chị đã đi tìm trong nắng vàng ra sao.
Đó là một người đàn bà tội nghiệp. Chị không bao giờ bảo Sương làm gì bên ngoài Hông Kông. Chị chỉ kể cho Sương nỗi buồn của chị. Chị có đứa con mười hai tuổi. Đứa con chị ở với ông bà ngoại khi chồng chị vào Nam lấy vợ bé. Chị được bà con cho đi vượt biên. Tới Hồng Kông rồi chị mới biết là bằng cách nào đó ông bà ngoại đã gửi đứa con đi theo chị trong một chuyến khác. Thành thử, chị hy vọng là con chị đang ở một trong những trại giam nào đấy. Chị không tài nào biết được. Chị phải đi làm gửi tiền về nuôi ông bà ngoại đứa trẻ. Chị kiên nhẫn đi làm. Chị kể Sương nghe trưa nào cũng đến trại giam Shamshuipo, ở đó có cánh cổng sắt màu đen, bên dưới có khoảng cách nhỏ vừa đủ kê khuôn mặt vào. Chị quỳ trên đất cứng, thò mặt vào nhìn vô trại. Những đứa trẻ đang chạy nhảy chửi thề trong sân đá. Chị cứ nhìn hoài như thế, hy vọng đứa con chị sẽ xuất hiện. Chị chỉ thôi nhìn khi gã A Xòe gác cổng đuổi chị đi. Chị không muốn tuyệt vọng. Đứa con chị đến sau ngày 16 tháng 6, thế nào nó cũng ở trong ấy, hoặc…đâu đấy. Chị đến trại buổi trưa, quì giữa trưa, và ra đi cũng giữa trưa, nắng đổ mồ hôi cay cả mắt, xé nát lòng người mẹ tả tơi.
Một sáng Sương bảo Lê Khắc:
– Chú coi thử cái này nghe.
Nàng giở tấm vải đậy trên sạp. Lê Khắc cảm động khi thấy Sương sắp tên ông ngay ngắn. Chữ L đỏ rực, chữ A xanh biếc hồn nhiên…không nghe Lê Khắc nói gì, Sương hỏi:
– Bộ cháu sắp trật rồi hở?
Ông cười khỏa lấp cảm xúc của mình:
– Cháu giỏi lắm. Đúng phom. Bây giờ chú sắp để cháu đoán thử nha.
Lê Khắc lấy hộp chữ. Sương lắng tai nghe ngóng âm thanh xì xạc của chữ cái đụng vào nhau.
– Nào, cháu biết chữ gì không?
Sương rờ rẫm cái chữ mới sắp bên cạnh tên “Lê Khắc”. Nàng lẩm nhẩm…reo lên:
– “Sương”! Đúng không nào.
Cả hai cười nắc nẻ. Tiếng cười bay lên những tàn phượng nở hoa vàng. Lê Khắc giở cuốn vở học trò, đọc trang đầu của một chuyện tình viết vội. Sương ngơ ngác:
– Chú viết về cháu đấy?
– Ừ, chuyện tình của cháu.
Sương bảo chắc gì đã là chuyện tình, cháu nghĩ…
Lê Khắc vén những sợi tóc trên trán nàng, nói:
– Cháu đã kể cho chú nghe anh ấy săn sóc cho cháu như thế thì hẳn phải có cái gì. Cháu không thích à?
– Không phải…Sương ngập ngừng bảo. Cháu không biết nữa, có thể… là gì đấy. Cháu không biết…
-…mặt mũi anh ta. Thế chú có biết chú ra làm sao đâu. Cần gì, cháu. Tình yêu không có hình tượng nào cả. Nó không có tên, nó là gì đấy như cháu nghĩ. Thế thôi.

Google images

Lê Khắc đọc tiếp. Chuyện tình của một cô gái mù trên đường vượt biển. Những cơn mưa lạnh. Những ngày gió chướng. Tiếng sóng. Lời thì thầm. Sự đói khổ…Họ tắm cho nhau trên biển vắng…
Sương khóc rưng rức. Giọng Lê Khắc như lá vàng rơi trên kỷ niệm. Người con gái bắt nhận ánh trăng tàn ảo mộng cháy tự đáy lòng. Chàng trai chỉ thấy đường chân trời. Thế giới của cô gái kỳ bí và diễm lệ, những lớp mây sâu thẳm trong ký ức. Họ lạc đến một hoang đảo. Chàng trai kiệt lực. Trước mắt anh, thế giới mù đục một màu sương. Lê Khắc nói:
– Cháu thích một đoạn kết không?
– Cháu không biết.
– Một chuyện tình đẹp thường không có đoạn kết, thế là toàn vẹn sự lãng mạn. Cháu biết không, người đi làm cách mạng và tình yêu đều cần lãng mạn để thánh hóa những điều tầm thường. Chú sẽ đi tìm hoàng tử cho cháu.
Sương nức nở:
– Thôi chú ạ. Cháu đã nghiệm ra hạnh phúc là điều không nên thấy. Cháu…đã có chú!
Lê Khắc chợt muốn ôm cô gái để hôn lên tâm hồn trong sáng những vì sao. Ông quệt ngón tay thấm nước mắt trên hai hàng mi dài máy động:
– Chú…sắp xa cháu rồi.
Sương ngồi im không nhúc nhích. Hơi thở của người đàn ông bỏng cả mặt. Nàng nói:
– Cháu biết sẽ có ngày ấy.
– Chú Tứ sắp đi rồi. Chú sẽ ra trình diện. Chú không ân hận vì đã gặp cháu trong những ngày đào thoát. Cháu đã thay đổi cả chương trình của chú.
– Cháu không hiểu.
– Chú đã nghĩ là sẽ làm cho các dân tộc yêu tự do sẽ nhìn lại những con người đang sống trong cõi chết. Và bây giờ chú thấy đó chỉ là một ý nghĩ lãng mạn mà thôi. Tiếng nói của chú đâu có lớn hơn một động cơ tám máy trên đường phố. Còn cháu, cháu sống trong thế giới mù lòa bằng cả lương tâm của thế giới. Lòng cháu sáng hơn mắt chú, Sương ạ.
– Cháu sẽ xin về.
– Đừng, ở nước ngoài các phương tiện vật chất tiên tiến sẽ làm cho mắt cháu sáng lại. Họ sẽ chữa mắt cháu.
– Chú đi đâu?
– Chú sẽ sống cuộc sống của đồng bào mình, còn cháu sẽ thấy ánh sáng tự do.
Sương không gượng được nữa, nàng ngã chúi đầu vào vai người đàn ông cô độc. Nàng lại mất một lần nữa, không ai muốn ở lại với nàng. Nàng đâu cần sống trong ánh sáng mà lại cô độc. Sự mù lòa chia sẻ vẫn quí hơn, vô ngần.
Dù đã được Nam bố trí cho Lê Khắc đến gặp một viên Cao ủy, Lê Khắc vẫn bị tống vào nhà giam Victoria. Trong nhà tù, ông gặp vài đồng hương phạm tội hình sự, ông gặp mặt trái của Hồng Kông. Có thể do sự can thiệp của viên Cao ủy, Lê Khắc không bị đánh đập gì. Rồi ông được đưa về trại Đầu Bạc, ở đó, ông gặp nhân vật người đàn ông trong chuyện tình viết vội của ông. Ông được Tứ vào thăm một ngày trước khi cha con Tứ qua trại chuyển tiếp ở Phi Luật Tân. Sương vẫn chưa được nước nào nhận. Tứ bảo ông tặng Sương tất cả những bức tranh không bán được, dạy cho nàng cách rờ tranh để nhận màu.

Google images

Tháng lương đầu tiên mà Lê Khắc nhận nhờ được tuyển làm giáo viên là một trăm hai chục đồng Hồng Kông. Ông đưa cả cho Phương nhờ mua hộp chữ. Khi biết ý định của Lê Khắc, Phương bảo:
– Tôi sẽ mua cho chú. Chú cứ giữ tiền phòng khi cần.
Lê Khắc xúc động. Cuộc đời không tệ như ông tưởng. Ở hoàn cảnh nào cũng có những trái tim bác ái. Ông bảo Phương:
– Chị cứ cầm hộ tôi. Nếu không dùng thì nhờ anh Nam trao hộ cho cô ấy. Tôi ăn cơm Cao ủy cần gì tiền.
Lá thư đầu tiên ông gửi cho Sương to như một hộp quà. Lê Khắc sắp chữ, xin băng keo dán lại. Ông ngạc nhiên khi thư trả lời của Sương không phải là “hộp quà” mà là trên giấy trắng mực xanh đoàng hoàng. Thì ra Sương đọc nhờ Nam viết hộ. Sương viết:
“Chú xa nhớ!
Từ ngày chú đi cháu không biết phải làm gì cho hết ngày. Cháu sờ những bức tranh của chú Tứ. Chú ấy bảo tranh chú dầy sơn dù lúc nào chú ấy cũng thiếu tiền để mua sơn, có thể bề dầy của không gian và thời gian – chú Tứ bảo đấy nhé – mới thấm nhập vào hồn người thưởng lãm. Chú ấy bắt cháu để tay lên màu đen cho đến chừng nào màu đen thấm vào từng tế bào não của cháu. Rồi lại để tay lên màu xanh cho đến chừng nào cháu “thấy” được màu trời lồng lộng. Chú ấy lại bảo cháu hãy bắt lấy màu đỏ cho đến khi cháu cảm thấy dòng máu mình chảy đẫm lòng bàn tay. Thế đấy, cháu đã thấy được những cuộn sóng hung hãn xô đẩy trên xác những thi thể lõa lồ của người con gái trong một hoàng hôn nhuộm máu đỏ. Chú ạ, cháu đã hiểu tại sao chú Tứ lại bắt cháu học nhận màu đen đầu tiên trong bài học đầu tiên chú ấy dạy. Toàn bộ tranh của chú ấy bị màu đen ngự trị chú ạ (có phải chú Tứ muốn nói về cháu). Cả biển cũng màu đen chú Khắc ạ. Thỉnh thoảng lắm cháu mới “thấy” một màu xanh lẻ loi. Cháu kiểm tra với anh Nam thì anh ấy bảo màu xanh của chú Tứ là màu xanh của rừng cây đã trút hết lá. Nghĩa là màu xanh tuyệt vọng, màu xanh chết! Sao cuộc đời buồn thế chú? Có khi cháu không muốn “xem” tranh nữa. Nếu như thế giới này chỉ toàn màu đen như thế thì cháu sáng mắt để làm gì. Thà đui mù như cháu còn hơn.
Cháu viết dài sợ phiền anh Nam quá. Chú cảm ơn anh ấy hộ cháu nhé. Chú thấy không, ở đâu cũng có người tốt như chú vậy. Chú ráng phấn đấu để qua thanh lọc nhé. Chừng ấy, chú cháu mình lại gặp nhau.
Có tìm gặp bố cháu ở đâu không?”
Dưới bức thư có chữ Sương nguệch ngoạc. Lê Khắc run rẩy vì cảm động. Ông có cảm tưởng sự bức xúc trong lòng khiến ông muốn đạp hàng rào để phóng đi tìm Sương. Ông hiểu những điều Sương muốn nói về tranh của Tứ. Màu đã chọn , đã ở sẵn trên khung vải trước khi Tứ nhúng cọ vào. Tứ đã dùng cái hữu hạn của kinh nghiệm sống để thể hiện cái vô cùng của tâm thức lưu đày. Ở một lúc nào đó, tranh của Tứ bị gò bó trong hình tượng cuộc sống. Lê Khắc đã bảo Tứ phải đập nát con đê hữu hình kia đi, để nước loạn, là Tứ, vỡ tràn trên khung vải, chảy ra trăm nghìn ngả, không lối, không đường, không biên giới, biên cương, thể hiện cái cuồng loạn của tâm tư, của ý thức, bất chấp lề luật, bất chấp kỷ cương, ấy là đi gần đến ngã, không màu, không sắc, không hình tượng. Cuộc đời nó thế, sống trong cái hữu hình mà vượt lên với vô hình. Một họa sĩ tài ba cũng phải thế, không bị tràn ngập bởi màu sơn, cũng không chọn màu sắc mà cứ cầm cọ vung lên khung vải, như càng cây đâm vào hư không có theo một hình hướng nào đâu.
Sau ngày lên tiếp kiến thanh lọc, Lê Khắc lại nhận được một bức thư khác của Sương. Ông biết mình sẽ nhận “cánh gà” trong buổi sơ ngộ với Cục Di Dân. Khuôn mặt người phỏng vấn nhìn ông ác cảm ngay từ đầu. Tướng Lê Khắc không phải dễ nhìn. Trán vồ, hai lỗ mũi to hếch lên trời như hai ống thổi lửa, cái cằm bạnh dữ tợn. Lê Khắc biết thế. Ông đọc đi đọc lại thư Sương để vơi buồn bực trong lòng.
“Chú Khắc xa nhớ!
Cháu nhận được thư chú rồi. Anh Nam đọc cho cháu nghe. Cháu mừng lắm. Cháu biết là chú không quên con bé tàn tật nầy mà. Có thế chứ.
Cháu đã sờ đến bức tranh thứ tám, bức cuối cùng đấy, của chú Tứ. Bây giờ cháu đã hiểu tại sao khi đưa bức này cho cháu, chú Tứ bảo: “Chú tặng bạn chú bức tranh vô hình này, chờ bạn chú ra khỏi cõi hữu hình mà lấy”. Chú Tứ tặng chú đấy, chú biết không?

Google images

Cháu sờ mãi mà không tìm được hình tượng nào cụ thể của bức tranh chú ạ. Nó cứ bàng bạc làm sao ấy. Đến cả anh Nam cũng chịu, không đoán ra. Dường như chú ấy vẽ một cơn mộng, cơn mộng mỏng như khói sương vậy đó. Toàn bộ bức tranh là màu trắng, màu xám, màu lá xanh, toàn là màu lạnh thôi chú ạ. Nó là sự trăn trở, thao thức, ước vọng và thậm chí cả dục vọng nữa. Một cái gì không thể nắm bắt được mà rất thực, rất cụ thể, rất người.
Cháu không hiểu đâu. Cháu để cất bức này cho chú đấy. Anh Nam hỏi mua một bức nhưng cháu nhất quyết không lấy tiền. Mình mang ơn không hết, phải không chú.
Chú đã đi tiếp kiến chưa? Ở Kai Tak có mấy người ở trại chú vừa được ra tự do đấy. Cháu có hỏi thăm chú nhưng không ai biết cả. Chú có khỏe không? Ráng phấn đấu công tác tốt chú nhé. Nhớ viết thư cho cháu, kể cho cháu nghe cuộc sống, tâm tư tình cảm của chú đi.
Có tìm gặp bố cháu ở đâu không?”
Dưới bức thư lại ký chữ “Sương” nguệch ngoạc. Lê Khắc muốn ứa nước mắt. Ông đã không làm được một điều gì cho Sương. Có lẽ bố nàng đã mãn số, đã đến một cõi vô hình mà ông thường nói. Ông thất thểu đi trong trại, thấy Hải đứng bên Hà nơi hàng rào phía biển. Nhân vật của ông đã làm nên cuộc tình mới, đã…xong!
Ông nhớ Sương quằn quại, nửa đêm rên rỉ một mình. Ông đã quyết định cho ông một đời sống khác. Hôm cảnh sát tấn công trại bắt những người biểu tình chống cưỡng bách hồi hương, mắt ông cay xè, đỏ ngầu vì đau khổ, vì những quả lựu đạn cay cảnh sát bắn vào trại. Trong tiếng kêu thảng thốt của đàn bà, tiếng rên khóc của trẻ con sợ hãi, tiếng chân chạy hỗn loạn và màu đục mờ của khói lửa. Lê Khắc viết bản kháng cáo.
Ông ghi tiêu đề: Kháng Cáo Của Một Thuyền Nhân Đến Muộn.










Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessnger.com

Thái Lãng

Post by Sơn râu 11 May 2024

24. Hai Bên Sông

Tôi hẹn Thư bốn giờ ở bến đò sang bên kia sông, bốn giờ hơn Thư lại. Bầu trời lúc đó cao và trong, không có nắng, gió thổi mạnh. Thư đứng ở bên kia đường đợi cho những xe đi qua. Quần áo và tóc nàng thổi lật ra sau. Trông Thư như đang đứng trên một cái bè ngược gió. Xe vẫn còn đông, Thư vẫn còn đứng đấy, những người đàn ông ngồi trên xe khi qua mặt nàng đều quay đầu lại. Một lúc sau Thư sang, dáng đi còn trẻ. Tôi nghĩ, Thư còn trẻ lắm.

– Anh đợi lâu chưa? Em có thể đến đúng giờ hay sớm hơn nhưng em vẫn muốn đến thật trễ để anh đợi.

– …….

– Có phải lúc chờ đợi như thế anh đã nghĩ trọn vẹn đến em không?

– ……..

Tôi lấy thuốc ra hút, Thư không nói gì thêm. Nàng đứng cạnh tôi, nắm một tay tôi, chúng tôi nhìn thẳng sang bên kia sông đợi chuyến phà. Nước sông đục và bẩn hình như đang rút đi. Những chiếc thuyền nan và những ngọn sóng nhỏ, những tàu chiến và những con chim, tất cả xa lạ nhau và tất cả làm tôi không thích.

Phà đến, tôi đỡ một tay để Thư bước lên, rồi dắt nàng ra đứng ở lan can phía cuối. Thư tỳ tay nhìn ra ngoài sông. Nàng bắt đầu nói đến những kỷ niệm có thuyền bè sông nước mà nàng cho là đẹp. Tôi nghe lơ đãng và không trả lời. Em đâu phải chạy loạn, em đâu phải tản cư, còn tôi, mới ba tuổi đã phải bám chặt lấy đầu gối mẹ ngồi chen chúc trên một cái bè, nước chảy cuộn như thác đổ và chúng nó ở trên đê bắn xuống như điên. Những tràng liên thanh, những tiếng rú, mẹ tôi run cầm cập còn tôi khóc thét lên. Em đâu biết súng “tắc-boọp” là gì, em hơn tuổi tôi nhưng em còn trẻ lắm. Những tiếng súng đâu có đến tai em hồi nhỏ, những kỳ thi đâu có dằn vặt em khi lớn lên và bây giờ, cuộc sống vẫn chiều đãi em. Còn tôi, chiến tranh thi cử học hành và cuộc sống lúc nào cũng vây lấy tôi, phủ kín tôi, bóp nghẹt tôi…làm tôi khổ. Thư nắm chặt tay tôi lắc nhẹ.

– Nghĩ gì thế anh?

Tôi hất đầu ra trước, nàng nhìn theo về phía người đàn ông đang há mồm nghe vọng cổ từ cái radio cắp ở tay. Thư nhìn thật lâu rồi không hiểu sao nàng cười thành tiếng. Người đàn ông cũng quay lại phía chúng tôi toác miệng cười theo, rồi Thư cười to hơn nữa. Tôi không thấy gì lạ, mồm hắn méo mó đầy răng vàng thế thôi. Họ sung sướng nên dễ cười thật.

Phà ghé bến, tôi dắt Thư bước lên cầu, những người phu xe chạy đến mời chào rối rít. Thư mở ví lấy tiền cho ăn mày, tôi không nói gì. Ngày trước tôi ghét kẻ ăn xin và ghét luôn cả những người cho tiền họ, tôi theo sách vở để nói cho ăn mày là sỉ nhục họ. Sỉ nhục cái gì? Bây giờ tôi nghĩ khác. Họ nghèo khổ quá, tàn tật quá, cuộc sống lại xô đẩy và thờ ơ với họ như thế, biết làm sao?

Chúng tôi đi thẳng vào con đường lớn. Khung cảnh này, những căn nhà lá xiêu vẹo, những cây dừa ngả nghiêng, những đứa trẻ rách rưới, những chiếc xe lôi và những bãi cứt trâu cùng những cặp mắt giương to làm tôi thấy mình bị lạc. Quần áo và khuôn mặt chúng tôi không hòa được vào đây. Chúng tôi cứ đi, đi mãi qua một cổng lớn có chòi canh và người lính áo đen ôm súng gác. Cánh cổng mở rộng. Tôi đưa Thư vào con đường mòn nhỏ hẹp, hai bên là ruộng. Gió thổi mạnh, mùi lúa non đưa lên, tất cả đều êm ả.

Thư ngồi xuống bãi cỏ nhìn ra ngoài sông. Tôi lấy thuốc hút và đi thật chậm xung quanh nàng. Những cây xấu hổ nằm rạp dưới chân, có tiếng Thư gọi lướt đi trong gió.

– Lại đây, lại đây với em.

Tôi chống một tay nằm xuống cạnh Thư. Gió thổi từ phía nàng sang tôi, mùi thơm da thịt lẫn vào cỏ làm tôi ngây ngất. Thư nói một câu gì thật nhỏ. Tôi nhìn sát mặt nàng, môi hở ra và răng sáng lấp lánh ở trong, gió thổi tóc bay dạt một bên. Tự nhiên tôi thấy yêu khuôn mặt đó. Tôi ngồi dậy gỡ nhẹ tóc nàng, tôi ôm chặt đầu nàng. Chúng tôi hôn nhau. Thư choàng tay qua vai tôi, những ngón mềm vuốt nhẹ vào gáy vào tóc vào lưng. Tất cả nhột nhạt thôi thúc. Sức nặng tôi đổ dồn về phía trước, thân thể nàng ngả theo, toàn thân tôi trườn mãi trên hơi thở dồn dập của Thư. Rồi Thư ghì chặt lấy tôi, cả hai rùng mình. Tôi thấy môi nàng chợt lạnh và dọc theo lưng tôi cũng lạnh toát rồi tan dần. Tôi rời khỏi môi Thư, úp mặt xuống tóc nàng. Thư vẫn nằm yên, hình như mắt nàng mở lớn nhưng không nhìn gì cả. Thư nói:

– Như vừa ngủ dậy, phải không anh?

– Ừ, như vừa ngủ dậy.

Tôi quay lại chống một tay qua người Thư, mắt nàng vẫn mở lớn nhưng không nhìn gì cả. Trời không nắng, mây xuống thấp dần, gió thổi mạnh hơn, khuôn mặt Thư bằng phẳng yên lặng. Tôi nhìn thật kỹ vào môi vào mắt, vào những chuyển động lên xuống trên ngực nàng. Hình như Thư nói một câu gì thật nhỏ và hình như đã có hạt mưa. Tôi cúi vội xuống, chúng tôi lại hôn nhau, hôn nhau mãi trong cơn mưa.

Tôi dắt Thư chạy theo bờ ruộng, nhảy qua mấy cái lạch nhỏ để vào một ngôi nhà chòi chất đầy rơm. Hơi ẩm mốc xông lên hăng hắc. Tôi lấy thuốc hút và Thư lấy lược chải đầu. Tôi quay sang thổi khói thuốc vào đầy tóc nàng. Thư lắc đầu cười. Mưa vẫn lớn, trời tối dần. Một ông lão vác cuốc chạy vào chòi, theo sau là đứa nhỏ. Họ rét run. Đứa bé hai tay ôm ngực đứng chúi vào đống rơm như một con gà ướt. Ông lão vứt cuốc xuống chân moi thuốc ra cuốn. Thuốc ướt, giấy ẩm, tay run cuốn không được. Tôi không còn điếu nào để biếu ông ta. Tôi nhìn qua vai Thư để thấy hai bàn tay run cầm cập, những ngón tay khô cằn vụng dại, chiếc quần cụt sủng nước, hai cẳng chân gầy, hai đầu gối nhăn nheo đập vào nhau. Tôi thấy họ khổ, tôi thấy cuộc sống này khổ, sắp hết cuộc đời còn phải vác cuốc ra đồng, vẫn phải lội ruộng vẫn phải dầm mưa. Những công lao ông đã làm từ hồi còn trẻ còn khỏe bây giờ để đâu? Hay suốt mấy chục năm qua cuộc sống kéo dài, ngày nào làm đủ ăn ngày đó, không bao giờ thừa để bây giờ vẫn thế. Những buổi họp, những hoan hô, những đả đảo có giúp được gì cho cuộc sống này không? Tôi không biết, thật tôi không biết. Và tôi nghĩ lại những ngày học qua, những triết thuyết, những chứng minh giải thích, những con số, những danh từ thật quả chẳng ăn nhằm gì đến cuộc sống này, hay có chăng, còn xa lắm. Bao nhiêu năm nay không thay đổi và có thể còn tiếp tục kéo dài mãi nữa. Đói và khổ. Mỗi người chỉ đủ lo cho mình, lo suốt đời. Tôi cũng thế, thật nản. Ông lão đã cuốn xong điếu thuốc từ lúc nào, hơi khói ấm và khét tạt sang phía chúng tôi. Tôi thấy Thư thở dài.

Trời tối hẳn, mưa dứt, chúng tôi trở về con đường cũ, không ai nói với ai. Hết cánh đồng, qua cổng lớn. Những căn nhà lá hai bên lại hiện ra với ánh đèn dầu yếu ớt. Cuộc sống nhuộm toàn đen nham nhở. Buổi tối hết phà, tôi thuê một thuyền máy sang sông. Bên kia đèn sáng quá, những ống néon xanh đỏ lập lòe trên nóc nhà cao, những mui xe bóng loáng lướt đều. Lên đến bến tôi chợt nghe tiếng hát rú lên cuồng dại cùng tiếng nhạc trong phòng trà góc bên kia. Tôi vẫy một taxi mở cửa cho Thư vào. Nàng có vẻ buồn. Xe chạy tới nhưng ngừng lại ngay. Thư nói vọng ra:

– Vào đây ngồi với em một quãng.

Tôi vào, xe chạy qua khu phố đông. Tôi thấy nhiều quán rượu có tiếng nhạc ồn ào, có tiếng cười tiếng nói ngoại quốc và tiếng rú con gái Việt Nam.

– Tại sao anh chẳng nói gì với em?

Tôi cũng thấy nhiều bích chương biểu ngữ hoan hô đả đảo, những bích chương dán bên tường quán rượu, và biểu ngữ dăng ngang đường xe đi!

– Suốt buổi đi chơi anh chỉ nói với em vài tiếng. Em không chịu nổi đâu, chiều hôm nay chẳng thấy vui gì cả.

Tôi quàng tay qua vai Thư, đếm nhẩm những biểu ngữ trên đầu.

– Tại sao thế anh? Tại sao anh chẳng nói, anh đổi khác làm em sợ.

– Có gì đâu, có gì để nói nữa đâu. Tại sao em thấy anh đổi khác?

Tôi quay sang hôn nhẹ môi nàng và bảo người tài xế ngừng, Thư như muốn nói điều gì nhưng không kịp nữa. Tôi mở cửa xe rồi xuống thật nhanh

Buổi tối vừa tạnh mưa, phố đông và sạch. Tôi ra bến đợi xe buýt về nhà. Như thế là hết một buổi chiều rồi đấy, còn buổi tối thì sao? Đã bao lâu nay, tôi sống dật dờ trống loãng. Tôi không thể học nhưng cũng không thể lao đầu vào bất cứ việc gì. Tôi chỉ có được những ý nghĩ xuông, đúng thế, trong bao năm học hành chỉ cho tôi những ý nghĩ xuông. Và rồi những ngày lại cứ qua đi trống loãng. Xe buýt tới, tôi định lên nhưng đã thấy Tiến bước xuống gọi tôi.

Chúng tôi lại vào một quán nước có nhạc. Bóng tối và nhạc twist buồn thê thảm. Tôi gọi bia và muốn uống thật say.

– Tao về phép được tám ngày, còn mày thì sao?

– Vẫn thế.

– Phải đi xa mới thấy nhớ thành phố này.

– . . . . . . . . . . . .

– Trông mày xìu quá, chán bỏ mẹ.

– Tao nản.

– Thi trượt à?

– Không.

– Trường Luật độ này ra sao?

– Cũng thế!

– Có đi lính mới nhớ thời rong chơi.

– Tao rong chơi quá nên ngán quá rồi.

– Thì chui vào lính.

– Chui vào lính thì quá dễ rồi, nhưng tao muốn một cái gì khác.

– Thì ra ngoài kia.

– Chỉ có hai cách đó thôi sao?

– Đúng rồi, chỉ có hai cách đó.

– Tao không tin.

– Mày không tin nên mày cứ xìu mãi, chán bỏ mẹ. Với tao thì giản dị lắm, tao dễ tin những cái gì có thật, mà hiện thời chiến tranh có thật, nên chỉ có một cách là chui vào đấy, hoặc cho bên này hay bên kia, còn ngoài ra vô ích cả.

– Thôi uống đi, mày nói nhiều bỏ mẹ.

– Còn mày trông xìu bỏ mẹ.

Vỏ chai đã xếp đầy bàn. Chất đắng thấm vào người, hơi nóng bốc lên. Một lúc sao tôi thấy đầu nặng, những mạch máu hai bên thái dương căng lên giựt mạnh. Hình như Tiến lại nói về những chuyến trực thăng, những đụng độ và đàn bà. Tôi không còn nghe rõ được gì nữa, đầu tôi nặng như muốn rơi xuống mặt bàn, tôi cố giữ nhưng không được. Nó cứ rơi. Tôi thấy Tiến kéo tôi dậy, lôi tôi đi. Rồi những giòng nước lạnh dội xuống đầu xuống gáy xuống lưng. Tiến lại lôi tôi ra và có tiếng hắn gọi nước chanh. Tôi dựa lưng vào thành ghế duỗi thẳng tay chân. Mệt quá, mọi vật lơ mơ quá. Tôi ngủ thiếp đi. Rồi Tiến lại lay người tôi dậy, hắn cười bằng một giọng khàn. Tôi thấy tỉnh dần.

– Cậu xìu quá, chán bỏ mẹ.

Tôi theo Tiến ra khỏi quán, hắn gọi một xích lô và nhét tôi vào đấy. Chiếc xe lăn đi mệt nhọc. Tôi đã tỉnh hẳn rồi. Ông già đạp xe và ông lão trú mưa cũng chẳng khác gì nhau. Tuổi gầy sức yếu, thân thể còm mà kế sinh nhai chỉ có hai bàn chân với bắp thịt nhão. Tôi không thể nhìn ông ta lâu, không thể nghe mãi ông phàn nàn. Cho tôi xuống, xuống ngay tại đây. Tôi phải trốn, trốn vào đâu cho quên cảnh nghèo, quên đói khổ ở xung quanh.

Tôi rẽ sang một con đường vắng. Những bóng cây đổ xuống mặt đường như những lỗ huyệt. Tôi đi lần vào từng lỗ huyệt một. Tôi muốn nghĩ đến Thư, đến một cuốn phim, hay đến bất cứ truyện nào nhưng đừng có cảnh nghèo đừng có tiếng súng đừng có bom nổ đừng có tản cư. Tôi cố gắng nhưng không được, chỉ có Thư nhòa vào ông lão trú mưa, Tiến hiện ra trong tiếng súng, tiếng mìn và Mẹ tôi với cái bè vượt nước. Rồi xe hơi, đèn dầu, cứt trâu, biểu ngữ, tiếng hát, tiếng cười, tiếng máy trực thăng, những cái hôn, những cái chết. Tất cả hiện ra lộn xộn đằng sau mắt tôi. Tôi nhìn xuống mặt đường, bóng tôi đổ dài mãi ra rồi ngắn lại mất hút. Tôi đi vào ngõ tối, tôi đi vào xóm nghèo mà ngay đầu ngõ có biểu ngữ hoan hô, mà ngay vách lá cũng có bích chương đả đảo.

Tất cả như thế và tất cả cứ như thế mãi sao?

THÁI LÃNG

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

 Sơn Nam

Post by Sơn râu 11 May 2024

23. Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư

– Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?

Thầy xã trưởng đáp:

– Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Ðể tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó tới công sở…

Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình.

– Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quý độc giả thân mến gần xa.

Thầy xã hỏi:

– Phái viên là gì vậy thầy?

– Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.

– À! Bây giờ tôi mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền của nhà báo hả? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở lãnh báo, đúng bảy bữa là có mặt nó. Nghèo không biết thân lại còn bày đặt làm sang mua báo không trả tiền!

Thầy phái viên cố nén sự bực tức khi nghe người độc giả thân mến của mình bị thầy xã khinh khi; thầy hút thuốc suy nghĩ rồi lại hơi buồn buồn mà nhớ đến sự thất bại về tài chánh.

Ông độc giả Trần Văn Có thiếu sáu tháng tiền báo tức là hai đồng sáu cắc rưỡi. Từ chợ Rạch Giá vô đây, thầy đã tốn gần ba cắc rưỡi tiền tàu, tiền thuốc hút. Chuyến về lại phải xuất thêm ba cắc nữa… Ông độc giả nghèo nàn này chắc gì trả được một đồng trong số tiền thiếu chịu nhà báo!

Nhưng đã tới đây rồi mà trở về thì uổng cuộc viễn du Hậu Giang này quá! Thầy phái viên quyết tình binh vực thể diện của người độc giả nọ:

– Không phải tôi đi đòi tiền! Tôi đi dò hỏi ý kiến bạn đọc đối với tờ báo. Tiền bạc là quý… Nhưng ý kiến của bạn đọc lại quý hơn. Ðộc giả ở tới đâu, chúng tôi đi tới đó.

Sau vài phút đi tới đi lui, thầy xã gất đầu:

– Ðược. Ðể tôi biểu thằng “Trạo” chèo tam bản đưa thầy. Thầy nên dè chừng. Tên Trần Văn Có nói mười, thầy tin một là vừa. Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít Le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tàu…

Thầy phái viên tò mò:

– Vậy thì ông độc giả của chúng tôi rành chử nho?

– Ai biết rõ được. Anh ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là ngươì Thừa Cung gì đó… chăn heo; ông quan đại thần Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ…

Thầy phái viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít:

– Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy? Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ! Ừ!

Bực mình quá chừng, thầy xã nghĩ: “Ông phái viên này kêu mình bằng thầy mà lại tưng bốc kêu Tư Có bằng ông. Hay là ổng chê mình không dám xuất tiền mua báo như Tư Có. Chừng bận về, mình mua vài năm báo chơi cho biết mắt”.

Thầy xã hối thúc cho chú trạo sửa soạn quai chèo đưa thầy phái viên đến ấp Cà Bây Ngọp. Thầy phái viên cám ơn một tiếng nhỏ rồi cúi đầu xuống nói rù rì như xa như gần, trong cuống họng:

– Ờ! Ðể coi các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mắt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ vẹo bên kia, múa chân múa tay, mồm nói lảm nhảm… Lũ trẻ theo sau reo cười chế nhạo… Ðúng vậy, QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ lớp sơ đẳng, Việt Nam Tiểu học tùng thư… Sách náy do Nha Học Chính đã giao cho ông Trần Trọng Kim, ông Ðặng Ðình Phúc và ông Ðỗ Thận soạn… Eo ơi! Cái buổi thơ ấy đó nay còn đau.

Ðường đi ấp Cà Bây Ngọp quá xa vời! Chiếc tam bản nhún xuống một cái “ồ” rồi nhảy tới một cái “sạt” theo nhịp chèo hai chèo. Nắng chang chang rắc vàng trên thảm cỏ hoang xanh ngắt. Vài nhánh bình bát gie ra, quất vào bụi sột soạt. Xế chiều, cò trắng phất cờ như đón người khách lạ. Trích, cúm núm kêu ré lên. Con rạch thâu hẹp lại. Chiếc tam bản lắc nghiêng như trái dừa khô trên mặt nước đầu sóng gió. Ánh trạo chèo một chèo, nghiêng mình bên hữu. Rồi bỗng nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên đất khô bên bờ rạch. Chiếc tam bản lại lướt nhanh trong lòng nước quá hẹp, vừa đủ lọt bề ngang.

Anh trạo mỉm cười:

– Chèo như vậy đi lẹ hơn. Mọi lần mùa hạn, nước cạn queo, dưới sông đầy bùn non, tôi cưỡi trâu trên bờ mà kéo. Chiếc tam bản đi như cộ kéo lúa…

– Chú trạo biết rành nhà Từ Có không?

– Dạ, biết. Tư Có ở một mình, nuôi heo, giăng câu, ăn ong, nghe nói y ở xứ Vãng Long xuống đây tính bề dạy học mà xin phép chưa được…

Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”. Anh trạo đã về, Tư Có kềm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đò. Thếp đèn dầu cá kéo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mànhlưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.

Tư Có bỏ mùng xuống, chun vô tấn ba phía rồi mời:

– Thầy Hai vô trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngoài muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.

Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chun lẹ vào ngồi kế bên:

– Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hoài sanh bịnh chết.

Tư Có đáp:

– Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.

Thầy phái viên trố mắt:

– Vậy à? Còn mấy làng khác?

– Ðông Thái, Ðông Hoà, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông… không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi…

– Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi… Báo có thích hợp không anh Tư?

– Nói chí tình, đó là của người bà con ở Sài Gòn “đăng” dùm tôi, ban đầu tưởng nói chơi dè đâu nhà báo gởi xuống thiệt, xem cũng đỡ buồn. Phần nhiều bài vở của mấy ông viết cao quá. Tôi thường đọc cái trương Văn Uyển, có bài thơ bát cú vủa cô Bích Lý vịnh cảnh sông Hương. Hay quá lẽ! về sau, ông Trần Bất Diệt ở Cầu Kè họa vận…

Thầy phái viên gật đầu, ừ lấy lệ, thật ra hồi nào tới giờ đi cổ động cho báo Chim Trời mà ít khi thầy đọc kỹ báo nhà. Tư Có hỏi tiếp:

– Nhà báo Chim Trời đông người không thầy? Chắc là lớn lắm? Làm sao mà thành chữ được.

– Có thợ chuyên môn ráp từ chữ a, chữ b.

– Trời thần ơi! Biết tới chừng nào mới xong, chắc là thợ đông lắm… Còn mấy ông chủ nhiệm, chủ bút, phóng viên… Chắc làm việc rần rộ ngày đêm.

thầy phái viên sực nhớ đến tình trạng loe hoe của toà soạn, gật đầu lần nữa.

– Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, từ cứ. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

– Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách tòn ten bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

– Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

– Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy…

– Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá… Người du lịch mới trả lời: ở chống quê hương… từ cái bụi tre ở xó vường cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan… Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

– Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ… Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

– Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượng trên đám cỏ…

Rồi thầy kéo qua những đoạn khác mà thầy nhớ:

– Hay quá! Nhà báo bây giờ không ai bằng. Văn chương như vậy là cảm động lòng người… Như cái hình ông già đẩy xe bò lên dốc, có hai đứa học trò kéo dây tiếp sức. Trời nắng to. Ðường thì dốc. Một ông lão đẩy cái xe lợn. Trên xe có ba bốn con lợn to, chân trói bụng phơi và mồm kêu eng éc…

Tư Có vỗ trán:

– Còn ông già khuân tảng đá nữa, thấy mà thương: Trời nhá nhem, chạng vạng tối, tôi thấy một ông cụ già hì hục khuân tảng đá. Ông cụ nhắc lên để xuống đến bốn năm lần mới đem được từ giữa đường đến chỗ bụi cây mà bỏ đấy… Lão đi lỡ vấp phải tảng đá này, sầy cả chân đau lắm nên khuân bỏ vào đây, sợ có người vấp nữa chăng.

Thầy phái viên lại không chịu rằng mình kém trí nhớ:

– Ngang hình ông già đó, trương phía tay trái có bài chọn bạn mà chơi, thói thường gần mực thì đen. Cha chỉ ngón tay, con đứng khoanh tay cúi đầu mà nghe. Dưới chót lại có hàng chữ: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.

Tu Có gất đầu:

– Ðó là ngụ ý răn he gương tốt thói xấu. Phải siêng năng như Sửu chăm học, ngồi bên đèn mà đọc sách; đừng lười biếng như thằng Bình đánh vòng. Phải bền chí học hành. Ờ thầy phái viên chắc nhớ cái hình con kiến tha mồi! Văn chương nghe như đờn Nam Xuân: Nước mềm, đá rắn thế mà nước chảy mãi đá cũng phải mòn. Sợi dây nhỏ, cây gỗ lớn, vậy và dây cưa mãi cũng đứt. Con kiến nhỏ, cái tổ to, thế mà kiến tha lâu cũng đầy tổ. Người ta cũng vậy…

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim. Tuổi của họ đã quá ba mươi! Nước chảy mãi mà sao đá không thấy mòn? Sợi dây cưa mãi, gỗ chưa đứt mà sợi dây sắp đứt trước. Sự nghiệp của họ nào đã có gì: Kẻ mến cái thú ở nhà quê, người lận đận với cái thú ở kẻ chợ.

Nằm mãi không ngủ được, thầy phái viên lắng nghe những tiếng động trong nhà, giữa tiếng mọt nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa võng, bất chấp tiếng chuột chạy sột soạt và nhất là tiếng muỗi rừng lộng hành kêu vo vo, thầy mơ lại những ngày năm nay tôi lên bảy, tôi đã lớn, tôi không… lêu lổng nữa. Còn đâu mùi hương của những quyển sách mới bao bìa kỹ lưỡng nhưng vài ngày sau đã rách bìa! Làm sao nghe được tiếng phập phồng trong ngực của đứa bé khi trời mưa to, đi học trễ, run rẩy bước vào trường rồi cổi áo phơi ngay trong lớp… Ðây, thầy giáo mặc đồ bà ba, lâu lâu bước ra khỏi lớp để chào hỏi khi thầy xã, thầy cai tổng đi ngang qua. Một đôi lúc, thầy giáo quá cay nghiệt đã dùng thước đánh vào những đầu ngón tay non yếu, hoặc hươi cây thước bảng…

Dầu sao đi nữa, những kỷ niệm xa xưa vẫn vui, vui như một lũ học trò giành nhau chụp cho được cây dùi trống, đánh thùng thùng báo hiệu giờ vào lớp.

Giọng Tư Có nói nhỏ:

– Ngủ chưa, thầy phái viên?

Thầy phái viên yên lặng, trời mới mưa, các chỗ trũng đầy nước cả nên cóc và nhái kêu ính ỏi. Vài giọt mưa rớt nhẹ xuống đất… Và rơi trên rạch Cà Bây Ngọp trước nhà. Hồi năm nào, thầy là giọt nước trong lành đó, bây giờ nó đã trôi xa, ra sông, chứa đựng rác rến, chảy hăng ra biển. Ừ, hoạ chăng đó là con đường hiệu quả nhất là được sớm bốc thành hơi, đầu thai trở lại nguồn… Nghĩ vậy, thầy khoan khái mỉm cười ngồi dậy hỏi:

– Ngủ chưa anh Tư?

– Chưa!

– Tôi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.

Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:

– Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi… Chắc thầy tới đây thâu tiền.

– Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau…

– Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.

– Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tính không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hoài hoài cho tới số chót.

Chú Tư Có vô cùng cảm động:

– Thôi thầy ngủ lấy sức để mai về bình yên. Khuya nghe chồn cáo cộc kêu, thầy đừng giựt mình: Ở đây miệt rừng, không có… xa xa thì nghe tiếng chó sũa trăng.

Thầy phái viên cười dòn, tưởng tượng cái cảnh biệt ly ngày mai “Ôi! Cái cảnh biệt ly ở xóm Cà Bây Ngọp sao mà buồn vậy!” Vĩnh biệt thì đúng hơn. Nghe nó buồn như một giọng hò, một câu rao Vọng Cổ, nhưng thầy chưa muốn nói ra, giờ này.

SƠN NAM

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 11 May 2024

22. Tặng Phẩm Của Dòng Sông

Nó mắc lại ở bờ sông. Sợi dây thừng xỏ mũi vư­ớng phải cái cột tre. Sóng nước đưa nó đi vòng quanh cho đến lúc nó dính cứng lấy cây cột. Bây giờ thì nó nổi lều bều và đen thui như một cái đụn nhỏ. Đấy là xác của một con trâu. Một con trâu chết tr­ương trong lòng nước. Một con trâu nào đó, ở vùng nào đó, đã chết trong một trận giao tranh nào đó trong cuộc chiến vốn đang kéo dài mệt mỏi này. Xác con trâu có vẻ đã trôi qua một chặng đường dài. Những cọng rác cuốn theo đã kết lại, bám ở cổ, ở bụng, ở sừng. Bùn lẫn đất phù sa bắt đầu tạo thành ngấn ở làn da bụng chỗ mấp mé mí nước.

Ng­ười ta trông thấy nó từ sáng sớm. Thoạt đầu là lão Quới đi câu tôm. Lão quan sát nó kỹ càng rồi nhún vai bỏ đi. Xác con trâu trương làm lão nhớ đến  những xác người cũng trương to như thế rải rác trên cánh đồng. Mùi tanh t­ưởi bốc lên làm lão lợm giọng. Lão mất cả hứng đứng câu tại chỗ quen thuộc có nhiều tôm lớn. Sau đó là đám nghĩa quân của anh Bằng. Họ xúm lại quan sát con trâu bằng những cặp mắt nghi ngờ. Tụi nó vẫn thư­ờng có những cái trò để mìn trên những bè lục bình cho trôi sông. Chiếc bè táp vô cầu và nổ tung. Con trâu cũng nổi như cái bè vậy. Nh­ưng trên làn da đen thui nhếch nháp bùn và máu khô của nó, không chỗ nào mang một cái vẻ đã được gài mìn. Bằng sốt ruột, hư­ơi cây súng xả một băng nổ dài. Có những viên tr­ượt ra ngoài rơi lõm tõm xuống nước. Có những viên ghim lên mình con trâu, xé rách toang thành từng mảnh lớn. Nước sông ùa vào thêm, xác con trâu bị xô đi táp lại rời đổi vị trí cũ.  Bây giờ bốn cẳng của nó ngửa lên trời. Một mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Cả bọn bịt mũi nhìn nhau rồi bỏ đi. Con trâu vẫn dính cứ­ng lấy cây cột và nằm phơi ở đó đến chiều.

Chiều hôm ấy có một tốp người đến chiếu cố. Họ gồm một ông già, một thiếu phụ và một thằng con nít. Thằng nhỏ hăng hái lội xuống nước. Thiếu phụ đứng trên bờ ra vẻ ngần ngại. Còn ông già thì không nói, xăm xăm cầm sợi dây thừng chờ thằng nhỏ bơi tới con trâu là quẳng cho nó buộc. Thân mình của thằng bé ốm  tong teo, bờ vai x­ương xẩu, làn da đen đúa, đầu tóc rối xù. Dưới làn nước đục ngầu và đầy rác rưởi, trông nó như một con chó nhỏ xấu xí, bẩn thỉu đang ngụp lội.

Nó xoải tới trước cái cọc tre. Chiếc cọc bây giờ nghiêng đi vì sức nặng bấu víu của con trâu. Bàn tay nhỏ xíu của nó lần tới đầu mối của sợi thừng. Nó gỡ ra một cách nhanh nhẹn. Con trâu được giải thoát khỏi cây cọc và nằm trong tay dẫn dắt của thằng nhỏ. Thằng nhỏ rít lên một tiếng thích thú. Đã lâu lắm nó mới được bơi dắt một con trâu trong lòng nước. Nhưng con trâu ngày xưa biết bơi, biết lội, biết ngoan ngoãn giơ lưng cho nó trèo lên và nhìn nó bằng đôi mắt hiền từ. Bây giờ con trâu lại nằm ở cái tư thế lật ngửa, bốn vó chổng lên trời, phơi cái bụng toang hoác những xương cùng thịt bầy hầy và xông lên mùi thối  tha buốt tới tận óc.

Nương theo dòng nước, thằng bé lái được con trâu vào bờ. Mọi người xúm lại giúp nó kéo lên bờ cỏ. Mình trâu nát bét những vết đạn, có chỗ bị mở banh ra, thịt cháy đen xạm, lại còn có từng mảng máu đã khô đen lại nom như những mảng nhựa đường. Tuy nhiên, nhìn cho kỹ thì cũng vẫn có vài chỗ còn xài được. Bốn cái đùi vạm vỡ, ức nở to chắc nịch, xẻ ra phải được hàng chục ký thịt. Còn hơn là ăn mãi củ mài hay đọt chuối. Cuộc chiến ở đây kéo dài cả năm nay rồi.

Ông già vận sức bẩy được xác trâu vào một bờ cỏ. Thiếu phụ giở xách tay ra soạn một mớ dao to, nhỏ. Có cả cái c­ưa tay tuy cùn nhưng chắc là sẽ đắc dụng. Một đùi trâu được banh ra. Thịt bên trong chưa đến nỗi ngả mầu xám xịt. Một vài gân máu còn giữ được mầu đỏ tươi. Mầu đỏ làm cho ai nấy đều sáng lên những nét hăm hở, rạng ngời.

Bỗng từ xa phóng tới một bóng ng­ười. Tiếng cười the thé lan tới, trư­ớc khi thân hình bẩn thỉu rác rưới của gã ta xuất biện. Trông gã không ra dáng một con người. Da gã tái mét, mắt đỏ rừng rực như hai đốm lửa, hàm răng trắng nhởn, khấp khểnh như răng bò, cái lưỡi lúc nào cũng như thè lè ra, nhễu cả rãi lẫn rớt. Gã đứng ngất ngư, hai cẳng chân đong đưa như hai ống sậy. Cánh tay phải còn lành lặn ve vẩy trước mặt, còn tay trái gẫy một nửa để phơi ra ngoài  một lớp da rúm ró, trầy trợt, dính đầy bùn và đất bẩn.

Gã mở to mắt nhìn con trâu. Phẩm vật  bất ngờ làm gã vui thích. Gã ré lên cười cầu tài với mọi ngư­ời. Hai chân gã nhảy cẫng lên, chạy tới chạy lui, hết ngó ông già lại ngó thiếu­ phụ, hết ngó thiếu phụ lại xán tới gần thằng nhỏ. Thằng nhỏ liệng cho gã một mẩu da thừa. Gã cười lên thành những tiếng khẹt khẹt. Cặp mắt rực lửa, rãi rớt chẩy ra lòng thòng. Cánh tay lành lặn ve vẩy rối rít. Ông già thấy vậy vội la lên :

– Mày rỡn với nó thì hết ngày. Mặc nó!

Vẻ mặt đang hớn hở của gã què bỗng nhiên xịu xuống. Gã quay lại nhìn chòng chọc về phía ông già, ánh mắt thù hận. Ông già trừng mắt lên nhìn, rồi chợt hù lên hai tiếng “Bùm ! Bùm !”. Gã đàn ông xanh mặt vội che tay lên đầu, vừa chạy vừa la thảm thiết. Rõ ra là gã đã bị bệnh thần kinh khi nghe thấy tiếng súng. Thằng nhỏ thì lại thích chí phá lên cười. Nó còn dọa gã tiếp theo bằng một tràng súng liên thanh bắn bằng mồm nghe y như­ thật. ” Đoàng ! Đoàng !” Gã đàn ông hốt hoảng lao đầu­ vào một bụi cây, bàn tay còn lại của gã cào xé xuống nền đất bẩn nom như một con vật đang vội vã đi tìm một nơi trú ẩn.

Sự việc xẩy ra có vẻ làm cho thiếu phụ đứng đó cảm thấy bất nhẫn. Nàng hơn nhăn mặt với ông già rồi lừ mắt nhìn đứa nhỏ. Thằng bé vội vàng cúi xuống cưa nốt mảng đùi trâu đang gần đứt lìa.

Đến sẩm tối thì con trâu không còn nguyên hình thù lúc trước. Một đống thịt bầy nhầy được bó lại và buộc gọn trên một cây đòn. Trên mặt đất, phần xác trâu còn lại nom toét hoét với những mảnh xương trắng hếu xen lẫn với  những mảng tiết đen xì. Mùi hôi thối xông lên nhức óc. Ông già hạ lệnh :

– Thôi, đi!

Thiếu phụ hỏi:

– Còn cái đống này?

– Kệ nó!

– Rồi mai nó bốc mùi đi khắp chỗ, chịu không thấu đâu.

– Vậy liệng đại nó xuống sông cho rồi!

Ba người lại hì hục một chuyến nữa. Xác của con trâu lại được trả về với dòng nước đục ngầu. Lần này nó không còn nổi được trên mặt sóng. Sau một tiếng “ùm” kéo theo những bọt nước tung tóe, cái hình thù kỳ dị của nó trôi phăng đi và dần dần chìm sâu  trong đáy nước.

Trên đường trở về, ba người đi một cách vội vã. Những đốm đạn lửa đỏ lừ đã thấy xuất hiện trên nền trời tím xẫm, chỗ ngang mé đồn có tháp canh cao vòi vọi. Đồng quê im ả một cách ghê rợn, tựa hồ tất cả như đang chìm trong một vùng đất chết. Không có tiếng chó sủa, không có bóng người đi, không cả dáng trâu quen thuộc đang về chuồng lúc còn thuở thanh bình. Cả ba người lầm lũi bước đi như ba cái bóng chập chờn trong ánh sáng nhá nhem của buổi chiều sắp tắt. Chỉ ở phía đằng sau, cách họ một khoảng khá xa là còn có một đôi mắt đang dõi theo dấu chân của ba người. Đôi mắt rực lửa. Đôi mắt đỏ lừ. Đôi mắt của gã đàn ông mất trí sau những trận đụng độ kinh hồn hồn từng xẩy ra đây đó trong vùng.

Gã lủi theo ba người như một con chó ghẻ không dám chường mặt ra trước mọi người. Dẫu sao thì gã vẫn còn sợ tiếng súng phát ra từ mồm ông già, tiếng nổ ròn rã qua miệng đúa trẻ, giống hệt ngày nào cả gia đình gã bị thiêu đốt trong lửa đỏ giữa những tràng đạn nổ ở cả bốn phía, liên hồi.

Gã theo riết ba người, đi qua những con đường mấp mô, băng qua từng hố bom, hố mìn sâu hoắm, những thềm nhà hoang cháy xám xịt, cả những thân dừa gẫy gục, những chum nước cạn khô và những nếp tường vôi nghiêng đổ đã lên mầu rêu xanh. Cuối cùng thì toán ba người chui xuống một căn hầm tối. Cánh liếp che bên trên được kéo lại. Thế là gã đàn ông lại chỉ còn có một mình!

Gã bực bực bội ngồi bệt lên một thân dừa nằm chắn ngang lối đi. Bóng tối bây giờ bao trùm hoàn toàn xuống cảnh vật chung quanh. Gã có cảm giác như mình đang bị chôn sống trong một khu mộ tối. Gã không còn biết mình đang ở đâu, đang làm gì và đang giữ cái vai trò gì ở cái chốn đồng quê hiu quạnh và khốn khổ này. Hình ảnh gần gũi nhất đối với gã bây giờ là hình ảnh của con trâu nằm tênh hênh trên mặt cỏ bị những lưỡi dao sáng loáng lóc từng mảng thịt.

À thì ra con trâu ! Hẳn nó vẫn còn nằm ở đó ! Gã chợt nhẩy quẫng lên khi nghĩ ra rằng, ba người kia đã chui xuống hầm thì gã sẽ được tự do làm chủ tất cả phần bỏ đi, còn lại. Thế là hai cẳng chân của quẫng lên. Gã vội vã băng qua những thân dừa gẫy đổ, những đống tàn tro và gạch vụn, qua cả những hố bom, hố mìn. Chắc lúc đó, trong bóng tối, lưỡi của gã lại thè ra, rốt rãi lòng thòng.

Một lát sau, gã mò được ra tới bờ sông.Tới đúng chỗ những mảnh thịt vụn và đám tiết đông xám ngoẹt vẫn còn đang bốc mùi. Nhưng con trâu không còn ở đó. Gã dụi mắt nhìn vào bóng tối để xục xạo từng bờ cây, bụi cỏ. Nhưng  bốn bề quanh gã chỉ có tiếng nước vỗ óc ách vào mạn bờ, và ở phía đằng xa, rất xa, tiếng bom dây trút xuống một vùng nào nghe rền rĩ nh­ư tiếng rên la của mạch đất đang cựa mình. Tuy vậy không thể vì thế mà gã bỏ cuộc. Gã bám riết lấy ý nghĩ mình là sẽ được làm chủ gần nguyên cả một con trâu. Gã cũng sẽ lóc thịt, cũng sẽ xỏ vào một cây đòn dài, sẽ khiêng một mình vào một căn hầm tối nào đó. Mùi hôi thối quanh đây  báo cho gã biết là gã không tìm nhầm chỗ. Nó đúng ở chỗ này. Nó đã nằm tênh hênh trên nệm cỏ, phơi thân hình rách toác dưới nắng xế của một buổi chiều sắp tắt. Sự tin tưởng làm gã không muốn bỏ đi. Gã ngồi xuống một mô đất  nhỏ. Gã sẽ chờ đến sáng mai. Con trâu sẽ là của gã . Gã sẽ là chủ. Gã sẽ được lóc thịt, không ai có quyền đuổi gã đi như ông già đã xua đuổi gã lúc buổi chiều.

Và gã đã chờ đến tận sáng hôm sau. Ánh sáng lùa vào đôi mắt của gã như trút cả một vầng tia chói lọi. Thì ra đêm qua gã đã ngủ thiếp đi từ lúc nào. Lúc mở mắt ra, gã choàng tỉnh táo ngay vì cái mùi hôi thối đêm qua lại xộc vào đến tận phổi. Điều này làm gã nhớ ngay đến con trâu. Gã bật dậy, dáo dác đi tìm. Gã chợt réo lên to một tiếng rồi cất giọng c­ười. Gã đã tìm thấy con trâu !

Con trâu đang nằm trương lên, xác vướng vào một cột tre làm chân cầu. Gã thấy rõ cả cái bụng phồng to lên, tím ngăn ngắt.

Gã lấm lét nhìn quanh, thấy chẳng có ai, thế là gã nhẩy ùm xuống nước và bơi lại gần. Bây giờ thì bàn tay còn lại của gã đụng được hẳn vào mình con trâu. Hình như nó có vẻ khác thường. Nó không hẳn là một con trâu. Trên mình nó có cả những mảnh quần áo rách bươm, ướt sũng nước.

Nhưng gã cần gì ! Cái xác này cũng trương to như xác một con trâu. Lại nguyên vẹn chưa có ai cầm dao lóc thịt. Lại chính là của gã. Một mình gã đã  tìm ra. Nó sẽ là của riêng gã. Không kẻ nào dám bắn súng “bùm bùm” để xua đuổi gã đi như thằng nhỏ và ông già kia đã làm. Gã rít lên cười thích thú. Mắt gã đỏ ngầu nhìn con mồi một cách say sưa. Gã cố gắng thò cánh tay còn lại, cánh tay độc nhất ra gỡ một đụn tóc đang vư­ớng phải cây cột cầu tre. Và rồi, bắt ch­ước cử chỉ của thằng bé ngày hôm qua, gã lôi đ­ược cái xác vào bờ. Gã đang nghĩ đến một chỗ nào khuất nẻo để che giấu tặng phẩm bất ngờ của mình.

Một căn hầm bí mật nào đó. Một mái nhà sụp nghiêng. Một bể nước khô cạn. Hay một hố bom, hố mìn rất sẵn, nằm rải rác trên cánh đồng hiu quạnh của đồng quê tan nát, điêu tàn này.

Ở đó gã sẽ tìm cách mổ xẻ tặng phẩm của dòng sông nh­ư hồi chiều hôm tr­ước đã có ngư­ời làm như­ vậy.

NHẬT TIẾN

Ông Lừa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 May 2024

Tranh Bảo Huân

Sau khi vượt biên qua tới Úc nầy đây, tui mới biết rõ ràng là ở các nước tự do dân chủ, quyền tự do ngôn luận được hiến pháp bảo vệ trước và ngay cả sau khi nói. Bà con mình muốn hoan hô, đả đảo ai, từ Thủ tướng tới Tổng thống là cứ tự nhiên la.
Còn nếu ở các nước độc tài CS thì hiến pháp cũng có quy định quyền tự do ngôn luận chớ hỏng phải không? Nhưng chỉ tôn trọng quyền tự do ngôn luận trước khi nói. Còn khi nói xong rồi là không… Cứ nói đi, nói đi… sau đó có bị ‘bầm dập’ là rán chịu… Nên dân ngu khu đen trong đời nô lệ, không dám mở miệng nói năng linh tinh chi cho nó lành.

***

Nhưng trường họp dưới đây là khác. Vì cu cậu nầy dám uống mật gấu…
Chẳng qua sau 75, tui có quen với một giáo viên ngoài Bắc vào, gọi là A chi viện, dạy tiếng Nga,
Hồi đó, CS Bắc Việt chia Đông Dương ra làm A, B, C, D gì đó. A là miền Bắc. B là miền Nam… C và D là Lào và Campuchia.
Lúc đó Lê Duẩn muốn làm bá chủ Liên bang Đông Dương. Nhưng chú lùn Đặng Tiểu Bình không có chịu; nên hai đứa mới đánh nhau ròng rã từ năm 1979, gọi là Chiến tranh biên giới, mãi tới 1989 khi CS Bắc Việt lép vế, xuống nước nhỏ (vì đàn anh Liên Xô sắp tan rã), ký hiệp ước Thành Đô, quy hàng Thiên triều nên mới tạm yên yên!
Lúc chiếm được miền Nam trù phú nầy, Bố con nó, gồm hai phe là CS Bắc Việt và VC ở miền Nam, cũng gấu ó, giành ăn với nhau dữ lắm.
Cái ghế nào thơm thơm, có nhiều thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, đứa nào muốn dòm ngó là phải ló ra cái lý lịch nằm hầm chống muỗi để được xếp hàng: “Nhứt trụ, nhì khu, tam tù, tứ kết!”
Nhứt trụ là mấy đứa bám trụ tại địa phương! Ban ngày chui xuống hầm trốn, ban đêm lùa dân ra đắp mô, đào đường, thi hành cuộc chiến tranh phá hoại.
Nhì khu là đứa được rút lên khu, lên rừng, vô bưng, ít nguy hiểm hơn, chỉ có lâu lâu là ăn bom B52 của Mỹ mà thôi.
Tam tù là mấy đứa bị ở tù Phú quốc hay Côn đảo. Ở tù cực là cái cẳng nhưng đứa nào vô cũng thật thà khai báo hết ráo nên đảng hỏng có tin nhe.
Tứ kết là cái đám đi tập kết… Đám nầy thì chẳng có công trạng gì ráo…

Có thế lực mạnh thì được đảng đưa đi Liên Xô hay Đông Đức làm du học sinh… Còn đứa nào tập kết mà cu ky, con bà phước, thì đi bán thịt cầy…
Sau 75, quy cố hương, về quê cũ, được bọn VC trong Nam thí cho mấy miếng thịt thừa, bầy nhầy bạng nhạn như chức Giám đốc Sở Giáo dục chẳng hạn.
Đám nằm vùng ít có đứa nào chịu nhận cái chức nầy; vì phấn bảng không hè làm sao ăn? Phần chỉ biết đọc lõm bõm, học lực chỉ tới lớp Nhì, lớp Nhứt thì sao mà giáo dục ai cho được chớ?
Còn đứa nào vốn xuất thân ngoài Bắc mà nhẩy dù đại vô thành ủy, tỉnh ủy gì đó trong Nam, thì trước sau gì cũng bị Tía con, bè đảng nó, xúm lại gài bẫy, đục văng trở ra ngoải. Bởi có câu: “Trâu nào chuồng nấy!” Chuồng Bắc mà đòi vô chuồng Nam gặm cỏ non đâu có được hè?!
Cái thằng tui quen dạy Nga Văn nầy do Tía Má nó tập kết, rồi đẻ nó ra ngoài Hà Nội. Hết lớp Mười, nó được đi Nga làm du học sinh, theo lời nó khoe khoang mà tui chắc tới 90% là dóc tổ.
Năm 76, nó mới lò dò theo Tía Má nó, mà nó gọi là Thầy U, trở về trong Nam làm Trưởng ban Giám hiệu (tức Hiệu trưởng) của một trường cấp 3 ở Vị Thanh (tức tỉnh Chương Thiện cũ của mình).
Đúng ra làm Giám hiệu thì không cần dạy dỗ gì ráo, còn nếu muốn kiếm thêm chút cháo thì tuần dạy thêm vài ba tiết!
Nhưng tiếng Nga ế quá; học trò hỏng ai thèm học, đòi học tiếng Anh không hè nên nó đành phải chạy qua mà dạy Việt văn.
Đám Sở Giáo dục, chưn cẳng phèn không, chả thích gì nó. Vì mỗi lần công tác là hỏng lẽ phải kêu phiên dịch vì nó nói tiếng Bắc rặt, mấy đứa VC trong Nam gọi là tiếng Huế, vì hồi xưa CS Bắc Việt muốn dấu cái chuyện xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, một nước có chủ quyền, là vi phạm Hiệp định Geneve 1954.

Ghét cái mặt câng câng, ỷ mình đi Nga du học, biết cả tiếng Nga, lại còn nổ bớp trời thiên là: “Tiếng Nga là tiếng nói của Lê Nin vĩ đại!”
Sau 75, giáo chức đâu có được nghỉ hết ba tháng như hồi mình! Phải cơm ghe bè bạn, tập trung ở cái trường Tàu nào đó, có hội trường để học tập chánh trị, học cái nghị quyết gì đó chán phèo phèo.
Ở nhà đi nhậu sướng hơn; nên cái đám Tuyên huấn nầy trốn làm, bán cái bớt, giao cho nó một bữa lên thay mà đăng đàn thuyết pháp. Chớ theo tiêu chuẩn là chú em chưa có được!
Cu cậu chắc cũng lấy làm rất hãnh diện nên nhận lời. Ý muốn có cơ hội, dợt le, ve vãn mấy cô giáo chưa chồng.
Thay vì mặc áo bà ba, khăn rằn quấn cổ, đi dép râu, mang ‘sắc cốt’, hút thuốc rê hiệu ông Tề nhưng túi áo gài năm ba cây viết để chứng tỏ mình không có dốt và cách mạng cùng mình từ đầu tới chân, nhưng cu nầy quyết hỏng giống ai và không ai giống mình nên chơi nổi, chơi nhịp chỏi thời trang.
Ra vẻ ta đã từng đi Nga, từ một nước đàn anh Xã hội Chủ nghĩa vĩ đại về, nó chơi luôn cái quần jean Levi mua ở chợ trời Huỳnh Thúc Kháng Sài Gòn, mà nó gọi là quần bò.
(Sở dĩ gọi là quần bò vì cái quần thời trang nầy do bọn đế quốc Mỹ chăn bò nó mặc để cỡi ngựa chăn bò lâu bị rách).
Mang mắt kiếng trắng cho ra vẻ trí thức, mua của mấy đứa bán rong trên lề đường Lê Lợi gần chợ Bến Thành, dù nó không có cận thị gì ráo. Con muỗi đực bay qua nó biết, con muỗi cái bay qua nó cũng biết; ngay cả con muỗi ‘pê đê’ bay ẹo qua ẹo lại nó cũng biết luôn… mà bày đặt mang kiếng!
Trước khi vô bài thuyết trình, nó yêu cầu các đồng chí đứng lên, nó mở cái cassette của trường, chơi bản Quốc tế Ca! (Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn!).
Xong rồi chơi Tiến quân ca của Văn Cao (Đoàn quân Việt Nam đi sao mà ốm thế?!) và Lãnh tụ ca của Lưu Hữu Phước!
Tham dự có cả mấy đứa bên phòng ban Sở Giáo dục, chức lớn hơn nó!
Nhân cơ hội nầy nó chơi lại cho bõ ghét! Tớ bắt mấy cậu đứng nghiêm là phải đứng nghiêm, cấm đứa nào nhúc nhích!
Bõ ghét cho nó nhưng cả hội trường xúm lại hùa vô ghét lại nó vì bị bắt đứng nghiêm quá xá là lâu, đứa nào cũng mỏi cẳng, chân run hết trơn vì sáng không có gì ăn ngoài một củ khoai mì sượng.
Làm thủ tục chào cờ xong, nó mở đầu bài giảng là: ‘Ông Lenin ở nước Nga! Mà sao em thấy rất là Việt Nam’.
Xong, móc bóp ra tấm hình cũng đã hơi mốc. “Trình các đồng chí đây là Quảng trường Đỏ chụp lăng Lenin mà người Việt Nam gọi ông là Lê văn Nin!”
Xong nó chỉ lên bức chân dung có chụp hai ông Tây, treo trang trọng trên vách tường hỏi đố: “Ai là Các Mác (Karl Marx)? Ai là Lenin?”

Không ai dám phát biểu trả lời. Nghĩ chỉ mình nó biết, nên hừng chí lấy cây thước bảng chỉ vào tấm ảnh, rồi ong lua 4giảng giải: “Cả hai đứa đều có râu xồm che khuất luôn cả cái mồm. Nhưng đứa đầu tóc bùm xùm là Karl Marx; còn tay còn lại bị hói là: đồng chí Lenin vĩ đại!”
Tui e rằng bữa đó nó đã chơi hết cả chục bi thuốc lào Vĩnh Bảo và cả hai ba cút rượu để thêm can đảm nói trước đám đông. Nhưng vì hơi quá hớp nên ba hoa chích chòe làm hại cái thân.
Sau đó, nó bị chi bộ kiểm thảo tơi bời, khai trừ Đảng, hạ tầng công tác nên chú em bất mãn, mất dạy luôn.

*** Mấy năm sau, tui cũng bị mất dạy về, cà lơ phất phơ gần bờ sông, bến Nhị Kiều Cần Thơ thì tình cờ gặp lại nó.
Tui bèn bắt chước giọng Bắc 75 hỏi: “Lóng rày cậu làm gì?”
“Tớ nghỉ dạy rồi! Giờ bu nó có mở ra cái tiệm thịt cầy ở cái nhà sàn sát mé sông gần đây nè. Cậu đến làm vài cút rượu với tớ đi!”
Tui thoái thác, tui đâu có ăn thịt chó, phần thú thiệt hồi xưa tui cũng dị ứng với cái đám A chi viện nầy lắm; vì toàn là bọn chuyên bốc phét, có nói thành không, không nói thành có, ít xít ra nhiều; tưởng ai ngồi nghe cũng ngu như nó hết.
Nó nài nỉ: “Không ăn thịt cầy thì ăn bún măng vậy! Đừng chối từ! Dẫu sao mình cũng từng là đồng nghiệp với nhau. Phụ lòng, tớ buồn lắm!” Nó mếu máo tưởng chừng sắp khóc tới nơi.
Không lay chuyển được tui, nó bèn dụ tui rằng: “Tớ sẽ kể cho cậu nghe cái chuyện nầy về Lenin hay lắm! Hồi xưa đi Nga tớ mang về, dễ đã hai chục năm mà chưa dám kể ai nghe…” Tò mò, tui theo nó về quán nhậu.
Trời đã khuya, trăng thượng tuần đã lên quá ngọn dừa! Khách về hết, nó kéo cửa quán lại; xin lỗi tui là phải vừa làm một cốc lại phải bỏ chạy bàn khi có khách kêu…
“Bu nó dữ như con chó dại ấy! Tớ cứ mãi lo ăn nhậu với bạn cũ, bỏ bê cho nó làm một mình là tớ chết chắc!”
Cạn nghe cái ót ly xây chừng rượu trắng! “Hồi tớ là du học sinh bên Nga ấy, có nghe một thằng Nga nó kể cái chuyện nầy: xong dặn tớ đừng có kể ai nghe nếu không muốn đi cải tạo mút chỉ cà tha trong cái trại tù ‘Gulag’ ở tuốt Siberia!”

Chuyện vầy: “Một nhóm con nít lớp mẫu giáo được thầy cô dắt đi dạo trong công viên quốc gia và chúng thấy một con lừa.
Trẻ thành phố xưa giờ chưa hề thấy con lừa lần nào. Cô giáo bèn hỏi đố: “Nè mấy em! Ai đây?”
Không em nào biết. Cô bèn gợi ý: “Nó trong sách giáo khoa, trong bài hát, trong bài thơ mà mấy em từng đọc hoài trong lớp đó!”
Cuối cùng một em vỗ nhè nhẹ vào cái đầu con lừa, reo lên: “Thưa cô! Em biết rồi. Nó là ông Lenin!”
Giờ gần 40 năm, đôi ngả đôi ta, thằng dạy Nga văn, tui tình cờ quen ngày cũ, giờ phiêu bạt tới phương nào? Hỏng biết nó còn bán thịt chó nữa hay không?
Tui nhớ câu chuyện nó kể hồi xưa và mắc cười quá ‘chời’! Hi hi!

đoàn xuân thu.
melbourne






Đầu dê; thịt chó?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

April 20th, 2024

Post by Sơn râu 10 May 2024

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín nguyên là giảng viên bộ môn Ngữ văn ở Đại học Cần Thơ, hiệu trưởng Đại học Võ Trường Toản, phóng viên Báo Nông nghiệp Việt Nam. Đó là học vị, học hàm, học tùm lum. Đó là chức danh nghề nghiệp: giảng viên, hiệu trưởng, chức tùm lum.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín là phóng viên Báo Nông Nghiệp Việt Nam, nói nôm na, ông còn là nhà báo. Nhà báo thì ông báo cái giống gì hè? Thì trong cuốn Từ Điển Từ Ngữ Nam Bộ được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2007, ông giải nghĩa cho dân ngu dốt như tui tức cười (cười vì tức) thiếu điều muốn té ghế, như thế nầy nè: Trang 894, ‘nhà báo’ danh từ, nghĩa bóng, là những người không có công ăn việc làm, thất nghiệp, đang ăn bám vào gia đình. Ông bèn đưa ra một câu thí dụ: “Ra trường rồi ở nhà làm nhà báo chớ có làm được gì đâu”.

Theo thiển ý của tui: Đó là một cách cắt nghĩa bá láp. Nếu cho rằng đùa thì ông nên đem vào từ điển về tiếng lóng (slang). Chớ lượm được bất cứ cái gì trôi nổi ngoài chợ trời, ngoài chợ đời cũng đem nhét vô cuốn từ điển của mình thì đâu có được nè.

Theo tui, khi đã dám học gồng soạn từ điển thì phải chấp nhận sự phê bình của thiên hạ. Phê trật thì mình viết bài tranh luận cho nó rõ ngô khoai. Phê trúng thì mình cám ơn; mình học để lần tái bản mình sửa lại tác phẩm của mình càng lúc càng ít lỗi hơn.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín và Tự điển  

Năn nỉ đừng ‘chơi’ tao, sau khi khiêm tốn, nổ ầm ầm như đẻ ở Trảng Bom? Tui e ‘Ba Ke hai nút’ nó đâu có nín khi thấy ông tiến sĩ giành cái thành ngữ có cầu chứng tại tòa là: “Chúng mầy có biết ông là ai không”? Vậy là đồng chí của tao mà nó chơi tui đem ông Tiến sĩ nhà ta ra dợt cho lên bờ xuống ruộng.

Thấy chúng bề hội đồng ông vui quá xá nên tui cũng nhào vô ké vài ba cái đạp.

Tui thấy trang 433, từ mục ‘dân biểu’, danh từ, người được bầu vào cơ quan dân cử (Quốc hội) thời thực dân Pháp hoặc chánh quyền Sài Gòn trước 1975. “Ngày trước ông có ra ứng cử dân biểu Hạ viện hay Thượng viện gì đó; nhưng mà rớt”.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín không đề trích của ai nên tui cho rằng do chính ổng viết. Hồi thời thực dân Pháp làm gì có Dân biểu? Chỉ có Nghị viên (nghị Hách trong tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng). Làm gì có chánh quyền Sài Gòn? Chỉ có chánh quyền VNCH. Thượng viện thì gọi là Thượng nghị sĩ, ra ứng cử theo liên danh 10 người, chớ Dân biểu bao giờ?

Rồi ở trang 558, ông Tiến sĩ ghi là từ mượn ‘Giấy bu lia’? Lạ quá, tui mới đọc lần đầu. Chớ xưa giờ, tui gặp chữ ‘pơ luya’ gốc tiếng Pháp là ‘pelure’ không hè.

Nói nào ngay, khi sức chưa tới mà dám xăm mình soạn cuốn từ điển này, biết trước sau gì cũng bị búa rìu dư luận nên Tiến sĩ Huỳnh Công Tín xuống nước nhỏ trước: “Tôi ra đời và lớn lên ở Nam Bộ, vốn nặng tình với vùng đất sinh ra ông bà, cha mẹ mình và tiếng nói của người dân quê hương, nên đã làm điều có phần quá khả năng. Xin bạn đọc lượng tình xem đây như một việc thể hiện tấm lòng đối với bà con ruộng vườn sông nước.”

Rồi trang kế, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín cho in liền lời giới thiệu của nhà văn Sơn Nam để dựa hơi. Tui thấy từ điển là cuốn sách để tham khảo thì dùng chữ nhà biên khảo nó chánh xác hơn là nhà văn Sơn Nam. Và tui cũng nghĩ đây không phải là lời giới thiệu. Giới thiệu sách là phải nói về cuốn sách đó phải không nào? Đây chỉ là vài suy nghĩ vụn vặt nhà biên khảo Sơn Nam nói về cách soạn một cuốn từ điển mà thôi.

Ông Sơn Nam trích câu hát ru em: “Ru em em théc cho muồi. Để mẹ mua bánh chợ Truồi em ăn.” Ông Sơn Nam kể: Tui nghĩ ‘théc cho muồi’ là ngủ cho say. Nhưng bà ở Huế kế bên nhà giải thích: “Théc là khóc, đứa bé théc là khóc lớn tiếng. Ở Sài Gòn và ở rừng U Minh, đã quen với 2 tiếng ‘khóc théc’.

Dạ tui tự hỏi: “Théc hay thét?” “Thét là: quát, mắng, kêu to, v.v. khi tức tối, căm giận ai’. Thí dụ: sợ quá khóc thét lên; tiếng thét căm hờn. Thú thiệt nhỏ lớn tui chưa thấy ai viết ‘théc lớn’ bao giờ?

Tranh Bảo Huân

Rồi ông Sơn Nam viết: “Lại còn nhiều chữ mà ở trong Nam Bộ rõ ràng là nói sai, viết sai thí dụ như ở trong bài ‘Dạ cổ hoài lang’ của ông Sáu Lầu, Cao Văn Lầu hát bài nghĩa ‘tàu khang’ nhưng trên sách vở thì ghi là ‘tao khang’  (tao khang chi thê bất khả lạc đàng). Nhưng tui lại thấy có tài liệu nói là: “Tao khang chi thê bất khả hạ đường’’. Không có chữ ‘lạc đàng’.

Rồi ca dao cũng có câu: “Ai xui rã chút duyên kim cải. Ai khiến rời chút ngãi tào khang…” Hoặc “Một lời đã hứa tào khang/Trăm năm ghi tạc nghĩa chàng, chàng ơi!” Nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu: “Tin nhà ngày một vắng tin/Mặn tình cát lũy, lạt tình tao khang”.

Tao khang là từ thành ngữ ‘tao khang chi thê’, chỉ người vợ từng chung cảnh nghèo khổ, hai vợ chồng cùng ăn cám bã thuở hàn vi. Tui thấy viết ‘tàu khang’, ‘tào khang’, ‘tao khang’ cũng được tuốt, chả có gì sai. (tùy cách phiên âm qua tiếng Việt).

Cuối bài báo, ông Sơn Nam còn ‘đá khéo’ thằng nhỏ điếc không sợ súng là: “Chữ nghĩa quả thật là gánh nặng dành cho thế hệ trẻ”

Câu nầy thì tui đồng ý với ông Sơn Nam. Muốn soạn một từ điển là phải có hàng trăm chuyên gia về đủ mọi lãnh vực của học thuật. Sức của Tiến sĩ Huỳnh Công Tín vác không nổi ‘Phương ngữ Nam Bộ’ đâu!

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín sao nỡ lòng nào đi dụ khị bà con mình (trong đó có cả tui vì trót say mê cái tiếng, cái chữ quê mình nên bỏ ra tới 50 đô Úc mua sách của ông). Mất tiền cũng chưa tức bằng cảm giác mình bị ổng xí gạt bằng cái tựa ‘Từ điển Từ ngữ Nam Bộ’ Đúng là treo đầu dê bán thịt chó đó bà con ơi!

ĐXT

Đáy địa ngục

Chương I: Bài học đầu tiên

Phần 6

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 10 May 2024

Cơn mưa buổi chiều đã phủ kín cảnh vật. Từ lâu mới có cơn mưa lớn vầy. Mưa như trút nước. Từng khối nước khổng lồ từ trời cao đổ ào ạt cùng với tiếng sấm sét vang dội. Qua màn mưa dày đặc, tôi không nhìn thấy gì ngoài mấy cây khoai mì đang vật vã trước măt, cách xa không quá 10 thước. Những tấm nylon được căng kín để che mưa hắt, nhưng cũng không ngăn được luồng gió tạt làm ưót nửa căn nhà.

Cơn mưa kéo dài đến đêm vẫn chưa dứt. Gió thổi quá to làm hư giây điện. Căn phòng tối om thỉnh thoảng sáng bừng do ánh chớp hoặc do ánh lửa hút thuốc. Mọi người không ai ngủ được. Tiếng nói chuyện rì rầm. Họ khoái đi lao động hơn ở nhà học tập.

Sống trong Trại Tập Trung Cải Tạo, không sao đoán biết được ngày mai chuyện gì sẻ xảy tối. Người ta chỉ được biết, ngày mai sẽ làm gì, sau 7g00 tối.

Cơn mưa dịu dần, gió cũng ngớt thổi. Có lẽ, đây là cái đuôi của trận bão nhỏ. Nơi nào bị ướt, anh em dùng khăn lau tạm, buông mùng, nằm ngủ, vì căn nhà không có đèn nên mọi người chẳng biết làm gì hơn.

Cơn mưa lai rai, tới sáng chưa dứt. Những giọt mưa tuy không lớn nhưng rơi đều đều. Trên con lộ đá, thỉnh thoảng có tên bộ đội trùm áo mưa kín mít đi rảo bước. Đôi dép lốp lội bì bõm qua những vũng nước. Cơn mưa đã hạn chế sinh hoạt của mọi người. Chái bếp nhỏ bị mưa tạt ướt hết. Không thanh củi nào còn khô, do đó, chuyện ăn mì và uống nước sáng không có. Tất cả chỉ còn chờ bữa cơm trưa. Mưa gió thế này, cơm nước chắc cũng chẳng ngon lành gì. Gần trưa, cơn mưa ngớt, rồi tạnh. Trời đã để lộ vài khoảng xanh, tuy xung quanh mây xám vẫn nặng chĩu nước. Không ai dám ra sân vì mỗi bước chân sẽ kéo theo tảng đất. Tôi ngồi hút thuốc lào vặt với Mậu.

– Ông nghĩ mình học tập như vậy, xong chưa ? – Mậu hỏi.

– Xong thế nào được, theo tôi, đây mới chỉ là món ăn chơi. Nếu học tập đứng đắn phải có thu hoạch chứ ? đâu có khơi khơi như vậy được !

– Gay qua nhỉ ? Chán ghê, chán ghê !

.. Ánh nắng đã lên. Mặt đất se dần. Những bóng người qua lại trước sân, mỗi lúc mỗi đông. Có lẽ, sau nhiều giờ giậm chân một chỗ, ai nấy đều cuồng cẳng cần ra ngoài cho thoải mái.

Ánh nắng vừa lóe lên một lúc, rồi tắt ngấm. Cảnh vật lại chìm đắm vào mầu bàng bạc thiếu chiều sâu. Ngọn đồi trước mắt với hàng cây thưa đong đưa theo chiều gió. Sau một tuần “động não”, tôi nhìn sắc diện mọi người, hình như ai cũng thấm mệt. Sự tự tố cáo tội lỗi của mình trước mặt mọi người, dù là chiến hữu, bạn bè, sự thực trong đáy lòng vẫn có chút gì ngượng ngùng, tuy chưa ai nói hết những uẩn khúc của đời mình một trăm phần trăm. Nếu giấu diếm, cũng chẳng có gì khó hiểu. Bản tính con người thường thường dành cho mình phần lợi và ít nguy hiểm nhất trong những trường hợp có thể bất lợi cho riêng mình.

Thời gian cứ qua đi trong niềm bâng khuâng xen lẫn lo ngại.

Một ngày lại qua đi, khi ánh đèn bật sáng, B. Trưởng lại cắp vở đi hội.

Tối nay, không ai muốn nói đến chuyện học tập nữa. Câu chuyện được chuyển hướng vào vấn đề tình cảm. Có anh 2, 3 vợ lúc này chả biết giải quyết ra sao vấn đề kinh tế. Có anh nhớ người yêu, mang ảnh ra nhìn, nhìn chán, đưa lên môi hôn, xong ép hình vào ngực, cứ làm như mình còn trẻ và ngây thơ lắm ! Những chuỗi cười rúc rích đó đây làm không khí bớt “căng”.

B. Trưởng đi hội hơi lâu, khi về, có vẻ mệt mỏi. Các Tổ Trưởng đi theo anh vô nhà. B. Trưởng mời tất cả đều vô.

Sau khi mọi người yên chỗ, B. Trưởng nói :

– Thưa các anh em, qua buổi hội tối nay, cán bộ giáo dục có những nhận xét sau :

Các anh em sinh hoạt chưa thành khẩn, còn nhiều điều “lấn cấn”, giấu diếm ! Chưa đặt nhiều câu hỏi xây dựng. Hình như anh em cốt làm cho xong chuyện, như vậy không đảm bảo được chất lượng, không nắm vững được mục đích yêu cầu của Trên. Qua nhận xét đó, anh em mình nên rút ưu khuyết điểm, để lần sau làm tốt hơn. Mai, B ta đi lao động. Tổ 1 phá cầu tiêu, vì hố phân đã đầy, dòi bọ quá nhiều, hơn nữa, mùi hôi theo gió lan đến tận căn nhà quản giáo. Cán bộ cho lệnh phá ngay, lấp gấp trong buổi sáng phải xong. Tổ 2 và 3 đào hố cầu mới, ở cuối hàng rào, phía bên kia, sát bụi chuối. Mai, sẽ có cán bộ vệ sinh chỉ cách đào hố xí 2 ngăn, kiểu “hiện đại”, miền Bắc đang xử dụng.

Công tác đào hố phân 2 ngăn, được một tên bộ đội vẽ trên tấm giấy học trò, với kích thước rõ ràng. Mục đích để có thể dùng được phân để bón vườn rau. Đi đầy hố này lấp lại và đi hố kia. Nước tiểu có đường thoát riêng, không lẫn vào phân. Hố phân đã lấp đi, chờ một thời gian, phân ải, mới moi lên, làm phân bón rất tốt.

Chúng tôi hì hục, đào, bới, theo đúng kiểu vẽ.

Tên cán bộ đứng bên, luôn luôn hò hét.

– Các anh “nao” động kiểu này, cả năm chả xong. Ai đời từ sáng đến giờ, cả chục người, đào chưa được 5 tấc đất !

Nhưng hắn muốn nói gì cứ nói, nhịp độ lao động tụt dần chứ không nâng lên vì gần trưa, ánh nắng càng gay gắt, người nào cũng mệt, mồ hôi nhễ nhại. Tuy không nói ra, ai cũng chờ tiếng kẻng, vác cuốc xẻng đi về. Để tránh nắng, tôi núp sau bụi chuối, rút thuốc ra hút. Chỗ này, tương đối khuất ít ai để ý. Tôi đang say sưa thả làn khói qua kẽm gai, bỗng nghe sau lưng có tiếng động. Giật mình quay lại, thấy Mậu. Tôi nói khẽ:

– Ông ơi, ra đi, chuồn vào đây nhiều quá, nó tóm được thì bỏ mẹ!

– Kệ cha nó. Tôi vừa nghe tin, khu B có mấy “Bò Tam” [Bò Tam= Đại uý] bị trúng mìn, 1 chết, 2 bị thương, hôm qua.

– Vì sao?

– Tụi nó đi tìm các lon thịt không do tụi bộ đội ăn xong ném vô rào kẽm gai, để đựng nước và đồ ăn, ai ngờ vướng mìn. Chán ghê, chán ghê!

Tiếng kẻng tan tầm nổi lên. Tôi đưa Mậu mẩu thuốc đang hút dở, đi vòng qua bụi chuối, đến nơi tập họp..

Mới sáng sớm, tên bộ đội giao liên qua chỗ chúng tôi ở, kêu Kiên thuộc đơn vị 101 đi “nàm” việc với cán bộ Tiểu Đoàn. Khi được gọi tên bất ngờ, mặt anh hơi tái đi, nhưng chỉ phút sau, anh đã lấy lại sự bình tĩnh cần thiết của một sĩ quan làm nhiệm vụ tình báo chiến lược quân sự. Sau một tuần làm việc liên tục, Kiên gầy hẳn đi. Chúng tôi chắc, anh bị tụi Việt Cộng khai thác, tìm hiểu tổ chức và các đường dây của 101. Đúng như tên cán bộ giáo dục đã nhận định, chúng tôi ở đây chưa ai biết nhau nhiều. Quân Lực Cộng Hoà có trên l triệu người, có cả chục ngàn sĩ quan các cấp, làm sao biết nhau hết. Trừ một số bạn thân cùng đơn vị, ngoài ra chỉ biết nhau qua bề ngoài, nếu gặp trong công tác. Chính nhờ vào các buổi sinh hoạt “tự tố khổ”, nên anh em đã “thấy” nhau. Từ buổi ấy, mọi người nhìn nhau như nhìn qua tấm kính trong suốt, dù đôi chỗ có bị cố ý che mờ, hoặc ẩn khuất do ngụy trang, nhưng đại thể vẫn hiện nguyên hình đầy đủ chứng tích của qúa trình hoạt động!

Vấn đề “làm việc với Trên”, tôi cũng được biết, có nhiều vị sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng được mời, trong đó có Đại Tá Phan Trọng Thiện (Cục Phó Cục Tâm Lý Chiến) và Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh (Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị). Chắc Việt Cộng muốn biết về cơ cấu tổ chức ngành Chiến Tranh Chính Trị trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chúng thường “đánh giá rất cao”!

Google images

Căn nhà cầu mới, chúng tôi đã làm xong, sau bốn ngày lao động! Tuy nó chẳng tốt đẹp gì hơn căn nhà cầu cũ bao nhiêu, nhưng ít ra, nó cũng đỡ phần hôi thối, ruồi muỗi, dòi bọ, một thời gian. Sau công tác đó, những ngày kế tiếp, chúng tôi chuyển làm vệ sinh quét dọn xung quanh chỗ ở của tụi quản giáo, sửa chữa những chỗ hư nơi cổng ra vào.

Mấy bữa nay, C Trưởng chạy đi chạy lại các B để đôn đốc làm tờ Bích Báo mừng ngày lễ Độc Lập 2-9 của Cộng Sản và huy động các anh khéo tay, kẻ một khẩu hiệu chạy suốt bên vách nhà, dài khoảng 20 thước, với câu: “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!” Buổi chiều ngày 1-9, có một toán cán bộ đi kiểm tra doanh trại, khi nhìn thấy, hỏi ai thực hiện khẩu hiệu này? C Trưởng đang có mặt tại đây, hoan hỉ trả lời:

– Dạ, chúng tôi!

Nói xong, anh yên tâm chờ đợi lời khen, nhưng một tên, trong số đó, có lẽ cấp cao, cau mày:

– Xóa ngay!

Thế là C Trưởng, và mấy cải tạo viên có mặt vừa hí hửng, tưởng làm đẹp lòng Cách Mạng, ai ngờ bị “cái tát” nẩy lửa, lủi thủi đi múc nước cọ rửa đến chiều tối mới xong. Xét cho cùng, họ nói đúng vì “già Hồ” và sự nghiệp là của họ, của những người chiến thắng, chứ đâu phải của phe thua trận!

Hôm sau 2-9, từ sớm, chúng tôi đã nghe tiếng lợn kêu vì bị thọc huyết. Chúng tôi được nghỉ lao động. Từ xa, lá cờ đỏ sao vàng đang phất phới theo chiều gió. Không ai nhìn thấy lá cờ giải phóng nửa xanh, nửa đỏ, có ngôi sao vàng ở giữa cắm nơi nào? Sự thực, lúc này miền Bắc đã nắm quyền điều hành và kiểm soát tất cả Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Mặt trận Giải Phóng chỉ là tấm bình phong để Cộng Sản núp sau đó, dễ bề điều hành cuộc chiến chống Mỹ và Miền Nam, đi đến thắng lợi cuối cùng! Mặt Trận Giải Phóng chỉ là sự lừa bịp, dư luận thế giới đã thiên vị! Cuộc Hội Nghị 4 phe, được tổ chức tại Paris để quyết định chỗ đứng của Mặt Trận Giải Phóng tại Miền Nam, quả thực đã làm tình hình chính trị Miền Nam bị lép vế, đã sắp “thua” từ lúc đó. Người Mỹ biết, nhưng vì muốn rút chân ra khỏi vũng lầy nên giả đò, làm như không biết, cứ để mặc cho Miền Nam đi từ thất bại này đến thất bại khác, về chính trị cũng như quân sự !

Kể từ sau ngày Tổng Thống Nixon đi cùng với Ngoại trưởng Kissinger đến Bắc Kinh bắt tay Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, cái thế yếu của Miền Nam không thể chối cãi. Nhưng dù sao trách nhiệm vẫn thuộc về người Miền Nam, thuộc về giai cấp lãnh đạo, không nên đổ thừa hoàn toàn cho người Mỹ, dù người Mỹ cũng có phần gánh chịu.

Buổi chiều ngày 2-9, chúng tôi được lệnh ở trong nhà, đóng kín cửa, không một ai được ra ngoài dù có việc cần kíp. Tôi nhìn qua vách lưới. Toàn trại vắng hoe, không một bóng người. Có tiếng động cơ nặng nề từ phía xa vọng lại. Tôi lắng tai. Mậu đến gần, thì thào:

– Đù mẹ, T 54! Tụi nó làm gì dữ vậy. Chán ghê, chán ghê!

Từ vách lưới, tôi thấy một đám bụi đỏ rất cao, kéo dài.

Đoàn xe tăng đang di chuyển. Chỉ lát sau, hàng chục chiếc T 54 ầm ầm chạy qua nơi chúng tôi ở. Những chiếc nắp pháo tháp được mở ra. Tên Việt Cộng ngồi trên mép tháp lia lia khẩu đại liên với băng đạn vàng chóe, như sẵn sàng ấn cò. Vài tên khác, từ trong lòng xe nhô đầu lên, tay cầm AK cười toe toét. Trên mỗi chiếc T 54 đều có cắm lá cờ đỏ sao vàng to bằng chiếc chiếu, bay cuồn cuộn! Tiếng động cơ xa dần, rồi mất hút. Một hồi còi rúc vang, đó là hiệu lệnh cho phép chúng tôi mở cửa ra ngoài. Đứng sát bờ rào, tôi nhìn thấy từng vòng xích xe tăng nghiến vào mặt lộ, rõ mồn một.

Mậu nói hằn học.

– Vâng, chúng tôi biết các ông mạnh rồi, không phải khoe! Đù mẹ, tăng của Trung Cộng chi viện, cứ làm như mình đúc ra. Tiên sư tụi Quân Báo, ăn hại đái nát, để Cộng Sản đưa tăng vào Miền Nam, đếch biết. Lúc nó bắn, vãi cứt ra quần vẫn còn cho là tăng giả, làm bằng giấy. Mẹ kiếp, chán ghê, chán ghê !

Buổi tối, chúng tôi lại nói chuyện về cuộc chiến với những nỗi nhục nhằn phải chịu đựng từ sau ngày 30-4.

Trong lúc đó, Lâm ghé vào tai, nói nhỏ:

– Ông ạ, có lẽ sắp “lên lớp” [Lên lớp=Học tập] . Bên khu “Bò Lục” cho biết như vậy!

– “Lên lớp” như tuần trước chứ gì?

– Không đâu, nghe nói lần này học 8 bài.

– Học 80 bài cũng chẳng sợ. Nhưng đói bụng quá, ông còn mì ăn liền không?

– Làm gì còn. Tiền cũng hết! Còn hơn 100đ, bữa nọ đổi tiền, họ thu rồi.

– Sao ông có ít vậy? Tôi nghe nói, có người đổi cả 100 ngàn. Có người dấu vợ tiền, phải gửi thư gấp về nhà chỉ chỗ cho vợ lấy đổi, kẻo mất toi! Tụi Cộng Sản khốn nạn ghê, 1đ của nó ăn 500đ của mình. Như vậy, ông chỉ còn mấy cắc bạc!

Lâm cười hì hì…

– Cả cơ nghiệp còn mất nữa là!

Tin đồn “lên lớp” có thật. Sáng nay, cả trại mang không khí mới. Thay vì vác cuốc xẻng, các vị Đại Tá cắp vở như học sinh đi học. Mặt mũi người nào cũng sáng sủa, quần áo tuơm tất. Họ đi qua chỗ tôi ở, hàng ngũ rất nghiêm chỉnh, không thấy ai cười nói như khi đi lao động. Vì số cải tạo viên lên quá đông, nên phải chia lớp học thành nhiều đợt. Tên quản giáo từ ngoài đi vô, tìm B. Trưởng.

– 2.00g chiều nay, các anh “nên nớp”! Sáng nay khỏi “nao” động. Các anh chuẩn bị “nát” nữa cán bộ giáo dục sẽ đến hướng dẫn các anh về buổi “nên nớp” chiều nay.

Nói xong, hắn đi nhanh ra. Vô tư nhận xét, tên cán bộ quản giáo không đến nổi khắc nghiệt. Hắn chỉ làm đúng nhiệm vụ Trên đã giao phó. Trong vài trường hợp, hắn cũng giúp đỡ anh em như mua dùm thuốc lào cùng vai thứ cần dùng khác. Nhưng hắn rất kín đáo triệt để bảo mật, không nói cho ai biết chút gì về ý định của Trên. Trong B tôi, có anh mắc bệnh nghễnh ngãng phải đeo máy nghe bằng pin. Anh ta muốn dò xem chừng bao lâu nữa được tha về, nên ngỏ ý với tên quản giáo.

– Thưa cán bộ, chắc vấn đề học tập cải tạo còn lâu, cục pin nghe của tôi gần hết, xin cán bộ mua dùm cục khác.

Tên quản giáo cười:

– “No” gì, đủ mà ! Không “nâu” đâu!

Anh ta mang chuyện đó nói với anh em. Mọi người đều phấn khởi.

Vào khoảng 9g00, tên cán bộ giáo dục đến. Hắn cho lệnh người nào ngồi vào chỗ nấy, xong bắt đầu !

– Theo đúng chính sách của Đảng và Nhà Nước, chiều nay các anh chính thức “nên nớp” học tập chính trị. Tôi cần nhắc nhở các anh mấy điểm sau:

Phải tuyệt đối im “nặng” trong “núc” giảng viên giảng dạy.

Không được đặt câu hỏi trước hay sau khi giảng dạy.

Không hút thuốc trong giờ học.

Phải giữ kỷ “nuật” trong “núc” di chuyển đi và về.

Đây, cơ hội để các anh tỏ bầy trước Cách Mạng “nòng” thảnh khẩn và quyết tâm học tập cải tạo. Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh ngưới chạy “nại”. Xét cho cùng, các anh cũng chỉ “nà” tay sai của đế quốc. Cách Mạng có nhiệm vụ phải giáo dục các anh để trở thành những con người tốt, có ích cho gia đình, xã hội mai sau. Trong các anh, ai có điều gì cần hỏi?

Tất cả đều nói:

– Không!

Tên cán bộ đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi thủng thẳng đi ra. Mọi người thở phào. Ai cũng mong chóng tới 2g00 chiều để được lên lớp.

Khoảng 11g30, toán “Bò Lục”, lên lớp buổi sáng trở về. Anh em xổ lại hỏi:

– Học gì đó ông

– Đế quốc Mỹ kẻ thù số 1 của nhân dân ta!

Hầu hết, nét mặt các học viên, người nào cũng lộ vẻ hài hòa, không mấy lo âu.

Google images

Buổi trưa nay, sau khi ăn xong, tôi nằm kềnh ra ván, ngửa mặt nhìn mạng nhện giăng đầy trần nhà. Bên cạnh, Mậu đã nhắm mắt, thở đều đều. Tên này hay thiệt, dễ ăn, dễ ngủ. Tôi nằm chờ tiếng kẻng.

Khi tiếng kẻng thứ nhất vừa vang lên, tất cả đều chồm dậy. Người chải đầu, người lau mặt vội vàng, bước nhanh ra cửa tập họp. B. Trưởng điểm số, xong cho lệnh đi. Đến cổng, anh em phải chờ báo cáo, trước khi đi vào lộ đá.

Từ nhà đến nơi học cũng khá xa, khoảng 1 cây số. Lớp học, xưa kia chắc là phòng hội của binh sĩ nên rất rộng, có thể chứa 3, 4 trăm người. Mỗi B ngồi vào ô đã được ấn định.

Ở cuối phòng, kê chiếc bàn gỗ mộc, không có ghế. Trên bàn đặt chiếc micro và ly nước. Mấy tên bộ đội lo về âm thanh chạy lăng xăng, sờ mó các dây điện, thỉnh thoảng lại ghé mồm thổi vào micro phù phù. Hai bên vách có treo 2 tấm biểu ngữ, nội dung đề cao vai trò của Xã Hội Chủ Nghĩa và khuyến khích học tập.

Có tiếng hô lớn: Chú ý! Mọi người im lặng tưởng như con ruồi bay qua cũng nghe rõ tiếng vỗ cánh.

Một tên Việt Cộng cao lớn, đỉnh đạc từ cửa hông bước vô. Sắc mặt lạnh lùng. Mái tóc hớt cao. Bộ quân phục khá tươm tất. Trông hắn có vẻ trí thức!

Có lẽ, tụi Cộng Sản phải chọn mẩu người này, tương đối “sạch sẽ” để phụ trách công tác giảng huấn, vì đa số sĩ quan của Quân Lực Cộng Hòa, đi học tập cải tạo đều có văn bằng, thấp nhất là Tú Tài phần I, cao nhất: Cử nhân, có một số nhỏ đã qua Cao Học! Các sĩ quan không bằng cấp, đi từ hàng binh sĩ lên, rất ít. Qua bản Sơ Yếu Lý Lịch, Cộng Sản đã nắm vững được tầm mức học thức của đối tượng.

Mở đầu bài học, tên Việt Cộng khẳng định, không có vấn đề “tẩy não” vì không ai có khả năng và quyền hành để tẩy não ai cả. Bộ óc con người gồm mấy chục ngàn sợi dây thần kinh, không dễ dàng xóa bỏ những gì đã ghi nhận từ lâu, để thu vào những cái mới không thích hợp. “Tẩy não hay không, do các anh”. Nếu các anh nhận thấy Cách Mạng đúng, chính các anh sẽ loại bỏ cái cũ do Mỹ, Ngụy đã nhồi nhét vào trí não các anh, mấy chục năm dài !

Phải nhận, hắn nói rất lưu loát, có tài hùng biện. Hắn áp dụng biện chứng pháp để xoay trở các lý lẽ trở thành “lô gích”.

Bài học đầu tiên: ĐẾ QUỐC MỸ, KẺ THÙ SỐ 1 CỦA NHÂN DÂN TA, TÊN SEN ĐẦM QUỐC TẾ! 

Bài học khá dài, học 2 buổi mới hết. Sau mỗi giờ, được nghỉ xả hơi 15 phút. Trong suốt 2 buổi học, tôi không thấy hắn nhìn vào mảnh giấy nào, hắn nói phăng phăng, rất khúc chiết, mạch lạc, chứng tỏ hắn nắm rất vững vấn đề. Giọng nói của hắn có uy lực và hấp dẫn. Chúng tôi cắm đầu, cắm cổ chép mấy chục trang. Vì viết quá nhanh nên năm đầu ngón tay nhiều lúc cứng đơ, viết không thành chữ.

Nội dung bài học, Đế quốc Mỹ, Tên “Thục Dân Mới” vô cùng tàn nhẫn, đã bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy. Nó là con đỉa 2 vòi, nó bóc lột nhân dân Thế Giới cũng như nhân dân trong nước. Nó xấu xa, đểu cáng, tàn bạo! Nó gây ra chiến tranh để thủ lợi. Số lượng bom đạn ném xuống cả hai miền Nam, Bắc trong hơn 20 năm chinh chiến vừa qua, bằng tất cả số lượng bom đạn của Đệ II Thế Chiến cộng lại ! Ây là chưa kể hóa chất khai quang tiêu diệt 70% hoa mầu của nhân dân hai miền.

Nhờ vào Đệ II Thế chiến, Đế Quốc Mỹ đã thu lợi hang trăm tỷ Mỹ kim. Nói tóm lại, Đế Quốc Mỹ, tên Thục Dân mới vộ cùng nguy hiểm. Nó, kẻ hiếu chiến, chuyên gây chiên tranh để thủ lợi! Nó, tên sen đầm Quốc Tế!

Đại ý bài học về Đế Quốc Mỹ gồm các điều chính như trên nhưng qua lời dẫn giải, nó trở thành căm thù, phẫn nộ, không thể dung thứ!

Buổi tối, tôi dò hỏi, mới được biết, giảng viên tên Bình, Đại Tá Quân Ủy, thuộc Cục Chính Trị Hà-nội được điều vào Nam phụ trách phần giảng huấn.

Sau hai buổi học, B Truởng và Lâm, bây giờ trở thành thư ký chung của B, đi hội tại căn nhà quản giáo để lấy “Mục đích yêu cầu” về thảo luận. Theo chương trình, chúng tôi sẽ phải thảo luận đề tài này trong một tuần, mỗi ngày 2 buổi, y như lần trước. Chỉ có khác, sau khi thảo luận, mỗi cá nhân phải viết “bản thu hoạch” theo những câu hỏi do “yêu cầu” đề ra.

Cuộc học tập thảo luận này nghiêm túc hơn buổi học tập trước nhiều. Tên cán bộ giáo dục bám sát và theo dõi kỹ hơn. B vẫn được phân chia làm 3 Tổ riêng rẽ. Vì biết vấn đề học tập này có tầm mức quan trọng nên anh em có vẻ hăng say thảo luận và mạnh bạo nói. Một phần, nhờ vào đề tài chỉ nói riêng về Đế Quốc Mỹ, nên anh em phát biểu thoải mái, nó không dính dáng gì đến mình! Ai cũng nghĩ vậy! Ngày qua ngày, mỗi nguời lần lượt kể tội Đế Quốc Mỹ, nào đem bom đạn vào Việt Nam để giết chóc dân lành, nào thuốc khai quang, nào cố tình chia cắt đất nước lâu dài. Nhưng đến khi câu hỏi được đặt ra: Đế quốc Mỹ đã bóc lột nhân dân ta như thế nào? mọi người đều ngẩn mặt, cố suy nghĩ, tìm hiểu xem Đế Quốc Mỹ đã bóc lột nhân dân Miền Nam những thứ gì, bằng cách nào ? Nó phá đồi và rừng cao su để làm xa lộ chăng? Nó cưa cây, mở rộng đường phố cho xe chạy, đã làm mất vẻ thẩm mỹ của Saigon chăng? Đúng rồi, nó mua đồ cổ từ Huế chở về Mỹ, tức là nó làm hại nền văn hóa cổ truyền của Dân Tộc ta! Nhưng khi mua nó có trả tiền, trả đắt là khác, đâu phải bóc lột ? Còn sự mang các di vật đó ra khỏi Việt Nam, chắc được sự đồng ý của chính quyền lúc ấy, cũng phải đóng thuế, vậy nó bóc lột cách nào mà hay vậy?

Tên cán bộ giáo dục, có mặt liên tục, khi đứng khi ngồi, luôn luôn dòm ngó, làm tinh thần anh em căng thẳng, có người bấn qua, tố tùm lum, không có cơ sở gì ráo trọi! Người nào cũng phải nói. Mỗi khi nhận thấy có ai ít tham gia thảo luận, hắn nhắc nhở, đôi khi gay gắt:

– Các anh phải đi thẳng vào vấn đề và khẳng định. Đế quốc Mỹ “nà” kẻ thù số 1 của nhân dân ta. Nó “nà” tên sen đầm quốc tế. Nó “nà” tên hiếu chiến. Nó “nà” tên đầu xỏ Thực Dân Mới! Nó chủ trương chia cắt đất nước ta vĩnh viễn, biến 2 miền Nam, Bắc thành 2 vùng thù địch. Các anh phải “nên” án, phải nắm vững quy “nuật” tiến hóa của nhân loại đang tiến theo 3 dòng thác Cách Mạng.

– Cách Mạng giải phóng Dân Tộc!

– Cách Mạng giải phóng Vô Sản Thế Giới

– và Cách Mạng đấu tranh của giai cấp công, nông trong “nòng” các Đế quốc!

Hắn nói như con vẹt. Tất cả chỉ là giáo điều. Nhưng sự hiện diện của hắn trong các buổi học tập làm chúng tôi cảm thấy vướng mắc, nhiều lúc bí quá phải nói bậy bạ cho xong chuyện, kết tội vô lý vẫn phải cố gắng tạo ra những bằng cớ, nếu không sẽ bị nó ghi tên vào cuốn sổ tay nhỏ, lúc nào cũng mang theo.

Sau một tuần lễ nói chán chê, bây giờ mới là lúc đi vào yêu cầu chính: viết thu hoạch. Bản viết phải trả lời tất cả những câu hỏi do yêu cầu đặt ra, do đó, dù muốn dù không, vô lý hay có lý, mọi người đều phải kết tội Đế Quốc Mỹ theo đúng dự tính của Cộng Sản!

Bài thứ hai về Ngụy Quyền cũng vẫn do tên Đại Tá Bình diễn giảng. Nội dung kết tội chính quyền Miền Nam trước đây đã cấu kết với Đế quốc Mỹ để phản lại Cách Mạng! Ngụy Quyền đã giam dân trong Ấp chiến luợc để kìm kẹp, bóc lột ! Đạo luật10/59 của Ngô Đình Diệm đã loại Cộng Sản ra khỏi vòng pháp luật, tức “lê chiếc máy chém đi khắp Miền Nam để sát hại Cách Mạng!” Đã tạo ra bao nhiêu hình phạt, thuế khóa nặng nề để bóc lột hà hiếp nhân dân! Nói tóm lại, Ngụy Quyền là tay sai của Đế Quốc, do Đế Quốc tạo ra và sai khiến theo đúng đường lối của Chủ Nghĩa Thực Dân mới. Ngụy Quyền là một giai cấp ăn trên ngồi trốc, Việt gian bán nước!

Vấn đề sinh hoạt, thảo luận vẫn như trước. Anh em vẫn sinh hoạt nghiêm túc vì cho rằng cả hai bài đều không dính dáng tới mình. Nếu mình có chửi chính quyền Miền Nam cũ cũng chẳng có gì quá đáng, vì họ, một bè lũ tham nhũng, mua quan bán tước, vô tài bất tướng, chỉ ăn chơi phè phỡn, vợ lẻ con thêm, họ tích lũy tiền bạc đi ngoại quốc, xe hơi nhà lầu hưởng thụ sướng thân, ai chết mặc ai ! Một lũ, chỉ biết nói phét khi có quyền, tung oai tác quái, khi hữu sự lại bỏ chạy như đàn chuột. Một lũ hèn nhát không xứng đáng lãnh đạo Quốc Gia!

Google images

Tôi suy nghĩ một mình, nếu Miền Nam đừng có những vụ lộn xộn về chính trị, nếu ông Diệm không bị giết lãng xẹt, nếu công trình Ấp Chiến Lưọc thành công, tách cá ra khỏi nước, tách Cộng Sản ra khỏi dân thì đâu đến nổi nào!

Tên cán bộ giáo dục thỉnh thoảng đứng lên đi đi, lại lại, hai tay khoanh sau lưng như nghiền ngẫm điều gì. Khi gần hết giờ sinh hoạt, hắn mới có ý kiến :

– Trong mấy ngày, tôi “nắng” nghe các anh học tập, thảo “nuận” về Ngụy Quyền. Tôi nhận thấy, đại bộ phận các anh đã tiến bộ, đã có những tư tưởng dứt khoát với chế độ cũ, nhưng cũng còn một số anh “nấn cấn”, việc phát biểu chưa rõ ràng, quyết “niệt”! Qua bài học, các anh nhận biết, Ngụy Quyền đã bắt các thanh niên hy sinh xương máu cho bọn chúng thụ hưởng, đã dâng Miền Nam cho Đế quốc Mỹ, đã cấu kết với Thực Dân Mới nhằm chia cắt vĩnh viễn Tổ Quốc ta. Tội ấy, vô cùng to “nớn”, “nịch” sử sẽ ghi nhận, nhân dân sẽ không quên ! Các anh phải nắm vững mục đích yêu cầu để “nàm” cơ sở thảo “nuận”, học tập, có ích ngay cho bản thân. Các anh phải biết rõ điều đó chứ? Các anh phải triển khai nội dung vấn đề, với “ný nuận” sâu sắc, các anh quật ngã Ngụy Quyền ngay trên cơ sở của nó. Các anh phải căm thù “nên” án đạo “nuật” 10/59 đã sát hại bao nhiêu chiến sĩ Cách Mạng? Các anh phải …

Nói đến đây, tự nhiên hắn khựng lại như không nghĩ ra việc gì sẽ nói tiếp. Dòng tư tuởng của hắn bị cắt đứt. Mọi người ngồi im chờ đợi. Bỗng hắn nói:

– Các anh phải tiếp tục thảo “nuận” đi chứ!

Vừa lúc ấy, tiếng kẻng rền vang. Mọi người đứng nhanh dậy. Căn nhà tự nhiên ồn ào hẳn. Tiếng muỗng, gà-mên khua rổn rảng . Bữa cơm trưa, ai nấy ăn vội để ngả lưng vì mỏi mệt, dù cho sau mỗi giờ có nghỉ ít phút. Đôi lúc quá mệt, anh em muốn kéo dài thời gian nghỉ, nhưng tên cán bộ đã lưu ý ngay. Mọi người đều có cảm tưởng mình bị kiềm chế và bắt buộc phải làm theo những gì Cộng Sản muốn.

Bản thu hoạch kỳ này, sau khi làm xong phải thông qua Tổ trước khi nộp cho tên cán bộ giáo dục. Lần luợt mỗi người phải đọc bản thu hoạch do mình viết cho cả Tổ nghe để phê bình xậy dựng nếu có sơ sót. Một chiếc bẫy nữa lại mở ra, để nhốt kỹ con mồi. Nhưng cũng ít ai nhậy cảm để đoán biết ý đồ của Cộng Sản ! Anh em chỉ nhận thức rõ ràng saubài học thứ ba: Ngụy Quân.

Bài Ngụy Quân, vẫn do tên Đai Tá Bình lên lớp. Có lẽ đây là một giảng viên ưu tú của Cộng Sản, họ cần mang ra để áp đảo tinh thần đối tượng, cho đối tượng nhận thấy, không phải Cộng Sản chỉ gồm toàn hạng “răng đen, mã tấu!”

Với giọng nói đanh thép, tên Đại Tá Bình gắt gao lên án Ngụy Quân suốt buổi học. Tuy không ai nói ra, nhưng tôi tin, trong lòng tất cả mọi người, ít nhiều gì cũng thấy sượng sùng, nhột nhạt.

– Tất cả tội lỗi do các anh chịu trách nhiệm. Ngụy Quyền có mặt do Đế Quốc, nhưng Ngụy Quyền tồn tại được do Ngụy Quân! Nếu không có các anh, Ngụy Quyền không sống được một ngày. Các anh đã tạo nên nhiều tội ác, tàn sát các chiến sĩ Cách Mạng, giết hại dân lành, đốt phá nhà cửa, cướp bóc, hảm hiếp, tất cả đều do bàn tay đẫm máu của các anh gây nên ! Binh sĩ, họ có bắn giết cũng do lệnh các anh! Họ không có tội gì cả ! Tội của các anh trời không dung, đất không tha, tre trúc không ghi hết, nước biển Đông không rửa sạch! Các anh đã ý thức được chua? Các anh thuộc giai cấp ăn bám, được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi, nắng không ưa, mưa không chịu, mát trời đi chơi ! Giai cấp các anh là giai cấp đồi trụy, thoái hoá!

Tất cả lớp học im như tờ. Hai mắt tên Đại Tá Bình sáng quắc chiếu rọi vào các học viên, như quất vào mặt mỗi con người hiện diện một ngọn roi vô hình, tuy không nhìn thấy nhưng vô cùng đau đớn!

Buổi học tan trong không khí buồn thảm. Mặc cảm tội lỗi đã làm mọi người mất đi phần tự tin. Chúng tôi nhìn nhau như nhìn thấy niềm tủi hổ của chính mình. Tất cả chỉ vì thua trận ! Ngược lại nếu do cơ trời xếp đặt, Miền Nam thắng thì vấn đề tù, hàng binh Cộng Sản cũng sẽ bị giáo dục như họ đã giáo dục chúng tôi hôm nay, nếu có khác, Miền Nam sẽ chỉ kết tội Đảng Cộng Sản chứ không kết tội cá nhân! Trong các buổi sinh hoạt học tập bài Ngụy Quân, được tên cán bộ giáo dục đặc biệt chú ý.Vì đây, mục đích chính, Cộng Sản muốn khai thác, nên vấn đề “mục đích yêu cầu” có phần kỹ hơn hai bài trước.

Từ phút đầu thảo luận, anh em ai nấy đều lộ về mặt nghiêm túc xen lẫn lo âu, vì đây bài học tự tố cáo tội lỗi mình. Mọi người chợt nhớ lại, buổi sinh hoạt thảo luận đầu tiên, tha hồ nói, tha hồ tự kết tội vì ai cũng coi như một trò chơi không nguy hiểm, dù có nói gì chăng nữa, gió cũng bay lên trời ! Những lúc này chắc ai nấy đều giật mình vì những gì trót nói đã được ghi nhận, dù vắn tắt do thư ký Tổ đã trao cho tên cán bộ giáo dục cầm giữ trong tay. Do đó, trong buổi thảo luận hôm nay cũng như những ngày kế tiếp, nếu ai cố tình nói trái với những điều hôm trước, sẽ được anh em và tên cán bộ “xây dựng” ngay! Khi biết dại đã muộn!

Trời mấy bữa nay không mưa, nên không khí có phần oi bức. Ngồi trong nhà, vài người luôn tay gạt mồ hôi trán. Mới sáng sớm, nắng đã gay gắt. Không một ngọn gió.

Tên cán bộ giáo dục, tay cầm tập giấy cuộn tròn, để ghi nhận những lời phát biểu của anh em trước và cuốn sổ tay như thường lệ. Mọi người đã ngồi thành vòng tròn, nhưng chưa đi vào thảo luận.

– Các anh “động não” đi chứ? Tên cán bộ nói lạnh lùng.

Lâm với tư cách thư ký, đọc to bản mục đích yêu cầu, rồi mời anh em thảo luận câu hỏi thứ nhất !

Cuộc sinh hoạt, nói cho đúng cũng tương tự như buổi tự kết tội hôm trước, chỉ khác nó tỉ mỉ, chi tiết hơn về số lượng huy chương cũng như các cuộc hành quân. Tôi nhận thấy, hình như mọi người cố moi ra những sự kiện càng nhiều càng tốt, để chứng minh cho lời nói của mình đúng sự thực. Lâm ghi chép tóm lược các điểm chính rồi đọc lại cho đương sự cũng như toàn Tổ nghe. Dĩ nhiên, tên cán bộ giáo dục càng nghe kỹ hơn. Đôi lúc hắn giở cuộn giấy cắm cúi nhìn.

– Này anh Định, sao bữa trước anh nói, đã đốt 25 căn nhà, giết 25 con trâu, 7 con bò, hôm nay anh lại nói, đốt 20 nhà, giết 10 trâu và 5 bò, thế “nà” nghĩa “nàm” sao?

Sắc mặt Định tự nhiên đỏ gay:

– Dạ, bữa trước tôi lầm, nay suy nghĩ lại, nói cho đúng!

– Còn huy chương, anh nói, có 7 Anh Dũng Bội Tinh, gồm 3 ngôi sao bạc, 4 ngôi sao đồng, nay anh nói chỉ có 2 sao bạc và 2 sao đồng, sao thế nhỉ?

Giọng nói của hắn có vẻ mỉa mai, diễu cợt vì nghi Định cố tình nói rút đi để nhẹ tội!

– Dạ, tôi nghĩ, anh thư ký đã ghi không đúng lắm. Tôi có nói thế bao giờ? Tôi đâu dám giấu diếm điều gì vì Cách Mạng đã biết hết, biết rõ hơn chúng tôi nữa. Các bản Tướng Mạo Quân Vụ hãy còn y nguyên tại Bộ Tổng Tham Mưu làm sao nói khác đuợc?

Tên cán bộ lừ mắt nhìn Định, không nói gì. Anh em lại tiếp tục tự kể tội theo yêu cầu. Có vài người khi nhắc lại “quá trình tội lỗi” đã rơm rớm nước mắt! Giọng nói nghẹn ngào! Tôi chẳng biết họ cảm động thật hay đóng kịch?

Hôm nay, buổi sinh hoạt chót. Mọi người đều uể oải, thấm mệt. Tất cả những gì chứa chấp trong lòng đã vơi đi, tưởng như vậy con người sẽ nhờ đó nguôi ngoai cơn sầu muộn! Ai ngờ, sau khi đã nói hết tội lỗi, tự nhiên trong lòng lại buồn phiền, tủi nhục hơn khi chưa nói. Tất cả những vinh quang ngày trước, mọi người đều hãnh diện khi mang cấp bậc trên cổ áo, khi đeo những hàng huy chương rực rỡ trên ngực, hôm nay, mỗi thứ, trở nên một sỉ nhục, một hối hận không sao chối bỏ!

Tên cán bộ giáo dục đứng lên, nhìn khắp luợt:

– Sau những buổi sinh hoạt học tập, tôi có nhận xét chung như thế này. Có những anh thành thực tự nói ra “nỗi nầm” quá trình của mình, không giấu diếm, không cường điệu. Nhưng cũng còn một số anh học tập, trước sau không như một! Các anh sợ gì chứ? Nếu Cách Mạng không khoan hồng, muốn giết các anh, đã giết rồi, chẳng phải chờ đến hôm nay, qua “nời” thú tội dù đúng, dù sai! Các anh “nà” những người có tội đối với nhân dân và Tổ Quốc. Nhờ vào các anh, Ngụy Quyền mới tồn tại. Chiếc máy chém của Ngô Đình Diệm, nếu có “nê” đi khắp Miền Nam để sát hại những chiến sĩ yêu nước, cũng do các anh bảo vệ và thi hành. Mối thù này, Cách Mạng và nhân dân không bao giờ quên! Các anh không thể tránh tội bằng ngụy biện, bằng dối trá. Bàn tay các anh đã đẫm máu! Chỉ còn một cách để các anh có thể trở về với nhân dân, với T ổ Quốc, “nà” các anh hãy thành thực nói cho hết, chẳng những tội “nỗi” của mình, còn của bạn mình nữa ! Các anh xây dựng “nẫn” nhau, để cùng tiến bộ!

Google images

Tên cán bộ nói, hai bên mép sùi bọt trắng. Mắt hắn trợn trừng để tăng thêm vẻ quyết liệt cho gưong mặt quê mùa. Anh em không ai nói câu nào. Một không khí nặng nề bao phủ căn nhà. Tôi nhìn đồng hồ tay, chỉ còn 5 phút phù du nữa, hết giờ sinh hoạt. Nhưng 5 phút “thời gian tâm lý” dài ghê! Tên cán bộ không nói. Chúng tôi cũng ngưng tự kể tội. Cả hai, đều sống trong trạng thái chờ kẻng tan tầm!

Tên cán bộ quay lưng bước ra khi tiếng kẻng vừa gõ. Chúng tôi vội vàng đứng dậy, vươn vai, ngáp dài!

Tôi nhìn ra ngoài, ánh nắng làm chói mắt. Có người không chịu nổi cơn nóng, tụt nhanh áo quần chạy ra ngoài xối nước. Đến giờ cơm, mọi người ăn uể oải. Bài học Ngụy Quân đã làm ai nấy thấm đòn và biết rằng, với tội lỗi ấy không dễ gì xóa bỏ ! Cái hố cách biệt giữa những con người không cùng chung ý thức hệ thật rộng, thật sâu, cơ hồ chẳng cách gì lấp bằng được. Nhưng không phải bất cứ ai cũng có được nhận thức như vậy. Còn rất nhiều người vẫn tuyệt đối tin tưởng vào lời hứa hẹn của Cộng Sản: Nay mai, sau khi học xong 8 bài, họ sẽ được làm lễ mãn khóa tại căn cứ Sóng Thần, được trả tự do và “phục hồi quyền công dân”.! Họ sẽ trở thành người dân lương thiện, sống hiền hòa bên cạnh vợ con, nuôi sống gia đình bằng sức lao động của chính mình. Họ tự hứa, sẽ quên hết quá khứ, chỉ có hiện tại và tương lai là đáng kể!

Trong 8 bài học tập, chỉ có 4 bài do tên Đại Tá Bình phụ trách, thực sự quan trọng. Đó là các bài: Đế Quốc, Ngụy Quyền, Ngụy Quân và Lịch Sử Đấu Tranh của Nhân Dân Việt Nam. Bài học lịch sử, lẽ dĩ nhiên, được nhìn và phân tách với nhãn quan Mác-Xít. Họ đề cao ý thức đấu tranh của Đảng Cộng Sản Đông Dương, còn các nhân vật lịch sử vĩ đại khác, chỉ được nhắc sơ qua như Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, người Anh Hùng Áo Vải. Một bài khác, tương đối, cần cho sự hiểu biết, đó là bài Lao Động. Bài nay do tên cán bộ, người miền Trung dẫn giảng. Nhưng dù bài nào, với nội dung ra sao, chúng tôi cũng vẫn bị nghe những lời xỉ vả và dọa nạt như nhau:

– Các anh, hạng người ăn bám trên sức lao động của người khác. Các anh không lao động, tức không tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Các anh là hạng người vô dụng ! Hạng người chuyên dùng bạo lực để hà hiếp kẻ khác, sống để thụ hưởng, tạo ra bao nhiêu tệ đoan cho xã hội ! Miền Nam trước đây, chỉ sống nhờ vào sự phồn vinh giả tạo do Đế Quốc cung cấp !

Tất cả 3 giảng viên, may thay, không ai nói ngọng. Sau bài học cuối cùng: “Trách nhiệm và bổn phận của các Cải Tạo Viên Trong Đời Sống Mới!” mọi người đều hí hửng tin mình sắp được tha, cũng như trường hợp Bác Sĩ Hoàng và Đại Tá Cẩm, sau hơn 1 tháng đái ỉa trên giường, được Cộng Sản cho về, vì đã “học tập tốt, lao động tốt!”. Nghe đâu Đại Tá Cẩm còn được mời lên Tivi để ngỏ lời tri ân Đảng và Nhà Nước cũng như nhân dân đã tha tội chết!

Sau hơn 2 tháng học tập liên tục, theo lệnh trên, khu Đại Tá cũng như khu Trung Tá, phải đề cử người lên đọc cảm tưởng trước Ban Giảng Huấn và các cấp cán bộ, những gì đã tiếp thu sau 8 bài.

Buổi đọc cảm tưởng được tổ chức trọng thể. Đại diện các khu đều có mặt. Vị Đại Tá được đề cử thay mặt anh em cung cấp đã đọc một bài cảm tưởng “hèn hạ nhất Thế Giới”. Anh tự kết tội mình đã đành, còn kết tội chế độ, kết tội anh em:

– Thưa quý cán bộ, tên Đại Tá Bối đã chết rồi, chết một cách ô nhục! Bây giờ, người đang đứng trước mặt qúy vị đây, chỉ là một cải tạo viên, một con người đã ý thức được quá trình tội lỗi của mình và đồng bọn! Nó rất xấu hổ và nhục nhã, mỗi lần nhìn thấy mặt mũi mình trong gương!

Nói đến đây, hắn ôm mặt khóc nức nở…

Vị Đại Tá nói xong, đến một Trung Tá, tương đối anh này ít hèn hơn, tuy bài đọc cũng không đi ra ngoài mục đích do Cộng Sản yêu cầu.

Nói cho đúng, mọi bài đọc đều thông qua anh em, nhưng anh em vốn không tốt gì, chỉ nghĩ đến mình, làm mọi cách để mong sớm được tha, nên ai muốn viết sao, muốn đọc gì tùy ý, miễn không phải mình trực tiếp đảm nhiệm.

Vào những ngày tháng sau này, không hiểu Đại Tá Bối nghĩ sao về sự bốc đồng của mình lúc đó, cho đến hôm nay, không hiểu đã được Cộng Sản thả chưa? Nhưng tôi tin, thời gian và những nhục nhằn do Cộng Sản áp dụng trong các Trại Tập Trung Cải Tạo tại miền Bắc, chắc đã làm sáng mắt những ai còn mơ hồ, tin tưởng vào chính sách: “Truớc sau như một!”

Đầu tuần, anh em lại tiếp tục lao động. Lần này thực hiện công tác làm con đường lót đá. Con đường chạy dài từ cổng chính cuối Trại, dài khoảng 2 cây số. Mỗi B phụ trách chừng 20 thước. Vừa làm, anh em vừa bàn tán:

– Con đường này để đón quan khách thăm viếng!

– Đếch phải, nó được sử dụng cho đoàn Molotova đón tụi mình ra căn cứ Sóng Thần làm lễ mãn khóa !

– Cũng đéo đúng! Nó dùng cho tụi “cối” đi, đỡ bẩn chân lúc trời mưa!

Tiếng nói cười hô hố, vui vẻ, hình như mọi người đã quên đi những ngày tháng gò bó vừa qua. Thế mới hay, lao động tay chân, thoải mái hơn lao động đầu óc nhiều!

Những tảng đá to, nhặt quanh quẩn xung quanh Trại, mang về trải trên mặt đường. Cục nào quá to, dùng cuốc chim bổ vỡ. Trong vòng mấy ngày, con đường mới đã làm xong. Chiếc Molotova đầu tiên lăn bánh thoải mái. Tiếng đá kêu lạo xao duới từng vòng bánh xe. Tên lái xe, đạp ga lướt nhanh trên mặt lộ. Tiếp theo, một chiếc Toyota mầu trắng cũng vụt qua, trên có vài tên “cối xanh”, ngồi chỗm chuệ. Chắc cấp lớn! Trong những ngày trước, thỉnh thoảng cũng có vài chiếc ra vô, nơi khu “Bò Lục”. Hỏi ra, họ đến thăm vài người trước đây đã làm việc tại Camp-David, hòa hội 4 phe!

Trưa nay, sau khi vừa ăn xong, chúng tôi được lệnh sửa soạn sẵn giấy bút, chờ B. Trưởng hội ở Tiểu Đoàn sẽ về thông báo! Dưới ánh nắng, B. Trưởng có vẻ mệt mỏi vì đến giờ này chưa được ăn, lừ lừ đi vô nhà.

Mọi người bu quanh. B. Trưởng nói vội vã:

– Anh em ghi nhanh!

Ai nấy giấy bút sẵn trong tay. Tiếng đọc chậm rãi:

BẢN TỰ KHAI.

I: Sơ yếu lý lịch: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, trú quán, ngày vào lính, sắc lính, nơi đào tạo, số quân, cấp bậc, chức vụ, đơn vị cuối cùng.

II: Bản thân: quá trình hoạt động từ năm lên 6 tuổi tới ngày 30-4-75. Học trường Tiểu học, Trung học, Đại học nào ? Giáo viên tên gì? Bạn với những ai? Nói rõ chi tiết: ngày vào lính, nơi đào tạo, các đơn vị đã qua, các chức vụ đã giữ. Ngày, tháng thăng cấp. Các cuộc hành quân? Các loại huy chương? Ai chỉ huy? Cố vấn tên gì, cấp bậc? Tài sản tích lũy?

III: Liên hệ gia đình: Tên tuổi vợ con, ông bà nội ngoại, bố mẹ, anh em, vợ con họ làm nghề gì, hiện ở đâu?

IV: Bản thân có giúp gì cho Cách Mạng? hoặc trong gia đình có những ai tham gia Cách Mạng?

V: Phải thành thật khai báo, nếu khai man, đương sự sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Hết!

Sau khi đọc xong, B. Trưởng nằm sóng soài ra ván. Anh em người nào mặt cũng ngẩn ra.

– Bao giờ nộp, B. Trưởng?

– Trong 3 ngày. Bắt đầu từ mai. Lát nữa phát giấy, mỗi nguời 8 tờ!

Lâm đến bên tôi :

– Chết cha rồi ông ơi? Khai 4, 5 đời thế này thì bỏ cha! Khai rồi, mấy ông chưa tin, bắt khai lại, cái đó mới chết!

– Ai bảo buông súng? Tôi đã giải ngũ từ năm 74, nên đếch có trách nhiệm gì về vấn đề này, bây giờ cũng gánh chịu hậu quả như nhau!

Ngay buổi chiều hôm đó, tên cán bộ giáo dục đi cùng tên quản giáo đến, lưu ý chúng tôi phải làm bản Tự Khai theo đúng thời gian ấn định.

Google images

– Tôi nhắc “nại”, Cách Mạng không bắt các anh phải cường điệu, nhưng nghiêm trị những ai gian dối, cồ tình giâú diếm tội “nỗi”, các anh rõ chứ?

– Dạ, rõ!

Hai tên đi ra. Anh em, ai ngồi chỗ nấy, bắt đầu suy nghĩ, hồi tưởng ghi vào giấy nháp những gì do ký ức cung cấp.

Mậu hỏi tôi:

– Chết cha! Làm sao biết tên ông bà nội, ngoại, và còn làm nghề gì nữa? Mình xa nhà từ thuở nhỏ, có bao giờ nghe nói đến! Còn họ hàng, anh em, sao đây ông?

– Biết đâu khai đó! Tôi cũng như ông, chẳng biết tên ông bà nội, ngoại, họ hàng cũng không! Có mấy đứa cháu cũng không biết tên nữa là!… Mình còn nhớ được tên bố mẹ, vợ con đã may lắm rồi! Biết sao viết vậy!

Buổi tối nay, ít người ra sân. Trăng hạ tuần lên muộn. Những vì sao lấp lánh trên cao đẹp như những hạt kim cương. Vũ trụ bao la, sao cuộc sống của con người lại hạn định trong một chu vi quá nhỏ hẹp? Chính trị đã chia rẽ và làm khổ con người trong mọi hoàn cảnh. Ai cũng biết kiếp người hữu hạn, cõi đời khổ ải, nhưng mỗi khi nhân danh nó để đấu tranh, con người lại đưa nó vào khổ não khác có phần khe khắt hơn lúc trước!

Tôi ngồi một mình suy nghĩ vẩn vơ, quay mặt nhìn vùng ánh sáng cuối chân trời. Tất cả những người thân yêu đều có đấy, nhưng chắc chắn không ai đoán được những gì tôi đang gánh chịu. Giấc ngủ đêm nay không yên. Nó chập chờn, khắc khoải vì trong đầu vương vấn những câu hỏi của bản Tự Khai, rất khó giải đáp ổn thỏa!

Sau buổi ăn sáng vội vàng, mọi người cắm cúi viết. Bản Tự Khai này, không ai có thể giúp đỡ nhau vì mỗi người có hoàn cảnh riêng. Tôi viết từ sáng tới chiều thì xong, vì trường hợp của tôi rất giản dị: Bố mẹ chết hết, ông bà nội ngoại không nhớ. Họ hàng thân thiết không có, chỉ có vài anh em và vợ con. Vợ tôi, con một, nên đỡ hẳn gánh nặng phải khai. Đơn vị tôi phục vụ từ Phòng 5 Tổng Tham Mưu tới Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, nên không có gì rắc rối. Còn huy chương toàn loại ăn giỗ như: quân phong, quân kỷ, Tham Mưu, Kỹ Thuật, Lục Quân Huân Chương. Chỉ có chiếc Bảo Quốc Huân Chương hạng 5, còn có đôi chút giá trị ! Nhưng tất cả các huy chưong nói trên, đều được cấp theo thâm niên công vụ, không có cái nào được trả bằng xương máu. Khi còn tại ngũ, tôi ít dám mang, dù ngày Đại Lễ, vì sợ anh em cười, “lính văn phòng làm le”. Nay tôi thấy có người khai, riêng huy chương đã đầy 2 trang, vì mỗi chiếc Anh Dũng Bội Tinh, phải khai rõ vì sao được trao, tại mặt trận nào? Có người nói:

– Mỗi Anh Dũng Bội Tinh, 1 năm cải tạo đó, anh em!

Tuy câu nói đùa, nhưng nhiều người nghe cũng hơi chột da! Những ai trong binh nghiệp, bị thuyên chuyển nhiều nơi, việc khai báo rất vất vả. Đông con, nhiều anh em, họ hàng cũng vậy ! Nhiều người phải xin thêm giấy, khai tới 3,4 chục trang chưa hết!

Sau 3 ngày, mọi người phải đọc bản Tự Khai trước Tổ, dĩ nhiên, có sự hiện diện của tên cán bộ giáo dục, để bổ khuyết những gì thiếu sót hoặc không đúng với lời tự thú trong lúc học tập hôm trước. Giữa lúc anh em đang sinh hoạt, tên cán bộ bỗng nói:

– Tôi “nưu” ý các anh, bên khu Đại Tá có những anh khai man, giấu diếm như anh Z, có mấy ngôi nhà cho Mỹ thuê, không khai. Chúng tôi đã nhanh chóng tìm ra và cảnh cáo anh Đại Tá Z. Anh đã thú nhận tội “nỗi” và đã khai “nại” Vậy, rút kinh nghiệm, các anh chớ nên “nấn cấn” để khỏi phải khai đi, khai “nại”, mất công các anh, mất thì giờ của chúng tôi, vô ích!

Các bản Tự Khai sau khi thông qua Tổ, gom lại, trao cho tên cán bộ giáo dục. Mọi người thở phào nhẹ nhõm dù sao cũng đã xong chuyện. Vấn đề hiện nay chỉ còn chờ lễ phóng thích. Nhưng họ có biết đâu, chính họ đã tự kết tội, đã tự ký tên vào bản án tử hình, cho phép Cộng Sản muốn thi hành bản án đó lúc nào họ muốn! Chiếc bẫy cuối cùng, Cộng Sản đã khóa chặt, giam kín những con mồi ở trong không cách nào vuột khỏi !…

Chúng tôi lao động cầm chừng vài bữa. Vào một trưa chúng tôi được lệnh, đúng 2g00 chiều mang hết tư trang ra con lộ đá mới hoàn thành để điểm nghiệm.

Những tấm nylon đủ mầu được trải ra bầy quần áo, xà-bông, kem đánh răng, khăn mặt, lon, ca, muỗng, những hũ chao, những gói mì, thuốc lào, điếu cầy, giầy dép và giấy bút v.v… trông như ngôi chợ trời.

Một lũ Việt Cộng đi khám xét, chúng giở tung áo quần, nắn vuốt từng thứ rất kỹ lưỡng để xem có ai giấu diếm giấy tờ hoặc vàng bạc. Mỗi người phải làm 2 tờ khai tư trang, vật dụng, mình giữ một, Việt Cộng giữ một. Cuộc điểm nghiệm mất chừng 2 tiếng. Chúng tôi quấn đồ, thu dọn, sắp xếp lại cũng mất chừng nửa tiếng. Làm vừa xong trời đổ mưa. Anh em ào ra sân vừa tắm vừa hứng nước giặt giũ.

Buổi tối ,sau cơn mưa, trời mát, chúng tôi ngồi nói chuyện. Tất cả đều dự đoán, sắp có chuyện gì xẩy đến và căn cứ Sóng Thần với lễ mãn khóa được số đông tin tưởng.

Xế trưa hôm sau, B. Trưởng báo cho anh em, chuẩn bị hành trang để tối nay chuyển trại. Mọi người đều vội vã thu vén vật dụng. Nước đựng trong các thùng đạn được đổ hết để mang theo dùng. Tên Việt Cộng đeo quân hàm Thượng Sĩ, có mặt ở đó, nói:

– Các anh không cần mang theo gì cả. Nơi sắp đến, có đầy đủ tiện nghi chứ không như đây đâu. Các anh để “nại” những thứ đó cho người tới sau dùng.

Tất cả đều nghe lời, chỉ mang theo túi áo quần như khi mới đến.

Chúng tôi được lệnh ăn cơm sớm hơn thường lệ.

Khoảng 6g chiều, đoàn Molotovà tiến đến. Đoàn xe này dài bằng đoàn xe đưa chúng tôi tới đây mấy tháng trước. Lệnh tập họp được phổ biến. Chúng tôi xếp hàng hai theo tên quản giáo dẫn ra chiếc xe đã dành sẵn cho từng B. Chưa được lệnh lên xe, chúng tôi đặt hành trang trên mặt đá lổn nhổn dọc theo bên hông xe, chờ đợi! Những đốm thuốc lập lòe đó đây, xen kẽ tiếng nói thì thầm đứt, nối!

Đáy địa ngục

Chương I: Bài học đầu tiên

Phần 5

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 10 May 2024

Hôm nay chúng tôi được lệnh nghỉ lao động. Mọi người thắc mắc không hiểu có chuyện gì. Vào khoảng 9 giờ sáng, tên cán bộ quản giáo lê đôi dép lốp đi vô cùng một tên nữa trông lạ hoắc. Tên mới đến trông thật quê mùa, nhưng loại quê mùa có chức sắc. Mặt hắn xương xương. Cặp mắt thao láo như soi mói mỗi khi nhìn. Cặp môi vều ra như 2 miếng thịt trâu. Hàng răng hô, màu xỉn xỉn. Chân tay thô kệch, nghêu ngao. Chiếc nón cối đã cũ mèm, bạc phếch. Áo quần xô lệch như mọi tên bộ đội khác.

Chúng tôi đứng ngay ngắn, chờ đợi. Tên quản giáo, đi đến giữa nhà dừng lại nói:

– Xin giới thiệu với các anh, đây “nà” cán bộ giáo dục, do Trên “điều” xuống để giúp đỡ các anh trong vấn đề học tập nay mai.

Tiếng vỗ tay rào rào. Trên nét mặt mọi người đều lộ vẻ hoan hỉ vì những gì anh em thắc mắc, chờ đợi nay đã đến. Tên cán bộ giáo dục, lấy vẻ nghiêm trang:

– Trên “điều” tôi xuống để sinh hoạt, giúp đỡ các anh trong vấn đề học tập sắp được tổ chức. Các anh “nà” những người có tội với Cách Mạng, với nhân dân. Các anh cần được giáo dục để nhận định đúng tội “nỗi” của mình trong quá trình hoạt động, từ đó chấp hành đứng đắn những gì Cách Mạng đòi hỏi. Tôi mong, với sự giúp đỡ của tôi, các anh sẽ dễ dàng đạt được mục đích yêu cầu của Trên.

Giọng nói nghe nằng nặng, có lẽ hắn thuộc gốc gác miệt Thái Bình. Sau khi nghe câu đó, nét mặt mọi người không còn hoan hỉ nữa, chảy dài, nặng chĩu lo âu!

Nói xong, hai tên cùng đi ra. B. Trưởng tiễn họ tới sân. Tên cán bộ giáo dục nói với B. Trưởng những gì anh em không ai nghe rõ. Lúc trở vào, B. Trưởng nói :

– 2 giờ chiều nay, tôi sẽ đi hội trên Tiểu Đoàn, chưa biết chuyện gì !

A, từ trước đến nay, nào ai có nghe nói tới việc hội trên Tiểu Đoàn. Nay vấn đề lên hội trên Tiểu Đoàn chắc phải quan trọng. Không còn ai nghi ngờ, vấn đề học tập chính trị đã tới, như vậy, ngày được trả tự do cũng không xa gì ! Nếu có chậm trễ, chẳng qua do Cách Mạng nhiều việc quá, trong những ngày đầu thành công. Chính sách của Đảng và Cách Mạng trước sau như một mà!

Mậu lại gần tôi nói nhỏ :

– Ông ạ, mình nghĩ bậy cho Cách Mạng, mình nghi ngờ cho Cách Mạng là “Vương Quốc Nói Dối”, quả thực tụi mình nông nổi quá, đánh giá Cách Mạng không đúng mức. Thua là phải. Học tập đến nơi rồi, về đến nơi rồi, nghe rõ chưa ông?

Tôi thấy Mậu quả là con người bộp chộp. Lúc chống, chống mãnh liệt, lúc hòa lại hòa quá lố. Tôi không trả lời vì chưa đúng lúc. Qua câu nói của tên cán bộ giáo dục, tôi có nhận định công việc học tập còn gặp nhiều khó khăn, ngày về còn xa chứ không như Mậu tưởng.

Anh em lại tụ tập bàn tán, ước đoán như mọi lần mỗi khi có tin gì mới nhưng chưa tìm ra lời giải đáp hợp lý. Tuy không nói ra nhưng chắc ai cũng mong cho chóng tới 2 giờ để B. Trưởng đi hội, xem chuyện gì sẽ đến.

Trưa nay không ai ngủ, kể cả những người dễ ngủ nhất. Chưa tới 2 giờ, B. Trưởng đã ăn mặc tề chỉnh, đầu chải láng, đi đi lại lại trước cửa. Tôi ra ngoài nhìn. Mọi B. Trưởng đều như vậy. Khi kẻng vừa gõ, các C Trưởng và B. Trưởng lũ lượt đi ra phía cổng, xếp hàng hai. Một C Trưởng báo cáo số người với tên gác. Cả mấy chục B. Trưởng đi dài dưới ánh nắng hừng hực, nét mặt đều phấn khởi. Chỉ một thoáng, họ đã đi lấp vào khúc quanh phía sau căn nhà quản giáo.

Tiếng rít thuốc lào lại đua nhau kêu ren réc đó đây. Khói tỏa mù mịt. Tôi đang kéo thưốc, Tuấn Phát tới. Anh là Bác sĩ kiêm nhà văn. Cuốn “Cảm Nghĩ Của Người Thầy Thuốc” đã được anh em làm văn học yêu chuộng. Anh nghệ sĩ hơn thầy thuốc. Tôi biết anh từ hồi Kháng Chiến chống Pháp, giữa một khu rừng miệt Hòa Bình. Anh vốn giòng dõi quan liêu. Nhưng không phải vì giòng dõi đó, anh cách biệt với giới bình dân. Bản chất anh rất tốt, thường chữa bịnh miễn phí cho những ai quá nghèo. Anh đã giải ngũ từ lâu nhưng vẫn đi học tập cải tạo. Với cái nhìn thân ái như thuở nào ngoài đời, anh đưa tay sửa lại gọng kính, rồi nói :

– Này ông, đã rõ ràng chưa ? Vấn đề học tập coi như xong rồi, thế mà mỗi lần nói, ông cứ cho tôi là ngây thơ. Họ không đối xử với mình tệ lắm đâu !

Tôi thở khói, làn khói trắng đục xóa nhòa hai khuôn mặt.

– Ông ơi, người Anh có câu nói hay lắm: Wait and see! – Tôi nói lửng lơ!

Tuấn Phát cau mày:

– Ông hay tự làm khổ vì những ý nghĩ vớ vẩn.

Khi nói câu này, anh đâu có ngờ, gần 6 năm sau, Cộng Sản tha anh về với bộ da bọc xương và chỉ 1 tiếng đồng hồ sau, anh trút hơi thở cuối cùng trước dòng nước mắt tủi hờn của mẹ già, vợ trẻ, con thơ và dăm ba người bạn cũ còn lại!

Có tiếng reo bên ngoài, các B. Trưởng đã trở về.

Mọi người ào ra cửa, Tuấn Phát cũng ra theo. Tới cửa, anh nắm chặt tay tôi:

– Cố gắng giữ gìn sức khỏe, nghe ông ! Lúc trước, ông muốn gì cũng được. Nay khác, ông nhớ cho! Chúng ta cần phải sống.

Đoàn người đi hội về, lần luợt qua cổng rồi tỏa ra nhiều hướng. B. Trưởng của chúng tôi, tay cầm cuốn tập đủng đỉnh bước vô. Mấy giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, chiếc trán thấp.

– Mời anh em vô!

Mọi người vô nhà như cơn lốc. B. Trưởng ngồi xuống, mở tập vở:

– Yêu cầu anh em lấy giấy bút ghi.

Căn nhà nhốn nháo một lát rồi hoàn toàn yên lặng. Tất cả đã sẵn sàng. B. Trưởng đằng hắng, lấy giọng, trước khi đọc :

– Thứ nhất : Mục đích yêu cầu !

Số 1 La Mã: Thành khẩn nói rõ về quá trình hoạt động của bản thân. Vào Ngụy Quân từ năm nào? ở đơn vị nào? Hành quân đánh phá Cách Mạng bao nhiêu lần? Ở những vùng nào? Có bao nhiêu huy chương?

Số 2 La Mã: Cách Mạng không bắt phải cường điệu, nhưng yêu cầu nói sự thực, không được giấu diếm!

– Thứ nhì: Thảo luận từng Tổ. Thời gian 1 tuần.

Mọi người cắm cúi ghi chép. Sau đó, tiếng bàn tán lại ồn ào như vỡ chợ, nhưng không ai thắc mắc điều gì, vì đây chỉ là cuộc thảo luận giữa anh em, không có thu hoạch. Sự thực, trong số những người đi học tập cải tạo nơi đây, cũng chẳng mấy ai biết rõ nhau bao nhiêu, thì dù có nói gì chăng nữa, cũng chỉ là câu chuyện tầm phào, nói với nhau lúc trà dư tửu hậu, không có gì đáng quan ngại. Hầu hết đều có ý nghĩ như vậy ! Nếu việc học tập chính trị chỉ có thế, thật quá nhẹ nhàng, quá lý tưởng, ai cũng có thể làm được. Hình ảnh căn cứ Sóng Thần và buổi lễ mãn khóa được tưởng tượng qua các đầu óc phong phú. Ai sẽ được đề cử, đại diện anh em đọc diễn văn, cám ơn sự khoan hồng của Đảng và nhà nước Cách Mạng. Bài diễn văn do ai viết? Chủ tọa buổi lễ phóng thích, chắc Tướng Trần văn Trà quá , vì ông ta hiện là đương kim Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh tức Saigon, kiêm Tư Lệnh Quân khu 7. Chính ông ta đã ký lệnh cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” đi học tập cải tạo. Mai đây, chính ông ta lại ký giấy trao trả tự do và quyền công dân cho mình. Vui quá ta!

Không khí hồ hởi khỏa lấp nỗi ưu tư thường trực trên những khuôn mặt ít nhiều gì cũng đã lo âu chán nản !

Buổi tối B. Trưởng ấn định chỗ ngồi cho mỗi Tổ. Ba Tổ sẽ ngồi theo ba hình tròn. Giờ thảo luận được quy định: Buổi sáng từ 8 giờ đến 12g00, buổi chiều từ 14g00 đến 17g30, không ai được vắng mặt.

Google images

Buổi tối nay, mảnh trăng thượng tuần lên sớm. Đây là tuần trăng thứ ba, chúng tôi có mặt tại địa điểm này. Hình như không ai muốn ngủ sớm. Anh em túa ra sân. Chiếc ghế tôi thường ngồi đã đầy nghẹt. Tôi kiếm khúc củi, tìm một chỗ khuất ngồi ngắm trăng. Những đêm có trăng, vùng ánh sáng phía xa không nhìn rõ, nhưng đêm nào cũng vậy tôi thường quay mặt về hướng đó để tưởng nhớ gia đình. Gia đình đây, không phải chỉ có vợ con mà còn những thứ liên hệ với đời sống tinh thần của mình khi trước, như cuốn sách nào tôi thích đọc, bản nhạc nào tôi ưa nghe và bức tranh nào tôi thường nhìn ngắm! Trong giờ phút này, tất cả đều sống lại trong tôi. Nó linh động, ẩn hiện trong mỗi ô vưông suy nghĩ. Có hai bóng người đi lại phía tôi, trong tay mỗi người có cầm theo khúc củi. Tôi biết, Lâm và Huy. Họ là hai người bạn thân từ ngoài đời. Tôi, người bạn mới cùng Tổ.

– Ông suy nghĩ gì, cô đơn vậy? – Tiếng Lâm hỏi.

– Tôi vẫn thích cô đơn, ông không biết sao? Trong những đêm trăng sáng như thế này, ngồi một mình duới làn ánh sáng dịu dàng để mơ mộng, thích thú biết bao! Tôi không ưa ồn ào, chắc các ông đã biết.

– Bố ơi! mơ mộng cái con mẹ gì. Ngày mai lên “bàn mổ” rồi đây! Tổ mình sinh hoạt ra sao, cần phải “đả thông” trước, chứ mai mỗi người nói một cách sao được? – Huy nói nhỏ và nhanh.

– Kệ cha nó, muốn gì thây kệ. Mình cứ thảo luận theo đúng mục đích yêu cầu là được. Họ có bắt mình cường điệu đâu mà giấu diếm. Cũng chẳng có gì cần giấu diếm. Đã ở cái thế này, dù muốn dù không cũng chẳng làm khác được! Các ông nghĩ có đúng chăng? – Tôi hỏi sẳng giọng.

– Cái nguy của tụi mình là hồ sơ quân bạ của sĩ quan còn nằm nguyên ở Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu. Họ nhận nút IBM tìm ra ngay, có nói láo cũng vô ích.

Lâm có vẻ thắc mắc. Tôi thấy câu chuyện cứ kéo dài theo điệu này chán chết, nên ngáp dài tỏ ý buồn ngủ.

– Thôi đi “ngáo” mấy cha, mai lấy sức ngồi chứ!

Tôi đứng lên, Lâm và Huy đứng theo. Chúng tôi đi vô nhà, trong khi đó, dưới ánh trăng, vô số anh em tụm năm, tụm ba, vẫn thì thào to nhỏ.

***

Có nhiều tiếng kéo thuốc lào trước giờ kẻng thức. Những hơi thở dồn dập không đều, chứng tỏ có người say thuốc. Tôi cuộn mùng mền, nhìn ra bên ngoài. Trời còn tối. Cảnh vật vắng tanh. Một con chó chạy loăng quăng, thỉnh thoảng dừng lại ghếch chân lên đái.

– Sao dậy sớm thế mấy ông. Đã kẻng đâu

Một giọng nói ngái ngủ thốt ra. Tôi lấy chân khều khều vào người Mậu.

– Nè ông, dậy! sáng bóc rồi còn gì, nằm đó chờ kẻng sao?

Tiếng ván cọ vào nhau ken két. Tiếng động như một mạch điện, lần lượt mọi người đều thức giấc. Không khí căn nhà sáng nay thật khác biệt. Mọi người hình như đều sẵn sàng tha thứ cho nhau mọi lỗi lầm nếu có, không như những sáng trước, động chút, có thể cãi lộn nhiều khi đưa đến sự chửi rủa tục tằn, thô bạo !

Khói thuốc phủ mù mịt. Tiếng điếu rít không lúc nào ngưng, chẳng ai nói to, mọi người như cố giữ cho mình sự biết điều trước mắt anh em.

Trời vừa sáng, hồi kẻng gõ vang. Tiếng kẻng rền rĩ, lảng đảng trôi vào không gian hiu quạnh. Lời nói, tiếng cười to dần vì lúc này mọi người đều có quyền làm những gì mình muốn. Ở phía bếp, ánh lửa đã loé lên. Người đun nước pha trà hoặc cà-phê, kẻ ăn mì gói.

Sau bữa điểm tâm, người nào người nấy lấy bút giấy để sẵn. Đầu tóc chải gọn gàng, áo quần tươm tất.

– Mấy giờ ông

Phát giơ tay lên coi:

– Thiếu 15!

– Thôi anh em, các Tổ đi vô, người nào chỗ đó. Đúng 8g00, bắt đầu thảo luận. – B. Trưởng nói dõng dạc.

Mấy phút sau, ba Tổ đã ngồi vào chỗ chỉ định tối qua. Ba khoanh người, ngồi như ba chiếc vòng lớn, trẻ nhỏ thường chơi đùa mỗi lần họp mặt. Lối ngồi sinh hoạt này quả thực, không thích hợp với các sĩ quan của Quân Lực Cộng Hòa. Họ quen ngồi ghế có tựa lưng, trong phòng lạnh, hoặc ít ra cũng có quạt máy. Bộ quân phục họ mang trên người lúc nào cũng cứng đơ, thẳng nếp. Cái lối ngồi xếp chân bằng, dễ mỏi, nếu không quen, chân sẽ bị tê, mỗi lần đứng dậy rất khó khăn.

Tên cán bộ giáo dục nhẹ nhàng đi vô. B. Trưởng hô lớn :

– Anh em chú ý!

Cả ba khoanh tròn im phăng phắc. Tên cán bộ đứng vào chỗ thuận lợi nhất, rồi cất tiếng :

– Hôm qua, tôi đã nói sơ cho các anh biết “mục đích, yêu cầu” của Trên đối với vấn đề học tập. Bữa nay, tôi muốn nói rõ hơn, để các anh có thể nắm vững được vấn đề, không còn “nấn” cấn khi cần phải nói ra những điều cần nói, về quá trình hoạt động của bản thân. Tôi nghĩ, các anh còn nhiều điều ấm ức trong “nòng”. Vì biết rõ như vậy, nên Trên mới tạo điều kiện để các anh có dịp nói cho hết, nói cho hả, kẻo để mãi trong “nòng”, nó “nàm” sao ấy! Các anh có nhất chí không?

– Nhất chí!

– Vậy những sự gì các anh sắp nói ra với nhau đây “nà” điều cần thiết. Trong các anh đây, có anh “nà” Không quân, có anh “nà” Hải quân, có anh “nà” Tình Báo Tâm “Ný” chiến. Tôi tin rằng, các anh tuy bề ngoài quen nhau, nhưng sự thực, chưa biết nhau cặn kẽ đâu! Nhân dịp này, nói cho nhau nghe về quá trình hoạt động của mình cho dứt khoát. Nói xong “nà” quên, “nà” bỏ đi. Nhất chí chứ, mấy anh?

– Nhất chí!

Tôi nhìn tên cán bộ. Hắn nói ráo hoảnh. Tụi nó đang giăng chiếc bẫy thứ hai, chiếc này nguy hiểm hơn chiếc trước.

Tiếng B. Trưởng:

– Đã đến giờ, yêu cầu anh em ngồi vào chỗ, bắt đầu thảo luận.

Một hai người đi uống nước vội quay vào. Tên cán bộ bảo B. Trưởng ra ngoài lấy chiếc ghế gỗ mang vô cho hắn ngồi. Hắn không ngồi sát chỗ chúng tôi mà ngồi xa xa, nơi mé cửa.

Anh em ai cũng né, không ai muốn nói lên lời nói thứ nhất. Người này đưa mắt nhìn người khác, trong khi hai Tổ kia đã bắt đầu cuộc thảo luận. Thấy tình thế này kéo dài mãi không tiện, Lâm cất tiếng :

– Thưa anh em, chúng ta là những người được hưởng sự khoan hồng của Cách Mạng cho đi Học Tập Cải Tạo. Như cán bộ giáo dục vừa nói cho biết, chúng ta tuy cùng chung một Quân Đội, nhưng mỗi người ở một đơn vị, do đó, chúng ta chưa biết rõ quá trình hoạt động của nhau. Nay Cách Mang tạo điều kiện cho chúng ta cùng thảo luận để hiểu rõ nhau hơn. Riêng tôi, cảm thấy đó là điều hợp lý, do vậy tôi xin phép được nói về mình. Tôi, Trung Tá Quân Y. Sở dĩ, tôi theo học ngành Quân Y, thay vì Dân Y vì nhà nghèo, lại đông con. Tôi thường nghĩ, dù phục vụ trong Quân Y hay Dân Y, mục đích vẫn là nhân đạo. Suốt 15 năm phục vụ trong “Ngụy Quân”, tôi đã đi khắp các mặt trận thuộc 4 vùng chiến thuật vì binh chủng tôi phục vụ là Biệt Động Quân. Ở ngoài mặt trận, chẳng những tôi cứu “Ngụy Quân”, còn cứu luôn cả những chiến sĩ Cách Mạng bị thương. Lúc đó, tôi hành động hoàn toàn do lương tâm của ngưòị thầy thuốc, không phân biệt bạn, thù ! Tuy mới 40 tuổi, 15 năm quân ngũ, đã mang cấp bậc Trung Tá và được nhiều huy chương trong đó có 3 Anh Dũng Bội Tinh, với ngôi sao bạc vì tôi đã tích cực thi hành nhiệm vụ ở bất cứ đâu, bất cứ điều kiện chiến trường nào cần đến khả năng chuyên môn của tôi!

Lâm nói rất lưu loát, lôi cuốn người nghe. Tên cán bộ giáo dục lắng tai. Cả ba Tổ đều hăng say thảo luận. Bỗng tên cán bộ đứng dậy, đến bên Tổ tôi, hỏi Lâm:

– Anh tên gì?

– Thưa cán bộ, Nguyễn Lâm, Trung Tá Quân Y!

– Anh vừa phát biểu như vậy “nà” chưa đạt yêu cầu. Anh nói anh phục vụ trong Ngụy Quân 15 năm, đi khắp 4 vùng chiến thuật. Anh đã cứu Ngụy Quân và cứu cả những chiến sĩ Cách Mạng. Vậy, yêu cầu anh cho tôi biết, tên tuổi các chiến sĩ Cách Mạng anh đã cứu và cứu ở mặt trận nào?

Google images

Mặt Lâm tự nhịên đỏ ửng. Lâm đưa mắt nhìn anh em tỏ ý cầu cứu, tiếp tay, nhưng mọi người vẫn ngồi im lặng như phỗng đá.

-Dạ, thưa cán bộ, làm sao tôi biết được tên tuổi các chiến sĩ Cách Mạng đã được cứu sống ngoài măt trận! Vấn đề này thuộc Phòng Nhì, tôi chỉ biết làm nhiệm vụ của người thầy thuốc khi có mặt ở trận tuyến!

Tên cán bộ nhìn chằm chặp vào Lâm:

-Nói như anh, ai nói cũng đựợc. Việc gì cũng có cơ sở của nó chứ! Các chiến sĩ của chúng tôi đâu có cần các anh cứu. Nếu các anh có cứu, cũng chỉ nhằm mục đích khai thác sau này, chứ đâu vì nhân đạo! Còn anh cứu Ngụy Quân cũng nhằm bồi dưỡng cho họ khỏe, lại đi đánh phá Cách Mạng! Anh phải nhận mình có tội đối với Cách Mạng, như vậy mới thành khẩn!

Tên cán bộ nhếch cặp môi dầy, cười mỉa mai!

Mới ra quân, đã bất lợi! Tổ Trưởng Lộc nhanh trí:

– Thưa anh em, sau phần phát biểu của anh Lâm, nay tôi xin đề nghị anh Mậu lên tiếng. Thông qua sự giúp đỡ của cán bộ giáo dục, anh vui lòng cho anh em biết về quá trình hoạt động của anh!

Có lẽ, bị khớp, thường ngày Mậu ăn nói ngổ ngáo như thế, bây giờ lại nhỏ nhẹ, ấp úng:

– Thưa anh em, tôi, Huỳnh Mậu, Trung Tá Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn X. Tôi tốt nghiệp trường Võ Bị Dalat. Hồi nhỏ, tôi đi xem diễn binh, thấy thích võ nghiệp. Khi lớn lên, thi Tú Tài hoài không đậu, tôi nộp đơn xin thi vào trường Võ Bị. Ai ngờ đâu! Sau khi ra trường với cấp bậc Thiếu Úy, tôi giữ chức vụ Chi Đội Trưởng Thiết vận xa! …

Mậu nói, vòng vo Tam Quốc, kể lể cuộc đời binh nghiệp của hắn cho tới ngày rã đám. Hắn tự “tố khổ” và tự nhận có tội nặng với Cách Mạng và nhân dân. Hắn đã giết nhiều chiến sĩ Cách Mạng. Đã bắn phá và đoàn thiết vận xa đã nhiều lần quần nát mật khu Bời Lời, Hố Bò và U Minh!

Tên cán bộ chú ý nghe, nhưng không nói gì, vừa lúc ấy, B. Trưởng tuyên bố, nghỉ 15 phút giải lao.

Mọi người đứng dậy khoan khoái. Tiếng điếu cầy lại kêu ren réc, khói tỏa mù mịt. Tất cả như vừa trút xong được một phần gánh nặng. Tên cán bộ đi ra ngoài. 15 phút qua đi rất nhanh. Mọi người lai phải đeo gánh nặng trong tâm trí và đeo mãi tới khi nào đạt được yêu cầu của Cộng Sản mới thôi!

Lợi dụng lúc tên cán bộ giáo dục chưa có mặt, anh em tuy ngồi nghiêm chỉnh, nhưng không thảo luận mà tán dóc! Ai đã nói, coi như là xong nhiệm vụ, ai chưa, chắc mong được nói ngay lúc này vì sự không có mặt của tên cán bộ giáo dục, muốn nói sao cũng được! Nhưng tên cán bộ từ ngoài đi nhanh vào :

– Sao, các anh không “nàm” việc à?

– Dạ, có, cán bộ! – B. Trưởng lanh lẹ trả lời.

Tiếng thảo luận, lại cất lên, nói cho đúng đó là tiếng tự kể tội! Có lẽ, tên cán bộ nhận thấy nội dung thảo luận chưa hướng đúng mục đích yêu cầu, nên hắn nói:

– Tôi chắc các anh chưa quen với hình thức sinh hoạt này. Đối với chúng tôi, nó thường “nắm”. Đã gọi “nà” sinh hoạt, thảo “nuận”, phải có đối thoại để tìm hiểu. Các anh “nại” thụ động như vậy khó đạt yêu cầu. Các anh cần xây dựng cho nhau, bằng cách nhắc nhở những gì mình biết. Các anh bầu ngay một thư ký để ghi chép “nại” ý của mỗi người. Sau đó, nêu “nên” thắc mắc để “nàm” sáng tỏ vấn đề. Như vậy, cuộc sinh hoạt mới có ích. Trên sẽ đánh giá [* nhận xét] các anh qua những giờ sinh hoạt này đó!

Giọng nói của tên quản giáo vừa có ý khuyên bảo, vừa nhằm đe dọa!

Tổ tôi bầu Lâm làm thư ký. Cuộc thảo luận lại nối tiếp. Chúng tôi cứ lần lượt nói. Lâm cứ ghi. Hoài (Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn F 5), lấy nét mặt buồn rầu nói về đời phi công của mình. Anh rất đau lòng khi hồi tưởng lại, sau mỗi trái “rốc kết”, sau mỗi quả bom, những đám cháy bốc Iên, khói bay mù mịt. Anh tin, có nhiều quân Cách Mạng và nhân dân có thể chết, có thể bị thương vì sự độc ác của mình, dù sự độc ác này không do anh mà do Đế Quốc, Ngụy Quyền, Ngụy Quân buộc anh phải thi hành. Thật đáng xấu hổ cho những chuyến bay, khi mình làm chủ một vùng trời mà Cách Mạng cũng như nhân dân không có phương tiện chống trả!

– Anh Hoài, xin phép cho hỏi. Thế quân Cách Mạng không có cao xạ? Nếu đúng như anh nói, tại sao số phi cơ của ta tổn thất mỗi ngày một lớn!

– Tôi nói là nói về phi cơ, chứ không nói về cao xạ và hỏa tiễn loại nhỏ SA7 chống trực thăng. Nói về phòng không, Cách Mạng quá mạnh rồi!

Cuộc sinh hoạt cứ như vậy tiếp diễn từ sáng đến chiều. Tên cán bộ giáo dục ngồi thường trực, ai không chịu nói, hắn nhắc nhở, lưu ý buộc phải nói. Ai nói không hăng say, nhiệt tình hắn cho là không thành khẩn, cố tình giấu diếm sự thực! Một ngày qua thật nặng nề. Đi lao động tuy vậy sướng hơn nhiều. Đứng dưới nắng, cuốc dăm bẩy nhát, chống cuốc ngó trời, nói chuyện ào ào, đủ mọi loại chuyện, từ câu chuyện đứng đắn đến chuyện tiếu lâm, chứ ngồi sinh hoạt kiểu này chịu không nổi. Nhưng mọi người vẫn phải thi hành đúng những gì Cộng Sản muốn!

Qua chiều hôm sau, đến phiên tôi phát biểu. Tôi tránh né, nói loanh quanh, cho rằng mình chỉ là một chuyên viên. Công tác tôi thi hành, hoàn toàn thuộc lãnh vực bàn giấy, không có nợ máu với nhân dân. Là họa sĩ, tôi lo về trang trí mỹ thuật cho báo chí Quân Đội và các phòng Triễn Lãm trưng bầy các thành tích có tính cách quảng cáo như sách vở, sơ đồ, hình ảnh. Tôi nói kéo dài, đi vòng ngoài chứ không đề cập đến trọng tâm công tác, dù suốt trên 20 năm, tôi đã giữ nhiều chức vụ, ngoài chuyên môn.

Tên cán bộ nghiêng mặt, lắng nghe. Đột nhiên, Lâm hỏi :

– Tôi chắc khi vẽ hoặc làm các công tác mỹ thuật cho Ngụy Quân, anh cũng phải say mê và tận tình phục vụ lắm, nên mới tạo ra vẻ đẹp, làm mọi người ưa thích, đưa anh đến chổ nổi tiếng!

Câu hỏi của Lâm vô tình đưa tôi vào thế kẹt, trước mặt tên cán bộ. Tôi trả lời khơi khơi:

– Tôi làm việc cũng như người chiến sĩ có nhiệm vụ bóp cò thôi! Trong Quân Đội, như anh em đều biết, việc gì cũng làm theo lệnh cả. Một khi đã làm theo lệnh, còn gì hứng thú?

Tôi cố bào chữa dù biết sự bào chữa cũng chẳng đưa tới kết quả nào, nhưng chủ ý của tôi, quyết không vạch áo cho kẻ thù xem lưng!

Tên cán bộ tiến nhanh đến, chỉ ngón tay vào tôi:

– Này, chúng tôi biết rõ anh quá mà! Mỗi bức tranh của anh mạnh bằng một sư đoàn chiến đấu đó! Anh đừng có “noanh” quanh! Tội của anh nặng hơn những người chiến đấu nhiều. Những người lính Ngụy có bắn giết Cách Mạng và đồng bào, “nà” cũng do tác động chiến tranh tâm “ný” của các anh đấy!

Nói xong, hắn chống tay vào cạnh sườn, đăm đăm nhìn tôi, như dò tìm phản ứng!

Anh em đều ngơ ngác, khi nghe tên cán bộ giáo dục dùng lời lẽ gay gắt với tôi như vậy! Tôi toan cất tiếng, Huy ngồi đối diện, đưa mắt ngầm ý bảo thôi.

Cuộc sinh hoạt học tập cứ như vậy tiến hành ngày này qua ngày khác. Mọi người đều tự thú tội lỗi của mình trong thời gian phục vụ Ngụy Quân, dù đây chỉ là nhiệm vụ cao cả của người chiến sĩ trong thời chiến, giữa hai miền Quốc, Cộng!

Phát (Hạm Trưởng), bị giải ngũ vì lý do kỷ luật đã khôn khéo cho việc giải ngũ của mình thuộc phạm vị chính trị. Trong thời gian tại ngũ, anh đã dám chống đối với kỷ luật Quân Đội. Tuy vậy, anh cũng thành thực tự thú tất cả những hoạt động của mình trong quá trình. Anh đã cho tàu bắn giết dân lành và Cách Mạng, dọn “bãi” cho bộ binh đổ bộ, tiến đánh vào những vùng sình lầy do Cách Mạng chiếm giữ lâu ngày. Bây giờ hồi tưởng, anh thấy đau lòng, coi đó như một tội lỗi nặng nề trước Cách Mạng, trước nhân dân!. Những tấm huy chương được trao tặng khi trước, bây giờ như những vết tích ô nhục, anh muốn vứt bỏ như vứt bỏ những mảnh vải vụn!

Định (Trung Đoàn Trưởng) cũng tự thú, đã nhiều lần hành quân trên vùng rừng núi miền Trung. Cũng đốt nhà, bắn giết trâu, bò, lợn, gà, làm thiệt hại nhiều sinh mạng, gây nên bao nhiêu cảnh điêu tàn! Định nói cả nửa tiếng. Giọng nói trầm trầm như cố đè nén cảm xúc đang trào dâng! Nghe Định tự kể tội xong, tên cán bộ giáo dục có ý kiến:

Google images

– Tôi “nấy nàm nạ”, đã mấy hôm nay, các anh nói đủ thứ, đủ mọi chuyện, nhưng tôi chưa hề nghe anh nào nói tới vấn đề hảm hiếp, moi gan, mổ bụng các chiến sĩ Cách Mạng cả? “Nàm” sao vậy? Các anh phải thành khẩn chứ? Có như vậy vấn đề học tập cải tạo mới thu hoạch được kết quả. Nếu cứ “nấn” cấn, cố tình giấu diếm tội “nỗi” của mình, các anh sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Cách Mạng. Chúng tôi để các anh nói, thử xem các anh thành khẩn đến mức độ nào, chứ Cách Mạng đã biết hết “nịch” sử của mỗi người rồi! Có giấu cũng vô ích! Sự được trả tự do sớm hay muộn, tùy thuộc vào mỗi người đấy !

Giọng nói của hắn, vẫn cái giọng nhà quê vừa dỗ dành vừa hăm dọa, nghe khó chịu lạ lùng. Nhưng không phải hắn chỉ để ý đến Tổ tôi, mà Tổ nào hắn cũng xía vô, cũng lưu ý, và cho ý kiến khi thấy có điều gì cần phải dằn mặt cải tạo viên.

Sự thực, phần đông chẳng ai lo ngại gì cả vì cuộc sinh hoạt học tập này không có thu hoạch, nghĩa là không phải viết ra giấy trắng mực đen, nên anh em mạnh miệng lắm! Gió bay lên trời mà! Nhưng cũng có người như Huy, khi tự tố cáo, rất dè dặt, thận trọng. Huy có một thời gian làm Quận Trưởng, dưới trào ông Diệm. Huy trình bầy hoàn cảnh nào đã đưa anh đến chức vụ đó. Trong thời gian giữ chức ông Quận, anh nói, chỉ làm những công việc có tính cách hành chánh, còn vấn đề tảo thanh trong Quận do Chi Khu Phó đảm trách!

Tên cán bộ giáo dục hỏi ai có ý kiến gì về lời phát biểu của Huy. Lạc (Trung Tá Cảnh Sát), giơ tay:

– Xin anh Huy cho anh em biết, dưới trào Ngô Đình Diệm, giữ chức vụ Quận Trưởng khó lắm. Phải người miền Trung, theo đạo Ki Tô Giáo, hoặc đảng viên Cần Lao. Anh không phải người miền Trung, không có đạo, vậy anh phải là đảng viên Đảng Cần Lao, có đúng không ạ?

Tôi nhìn sắc mặt Huy tái đi, không biết vì giận hay sợ? Huy trả lời ấp úng:

– Vừa rồi, tôi đã thành thực nói với anh em, việc tôi được chỉ định làm Quận Trưởng, từ trên trời rớt xuống, chứ tôi đâu muốn. Được cấp chỉ huy thương, đề bạt hồi nào không hay, tôi đâu có biết ất giáp gì?

Cũng may Huy vừa nói tới đây, tiếng kẻng tan tầm vừa đổ. Mọi người đứng lên vuơn vai, vặn mình. Các khớp xương kêu răng rắc. Tên cán bộ giáo dục chụp chiếc nón cối lên đầu đi ra.

Trong lúc ăn cơm trưa ở ngoài sân, Huy cứ nhìn Lạc chằm chặp. Cặp mắt Huy như tóe lửa. Lạc cúi đầu để tránh sự đụng chạm. Huy nuốt từng miếng cơm nặng nhọc. Chiếc yết hầu lên xuống kéo theo những đường gân nổi to như chiếc đũa. Lạc cố ăn vội, định vô nhà. Nhung Huy đã bỏ chén cơm xuống mặt bàn, bước vội, đứng chặn ngang lối cửa. Lạc toan lùi lại, không kịp. Huy cho tay nắm ngực áo Lạc, giật mạnh:

– Lạc, tao sẽ giết mày, nếu vì câu hỏi ác ý đó, tao phải ở lại đây! Mày biết không? biết không?

Sắc mặt Lạc tái ngắt, cắt không còn hạt máu, hai môi run rẩy:

– Tôi đâu có ác ý! Tôi hỏi chỉ để cho qua thôi.

– Đù mẹ mày, dốt như thế cũng mang cấp bậc Trung Tá! Quân Đội có những sĩ quan như mày thua là phải! Nhục là phải!

Huy buông Lạc ra, trong lúc mọi người bu quanh, sẵn sàng can gián nếu Huy quá giận để xẩy ra đánh lộn. Từ buổi đó, giữa Huy và Lạc như có chiếc hố sâu thù hận! Họ không nhìn nhau dù cùng chung Tổ. Chính nhờ câu chuyện đó xảy ra, từ đấy về sau, mỗi lần đặt câu hỏi trước mặt tên cán bộ, anh em cũng biết cân nhắc, dè dặt, sao cho câu hỏi không gây đụng chạm.

Tất cả việc gì rồi cũng qua đi. Cuộc sinh hoạt học tập đã chấm dứt. Tất cả giấy tờ do thư ký ghi được, đều nộp cho tên cán bộ giáo dục. Anh em thở phào nhẹ nhõm.

Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 10 May 2024

Phần 15
Bà con bảo là cô ấy điên. Trẻ nít trêu chọc:
Hò la hò lơ
Con điên bớ con điên
Da đầu tróc lở
Đêm ngày nức nở
Mầy không muốn thở
Mầy ị trong quần
Làm hôi cả nước
Mầy cứ ở đây
Con điên bớ con điên
Chúng ông chả để yên
Hi..hi..hi…
Mỗi ngày trẻ con cứ đi qua đi lại chỗ Mân nằm, đặt lời hát ghẹo như thế dăm bảy lượt. Người lớn vỗ tay khuyến khích, bọn trẻ càng khoái trí hò lớn. Mà quả thật bọn trẻ không vu khống. Người Mân, từ áo, từ quần, từ đầu tóc bù xù không tắm gội, toát ra một mùi hôi thum thủm. Mấy người nằm gần nàng hết bịt mũi, bịt mồm, rồi chán tìm chỗ xa xa mà nằm. Vài ba hôm đói quá Mân mới ngồi dậy ăn bậy chỗ cơm trại mà có kẻ tốt bụng để trên đầu nằm. Ăn vài ba miếng xong, nàng lại nằm uỵch xuống, để mặc phần cơm trại của mình cho ai muốn lãnh thì lãnh. Cô gái điên nổi tiếng khắp các buồng trên đảo Thanh Châu. Một nữ nhân viên xã hội người Mỹ tìm hiểu hoàn cảnh cô gái, bó tay với cô gái, bất lực với kiến thức chuyên môn của mình. Cô ta khẩn khoản yêu cầu một nhân viên xã hội người Việt tiếp tay. Kiến thức của người Mỹ không tiêu hóa nổi văn hóa của người Việt, cô ta nói như thế với Nam.
Lúc gã A Xòe mở cửa buồng cho Nam thì bọn con nít đang hò la hò lơ trước giường của Mân. Anh quát bọn trẻ, bảo im. Nam đứng quan sát người đàn bà điên đang nằm nghiêng trên tấm ván giường hai. Đó là một khối cô đơn. Một người đàn bà còn sống. Tóc dài xõa lưng quấn quýt vào nhau. Đôi gót chân tím rịm nứt nẻ những luống đất khô hằn học. Nam vuốt mái tóc dài của người đàn bà, gọi khẽ:
– Mân à.
Đó là một tiếng kêu tầm thanh cứu khổ. Mân xoay đầu lại, nàng đã sực trở về một nơi nào đấy với một kêu nhẹ như hơi thở nào đấy. Cả một giấc mộng dài thức tỉnh. Cả nụ cười hiền như giấc mộng kia nữa, đang nở trên môi người kêu ấy. Những năm tháng dài tím rịm, những đòn vọt và nhục đau trên thân xác của đời con gái…lăn long lóc…lăn long lóc…từ vực thấp xuống vực sâu. Không gian vùn vụt, vùn vụt…hiện tại càng lúc càng lún sâu và quá khứ của nàng thì càng lúc càng xa càng nhỏ như mảnh trời trong sáng trên miệng vực.
Cái mảnh trời nhỏ hoắc xa nghều nghệu ấy là cái phần sáng nhất mà Mân mộng tưởng. Mẹ nàng bị thọt chân, không phải vì đạp bom Mỹ mà chỉ bởi vì mẹ nàng thọt, thế thôi. Cha nàng không có, hoặc có thì Mân không hề biết ông. Lẽ tất nhiên cha nàng cũng không phải hy sinh trên chiến trường Nam Bộ trong cuộc chiến tranh giải phóng. Những điều na ná như thế chỉ có trong tiểu thuyết của một thời…đã qua. Quê nàng ở Thanh Hóa. Và câu chuyện về gia cảnh nàng giản dị như thế này: mẹ nàng thọt chân, lại trót dại sinh ra ở vùng đất cày lên sỏi đá. Và vì thế thì việc người mẹ không nuôi nổi bầy con là chuyện thường. “Bác” bảo nhân dân đảm đang thì kệ “bác”. Người mẹ thọt chân vẫn không nuôi nổi bầy con. Trời nuôi chúng, trời nuôi Mân lớn lên trở thành một thiếu nữ có đôi vai u lao động và gót chân cứng cỏi nứt ra như tiếng khóc nức nở đói nghèo.

Google images

Điều quan trọng trên cả đảng là Mân đã trở thành thiếu nữ, một món quà không thể thiếu được trong cuộc hội người. Một món hàng phải mua trong dịp nhân loại lên cơn động cỡn thì chả gì các dòng thác cách mạng đều xuất phát từ nguồn ấy mà.
Thế! Rồi có người bảo với mẹ thọt là cho Mân qua Trung Quốc làm ăn một thời gian ngắn. Người ta bảo cái tuổi bẻ gãy sừng trâu của Mân nếu chịu khó siêng năng ở cái…đất tiền bạc ấy thì chả mấy chốc mà mẹ con thọt xây nhà gạch mái ngói. Một giấc mơ vĩ đại hơn mọi cái vĩ đại. Một giấc mộng vàng. Bỏ một vùng đất khổ. Bỏ một vùng đất tưới bằng máu mà khô cằn vẫn khô cằn.
Nhưng cả cái giấc mộng vàng kia cũng không ghê gớm bằng lúc Mân phải dứt bựt ra khỏi làng, xa người mẹ thọt để phiêu du đất khách trời xa vạn dặm. Nước mắt ướt đẫm những tờ giấy bạc người ta ứng trước cho mẹ nàng, ướt cả đường đi chiêu cống. Mà Mân đi “cống” thật. Nàng được giao cho một gia đình ở Quảng Đông. Gã Tàu mập bọng như con giòi thật tử tế. Gã bắt nàng tắm rửa, cho bộ quần áo mới mặc vào mát tới chân tóc. Mân thích lắm. Nàng có cái ăn cái mặc, chỉ dăm bữa nửa tháng là người nàng béo ra hây hẩy. Trông Mân như một ả xẩm bận áo chẽn, tóc kết đuôi sam lủng lẳng. Đùng một cái, có buổi sáng gã Tàu bắt Mân thay áo mới. Áo cưới. Căn nhà bỗng tấp nập kẻ vô người ra xúng xính. Gã Tàu bận đồ chú rể, rước dâu từ trong buồng rước thẳng ra bàn lễ gia tiên, có quan viên…một họ, pháo nổ. Cô dâu không hiểu chú rể nói gì, chú rể không hiểu cô dâu nói gì. Nhưng gã Tàu cần gì, ngôn ngữ xác thịt mới là điều quan trọng. Nó là thứ siêu ngôn ngữ của loài giòi ung mọng rưng rức mỡ, không có nó nhân loại ắt tiêu tán đường ra rồi. Ít ra con giòi mập này cũng lương thiện, làm ngay cái mình muốn làm, nói ngay cái mình muốn nói, không úp mở, không giấu giếm, không sợ “mất mặt” (mà giòi thì có mặt mũi gì đâu mà mất cơ chứ!)
Phải mất một tuần như thế Nam mới nắm được chừng ấy câu chuyện của Mân. Mỗi ngày Nam vào trại, leo lên giường Mân, đỡ đầu người đàn bà đặt lên đùi. Anh lại tìm cách ráp nối những câu chuyện không đầu không đuôi lại. Những chấm câu bằng tiếng khóc không thành tiếng, thậm chí bằng cả tiếng cười của nàng khi nhớ đến một khung trời nào đấy, hoặc cả khi lặng lẽ không thốt một lời. Nam cứ ngồi yên như thế, vuốt từng sợi tóc đã bớt rít vì Mân đã chịu đi tắm. Trong đôi mắt lặng phắt của nàng là cả những ruộng đồng ngô nghê chân thật. Không có sóng, không có nước, không có gì cả. Chỉ là những ruộng đồng khô cằn đất Thanh Hóa. Nàng phải ở đó, nàng không phải sinh ra để lưu lạc giang hồ. Nàng là đứa con của mẹ thọt, của hằng ngày đi bắt ốc mò tôm đáy nước mới là hạnh phúc. Nam hỏi:
– Bây giờ em thích gì?
Mân co rúm người trăn trở:
– Em chỉ muốn về với mẹ.
Đôi mắt ruộng vườn sáng choang những tia nhìn khao khát về hình bóng người mẹ thọt. Cái bụng của nàng càng ngày càng lớn. Một mầm sống đang vươn lớn đậu hạt từ cuộc giang hồ. Nam hỏi:
– Em thèm ăn gì không?
Mân rụt rè, ước mơ của nàng xa xỉ quá:
– Em chỉ thèm mì gói.
Chỉ trong một hôm, nàng ăn sạch mười gói mì Nam mang vào. Sung sướng cực kỳ…
Rồi chú rể Tàu trói Mân vào giường khi nàng chống cự. Gã lột áo quần nàng làm cái điều mà xã hội có thói chấp thuận cho một anh chồng làm. Mân vẫn bị trói vào giường. Tới bữa có mẹ chồng đem cơm vào để vỗ béo. Gã Tàu hả hê, mẹ gã hả hê, gia đình chồng hài lòng vì con mình hả hê. Chỉ có Mân khóc, la gào trong chiếc giường tân hôn. Người mẹ thọt xa quá chắc không nghe con mình khản tiếng, đớn nhục ê chề ở một nơi mà nàng không biết cả tên.

Google images

Mân đẻ một đứa con, chao ơi, lại là con trai cho gã Tàu. Quí vô cùng, ở một nơi mà nhà nước cấm khoan cấm đẻ. Cái “công” ấy giải phóng Mân khỏi bị trói vào giường. Nhưng đứa con Mân thì không được đụng đến. Nàng là người mẹ sâu bọ, là công cụ sản xuất. Cái gia sản mà Mân cưu mang thuộc quyền sở hữu của người khác. Nàng nhìn đứa con nàng chập chững, biết đi, rồi biết nói. Nói gì thì mẹ nó cũng không hiểu. Than ôi, Mân thèm nhớ tiếng người mẹ thọt đến thế. Nàng được đi ra tới đầu ngõ. Có một hôm gặp một người đàn bà khác, nói tiếng Việt, cũng bị bán qua Tàu làm vợ. Mừng đến thế.
Mân trốn.
Nàng bị bắt lại. Giam hãm trong buồng. Tiếng khóc của nàng không ai hiểu. Mà lạ thay Mân không thù ghét ai cả. Nàng chỉ thương thân, thương mẹ già cơ cực không ai lo.
Ở cái cõi xa xăm ấy mẹ thọt vẫn bắt ốc mò tôm.
Mân lại trốn.
Nàng cứ đi như thế. Thấy chỗ đông người là đi, dừng lại xin ăn, lang thang trên đường vắng, lang thang trên phố khuya. Nàng qua những làng xa nghèo khổ đến con gà không cất nổi tiếng gáy. Trong trí nàng cả một bãi đời hoang vu. Nàng đến một nơi cửa nhà sáng rỡ, ô tô tấp nập, cửa hàng sáng choang ánh đèn. Vẫn chưa phải là nơi mẹ thọt ở. Nàng phải về một nơi tối lửa tắt đèn và chỉ có những người thọt là thuộc về nàng. Mân đi. Kẻ mộng du giữa thành thị. Nàng đến một bờ biển. Trí nhớ lơ lửng của nàng đi theo một bọn người rách rưới nghèo khổ. Đó là những người phải thuộc quê hương Mân. Chắc hẳn thế. Mân đói rạc cả người mà bọn kia cũng đói mờ cả mắt. Nàng theo họ. Nàng xuống thuyền…
Một người sinh ra không phải để đi. Nam nghĩ như vậy. Anh viết báo cáo bằng tất cả trái tim sôi sục. Mân không thể ở đâu khác ngoài làng quê ở Thanh Hóa bên người mẹ thọt. Mân phải về, bằng mọi giá, với cái bào thai hoang dã. Giòng máu Việt Nam đang nuôi nấng cái mầm hoang ấy. Ngay buổi đầu nàng đã không muốn phá dù Mân đã không dứt khoát như thế. Mân biết mình có thai. Một sự buồn mửa trào lên họng. Nàng ghê tởm cả xác thân mình. Nàng thương cảm cái mầm sống nhung nhúc đang chòi dần ra, đang nở dần ra bằng dòng máu nàng. Mân không biết nữa. Nàng muốn rửa xác, rửa thật sạch vết ô trên thân thể, thậm chí cả trong tâm hồn. Nàng muốn chà bàn chải sắt tẩy uế, tẩy nhục, tẩy cả cục máu trong bụng. Nhưng cái mầm sống đã bắt đầu chòi đạp. Nó đang nghe, đang thở hơi thở nàng. Nó là ai, nó ở đâu, thiên thần hay ác quỷ? Trời ơi, nó có cảm được nước mắt nàng ứa ra, ứa ra. Người ta kêu nàng là con điên, thậm chí cả bầy trẻ ranh kia nữa. Điên là gì thế!
Mân phải trở về với mẹ, Nam biết rõ hơn ai hết. Mân sẽ sanh trong vòng ba tháng nữa. Chuyến máy bay đưa người hồi hương kế tiếp không có tên Mân. Không ai hiểu nguyện vọng đơn giản của nàng để xếp cho nàng một chỗ. Mà cũng phải, có ai muốn trở về Việt Nam đâu. Người ta cũng không hề nghĩ là có người không hề xin đi “định cư” như Mân. Hẳn vì thế mà người ta cho là điên, điên chỉ vì muốn về, không phải vì áo quần cáu bẩn, tóc tai rối bù và hôi thum thủm của Mân. Thật là một lầm lẫn sát nhân nếu phải bắt Mân sống ở một nơi mà mặt trăng còn thấp hơn những nóc nhà vòi vọi. Nàng đã lưu lạc đến nơi này vì nhà nước của nàng giết người bằng nghèo đói và lạc hậu, nhưng sự sung mãn vật chất của tư bản lại giết người bằng nỗi cô đơn.
Khi báo tin cho Mân là nàng sẽ về trong chuyến bay tới, Nam thấy hai mắt nàng long lanh xúc động. Mân ôm cái bụng đã tròn như trăng rằm:
– Em nhớ mẹ em, em thương mẹ em quá.
Da thịt Mân nở ra. Mân sẽ mang đứa con trong bụng về với làng xóm. Cái gia tài suốt những tháng năm dài đằng đẵng. Mân không mặc áo gấm về làng, không vinh qui bái tổ. Nàng mang về một mầm sống mà càng ngày Mân càng thương yêu nó như thể chính nàng đã chủ động trong việc hoài thai. Mân có một đứa con. Mân không thù hận ai cả. Nàng cười mơn man, xoa cái bụng tròn, trả lời Nam khi anh bắt gặp nàng giấu mấy gói mì dưới mền:
– Em đem về cho mẹ em! 


Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 10 May 2024

Phần 14
Hai ngày liền cảnh sát chặn soát mọi chiếc xe đò chạy trên đảo Lantau, hay “Đại Nhữ San”, hoặc nói theo dân địa phương là “Cái Đầu Vỡ Của Hồng Kông”. Con đường xương sống độc nhất chạy men theo chân núi vừa là sinh lộ cho dân sinh vừa là tử lộ cho “nạn dân”, có khi là một khúc đèo gắt như cùi chỏ, có khi nằm giữa làng xóm và biển, là trục chính cho mọi phương tiện di chuyển trên đảo. Lê Khắc không dám bắt xe đò, ông đi bộ ra bến phà Silvermine. Cái khâu vàng đã nhờ một gã A Xòe trong trại đổi ra tiền Hồng Kông khiến ông yên tâm vì giá sinh hoạt trên đảo “rất mềm”. Ông dư sức mua ba cái bánh bao ăn một ngày, tính nhẩm với những chi tiêu tiện tặn nhất Lê Khắc đủ sống hơn một tháng ngoài vòng pháp luật.
Lê Khắc vào một quán ăn sát bến phà, quan sát cách mua vé, giờ giấc. Những chuyến phà cứ cách một giờ là có một chuyến. Ông đợi cho đến khi có chuyến đi đông nhất mới mua vé xuống phà. Ông biết là mình đánh nước liều vì nếu bị khám xét trên biển thì chắc không thoát được. Lê Khắc ngồi ở tầng dưới, lắng tai nghe ngóng những chuyện trò inh ỏi xung quanh. Không ai thèm để ý đến ông cả.
Ông chợt để ý một cặp trai gái đang dáo dác tìm chỗ ngồi. Người thanh niên nhỏ con, ăn mặc luộm thuộm khác với vẻ chưng diện của thanh niên Hồng Kông. Người con gái cũng vậy, cô ta mang cái ba lô đỏ trên lưng, tay xách thêm một cái giỏ có vẻ nặng. Hai người – Lê Khắc đoán là hai vợ chồn g -có vẻ mệt mỏi dù ánh mắt họ loang loáng. Người con gái chợt nói, Lê Khắc rùng mình khi nghe cô ta nói tiếng Việt:
– Thôi lên tầng trên đi anh.
Người thanh niên không nản chí:
– Ngồi đây ăn tô mì gói đã. Trên đâu có bàn.
Ánh mắt người thanh niên chợt dừng lại trên mặt Lê Khắc khiến ông rùng mình. Họ là ai? Người ở trại mở? Người Việt ở nước ngoài về du lịch? Lê Khắc suy nghĩ dữ dội. Chắc chắn không phải người đi du lịch vì họ ăn mặc luộm thuộm chẳng khác gì Lê Khắc cả. Lê Khắc nín thở khi hai người thanh niên tiến lại, nói:
– Hàm cối (xin lỗi ông)
Ông suýt bật cười và hài lòng vì anh ta không nhận ra Lê Khắc là người Việt. Ông co chân để lấy chỗ cho cặp trai gái chen vào giữa. Người con gái có vẻ ái ngại vì chỗ ngồi khá chật. Mấy người bên cạnh đang ăn mì, hút thuốc, khói mờ mịt. Cô cởi ba lô, để cái giỏ dưới sàn rồi khép nép chen vào ngồi trong. Người thanh niên bảo:
– Em uống cà phê không?
– Uống chung với anh đi, đỡ tốn tiền.
Cô người dựa trên ghế, chờ chồng (?) mua thức ăn về. Người thanh niên đến quầy, vừa nói vừa chỉ chỉ ra dấu với gã phục vụ viên. Tiếng máy phà nổ ầm ầm, phà đang “de” ra biển. Nhìn lui, Lê Khắc thấy những hàng quán vắng vẻ trên bờ.
Người thanh niên khệ nệ bưng hai tô giấy đựng mì gói và hai tách cà phê bốc khói. Cô vợ cự:
– Mua gì hai ly lận.
– Thì có bao nhiêu đâu.
Anh ta lại “Hàm cối” để Lê Khắc co chân lấy chỗ. Ông làm bộ nhăn mặt ra vẻ khó chịu để chứng tỏ thái độ bất lịch sự cố hữu của người Hồng Kông. Cô gái giở nắp tô mì, liếc Lê Khắc rồi bảo nhỏ với chồng:
– Cái thằng cha mặt mày khó chịu.
Anh chàng uống cà phê, tỉnh bơ.

Google images

– Kệ mẹ nó, tụi Hồng Kông đều thế cả.
Họ ăn uống, anh chồng rút bao thuốc Dunhill xanh, phân trần:
– Uống cà phê mà không có thuốc chịu không nổi.
Cô gái liếc xéo chồng, trề môi:
– Thì em có nói gì đâu. Muốn hút thì hút đi mà.
Người chồng choàng tay qua vai vợ, ngửa mặt thả khói. Cô vợ ngồi không yên, lấy giấy bút ra tính toán lẩm nhẩm. Người chồng hỏi:
– Em mua gì cho ai mà lắm thế.
– Thì người trong trại nhờ mua. Không mua thì tội, mà mua thì xách nặng quá.
Người chồng thở dài chia sẻ. Anh ta bỗng nhắc vợ:
– Em mua cái gì nhớ giữ receipt đàng hoàng. Không mình làm tốt mà người ta hiểu lầm.
– Thì đó, mệt muốn chết. Còn thiếu ký lạp xưởng cho ông Thịnh nữa.
– Nó còn giàu hơn mình.
Người vợ không trả lời, mặt buồn xo. Lê Khắc bỗng chú ý hơn câu chuyện giữa họ. Thì ra người vợ đang làm ở trại Đầu Bạc. Cô than phiền với chồng về những rắc rối xảy ra trong trại, nào Thịnh hiệu trưởng nào đó bị áp lực của buồng trưởng, chuyện lằng nhằng giữa Bổng và bà Sơ nào đó. Người chồng trầm ngâm nghe cô vợ nói, thỉnh thoảng đưa ý kiến giúp vợ giải quyết một trường hợp nào đấy. Anh ta lý luận gãy gọn, khúc chiết, nhưng không kém phần cứng rắn. Có lẽ nếu hai vợ chồng biết người ngồi bên cạnh đang vờ thiu thiu ngủ là một gã trốn trại thì chắc họ không trao đổi nhiều như thế. Lê Khắc chợt thắt ruột khi nghe cô vợ hỏi:
– Mấy người trốn ở Chi Ma Wuan đã bị bắt lại chưa anh?
– Chưa. Cũng không dễ gì.
– Em không biết trốn ra ngoài họ làm sao mà sống.
– Thì cũng sống được. Họ quen với đời sống khắt khe ở miền Bắc rồi.
Người chồng lại châm thuốc. Khuôn mặt xương xương của anh ta có vẻ mệt mỏi của người thiếu ngủ. Cô vợ e hèm:
– Hút lắm vào!
– Thì em coi, hút cho tỉnh chứ có ngủ ngáy gì bao nhiêu đâu
Cô vợ nguýt:
– Em cũng thiếu ngủ mà có hút đâu.
– Em khác. Anh chồng chống chế.
– Khác? Khác cái gì hả!
Cô mắng yêu rồi dụi đầu vào vai chồng, thiu thiu ngủ. Anh chồng cũng thiu thiu ngủ gà ngủ gật. Lê Khắc suy nghĩ dữ dội. Hai vợ chồng này rõ ràng là từ nước ngoài về làm việc ở trại giam. Ông có nên “đầu thú” họ để nhờ họ giúp đỡ không? Họ sẽ tố cáo với cảnh sát? Ông tin ở trực giác của mình. Anh chồng dù sắc bén và cứng rắn nhưng vẫn có vẻ hiền lành. Cô vợ không ngại vì nhất nhất đều hỏi ý kiến chồng, khuôn mặt trông ra dáng thật thà. Chưa bao giờ Lê Khắc thấy mình do dự như thế. Ông gặp may hay rủi? Nhờ họ ông biết thêm một tin quan trọng nữa: Không phải chỉ có mình ông trốn trại mà còn có mấy người khác, cũng vượt từ Chi Ma Wuan. Ai thế?
Chiếc phà thỉnh thoảng hú còi te te. Thuyền bè tấp nập kín cả biển. Những tòa nhà ngất trời càng lúc càng gần. Lê Khắc biết mình sắp đặt chân lên đảo Hồng Kông. Lạy trời, ông sẽ bình yên trên bờ, một chặng đường mới…
Người chồng thức dậy trước, lay vợ:
– Phương, Phương, đến rồi.
Cô vợ vươn vai uể oải. Anh chồng nói:

Google images

– Hôm nay mình đi hơi trễ. Mai đi chuyến mấy giờ em, anh phải đi sớm.
– Tám giờ mười lăm đi.
Anh chồng lẩm nhẩm:
– Tám giờ mười lăm đến Hồng Kông là chín giờ mười lăm. Cũng được.
Phà chạm mạnh vào cầu tàu lắc lư. Tiếng tu huýt ré lên lanh lảnh khiến tim Lê Khắc thắt lại. Cảnh sát đã bao vây? Một tiếng tu huýt ré lên trên bờ đáp lại. Thì ra đó là dấu hiệu để tài công đứng trên bờ biết mà cột dây cho phà neo lại. Cô vợ hỏi:
– Anh làm gì mà đi sớm vậy?
– Anh phải họp ở văn phòng Cao ủy.
Hai vợ chồng đứng dậy, Lê Khắc chờ họ đi ra cửa mới bám theo sau. Ông muốn càng biết thêm tin tức qua cuộc trao đổi giữa hai vợ chồng càng có lợi cho ông. Hành khách ùn ùn xô đẩy. Cô vợ bám sát vào lưng chồng để anh ta “mở đường máu” chen vai thích cánh với đám hành khách đông như nhặng. Họ chen lấn hung hãn bất kể đàn bà con gái. Người chồng kiên nhẫn lấn, cô vợ đằng sau thỉnh thoảng lại lẩm bẩm cằn nhằn đám hành khách thô bạo. Lê Khắc lọt tới đường thì mất dấu cặp vợ chồng. Ông đứng sau một xe bán nước, ngơ ngác chưa biết nên đi theo hướng nào. Người đông nhung nhúc, xe cộ đông nhung nhúc. Một chập, Lê Khắc nhác thấy cặp vợ chồng trẻ đang lên cầu thang băng qua đường. Ông quyết định đi theo hướng họ. Nhà cửa vẫn tiếp tục được xây cất giữa đường phố đông đảo. Người đi đường hối hả. Sức bật của kinh tế khiến Hồng Kông, dù sắp phải trả về cho Đại Lục, vẫn có một sức sống mãnh liệt. Lê Khắc quan sát kỹ các ngã tư đường vắng vẻ không thấy bóng cảnh sát sắc phục như ở Việt Nam. Ông vào một hiệu sách mua bản đồ Hồng Kông, đọc “cọp” một cuốn hướng dẫn khách du lịch để nắm rõ các phương tiện di chuyển trong thành phố. Hơi nóng và khói xe cùng với mùi người khiến không khí như đặc quánh lại. Những cô gái cao thon ăn mặc trang nhã, đi đứng thoăn thoắt khiến thành phố như tô thêm vẻ lộng lẫy quyến rũ của miền ham vui xác thịt. Lê Khắc thấy mình lạc lõng bên những thiếu nữ trắng ngần da thịt cặp kè với những gã trai mắt một mí vô hồn và trống rỗng. Ông đứng dựa vào tường một cửa hiệu bán nữ trang, đầu óc choáng váng.
Lê Khắc nhập vào dòng người đi xe điện ngầm. Ông gần ngạt thở vì sức xô đẩy của người trước người sau dồn lên xe. Người ông thấp bé, đầu chỉ ngang cổ người xung quanh. Ông ngắm nghía sợi dây chuyền của cô gái đang tựa ngực vào vai ông. Mùi nước hoa thơm nức khiến Lê Khắc dễ chịu. Người con gái có vóc hình thật đẹp khiến Lê Khắc bất giác nhớ những người tình đã đi qua trong đời ông. Cô gái xuống trạm kế, lập tức người khác chen lên lại tựa vai, ịn bộ ngực mềm mềm cưng cứng vào người ông. Dường như Hồng Kông bị thống trị bởi giành giựt và nét thẩm mỹ, cả hai điều ấy sắp bị nuốt chửng bởi sự thô bạo từ Đại Lục.
Lê Khắc xuống ga Mongkok. Ông tìm ngõ ra khỏi đường hầm metro, kín đáo mở cuốn bản đồ. Nắng hè dữ dội khiến ông ngây ngất như bị say sóng. Những con đường nối tiếp nhau, những ngã tư đèn xanh đỏ, những ngõ hẻm bẩn thỉu rác rến. Lê Khắc băng qua những con đường mộng tưởng ấy, ông cần sự tỉnh táo, không lạc lối, phải đến đích.
Từ xa, hàng rào trại mở Kai-Tak xuất hiện. Những mái tôn đang dịu trong nắng chiều. Mồ hôi vã ra như tắm khiến ông phải tháo mắt kiếng nhiều lần, lau khô. Ông vừa đi vừa ngó, chợt giật thót khi có tiếng hỏi khẽ bằng tiếng Việt:
– Ông anh đang tìm “tươi mát” đấy à?
Một cô gái nhỏ thó, ăn mặc diêm dúa cợt nhã. Lê Khắc nhìn cô gái từ đầu đến chân, làm ra vẻ trân tráo:
– Trời nóng mà cô em. Sao cô em biết anh hai đây là người Việt?
Cô gái cong môi, ỏn ẻn:
– Ối giời, nhìn bộ vó ông anh là biết đang “quýnh” lên đấy mà.
Lê Khắc tán:

Google images

– Em tươi mát thế, trông mà phát thèm. Này, cho anh hỏi thăm tí.
– Hỏi đi
– Cô em ở Kai Tak à?
– Điều đó không quan trọng. “Đi” không?
Lê Khắc làm vẻ hối tiếc:
– Í dà, muốn “đi” lắm mà bận chút việc.
– Gì thế?
– Biết Tứ Hải Phòng không? Cái ông cao, đen, họa sĩ đấy mà.
– Biết thì sao mà không biết thì sao. Đây không làm công việc trả lời. Cô gái trân tráo.
Lê Khắc mừng thầm, nhỏ nhẹ:
– Anh hai là…tay chơi, không để em thiệt đâu.
– Bao nhiêu? Cô gái xòe tay.
– Bao nhiêu là sao?
– Năm choạc, không “đi” chỉ tổ mất thì giờ.
Cô gái nhún mông, nhìn ra đường tìm kiếm. Lê Khắc ngắm nghía khuôn mặt còn rất trẻ của cô gái. Ông thấy lòng chùng xuống bùi ngùi. Cặp lông mày cong lá liễu, lưỡng quyền cao, đôi môi quét son đỏ chót vụng về. Ông gật:
– Được. Gã ở đâu?
– Đưa tiền trước.
Lê Khắc đếm tiền. Cô gái nhét tiền vào sắc tay, bảo: đi theo bờ rào, đến đó, thấy cái cổng hé không. Dãy buồng thứ ba, đấy…đấy…gã ở phòng cuối. Này, mà không chắc ông già ấy có nhà không đấy nhá.
Lê Khắc đến đúng dãy buồng cô gái chỉ. Trẻ con đùa giỡn trên nền xi măng, có đứa đang nghịch nước, mặt mũi lấm la lấm lét, tay chân dơ bẩn. Thanh niên để tóc dài, cởi trần, ngồi trong quán nghe nhạc xập xình. Chúng hau háu nhìn Lê Khắc. Ông nhủ: “Bề gì, cũng là đồng hương, nếu phát hiện ra mình trốn trại chắc không đến nỗi nào”. Ông sửa bộ, làm mặt tỉnh bơ bước thẳng nhưng mắt vẫn để ý đến số buồng. Đây rồi, hẳn phải là nơi ở của một gã họa sĩ. Những miếng giẻ dính đủ màu sơn. Lê Khắc thất vọng khi thấy căn phòng trống trơn. Ông ngồi đại xuống mép cửa, chân vẫn thòng xuống đất. Một đứa trẻ từ buồng bên kia chạy qua:
– Bác, bác tìm bố cháu đấy à?
Lê Khắc nhìn đứa bé trạc tám tuổi. Khuôn mặt kháu khỉnh và thông minh. Ông đáp:
– Ừ, thế cháu biết bố cháu đi đâu không nào?
Cậu bé mau mắn:
– Để cháu đi gọi, bố cháu qua bạn bố cháu chơi đấy.
Cậu bé chạy vụt đi. Có tiếng ru con từ căn phòng mở cửa sổ. Tiếng ru buồn buồn mệt nhọc. Những tấm nhựa sọc xanh căng trước căn buồng dìu dịu một màu chiều buồn bã nơi trại vắng. Lê Khắc sốt ruột ngồi chờ. Rồi ông nghe tiếng hỏi vẳng từ xa của Tứ, tiếng trả lời của đứa con từ đầu dãy. Tứ xuất hiện, hắn vẫn cao, đen hơn trí nhớ của Lê Khắc về người bạn cũ. Tứ khựng chân khi thấy Lê Khắc đứng dậy. Ông ta bảo con:
– Con đi chơi để bố nói chuyện.
Cậu bé nhìn Lê Khắc tò mò trước khi lững thững bỏ đi. Tứ gọi giật:
– Khoan đã nào (móc túi lấy tiền), chạy qua bác sáu mua bố bao thuốc.
Chờ con đi khuất, Tứ mới òa lên mừng rỡ:
– Tôi biết hết rồi, vào trong “nhà” đã.
Ông ta trải chiếu, với bình thủy rót nước, mắt ngó Lê Khắc chăm chăm:
– Nhà bác trông khác đi nhiều. Đọc báo, đọc thư cậu em ở Chi Ma Wuan kể, cứ nghĩ thế nào bác cũng lại đây.

Google images

Lê Khắc mỉm cười:
– Mấy năm? Gần hai năm rồi đấy, mầy vẫn không khác xưa gì cả.
– Haha…Tao vẫn là Tứ Hải Phòng. Lá thư cuối cùng nhận khi nào?
– Coi nào! Năm sáu tháng gì đó. Tao nhớ như in số thuyền của mầy. Biết có lúc cần mà.
Cậu bé mang bao Marlboro về. Tứ lại sai:
– Con đem cái thau nầy qua cô Sương rồi ăn luôn với cô ấy, để bố nói chuyện.
Cậu bé bê cái thau nhựa vừa đựng cơm vừa đựng thức ăn, mang đi. Lê Khắc hóm hỉnh:
– Có bà hai đấy à. Mừng bạn.
Lê Khắc nâng tách trà, ngạc nhiên thấy Tứ không đùa lại. Tứ nói:
– Lần nầy mầy trật lất.
Tứ bị vợ “để” đã năm năm. Bạn bè cứ nghĩ với lứa tuổi hồi xuân thì sớm muộn ông cũng sẽ “bước thêm bước nữa”. Khi Tứ dắt con vượt biên lọt tới Hồng Kông, ông viết thư đều cho Lê Khắc kể cuộc sống, nhưng tuyệt không hề có bóng dáng đàn bà xuất hiện trong những lá thư ấy. Lê Khắc bảo:
– Trật thì thôi. Tao ở tạm đây ít bữa có êm không?
Tứ trầm ngâm không đáp ngay khiến Lê Khắc sốt ruột. Ông ướm, trong lòng buồn bực:
– Nếu không êm thì tao đi vậy.
Tứ mỉm cười:
– Mầy đừng hiểu lầm tao. Mình biết nhau từ lâu mà bạn. Tao nói như thế nầy: chỉ “êm” 50 phần trăm. Thỉnh thoảng chúng nó đánh nhau, cảnh sát lại bố ráp, nhưng chủ yếu chỉ để tìm vũ khí.
– Đầu gấu đấy à?
– Ừ, đủ thứ anh chị. Buôn lậu, bạch phiến, ma cô, ma nớp, thậm chí còn đi ăn cướp ngoài Hồng Kông nữa. Đây là sào huyệt mà cha.
– Quân nào thế?
– Có đứa ở đây cả chục năm rồi. Chả có nước thứ ba nào nhận. Án tích như thế.
Tứ vừa kể vừa dọn cơm. Ông có cái bếp điện, vài cái nồi nho nhỏ đủ hai cha con nấu ăn. Tứ câu trộm điện từ dây điện đường, những sợi dây đan lộn xộn vào nhau được giấu sau dây mắc áo. Những người ở trại tự do như Tứ phải tự túc đời sống y như dân bản xứ. Dù chỉ “bán tự do” vì họ chưa mang một quốc tịch nào cả, họ phải tự xoay sở tìm kế sinh nhai trong cái vùng đất tiền đất bạc này. Các nước Tây phương chỉ nhận nhỏ giọt, viễn ảnh định cư vẫn đen tối dù là trên nguyên tắc, họ có thể được đi bất kỳ nước nào. Nghệ sỹ hết thời như Tứ sống chật vật, may lắm thì bán được vài bức. Tứ làm luôn nghề đóng khung tranh. Dường như những tác phẩm của Tứ không phù hợp với yêu cầu của đám thanh niên thừa tiền. Nỗi ám ảnh quá khứ, những kinh nghiệm đau nhục tràn lên những vệt sơn như mảng dao cắt ngọt vào thớ gỗ, hình hài những thiếu nữ lõa lồ nằm bơ vơ trên sóng chỉ được cảm thông bởi những người đồng cảnh, và tiếc thay kẻ đồng cảnh thường không có tiền để thưởng lãm nỗi đau của chính mình. Hạnh phúc của Tứ – cánh chim lạc bơ vơ trên nền vải đen, hay muôn vạn lá vàng xếp lớp trong màu đen vô tận của hư vô chỉ là kỷ niệm của những kẻ đã từng bước lên cái vô cùng của thời gian hủy diệt. Tuy thế, vẫn là hạnh phúc tự Tứ cho mình.
Sáng sớm hôm sau, Lê Khắc đi thật sớm. Không khí trong lành, những hồi tưởng kỷ niệm giữa ông và Tứ thời làm việc ở Hà Nội khiến Lê Khắc cảm thấy tinh thần sung mãn. Ông biết mình không thể kéo dài đời sống ngoài vòng pháp luật nầy lâu nếu không tìm ra cách nào để trốn khỏi Hồng Kông đi nước khác. Ông đã thất vọng sau một đêm tìm hiểu cuộc sống bên ngoài, qua Tứ. Những mắt xích của xã hội tự do, ở một phương diện nào đó, cũng không khác gì một nước cộng sản. Xã hội giam kín những kẻ tạo nên nó, tự bày ra luật lệ, tự xây nhà tù để tiêu hủy và trừng phạt những tâm hồn nổi loạn. Lê Khắc, kẻ nổi loạn, người muốn chọc thủng những lỗ tai không màng nhĩ. Và như thế, ông tự giết mình bằng sự cô đơn. Chỉ còn lại là hy vọng, mỏng dần như lớp sương mù một sáng nắng.

Google images

Lê Khắc đến bến phà trung tâm lúc 9 giờ. Ông đã dứt khoát là sẽ “đầu thú” với cặp vợ chồng hôm trước. Niềm hy vọng của ông. Có thể có một kẽ hở nào đó mà người thanh niên khôn ngoan kia biết được để giúp ông thoát khỏi những mắt xích. Ông nóng nảy đọc đi đọc lại bảng ghi giờ phà từ Lantau đến. Kim đồng hồ treo ở cửa ra vào như đứng sững cùng sự trông chờ của ông.
Tiếng tu huýt ré lên. Lê Khắc lại giựt mình thắt ruột. Chiếc phà lớn sơn trắng chập choạng cập vào cầu tầu, sợi dây thừng được móc qua, cửa phà hạ xuống, những dòng người ùn ùn xô đẩy. Lê Khắc hồi hộp đứng ngay bậc thềm, đôi mắt ông tê nhức nhìn những mặt người lấn ra. Những lượt người như sông chảy đi qua. Lê Khắc chảy nước mắt sống vì phải tập trung quá tải.
Người cuối cùng đã ra hết.
Tim Lê Khắc đập bình bịch. Ông nhớ chắc là người chồng bảo sẽ đi chuyến tám giờ mười lăm. Ông đã vuột họ? Họ đổi chuyến? Lê Khắc nặng nhọc nhìn lại tấm giấy ghi thời khóa biểu phà đi và phà đến. Một giờ nữa sẽ có chuyến đến. Ông đi loanh quanh khu bến phà, kiên nhẫn chờ.
Chuyến phà kế cũng vắng bóng cặp vợ chồng ấy. Chuyến tới nữa, chuyến tới nữa…cặp mắt cận thị nặng của ông đau nhức. Cả một buổi sáng trống không.
Tứ bảo:
– Tao biết cặp vợ chồng đó. Mầy bảo cô vợ tên Phương?
– Ừ, người chồng kêu vậy.
– Không sai. Chả tên Nam, họ có vào đây mua bánh chưng cho bà con ở trong trại giam dịp Tết vừa rồi.
Lê Khắc mừng rỡ:
– Mầy chắc liên hệ được với người ta không? Anh ta coi còn trẻ lắm, lanh lợi và có vẻ khôn ngoan.
– Không trẻ đâu, cũng cỡ tuổi mầy và tao đấy.
Lê Khắc thở dài:
– Bọn mình đều tứ thập nhi bất hoặc cả rồi mà còn long đong lận đận.
– Lại nổi máu lãng mạn tiểu tư sản. Để tao tính.
Tứ tính “tới” thật. Vài ngày sau, Tứ bảo đã liên lạc được với Nam, anh ta hẹn gặp Tứ ngay trong trại Kai-Tak dù lý do Tứ đưa ra trong thư nhắn thật mơ hồ: “Nhờ anh giúp hộ em chuyện này, không có anh không xong”. Lê Khắc thấy mình thấp thỏm như sắp đi hỏi vợ. Tứ cười bảo:
– Khẩn trương thế, chuyện gì tới nó tới. Qua đây tao giới thiệu cô Sương nầy.
Tứ dặn con chơi loanh quanh gần nhà, ai đến tìm bố thì qua cô Sương kêu bố về. Ông dẫn Lê Khắc băng qua hai dãy nhà lợp tôn, vách cũng che bằng tôn, và đứng trước một căn phòng lợp tôn có cửa ra vào lớn vừa một miếng tôn hình chữ nhật. Ông vén màn, gọi:
– Chú Tứ đây Sương ơi.
Có tiếng người con gái trả lời:
– Chú vào đi, cháu có ngủ đâu nào!
– Có bạn chú đến chơi nữa đấy.
Lê Khắc nghe tiếng “dạ” khẽ của Sương. Ông theo Tứ leo vào phòng ngồi xếp bành trên sàn gỗ. Ông chợt ngẩn ra khi trong ánh sáng mờ nhạt của căn phòng, khuôn mặt trắng xanh của cô gái có vẻ đẹp phảng phất Tây phương hiện ra lộng lẫy. Đôi mắt sâu thăm thẳm của nàng nhìn bâng khuâng ra cửa. Lê Khắc không muốn tin đó là một đôi mắt đã mất ánh sáng như Tứ nói. Nàng lí nhí chào Lê Khắc mà ông đoán do ông vừa phát ra tiếng động khẽ khi ngồi xuống. Tứ lom khom rót nước chế ra ca nhựa. Sương nói:
– Chú Khắc thông cảm nhé. Đáng lẽ cháu phải rót nước mời chú cơ.
Lê Khắc có cảm tưởng như ông vừa chạm nỗi buồn của cô gái vì sự hiện diện của mình. Ông đáp:
– Có sao, chú Tứ mời chúng mình cũng được vậy.

Google imaes

Lê Khắc nhớ trật ra là ông vừa nói một câu vô duyên nhất của thằng…nghệ sỹ. Ông lúng túng chữa:
– Cô Sương ăn cơm chưa đấy.
– Cháu mới ăn đấy. Chưa chiều đâu chú nhỉ?
Tứ đặt vào tay Sương ca nước. Ông hồn nhiên kể chuyện, những mẩu chuyện ngắn ngắn giữa ông và Lê Khắc. Sương chăm chú lắng nghe, hàng mi dài chớp khẽ khiến không dưng mà Lê Khắc rúng động cả cõi lòng. Sương hỏi:
– Thế chú Khắc ở trại nào? Cháu chưa bao giờ nghe chú Tứ bảo cả.
Lê Khắc đưa mắt nhìn Tứ lưỡng lự. Tứ đỡ lời:
– Chú ấy trước kia ở chung với chú ấy mà.
Cả Tứ lẫn Lê Khắc đều thầm ngượng ngập vì nói dối một cô gái tàn tật. Tứ khỏa lấp bằng cách nói huyên thuyên về nghề báo của Lê Khắc. Sương ngắt lời:
– Tiếc là cháu chả đọc được.
– Thế cháu có thích nghe đọc không? Tứ hỏi.
– Có đấy.
Tứ cười hà hà bảo Lê Khắc:
– Hôm nào mầy qua đọc chuyện cho cô cháu tao nghe nhé.
Sương chớp mắt. Lê Khắc nói thầm. ừ…chú…sẽ đọc truyện, coi nào, cháu sẽ thích truyện gì nhỉ…hẳn không phải là “Thép đã tôi thế đấy” rồi.
Một người đàn bà đi ngang qua, ghé mắt nhìn vào, chào Tứ:
– Bác Tứ ăn cơm chưa đấy?
Bà ta chào xong đi thẳng. Tứ bảo:
– Đầu nậu đấy. Tối ngày cờ bạc.
– Thế nào chú Khắc, không thèm đọc truyện cho cháu nghe phải không?
Lê Khắc gật đầu ngớ ngẩn:
– Có chứ, ngày mai, ngày mai bắt đầu nhé.
Tiếng cậu con Tứ gọi:
– Bố ơi, có chú gì tìm bố đấy. Con bảo chú chờ ở nhà mình.
Hai người lật đật chào Sương. Lê Khắc đoán là Nam khi nghe cậu bé tả vóc dáng. Ông bỗng thấy mình mâu thuẫn: ông thấy không cần thiết phải gặp Nam ngay. Nếu Nam khuyên ông ra trình diện, hoặc tệ hơn nữa anh ta sẽ tố cáo ông, thì sao! Thời gian tự do của Lê Khắc ngắn quá, ông phải tranh thủ sống, phải…đọc truyện cho người con gái diễm lệ mù lòa. Ông tưởng tượng ra nhiều thứ trên quãng đường rất ngắn trở về chỗ ở của Tứ. Tứ e ngại bảo:
– Mầy tính sao? Có nói thật với anh ta không?
Lê Khắc níu vai Tứ, họ đứng lại ngay lối đi:
– Tao khó nghĩ quá. Mầy nghĩ hộ tao đi.
Tứ chưng hửng, ánh mắt nghi ngờ nhìn Lê Khắc:
– Mới hôm trước cũng chính mầy muốn gặp. Sao thế?
Lê Khắc không biết trả lời sao cho phải. Đúng, ông muốn gặp Nam, muốn bày tỏ tâm tư nguyện vọng. Nhưng chỉ một giây khắc vừa rồi thôi, ý định ông đã chao động, ông sẽ bị bỏ vào hàng rào lưới, sẽ cách xa, sẽ cách xa…Lê Khắc vừa tìm thấy giá trị của một cuộc sống. Ông có thể đem vào trong tâm hồn bị ngăn chia với thế giới bên ngoài kia những hình ảnh, những màu sắc, những trăn trở thao thức, và cả những cảm quan nghệ thuật sống một cuộc đào thoát vô vị nếu không làm được một điều gì cụ thể đến mức ông có thể nhìn thấy, thậm chí còn va chạm được nữa. Thốt nhiên, Lê Khắc tự nhắm mắt lại. Chưa lần nào ông hình dung mình sẽ sống trong thế giới mù. Ông vẫn “thấy” bầu trời xanh ngắt, những vũng lầy đen đọng, những bông hoa lấp lánh thắp dọi trời đen. Thế…, ông sẽ chia sẻ ít nhiều với cô gái mù đơn độc đất khách.

Google images

Tứ đã nhận ra vẻ mặt khác lạ của Lê Khắc, ông gầm gừ:
– Mầy làm cái quái gì thế?

– Mầy đếch biết cái quái gì cả.
Lê Khắc mở mắt ra, bảo thôi cứ gặp anh ta rồi tính. Những ngọn đèn trong trại vừa bật. Hai người rảo bước. Nam đang ngồi ở bậc cửa, phì phà hút thuốc. Tứ xoa tay xin lỗi:
– Bậy quá, tôi để anh chờ.
Nam cười tỉnh bơ:
– Có sao. Được nước nào nhận chưa?
Nam biết Tứ qua vài lần triển lãm tranh của ông ở Hội Bảo vệ Nhân quyền. Lâu lâu có việc vào trại, anh ta tạt qua chỗ Tứ, trao đổi vài câu rồi đi. Đối với Tứ, Nam có một vẻ bí mật nào đấy, một người ở nước ngoài về, một thanh niên có học, nói giọng Hà Nội, sống ở Nam, ốm nhỏ và giản dị khác người. Tứ giới thiệu Lê Khắc rồi hỏi:
– Chị Phương có khỏe không đấy? Tôi chờ đi Mỹ anh ạ.
– Thì cũng đại khái vậy. Nam nói, nghĩ thầm…Lại đi Mỹ, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ mà. Anh hỏi thăm cậu con Tứ, tình hình trong trại bảo:
– Dạo này yên đó chứ, mà ông thường đi đâu dữ vậy?
Tứ rút điếu thuốc Nam mời, châm lửa. Ông nói về Sương. Một cô gái mù lạc cha trên đường vượt biển, hiện sống chung với một cô gái khác nhưng dường như cô này ít khi ở nhà. Tứ thấy mình có bổn phận chăm sóc cho người con gái tội nghiệp. Ông nói:
– Tình cảnh cô ta như thế tôi không đành lòng anh ạ. Thì giờ rảnh là bố con tôi lại chạy qua chạy về. Cứ nghĩ con gái hơ hớ thế kia mà ở chốn binh đao nầy…
Nam có vẻ xúc động. Anh ngớ ra:
– Tôi vào trại hoài mà có nghe ai nói đâu.
– Chẳng ai để ý đến bản thân người khác nếu không có lợi cho mình.
– Thế cô ấy sẽ đi đâu?
– Nghe bảo là Hòa Lan gì đấy. Tôi không rõ.
Nam mở sổ tay, ghi số thuyền và tên họ của Sương. Tứ mừng thầm, nói thêm:
– Dạng như bọn tôi chẳng làm gì được. Nếu được anh quan tâm nhắc nhở các phái đoàn…
Nam cười nhạt, bảo:
– Tôi chỉ rành tin tức hơn các anh một chút thôi. Phái đoàn! Hừm… Có lẽ chẳng ai muốn giành thêm gánh nặng đồng bào mình.
Ba người đàn ông im lặng hút thuốc. Nhưng chỉ một khắc, Nam trở về với bản tính năng động của mình. Anh thao thao trình bày những diễn biến trên diễn đàn quốc tế về vấn đề người tỵ nạn. Những kế hoạch mà chính quyền có thể thực hiện trong chiều hướng bất lợi cho thuyền nhân. Qua Nam, Lê Khắc hình dung một bức tranh rõ rệt với hai màu đen trắng thể hiện về người tỵ nạn. Giọng anh ta có khi sôi nổi về một đề tài tranh luận giữa những người làm việc như anh và đại diện Cao ủy Liên Hiệp Quốc. Những cái nhìn thẳng thắn và trực diện vào vấn đề, không sống trong ngụy vọng về một tương lai tươi sáng đối với một vấn đề đã kéo dài quá lâu. Có khi Nam gay gắt với tình hình sinh hoạt bất ổn do người tỵ nạn tự gây ra. Anh phóng ra một cái nhìn toàn diện về đời sống thuyền nhân, từ tấm phối cảnh ấy, nhặt ra những mẩu nhỏ để trình bày như là một trường hợp điển hình. Những mẩu nhỏ về cá nhân của từng mảnh đời lưu lạc, những chi tiết bị lãng quên, được Nam tô đậm, thật đậm, bởi lẽ chính những mẩu đời nho nhỏ ấy mới là chân diện mục của cuộc sống. Cộng đồng không phải là sự kết hợp hữu cơ giữa các cá nhân. Chân lý và phân tử không hiện từ bất kỳ một kiến trúc vĩ mô nào cả, mà chính là những mẩu đời nhỏ nhặt, riêng, chắt chiu từ cuộc sống, từ bức tranh phối cảnh.
Một mẩu đời đau đớn…