This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
tháng Tư ra uống quán cà phê em đá chị sữa và bia ôm phá mồi chỉ một con tôm cá cua ngắc ngoải chiều hôm khan mồi sam bu khó gỡ một hồi mưa ngoài biên ải sụt trồi máu me con chim bay vụt sau hè chó tru khản giọng chẳng chè cháo chi anh về tối dạ khắc ghi thương hai hòn đảo tròn khi tay bồng hôm nọ em bỏ theo chồng anh ra biển đứng tồng ngồng xác thân mình chị dậm cẳng lần khân ngộ ra đất nước muôn phần đớn đau đoạn trường lật giở qua mau bây giờ người ngợm đồng thau một phường Đạm Tiên thức giấc chán chường thơ gì nghĩ cũng thường thường bậc trung cỏ xanh vàng sắc rối tung dữ điềm báo mộng điên hung mộ phần.
Cạ kho tộ
C, a, ca, sắc cá phải đi học mới biết đánh vần chữ C.A thì dân vô học nhìn qua cũng biết tỏng ấy là công an.
trên bàn cờ lắc bầu cua bây giờ con nai con cua con gà lắc ra con cá thì nhà cái ăn dạ thưa má, tre tàn mà ma-măng cũng không khá tự nhiên con cá đâm có giá huý kỵ không cho nhắc như văn bản luật pháp mới ban hành cấm bà con chụp ảnh khoả thân bộ xương cá coi mòi phản cảm?
dân cá độ bóng đá bi chừ cũng phải học tập chế biến hải sản nghêu độ,sò độ, ốc độ, hến độ, tôm độ, mực độ… hoặc đồng lòng theo chân người miền Trung thêm dấu nặng cho kinh qua cơn thuỷ triều đỏ cạ độ bọng đạ cờ bạc là bác thằng bần người Hà Nội người Huế mà không cho nói người Hồ Chí Minh bỏ đi tám, sức mấy ai kia xoá nổi Sài Gòn.
vì cá vì nước cả (cạ) nước cần minh bạch cá chết rồi hà cớ gì ông lại dấu thu ông ăn không từ một thứ gì bọn tui hoan hỉ nếu ông dành luôn cá làm bữa tiệc đánh chén mừng mùa bầu cử thành công.
Từ độ
Sài Gòn có phở 2000 Bill Clinton từng vào kéo ghế Khi ấy tôi đứng chốn này Nói tới món ăn tinh thần Xào khô những gia vị ảo tưởng.
Phố Lê Văn Hưu Hà Nội có bún chả Obama ghé ăn rậm rật trả 6 đô Khi ấy tôi đứng vin đôi nạng Ăn bát cơm trắng thèm con cá ngoài biển xa Phở và bún sống mạnh sống vững chắc trong trái tim quần chúng nhờ có hai ngài từng đặt đít xơi.
Những đứa thấp cổ bé miệng Mỗi chủ nhật đơn thân ra ngoài đường Nói trong gió lùa mặn giọt mồ hôi Hãy trả lại cá sạch cho chúng tôi Bù trất, trớt quớt Chưa bị uýnh là may (nhờ ăn hiền ở lành).
Trường Sơn đông không nhớ Trường Sơn tây Cái gạt nước xua đi bao nợ nần Đừng thối mồm nhắc chuyện xưa tích cũ Giải phóng rồi thì nên chia rõ thứ ngôi Ngồi trên đầu dân chuyện chẳng có gì phải ầm ĩ Nước ta giàu là nhờ cần cù chăm chỉ Tao đại gia cũng vin vô động não rút bòn Thử hỏi ở đời ai mà không hám danh lợi Thủ tướng bảo ấy là Ma dzê in Việt Nam.
Trời gần sang thu, chiều chuyển giông chóng tối. Gió lùa vô hẽm tới rát mặt những bụi cát, mây xuống thấp và mưa bắt đầu rải hạt để nhuộm đen mặt đường. Một hai ba bốn lộp độp, chừng năm phút thì rầm rộ luông tuồng, rạt rào điếc đặc cả mái tồn gợn sóng. Mùi hơi đất nực nồng, một vài cánh cửa đóng vội. Người ta ai nấy chừng nóng lòng trông mưa giải hạn, nhưng họ càu nhàu vì cách đến của mưa có hơi thảng thốt. Đùng một cái có sấm chớp giật rồi đoàng một đỗi nước ngập vuông sân. Ai nấy chạy về nhà áo quần thảy dính da, đàn bà con gái đâm sơ suất dễ lộ hàng. Làm sao biết được? Ơn thay mà có chêm nội y bên trong. Báo đăng tin buồn, có đứa bé 11 tuổi tự vẫn vì không có áo quần để che thân. Cuối bài đóng lại bằng dấu chấm than: Ôi Giời ơi! Một manh vải cũng không. Sao lại bất hạnh thế!
Nữ chạy ù vô khung cửa tối. Đứng thở sau bậc thềm, vắt tóc cho ráo, cho áo xống rỏ nước đôi phần. Má Nữ hiện ra sau lưng: Đi đâu dữ thần, còn không vào mà thay đồ, người ngợm gì ngó như cái thây chết trôi! Mẹ mắng con những roi những vọt, con hồn nhiên gạt bỏ ngoài tai: Đằng quán cà phê cô Ba chộn rộn lắm má, có anh thanh niên ra đứng mái hiên móc điện thoại di động nói chuyện bị sét đánh chết đó má, người đen thui co rúm lại mà tóc thì xông khói khét rẹt. Ác đức quá mà, mày tưởng ông trời không có mắt sao? Đâu có, người ta nhốn nháo bị thằng chả dại, giông tố thì đừng ra ngoài xài di động, dễ bắt sóng với Thiên Lôi. Vậy sao, vậy mày còn tơ tưởng tới cái Ai Phôn nữa không? Sở hữu được nó thì không chừng mang hoạ vào thân.
Nữ mang thân vào buồng lột bỏ ướt át để đậy điệm khô khan sau hồi dùng khăn dang tay dạng chân lau mình lau mẩy. Tấm ván ép ngăn chia căn phòng có anh công nhân xa nhà đến mướn thuê. Ván có lỗ thủng, anh công nhân sáng dạ kiếm ra cục nhựa tiệp màu đút vào bịt lấp. Không đợi buồn tay, anh vẫn ưa máy mó tới cục u sần sẹo đó, tựa như một cái vảy vừa đóng miệng vết thương làm ngứa ngáy da thịt. Thay vì bật máu, anh gãi cho văng cục nhựa ra, sướng đê mê khi ghé mắt nhìn qua bên kia biên giới, đúng toạ độ mà Nữ vô tư đang thoát y. Nín thở. Rạo rực. Quay mòng. Aó thun ba lỗ cùng quần xà lỏn tự dưng mà bức bối vướng víu, không nguội châu thân dù hoạt cảnh bên ấy chóng kết trúc và rồi anh tiếc nuối ngẩn ngơ nhém chặt cái nút bí mật nọ.
Anh từng đường đường chính chính sang đóng tiền thuê phòng sòng phẳng chưa một lần trễ hạn. Hai mẹ con vẫn đánh giá đó là thằng công nhân tử tế, hắn sống khép mình không thấy chộn rộn cảnh tùng tam tụ tứ nhậu nhẹt rượu bia. Má có làm cuộc phỏng vấn ngày đầu, an lòng vì biết ảnh có vợ dưới quê, ảnh đi tiên phuông lên thành đô mở đường, lao động tằn tiện chắt mót từng đồng và tiện thể dò la cho vợ một công việc. Ảnh thành thật khai báo hai vợ chồng kiêng khem chưa dám sanh con cho thêm rách việc, vợ tui biết may chút đỉnh và biết nấu hủ tiếu thuộc dạng cao tay, hy vọng một sớm một chiều hai đứa sẽ đoàn viên khi tin vào câu đất lành chim đậu. Chú nói cũng phải, sợ mình chẳng đủ sức cày bừa chứ chốn này việc vàng chán khối thượng vàng hạ cám chỉ đừng ỏng ẹo chê bai, biết thân phận để tránh cảnh ngồi mát mà đòi ăn bát vàng, vợ chú nhiêu tuổi? Dạ tuổi Mùi, vị chi là đã gần ba chục.
Phút ban sơ tuy ngắn ngủi cũng gây được cảm tình. Chẳng dài dòng văn tự cũng ký kết được một giao kèo. Để tui cho người đóng tấm ván ngăn chia căn phòng, dành nơi rộng rãi cho chú mướn đặng mai sau vợ dưới quê lên sẵn có chỗ ăn chỗ nằm. Tuy hầu chuyện cùng má nhưng thằng nhà quê vẫn chùng vụng nghía đứa con, lời qua tiếng lại nói xa nói gần hắn nắm chút lý lịch, Nữ tròn 17 tuổi đang mài đít ở trung học phổ thông. Cực chẳng đã thôi, chứ Nữ thuộc dạng luôn mộng ngoài cửa lớp. Thích đi làm để kiếm tiền ăn diện, có nhan sắc và đang rơi vào hạng tuổi bẻ gãy sừng trâu, kẹt cái gia cảnh không mấy dư dả, má ngăn nhà cho người ta mướn ở thì sở hụi ấy cũng nên xem đắp đàng này vá đàng kia, nói chung là cứ thiếu hụt. Nữ hay tới quán cà phê cô Ba đầu đường vì cô hứa hẹn hồi nào cưng đủ 18 tuổi thì tới quán này làm cô thâu ngân. Không rõ má có thuận lòng cho phép chăng, chưa gì chiều nay Thiên lôi đã đánh tử vong một thằng cầm di động ưa a lô a lô buôn chuyện.
Chiều nọ tan việc thằng công nhân chạy u ra bến xe đò đón vợ dưới quê lên thăm. Mùa hè còn nán ở lại nên học trò chưa dây tới việc sách đèn, Nữ ngồi quán cô Ba thả lòng theo tiếng nhạc nức nở toàn bày chuyện phân lìa trái ngang. Muốn đắc địa, nhạc nhiếc thường than thở có nhiêu thôi, suy ra đề cao hạnh phúc là thứ khó chui vào lãnh vực âm nhạc. Khổ, người ta mới để tâm nghe; ca từ xướng tụng cái sướng cái no đủ tròn đầy, thấy nó làm sao ấy. Chỗ thằng bị sét đánh chết có người để lon sữa bò đổ đầy cát cắm ba chân nhang, hai cái hoa héo. Nghe cô Ba kể trong máy di động kẻ bất hạnh có ghi hình đoạn phim dài bốn phút quây lén cảnh mua bán dâm, chắc đương sự muốn dùng đó để tống tiền, chưa hoạnh hoẹ đã dính búa thiên lôi từ sống chuyển sang từ trần. Tai nhét chật chuyện thế sự đau thương, ngồi mất hồn lộn vía cho tới hồi nhọ mặt người Nữ mới về nhà, cộm trong lòng duy một ước muốn thế nào chăng nữa ta phải sở hữu được một cái iPhone, nó thật lợi hại, nó siêu khủng.
Trời không mưa nhưng chút heo may xua bớt cái oi nồng. Bước chân qua ngạch cửa đã nghe tiếng cười nói khác lệ thường, hoá ra anh chàng ở trọ mang vợ qua chào má với ít quà đặc sản dưới quê vừa bày ra bàn. Vẻ khù khờ hôm nào trốn mất, có vợ bên lưng trông anh linh hoạt hẳn. Ảnh thôi nhìn lén Nữ, ảnh đang tỏ ra tử tế chuyện quà cáp biếu xén khiến má mát ruột mát gan. Vợ ảnh có nước da hơi đen bù lại cơ thể nẩy nở rắn chắc. Lóng rày người ta ưa ăn tôm năm nắng, mực hai nắng, dưa món ba sương… nhưng vợ anh công nhân này xem chừng thể hình đã ăn cả vạn nắng. Da săn màu bầng quân và vú no tròn kiểu bưởi rám gió hương đồng cỏ nội. Người chị văm, thứ đối tượng mà anh chồng công nhân sẽ phải làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm và ảnh sẵn lòng tắt quạt cho đủ chỉ tiêu chị đề ra. Tự nguyện bá thở để đổ thân trên mảnh đất màu mỡ lụa là.
Tối, ngủ không xuống, không êm, không an giấc, Nữ chui ra khỏi mùng bắt ghế đứng nhón chân tháo chân dung bác Hồ lộng kiếng xuống, dưới cây đinh để móc tấm ảnh có một lỗ thủng nhỏ bằng ngón chân cái. Bên ấy họ chưa giăng mùng, nhớ nhung lâu ngày nên vợ chồng trần truồng bu lại mãi ngấu nghiến nhai đầy cuộc hạn mong đền bù cho nhau. Họ rộng lòng chẳng nề hà cho muỗi hân hoan dự bữa tiệc máu. Người Nữ nóng ran, sao chỗ ấy mà anh công nhân lại say sưa nhấm nháp. Sao chị hứng thú vo đầu tóc rối ren của anh để rít trong miệng những từ tối nghĩa. Miệng Nữ khát khô trong khi cơ thể đang rịn ứa nước ra thấm đẫm mọi hang cùng ngõ hẹp. Chiều nay hai má con ăn thực phẩm rau quả sạch, chẳng biết má còn để dành một trái dưa leo trong gát-măng-rê? Chuối cũng ô-kê nhưng tiếc thay cả nải đã leo ngồi bàn thờ ông bà… Chuyến này mình phải nên có con, trước khi lên đây em đã tính ra chu kỳ trứng rụng. Ui, anh ơi, bỏ nó vô đi anh. Chồng nghe lời vợ, cung kính không bằng phụng mạng và vợ hát lại điệp khúc: Ui, anh ơi… Ui, thiên địa ơi… Chồng thở hào hển: Em rên la là việc cần làm, nhưng nhớ nhỏ tiếng kẻo làm phiền giấc ngủ của hàng xóm. Ui, mai mốt em lại về dưới mà thiệt chẳng êm bụng, sao cô gái con bà chủ ngó mặn mà có duyên thế hử, lửa gần rơm lâu ngày có sanh hoả hoạn không anh? Nói tầm bậy tầm bạ chi cho mất sướng, em có đau lưng không, anh đổi cho. Giường run theo mỗi động tác của họ, xáp lá cà rồi lại thu lưỡi lê làm hàng binh tháo chạy. Chồng chuẩn bị buông mùng trong khi Nữ buông một tiếng thở dài cố nén, người nhớp nháp khó chịu cần gội xoá dội qua miếng nước cho trôi tái tê.
Lại tức giông, lại sấm chớp, lại mưa tuôn. Chiều nay Nữ không trụ quán cô Ba mà di thân tới quán cà phê Núi Nhạn. Biển hiệu là vậy nhưng chủ quán sống được nhờ bán cơm phần cho công nhân mấy xí nghiệp gần đó ra ăn. Đó là thành phần công nhân sống xa nhà, ngán ăn mì tôm tự mình trụng lấy nên đổi món cơm hàng cháo chợ. Nữ biết chàng mướn phòng trọ sẽ ghé vào và quả nhiên ly cà phê sữa đá nắm trong tay hao hụt phân nửa thì ảnh đi vô. Mắt ảnh vấp phải dáng ngồi của Nữ, tự động tập trung không nháy, như có từ trường hút lấy. Em đi đâu đây? Đi lang thang ba chừng bảy đỗi phải tấp vào trốn mưa. Anh đi đâu đây? Nữ làm bộ ngạc nhiên. Anh vừa tan ca, anh mần bên xí nghiệp đó kìa. Nữ nheo mắt theo tay ảnh chỉ, chỉ mịt mù mưa sa. Thứ mưa của giao mùa, ngó hung hăng vậy chớ chóng nguôi. Vợ anh chừng nào lên? Đâu biết, đã nộp đơn xin làm thợ may, bả đợi anh hú chừng nào cái công ty ấy chấp thuận. Bả tiếc tiền vì khoản bôi trơn nhiều quá, bôi chút đỉnh thì bả ở yên đây mà chờ đợi. Nữ nói: Em cũng đang chờ người bôi trơn… Hả, em nói cái gì? Ăn chi chưa để anh gọi một lần. Đây có cơm ba màu là dễ nhá nhất. Cho anh mời em một bữa nay, tụi mình tiếng là ở gần kề bên nhau chung căn hộ mà sao coi nhau như xa lạ, ngó sao đặng. Thực bụng anh ưa chuyện trò cùng em mà cứ sợ má rầy rà cự nự sanh phòng thủ mất vui.
Không đợi đứa con gái lắc hoặc gật đầu, anh công nhân gương mẫu đi lui sau gọi hai khẩu phần. Nhà bếp có ba đầu sáu tay hay sao ấy, xoẹt một cái ảnh đã trở ra, đi tới đâu mùi thịt nướng thơm tới đó. Ăn đại đi em, về nhà dối má tự nhiên con sình hơi nhác xơi. Đứa con gái cười, rồi bình phẩm: Anh thiệt biết pha trò, phải mà anh chưa vợ thì chết với em. Chết kiểu nào hén? Để anh liệu sức mà qua cầu. Nữ dùng đũa trộn đều dĩa cơm sườn bì chả sau khi chan hai muỗng nước mắm pha tương ớt chua cay. Em đang lên kế hoạch sắm cái iPhone, có con nhỏ bạn mách nước, ưa thì nó dắt đi thử làm chuyện ấy, chỉ mươi mười lăm phút mà đánh đổi được một hiện vật đẳng cấp. Đang dộng muỗng cơm nhiều rau vào miệng, anh công nhân phồng mang trợn mắt không nhai như ăn phải thứ nhiễm độc hoá chất. Anh làm một phép toán đơn giản, hoá ra cái ngàn vàng cũng dễ nuốt, mắc mỏ gì cho cam. Rồi anh nhai trệu trạo, rồi anh mút đoạn xương cong nơi miếng sườn nướng cháy. Anh cắn lìa nửa trái ớt, anh hít hà và chảy nước mắt sống. Đã nhiều lần, tấm thân trần lồ lộ của Nữ vẫn vô cớ hiện lên trong đầu anh trước giấc ngủ muộn. Nuột nà quá, trắng trẻo quá, mịn màng quá, cứ y như một bức tượng làm bằng men sứ bóng, đã láng lại ưa kỳ cọ cho trơn tru thêm.
Anh đã dành dụm có sẵn hai phần ba tổng số, nếu không chê bai thanh củi này thì em cứ việc đốt lửa, kỳ lương tới anh chu toàn số nợ còn thiếu, em tính sao? Nữ cắn môi ra chiều tư lự, ừa nói nghe cũng hạp bụng. Chàng công nhân thò tay qua nắm lấy năm ngón Nữ thu giữa hai bắp đùi. Để em xâm mình đi giao mạng cho người xa lạ dập liễu vùi hoa anh đâu an lòng, chưa kể tụi mình đã sẵn địa hình thuận lợi, ho một tiếng cũng nghe ra, bên kia ngáy bên này đâm trằn trọc. Rồi giờ giấc, muốn canh một chơi canh một, muốn canh năm rón rén năm canh, ưa nửa đêm về sáng giả tiếng mèo kêu cũng là chuyện nhỏ.
Nữ không thèm rút tay về, cứ để cho ảnh mặc tình mân mê ấp ủ. Nhưng để em yên tâm bước qua cầu tre lắc lẻo, anh cần phải gióng tiếng thề nguyền. Tỉ như không được lương lẹo dối gạt, tỉ như kín miệng hổng được phao tin lùm xùm rằng tao từng phá trinh con Nữ. Tui mà sai lời thì bị thiên lôi vác búa đánh cho cháy đen xác thân không cách chi đoàn viên cùng vợ yêu dấu. Anh công nhân xẳng xái: Ba mươi giây. Có vậy mới rõ là anh thương em biết dường nào. Em cũng nhớ sống giữ thác chôn, chớ đem vụ việc ra mét má.
Má sang nhà hàng xóm xem phim bộ của Hàn quốc, phim nhiều tập nói về cuộc sống thác loạn của một tên vua bỏ bê việc triều chính để sớm tối phát minh ra nhiều hạng mục giỡn nguyệt vờn hoa, vui vầy chăn gối cùng tiểu đội cung phi mỹ nữ, rậm rật chốn màn che trướng rủ. Thời điểm chín mùi, Nữ khoá cửa rồi làm người dạ hành lơ là xiêm áo đột nhập nội cung nực nội của chàng công nhân vắng vợ ngoài biên ải. Không đợi pháo lệnh, họ bu vào nhau bởi họ biết chân giá trị của thành ngữ: Thời giờ là tiền bạc. Và họ sẵn lòng lên án câu: Làm sớm nghỉ sớm. Làm sớm mà nghỉ muộn mới xứng đồng tiền bát gạo. Vật xuống giường, trong khi để cho ảnh nhẹ nhàng cởi áo tới quần, Nữ cong mình nhột nhạt: Vách ván kia có một lỗ thủng, đúng không anh? Chàng công nhân bẽn lẽn: Tha cho anh tội dòm lén, anh lỡ lậm bùa tự độ ngó ra ngọc thể của em. Í, có chuyện đó sao? Ngộ hén! Anh có thiên lý nhãn hay sao cà! Cái lỗ ấy bị án che bởi bức ảnh bác Hồ cơ mà.
Anh công nhân đứng lên rút cục nhựa ém ở tấm ván: Bác nào ở đây mà đành tâm che choáng. Nữ cười rú: Vậy thì bức bình phong này có tới những hai cái lỗ. Em mượn cái lỗ kia để rình coi bữa anh làm tình cùng vợ ở quê lên. Vợ anh rên ui cha, ui cha… Lêu lêu, thiệt là hổng biết hổ ngươi, ai dè mà em hư thân quá mạng! Em muốn anh làm lại các động tác y như mần với vợ anh. Mau lên, em đã tắm rửa sửa soạn tự ban chiều. U, u, anh ơi, nhớ dắt em tới bến… U, u, đừng quên mặc áo mưa nghen. Bữa nào chị vợ lên tra khảo tiền bạc sao tự nhiên không cánh mà bay thì anh tính sao? Anh nói dùng nó để bôi trơn mong kiếm cho vợ một công chuyện. Anh đang bôi trơn cho em, không lo thụ hưởng mà ăn nói cứ linh tinh. Có trơn không em? Nữ ăn gì mà thịt thơm quá chừng quá đỗi. Điệu này chắc chết quá, chắc vi phạm hiệp định ngưng bắn quá. Chắc được voi đòi hai bà Trưng quá!
Nghèo mà ham! Này, đừng nói là tấm ván có hai lỗ, ngay bản thân anh cũng chẳng kém cạnh gì, dám một mình khoan được hai lỗ. Ui, thiên địa ơi, xấn vô đi anh, làm giặc bành trướng đi anh. Ui, ui, con sướng quá má ơi!
Trước năm 1975, nước ngọt xá xị, là thức uống để giải khát, bán rất chạy tại miền Nam Việt Nam phần lớn do hãng BGI sản xuất, chứa trong chai thủy tinh, nhãn hiệu hình con cọp, nên còn gọi là “xá xị con cọp”. Hay là “xá xị con nai” của hãng Phương Toàn. Con cái có bữa ấm đầu nhõng nhẽo, thương con, Má mua cho chai xá xị. Đứa nhỏ khoái quá trời, cũng như con nít bên nây nhìn thấy lon Coke vậy! Uống hết nước, còn cái chai không, Tía sẽ giữ lại để sai con đi mua rượu đế về nhậu chơi. Và chai xá xị, chứa được 220ml, là đơn vị căn bản đo lường tửu lượng của phe ta. Từ đó có tên: Anh Ba Xị, Chú Tư Xị …vv… Một xị chỉ chứa được 220ml, nhưng mấy chú Ba Chợ Lớn, đong 4 xị tính thành 1 lít. Với cách bán lẻ như thế thì 1 lít Chú Ba ăn gian mấy ông thần ve chai được 120ml! Còn ông thần ve chai nào kỹ tính, vác chai nước biển đi mua lần một lít là chú Ba hết cách ăn gian nhưng ngặt một cái là con vợ nó hổng cho mua nhiều. Vì mua bao nhiêu là thằng chả nhậu hết bấy nhiêu! Chịu sao thấu!
Tui xin cắt nghĩa vòng vo tam quốc một chút về cái dụng cụ đo lường thân thiết của bạn nhậu chúng ta. Và cách đây hơn 40 năm, sáng sớm mới mở hàng mà thấy một ông mặc bộ đồ pyjama ngả màu cháo lòng bước vô, kéo ghế đẩu nghe cái rột; ngồi kiểu nước lụt “Cho tui một xị!” Thì bà con biết rằng dạ chính là ‘tui’ đó ạ! Ở những quận lỵ quê mình hồi xưa có cái nhà lồng chợ! Trong nhà lồng thường có bán cháo lòng, bún thịt xào, hủ tiếu, cà phê và rượu đế. Mỗi sáng sớm lỡ vừa ghiền cà phê uống cho tỉnh ngủ, vừa như xe cần xăng người cần rượu thì các sư phụ của mình thi nhạc giao duyên bày ra cái thức uống xây chừng chẩu; vừa cà phê vừa rượu. Chủ quán rót cà phê đen tới cái khấc của ly xây chừng gọi là chệt đẻo, tức phân nửa, phân nửa còn lại thì rót rượu đế. Gọi một tô cháo lòng, chút tiêu cho ngọt, chút hành cho thơm, cộng với tim gan phèo phổi. Múc muỗng cháo đưa vô miệng húp; đưa cay một cái trót! Thưa quý độc giả thân mến: Thiên đường là đây!
***
Rượu là chỉ dấu thời hoàng kim của nhân loại! Thức ăn thời hái lượm là trái cây mình ăn dư dật, để lâu chín rục mới thành rượu! Con người là con vật thông minh nhứt nên tìm hiểu rồi làm chủ cái tiến trình chuyển hóa nầy tự mình làm ra rượu uống chơi. Những dân tộc trên toàn thế giới dù trong rừng rậm Amazon chưa hề tiếp xúc với thế giới văn minh mà cũng có rượu uống tì tì nên người ta nói rằng Thượng đế chế ra nước và người ta chế ra rượu!
***
Hai nhân vật đầu tiên của nhân loại là Adam và Eva. Để che cái tài sản quý nhứt của mình, họ dùng lá nho! Có lá nho là phải có trái nho. Mà trong nước trái nho lúc chín rục có chứa đường. Đường sẽ chuyển hóa thành rượu khi men có sẵn trong không khí tình cờ rơi vào. Nên có thể nói mà không trật chút nào là rượu có trước cả con người! Mà không phải chỉ có con người khoái nhậu mà thôi, mấy con khỉ trong rừng cũng khoái lắm, xỉn xỉn, khèn khẹt nhảy tới nhảy lui, chuyền từ cành nầy sang cành khác vui như Tết. Hay rượu từ mật ong cũng có chứa đường, làm mấy con gấu xỉn lăn quay.
***
Tàu thì nói: “Dục tửu phá thành sầu…” Tây thì khác! Vui cũng nhậu mà buồn cũng nhậu luôn để tìm vui. Hoàng đế Napoleon của nước Pháp sinh ra đời để dắt lính đi đánh nhau với các nước khác. Đánh thì có ăn có thua. Ăn thì khui rượu sâm banh ăn mừng. Còn thua cũng khui rượu sâm banh để quên đi nỗi buồn thất trận. Mà Napoleon thua cũng vì rượu mà thôi! Cách đây hơn 200 năm, Napoleon dẫn mấy thằng Tây đánh vào tới Moscow. Tây uống sâm banh mà sâm banh nhẹ độ rượu thì cách chi chống lại được mùa Đông nước Nga lạnh quéo, hàn thử biểu, cột thủy ngân rớt xuống trừ vài chục độ C. Lính Nga thì uống vodka, mạnh độ rượu hơn, làm một chai là mùa đông nước Nga coi như pha! Kết cuộc lính Tây rút chạy sút quần tây luôn! Hí hí!
Tây nhậu lai rai, lâu lâu nhậu một lần, tự sắc phong mình là ‘social drinker!’ Việt mình gọi là nhậu xã giao. Xã giao chớ không phải ‘xả dao’; vác dao đi mà xả. Nhậu xã giao là nhậu nhẹt với bạn bè đến nhà mình hay mình tới nhà nó hay cả bọn kéo nhau ra quán. Lâu lâu một lần chớ không phải ngày nào cũng nhậu xã giao hết nhe! Ngày nào cũng rủ bạn bè tới nhậu xã giao thì tui e rằng em yêu sẽ xách dao ra mà xả cả đám nhậu tụi mình! Khi uống rượu mấy ly đầu vui lắm, và phải có bạn nhậu mới vui. Trà tam rượu tứ. Rượu có ít nhứt là 4 người. Một xị nhâm nhi tình bạn. Hai xị uống cạn tình sầu. Ba xị mũi chảy tới râu. Bốn xị ngồi đâu gục đó! Sau cùng sợ chàng đi đứt, em bèn đè xuống cạo gió. Một xị, tinh thần sảng khoái, vui vẻ, thích trò chuyện, vui đùa, ca hát…’. Mặt hồng sáng trong trong!’. Nghe nói năm 2015 các nhà khoa học sẽ chế ra một dụng cụ có thể biến những điều suy nghĩ trong đầu ta ra thành lời nói. Chuyện xưa như trái đất mà cũng bày đặt phát minh. Tui đã có cái dụng cụ đó hàng cả bao năm rồi. Tên nó là chai rượu Jack Daniel’s. Cạn chai, có bao nhiêu trong đầu đều tuôn ra hết ráo!
***
Rồi chuyện Thiếu úy Bảnh đi cưới vợ! Thiếu úy Bảnh mang đại đội ĐPQ đóng đồn ở ngã ba sông. Chẳng bao lâu Thiếu úy Bảnh phải lòng em Bông, con ông Tư Xị, ở xóm trong. Thiếu úy Bảnh nhờ Thượng sĩ Tỏn, Thường vụ Đại đội, tuổi cũng khá cứng, làm đại diện nhà trai vì ba má Thiếu úy ở tuốt Mỹ Tho lặn lội lên cực khổ. Đàng gái vui vẻ đón chào, rước ngay Thiếu úy Trưởng đồn vào mâm rượu. Em Bông e thẹn núp sau rèm cửa! Thiếu úy trình lễ vật, một bao thơ trọn một tháng lương cho nhà gái. Ông già vợ tương lai lấy làm hạp ý! Thôi mời Thiếu úy à quên cháu làm một ly! Chia hai cho thắm tình quân dân cá nước! Xị đầu thì bác bác cháu cháu. Qua xị thứ hai, thứ ba, thứ tư thì hai đứa mình người một ly, cạn trăm phần trăm đi! Thiệt là vui hết biết! Thượng sĩ Thường vụ Đại đội kề tai nói nhỏ: “Ông Thầy ơi! Chiều rồi! Thầy trò mình rút!” Nhưng hai bác cháu nói còn sớm mà! Một lúc sau, ông già vợ tương lai của Thiếu úy Bảnh gục gặc hỏi: “Tụi mình đang nói tới chuyện gì vậy?” Thiếu úy Bảnh nghĩ ngợi một lát rồi kêu lên: “A, tao nhớ ra rồi, tụi mình đang nói: Rót thêm ly nữa đi!” Thượng sĩ Thường vụ Đại đội ra lịnh rút, cho mấy thằng em cõng ông Thầy về đồn… kẻo hết bốn xị, ông Thầy sẽ nói năng vô nghĩa, say mèm! Thêm xị nữa là ông Thầy… đi đứt. (Chuyện hơn 40 năm rồi, chắc ông Thầy không còn nhớ thằng em đã từng đưa lưng cõng ông Thầy độ ấy! Thôi thì huynh đệ chi binh nhắc chuyện cũ cho vui! Xin ông Thầy đừng rầy cái thằng em nhiều chuyện… không ai đánh lại khai!)
***
Trên là chuyện bạn nhậu quê mình. Còn phần nầy là chuyện nhậu của mấy thằng Tây. Gần giao thừa, chủ quán đứng lên nói: “Nào! Chúng ta hãy sẵn sàng. Tôi muốn các bạn hãy đứng gần người mà các bạn yêu dấu nhứt; đã mang đến niềm vui, làm cuộc đời buồn tẻ của bạn trở nên rất đáng sống. Và chuông giao thừa nổi lên! ‘Ò e Ro be đánh đu’. Em yêu phục vụ bia rượu trong quán bị đám đông quý ông chen lấn tới, để được đứng gần bên, nhém chết!
***
Johnny được mấy chiến hữu kêu đi nhậu, con vợ cứ chàng ràng hoài hổng biết làm sao mà vọt cho được; nên để các chiến hữu chờ lâu. Cuối cùng em xách giỏ đi chợ; Johnny phóng cái vù nhưng đến muộn nên vừa ngồi vào bàn, tụi nó đã thi hành kỷ luật: “Tới trễ! Phạt! Phạt chục ly!” “Phạt hả! Thôi thì cứ rót ra đi!” Tàn tiệc nhậu, khuya trời tối hù, Johnny lái xe về, quên mở đèn pha, cảnh sát kêu lại phạt! “Phạt nữa hả? Thôi thì cứ rót ra đi!” Còn Tony, bạn nhậu của Johnny, hơi quá chén không dám chạy xe về nhà, bèn thả bộ. Thầy đội chận lại, hỏi: “Ông làm gì mà lang thang lúc 2 giờ sáng vậy hả?” ” Thưa thầy đội tui đi nghe diễn thuyết!” “Diễn thuyết! Ai mà ngu diễn thuyết cho ông nghe lúc 2 giờ sáng?” ” Dạ! Con vợ tui!”
***
Trên là chuyện nhậu của Ta rồi của Tây. Còn phần cuối nầy là chuyện nhậu của Ta và của Tây giao duyên đa văn hóa với nhau! Tiệc cuối năm tưng bừng rộn rã tại nhà Tèo và rất nhiều khách đến nhậu. Giữa tiệc có một ông Tây đến gõ cửa và được mọi người tiếp đón rất niềm nở dù không ai biết ổng là ai. Thôi thì cạn ly đầy và đầy ly cạn suốt gần hai tiếng đồng hồ. Cuối cùng ông Tây xin từ giã. “Xin cám ơn các bạn đã đón tiếp, chiêu đãi tui nhiệt tình đến thế dù tui không có tên trong danh sách khách mời. Chẳng qua tui muốn vào đây để nói là: “Anh bạn nào đã đậu xe chắn lối xe ra của nhà tôi, xin làm ơn dời qua một chút vì con vợ tui đang ngồi đợi trong xe nãy giờ mà vui quá tui quên nói với quý bạn!”
Người Việt mình cũng vậy bà con ơi! Đi qua bàn nhậu là ai kêu tui đó? Dẫu không ai kêu, tui cũng làm một ly để tạ lỗi nha! Vì thấy rượu như lân thấy pháo! Việt và Tây giống nhau ở chỗ đó đa: “Tay cầm bầu rượu nắm nem. Mải vui quên hết lời em dặn dò!” Mấy ông thần ve chai bọn mình nhằm thuyết phục vợ nhà cho anh nhậu; nên phao cái tin đồn thất thiệt như vầy: Rượu giúp ích cho việc “tù ti tu tí”! Đó là tin đồn thôi, mấy em cực kỳ thông minh nên hổng có ai tin. Chuyện rằng: Châu Long được Dương Lễ cho qua cơm bưng nước rót để bạn mình là Lưu Bình ăn no cái bụng mà an tâm dùi mài kinh sử. Một hôm, Châu Long nấu một nồi canh chua với cá ba sa mùa nước nổi; rồi mua cho Lưu Bình một xị rượu đế để nhâm nhi. Sáng hôm sau, Châu Long vừa giặt lụa bến sông vừa cười lỏn lẻn. Tối về, lại canh chua cá ba sa mùa nước nổi, Châu Long bèn tăng ‘đô’ lên gấp hai. Hai xị. Dứt xong hai xị, Lưu Bình ngã lăn ra đất, ngáy pho pho!
***
Thưa quý độc giả thân mến! Người viết có gia nhập vào Hội của những người khoái làm thơ. Tất niên nầy, các thi sĩ nhà ta họp bàn nên tổ chức đón Tết như thế nào ở quê người xứ lạ. Một nhà thơ tiếng tăm lừng lẫy đứng lên phán rằng: “Tụi mình cứ khiêng về chục thùng Ken (Heineken) rồi nhậu suốt đêm giao thừa vậy thôi!” Nhưng ông Chủ tịch Hội thơ đứng bật dậy, giơ tay chém gió, thẳng thừng bác bỏ: “Không được! Tết chỉ có một lần trong năm, chúng ta không thể làm như những ngày thường được!” “Hi hi! Như vậy nhậu là hư mà đâu phải chỉ có một mình tui hư!”
Eddy Thall đặt chiếc dao rọc giấy trên mâm thức ăn sáng. Nàng đọc lại bức thư, rồi quay nhìn người đàn bà mặc áo trắng đang kéo tấm màn phòng ngủ.
– Tinka, vú lại đây xem, vú biết cô này không?
Người vú già cầm lấy tấm ảnh nhỏ bằng con tem. Bà ta đưa ra xa hơn một chút để nhìn cho rõ hơn, ngắm nghía bộ đồng phục đen, cổ trắng. Tinka Neva chớm khóc, bà xúc động dễ dàng và khóc ngay mỗi lúc có người nhắc đến một sự kiện hay một điều gì về quá khứ của bà hay của gia đình họ Thall.
Tinka vừa lau nước mắt vừa bảo: “Đúng là cô Eddy chứ còn ai vào đây nữa!”
– Tôi vừa mới nhận lại được sáng nay đấy, Eddy bảo do một người ái mộ tôi gửi trả lại. Tinka, vú tưởng tượng xem, một cậu con trai si tôi từ hồi tôi mới mười lăm tuổi.
Kéo cái gối lên tận vai. Eddy cầm bức thư và nói với người vú già: “Vú nghe anh ấy viết cho tôi như thế này đây:
Thưa cô,
“Cách đây mười lăm năm, khi cô còn là một nữ sinh của trường âm nhạc, cô đã bỏ quên tấm ảnh này trong một cuốn sách ở thư viện. Tôi thấy được và giữ nó đã lâu lắm, đợi cơ hội trả lại cô tận tay. Nhưng cơ hội đó không bao giờ đến hay nói cho đúng, tôi đã không có can đảm tìm đến cô để trả lại bức ảnh dù tôi đã trông thấy cô nhiều lần ngoài đường, ở ký viện, ở hiệu bánh, ở công viên. Cô có đến Neamtz suốt cả mùa hè. Và tôi đã thấy cô mỗi ngày. Ít lâu sau cô trở thành một nghệ sĩ danh tiếng, rồi tự thành lập một hý viện? Dù đã lớn tôi vẫn thiếu can đảm. Lần này không phải sự e dè của tuổi thành niên làm tôi nhút nhát, mà chính vì danh vọng sang chói của cô. Chiều qua, tôi đã trở về nhà, tìm lại bức ảnh mà tôi mong cô nhận lại với tất cả lòng ngưỡng mộ sâu xa của tôi
Pierre Pillat
Thẩm phán
Tinka đứng nghe cạnh giường. Eddy nói tiếp: Còn một giòng tái bút nữa đây:
Bức ảnh này đã có một người xin, bạn tôi Boris Bodnar, trước khi hắn trốn sang Nga. Hắn bị đuổi khỏi trường võ bị và đã vượt sông Dniestr. Chiếc ảnh này đáng lý đã du lịch sang phương Đông. Tôi lấy làm sung sướng đã giữ lại được để bây giờ trả lại cho cô, dù không phải tôi chỉ yêu một mình nó mà thôi.
Eddy Thall buớc xuống giường. Nàng nhìn chiếc đồng hồ treo nhỏ màu xanh da trời. Đã 8 giờ sáng. Thấy Tinka đang khóc, Eddy hỏi:
– Có chi mà nghe bức thư đó vú lại khóc?
– Eddy à, lời lẽ trong thư thật đẹp, đẹp đến nỗi tự nhiên nước mắt tôi trào ra.
– Hồi nhỏ tôi có đẹp không vú nhỉ? Đẹp đến độ người ta phải si mê một bức ảnh?
– Cô Eddy lúc nào mà chẳng đẹp.
Tinka nói thế và đặt mâm xuống. Eddy Thall đọc nốt các bức thư khác, rồi cầm lại bức thư của ông thẩm phán Pierre Pillat. Nàng nghĩ đến cậu học trò đã trốn sang Nga và tiếc rằng Boris Bodnar đã hỏng thi và bị trục xuất khỏi trường học.
Eddy Thall là một nghệ sĩ hữu danh. Cho nên mỗi ngày nàng nhận không biết bao nhiêu là thư từ của những kẻ hâm mộ. Nhưng không lá thư nào làm nàng thích thú bằng lá thư của Pillat.
Bỗng Tinka bước vào phòng ngủ bảo:
– Có hai ông cảnh sát muốn gặp cô đấy.
Giọng Tinka có vẻ thay đổi vì sợ hãi.
– Hãy bảo chờ tôi uống xong cà phê đã.
– Họ gấp lắm, muốn nói chuyện ngay. Tôi đã bảo cô ngủ chưa dậy. Nhưng họ đã vào phòng khách và đang chờ cô đấy.
Eddy cầm lược chải đầu. Nàng bực dọc bước ra phòng khách. Hai người cảnh sát trẻ mang áo mưa đang đứng đấy. Nàng mời họ ngồi xuống, xé một tờ lịch và nhìn họ như lúc nàng đang diễn xuất trên sân khấu.
– Các ông cần điều gì ạ?
Họ vẫn đứng. Eddy hỏi tiếp:
– Tại sao các ông không chịu ngồi xuống?
Nàng vò tấm lịch đề ngày 9 tháng giêng năm 1940 và vứt vào sọt rác.
Một trong hai người cảnh sát lên tiếng:
– Chúng tôi xin phiền bà cho lập một biên bản.
Người thứ hai mở chiếc cặp da trong lúc người kia tiếp tục hỏi:
– Người đàn bà ra mở cửa cho chúng tôi có phải là người giúp việc cho bà không?
Eddy trông hai người đứng đắn như hai học sinh ở nhạc viện và nàng mỉa mai trả lời:
– Người đàn bà ra mở cửa cho hai ông là vú già của tôi đó.
Một người rút một cuốn sổ tay ghi chép trong lúc người kia hỏi:
– Bà ta giúp việc đã bao lâu?
– Khi tôi sinh ra thì bà đã giúp việc cho cha mẹ tôi rồi.
– Cách đây mấy năm, thưa bà?
– Tôi nghĩ chừng bốn mươi năm rồi, nếu mấy ông muốn biết rõ hơn xin cứ hỏi thẳng bà ấy ắt biết ngay.
– Lương tiền như thế nào?
– 5000 lei mỗi tháng bỏ vào trương mục của bà ấy, cùng tất cả mọi thứ bà ấy cần dùng. Nghĩa là bà ấy ở đây cũng như đang ở tại nhà riêng vậy.
Eddy châm một điếu thuốc. Nàng là chủ nhân một hý viện mang chính tên nàng. Báo chí đã phê bình nàng như một diễn viên xuất sắc nhất. Ảnh nàng trên bích chương được treo khắp nơi. Đài phát thanh nhắc tên nàng nhiều lần trong ngày. Hình nàng người ta đem dán ở khắp các phòng đợi hỏa xa, xe điện ngầm, bến xe đò. Cả đến những đứa trẻ cũng biết tên Eddy Thall. Tất cả những cảnh sát viên mà nàng biết từ trước đến giờ đều muốn xin thủ bút của nàng làm kỷ niệm. Nhưng hai người cảnh sát này không thế. Họ đến đây để lập biên bản.
– Bà làm ơn cho tên vú già?
– Tinka Neva. Còn gì nữa xin các ông nhanh lên cho.
Nàng đứng dậy tắt thuốc lá.
– Chúng tôi muốn biết người vú theo tôn giáo nào?
– Thiên chúa giáo. Eddy trả lời gọn lỏn.
Người cảnh sát thứ hai gập sổ lại và bỏ vào cặp.
“Luật pháp tuyệt đối cấm người có dòng máu Do Tháinuôi người ở có đạo Thiên Chúa. Bà bị buộc phải trả lương cho người vú đủ ba tháng và cho bà ấy thôi việc. Đó là tất cả những gì chúng tôi phải nói với bà.”
Hai người cảnh sát nghiêng mình chào Eddy, cũng nghiêm giọng như khi họ mới đến. Eddy đợi cho đến lúc họ đi về phía cửa lớn, nhưng một ngưòi lại nói:
“Mọi vi phạm luật lệ này đều bị phạt sáu tháng tù ở”. Và ông ta hỏi tiếp:
– Chúng tôi có thể lấy cung bà Tinka Neva?
Eddy bấm chuông gọi:
– Tinka, mấy ông này muốn nói chuyện với vú đó.
Xong nàng trở về phòng.
Tinka ở lại một mình với hai người cảnh sát. Bà quan sát cách ăn mặc của họ.
Một người hỏi:
– Bà là Tinka Neva?
Tinka hơi ức:
– Cô tôi đã cho biết tên tôi rồi, hỏi làm gì nữa!
– Bà ấy nói chưa đủ. Bà cần phải khai thêm cho chúng tôi.
Người thứ hai lại rút sổ tay, và bắt đầu ghi chép.
– Năm nay bà bao nhiêu tuổi. Bà giúp việc cho gia đìnhThall từ bao lâu?
– Lúc tôi mới bước chân vào gia đình này, tôi mới có 18 tuổi. Từ đó đến nay đã được 38 năm rồi.
Tinka hơi run sợ. Chưa bao giờ bà chứng kiến cảnh này trong nhà.
– Bà có bằng lòng cách đối xử của bà chủ không?
– Nếu tôi không bằng lòng, tôi đã không ở suốt đời nơi đây.
– Mặc, chủ bà sẽ trả bà đủ ba tháng lương và cho bà thôi việc. Luật pháp cấm người Do Tháithuê người ở có đạo Thiên chúa.
Hai người cảnh sát gài lại nút áo choàng. Tinka hỏi:
– Tôi không có quyền làm việc để kiếm ăn hay sao?
– Bà có quyền làm việc, nhưng không được làm cho người có dòng máu Do Thái. Tinka cho như thế là bất công nên bà không còn sợ hãi nữa, bà phản đối:
– Chính tôi chọn chủ để làm việc chứ. Tôi là một người giúp việc. Điều quan hệ cho tôi là có một người chủ tốt. Phần còn lại – người chủ là Do Tháihay có đạo Thiên chúa – không quan hệ cho tôi gì cả.
Hai người cảnh sát tiến ra cửa.
– Nếu bà chủ không trả đủ cho bà ba tháng lương trước khi cho bà nghỉ việc, bà cứ việc khiếu nại ở sở cảnh sát.
– Tôi không đi đâu hết, tôi bằng lòng ở lại đây.
Và bà Tinka khóc. “Chỉ có chủ tôi mới có quyền đuổi tôi ra khỏi nhà nếu cô ấy không bằng lòng tôi. Nhưng cô ấy rất mến tôi.” Tinka vừa nói thế vừa khóc, trong khi hai người cảnh sát ra khỏi nhà.
II
Lúc hai người cảnh sát đã đi khỏi. Tinka Neva ngồi khóc. Tấm thân già yếu của bà run rẩy như một cành cây mong manh. Eddy cầm lấy đôi vai Tinka:
– Tinka, vú yên đi nào. Ma quỷ cũng không quá hung dữ như người ta tưởng đâu. Vú cứ ở lại đây. Tôi quen biết lớn, tôi sẽ nhớ người ta can thiệp.
Tinka không thể nói gì hơn nữa. Bà lại lau ghế, lau sạch chỗ nền nhà mà hai cảnh sát vừa đứng, như là bà muốn lau hết tất cả vết tích của họ để lại trong nhà.
Câu chuyện vừa rồi là cả một sự nhục nhã đang xâm chiếm đến tận cùng cơ thể của bà. Bà nghĩ rằng không ai có quyền đuổi bà ra khỏi nhà trừ cô chủ. Và cũng không ai có quyền can thiệp vào việc riêng của bà. Nếu mình có làm điều gì tốt hay xấu thì cũng chỉ có cô chủ là có quyền phán xét mà thôi.
Tinka đã đi khỏi làng từ ngày chưa thành niên. Bà không còn gia đình hay họ hang gì nữa cả. Nhà của bà chính là nhà của gia đình Thall.
Eddy bỗng trao cho Tinka một gói thư từ:
– Tinka, vú đừng khóc nữa. Vú lại đây và đốt hết mấy bức thư này đi.
Tinka ngần ngại cầm mấy bức thư trong tay. Bắt bà đốt thư thật là một điều khổ sở cho bà quá. Tinka là một người nhiều cảm xúc. Đốt thư, nhất là bây giờ, sau vụ hai người cảnh sát vào nhà vửa rồi, thật là một hành động cực nhọc, vượt ngoài sức lực của bà.
Tinka không biết đọc. Suốt đời bà chưa bao giờ nhận một lá thư. Nhưng suốt đời bà mang thư cho chủ nhà cùng với mỗi lần dọn ăn sáng. Mỗi lần như thế bà trông thấy cô chủ vội vã bóc thư. Trong óc của Tinka đã in sâu ý nghĩ thư là những người sống biết nói chuyện. Chúng có thể làm cho ta cười, thích thú hay buồn tẻ. Nếu bức thư không phải là người sống thì nó không thể có cái quyền hạn đó được. Chính vì vậy mà Tinka luôn luôn lau tay sạch sẽ trước khi lục thư trong thùng đặt cạnh cửa. Bà kính trọng những bức thư lắm, nên bây giờ bắt bà đốt thư thì chẳng khác gì ép bà đốt những sinh vật, đốt những con chim bồ câu, quay một con thỏ.
Eddy đang lục một số các bức thư khác để đốt. Tinka có cảm tưởng mỗi phong bì trở thành một thứ tội lỗi thêm vào những tội lỗi mà bà đã phạm từ trước.
Eddy bảo:
– Vú đốt hộ những bức thư của Lidia Petrovici. Vú còn nhớ mình gởi cho Lidia kiện hàng cuối cùng ngày nào không? Hình như đã bốn tháng rồi mà sao tôi chưa thấy trả lời. Tôi sợ đã có gì không hay xẩy ra. Rất có thể cảnh sát đã tịch thu gói quà. Và họ sẽ trở lại đây điều tra mình. Tốt hơn hết nên đốt các bức thư này đi.
Eddy nghĩ tới người em họ, Lidia Petrovici đang ở tại Quốc gia Nam tư, một quốc gia đang thanh trừng Do Tháimột cách khốc liệt. Lidia phải sống dưới một tên giả. Nàng là một trong những người Do Tháicòn sống sót. Gởi những gói quà cho Lidia thật là nguy hiểm quá. Vì vậy Eddy phải đốt những bức thư mà Lidia đã viết để báo tin đã nhận đều đặn thuốc men, sô cô la và quần áo do nàng gởi.
Tinka hỏi: “Xin lỗi cô, cảnh sát đến đây là vì tôi; đáng lý tôi không nên gây cho cô điều phiền phức đó.”
Eddy trả lời: “Có can dự gì đến vú đâu mà vú nhận lỗi. Thôi, vú lo đốt mấy bức thư đó đi cho rồi.”
Chuông ngoài cửa lại reo lên hai lần, người bấm chuông có vẻ dè dặt.
Eddy bảo ngay: “Vú đừng có ra mở cửa với cả đống thư trên tay nghe” Rồi giật lấy tập thư trên tay Tinka, Eddy dấu xuống dưới tấm khăn trải giường.
III
Một quân nhân trong bộ quân phục màu xanh nước biển đang tiến vào phòng khách, nơi mà một giờ trước đây hai người cảnh sát đã đến. Tinka nói ngay:
– Chắc là tại tôi nữa đây, cô Eddy, thà tôi chết đi cho rảnh còn hơn gây cho cô bao nhiêu là lo lắng. Hồi sáng đã có hai người cảnh sát đến lập biên bản, bây giờ đến lượt một ông quan tòa quân đội nữa. Eddy, cô tha lỗi cho tôi.
– Tinka, yên đi nào!
Eddy vừa nói thế vừa bước ra phòng khách. Viên sĩ quan – nút áo vàng, cầu vai vàng – nghiêng mình chào Eddy một cách bối rối và e dè. Eddy biết thế vì nàng đã học được ở kịch nghệ cách xét đoán để biết một người nào đang tự chủ hay đang mất tinh thần. Người lạ mặt nói:
– Thưa cô, tôi mạn phép đến thăm cô. Tôi là đại úy thẩm phán Pierre Pillat. Tôi chắc là cô đã nhận được thư tôi rồi?
Trong lúc Eddy tiếp tục nhìn khẩu súng lục và lon cấp bật, Pillat có vẻ muốn thanh minh :
– Tôi chỉ ở trong quân đội tạm thời thôi, vì tôi bị động viên.
– Thư ông làm tôi cảm động. Xin thành thực cảm ơn ông. Eddy nói thế.
Nàng mời Pillat ngồi. Cả hai đều cảm thấy câu chuyện khó khăn như là đang gặp nhau cách đây 15 năm.
– Tôi cần thú nhận với cô một điều, Pillat nói, là tôi nợ cô nhiều lắm. Bởi vì trường võ bị Hoàng gia Kichiev, chúng tôi phải chịu đựng một thứ kỷ luật sắt giống như kỷ luật quân đội ở nước Phổ. Chương trình học lại khó khăn. Không có cách nào trốn ra khỏi trường học được dù chúng tôi cố hết sức. Cho nên chúng tôi chỉ sống bằng mộng mà thôi. Bức ảnh của cô là một dịp để tôi mơ mộng. Mỗi đêm tôi mơ đến cô, như thế thật là đẹp …
Nói xong Pillat đỏ mặt.
” Nếu tôi ở ngoại trú thì điều đó có lẽ không xẩy ra. Nhưng những đứa trẻ còn vị thành niên bị nhốt trong trại lính thì không thể sống mà không mơ mộng. Bức ảnh đã bị nhàu đi, xin lỗi cô, bởi vì mỗi ngày người ta đều khám túi, khám sách vở. Tôi phải dấu nó trong bao thuốc lá để khỏi bị tịch thu. Đúng là một nguy hiểm thường xuyên nếu cô bị tịch thu khỏi tay tôi … xin lỗi cô tôi muốn nói đến tấm ảnh của cô cơ !”
Và chàng cười, Eddy nhìn đăm đăm vào cầu vai vàng có số hoàng gia, nhìn vào súng lục, dao găm mà Pillat đang đeo, tượng trưng cho sức mạnh và quyền uy.
” Cô có biết hồi tôi 15 tuổi tôi mơ gì không? Tôi nguyện sẽ cưới cô làm vợ khi lớn lên và không yêu ai nữa cả. Tôi đã nghĩ lại điều đó đêm qua lúc ở hý viện. Tôi ngưỡng mộ cô hết lòng. Cô thật là phi thường trong vai hoàng hậu Saba. Vâng, phi thường. Xem vở kịch xong tôi bèn trở về kiếm bức ảnh và gởi hoàn lại cho cô.
– Trong thư ông có nói đến một người khác cũng hâm mộ tôi… Anh ấy tên là gì nhỉ, hình như là Boris …
– Boris Bodnar. Hắn biến mất từ hồi 15 tuổi. Hắn có bảo với tôi là hắn sang Nga. Từ đó tôi không được tin hắn nữa. Tuy nhiên tôi vẫn cố tìm hiểu về hắn. Tôi có viết thư cho em hắn. Đã có một thảm kịch xẩy ra giữa hai anh em. Khi còn nhỏ, Boris đã chọc thủng mắt em hắn, nên cha mẹ hắn không cho hưởng gia tài nữa. Angelo, em hắn, sau đó đi tu và cũng không biết gì về Boris nữa. Cho đến nay, không còn ai biết tin gì về hắn nữa.
Lúc đang nói, Pillat cố nhìn vào phòng ngủ qua cánh cửa hé mở.
Eddy có cảm tưởng là chàng đang nhìn những bức thư dưới tấm khăn giường. Nàng lấy làm lo ngại nên nói ngay:
– Tôi còn phải đi tập dượt bây giờ, nếu ông muốn, chúng ta có thể gặp nhau lại vào một dịp khác.
Nàng nhìn đồng hồ. Nhưng Pillat vẫn ngồi yên, chàng đang chú ý đến căn phòng. Nỗi lo ngại của Eddy lớn dần. Nàng đâm ra nghi ngờ, sợ rằng cuộc viếng thăm của viên thẩm phán này có một lý do nghề nghiệp.
Pillat hơi khó chịu:
– Tôi còn vài việc phải nói với cô nữa. Như cô đã biết tôi là một viên chưởng lý cho quân đội. Ở chức vị đó tôi biết được nhiều chuyện lắm.
– Như thế, ông đến đây để lập biên bản? À, thì ra bức thư và tấm ảnh chỉ là một cái cớ. Vậy bây giờ ông có thể bắt đầu lập biên bản đi là vừa.
Nói xong Eddy đứng dậy, giận run người.
Pillat bình tỉnh bảo:
– Không hẳn là một biên bản. Tôi chỉ biết là cô có quen với một người đàn bà tên Lidia Petrovici ở Nam Tư.
Eddy tức giận đến tột độ. Nàng muốn quăng một cái gì vào đầu viên sĩ quan nọ đã khéo bịa ra một chuyện tình để vào nhà nàng lập biên bản về Lidia Petrovici.
Pillat vẫn vô tình nói tiếp:
– Cách đây không lâu, ban phản tình báo của chúng tôi đã bắt được một kẻ thù, một tên gián điệp làm công chức ở sở hỏa xa. Người ta đã giao cho tôi trường hợp đó. Trong nhiều thứ bắt được ở biên giới, có một gói quà gởi cho bà Lidia Petrovici, dưới tên bà Debora Paternik. Bị cáo khai là gói quà đó do cô gởi. Gói quà không có gì đáng sợ cả, chỉ gồm thuốc trị lao phổi, sinh tố, sô cô la, cà phê, và một ít áo quần. Vả lại đó là gói quà độc nhất toàn đồ không nguy hiểm tịch thu nơi tên gián điệp đó. Tôi đã không viết tên cô trong bản cáo trạng. Tôi mang kiện hàng trả lại cho cô. Tôi chỉ mong giúp cô một việc nhỏ nhặt.
Pillat mở cặp rút kiện hàng đặt lên bàn, trong lúc Eddy thú thật:
– Chính tôi đã gởi gói quà đó. Lidia Petrovici là em họ tôi đang bị bệnh lao. Đúng ra tôi không có quyền gởi quà choc ô ấy, nhưng tôi vẫn giữ bí mật gởi. Đó là lỗi độc nhất mà tôi phạm phải.
– Thưa cô, đó không phải là một tội trạng. Vả lại như tôi đã nói từ lúc mới vào đây, là tôi đến đây không phải với tư cách một viên chưởng lý.
Cả hai cùng yên lặng. Gói quà đựng thuốc ngừa lao, thuốc chống suy nhược và thiếu máu, một ít sinh tố và chiếc áo choàng đang nằm trên bàn giữa Eddy và Pillat. Eddy bảo :
– Ở xứ những người Slaves miền Nam, tất cả người Do Tháiđều bị đày ải, hay là bị ám sát. Em họ tôi, một người chơi vĩ cầm nổi tiếng trên thế giới, đã thoát được, ít nhất là cho đến bây giờ, và đang sống dưới một tên giả, trong một làng hẻo lánh. Thỉnh thoảng tôi gởi một ít thuốc uống qua trung gian bà Debora Paternik, hiện là người đở đầu cho những người bị đàn áp và là vợ của quốc trưởng Nam tư. Pillat bảo :
– Tôi cảm thấy có lỗi với cô nếu gói quà đó không đến nơi được, vì vậy tôi mới xin lỗi bằng cách giới thiệu với cô một người làm ở sở hoả xa, ông ta sẽ đem kiện hàng ấy đến cho em cô. Anh ta tên là Daniel Motok. Có lẽ ngày mai tôi sẽ bảo anh ta đến đây.
Pillat đứng dậy chào ra về. Eddy nói vọng theo :
– Ông nhớ trở lại chơi nghe. Chúng ta sẽ nói nhiều hơn về thời thơ ấu. Lần này thì chính tôi muốn thoát khỏi thực tế, ông hiểu không, tâm trạng tôi lúc này cũng giống như hồi ông mơ mộng bằng bức ảnh của tôi. Cho nên ông nhớ trở lại nghe. Nhưng tôi van ông đừng mang quân phục. Tôi rất sung sướng được thấy ông mặc quần áo dân sự; đừng mang quân phục đấy nghe.
IV
– Thưa bà tôi là Daniel Motok, nhân viên hỏa xa, người mà ông Pillat đã giới thiệu trước với bà.
Mang cà vạt xám, đeo găng tay, áo choàng đen, Daniel Motok đứng thẳng người trước mặt Eddy Thall.
Nàng mời ngồi và Motok bảo ngay:
– Ông Pillat có cho tôi hay là bà có một kiện hàng cần gởi?
Gói quà gồm có thuốc men và áo quần cho Lidia Petrovici đã sẵn sàng trên bàn. Motok kín đáo nhìn và kiếm địa chỉ, Eddy bảo:
– Ông chỉ cần giao cho người bồi phòng của bà Milostiva Debora Paternik và dặn ”gói quà này của Lidia.” Thế là đủ.
Motok cất kiện hàng vào va li xong đứng dậy và sửa soạn ra về. Eddy dặn thêm:
– Tôi xin ông trao tận tay người bồi phòng tên Ivo Dopplhof. Đó là một ông già tóc đã bạc. Ông có thể nhận ra ông ấy dễ dàng. Vả lại, đó là người bồi phòng độc nhất ở với bà Debora Paternik, trong bất cứ trường hợp nào, xin ông đừng đưa cho lính gác cổng, ngay cả lúc họ yêu cầu.
Motok gật đầu, tỏ ý sẽ thi hành đúng đắn sứ mạng được giao phó. Eddy nói tiếp:
– Tôi tin là ông Pillat đã cho ông biết mọi chi tiết. Trong gói này chỉ có thuốc men cho một người em họ tôi đang bị bệnh, ngoài ra không có gì khác nữa. Bà Debora Paternik là vợ của Quốc trưởng xứ Nam tư.
– Dạ thưa không có gì. Trái lại, thật là một vinh dự lớn lao cho tôi được giúp bà một việc nhỏ mọn này.
Nói thế nhưng Motok biết rằng sẽ thất lễ với Eddy nếu mình từ chối hẳn, nên Motok bảo ngay:
– Nhưng bà muốn trả công cho tôi thì tôi xin nhận một giấy mời dự buổi trình diễn vỡ tuồng Hoàng hậu Saba vào tối thứ sáu. Vào lúc đó tôi sẽ báo tin cho bà hay là món quà đã được trao tận tay hay chưa.
Bỏ vào túi tấm danh thiếp có chữ ký của Eddy Thall để được vào cửa hý viện vào tối thứ sáu sắp đến, Motok bảo :
– Tôi sẽ trở về hồi 7 giờ tối thứ sáu. Thế là còn thừa thì giờ để tôi về nhà, thay áo quần, vì xuất hát 9 giờ mới bắt đầu. Xin cảm ơn bà nhiều lắm.
Motok bước ra cửa. Lúc nào cũng chững chạc. Cách đi đứng, ăn mặc, nói năng của Motok thật giống như một chiếc đồng hồ và thời khắc của các chuyến xe lửa. Eddy gọi điện thoại cho Pillat báo tin là Motok đã đến và để luôn thể cảm ơn Pillat:
– Đây là lần đầu tiên tôi gởi một gói quà cho Lidia mà không hề sợ hãi bì biết chắc là nó sẽ đến đúng chỗ. Xin càm ơn ông nhiều lắm.
– Motok là một người đáng tin cậy. Pillat trả lời qua máy điện thoại.
Trong thời gian đó, Motok đứng lại trước cửa, gài lại găng tay. Motok lúc nào cũng đàng hoàng và không muốn có một bê bối nào trên người.
V
Con chắc là mọi chuyện sẽ yên ổn. Con vừa bị một vài chuyện phiền phức nhưng qua hết rồi.
Eddy Thall đang ngồi, hai chân thu lại trong ghế bành như nàng vẫn làm thế mỗi lúc có chuyện gì vừa ý. Max Reingold đang đứng đối diện với cặp kính viền vàng, áo quần tuyệt hảo, kín đáo, đắt tiền, hệt như một ông chủ ngân hàng. Đó là viên quản đốc của hý viện Thall, ông vừa là người cộng tác vừa là bạn thân của thân phụ Eddy Thall.
– Thưa bác, nguyên một điều bác đến thăm con mà không báo trước cũng đủ làm con sung sướng rồi. Nhiều ngày nay con khổ sở quá. Người ta thúc dục con đuổi Tinka. Người ta tịch thu một gói hàng con gởi cho Lidia, vì người đưa thư là một tên gián điệp. Đáng lý con đã bị liên lụy, cảnh sát đã đến đây. Nhưng mọi sự yên ổn hết. Mọi sự lại sắp tiến hành đều đặn như cũ. Bác lại đến đây nữa, bây giờ con sung sướng quá, thật sung sướng …
Max Reingold ái ngại:
– Con ạ, bác không muốn ở đây lâu, bác còn vài việc phải làm. Bác rất tiếc đã đến đây làm hỏng niềm vui thú của con. Nhưng bác không biết làm sao hơn được ; con ạ, người ta buộc mình đóng cửa hý viện.
Eddy đứng bật dậy. Max vẫn tiếp tục :
– Những hý viện Do Tháithường phải trả một số thuế phụ. Đó chỉ là chuyện cũ. Trước kia có thể nộp thuế trể hay nhiều khi được miễn hẳn. Nhưng bây giờ hoàn toàn khác. Bác được lệnh của bộ nội vụ phải trả thuế trong 48 tiếng đồng hồ hai triệu lei hay là phải đóng cửa. Hoặc thế này hoặc thế kia. Bác đành đóng cửa vậy. Vì chúng ta làm gì có nhiều tiền đến thế và cũng không được triển hạn nữa.
Max Reingold đứng dậy và muốn đi:
– Không còn chi để phải bàn cãi nữa cả, nên bác cũng không ở lại đây làm gì. Đã quá rõ ràng lắm rồi. Chiều nay con lại ăn cơm với bác. Rebecca và Esther gởi lời chào con.
Esther là con của Max, Rebecca là vợ. Eddy thương họ lắm, nhưng bây giờ nàng không thể nghĩ đến họ được nữa.
– Còn một giải pháp là phải tiếp tục trình diễn bằng tiếng Do thái. Nhưng khốn nỗi, dù là gốc Do Tháidiễn viên của mình không hề biết tiếng Do thái. Khán giả cũng thế. Cho nên phải đóng cửa.
Eddy cố giữ Max lại. Max hôn trán nàng và vẫn gọi nàng là Liebes Kind, con thân yêu, như cha nàng từng gọi nàng như thế. Và ông ra về. Đến trước cửa ông còn ngoảnh lại bảo :
– Eddy, có hai người khách muốn gặp con đấy.
Max để cửa mở cho hai người khách vào nhà
VI
Hai ông là cảnh sát? Eddy hỏi.
Cả hai đều mặc áo mưa và một trong hai có mang một cái cặp da. Eddy chua chát:
– Hai ông còn muốn gì nữa đây? Hay các ông đến để bắt tôi cho bà vú nghỉ việc? Thì hai người khác đã đến vì lý do đó rồi? Để đóng cửa hý viện ư? Hai ông còn biết tin tức gì nữa?
Người không mang cặp da bảo:
– Chúng tôi thuộc ủy ban Do thái. Chúng tôi đến đây về vấn đề quần áo.
Nhìn họ, Eddy không thể đoán họ bao nhiêu tuổi, nhưng trong đôi mắt, trên nét mặt, qua cử chỉ, qua tiếng nói, nàng biết rằng họ đang khổ tâm, nàng biết họ đang cảm thấy nhục nhã và sợ hãi. Người nọ nói tiếp:
– Cô biết rằng mội công dân gốc Do Tháiphải tặng cho những công tác từ thiện của chính phủ một số áo quần tùy theo hoàn cảnh vật chất của mình.
Eddy nhận chuông và lúc Tinka đến nàng bảo ngay:
– Vú, mấy ông này muốn lấy áo quần cũ cho ủy ban Do thái.
– Thưa bà, không phải cho ủy ban. Sự thu góp này để dùng vào những công tác của chính phủ. Ủy ban chỉ có phận sự đi nhận mà thôi.
Người thứ hai rút trong cặp ra một cuốn sổ và nói:
– Theo lợi tức khai báo ở sở thuế, bà phải cung cấp ba đôi giày, năm áo sơ mi, bốn áo dài, hai áo choàng …
– Thôi, lấy hết tất cả cái gì mà các ông muốn cho xong.
Eddy bảo thế và nàng mở tủ áo cho họ, giận đến run người.
– Nếu chính phủ đã ra lệnh cho hai ông lấy áo quần của tôi, xin hai ông cứ việc thi hành, lấy đi. Nếu chừng đó chưa đủ, các ông có thể cởi quần áo tôi đang mặc, lấy tất cả cái gì tôi đang mặc trên người, và để tôi trần truồng.
Nói xong, Eddy vào phòng tắm khóa cửa lại và bắt đầu khóc tấm tức.
Hai người lạ nhìn vào tủ áo, có cả chục chiếc áo dài, những thứ mà Eddy dùng để trình diễn những vai chính. Tinka lên tiếng:
– Tôi đưa cho hai ông vài cái áo quần cũ. Nếu chưa đủ, xin mời hai ông vào đây.
Bà dẫn họ vào nhà bếp, sắp ra dưới chân họ một đống quần áo, giày dép cũ. Hai người chọn lựa xong bỏ vào ba lô và ra về có vẻ hài lòng. Chừng đó đối với họ đã quá đủ.
Eddy xuống nhà bếp. Trên ghế còn hai đôi giày đen giống như cánh hoa. Đó là hai đôi giày của thời nàng còn đi học ở lớp vũ.
– Tạo sao họ để thứ này lại? Eddy hỏi:
– Tôi muốn cho họ đấy, cũng là thứ đáng vứt đi, nhưng họ từ chối và bảo là họ không lấy vì không thể liệt chúng vào loại giày da hay giày vải.
Eddy buồn bã nói:
– Tinka, vú biết là chính phủ đã đóng cửa hý viện của tôi. Mai là ngày trình diễn cuối cùng. Họ lấy áo quần, bắt đuổi người giúp việc, rồi đóng luôn cửa hý viện. Tôi sắp phải làm gì nữa đây, Tinka? Vú nói cho tôi biết đi, tôi sắp phải làm gì nữa đây, Tinka? Bởi vì vú à, tôi phải làm một cái gì trước khi chính phủ lấy luôn cả cuộc đời của tôi. Chắc chắn một ngày nào đó họ sẽ lấy luôn cả cuộc đời tôi … Nhưng từ đây đến đó, tôi sẽ phải làm gì?
Tinka vuốt nhẹ đầu Eddy, bà không trả lời gì hơn được cho Eddy lúc này, trong lúc nàng nức nở khóc:
– Tinka, vú nói cho tôi nghe đi, tôi sẽ trở thành như thế nào đây?
VII
Chuyến tàu của Daniel Motok đến thủ đô Bucarest hơi trể. Một giờ trước, đường xe lửa bị thân binh phá hoại. Motok trả giấy tờ cho hành khách toa phòng ngủ và làm biên bản thật nhanh. Đứng trước tấm kính, Motok sửa soạn lại y phục cho đứng đắn, vắt chiếc áo choàng lên vai, xong cầm va li có gói quà của Eddy và đi về hướng biệt thự của bà Debora Petarnik. Thành phố đang chìm trong bóng tối như tất cả các thành phố ở Âu châu vào thời chiến, Motok nhìn đồng hồ và bước nhanh để có thể về trước 9 giờ như đã hứa với Eddy.
“Bà Paternik không mang vương niệm, Motok tự nghĩ, nhưng bà ấy giống một hoàng hậu, bà là đệ nhất phu nhân của quốc gia độc lập của những người Slaves miền nam”. Motok cũng biết mơ mộng như trẻ con, như các thiếu nữ như các thi sĩ vậy. Khi tàu bị đứng lại, Motok, không thể chán nản như những hành khách khác. Y ngồi yên ở ghế và mơ mộng như đang xem màn ảnh hay đang lật những trang sách có hình mầu. Tàu có lẽ trễ đến bảy giờ hay phải ở lại ga cũng nên. Thế mà y không chán nản, không cảm thấy cô đơn vì y vẫn sống bằng mộng, nhưng bây giờ y đang mơ tới bà Paternik lúc đi đường, va li trên tay. Y nghĩ đến hình ảnh những hoàng hậu trong các sách sử để có thể dễ tưởng tượng nhiều hơn về Milostiva Paternik. Y hãnh diện sẽ được vào trong biệt thự của bà hoàng hậu và đưa gói hang cho người bồi phòng già, tóc bạc.
Nhưng hàng chục tiếng còi báo động bỗng vang lên trong thành phố lôi Motok ra khỏi giấc mơ vừa rồi.
Motok trốn vào bức tường bên đường. Bầu trời hình như đang nổi lửa, lửa bốc lên từ lòng đất cùng một lúc với những tiếng còi báo động và những tiếng gầm của động cơ? Lề đường rung động, bức tường Motok đang dựa cũng rung lên. Năm xe mô tô có đèn pha và còi hụ đang lên dốc sau lưng Motok, đèn pha như đang đốt cháy mắt y, lột trần thân thể y. Y càng bám sát vào tường đá để đỡ thấy trần truồng. Ba chiếc xe hơi theo sau cùng, đèn pha chói sang và còi hụ inh ỏi. Motok tái mặt. Hàng mô tô ở dưới đường tiến lên hình như bay hẳn lên không trung, tiếng còi loãng ra trong mây cùng vói những tia sang của ánh đền pha, Motok run lẩy bẩy.
Motok quay đầu lại, một người đứng cạnh y nói:
– Tướng Lilan Paternik đấy!
Lính cưỡi mô tô mạc áo choàng bằng da, nón sắt dưới ánh sáng đèn pha trông như những người bằng kim khí, ánh thép hiện cả lên ánh mắt của họ nữa.
Mắt của Motok nhức nhối vì ánh đèn pha. Thái dương y ù lên. Y phải quay mặt vào bóng tối.
– Tướng Milan Paternik bao giờ cũng chỉ đi ban đêm với chừng ba xe hơi và 20 mô tô. Đèn, còi hụ với tốc lực 120 cây số giờ. Ông tướng đó không bao giờ di chuyển khác hơn. Một ngày nào đó ông ta sẽ vỡ mặt ; không thể nào đi như thế mà không vỡ mặt được.
Người lạ đứng gần Motok cười héo hắt, và nói tiếp:
– Ông bạn có biết tướng Paternik đi đâu không? Có lẽ ông vừa mới biết trong một góc phố nào đó người ta vừa mới khám phá ra một người Do Tháihay một người theo Chính thống giáo. Nhưng chắc chắn là một tố cáo láo, vì từ lâu trong xứ nàykhông còn Do Tháivà Chính thống giáo nào nữa. Họ bị giết hết rồi. Tuy thế mà ” người hùng Paternik ” vẫn xuất hiện với đoàn mô tô sát nhân của hắn mỗi hắn biết có một người Do Tháivừa bị tố cáo. Nhưng chắc chắn hắn sẽ không còn tìm được người Do Tháinào nữa. Thôi chào ông nghe ! Milan Paternik sẽ không còn tìm thấy một người Do Tháinào ở đây nữa.
Rồi người đó đ ixa, đi sâu vào bóng đêm.
Motok thầm nghĩ: ” Eddy Thall bảo với mình là Lidia Petrovici gốc Do Thái. Người này lại bảo không còn ai Do Tháiở đây nữa, sao thế nhỉ? ” Motok hấp tấp đi về biệt thự của bà hoàng đầy lòng tốt Debora Paternik.
VIII
Cổng biệt thự của bà Debora Paternik mở rộng, 20 chiếc mô tô tiến vào sân. Tiếng còi hụ ngưng hẳn. Ánh đèn pha vẫn giữ sáng và máy tiếp tục nổ. Những người mang áo choàng da, mặt đanh như thép, vẫn ngồi trên mô tô và sẵn sàng đi.
Milan Paternik xuống xe, bước lên bậc tầng cấp bằng cẩm thạch. Trông hắn trẻ như một tên học trò. Chỉ có huy hiệu cấp tướng, những ngôi sao trên nón và mầu vàng trên tay áo phản chiếu ánh đèn là có thể minh chứng hắn không phải là một tên học trò. Hai người cao lớn cũng mang áo choàng bằng da đã đứng sẵn ở cửa vào. Chuông reo không ngừng chẳng khác gì tiếng còi hụ. Cửa mở. Không chần chừ, Milan bước vào. Chẳng thèm để ý đến tên bồi phòng Ivo Doppelhof. Hắn tiến sâu vào tấm thảm ở phòng khách. Hai người cảnh sát đứng ở phòng ngoài. Tất cả như là đang bao vây căn biệt thự này.
Milan Paternik nói gần như thét:
– Gọi mẹ tôi ra ngay!
Hắn đang đứng trong phòng khách một mình. Dừng lại trước tấm gương soi lớn, Milan dơ hai tay vuốt đôi má nhợt nhạt, gầy gò của hắn, như má của một bệnh nhân ; rồi hắn nhìn kỹ đôi mắt mệt nhọc nhưng tàn nhẫn của hắn, nhìn chiếc áo choàng có cầu vai vàng phản chiếu bộ mặt hắn – như những ánh đèn pha.
Hắn thầm nhủ ” Mình mệt quá ” Nhưng hắn vẫn hãnh diện về sự mệt mỏi đó và không hề cố gắng kiếm giấc ngủ êm đềm.
Ở phòng bên, bà Debora đã sửa soạn xong. Ivo đang đứng gần cửa. Milostiva hỏi :
– Hắn vẫn nóng nảy như mọi lần ?
– Dạ thưa bà, ông ấy vẫn nóng nảy như thường lệ.
Milostiva không muốn nói chuyện với hắn nữa ; nhưng có ai trái ý Milan cho được. Hắn rất ít đến thăm mẹ hắn. Mỗi lần thăm viếng thường tẻ nhạt và gay cấn. Milostiva hỏi lại một lần nữa:
– Hắn nóng nảy lắm sao?
– Vâng, rất nóng nảy, thưa bà.
Milan Paternik mới có 26 tuổi, nhưng mọi người biết rõ công trình của hắn, ngay cả một đứa con nít. Hắn đã giết tám trăm ngàn dân Do Tháivà người Chính thống giáo.
“Hình phạt lớn lao nhất cho một người mẹ là có một đứa con sát nhân, một đứa con chỉ biết bơi trong máu”. Nghĩ như thế, bà Debora đành lau nước mắt, giọt nước mắt nhỏ như một hạt ngọc. Và bà bước vào phòng khách, người thẳng, mắt nhìn về phía trước, ngay phía Milan đang đứng.
– Milan, tại sao con còn giữ áo choàng.
Milan không hôn tay mẹ như thường lệ. Hắn xoa hai tay, có vẻ rất nóng nảy, và không chịu ngồi xuống.
Milostiva nhìn kỹ bộ mặt tái nhợt, đôi mắt nhọc mệt, đôi vai gầy gò của Milan. Bà không cần biết đến cấp hiệu tướng lãnh trên vai con bà. Bà chỉ đau lòng nhìn đứa con bà đứng đó, nhọc mệt, xanh xao vì làm việc quá sức. Bà đến gần và nói:
– Đưa tay cho mẹ cầm, Milan, con gầy quá!
Đôi tay già yếu, khô đét của Milostiva cầm lấy hai tay của Milan.
– Tại sao con vẫn mang găng tay?
Hỏi thế và bà đăm đăm nhìn đứa con. Đáng lý bà đã hôn chiếc trán cao của Milan, nhưng bà không còn đủ can đảm. Bà đành xiết chặt đôi tay còn mang găng của con bà như không muốn rời ra nữa. Bà thừa biết là con bà, không còn nghe lời bà nữa, lúc nào hắn cũng ngoan cố, như thời còn trẻ. Milan bảo:
– Mẹ, con khổ quá đi mất.
Vừa xiết chặt tay con, Milostiva vừa bảo:
– Có chuyện gì làm con khổ tâm, con cứ kể cho mẹ nghe. Mẹ sẽ giúp con. Nhìn thẳng vào mắt mẹ đi con, đừng quay nhìn nơi khác, vâng, nhìn mẹ như hồi con còn nhỏ ấy mà.
Trong chốc lát. Milan nhìn thẳng những nét nhăn nheo trên làn da trắng trẻo của bà mẹ, nhưng rồi hắn lại quay nhìn nơi khác, tay vẫn cầm hai tay bà mẹ.
– Điều con sắp nói với mẹ làm con khổ tâm quá.
– Milan con, không ai hiểu nổi khổ của con bằng mẹ đâu. Cứ nói đi, Milan, có chuyện gì quan hệ đã xảy ra đến cho con?
Milan bỗng nhiên hỏi mẹ với một giọng nói cứng rắn:
– Thưa mẹ, mẹ biết con là ai không nhỉ?
Nghe hỏi thế, Milostiva nghĩ đến hàng trăm nghìn người vô tội đã bị Milan giết chết. Bà muốn thét lên vì đau khổ, nhưng bà đã tự chủ được, và dịu dàng trả lời:
– Milan, điều gì con đã làm mẹ không cần biết, con vẫn là con của ta và ta vẫn là mẹ của con.
Milan đứng dậy:
– Vâng, thảm kịch là ở chỗ đó mẹ ạ, ở chỗ mẹ là mẹ của con. Vậy con xin mẹ trả lời cho con biết và đừng ngại ngùng gì cả. Con là ai? Mẹ là mẹ của con nên con thiết tưởng mẹ biết rõ điều đó hơn ai hết.
Milostiva không trả lời, bà vừa khóc vừa nhìn con. Milan tự trả lời cho hắn:
– Con sẽ nói cho mẹ nghe con là ai. Con sinh ra cách đây 26 năm ở Budapest, ở một thành phố mà mẹ và cha con đang bị lưu đày. Cả mẹ và cha con đã điều khiển một tổ chức chính trị lấy tên là Zadom, do sở tình báo lập nên. Đáng lý, Zadom phải giải phóng cho dân tộc ta thoát khỏi gông cùm ngoại bang. Nhưng trên thực tế, đó là một tổ chức khủng bố hoạt động trong biển Balkans cho đế quốc Anh. Các chị con và con đều được giáo dục theo tín điều của Zadom. Câu đầu tiên mà con học nói là ” Tổ quốc ở trên tất cả “. Cùng với các môn học La tinh, sử địa, mẹ đã dạy con bắn súng, phóng dao, xử dụng súng liên thanh, mẹ đã hãnh diện vì con. Chờ đợi mãi tổ quốc vẫn chưa được giải phóng và cho đến năm 20 tuổi con vẫn chưa hề đặt chân lên quê hương. Đó là niềm khao khát nhất của đời con.
Milostiva tiếp lời:
– Tất cả những kẻ bị lưu đày đều hy vọng một ngày nào đó sẽ trở về với quê hương, đó là một niềm khao khát thiêng liêng. Mẹ đã không hề ân hận khi nuôi con trong tin điều của tự do, của lòng yêu quê hương, của ý thức độc lập quốc gia. Và mẹ vẫn hãnh diện đã giáo dục con trong những tình cảm thiêng liêng đó.
Milan hỏi thêm:
– Mẹ có nhớ chuyến du lịch đầu tiên của chúng ta ở La Mã không nhỉ? Thật con ngạc nhiên vô cùng. Trong tất cả các xứ ở Âu Châu mà gia đình ta đã buớc chân đến, chúng ta chỉ biết có nhọc nhằn và khổ sở.
Ở các phòng trong khách sạn, mẹ vừa phải đánh máy những tiểu luận cho báo chí, những biên bản những buổi họp, vừa phải làm bếp, giặt rửa. Đời sống chúng ta ở đâu cũng thế cả, Bá Linh, Ba Lê, Hung gia lợi, Berne, Genève, Sofia, Bucarest, đâu đâu cũng chỉ là những phòng trọ cùng những cuộc họi họp bí mật. Mẹ phải giặt áo quần, đánh máy, nấu khoai tây. Thế mà bỗng nhiên, chúng ta du lịch sang La Mã. Ở một căn biệt thự lộng lẫy, tiêu pha rộng rãi, xe hơi đón rước, lính hộ vệ bên mình. Rồi báo chí, người giúp việc đầy đủ. Mẹ có nhớ những điều đó không nhỉ? Mussolini đã mời Zadom cộng tác với phát xít. Người Anh, chủ nhân ông của mẹ, đã bảo với mẹ rằng đó là một lời mời không nên từ chối. Họ muốn Zadom hợp tác với phát xít để họ lấy tiền của Phát xít mà phụng sự cho quyền lợi của Anh quốc trong biển Balkans.
Milostiva ngắt lời:
– Trên chính trường những cuộc hợp tác giai đoạn như thế rất thường xảy ra. Điều mẹ đã làm không có chi mới lạ cả. Người Anh đã bảo trợ và khuyến khích mẹ trong chiều hướng đó. Tổ chức mẹ đã không làm gì mà không hỏi ý kiến của người Anh. Chúng ta đã đặt hy vọng ở Anh quốc trong cuộc dành lại tự do độc lập cho dân tộc.
– Sau đó mẹ được mời sang Bá Linh?
– Vâng. Và Anh quốc đã khuyên mẹ nhận lời. Đó chỉ là một đường lối do những nhu cầu chính trị hồi đó đẻ ra. Nhưng chỉ là tạm thời mà thôi.
– Vào năm 1940, gia đình chúng ta đang ở Bá Linh. Rồi họ đánh thức chúng ta dậy lúc nửa đêm để báo tin là mộng chúng ta đã đạt được. Giấc mơ của mẹ của cha con và của dân tộc đã thành. Tổ quốc đã được tự do và độc lập. Quốc gia đón tiếp mẹ và cha như hai vị anh hùng. Cha mẹ đã giải phóng cho dân tộc, và con được cử làm giám đốc sở cảnh sát, được phong cấp tướng. Ngay từ lúc đầu, từ lúc đầu mới mới phục hồi độc lập, con đã muốn thực hiện ngay các điểm khác của chương trình Zadom. Dĩ nhiên là mẹ đã biết rõ vì đã bao nhiêu lần mẹ đánh máy các điểm đó của chương trình, nào là độc lập, chủ nghĩa xã hội quốc gia chống chủ nghĩa Bôn sơ vít của Nga và chống Do Tháinữa.
Milostiva òa khóc, bà bảo :
– Vài điểm khác của chương trình đã được thêm vào sau này; như là để đổi lấy viện trợ đã cho, Hitler và Mussolini đòi chúng ta phải thảo kế hoạch chống Bôn sơ vít. Người Anh yêu cầu chúng ta chấp nhận lời đòi hỏi đó. Họ nói là các điểm đó, trên thực tế, sẽ không bao giờ được áp dụng, rằng sau khi giúp ta giải phóng quê hương, người Anh sẽ cố giúp chúng ta tạo được một nền tự do dân chủ trong quốc gia chúng ta.
– Thực ra, người Anh vẫn ở lại xứ họ và mẹ đã phục hồi tự do cho dân tộc nhờ viện trợ của Phát xít, như là Luân Đôn đã khuyên mẹ làm như thế. Và, bây giờ, mẹ đã thấy trong quốc gia nhỏ bé này có cả một chương trình Phát xít. Riêng con, con không biết chương trình nào khác hơn nữa. Con không hề biết là có vài điểm của chương trình cần áp dụng triệt để để còn vài điểm khác thì không. Con tin tưởng ở Zodom. Con không biết cuộc sống nào ngoài Zadom. Con đã quét sạch hết tất cả các thành phần thấp kém trong nước như Tziganes. Chính thống giáo, Do Thái. Ngày mà Himmler bắt tay và khen con về tổ chức chặt chẻ của quốc gia ta, ông ta bảo rằng: ” Đức quốc đã không thành công bằng ông trong chiến dịch trừ Do Thái. Quốc gia ông là quốc gia độc lập nhất không còn một người Do Tháinào cả. Vâng, không còn một người Do Tháinào nữa, một quốc gia độc lập không thể dung dưỡng bất cứ người Do Tháinào “. Himmler cười, rồi bảo tiếp : Ông còn một người Do Tháitrong nước, nhưng người đó, ông không thể giết chết. Mẹ có biết ông ấy ám chỉ ai không?
Milostiva buồn bã trả lời:
– Chính mẹ đây con ạ. Mẹ là người Do Tháiduy nhất của quốc gia độc lập này.
– Thế thì, tại sao mẹ lại dấu diếm con điều đó. Bây giờ, sau khi đã loại trừ ra khỏi quốc gia hằng trăn nghìn người Do Thái, sau khi đã làm đổ bao nhiêu máu trong nước, con mới biết mẹ là người Do Thái.
Milan Paternik ngồi phịch xuống ghế và nói tiếp:
– Con không lầm lỗi gì cả. Mẹ đã nuôi con trong sự cuồng tính của đảng. Con đã áp dụng chương trình của đảng từng điểm một với tất cả nhiệt thành. Bây giờ biết điều đó, đời con xem như chấm dứt từ đây.
Và hắn đứng dậy, đã xanh xao mệt mỏi, hắn càng xanh xao mệt mỏi hơn. Hắn đến gần Milostiva Debora:
– Nghề nghiệp con đối với con đồng nghĩa với đời sống và lý tưởng như thế đã kết thúc. Vì thế, con đã đến thăm mẹ đêm nay.
Hắn yên lặng giây lát, trong lúc Milostiva hỏi:
– Tất cả điều đó đều do mẹ phải không con?
Vâng, thưa mẹ do mẹ cả.
Người đàn bà già nua đứng dậy vuốt tóc con, trong khi Milan vừa nói: “hết cả rồi” vừa chỉ cho mẹ hắn một ống thuốc hắn vừa rút trong túi ra.
– Nếu mẹ cho rằng còn một giải pháp khác cho con, con van mẹ nói cho con hay. Nhưng con nghĩ là chỉ có cách tự tử mà thôi. Con không muốn có một cuộc sống nào khác ngoài Zadom, và dĩ nhiên Zadom phải loại trừ con vì con là con của mẹ, con của một người đàn bà Do Thái.
Milostiva vẫn vuốt tóc Milan và nói:
– Thôi, con ráng chờ đến ngày mai. Tình thương của người mẹ sẽ tìm cho con một giải pháp. Con hãy đến đây ngày mai và mẹ con mình sẽ bàn luận với nhau. Mẹ chỉ yêu cầu con một điều là hãy giữ mạng sống cho đến ngày mai. Con hứa với mẹ như thế và mẹ tin ở lời hứa danh dự của con. Bây giờ con vứt ống thuốc đi.
Milan nghe lới vứt ống thuốc độc qua cửa sổ, trong khi Milostiva dặn dò tiếp:
– Con không có lỗi gì cả. Con đã có một đức tin, như mọi người còn trẻ thường như thế. Cha con và mẹ cũng đã có một lòng tin mãnh liệt và đã chiến đấu cho tự do của đân tộc. Dân tộc đã yếu kém lắm, cần phải được giúp đỡ. Nên chúng ta đã xin Anh quốc viện trợ. Thế mà Anh quốc đẩy chúng ta vào bàn tay của Hitler và Mussolini. Chính Anh quốc là thủ phạm. Xin Chúa trừng phạt Anh quốc, Milan, mẹ muốn hôn con một lần cuối.
IX
Người bồi phòng Ivo Doppelhof nghe lóm hết câu chuyện lúc đứng đằng sau cửa. Ivo thầm nhủ:
– Đúng rồi. Milan không hề biết mẹ hắn là Do Thái. Người ta không bao giờ nói với hắn điều đó cả. Mình theo gia đình này trên khắp bước đường lưu lạc, mình biết rõ điều đó lắm. Hắn được nuôi dưỡng trong đường lối đó. Họ đã tin cậy ở Anh quốc, ngỡ rằng một một lúc nào đó Anh quốc sẽ thay đổi chính sách và kế hoạch chống Do Tháisẽ không bao giờ thực hiện cả. Bây giờ kế hoạch đó lại được Milan áp dụng và Anh quốc không hề nói thêm gì nữa cả. Vâng, Anh quốc không bao giờ nói thêm gì cả.
Bên ngoài, đã vang tiếng mô tô, tiếng còi hú, tiếng máy nổ rầm rầm, Milan bỏ đi rồi.
– ” Ivo “
Milostiva gọi Ivo: ông nhón nhén đi vào phòng khách, chờ lệnh.
– Ta muốn đi dạo mát một chút.
Milostiva hầu như không có gì buồn bực. Ivo mang áo choàng đen khoác lên vai cho bà. Thường thường khi nào không ngủ được, Milostiva hay đi dạo mát ở vườn hoa.
– Ivo, nhà ngươi có đứng gần khi ta đang nói chyện với Milan không?
Xuống hết bực thềm, Milostiva bảo:
– Lên trải phòng tươm tất cho ta. Chừng nửa giờ nữa ta sẽ vào.
Ivo để ý thấy bà đang cầm một cây đèn bấm nhỏ, và đi thật chậm trên những lối đi trải sỏi nhỏ.
Ivo đã sửa soạn giường xong xuôi. Có tiếng bước chân nhè nhẹ phía dưới cửa sổ. Ivo nhìn rõ bà Debora đang dừng lại trong đám hoa “Lilas” như đang tìm kiếm một vật gì. Bà cúi xuống đất, rồi nghoảnh mặt về phía cửa sổ và gọi: “Ivo”
Biết ý, Ivo bước xuống thềm, đỡ bà chủ vào phòng:
– Ivo cho ta một cốc nước.
Ivo chế một cốc nước gồm cánh hường trộn lẫn với hoa tilleul và hoa cúc, xong đặt lên mâm cạnh giường. Milostiva nằm yên trên giường cho đến lúc tiếng chân người bồi phòng mất hẳn trên hành lang. Xong bà nhỏm dậy mở tủ lấy chiếc cắt móng tay. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chong, bà dùng chiếc cắt móng tay cưa ống thuốc đã lượm dưới cụm hoa bên ngoài, ống thuốc độc mà Milan đã vứt qua cửa sổ. Hòa ống thuốc vào cốc nước mà Ivo vừa chế, rồi cho thêm một tí đường. Cử chỉ của bà thật chậm rải và bình tĩnh. Nếm thử một ít, Milostiva mỉm cười và tiếp tục uống hết cốc nước, có mùi hương tilleul và cúc. Trông bà thật là thản nhiên : trở lại giường nằm ngay ngắn, bà nhắm mắt lại và mỉm cười. Hương các thứ hoa trong cốc nước tỏa dần khắp cơ thể của bà, trong lúc bà thầm nhủ: ” Ngày mai sẽ không còn một người Do Tháinào nữa trong xứ. Tất cả các điểm trong chương trình Zadom đã được hoàn tất. Con ta sẽ là người lãnh đạo chính trị giỏi nhất. Không còn một người Do Tháinào nữa, Milan Paternik sẽ mạnh hơn cả Himmler. Hắn sẽ hãnh diện và sung sướng, ngực hắn sẽ đầy cả huy chương. Xin Chúa trừng phạt Anh quốc”.
Câu “xin Chúa trừng phạt Anh quốc” vang nhè nhẹ vào tai bà như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo ở phòng bên cạnh
X
Từ khi chế cốc nước cho Milostiva, đã một giờ trôi qua. Ivo không thể nào chợp mắt được. Ông ra hành lang và bước nhẹ gần phòng ngủ của bà chủ. Debora Paternik có chứng thịt thừa ở mũi nên lúc nào ngủ cũng có tiếng khò khè rất nhẹ. Tại sao bây giờ không có tiếng thở giống như con mèo đang ngủ nữa nhỉ. Sinh nghi Ivo bèn đẩy cửa bước vào. Phòng tối om. Milostiva đang nằm dài trên giường, áo quần tươm tất. Ánh sáng qua tấm màn chiếu vào mặt Debora trắng nhợt như một tờ giấy. Lo sợ, Ivo bật đèn và gọi nhỏ:
– Thưa bà, thưa bà.
Bà vẫn nằm yên lặng. Ivo giật mình và giận dữ:
– Quân sát nhân. Quân sát nhân đã giết mẹ nó.
Ivo muốn kêu cứu, muốn gọi tên gác cổng, nhưng ông không có một quyết định nào cả. Ông vẫn đứng yên cạnh giường. Sau đó, ông quỳ xuống cầm tay người chết đặt một cái hôn và để bàn tay Milostiva lại trên ngực của bà. Xong ông làm dấu cầu nguyện.
Ivo đứng dậy đi ra cửa; đến ngưỡng cửa ông ngừng lại, nhìn một lần nữa thân thể người đàn bà già nua đang yên nghỉ trên giường hai tay khoanh trước ngực trong chiếc áo nhung đen, khăn quàng vứt trên nệm như chiếc cánh con chim bị thương. Ivo trở về phòng.
Ivo hấp tấp sửa soạn va li, mang áo choàng, xem lại tấm thông hành đã cũ có dấu hiệu chiếu khán qua Thụy Sĩ xong bỏ vào túi. Ông nhìn quanh một lượt. Trên móc áo còn bộ áo bồi phòng có huy hiệu vàng. Từ nay ông không cần đến nó nữa. Ngoài va li và giấy thông hành ra, thực ông không cần lấy gì trong nhà nầy nữa. Không cần gì nữa.
Ivo lại vào phòng của Milostiva lần cuối. Va li bên tay trái, mũ bên tay phải, ông cầu nguyện cho người đã chết và nói nho nhỏ:
– Thưa bà, bây giờ bà không cần đến tôi nữa.
Yên lặng một chốc, đầu hơi cúi thấp xuống. Ivo nói tiếp:
– Cũng không còn lý do gì để tôi theo bà về nghĩa trang. Thôi vĩnh biệt Milostiva.
Lau nước mắt, Ivo cầm lấy mũ, bước ra khỏi phòng bằng cửa sau, đèn nhà vẫn để sáng. Vừa đi, Ivo vừa thầm nghĩ:
“Đã 40 năm mình làm bồi cho Milostiva. Bây giờ mình đành trở về Thụy Sĩ, đành trở về quê hương vậy”
Và ông bước về phía trung tâm thành phố.
XI
– Tôi hoàn toàn không cho ai biết về cái chết của Debora Peternik. Người bồi phòng đang đứng trước mặt Ante Petrovici, vị bộ trưởng nội vụ của xứ những người Slaves miền Nam. Ông đang cố tìm chữ để diễn tả. Vali và mũ vẫn cầm trên tay, ông đứng trước bàn giấy mà không muốn ngồi xuống. Ông nói tiếp:
– Trước khi ra ga, tôi đến để báo cho ông hay sự việc đã xẩy ra như thế nào về cái chết của bà Debora.
Ante Petrovici vẫn yên lặng. Ivo tiếp tục:
– Tôi nghe hết tất cả buổi nói chuyện giữa hai mẹ con họ. Còn thuốc độc thì chính Milan đã đưa cho bà ấy. Vâng, chính thế. Tôi không động chạm gì vào người đã chết, chỉ khoanh hai tay bà lại trước ngực thôi. Rồi tôi ra đi, vẫn để đèn sáng. Chỉ có thế, thưa ông.
Trước mắt Ante như có bóng đêm đen, ông gác ống nghe vào chỗ cũ, mang áo choàng và bước đi khập khễnh không nói một lời nào. Cũng không thèm quay nhìn Ivo. Không cần nhìn ai nữa, không cần nhìn cái gì nữa. Xa lánh hẳn mọi sự. Ivo hỏi: “Ông có thấy gì trở ngại nếu tôi từ giã xứ này đêm nay không? Tôi sẽ trở về quê hương tôi. Tôi ở lại đây cũng chỉ vì Milostiva “
Ante nhìn thẳng vào mắt Ivo. Ivo nói tiếp:
– Tôi sẽ đáp chuyến tàu 0g30 sáng.
– Chúc ông đi mạnh giỏi, tôi sẽ lo mọi việc cho Milostiva. Ante nói thế, như trong một giấc mơ. Ante là một nhà trí thức với bộ óc thông thái và bộ râu màu nâu như râu của thi sĩ Rainer Maria Rilke. Ông ta bắt tay Ivo và mở cửa.
Ivo bỗng nói như van nài :
– Thưa bác sĩ, tôi cần thú nhận điều này nữa. Xin bác sĩ tha lỗi bởi đáng lý tôi không nên xen vào… Đó là việc của bà Lidia, người vợ cũ của bác sĩ. Milostiva thường hay giúp đỡ bà ấy tiền nong, thực phẩm và thuốc men. Nay Milostiva chết đi, tôi không biết bà ấy sẽ ra sao. Đó là tất cả điều tôi muốn nói thêm với bác sĩ.
Ante ngạc nhiên:
– Lidia đã ra ngoại quốc lâu lắm rồi, đã hai năm rồi.
– Không, thưa ông. Bà Lidia vẫn ở đây, hiện đang trốn ở Dalmatie trong một làng nhỏ, dưới một tên giả. Chỉ Milostiva biết địa chỉ của bà ấy thôi, và thường tìm cách giúp đỡ Lidia. Nay Milostiva không còn nữa, Lidia lại đang đau …
– Ông chắc chắn như thế chứ?
Ante Petrovici đã ly dị vợ cách đây bốn năm. Lidia là một nghệ sĩ chơi vĩ cầm nỗi tiếng. Ông ta yêu Lidia lắm nhưng không thể sống chung được, vì Lidia bị bệnh thần kinh, nên càng ngày càng trở nên gắt gỏng. Họ đành phải ly dị nhau. Lidia nổi tiếng khắp nơi, tại Mỹ cũng như tại Pháp và Anh. Ante chỉ biết mơ hồ là Lidia đã bỏ đi sau khi ly dị. Ông ta hỏi Ivo một lần nữa:
– Ông chắc chắn là Lidia không ra ngoại quốc?
– Thưa bác sĩ, chắc chắn như thế.
– Lidia là một người Do Thái, nên phải trốn tránh vì tất cả Do Tháiở quốc gia những người Slaves miền Nam đều bị giết. Ante ngạc nhiên:
– Tại sao Milostiva không bao giờ nói với tôi điều đó. Cả ông nữa, ông cũng giữ kín nốt.
Ivo nhún vai. Trong khi Ante nghi ngờ :
– Không thể nào Lidia còn sống được. Vâng không thể nào, nhưng nếu nàng còn sống, tôi sẽ lo liệu. Ivo, ông có thể ra đi. Chúc ông đi may mắn. Nếu Lidia còn ở đây tôi sẽ tìm ra.
Trước khi Ivo ra cửa, Ante còn quay lại hỏi:
– Ông không biết địa chỉ của Lidia sao?
– Thưa ông, chỉ có Milostiva biết mà thôi.
Không còn gì để hỏi nữa. Ante để cho Ivo ra ga. Ivo sẽ trở về xứ để có thể xây một căn nhà và sống bình dị, khi không còn là một tên bồi phòng nữa. Mà bây giờ thì dĩ nhiên ông ta không còn là một tên bồi phòng nữa rồi.
Ante trở lại văn phòng một mình. Nhắc ống điện thoại lên, Ante bảo với nhân viên:
– Anh báo cho quốc trưởng biết là Milostiva Debora Paternik đã chết. Vâng, bị giết bằng thuốc độc. Chỉ biết có thế lúc này thôi. Tôi sẽ đích thân đến biệt thự của Milostiva.
Mặc áo choàng, đội mũ xong, Ante nhận chuông, một sĩ quan chạy đến, Ante ra lệnh:
– Tim xem thử bà Lidia Petrovici, người vợ cũ của tôi đã ra ngoại quốc chưa? Làm cho tôi một biên bản rõ ràng, sau khi hỏi kỹ các ban tình báo và các nơi. Nơi nào cũng phải hỏi cả đấy.
Xong, Ante lau mồ hôi trán và vội vã ra đường
XII
Motok trở lại ga với gói quà của Lidia. Không ai trả lời cho hắn đến nhà Milostiva cả. Eddy Thall đã dặn hắn là không được đưa gói quà đó cho lính gác cổng. Thế mà có ai trả lời hắn đâu ngoài mấy người lính gác cổng. Hắn nhìn đóng giấy thông hành của hành khách trên xe lửa mà không thèm mở ra xem nữa, vì đã mệt mỏi với cảnh tượng xảy ra ở biệt thự Milostiva. Hắn đã nhấn chuông suốt nửa tiếng đồng hồ. Vô ích. Cuối cùng rồi cũng phải bỏ về. Người bồi phòng không hề lên tiếng.
Bỗng có tiếng súng nổ, liên tiếp, sát toa phòng ngủ, Motok mở cửa sổ của toa xe nhìn xuống. Trên sân ga, cách toa xe có vài ba bước, một nạn nhân đã ngã gục, vali còn nằm bên cạnh. Mấy người lính mang tiểu liên chạy lại lấy cái vali và ôm người chết lên.
Một người khác dùng mũi súng cố móc cái mũ của nạn nhân đang nằm giữa đường rầy dưới toa xe.
Không còn ai ở trên lề đường nữa. Bốn người lính đã kéo nạn nhân ra khỏi ga.
Motok nhìn vũng máu lớn chảy trên đường nhựa thành một vệt dài ra tận lối đi, vũng máu của người chết mà bốn binh sĩ đã kéo xếch ra khỏi ga xe lửa. Motok lau nước mắt. Hắn muốn ra khỏi toa nhưng một tốp lính khác đã đứng gác ở hành lang to axe. Một viên sĩ quan la lên:
– Giấy tờ của hành khách đâu hết?
Motok chưa kịp trả lời thì viên sĩ quan nọ đã vồ lấy giấy tờ đang để trên bàn và xét thật nhanh, từng tờ một. Sau cùng ông ta cầm lấy một giấy thông hành cùng với một vé xe lửa. Motok muốn xem tên trên tấm giấy thông hành đó lắm nhưng không kịp. Viên sĩ quan bảo Motok :
– Phòng số năm trống rồi đấy.
Rồi ông thản nhiên bỏ giấy thông hành của Ivo Doppelhof vào túi. Motok thầm nghĩ : ” Đúng là hành khách phòng số 5 vừa bị giết “.
Hai người lính khác tiến vào toa xe xem thử Ivo còn để lại vật gì không. Motok muốn xuống tàu một lát xem thử có chuyện gì xảy ra, nhưng toa xe đã bị lính gác chận hết. Không ai được phép xuống ga cả. Hắn đành phải ở lại trên tàu và tiếp tục xem xét giấy tờ của các hành khách khác. Sau khi tàu đã khởi hành hắn đi khám một lần nữa. Các phòng đều đầy đủ cả. Có nhiều nhà ngoại giao, sĩ quan và kỹ nghệ gia Đức. Khi tàu đã rời quốc gia những người Slaves, một hành khách người Ý vừa gọi một chai bia vừa hỏi Motok:
– Anh có nói chuyện với người Thụy Sĩ đó trước khi ông ấy bị giết không ? Motok ngạc nhiên, không hiểu ông khách muốn nói đến người Thụy Sĩ nào.
– Cả thành phố ai cũng biết, anh chứng kiến tận mắt cảnh đó anh lại không biết sao. Mà ông ấy lại là hành khách phòng số 5 của anh nữa.
Motok trả lời :
– Tôi chưa kiểm soát lại giấy tờ, nên chưa biết tên nạn nhân là ai cả. vả lại, tôi không được phép xuống tàu nên có thấy mặt nạn nhân đâu. Tôi chỉ biết sơ là ông ấy bị bắn trên sân ga, sát toa xe lửa, sau khi ông ấy bị bắt, thế thôi.
– Đúng là Ivo Doppelhof, người bồi phòng của Milostiva Debora Paternick đấy.
Rồi vừa uống bia, người Ý lại nói tiếp:
– Người ta chưa hề thấy ở xứ này chuyện nào khủng khiếp hơn những chuyện vừa xảy ra đêm nay, một thảm kịch thật vĩ đại. Tướng Paternick đã giết mẹ hắn vì vấn đề chủng tộc. Giết mẹ hắn vì mẹ hắn không phải là người Slaves. Thực chưa bao giờ người ta thấy cảnh đó cả. Hắn đã ám sát mẹ hắn bằng thuốc độc. Sau đó hắn cho lệnh bắn người bồi phòng muốn trốn về xứ, nhưng lính đã bắt được và bắn hạ ngay tại ga xe lửa, như anh vừa chứng kiến đó. Milan Paternik muốn giết nhân chứng duy nhất của tội ác tày trời của hắn. Hắn sợ là lúc về đến Thụy sĩ người bồi bàn sẽ kể hết những chuyện mắt thấy tai nghe, nên hắn phải giết Ivo. Nhưng để làm gì cơ chứ, cả thành phố này đều biết cả rồi, và cả Âu Châu cũng biết câu chuyện này rồi.
Motok nhìn lại gói quà của Lidia ở dưới bàn, lẫn lộn trong mấy chai bia, trong lúc hành khách người Ý tiếp tục nói:
– Người ta đã bố cáo trên đài thanh là Milan Paternik đã bị cách chức và bị bắt. Chính cha hắn đã loại hắn ra khỏi chính trường. Lúc nửa đêm, đài phát thanh nào cũng loan tin đó cả anh không nghe gì hết ư? … Ủa, mà anh đang sống ở thế giới nào đó? Sao anh lại không biết là tướng Milan đã bị cách chứ?
Motok lau mồ hôi trán, hắn cảm thấy chóng mặt quá đi mất.
– Ông có chắc người bị giết là Ivo Doppelhof, người bồi phòng của Milostiva Debora Paternck?
– Điều đó ai cũng biết cả. Chỉ có anh là nghi ngờ thôi, trong khi anh lại đủ điều kiện để biết hơn ai hết. Thế anh không trông thấy gì cả ư? Anh cũng không hề nói chuyện với nạn nhân lần nào cả sao? Thôi, mai báo chí sẽ cho anh biết. Thực là một chuyện đáng tởm.
Motok không còn sức để suy nghĩ gì nữa cả. Hành khách người Ý gọi thêm một chai bia nữa. Trong lúc Motok cúi xuống kiếm một chai bia, người hành khách vổ vai hắn và nói:
– Điều quan hệ hơn cả là Ivo là dân Thụy sĩ, vâng, dân của một nước trung lập. Thụy sĩ sẻ phản kháng và tai hại lắm.
Con tàu trườn mình trong đêm tối. Họ đang ở trung tâm của Âu châu, trung tâm của những bóng đêm của những che dấu và lừa đảo.
XIII
Viên đại sứ Đức bảo:
– Đây là một ân huệ hoàn toàn đặc biệt đấy.
Trao cho Ante Petrovici tờ giấy phép vào trại Auschwitz, ông ta nói tiếp:
– Cách đây bốn tuần, Lidia Petrovici bị giam ở Đức. Nhưng bà sẽ được phóng thích và có thể trở về với ông lúc nào ông đến lãnh. Tôi hy vọng là ông sẽ gặp bà khoẻ mạnh. Nhưng tôi yêu cầu ông giữ bí mật hoàn toàn. Những đặc ân này phải giữ kín đấy. Thôi chúc bác sĩ may mắn.
Thế là Ante Petrovici sang Đức ngay ngày hôm đó. Một tuần trôi qua kể từ ngày Milostiva tự tử, Ivo bị ám sát và Milan Paternik bị cách chức – Ante Petrovici cũng không muốn làm bộ trưởng nội vụ nữa, ông đã xin từ chức nhưng không được chấp thuận. Dù thế nào, ông ta cũng theo dõi dấu vết của Lidia, biết được bà đang bị giữ ở trại Auschwitz và đã được chấp thuận trả tự do. Ông tức tốc sang Đức ngay.
Từ hai năm nay, ông ta không hề nghĩ đến Lidia. Nhưng bây giờ thì khác. Lần cuối cùng khi hai người vừa ly dị, nàng đã nói: « Em sẽ ra ngoại quốc. » Rồi chiến tranh bùng nổ, Ante Petrovici giữ chức Bộ trưởng nội vụ và không nghe gì về Lidia nữa.
Ante thắc mắc: « Tại sao Lidia chẳng cần gì đến mình cả?»
« Với chức vụ bộ trưởng, đúng ra mình đã giúp đỡ nàng ít nhiều, nhưng tại nàng giữ hành tung bí mật quá. Dù sao, nàng cũng là vợ mình ». Tuy nhiên Ante không hiểu nổi tại sao nàng lại ghét bỏ mình. Có lẽ tại mình tham gia một chính phủ có chủ trương giết Do Tháichăng. Nhưng mình có hợp tác trong vụ đó đâu. Mình chỉ chuyên về hành chánh mà thôi.
« Thực ra, Lidia vẫn có quyền hận mình, hay nàng có ghét mình chăng nữa thì cũng hợp lý. Ngay cả không hợp tác, mình cũng đã nằm trong thành phần những kẻ sáng lập một thứ xã hội mới. Để thực hiện thứ trật tự mới đó cho cả Âu châu, những « chuyên viên chính trị đó », đã loại trừ một vài chủng tộc như Tziganes và Do Thái, mình cũng đã hoạt động cho thứ trật tự mới đó, thứ trật tự đó chống lại chính con người. » Nên Lidia đã ghét mình, mình đã góp phần vào công cuộc giết người để tạo nên thứ trật tự mới của xã hội Âu Châu. Đó là một tội ác lớn lao nhất đời. Nếu còn nói chuyện với nhau, và nàng có tỏ ra khinh bỉ mình thì cũng là một điều dễ hiểu. Cũng như nàng đã từng xin ngoại quốc giúp đỡ mà không hề mở miệng yêu cầu mình một điều gì cả.
Ante đem theo trong xe nhiều thứ, nào thức ăn, nào thuốc men, áo quần, mền mùng. Tất cả để cho Lidia. Ông ta vội vã qua Đức. Chưa bao giờ ông vội vã như thế, nên khi ông đến Auschwitz, ông ta hầu như hoàn toàn kiệt sức. Ante muốn giải thoát Lidia vài phút sớm hơn. Chậm giây nào để Lidia phải chịu khổ trong cảnh tù đày là lỗi của Ante.
– Thưa ông, bà Lidia Petrovici vừa mới chết.
Nghe thế, Ante đứng lặng người trước viên chỉ huy trại giam đang cầm giấy tờ phóng thích của Lidia.
Thật tai hại, nếu ông đến đây sớm hơn chừng một tuần thì bà ấy còn sống. Tai hại quá, một lệnh phóng thích như thế này thật quá đặc biệt. Tiếc thay lệnh đó đến với một tù nhân đã chết.
– Tôi có thể mang xác về chôn cất ở xứ sở được không ?
– Thưa ông, tù nhân chết trong trại giam đều bị đốt, đó là một thông lệ chung.
Ante muốn bỏ đi. Nhưng ông chỉ huy trại giam xếp lệnh phóng thích Lidia vào hồ sơ. Theo đúng luật lệ hành chánh. Ông ta phải giữ giấy tờ đó lại.
– Bà ấy không để lại thư từ hay vật gì sau khi chết?
Viên trại trưởng mỉm cười mỉa mai:
– Thưa ông, rất tiếc tù nhân ở đây không có lệ gởi thư.
Thế là Ante đành bỏ đi. Vừa đi vừa lẩm bẩm: « Đúng là loại trừ hoàn toàn. Lidia đã bị loại trừ, bị đốt thành than, thành tro bụi, không còn một dấu tích gì nữa. Một hột nút áo cũng không còn ».
XIV
Daniel Motok đến nhà Pierre Pillat và muốn kể hết các chuyện đã xảy ra, bởi báo chí không hề đề cập gì rõ ràng cả. Người ta chỉ nói là tướnng Milan Peternick, giám đốc cảnh sát quốc gia đã bị thay thế. Chỉ có thế thôi. Và rải rác trên các báo chí, người ta đọc được tin Milostiva Debora Paternick vợ của quốc trưởng và là người cộng tác đắc lực nhất của quốc trưởng vừa mới từ trần. Không có tin gì về cái chết của Ivo Doppelhof.
Cầm gói quà của Eddy gởi cho Lidia trên tay, Motok muốn gặp Pillat ngay để kể cho ông ta biết chuyện hắn đến quốc gia người Slaves như thế nào, đến biệt thự Milostiva chỉ gặp lính gác và người chết ở bên trong ra sao, kể chuyện người bồi phòng đã trốn tránh và bị giết trong trường hợp nào.
Và Motok muốn bảo với Pillat: «Tôi không thể đến nhà Eddy Thall để trả lại gói quà này đâu, bởi vì tôi không còn lòng dạ nào kể cho bà ấy nghe câu chuyện hãi hùng vừa xảy ra. Nhờ ông đi hộ cho». Nhưng Pillat không có nhà. Nhìn đồng hồ thì đã 8 giờ tối. Sực nhớ đến tấm danh thiếp của Eddy, Motok nghĩ bụng :
– Thôi mình cứ đến hý viện vậy. Và không cần xem diễn kịch. Mệt quá rồi, nhưng đằng nào cũng phải đến để trả lại gói quà, thế thôi.
Motok gọi tắc xi đi về hý viện. Đến nơi đã thiếu 15 phút đầy 9 giờ. Thế mà cửa lớn còn đóng. Hý viện tối om. Bước lên tam cấp, hắn cố mở cửa chính của hý viện rộng thênh thang. Cửa vẫn đóng. Đặt gói quà xuống bậc thềm, Motok quẹt một cây diêm và tự nhủ «Nếu có trình diễn như thường lệ vào lúc 9 giờ thì vào giờ này hý viện đã mở cửa rồi chứ!»
Ánh sáng cây diêm cho phép Motok đọc một mảnh giấy dán trước cửa có hàng chữ hoa : «Hý viện Eddy Thall ngưng trình diễn tạm thời.»
Motok muốn hiểu lý do tại sao, nhưng chẳng ai ở đó để hỏi cả. Motok lại tự an ủi : “May mà chỉ mới tạm ngưng thôi.”
Trước khi bỏ đi, Motok muốn chắc có đúng như vậy không, hắn bèn quẹt thêm một cây diêm nữa, dòng chữ hoa hiện ra trên mảnh giấy dán ở cửa «Hý viện Eddy Thall ngưng … » chỉ đọc được như thế thì cây diêm tắt. Mảnh giấy chìm trong bóng tối, nhưng chắc chắn là Motok đã đọc đúng. Những buổi trình diễn của hý viện Eddy Thall đã ngưng.
XV
Eddy nói với Tinka:
– Tinka, vú phải ráng lên. Chúng ta không có quyền để thay đổi một điều gì cả. Tôi đã thử hết cách rồi, nhưng người ta vẫn không cho phép tôi để vú làm việc ở đây. Vú phải đi, nếu không cả hai chúng ta phải vào tù. Không một người Do Tháinào có quyền nuôi người giúp việc có đạo Thiên chúa.
Tinka đứng trước mặt Eddy Thall, trong căn phòng mà bà không có quyền quét tước, đã mấy ngày nay. Kể từ ngày bà đi vắng, sàn nhà không được đánh bóng, bụi bám đầy sách vở không ai lau chùi. Nhận xét đó đủ làm cho bà khổ tâm, bởi lẽ không làm những công việc thường nhật đó, bà cảm thấy đời sống của bà không được quân bình nữa.
Eddy nói tiếp:
– Vú cầm lấy gói giấy tờ nầy đi. Vú có cả một cuốn sổ ngân hàng nữa đó. Vú có thể rút tiền ra tiêu lúc nào cần. Tôi đã trả cho vú một năm lương chứ không phải chỉ 3 tháng như luật lệ bắt buộc đâu. Vú có đủ giấy tờ trong gói nầy như trích lục khai sinh, bản sao rửa tội. Vâng, đủ cả đấy.
Eddy đưa gói giấy cho Tinka. Bà chưa bào giờ giữ giấy tờ đó trong người cả, lúc nào cũng nhét trong hộc bàn bởi có lúc nào bà cần đến chúng đâu. Cho nên, Eddy đưa cho bà, bà bỗng nức nở khóc:
– Cô muốn tôi làm gì với những thứ nầy?
– Thì mỗi công dân phải có giấy tờ chứ.
Tinka nghĩ thật thô thiển. Cả khu phố nầy ai mà không biết đến bà, từ người hàng xóm đến bà bán bánh mì, bán thịt, ai cũng biết bà cả thì bà cần gì đến giấy tờ. Ừ, bà không phải là một người cần đến giấy tờ.
Nhìn gói giấy tờ trên tay, Tinka nức nở khóc. Nước mắt chảy xuống tấm căn cước, ướt luôn cả tấm bản sao rửa tội và trích lục khai sinh.
Đối với Tinka, cầm những mảnh giấy đó còn nhục nhã hơn là bị đuổi khỏi nhà. Bà cứ nghĩ: “thật là một điều nhục nhã khi phải trở thành một người đàn bà có giấy tờ. Chỉ có những người đàn bà xấu xa mới cần có giấy tờ mà thôi”.
Và bà vứt gói giấy xuống bàn. Từ giờ cho đến lúc chết đi, bà không thể nào chịu nổi một sự nhục nhã như thế. Bà không phạm tội gì cả để bị bắt buộc cầm giấy tờ lúc bà đã 60 tuổi. Bà cứ nghĩ: “Thực là một sự nhục nhã nếu phải trở thành một người đàn bà có giấy tờ”.
Eddy Thall giải thích:
– Nhưng mà bây giờ ai cũng như thế cả. Vú nhìn tôi mà xem, lúc nào tôi cũng mang theo căn cước trong xách tay.
– Nếu người ta muốn xét giấy tờ tôi, xét giấy tờ một người đàn bà già nua như một kẻ trộm cắp hay vô lại thì thà tôi chết đi còn hơn.
Nói xong Tinka lau nước mắt, rồi chợt nhắc Eddy:
– Mai thứ nam rồi đấy cô ạ.
Bởi vì từ 40 năm nay, Tinka lúc nào cũng giặt áo quần vào ngày thứ năm mỗi tuần, đều đặn như thế, không trừ bữa nào cả.
Nhưng Eddy đã vội bảo:
– Vú đâu có quyền tiếp tục làm việc trong nhà tôi nữa, luật lệ bây giờ không cho phép như thế.
– Tôi sẽ làm việc cho vui mà thôi, luật lệ không thể cấm tôi giặt áo quần vào mỗi thứ năm đâu, như tôi đã làm thế suốt đời.
– Tinka, luật lệ cấm điều đó thật đấy. Nếu vú rửa chén bát hôm nay thì ngày mai chúng ta sẽ vào tù như những người phạm tội.
– Nhưng cô tin là cảnh sát sẽ đi soát từng nhà để xem người ta có rửa chén bát hay không sao?
– Vú à, một người có đạo không được giặt áo quần cho một người đàn bà Do Thái. Vú là người có đạo, tôi lại là người Do Thái, đấy tội lỗi do thế mà ra cả.
Giọng Tinka bỗng trở nên chua chát:
– Thưa cô, cảnh sát xứ này đã bắt hết trộm cướp rồi, và bây giờ vì không có việc gì làm nữa, họ bèn vào kiểm soát từng nhà để xem đàn bà có giặt áo quần hay không …
– Nhưng điều đó còn quan trọng hơn cả người phạm tội trộm cắp nữa. Vì nếu vú giặt áo quần cho tôi, vú phạm tội chính trị, một thứ tội nặng hơn tất cả các tội khác trong xứ nầy. Qua làn nước mắt, Tinka nhìn chiếc giường còn bừa bãi ở trong phòng ngủ, và bà hỏi Eddy:
– Thế tôi có được phép trải giường không thưa cô.
– Không, vú à. Tôi đã nói là vú không còn được phép làm bết cứ việc gì trong nhà tôi nữa.
– Thế việc tôi trải giường cũng thuộc về chính trị hay sao?
– Vâng, Tonka à, tất cả đều là chính trị cả …
Tinka nhìn tách trà trên bàn và rụt rè nói với Eddy:
– Cô lúc nào cũng dùng trà vào giờ này. Nếu tôi đi rót trà cho cô thì có gì là chíng trị đâu. Thế giới có phải ai cũng điên hết để cho rằng như thế là chính trị!
– tất cả việc gì do vú làm trong nhà nầy đều được xem như là xâm phạm đạo luật về chủng tộc, nghĩa là vú đã phạm tội thuộc chính trị. Ngay ở trong tách trà cũng có vấn đề chính trị.
– Vậy có lẽ cô muốn đuổi tôi ra khỏi nhà, bởi vì tôi không thể nào hiểu nổi như thế cả. Giặt áo quần, rót trà lau bụi trên sách vở, có gì là chính trị ở trong các công việc đó? Từ khi tôi còn trẻ, tôi đã rửa chén bát, làm bếp, quét nhà, đi chợ và mặc dù thế, tôi không hề dính líu đến chính trị. Trà là trà, không thể là chính trị được. Áo quần là áo quần, không thể là chính trị được, nền nhà là nền nhà …
Nói đến đây Tinka nức nở khóc.
XVI
Một tuần sau khi hý viện bị đóng cửa, có một viên sĩ quan bước vào nhà Eddy, nét mặt có vẻ vui sướng và dễ thương, trong bộ đồng phục màu xanh da trời và mang huy hiệu phi công. Hắn nói ngay với Eddy:
– Tôi muốn đến thăm căn nhà nầy.
Và không chờ Eddy trả lời gì, hắn nhìn ngay vào phòng khách bên cạnh và hít hà ra vẻ thích thú lắm:
– Thật là một căn nhà tráng lệ, có bao nhiêu phòng tất cả, thưa cô?
– Mời ông ngồi xuống đã.
Eddy muốn ngăn cản hắn đi vào phòng khác nên nàng mời hắn ngồi, nhưng viên sĩ quan tiến về phía cửa sổ.
– Chà cô có một khu vườn đẹp quá, thật là tráng lệ.
Vừa nói thế, hắn vừa móc trong túi ra một mảnh giấy và trao cho Eddy:
– Tôi là Trung úy phi công Varlaam. Bộ kiến thiết đã cho tôi căn nhà này của cô.
Eddy cầm mảnh giấy có tiêu đề và đóng dấu hẳn hoi; đúng là lệnh tịch thu nhà nàng. Tay nàng run lên. Nàng thừa biết thế nào nhà cửa của người Do Tháicũng bị tịch thu, nhưng không ngờ nàng bị tước mất nhà sớm đến thế nầy.
Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt mở lớn của viên phi công và nói:
– Thưa trung úy, làm sao ông có thể đuổi người ta ra khỏi nhà để vào ở cho đành. Đó là một điều mà tôi không thể làm nổi.
Hắn đỏ mặt và nói :
– Tôi mong cô tha lỗi. Như tất cả mọi Sĩ quan chính phủ đã cấp cho tôi một căn nhà. Và tôi được mời đến xem thử tôi có vừa ý căn nhà nầy hay không. Đó là những sự kiện đã xẩy ra. Nhưng tôi không có ý đuổi air a khỏi nhà nầy cả. Xin lỗi cô, tôi cứ tưởng là nhà nầy không có ai ở.
– Vâng, người ta đã xem nhà nầy như là vô chủ bởi vì là nhà của một người Do thái. Đúng thế, một gian nhà do người Do Tháiở được coi như là một gian nhà trống, dù là một gian nhà do chính cha ông tôi tạo ra.
Varlaam nghiêng đầu chào:
– Đó không phải là lỗi tại tôi. Một lần nữa xin cô tha lỗi. Hoàn toàn không phải do nơi tôi.
Và hắn bỏ đi.
XVII
Ngày ngày Eddy Thall chờ lệng dọn nhà. Cái chết của Lidia, chuyện đóng cửa hý viện, chuyện xa rời Tinka, tất cả điều đó không làm cho nàng đau khổ bằng lệnh tịch thu nhà nàng, bởi lẽ căn nhà là nơi trú ẩn mà người ta có thể trốn vào đó để đau khổ. Thế mà nay nàng phải bỏ nó mà đi.
Trong lúc đó Max Reingold vẫn bình tĩnh ngồi đó, trên ghế bành với cặp da, áo quần thẳng nếp, kính gọng vàng như thường lệ. Ông bàn chuyện cùng nàng với tất cả thản nhiên như khi ông đang để cập đến những điều nhỏ mọn chứ không xem như là đang nói đến chuyện quan hệ cho cả cuộc đời của hai người. Ông thản nhiên như đang tính toán một việc gì, bàn cãi như khi đang làm một phép tính cộng hay tính trừ; thản nhiên, khách quan ông ta bảo Eddy:
– Điều may mắn duy nhất còn lại là chúng ta mở cửa lại hý viện. Vâng, mở cửa hý viện Eddy con ạ, năm lần lớn hơn, cho năm ngàn khán giả. Bác đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình.
Nghe thế Edy rướn người lên một chúy? Max tiếp tục:
– Chúng ta còn điều may mắn đó, nhưng không phải ở xứ nầy. Chúng ta sẽ mở lại hý viện ở thủ đô Tel Aviv, tại Palestine. Và như thế chỉ còn một giải pháp độc nhất là chúng ta di cư.
Mắt Eddy Thall sang lên một chút xong lại buồn bã trở lại ngay. Max vẫn nói: Ở xứ Lỗ này chúng ta không còn làm gì được nữa? Tình trạng đã như thế này: hý viện bị đóng cửa, nhà cửa bị tịch thu, người ở bị đuổi ra khỏi nhà. Chẳng bao lâu họ sẽ nhốt mình vào trại tập trung; rồi đốt cháy trong những lò hỏa thiêu như câu chuyện đó xẩy ra ở các nước khác. Với lại, đây cũng không phải là quốc gia chúng ta, chúng ta là người Do thái, tổ quốc chúng ta là xứ Palestine. Cho nên giải pháp độc nhất là hungg ta phải di cư”.
Eddy Thall vẫn chưa nói gì. Max nói tiếp:
– Con không bằng lòng ư? Ít người Do Tháihiện nay được may mắn di cư lắm. Thế mà chúng ta có thể di cư được.
– Thưa bác, con muốn suy nghĩ thêm chút nữa bởi vì có nhiều việc mà chúng ta khổ sở lắm mới từ bỏ được.
– Thế nhưng, chỉ phải rời khỏi nơi đây, con mới từ bỏ được khủng bố và nhục nhã.
– Con không muốn rời bỏ Lỗ Ma Ni. Con sinh ra ở đây và đã xem xứ nầy như quê hương. Mà quê hương cũng giống như một người đàn bà bác đã cưới làm vợ. Cho đến ngày nào đó, nàng đang hoàn toàn xa lạ với bác. Nhưng lúc nào nàng đã trở thành vợ bác thì bác sẽ yêu nàng hơn tất cả mọi người, hơn cả mẹ già của bác, hơn cả chị em ruột thịt của bác. Với nàng, bác có thể từ bỏ hết. Đối với quê hương cũng như thế. Dù đó là một xứ lạ. Đó là đất đai bác đang sống và bác khó lòng bỏ mà đi nơi khác được nữa. Lỗ Ma Ni là nơi con đã sinh ra. Nó còn thân thuộc hơn cả chính tổ quốc của con là xứ Palestine nữa.
Max Reingold đứng dậy :
– Lý luận của con có vẻ hợp lý. Nhưng con suy nghĩ kỹ đi. Bác vẫn tin di cư là lối thoát duy nhất cho chúng ta. Và chúng ta chỉ còn giải pháp đó mà thôi.
XVIII
Eddy nói có vẻ van nài :
– Tôi cho vú một căn gác nhỏ, tôi van vú đừng vào nhà tôi nữa, nếu cảnh sát biết được vú ở đây, họ sẽ tưởng là vú còn phục dịch cho tôi thì phiền lắm.
Tinka đang đứng ở gần cửa, bà lên tiếng:
– Quan tòa Pillat không thể giúp tôi được gì sao?
– Vú à, không ai có thể giúp đỡ chúng ta để chống lại luật pháp cả. Luật pháp còn hung bạo hơn cả thú dữ nữa.
– Nhưng tôi làm gì cho hết ngày đây.
Tinka nhìn Eddy trừng trừng và hỏi như thế.
– Thì vú cứ lên trên gác đi. Và làm việc. Nếu vú chán thì đi xem hát bóng.
Tinka lại khóc nức nở. Đi xem hát bóng ngay trong giờ làm việc như những người đàn bà hư hỏng thật là nhục nhã.
Tinka có thể làm bất cứ việc gì nhưng mà đi xem hát bóng vào sáng thứ ba chẳng hạn thì thực bà không tài nào làm như thế được. Nên vừa bước ra cửa bà vừa khóc ; lên nhà bà, bà uể oải nhúng áo quần bẩn vào chậu nước. Vào lúc đó, có tiếng gõ cửa. Hai người cảnh sát bước vào. Họ quan sát kỹ lưỡng các bức tường. Một trong hai người đến gần chậu áo quần, cầm cái áo cụt bằng vải thô lên xem, trong lúc Tinka nói gần như quát :
– Các ông không biết hổ thẹn khi dí mũi vào chậu áo quần của tôi sao.
Người cảnh sát vẫn tiếp tục nhắc tấm drap, áo quần, khăn tay, cố xem thử trong đống áo quần bằng vải thô của Tinka có lẫn lộn áo lụa hay áo vải của bà chủ hay không. Nhưng chỉ toàn là áo quần của Tinka thôi.
Bực mình, Tinka đuổi:
– Các ông đi đi, ra khỏi nhà tôi ngay.
Viên cảnh sát phản đối:
– Chúng tôi chỉ biết làm phận sự. Nhưng nếu bà tiếp tục nói như thế thì buộc lòng chúng tôi phải làm một bản cáo trạng về tội bà lăng nhục nhân viên công lực.
Nhưng Tinka vẫn tiếp tục chửi rủa tàn tệ:
– Ngay cả một con chó cũng không đến đây để chúi mũi vào chậu quần áo của một người đàn bà già đang giặt. Nếu đó là phận sự của ngành cảnh sát các ông thì chắc cảnh sát không phải là người.
Hai người cảnh sát bỏ đi qua các phòng khác trong khi Tinka vẫn tiếp tục nói một mình như muốn trút hết cơn giận dữ:
– Nếu cảnh sát chỉ có từng ấy công việc, nếu bây giờ có những luật lệ gởi cảnh sát đi xét áo quần đầy tớ, lục lạo trong những đống áo quần dơ của đầy tớ để tìm ra chính trị thì thôi, thế giới này thật đáng tởm.
Và Tinka khạc đờm vào sau lưng họ như là muốn nhổ đờm lên trên nghành cảnh sát, lên luật lệ và lên tất cả những ai đang làm ra luật lệ hiện hành. Sau đó bà nức nở khóc như đang đưa ma. Mái nhà thấp quá bà có khóc cũng không ai nghe, nhưng khóc được bà thấy nhẹ nhõm như có ai đỡ hộ một gánh nặng trong lòng. Bà lấy lại cam đảm và quyết định sẽ đối phó với cảnh sát, để trả thù cho tất cả những nhục nhã và bất công của họ.
Xuống cầu thang, Tinka vào nhà bếp của Eddy Thall. Vào được đó bà cảm thấy dễ thở quá. Đã một tuần rồi, bà không được vào tận bếp của nhà bà chủ mà bà sống ở đấy suốt đời. Vũ trụ của bà là ở trong căn phòng nầy, với nào là vòi nước, lò lửa, soong chảo, nào là những xó xỉnh đầy chén đĩa và ly tách. Không có công việc bếp núc, đời Tinka không còn ý nghĩa gì nữa. Với bà, đời sống có nghĩa là chợ búa, mua bán với ngày ngày những giỏ đầy nhóc ngò tây, khoai đậu ; đời sống của bà có nghĩa rửa khoai, rửa chén bát, là mùi hành đã thái thật mỏng. Với bà đời sống là cắt cà rốt thành từng khoanh tròn, là giờ ăn với mùi cháo thơm ngát, với thịt rô ti và những thức ăn tráng miệng. Tất cả điều đó đã chấm dứt với Tinka từ một tuần lễ nay, nên đời Tinka hầu như hoàn toàn trống rỗng.
Ở trong bếp, Tinka lại khóc, ngồi xuống chiếc đòn bằng gỗ, Tinka ôm mặt, nhìn soong chảo trên tường sắp ngăn nắp theo thứ tự to nhỏ qua làn nước mắt như qua một cửa kính đọng hơi nước. Bà nhìn lò lửa mà chính tay bà đánh bóng mỗi chiều.
Tinka nhén lửa và có cảm tưởng như được sống lại. Bà lại bắt đầu nấu nước và quét nhà.
Bà tự nghĩ: ” Ngay cả nếu mình phải bị tù, hôm nay mình cũng cứ làm việc ở đây như thường “.
Eddy Thall không có nhà. Tinka bèn cầm giỏ đi chợ, hãnh diện được cầm giỏ xuống thang lầu, đi ngang qua các cửa hàng. Ngoài chợ, Tinka mua tất cả những gì có thể mua được, bà tiêu tiền như để sửa soạn một bữa tiệc, bà trả bằng tiền riêng của bà, bằng vốn liếng bà dành dụm bao năm trời. Rồi bà trở về nhà, thức ăn mua trong giỏ bà xem như là những chiến lợi phẩm, nên bà lấy làm kiêu hãnh đã ngang nhiên làm những điều mà luật lệ hiện cấm không cho bà được phép làm. Người cảnh sát gác đường nhìn bà khá lâu và mỉm cười, ông ta biết rõ bà Tinka lắm.
Ngày hôm đó không có vi phạm gì để ghi vào biên bản cả, không có khách hàng nào để thùng trống ở trên lề đường, không có người đầy tớ nào rủ bụi thảm trải nhà qua cửa sổ sau chin giờ sáng, không có xe chở hàng nào dừng ở giữa đường. Tuy nhiên, ông ta phải ghi gì trong biên bản chứ. Bỗng ông ta nảy ra ý kiến: “Mình cứ ghi là Tinka Neva tiếp tục phục dịch cho người Do Thái” và như thế ông đi nạp biên bản
Tinka trở về bếp, trút thức ăn trong giỏ ra và bắt đầu rửa rau. Chính lúc đó cảnh sát vào.
– Chủ nhà của bà đâu? Họ hỏi:
– Cô ấy đi vắng rồi.
Tim Tinka đập mạnh, nhưng bà không hề sợ hãi; ở trong bếp, bà bình thản tiếp tục thái cà rốt.
Một người cảnh sát bảo:
– Bà không biết là bà không được làm việc cho người Do Thái sao?
Tinka nhỏ nhẹ trả lời:
– Cô ấy không hề biết là tôi sửa soạn bữa ăn. Hôm nay là lần đầu tiên không hiểu ai xui khiến tôi như thế nầy.
Người cảnh sát ra lệnh:
– Bà đi theo chúng tôi ngay.
Tinka tiếc nuối nhìn những miếng cà rốt đã thái mỏng, những miếng thịt trong chảo, những miếng thịt sắp làm rôti, nhìn son quánh, bếp núc, rồi nhỏ nhẹ nói với hai vị cảnh sát:
– Tôi xin lỗi hai ông.
– Không có gì đâu, bà cứ theo chúng tôi làm tờ khai xong sẽ được thả ngay.
– Tôi đã phạm lỗi, mong hai ông thứ lỗi cho.
Nhưng lúc một trong hai tắt ngọn lửa trên bếp, thì Tinka nổi giận ngay và bà lớn tiếng cãi vả:
– Tại sao hai ông lại dẫn tôi về bót?
Hai người cảnh sát cứ nắm tay bà kéo đi. Tinka cố trì lại và la to. Nhưng hai người đã nhắc bổng bà lên mang ra ngoài.
Tinka la lên một lần nữa nhưng tiếng kêu bị tắc nghẹn. Một bàn tay cứng như sắt bóp miệng bà lại, Tinka muốn cắn vào bàn tay lông lá đó nhưng không thể nào nhếch quai hàm được. Bà chỉ thấy mùi bàn tay sắt đang bóp miệng bà làm bà nghẹt thở. Người ta kéo lê bà ra khỏi hành lang, xuống cầu thang lầu. Thiên hạ hai bên đứng nhìn bà bị kéo đi như một tên ăn trộm. Tinka không còn vùng vẫy được nữa, cánh tay bà đau nhức và bàn tay nhét vào miệng bà làm bà khó chịu vô cùng . Bàn tay sắt đó là bàn tay của cảnh sát.
XXI
Ngày hôm sau, Eddy Thall được người chung quanh cho biết là Tinka Neva đã bị bắt. Người gác cổng tả lại cảnh vừa qua cho Eddy:
– Chúng khóa miệng bà ấy không cho la to, kéo xếch bà ấy và đánh đập tàn nhẫn. Cô phải đi thăm bà ấy mới được.
Eddy mang gói đồ ăn đến bót cảnh sát và xin được gặp mặt, nhưng ông cảnh sát trưởng bảo :
– Không thể gặp mặt được. Trường hợp của bà Tinka quá nặng. Chúng tôi sẽ đưa bà ấy ra tòa án mặt trận, vì trường hợp nầy thuộc thẩm quyền của quân đội. Chuyện vi phạm đạo luật về chủng tộc vì phục dịch cho người Do Thái chỉ là chuyện phụ. Bà ấy đã phạm tội là nhục mạ Hoàng đế. Do đó, bà ấy có thể bị án khổ sai.
Nói xong, ông cò đọc bản cáo trạng cho Eddy nghe:
“Sau khi bị giữ, Tinka Neva đã có lời phỉ báng Hoàng đế trong đó người ta nghe thấy : Hỡi Hoàng đế, nếu mày ra lệnh cho cảnh sát đến kiểm soát áo quần tao đang giặt thì thật là mày còn ngu hơn một con sen nữa. Đó không phải là công việc của một ông Vua. Tao nhổ vào mặt mày bởi vì mày không có gì xứng đáng hơn là được nhổ nước bọt vào mặt. Tao chỉ là một người đàn bà lương thiện. “
Đọc xong, ông cò gấp hồ sơ lại, và nói với Eddy:
– Đó cô xem, có điều gì nặng hơn thế nữa không. tất cả nhân viên kể cả phạm nhân đều nghe bà ấy la to như thế cho đến lúc người ta khóa miệng bà lại. Vâng, cô nghe lại xem: ” Hoàng đế, mày còn ngu hơn một con sen nữa và tao nhổ vào mặt mày vì mày không có gì xứng đáng hơn là được nhổ nước bọt vào mặt “. Đó, từng chữ một. Bà ấy phải sẽ bị xử trước tòa án mặt trận, cô không thể nào gặp mặt được.
Eddy Thall đành trở về nhà. Nàng gọi điện thoại van Pillat giúp đỡ gì cho Tinka Neva. Pillat bảo:
– Tôi sẽ xem hồ sơ của bà ấy ngay. Đúng ra, tội xúc phạm hoàng đế sẽ bị khổ sai. Tôi sẽ thu xếp ít nhiều cho trường hợp Tinka. Nhưng hiện giờ không thể nào trả tự do cho bà được. Vâng, không thể nào được. Tôi sẽ đến gặp cô chiều thứ sáu, chúng mình sẽ thăm Tinka một lượt. Bây giờ, tôi được bổ nhiệm vào làm ở văn phòng quốc trưởng, nên bận lắm. Nhưng thứ sáu tới khoảng năm giờ chiều, tôi sẽ ráng đến nhà cô.
– Cám ơn ông nhiều lắm.
– À, này, thế dự tính đi Palestine của cô ra sao rồi. Cô đã dứt khoát chưa?
– Thôi để chúng ta sẽ nói chuyện sau. Cám ơn ông, nhớ thứ sáu đến nhà tôi đấy nghe.
Và nàng gác máy điện thoại, ngồi khóc một mình.
Trong lúc đó, nhân viên công lực cũng vừa chuồi một tấm giấy màu xanh qua cửa sổ vào nhà Eddy. Đó là lệnh gọi của sở cảnh sát về tội Eddy vi phạm luật lệ cấm người Do Thái dùng người giúp việc có đạo Thiên chúa.
Lần đầu tiên, Eddy thấy rằng lối thoát duy nhất còn lại là di cư. Và chỉ còn di cư đi Palestine nữa mà thôi. Nên nàng gọi ngay Max Reingold:
– Thưa bác, con đã nhất định muốn đi di cư. Đi đâu cũng được, nhưng càng sớm càng hay.
Nàng muốn kể cho max nghe về chuyện Tinka bị bắt, nàng bị Cảnh sát gọi. Nhưng Max có vẻ hấp tấp:
– Bác đang có hẹn với một vài người để lo việc di cư. Bác cũng biết là thế nào con cũng sẽ quyết định đi. Nên ngay từ đầu bác đã để tên con trước tiên trong danh sách. Tất cả đều được chính phủ chấp thuận. Con không thể nào không dứt khoát được, vì đó là lối thoát duy nhất, không có điều nào khác nữa, vâng lối thoát duy nhất đó con ạ.
XX
Max Reingold đặt xấp hồ sơ trước mặt Aurel Popesco, giám đốc sở an ninh Lỗ Ma Ni, tập hồ sơ có tên những người Do Tháisắp xuống 2 tàu Adassa và Euxin để di cư.
Aurel Popesco đang điều khiển tổ chức “Thiên thần của lửa”, là một trong những viên sĩ quan trẻ tuổi tài ba. Hắn nhìn kỹ danh sách những người Do Tháisắp đi Palestine, vừa đọc vừa mỉm cười. Sau đó hắn xấp hồ sơ lại và nhìn Max Reingold rất lịch sự:
– Chúng tôi không phải là những kẻ ăn thịt người Do Thái. Chúng tôi để các ông đi. Chúng tôi là một chính phủ quốc gia xã hội, chúng tôi có một chương trình chủng tộc chống Do Tháiđàng hoàng. Tốt hơn, chúng tôi muốn khai trừ các ông mà không cần bạo động và đổ máu. Vì vậy, mà chúng tôi trưng dụng hai tàu Adassa và Euxin, dĩ nhiên không phải là hai chiếc tàu tốt nhất của hải quân Lỗ Ma Ni. Những chiếc tốt chúng tôi phải để dành cho chúng tôi chứ, dĩ nhiên là thế. Chúng tôi chỉ để cho các ông hai chiếc đó mà các ông có thể mua dễ dàng và đi nơi nào mà các ông muốn.
Max mời điếu thuốc, Aurel từ chối. Hắn tiếp tục:
– Các ông đi đâu, chúng tôi không cần biết, nhưng các ông đi đi. Các ông ở đây bất tiện cho chúng tôi lắm. Chúng tôi là kẻ thù của người Do Thái, chúng tôi nói thẳng điều đó, và nếu các ông không đi, chúng tôi sẽ dùng các phương thức khác để khai trừ các ông. Người Lỗ Ma Ni chúng tôi cũng biết độc tài như các ông. Tất cả báo chí, hý viện, quán ăn, rạp hát bóng, kỹ nghệ, thương mãi đều nằm trong tay người Do Thái, trong tay các ông. Nhưng bây giờ, hết rồi, chúng tôi lên cầm quyền, chúng tôi sẽ tịch thu hết, và chúng tôi mời các ông ra đi. Thế thôi.
Max Reingold đáp lời Aurel Popesco:
– Hai chiếc thuyền đó, Adassa và Euxin hết sức đắt. Chúng tôi đã tìm cách để mua lại, giá cao hơn thường lệ, nhưng chúng tôi không còn giải pháp nào hơn nữa. Tuy nhiên, chúng tôi muốn biết một điều là các ông có bảo đảm cho chúng tôi ra đi nếu chúng tôi bỏ tiền ra mua hai chiếc tàu đó không?
Rồi vừa tránh cái nhìn mỉa mai của Aurel Popesco, Max vừa giải thích:
– Nghĩa là chúng tôi có được bảo đảm một khi mà hai chiếc tàu đã bán cho chúng tôi, các ông không tịch thu chúng lại?
– Tôi có thể lấy danh dự để bảo đảm với các ông điều đó. Đành rằng trong công việc làm ăn, lời hứa danh dự không đóng vai trò quan trọng nào cả, nhưng tôi không phải là một người làm ăn. Tôi là chỉ huy trưởng của tổ chức “Thiên thần của lửa” mà danh dự nằm trên tất cả. Vậy thì ông có thể tin nơi tôi.
Max đứng dậy định về. Aurel giữ lại:
– Tôi đặt hai điều kiện, các ông phải ra đi trong tuần nầy, và trước khi đi tất cả người Do Tháitrên hai tàu Adassa và Euxin phải ký một lời khai là sẵn sàng từ bỏ mãi mãi quốc tịch Lỗ Ma Ni.
Max trả lời: Chúng tôi đồng ý.
– Chúng tôi làm thế để các ông đừng bao giờ trở lại đây nữa. Quyền lợi của đất nước buộc chúng tôi phải làm thế, mà đối với chúng tôi thì quyền lợi đất nước ở trên tất cả. Chúng tôi, những “Thiên thần của lửa”, chúng tôi sẵn sàng – và nhiều lần chúng tôi đã chứng tỏ như thế – hy sinh đời sống cho tổ quốc. Trong hoàn cảnh hiện tại, thật là phi lý nếu chúng tôi không hy sinh một triệu sinh mạng Do Tháicho tổ quốc chúng tôi, nhất là nếu chúng tôi không làm thế thì chúng tôi không còn giải pháp nào nữa. Vấn đề Do Tháiphải được giải quyết gấp rút. Đức quốc và đồng mình Tây âu của chúng tôi đã làm được, bây giờ đến lượt chúng tôi. Tôi chúc các ông ra đi mạnh khoẻ và hy vọng trong tâm hồn nữa, các ông sẽ từ bỏ hẳn lãnh thổ của Lỗ Ma Ni. Vì tổ quốc của chúng tôi, chúng tôi không cần biết sự trục xuất đó có công bình hay không, thôi, từ giã các ông.
XXI
Eddy Thall thầm nghĩ: Còn một hôm nữa, mình có thể cùng Pillat đến thăm Tinka Neva trong tù. Hôm nay là thứ năm, còn bốn hôm nữa mới xuống tàu. Tất cả thủ tục đã xong rồi. Hành lý cũng đã sẵn sàng. Nàng chỉ có quyền mang theo 100 kí lô hành lý thôi. Hai tàu nhỏ như Adassa và Euxin mà phải chở đến 1500 người Do Thái. Cho nên phải bớt hành lý lại. Max đang ở Constantza để coi sóc công việc. Eddy tự bảo:
– Mình sẽ sung sướng lắm nếu mình cứu được Tinka Neva ra khỏi vòng tù tội trước khi mình đi. Sau đó Pillat sẽ tiếp tục giúp đỡ bà ấy. Mình sẽ để lại cho bà ấy tất cả những gì mình không mang theo được.
Bỗng chuông reo, Esther Reingold, con của Max bước vào. Vừa ngồi xuống ghế, Esther đã bảo ngay:
– Ba từ Constantza về rồi cô ạ. Em có mấy tin động trời và đáng mừng lắm. Mai mình sẽ ra đi lúc 5 g sáng. Ba dặn em báo tin cho cô hay. Cần phải ra ga sáng lúc 5 giờ. Gấp lắm, may mắn lắm mới đi được sớm hơn 3 hôm, ba bảo thế đó.
Rồi Esther tiếp tục nói một cách văn vẻ:
– Những đám mây đen đã hiện lên ở chân trời, không phải chỉ trên biển mà còn trên đất liền nữa. Trong chính trường, người ta tiên đoán bão tố sắp xảy ra. May sao, chúng ta đi được.
Esther Reingold 18 tuổi. Cô muốn trở thành nghệ sĩ như Eddy. Hôn Eddy xong, Esther hấp tấp nói:
– Em đi đây nghe cô. Tối nay, em phải đi từ giã mọi người, và báo tin chuyến đi cho bạn bè của em. Xin lỗi đã từ giã cô vội vàng như thế nầy. Nhưng từ nay về sau, chúng mình sẽ luôn luôn có nhau, trên biển cả cũng như trên Palestine. Em sắp đi thăm mấy đứa bạn ở lại đây, chúng nó thèm được như em lắm.
Rồi Esther bỏ đi, cũng nhanh nhẩu như khi mới đến và tràn trề hạnh phúc.
XXII
Chuyến xe lửa đi Constantza sắp khởi hành. Eddy Thall cùng đi chung toa hạng nhì với Rebecca và Esther Reingold. Bây giờ khoảng cuối tháng giêng: trời chưa sáng dù đã năm giờ. Max đứng trên sân ga và dặn dò:
– Lúc đến Constantza phải đi ngủ cả đấy. Cần phải nghĩ ngơi. Tôi đã giữ phòng trước trong một khách sạn đối diện tượng Ovide. Mấy căn phòng rất yên tĩnh. Phải cố mà ngủ đi. Chuyến đi không dễ dàng gì đâu, vì Israel còn xa lắm…
Nhìn đồng hồ ở ga xe lửa, Max nói tiếp:
– Tôi sẽ đi chuyến tàu ngày mai lúc 9 giờ và sẽ đến Constantza lúc nửa đêm (Max cảm động lắm). Tôi còn phải giải quyết một số vấn đề còn lại ngày hôm nay.
Eddy sợ Max quên, nàng dặn:
– Thưa bác, Pillat sẽ đến nhà cháu lúc 5 giờ.
– Vâng, bác biết. 5 giờ, bác sẽ gặp quan tòa Pillat. Cả hai sẽ đi thăm Tinka Neva. Bác sẽ cho bà ấy tất cả những gì cháu để lại. Bác gởi gắm bà ấy cho ông Pillat. Và bác thay mặt cháu xin lỗi Pillat về chuyện cháu đi mà không lại từ giã ông ấy được. Bác còn quên gì nữa không cháu nhỉ?
– Không, bác không bỏ sót gì nữa cả. Bác hôn Tinka hộ cháu nghe bác. Còi báo tin chuyến đi sắp khởi hành. Max còn dặn thêm:
– Phải nghỉ ngơi suốt ngày đấy. Chuyến đi cực nhọc lắm. Israel còn xa, rất xa.
– Bánh tàu đã bắt đầu lăn. Qua khung cửa sổ, Eddy Thall, Rebecca và Esther Reingold cùng vẫy khăn tay. Đứng trên ga, Max nhìn theo họ, tất cả đều vừa vẫy khăn, vừa khóc. Tiếng bánh tàu nghiến trên đường sắt như lập lại câu nói cuối cùng của Max: “Israel còn xa”.
Không nhìn thấy nhau nữa, họ mới chịu ngưng không vẫy khăn tay nữa, lúc mà bánh tàu bắt đầu lăn càng ngày càng nhanh và càng mạnh: “Israel còn xa, Israel còn xa, Israel còn xa… còn xa… xa”.
XXIII
Pillat nhìn đồng hồ tay. Đã 5 giờ rồi. Chàng nghĩ là Eddy Thall đang đợi chàng để cùng đi vào trại giam thăm Tinka Neva, trong lúc chàng phải ở cạnh tướng Roshu, quốc trưởng Lỗ Ma Ni, đang ngồi ở bàn giấy để đọc lại các bản tường trình. Ông ta ngửng đầu nhìn Pillat:
– Anh muốn xin phép tôi để đi có việc đấy ư? Không, anh không được đi đâu cả. Anh đã biết được phái qua văn phòng tôi với tư cách là một quan tòa quân đội. Anh phải ở bên cạnh tôi, chừng nào anh còn ở đây, anh không còn việc gì khác để làm cả. Tổ quốc trên hết.
Giọng nói của Quốc trưởng có vẻ rắn rỏi, ông tiếp:
– Anh hẹn với ai, với một người đàn bà phải không? Pillat đỏ mặt trả lời:
– Thưa vâng với một người đàn bà. Nhưng có nhiều vấn đề quan trọng. Chúng tôi phải cùng đi…
– Nhưng anh không được đi đâu hết. Chỉ có tổ quốc mới có chuyện quan trọng mà thôi. Gọi Aurel Popesco cho tôi.
Aurel Popesco trẻ trung trong bộ đồng phục “Thiên thần của lửa” bước vào văn phòng nghiêm chỉnh chờ lệnh.
Tổ chức “Thiên thần của lửa” là một phong trào quốc gia đã lên năm chính quyền. Chỉ trừ Quốc trưởng và vài vị tướng lãnh khác, còn tất cả các bộ trưởng đều có chân trong tổ chức đó.
Tướng Roshu đứng dậy, hai tay thọc vào túi quần, hỏi Popesco:
– Popesco, ông có thuộc mười điều răn không?
Popesco đỏ mặt. Hắn không ngờ bị hỏi như thế, nhưng vị tướng lãnh đã ra lệnh:
– Nào, ông đọc cho tôi nghe mười điều răn của Chúa đi?
Viên giám đốc sở an ninh đang ngập ngừng, thì Roshu đã đọc:
– Con không được giết hại. Nào lập lại theo tôi. Con không được giết hại. Đó là điều luật thứ nhất của Chúa dạy. Ông đã quên hết mười điều răn rồi ư? Trả lời tôi đi chứ. Có phải ông đã quên hết rồi không?
Roshu cầm cái roi ngựa để trên bàn và quất vào đôi giày:
– Ông là giám đốc, vậy ông nên ra lệnh cho các đảng viên “Thiên thần của lửa” không được giết bất cứ ai. Bảo với họ đó là lệnh của tôi, của riêng tôi, của tướng Roshu, và lệnh của Chúa là không được giết chóc. Nếu ông không thi hành thì Chúa sẽ trừng phạt. Nhưng trong lúc chờ đợi sự trừng phạt của Chúa đối với các ông, thì chính tôi sẽ trừng phạt các ông trước, bằng những phát roi vào mông, bắt đầu từ các vị bộ trưởng cho đến một tên lính trơn. Tôi sẽ đánh các ông tóc máu ra đấy.
Nói xong, Roshu quất mạnh chiếc roi xuống bàn, và dõng dạc ra lệnh:
– Nào, đánh diện cho các đảng viên của ông đi, đánh như thế này: “Các bạn không đuoc giết ai hết”.
Giấy tờ trên bàn rơi xuống đất vì phát roi của vị Quốc trưởng đập xuống. Viên chỉ huy “Thiên thần của lửa” cúi xuống nhặt. Nhưng Roshu đã ngăn lại:
– Chỉ có những người ở mới nhặt giấy, giám đốc sở an ninh ai lại làm thế bao giờ.
Popesco bực mình nói ngay:
– Thưa ngài, từ bốn tháng nay lúc chúng tôi lên cầm quyền và chúng tôi cai trị xứ này, chúng tôi chỉ đòi hỏi ngài phải công bình, thế mà ngài đã từ chối nên chúng tôi phải bước qua giai đoạn hành động. Kể từ hôm nay, chúng tôi không còn cộng tác với ngài nữa. Đảng viên “Thiên thần của lửa” đã bắt đầu hành động.
Roshu hét lên:
– Nghĩa là các ông đã bước sang giai đoạn tội lỗi phải không?
Ông ta giận đỏ mặt và tiến về bàn giấy.
Aurel Popesco bình tĩnh nói tiếp:
– Dân chúng đã trông cậy nhà cầm quyền giải quyết vấn đề Do Thái. Dân chúng đòi hỏi những hành động. Thế mà chúng ta đã không làm gì hết.
– Vấn đề Do Tháirồi sẽ được giải quyết. Nhưng phải giải quyết bằng phương pháp hợp lý, chứ không phải bằng sát nhân và tội lỗi, không phải giải quyết bằng ăn cắp và trộm cướp. Chúng ta là một dân tộc có đạo, mà người có đạo không bao giờ sát nhân. Ông có đồng ý như vậy không? Popesco? Người có đạo không giết bất cứ ai cả.
Nói xong, Roshu lại đập roi ngựa xuống bàn giấy, và tiếp tục:
– Người có đạo không giết đồng loại, cho dù đó là những đồng loại vô thần. Tôi là quốc trưởng của quốc gia nầy, tôi sẽ phản đối bất cứ ai giết người. Tôi biết các ông đang sửa soạn một cuộc cách mạng để khai trừ Do Tháiđêm nay. Tôi đã ra lệnh cho quân đội ngăn cản tội ác của các ông. Các nước láng giềng đang nhìn chúng ta. Ở trên trời, Chúa đang nhìn chúng ta. Ông có biết vậy không, Popesco? Hãy gởi gấp một công lệnh bằng điện tín cho tất cả đảng viên “Thiên thần của lửa” để họ tôn trọng điều răn của Chúa. Chỉ có thế trong lúc nầy, ông có thể ra về.
Popesco không nhúc nhích. Quay về Pillat, Roshu bảo:
– Anh ở lại đây cho đến lúc nào bọn du côn ở yên. Cần phải ngăn cản tội ác, muốn thế tôi cần một quan tòa ở cạnh tôi. Bảo họ đem giường ngủ cho anh. Anh sẽ ăn ở đây, ngay trong văn phòng tôi và ngủ đây luôn đêm nay.
Popesco bảo:
– Thưa ngài, tôi cần giải thích cho ngài hiểu thêm vấn đề.
– Đánh điện cho các đảng viên của ông đi đã, rồi chúng ta mới thảo luận sau.
– Thưa ngài, nếu tôi đi bây giờ, tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Tôi đã được bộ tham mưu “Thiên thần của lửa” ủy thác việc thông báo cho ngài một vài điều, để giữa chúng ta cái gì cũng được minh bạch.
– Vậy thì nói đi.
Roshu tiến ra phía cửa sổ, quay lưng lại Popesco và Pillat, trong lúc Popesco giải thích:
– Không thể nào giải quyết vấn đề Do Thái một cách hợp pháp được. Người Do Tháicũng như nước. Đuổi chỗ nầy họ tràn qua những ngõ ngách khác. Thật là hệt như nước. Chúng ta đã đuổi họ ra khỏi các ngành báo chí, thương mãi và hý viện. Họ núp dưới tên có đạo để làm việc, không có gì thay đổi cả, chỉ có sự sa đọa là mỗi ngày một tăng lên mà thôi. Chúng ta cấm họ ra đường, ho mua giấy thông hành gấp đôi và tiếp tục đi ngoài đường phố. Cấm họ phát triển hý viện, cấm họ mua vở kịch, cấm họ viết ư? Họ vẫn viết và ký tên bằng những danh hiệu có đạo. Không có gì thay đổi cả nên không có một giải pháp hợp lý cho vấn đề Do Thái. Không một luật lệ nào có thể chống nổi vấn đề Do Thái, cũng như gỗ và rơm không thể nào chống đỡ với lửa.
– Thế tại sao các ông không để cho họ di cư?
– Tôi vừa bán cho họ hai chiếc tàu Adassa và Euxin. Nhưng họ chỉ di cư có 1500 người. Chúng ta phải làm gì với một triệu người Do Thái còn lại?
– Phần còn lại, gần một triệu, các ông cứ để cho họ sống. Nếu người Do Tháikhông theo luật pháp của chúng ta, các ông cứ cho họ vào tù nhưng phải y luật pháp xét xử đàng hoàng. Chứ không được bạo động. Phải hành động như thế, tôi không cho phép lạm dụng và cướp bóc.
– Thưa ngài, “Thiên thần của lửa” sẽ không cộng tác với ngài nữa.
– Tôi sẽ mang các ông ra tòa về tôi giết người, ngay cả lúc ông chỉ giết một mạng người mà thôi, dù mạng người đó là Do Tháihay Thổ Nhỉ Kỳ, hay Trung Hoa cũng thế.
Aurel Popesco cương quyết:
– Nếu vậy, ngài cho phép tôi kiếu lui.
Và hắn rời văn phòng, sau khi đã đứng nghiêm chào.
Roshu nhìn qua cửa sổ và suy nghĩ lung lắm. Bỗng nhiên ông ta quay về phía Pillat :
– Anh hẹn với ai tối nay? Bà nào đang đợi anh đấy?
– Một người quen. Vâng, một nữ nghệ sĩ. Chúng tôi phải can thiệp ở sở cảnh sát về trường hợp người đầy tớ của cô ấy.
Trước mặt Roshu, khó lòng ai có thể nói láo được. Cho nên khi Roshu hỏi:
– Do Thái ư?
Thì Pillat đành nói thật:
– Dạ thưa ngài, cô ấy là người Do Thái.
Nói xong Pillat tái mặt, Roshu khuyên:
– Thế thì nói với cô ấy trốn đi cho rồi. Đêm nay, đêm nay tụi loạn trí đó sẽ giết hết người Do Thái. Anh nói với cô ấy là anh không đến nơi đã hẹn được, nhưng cô ấy phải trốn đi, bởi vì đêm nay sẽ có một cuộc thanh trừng. Pillat, mỗi lúc anh cứu được người nào thì anh hãy cứu đi, bởi vì thế anh mới đến trước mặt Chúa, đến nơi phán xét sau cùng và nói được rằng: “Con là một con người, thưa ngài, con là một con người đích thực”. Nếu không, anh không thể nào nói được như thế. Bây giờ anh bảo tài xế đến báo tin cho cô ấy đi.
Pillat không biết phải làm thế nào, nhưng chàng cũng tuân lệnh. Một giờ sau, người tài xế trở về và cho biết:
Eddy Thall đã rời thủ đô để đi Palestine trên chuyến tàu khởi hành lúc 5 giờ sáng: Cô ấy không để lại tin tức cho ai cả.
Đã có tiếng súng nổ ngoài đường, tiếng chiến xa đi qua. Roshu tự nhủ: “Ngay cả những tên chạy giấy cũng được trang bị vũ khí. Chúng ta phải tránh không cho đổ máu mới được”.
XXIV
Max Reingold đã hoàn tất chương trình. Ông đã đóng cửa nhà của Eddy Thall và trả lại chìa khóa. Ông chỉ tiếc là Pillat đã không đến để cùng đi thăm Tinka Neva, nhưng dù sao ông cũng có ý đợi Pillat, nghĩa là ông đã làm tròn phận sự. Bây giờ ông đang ở ngoài đường và tìm cách ra ga cho kịp chuyến tàu đi Constantza khởi hành vào lúc 9 giờ. Ông tìm một chiếc taxi, nhưng được người ta cho hay là cách mạng bùng nổ, Taxi không được phép chạy. Cả tàu điện cũng thế. Chúng tôi đang ở trong tình trạng báo động.
Max đành đi bộ ra ga. Ông rất hài lòng vì hành lý ông đã gởi từ ban sáng trên chuyến tàu mà Eddy, Rebecca và Esther đã đi. Chỉ có một cái cặp nhỏ trên tay thôi, nên bây giờ Max có thể thong thả đi ra ga xe lửa.
Chỉ trong 15 phút nữa mình sẽ đến sân ga ở miền Bắc.» Vừa đi vừa nghĩ như thế, Max không cần bước vội, dù ông thừa biết là đảng «Thiên thần của lửa» có ý định khởi xướng cuộc cách mạng đổ máu đêm nay. Cả thành phố đều biết điều đó. Nhưng ở đâu cũng có lính, quân cảnh và cảnh sát. Tướng Roshu đã biết tôn trọng luật lệ, quân đội trung thành với ông ta. Max yên lòng bước đi và hài lòng vì đã ra đi kịp đêm nay.
«Ngày mai có thể là chậm mất. Đêm nay tướng Roshu làm chủ tình thế, điều nầy rõ ràng quá. Nhưng ngày mai biết đâu được? Ngày mai quân phản loạn có thể thắng thế. Mà ngày mai thì mình đã lênh đênh trên mặt biển rồi. Nghĩ thế mà Max mỉm cười.
Nhưng bỗng có một giọng nói trẻ trung:
– Do Thái?
Rồi một thanh niên khác rọi đèn vào mặt ông làm nỗi bật hẳn cái lỗ mũi Do Thái, đầu tóc màu hung và những đốm lấm tấm màu hung trên khuôn mặt ông.
Max muốn đưa tấm vé xe lửa ra. Ông muốn nói với họ là ông sẽ lên xe lửa, sẽ rời xứ nầy ngày mai. Ông muốn chỉ cho họ xem tấm vé lên tàu thủy, giấy phép rời Lỗ Ma Ni. Cái gì ông cũng có trong túi cả. Nhưng mà không có thì giờ để nói một câu nào cả.
Một người thanh niên đã bảo với người cầm đèn bấm:
– Nào mang nó đi, Do Thái chắc chắn rồi đó.
Nhiều thanh niên mang súng ống hẳn hoi vây quanh Max. Bên lề đường một chiếc cam nhông đã đậu sẵn. Rồi Max có cảm tưởng bị đẩy đi. Ông phải leo lên xe. Không còn lý do nào để kháng cự hay năn nỉ. Xe cam nhông đầy nhóc; lúc đã vào bên trong Max tưởng như mình đang bị đè bẹp ra. Max vẫn thầm nhủ: Không có hoàn cảnh nào mà không có lối thoát nếu người ta bình tĩnh. Giữ được bình tĩnh mình sẽ ra khỏi đây và đi chuyến tàu 9 giờ. Nếu mình biết giữ bình tĩnh, nếu mình nhanh trí một chút, mình đã nói với họ là mình không phải Do Thái. Nhưng đã lỡ rồi phải tự lo liệu đi thì vừa. Muốn thế thì phải bình tĩnh. Nghĩ như thế, Max qui tu hết cả ý chí để tạo cơ hội, bắt đầu bằng cách thở dài hơi, ông dang hai tay ra để thở mạnh hơn nữa. Có tiếng súng nổ gần xe cam nhông, và có tiếng la «đồ sát nhân, sát nhân», tiếp theo là tiếng rơi bịch xuống đất của một xác người gần bánh xe. Max nghĩ đến chuyện khác. Ông phải quên đi tất cả những gì đang xảy ra chung quanh để không nghe tiếng rên xiết, tiếng van xin, vì tất cả thứ đó làm ông ta mất tinh thần. Rồi ông thầm nghĩ:
– Điều chính yếu là mình phải tự xem như là kẻ ngoại cuộc với hoàn cảnh nầy.
Max cho là điều trước tiên cần yếu để thoát khỏi sự khó khăn đó là phải có một kế hoạch. Vâng một kế hoạch kỹ lưỡng. Ông nhìn chung quanh và tìm cách tiến về phía cửa xe. Nhưng những người khác lại vừa bị vứt lên xe, ông ta lại bị thối lui. Tất cả người chung quanh ông đều lo sợ và nhốn nháo cả lên. Chỉ có Max vẫn chậm rãi tiến tới, từng ly một, về phía cửa bằng cách lách qua những thân thể chen chúc. Ngay lúc đó, xe bắt đầu chạy hết tốc lực. Ở cửa lên xuống đã có hai thanh niên ôm tiểu liên, nhưng Max biết rằng nếu đã đến gần cửa xe thì lúc nào may mắn cũng có thể đến với ông được cả. Đó là giai đoạn đầu tiên của kế hoạch.
Khu vực xe vừa đi ngang qua nằm trong tay bọn phản loạn, súng nổ, nhà cháy. Qua ngã tư, người ta nghe tiếng rên than. Những khẩu tiểu liên khạc từng loạt điếc tai.
«Năm 1916, mình đã đánh giặc trong các giao thông hào. Súng nổ không làm cho mình sợ hãi được. Max tự nhủ như vậy và lợi dụng khi xe chồng chềnh để tiến về phía cửa xe. Lúc không còn nghe thấy tiếng súng nữa thì xe đã ra khỏi thành phố. Max muốn định vị trí và chỉ một lúc sau ông đã biết «Mình đang bị đưa đi về phía trại quân lao Jilava. Nhưng trước khi đến đó, phải đi ngang qua một khu rừng. Chừng 500 thước rừng rậm. Ở đó mình có thể thoát thân được bằng cách nhảy ra khỏi xe. Sau đó mình sẽ lên tàu đi Constantza bằng ga Jilava và mình sẽ đến đúng giờ».
Max đã len đến cửa. Xe đang ở ngay trong rừng. Bỗng có ánh đèn pha quẹt ngang và có người ra lệnh:
– Dừng lại.
Chiếc xe thắng gấp. Một đám thanh niên mặt đồng phục vây quanh, một giọng hô to:
– Xuống hết đi.
Rồi nhiều tiếng quát khác:
– Xuống, xuống.
Max xuống trước tiên. Trời tối như mực. Max tránh những ánh đèn chói mắt. Nhìn vào bức tường nhà lao ngay trước mắt. Phía sau chiếc xe là rừng rậm. Max biết rõ khu rừng này lắm. Trời đang mưa lâm râm, dưới chân đất sền sệt ướt. Max nhìn hàng cây, nhìn những thanh niên mang đuốc, và những người Do Tháicòng lùng bước xuống xe.
Max cố nhìn tất cả hình ảnh đó thật khách quan như lúc đi xem chiếu bóng. «Cần hành động đúng lúc như hồi ở Bourse – ừ, như hồi ở Bourse, bình tĩnh, kiên nhẫn.» Max cố tạo lấy can đảm cho mình.
Bên phải, bên trái đều có những người đang bước xuống xe. Toàn là người và người. Max cầm chiếc mũ đã bị đè bẹp lúc ở trên xe, thắt lại cà vạt, gài nút áo choàng, cố để đừng làm bẩn đôi giày trong đám cỏ cao ẩm ướt. Không thể làm bẩn chúng được. Max cần giữ một bộ đồ chỉnh tề và đứng đắn bởi vì như thế rất cần cho kế hoạch trốn thoát của ông. Những người Do Tháilúc xuống xe đều lom khom vì sợ hãi. Max đứng thẳng người, ngang nhiên bỏ tay vào túi quần. Ông không muốn giống mấy người kia khom lưng lại vì sợ hãi. Ông thầm nhủ: «Max, nhìn xem, một lát nữa thôi, giờ hành động đã điểm». Chung quanh ông là bóng tôi và mưa phùn. Trong bóng tối, điều làm ông phân biệt được tù nhân và các đảng viên là tù nhân thì khom lưng, các đảng viên «Thiên thần của lửa» thì đứng thẳng người.
Max bình tĩnh đứng thẳng người xong bước ra khỏi hàng. «Trước tiên cần đứng thẳng và mình đã làm được rồi, sau đó phải có can đảm bước từ nhóm người còng lưng sang nhóm những người đứng thẳng.»
Nghĩ thế, Max bước một bước. Ông đã xa hẳn những người khom lưng. Nhưng ngay lúc đó một báng súng đập vào ngực ông. Ông thối lui và gấp người lại, phải trở lại hàng ngũ những người khom lưng và Max lại càng khom lưng hơn tất cả những người khác nữa. Cơn đau như xé ngực kéo đến, nhưng ông cũng đứng thẳng người lên. «Nếu mình đứng thẳng được tức là mình sẽ được cứu thoát.» Và ông ta làm được, đứng thẳng được. Nhưng cơn đau lại kéo đến, Max phải dựa vào tường, muốn nghỉ một chốc để lấy lại sức. Bức tường lành lạnh làm ông dễ chịu.
– Nhanh lên.
Giọng nói của viên chỉ huy vang lên từ xa. Ông ta đến gần, lũ thanh niên cầm đuốc vây quanh.
Max nghĩ thầm: «Mình phải đứng vào hàng ngũ của họ, phải bước qua nhóm của viên chỉ huy, sau đó mình sẽ thoát thân… Mình sẽ biến vào rừng. Khi đã đứng được vào nhóm của viên chỉ huy thì dễ dàng quá rồi. Nhưng muốn như thế mình phải cố gắng đứng thẳng người như họ. Phía sau họ là khu rừng rậm, qua khu rừng mình sẽ đến đường cái, đi bộ chừng năm phút mình sẽ đến ga Jilava. Đến đó mình sẽ lên xe lửa đi Constantza, rồi từ Constantza, mình xuống tàu thủy đi Israel».
Viên chỉ huy lại ra lệnh:
– Nhanh lên.
Trong hàng ngũ những người đứng thẳng mà Max muốn nhập bọn, đã có tiếng lắp đạn vào súng. Sau đó, có tiếng thử cò súng. Max biết rõ những âm thanh đó. Ông đã từng đánh giặc qua các giao thông hào. Ông vẫn đứng thẳng. Rồi bước một bước ngắn. Chỉ cần có hai thước để bước sang nhóm người đứng thẳng. Trời lại tối như mực. Vấn đề thật giản dị, không nên mất một phút nào cả. Ông ráng bước thêm một bước nữa, nhưng ngay lúc đó, những thanh niên theo lệnh trên lại đứng xa ra vài thước. Giữa những người cầm khí giới và những người khom lưng dựa vào tường còn những hơn mười thước. Trong khoảng cách mười thước đó, không có một bóng người. Họ hoàn toàn cách xa nhau. Max biết rõ là bây giờ không thể qua nhóm bên kia được nữa. Cơ hội đã qua mất rồi, ông phải thay đổi kế hoạch. Rồi như một con mèo, Max nằm nhẹ nhàng xuống đất ấm. Ông biết là tụi chúng sắp bắn, ông phải đào một hố ẩn núp, như ông đã từng làm thế nhiều lần hồi đệ nhất thế chiến 1914. Vâng, đào một hố cá nhân, nhanh lên mới được. Max bắt đầu đào thật nhanh với hai tay mang găng, và tự nhủ:
– Cứ bình tĩnh và thản nhiên. Như thế mình sẽ thoát khỏi bất cứ đường cùng nào.
Và ông tiếp tục dùng tay đào đất. Đạn đã bắt đầu nổ, viên nầy đến viên khác. Max đào đất thật nhanh. Tất cả tuỳ thuộc vào tốc độ nên ông đào bằng cả hai tay, đất lại rất mềm và dễ đào vô cùng. Lúc đó, Max đã ấn cái đầu xuống hố được rồi, và ông đào càng lúc càng nhanh, đào trong tuyệt vọng. Đạn réo trên đầu, nổ phía bức tường và dội ngược trở lại. Max lại thầm nhủ: Mình phải làm chủ tình thế, đêm nay mình sẽ đến Constantza, vợ và con gái đang đợi mình, sau đó, ngày mai mình sẽ xuống tàu thủy đi Israel».
Mấy ngón tay của Max ấn tuyệt vọng vào lòng đất ẩm. Lũ quỷ vẫn tiếp tục bắn. Tiếng la, tiếng thét không dứt. Tiếng rên rỉ, tiếng khóc thảm thiết như chó tru. Max nhất định không để mình bị lôi cuốn vào cái gì đang xảy ra chung quanh, ông chỉ theo kế hoạch của mình thôi, thực hiện kế hoạch và làm chủ tình thế.
Max giấu đầu xuống hố. Ông nghĩ đến sân ga, đến Constantza, đến cuộc hành trình đi Israel, chỉ nghĩ đến những điều làm ông phấn khởi, làm ông nắm vững tình thế, giữ ông ở ngoài sự khủng hoảng, sự giết chóc và tiếng kêu than.
Vì thế ông nhớ đến hý viện Eddy, đến thủ đô Tel Aviv, đến mảnh đất hứa hẹn… Nhờ thế mà Max tiếp tục đào đất thật nhanh, với tất cả sức lực, với nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Đó là những gì ông đã làm, để khỏi đầu hàng hoàn cảnh. Và ngay cả lúc ông bị đạn xuyên qua người, lúc mà đạn xuyên vào bộ óc còn nóng hổi của ông, cũng không hề có trong khói ốc đó một sự sợ hãi, một sự cuống cuồng nào mà chỉ là một nỗi ao ước duy nhất là không thể đầu hàng hoàn cảnh, niềm ao ước đến Constantza đêm đó, nơi mà những người thân nhất đời đang chờ đợi ông: Rebecca, vợ ông, mập mạp và tốt bụng; Esther, con gái ông, đa cảm và xinh xắn; Eddy Thall, nghệ sĩ tên tuổi của ông, hai chiếc tàu Adassa và Euxin, biển Đen và Mảnh đất hứa hẹn của Palestine.
Và Max chết như thế đó. Chết mà không hề nghĩ đến sự chết. Cũng không chấp nhận nó nữa. Tay, đầu, ngực áp lên đất ẩm và nghĩ đến mảnh đất quê hương.
Mấy tên lính tiếp tục bắn trong vài phút nữa. Sau đó chúng ngưng hẳn. Viên chỉ huy ra lệnh:
– Vứt xác chết lên xe hết đi.
Max bây giờ không còn nghe được tiếng ra lệnh đó nữa. Giọng của viên chỉ huy đã khàn. Trời mưa lạnh đã làm khan giọng viên chỉ huy.
Lũ thanh niên mang súng lên vai, nòng súng còn nóng hổi. Cứ hai đứa mang một xác chết và vứt lên xe như những khúc gỗ được vứt lên những chiếc cam nhông có đèn pha sáng quắt và máy đã nổ sẵn. Có tiếng ra lệnh:
– Chạy đi.
Những chiếc xe tiến lên, dọc theo bờ tường, đèn pha để sáng. Một toán thanh niên cầm đuốc xem kỹ thử có xác chết nào còn sót lại hay không.
Viên tài xế lái chiếc xe đầu tiên, chiếc xe có xác của Max Reingold hỏi:
– Chở đi đâu bây giờ đây?
– Đến nhà tế sinh. Các anh vứt họ vào nhà tế sinh.
Mấy chiếc xe chạy về hướng nhà tế sinh, chầm chậm, vì đất quá trơn, bánh xe có thể trượt dễ dàng.
Từ thành phố, nhiều chiếc xe khác tiến về Jilava, chở đầy những người còn sống, chạy ngược chiều với những chiếc xe chở đầy những xác chết.
Cứ như thế suốt đêm. Những chiếc xe đầy người sống đi vào khu rừng rậm. Và những chiếc xe chở người chết trở về lò sát sinh.
Người ta chất xác chết vào sân xi măng, chồng lên nhau cho đến lúc nào sân đầy xác. Vào khoảng 3 giờ sáng, một viên chỉ huy đi thị sát. Hắn nhìn xác chết của những người Do Tháichồng lên nhau trong sân nhà tế sinh. Hắn mỉm cười sung sướng, và hỏi:
– Ai đã ra lệnh đem họ lại đây?
Có tiếng trả lời ngắn ngủi.
– Lệnh trên.
– Nhưng tại sao lại đem đến đây, hợp lý ra thì phải đem lại nhà xác hay nghĩa địa chứ. «Không ai biết lệnh xuất phát từ đâu? Hắn tự hỏi như thế.» Họ ở đây thì các anh cởi hết áo quần họ đi.
Lại thành lập từng toán. Người chết bị lột trần truồng, trần truồng trên đất lạnh. Cảnh tượng thật khủng khiếp nhưng chẳng ai buồn để ý đến. Lũ thanh niên đang lo cởi áo quần người chết, một người hỏi bâng quơ:
– Có cần treo họ lên móc không nhỉ?
Thế là người ta móc xác chết lên và treo vào móc. Những xác chết lại nhiều hơn số móc. Trong nhà tế sinh, người ta chỉ giết chừng hàng trăm súc vật trong một ngày, đủ thịt cho cả thành phố dùng. Mà bây giờ lại giết cả hàng ngàn người Do Tháilàm sao số móc cho đủ được. Vì thế chỉ có vài trăm xác bị treo vào móc mà thôi. Trên bụng, lưng và ngực của mọi xác đều có đóng dấu như người ta có thói quen đóng dấu vào các súc vật bị giết theo tục lệ Do Thái. Và những xác chết cũng được làm như thế để chứng tỏ rằng họ là người Do Thái.
XXV
Sáng thứ bảy. Sau đêm cách mạng, tướng Roshu cho gọi Pillat vào để dặn dò công việc:
– Anh qua ben sứ quán Đức cho Nam tước Killinger biết là chúng ta đã dẹp được cuộc nổi loạn. Có hàng ngàn người bị ám sát. Những tên sát nhân do Aurel Popesco cầm đầu, đã ăn mặc theo đồng phục của sĩ quan Đức, nên bây giờ chỉ có trốn qua Đức mà thôi. Tôi yêu cầu sứ quán Đức giao họ lại cho tôi bắt giam để tôi có thể xét xử, dù chúng nó có mặc hay không mặc đồng phục do tòa đại sứ Đức cung cấp.
Pillat vừa nghe vừa ghi chép. Chàng vừa thức trắng đêm qua nên giờ quá mệt mỏi. Roshu dặn tiếp:
– Ở tòa đại sứ ra, anh nhớ ghé qua nhà tế sinh thành phố. Có hàng ngàn xác Do Tháiở đó. Anh nhớ nhận diện và lập biên bản. Chụp hình quay phim cảnh man rợ đó để mình có bằng chứng kết án tụi sát nhân. Sau đó anh đưa người chết về với gia đình họ để chôn cất y theo luật lệ đòi hỏi.
Pillat vâng lời, đến tòa đại sứ Đức, xong trở về nhà tế sinh. Các con đường chung quanh đó đầy người, quân cảnh không có ai đến gần cả. Pillat nhìn những xác chết trần truồng nằm chết chồng chất lên nhau trên sân xi măng, một số xác chết được treo lên móc thành bốn dãy, chàng bảo:
– Hạ xác chết xuống đất hết, và chụp hình nhanh lên.
Chàng bỗng để ý đến xác chết đầu tiên. Đó là xác một người đàn ông trạc 50 tuổi, trần truồng, mang ba khuôn dấu trên ngực, bụng và lưng. Một viên sĩ quan quân cảnh bảo với Pillat:
– Chúng tôi bắt đầu nhận diện đây.
Rồi chỉ cái xác chết mà Pillat đang khám và bảo:
– Ví dụ người này dễ nhận diện lắm, vì chúng tôi thấy trong bóp của ông có một vé xe lửa hạng nhì đi Constantza, một vé tàu thủy trên chiếc Adassa đi Tel Aviv và giấy phép rời Lỗ Ma Ni. Tất cả giấy tờ đều hợp lệ cả. Đáng lẽ ông ta ra đi. Thế mà ông ta lại nằm đây. Cuộc đời thật là lạ lùng, ông tên Max Reingold.
Pillat khiếp đảm nhìn xác chết. Trên đời, có nhiều xúc động làm người ta mù, điếc, làm cho người ta trở thành tượng đá. Pillat đang ở trong trạng thái đó, và đăm đăm nhìn xác Max bị treo trên móc thịt nhà tế sinh, trần truồng với những khuôn dấu đóng trên da thịt. Trong lúc đó, viên quân cảnh hỏi:
– Chúng tôi có thể trả ông ấy về cho gia đình không? Vì đã nhận diện được, chúng tôi sẽ lập biên bản và trả về cho gia đình, nếu ông cho phép điều đó.
Pillat chỉ nghe được câu: «Nếu ông cho phép điều đó», rồi vẫn đăm đăm nhìn xác Max, trong khi viên quân cảnh lập lại câu hỏi:
– Ông có cho phép chúng tôi trả người nầy về cho gia đình không? Pillat gật đầu đồng ý và bảo:
– Tôi sẽ yêu cầu người ta gởi một quan tòa khác thay tôi. Tôi mệt đuối sức rồi. Đêm qua, tôi không hề chợp mắt được tí nào.
Sau đó, Pillat rời nhà tế sinh, thất thểu.
XXVI
Rebecca, Esther và Eddy Thall đến Constantza giữa trưa trời nắng và mặt biển trong xanh, Eddy bảo:
– Chúng mình phải đến xem tàu trước tiên đã.
Ba người đàn bà cùng đi xuống hải cảng. Chỉ toàn là tàu chiến, trong đó nổi bật hẳn hai chiếc vừa mới sơn màu xám mang tên viết bằng màu đen: Adassa và Euxin.
Eddy hồi hộp, đúng là tàu của nàng sắp đi rồi. Sáng mai tàu sẽ nhổ neo đi Israel. Họ không có quyền vào hẳn trong hải cảng, nhưng ở đằng xa họ có thể trông thấy đoàn thủy thủ chất bao nhiêu thùng hành lý lên Adassa và Euxin. Họ biết là hành lý của họ sẽ được chất lên tàu Adassa. Rebecca dặn dò:
– Đừng quên lời dặn của Max. Chúng ta đi ăn trưa xong phải về nằm nghỉ ngay. Chuyến đi lâu lắm vì Israel còn xa. Chúng ta phải nghỉ dưỡng sức.
Ba người đàn bà muốn nán lại nhìn hai chiếc tàu sắp chở họ đi, nhưng phải đành trở về khách sạn, ăn trưa và ngủ. Qua khung cửa sổ, họ nhìn thấy hải cảng. Adassa và Euxin quá nhỏ. Đó là hai chiếc tàu cũ được sữa lại, để dành chở 1500 người Do Tháisắp xuống tàu ra đi. Thủy thủ đoàn cũng là người Do Tháicả, để số người đi được đông hơn. Thuyền trưởng cũng là Do Tháinốt. Tối đến, Eddy, Rebecca, Eddy, ra hải cảng ngắm mãi hai chiếc tàu mà không biết ngán, cũng như tất cả những người Do Tháikhác. Sau đó họ ra ga xe lửa để đón Max, đến sớm trước cả hai tiếng đồng hồ nên đành phải đi bách bộ trong sân ga để chờ chuyến tàu từ Bucarest đến. Nhưng lúc tàu đến nhìn mặt từng hành khách, họ không tìm thấy Max ở đâu cả.
Rebecca lo lắng:
– Max không bao giờ trễ tàu cả. Chúng tôi lấy nhau đã 24 năm nay, bao giờ Max cũng đúng giờ. Hay có thể Max đã đến mà chúng ta không thấy.
Họ lại trở về khách sạn, Max vẫn chưa đến. Rebecca muốn gọi điện thoại về Bucarest, nhưng điện thoại viên cho biết:
– Đường điện thoại liên lạc với thủ đô đã bị cắt đứt, vì đang có cách mạng ở Bucarest. Hỏi về những chuyến tàu sắp đến, thì được trả lời là không có tàu nào được phép rời Bucarest đêm nay. Nhưng ngày mai giao thông lại được tái lập như thường lệ.
Ba người đàn bà cố giữ bình tĩnh. Họ phải trở về khách sạn lúc 3 giờ sáng và kiên nhẫn chờ ngày mai. Vừa tảng sáng, Rebecca lại ra ga. Bảng thông cáo cho biết tàu từ Bucarest sẽ đến lúc 7 giờ. Họ trở ra hải cảng. Những người Do Tháiđang đứng từng hàng đợi để lên cầu xuống tàu thủy. Máy tàu đã lên sức ép. Mọi người đang xôn xao về vụ thanh trừng Bucarest. Thế là lúc bắt đầu chuyến đi đã có lộn xộn, vì bốn người khách vắng mặt, trong số đó có Max Reingold, người đã tổ chức cuộc di cư. Vào giữa trưa máy phóng thanh trên tàu cho biết:
– Adassa đã quá cũ phải đi chậm nên phải rời hải cảng đúng ngọ. Euxin đợi chuyến xe lửa 5 giờ sáng để đón những hành khách còn sót. Sau đó Euxin sẽ bắt kịp Adassa ở ngoài khơi. Rebecca mừng rỡ bảo với Eddy :
– Thế thì tốt quá. Hành lý của chúng ta để cả trên chiếc Adassa, Bác và Esther sẽ đi trước. Còn cô ở lại để chờ Max cùng đi luôn thể trên chiếc Euxin. Nhờ cô bảo với Max là không có gì đáng ngại cho bác và Esther cả, Max đừng lo lắng gì. Bác sẽ coi sóc hành lý. Cô đừng để Max đi một mình, khoảng tối hai chiếc tàu sẽ gặp nhau ngoài khơi, chúng mình lại cùng ở chung.
Eddy bước xuống, nàng vẫy khăn từ giã lúc Adassa từ từ rời hải cảng. Tất cả đều khóc và làm dấu tiễn biệt nhau.
Euxin vẫn buông neo chờ chuyến xe lửa từ Bucarest đến. Eddy ra ga đợi. Nhưng Max vẫn không đến. Trong số bốn người vắng mặt, không một ai đến cả.
Báo chí, đài phát thanh loan báo những tin tức khủng khiếp về cuộc thanh trừng ở Bucarest. Eddy sợ hãi, nàng phải trở về Euxin. Sự lo lắng đang bao trùm trên tàu. Máy tàu Euxin lại hơi yếu, loa phóng thanh lại loan báo «Euxin sẽ không nhổ neo tối nay». Eddy Thall phải ngủ ở một chiếc võng trên cầu tàu, suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, người ta cố để sửa chữa máy tàu, thế mà bốn người vắng mặt vẫn không thấy đến.
Sáng đến, thêm một tin tức mới cho biết Adassa đã bị đắm. Euxin không đi được nữa, vì theo lệnh chính quyền, không một chiếc tàu nào chở người Do Tháiđược phép rời bến.
XXVII
Rebecca, Esther cùng nhìn ra biển, hy vọng sẽ trông thấy chiếc Euxin. Biển đang động và sóng lớn. Hành khách trốn hết vào phòng. Vợ của Max vẫn đứng trên bong. Esther thì đang say sóng như đa số hành khách khác. 800 người Do Tháiđang đi trên chiếc Adassa, chồng chất lên nhau. Người đau cũng không nằm được vì phòng quá chật, mà đứng trên bong cũng không được vì sóng quá to. Adassa kêu răng rắc và tiến thật chậm. Khoảng 9 giờ tối, một ông già chịu không nổi lăn ra chết lại càng tăng sự hỗn loạn trong tàu. Hành khách kết tội thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm và không biết duy trì trật tự trên tàu. Có rất nhiều Y sĩ trên tàu nhưng cũng chẳng làm gì được trước các con bệnh say sóng; khoảng nửa đêm lại thêm một người chết. Xác chết được đặt lên bong tàu. Cho đến viên thuyền trưởng cũng say sóng. Mọi việc đều do viên kỹ sư điện khí lo hết; đó là một người còn trẻ tuổi và đầy cương nghị. Ông ta ra lệnh vứt hai xác chết xuống bể và khuyên mọi người bình tĩnh:
– Ngày mai chúng ta sẽ đến Istamboul. Ai đau sẽ được đưa vào bệnh viện, chúng ta sẽ tổ chức chuyến đi lại theo phương thức khác, vì bây giờ có nhiều hành khách trên tàu quá.
Trật tự có vẻ được vãn hồi, nhưng cơn bão tăng dần lên. Khoảng hai giờ sáng, Adassa có vẻ sắp vỡ, vì sóng đánh mạnh quá. Người ta đành phải nhốt hành khách vào phòng. Vì thế một người đàn bà nổi điên, thế là tốn một căn phòng để nhốt riêng bà ấy ra. Nhiều tiếng khóc la, con nít, người lớn, làm hành khách mất tinh thần.
Trước khi trời sáng, trong lúc bão tố không ngớt hoành hành thì máy tàu đứng hẳn. Trong cảnh chen lấn nhau, một số hành khách cầu nguyện, số khác ngồi than vãn, có kẻ thì nguyền rủa ban tổ chức chuyến đi. Viên thuyền trưởng mới của Adassa kêu cứu SOS và tuyên bố với hành khách:
– Ai cố chịu đựng đến sáng sẽ được cứu sống. Quý vị cần giữ gìn sức lực, giữ vững tinh thần. Chúng ta sẽ được cứu thoát.
Nước đã tràn vào tàu. Nhiều toán đặc biệt cho tát nước, nhưng chẳng thấm vào đâu, chỉ mỗi giờ một nhọc nhằn thêm mà thôi.
Máy phóng thanh lại loan tin:
– Ai gây ra hỗn loạn sẽ bị nhốt, cứ yên trí là chúng ta sẽ được cứu thoát, vì điện đài làm việc không ngừng. Adassa chưa bị hư hỏng gì, nhưng bão lớn quá. Quý vị cố giữ bình tĩnh.
Vào lúc 5 giờ sáng, máy phóng thanh lại yêu cầu hành khách giữ bình tĩnh, bờ biển không còn xa bao nhiêu, Adassa đã tiếp tục chạy được dù một máy thôi. Tàu đang tiến dần vô đất liền.
Hành khách đang đau đớn vì sợ hãi, vì sóng biển và tuyệt vọng đã ngỡ thấy đất liền trước mắt dù mắt họ đang nhắm kín. Tuy không phải là «Mảnh đất hứa hẹn» nhưng vẫn là đất liền, hy vọng sống sót bừng lên như một đám cháy. Họ bắt đầu hát các bài thánh ca, những bài hát tán dương uy quyền của đấng Toàn năng.
Máy phóng thanh lại loan báo:
– Hai ca nô cứu nguy đang đến gần. Quý vị ráng giữ bình tĩnh.
Động cơ thứ hai đã nổ lại nhưng đang còn yếu, cơn bão thì vẫn chưa dịu. Nhưng niềm hy vọng đã thắng được mệt mỏi và bệnh say sóng. Hai chiếc xà lúp chở cảnh sát và nhân viên hải cảng đang tiến dần về chiếc Adassa trước khi trời sáng, và một câu hỏi trước tiên qua loa phóng thanh:
– Tàu các ông thuộc quốc gia nào?
Thuyền trưởng Adassa trả lời:
– Chúng tôi đang đi Palestine. Tàu chúng tôi bị tắt máy, hành khách lại quá đông, nhiều người đã ngã bệnh, hỗn loạn hết sức.
Từ phía chiếc xà lúp trắng, lại có câu hỏi như cũ :
– Chúng tôi hỏi tàu các ông thuộc quốc gia nào?
– Chúng tôi là những người Do Tháiđi lánh nạn.
– Thế thì, một tàu trục sẽ đến, quí vị cứ giữ bình tĩnh, giấy tờ của tàu đâu hết?
Thuyền trưởng Adassa nói như hét lên:
– Các ông hãy lấy bớt số hành khách lên ca nô, và chở hộ số bệnh nhân trong lúc chúng tôi chờ tàu trục đến. Nhẹ bớt đi, Adassa chúng tôi cũng có thể chầm chậm tiến vào bờ được.
Một viên chức trên chiếc xà lúp lại hỏi:
– Có bệnh dịch nào xảy ra trên tàu các ông không?
– Tất cả chúng tôi đều đang bệnh và say sóng cả. Ông già, đàn bà và trẻ con cần được mang đi càng sớm càng tốt. Họ không thể chịu đựng thêm nữa.
– Các ông cứ bình tĩnh. Lát nữa thôi, sẽ có tàu cấp cứu đến. Các ông bảo là tàu không tổn hại gì nhiều, vậy cứ bình tĩnh chờ xem.
Thế rồi, hai chiếc xà lúp rẻ sóng biến mất.
Lúc trời sáng, lại có thêm hai chiếc tàu nhỏ xuất hiện mang theo đầy đủ nhân viên y khoa. Họ lên bong tàu, vào tận các phòng, phân phát rượu «Rhum», thuốc lá, nước chanh. Họ mang theo những hộp thiếc sơn trắng với đầy đủ thuốc men, mọi hành khách đều được săn sóc chu đáo suốt cả buổi sáng.
Adassa vẫn từ từ tiến một cách mệt nhọc. Đất liền không gần như người ta loan báo hồi đêm. Tuy nhiên tàu cũng không còn xa bờ bao nhiêu. Giữa trưa lại có một chiếc tàu nhỏ khác mang ký giả và đại diện các cường quốc lên tàu. Như thế là số phận của Adassa đã được biết đến. Người ta bàn tán về sự man rợ của Đức quốc xã đã vứt hơn tám trăm người trên một chiếc tàu quá nhỏ, vừa đủ để chở chừng 100 người thôi, thiếu thủy thủ đoàn, thiếu phương tiện cứu cấp.
Mấy người đàn bà mặc đồng phục màu trắng đưa cho hành khách trên tàu những dây thắc lưng cấp cứu mà họ bắt hành khách phải buộc lại và xem kỹ thử dây đã được buộc chặt chưa. Mọi hành khách nhận thêm một cây đèn gắn trên ngực nhờ một sợi dây. Người ta giải thích:
– Đó là những phương tiện tối tân để cấp cứu. Nếu tàu chìm vào ban đêm, nhờ những dây buộc có đèn nầy tàu cấp cứu có thể thấy rõ nạn nhân và đến vớt lên dễ dàng.
Viên thuyền trưởng Adassa hỏi:
– Độ mấy giờ thì tàu trục sẽ đến đưa chúng tôi vào bờ? Chúng tôi đang chen lấn nhau quá sá mà sóng thì…
– Đó là một tội khả ố nhất mà tôi chứng kiến trên đời. Một người Anh bảo thế, gần như run lên vì giận. Rồi tiếp tục:
– Để cho 800 người rời hải cảng trên một chiếc tàu nhỏ bé, cũ kỹ không máy móc, không phương tiện cấp cứu… Thế thì giết họ đi cho rồi. Đây là một cuộc sát nhân tập thể. Một chiếc tàu như thế này, thật không tôn trọng luật lệ quốc tế về hàng hải, không có thủy thủ đoàn giỏi, không có thuyền trưởng… Chính phủ Lỗ Ma Ni sẽ bị truy tố trước tòa án quốc tế về tội quái quỉ này đối với nhân loại.
Thân hình cao và mảnh khảnh của người Anh run lên vì giận dữ. Một luật sư Do Tháiđến gần ông ta và hỏi:
– Từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Palestine cần bao nhiêu ngày?
– Nhưng ông có giấy tờ hợp lệ để đi Palestine không?
Một ông già trả lời ngay cho người Anh vừa hỏi câu đó:
– Chúng tôi đều là Do Tháicả. Người Do Thái không cần giấy tờ để vào chính xứ sở của họ, mà Palestine là chính xứ sở của Do Thái cơ mà.
Người Anh nhìn vào mặt của ông già. Việc Do Thái trở về Palestine là ngược với quyền lợi của đế quốc Anh, nên điều ông già vừa nói là một thách thức lớn. Người Anh bèn thay đổi câu chuyện :
– Dân tộc như Lỗ Ma Ni chưa đủ khả năng để tự trị. Một nước man rợ đến thế này cần được sống dưới chế độ bảo hộ. Sứ mạng của các nước văn minh là kiểm soát những quốc gia man rợ.
Một người tóc vàng của sở báo chí Đức quốc phụ họa thêm:
– Đúng đấy, đó là bổn phận của các nước có văn hóa và văn minh. Một người Do Thái có bộ râu quai hàm lớn vừa nói vừa khóc:
– Tôi không muốn chết trước khi đụng được «Mảnh đất hứa hẹn» dù chỉ là đụng bằng đầu ngón chân của tôi thôi cũng được.
Người Anh đang nhìn vào một người đàn bà đang ẵm một đứa bé tóc hung trong tay, người đàn bà năn nỉ:
– Ông có thể mang cháu qua ca nô của ông được không? Tôi thấy là cháu khó có thể sống được để chờ tàu trục đến cứu. Chờ như thế sẽ chậm mất thôi.
– Bà có thể hỏi các viên chức có thẩm quyền hơn, vì chỉ có họ mới có thẩm quyền quyết định mọi việc. Tôi chỉ là một quan sát viên vô tư có sứ mạng nhận xét các sự kiện xảy ra và báo động cho thế giới văn minh biết những hành động man rợ chưa hề có nầy.
Nhưng người đàn bà vẫn năn nỉ thêm:
– Ít nhất ông cũng có thể mang cháu bé nầy sang thuyền của ông, chỉ một mình cháu bé nầy thôi.
Nói xong bà giao đứa bé đang được bọc trong mảnh vải trắng cho người Anh. Nhưng ông ta không đỡ lấy mà lại mở máy ảnh, thản nhiên chụp hình người đàn bà đang trao đứa bé cho ông bằng đôi tay cầu khẩn, vừa chụp vừa nói:
– Thưa bà bức ảnh nầy chỉ cho thế giới Tây phương biết cái gì đã xảy ra nếu người ta đồng ý trao độc lập cho một vài dân tộc chưa qua khỏi giai đoạn man rợ. Công luận Anh và ký giả Mỹ quốc sẽ xúc động sâu xa, xúc động ghê gớm. Tôi bảo đảm với bà điều đó.
Người đàn ông cao to, tóc hung quay đi nơi khác tiếp tục chụp hình các hành khách trên tàu, luôn cả cái bong tàu. Rồi ông giận dữ bước xuống chiếc thuyền nhỏ của ông trở về bờ biển một mình. Cho đến chiều người ta mang thức ăn, thuốc men xuống tàu Adassa. Những chiếc tàu nhỏ chở các nhà ký giả, ngoại giao và y sĩ. Tất cả đều đồng ý về những hành động dã man chưa hề có nầy.
Viên công chức quan thuế an ủi: «Quý vì sẽ được cấp cứu ngay». Những chiếc máy bay quan sát theo dõi chiếc Adassa. Bão vẫn còn dữ dội. Bây giờ trời đã tối, ai cũng ngong ngóng chiếc tàu trục đến mang họ đi. Trên bong tàu đã có đèn sáng.
Trong lúc đó, bỗng có một tiếng nổ long trời như tiếng bom. Hành khách giật nẩy người lên. Chỉ một vài phút hỗn độn thôi, sau đó tàu chìm ngay, chìm trong chốc lát. Không ai ngờ như thế cả, và chỉ trong vài giây đồng hồ, Adassa đã biến khỏi mặt biển.
Đa số hành khách không thể nhảy xuống nước được, nhưng họ đều có những dây buộc cấp cứu do các cơ quan quốc tế tặng. Do đó, những hành khách Do Tháikhông chìm theo chiếc Adassa. Họ vẫn trôi lềnh bềnh trên mặt nước.
Số phận đã không cho phép họ đụng chân lên «Mảnh đất hứa hẹn» của Palestine hay mảnh đất liền ở bờ biển và đồng thời cũng ngăn cản họ không cho đụng chân thấu đất ở đáy biển. Những kẻ đắm tàu nầy không được phép gặp đất đai. Bất cứ loại đất nào. Ngay cả thứ đất ở đáy biển dành cho những người chết đuối. Số phận bắt họ phải trôi bồng bềnh xa lòng đất.
Những kẻ bị đắm tàu Adassa là những kẻ ở ngoài luật lệ chung. Họ không bị chìm xuống đáy biển vì họ đang mang những dây buộc cấp cứu, quà tặng của những đại cường quốc văn minh.
Đàn bà trẻ con, người lớn chết bồng bềnh trên bể với những chiếc đèn sáng treo trước ngực.
Lúc tàu cấp cứu đến thì chỉ còn thấy những xác chết trôi lềnh bềnh trên sóng của Biển Đen.
Như đã có thói quen của công dân một nước văn minh, thủy thủ đoàn của tàu cấp cứu tìm cách vớt những xác chết và mang họ lên những chiếc thuyền con.
Một thủy thủ đoàn Hung Gia Lợi hỏi một cách chua chát và mỉa mai:
– Tại sao người ta cho họ đèn và dây buộc lưng nhỉ? Vào tháng giêng, ở Biển Đen mọi người đắm tàu đều bị chết ngay khi rớt xuống nước vì sự khác biệt thái quá giữa nhiệt độ thân thể và nhiệt độ nước biển. Vậy cho họ dây buộc lưng là một điều kỳ dị. Hơn thế nữa, người ta lại còn tặng họ đèn, chắc là để người chết trôi trên sóng với những ngọn đèn được thắp sáng.
Trước khi sắp các xác chết vào thuyền, các thủy thủ tắt các ngọn đèn trên ngực của các nạn nhân. Và người ta thấy rằng không có nạn nhân nào quên bật đèn khi tàu đắm.
XXVIII
Những người Do Tháitrên tàu Euxin không còn được phép rời Constantza nữa. Một trại lính được thành lập ngay với đầy đủ giường nằm và bếp nấu ăn. Người ta bảo họ cứ việc chờ đợi. Một số muốn trở về Bucarest, nhưng đều bị cấm.
Các cuộc phỏng vấn bắt đầu, Eddy Thall là người được gọi tên đầu tiên. Viên sĩ quan lập biên bản, vừa đưa cho Eddy tờ cam kết cho nàng ký không trở về Lỗ Ma Ni vừa bảo với nàng :
– Cô không có quyền trở về Lỗ Ma Ni nữa.
– Tôi vẫn muốn rời xứ này bằng tàu Euxin.
– Euxin là một câu chuyện đã được xếp lại rồi. Người ta không thể nào cho phép ngần ấy người đi trên một chiếc tàu quá cũ kỹ nầy, vì như thế thật quá dã man. Cô phải chọn một giải pháp khác vậy. Cùng lắm, cô có thể xin được trở lại quốc tịch Lỗ Ma Ni. Cũng bi đát thật, nhưng đành vậy. Cô hãy nghĩ đến một lối thoát khác hợp lý hơn đi.
Eddy Thall yên lặng. Nàng thừa biết trong hoàn cảnh này nàng không còn được phép ra đi mà cũng không còn được phép ở lại nữa.
Viên sĩ quan lập biên bản gợi ý cho Eddy:
– Riêng tôi, tôi thấy cô còn hai giải pháp. Hoặc là cô xin giấy nhập nội vào một quốc gia khác, hoặc là cô xin gia nhập quốc tịch nào đó. Hai điều cô chọn một. Cô quyết định thế nào?
Eddy bảo ngay:
– Tôi sang Nga. Một ước lệ mới cho phép công dân Lỗ Ma Ni của Bessarabie được sang Nga nếu họ muốn.
Viên sĩ quan cười mỉa mai:
– Cô là cộng sản?
Eddy mím môi không trả lời. Ông ta nói tiếp:
– Đoàn xe đi Nga sẽ khởi hành ngày mai. Cô có thể đi được, vì sang Nga thì dễ lắm.
Eddy Thall rời văn phòng. Nàng nhìn ra biển. Ngày mai nàng sẽ sang Nga với chừng vài trăm người Do Thái. Nàng cũng không còn hành lý để sửa soạn nữa, bởi vì bao nhiêu hành lý nàng đều gởi cả trên chiếc Adassa.
Nàng ngồi xuống và ôm đầu. Lần đầu tiên nàng nghĩ đến người bạn của Pierre Pillat, người bạn tên Boris Bodnar trốn sang Nga vì đã thi hỏng. Eddy tự nhủ:
Ngày hôm nay mình cũng làm như anh ấy, ra đi với những lý do tương tự. Hồi còn nhỏ anh ấy đã chọc thủng mắt em và bị mọi người xem như một đứa trẻ thoái hóa cần được loại trừ. Cũng như Boris, mình không biết phải đi đâu. Đành trốn sang Nga vậy. Người Do Tháisẽ như thế nào ở đất Nga nhỉ, ai mà biết được.
Thế là Eddy Thall ngồi khóc. Phần đầu tiên của cuộc đời Do Thái của nàng đã chấm dứt. Cuốn sách đầu tiên của người Do Thái cũng chấm dứt nốt. Nàng khóc cho nàng, cho đời nàng, mắt đăm đăm nhìn mặt đại dương ngoài xa.
Constant Virgil Gheorghiu sinh ngày 15- 9 – 1916 tại Lỗ Ma Mi, Constant Virgil Gheorghiu nghiên cứu triết học và thần học ở Gucarest và Heidelberg trước khi trở thành ký giả, rồi khâm sứ tại Bộ Ngoại giao Lỗ.
(Gheorghiu tên thật là Constantin Virgil Gheorghiu, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1916 tại Valea Albă, một làng trong cộng đồng Războieni, quận Neamţ, xứ Romania. Cha ông là một linh mục Chính thống giáo.)
Chống đối chế độ cộng sản, ông sang Pháp ở vào 1948. Cuốn tiểu thuyết đã làm thế giới tự do biết danh ông là “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm “; ông lại càng nổi danh hơn nhờ một cuốn khác viết về cuộc tái chiếm đóng xứ Bessarabie. Ông sang Mỹ sống một thời gian, sau đó trở lại Pháp. Ông đã dùng ngòi bút để chống đối mãnh liệt cái thời đại phi nhân của chúng ta hiện nay trong hầu hết các tác phẩm của ông (La Seconde chance, La Cravache, Les Mendiants de miracles …). Ngày 23- 5 – 1963 V. Gheorghiu được tấn phong linh mục Giáo hội chính thống.
Vài lời của nhà xuất bản
Ngòi bút của Virgil Gheorghiu quả thật là chua chát và mỉa mai; bởi vì tác giả chống tất cả những chủ trương phi nhân. Các nhân vật của V. Gheorghiu sau những đày ải lần lượt chết đi dưới những vị kỷ khắc nghiệt được ngụy trang rất khéo léo bằng những chủ nghĩa hoa mỹ. Nhưng tất cả phải chết đi để cho ý thức nhân bản trong mỗi con người, mỗi xã hội được sống. Làm sao mà không chua chát và mỉa mai cho được khi mà hơn 20 năm sau, cuộc thế chiến hãi hùng, con người vẫn đang còn bơ vơ, lạc lõng, lo sợ trước những tranh chấp chủ nghĩa, trước những đe dọa đang đẩy họ vào những đường cùng không lối thoát. Và phải chăng V. Gheorghiu cũng đag viết về sự bế tắc của con người đau đớn trên xứ sở Việt Nam thân yêu.
Người ta không thể sống trần truồng. Có thể là người ta sống nghèo khổ rách rưới nhưng mày không còn một manh áo rách để mặc. Mày không còn gì nữa cả.
Pierre Pillat nhìn bộ quân phục bằng kaki của Boris Bodnar, rồi tiếp tục:
“Sau ba tháng, cảnh binh sẽ lột hết áo quần mày và trả lại cho nhà trường. Mày sẽ không còn gì để mặc nữa. Kể cả chiếc áo sơ mi. Kể cả một đôi giày. Không còn gì nữa. Mày sẽ trần truồng như lũ mọi lùn Papou. Mày sẽ là người trần truồng nhất thế giới . Mày muốn làm gì bây giờ?”
Pierre Pillat nhìn thẳng vào mắt bạn, nhưng Bodnar lại nhìn xuống đất.
” Người ta đã giao cho mày tờ giấy trục xuất chưa? ” Pillat hỏi.
Boris Bodnar tiếp tục nhìn xuống đất của sân trường. Hắn bỏ tay vào túi để rút tấm giấy trục xuất. Bộ đồng phục có bốn túi. Nhưng người ta đã cắt hết túi của những học sinh bị trục xuất để làm nhục chúng.
Không tìm thấy túi ở vị trí thông thường, Boris Bodnar thò tay vào túi thứ hai ở ngực. Cũng đã bị cắt mất, và hai túi ở dưới cũng không còn nữa. Hắn đỏ mặt. Thì ra sáng nay, lúc 6 giờ, Boris Bodnar đã mặc bộ áo của những đứa bị trục xuất.
Từ lúc đó, hắn sờ mấy túi áo không biết bao nhiêu lần, như một cái máy. Hai tay hắn sờ các túi áo trên, rồi mấy túi áo dưới, sau cùng buông thỏng xuống vô thức, chịu đựng. Những túi áo bị cắt đứt là một trong những nhục nhã đầu tiên của Boris Bodnar. Hắn nhìn một lần nữa vào các túi áo. Không những bộ quân phục chỉ thiếu túi. Người ta còn cắt cái viền vàng trên cổ áo, các đường viền dọc theo quần. Sáu cái nút áo cũng bị đứt mất. Không còn những chiếc nút mà hắn phải đánh bóng mỗi chiều – như tất cả mọi học sinh trường võ bị hoàng gia Kichiey – đánh cho đến lúc chúng bóng như vàng. Thay vào đó, chỉ còn những hột nút bằng sắt, nhỏ và đã hoen rỉ. Những khuy áo trở nên quá to so với mấy hột nút sắt đó. Không có những cúc áo vàng, khuy áo thật như những trũng mắt mà người ta đã móc con mắt.
Không cần nhìn Pierre Pillat, Boris Bodnard cố tìm túi quần. Mỗi quần của bộ quân phục đều có bốn túi.
Tất cả đều đã bị cắt mất, Boris Bodnar tức giận thêm. Hắn có cảm tưởng người ta đã mất vài mảnh thịt của thân thể hắn chứ không phải của bộ quân phục. Hắn nhớ đến bốn cái túi bên trong thường để đựng giấy tờ.
“Mày muốn xem văn thư trục xuất của nhà trường giống cái gì hả”
Hắn hỏi Pillat một cách mỉa mai, xong hắn đưa cho Pillat một tờ giấy màu vàng gấp làm tư. Đó là mảnh giấy mầu lá úa, thứ mầu đặc biệt dùng cho những trường hợp trục xuất, tử tức hay bị giam giữ trong bệnh viện.
Pillat đọc:
” Chiếu nội quy của các trường võ bị hoàng gia Lỗ Ma Ni, Boris Bodnar đã bị đuổi khỏi trường và chỉ có quyền mặc quân phục hoàng gia trong ba tháng tiếp theo lịnh trục xuất này. Các viên chức công quyền phải thi hành lệnh này và trả lãi quân phục cho trường Kichiev sau thời hạn ba tháng”.
Đọc xong, Pillat hỏi Boris:
“Mày làm gì sau ba tháng nữa? Trần truồng ư? Mày phải về nhà với ông già bà già mày. Không còn giải pháp nào nữa”
Pillat cầm văn thư trục xuất bằng tay trái. Tay phải đặt lên vai Boris. Áo Boris không còn cầu vai nữa. Không còn cái cầu vai có viền vàng mới dấu hiệu hoàng gia và con số của Hoàng đế Lỗ mã ni, người đỡ đầu cho trường võ bị. Không có cầu vai cái áo chỉ là một bộ đồ chết. Nói cho đúng, không phải là một bộ quân phục nữa, chỉ còn lại cái xác áo mà thôi. Chiếc áo không có cầu vai đó giống như một người đã bị chặt đầu. Vì thế trong lịch sử quân đội, cắt cầu vai cũng giống như kết án tử hình. Trước khi hành hạ, người ta cắt hết cầu vai trước mặt bạn bè. Cầu vai là cái đầu của một bộ quân phục.
Từ 6 giờ sáng nay Boris không còn mang cầu vai nữa, Pillat có cảm tưởng tay nó đang đặt trên một cái gì đã chết. Ngay cả vải áo cũng đã chết, không phải chỉ vì thiếu cầu vai mà thôi. Những sợi vải áo cũng đã chết. Mảnh vải đó đã bị giết chết trước khi bộ quân phục được giao cho những đứa bị đuổi. Những bộ quân phục như thế sẽ bị vứt xuống dưới hầm. Nhưng trước đó, người ta đã phải hấp đi để tẩy uế. Cùng với những con vi trùng người ta sẽ giết mất đời sống của tấm vải kaki, sẽ làm nó nhầu nát. Những sợi chỉ sẽ chết trong hơi nước, dưới áp lực của ống hơi và các chất sát trùng, như những tế bào của một sinh vật phải chết dưới từng ấy áp lực. Mỗi năm một lần, các bộ quân phục đó sẽ được gởi đến các xưởng để làm dẻ vụn. Năm nay có tất cả mười bốn bộ được để lại Boris phải mặc trong mười bốn bộ đó. Pillat nói:
“Nếu mày không về nhà bây giờ, mày sẽ lang thang ba tháng. Ông già bà già mày có giận dữ cũng vô ích. Cuối cùng rồi cũng phải nhượng bộ. Hai ông bà cũng không chém đầu mày đâu mà sợ. Họ sẽ cho mày áo quần khác. Trở về nhà đi cho rồi. Không còn giải pháp nào nữa đâu.”
Pillat rút tay khỏi vai của Boris. Bộ áo của thằng bạn có đã bắt đầu có mùi tẩy uế, mốc meo và cằn cỗi. Pillat tiếp tục:
“Tao đã nói với bạn bè cả rồi. Chúng tao sẽ quyên tiền cho mày ra về”. Boris nghiến răng. Hắn nói:
“Tao không có bạn. Mày học đệ ngũ, mày không còn là bạn tao nữa. Tao bị ở lại, không lên đệ ngũ được. Mà cũng không học lại đệ tứ được nữa. Những đứa ở lại không thể vào trường học. Như thế tao đâu còn bạn bè nữa!
Pillat vẫn nói: “Mày vẫn là bạn tao. Ngay cả khi mày không ở trong lớp. Tụi mình đã sống với nhau bốn năm trên cùng ghế nhà trường”.
Giọng Boris run run: “Mày đã làm bạn với tao bốn năm rồi. Nhưng bây giờ không còn như thế được nữa. Cũng thường chứ gì.”
Sân trường hình vuông, với những bức tường đầy màu xám, đã bắt đầu đông đúc. Năm trăm học sinh vừa mới ra chơi và nhìn vào mười bốn đứa thi rớt trong những bộ quân phục nhục nhã. Những đứa bị ở lại không có quyền vào lớp nữa, cũng không được vào phòng ăn hay phòng ngủ.
Chúng phải ở ngoài sân, dựa lưng vào trường, vào các cột sân bóng tròn, sân bóng rổ hay sân quần vợt.
Trong bộ y phục không còn cầu vai, bị cắt hết túi, không còn nút vàng, viền vàng, mười bốn đứa dựa lưng vào các cột, vào các cây dẻ của sân trường và các bức tường cao bằng đá. tất cả cúi gầm xuống đất.
Pillat hỏi: “Mấy giờ mầy đi”.
Hỏi như thế để tan yên lặng, vì yên lặng tăng thêm khoảng cách giữa hai đứa.
Boris nhún vai. Năm trăm học sinh dạo chơi trong sân trường – Với nút áo vàng, giầy bóng loáng – nhìn những đứa bị đuổi mà không dám lại gần. Chúng nhìn trong sợ hãi: Chúng biết những đứa bị đuổi phải bị trình diện như thể để làm gương cho mỗi đầu niên học: rồi chúng sẽ được lính dẫn ra cổng trường, đến nhà ga và vào trung tâm thành phố.
Chúng là thứ cỏ dại người ta cần nhổ đi. Học sinh nhìn chúng bằng đuôi mắt, ở đàng xa mà không dám lại gần. Pillat đứng gần Boris. Chung quanh hai đứa là một khoảng trống. Chung quanh mỗi đứa bị trục xuất có một khoảng trống. Chung quanh mỗi đứa bị trục xuất có một vòng trống ác hại. Mấy đứa mang cầu vai hoàng gia sợ những đứa bị đuổi. Không đứa nào dám lại gần. Ngay cả những đứa trước kia rất thân nhau. Người ta đọc được trong cặp mắt chúng những cảm nghĩ tương tự như những người lái xe đến ngã tư thấy một chiếc xe bị nát bấy với một người bộ hành bị thương hay đã chết.
Vì thế mà chúng dửng dưng. Sợ hãi còn mạnh hơn cả lòng thương hại. Nhìn mấy đứa bị đuổi, chúng tự nguyện là sẽ chăm chỉ trong năm tới; như những người lái xe tự nhủ là sẽ cẩn thận lái xe lúc họ nhìn bên đường một chiếc xe vỡ nát vì húc phải cây cối hay trụ đèn.
Pillat hỏi: “Có gì đã xẩy đến cho mày? Tao không hiểu tại sao mày thi rớt?” Yên lặng. cặp mắt của Boris nhợt nhạt với những lông măng hiền lành cùng râu mép dưới mũi.
Boris ngước mắt nhìn trời. Những đám mây đen trôi trôi về phương đông, thật mau thật vĩ đại, đám này cuộn theo đám kia. Về phía Đông chừng hai mươi cây số là sông Dniestr và bên kia sông là Nga Sô. Boris nhìn những đám mây đang bay qua trên trường học, trên đầu hắn và nghĩ rằng trong chốc lát chúng sẽ đến Dniestr, sau đó bay qua Nga Sô.
Pillat nói: “Thật tao điên đầu, không thể nào hiểu nổi mày. Không một thằng bạn nào hiểu nổi điều đó. Mày vẫn là đứa giỏi toán nhất lớp. Mày đã giải nổi những bài toán mà không đứa nào làm được. Mày còn nhớ là tụi mình đã phải thi lại kỳ thi đó như một hình phạt cũng chỉ vì mình làm được bài toán và cho cả lớp chép. Nhưng không ngờ rằng chính mày – một thằng đứng đầu về toán, một nhà toán học – trời sinh lại không làm nổi bài thi kỳ này. Nói cho tao nghe đi, thầy giáo bảo là mày đã nộp giấy trắng. Mày đã không viết được một giòng nào cả. Có gì đã xảy ra cho mày, hả?”
Trong giây lát Boris tiếp tục nhìn mây đen bay về phương Đông. Rồi hắn nhìn những hột nút vàng trên bộ áo của Pillat; sáu hột nút phản chiếu bộ mặt nhợt nhạt của hắn như hắn đang nhìn vào sáu tấm gương lồi.
Boris hỏi: “Tại sao mày lại hỏi tao như thế? ” Hắn trở nên nghi ngờ.
” Dĩ nhiên như thế – Pillat trả lời – Mỗi chúng tao đều hỏi như thế. Bởi vì có một điều lạ lùng, bất thường nào trong đó chứ”
Hết giờ chơi. Chuông reo inh ỏi. Học sinh liếc nhanh một lần chót những đứa bị trục xuất và hấp tấp vào lớp, để cho đúng giờ, để đừng bao giờ bị trể để khỏi trở thành những đứa ở lại lớp phải mang những bộ áo quần nhục nhã.
Năm trăm học sinh cùng nghĩ như thế lúc chen lấn nhau vào lớp học. “Để chuyện đó đừng bao giờ xẩy đến cho mình …”
Pillat lại bảo: “Bây giờ đến giờ La Tinh. Tao bỏ học. Mày đi với tao ra sau đống gỗ, tụi mình nói chuyện yên ổn hơn”.
Sân trường vắng vẻ.
“Không”. Boris trả lời. (Hai tay bám vào bức tường đá đang dựa lưng) “Mầy thừa biết rằng học sinh trường Trung học Hoàng gia không có quyền nói chuyện với mấy đứa bị trục xuất. Ngay cả lúc đã rời trường mầy cũng không được liên lạc – dù chỉ là bằng thư từ – với chúng. Thôi, mày vào học giờ La tinh đi, nếu không người ta sẽ giam mày đấy”.
Pillat cầm tay hắn kéo về cuối sân trường và núp sau đống gỗ.
Boris nói: ” Không có nghĩa lý gì để nói nữa. Tụi mình xa cách nhau mãi rồi. Tụi mình đã là một đôi bạn tốt, thật như vậy; nhưng bây giờ thì hết rồi. mày sẽ là một sĩ quan, mặc đồng phục hoàng gia. Mày sẽ là một kẻ ưu tú của đất nước, của thành phần các sĩ quan: như người ta thường dạy như thế vào các giờ luân lý.
“Không ai có thể chia cách con đường tụi mình cả” Pillat nói như thế và xiết chặt tay Boris. “Tụi mình đã là bạn là bạn tốt với nhau và cứ tiếp tục như thế. Cho dù có bị cấm đoán chăng nữa, tụi mình cũng cứ viết thư cho nhau. Không cần ký tên vào dưới bức thư. Tao biết mặt chữ của mày. Mày nhớ viết thư cho tao đều đặn nghe”
Sĩ quan trực quan sát sân trường. Núp sau đống gỗ hai đứa không thể bị phát giác. Sau khi đã nhìn những đứa bị trục xuất dựa lưng vào tường, vào gốc cây, vào các cột sân thể thao, sĩ quan trực bỏ đi.
Pillat bảo: “Cha mẹ mày giàu có. Họ sẽ gởi mày vào một trường học dân sự. Mày sẽ học nhảy hai lớp trong một năm … “
Boris đỏ mặt. Trên bộ râu mép, hai lỗ mũi hắn phập phồng.
Hắn giận dữ: “Vào học giờ La Tinh đi và để cho tao yên”
Pillat bảo: “Lấy tư cách bạn bè tao nói chuyện với mày, tại sao mày lại giận dữ cơ chứ “
– Nếu mày tự nhận là bạn tao thì đừng nói về cha mẹ tao và cũng đừng nói chuyện tao nên trở về nhà nữa.
Pillat đặt tay lên vai của Boris, vai áo không còn cầu vai nữa. Nhưng Boris vẫn nhìn mây đen trên trời đang bay về phía Nga Sô.
– Tao không làm gì phiền mày. Boris ạ, tao chỉ khuyên mày nên trở về nhà. Chỉ vậy thôi. Đó là một lời khuyên hợp lý.
– Tao không cần mày khuyên, Boris vừa trả lời vừa nhìn trời. Mày biết là tụi mình sẽ không còn bao giờ thấy nhau nữa. Con đường tụi mình đã bị chia cách rồi. Có thể đây là lần cuối cùng tụi mình cùng nhau nói chuyện. mày có biết tại sao tao không thích nghe nói về cha mẹ tao và nhà cửa tao không ? Tao sẽ nói cho mày nghe. Có thể là một sự trả thù về phần tao … Mày biết là tao còn một đứa em ?
– Boris run lên. Pillat hỏi :
– Mày còn một đứa em? Sao tao không bao giờ nghe mày nói đến cả. Tụi mình cùng ngồi trên một ghế bốn năm trời ở trường. Tao cứ nghĩ là tụi mình đã không giữ gì bí mật với nhau cả. Riêng tao, ít nhất tao cũng đã nói hết cho mày nghe về mọi chuyện.
Pillat có cảm tưởng bị phản bội. Nó tiếc đã tiếc vào học giờ La Tinh, đã ở lại với thằng bạn cũ của nó ở sân trường, thằng bạn đã nói láo với nó suốt bốn năm trời.
Pillat nhìn sân trường. Nó thích trở vào lớp, và để Boris ở lại một mình. Nhưng không được nữa. Trễ quá rồi. Nó phải đợi giờ chơi sắp đến.
Pillat hỏi: “Tại sao mày không bao giờ nói là mày còn một đứa em?”, tiếng nói của nó có vẻ chua chat. “Tao có bao giờ giữ bí mật chuyện gì với mày đâu”.
– Thì tao nói với mày bây giờ đây: Tao có một đứa em, tên là Angelo. Chính thảm kịch xảy ra từ đó. Chính vì thế mà tao không thể trở về nhà. Mày hiểu không? Chỉ vì tao có một đứa em!
Boris nhìn vào đôi mắt của Pillat như muốn chọc thủng chúng ra.
“Angelo nhỏ hơn tao ba tuổi” Boris nói tiếp. Nhưng Pillat không còn quan tâm đến những lời nói của thằng bạn cũ nữa. Điều chính yếu là Boris đã dấu nó một điều gì, là Boris đã thiếu thành thật với nó.
“Lúc tao được ba tuổi, có một chuyện xảy ra đã làm thay đổi hết đời tao. Mày muốn hiểu tại sao không?”
Pillat nhún vai. Boris tiếp tục:
“Câu chuyện chỉ có vài câu thôi. Nếu mày muốn nghe, mày sẽ hiểu tại sao tao đã giữ bí mật với mày. Hồi đó tao được ba tuổi. Tao đang ở sân chơi. Trước nhà tao có một cái sân với nhiều cây có hoa trắng, tao chỉ có ba tuổi nhưng tao nhớ rõ các chi tiết. tao mặc áo vải sợi màu trắng. mẹ tao bảo tao phải coi chừng đừng làm bẩn áo mới. Sau đó, bà để tao chơi trong sân dưới bóng cây. Angelo lúc đó mới được có mấy tháng. Nó ở trong xe, dưới ánh nắng. Mẹ tao bảo tao coi chừng nó. Không bao giờ tao ở một mình với Angelo. Lúc nào cũng có mẹ tao. Tao chưa hề nhìn kỹ nó bao giờ cả. Lúc bấy giờ, được ở một mình với Angelo, tao đến gần xe và tò mò nhìn nó. Một đứa bé, thật là một cái gì mới mẻ đối với tao, như một món đồ chơi.
Tao nhìn đôi chân nó. Sờ những bàn chân hồng hào. Tao thích thú nghe nó la lên lúc tao bóp mạnh vào chân nó như thể tao ấn mạnh tay vào con búp bê. Rồi tao khám phá ra cái đầu, một cái đầu hồng hào, tròn như một trái bóng. Em tao đang nhắm mắt vì mặt trời chói. Thỉnh thoảng nó mới mở mắt ra và tao thấy rõ nó có đôi mắt thật xanh. Nhưng nó không chịu mở mắt hoàn toàn. Tao lấy tay banh mắt nó ra. Như thế tao mới hài lòng. Chúng thật đẹp, trong sáng và tao thích ngắm chúng lắm. Tất cả những gì mà Angelo có tao thích nhất là cặp mắt. tao thích mở chúng ra bởi vì Angelo cứ nhắm mắt lại thật chặt. Thấy nó không biết gì, tao bỏ nó và đi chơi đến đóng rác gần đấy. Lúc Angelo khóc, tao lại đến gần nó và banh mắt nó ra. Tao đã nhìn thấy một cái đinh trong cát. Và cũng tại tao mở mắt nó bằng ngón tay không được, tao đã dùng cái đinh để mở mắt nó ra mà nhìn. Nó khóc thét lên và vùng vẫy. Rồi thì tao ấn mạnh cái đinh vào mắt của Angelo. Mày hiểu không, tại tao muốn mở mắt mà nó cứ muốn khép lại. Tao lại thích đôi mắt quá, tao muốn ngắm chúng thử xem sao.
“Tiếng thét của Angelo vang dội cả sân. Tao không còn biết chuyện gì xảy ra sau đó. Lúc mẹ tao đến, chiếc xe của Angelo đã đầy máu, áo trắng của tao đã đầy máu, tay tao đầy máu, má của Angelo cũng đầy máu. Với cây đinh tao đã đâm thủng mắt bên phải của Angelo, con mắt mà tao ưa thích ghê gớm. Mẹ tao la lên: Đồ sát nhân. Bây giờ tao vẫn còn nghe rõ: Đồ sát nhân.
Mẹ tao bất tỉnh, nằm dài trên lối đi. Láng giềng chạy đến; đàn ông, đàn bà, sân nhà đầy cả người. Cha tao, vị mục sư cũng chạy đến; có cả một bác sĩ và ông chủ quán nữ .
“Ký ức tao không còn rõ ràng nữa. Hồi đó tao dính đầy máu. Đó là tất cả gì tao còn nhớ. Đức cha và bác sĩ mang mẹ tao vào nhà. Chỉ còn lại những bộ mặt xa lạ. Một đám đông. Sau đó mẹ tao lại hiện ra. Hai người đàn bà lạ mặt cầm tay mẹ tao. Bà la to lên là phải treo cổ tao bởi tao là một kẻ phạm tội, một quân sát nhân trời sinh”.
Boris nhìn xuống đất.
“Tất cả chỉ có thế. Từ ngày đó, nghĩa là ngày tao được ba tuổi, cuộc đời chấm dứt với tao. Tất cả mọi người, ở nhà, trong làng, tại trường học, ai cũng gọi tao là đứa sát nhân. Đối với tất cả tao là thằng phạm tội.
“Từ ngày đó, bạn bè, thầy giáo, linh mục, hang xóm, cha tao, mẹ tao, lúc nào cũng xem chừng tao, không ngừng. Họ rình từng cử chỉ tao, từng hành động tao, từng lời nói tao, để cố khám phá ra những ý định tội lỗi.
“Nếu vì cô ý tao đụng cùi chỏ vào một đứa bé, nếu tao bắn ná, nếu tao ném một hòn sõi, nếu cầm một con dao, một cái đinh, một vật bén nhọn, người ta sẽ kết tội tao là có ý định tội lỗi.”
Trên trời, mây đen vẫn bay về phương Đông.
“Angelo lành bệnh, nhưng con mắt phải không còn nữa. Tao đã đâm thủng tròng mắt nó bằng cái đinh. Và con mắt xanh đã hỏng. Vòng mắt trở nên trống rổng. Mi mắt sụp hẳn xuống. Đó là một hình phạt khi tao phải luôn luôn nhìn trước mặt taotrong nhà, trước sân – vòng mắt trống rổng của Angelo. Tao nhìn con mắt trái còn lại của nó, thật xanh, thật đẹp, như một hòn đá quý, nhưng độc nhất. Bởi vì như tao đã nói, tao chưa bao giờ thấy một con mắt xinh và sang như con mắt trái của Angelo …
“Tao không thể tự tha thứ cho mình đã dung đinh phá hủy mất ánh sáng của con mắt em tao.
“Cũng từ đó, bắt đầu những ngược đãi đối với tao. Cha tao không còn cho tao hưởng gia tài nữa. tao không được ngồi ăn cùng bàn với Angelo và cha mẹ tao; tao phải cùng ăn với tôi tớ trong nhà. Tất cả gia tài đều mang tên Angelo. Tao đã được đối xử công minh như thế trong nhà. Angelo càng lớn lên, dân làng càng ghét tao. Mùa hè năm đó, tao đứng nói chuyện với một cô gái trước nhà. Chỉ nói được hai câu thôi. Nàng hỏi tao: “Anh có thích đôi mắt tôi không?” Tao trả lời có chứ. Tức thì, nàng lấy tay che mắt và bảo tao: “Nếu thích thì đừng chọc thủng mắt tôi”. Và nàng ù té chạy.
“Lúc tao đến trường, bọn trẻ lấy tay che mắt và la lên: “Coi chừng cặp mắt tụi bây ơi, Boris sẽ móc mắt đấy”.
– Thôi tha thứ cho tao, Pillat bối rối nói. Đừng nói nữa, tao van mày thứ lỗi cho tao.
– Tại sao lại phải tha lỗi cho mày?
– Tao đã hận mày vì mày đã dấu không cho tao biết là mày có một đứa em. Nhưng bây giờ tao mới biết mày không nói là phải.
Pillat đặt tay lên vai áo không có cầu vai của Boris
“Suốt thời kỳ tao còn trẻ, mẹ tao đã cầu trời cho tao mang bệnh, sốt tinh hồng nhiệt hay đậu lào, hay một bệnh đáng sợ nào đó để tao chết đi. Ai cũng mong tao chết đi. Người ta gửi tao đi kiếm nấm ở trong rừng bắt tao nếm thử với hy vọng tao sẽ nếm phải một chất độc và chết đi. Trong làng, trong nhà, trong xã hội, tao là đứa cần được khai trừ.
“Từ năm ba tuổi, tao đã phả tự kiểm điểm mọi cử chỉ, vì một cử chỉ tầm thường nhất có thể bị xem như là một cử chỉ tội lỗi khiến người ta giận dữ. tao sống như thế đó, cô đơn, sợ hãi, bị khinh bĩ.
“Mấy đứa trẻ thường vật tao xuống đất, lục túi xem thử tao có giữ đinh, dao, hay một vật bén nhọn nào không. Bởi vì tất cả cái gì tao có đều nguy hiểm. Và mỗi lần như thế chúng đánh tao. Không bao giờ tao giữ một con dao nhỏ. Tao phải cắt thịt bằng răng trong bữa ăn”.
Pillat nói: “Boris, tao thương hại mày quá, nếu tao biết như thế…
Nhưng Boris bỗng hỏi: “Mày biết tại sao tao thi trượt không? Nếu mày muốn biết, tao sẽ nói với mày bây giờ. Bởi vì tao không thể học hành gì suốt mùa hè. Tao không có can đảm nói với cha mẹ tao là tao sắp thi toán. Để họ khỏi nghi ngờ tao phải học ban đêm. Nếu không thì đã lắm chuyện xảy ra! Họ đã xem tao như một thằng con nít ngu si. Đêm tối, thức giấc, họ thấy tao ngồi giải toán đãi số. Họ bèn cho tao một bài học như thế này: “Trời sinh ban đêm là để cho người ta ngủ, những sinh vật bình thường đều ngủ về đêm”. Tức thì tao đốt hết sách vở và không thể nào học nữa. Đó là lý do tao thi rớt và bị đuổi khỏi trường là thế”.
Boris thôi kể lể. Sau một hồi im lặng, hắn nói tiếp:
– Bây giờ mày biết hết chuyện rồi đó, mày còn khuyên tao trở về nhà nữa không?.
Pillat nhìn ra xa, Boris lại nói :
– Gia đình tao chỉ chờ một cớ nhỏ để đuổi tao. Bây giờ họ có rồi đó. Trông thấy tao trong bộ y phục này, với mãnh giấy trục xuất này, họ đủ yếu tố để chứng minh tao là một đứa xuống dốc, một thằng phạm tội. Và họ sẽ hung dữ hơn nữa. Vả lại họ không cho phép tao trở về nhà nữa đâu, cho dù chỉ về trước sân nhà thôi. Trong làng cũng không ai cho tao tạm trú. Như vậy thì còn lý do gì nữa để tao trở về, mày thấy không, không còn lý do gì nữa cả.
Một thứ yên lặng nặng nề tiếp theo ? Pillat nhấc ống quần lên một chút, rút một bao thuốc lá dấu trong giầy ra trao cho Boris, Boris vấn thuốc, tay run run.
Pillat nói: « Chưa bao giờ tao nghe nói hay đọc được một câu chuyện đau lòng như câu chuyện của mày. Cũng chưa quen biết một ai phải chịu khổ sở như mày. Làm sao mày có đủ nghị lực để dấu kìn nổi cô đơn đó, Boris. Tao chưa hề đoán được như thế. Không đứa nào bạn bè, thầy giáo đoán được câu chuyện của mày. Một điều duy nhất mà tụi tao biết được là mày bắt đầu gầy đi và bực bội khi hè đến. Tao đã ngạc nhiên là chưa bao giờ mày có một lá thư ở nhà. Mày là đứa duy nhất không có thư; trong bốn năm, không có một lá thư. Có đúng là chưa bao giờ mày nhận thư, phải không Boris nhỉ ?
Mắt Boris ươn ướt, hắn không trả lời Pillat. Chỉ nhìn mây bay
Hắn thích nhìn những cuộn mây bay ngang trên đầu hắn. Về phương Đông. Duỗi chân ra hắn châm một điếu thuốc. Bỗng hắn chú ý đến đôi giầy đang mang. Đôi giầy của những «đứa bị đuổi » cũng không thành đôi nữa :chiếc bên trái to và sẩm hơn.
Pillat hỏi: « Có bao giờ mày tìm nguồn an ủi nơi Chúa trời không ? bởi Chúa là một nguồn an ủi lớn lao cho những ai quá đau khổ ».
Hai đứa ngồi xuống cát, hút thuốc. Boris yên lặng.
– Mày có bao giờ cố gắng tìm về với Chúa?
– Tao đã cố thử. Trong hoàn cảnh tao, khi mà không thể đến gần bất cứ ai trên trần gian thì dĩ nhiên tao phải tìm đến với Chúa. Khi lần đầu tiên tao nghe có một kẻ ở bên kia thế giới – ở trên trời – biết tha thứ, tao đã nhảy vào lòng người với tất cả đam mê.
– Tao tin là không một đứa trẻ nào cầu Chúa với nhiều nhiệt thành như tao. Tao không thể yêu Chúa với một tình yêu nào cao hơn nữa. Bởi tao đang cần một người biết tha thứ. Và người ta thường bảo Chúa tha thứ hết cho mọi người. Tao phải nói chuyện với Ngài luôn luôn, không ngừng, như nói với một người bạn. Tối đến tao cầu nguyện hàng giờ, vừa khóc vừa cầu nguyện.
– Nhưng Chúa có trả lời mày không? Pillat hỏi.
– Có chứ! Nhưng mà cũng trả lời tao như mọi người thôi. Hình như Ngài cũng muốn kéo tao vào một cạm bẩy. Cho nên sau đó tao đã hết sức trốn ngài như tao đã trốn tránh loài người vậy. Chúa đã hiện hữu cạnh tao. Tao nhận được hơi thở của Ngài. Thế mà từ hồi mới sáu tuổi, tao đã chắc chắn là không nên cầu nguyện, nên tao đã tránh xa Ngài và tao phải ở vậy, cô đơn.
– Mày không cầu nguyện nữa từ hồi sáu tuổi?
– Không, Boris bảo hồi sáu tuổi tao đã lánh xa Chúa trời. Chỉ vì một cuộc phiên lưu tầm thường. Một buổi chiều, lúc tao đi học về không thấy cha mẹ tao ở nhà. Họ đã ra phố với Angelo. Không ai ở nhà cả. Mọi cánh cửa đều khóa kín. Tao phải ở một mình ngoài sân như mấy lần trước. Đêm đến tao vừa buồn ngủ vừa đói. Lại phải còn làm bài tập cho ngày hôm sau. Ngỡ là cha mẹ tao không trở về nhà đêm đó, tao cố tìm cách mở cửa để vào nhà. Tao cô đơn trong lạnh lẽo và sợ hãi. Cầm một sợi dây sắt, tao cố mở cửa, nhưng khó quá, tao mới có sáu tuổi thôi. Tao bèn quỳ xuống trước cửa và cầu xin Chúa giúp đỡ cho tao được vào nhà, cho tao đừng ở ngoài trời suốt đêm. Tao phải cầu xin, bởi một mình tao không thể nào mở cửa được.
– Và Chúa đã phù hộ mày?
– Vâng, Chúa đã phù hộ tao. Tao đã hết sức cầu nguyện, đã cầu nguyện bằng nước mắt để Ngài giúp tao mở cửa. Tao có cảm tưởng là Ngài đến bên tao, giúp tao. Trong chốc lát, tao mở được cửa vào nhà. Trời ấm quá. Sung sướng đến độ không cần không cần thấp đèn tao quỳ xuống cám ơn Ngài. Lần đầu tiên tao chắc chắn là mình không còn cô đơn trên đời. Tao đã có bạn: Chúa trời. Pillat ạ, mày không tưởng tượng nỗi sung sướng của một kẻ tìm thấy bạn trong lúc mọi người đang ghét bỏ mày. Và tao đã có bạn, một người bạn mà tao có thể gọi đến bất cứ lúc nào: tao không còn cô đơn nữa. Tao ở với Chúa, ở như thế rất lâu trước bàn thờ. Không thể xa rời, người bạn đó nữa. Bởi vì đó là báu vật duy nhất của tao khi tao đã không còn ai nữa cả – không cha, không mẹ, không bạn bè – lúc nào cũng thấy toàn kẻ thù khắp nơi, những kẻ chỉ mong tao chết đi…
– Bây giờ đã có một kẻ không gọi tao là thằng phạm tội và sẵn sang giúp đở tao. Kẻ đó là Chúa. Đêm đó tao không có gì ăn cả, nhưng tao vẫn sung sướng, quên ăn, quên bài tập, quên mệt nhọc, quên cô đơn, quên luôn cả những niềm đau đ ớn của mình. Tao sung sướng quỳ gối trước tượng Chúa, trước người bạn duy nhất của tao, suốt đêm.
– Nhưng lúc đó cha mẹ tao và Angelo trở về, trong những bộ y phục dạo mát. Chắc là họ đã đi ăn ở nhà hang và đã đi xem chớp bóng.
– Mới bước vào nhà, họ đã vội nổi nóng khi thấy tao quỳ trước bàn thờ. Chưa kịp thắp đèn cha tao đã hỏi to: “Thằng phạm tội đâu rồi”. Sau đó tao không còn biết gì nữa. Cha tao nhào xuống, đạp tao bằng đôi giày còn mới tinh của ông; mẹ tao cũng đến tiếp tay. Cha tao lại la lên: “Thằng phạm tội, mày tưởng là tao nuôi mày để bẻ ổ khoá, để chỉ cách cho người ở vào nhà trong lúc tao đi vắng hả?
– Họ đánh đập tao tàn nhẫn, người tao be bét máu. Tao phải bỏ ra ngoài nhà và ngủ trên chiếc ghế dài.
Thân thể tao đầy cả thương tích và máu me. Nghĩ đến đức Chúa trời, bạn tao, tao bảo thầm: “Lạy Chúa, Ngài biết trước tất cả những gì xẩy ra cho con như thế này, tại sao Ngài còn giúp con mở cửa làm gì? Hình như tao nghe Ngài trả lời này: “Boris. Con đã cầu xin và Ta đã giúp đỡ con hết lòng”. Nhưng lạy Chúa, Ngài thừa biết những gì con cầu xin là trái phép. Ngài thấy không người con bây giờ bầm tím và đầy cả máu. Ngài thấy họ đánh đập con. Nếu Ngài đừng giúp con mở cửa sẽ không xẩy ra như thế này. Sự phù hộ của Ngài không thể là sự giúp đỡ thật lòng của một người bạn tốt được. Ở địa vị Ngài, con sẽ không giúp đở cho một ai hoàn thành một điều gì xấu xa” – Ta luôn luôn chấp nhận những gì, con người cầu xin – Chúa trả lời như thế. “Nhưng thưa Ngài, con mới có sáu tuổi, con chưa phân biệt được xấu tốt như thế nào. Tối nay xin Ngài giúp con mở được cửa con tưởng là một điều tốt: Nhưng chuyện đã xảy ra như một điều xấu. Còn với Ngài, Ngài biết rõ đâu là tốt và đâu là xấu.
“Chúa không trả lời tao nữa hay là Ngài trả lời tiếp mà tao không nghe nữa, vì đã quá mệt. Tao đả khóc trong giấc ngủ. Tao không hận Chúa, nhưng tao sợ phải cầu xin một điều gì xấu xa. Từ đó tao không cầu xin gì nữa. Nếu tao cầu nguyện, tao sẽ nói thật giản dị – “Lạy Chúa, con xin Ngài một điều, hãy giúp con điều gì Ngài muốn.”
Ngay cả mùa hè này tao cũng không hề cầu nguyện cho kỳ thi”…
– Mày không xin Ngài cho mày thi đỗ? Pillat hỏi.
– Không, tao đã xin Ngài giúp tao nếu Ngài thấy thi đỗ là một điều tốt. Nhưng ngược lại, nếu tốt hơn nên để tao thi trượt …
– Thi trượt chắc chắn không thể là một điều tốt được. Mày nói như thế thì quá đáng rồi. Trong trường hợp này, tốt với xấu khác nhau quá xa.
– Panait Istrati đi Pháp và trở thành một văn sĩ lừng danh, cũng nhờ lúc làm bồi cho quán Braïla, ông đã bị chủ nhà đánh đập và tống cổ ra khỏi cửa. Nếu chủ quán đừng đuổi ông ta ra khỏi nhà thì ban đêm Istrati đã không mặc độc một chiếc sơ mi rời xứ sở và đã không trở thành văn sĩ như bây giờ. Ông ta sẽ tiếp tục làm bồi cho quán Braïla và biết đâu lại chẳng trở thành một chủ quán tầm thường như trăm nghìn người khác. Thế đó, trong mỗi điều xấu biết đâu lại chả có điều tốt. Chỉ vì chúng ta không biết đâu là điều tốt đâu là điều xấu mà thôi.
– Mày muốn đi ra ngoại quốc? Pillat hỏi.
Boris ngước mắt nhìn mây bay về phương Đông.
– Làm sao mày biết được điều đó nhỉ! Vâng, tao muốn đi. Cũng không phải tao muốn nữa, mà tự nhiên phải vậy. Bỏ đi là một điều bắt buộc. Không còn giải pháp nào nữa. Tao muốn đi và làm lại cuộc đời. Đi đến một nơi không ai biết tao là Boris Bodnar một thằng đâm thủng mắt đứa em; một nơi không có ai nghi ngờ tao, mà các thiếu nữ mỗi lần gặp tao không còn che mắt la lên: “Anh thấy đôi mắt tôi đẹp chỉ vì anh thích đâm thủng chúng”. Pillat, tao không phải là đứa hung bạo. Tao không hề muốn đâm thủng mắt ai cả. Đó chỉ là một tai nạn … Tao chỉ là một đứa bé … Tao không phải là một kẻ phạm tội.
– Mày muốn đi đâu? Pillat hỏi.
– Qua Nga Sô, bởi vì Nga gần hơn cả. Chỉ vài giờ đi bộ tao sẽ đến sông Dniestr, sau đó tao bơi qua sông.
Boris yên lặng trong chốc lát rồi tiếp tục: “Nội trong đêm nay, tao sẽ có mặt ở Nga Sô. Vì thế tao không cần tiền. Nhưng dù sao tao cũng cám ơn mày đã cho tao tiền.
Pillat nói: “Mày không biết sự khủng bố đang bao trùm trên đất Nga hay sao? Mỗi mùa đông mày có thấy những người tỵ nạn vượt băng giá trên song Dniestr cho dù có thể bị giết chết hay sao?
– Tao biết chứ, nhưng sự khủng khiếp mà tao phải chịu đựng ở đây còn lớn hơn gấp bội. Vì ở đây, chỉ một mình bị khủng bố mà thôi; còn ở Nga Sô, nếu thực sự có khủng bố, thì đó là một chuyện tập thể. Thực là một điều lớn lao nếu mình có được bạn đồng hành, ngay cả đồng hành trong sự đau khổ. Sự cô đơn là nỗi đau đớn lớn nhất trần gian. Người ta có thể cùng chung chịu đựng sự khủng bố lớn lao nhất, nhưng cô đơn thì chết được. Với tao, tao không nghĩ là cuộc đời tao ở Nga Sô sẽ khổ hơn ở đây. Từ hồi ba tuổi đến giờ, tao chỉ biết có rình mò, nghi ngờ, kết tội nhục nhã và đố kỵ …, Với tất cả điều đó, tao tin ở Nga Sô tao sẽ được tự do hơn.
– Tại sao mày muốn bỏ quê hương mà đi. Cứ ở đây và đừng về nhà?
Ở Lỗ Ma Ni, tao luôn luôn phải tự nhận là tao bị trục xuất khỏi trường học, tao là một đứa phạm tội đã chọc thủng mắt em. Ở xứ này, cha mẹ tao, láng giềng, bạn bè ai cũng có thể gặp tao cả. Ở xứ này, con mắt Angelo và sự kết án của mọi người theo tao suốt đời. Trái lại ở Nga Sô, không ai phải lấy tay che mắt lúc gặp tao đi ngoài đường; đó là lý do chính khiến tao ra đi.
Boris nói tiếp: “Có thể tao bị giết khi vượt qua sông Dniestr, vì biên giới được canh gác rất cẩn thận. Nhưng ý nghĩ chết chóc không làm tao sợ hãi. Tao đã quen với ý nghĩ đó hơn là ý nghĩ được sống. Nhiều lúc tao nghĩ là thà lính gác bắn tao ở biên giới đó cho khoẻ!
– Đừng nói nhảm. Pillat bảo, và vấn thêm một điếu thuốc, vừa nhìn đồng hồ.
“Còn 15 phút nữa mới đến giờ ra chơi” Rồi Pillat bỏi Boris thêm:
– Nhưng tại sao mày đã dấu kín chuyện đó? Nếu mày tâm sự với tao mày sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều. Biết đâu tao lại không giúp được gì cho mày. Mày lầm lẫn lớn khi cố tình giữ bí mật chuyện đó, đáng lý nên nói với tao là hơn.
– Nếu tao kể cho mày nghe, biết đâu mày chẳng coi chừng tao để xem thử tao có phải là một “quân sát nhân trời sinh” hay không?
– Dĩ nhiên là không?
Boris nhìn mấy mảnh giấy và ít tiền trong bao thuốc của Pillat. Pillat bảo:
“Tao muốn làm bất cứ điều gì cho mày, bất cứ điều gì mà mày thích”
– Tao không muốn đòi hỏi gì ở mày cả. Mà thật ra tao đòi hỏi gì ở mày bây giờ chứ và hắn tiếp tục nhìn vào bao thuốc lá. Pillat lập lại:
– Tao sẽ làm bất cứ điều gì mà mày muốn.
– Tao thấy mày có một chiếc ảnh trong bao thuốc (Boris đỏ mặt). Chắc là ảnh của một đứa con gái. Mày có thể cho tao hay không nhỉ?
– Tao sẵn sàng cho mày đấy, Pillat nói thế, và rút tấm ảnh ra, chiếc ảnh một nữ sinh loại nhỏ như ảnh căn cước, nhỏ bằng một con tem mà thôi.
– Có phải bà con của mày không? Boris vừa hỏi vừa cầm tấm ảnh, nhìn cô gái trong bộ đồng phục cổ trắng.
Đó là ảnh một thiếu nữ trạc tuổi chúng, đang còn vị thành niên. Pillat trả lời: “Đó là một nữ sinh trường âm nhạc, tên Eddy Thall. Tao cũng chỉ biết có thế mà thôi. Không phải nàng cho tao tấm ảnh, tao tìm thấy nó trong một cuốn sách ở thư viện trưởng.
Cả hai đứa cùng ngắm vẻ đẹp ngây thơ của Eddy Thall. Pillat bảo:
– Nàng đẹp lắm. Đang theo học khiêu vũ và nghệ thuật diễn xuất.
– Mày yêu nàng lắm hả? Boris hỏi.
– Tao chưa có dịp nói chuyện nhưng tao yêu nàng vô cùng. Tao chỉ thấy nàng đi với bạn bèn ngoài phố vào một dịp nghỉ hè.
Người con gái trong ảnh mỉm cười. Pillat nói:
– Tao cho mày đấy, mày có thể cầm lấy.
– Không, tao không lấy đâu. Boris trả lời, và đưa trả tấm ảnh cho Pillat. Pillat hỏi: “Mày không thích hay sao?’’
– Thích lắm chứ, với lại nàng đẹp lắm, Boris ngập ngừng chốc lát, tao thích đem ảnh này theo lắm. Có nó tao cũng bớt cô độc, ít nhất tao cũng còn một tấm ảnh bên mình.
– Thì mày lấy đi.
Tấm ảnh của Eddy Thall vẫn ở giữa hai đứa, trên cát.
“Tao sẽ bơi qua sông Dniestr. Nếu tao mang theo, nó sẽ hư mất. Rút cục, tao cũng không có nó lúc qua bên kia sông; tao cũng vẫn cô độc. tấm ảnh lại cũng mất đi. Như thế tao mang nó theo là phi lý. Tao từ chối là phải. Tuy nhiên trong thâm tâm tao vẫn thích cô nó bên mình’’
Đến giờ ra chơi, Pillat cầm lấy tấm ảnh, bọc lại trong một mảnh giấy dầu và bỏ vào bao thuốc. Pillat nhét bao thuốc vào giày xong, bèn lẫn vào đám đông đang tràn ngập sân trường võ bị Hoàng gia Kichiev.
Boris ở lại một mình, cúi gầm xuống đất. Hắn thầm nhủ: ‘’ Đến không còn cả một tấm ảnh bên mình. Mình không mang theo tấm ảnh của cô nữ sinh trường âm nhạc đó, nhưng mình sẽ mang tên cô ấy theo. Và với tên nàng trong lòng, mình sẽ bơi quan bên kia sông Dniestr?’’
Khi người ta không còn gì nữa cả. Hoàn toàn không còn gì cả, thì chỉ một tên người con gái biết được nhờ một tấm ảnh mà thôi cũng là một điều đáng kể rồi. Chỉ cái tên thôi. Tên rất đẹp. Thật đẹp. Và Boris thầm gọi: ‘Eddy Thall’ Vừa thầm gọi tên nàng vừa mỉm cười; hắn lập lại: ‘Eddy Thall’ …
Tiếng kẻng đổi gác lôi tôi ra khỏi dòng mộng. Những tiếng nói cười, tiếng chân đi vọng đến tai rất rõ. Trời đất tối như mực. Tôi nghĩ đến Khắc và ước mơ của hắn. Giá lúc này tụi Cộng Sản mở cổng cho phép đi cầu, thì Khắc có cơ may trốn thoát, nếu không vướng mìn. Nhưng chiếc cổng đã được đóng chặt, hai tên cảnh vệ từ trên cao nhìn bao quát, chẳng ai dám đứng gần, chứ đứng nói mở. Chợt nghe tiếng gọi tên, tôi quay về hướng đó. A “tu-bíp” Cường.
– Có chuyện gì vậy ông?
– Tôi mới xin được mấy nén nhang, chờ Giao Thừa, đốt lên, cúng vái trời đất và tổ tiên, ông chịu không?
– Chịu quá đi chứ! Ông xin ở đâu, hay vậy?
– Mới đi khám bệnh cho một anh, bỗng nhìn thấy bó nhang để đầu giường, tôi xin mấy nén.
Cường vốn không được lòng anh em, nhưng ở gần mới biết, hắn không có ác ý với ai, còn câu chuyện hắn bợ đỡ tên y tá và buôn bán thuốc tây, chẳng qua vì quyền lợi!
Tôi ngồi hút thuốc lào vặt chờ Giao Thừa. Thời khắc lúc này hình như trôi rất chậm. Căn buồng tôi ở, nhìn thẳng ra vọng gác. Do đó, nhất cử nhất động của chúng tôi ở phía dưới, mấy tên gác trông rõ mồn một. Tôi đứng dậy, múc chén nước, bầy kẹo bánh vào chiếc dĩa, đặt trên mặt ghế ngay trước cửa nhà để lễ Giao Thừa . Cường đi đi, lại lại tỏ vẻ nóng ruột. Thân hình hắn lùn mập nên dáng điệu có vẻ chậm chạp. Bỗng hắn dừng lại, nói với tôi:
– Này ông, còn 2 phút nữa thôi, liệu thắp nhang thì vừa.
Tôi cầm mấy nén nhang, bật lửa. Làn khói thơm ngát tỏa ra. Tự nhiên, lòng tôi thấy vơi nhẹ, lâng lâng như trút hết mọi ưu phiền. Cưộc sống hiện hữu hay cõi chết vô thường cũng như nhau. Nó là sự giao thoa mầu nhiệm giữa cái có, cái không, cái còn, cái mất!
Tôi cắm nhang vào chiếc lon đựng đầy cát. Cường và tôi cùng chắp tay, cúi đầu, lâm râm khấn vái. Gió thổi từng cơn lành lạnh. Dòng khói quá mong manh vừa tỏa ra đã bị gió làm tan nhanh, không để lại chút gì. Đầu ngọn nhang cháy đỏ rực trông thật đẹp, như những cánh hoa lửa giữa đêm khuya. Một tràng pháo nổ vang từ xa vọng lại. Tiếng pháo nổ không làm tôi vui, vì nó thuộc về phía kẻ chiến thắng.
Chúng tôi vừa lễ xong, bỗng từ ngoài kẽm gai có tiếng nói vọng vào:
– Mấy anh kia, “nàm” gì đấy?
Chúng tôi giật mình khi thấy chiếc nón cối và khẩu A.K. đang đứng nhìn chằm chằm.
– Dạ, chúng tôi lễ Giao Thừa!
– Chắc các anh nhớ nhà “nắm” hả?
– Dạ, nhớ!
– Tôi cũng vậy, đi bộ đội đã trên 6 năm nay, chưa một “nần” được về thăm nhà. 6 cái Tết rồi! Tôi còn mẹ già và hai em: 1 trai, 1 gái!
– Tại sao cán bộ không xin phép về thăm, bây giờ hòa bình rồi!
– Có xin đấy, nhưng Trên chưa cho. Các anh tưởng tôi sướng lắm đấy ư? Các anh bị quây 12 lần kẽm gai, tôi cũng 9 vòng, kém gì?
Quả không ngờ, tên cảnh vệ lại nói với chúng tôi những lời như vậy, nhưng vì dè dặt, chả ai dám nói thêm điều gì. Nó lừng lững bỏ đi. Chúng tôi quay vào nhà, ngồi suy luận về thái độ của tên cảnh vệ.
Trời bên ngoài tối đen, không tiếng động nào vọng đến. Những giây phút tinh khôi của một năm mới bắt đầu. Mọi người chúng tôi thêm lên một tuổi. Chẳng biết trong năm mới này, những chuyện gì sẽ xảy đến? Có tiếng gọi từ ngoài rào:
– Có anh nào trong nhà không?
Tôi chạy ra. Tên cảnh vệ đưa qua rào kẽm gai một gói giấy và một chai la-ve:
– Các anh cầm “nấy” mà dùng. Nhanh “nên”, kẻo có người trông thấy.
Sau khi đưa xong, hắn đeo súng trên vai đi xuôi theo con lộ. Chỉ một thoáng, vóc dáng hắn đã chìm khuất vào màn đêm âm u. Tôi quay vào lẹ như cơn gió. Cường tưởng có chuyện gì, mở to mắt nhìn tôi.
– Có chuyện gì thế?
Tôi không trả lời, đưa cho Cường gói giấy và chai la-ve. Cường mở gói ra xem, thấy có một gói cơm sấy ngào đường, loại đồ ăn khô của Trung Cộng, còn chai la-ve bốc mùi rượu đế. Chúng tôi vô cùng ngac nhiên vì không ngờ tên cảnh vệ lại cho những thứ đó, nhất là rưọu. Nội quy Trại triệt để cấm uống rượu. Nếu có tiền, mua gì cũng có thể được, trừ rượu! Đêm nay Giao Thừa, tên lính Việt Cộng cho rượu uống, chẳng biết là điềm hên hay xui? Nhưng dù thế nào, có rượu hãy uống đã. Cường đi tìm Cúc, Sử và Khanh về cùng ăn, uống cho vui. La-ve pha đế và đường ngon quá, Khanh cứ uống tì tì hết chén này đến chén khác. Sau khi chai la-ve cạn, Khanh đi ra ngoài. Anh em chờ lâu không thấy vào, bảo Sử đi tìm. Lát sau, Sử dìu Khanh lảo đảo bước vô, người rũ xuống như chiếc dái khoai.
– Nếu tôi không ra, chẳng biết ông ấy nằm ngoài sân đến bao giờ? Chắc đã lâu không uống rượu, nay uống la-ve pha đế, đường, nên dễ say!
Chúng tôi ngồi ăn cơm sấy, nói chuyện đến 3giờ sáng. Quá mệt, tôi lăn ra ngủ, không buông mùng, quấn tròn thân mình vào tấm vải đắp, như con sâu nằm trong tổ!
Khi mở mắt, ánh nắng đã chói chang. Căn buồng vắng vẻ, mọi người đã đi đâu hết. Hôm nay, mùng một Tết. Tôi cố hồi tưởng đến ngày mùng một Tết nào đó của tuổi thơ, dậy thật sớm, mặc quần áo đẹp chờ tiền mừng tuổi. Ôi, ngày đó xa rồi, xa quá rồi! Những hình ảnh đẹp ấy, nay thuộc về thế hệ các con tôi, với tôi, nó chỉ còn là bổn phận và trách nhiệm!
– Ngủ gì dữ vậy ông ? Hồi sáng đến chúc thọ, ông chưa dậy. Chán ghê, chán ghê!
Tôi lè nhè trả lời:
– Hãy còn sớm mà !
– Còn sớm à?Người ta chúc nhau ầm ầm, vui như Tết, còn ông cứ nằm ì ra như con heo.
Tôi cười, xin lỗi Mậu, đi ra ngoài rửa mặt, đánh răng. Mặt trời lên đã quá cao, những tia nắng như bốc lửa trên mặt cát. Hôm nay mùng một Tết, thời tiết cũng chẳng có gì đổi thay. Mặt trời vẫn thiêu đốt, cảnh vật im lìm, chìm đắm dưới sức nóng hừng hực. Tôi quay vào:
– Chúc ông năm nay sớm được về đoàn tụ với gia đình. Dồi dào sức khoẻ bằng năm bằng mười năm ngoái.
– Không còn câu nào hay hơn nữa sao? – Tôi hỏi Mậu với ý diễu cợt.
– Thế ông không muốn được tha à?
– Ai không muốn được tha, nhưng con đường cải tạo còn gian nan lắm ! Không phải tôi nói gở đâu, nhưng thực tế đã mặc khải cho tôi thấy nhiều khó khăn hơn dự tưởng.
– Thế ông không chúc gì tôi à? – Mậu mở to mắt nhìn tôi.
– Ông muốn chúc gì? Để tiện việc, tôi cũng chúc ông xêm xêm như ông đã chúc tôi! chịu chưa?
– Giản dị quá nhỉ? Ông là chúa ấm ớ! Mùng một Tết gặp ông, chán ghê, chán ghê! Thôi, tôi với ông đến thăm Lâm và Huy cùng các bạn thuộc B cũ đi.
Hôm nay, mọi người hình như trẻ, đẹp ra. Trên nét mặt người nào cũng hồng hào như vừa uống xong ly rượu. Đi một quảng, tôi gặp Thượng Tọa Thích Thanh Long (Cựu Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo). Vừa thấy tôi, Thượng Tọa đã chắp tay đưa lên ngực:
– A Di Đà Phật. Năm mới, chúc ông ước gì được nấy!
Tôi cúi đầu, cũng chắp tay đưa lên ngực.
– Bạch Thượng Tọa, tôi kính chúc Thượng Tọa, trong năm mới được dồi dào sức khỏe để phụng sự Phật pháp.
– Cảm ơn, cảm ơn nhiều!
Thượng Tọa Thanh Long lại đưa tay lên ngực, cúi đầu chào tôi, trước khi quẹo ngả khác. Trong Trại Suối Máu có hai vị Thượng Tọa. Riêng tôi, rất kính phục Thượng Tọa Thích Thanh Long vì tư cách và đạo đức, xứng đáng vị lãnh đạo tinh thần của một tôn giáo. Thượng Tọa vẫn ăn chay, niệm Phật. Không ai thấy Thượng Tọa có hành động hoặc lời nói nào làm mất uy tín của người tu hành, dù trong Trại tù có rất nhiều hoàn cảnh tạo nên sự chao đảo. Còn vị kia đã ngả mặn, sống như người tù thường, ngoài chiếc đầu không tóc!
Lối đi hẹp nhiều lúc ứ nghẹn vì dòng người quá đông. Tiếng chúc tụng nhau qua lại, nghe mãi hóa nhàm. Câu được dùng nhiều nhất: Chúc bạn sớm được về đoàn tụ với gia đình! Còn các câu khác, loáng thoáng thôi. Những sáo ngữ thường chúc tụng ở ngoài đời trước kia như: thăng quan tiến chưc, nhất bản vạn lợi, đầu năm con trai, cuối năm con gái, v.v.., nếu có được dùng, chỉ nhằm diễu cợt.
Tôi gặp lại anh em trong B cũ hồi ở Long Giao, thật vui. Lời chúc, ít thôi, nhưng ăn kẹo bánh nhiều. Ai cũng thủ sẵn gói kẹo bánh trong túi, gặp ai thân rút ra mời. Sau một hồi trò truyện, nhắc nhở dăm ba kỷ niệm, tôi cáo lỗi để có thì giờ đi thăm những bạn khác.
Tôi đến thăm Nhân, Phúc và Hùng. Chúng tôi gặp nhau cũng bình thường như mọi ngày. Đời sống trong tù, lâu dần làm tâm hồn con người trở thành chai đá.
Phúc giết thì giờ bằng mạt chược. Cổ bài mạt chược do anh em làm lấy bằng gỗ, cũng vẽ và tô mầu khá đẹp. Cái thú phong luu từ ngoài đời được thực hiện ngay trong nhà tù Cộng Sản. Tụi quản lý Trại giam, chắc chưa bao giờ được biết cái trò cờ bạc này, nên chúng không ngăn cấm, miễn đừng đặt tiền. Ngoài mạt chược, có người chơi xì-phé, được thua cả trăm tiền mới. Để khỏi bị bắt, họ chơi bằng tiền bìa, 1 loại “jeton”, giá trị tùy theo hình thể và mầu sắc.
Đi một hồi, vừa mỏi chân vừa mỏi mồm, tôi quay về buồng nằm nghỉ, chờ cơm. Bữa cơm trưa ngày mồng 1 Tết, cũng khá đầy đủ, có thịt, canh. Đây, bữa ăn ngon cuối cùng để kết thúc ngày Tết, tuy Tết mới xuất hiện có trên 10 tiếng đồng hồ. Từ chiều, đời sống của tù lại kéo dài những ngày buồn nản. Tôi chưa gặp Khắc, nếu gặp, tôi sẽ chúc hắn sớm thực hiện được ý muốn.
Nhưng một ngày qua rất nhanh. Buổi tối, không khí ngày Tết hình như đã tàn phai. Anh em túm năm, tụm ba ngồi nói chuyện tầm phào, ăn mứt kẹo, uống nước. Dưới ánh đèn mờ ảo, những nét mặt lại đăm chiêu, phiền não ! Buồn quá, chả biết làm gì, tôi lại đi dạo quanh chiếc sân nhỏ như mọi tối trước giờ ngủ. Bỗng tôi nghe từ ngoài rào kẽm gai, có tiếng suỵt chó. Một con chó màu vàng từ đâu chạy băng qua mặt. Tôi đứng lại, ngó theo. Nó chạy sục sạo phóng nhanh qua sân, rồi quay trở lại, chui qua rào kẽm gai. Con chó sủa mấy tiếng ngắn. Tôi nhìn ra, một tên cảnh vệ đi dạo trên mặt lộ, đầu trần, khẩu A.K. lủng lẳng trên yai, con chó quanh quẩn dưới chân. Tên cảnh vệ cúi xuống, nhặt cục gach ném xa, con chó chồm lên phóng theo. Chỉ một thoáng, nó đã ngậm cục gach trong mồm, đuôi ve vẩy tiến về phía chủ. Tên cảnh vệ khom người lấy cục gạch trong mồm chó, rồi cho tay xoa đầu chó, như khen thưởng. Nó tiến sát rào kẽm gai:
– Sao, anh ăn Tết có vui không?
Tôi nghe đúng tiếng tên cảnh vệ đã cho chúng tôi cơm sấy và rượu đêm qua:
– Dạ, cũng vui! Tết bên ngoài, chắc vui lắm!
– Vừa phải thôi. Chỉ đốt pháo “nà” nhiều. Tiền đâu, họ mua pháo nhiều thế? Tôi gác tới nay, từ 9 đến 11 giờ, có thư, đưa tôi gửi về nhà cho. Đêm, gác 2 người, khi nào thấy mình tôi, hãy đưa!
– Vâng, khi nào cần, chúng tôi sẽ nhờ cán bộ giúp!
Tên cảnh vệ, không nói gì, đi về phía cái thang, leo lên từng bậc. Con chó đứng dưới, ghếch cổ lên nhìn, sủa vài tiếng rồi biến vào bóng tối. Từ trên vọng gác, một tên khác chăm chú nhìn xuống.
Tôi mang chuyện đó nói với Cường, Khanh và Sử trong lúc Cúc không có mặt. Mọi người đều có ý kiến, nên dè dặt, sợ bị phản phé. Riêng tôi, vì có nhiều việc cần nói với gia đình, nên viết sẵn một lá thư, kèm theo một đồng tiền tem, buộc vô cục gạch nhỏ, chuẩn bị quăng ra ngoài khi có cơ hội. Nhưng phải chờ đến hai, ba hôm sau, khi tên cảnh vệ lên phiên gác ban ngày mới thực hiện được. Đây, lần thứ nhất, tôi được nhìn thấy anh ta tận mặt. Da mặt đen đúa, tay chân thô kệch, giọng nói quê mùa, nhưng quả thật có tấm lòng tốt. Sau này, anh ta đã giúp chúng tôi rất nhiều trong vấn đề thư từ liên lạc giữa chúng tôi và gia đình. Chúng tôi, không biết tên, nên gọi anh là “ân nhân”. Thư từ trong Trại, gửi đi rất hạn chế, mỗi tháng một lần, lại bị kiểm duyệt, nên có những vấn đề cần nói, không dám viết ra, nhờ vào cơ hội này, chúng tôi viết thoải mái. Nhưng anh ta cũng đề cao cảnh giác, luôn luôn nhắc nhở:
– Trước khi ném thư, phải nhìn lên vọng gác, khi nào thấy tôi gật đầu làm hiệu hãy ném. Ban đêm, gác kép, nếu nghe tiếng suỵt chó hãy ra bờ rào kẽm gai. Chớ bao giờ ném thư hoặc đứng sát rào khi chưa có ám hiệu. Chẳng may, tên Hải bắt được, nguy cho mấy anh, còn tôi không cần, bất quá chỉ bị “điều” đi nơi khác thôi, nhớ nhá!
Những ngày Tết trong tù tàn theo cuộc vui đánh cờ tướng và những tờ Bích Báo lòe loẹt treo đầy vách nơi căn nhà đặt máy tivi. Nhiều tờ đã rách tả tơi vì gió. Sự thực cũng rất ít người coi vì nội dung toàn bợ tụi Cộng Sản một cách hời hợt giả dối, cho xong chuyện. Cộng Sản chắc cũng biết, nên chẳng đứa nào ngó tới. Chúng có trao một số kẹo bánh và thuốc lá để làm giải thưởng cho người thắng cờ và tờ Bích Báo nào được chấm là khá nhất, do tù tự quyết định với nhau.
Sau Tết, miền Nam nắng gắt. Suối Máu vùng đất cát nên càng nóng. Ai cũng tìm cách làm sao có chiếc mũ đội. Do đó, trên 1,500 người có mặt, có trên 1,500 kiểu mũ. Không ai có thể tưởng tượng được một rừng mũ đủ hình, đủ kiểu, đủ màu đi lượn lờ mỗi sáng, mỗi trưa, mỗi chiều trong vòng đai Suối Máu. Đây, cũng một hiện tượng lạ với óc sáng tạo phong phú của mỗi người tù.
Giếng nước, mỗi ngày mỗi cạn, gầu thả đã đụng đáy. Trời nóng, ai cũng cần nước. Vì vậy, nên sự chen lấn, giành giật không tránh khỏi. Nhiều vụ cãi lộn, chửi thề đáng lẽ không nên có giữa các người đồng cấp và cũng là chiến hữu từ mấy chục năm, nhưng con người vì tranh sống, nên đôi lúc nóng nảy quên cả tình nghĩa, làm kẻ thù đánh giá chung tập thể rất thấp. H.râu người đã sống những giờ phút vô cùng oai hùng giữa mặt trận XX, người đã coi thường cái chết, đã hạ chiếc T54 bằng trái M72 cuối cùng, Anh Dũng Bội Tinh xếp đầy một rổ… bữa nọ chỉ vì vài con cá nhỏ, chia chác không đều, đã gây lộn suýt thành ẩu đả ! Con người càng bị đè nén, phản ứng càng mạnh. Những câu chửi rủa tục tằn sở dĩ có cũng do sự bực bội mà ra. Người ta không dễ tha thứ cho nhau khi cảm thấy không còn ai tốt với mình.
Có lẽ Việt Cộng nghĩ, không nên để tù rổi rãi quá có thể xẩy ra những hậu quả không tốt cho chúng, nên phát động công tác trồng sắn.
Mỗi ngày có vài K đi lao động ở ngoài Trại. Đi ra ngoài, tuy nắng nôi thật đấy nhưng vui vì gặp dân chúng và được hưởng đôi chút tự do! Không hiểu sao, chỉ mấy hôm sau, đã thấy các bà chờ ở hai lề đường, tay cắp, nách mang đồ tiếp tế. Bà nào may gặp chồng, con, quăng được ít đồ, nói vài ba câu, mặc kệ tụi cảnh vệ xua đuổi. Nếu không gặp, mang về, mai lên tiếp. Có nhiều bà, chờ cả tuần không gặp chồng, vì ông không đi lao động do đau ốm hoặc đến phiên nấu cơm, vác củi hay làm công tác khác.
Chẳng hiểu sao từ chiều, không có tên cảnh vệ nào đi tuần trong Trại. Có lẽ, chúng tin, sau những lời dọa nạt, sau sự tuần phòng liện tục suốt mấy ngày nay, chắc tù không dám tổ chức lễ Giáng Sinh. Tuy tình hình êm như vậy, nhưng những người có trách nhiệm tổ chức Thánh Lễ đêm nay, vẫn đề cao cảnh giác. Họ chia nhau canh gác và có hệ thông “báo động sống”, nếu tụi cảnh vệ ruồng xét bất tử. Theo dự định, buổi lễ sẽ được tổ chức sớm tại khu nhà bếp. Đúng 22 giờ, những người có đạo đã tụ họp đông đủ. Vị linh mục chủ lễ, tuy ăn mặc thường, nhung nét mặt trang nghiêm, đôi kính trắng gọng vàng lấp lánh qua ánh nến, do Tuệ cầm soi cao trước mặt. Tiếng cầu kinh lầm rầm, thoạt đầu nhỏ sau to dần. Xung quanh tối om trừ nơi vị Linh Mục đứng, làm không khí vừa tôn nghiêm vừa quái dị. Đây, đêm Giáng Sinh thứ nhất trong Trại tù Cộng Sản. Tuy không có đạo, trong lòng tôi cũng dâng lên sự tôn kính và thầm cảm phục ý chí của các anh em mộ đạo. Cuộc lễ khai diễn chừng 15 phút, bỗng nhốn nháo, ai nấy bỏ chạy toán loạn. Tuệ chúm môi thổi tắt ngọn nến. Toàn thể khu vực tối om. Những vệt đèn pin quét lia lịa cùng tiếng quát tháo của các tên cảnh vệ mặc thường phục trà trộn vào. Nhưng chúng chẳng bắt được ai. Tất cả, như chiếc tổ chim bị phá, các cánh chim đã bay cao và xa!
Quá tức giận vì không thành công trong việc tóm bắt được một người nào, trong số tham dự cuộc lễ, nên hôm sau, tên Hải cho gọi tất cả Linh Mục Tuyên Úy lên thẩm vấn. Tôi không được biết công việc thẩm vấn diễn tiến ra sao, nhưng chỉ biết, nó kéo dài từ ngày này qua ngày khác, cả ngày lẫn đêm. Chắc các vị Linh Mục cũng mệt lắm, nhưng đã là con của Chúa, tất nhiên phải gánh chịu vinh quang và nhục nhằn, như cách đây gần 2000 năm, Chúa đã chịu đóng đinh trên cây Thập Tự Giá.
Đã hơn 6 tháng, chúng tôi sống một cuộc sống mất tự do với quá nhiều nhục nhằn. Thật buồn nản và thất vọng bao nhiêu khi đoán biết ngày mai chẳng có gì khích lệ. Vấn đề dinh dưỡng mỗi ngày mỗi tồi tệ. Cơm tương đối không thiếu, nhưng người ta không thể chỉ ăn cơm với canh đu đủ xanh nấu muối trường kỳ. Gói quà 3k cũng chẳng kéo dài được bao lâu. Dần dà, mọi người cảm thấy mất sức vì thiếu chất protein. Trong lúc nhàn du, tôi đem sự thắc măc đó nói với Tư, người bạn cùng đơn vị, nhưng hiện ở khác K. Khi nghe tôi nói xong, Tư cười hềnh hệch:
– Các ông cứ lo nghĩ vẩn vơ, không chịu nhìn thực tế. Mình có sẵn chất prô-tê-in lại chẳng chịu xử dụng!
– Đâu?
– Chuột đó! Thiếu gì. Ông cứ làm lông sạch, mổ bụng moi hết ruột gan, chặt đầu vứt đi, đem thui vàng tẩm mắm muối hành tỏi, chờ ngấm, cho chút dầu chiên lên, ô là la… vừa nói đã muốn chảy nước miếng đó, ông ơi!
– Tởm bỏ cha! người ta ăn chuột đồng, chứ bố ai dám ăn chuột cống, nhất là chuột trong Trại tù, chuyên ăn phân.
– Ông tưởng chỉ có chuột ăn phân thôi à? Con chó không ăn sao? Vì đâu nhiều người mê ăn thịt chó? Con lợn, con gà, không ăn sao? nhưng tạo hóa sinh ra chúng, thực phẩm nào ăn được, tiêu hóa được, chúng mới ăn và mọi thứ đều biến chất qua hệ thống tiêu hóa để trở thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Còn chuyện sợ hay không, tùy theo cảm nghỉ của mỗi người.
– Ông nói gì cứ nói, tôi đếch ăn thịt chuột.
– Ăn hay không, cái đó tùy, nhưng tôi cần phải nói cho ông biết, chuột ở Suối Máu có giá lắm đấy nhé ! Lúc đầu, anh em mời nhau ăn cho vui. Sau thấy ngon, ăn vào khoẻ người, nên ai cũng ham. Có người làm bẫy 6 ngăn, đêm nào cũng bẫy được 3,4 trự. Một đồng một trự đó. Đôi 1úc chuột khan, 1đ50 đó. Ông đã nghe nói chuột 7 món chưa?
– Chưa! Nếu biết, ông kể cho nghe đi!
Tư lấy nét mặt nghiêm trang, như sắp sửa nói câu chuyện gì quan trọng. Sau tiếng đằng hắng, anh nói :
– Chuột luộc nè, chuột nướng chả nè, chuột nấu sả nè, chuột ram nè, chuột cà-ri nè, chuột quay nè và sau cùng chuột nấu cháo, món này mát và bổ!
– Ôi chao, nghe đã buồn mửa!
– Ông khó tính bỏ cha. Chiều nay, tôi mời ông ăn bữa chuột ram. Nếu không nói, đố biết đó là thịt chuột. Tôi sợ ông ăn một lần, rồi mê luôn.
– Dạ, cảm ơn, cảm ơn! không dám!
Tư đứng dậy kéo tôi đi đến bên rào kẽm gai, đưa tay gỡ chiếc bẫy chuột xuống. Một con chuột cống to bằng bắp tay chạy lồng lộn như muốn tìm cách thoát ra. Mầu lông nó không đen mà nhuôm nhuôm, một đôi chỗ mất lông, lòi mầu da trắng nhợt.
– Trông có mê không? béo lắm đó ông. Dưới lớp da là lớp mỡ, khi ram khỏi cần cho thêm dầu .
Tôi không muốn nghe, cũng chẳng muốn nhìn con chuột, vội tìm cách rút lui. Tôi không ngờ, trước đây, với cương vị của Tư, mỗi tuần anh đều có thể ăn nhà hàng, tiệm nào tùy ý. Nay mới già nửa năm sống mất tự do, bị thiếu thốn chút ít về vật chất mà miếng ăn đã làm thay đổi hẳn tính nết. Chẳng cứ gì Tư, nhiều người như vậy. Khắp Trại tù, chỗ nào cũng ngửi thấy mùi chuột thui khét lẹt.
Vì đời sống trong tù quá rảnh rổi, người ta tìm mọi cách để tiêu hủy thời gian. Có người đánh bài, có người đánh cờ, có người tập thể dục, có người chơi nhạc, có người tìm cách biến chế món ăn thức uống sao cho thay đổi, đỡ chán miệng. Cũng là cơm, không có mỡ để chiên, người ta nhồi chặt vào chiếc lon guigoz, cho lên lửa nướng. Nếu nướng khéo, xung quanh lon cơm sẽ có một lớp cháy vàng, ăn rất thơm. Còn cách nữa, nắm cơm rồi xắt ra từng miếng vuông vừa một miếng, đặt lên chiếc vỉ sắt, nướng như nướng bánh. Khi nào miếng cơm vàng óng cả 2 mặt, bỏ ra ăn liền, dòn và thơm. Ăn kiểu này không cần thức ăn, chỉ vài hạt muối là đủ. Vì không lao động và cũng do nhu cầu, nhiều người tháo kẽm gai để làm bẫy chuột hoặc gò tôn làm gầu múc nước, làm đồ đựng cơm canh rất khéo. Tôi không ngờ có nhiều vị Trung Tá khéo tay đến như vậy. Chỉ một thời gian ngắn, những người tù lại tự tạo cho mình những tiện nghi tối thiểu để phục vụ đời sống.
Còn độ mười ngày nữa, đến Tết. Bức hoành phi do tôi thực hiện cũng gần hoàn tất. Đối với nghệ thuật, nó là tấm truyền thần hạng bét theo mẫu, không có chút sáng tạo nào. Tên cán bộ Ba ngày nào cũng đến, có ý thúc dục tôi làm cho chóng xong. Sự thực, nếu là công việc hợp với ý thích, khoảng thời gian thực hiện chỉ ngắn bằng một nửa. Nhưng đây là công tác “cỏ vê”, chả có gì hứng thú nên kéo dài, mệt mỏi. Cuối cùng, tấm hoành phi cũng được đem đi, treo giữa nhà của Ban Chỉ Huy, ngay trên bàn thờ Tổ Quốc, ở giữa có chiếc lư hương bằng đồng, một bên lá cờ búa liềm, một bên lá cờ đỏ sao vàng. Phiá sau chiếc lư hương là tấm bản đồ Việt Nam cắt bằng gỗ sơn đỏ, có gắn bóng điện nhỏ ở 3 địa điểm: Hànội, Huế, Sàigòn..
Sau khi tấm hoành phi được mang đi, trong tôi như cất được gánh nặng.
Những ngày áp Tết chúng tôi càng nhớ nhà. Nét mặt người nào cũng đăm chiêu, ủ dột như có sự tình khó nói. Những gói quà 3 kí được gửi đến cho con, cho chồng, cho cha ăn Tết càng làm cho mọi người tăng thêm phần tủi hận. Hầu hết mọi người đều nhận được quà trong dịp cuối năm. Đặc biệt gói nào cũng có mứt cùng kẹo bánh.
Tôi đến tìm Mậu. Vừa đến nơi, thấy Mậu đang túi bụi gói gói, xếp xếp từng thứ la liệt.
– Ối cha, ông nhận mấy gói mà nhiều thế!
– 3 gói ông ơi! Đâu tôi có bảo gửi nhiều thế này. Đứa con gái bé nhất của tôi lại gửi 5d mừng tuổi Bố. Đây ông xem thư nó viết.
manh hai flickr
Mậu đưa cho tôi miếng giấy nhỏ, có mấy dòng nguệch ngoạc:
Bố,
Con nhịn quà sáng, gửi 5đ mừng tuổi bố. Mong bố về với chúng con. Nhớ Bố quá.
Con gái Bố, Thúy.
Tôi đưa trả Mậu tờ giấy, nhìn sang bên cạnh. Một anh đang ngồi gục đầu trước gói quà mở tung. Tôi nhìn Mậu ngầm hỏi. Mậu nói nhỏ:
– Trúc đó! Hắn vừa nhận được gói quà và thư vợ. Trong thư vợ hắn cho biết, gói quà này được thực hiện bằng nước mắt, sau bao nhiêu ngày tằn tiện. Nhà nghèo lại đông con, nên hắn buồn. Tội nghiệp!
Bỗng Trúc ngước mắt nhìn tôi. Cặp mắt đỏ hoe như còn vướng ngấn lệ. Để tránh xúc động, tôi quay mặt đi chỗ khác. Giữa lúc ấy, có tiếng gọi lãnh cơm, tôi đứng dậy đi về.
Buổi sinh hoạt tối, K.Trưởng cho biết, cán bộ hậu cần sẵn lòng giúp, nếu anh nào muốn “đăng ký” mua bánh chưng ăn Tết. Có nhiều người góp tiền, chắc họ nghị, nếu thiếu chiếc bánh chưng, không ra Tết chăng?
Sau đó, đến chương trình tổ chức Tết gồm có thi đánh cờ Tướng, và mỗi K phụ trách một tổ Bích Báo mừng Xuân. Ban Chỉ Huy sẽ có giải thưởng cho mỗi môn. Vì “danh dự” của K mình, mong anh em cố gắng đóng góp bài vở cho tờ Bích Báo xuân và ai có tài đánh cờ xin ghi tên.
Cuộc sinh hoạt mỗi tối trở nên quen thuộc. Mọi vấn đề đều công khai thảo luận, nhưng cũng có người quá dè dặt, chỉ ghi nhận ở trong lòng những điều ưng cũng như không, chẳng bao giờ nói, hoặc có ý kiến như Khắc. Anh có vẻ nhẫn nhục, chịu đựng. Nét mặt lúc nào cũng lầm lì, khó hiểu. Hình như Khắc không có ai là bạn thân. Đôi khi, tôi và Khắc cũng nói chuyện, nhưng chỉ là chuyện tầm phào, xã giao. Không hiểu sao, sau buổi sinh hoạt tối nay, Khắc lại rủ tôi đi vòng quanh chiếc sân nhỏ. Anh mang theo gói kẹo và bao thuốc. Chúng tôi vừa ngậm kẹo vừa hút thuốc, nói chuyện về những mùa Xuân trước, dưới mái gia đình hay trong đơn vị. Những bước chân đi đều, bỗng Khắc dừng lại, nắm tay tôi:
– Này ông, tôi nhớ vợ con quá, chịu không nổi!
– Nhớ, ai không nhớ? Nhưng ở hoàn cảnh này, nhớ cũng vô ích!
– Tôi nghĩ kỹ lắm rồi ông ạ! – Khắc nhìn đăm đăm vào mặt tôi.
– Ông nghĩ gì?
– Phải trốn Trại! Tôi tin ông lắm, mới dám nói điều đó, ông giữ kín cho.
– Ông khỏi lo, nhưng ông trốn bằng cách nào, qua 12 lớp kẽm gai, bãi mìn và những vọng gác?
– Tôi đã để ý, một nơi có thể vượt qua được. Chiếc hố xí sát hàng rào, nơi đó có một lỗ hổng do chó chui. Mùa này, buổi sáng mù sưong, tôi sẽ đi cầu thật sớm, chờ sẵn ở cổng. Khi nào nó cho ra, tôi sẽ đi thẳng tới đó, quan sát lúc nào tên gác không để ý, sẽ chui qua lỗ hổng đó, rồi tìm cách thoát ra ngoài.
– Ông Khắc ơi, ông nhớ cho, từ trên cao nhìn xuống, rõ lắm. Hơn nữa, chỗ đó, tôi cũng biết, nó trống trải, cây cối không có. Ông nên nghĩ kỹ đi, kẻo hối hận!
Trong bóng tối, tôi cố mở to mắt tìm phản ứng trên nét mặt Khắc, nhưng chỉ thấy hai đốm sáng long lanh.
– Ai cũng muốn thoát chẳng riêng ông. Tôi cũng muốn trốn Trại lắm, nhưng phải trốn cách nào cho an toàn, nếu bị bắt lại, đời tàn. Nó nhốt Connex, chỉ một tuần, đủ tiêu!
– Nghĩ kỹ như ông, sao dám làm, đã quyết phải liều!
Tiếng nói của Khắc rắn đanh, chứng tỏ hắn đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Nhưng qua câu chuyện, tôi nhận thấy, Khắc chỉ vì nhớ vợ con nên có ý định trốn Trại. Rất có thể, trong một lúc nào suy tính lại, cũng vì vợ con, hắn bỏ ý định đó.
Tiếng kẻng báo giờ ngủ đã khua vang. Tôi và Khắc ai về chỗ nấy. Trước khi chia tay, Khăc cẩn thận ghé vào tai tôi nói nhỏ:
– Ông giữ kín cho, lộ chết đấy!
Tôi gật đầu. Trong giấc ngủ đêm ấy, hình ảnh Khắc và chiếc hố xí lẩn quẩn hoài trong tâm trí.
Cái Tết thứ nhất trong tù, gây rất nhiều tác động tâm lý. Cho đến hôm nay không mấy ai còn tin ngày được tha sẽ tớí. Tôi nhớ lại lời nói của Minh, một sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III.
– Ít nhất, tụi mình phải bóc xong một cuốn lịch, còn thêm nữa,chưa biết ! Tôi không dám nói với nhiều người, sợ anh em chửi!
Càng suy nghĩ, càng thấy đúng. Chúng tôi không thể về trước một cuốn lịch và vấn đề về sớm hay muộn cũng sẽ không đồng đều cho tất cả, vì mỗi cá nhân, phải gánh chịu những hậu quả khác nhau do “quá trình tội lỗi gây ra.”
Chiều nay 30 Tết, tôi đi một vòng quanh Trại. Không khí tuy vẫn cùng nhịp độ với những hôm trước, nhưng trên nét mặt mỗi người hình như vướng vất nỗi ưu phiền.
Trời tắt nắng sớm. Những giờ phút cuối của một năm sắp qua nó day dứt, nặng nề. Đàn chim soải cánh phía xa, thẳng tắp như một dòng kẻ . Hồi còi rúc vang theo hướng gió đưa lại. Tôi đứng nhìn qua rào kẽm gai. Tiếng bánh xe nghiến vào đường sắt rầm rập. Đoàn tầu từ Sàigòn đi về hướng Long Khánh, chở đầy hàng hóa và hành khách. Vì là chuyến tàu chót của một năm sắp tàn nên tầu chật ních người. Hành khách bám đầy nơi bậc lên xuống, cả trên nóc toa. Sự thực mỗi ngày, tôi đều có nghe và thấy những chuyến tầu xuôi ngược, nhưng chuyến tầu cuối năm, không hiểu sao làm tôi xúc động! Tất cả đều trở về sum họp dưới mái gia đình trong dịp Tết, chỉ riêng chúng tôi, những người đang bị Tập Trung Cải Tạo, trong nhiều Trại giam khắp miền Nam, phải gánh chịu một cái Tết khắc khoải, chứa chấp nhiều phiền muộn ! Tôi biết, mùa xuân đang đi từng bước nhẹ nhàng, êm ấm, vui tươi trong lòng những ai có đời sống không liên lụy với Cộng Sản. Tôi nghĩ đến vợ con, chắc giờ này đang ngồi khóc trước bàn thờ tổ tiên. Các nghi thức trong dịp Tết, chắc không thiếu, nhưng thiếu tôi là thiếu tất cả! Câu thơ của Lamartine, tôi đã đọc qua mấy chục năm trước, lúc này nghĩ lại mới thấy thấm thía: Un seul être vous manque, tout est dépeuplé!
Chiều xuống rất mau. Bóng tối ùa lấp tất cả. Trên vọng gác cao, tên cảnh vệ không nhìn vào trai theo đúng nhiệm vụ. Nó quay mặt ra phía ngoài, khẩu A.K. đặt chéo trên thành vọng gác. Gió thổi mạnh làm chiếc áo nó mặc phồng lên như cánh buồm no gió. Không hiểu sao, đến giờ này mà tên cảnh vệ thứ hai chưa có mặt.
Tôi đi từng bước rất chậm, mắt ngước nhìn trời. Không ánh sao, vùng trời như tấm phông tím ngắt phẳng lì. Tôi nhìn về hướng Sàigòn. Một dãi ánh sáng chạy mờ tỏ trước mặt.
Sự thua trận như giấc mơ kinh hoàng. Nhiều lúc nghĩ quẩn, tôi tưởng nó là giấc mơ thực. Nhưng chỉ loáng sau, khi mắt nhìn thấy những rào kẽm gai, những chiếc mái tôn, tôi sực tỉnh, như kẻ mộng du quên hết những gì mình làm vừa qua, lại hành động và suy nghĩ như người bình thường.
Bữa cơm chiều 30 Tết, có thịt heo và canh. Tuy bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường, nhưng tôi ăn không thấy ngon vì lòng không vui. Sau khi rửa chén đũa, tôi tìm chỗ khuất, ngồi suy nghĩ. Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là hết năm. Những giờ phút thiêng liêng của sự giao thoa giữa Đất Trời và những huyền bí từ vạn cổ chưa ai giải đoán nổi, giữa kiếp người hữu hạn và cái cõi xa xăm vô giới hạn, sau khi ta vắng mặt, sẽ ra sao?
Tôi đang ngồi đây, tức là tôi hiện hữu, hay cái tôi không thể định hình, vì mỗi tích tắc đi qua, một phần trong tôi đã hao hụt, đã thuộc về quá khứ! Sự suy nghĩ nhiều khi đưa con người đi xa thực tế, chối bỏ hiện tại, chỉ nhằm vào dự tưởng, mà dự tưởng thường thường đưa con người đến thất vọng!
Ðầu mùa mưa năm đó, tôi thuyên chuyển về một đơn vị trú đóng ở một tỉnh nhỏ miền Tây. Ðơn vị này là đơn vị thứ tư của tôi kể từ khi tôi rời khỏi quân trường. Bây giờ tâm hồn tôi đã chai thắt lại, đời sống quân ngũ cùng sự di động thường xuyên dường như chẳng còn gây nổi những xúc cảm nơi tôi, cái cảnh sống nay đây mai đó chẳng còn làm cho tôi buồn hay vui. Ðã là lính, ở đâu cũng vậy mà thôi. Mọi nhớ tiếc, lưu luyến vụn vặt từ lâu không còn bám dính tôi nữa, hòn đá lăn hoài đâu có thể mọc rêu xanh, điều này cũng là một lợi ích cho tôi, thử hỏi tại sao mình lại tự làm khổ thêm về những xúc động không đâu; thái độ thản nhiên nhiều khi mới thật là cây thước đo lường bề cao của con người trong cảnh ngộ xô đẩy dồn dập.
Chiếc xắc đựng quân trang của tôi đã cũ mòn, bạc thếch. Có lệnh là tôi dồn tất cả vật dụng vào, cột chặt lại, rủ rê bạn bè gặp được ra quán nhậu một bữa đã đời, rồi hôm sau ra xe lên đường, không người đưa tiễn. Và đi đâu cũng gặp lại người quen, và tiếp tục làm quen với những người bạn mới. Quân ngũ là một chỗ làm quen rất dễ. Vừa gặp nhau, rủ đi nhậu, nói chuyện tào lao, vậy là đã trở thành bạn hữu. Theo tôi, không có tình bạn nào thắm thiết, an ủi cho bằng tình bạn cùng cảnh ngộ. Ít nhiều gì, chúng ta cũng cần được chia xẻ và am hiểu, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn. Tôi có nhiều người bạn đã chết, nhiều người bạn đã rời xa, sau này ít khi tôi còn nhớ đến. Nhưng lúc chúng tôi còn ở gần nhau, cùng bấp bênh trong cuộc sống xao động mà cái chết pha lẫn mập mờ, chúng tôi đã là những người bạn chí tình. Tình bạn giữa chúng tôi hết sức tự nhiên và rất mực khô khan người lớn đàn ông, chẳng mấy khi được bộc lộ bằng ngôn ngữ hay cử chỉ. Nó có đó cần thiết như một vật dụng trong nhà, nhưng bình thường không ai để ý tới.
Doanh trại của đơn vị ở trong khu vực sâu khuất, yên tĩnh của tỉnh lỵ, gồm có một ngôi đình thần cột tường sứt mẻ lam nham và mấy dãy nhà mới xây bằng vật liệu nhẹ bao quanh. Phía sau doanh trại, cách một miếng đất trống rộng khoảng ba trăm thước, cỏ hoang lau sậy mọc dày, là phi trường – trực thăng lên xuống ngày đêm không ngớt, tiếng động rền rĩ rung chuyển không khí, nhà cửa và đầu óc chúng tôi. Bên hông, cách một bức tường cao ngất, ở trên có giăng dây kẽm gai và gắn bóng đèn là khám đường, cái thế giới kín bưng, bí mật lâu lâu mới há nhỏ cái cánh cổng sắt khô rít nhả ra một toán tù nhân lờ đờ đi làm tạp dịch. Còn một bên nữa là quốc lộ chạy về những tỉnh tận cùng đất nước – hằng ngày, những chuyến xe đò, xe hàng hối hả lên xuống đem lại cho chúng tôi một chút cảm tưởng đổi thay khuấy động lan man. Hôm nào không thấy xe lên hay xuống – đường bị địch phá – chúng tôi biết là đơn vị sắp có việc làm.
Vì ở gần phi trường, nên những đêm địch pháo kích vào phi trường, chúng tôi nghe rõ tiếng rít ghê rợn của đạn đạo trên đầu, và lần nào cũng có vài ba trái đạn đi lạc lọt qua vòng rào doanh trại chúng tôi. Nên chúng tôi thường nói giỡn: “Ðáng lo ngại nhất là ở chỗ tụi nó bắn dở quá, mình chẳng biết đâu mà đề phòng.” Cũng may mà trải qua mấy trận pháo kích hú họa của địch, đơn vị chưa có người chết hay bị thương.
Những đêm địch pháo kích, thành phố để lộ một bộ mặt lạ hoắc và kỳ bí đến độ rùng rợn. Ðèn tắt, còi báo động rú lên dằng dặc, sôi réo, lính tráng từ các nơi trong thành phố túa chạy rầm rập về doanh trại, đạn bích kích pháo liên tiếp gào xé trên không trung như một đàn rắn lớn, nện mạnh xuống mặt đất tung tóe, những mảnh vụn kim khí chém lổn rổn trên mái tôn, tất cả trực thăng trong phi trường lìa khỏi mặt đất, rồi sân trại rộn lên vì tiếng khua chạm của vũ khí, nón sắt, tiếng kêu réo từ các giao thông hào, tiếng chỉ huy và cả tiếng chửi thề, và hẩn nhiên, tiếng đập dồn dập của trái tim trong lồng ngực từng người. Pháo binh bạn trả lời dữ dội, trực thăng soi đèn pha xuống những địa điểm khả nghi ở những đám ruộng kế cận thành phố, nã đạn đại liên và rốc-kết. Trong khi đó, tại một phía khác của thành phố, lại vang rền tiếng súng giòn giã của một trận tấn công đồn gấp rút, quyết liệt – địch hay dùng chiến thuật dương Ðông kích Tây… Cuối cùng, chúng tôi được lệnh hỏa tốc truy kích địch, những đoàn quân xa rầm rộ rời doanh trại chạy về hướng đạn đi. Vậy là trọn đêm, chúng tôi bì bõm trong sình lầy, nổ súng lẻ tẻ. Thường khi chúng tôi đến không kịp – địch chuyển súng đi qua từng trạm ngắn, theo lối chạy tiếp sức – nhưng có một lần, chúng tôi truy được vị trí súng của địch, hạ năm tên và tóm một chú. Truy kích địch trong trường hợp này hết sức vất vả và hú họa – mục tiêu phỏng đoán, bóng tối, lùm bụi, sình lầy… – địch có thể đã phân tán mỏng, tay không tà tà trở về nhà, ngủ ngáy pho pho, thành thử nhiều đứa trong chúng tôi lẩm bẩm chửi thề luôn miệng: “Tao mà gặp được tụi bây…”. Nhưng lần mò ra dấu địch, sau một cuộc chạm súng ngắn ngủi, lưa thưa, thuộc loại “trước mua vui”, nhìn năm cái cái xác không hồn nằm phơi trong ruộng nước, nhìn gã tù binh khiếp đảm, chúng tôi thấy rõ mình không hề giận dữ như đã tưởng tượng mấy lần khác, cũng như vừa tưởng tượng trước đó không lâu. Gặp địch, đánh xong là thôi. Chúng tôi vẫn không phải là những kẻ thù hằn.
Sinh hoạt trong thành phố và nhất là trong doanh trại hết sức làm nhàm, đều đặn và lặng lờ như một dòng nước tê lười. Những cuộc hành quân thường thường diễn ra không quá mười ngày liên tiếp, cuối cùng cũng chẳng pha đậm thêm được bao nhiêu sôi động trong đời sống loãng nhạt của chúng tôi. Tất cả rồi trở thành thủ tục – cả đến những hiểm nguy và cái chết, cái chết nói chung, cái chết của bạn hữu, của kẻ địch và của dân chúng. Ðồng lầy nước ngập mênh mông, lau sậy hoang dã, có khi lội cả ngày trời không tìm được nơi khô ráo ngồi nghỉ chân, đỉa rắn muỗi mòng thét rồi không còn là những thù nghịch ghê khiếp mà mặc nhiên được coi như những quen thuộc sầu thảm của chúng tôi. Về mùa mưa, bầu trời u u, hạ thấp như tấm mền sũng ướt, mây rất sai và chẳng trôi đi, kinh rạch nước lớn tràn bờ, ngày đêm không mấy khi trời ngớt gió, những ngọn gió tưởng chừng bất tận thổi ù ù trong lau sậy vật vờ, mặt trời chẳng xuất hiện, ánh nắng mơ hồ dã dượi, khiến cho tôi có cảm tưởng đang đi trong một thiên nhiên mới tinh của thời kỳ tạo thiên lập địa. Chiến tranh dồn dập, sau mỗi cuộc hành quân, chúng tôi chỉ được ở lại hậu cứ hai ba ngày – thời gian vừa đủ để tắm rửa, đi nhậu một vài chầu, chơi điếm và ngủ vùi để lấy lại sức. Nhờ những khổ cực về thể xác, đầu óc chúng tôi đỡ bị cồn cào bởi những ý tưởng quàng xiên. Máu chảy, máu chảy hàng ngày, những người quen biết lần lượt được đồng bạn khiêng lên trực thăng tải thương. Những nỗi buồn không sụt xuống thấp lắm và những niềm vui cũng chẳng trồi lên cao lắm, mọi sự đều trầm trầm.
Nên ở đây, chúng tôi yêu đời một cách xót xa, yêu đời một cách quyết liệt. Mặc dù thành phố co rút lại và hết sức bỏn xẻn về thú vui, chúng tôi cũng có đủ cách để làm đầy những ngày giờ rảnh rỗi loanh quanh trong thành phố. Như những buổi tối chúng tôi lái xe chạy lòng vòng trên mấy con đường hiếm hoi, và ngắn ngủn – những con đường mà người ta có thể đi qua hết với độ mươi mười lăm phút chạy xe. Hoặc túm năm túm ba, chúng tôi la cà ở những hàng quán – trong thành phố chỉ có vài ba hàng quán mở cửa cho đến giờ giới nghiêm. Thường chúng tôi nói rất nhiều mặc dù không có chuyện. Nói xong nhiều khi không nhớ mình đã nói gì. Ngôn ngữ cũng có cái màu nhiệm là che khuất thực tại và ngày tháng đi qua…
Căn phòng tôi ở chỉ cách bức tường khám đường một lối đi hẹp vừa đủ để mở ra cánh cửa sổ nhỏ. Ngay bên kia bức tường là trại giam nữ phạm nhân. Mỗi ngày ba bận, sáng trưa chiều, các nữ phạm nhân đồng ca bản nhạc: Quyết tâm diệt Cộng. Quyết tâm diệt Cộng. Ðồng bào ơi, chung sức cứu giang sơn… Các giọng hát chệch choạc, giọng đi trước, giọng đi sau, giọng cao ngất, giọng lè tè, giọng the thé, giọng khàn khàn, mỗi giọng một bè hỗn tạp rối loạn như một nùi lãi đũa đeo nhau ngọ ngoạy lung tung. Tuy vậy, cái màn văn nghệ tạp lục này cũng giúp vui cho chúng tôi không ít. Không cần phải lắng tai theo dõi, chúng tôi cũng có thể nhận biết hầu hết những giọng hát đặc biệt quen thuộc. Có hôm trời mưa, ngại đi ra ngoài, chúng tôi, căn cứ vào mỗi giọng hát, suy đoán bàn cãi sôi nổi về tuổi tác, dáng dấp của người hát, và chúng tôi vẫn ao ước có dịp vào thăm trại giam nữ phạm nhân trong giờ trình diễn đồng ca để nhận diện ăn thua.
Vào khoảng tháng chín tháng mười, trời giông biển động liên miên, thành phố chợt náo động lên vì những bầy chim từ ngoài hòn bay về tị nạn – thành phố này ở cách biển mười lăm cây số đường chim bay. Nhất là khu vực doanh trại chúng tôi là nơi có rất nhiều cây sao cây dầu cao lớn, già có tới hai trăm năm, lại càng náo động. Ðủ các loại chim bay xa – cò, diệc, vạc, kên kên, thằng nông, già sói, chó đồng – tụ tập rần rần trên những ngọn cây, kêu gào inh ỏi và ỉa trắng mặt đường. Trong những ngày này, trời đất đã xao xuyến, rộn ràng, sự xuất hiện càng lúc càng đông đảo của những bầy chim lại làm cho thành phố thêm phần bồn chồn bứt rứt như người chồng chứng kiến cảnh người vợ chuyển bụng đẻ con so. Trên một thành phố hằng ngày bơ phờ, hiện tượng bất thần này gần như đã trở thành một ám ảnh siêu hình đè nặng chúng tôi. Tiếng chim kêu gào động trời dậy đất làm cho đầu óc chúng tôi căng thẳng, bần thần, tưởng chừng mình được chứng kiến một cuộc dời đổi rộng khắp của thiên nhiên. Khổ hơn nữa, những bày chim này còn bay lượn qua lại không ngừng, làm chật bầu trời thành phố, giũ xuống vô số những con mạc li ti như hạt bụi cắn đốt chúng tôi nổi ngứa đỏ mình. Thành thử chúng tôi chẳng tài nào đứng yên hay ngủ được. Cuối cùng, chúng tôi được phép nổ súng bắn đuổi lũ chim đi. Liên tiếp mấy ngày, trong thành phố như đang xảy ra một trận giặc nhỏ, lũ chim mới chịu vơi bớt trong bầu trời. Những con chim bị bắn rơi, có loại thịt ăn cũng ngon ngon, nhưng nhiều quá đâm ngán. Mấy người lính trong đơn vị có sáng kiến lượm xác chim về làm khô để ăn dần trong những ngày hành quân.
Ở đây, cái chết thường xuyên ray rứt chúng tôi, ngoại trừ những lúc chúng tôi đang đương đầu với cái chết – điều mâu thuẫn đáng suy ngẫm là sự tranh đấu thảm thiết cùng cái chết giúp cho con người tạm quên đi cái chết của chính mình. Chiến tranh có nhiều cái chết hết sức kỳ lạ. Kỳ lạ đến độ những tên vô thần nặng bóng vía nhất trong chúng tôi rồi cũng phải tin nơi số mệnh – một cách thức phòng ngừa chứng bệnh đau đầu. Vừa cười nói đó, bỗng lăn quay ra chết tốt sau một tiếng nổ không ngờ, cái chết vô duyên và lang thang chọn lựa. Chúng tôi cũng quan niệm như bất cứ ai: Ðạn tránh mình chứ mình không tránh đạn. Cũng như không bao giờ chúng tôi dám tự cho là mình đánh giặc giỏi. Chúng tôi đã mất hết tự tin ở quyền năng tài trí của con người. Cái chết có thể khuất phục chúng tôi trên mỗi bước vô tình.
Còn nhớ một lần đụng trận, đơn vị chúng tôi bị mẻ mất mười bảy đứa con. Con số mười bảy mạng thương vong, nếu đọc thấy trên tờ báo, giữa những hàng tin chi chít khác, chắc chắn không phải là một con số đáng kể, nhưng nếu nhìn thấy tận mắt một xác chết thôi, thì con số một đó nhất định là một con số vô cùng lớn lao không gì so sánh được. Trời mưa tầm tã cả tuần liền, và trận chiến vẫn còn tiếp diễn quyết liệt, nên phải gần hai ngày sau, chúng tôi mới mò được mười bảy cái xác đồng đội từ các mương rạch mang về. Mười bảy cỗ quan tài chưn nhang xếp hàng trong nhà đậu xe. Vì tình trạng hư rữa của xác chết nên đưa về đến hậu cứ là phải tẩm liệm ngay, không thể để chờ thân nhân người chết tới nhìn mặt. Hôm sau, thân nhân người chết hay tin mới tới nơi quây quần trước mỗi cỗ quan tài. Gia đình của một người chết nọ gồm có cha, mẹ, vợ và năm đứa con. Một người lính hướng dẫn gia đình này đến trước một cỗ quan tài, chỉ và nói: “Ảnh đó.” Hai người đàn bà rồi năm đứa trẻ lăn ra khóc kể như mưa bấc. Trong khi người cha – một người đàn ông – lại đứng ngẩn ngơ hồi lâu rồi quay sang hỏi người lính: “Mà cậu có chắc đây là con tôi không?” Lẽ dĩ nhiên, người lính quả quyết: “Chắc chớ bác. Lúc ảnh bị bắn lật, con nằm bên cạnh ảnh, con gỡ tấm lắc tên của ảnh, và cũng chính con phụ giúp bỏ ảnh vô hòm mà.” Người cha gật đầu nhè nhẹ khi người lính dứt lời, nhưng khuôn mặt già cả nhăn nhúm của ông vẫn không trôi hết vẻ ngẩn ngơ và ông cứ đứng lặng. Ðến khi sắp sửa hạ huyệt, giữa một hòa âm khóc kể bi ai rộ lên, ông già lại hỏi một người lính khác đứng gần: “Quả thiệt là con trai tôi đây phải không cậu?” Khuôn mặt ông lúc bấy giờ vẫn không thoáng gợn một chút gì gọi là xúc động. Không thể tưởng tượng được… Người lính trả lời: “Chớ bác tính coi còn ai vô đó nữa giờ.” Ông già nghe xong, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nước mắt mới khởi sự chạy dài xuống đôi má hóp.
Một hôm, đơn vị tổ chức lễ khao quân. Dàn chào, diễn văn, thăng thưởng, tiệc tùng và trình diễn văn nghệ vào chập tối. Biến cố trọng đại này đã được đơn vị sửa soạn từ một tuần lễ trước. Sân khấu dựng lên ngoài trời, lều bạt căng sẵn đề phòng mưa, hậu trường là một chiếc G.M.C. mui trùm kín mít đậu sát đít vào một bên hông sàn gỗ. Mấy hàng ghế lưa thưa trưng dụng của các phòng, đặc biệt dành cho quan khách và sĩ quan. Ban văn nghệ trình diễn thuộc tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị. Chương trình gồm những món ăn đã hôi ê được xào nấu lại: trong đời lính, thế nào mỗi người cũng đã thưởng thức ít nhất một lần một chương trình tương tự. Còn về thực lực đào kép thì hầu hết những ban văn nghệ dã chiến đều có thể ví như những hồ tắm để cho họ tập bơi, chờ đợi thời vận xông ra biển lớn. Tuy nhiên, mọi người vẫn nao nức hưởng ứng – ở đây, chúng tôi thèm khát ra khỏi thực tại trầm trầm vây hãm ngày ngày, ra khỏi được tấc nào hay tấc đó. Tôi ngồi nhìn những quân nhân nhạc công và những diễn viên ca sĩ lần lượt xuất hiện trên sân khấu – tôi không theo dõi chương trình liên tục mà chỉ theo dõi khuôn mặt dáng điệu những người này. Tự dưng, tôi cảm thấy từ tận cùng tâm hồn rằng mình gần gũi với họ và trong một giây, sự chua chát dâng lên đầy nghẹt cổ họng tôi: có lẽ họ cũng mang nặng mặc cảm thua thiệt như mình, có lẽ họ cũng ôm ấp ước vọng bay cao trong một vùng huy hoàng ngây ngất. Anh đâu phải ngồi nơi đây, cô đâu phải đứng nơi đây, lẽ ra anh đang độc tấu trong một hí viện vương giả trước một quần chúng sang trọng lịch sự, lẽ ra cô đang trình diễn tại một kinh thành rực sáng giữa một đám đông mê hoặc phục tùng. Nhưng bây giờ anh phải ngồi nơi đây, cô phải đứng nơi đây – những ước vọng phai tàn với tháng ngày âm thầm chồng chất, không thực hiện, không khi nào thực hiện; sự chờ đợi quá đỗi mỏi mòn để không còn là sự chờ đợi nữa. Ðành vậy, hai chữ cuối cùng của một đời người, chúng ta đã buông xuôi, anh thấy không, cô thấy không? Tôi thương xót các người như thương xót chính mình. Tôi thông cảm sự bất lực, sự cằn cỗi của các người. Bây giờ, một nốt nhạc đánh sai, có lẽ anh chẳng buồn để ý, một câu hát lạc nhịp, chắc hẳn cô không màng biết tới. Các người đã mất hết tương lai, còn nói chi tới tinh thần cầu tiến nữa. “Ðể tiếp nối chương trình văn nghệ hôm nay…” Một tràng vỗ tay xã giao đại lượng nổi lên lác đác như tiếng đại liên bắn cầm canh của một xạ thủ thiện nghệ. Tiếng trẻ con cổ võ la hét ầm ĩ, chen lẫn tiếng huýt gió chát chúa của một gã lính ba gai nào đó. Một cô gái vóc dáng mảnh mai, mặc đồ trận rằn ri, tóc kiểu Sylvie Vartan, khuôn mặt sáng sủa nhí nhảnh, hiện ra trước máy vi âm, cúi chào khán giả, rồi chiếu thẳng tia nhìn xuống khán trường, một tia nhìn bén nhọn lạnh lùng, và hoàn toàn bất động như có ý yêu cầu đám đông phải lắng dịu. Tôi thấy thích thú thái độ thách thức ngấm ngầm quý phái đó. Tôi nghiêng đầu hỏi đứa bạn bên cạnh: “Em nào vậy?” Hắn đáp: “Quỳnh Vân hay Vân Quỳnh gì đó.” Ðám đông rồi cũng xẹp xuống. Bài hát bắt đầu: anh anh em em, tiền tuyến hậu phương, áo chiến giày đinh, hoa cài mũi súng, nhớ thương chờ đợi… Bài hát ru dỗ người nghe trong một cơn mê thiếp chập chờn, giả tưởng và rất đỗi bần thần – có lẽ vì ngay trong lúc bị ru dỗ, chúng ta vẫn ý thức rõ ràng đó chỉ là một cơn mê thiếp giả tưởng. Giọng hát của nàng không dở, đó là một giọng hát ân cần, thành khẩn đến độ đau đớn nghẹn ngào, một giọng hát có hồn và đủ sức vượt qua dễ dàng hai bát độ; chỉ cần một chút kỹ thuật và một chút thời vận, dĩ nhiên, nàng có thể trở thành một ca sĩ có giá ở Sài Gòn. Tuy vậy, giọng hát nàng không lôi cuốn tôi bằng đôi mắt nàng, đôi mắt chất chứa tinh nghịch và để lộ một chút khinh bạc dịu dàng. Ðôi mắt đó… Chợt đôi mắt đó mở to và sáng rực trong trí nhớ mù mờ của tôi như hai chấm đèn trong sương sớm. Quỳnh Vân? Quỳnh Vân nào? Cái tên lạ hoắc này nàng lượm được nơi đâu vậy ? Cái tên lạ hoắc này nàng lượm được nơi đâu vậy? Phụng. Phụng.
Tôi rời ghế, bước vòng ra phía sau chiếc xe G.M.C dùng làm hậu trường. Bài hát chấm dứt. “Ðể đáp lại tấm thịnh tình của quý vị…” Một bài hát nữa trổi lên. Let”s twist again. Tôi nhìn trong khung trống cánh gà thấy nàng hò hét, nhún nhẩy quay cuồng, hạ thổ, vặn vẹo cần máy vi âm. Thiệt là thảm thương. Càng thảm thương hơn là nàng lại biểu diễn hết sức hăng say, quá mức lương tâm nghề nghiệp. Tôi không thể không nhớ tới một đứa bé gái chừng chín mười tuổi, con của một người mù đánh đàn ăn xin. Ðứa bé gái đó ốm yếu, dơ dáy, quần áo rách rưới, bôi hai cục son đỏ lòm nơi má như trái cà chua, người cha hom hem với mái tóc khô cháy, để dài tận ót, đánh đàn – một cây tây ban cầm sai tiếng và tróc lở – đứa bé gái tuýt lăn ra trên vỉa hè thành phố, nó cũng ưỡn ngực, ngoáy mông, làm đủ mọi thứ. Không hiểu ai dạy nó như vậy. Cha nó mù làm gì biết mà dạy nó.
Ðiệu nhạc đứng lại trong cơn bão hò reo cuồng nhiệt của đám đông bất kham. Phụng đi vào hậu trường, ngồi xuống băng xe, mở bóp rút khăn tay chậm mồ hôi ướt dính tóc mai. Tôi bước vào chỗ sáng gần nàng, kêu nhỏ: “Phụng”. Nàng lục soát khuôn mặt tôi hồi lâu rồi mừng rỡ bật dậy: “Anh Tiến, trời ơi, sao anh có mặt ở đây?” Rồi chúng tôi cùng cười xòa như ngày xưa, hễ gặp những câu hỏi khó trả lời, chúng tôi cười xòa để thông qua. Tôi phác tay chỉ lên sân khấu, hỏi: “Em còn phải làm gì nữa không?” Nàng lắc đầu. Tôi đề nghị: “Vậy mình ra phố chơi đi.” Nàng cầm bóp, lặng lẽ đứng dậy. Tôi nắm tay đỡ nàng bước xuống xe. Ðặt chân xuống đất xong, nàng nói: “Cám ơn anh.” Ngừng một giây, nàng nói thêm: “Em nhảy xe nhà binh quen rồi, anh thấy không?”. Tôi dắt nàng bước len lỏi giữa đám con nít lô nhô, đi ra một chiếc xe Jeep đậu gần cổng. Tôi lái chầm chậm trong thành phố bắt đầu sửa soạn giấc ngủ. Trên những đỉnh cây, gió thổi rì rào như giải lụa lang thang. Tôi ngừng xe trước một quán nước nhà sàn. Khách hàng đã thưa thớt; chúng tôi chọn một cái bàn ở phía ngoài ngó xuống mặt nước. Theo sự dẫn dắt của liên tưởng chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện nhà mình kể từ khi chúng tôi xa cách nhau. Nỗi ngậm ngùi không thể ngăn cản bủa vây và kết hợp chúng tôi. Ðối với những kẻ không hề mãn nguyện về cảnh sống hiện tại của mình như chúng tôi, dĩ vãng quả là điều rất đỗi nhọc nhằn khi nhớ lại.
Phụng là người cùng tỉnh với tôi. Nàng nhỏ hơn tôi hai tuổi và học dưới tôi hai lớp. Từ mấy đời, hai gia đình chúng tôi vẫn giao du thân mật với nhau, chưa kể những cuộc hôn phối giữa nhiều người trong hai họ chúng tôi càng ngày càng siết chặt hai gia đình chúng tôi trong một tỉnh nhỏ vốn thưa người, ít chuyện. Hai đứa chúng tôi gặp gỡ nhau hằng bữa. Tình thân giữa chúng tôi hết sức tự nhiên vì nó bắt nguồn từ thủa ấu thơ, tự nhiên đến độ cả hai gia đình chúng tôi dường như chẳng ai nhìn thấy là chúng tôi khác họ, khác phái và chúng tôi đã lớn khôn, khiến cho chính chúng tôi cũng không nhìn thấy nốt. Là một đứa con độc nhất trong một gia đình đã mấy đời giàu sang, Phụng kiêu kỳ như một con ngựa giống quí. Nàng sai khiến hay cưỡng lại kẻ khác bằng mắt nhiều hơn bằng lời. Mặc dầu nàng không hề cố ý, đôi mắt nàng lúc nào cũng ánh lên một chút trịch thượng khinh mạn – từ tấm bé, nàng đã quen được người khác tuân phục hay nuông chiều. Nhưng lạ một điều là thái độ kiêu kỳ của nàng không những đã chẳng đẩy lui kẻ khác mà trái lại còn thu hút họ vây quanh nàng vì hiếu kỳ cũng như vì tự ái.
Năm tôi vào đại học, gia đình tôi vì sinh kế, dọn về ở một tỉnh miền Ðông, và mối liên lạc giữa hai gia đình đã hoàn toàn bị cắt đứt từ đó. Cha mẹ nàng lần lượt qua đời, ruộng đất phố xá không còn sanh lợi, ngôi nhà thừa tự giao cho người dì độc thân già cả điếc lác ở trông nom. Nàng nói: “Ngôi nhà đó, anh nhớ không, bây giờ chỉ còn mặt tiền thôi chớ bên trong cột kèo mối mọt ăn rệu hết rồi, chưa biết ngày nào sập xuống nữa.” Ngôi nhà đó dựng lên từ khi ông nội nàng ngồi tri phủ ở tỉnh, cột cửa chạm trổ rồng phượng, nền đá tảng cao gần một thước, nằm ẩn trong một cái sân sâu rộng trồng rất nhiều cây kiểng, con đường từ cổng đi vào lót gạch tàu đỏ, lâu năm chầy tháng mòn lõm như lòng tay, mái ngói lợp âm dương đã ngả màu đen và có những búi cỏ cổ trầu, những túm cây chùm gởi mọc bên trên… Phụng nói thêm “Biết bao giờ em mới cất được ngôi nhà khác?” Tôi làm thinh nhưng trong thâm tâm, tôi hơi ngạc nhiên sao nàng còn nghĩ được đến tương lai – tương lai xa vời và khó khăn không tưởng tượng nổi. Ðêm càng khuya – ghe thuyền dưới sông đã tắt ngấm đèn đóm – đêm như được khoét sâu thêm trong bóng tối vô cùng tận. Và câu chuyện càng đưa chúng tôi đi sâu vào quá khứ – con đường hầm không lạ không quen trong núi đá lờ mờ ánh sáng lân tinh. Chợt Phụng nói, mắt nàng rực lên như cố gắng soi tỏ quá khứ: “Sao hồi đó anh không chịu nói yêu em? Anh còn nhớ buổi tối trời mưa trong nhà thủy tạ không?” Thật tôi không ngờ Phụng còn nhớ buổi tối đó; một chút ngượng ngùng và một chút thích thú pha lẫn làm nóng những huyết quản của tôi. Buổi chiều, trời đã sẫm tối, chúng tôi đi dạo ngoài vườn về phía bờ sông, một cơn mưa bất thần đổ xuống, hai đứa chạy vào đứng trú trong nhà thủy tạ, cơn mưa nặng hột và ầm ĩ, Phụng đứng dựa cột ngó ra mặt sông mù mịt, những hạt bụi nước li ti bay đậu long lanh trên mái tóc nàng như một đêm hoa đăng, hơi ấm từ người nàng tỏa ra nồng nàn quyến rũ, tôi kéo nàng sát vào người tôi và hôn nàng. Nàng chọc mạnh tia nhìn vào đôi mắt tôi, lặng thinh một cách khó hiểu. Xong, nàng đẩy nhẹ tôi ra, tia nhìn bí hiểm vẫn không rời khỏi mắt tôi, tưởng chừng muốn chiếu suốt tâm hồn tôi, rồi nàng tiếp tục nhìn ra mặt sông và vẫn giữ chặt sự lặng thinh mà lúc đó tôi cảm thấy như là một sự khinh miệt hỗn hào. Tôi rời nhà thủy tạ lầm lũi đội mưa đi về. Mấy hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau và tuyệt nhiên không ai mở miệng nhắc tới chuyện đó. Tôi nghĩ rằng có những con đường định mệnh kỳ lạ, tiếp cận và song song với nhau nhưng vẫn không chịu trùng lẫn. Tôi nói ngập ngừng: “Hồi đó, anh không nói yêu em vì sợ mất em.” Tôi bật cười, nói thêm: “Dầu vậy, anh vẫn mất em như thường.” Phụng nghiêm mặt, hỏi: “Có thật là anh mất em không?”
Tôi đưa Phụng về khi thành phố sắp sửa giới nghiêm. Sân khấu đã tắt đèn lặng trang. Chợt Phụng nói, giọng khuya khoắt như trong cơn mê loạn: “Có ngày em sẽ nổi danh, hát ở những phòng trà sang trọng tại Sài Gòn, kiếm được thật nhiều tiền, cuộc đời sẽ cõng em trên vai. Chừng đó dĩ nhiên, em sẽ không nhẩy tuýt nữa.” Tôi siết chặt tay nàng, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi mới nói: “Em can đảm lắm, anh tin là em sẽ thành công.” Tôi buông tay nàng ra, nói tiếp: “Còn anh, anh sẽ cố gắng lập công to, lên tướng để được cầm nhiều quân, đánh những trận lớn.” Rồi tôi bật cười khan, một cái cười thật độc ác với chính mình.
Vài tháng sau, tôi bị thương nhẹ nơi đùi trái, và chiến thương làm dáng này cũng đóng đinh tôi trên giường quân y viện hơn hai tháng. Khi xuất viện, tôi được thuyên truyền về đơn vị khác, làm việc văn phòng, rời bỏ tỉnh nhỏ đó ở miền Tây. Cứ ít lâu, tôi lại đọc thấy ở trang sau các tờ nhật báo tên họ, cấp bực những người bạn quen trong khung dầy đậm như những nhắc nhở đau nhói của thời gian và nơi chốn đã đi qua. Còn ở những phụ trang sân khấu kịch trường, mãi tôi vẫn chưa tìm gặp sự xuất hiện của nữ ca sĩ nào tên gọi Quỳnh Vân.
Mỗi người đều cần có một quê hương để trở về vào tuổi già hay vào những thời kỳ mệt mỏi hay chán nản trong đời. Bởi thế, ai mất quê hương thực sự của mình, đều phải tạo ra quê hương mới bằng cách này hay bằng cách khác.
Rời miền Bắc sau 1954, mang lũ chúng tôi vào Nam, bố mẹ tôi đã từ bỏ nhiều thứ trong đó có quê nội và quê ngoại, một quá khứ khá dài những vui buồn, và căn nhà đã tạo dựng bằng công khó của hai người, nhất là bằng dấu vết những bàn chân nhỏ cùng các tiếng khóc tiếng cười của đứa bé đã sinh ra và lớn lên trong đó. Tết năm ấy, tết tha hương đầu tiên, bố mẹ tôi không hề buồn bởi vì hai người chưa già và trừ người con lớn còn ở trong quân ngũ nơi xa, gia đình tôi sum họp đầy đủ trong căn nhà cũ kỹ tồi tàn không điện không nước của khu Bàn Cờ. Tết năm ấy, năm của hòa bình, hầu hết những người dân hai miền còn đầy hi vọng ở tương lai.
Rồi ngày tháng theo nhau qua. Niềm hi vọng ở tương lai của mọi người có còn nguyên vẹn như thế không, tôi không biết. Tôi chỉ biết vào một ngày cuối năm, thứ hi vọng ở tương lai của gia đình khiêm tốn của tôi đã suy giảm nhiều. Lý do thật giản dị: bố tôi, cột trụ của gia đình, đã thấm mệt, đã chịu thua cuộc đời, đi vào tuổi già. Ông đã cam chịu làm một công chức nhỏ cho một cơ quan thuộc binh chủng lo làm nhà, xây cầu cho quân đội. Ông không còn nói tới lo xin ra báo, mở nhà in, tái lập thời kỳ huy hoàng của ông trong những năm còn trẻ. Trong một đêm khuya đi chơi về, bắt gặp ông còn thức soạn chống giấy tờ cũ – những tấm thiếp mời ông buổi lễ này, tiệc rượu nọ của cả một thời kỳ đã qua – dưới ánh đèn dầu lù mù và trong tiếng xe chạy ào ào trên con lộ lớn trước nhà, tôi đột nhiên cảm thấy từ thâm tâm một cái gì thúc đẩy tôi ngồi xuống đấy với ông, nói gì chưa biết, nhưng phải ngồi… Hình như đây là lần đầu tiên tôi lờ mờ ý thức được thế nào là cô đơn của một người thất bại về già bó gối chịu thua. Trong căn nhà tồi tàn này, có đầy đủ vợ con nằm ngủ yên chung quanh, nhưng có những nỗi cô đơn tự bản chất đã không sao chia sẻ nổi…
Tôi đã tới ngồi chiếc ghế bên này chiếc bàn mộc, vơ vẩn đọc những tấm thiếp cũ xưa ấy, nghe người già ngồi bên kia nói về cuộc đời, về tuổi trẻ, về những ước vọng vang bóng một thời. Ông nói ông đã làm thất vọng nhiều người, trong đó có mẹ tôi, con gái duy nhất của một gia đình nhiều danh tiếng về văn học cũng như về đấu tranh cách mạng. Ông đã quá rong chơi, quá phung phí tuổi trẻ, để rồi tới lúc này không còn gì. Không một danh tiếng, cũng không cả gia sản. Và vì dù sao cũng là kẻ cuối cùng của một dòng kẻ sĩ lâu đời, ông đã vừa phải khước từ một đề nghị chính trị nhiều bá đạo nhưng cũng nhiều quyền lợi của chính quyền đương thời… Như vậy ông chỉ còn một đời sống khiêm tốn để sống, cuộc đời của một công chức già và một căn nhà nhỏ mới được cơ quan cấp phát cho trong một cư xá hỗn hợp, căn nhà ông hẹn tôi mai sớm tới sở kiếm ông đề cùng sang nhận. Trong khuya, không biết là vào giờ nào của đêm, ông trầm giọng: “… Sau này, bố chỉ ao ước các con làm được cho bố một căn nhà tranh ba gian hai chái trên nền đất nện, trước nhà đào một ao nhỏ có cầu ao dẫn xuống mặt nước nuôi bèo để không cho xanh um, ở ven đô nào cũng được.”
Tính ông chuyên đoán nên bố con ít khi nói chuyện nhiều, chưa kể có thời kỳ tôi còn ghét ông vì bị bắt phải làm những điều ông muốn và tôi không ưa. Những đêm nay, lần đầu tiên từ khi lớn lên, tôi hiểu bố được một phần nào. Một thoáng nghẹn ngào lẩn khuất với tình thương mến. Tôi cất tiếng nói, nói rất nhiều. Bây giờ đến lượt ông ngồi nghe tôi nói về những ước vọng của tôi – những ước vọng dĩ nhiên thật cao xa của một thanh niên mới lớn.
Chẳng biết ông có tin các lời đao to búa lớn ấy của tôi không, nhưng ít nhất buổi nói chuyện trong đêm cũng làm hai bố con dễ chịu với nhau hơn khi cùng đến nhận căn nhà nằm đầu dẫy của một khu nhà dành cho binh sĩ và nhân viên quân chính. Căn nhà nhìn ra bãi cỏ hoang đầy vòng kẽm gai cũ rỉ, sát vách bên là một đống khối bê-tông lớn xếp hỗn độn do đạo quân viễn chinh Pháp bỏ lại, căn nhà vào mùa mưa thì nước ngập và mùa nắng thì mái tôn hừng hực chói chang.
Gia đình tôi dọn tới ở căn nhà ấy và ở thật lâu. Mẹ tôi vốn có tài thích ứng về mọi sự và nhất là về nhà cửa ruộng vườn. Bãi cỏ hoang, mẹ tôi phát cỏ, cuốc đất lên làm thành vườn. Mẹ tôi trồng nhiều cây trứng cá, vì chúng “… vừa chóng có bóng mát, vừa chóng có trái cho chúng này chọc ăn.” Mẹ tôi đục thêm cửa sổ bên hông nhà và khi bọn tôi kêu lên khôi hài là nhìn qua đó thấy đống đá non bộ (các khối bê-tông ấy) đẹp như thế mà thiếu hàng trúc thưa, bà đi trồng hai rặng mía vì “… đốt mía đẹp kém gì trúc mà lại ăn được.” Cứ với quan niệm dung hòa mỹ thuật với thực phẩm ấy, khu vườn nhà tôi dĩ nhiên không thể thiếu vài luống sắn thân và lá thật đẹp mỗi khi trời xanh cao và nhiều nắng. Trong căn nhà nhỏ, và trong khu vườn vừa đẹp vừa ngon do mẹ tôi tạo dựng ấy, chúng tôi đã sống những ngày thật vui và nhiều hạnh phúc. Anh Lam tôi đã đưa chị dâu tôi về ngồi dưới bóng mát của các cây trứng cá nở đầy hoa trắng, đêm trăng trông như có sương đọng. Tôi đã từng đưa người yêu của tôi, người sẽ theo gót chị Lam về làm dâu thứ trong căn nhà này, đi giữa hai luống sắn, ven rặng mía dưới vòm hoa ti-gôn. Tôi đã từng bắc thang đưa nàng lên mái nhà, nơi đứa em trai đã sửa cây, xếp cành thành một vùng nho nhỏ như tổ chim – một chỗ để hôn nhau. Rồi đứa em gái kế đã hôn người yêu ngoài bờ cỏ sau bụi tre, đã khóc đã cười và đã đi lấy chồng cũng từ trong căn nhà của bố và khu vườn của mẹ…
Những năm tháng vui tươi rồi cũng qua đi, chiến tranh đã bộc phát dữ dội làm phân tán lũ con và gửi những sợi tóc đốm bạc lên mái tóc bố tôi. Từ lâu rồi, ông suy yếu nhanh vì bệnh lao. Đêm Trung Thu chót, khi chúng tôi treo đèn xếp đầy vườn, trên ngọn cây sắn ẻo lả, trên cành cây, trong lùm tre và bày cỗ ăn bánh uống trà vui vẻ ngoài vườn, ông chỉ còn đủ sức ngồi thu người trên ghế, vừa hút thuốc vừa ho nhìn ra. Bởi thế, khi bước chân vào quân trường, tôi đã nghĩ không hiểu rằng khi chết, ông liệu có được bao đứa con bên giường…
Và tin ông chết trong bệnh viện Cộng Hòa chết một mình, đến với tôi khi vừa tập trận ở một bãi xa về. Trong khi chờ đợi giấy phép bạn bè đang chạy tứ tung xin hộ, tôi ngồi ở một bệ xi-măng ven Võ đình trường, nhớ tới ông trong những ngày gặp chót – gặp thật ngắn vì thời hạn đi phép đã chẳng dài bao nhiêu, tôi lại dành hầu hết cho Thi và cho tôi. Lần phép chót, khi tôi mặc xong quân phục, cầm mũ đi ra, ông đã gọi giật lại, ngập ngừng hỏi tôi còn tiền hay không. Tôi mở ví ra còn hơn ba trăm, chia cho bố một nửa… Nước mắt tôi rớt trên cát vỡ các hình ngôi sao nâu, nhưng tôi không kìm giữ vì biết rằng tối nay, vì ở gần Saigon nhất, tôi sẽ là đứa con độc nhất về kịp với mẹ. Trong căn nhà, trong khu vườn, tôi cần trấn tĩnh. Còn ở đây, Võ đình trường trải dài vắng ngắt trong rạng chiều… Tôi chỉ khóc ông một lần nữa sau khi mộ đã đắp, ông đã yên nghỉ trong một nghĩa trang xa lạ, yên nghỉ vĩnh viễn trước khi tôi thực hiện nổi giấc mơ nhỏ của ông trong tuổi già, là làm một căn nhà tranh ba gian hai chái trên nền đất nện, trước nhà có một ao nhỏ thả bèo cho xanh…
Ông chết đi, sau khi tiền tử tuất đã trả, cơ quan đòi lại căn nhà đã cấp phát từ bao năm. Mẹ tôi có báo cho tôi biết, nhưng thân làm lính trấn thủ lưu đồn, tôi làm gì được. Chẳng lẽ để các con nhỏ đi ở nhờ bà con họ hàng, mẹ tôi tới cơ quan cầu xin. Chồng chết không gia sản, các con trai đã đi lính hết, mỗi đứa một sư đoàn xa… Thế rồi mẹ tôi được cơ quan chấp thuận cho tạm trú ở khoảng đất ngay sát nhà. Còn căn nhà, vẫn phải trả.
Mất căn nhà nhưng còn được khu vườn, mẹ tôi đi vay tiền, xin vật liệu về chất đống, nhưng chưa khởi công vì còn đợi tôi về “cất nóc” hay “thượng lương” chi đó. Tới kỳ về phép, ngồi giữa đống gỗ ngổn ngang, tôi uống trà với mẹ trong khu vườn mà sốt ruột chỉ muốn đi – vì Thi ngồi ngay bên, trong vòng tay và bây giờ hai đứa tôi không cần “một chỗ để hôn” nữa, mà cần tìm một chỗ để yêu nhau. Xong tuần trà, mẹ tôi gọi tôi ra khởi công làm nhà. Tôi nhăn nhó vì sợ mất nhiều thì giờ, nhưng thực ra không có gì: tôi nâng một cái sà gỗ đầu tiên cho mẹ tôi đóng. Thế là xong lễ cất nóc cho một ngôi nhà.
Nhưng căn nhà của mẹ tôi hẳn phải không giống như mọi người. Thiếu gỗ, mẹ chỉ làm có ba vách, vách thứ tư là tường căn nhà cũ. Dù chỉ ba vách cũng vẫn thiếu gỗ nên cả mặt tiền chỉ làm gỗ phân nửa dưới, còn nửa trên đóng lưới, trong làm màn ngoài treo mành tre. Căn nhà trống trải đến nỗi mỗi khi có gió lớn thổi, lá khô theo các khe hở rơi lả tả đầy nhà và khi mưa lớn thì đúng là cơn gió bốn bề. Một căn nhà “gần” thiên nhiên đến mức tối đa, chim làm tổ trên đình màn và đêm khuya dế kêu ri rỉ dưới gầm giường. Nhưng quả là một căn nhà kiểu liêu trai cho một hàn sĩ trẻ và tôi đã nhiều lần mời bạn văn đến uống rượu nhân dịp xuất bản những tác phẩm đầu tiên trong nơi này, trong căn nhà của mẹ và khu vườn của mẹ.
Rồi thời gian qua nữa. Sau khi phiêu bạt nhiều đơn vị của ba vùng chiến thuật, tôi mới được đổi về Saigon. Khi ấy cấp chỉ huy binh chủng sở hữu khu nhà quyết định dùng khoảng đất trong có khu vườn của mẹ dự trù làm bể bơi hay sân quần vợt chi đó và xe ủi đất cơ hữu đơn vị đã tới san bằng. Khi tôi về, cứ như Từ Thúc về trần, khu vườn đã biến mất không còn đấu vết. Mẹ tôi chỉ nói là đã hết sức năn nỉ mấy người lính mới giữ được một cây trứng cá duy nhất bây giờ đã gần như cổ thụ mọc sát vách nhà. Tôi thoáng buồn rầu khi hiểu tại sao mẹ tôi không tới năn nỉ xin các cấp chỉ huy khu đó, mà chỉ đi nói với mấy người lính lái xe. Và tôi không đủ can đảm để hỏi mẹ tôi khi năn nỉ, liệu có nói các con bà đều là linh như họ, ủi thì ủi, chớ ủi nhà mẹ già em nhỏ của chúng hay không…
Một thời gian sau mẹ tôi theo hai đứa em gái chót lên Đà Lạt và tôi cùng gia đình riêng mới tạo dựng, dọn về nhà mẹ ở. Trước khi đi, mẹ dặn coi chừng là có tin đồn sắp có lệnh dỡ nhà trả đất vì cấp chỉ huy binh chủng định biến khu này thành cư xá sĩ quan. Mẹ chẳng dặn thì tôi cũng coi chừng. Làm sao nỡ để mất của mẹ, căn nhà của cả một thời kỳ, căn nhà duy nhất bọn tôi có được kể từ khi xa miền Bắc.
Rồi lênh dỡ nhà đến thật. Tôi làm đơn xin, viện lẽ thượng cấp đã định cấp phát lại khu này cho sĩ quan thì dù có là dân bộ binh chân lấm tay bùn, tôi cũng là sĩ quan xin được lưu cư ở khoảng đất nhỏ bé. Đất là đất chung của quân đội và huynh đệ chi binh… Nhưng một buổi sáng đẹp trời, một văn thư gửi tới cho biết phải dõ nhà đi, và “vì tình nhân đạo, cho đương sự một thời hạn ba tháng để thi hành lệnh này.” Tôi chưa chịu thua, xin đủ giấy tờ chứng tỏ là nhà có ba lính, thì lính anh, lính em và lính tôi đều không có nhà, dù là nhà mình mua hay cấp phát.
Nhưng tôi đã thất bại, hoàn toàn thất bại. Lệnh dỡ nhà, trục xuất khỏi cư xá được giữ nguyên và không gia hạn thêm lấy một ngày. Còn kèm thêm khẩu lệnh phụ là tới ngày không đi sẽ cho xe bulldozer tới ủi tất và cho An ninh tới bắt. Tôi đành gọi người vào dỡ nhà, bán vật liệu – vật liệu còn bao nhiêu giá trị sau bao mùa mưa mùa nắng và nước ngập. Bán được năm ngàn đồng, gửi lên cho mẹ, mẹ lại cho trở lại để “các con lấy tiền mà dọn nhà.” Thế rồi đến ngày chót, lại một ngày đẹp trời nữa, tôi dọn nhà, Khi buổi sáng trở dậy, mặc bộ đồ trận vào, tôi thấy hơi buồn bã và chua xót.
Rút kinh nghiệm, từ giờ bọn tôi lo kiếm đặt trước đã trước khi nghĩ đến chuyện làm nhà khác cho mẹ. Do một tình cờ, anh Lam tôi quen với tỉnh trưởng vùng Đà Lạt. Anh liền nói với người bạn ấy cấp cho mẹ tôi một mảnh đất – trên vùng ấy, núi đồi thiếu gì. Lời yêu cầu ấy được thỏa mãn, các con của mẹ tôi đã có dịp chế bà là “tân địa chủ” và tôi đã có cơ hội để ước mơ là khi nào chiến tranh chấm dứt, các con trai buông súng trở về cầm cưa vác búa vào rừng lấy gỗ về mà làm cho mẹ tôi, lúc đó chắc tóc đã bạc như sương, một căn nhà nhỏ ven một đồi thông nhiều gió lộng.
Trong khi chờ đợi “căn nhà viễn mơ” của ông anh bao năm chỉ biết tranh đấu tới, tranh đấu lui, nghèo mạt rệp ra không đi đến đâu – lời mấy đứa em gái tôi – thì chúng ra sức làm việc để dành tiền mua nhà, một căn nhà nhỏ thôi, tồi mấy cũng được, miễn là có đất rộng một chút, để rồi “mẹ gõ cho nó mấy cái là thành nhà ở được, cuốc cho nó mấy nhất là thành vườn, vừa ăn dược vừa ngắm được.” Mà chúng làm việc thực. Tôi và Thi lên chơi, coi chúng đi làm mà chóng mặt. Quả thực là đầu tắt, mặt tối. Nhưng rồi một đứa em gái cùng chồng đã dành dụm được tiền mua một căn nhà gỗ tồi ở đầu một thung lũng nghèo. Và mẹ tôi đã vác búa, vác cuốc ra, các con cháu xúm lại, đến khi tôi lên lần nữa, căn nhà đó đã sửa xong, xinh xắn, và ngoài vườn theo đúng truyền thống của mẹ tôi, cây su-su leo hiên ngang lên cành mận, phong lan treo dưởi dàn bí, rau thơm xen kẽ với cúc vàng, riềng và gừng cạnh dẫy thược dược…
Các con trai không có nhà thì nhà con gái, con rể cũng là dẹp rồi. Con nào chẳng là con. Tôi tưởng thế là mẹ kể như có nhà. Nhưng tôi lầm. Trước tết năm nay, một bà mợ trong họ chết. Khi biết rõ tin tức, mẹ tôi nói: “Mợ ấy chết sau khi con cái đã thành đạt cả cũng sướng. Nhưng chết ở nhà con rể thì cũng chưa được gọi là hoàn toàn.” Mẹ tôi chỉ nói thế thôi, nhưng tôi và Thi hai đứa đưa mắt nhìn nhau im lặng. Lại phải tính đến chuyện chung sức các con làm nhà cho mẹ thôi.
Tôi liền hỏi khoảng đất ngày trước mẹ được cấp phát hiện giờ ra sao… và được mẹ cho biết một vị tỉnh trưởng sau đã nhận danh một công bằng xã hội nào đó đã thu hồi lại rồi. Tôi và Thi lại im lặng nhìn nhau vì trong mấy ngày rong chơi lang thang thành phố miền núi này, hai đứa đã thấy biết bao nhà cửa chiếm đất công xây cất bừa bãi…
Thế là đến cuối năm nay, khi cả gia đình chuẩn bị ồn áo đón xuân cùng thiên hạ, thì mẹ tôi rút cuộc đất cũng không mà nhà cũng không. Và buổi sáng mồng một tết, nhìn mẹ tôi đứng dưới tam quan chùa Linh Phong lộng gió từ dưới các thung lũng lên, tôi nhận ra mái tóc mẹ tôi đã gần như bạc trắng hết dưới ánh nắng đầu xuân, bạc đã gần như sương.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.