Đáy địa ngục

Chương II: Suối Máu

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 13 May 2024

Phần 7

Chẳng hiểu sao từ chiều, không có tên cảnh vệ nào đi tuần trong Trại. Có lẽ, chúng tin, sau những lời dọa nạt, sau sự tuần phòng liện tục suốt mấy ngày nay, chắc tù không dám tổ chức lễ Giáng Sinh. Tuy tình hình êm như vậy, nhưng những người có trách nhiệm tổ chức Thánh Lễ đêm nay, vẫn đề cao cảnh giác. Họ chia nhau canh gác và có hệ thông “báo động sống”, nếu tụi cảnh vệ ruồng xét bất tử. Theo dự định, buổi lễ sẽ được tổ chức sớm tại khu nhà bếp. Đúng 22 giờ, những người có đạo đã tụ họp đông đủ. Vị linh mục chủ lễ, tuy ăn mặc thường, nhung nét mặt trang nghiêm, đôi kính trắng gọng vàng lấp lánh qua ánh nến, do Tuệ cầm soi cao trước mặt. Tiếng cầu kinh lầm rầm, thoạt đầu nhỏ sau to dần. Xung quanh tối om trừ nơi vị Linh Mục đứng, làm không khí vừa tôn nghiêm vừa quái dị. Đây, đêm Giáng Sinh thứ nhất trong Trại tù Cộng Sản. Tuy không có đạo, trong lòng tôi cũng dâng lên sự tôn kính và thầm cảm phục ý chí của các anh em mộ đạo. Cuộc lễ khai diễn chừng 15 phút, bỗng nhốn nháo, ai nấy bỏ chạy toán loạn. Tuệ chúm môi thổi tắt ngọn nến. Toàn thể khu vực tối om. Những vệt đèn pin quét lia lịa cùng tiếng quát tháo của các tên cảnh vệ mặc thường phục trà trộn vào. Nhưng chúng chẳng bắt được ai. Tất cả, như chiếc tổ chim bị phá, các cánh chim đã bay cao và xa!

Quá tức giận vì không thành công trong việc tóm bắt được một người nào, trong số tham dự cuộc lễ, nên hôm sau, tên Hải cho gọi tất cả Linh Mục Tuyên Úy lên thẩm vấn. Tôi không được biết công việc thẩm vấn diễn tiến ra sao, nhưng chỉ biết, nó kéo dài từ ngày này qua ngày khác, cả ngày lẫn đêm. Chắc các vị Linh Mục cũng mệt lắm, nhưng đã là con của Chúa, tất nhiên phải gánh chịu vinh quang và nhục nhằn, như cách đây gần 2000 năm, Chúa đã chịu đóng đinh trên cây Thập Tự Giá.

Đã hơn 6 tháng, chúng tôi sống một cuộc sống mất tự do với quá nhiều nhục nhằn. Thật buồn nản và thất vọng bao nhiêu khi đoán biết ngày mai chẳng có gì khích lệ. Vấn đề dinh dưỡng mỗi ngày mỗi tồi tệ. Cơm tương đối không thiếu, nhưng người ta không thể chỉ ăn cơm với canh đu đủ xanh nấu muối trường kỳ. Gói quà 3k cũng chẳng kéo dài được bao lâu. Dần dà, mọi người cảm thấy mất sức vì thiếu chất protein. Trong lúc nhàn du, tôi đem sự thắc măc đó nói với Tư, người bạn cùng đơn vị, nhưng hiện ở khác K. Khi nghe tôi nói xong, Tư cười hềnh hệch:

– Các ông cứ lo nghĩ vẩn vơ, không chịu nhìn thực tế. Mình có sẵn chất prô-tê-in lại chẳng chịu xử dụng!

– Đâu?

– Chuột đó! Thiếu gì. Ông cứ làm lông sạch, mổ bụng moi hết ruột gan, chặt đầu vứt đi, đem thui vàng tẩm mắm muối hành tỏi, chờ ngấm, cho chút dầu chiên lên, ô là la… vừa nói đã muốn chảy nước miếng đó, ông ơi!

– Tởm bỏ cha! người ta ăn chuột đồng, chứ bố ai dám ăn chuột cống, nhất là chuột trong Trại tù, chuyên ăn phân.

– Ông tưởng chỉ có chuột ăn phân thôi à? Con chó không ăn sao? Vì đâu nhiều người mê ăn thịt chó? Con lợn, con gà, không ăn sao? nhưng tạo hóa sinh ra chúng, thực phẩm nào ăn được, tiêu hóa được, chúng mới ăn và mọi thứ đều biến chất qua hệ thống tiêu hóa để trở thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Còn chuyện sợ hay không, tùy theo cảm nghỉ của mỗi người.

– Ông nói gì cứ nói, tôi đếch ăn thịt chuột.

– Ăn hay không, cái đó tùy, nhưng tôi cần phải nói cho ông biết, chuột ở Suối Máu có giá lắm đấy nhé ! Lúc đầu, anh em mời nhau ăn cho vui. Sau thấy ngon, ăn vào khoẻ người, nên ai cũng ham. Có người làm bẫy 6 ngăn, đêm nào cũng bẫy được 3,4 trự. Một đồng một trự đó. Đôi 1úc chuột khan, 1đ50 đó. Ông đã nghe nói chuột 7 món chưa?

– Chưa! Nếu biết, ông kể cho nghe đi!

Tư lấy nét mặt nghiêm trang, như sắp sửa nói câu chuyện gì quan trọng. Sau tiếng đằng hắng, anh nói :

– Chuột luộc nè, chuột nướng chả nè, chuột nấu sả nè, chuột ram nè, chuột cà-ri nè, chuột quay nè và sau cùng chuột nấu cháo, món này mát và bổ!

– Ôi chao, nghe đã buồn mửa!

– Ông khó tính bỏ cha. Chiều nay, tôi mời ông ăn bữa chuột ram. Nếu không nói, đố biết đó là thịt chuột. Tôi sợ ông ăn một lần, rồi mê luôn.

– Dạ, cảm ơn, cảm ơn! không dám!

Tư đứng dậy kéo tôi đi đến bên rào kẽm gai, đưa tay gỡ chiếc bẫy chuột xuống. Một con chuột cống to bằng bắp tay chạy lồng lộn như muốn tìm cách thoát ra. Mầu lông nó không đen mà nhuôm nhuôm, một đôi chỗ mất lông, lòi mầu da trắng nhợt.

– Trông có mê không? béo lắm đó ông. Dưới lớp da là lớp mỡ, khi ram khỏi cần cho thêm dầu .

Tôi không muốn nghe, cũng chẳng muốn nhìn con chuột, vội tìm cách rút lui. Tôi không ngờ, trước đây, với cương vị của Tư, mỗi tuần anh đều có thể ăn nhà hàng, tiệm nào tùy ý. Nay mới già nửa năm sống mất tự do, bị thiếu thốn chút ít về vật chất mà miếng ăn đã làm thay đổi hẳn tính nết. Chẳng cứ gì Tư, nhiều người như vậy. Khắp Trại tù, chỗ nào cũng ngửi thấy mùi chuột thui khét lẹt.

Vì đời sống trong tù quá rảnh rổi, người ta tìm mọi cách để tiêu hủy thời gian. Có người đánh bài, có người đánh cờ, có người tập thể dục, có người chơi nhạc, có người tìm cách biến chế món ăn thức uống sao cho thay đổi, đỡ chán miệng. Cũng là cơm, không có mỡ để chiên, người ta nhồi chặt vào chiếc lon guigoz, cho lên lửa nướng. Nếu nướng khéo, xung quanh lon cơm sẽ có một lớp cháy vàng, ăn rất thơm. Còn cách nữa, nắm cơm rồi xắt ra từng miếng vuông vừa một miếng, đặt lên chiếc vỉ sắt, nướng như nướng bánh. Khi nào miếng cơm vàng óng cả 2 mặt, bỏ ra ăn liền, dòn và thơm. Ăn kiểu này không cần thức ăn, chỉ vài hạt muối là đủ. Vì không lao động và cũng do nhu cầu, nhiều người tháo kẽm gai để làm bẫy chuột hoặc gò tôn làm gầu múc nước, làm đồ đựng cơm canh rất khéo. Tôi không ngờ có nhiều vị Trung Tá khéo tay đến như vậy. Chỉ một thời gian ngắn, những người tù lại tự tạo cho mình những tiện nghi tối thiểu để phục vụ đời sống.

Còn độ mười ngày nữa, đến Tết. Bức hoành phi do tôi thực hiện cũng gần hoàn tất. Đối với nghệ thuật, nó là tấm truyền thần hạng bét theo mẫu, không có chút sáng tạo nào. Tên cán bộ Ba ngày nào cũng đến, có ý thúc dục tôi làm cho chóng xong. Sự thực, nếu là công việc hợp với ý thích, khoảng thời gian thực hiện chỉ ngắn bằng một nửa. Nhưng đây là công tác “cỏ vê”, chả có gì hứng thú nên kéo dài, mệt mỏi. Cuối cùng, tấm hoành phi cũng được đem đi, treo giữa nhà của Ban Chỉ Huy, ngay trên bàn thờ Tổ Quốc, ở giữa có chiếc lư hương bằng đồng, một bên lá cờ búa liềm, một bên lá cờ đỏ sao vàng. Phiá sau chiếc lư hương là tấm bản đồ Việt Nam cắt bằng gỗ sơn đỏ, có gắn bóng điện nhỏ ở 3 địa điểm: Hànội, Huế, Sàigòn..

Sau khi tấm hoành phi được mang đi, trong tôi như cất được gánh nặng.

Những ngày áp Tết chúng tôi càng nhớ nhà. Nét mặt người nào cũng đăm chiêu, ủ dột như có sự tình khó nói. Những gói quà 3 kí được gửi đến cho con, cho chồng, cho cha ăn Tết càng làm cho mọi người tăng thêm phần tủi hận. Hầu hết mọi người đều nhận được quà trong dịp cuối năm. Đặc biệt gói nào cũng có mứt cùng kẹo bánh.

Tôi đến tìm Mậu. Vừa đến nơi, thấy Mậu đang túi bụi gói gói, xếp xếp từng thứ la liệt.

– Ối cha, ông nhận mấy gói mà nhiều thế!

– 3 gói ông ơi! Đâu tôi có bảo gửi nhiều thế này. Đứa con gái bé nhất của tôi lại gửi 5d mừng tuổi Bố. Đây ông xem thư nó viết.

manh hai flickr

Mậu đưa cho tôi miếng giấy nhỏ, có mấy dòng nguệch ngoạc:

Bố,

Con nhịn quà sáng, gửi 5đ mừng tuổi bố. Mong bố về với chúng con. Nhớ Bố quá.

Con gái Bố, Thúy.

Tôi đưa trả Mậu tờ giấy, nhìn sang bên cạnh. Một anh đang ngồi gục đầu trước gói quà mở tung. Tôi nhìn Mậu ngầm hỏi. Mậu nói nhỏ:

– Trúc đó! Hắn vừa nhận được gói quà và thư vợ. Trong thư vợ hắn cho biết, gói quà này được thực hiện bằng nước mắt, sau bao nhiêu ngày tằn tiện. Nhà nghèo lại đông con, nên hắn buồn. Tội nghiệp!

Bỗng Trúc ngước mắt nhìn tôi. Cặp mắt đỏ hoe như còn vướng ngấn lệ. Để tránh xúc động, tôi quay mặt đi chỗ khác. Giữa lúc ấy, có tiếng gọi lãnh cơm, tôi đứng dậy đi về.

Buổi sinh hoạt tối, K.Trưởng cho biết, cán bộ hậu cần sẵn lòng giúp, nếu anh nào muốn “đăng ký” mua bánh chưng ăn Tết. Có nhiều người góp tiền, chắc họ nghị, nếu thiếu chiếc bánh chưng, không ra Tết chăng?

Sau đó, đến chương trình tổ chức Tết gồm có thi đánh cờ Tướng, và mỗi K phụ trách một tổ Bích Báo mừng Xuân. Ban Chỉ Huy sẽ có giải thưởng cho mỗi môn. Vì “danh dự” của K mình, mong anh em cố gắng đóng góp bài vở cho tờ Bích Báo xuân và ai có tài đánh cờ xin ghi tên.

Cuộc sinh hoạt mỗi tối trở nên quen thuộc. Mọi vấn đề đều công khai thảo luận, nhưng cũng có người quá dè dặt, chỉ ghi nhận ở trong lòng những điều ưng cũng như không, chẳng bao giờ nói, hoặc có ý kiến như Khắc. Anh có vẻ nhẫn nhục, chịu đựng. Nét mặt lúc nào cũng lầm lì, khó hiểu. Hình như Khắc không có ai là bạn thân. Đôi khi, tôi và Khắc cũng nói chuyện, nhưng chỉ là chuyện tầm phào, xã giao. Không hiểu sao, sau buổi sinh hoạt tối nay, Khắc lại rủ tôi đi vòng quanh chiếc sân nhỏ. Anh mang theo gói kẹo và bao thuốc. Chúng tôi vừa ngậm kẹo vừa hút thuốc, nói chuyện về những mùa Xuân trước, dưới mái gia đình hay trong đơn vị. Những bước chân đi đều, bỗng Khắc dừng lại, nắm tay tôi:

– Này ông, tôi nhớ vợ con quá, chịu không nổi!

– Nhớ, ai không nhớ? Nhưng ở hoàn cảnh này, nhớ cũng vô ích!

– Tôi nghĩ kỹ lắm rồi ông ạ! – Khắc nhìn đăm đăm vào mặt tôi.

– Ông nghĩ gì?

– Phải trốn Trại! Tôi tin ông lắm, mới dám nói điều đó, ông giữ kín cho.

– Ông khỏi lo, nhưng ông trốn bằng cách nào, qua 12 lớp kẽm gai, bãi mìn và những vọng gác?

– Tôi đã để ý, một nơi có thể vượt qua được. Chiếc hố xí sát hàng rào, nơi đó có một lỗ hổng do chó chui. Mùa này, buổi sáng mù sưong, tôi sẽ đi cầu thật sớm, chờ sẵn ở cổng. Khi nào nó cho ra, tôi sẽ đi thẳng tới đó, quan sát lúc nào tên gác không để ý, sẽ chui qua lỗ hổng đó, rồi tìm cách thoát ra ngoài.

– Ông Khắc ơi, ông nhớ cho, từ trên cao nhìn xuống, rõ lắm. Hơn nữa, chỗ đó, tôi cũng biết, nó trống trải, cây cối không có. Ông nên nghĩ kỹ đi, kẻo hối hận!

Trong bóng tối, tôi cố mở to mắt tìm phản ứng trên nét mặt Khắc, nhưng chỉ thấy hai đốm sáng long lanh.

– Phải liều chứ? Nếu không, sao thoát khỏi chốn này?

– Ai cũng muốn thoát chẳng riêng ông. Tôi cũng muốn trốn Trại lắm, nhưng phải trốn cách nào cho an toàn, nếu bị bắt lại, đời tàn. Nó nhốt Connex, chỉ một tuần, đủ tiêu!

– Nghĩ kỹ như ông, sao dám làm, đã quyết phải liều!

Tiếng nói của Khắc rắn đanh, chứng tỏ hắn đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Nhưng qua câu chuyện, tôi nhận thấy, Khắc chỉ vì nhớ vợ con nên có ý định trốn Trại. Rất có thể, trong một lúc nào suy tính lại, cũng vì vợ con, hắn bỏ ý định đó.

Tiếng kẻng báo giờ ngủ đã khua vang. Tôi và Khắc ai về chỗ nấy. Trước khi chia tay, Khăc cẩn thận ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Ông giữ kín cho, lộ chết đấy!

Tôi gật đầu. Trong giấc ngủ đêm ấy, hình ảnh Khắc và chiếc hố xí lẩn quẩn hoài trong tâm trí.

Cái Tết thứ nhất trong tù, gây rất nhiều tác động tâm lý. Cho đến hôm nay không mấy ai còn tin ngày được tha sẽ tớí. Tôi nhớ lại lời nói của Minh, một sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III.

– Ít nhất, tụi mình phải bóc xong một cuốn lịch, còn thêm nữa,chưa biết ! Tôi không dám nói với nhiều người, sợ anh em chửi!

Càng suy nghĩ, càng thấy đúng. Chúng tôi không thể về trước một cuốn lịch và vấn đề về sớm hay muộn cũng sẽ không đồng đều cho tất cả, vì mỗi cá nhân, phải gánh chịu những hậu quả khác nhau do “quá trình tội lỗi gây ra.”

Chiều nay 30 Tết, tôi đi một vòng quanh Trại. Không khí tuy vẫn cùng nhịp độ với những hôm trước, nhưng trên nét mặt mỗi người hình như vướng vất nỗi ưu phiền.

Trời tắt nắng sớm. Những giờ phút cuối của một năm sắp qua nó day dứt, nặng nề. Đàn chim soải cánh phía xa, thẳng tắp như một dòng kẻ . Hồi còi rúc vang theo hướng gió đưa lại. Tôi đứng nhìn qua rào kẽm gai. Tiếng bánh xe nghiến vào đường sắt rầm rập. Đoàn tầu từ Sàigòn đi về hướng Long Khánh, chở đầy hàng hóa và hành khách. Vì là chuyến tàu chót của một năm sắp tàn nên tầu chật ních người. Hành khách bám đầy nơi bậc lên xuống, cả trên nóc toa. Sự thực mỗi ngày, tôi đều có nghe và thấy những chuyến tầu xuôi ngược, nhưng chuyến tầu cuối năm, không hiểu sao làm tôi xúc động! Tất cả đều trở về sum họp dưới mái gia đình trong dịp Tết, chỉ riêng chúng tôi, những người đang bị Tập Trung Cải Tạo, trong nhiều Trại giam khắp miền Nam, phải gánh chịu một cái Tết khắc khoải, chứa chấp nhiều phiền muộn ! Tôi biết, mùa xuân đang đi từng bước nhẹ nhàng, êm ấm, vui tươi trong lòng những ai có đời sống không liên lụy với Cộng Sản. Tôi nghĩ đến vợ con, chắc giờ này đang ngồi khóc trước bàn thờ tổ tiên. Các nghi thức trong dịp Tết, chắc không thiếu, nhưng thiếu tôi là thiếu tất cả! Câu thơ của Lamartine, tôi đã đọc qua mấy chục năm trước, lúc này nghĩ lại mới thấy thấm thía: Un seul être vous manque, tout est dépeuplé!

Chiều xuống rất mau. Bóng tối ùa lấp tất cả. Trên vọng gác cao, tên cảnh vệ không nhìn vào trai theo đúng nhiệm vụ. Nó quay mặt ra phía ngoài, khẩu A.K. đặt chéo trên thành vọng gác. Gió thổi mạnh làm chiếc áo nó mặc phồng lên như cánh buồm no gió. Không hiểu sao, đến giờ này mà tên cảnh vệ thứ hai chưa có mặt.

Tôi đi từng bước rất chậm, mắt ngước nhìn trời. Không ánh sao, vùng trời như tấm phông tím ngắt phẳng lì. Tôi nhìn về hướng Sàigòn. Một dãi ánh sáng chạy mờ tỏ trước mặt.

Sự thua trận như giấc mơ kinh hoàng. Nhiều lúc nghĩ quẩn, tôi tưởng nó là giấc mơ thực. Nhưng chỉ loáng sau, khi mắt nhìn thấy những rào kẽm gai, những chiếc mái tôn, tôi sực tỉnh, như kẻ mộng du quên hết những gì mình làm vừa qua, lại hành động và suy nghĩ như người bình thường.

Bữa cơm chiều 30 Tết, có thịt heo và canh. Tuy bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường, nhưng tôi ăn không thấy ngon vì lòng không vui. Sau khi rửa chén đũa, tôi tìm chỗ khuất, ngồi suy nghĩ. Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là hết năm. Những giờ phút thiêng liêng của sự giao thoa giữa Đất Trời và những huyền bí từ vạn cổ chưa ai giải đoán nổi, giữa kiếp người hữu hạn và cái cõi xa xăm vô giới hạn, sau khi ta vắng mặt, sẽ ra sao?

Tôi đang ngồi đây, tức là tôi hiện hữu, hay cái tôi không thể định hình, vì mỗi tích tắc đi qua, một phần trong tôi đã hao hụt, đã thuộc về quá khứ! Sự suy nghĩ nhiều khi đưa con người đi xa thực tế, chối bỏ hiện tại, chỉ nhằm vào dự tưởng, mà dự tưởng thường thường đưa con người đến thất vọng!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply