Lê Đại Lãng
Post by Sơn râu 12 May 2024

Phần 19
Người đàn bà đi tìm con buổi tối trở về mang theo hai gói cơm. Chị sớt ra chén, đặt vào tay Sương, bảo:
– Có cả rau muống xào tỏi đấy.
Chị lặng lẽ ăn. Sương lắng nghe tiếng nhai cầm chừng của chị, có khi trệu trạo, có khi nàng không nghe gì cả. Sương nói: “chị ăn đi”. Người đàn bà buông chén, nằm vật ra giường khóc thút thít. Sương cũng buông chén, lần tay tìm vai người đàn bà. Đôi vai rung dội vào lòng nàng như nhịp đều của quả tim. Có hôm người đàn bà ghìm không nổi, gục đầu vào Sương khóc như một đứa trẻ. Dường như cả cuộc đời này chỉ còn mỗi cô gái mù là để cho chị dựa vào, tỉ tê kể. Sương lắng nghe bước chân của chị trên hè phố, dưới trời nắng lửa, dưới những cơn mưa rào bất chợt. Nàng hình dung cả cánh cổng sắt đen, người đàn bà thò mặt vào, những đứa trẻ chơi đùa trong sân, ríu rít chửi tục. Cả đời sống bên ngoài trại, hay bên ngoài thế giới tối tăm của Sương được chị mang về mỗi tối, trút vào cái vực thẳm của nàng đủ màu đủ sắc, tiếng xe chạy, người nói, những ẩu đả, thậm chí nàng ngửi được cả mùi lựu đạn cay nữa. Chị bảo nếu không có Sương, người chị sẽ nổ tung lên vì ngần ấy chất chứa. Nước mắt chị thấm ướt đầu gối Sương. Chị thở ngập ngừng, mùi nước hoa xông lên mũi đắng cay khó nhọc. Sương bảo:
– Chị nhớ chứ, em bảo chị đừng xức dầu thơm nữa.
– Chị cần mùi dầu thơm.
– Em thích mùi tóc cháy của chị.
– Người ta không thích như thế.
Sương vuốt mái tóc cứng của người đàn bà, người đàn bà nông thôn chân chất, đầu đội nón lá, gập mình trên bông lúa sừng sực. Nàng thích thế:
– Mỗi lần nghe mùi dầu thơm em thấy em xa chị.
Người đàn bà nghẹn ngào:
– Chị cũng thấy chị xa lạ nữa.
Người đàn bà khóc nỉ non. Chị không biết đọc, biết viết, tâm hồn chị trần trụi sơ sinh. Vậy mà chị phải xức dầu thơm. Nước hoa đục khoét tâm hồn chị, ăn mòn da thịt trần truồng của chị như chất cường toan gặm sắt thép. Mỗi sáng chị diện cái quần bò áo thun trắng, nhẹ nhàng sợ làm động giấc ngủ của Sương, lặng lẽ rời trại. Nhưng thính giác của người mù bén nhạy nên Sương nghe rõ cả tiếng kéo phẹc-ma-tuya của chị, cả khi chị cài nịt vú nàng cũng nghe được. Nàng nghe bước chân chị gõ trên thềm xi măng lóc cóc, xa dần. Buổi tối chị về, có khi đã quá nửa đêm, có khi mặt trời vừa chập choạng, bất thường như thế, nhưng luôn luôn có cái gì cho Sương ăn, thậm chí đủ ăn cho ngày hôm sau. Rồi chị nằm vùi trong lòng Sương, đôi vai rung động. Có dạo chị về lúc trời đã bình minh, ngủ vùi một ngày, mùi nước hoa mệt nhọc tan trong bầu khí càng lúc càng nóng. Căn phòng của Sương ba mặt tôn, mặt thứ tư có khung vuông bằng chu vi một tấm tôn tháo đi, quá nhỏ nếu là cửa lớn và quá lớn so với diện tích cái cửa sổ. Người đàn bà nằm xoay đầu ra cửa, nắng hắt chéo trên người chị, móng tay dài sơn đỏ để trên ngực, mái tóc xổ tung vắt ra ngoài ngạch cửa, đong đưa trong gió những sợi cứng. Lắm khi mấy gã thanh niên đi qua, cúi thấp đầu nhìn xuyên qua cổ áo để hở của người đàn bà, cười hô hố! Khi Sương kể những chi tiết cười khả ố của mấy gã thanh niên trước cửa, chị nghệch ra, lặng thinh.
– Họ cười gì thế chị? Sương ngờ nghệch hỏi.
– Chị mặc áo hở cổ.

Google images
Sương ngượng ngùng nhớ ngày nào nàng trần truồng đi trên bờ biển vắng. Nàng đứng yên nghe Hải tả bầu trời, màu trăng bàng bạc trên sóng biển, trên cát, trên da thịt nàng. Rồi Hải ôm ghì thân thể nàng trong cơn thèm khát tuyệt vọng, như một đốm lửa chỉ vừa hực lên đã tắt phụt. Nàng không hiểu tại sao nàng lại nghĩ đến Hải, trong khi tiếng nói trầm ấm của chàng, thân hình gầy xương của chàng đã lặng lờ khuất như viên sỏi lẳng lặng chìm sâu xuống đáy nước để nhường cho hình ảnh của Lê Khắc. Người mà nàng kêu bằng “chú”, tiếng kêu vừa xa cách vừa gần gũi, vừa yêu thương lẫn tuyệt vọng ấy, miệt mài trong lòng nàng mãi mãi.
Buổi sáng lúc người đàn bà vừa đi khỏi thì Sương chợt có cảm giác là có người đứng trước cửa nhìn nàng. Dường như mặt trời bị cái gì đó che khuất. Sương sợ hãi lên tiếng:
– Ai đó?
Vẫn không có tiếng trả lời. Sương nghe rõ cả hơi thở của một người, một người đàn ông. Một tiếng thở dài phát ra từ phía cửa, nặng nhọc và buồn bã. Sương càng sợ, nàng lớn tiếng:
– Ai?
Tiếng người đàn ông cất lên, rõ, sát vào mặt nàng:
– Sương, Sương, anh là Hải đây, Hải đây em.
Tiếng nói của biển, của trăng sáng…Sương ú ớ, nàng bật khóc khi tay Hải vuốt nhẹ lên má nàng. Chàng nói: “Anh không ngờ có ngày gặp lại em, Sương, em sao thế”.
Sương tránh bàn tay Hải, lùi lại góc phòng, run run bảo:
– Phải anh Hải à?
Nàng bật khóc thành tiếng. Hải hơi bất ngờ trước phản ứng của Sương. Chàng cởi giầy leo vào phòng, yên lặng nhìn người con gái đang xúc động. Đôi môi rung rung của nàng. Chàng đã hôn lên đôi môi ấy, tháng ngày đã là khoảng cách xa lạ. Hải nói:
– Ừ, anh, em nhận ra tiếng anh chứ!
Phải, nàng đã nhận ra tiếng chàng, cả hơi thở của chàng nữa. Tay nàng chợt chạm bức tranh của Tứ, những màu sắc của Tứ, những màu sắc mà Lê Khắc đã mang đến trong thế giới vô màu của nàng. Bỗng như nàng lấy lại bình tĩnh, hỏi:
– Anh, gặp chú Lê Khắc không?
Hải nói: “Có, anh đọc thư của chú ấy gửi em nè”. Chàng thò tay lên ngực áo. Bức thư của Lê Khắc, đôi mắt của người đàn ông buồn bã và cương nghị hiện ra qua ô lưới hàng rào trại buổi chiều nhìn Hải xách gói ra tự do. Và nước mắt của Hà, người vợ mới cưới buổi sáng buổi chiều nhìn theo chồng như nhìn một cánh chim thoát cũi sổ cánh bay về phương trời biền biệt. Hải ra đi với biết bao nhiêu thứ để lại, trong trại giam, trên đường vượt biển. Người vợ đã chết, đứa con đã chết ở một bờ bãi vắng. Người vợ mới trong hàng rào tuyệt vọng sau khi bị từ chối tư cách tỵ nạn lần thứ hai. Chàng cưu mang chừng ấy nhọc nhằn và hạnh phúc với hai bàn tay trắng. Bàn tay vẫn để trên ngực áo, đôi mắt dừng lại trên đôi mắt lặng yên của Sương, những ngón tay vân vê mép áo. Hải hỏi:
– Ai cắt móng tay cho em thế?
– Chị ở chung đấy. Anh đọc thư đi.
Hải đọc. Chàng không hiểu một tí gì cả, có vẻ như đây là những dòng chữ nối tiếp bức thư trước. Một câu chuyện đúng hơn. Vì có một nhân vật, hai nhân vật. Ôi! Hải thấy nhân vật Lê Khắc kể sao giống chàng quá. Cũng đi vượt biển, một cô gái mù. Một nhân vật nhiều cá tính nhưng cũng thật tầm thường như những con người đang sống chung quanh Hải.

Google images
Anh ta có những giấc mơ đầy dục vọng, những sở thích, thậm chí chỉ làm lu mờ góc cạnh sắc sảo của một cá nhân bị mất tất cả chỉ để lấy được một điều, tự do. Nhân vật chỉ được ống kính của người viết dọi sáng một góc, không có gì đặc biệt, trừ tình yêu và cuộc sống. Anh ta kết hôn với cô gái trong trại trước khi ra tự do. Anh ta sẽ chờ đợi người yêu ngoài cổng trại, từ chối cả hạnh phúc lớn lao mà anh ta đã tìm gặp để đợi người con gái anh yêu đang mòn mỏi trong ô lưới. Lê Khắc viết những dòng cuối:
“Chú nghĩ rằng đây có thể là một đoạn kết có hậu để cháu yêu thương cuộc đời hơn, cái phần sau của cuộc đời ấy chú không tài nào dẫn dắt cháu đi đến. Cái tột cùng của đời sống là hy vọng, phải không cháu? Nên chi người ta sống được là nhờ những ngày tháng chờ đợi nhau, hy vọng nhau, nối kết nhau bằng sự yêu thương rất mực đợi chờ. Như cô gái điên hoài thai thương yêu đứa con chưa chào đời mà vẫn ghét người đã tạo ra nó, mà vẫn chờ ngày về với làng xưa bên người mẹ tật nguyền đau khổ. Chú rất tiếc là cuộc tình thơ mộng của cô gái mù không trọn vẹn, bởi cuộc đời có mấy khi tròn trĩnh đâu. Người con trai đã lấy vợ vì anh ta là biểu thị của cá tính rất mực cảm xúc, rất mực khát khao, thậm chí rất mực tầm thường nhưng cũng rất đỗi con người. Sương ạ, có lẽ cuộc đời là thế, cháu không nên kỳ vọng nhiều, cháu chỉ nên sống trong hình tượng về màu sắc rực rỡ của thế giới mà thôi, không nên nhìn thấy nó, bởi kỳ quan đẹp nhất của cuộc đời là cái gì ta không nhìn thấy nhưng vẫn cất giấu nó trong sâu thẳm ước mơ. Một điều gì linh thiêng giấu tận đáy lòng. Khi cháu nhìn thấy Kim Tự Tháp, Kim Tự Tháp không còn là kỳ quan trong lòng cháu nữa. Khi cháu nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành, Vạn Lý Trường Thành chỉ còn là máu khô xương trắng. Khi cháu đến gần một nghệ sỹ, anh ta chỉ là một con người nghiện ngập, hút sách, rượu chè, kiêu căng và hợm mình. Khi cháu bắt được sợi tơ trời trong một ngày nắng gắt, màu trắng tơ trời sẽ chết lịm trong hai bàn tay của cháu. Khi cháu ngửi ra mùi hương, khói đã tan. Khi cháu nhìn thấy tự do, tự do chỉ là lá mục trôi trên ống rãnh chảy từ hầm cặn bã. Chú chúc cháu như một người có đủ ngũ quan nhưng không nhìn thấy giới hạn xung quanh mà chỉ thấy đường chân trời biền biệt, con người ấy sẽ chạy về phía chân trời rất gần nhưng vô cùng không gian xa thẳm ấy, sẽ chẳng bao giờ đến được, sẽ chẳng bao giờ với tới, sẽ chẳng bao giờ chạm tay nhưng linh hồn đã cao vút chân trời, đã ở trong lồng lộng hư vô. Chú chúc cháu, như thế, thay một lần gặp gỡ.
Sương ơi, chú đã sống sót một nơi quá tàn tệ nhưng chú e rằng không qua nổi bầu trời tự do dân chủ cũng bởi vì khi ở quê hương, chú mơ đến đường chân trời nhân phẩm và đạo lý, và ác thay chú đã đụng đến chân lý cao vọi ấy. Giấc mơ của chú, của nhân loại về kỳ quan tự do dân chủ đã tắt lịm trong bầu trời giông bão của thực tế đen như tinh cầu tắt nắng. Chú đi tìm huyễn tượng mà cứ tưởng mình đi tìm chân lý. Nhưng cháu ạ, dù có đi tìm một huyễn tượng nào đi nữa cũng không có nghĩa là chú từ bỏ cả quá khứ của mình. Không bao giờ. Quá khứ của chú là gì? Là những tháng, những năm khôn lớn ở miền Bắc, ăn học ở miền Bắc, được người ta o bế ở miền Bắc. Một quá khứ rặt màu tang trắng, chết chóc, hận thù và trả giá nhưng chú đã nhận diện mình ở trong tất cả những điều ấy. Chú có một anh bạn dạy học ở đây sinh trưởng ở miền Nam, nghĩa là cái núm ruột phía bên kia. Anh bạn bảo: “Các anh ở phía bên kia, tìm tự do mà còn bám vào quá khứ thì đi làm gì?” Chú đã tâm tình nhiều lần nhưng dường như anh bạn không chịu hiểu, hoặc anh ta có hiểu nhưng nhất định không chịu tin. Trước hết, bạn chú chủ quan khi đồng hóa chú, và những người ở bên kia cùng với chế độ. Bạn chú lại đòi chú phải rửa bỏ cái quá khứ của chú cứ như là hãy lột da mình nhúng vào biển tự do cho sạch hết vị đắng mà chú đã thấm nhiễm suốt bao nhiêu năm. Anh bạn không chịu hiểu cho chú là trời ơi, một người không còn quá khứ thì còn gì là mình nữa, một người không có kỷ niệm thì còn gì là mình nữa, một người không có nguyên quán thì còn gì là mình nữa. Đó là một tất yếu lịch sử, lịch sử trong tiến trình cấu thành người.

Google images
Bạn chú có lý của bạn chú. Nhưng than ôi, cho dù quá khứ là đốm lửa cháy bỏng thịt da, cho dù quá khứ là tiếng bom gào đạn thét, cho dù quá khứ là giả trá phi nhân, cho dù quá khứ là chia cắt, là nghèo đói, chiến tranh, độc tài, lường gạt, thì những điều đau đớn ấy cũng là trú quán mà tất cả chúng ta phải nương về để sống bởi nào có được cái may mắn chọn lựa như bạn chú đâu! Chúng ta, Sương và chú, những người miền Bắc, những người đau khổ và không may, có phải đã sinh nhầm trên một mảnh đất bị ruồng rẫy? Chúng ta còn chia lìa dù đã có thể đi từ Hà Nội vào Sài Gòn trên chiếc tàu suốt chở mang bao nỗi niềm cơ cực. Có cuộc sum họp nào làm đau lòng lịch sử như thế nữa. Có giấc mơ thành hiện thực nào phũ phàng hơn thế nữa. Sự thống nhất đã làm nên kỳ quan, nhưng thế đấy, bao giờ kỳ quan mới trở thành hình tượng thể hiện được giấc mơ ngàn đời của nhân loại.
Này cháu, bạn chú chưa cho chú tới gần, mà chú cũng không cho phép bạn chú bắt mình theo định hướng của bạn chú, nghĩa là bắt chú phải từ bỏ quá khứ đã nhào nặn nên con người. Chú tôn trọng quá khứ của bạn chú, chú đã mất tuổi thanh xuân và đau đớn nhìn vận nước, nhìn quá khứ trôi qua như cát ướt chảy qua kẽ tay. Có thể vì thế chăng, nên chi lửa đã nổi lên bão bùng. Có thể vì thế nên những người thuộc “phe” bạn chú đã đốt cháy, đốt thành than năm bé trai, năm bé gái, sáu đàn ông và sáu đàn bà, trong một ngày đầu xuân!
Chú ngửi được bầu khí trời của sáng hôm nay mùi thịt cháy trong đống tro tàn lịch sử. Chú nghe tiếng khóc của em thơ đang bị đốm lửa đốt tiêu tan cả trái tim đỏ máu. Chú nghe tiếng gào đau đớn của những bà mẹ bị nung chín như trong chín tầng địa ngục, và tiếng la thống thiết của anh em trong ngọn lửa bốn bề sôi sùng sục đỏ không gian. Nước mắt chú rỏ xuống nền sân lạnh, và chú chỉ tiếc rằng là sẽ chẳng bao giờ nữa, sẽ chẳng bao giờ nữa, giọt nước mắt ấy sẽ được rơi cho ấm mềm lòng đất lạnh quê hương.
Và như thế, chú lại chúc cháu một lần nữa, là sẽ như một người có ngũ quan bình thường ấp ủ đường chân trời vời vợi nhưng sẽ chẳng bao giờ đến được cõi miền biền biệt ấy.”
Sương khóc nức nở, nước mắt nàng ướt đẫm trên ngực áo, nhòe nhoẹt trên gương mặt nhạt nhòa nắng hắt. Nàng linh cảm một điều chẳng lành. Cái điềm chẳng lành xoáy mãi trong linh hồn mẫn cảm của người con gái, nó không phải là đường chân trời biền biệt mà là một cái gì rất thực, rất lạnh, trong nàng. Hải gọi nhỏ:
– Sương.
Sương đã lớn, bằng đoạn dài khổ ải, và vì thế đã khổ. Thế giới của nàng không còn tối tăm một màu nữa, và vì thế nàng đã khổ. Nàng thấy những màu, những sắc, nàng đã nghe sự cô đơn giăng màu tang trắng, sự cô độc của biển cả, những đêm trăng, những ước mơ vụn vặt và tinh khiết, những đi về vội vã như tháng ngày vội qua của người đàn bà tìm con trên phố lạ, những mưa rơi thầm gõ trên mái tôn, tiếng chim hót, tàn phượng rung xanh lá dọi trên bóng mát thềm nhà. Nàng đã thấy tất cả, cả khí lạnh của cọng lưới giăng thành rào, những mảnh đất khô đổ vùi trên xác em chết trên tuyến đường đi tìm chân trời xa thẳm, tiếng kêu của bầy kên kên, tiếng khóc của cô gái bụng chửa trong ngục giam, mùi cay nghẹt của những trái lựu đạn, và thậm chí cả những gói mì từ ngục tù bên này mang về cho tù ngục bên kia. Sương khóc nghẹn ngào, những giọt nước rơi từ đời người trắc trở.
Hải nói:
– Mình vào thăm chú Khắc em nhé.

Google images
Hải giúp Sương khóa trái cánh cửa, cầm tay nàng dắt ra khỏi trại. Nắng đổ gắt, mùa hè biền biệt trên không. Hải vẫn còn tiền dạy học, đủ sống vài tuần trước khi kiếm được việc làm. Chàng khó nhọc dìu Sương lên xe đò, xuống hầm metro, đổi chuyến tàu điện. Một không gian bỗng trở lại trong lòng Hải. Chàng đã dìu Sương đi qua lắm nẻo đường, những nẻo đường xa lạ, mù mịt và chênh vênh cuộc hành trình. Có một lúc nào đó Hải tưởng chàng đã yêu Sương, người con gái đã nằm trọn trong hai tay chàng dưới những giọt nước mưa lách tách rỏ xuyên qua lá, dưới mái hiên nhà ai đó, trong một hoàng hôn tím rịm nhớ nhung, hay dưới ánh sáng vằng vặc của mảnh trăng treo trên khung trời của miền đất lạ. Tóc Sương ướp bụi đường, môi nàng nồng muối chát từ vùng biển này qua vùng biển khác, hoặc có thể hương môi ấy thấm đẫm từ nước mắt của nàng nữa. Chàng nghĩ là đã yêu Sương, yêu tha thiết mà đằm thắm. Chàng phải yêu người con gái cô độc trong cảnh man rợ và dịu dàng của những miền đất Trung Quốc, dưới những màu mây ngũ sắc, và trong những đìu hiu của những bàn chân lạc bước lên nhau. Định mệnh kỳ lạ thực. Định mệnh đưa chàng đến nhưng cũng đẩy chàng đi khỏi hình tượng của một người con gái, hình tượng của sự đẹp đẽ, một lúc nào mà chính chàng cũng không ý thức nổi nữa. Hải chỉ mường tượng ra rằng, từ khi xa Sương, là Sương bắt chàng nghĩ hoài về thôn xóm mà chàng đã bỏ lại đằng sau. Hình ảnh Sương tội nghiệp quá, tội như quê hương chàng, nó bắt chàng sống mãi với màu vàng ố của những mái tranh nghèo, với liếp cửa nghiêng nghiêng trong mưa chiều, thậm chí cả với hình ảnh những lữ hành run rẩy đi xiêu bạt muôn phương tìm cái sống. Hải biết toàn bộ con người chàng được nhào nặn từ từng ấy chất liệu quê hương. Hơi thở của chàng là hơi thở của những lữ khách sinh ra ở Nam Định nhưng phải dắt díu nhau lên Hải Phòng kiếm ăn độ ngày. Hơi thở của chàng có cả mùi đất xông lên trong một cơn mưa vội mùa hạ. Chàng sống trong những hình ảnh ấy, nghĩa là rất gần, thậm chí không có một khoảng cách nào giữa chàng và chúng vì chàng đã là cảnh những tình ấy, thế mà chàng vẫn bứt rứt không yên mỗi khi không gian thời gian ấy hiện về. Chàng chạy trốn quê nghèo vì quê nghèo bạc đãi chàng. Chàng chạy trốn chính mình! Hải đã thành một kẻ gần như khác biệt với con người ngày chưa vượt biển. Quả mật Kinh Kha dường như bị phơi khô sau cuộc bộ trình, sau hải trình bằng giấc mộng dài. Hải đau khổ không dám nói điều ấy cho ai khác, ngoại trừ nói với chính chàng. Có phải sự thay đổi là tất yếu, có sẵn trong mọi người? Chàng đã yêu nước, chàng tưởng chàng đã yêu Sương, và chàng xa hai hình tượng ấy. Sương là mặt kia của đất nước chàng. Nghèo đói, thô bạo, khủng bố, lường gạt là mặt này, mặt kia, ôi, vẫn ngọt ngào, ngọt ngào đến mức khiến Hải tưởng khó bứt rời xa được. Nhưng dù vậy Sương, cái mặt kia, cứ nhắc Hải hoài về cái vùng đất hai mặt hai lòng.
Bàn tay Sương rịn mồ hôi khi Hải cầm tay nàng dắt xuống xe đò. Lâu lắm, lâu lắm…lâu bao nhiêu cũng không vừa, nàng mới đặt tay vào lòng bàn tay người đàn ông đã dắt nàng trôi nổi một khúc dài lưu lạc. Toàn thân nàng run lên, vừa sung sường vừa đau đớn, khi Hải vừa đi vừa nói, vừa tả cảnh. Bao lâu, bao lâu rồi. Tiếng rơi của giọt nước lên vai Hải những lần mưa nào đó. Tiếng sóng biển, tiếng quạ kêu, tiếng thì thầm. Kỷ niệm nàng đầy ắp âm thanh. Những lóng xương còm cõi của Hải khi nàng ép thân thể lên người chàng, khi nàng muốn truyền sức sống nung nấu trong những cơ bắp chưa kiệt vào lớp da quăn quắt héo khô. Định mệnh kỳ lạ thật, định mệnh đẩy nàng đi trước, một giây khắc huyền thoại nhưng đã trở thành miên viễn. Cách xa. Nàng đang đi bên cạnh người đàn ông đã hơn lần sống chết, sống trong tình yêu, chết trong cuộc đời, sống trong đợi chờ, chết trong mơ ước, sống trong hy vọng, chết dưới thời gian, sống trong nỗi nhớ, sống trong một lần trao gửi, sống trong nỗi rung động, và chết, chết hắt hiu bởi trái đất không bao giờ quay ngược vòng để khởi lại chu kỳ. Bên tai nàng vẫn là tiếng động, tiếng xe, tiếng người, tiếng bước chân chàng, tiếng bước chân nàng, những bước chân tan ra hai ngả đường. Bàn tay chàng vẫn ấm, vẫn đầm đập nhịp mạch, bàn tay nàng vẫn ướt, vẫn mồ hôi ướt sũng, nhưng hơi ấm không làm khô băng giá, nhưng tim mạch không làm hồi sinh những tiếng động đã viết thành dĩ vãng

Google images
Chàng vẫn đi, đang đi bên cạnh nàng đấy. Tiếng nói chàng vẫn đều đều bên tai nhưng chỉ cắt sâu vào nỗi đau hun hút nhức đau. Chàng đã đi quá xa rồi, Sương biết thế. Sương chỉ đuổi bắt một ảo ảnh kết bằng muôn trùng âm thanh, vô vàn tiếng động. Nàng không còn lại một điều gì để giữ trong lòng bàn tay. Nhưng Sương vẫn sống được, sống được vì nàng đang có một con người đau khổ hơn hướng về nàng nương tựa. Đó là người đàn bà đồng ruộng phải xức dầu thơm, người đàn bà đi tìm con trong trại giam, người đàn bà lang thang trên hè phố đông đúc cô đơn. Nàng nghe được tất cả những điều đó dù nàng đã bị cướp mất đời sống của một con người bình thường. Nàng không cần thấy gì hết, bởi nàng có cần nhìn thấy quê hương đau đớn của mình đâu mà vẫn phải chịu chung triệu nhục nhằn, nàng cũng nào cần nhìn thấy xứ sở tự do đâu mà vẫn phải nhận nghìn lời xua đuổi. Và như thế thì có khác gì nhau đâu giữa triệu nhục nhằn và nghìn lời xua tan tác.
Năm tháng dài đã đi qua đời Hải và Sương khi họ đi đến con đường nhỏ dẫn vào trại Đầu Bạc. Chàng đã mua một ký lạp xưởng trên đường đi cho Hà, một gói thuốc cho Lê Khắc, một bó hương cho thân nhân người thanh niên chết hôm được Cục Di Dân công nhận tư cách tỵ nạn chính trị của anh ta. Hôm được giấy ra tự do, anh ta nhờ người mua rượu nhậu với bạn bè lần chót. Say quá, anh ngã từ giường ba xuống đất vỡ đầu chết. Có lẽ ở bên kia thế giới người thanh niên xấu số không cần thanh lọc cũng vào tới cửa tử.
Chàng sung sướng nghĩ chút nữa sẽ gặp lại Hà trong nửa giờ ngắn ngủi, chán nản nhìn chiếc xe chở nhân viên Cục Cải Huấn đang ngược chiều, những khuôn mặt lạnh lùng mệt mỏi. Chàng thấy mệt nhọc như một người chạy đua sau khi đã đến đích muộn màng. Trong lòng chàng chỉ còn đốm lửa nuôi tinh thần sống sót là tình yêu của Hà. Có lẽ Lê Khắc đúng, chàng đã với tới chân trời nên cõi lòng nguội lạnh khát khao. Chàng sợ hãi nhìn lại những đêm tham gia đấu tranh chống cưỡng bức hồi hương, những cuộc đấu tranh mới đầu là tự nguyện nhưng về sau đã mất dần tính chất ấy, những đứa học trò của chàng mệt nhọc khi bị hối thúc ra ngồi giữa sân trong đêm lạnh. Cuộc chiến chưa tàn nhưng lòng người đã ly tán, đã tuyệt vọng, đã ngồi chờ định mệnh. Chuyện tỵ nạn! Hải thở dài không thấy lối thoát. Đồng bào của chàng, hỡi ôi, ra đi rồi trở về mang theo vài chục đô la Mỹ, để rồi lại ra đi, những con người chân đất khát khao sống.
Người gác cổng chỉ Hải đường đến phòng đợi thăm nuôi. Chàng vừa đi vừa tả cho Sương nghe quang cảnh xung quanh, những tấm sắt nóng che kín khuôn viên trại. Những trạm canh dọc đường. Tiếng trẻ nô đùa vọng từ bên trong. Không một tàn cây che nắng, không một bóng râm còn giữ lại trên mảnh đất bàng hoàng những dãy nhà dài nối tiếp nhau, những hàng rào chất chồng nhau, cả bầu trời cũng bị cắt xén ra làm nhiều mảnh. Thời gian chết sững.
Hải viết số thẻ của Lê Khắc và Hà, trình cho nhân viên phụ trách phòng thăm nuôi, ngồi chờ. Cái băng ghế dài chật ních những người từ trại mở hoặc từ nước ngoài vào thăm thân nhân. Chàng nóng ruột nhìn ra cửa, nhìn con đường dốc xuống uốn ngoằn dẫn vào trại. Đôi mắt mở to của Hà, tháng ngày ùn lại, những ngón tay đan kín tâm tư. Hải châm thuốc, rối rít đầu lửa đỏ.
Điện thoại reo trong gian phòng nhỏ của nhân viên trực phòng đợi. Gã nhấc máy, nhíu mày, ghi lời đối thoại. Gã buông điện thoại, chồm người qua cái quầy thấp. Hải giật bắn người khi gã trọ trẹ đọc tên Sương bằng tiếng Việt. Hải dìu Sương đứng dậy, lúng túng trước những cặp mắt đổ dồn.
– Thưa ông, chính là cô này.

Google images
Gã nhân viên Cục Cải Huấn nhíu mày ngắm Sương. Gã hỏi:
– Cô là gì của Lê Khắc
Sương run giọng:
– Thưa, tôi là thân nhân của chú ấy.
Gã thở phào, buông giọng:
– Ông ấy chết hôm qua, tự tử.
Khuôn mặt Sương tái đi, nàng khụy xuống. Hải hỏi dồn:
– Thưa ông, ông ấy tên Lê Khắc, số thẻ VRD… lầm chăng? Chúng tôi vừa tiếp thư ông ấy.
– Không lầm. Ông ấy thắt cổ trong buồng tắm, hồi đêm.
Hải vẫn lặp lại câu hỏi cho đến khi gã đàn ông gắt. Chàng vẫn cho có một sự lầm lẫn chăng, nhưng Sương thì biết chắc nàng không lầm. Chú ấy chả bảo lời chúc thay một lần gặp gỡ là gì. Trời ơi, chú, chú Khắc. Cặp mắt kiếng gãy gọng của chú. Đôi mắt buồn thăm thẳm của chú. Mùa xuân mà chú mang lại, màu sắc mà chú mang về. Sương khóc rưng rức, những dòng nước ướt đẫm trên nền nhà cứng lạnh. Chú còn có Sương để nương tựa, như người đàn bà tội nghiệp đi tìm con vẫn về nương tựa cháu. Cháu đâu thể chết được khi sự sống của mình là nỗi tựa vô bờ của người mẹ đau khổ kia. Chú đã mang về cuộc đời cho cháu, đã chỉ cho cháu thấy đường chân trời mênh mông bát ngát.
Ôi đường chân trời tím rịm tử sinh.
Tiếng ồn ngoài con đường vắng. Ánh sáng trong phòng đợi dường như bị vật gì che khuất lại. Hải ngửng lên, hai bàn tay chàng ướt đẫm nước mắt Sương. Chàng thấy Hà đứng trơ ngay khung cửa. Không gian sau lưng Hà tưng bừng nắng chói.
Ngoài xa, tiếng loa sắt đọc số thuyền rền trong trưa nắng:
– VRD220…VRD 769 …VRD 248…VRD 101…VRD 257…VRD 1433…VRD 266…VRD 177…VRD 174…
Lê Đại Lãng
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.