Chương II: Suối Máu
Phần 6
Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 12 May 2024

Tôi tỉnh giấc vào khoảng 4 giờ sáng, vì quá lạnh, tấm vải đắp không đủ ấm. Tôi đứng lên tháo chiếc túi vải treo trên vách, tìm thêm áo mặc. Gió thổi tuy không mạnh như hồi tối, nhưng không khí như có ướp nước đá. Tay chân lạnh ngắt. Nằm co quắp trong tấm vải, tôi xoay qua trở lại, nhưng không tài nào nối lại giấc ngủ. Tôi vùng dậy, kéo hơi thuốc lào cho ấm. Cũng như mọi buổi sáng, điếu thuốc đầu tiên làm tôi ngây ngất. Cơn say thật đậm đà vì có gió lạnh. Do tiếng điếu rít, trong buồng có người thức giấc. Vài tiếng nói thì thầm đây đó.
Tôi ra ngoài đi tiểu. Đêm còn tối lắm. Những ánh đèn xa xa chạy vòng theo rào kẽm gai trông buồn hiu hắt. Tiếng chó tru đêm từ xa vọng lại não nề. Tôi quay mặt về hướng Sàigòn, nhưng mắt bị dẫy nhà ngăn lại. Chẳng biết có bao nhiêu thay đổi đã xẩy ra trong thời gian tôi vắng mặt! Trong lòng như có sự gì phân vân, cồn cào nửa đau đớn, nửa ê chề! Dòng nước tức tưởi tuôn ồ ồ xuống đường mương. Lạnh quá, chịu không nổi, tôi quay vào.
Đã sống ở miền Nam trên 20 năm, chưa một lần, tôi thấy cái lạnh như đêm nay. Không khí giá buốt, khó chịu như mùa Đông miền Bắc.
– Lạnh quá hé?
– Ừa, có lẽ cái lạnh theo tụi nó vô đây, chứ miền Nam có bao giờ lạnh như thế này đâu? Chán ghê, chán ghê!
Mậu đã thức vì lạnh, chứ không phải thích dậy sớm! Mọi người đều tỉnh trước tiếng kẻng báo thức. Những tấm mền trùm kín người, ngồi xung quanh ngọn nến hút thuốc lào vặt chờ sáng.
Tiếng kẻng khua vang, âm vọng kéo dài thê thiết giữa một buổi sáng rét buốt. Những chiếc mền tung ra khỏi người. Vài người ngại lạnh, ngồi nán lại, chưa muốn ra ngoài tập thể dục theo nội quy của Trại tù. Chúng tôi khoa tay, múa chân vài cái lấy lệ, hô vài câu rồi tan hàng. Tất cả ồ vào nhà. Những chiếc mền lại trùm lên người như những ụ đất, trong khi đó tiếng hò: một, hai, ba,… bốn, của những tên bộ đội, vọng đến nghe nhức nhối
Tôi xách gầu ra giếng. Vì trời lạnh, sáng nay giếng vắng hoe, nhưng dòng người đi cầu mỗi sáng vẫn dài ngoằng. Tuy kẻng đánh từ lâu, mà tên cảnh vệ trên vọng gác chưa cho lệnh mở cổng. Vấn đề mở sớm hay muộn, tùy theo ý muốn mỗi tên cảnh vệ. Bỗng, từ giữa hàng tách ra một người, vừa đi vừa ôm quần, mặt mày nhăn nhó có vẻ đau khổ. Sau mới hay, vì chờ lâu qua, chịu không nổi, anh đã bĩnh ra be bét!…
Cái lạnh kéo dài cả tuần chưa dứt, mỗi ngày hình như mỗi lạnh hơn. Ai mang theo áo len còn đỡ, người nào không có, đành đắp lên người bất cứ thứ gì che gió được.
Một buổi tối cuối tuần, tôi đang ngồi nói chuyện với Vũ Đức Nghiêm về ý định của anh muốn phổ nhạc một bài thơ của tôi làm trong tù, thì Chung (Trung Tá Công Binh) đến tìm.
– Ông ơi, đây dịp may, Ban Chỉ Huy Trại muốn thực hiện bức chân dung “Bác”, tôi giới thiệu ông đó!
Tôi sửng mắt ngó Chung:
– Ơ, ai khiến ông giới thiệu? Tôi bỏ vẽ lâu rồi, vẽ chân dung truyền thần đâu phải nghề của tôi?
Trong bóng tối, tuy không nhìn rõ sắc diện của Chung lúc ấy, nhưng tôi chắc hắn ngạc nhiên lắm. Giá ở cương vị tôi, hắn đã vồ ngay lấy cơ hội may mắn này. Tôi biết Chung, vì ngày trước có gặp nhau trong các dịp Đại lễ của Quân Đội. Đơn vị của hắn, chuyên môn làm cổng chào và khán đài. Chung có vẻ bối rối:
– Nhưng tôi đã trót giới thiệu rồi, sao bây giờ?
– Kệ ông chứ, tôi đâu biết!
Nói xong, tôi kéo Nghiêm đi chỗ khác nói chuyện.
Cũng tưởng như vậy là xong, tôi quên ngay chuyện đó. Đâu ngờ, tối hôm sau, Chung lại đến tìm, nói có cán bộ Ba muốn gặp, đang chờ ngoài cổng. Tôi bắt buộc phải đi theo Chung ra trước Trại. Tới chiếc sân nhỏ, dưới ánh đen chiếu chếch từ mé lộ, một tên bộ đội nhỏ thó, nhưng nét mặt già dặn, đang đứng đó. Chung tiến nhanh, đến gần:
– Thưa cán bộ, đây, người tôi đã giới thiệu, để thực hiện chân dung “Bác”!
Chung nói ngon lành, coi như tôi đã nhận lời. Tên cán bộ nhìn tôi, cười cười, tỏ cảm tình:
– A, chào anh. Nhân Tết sắp đến, Ban Chỉ Huy Trại, muốn thực hiện bức hoành phi có hình Bác, trưng bầy trên bàn thờ Tổ Quốc, anh Chung giới thiệu, anh có khả năng ….
Chưa để tên cán bộ nói hết câu, tôi vội trả lời.
– Thưa cán bộ, tôi đâu có khả năng vẽ truyền thần. Hơn nữa, tôi bỏ nghề lâu rồi tay chân lúc này bị bệnh thấp khớp, các đầu xương sưng lên, nhất là xương ngón tay, nên không thể cầm bút được, xin cán bộ tìm người khác.
Tôi quay sang Chung:
– Anh Chung, tối qua, tôi đã nói với anh về vấn đề này. Sao anh không trình cán bộ tìm người khác? Tôi không có khả năng!
Thấy thái độ tôi như vậy, Chung bẽn lẻn nhưng vẫn cố tình lấy lòng tên cán bộ, hắn nói:
– Chẳng mấy khi Cách Mạng nhờ tới bọn mình, tôi không có tài, nếu có, tôi xin làm ngay!
Hắn vừa nói vừa liếc nhìn tên cán bộ với cặp mắt sợ sệt. Quá giận, không dằn được, tôi nói:
– Tôi cũng bất tài như anh vậy.Nếu có khả năng tôi không để anh nói nhiều.
Qua lời đối thoại của chúng tôi, tên cán bộ nghe rõ hết, nhưng hắn không có ý kiến gì. Tôi chào, quay nhanh người đi sâu vào ngõ. Giữa đường, tôi gặp Hưng và anh em khác, hỏi có chuyện gì? Tôi nói đầu đuôi. Anh em khuyên, mình đang ở thế kẹt, không nên cứng rắn quá, thiệt thân. Nếu họ năn nỉ nữa, nên làm. Ăn thua gì chuyện đó, về chân dung Già Hồ cũng coi như công tác vác củi, nấu cơm, dọn hố cầu có gì quan trọng đâu? Tôi biết anh em thương, nói để yên lòng. Đêm đó, tôi mất ngủ không phải vì lạnh.
Tối hôm sau, tên cán bộ Ba, một mình đến tìm tôi. Hắn năn nỉ và coi như công tác khẩn cấp này không thể thiếu trong dịp Tết, mong tôi cố giúp.
– Tôi đã nói với cán bộ hồi hôm, tôi bỏ vẽ lâu rồi. Vẽ chân dung “Bác”, đâu phải chuyện đùa, tôi không dám nhận. Nếu vẽ phong cảnh hay thứ gì khác còn có thể gạch bậy bạ được, chứ chân dung, khó lắm, đòi hỏi kỹ thuật cao, nên tôi không dám nhận.
– Anh cứ nhận dùm đi, bôi ra cũng được, miễn có. Anh cần gì, chúng tôi mua đủ. Tôi đã qua các khu khác tìm người, ai cũng nói đến anh, vậy anh cố giúp chúng tôi, có mẫu mà, anh chỉ vẽ lại chứ đâu phải nghĩ ngợi gì?
Trước tình thế này, tôi nhớ lại lời khuyên của anh em, đành nhận, với câu nói dè chừng, không bảo đảm về nghệ thuật. Tên cán bộ Ba mừng quá, cười toe toét, hẹn mai sẽ vào gặp tôi để tìm hiểu nhu cầu.
Sáng sớm hôm sau, tên cán bộ Ba vô. Tôi đưa bản kê khai số lưọng vật dụng cần thiết để tôi bắt đầu công việc. Nhân tiện, tôi xin thêm một người có khả năng giúp tôi, sơn phết những chỗ không cần thiết.
Đúng 3 ngày sau, tên cán bộ Ba mang vật dụng vô. Hắn nói, những thứ tôi kê khai đều khó mua, vì các cửa tiệm đều giấu hết, phải mua với giá thương lượng, tức giá chợ đen. Chiếc khung căng vải bố, được làm bằng những nan giường tháo ra, tấm bố là tấm vải đắp. Đó, Việt Cộng thực hiện một công trình nghệ thuật bằng các phương tiện đơn giản như vậy, cũng như khi chiến tranh đang tiếp diễn, họ phóng hoả tiễn vào thành phố để sát hại dân lành bằng dàn phóng bằng tre!

manhhai flickr
Công việc tiến hành chừng một tuần lễ, bỗng có lệnh “biên chế”, tức thay đổi chỗ nằm toàn Trại. Cái lối này Cộng Sản dùng để tránh sự cấu kết đưa đến việc gây xáo trộn, hoặc tổ chức trốn Trại. Tôi được đưa đến K1, do Cúc (cựu Tiểu Đoàn trưởng Pháo Binh) làm K.Truởng. Tên Thiếu úy Tư cho lệnh ngăn một căn, bằng tấm liếp cho cách biệt. Trong căn nay chứa 5 kẻ:
– Cúc, K.Truởng,
– Bác sĩ Cường, Phụ Trách Y Tế,
– Khanh (Trung Tá Truyền Tin) làm “mõ”, khi có lệnh gì do Ban Chỉ Huy Trại đưa ra, Khanh phải đi khắp các K để báo tin và phụ trách việc mở, tắt tivi,
– Trung Tá Sử (trước ở Tổng Cục Quân Huấn) có khả năng kẽ chữ
– và tôi, người đang thực hiện tấm hoành phi có chân dung “Già Hồ”
Ngày lại ngày, qua đi một cách nhục nhằn, tẻ nhạt. Quanh quẩn đã gần đến lễ Giáng Sinh. Ai có đạo đã bắt đầu bàn tán về vấn đề tổ chức, phân công. Những chiếc đèn ngôi sao được thực hiện bằng giấy lấy từ quyển vở học trò. Chiếc hang đá nhỏ, cũng làm bằng tấm bìa bôi nhọ nồi giả mầu đá. Cây thông được cắt bằng giấy xanh, tuy không đẹp, nhưng cũng có hình thức để trưng bầy cho đêm Giáng Sinh tăng phần trọng thể!
Sự thực tất cả những thứ đó không đáng gì, nó là trò con nít nếu so sánh với các hình thức tổ chức ở ngoài đời. Nhưng trong hoàn cảnh này, tìm và nghĩ ra cách làm những thứ đó, quả một vấn đề. Toán cảnh vệ có nhiệm vụ kiểm soát thường xuyên tuy có nhìn thấy, nhưng không nói gì, do đó, anh em tin có thể tổ chức đêm Giáng Sinh một cách tốt đẹp. Người góp bột, kẻ góp đường làm bánh, nấu chè để ăn đêm Thánh Lễ. Chỗ nào, nơi nào có vài người châu đầu vào nhau thì thầm, y như rằng, họ nói về đêm Giáng Sinh. Có người nhắc đến những mùa Giáng Sinh trước với các tiện nghi tối đa. Những cành thông được mang từ đồi núi Đà-Lạt về. Những dây ngân nhũ, dây đèn tắt mở, toàn đồ ngoại quốc, kể cả tượng các vị Thánh, chúa Hài Đồng, máng cỏ v.v…. Người ta chuẩn bị đêm Giáng Sinh từ đầu tháng 12, khi những thiếp chúc mừng mùa Giáng-Sinh và Năm Mới bắt đầu bầy bán tại các tiệm sách và trên vỉa hè Đại lộ Lê Lợi. Cái không khí sinh động đó chẳng thuộc riêng các khu vực Nhà Thờ hoặc trong lòng các con chiên mộ đạo, nó còn tỏa rộng trong ý nghĩ mọi người, bất luận có đạo hay không.
Trời vẫn lạnh, đây, một mùa lạnh hiếm có tại miền Nam nước Việt. Cảnh vật khô cong dưới ánh nắng hanh hanh làm da mặt cũng như tay chân se lại. Các vị Linh Mục Tuyên Úy, tuy không mặc áo chùng đen, nhưng nhìn qua phong cách và lối xưng hô, mọi người đều dễ nhận.
Vào buổi chiều ngày 23-12, trong cuộc hội thường lệ giữa tên Trung uý Hải và các K.Trưởng để phổ biến công tác ngày mai, tại căn nhà nhỏ chỉ có mái không có tường, vách gì hết. Giữa chiếc bàn nhỏ, xung quanh là những chiếc ghế dài làm bằng ván đóng liền vào cột, không xê dịch được. Căn nhà đó, nằm gần căn buồng tôi ở. Tiếng tên Hải nói gắt gỏng:
– Chúng tôi biết, các anh đang chuẩn bị lễ Giáng Sinh. Với tư cách người quản “ný” các anh ở đây, chúng tôi tuyệt đối cấm không ai được tổ chức lễ Giáng Sinh tại Trại. Theo Hiến Pháp, mọi người đều được tự do tín ngưỡng, Đảng và Nhà Nước không ngăn cấm. Nhưng trong thời gian cải tạo các anh đã mất quyền công dân, nên phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của chúng tôi, nếu các anh không muốn có những sự phiền phúc xẩy đến. Muốn cầu nguyện, người nào cầu riêng cho người ấy thôi, không được rủ rê người khác cùng cầu ! Tôi cho “nệnh” các K.Trưởng tối nay về sinh hoạt, bắt tất cả những ai đã “nàm” đèn, hang đá phải hủy ngay. Nếu chúng tôi còn nhìn hoặc tìm thấy ở đâu, các K.Trưởng phải chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ Huy. Các anh nghe rõ chưa?
Mọi người đồng thanh nói: Nghe rõ!
Ghé mắt nhìn qua kẽ hở, tôi thấy mặt tên Hải đỏ ké, cặp mắt nó quắc lên, chứa chấp hận thù:
– Chúa, Chúa là cái gì? Chúa có cho các anh cơm ăn, áo mặc không, nếu các anh không “nao” động? Chúa có cho các anh súng đạn để chiến thắng quân thù không? Nếu không có giai cấp công nhân làm việc ngày đêm trong các cơ xưởng, sản xuất ra các phương tiện để phục vụ đời sống, nếu không có các nông dân làm ra thóc gạo, hoa mầu, các anh lấy gì mà sống? Vậy Chúa là gì, nếu không phải là người thường như mọi người, được bọn phong kiến và các tay sai đế quốc tâng bốc, vẽ vời, tô điểm, để mê hoặc lòng người, để dễ bề cai trị và nô lệ hóa con người qua hình tượng cũ rích từ gần 2000 năm qua!
Nói xong, tên Hải nhìn các K.Trưởng để dò xét phản ứng. Bàn tay nó để vào bao súng bên hông như thách thức. Một người đứng lên, Phú – K.Trưởng K 6.
– Thưa cán bộ, lịnh của cán bộ ban ra, anh em chúng tôi xin thi hành triệt để. Chúng tôi học tập cải tạo, nhằm hối cải những tội lỗi quá khứ của mình, chứ đâu phải để tạo ra những lỗi lầm khác, xin cán bộ yên tâm.
– Này anh Phú, tôi không cần yên tâm, nếu ai không thi hành “nệnh” của tôi, “nà” bắn bỏ ! Các anh nghe rõ chứ?
– Dạ, rõ!
Cuộc họp buổi chiều tan trong một không khí như vậy. Buổi sinh hoạt tối được mở đầu bằng sự thuật lại những lời của tên Trung uý Hải. Cúc, K. Trưỏng phổ biến xong, cẩn thận nhắc lại.
– Thưa anh em, lệnh cán bộ đã quyết định như vậy, tôi mong anh em ở K ta, có ai đã làm đèn hoặc hang đá nên tự giác hủy đi để tránh hậu quả chung. Tôi, cũng là con chiên của Chúa, nhưng Chúa đâu có buộc chúng ta phải làm những công việc quá khả năng của mình? Thánh Mathieu có nói….
Cúc vừa định trích dẫn câu nói của Thánh Mathieu, bỗng ngoài cửa có tiếng động. Mọi người nhìn ra. Tên Hải đã đứng đó từ bao giờ.
– Anh Cúc, nói gì vậy. Nội quy đã nghiêm cấm các anh không được dùng tiếng nước ngoài, sao vừa rồi, tôi nghe thấy Ma-tơ, ma tiếc, “nà” nghĩa “nàm” sao?
Cúc đứng lên, hơi luống cuống:
– Dạ, đó là tên người, chứ tôi đâu có nói tiếng nước ngoài!
Sắc mặt tên Hải lầm lầm, nhìn khắp lượt, rồi bỏ đi.
Cuộc sinh hoạt lại tiếp tục. Những ai không có đạo, nét mặt bình thường, ai có, trông thật buồn bã !
Nhưng dù lệnh cấm nghiêm ngặt như vậy, anh em vẫn cố tìm mọi cách tổ chức đêm Giáng Sinh bằng mọi cách. Những chiếc đèn được giấu đi thay vì phá hủy.
Từ sớm ngày 24, có nhiều tên cảnh vệ vác súng đi tuần. Chúng xông vào từng nhà dòm ngó, để tìm hiểu xem lệnh của chúng có được tù tôn trọng? Một không khí nặng nề bao phủ toàn Trại, tuy sinh hoạt bề ngoài có vẻ bình thường.
Vị Linh Mục chủ lễ, vẫn bình tĩnh ngồi trước thềm nhà dõi mắt nhìn theo đàn én. Bên cạnh đó, mấy người đang bàn tán, tôi nhìn thấy Tuệ. Lát sau, gặp lại, tôi hỏi tối nay sao?
– Vẫn làm lễ như đã hoạch định.
Tuệ trả lời vội vã xong đi xuôi về hướng nhà bếp.
Cơm chiều xong, mọi người nhởn nhơ đi rong chơi trong các lối hẹp. Tôi bước vòng vòng quanh chiếc sân nhỏ, chợt nghĩ đến Sàigòn, giờ này những năm Giáng Sinh trước. Cả thành phố như điên loạn trong nỗi vui mừng đêm Chúa ra đời. Những bài Thánh ca âm vang dưới mái giáo đường. Các hình thức nghi lễ được chuẩn bị tối đa. Đường phố Sàigòn như dấy lên nhịp sống mới. Có cái gì vừa vui tươi vừa thiêng liêng tràn ngập trong lòng mọi người, dù có đạo hay không.
Buổi chiều nay, trong kích thước nhỏ hẹp, khốn khổ này, tôi và cuộc đời bị ngăn cách bởi 12 lớp kẽm gai với những trái mìn!… Đêm xuống dần, bóng tối xóa nhòa cảnh vật. Trước mắt tôi, không còn hình thể nào rõ rệt, ngoại trừ vọng gác. Hai tên cảnh vệ, dựa lưng vào vách gỗ, đang nói chuyện gì đó. Thỉnh thoảng chúng lại cười sằng sặc.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.