Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Phần 5

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 12 May 2024

Bữa sau, Tuệ được thả về chiếc đầu trọc lóc. Tôi hỏi Tuệ vì sao? Tuệ cho biết, hôm đó đi cầu, không vào kip lúc điểm số. Khi các tên cảnh vệ đi tìm, thấy Tuệ ở ngoài hố cầu lúc trời đang mưa, tưởng có ý đồ trốn Trại, nên họ bắt giam. Sau khi lấy cung, xét thấy ngay tình, nên tha, cảnh cáo bằng hình phạt cạo đầu.

– Thế sao Tử Vi không nói cho ông cái hạn này để tránh?

– Có chứ, nhưng đã gọi là số, tránh cũng chẳng được!

– Ngồi Connex có dễ chịu không?

– Ôi cha, con chắc bố không chịu nổi một dêm, đã tịch rồi! Ngày nóng như thiêu. Sắt bị hơ nóng giãn ra, kêu lốp bốp, lắc cắc suốt ngày. Đến đêm, trời lạnh, co vào lại lách cách, lắc cắc từ tối đến sáng, không tài nào ngủ được. Khát nước như điên, gào khan cả tiếng, nó không cho miếng nước. Gặp phiên thằng cảnh vệ nào có chút lương tâm còn khá, gặp thằng nào có họ hàng bị chết vì B52, đừng hòng.

Mới bị giam có 24 giờ, Tuệ gầy hẳn đi. Nét mặt lơ láo như còn sợ sệt cái hình phạt kinh khủng đó.

Nhằm mục đích tuyên truyền, Trại có đặt máy Tivi, mở mỗi tối, nơi căn nhà hội. Anh em tù, chả biết làm gì hơn, đi xem Tivi trước giờ ngủ. Có một tối, chúng tôi được xem nhà nhạc học Trần văn Khê nói về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Vẫn bài ông Khê đã nói ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc khi trước, trong chuyến ông về thăm quê nhà. Chúng tôi thầm phục tài hoạt động chính trị của ông Khê nhiều hơn về nhạc học. Ông đi hàng hai, chả mất lòng bên nào.

Chúng tôi còn được nghe nhà luật học Trần Thúc Linh ca tụng đạo luật bầu cử của Cộng Sản là Dân Chủ, Tự Do, còn luật bầu cử của miền Nam lúc trước là lừa bịp, độc tài! Cái lưỡi Esope ghê gớm thật! Nhưng rồi, sau mấy năm sống chung với Cộng Sản, ông Linh đã nhìn rõ bản chất của Cộng Sản, nên vội tìm cách chuồn đi ngoại quốc dưới lý do chữa bệnh! Chẳng biết, có lúc nào, ông tự vấn lương tâm về những gì ông đã nói trên màn ảnh nhỏ, ca tụng chế độ Cộng Sản là siêu việt, đầy sáng tạo, là trái tim của loài người tiến bộ, để được Cộng Sản cấp cho một ngôi nhà lớn với những tiện nghi do “đế qưốc” để lại! Trong mấy chục năm, ông sống nhờ cơm gạo Quốc Gia, nắm những địa vị cao trong chế độ, đến phút Quốc Gia lâm nguy, ông lại phản bội! “Trí thức không bằng cục phân” – Hồ chí Minh đã nói rất đúng về các trường hợp kể trên.

Cả Trại nhốn nháo về bệnh kiết ly. Hầu như không K nào thoát! Chưa bao giờ buổi sáng lại đông người chờ đi cầu như vậy! Mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, mệt mỏi trông thật thảm hại! Có tiếng chửi bới vì mới tìm thấy những bãi phân đi lúc ban đêm:

– Đù mẹ, nó không ỉa ở K nó, qua K khác ỉa bậy! Ông tóm được, nhừ đòn!

“Tu-bíp” Cường, một Bác sĩ Quân Y, thưộc quân chủng Không Quân, người mập lùn, không được anh em ưa, vì thái độ nịnh bợ tên Y tá Việt Cộng quá đáng. Hắn được Việt Cộng chỉ định phụ trách vấn đề Y tế trong Trại. Bệnh kiết lỵ mỗi ngày một lan rộng. Các loại thuốc trị bệnh kiết lỵ khan hiếm, phải gửi tiền nhờ tên Y tá Việt Cộng mua tại Biên Hòa hoặc Sàigòn. Chẳng biết “Tu-bíp” Cường có được tên Y tá chia cho chút tiền nào không, nhưng anh bị mang tiếng rất nhiều về vấn đề này. Trong Trại cũng có nhiều Bác sĩ đi tù, nhưng vì không ưa Cường, nên chẳng ai chịu hợp tác. Nhưng do áp lực của tên Y tá Việt Cộng, một Ban Vệ sinh được thành lập do Cường làm trưởng Ban, các “Tu-bíp” khác làm ”vệ sinh viên” để lo phòng bệnh và chữa bệnh cho anh em. Tôi cũng bị bệnh. Thật đau khổ, lúc nào bụng cũng quặn đau, mỗi lần đi cầu, són ra một chút, phân ít, mủ máu nhiều. Từ nơi tôi ở ra nhà cầu khá xa, để tiện việc, tôi không về nhà, ngồi ngay ở căn nhà chiếu Tivi, sẵn sàng chạy ra hố cầu khi cần. Không phải mình tôi như vậy, mà hàng chục người, tay cầm lon nước, ngồi bệt xuống mặt cát.

Bệnh của tôi kéo dài cả tuần, sau khi đã uống hết cả lọ Tetracyclin do Lan cho. Lan, người bạn mới quen trong tù, nhưng có tấm lòng đôn hậu. Khi trước anh đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng về quân sự cũng như hành chánh, nên quen nhiều, biết rộng. Trong một buổi chiều, anh đã tâm sự với tôi, anh và gia đình anh đã chờ trực thăng đón đi từ sáng ngày 30-4, chờ đến trưa, khi quân Cộng Sản đã vô Sàigòn, mà không xong. Theo ước hẹn của một nhân viên Toà Đại Sứ Mỹ, trực thăng sẽ đáp xuống sân thượng của căn nhà số Z, đường Gia Long, khoảng 9 giờ sáng.

Nhưng cả mấy chục người ngong ngóng từ sớm, đợi hoài đến trưa phá cửa, xông lên sân thượng. Nhà chẳng còn ai, ngoại trừ đồ đạc và giấy tờ quăng bừa bải, chứng tỏ có sự gì vội vàng, gấp rút. Lên tới sân thượng, nhìn khắp bốn phương trời, không thấy bóng chiếc phi cơ nào. Thất vọng, Lan cùng gia đình quay về. Nhà cửa đã bị phá tan hoang, bao nhiêu đồ quý giá không còn nữa.

– Ông ạ, ở đời có số cả. Số mình đi tù, có tránh cũng không thoát. Nhưng tôi nói thật với ông điều này, nếu tụi nó đối xử vừa phải, thì thôi, còn quá quắt, tôi sẽ tự xử!

– A, ông tự xử bằng cách nào?

– Thiếu gì cách!

– Tôi hỏi thật, ông có thuốc gì, Cyanure, Chloroquine, Optalidon, Valium?

– Trừ Cyanure, thứ gì cũng có!

– Ghê quá hé!

– Chịu mãi đâu được! Nếu cuộc sống nhục nhã cứ kéo dài, năm này qua năm khác, làm sao chịu nổi, chết sướng hơn!

– Thế vợ con, ông để lại cho ai?

– Trước khi đi tù, tôi đã dặn lại vợ con tất cả những gì cần thiết và cho bả biết, sẽ tự hủy nếu bị kẻ thù hạ nhục!

– Chị nói sao?

Tôi nhìn chằm chặp vào mắt Lan. Đôi mắt một mí, hơi nhỏ so với khuôn mặt chữ điền phốp pháp, cố mở to để chứng minh sự quyết tâm của mình.

– Còn nói gì nữa! Bả chỉ biết khóc dài. Tôi đã nói nhiều lần, lấy chồng nhà binh, phải chịu cảnh góa bụa bất cứ lúc nào. Tới hôm nay, tôi chưa chết, may quá trời rồi, còn ước mong gì nữa?

– Này ông, tôi nói thật với ông điều này, mong ông hiểu. Kỳ bệnh vừa qua, tôi khỏi được, nhờ ông cho thuốc!

Tưởng tôi cảm ơn, Lan gạt đi:

– Ồ, anh em cùng cảnh ngộ, có thể giúp được nhau gì, cứ giúp. Rồi đây, hoàn cảnh đẩy đưa, mỗi người một ngả, có muốn giúp cũng không được. Thôi, quên đi!

– Đó, chính là vấn đề tôi muốn nói hôm nay, mong ông thông cảm. Nếu có thể được, ông chia với tôi phân nửa số độc dược hiện có, để khi cần, tôi cũng phải quyết định như ông. Sợ mai đây, mỗi đứa mỗi ngả, muốn chia cũng không được!

Lan không nói gì, cúi mắt nhìn nền đất xám ngoét, tay cầm cục sỏi nhỏ vẽ lăng nhăng, như đang suy nghĩ lung lắm về lời yêu cầu của tôi

– Thôi ông ạ! Hoàn cảnh tôi khác. Ông còn phải sống, cố gắng sống, ghi lại bằng bút mực những gì đã xảy ra từ sau ngày 30-4-75 tới hôm nay và ngày mai nữa, để nói lên sự thực, một sự thực ghê tởm, chẳng riêng gì ở phía Cộng Sản , còn ở phía chúng ta nữa!

– Xin cảm ơn ông, đã quá mến tôi nên nghĩ vậy. Tôi tự xét, không đủ can đảm và kiên nhẫn để chờ đợi đâu. Ông đừng sợ trách nhiệm lương tâm về vấn đề ông đưa độc dược cho tôi. Chúng ta đâu còn trẻ để có những hành động xốc nổi, nhưng chúng ta cũng chưa quá già để trở thành ù lì, nhu nhược. Ông cứ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi đi.

manhhai flickr

Trước sự nài nỉ khẩn thiết đó, Lan không nở từ chối quyết liệt. Sợ tôi buồn, anh hứa sẽ chia độc dược với tôi, trước khi rời Trại, nếu không cùng di chuyển với nhau một lượt. Thấy không nên ép Lan quá, nhất là mình, kẻ ăn xin, nên tôi đành ưng thuận.

Buổi chiều nay, tôi đang đứng nhìn những đám mây bị gió xé nát, vung vãi trên nền trời như những mảnh vụn, phản chiếu ánh mặt trời đỏ rực trông vui mắt, bỗng Cung đến bên:

– Ông gặp Văn Quang chưa?

– Gặp rồi, hắn ở chung với Thông, Biệt kích Dù mà!

– Còn Thế Hoài và Thục Vũ?

– A, Thế Hoài có đọc cho nghe mấy bài thơ và Thục Vũ có hát ca khúc mới sáng tác, mở đầu bằng câu: “Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây. Áo rách ôm thân gầy!…”

– Sao, ông có ý kiến gì không?

– Ở trong hoàn cảnh này, anh em còn sáng tác được, dù vui hay buồn, đều đáng hoan nghênh rồi.

– Nhưng tôi thấy nó thê thiết quá, không có hướng đi lên.

Tôi ngó Cung như đoán hỏi. Cung nói tiếp:

– Dù ở hoàn cảnh nào, những người làm Văn Học Nghệ Thuật trong Quân Đội cũ, cũng không nên yếm thế, tự tạo cho mình nỗi thất vọng, trong khi chúng ta cần phải hòa đồng vào cuộc sống mới, nếu không nó nghiền nát!

– Hòa đồng bằng cách nào? Ai chấp nhận mình? Nếu hôm nay chúng ta có làm những câu thơ, hay lời ca buồn bã cũng do hoàn cảnh đẩy tới. Nỗi bi phẫn chứa chấp trong lòng mỗi con người làm văn nghệ cần được giải tỏa, cần phải nói ra, viết ra, miễn nó phản ảnh đúng tâm tư của mỗi con người suy nghĩ về nó .

Sự thực, từ Long Giao qua Suối Máu, chiều hướng suy tư của Cung về ”Cách Mạng” tôi nhận thấy, đã phần nào thay đổi. Có lẽ, thực tế đã mặc khải cho anh thấy cái ý đồ phi nhân của Cộng Sản sau gần 200 ngày gánh chịu. Hình ảnh “Cách Mạng” xuyên qua Thanh Nghị, chắc không còn được tôn vinh như những ngày đầu “Giải Phóng”! Nhưng tôi tin, phải thời gian nữa, Cung mới hoàn toàn rủ bỏ được những gì anh đã trót khoác vào tâm hồn vì vội vã, bồng bột.

Chúng tôi cứ đi vòng vòng quanh chiếc sân nhỏ, vừa đi vừa nói chuyện, đến khi mặt trời chìm sau rặng cây phía xa. Cảnh vật trở thành mầu xám rồi khỏa lấp vào bóng tối. Từ trên vọng gác cao, tên cảnh vệ nhìn xuống. Một tên khác tiến đến trèo lên thang. Khẩu A.K. đeo trên vai, sà xuống lủng lẳng. Tôi biết từ phút này, tụi nó gác kép, cho tới sáng. Ngoài ra, còn tụi đi tuần vòng theo con lộ, cũng như bên trong Trại. Chúng dòm vào từng buồng, chiếu đèn pin rọi tận mặt, làm mất ngủ. Chúng đi dép “râu” nên rất êm, không ai biết chúng có mặt lúc nào.

Tôi và Cung chia tay ai về nhà nấy, trong khi anh em đã tụ tập đầy căn nhà có đặt máy ti-vi. Tối nay trời quá nóng, tuy trong nhà chẳng còn lại bao nhiêu người. Tôi cởi áo, cầm quạt phẩy mạnh để xua đuổi cơn nóng nực. Lúc này còn sóm, chưa ngủ được. Tôi nằm dài duỗi thẳng tay chân cho đỡ mỏi. Phiá bên kia, mấy người đang coi bói bài Tây. Những quân bài sặc sỡ, không thích hợp với toàn thể không khí nơi đây.

– Ông sắp có tin vui vào ngày thứ Năm. Có người đàn bà đang chờ ông. Cẩn thận tránh khẩu thiệt!

– Ông đoán xem, bao giờ ra khỏi đây?

– Việc nay, bố tôi cũng không đoán được!

– Thế thì coi làm chó gì? Mất thì giờ! Dẹp!

Tiếng cười vang lên. Anh em sống trong tù, cũng cố tạo cho mình những phút vui dù ngắn ngủi. Qua cơn cười, mọi người lại chìm lắng vào sự suy tư riêng biệt!…

Chiều nay, trong khi tôi đang ngồi xem Liêm đánh cờ, bỗng Huy gọi:

– Ông ơi, ông có quà đó! Anh em đi khiêng về nói vậy. Tên ông khó nhầm lắm!

Tôi cảm ơn Huy và thầm mừng trong lòng. Sống trong hoàn cảnh giam cầm này, nhận được quà của gia đình là niềm an ủi. Từ phút ấy, trong lòng tôi xốn xang, bồn chồn mong ngóng đến giờ được gọi tên đi lĩnh quà. Việc gì đến sẽ đến, lúc gần tối, tôi được gọi tên cùng nhiều anh em khác lên Ban Chỉ Huy Trại để lãnh quà.

Chúng tôi tập họp, xếp hàng hai, đi ra cổng. Sau khi báo cáo số người với tên lính gác, chúng tôi đi thẳng đến chiếc sân lớn, nơi đó, các gói quà được quăng bừa bải trên mặt đất. K.Phó hậu cần, đang lom khom kiểm lại số qua theo bản danh sách cầm trong tay.

Tên Việt Cộng mang quân hàm Thiếu úy, có bí danh Tư, trông bề ngoài khá cao ráo, đứng trên chiếc ghế cao, nói lớn:

– Tôi gọi đến tên anh nào, anh ấy “nên” nhận gói quà của mình và mở ra để điểm nghiệm trước khi mang về. Các anh nghe rõ cả chứ?

– Nghe rõ!

Từng người tiến lên sau mỗi tiếng gọi, ôm chặt gói quà của mình trong tay như không muốn rời. Tên Tư cho lệnh mở tung gói ra để khám xem có thư từ, tiền bạc gì không ? Sau khi khám xong, vì không có thì giờ sắp xếp lại, người nào người nấy, ấn đại vô tờ giấy gói, lếch thếch ôm về. Vì quá đông, tôi phải chờ đến tối mịt mới lãnh được.

Dưới ánh đèn đỏ ngầu, căn nhà vui hẳn lên vì nhiều tiếng nói cười. Những người có quà vui đã đành, những người chưa có, cũng vui lây vì anh em mời kẹo bánh và thuốc lào ngon. Tôi ngồi gói lại từng thứ, xong treo lên cao, đề phòng chuột, vì chuột ở đây nhiều hơn tù. Đã gần nửa năm nay, tôi mới lại được nhìn thấy và được ăn vài món quen thuộc do chính tay vợ con thực hiện.

Bên ngoài gió thổi. Tôi nghĩ có cơn mưa, thò đầu nhìn ra ngoài, nhưng không, bầu trời vẫn cao, màu mây xam xám đóng cứng như một tấm thép vĩ đại. Không một ngôi sao nào xuất hiện. Gió thổi luồn qua mái tôn rít lên như tiếng sáo. Có lẽ, gần cuối năm, thời tiết thay đổi, nhưng cái lạnh miền Nam không có gì đáng sợ. Đêm đêm, lúc gần sáng tôi vẫn đắp tấm vải mỏng, vừa đủ ấm. Căn buồng không có cửa, nên gió lùa thoải mái. Sao tối nay cơn gió lại mang hơi lạnh về quá sớm? Mới hơn 9 giờ, người nào cũng nằm quấn tròn trong tấm mền dù dầy, dù mỏng!

– Tối nay chắc ngủ ngon ông nhỉ? – Liêm nói.

– Đời sống trong tù, ngủ được là một hạnh phúc, chứ đêm đêm thao thức, suy nghĩ vẩn vơ là mệt trí, chẳng ích lợi gì, còn hại cho sức khỏe. Về vật chất, chúng ta đã chịu thiếu thốn, hàng ngày chỉ có cơm và canh su su nấu muối, lấy đâu chất bổ dưỡng cho cơ thể? Đêm lại nằm đất, mai đây, lúc về già, có đau lưng , nhức cốt cũng do khoảng thời gian này đó, ông ơi!

Liêm gục gặc đầu ra chiều đồng ý. Tuy chưa nhận được quà, nhưng anh không buồn vì anh đã nói với tôi nhiều lần, nhà nghèo, vợ dại con thơ. Đời phi công, nay sống, mai chết, nên có bao nhiêu, tiêu bấy nhiêu, không cần biết tương lai là gì? Liêm nhìn bóng tối, chửi bâng quơ.

– Đù mẹ, đi được, đâu đến nỗi nào!

Chửi xong, nằm vật xuống giường, nhắm mắt lại.

Tôi cũng thiu thiu đi vào giấc ngủ vì trời mát.

Phía đất bên kia, Phát, từ ngày đến đây, không biết học ở đâu môn ngồi Thiền. Tối nào cũng xếp chân vắt lên đùi, ngồi thẳng như khúc gỗ, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhắm để mơ về cõi xa xôi nào đó. Tối nay Phát cũng ngủ khò chẳng buông mùng, chẳng Thiền!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply