Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Cuốn sách của những người Do Thái

Eddy Thall đặt chiếc dao rọc giấy trên mâm thức ăn sáng. Nàng đọc lại bức thư, rồi quay nhìn người đàn bà mặc áo trắng đang kéo tấm màn phòng ngủ.

– Tinka, vú lại đây xem, vú biết cô này không?

Người vú già cầm lấy tấm ảnh nhỏ bằng con tem. Bà ta đưa ra xa hơn một chút để nhìn cho rõ hơn, ngắm nghía bộ đồng phục đen, cổ trắng. Tinka Neva chớm khóc, bà xúc động dễ dàng và khóc ngay mỗi lúc có người nhắc đến một sự kiện hay một điều gì về quá khứ của bà hay của gia đình họ Thall.

Tinka vừa lau nước mắt vừa bảo: “Đúng là cô Eddy chứ còn ai vào đây nữa!”

– Tôi vừa mới nhận lại được sáng nay đấy, Eddy bảo do một người ái mộ tôi gửi trả lại. Tinka, vú tưởng tượng xem, một cậu con trai si tôi từ hồi tôi mới mười lăm tuổi.

Kéo cái gối lên tận vai. Eddy cầm bức thư và nói với người vú già: “Vú nghe anh ấy viết cho tôi như thế này đây:

Thưa cô,

“Cách đây mười lăm năm, khi cô còn là một nữ sinh của trường âm nhạc, cô đã bỏ quên tấm ảnh này trong một cuốn sách ở thư viện. Tôi thấy được và giữ nó đã lâu lắm, đợi cơ hội trả lại cô tận tay. Nhưng cơ hội đó không bao giờ đến hay nói cho đúng, tôi đã không có can đảm tìm đến cô để trả lại bức ảnh dù tôi đã trông thấy cô nhiều lần ngoài đường, ở ký viện, ở hiệu bánh, ở công viên. Cô có đến Neamtz suốt cả mùa hè. Và tôi đã thấy cô mỗi ngày. Ít lâu sau cô trở thành một nghệ sĩ danh tiếng, rồi tự thành lập một hý viện? Dù đã lớn tôi vẫn thiếu can đảm. Lần này không phải sự e dè của tuổi thành niên làm tôi nhút nhát, mà chính vì danh vọng sang chói của cô. Chiều qua, tôi đã trở về nhà, tìm lại bức ảnh mà tôi mong cô nhận lại với tất cả lòng ngưỡng mộ sâu xa của tôi

Pierre Pillat

Thẩm phán

Tinka đứng nghe cạnh giường. Eddy nói tiếp: Còn một giòng tái bút nữa đây:

Bức ảnh này đã có một người xin, bạn tôi Boris Bodnar, trước khi hắn trốn sang Nga. Hắn bị đuổi khỏi trường võ bị và đã vượt sông Dniestr. Chiếc ảnh này đáng lý đã du lịch sang phương Đông. Tôi lấy làm sung sướng đã giữ lại được để bây giờ trả lại cho cô, dù không phải tôi chỉ yêu một mình nó mà thôi.

Eddy Thall buớc xuống giường. Nàng nhìn chiếc đồng hồ treo nhỏ màu xanh da trời. Đã 8 giờ sáng. Thấy Tinka đang khóc, Eddy hỏi:

– Có chi mà nghe bức thư đó vú lại khóc?

– Eddy à, lời lẽ trong thư thật đẹp, đẹp đến nỗi tự nhiên nước mắt tôi trào ra.

– Hồi nhỏ tôi có đẹp không vú nhỉ? Đẹp đến độ người ta phải si mê một bức ảnh?

– Cô Eddy lúc nào mà chẳng đẹp.

Tinka nói thế và đặt mâm xuống. Eddy Thall đọc nốt các bức thư khác, rồi cầm lại bức thư của ông thẩm phán Pierre Pillat. Nàng nghĩ đến cậu học trò đã trốn sang Nga và tiếc rằng Boris Bodnar đã hỏng thi và bị trục xuất khỏi trường học.

Eddy Thall là một nghệ sĩ hữu danh. Cho nên mỗi ngày nàng nhận không biết bao nhiêu là thư từ của những kẻ hâm mộ. Nhưng không lá thư nào làm nàng thích thú bằng lá thư của Pillat.

Bỗng Tinka bước vào phòng ngủ bảo:

– Có hai ông cảnh sát muốn gặp cô đấy.

Giọng Tinka có vẻ thay đổi vì sợ hãi.

– Hãy bảo chờ tôi uống xong cà phê đã.

– Họ gấp lắm, muốn nói chuyện ngay. Tôi đã bảo cô ngủ chưa dậy. Nhưng họ đã vào phòng khách và đang chờ cô đấy.

Eddy cầm lược chải đầu. Nàng bực dọc bước ra phòng khách. Hai người cảnh sát trẻ mang áo mưa đang đứng đấy. Nàng mời họ ngồi xuống, xé một tờ lịch và nhìn họ như lúc nàng đang diễn xuất trên sân khấu.

– Các ông cần điều gì ạ?

Họ vẫn đứng. Eddy hỏi tiếp:

– Tại sao các ông không chịu ngồi xuống?

Nàng vò tấm lịch đề ngày 9 tháng giêng năm 1940 và vứt vào sọt rác.

Một trong hai người cảnh sát lên tiếng:

– Chúng tôi xin phiền bà cho lập một biên bản.

Người thứ hai mở chiếc cặp da trong lúc người kia tiếp tục hỏi:

– Người đàn bà ra mở cửa cho chúng tôi có phải là người giúp việc cho bà không?

Eddy trông hai người đứng đắn như hai học sinh ở nhạc viện và nàng mỉa mai trả lời:

– Người đàn bà ra mở cửa cho hai ông là vú già của tôi đó.

Một người rút một cuốn sổ tay ghi chép trong lúc người kia hỏi:

– Bà ta giúp việc đã bao lâu?

– Khi tôi sinh ra thì bà đã giúp việc cho cha mẹ tôi rồi.

– Cách đây mấy năm, thưa bà?

– Tôi nghĩ chừng bốn mươi năm rồi, nếu mấy ông muốn biết rõ hơn xin cứ hỏi thẳng bà ấy ắt biết ngay.

– Lương tiền như thế nào?

– 5000 lei mỗi tháng bỏ vào trương mục của bà ấy, cùng tất cả mọi thứ bà ấy cần dùng. Nghĩa là bà ấy ở đây cũng như đang ở tại nhà riêng vậy.

Eddy châm một điếu thuốc. Nàng là chủ nhân một hý viện mang chính tên nàng. Báo chí đã phê bình nàng như một diễn viên xuất sắc nhất. Ảnh nàng trên bích chương được treo khắp nơi. Đài phát thanh nhắc tên nàng nhiều lần trong ngày. Hình nàng người ta đem dán ở khắp các phòng đợi hỏa xa, xe điện ngầm, bến xe đò. Cả đến những đứa trẻ cũng biết tên Eddy Thall. Tất cả những cảnh sát viên mà nàng biết từ trước đến giờ đều muốn xin thủ bút của nàng làm kỷ niệm. Nhưng hai người cảnh sát này không thế. Họ đến đây để lập biên bản.

– Bà làm ơn cho tên vú già?

– Tinka Neva. Còn gì nữa xin các ông nhanh lên cho.

Nàng đứng dậy tắt thuốc lá.

– Chúng tôi muốn biết người vú theo tôn giáo nào?

– Thiên chúa giáo. Eddy trả lời gọn lỏn.

Người cảnh sát thứ hai gập sổ lại và bỏ vào cặp.

“Luật pháp tuyệt đối cấm người có dòng máu Do Tháinuôi người ở có đạo Thiên Chúa. Bà bị buộc phải trả lương cho người vú đủ ba tháng và cho bà ấy thôi việc. Đó là tất cả những gì chúng tôi phải nói với bà.”

Hai người cảnh sát nghiêng mình chào Eddy, cũng nghiêm giọng như khi họ mới đến. Eddy đợi cho đến lúc họ đi về phía cửa lớn, nhưng một ngưòi lại nói:

“Mọi vi phạm luật lệ này đều bị phạt sáu tháng tù ở”. Và ông ta hỏi tiếp:

– Chúng tôi có thể lấy cung bà Tinka Neva?

Eddy bấm chuông gọi:

– Tinka, mấy ông này muốn nói chuyện với vú đó.

Xong nàng trở về phòng.

Tinka ở lại một mình với hai người cảnh sát. Bà quan sát cách ăn mặc của họ.

Một người hỏi:

– Bà là Tinka Neva?

Tinka hơi ức:

– Cô tôi đã cho biết tên tôi rồi, hỏi làm gì nữa!

– Bà ấy nói chưa đủ. Bà cần phải khai thêm cho chúng tôi.

Người thứ hai lại rút sổ tay, và bắt đầu ghi chép.

– Năm nay bà bao nhiêu tuổi. Bà giúp việc cho gia đìnhThall từ bao lâu?

– Lúc tôi mới bước chân vào gia đình này, tôi mới có 18 tuổi. Từ đó đến nay đã được 38 năm rồi.

Tinka hơi run sợ. Chưa bao giờ bà chứng kiến cảnh này trong nhà.

– Bà có bằng lòng cách đối xử của bà chủ không?

– Nếu tôi không bằng lòng, tôi đã không ở suốt đời nơi đây.

– Mặc, chủ bà sẽ trả bà đủ ba tháng lương và cho bà thôi việc. Luật pháp cấm người Do Tháithuê người ở có đạo Thiên chúa.

Hai người cảnh sát gài lại nút áo choàng. Tinka hỏi:

– Tôi không có quyền làm việc để kiếm ăn hay sao?

– Bà có quyền làm việc, nhưng không được làm cho người có dòng máu Do Thái. Tinka cho như thế là bất công nên bà không còn sợ hãi nữa, bà phản đối:

– Chính tôi chọn chủ để làm việc chứ. Tôi là một người giúp việc. Điều quan hệ cho tôi là có một người chủ tốt. Phần còn lại – người chủ là Do Tháihay có đạo Thiên chúa – không quan hệ cho tôi gì cả.

Hai người cảnh sát tiến ra cửa.

– Nếu bà chủ không trả đủ cho bà ba tháng lương trước khi cho bà nghỉ việc, bà cứ việc khiếu nại ở sở cảnh sát.

– Tôi không đi đâu hết, tôi bằng lòng ở lại đây.

Và bà Tinka khóc. “Chỉ có chủ tôi mới có quyền đuổi tôi ra khỏi nhà nếu cô ấy không bằng lòng tôi. Nhưng cô ấy rất mến tôi.” Tinka vừa nói thế vừa khóc, trong khi hai người cảnh sát ra khỏi nhà.

II

Lúc hai người cảnh sát đã đi khỏi. Tinka Neva ngồi khóc. Tấm thân già yếu của bà run rẩy như một cành cây mong manh. Eddy cầm lấy đôi vai Tinka:

– Tinka, vú yên đi nào. Ma quỷ cũng không quá hung dữ như người ta tưởng đâu. Vú cứ ở lại đây. Tôi quen biết lớn, tôi sẽ nhớ người ta can thiệp.

Tinka không thể nói gì hơn nữa. Bà lại lau ghế, lau sạch chỗ nền nhà mà hai cảnh sát vừa đứng, như là bà muốn lau hết tất cả vết tích của họ để lại trong nhà.

Câu chuyện vừa rồi là cả một sự nhục nhã đang xâm chiếm đến tận cùng cơ thể của bà. Bà nghĩ rằng không ai có quyền đuổi bà ra khỏi nhà trừ cô chủ. Và cũng không ai có quyền can thiệp vào việc riêng của bà. Nếu mình có làm điều gì tốt hay xấu thì cũng chỉ có cô chủ là có quyền phán xét mà thôi.

Tinka đã đi khỏi làng từ ngày chưa thành niên. Bà không còn gia đình hay họ hang gì nữa cả. Nhà của bà chính là nhà của gia đình Thall.

Eddy bỗng trao cho Tinka một gói thư từ:

– Tinka, vú đừng khóc nữa. Vú lại đây và đốt hết mấy bức thư này đi.

Tinka ngần ngại cầm mấy bức thư trong tay. Bắt bà đốt thư thật là một điều khổ sở cho bà quá. Tinka là một người nhiều cảm xúc. Đốt thư, nhất là bây giờ, sau vụ hai người cảnh sát vào nhà vửa rồi, thật là một hành động cực nhọc, vượt ngoài sức lực của bà.

Tinka không biết đọc. Suốt đời bà chưa bao giờ nhận một lá thư. Nhưng suốt đời bà mang thư cho chủ nhà cùng với mỗi lần dọn ăn sáng. Mỗi lần như thế bà trông thấy cô chủ vội vã bóc thư. Trong óc của Tinka đã in sâu ý nghĩ thư là những người sống biết nói chuyện. Chúng có thể làm cho ta cười, thích thú hay buồn tẻ. Nếu bức thư không phải là người sống thì nó không thể có cái quyền hạn đó được. Chính vì vậy mà Tinka luôn luôn lau tay sạch sẽ trước khi lục thư trong thùng đặt cạnh cửa. Bà kính trọng những bức thư lắm, nên bây giờ bắt bà đốt thư thì chẳng khác gì ép bà đốt những sinh vật, đốt những con chim bồ câu, quay một con thỏ.

Eddy đang lục một số các bức thư khác để đốt. Tinka có cảm tưởng mỗi phong bì trở thành một thứ tội lỗi thêm vào những tội lỗi mà bà đã phạm từ trước.

Eddy bảo:

– Vú đốt hộ những bức thư của Lidia Petrovici. Vú còn nhớ mình gởi cho Lidia kiện hàng cuối cùng ngày nào không? Hình như đã bốn tháng rồi mà sao tôi chưa thấy trả lời. Tôi sợ đã có gì không hay xẩy ra. Rất có thể cảnh sát đã tịch thu gói quà. Và họ sẽ trở lại đây điều tra mình. Tốt hơn hết nên đốt các bức thư này đi.

Eddy nghĩ tới người em họ, Lidia Petrovici đang ở tại Quốc gia Nam tư, một quốc gia đang thanh trừng Do Tháimột cách khốc liệt. Lidia phải sống dưới một tên giả. Nàng là một trong những người Do Tháicòn sống sót. Gởi những gói quà cho Lidia thật là nguy hiểm quá. Vì vậy Eddy phải đốt những bức thư mà Lidia đã viết để báo tin đã nhận đều đặn thuốc men, sô cô la và quần áo do nàng gởi.

Tinka hỏi: “Xin lỗi cô, cảnh sát đến đây là vì tôi; đáng lý tôi không nên gây cho cô điều phiền phức đó.”

Eddy trả lời: “Có can dự gì đến vú đâu mà vú nhận lỗi. Thôi, vú lo đốt mấy bức thư đó đi cho rồi.”

Chuông ngoài cửa lại reo lên hai lần, người bấm chuông có vẻ dè dặt.

Eddy bảo ngay: “Vú đừng có ra mở cửa với cả đống thư trên tay nghe” Rồi giật lấy tập thư trên tay Tinka, Eddy dấu xuống dưới tấm khăn trải giường.

III

Một quân nhân trong bộ quân phục màu xanh nước biển đang tiến vào phòng khách, nơi mà một giờ trước đây hai người cảnh sát đã đến. Tinka nói ngay:

– Chắc là tại tôi nữa đây, cô Eddy, thà tôi chết đi cho rảnh còn hơn gây cho cô bao nhiêu là lo lắng. Hồi sáng đã có hai người cảnh sát đến lập biên bản, bây giờ đến lượt một ông quan tòa quân đội nữa. Eddy, cô tha lỗi cho tôi.

– Tinka, yên đi nào!

Eddy vừa nói thế vừa bước ra phòng khách. Viên sĩ quan – nút áo vàng, cầu vai vàng – nghiêng mình chào Eddy một cách bối rối và e dè. Eddy biết thế vì nàng đã học được ở kịch nghệ cách xét đoán để biết một người nào đang tự chủ hay đang mất tinh thần. Người lạ mặt nói:

– Thưa cô, tôi mạn phép đến thăm cô. Tôi là đại úy thẩm phán Pierre Pillat. Tôi chắc là cô đã nhận được thư tôi rồi?

Trong lúc Eddy tiếp tục nhìn khẩu súng lục và lon cấp bật, Pillat có vẻ muốn thanh minh :

– Tôi chỉ ở trong quân đội tạm thời thôi, vì tôi bị động viên.

– Thư ông làm tôi cảm động. Xin thành thực cảm ơn ông. Eddy nói thế.

Nàng mời Pillat ngồi. Cả hai đều cảm thấy câu chuyện khó khăn như là đang gặp nhau cách đây 15 năm.

– Tôi cần thú nhận với cô một điều, Pillat nói, là tôi nợ cô nhiều lắm. Bởi vì trường võ bị Hoàng gia Kichiev, chúng tôi phải chịu đựng một thứ kỷ luật sắt giống như kỷ luật quân đội ở nước Phổ. Chương trình học lại khó khăn. Không có cách nào trốn ra khỏi trường học được dù chúng tôi cố hết sức. Cho nên chúng tôi chỉ sống bằng mộng mà thôi. Bức ảnh của cô là một dịp để tôi mơ mộng. Mỗi đêm tôi mơ đến cô, như thế thật là đẹp …

Nói xong Pillat đỏ mặt.

” Nếu tôi ở ngoại trú thì điều đó có lẽ không xẩy ra. Nhưng những đứa trẻ còn vị thành niên bị nhốt trong trại lính thì không thể sống mà không mơ mộng. Bức ảnh đã bị nhàu đi, xin lỗi cô, bởi vì mỗi ngày người ta đều khám túi, khám sách vở. Tôi phải dấu nó trong bao thuốc lá để khỏi bị tịch thu. Đúng là một nguy hiểm thường xuyên nếu cô bị tịch thu khỏi tay tôi … xin lỗi cô tôi muốn nói đến tấm ảnh của cô cơ !”

Và chàng cười, Eddy nhìn đăm đăm vào cầu vai vàng có số hoàng gia, nhìn vào súng lục, dao găm mà Pillat đang đeo, tượng trưng cho sức mạnh và quyền uy.

” Cô có biết hồi tôi 15 tuổi tôi mơ gì không? Tôi nguyện sẽ cưới cô làm vợ khi lớn lên và không yêu ai nữa cả. Tôi đã nghĩ lại điều đó đêm qua lúc ở hý viện. Tôi ngưỡng mộ cô hết lòng. Cô thật là phi thường trong vai hoàng hậu Saba. Vâng, phi thường. Xem vở kịch xong tôi bèn trở về kiếm bức ảnh và gởi hoàn lại cho cô.

– Trong thư ông có nói đến một người khác cũng hâm mộ tôi… Anh ấy tên là gì nhỉ, hình như là Boris …

– Boris Bodnar. Hắn biến mất từ hồi 15 tuổi. Hắn có bảo với tôi là hắn sang Nga. Từ đó tôi không được tin hắn nữa. Tuy nhiên tôi vẫn cố tìm hiểu về hắn. Tôi có viết thư cho em hắn. Đã có một thảm kịch xẩy ra giữa hai anh em. Khi còn nhỏ, Boris đã chọc thủng mắt em hắn, nên cha mẹ hắn không cho hưởng gia tài nữa. Angelo, em hắn, sau đó đi tu và cũng không biết gì về Boris nữa. Cho đến nay, không còn ai biết tin gì về hắn nữa.

Lúc đang nói, Pillat cố nhìn vào phòng ngủ qua cánh cửa hé mở.

Eddy có cảm tưởng là chàng đang nhìn những bức thư dưới tấm khăn giường. Nàng lấy làm lo ngại nên nói ngay:

– Tôi còn phải đi tập dượt bây giờ, nếu ông muốn, chúng ta có thể gặp nhau lại vào một dịp khác.

Nàng nhìn đồng hồ. Nhưng Pillat vẫn ngồi yên, chàng đang chú ý đến căn phòng. Nỗi lo ngại của Eddy lớn dần. Nàng đâm ra nghi ngờ, sợ rằng cuộc viếng thăm của viên thẩm phán này có một lý do nghề nghiệp.

Pillat hơi khó chịu:

– Tôi còn vài việc phải nói với cô nữa. Như cô đã biết tôi là một viên chưởng lý cho quân đội. Ở chức vị đó tôi biết được nhiều chuyện lắm.

– Như thế, ông đến đây để lập biên bản? À, thì ra bức thư và tấm ảnh chỉ là một cái cớ. Vậy bây giờ ông có thể bắt đầu lập biên bản đi là vừa.

Nói xong Eddy đứng dậy, giận run người.

Pillat bình tỉnh bảo:

– Không hẳn là một biên bản. Tôi chỉ biết là cô có quen với một người đàn bà tên Lidia Petrovici ở Nam Tư.

Eddy tức giận đến tột độ. Nàng muốn quăng một cái gì vào đầu viên sĩ quan nọ đã khéo bịa ra một chuyện tình để vào nhà nàng lập biên bản về Lidia Petrovici.

Pillat vẫn vô tình nói tiếp:

– Cách đây không lâu, ban phản tình báo của chúng tôi đã bắt được một kẻ thù, một tên gián điệp làm công chức ở sở hỏa xa. Người ta đã giao cho tôi trường hợp đó. Trong nhiều thứ bắt được ở biên giới, có một gói quà gởi cho bà Lidia Petrovici, dưới tên bà Debora Paternik. Bị cáo khai là gói quà đó do cô gởi. Gói quà không có gì đáng sợ cả, chỉ gồm thuốc trị lao phổi, sinh tố, sô cô la, cà phê, và một ít áo quần. Vả lại đó là gói quà độc nhất toàn đồ không nguy hiểm tịch thu nơi tên gián điệp đó. Tôi đã không viết tên cô trong bản cáo trạng. Tôi mang kiện hàng trả lại cho cô. Tôi chỉ mong giúp cô một việc nhỏ nhặt.

Pillat mở cặp rút kiện hàng đặt lên bàn, trong lúc Eddy thú thật:

– Chính tôi đã gởi gói quà đó. Lidia Petrovici là em họ tôi đang bị bệnh lao. Đúng ra tôi không có quyền gởi quà choc ô ấy, nhưng tôi vẫn giữ bí mật gởi. Đó là lỗi độc nhất mà tôi phạm phải.

– Thưa cô, đó không phải là một tội trạng. Vả lại như tôi đã nói từ lúc mới vào đây, là tôi đến đây không phải với tư cách một viên chưởng lý.

Cả hai cùng yên lặng. Gói quà đựng thuốc ngừa lao, thuốc chống suy nhược và thiếu máu, một ít sinh tố và chiếc áo choàng đang nằm trên bàn giữa Eddy và Pillat. Eddy bảo :

– Ở xứ những người Slaves miền Nam, tất cả người Do Tháiđều bị đày ải, hay là bị ám sát. Em họ tôi, một người chơi vĩ cầm nổi tiếng trên thế giới, đã thoát được, ít nhất là cho đến bây giờ, và đang sống dưới một tên giả, trong một làng hẻo lánh. Thỉnh thoảng tôi gởi một ít thuốc uống qua trung gian bà Debora Paternik, hiện là người đở đầu cho những người bị đàn áp và là vợ của quốc trưởng Nam tư. Pillat bảo :

– Tôi cảm thấy có lỗi với cô nếu gói quà đó không đến nơi được, vì vậy tôi mới xin lỗi bằng cách giới thiệu với cô một người làm ở sở hoả xa, ông ta sẽ đem kiện hàng ấy đến cho em cô. Anh ta tên là Daniel Motok. Có lẽ ngày mai tôi sẽ bảo anh ta đến đây.

Pillat đứng dậy chào ra về. Eddy nói vọng theo :

– Ông nhớ trở lại chơi nghe. Chúng ta sẽ nói nhiều hơn về thời thơ ấu. Lần này thì chính tôi muốn thoát khỏi thực tế, ông hiểu không, tâm trạng tôi lúc này cũng giống như hồi ông mơ mộng bằng bức ảnh của tôi. Cho nên ông nhớ trở lại nghe. Nhưng tôi van ông đừng mang quân phục. Tôi rất sung sướng được thấy ông mặc quần áo dân sự; đừng mang quân phục đấy nghe.

IV

– Thưa bà tôi là Daniel Motok, nhân viên hỏa xa, người mà ông Pillat đã giới thiệu trước với bà.

Mang cà vạt xám, đeo găng tay, áo choàng đen, Daniel Motok đứng thẳng người trước mặt Eddy Thall.

Nàng mời ngồi và Motok bảo ngay:

– Ông Pillat có cho tôi hay là bà có một kiện hàng cần gởi?

Gói quà gồm có thuốc men và áo quần cho Lidia Petrovici đã sẵn sàng trên bàn. Motok kín đáo nhìn và kiếm địa chỉ, Eddy bảo:

– Ông chỉ cần giao cho người bồi phòng của bà Milostiva Debora Paternik và dặn ”gói quà này của Lidia.” Thế là đủ.

Motok cất kiện hàng vào va li xong đứng dậy và sửa soạn ra về. Eddy dặn thêm:

– Tôi xin ông trao tận tay người bồi phòng tên Ivo Dopplhof. Đó là một ông già tóc đã bạc. Ông có thể nhận ra ông ấy dễ dàng. Vả lại, đó là người bồi phòng độc nhất ở với bà Debora Paternik, trong bất cứ trường hợp nào, xin ông đừng đưa cho lính gác cổng, ngay cả lúc họ yêu cầu.

Motok gật đầu, tỏ ý sẽ thi hành đúng đắn sứ mạng được giao phó. Eddy nói tiếp:

– Tôi tin là ông Pillat đã cho ông biết mọi chi tiết. Trong gói này chỉ có thuốc men cho một người em họ tôi đang bị bệnh, ngoài ra không có gì khác nữa. Bà Debora Paternik là vợ của Quốc trưởng xứ Nam tư.

– Vâng, thưa bà tôi đã được biết rõ.

Motok vừa trả lời vừa cầm tay lấy va ly. Eddy hỏi:

– Tôi phải trả ông bao nhiêu, thưa ông?

– Dạ thưa không có gì. Trái lại, thật là một vinh dự lớn lao cho tôi được giúp bà một việc nhỏ mọn này.

Nói thế nhưng Motok biết rằng sẽ thất lễ với Eddy nếu mình từ chối hẳn, nên Motok bảo ngay:

– Nhưng bà muốn trả công cho tôi thì tôi xin nhận một giấy mời dự buổi trình diễn vỡ tuồng Hoàng hậu Saba vào tối thứ sáu. Vào lúc đó tôi sẽ báo tin cho bà hay là món quà đã được trao tận tay hay chưa.

Bỏ vào túi tấm danh thiếp có chữ ký của Eddy Thall để được vào cửa hý viện vào tối thứ sáu sắp đến, Motok bảo :

– Tôi sẽ trở về hồi 7 giờ tối thứ sáu. Thế là còn thừa thì giờ để tôi về nhà, thay áo quần, vì xuất hát 9 giờ mới bắt đầu. Xin cảm ơn bà nhiều lắm.

Motok bước ra cửa. Lúc nào cũng chững chạc. Cách đi đứng, ăn mặc, nói năng của Motok thật giống như một chiếc đồng hồ và thời khắc của các chuyến xe lửa. Eddy gọi điện thoại cho Pillat báo tin là Motok đã đến và để luôn thể cảm ơn Pillat:

– Đây là lần đầu tiên tôi gởi một gói quà cho Lidia mà không hề sợ hãi bì biết chắc là nó sẽ đến đúng chỗ. Xin càm ơn ông nhiều lắm.

– Motok là một người đáng tin cậy. Pillat trả lời qua máy điện thoại.

Trong thời gian đó, Motok đứng lại trước cửa, gài lại găng tay. Motok lúc nào cũng đàng hoàng và không muốn có một bê bối nào trên người.

V

Con chắc là mọi chuyện sẽ yên ổn. Con vừa bị một vài chuyện phiền phức nhưng qua hết rồi.

Eddy Thall đang ngồi, hai chân thu lại trong ghế bành như nàng vẫn làm thế mỗi lúc có chuyện gì vừa ý. Max Reingold đang đứng đối diện với cặp kính viền vàng, áo quần tuyệt hảo, kín đáo, đắt tiền, hệt như một ông chủ ngân hàng. Đó là viên quản đốc của hý viện Thall, ông vừa là người cộng tác vừa là bạn thân của thân phụ Eddy Thall.

– Thưa bác, nguyên một điều bác đến thăm con mà không báo trước cũng đủ làm con sung sướng rồi. Nhiều ngày nay con khổ sở quá. Người ta thúc dục con đuổi Tinka. Người ta tịch thu một gói hàng con gởi cho Lidia, vì người đưa thư là một tên gián điệp. Đáng lý con đã bị liên lụy, cảnh sát đã đến đây. Nhưng mọi sự yên ổn hết. Mọi sự lại sắp tiến hành đều đặn như cũ. Bác lại đến đây nữa, bây giờ con sung sướng quá, thật sung sướng …

Max Reingold ái ngại:

– Con ạ, bác không muốn ở đây lâu, bác còn vài việc phải làm. Bác rất tiếc đã đến đây làm hỏng niềm vui thú của con. Nhưng bác không biết làm sao hơn được ; con ạ, người ta buộc mình đóng cửa hý viện.

Eddy đứng bật dậy. Max vẫn tiếp tục :

– Những hý viện Do Tháithường phải trả một số thuế phụ. Đó chỉ là chuyện cũ. Trước kia có thể nộp thuế trể hay nhiều khi được miễn hẳn. Nhưng bây giờ hoàn toàn khác. Bác được lệnh của bộ nội vụ phải trả thuế trong 48 tiếng đồng hồ hai triệu lei hay là phải đóng cửa. Hoặc thế này hoặc thế kia. Bác đành đóng cửa vậy. Vì chúng ta làm gì có nhiều tiền đến thế và cũng không được triển hạn nữa.

Max Reingold đứng dậy và muốn đi:

– Không còn chi để phải bàn cãi nữa cả, nên bác cũng không ở lại đây làm gì. Đã quá rõ ràng lắm rồi. Chiều nay con lại ăn cơm với bác. Rebecca và Esther gởi lời chào con.

Esther là con của Max, Rebecca là vợ. Eddy thương họ lắm, nhưng bây giờ nàng không thể nghĩ đến họ được nữa.

– Còn một giải pháp là phải tiếp tục trình diễn bằng tiếng Do thái. Nhưng khốn nỗi, dù là gốc Do Tháidiễn viên của mình không hề biết tiếng Do thái. Khán giả cũng thế. Cho nên phải đóng cửa.

Eddy cố giữ Max lại. Max hôn trán nàng và vẫn gọi nàng là Liebes Kind, con thân yêu, như cha nàng từng gọi nàng như thế. Và ông ra về. Đến trước cửa ông còn ngoảnh lại bảo :

– Eddy, có hai người khách muốn gặp con đấy.

Max để cửa mở cho hai người khách vào nhà

VI

Hai ông là cảnh sát? Eddy hỏi.

Cả hai đều mặc áo mưa và một trong hai có mang một cái cặp da. Eddy chua chát:

– Hai ông còn muốn gì nữa đây? Hay các ông đến để bắt tôi cho bà vú nghỉ việc? Thì hai người khác đã đến vì lý do đó rồi? Để đóng cửa hý viện ư? Hai ông còn biết tin tức gì nữa?

Người không mang cặp da bảo:

– Chúng tôi thuộc ủy ban Do thái. Chúng tôi đến đây về vấn đề quần áo.

Nhìn họ, Eddy không thể đoán họ bao nhiêu tuổi, nhưng trong đôi mắt, trên nét mặt, qua cử chỉ, qua tiếng nói, nàng biết rằng họ đang khổ tâm, nàng biết họ đang cảm thấy nhục nhã và sợ hãi. Người nọ nói tiếp:

– Cô biết rằng mội công dân gốc Do Tháiphải tặng cho những công tác từ thiện của chính phủ một số áo quần tùy theo hoàn cảnh vật chất của mình.

Eddy nhận chuông và lúc Tinka đến nàng bảo ngay:

– Vú, mấy ông này muốn lấy áo quần cũ cho ủy ban Do thái.

– Thưa bà, không phải cho ủy ban. Sự thu góp này để dùng vào những công tác của chính phủ. Ủy ban chỉ có phận sự đi nhận mà thôi.

Người thứ hai rút trong cặp ra một cuốn sổ và nói:

– Theo lợi tức khai báo ở sở thuế, bà phải cung cấp ba đôi giày, năm áo sơ mi, bốn áo dài, hai áo choàng …

– Thôi, lấy hết tất cả cái gì mà các ông muốn cho xong.

Eddy bảo thế và nàng mở tủ áo cho họ, giận đến run người.

– Nếu chính phủ đã ra lệnh cho hai ông lấy áo quần của tôi, xin hai ông cứ việc thi hành, lấy đi. Nếu chừng đó chưa đủ, các ông có thể cởi quần áo tôi đang mặc, lấy tất cả cái gì tôi đang mặc trên người, và để tôi trần truồng.

Nói xong, Eddy vào phòng tắm khóa cửa lại và bắt đầu khóc tấm tức.

Hai người lạ nhìn vào tủ áo, có cả chục chiếc áo dài, những thứ mà Eddy dùng để trình diễn những vai chính. Tinka lên tiếng:

– Tôi đưa cho hai ông vài cái áo quần cũ. Nếu chưa đủ, xin mời hai ông vào đây.

Bà dẫn họ vào nhà bếp, sắp ra dưới chân họ một đống quần áo, giày dép cũ. Hai người chọn lựa xong bỏ vào ba lô và ra về có vẻ hài lòng. Chừng đó đối với họ đã quá đủ.

Eddy xuống nhà bếp. Trên ghế còn hai đôi giày đen giống như cánh hoa. Đó là hai đôi giày của thời nàng còn đi học ở lớp vũ.

– Tạo sao họ để thứ này lại? Eddy hỏi:

– Tôi muốn cho họ đấy, cũng là thứ đáng vứt đi, nhưng họ từ chối và bảo là họ không lấy vì không thể liệt chúng vào loại giày da hay giày vải.

Eddy buồn bã nói:

– Tinka, vú biết là chính phủ đã đóng cửa hý viện của tôi. Mai là ngày trình diễn cuối cùng. Họ lấy áo quần, bắt đuổi người giúp việc, rồi đóng luôn cửa hý viện. Tôi sắp phải làm gì nữa đây, Tinka? Vú nói cho tôi biết đi, tôi sắp phải làm gì nữa đây, Tinka? Bởi vì vú à, tôi phải làm một cái gì trước khi chính phủ lấy luôn cả cuộc đời của tôi. Chắc chắn một ngày nào đó họ sẽ lấy luôn cả cuộc đời tôi … Nhưng từ đây đến đó, tôi sẽ phải làm gì?

Tinka vuốt nhẹ đầu Eddy, bà không trả lời gì hơn được cho Eddy lúc này, trong lúc nàng nức nở khóc:

– Tinka, vú nói cho tôi nghe đi, tôi sẽ trở thành như thế nào đây?

VII

Chuyến tàu của Daniel Motok đến thủ đô Bucarest hơi trể. Một giờ trước, đường xe lửa bị thân binh phá hoại. Motok trả giấy tờ cho hành khách toa phòng ngủ và làm biên bản thật nhanh. Đứng trước tấm kính, Motok sửa soạn lại y phục cho đứng đắn, vắt chiếc áo choàng lên vai, xong cầm va li có gói quà của Eddy và đi về hướng biệt thự của bà Debora Petarnik. Thành phố đang chìm trong bóng tối như tất cả các thành phố ở Âu châu vào thời chiến, Motok nhìn đồng hồ và bước nhanh để có thể về trước 9 giờ như đã hứa với Eddy.

“Bà Paternik không mang vương niệm, Motok tự nghĩ, nhưng bà ấy giống một hoàng hậu, bà là đệ nhất phu nhân của quốc gia độc lập của những người Slaves miền nam”. Motok cũng biết mơ mộng như trẻ con, như các thiếu nữ như các thi sĩ vậy. Khi tàu bị đứng lại, Motok, không thể chán nản như những hành khách khác. Y ngồi yên ở ghế và mơ mộng như đang xem màn ảnh hay đang lật những trang sách có hình mầu. Tàu có lẽ trễ đến bảy giờ hay phải ở lại ga cũng nên. Thế mà y không chán nản, không cảm thấy cô đơn vì y vẫn sống bằng mộng, nhưng bây giờ y đang mơ tới bà Paternik lúc đi đường, va li trên tay. Y nghĩ đến hình ảnh những hoàng hậu trong các sách sử để có thể dễ tưởng tượng nhiều hơn về Milostiva Paternik. Y hãnh diện sẽ được vào trong biệt thự của bà hoàng hậu và đưa gói hang cho người bồi phòng già, tóc bạc.

Nhưng hàng chục tiếng còi báo động bỗng vang lên trong thành phố lôi Motok ra khỏi giấc mơ vừa rồi.

Motok trốn vào bức tường bên đường. Bầu trời hình như đang nổi lửa, lửa bốc lên từ lòng đất cùng một lúc với những tiếng còi báo động và những tiếng gầm của động cơ? Lề đường rung động, bức tường Motok đang dựa cũng rung lên. Năm xe mô tô có đèn pha và còi hụ đang lên dốc sau lưng Motok, đèn pha như đang đốt cháy mắt y, lột trần thân thể y. Y càng bám sát vào tường đá để đỡ thấy trần truồng. Ba chiếc xe hơi theo sau cùng, đèn pha chói sang và còi hụ inh ỏi. Motok tái mặt. Hàng mô tô ở dưới đường tiến lên hình như bay hẳn lên không trung, tiếng còi loãng ra trong mây cùng vói những tia sang của ánh đền pha, Motok run lẩy bẩy.

Motok quay đầu lại, một người đứng cạnh y nói:

– Tướng Lilan Paternik đấy!

Lính cưỡi mô tô mạc áo choàng bằng da, nón sắt dưới ánh sáng đèn pha trông như những người bằng kim khí, ánh thép hiện cả lên ánh mắt của họ nữa.

Mắt của Motok nhức nhối vì ánh đèn pha. Thái dương y ù lên. Y phải quay mặt vào bóng tối.

– Tướng Milan Paternik bao giờ cũng chỉ đi ban đêm với chừng ba xe hơi và 20 mô tô. Đèn, còi hụ với tốc lực 120 cây số giờ. Ông tướng đó không bao giờ di chuyển khác hơn. Một ngày nào đó ông ta sẽ vỡ mặt ; không thể nào đi như thế mà không vỡ mặt được.

Người lạ đứng gần Motok cười héo hắt, và nói tiếp:

– Ông bạn có biết tướng Paternik đi đâu không? Có lẽ ông vừa mới biết trong một góc phố nào đó người ta vừa mới khám phá ra một người Do Tháihay một người theo Chính thống giáo. Nhưng chắc chắn là một tố cáo láo, vì từ lâu trong xứ nàykhông còn Do Tháivà Chính thống giáo nào nữa. Họ bị giết hết rồi. Tuy thế mà ” người hùng Paternik ” vẫn xuất hiện với đoàn mô tô sát nhân của hắn mỗi hắn biết có một người Do Tháivừa bị tố cáo. Nhưng chắc chắn hắn sẽ không còn tìm được người Do Tháinào nữa. Thôi chào ông nghe ! Milan Paternik sẽ không còn tìm thấy một người Do Tháinào ở đây nữa.

Rồi người đó đ ixa, đi sâu vào bóng đêm.

Motok thầm nghĩ: ” Eddy Thall bảo với mình là Lidia Petrovici gốc Do Thái. Người này lại bảo không còn ai Do Tháiở đây nữa, sao thế nhỉ? ” Motok hấp tấp đi về biệt thự của bà hoàng đầy lòng tốt Debora Paternik.

VIII

Cổng biệt thự của bà Debora Paternik mở rộng, 20 chiếc mô tô tiến vào sân. Tiếng còi hụ ngưng hẳn. Ánh đèn pha vẫn giữ sáng và máy tiếp tục nổ. Những người mang áo choàng da, mặt đanh như thép, vẫn ngồi trên mô tô và sẵn sàng đi.

Milan Paternik xuống xe, bước lên bậc tầng cấp bằng cẩm thạch. Trông hắn trẻ như một tên học trò. Chỉ có huy hiệu cấp tướng, những ngôi sao trên nón và mầu vàng trên tay áo phản chiếu ánh đèn là có thể minh chứng hắn không phải là một tên học trò. Hai người cao lớn cũng mang áo choàng bằng da đã đứng sẵn ở cửa vào. Chuông reo không ngừng chẳng khác gì tiếng còi hụ. Cửa mở. Không chần chừ, Milan bước vào. Chẳng thèm để ý đến tên bồi phòng Ivo Doppelhof. Hắn tiến sâu vào tấm thảm ở phòng khách. Hai người cảnh sát đứng ở phòng ngoài. Tất cả như là đang bao vây căn biệt thự này.

Milan Paternik nói gần như thét:

– Gọi mẹ tôi ra ngay!

Hắn đang đứng trong phòng khách một mình. Dừng lại trước tấm gương soi lớn, Milan dơ hai tay vuốt đôi má nhợt nhạt, gầy gò của hắn, như má của một bệnh nhân ; rồi hắn nhìn kỹ đôi mắt mệt nhọc nhưng tàn nhẫn của hắn, nhìn chiếc áo choàng có cầu vai vàng phản chiếu bộ mặt hắn – như những ánh đèn pha.

Hắn thầm nhủ ” Mình mệt quá ” Nhưng hắn vẫn hãnh diện về sự mệt mỏi đó và không hề cố gắng kiếm giấc ngủ êm đềm.

Ở phòng bên, bà Debora đã sửa soạn xong. Ivo đang đứng gần cửa. Milostiva hỏi :

– Hắn vẫn nóng nảy như mọi lần ?

– Dạ thưa bà, ông ấy vẫn nóng nảy như thường lệ.

Milostiva không muốn nói chuyện với hắn nữa ; nhưng có ai trái ý Milan cho được. Hắn rất ít đến thăm mẹ hắn. Mỗi lần thăm viếng thường tẻ nhạt và gay cấn. Milostiva hỏi lại một lần nữa:

– Hắn nóng nảy lắm sao?

– Vâng, rất nóng nảy, thưa bà.

Milan Paternik mới có 26 tuổi, nhưng mọi người biết rõ công trình của hắn, ngay cả một đứa con nít. Hắn đã giết tám trăm ngàn dân Do Tháivà người Chính thống giáo.

“Hình phạt lớn lao nhất cho một người mẹ là có một đứa con sát nhân, một đứa con chỉ biết bơi trong máu”. Nghĩ như thế, bà Debora đành lau nước mắt, giọt nước mắt nhỏ như một hạt ngọc. Và bà bước vào phòng khách, người thẳng, mắt nhìn về phía trước, ngay phía Milan đang đứng.

– Milan, tại sao con còn giữ áo choàng.

Milan không hôn tay mẹ như thường lệ. Hắn xoa hai tay, có vẻ rất nóng nảy, và không chịu ngồi xuống.

Milostiva nhìn kỹ bộ mặt tái nhợt, đôi mắt nhọc mệt, đôi vai gầy gò của Milan. Bà không cần biết đến cấp hiệu tướng lãnh trên vai con bà. Bà chỉ đau lòng nhìn đứa con bà đứng đó, nhọc mệt, xanh xao vì làm việc quá sức. Bà đến gần và nói:

– Đưa tay cho mẹ cầm, Milan, con gầy quá!

Đôi tay già yếu, khô đét của Milostiva cầm lấy hai tay của Milan.

– Tại sao con vẫn mang găng tay?

Hỏi thế và bà đăm đăm nhìn đứa con. Đáng lý bà đã hôn chiếc trán cao của Milan, nhưng bà không còn đủ can đảm. Bà đành xiết chặt đôi tay còn mang găng của con bà như không muốn rời ra nữa. Bà thừa biết là con bà, không còn nghe lời bà nữa, lúc nào hắn cũng ngoan cố, như thời còn trẻ. Milan bảo:

– Mẹ, con khổ quá đi mất.

Vừa xiết chặt tay con, Milostiva vừa bảo:

– Có chuyện gì làm con khổ tâm, con cứ kể cho mẹ nghe. Mẹ sẽ giúp con. Nhìn thẳng vào mắt mẹ đi con, đừng quay nhìn nơi khác, vâng, nhìn mẹ như hồi con còn nhỏ ấy mà.

Trong chốc lát. Milan nhìn thẳng những nét nhăn nheo trên làn da trắng trẻo của bà mẹ, nhưng rồi hắn lại quay nhìn nơi khác, tay vẫn cầm hai tay bà mẹ.

– Điều con sắp nói với mẹ làm con khổ tâm quá.

– Milan con, không ai hiểu nổi khổ của con bằng mẹ đâu. Cứ nói đi, Milan, có chuyện gì quan hệ đã xảy ra đến cho con?

Milan bỗng nhiên hỏi mẹ với một giọng nói cứng rắn:

– Thưa mẹ, mẹ biết con là ai không nhỉ?

Nghe hỏi thế, Milostiva nghĩ đến hàng trăm nghìn người vô tội đã bị Milan giết chết. Bà muốn thét lên vì đau khổ, nhưng bà đã tự chủ được, và dịu dàng trả lời:

– Milan, điều gì con đã làm mẹ không cần biết, con vẫn là con của ta và ta vẫn là mẹ của con.

Milan đứng dậy:

– Vâng, thảm kịch là ở chỗ đó mẹ ạ, ở chỗ mẹ là mẹ của con. Vậy con xin mẹ trả lời cho con biết và đừng ngại ngùng gì cả. Con là ai? Mẹ là mẹ của con nên con thiết tưởng mẹ biết rõ điều đó hơn ai hết.

Milostiva không trả lời, bà vừa khóc vừa nhìn con. Milan tự trả lời cho hắn:

– Con sẽ nói cho mẹ nghe con là ai. Con sinh ra cách đây 26 năm ở Budapest, ở một thành phố mà mẹ và cha con đang bị lưu đày. Cả mẹ và cha con đã điều khiển một tổ chức chính trị lấy tên là Zadom, do sở tình báo lập nên. Đáng lý, Zadom phải giải phóng cho dân tộc ta thoát khỏi gông cùm ngoại bang. Nhưng trên thực tế, đó là một tổ chức khủng bố hoạt động trong biển Balkans cho đế quốc Anh. Các chị con và con đều được giáo dục theo tín điều của Zadom. Câu đầu tiên mà con học nói là ” Tổ quốc ở trên tất cả “. Cùng với các môn học La tinh, sử địa, mẹ đã dạy con bắn súng, phóng dao, xử dụng súng liên thanh, mẹ đã hãnh diện vì con. Chờ đợi mãi tổ quốc vẫn chưa được giải phóng và cho đến năm 20 tuổi con vẫn chưa hề đặt chân lên quê hương. Đó là niềm khao khát nhất của đời con.

Milostiva tiếp lời:

– Tất cả những kẻ bị lưu đày đều hy vọng một ngày nào đó sẽ trở về với quê hương, đó là một niềm khao khát thiêng liêng. Mẹ đã không hề ân hận khi nuôi con trong tin điều của tự do, của lòng yêu quê hương, của ý thức độc lập quốc gia. Và mẹ vẫn hãnh diện đã giáo dục con trong những tình cảm thiêng liêng đó.

Milan hỏi thêm:

– Mẹ có nhớ chuyến du lịch đầu tiên của chúng ta ở La Mã không nhỉ? Thật con ngạc nhiên vô cùng. Trong tất cả các xứ ở Âu Châu mà gia đình ta đã buớc chân đến, chúng ta chỉ biết có nhọc nhằn và khổ sở.

Ở các phòng trong khách sạn, mẹ vừa phải đánh máy những tiểu luận cho báo chí, những biên bản những buổi họp, vừa phải làm bếp, giặt rửa. Đời sống chúng ta ở đâu cũng thế cả, Bá Linh, Ba Lê, Hung gia lợi, Berne, Genève, Sofia, Bucarest, đâu đâu cũng chỉ là những phòng trọ cùng những cuộc họi họp bí mật. Mẹ phải giặt áo quần, đánh máy, nấu khoai tây. Thế mà bỗng nhiên, chúng ta du lịch sang La Mã. Ở một căn biệt thự lộng lẫy, tiêu pha rộng rãi, xe hơi đón rước, lính hộ vệ bên mình. Rồi báo chí, người giúp việc đầy đủ. Mẹ có nhớ những điều đó không nhỉ? Mussolini đã mời Zadom cộng tác với phát xít. Người Anh, chủ nhân ông của mẹ, đã bảo với mẹ rằng đó là một lời mời không nên từ chối. Họ muốn Zadom hợp tác với phát xít để họ lấy tiền của Phát xít mà phụng sự cho quyền lợi của Anh quốc trong biển Balkans.

Milostiva ngắt lời:

– Trên chính trường những cuộc hợp tác giai đoạn như thế rất thường xảy ra. Điều mẹ đã làm không có chi mới lạ cả. Người Anh đã bảo trợ và khuyến khích mẹ trong chiều hướng đó. Tổ chức mẹ đã không làm gì mà không hỏi ý kiến của người Anh. Chúng ta đã đặt hy vọng ở Anh quốc trong cuộc dành lại tự do độc lập cho dân tộc.

– Sau đó mẹ được mời sang Bá Linh?

– Vâng. Và Anh quốc đã khuyên mẹ nhận lời. Đó chỉ là một đường lối do những nhu cầu chính trị hồi đó đẻ ra. Nhưng chỉ là tạm thời mà thôi.

– Vào năm 1940, gia đình chúng ta đang ở Bá Linh. Rồi họ đánh thức chúng ta dậy lúc nửa đêm để báo tin là mộng chúng ta đã đạt được. Giấc mơ của mẹ của cha con và của dân tộc đã thành. Tổ quốc đã được tự do và độc lập. Quốc gia đón tiếp mẹ và cha như hai vị anh hùng. Cha mẹ đã giải phóng cho dân tộc, và con được cử làm giám đốc sở cảnh sát, được phong cấp tướng. Ngay từ lúc đầu, từ lúc đầu mới mới phục hồi độc lập, con đã muốn thực hiện ngay các điểm khác của chương trình Zadom. Dĩ nhiên là mẹ đã biết rõ vì đã bao nhiêu lần mẹ đánh máy các điểm đó của chương trình, nào là độc lập, chủ nghĩa xã hội quốc gia chống chủ nghĩa Bôn sơ vít của Nga và chống Do Tháinữa.

Milostiva òa khóc, bà bảo :

– Vài điểm khác của chương trình đã được thêm vào sau này; như là để đổi lấy viện trợ đã cho, Hitler và Mussolini đòi chúng ta phải thảo kế hoạch chống Bôn sơ vít. Người Anh yêu cầu chúng ta chấp nhận lời đòi hỏi đó. Họ nói là các điểm đó, trên thực tế, sẽ không bao giờ được áp dụng, rằng sau khi giúp ta giải phóng quê hương, người Anh sẽ cố giúp chúng ta tạo được một nền tự do dân chủ trong quốc gia chúng ta.

– Thực ra, người Anh vẫn ở lại xứ họ và mẹ đã phục hồi tự do cho dân tộc nhờ viện trợ của Phát xít, như là Luân Đôn đã khuyên mẹ làm như thế. Và, bây giờ, mẹ đã thấy trong quốc gia nhỏ bé này có cả một chương trình Phát xít. Riêng con, con không biết chương trình nào khác hơn nữa. Con không hề biết là có vài điểm của chương trình cần áp dụng triệt để để còn vài điểm khác thì không. Con tin tưởng ở Zodom. Con không biết cuộc sống nào ngoài Zadom. Con đã quét sạch hết tất cả các thành phần thấp kém trong nước như Tziganes. Chính thống giáo, Do Thái. Ngày mà Himmler bắt tay và khen con về tổ chức chặt chẻ của quốc gia ta, ông ta bảo rằng: ” Đức quốc đã không thành công bằng ông trong chiến dịch trừ Do Thái. Quốc gia ông là quốc gia độc lập nhất không còn một người Do Tháinào cả. Vâng, không còn một người Do Tháinào nữa, một quốc gia độc lập không thể dung dưỡng bất cứ người Do Tháinào “. Himmler cười, rồi bảo tiếp : Ông còn một người Do Tháitrong nước, nhưng người đó, ông không thể giết chết. Mẹ có biết ông ấy ám chỉ ai không?

Milostiva buồn bã trả lời:

– Chính mẹ đây con ạ. Mẹ là người Do Tháiduy nhất của quốc gia độc lập này.

– Thế thì, tại sao mẹ lại dấu diếm con điều đó. Bây giờ, sau khi đã loại trừ ra khỏi quốc gia hằng trăn nghìn người Do Thái, sau khi đã làm đổ bao nhiêu máu trong nước, con mới biết mẹ là người Do Thái.

Milan Paternik ngồi phịch xuống ghế và nói tiếp:

– Con không lầm lỗi gì cả. Mẹ đã nuôi con trong sự cuồng tính của đảng. Con đã áp dụng chương trình của đảng từng điểm một với tất cả nhiệt thành. Bây giờ biết điều đó, đời con xem như chấm dứt từ đây.

Và hắn đứng dậy, đã xanh xao mệt mỏi, hắn càng xanh xao mệt mỏi hơn. Hắn đến gần Milostiva Debora:

– Nghề nghiệp con đối với con đồng nghĩa với đời sống và lý tưởng như thế đã kết thúc. Vì thế, con đã đến thăm mẹ đêm nay.

Hắn yên lặng giây lát, trong lúc Milostiva hỏi:

– Tất cả điều đó đều do mẹ phải không con?

Vâng, thưa mẹ do mẹ cả.

Người đàn bà già nua đứng dậy vuốt tóc con, trong khi Milan vừa nói: “hết cả rồi” vừa chỉ cho mẹ hắn một ống thuốc hắn vừa rút trong túi ra.

– Nếu mẹ cho rằng còn một giải pháp khác cho con, con van mẹ nói cho con hay. Nhưng con nghĩ là chỉ có cách tự tử mà thôi. Con không muốn có một cuộc sống nào khác ngoài Zadom, và dĩ nhiên Zadom phải loại trừ con vì con là con của mẹ, con của một người đàn bà Do Thái.

Milostiva vẫn vuốt tóc Milan và nói:

– Thôi, con ráng chờ đến ngày mai. Tình thương của người mẹ sẽ tìm cho con một giải pháp. Con hãy đến đây ngày mai và mẹ con mình sẽ bàn luận với nhau. Mẹ chỉ yêu cầu con một điều là hãy giữ mạng sống cho đến ngày mai. Con hứa với mẹ như thế và mẹ tin ở lời hứa danh dự của con. Bây giờ con vứt ống thuốc đi.

Milan nghe lới vứt ống thuốc độc qua cửa sổ, trong khi Milostiva dặn dò tiếp:

– Con không có lỗi gì cả. Con đã có một đức tin, như mọi người còn trẻ thường như thế. Cha con và mẹ cũng đã có một lòng tin mãnh liệt và đã chiến đấu cho tự do của đân tộc. Dân tộc đã yếu kém lắm, cần phải được giúp đỡ. Nên chúng ta đã xin Anh quốc viện trợ. Thế mà Anh quốc đẩy chúng ta vào bàn tay của Hitler và Mussolini. Chính Anh quốc là thủ phạm. Xin Chúa trừng phạt Anh quốc, Milan, mẹ muốn hôn con một lần cuối.

IX

Người bồi phòng Ivo Doppelhof nghe lóm hết câu chuyện lúc đứng đằng sau cửa. Ivo thầm nhủ:

– Đúng rồi. Milan không hề biết mẹ hắn là Do Thái. Người ta không bao giờ nói với hắn điều đó cả. Mình theo gia đình này trên khắp bước đường lưu lạc, mình biết rõ điều đó lắm. Hắn được nuôi dưỡng trong đường lối đó. Họ đã tin cậy ở Anh quốc, ngỡ rằng một một lúc nào đó Anh quốc sẽ thay đổi chính sách và kế hoạch chống Do Tháisẽ không bao giờ thực hiện cả. Bây giờ kế hoạch đó lại được Milan áp dụng và Anh quốc không hề nói thêm gì nữa cả. Vâng, Anh quốc không bao giờ nói thêm gì cả.

Bên ngoài, đã vang tiếng mô tô, tiếng còi hú, tiếng máy nổ rầm rầm, Milan bỏ đi rồi.

– ” Ivo “

Milostiva gọi Ivo: ông nhón nhén đi vào phòng khách, chờ lệnh.

– Ta muốn đi dạo mát một chút.

Milostiva hầu như không có gì buồn bực. Ivo mang áo choàng đen khoác lên vai cho bà. Thường thường khi nào không ngủ được, Milostiva hay đi dạo mát ở vườn hoa.

– Ivo, nhà ngươi có đứng gần khi ta đang nói chyện với Milan không?

Xuống hết bực thềm, Milostiva bảo:

– Lên trải phòng tươm tất cho ta. Chừng nửa giờ nữa ta sẽ vào.

Ivo để ý thấy bà đang cầm một cây đèn bấm nhỏ, và đi thật chậm trên những lối đi trải sỏi nhỏ.

Ivo đã sửa soạn giường xong xuôi. Có tiếng bước chân nhè nhẹ phía dưới cửa sổ. Ivo nhìn rõ bà Debora đang dừng lại trong đám hoa “Lilas” như đang tìm kiếm một vật gì. Bà cúi xuống đất, rồi nghoảnh mặt về phía cửa sổ và gọi: “Ivo”

Biết ý, Ivo bước xuống thềm, đỡ bà chủ vào phòng:

– Ivo cho ta một cốc nước.

Ivo chế một cốc nước gồm cánh hường trộn lẫn với hoa tilleul và hoa cúc, xong đặt lên mâm cạnh giường. Milostiva nằm yên trên giường cho đến lúc tiếng chân người bồi phòng mất hẳn trên hành lang. Xong bà nhỏm dậy mở tủ lấy chiếc cắt móng tay. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chong, bà dùng chiếc cắt móng tay cưa ống thuốc đã lượm dưới cụm hoa bên ngoài, ống thuốc độc mà Milan đã vứt qua cửa sổ. Hòa ống thuốc vào cốc nước mà Ivo vừa chế, rồi cho thêm một tí đường. Cử chỉ của bà thật chậm rải và bình tĩnh. Nếm thử một ít, Milostiva mỉm cười và tiếp tục uống hết cốc nước, có mùi hương tilleul và cúc. Trông bà thật là thản nhiên : trở lại giường nằm ngay ngắn, bà nhắm mắt lại và mỉm cười. Hương các thứ hoa trong cốc nước tỏa dần khắp cơ thể của bà, trong lúc bà thầm nhủ: ” Ngày mai sẽ không còn một người Do Tháinào nữa trong xứ. Tất cả các điểm trong chương trình Zadom đã được hoàn tất. Con ta sẽ là người lãnh đạo chính trị giỏi nhất. Không còn một người Do Tháinào nữa, Milan Paternik sẽ mạnh hơn cả Himmler. Hắn sẽ hãnh diện và sung sướng, ngực hắn sẽ đầy cả huy chương. Xin Chúa trừng phạt Anh quốc”.

Câu “xin Chúa trừng phạt Anh quốc” vang nhè nhẹ vào tai bà như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo ở phòng bên cạnh

X

Từ khi chế cốc nước cho Milostiva, đã một giờ trôi qua. Ivo không thể nào chợp mắt được. Ông ra hành lang và bước nhẹ gần phòng ngủ của bà chủ. Debora Paternik có chứng thịt thừa ở mũi nên lúc nào ngủ cũng có tiếng khò khè rất nhẹ. Tại sao bây giờ không có tiếng thở giống như con mèo đang ngủ nữa nhỉ. Sinh nghi Ivo bèn đẩy cửa bước vào. Phòng tối om. Milostiva đang nằm dài trên giường, áo quần tươm tất. Ánh sáng qua tấm màn chiếu vào mặt Debora trắng nhợt như một tờ giấy. Lo sợ, Ivo bật đèn và gọi nhỏ:

– Thưa bà, thưa bà.

Bà vẫn nằm yên lặng. Ivo giật mình và giận dữ:

– Quân sát nhân. Quân sát nhân đã giết mẹ nó.

Ivo muốn kêu cứu, muốn gọi tên gác cổng, nhưng ông không có một quyết định nào cả. Ông vẫn đứng yên cạnh giường. Sau đó, ông quỳ xuống cầm tay người chết đặt một cái hôn và để bàn tay Milostiva lại trên ngực của bà. Xong ông làm dấu cầu nguyện.

Ivo đứng dậy đi ra cửa; đến ngưỡng cửa ông ngừng lại, nhìn một lần nữa thân thể người đàn bà già nua đang yên nghỉ trên giường hai tay khoanh trước ngực trong chiếc áo nhung đen, khăn quàng vứt trên nệm như chiếc cánh con chim bị thương. Ivo trở về phòng.

Ivo hấp tấp sửa soạn va li, mang áo choàng, xem lại tấm thông hành đã cũ có dấu hiệu chiếu khán qua Thụy Sĩ xong bỏ vào túi. Ông nhìn quanh một lượt. Trên móc áo còn bộ áo bồi phòng có huy hiệu vàng. Từ nay ông không cần đến nó nữa. Ngoài va li và giấy thông hành ra, thực ông không cần lấy gì trong nhà nầy nữa. Không cần gì nữa.

Ivo lại vào phòng của Milostiva lần cuối. Va li bên tay trái, mũ bên tay phải, ông cầu nguyện cho người đã chết và nói nho nhỏ:

– Thưa bà, bây giờ bà không cần đến tôi nữa.

Yên lặng một chốc, đầu hơi cúi thấp xuống. Ivo nói tiếp:

– Cũng không còn lý do gì để tôi theo bà về nghĩa trang. Thôi vĩnh biệt Milostiva.

Lau nước mắt, Ivo cầm lấy mũ, bước ra khỏi phòng bằng cửa sau, đèn nhà vẫn để sáng. Vừa đi, Ivo vừa thầm nghĩ:

“Đã 40 năm mình làm bồi cho Milostiva. Bây giờ mình đành trở về Thụy Sĩ, đành trở về quê hương vậy”

Và ông bước về phía trung tâm thành phố.

XI

– Tôi hoàn toàn không cho ai biết về cái chết của Debora Peternik. Người bồi phòng đang đứng trước mặt Ante Petrovici, vị bộ trưởng nội vụ của xứ những người Slaves miền Nam. Ông đang cố tìm chữ để diễn tả. Vali và mũ vẫn cầm trên tay, ông đứng trước bàn giấy mà không muốn ngồi xuống. Ông nói tiếp:

– Trước khi ra ga, tôi đến để báo cho ông hay sự việc đã xẩy ra như thế nào về cái chết của bà Debora.

Ante Petrovici vẫn yên lặng. Ivo tiếp tục:

– Tôi nghe hết tất cả buổi nói chuyện giữa hai mẹ con họ. Còn thuốc độc thì chính Milan đã đưa cho bà ấy. Vâng, chính thế. Tôi không động chạm gì vào người đã chết, chỉ khoanh hai tay bà lại trước ngực thôi. Rồi tôi ra đi, vẫn để đèn sáng. Chỉ có thế, thưa ông.

Trước mắt Ante như có bóng đêm đen, ông gác ống nghe vào chỗ cũ, mang áo choàng và bước đi khập khễnh không nói một lời nào. Cũng không thèm quay nhìn Ivo. Không cần nhìn ai nữa, không cần nhìn cái gì nữa. Xa lánh hẳn mọi sự. Ivo hỏi: “Ông có thấy gì trở ngại nếu tôi từ giã xứ này đêm nay không? Tôi sẽ trở về quê hương tôi. Tôi ở lại đây cũng chỉ vì Milostiva “

Ante nhìn thẳng vào mắt Ivo. Ivo nói tiếp:

– Tôi sẽ đáp chuyến tàu 0g30 sáng.

– Chúc ông đi mạnh giỏi, tôi sẽ lo mọi việc cho Milostiva. Ante nói thế, như trong một giấc mơ. Ante là một nhà trí thức với bộ óc thông thái và bộ râu màu nâu như râu của thi sĩ Rainer Maria Rilke. Ông ta bắt tay Ivo và mở cửa.

Ivo bỗng nói như van nài :

– Thưa bác sĩ, tôi cần thú nhận điều này nữa. Xin bác sĩ tha lỗi bởi đáng lý tôi không nên xen vào… Đó là việc của bà Lidia, người vợ cũ của bác sĩ. Milostiva thường hay giúp đỡ bà ấy tiền nong, thực phẩm và thuốc men. Nay Milostiva chết đi, tôi không biết bà ấy sẽ ra sao. Đó là tất cả điều tôi muốn nói thêm với bác sĩ.

Ante ngạc nhiên:

– Lidia đã ra ngoại quốc lâu lắm rồi, đã hai năm rồi.

– Không, thưa ông. Bà Lidia vẫn ở đây, hiện đang trốn ở Dalmatie trong một làng nhỏ, dưới một tên giả. Chỉ Milostiva biết địa chỉ của bà ấy thôi, và thường tìm cách giúp đỡ Lidia. Nay Milostiva không còn nữa, Lidia lại đang đau …

– Ông chắc chắn như thế chứ?

Ante Petrovici đã ly dị vợ cách đây bốn năm. Lidia là một nghệ sĩ chơi vĩ cầm nỗi tiếng. Ông ta yêu Lidia lắm nhưng không thể sống chung được, vì Lidia bị bệnh thần kinh, nên càng ngày càng trở nên gắt gỏng. Họ đành phải ly dị nhau. Lidia nổi tiếng khắp nơi, tại Mỹ cũng như tại Pháp và Anh. Ante chỉ biết mơ hồ là Lidia đã bỏ đi sau khi ly dị. Ông ta hỏi Ivo một lần nữa:

– Ông chắc chắn là Lidia không ra ngoại quốc?

– Thưa bác sĩ, chắc chắn như thế.

– Lidia là một người Do Thái, nên phải trốn tránh vì tất cả Do Tháiở quốc gia những người Slaves miền Nam đều bị giết. Ante ngạc nhiên:

– Tại sao Milostiva không bao giờ nói với tôi điều đó. Cả ông nữa, ông cũng giữ kín nốt.

Ivo nhún vai. Trong khi Ante nghi ngờ :

– Không thể nào Lidia còn sống được. Vâng không thể nào, nhưng nếu nàng còn sống, tôi sẽ lo liệu. Ivo, ông có thể ra đi. Chúc ông đi may mắn. Nếu Lidia còn ở đây tôi sẽ tìm ra.

Trước khi Ivo ra cửa, Ante còn quay lại hỏi:

– Ông không biết địa chỉ của Lidia sao?

– Thưa ông, chỉ có Milostiva biết mà thôi.

Không còn gì để hỏi nữa. Ante để cho Ivo ra ga. Ivo sẽ trở về xứ để có thể xây một căn nhà và sống bình dị, khi không còn là một tên bồi phòng nữa. Mà bây giờ thì dĩ nhiên ông ta không còn là một tên bồi phòng nữa rồi.

Ante trở lại văn phòng một mình. Nhắc ống điện thoại lên, Ante bảo với nhân viên:

– Anh báo cho quốc trưởng biết là Milostiva Debora Paternik đã chết. Vâng, bị giết bằng thuốc độc. Chỉ biết có thế lúc này thôi. Tôi sẽ đích thân đến biệt thự của Milostiva.

Mặc áo choàng, đội mũ xong, Ante nhận chuông, một sĩ quan chạy đến, Ante ra lệnh:

– Tim xem thử bà Lidia Petrovici, người vợ cũ của tôi đã ra ngoại quốc chưa? Làm cho tôi một biên bản rõ ràng, sau khi hỏi kỹ các ban tình báo và các nơi. Nơi nào cũng phải hỏi cả đấy.

Xong, Ante lau mồ hôi trán và vội vã ra đường

XII

Motok trở lại ga với gói quà của Lidia. Không ai trả lời cho hắn đến nhà Milostiva cả. Eddy Thall đã dặn hắn là không được đưa gói quà đó cho lính gác cổng. Thế mà có ai trả lời hắn đâu ngoài mấy người lính gác cổng. Hắn nhìn đóng giấy thông hành của hành khách trên xe lửa mà không thèm mở ra xem nữa, vì đã mệt mỏi với cảnh tượng xảy ra ở biệt thự Milostiva. Hắn đã nhấn chuông suốt nửa tiếng đồng hồ. Vô ích. Cuối cùng rồi cũng phải bỏ về. Người bồi phòng không hề lên tiếng.

Bỗng có tiếng súng nổ, liên tiếp, sát toa phòng ngủ, Motok mở cửa sổ của toa xe nhìn xuống. Trên sân ga, cách toa xe có vài ba bước, một nạn nhân đã ngã gục, vali còn nằm bên cạnh. Mấy người lính mang tiểu liên chạy lại lấy cái vali và ôm người chết lên.

Một người khác dùng mũi súng cố móc cái mũ của nạn nhân đang nằm giữa đường rầy dưới toa xe.

Không còn ai ở trên lề đường nữa. Bốn người lính đã kéo nạn nhân ra khỏi ga.

Motok nhìn vũng máu lớn chảy trên đường nhựa thành một vệt dài ra tận lối đi, vũng máu của người chết mà bốn binh sĩ đã kéo xếch ra khỏi ga xe lửa. Motok lau nước mắt. Hắn muốn ra khỏi toa nhưng một tốp lính khác đã đứng gác ở hành lang to axe. Một viên sĩ quan la lên:

– Giấy tờ của hành khách đâu hết?

Motok chưa kịp trả lời thì viên sĩ quan nọ đã vồ lấy giấy tờ đang để trên bàn và xét thật nhanh, từng tờ một. Sau cùng ông ta cầm lấy một giấy thông hành cùng với một vé xe lửa. Motok muốn xem tên trên tấm giấy thông hành đó lắm nhưng không kịp. Viên sĩ quan bảo Motok :

– Phòng số năm trống rồi đấy.

Rồi ông thản nhiên bỏ giấy thông hành của Ivo Doppelhof vào túi. Motok thầm nghĩ : ” Đúng là hành khách phòng số 5 vừa bị giết “.

Hai người lính khác tiến vào toa xe xem thử Ivo còn để lại vật gì không. Motok muốn xuống tàu một lát xem thử có chuyện gì xảy ra, nhưng toa xe đã bị lính gác chận hết. Không ai được phép xuống ga cả. Hắn đành phải ở lại trên tàu và tiếp tục xem xét giấy tờ của các hành khách khác. Sau khi tàu đã khởi hành hắn đi khám một lần nữa. Các phòng đều đầy đủ cả. Có nhiều nhà ngoại giao, sĩ quan và kỹ nghệ gia Đức. Khi tàu đã rời quốc gia những người Slaves, một hành khách người Ý vừa gọi một chai bia vừa hỏi Motok:

– Anh có nói chuyện với người Thụy Sĩ đó trước khi ông ấy bị giết không ? Motok ngạc nhiên, không hiểu ông khách muốn nói đến người Thụy Sĩ nào.

– Cả thành phố ai cũng biết, anh chứng kiến tận mắt cảnh đó anh lại không biết sao. Mà ông ấy lại là hành khách phòng số 5 của anh nữa.

Motok trả lời :

– Tôi chưa kiểm soát lại giấy tờ, nên chưa biết tên nạn nhân là ai cả. vả lại, tôi không được phép xuống tàu nên có thấy mặt nạn nhân đâu. Tôi chỉ biết sơ là ông ấy bị bắn trên sân ga, sát toa xe lửa, sau khi ông ấy bị bắt, thế thôi.

– Đúng là Ivo Doppelhof, người bồi phòng của Milostiva Debora Paternick đấy.

Rồi vừa uống bia, người Ý lại nói tiếp:

– Người ta chưa hề thấy ở xứ này chuyện nào khủng khiếp hơn những chuyện vừa xảy ra đêm nay, một thảm kịch thật vĩ đại. Tướng Paternick đã giết mẹ hắn vì vấn đề chủng tộc. Giết mẹ hắn vì mẹ hắn không phải là người Slaves. Thực chưa bao giờ người ta thấy cảnh đó cả. Hắn đã ám sát mẹ hắn bằng thuốc độc. Sau đó hắn cho lệnh bắn người bồi phòng muốn trốn về xứ, nhưng lính đã bắt được và bắn hạ ngay tại ga xe lửa, như anh vừa chứng kiến đó. Milan Paternik muốn giết nhân chứng duy nhất của tội ác tày trời của hắn. Hắn sợ là lúc về đến Thụy sĩ người bồi bàn sẽ kể hết những chuyện mắt thấy tai nghe, nên hắn phải giết Ivo. Nhưng để làm gì cơ chứ, cả thành phố này đều biết cả rồi, và cả Âu Châu cũng biết câu chuyện này rồi.

Motok nhìn lại gói quà của Lidia ở dưới bàn, lẫn lộn trong mấy chai bia, trong lúc hành khách người Ý tiếp tục nói:

– Người ta đã bố cáo trên đài thanh là Milan Paternik đã bị cách chức và bị bắt. Chính cha hắn đã loại hắn ra khỏi chính trường. Lúc nửa đêm, đài phát thanh nào cũng loan tin đó cả anh không nghe gì hết ư? … Ủa, mà anh đang sống ở thế giới nào đó? Sao anh lại không biết là tướng Milan đã bị cách chứ?

Motok lau mồ hôi trán, hắn cảm thấy chóng mặt quá đi mất.

– Ông có chắc người bị giết là Ivo Doppelhof, người bồi phòng của Milostiva Debora Paternck?

– Điều đó ai cũng biết cả. Chỉ có anh là nghi ngờ thôi, trong khi anh lại đủ điều kiện để biết hơn ai hết. Thế anh không trông thấy gì cả ư? Anh cũng không hề nói chuyện với nạn nhân lần nào cả sao? Thôi, mai báo chí sẽ cho anh biết. Thực là một chuyện đáng tởm.

Motok không còn sức để suy nghĩ gì nữa cả. Hành khách người Ý gọi thêm một chai bia nữa. Trong lúc Motok cúi xuống kiếm một chai bia, người hành khách vổ vai hắn và nói:

– Điều quan hệ hơn cả là Ivo là dân Thụy sĩ, vâng, dân của một nước trung lập. Thụy sĩ sẻ phản kháng và tai hại lắm.

Con tàu trườn mình trong đêm tối. Họ đang ở trung tâm của Âu châu, trung tâm của những bóng đêm của những che dấu và lừa đảo.

XIII

Viên đại sứ Đức bảo:

– Đây là một ân huệ hoàn toàn đặc biệt đấy.

Trao cho Ante Petrovici tờ giấy phép vào trại Auschwitz, ông ta nói tiếp:

– Cách đây bốn tuần, Lidia Petrovici bị giam ở Đức. Nhưng bà sẽ được phóng thích và có thể trở về với ông lúc nào ông đến lãnh. Tôi hy vọng là ông sẽ gặp bà khoẻ mạnh. Nhưng tôi yêu cầu ông giữ bí mật hoàn toàn. Những đặc ân này phải giữ kín đấy. Thôi chúc bác sĩ may mắn.

Thế là Ante Petrovici sang Đức ngay ngày hôm đó. Một tuần trôi qua kể từ ngày Milostiva tự tử, Ivo bị ám sát và Milan Paternik bị cách chức – Ante Petrovici cũng không muốn làm bộ trưởng nội vụ nữa, ông đã xin từ chức nhưng không được chấp thuận. Dù thế nào, ông ta cũng theo dõi dấu vết của Lidia, biết được bà đang bị giữ ở trại Auschwitz và đã được chấp thuận trả tự do. Ông tức tốc sang Đức ngay.

Từ hai năm nay, ông ta không hề nghĩ đến Lidia. Nhưng bây giờ thì khác. Lần cuối cùng khi hai người vừa ly dị, nàng đã nói: « Em sẽ ra ngoại quốc. » Rồi chiến tranh bùng nổ, Ante Petrovici giữ chức Bộ trưởng nội vụ và không nghe gì về Lidia nữa.

Ante thắc mắc: « Tại sao Lidia chẳng cần gì đến mình cả?»

« Với chức vụ bộ trưởng, đúng ra mình đã giúp đỡ nàng ít nhiều, nhưng tại nàng giữ hành tung bí mật quá. Dù sao, nàng cũng là vợ mình ». Tuy nhiên Ante không hiểu nổi tại sao nàng lại ghét bỏ mình. Có lẽ tại mình tham gia một chính phủ có chủ trương giết Do Tháichăng. Nhưng mình có hợp tác trong vụ đó đâu. Mình chỉ chuyên về hành chánh mà thôi.

« Thực ra, Lidia vẫn có quyền hận mình, hay nàng có ghét mình chăng nữa thì cũng hợp lý. Ngay cả không hợp tác, mình cũng đã nằm trong thành phần những kẻ sáng lập một thứ xã hội mới. Để thực hiện thứ trật tự mới đó cho cả Âu châu, những « chuyên viên chính trị đó », đã loại trừ một vài chủng tộc như Tziganes và Do Thái, mình cũng đã hoạt động cho thứ trật tự mới đó, thứ trật tự đó chống lại chính con người. » Nên Lidia đã ghét mình, mình đã góp phần vào công cuộc giết người để tạo nên thứ trật tự mới của xã hội Âu Châu. Đó là một tội ác lớn lao nhất đời. Nếu còn nói chuyện với nhau, và nàng có tỏ ra khinh bỉ mình thì cũng là một điều dễ hiểu. Cũng như nàng đã từng xin ngoại quốc giúp đỡ mà không hề mở miệng yêu cầu mình một điều gì cả.

Ante đem theo trong xe nhiều thứ, nào thức ăn, nào thuốc men, áo quần, mền mùng. Tất cả để cho Lidia. Ông ta vội vã qua Đức. Chưa bao giờ ông vội vã như thế, nên khi ông đến Auschwitz, ông ta hầu như hoàn toàn kiệt sức. Ante muốn giải thoát Lidia vài phút sớm hơn. Chậm giây nào để Lidia phải chịu khổ trong cảnh tù đày là lỗi của Ante.

– Thưa ông, bà Lidia Petrovici vừa mới chết.

Nghe thế, Ante đứng lặng người trước viên chỉ huy trại giam đang cầm giấy tờ phóng thích của Lidia.

Thật tai hại, nếu ông đến đây sớm hơn chừng một tuần thì bà ấy còn sống. Tai hại quá, một lệnh phóng thích như thế này thật quá đặc biệt. Tiếc thay lệnh đó đến với một tù nhân đã chết.

– Tôi có thể mang xác về chôn cất ở xứ sở được không ?

– Thưa ông, tù nhân chết trong trại giam đều bị đốt, đó là một thông lệ chung.

Ante muốn bỏ đi. Nhưng ông chỉ huy trại giam xếp lệnh phóng thích Lidia vào hồ sơ. Theo đúng luật lệ hành chánh. Ông ta phải giữ giấy tờ đó lại.

– Bà ấy không để lại thư từ hay vật gì sau khi chết?

Viên trại trưởng mỉm cười mỉa mai:

– Thưa ông, rất tiếc tù nhân ở đây không có lệ gởi thư.

Thế là Ante đành bỏ đi. Vừa đi vừa lẩm bẩm: « Đúng là loại trừ hoàn toàn. Lidia đã bị loại trừ, bị đốt thành than, thành tro bụi, không còn một dấu tích gì nữa. Một hột nút áo cũng không còn ».

XIV

Daniel Motok đến nhà Pierre Pillat và muốn kể hết các chuyện đã xảy ra, bởi báo chí không hề đề cập gì rõ ràng cả. Người ta chỉ nói là tướnng Milan Peternick, giám đốc cảnh sát quốc gia đã bị thay thế. Chỉ có thế thôi. Và rải rác trên các báo chí, người ta đọc được tin Milostiva Debora Paternick vợ của quốc trưởng và là người cộng tác đắc lực nhất của quốc trưởng vừa mới từ trần. Không có tin gì về cái chết của Ivo Doppelhof.

Cầm gói quà của Eddy gởi cho Lidia trên tay, Motok muốn gặp Pillat ngay để kể cho ông ta biết chuyện hắn đến quốc gia người Slaves như thế nào, đến biệt thự Milostiva chỉ gặp lính gác và người chết ở bên trong ra sao, kể chuyện người bồi phòng đã trốn tránh và bị giết trong trường hợp nào.

Và Motok muốn bảo với Pillat: «Tôi không thể đến nhà Eddy Thall để trả lại gói quà này đâu, bởi vì tôi không còn lòng dạ nào kể cho bà ấy nghe câu chuyện hãi hùng vừa xảy ra. Nhờ ông đi hộ cho». Nhưng Pillat không có nhà. Nhìn đồng hồ thì đã 8 giờ tối. Sực nhớ đến tấm danh thiếp của Eddy, Motok nghĩ bụng :

– Thôi mình cứ đến hý viện vậy. Và không cần xem diễn kịch. Mệt quá rồi, nhưng đằng nào cũng phải đến để trả lại gói quà, thế thôi.

Motok gọi tắc xi đi về hý viện. Đến nơi đã thiếu 15 phút đầy 9 giờ. Thế mà cửa lớn còn đóng. Hý viện tối om. Bước lên tam cấp, hắn cố mở cửa chính của hý viện rộng thênh thang. Cửa vẫn đóng. Đặt gói quà xuống bậc thềm, Motok quẹt một cây diêm và tự nhủ «Nếu có trình diễn như thường lệ vào lúc 9 giờ thì vào giờ này hý viện đã mở cửa rồi chứ!»

Ánh sáng cây diêm cho phép Motok đọc một mảnh giấy dán trước cửa có hàng chữ hoa : «Hý viện Eddy Thall ngưng trình diễn tạm thời.»

Motok muốn hiểu lý do tại sao, nhưng chẳng ai ở đó để hỏi cả. Motok lại tự an ủi : “May mà chỉ mới tạm ngưng thôi.”

Trước khi bỏ đi, Motok muốn chắc có đúng như vậy không, hắn bèn quẹt thêm một cây diêm nữa, dòng chữ hoa hiện ra trên mảnh giấy dán ở cửa «Hý viện Eddy Thall ngưng … » chỉ đọc được như thế thì cây diêm tắt. Mảnh giấy chìm trong bóng tối, nhưng chắc chắn là Motok đã đọc đúng. Những buổi trình diễn của hý viện Eddy Thall đã ngưng.

XV

Eddy nói với Tinka:

– Tinka, vú phải ráng lên. Chúng ta không có quyền để thay đổi một điều gì cả. Tôi đã thử hết cách rồi, nhưng người ta vẫn không cho phép tôi để vú làm việc ở đây. Vú phải đi, nếu không cả hai chúng ta phải vào tù. Không một người Do Tháinào có quyền nuôi người giúp việc có đạo Thiên chúa.

Tinka đứng trước mặt Eddy Thall, trong căn phòng mà bà không có quyền quét tước, đã mấy ngày nay. Kể từ ngày bà đi vắng, sàn nhà không được đánh bóng, bụi bám đầy sách vở không ai lau chùi. Nhận xét đó đủ làm cho bà khổ tâm, bởi lẽ không làm những công việc thường nhật đó, bà cảm thấy đời sống của bà không được quân bình nữa.

Eddy nói tiếp:

– Vú cầm lấy gói giấy tờ nầy đi. Vú có cả một cuốn sổ ngân hàng nữa đó. Vú có thể rút tiền ra tiêu lúc nào cần. Tôi đã trả cho vú một năm lương chứ không phải chỉ 3 tháng như luật lệ bắt buộc đâu. Vú có đủ giấy tờ trong gói nầy như trích lục khai sinh, bản sao rửa tội. Vâng, đủ cả đấy.

Eddy đưa gói giấy cho Tinka. Bà chưa bào giờ giữ giấy tờ đó trong người cả, lúc nào cũng nhét trong hộc bàn bởi có lúc nào bà cần đến chúng đâu. Cho nên, Eddy đưa cho bà, bà bỗng nức nở khóc:

– Cô muốn tôi làm gì với những thứ nầy?

– Thì mỗi công dân phải có giấy tờ chứ.

Tinka nghĩ thật thô thiển. Cả khu phố nầy ai mà không biết đến bà, từ người hàng xóm đến bà bán bánh mì, bán thịt, ai cũng biết bà cả thì bà cần gì đến giấy tờ. Ừ, bà không phải là một người cần đến giấy tờ.

Nhìn gói giấy tờ trên tay, Tinka nức nở khóc. Nước mắt chảy xuống tấm căn cước, ướt luôn cả tấm bản sao rửa tội và trích lục khai sinh.

Đối với Tinka, cầm những mảnh giấy đó còn nhục nhã hơn là bị đuổi khỏi nhà. Bà cứ nghĩ: “thật là một điều nhục nhã khi phải trở thành một người đàn bà có giấy tờ. Chỉ có những người đàn bà xấu xa mới cần có giấy tờ mà thôi”.

Và bà vứt gói giấy xuống bàn. Từ giờ cho đến lúc chết đi, bà không thể nào chịu nổi một sự nhục nhã như thế. Bà không phạm tội gì cả để bị bắt buộc cầm giấy tờ lúc bà đã 60 tuổi. Bà cứ nghĩ: “Thực là một sự nhục nhã nếu phải trở thành một người đàn bà có giấy tờ”.

Eddy Thall giải thích:

– Nhưng mà bây giờ ai cũng như thế cả. Vú nhìn tôi mà xem, lúc nào tôi cũng mang theo căn cước trong xách tay.

– Nếu người ta muốn xét giấy tờ tôi, xét giấy tờ một người đàn bà già nua như một kẻ trộm cắp hay vô lại thì thà tôi chết đi còn hơn.

Nói xong Tinka lau nước mắt, rồi chợt nhắc Eddy:

– Mai thứ nam rồi đấy cô ạ.

Bởi vì từ 40 năm nay, Tinka lúc nào cũng giặt áo quần vào ngày thứ năm mỗi tuần, đều đặn như thế, không trừ bữa nào cả.

Nhưng Eddy đã vội bảo:

– Vú đâu có quyền tiếp tục làm việc trong nhà tôi nữa, luật lệ bây giờ không cho phép như thế.

– Tôi sẽ làm việc cho vui mà thôi, luật lệ không thể cấm tôi giặt áo quần vào mỗi thứ năm đâu, như tôi đã làm thế suốt đời.

– Tinka, luật lệ cấm điều đó thật đấy. Nếu vú rửa chén bát hôm nay thì ngày mai chúng ta sẽ vào tù như những người phạm tội.

– Nhưng cô tin là cảnh sát sẽ đi soát từng nhà để xem người ta có rửa chén bát hay không sao?

– Vú à, một người có đạo không được giặt áo quần cho một người đàn bà Do Thái. Vú là người có đạo, tôi lại là người Do Thái, đấy tội lỗi do thế mà ra cả.

Giọng Tinka bỗng trở nên chua chát:

– Thưa cô, cảnh sát xứ này đã bắt hết trộm cướp rồi, và bây giờ vì không có việc gì làm nữa, họ bèn vào kiểm soát từng nhà để xem đàn bà có giặt áo quần hay không …

– Nhưng điều đó còn quan trọng hơn cả người phạm tội trộm cắp nữa. Vì nếu vú giặt áo quần cho tôi, vú phạm tội chính trị, một thứ tội nặng hơn tất cả các tội khác trong xứ nầy. Qua làn nước mắt, Tinka nhìn chiếc giường còn bừa bãi ở trong phòng ngủ, và bà hỏi Eddy:

– Thế tôi có được phép trải giường không thưa cô.

– Không, vú à. Tôi đã nói là vú không còn được phép làm bết cứ việc gì trong nhà tôi nữa.

– Thế việc tôi trải giường cũng thuộc về chính trị hay sao?

– Vâng, Tonka à, tất cả đều là chính trị cả …

Tinka nhìn tách trà trên bàn và rụt rè nói với Eddy:

– Cô lúc nào cũng dùng trà vào giờ này. Nếu tôi đi rót trà cho cô thì có gì là chíng trị đâu. Thế giới có phải ai cũng điên hết để cho rằng như thế là chính trị!

– tất cả việc gì do vú làm trong nhà nầy đều được xem như là xâm phạm đạo luật về chủng tộc, nghĩa là vú đã phạm tội thuộc chính trị. Ngay ở trong tách trà cũng có vấn đề chính trị.

– Vậy có lẽ cô muốn đuổi tôi ra khỏi nhà, bởi vì tôi không thể nào hiểu nổi như thế cả. Giặt áo quần, rót trà lau bụi trên sách vở, có gì là chính trị ở trong các công việc đó? Từ khi tôi còn trẻ, tôi đã rửa chén bát, làm bếp, quét nhà, đi chợ và mặc dù thế, tôi không hề dính líu đến chính trị. Trà là trà, không thể là chính trị được. Áo quần là áo quần, không thể là chính trị được, nền nhà là nền nhà …

Nói đến đây Tinka nức nở khóc.

XVI

Một tuần sau khi hý viện bị đóng cửa, có một viên sĩ quan bước vào nhà Eddy, nét mặt có vẻ vui sướng và dễ thương, trong bộ đồng phục màu xanh da trời và mang huy hiệu phi công. Hắn nói ngay với Eddy:

– Tôi muốn đến thăm căn nhà nầy.

Và không chờ Eddy trả lời gì, hắn nhìn ngay vào phòng khách bên cạnh và hít hà ra vẻ thích thú lắm:

– Thật là một căn nhà tráng lệ, có bao nhiêu phòng tất cả, thưa cô?

– Mời ông ngồi xuống đã.

Eddy muốn ngăn cản hắn đi vào phòng khác nên nàng mời hắn ngồi, nhưng viên sĩ quan tiến về phía cửa sổ.

– Chà cô có một khu vườn đẹp quá, thật là tráng lệ.

Vừa nói thế, hắn vừa móc trong túi ra một mảnh giấy và trao cho Eddy:

– Tôi là Trung úy phi công Varlaam. Bộ kiến thiết đã cho tôi căn nhà này của cô.

Eddy cầm mảnh giấy có tiêu đề và đóng dấu hẳn hoi; đúng là lệnh tịch thu nhà nàng. Tay nàng run lên. Nàng thừa biết thế nào nhà cửa của người Do Tháicũng bị tịch thu, nhưng không ngờ nàng bị tước mất nhà sớm đến thế nầy.

Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt mở lớn của viên phi công và nói:

– Thưa trung úy, làm sao ông có thể đuổi người ta ra khỏi nhà để vào ở cho đành. Đó là một điều mà tôi không thể làm nổi.

Hắn đỏ mặt và nói :

– Tôi mong cô tha lỗi. Như tất cả mọi Sĩ quan chính phủ đã cấp cho tôi một căn nhà. Và tôi được mời đến xem thử tôi có vừa ý căn nhà nầy hay không. Đó là những sự kiện đã xẩy ra. Nhưng tôi không có ý đuổi air a khỏi nhà nầy cả. Xin lỗi cô, tôi cứ tưởng là nhà nầy không có ai ở.

– Vâng, người ta đã xem nhà nầy như là vô chủ bởi vì là nhà của một người Do thái. Đúng thế, một gian nhà do người Do Tháiở được coi như là một gian nhà trống, dù là một gian nhà do chính cha ông tôi tạo ra.

Varlaam nghiêng đầu chào:

– Đó không phải là lỗi tại tôi. Một lần nữa xin cô tha lỗi. Hoàn toàn không phải do nơi tôi.

Và hắn bỏ đi.

XVII

Ngày ngày Eddy Thall chờ lệng dọn nhà. Cái chết của Lidia, chuyện đóng cửa hý viện, chuyện xa rời Tinka, tất cả điều đó không làm cho nàng đau khổ bằng lệnh tịch thu nhà nàng, bởi lẽ căn nhà là nơi trú ẩn mà người ta có thể trốn vào đó để đau khổ. Thế mà nay nàng phải bỏ nó mà đi.

Trong lúc đó Max Reingold vẫn bình tĩnh ngồi đó, trên ghế bành với cặp da, áo quần thẳng nếp, kính gọng vàng như thường lệ. Ông bàn chuyện cùng nàng với tất cả thản nhiên như khi ông đang để cập đến những điều nhỏ mọn chứ không xem như là đang nói đến chuyện quan hệ cho cả cuộc đời của hai người. Ông thản nhiên như đang tính toán một việc gì, bàn cãi như khi đang làm một phép tính cộng hay tính trừ; thản nhiên, khách quan ông ta bảo Eddy:

– Điều may mắn duy nhất còn lại là chúng ta mở cửa lại hý viện. Vâng, mở cửa hý viện Eddy con ạ, năm lần lớn hơn, cho năm ngàn khán giả. Bác đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình.

Nghe thế Edy rướn người lên một chúy? Max tiếp tục:

– Chúng ta còn điều may mắn đó, nhưng không phải ở xứ nầy. Chúng ta sẽ mở lại hý viện ở thủ đô Tel Aviv, tại Palestine. Và như thế chỉ còn một giải pháp độc nhất là chúng ta di cư.

Mắt Eddy Thall sang lên một chút xong lại buồn bã trở lại ngay. Max vẫn nói: Ở xứ Lỗ này chúng ta không còn làm gì được nữa? Tình trạng đã như thế này: hý viện bị đóng cửa, nhà cửa bị tịch thu, người ở bị đuổi ra khỏi nhà. Chẳng bao lâu họ sẽ nhốt mình vào trại tập trung; rồi đốt cháy trong những lò hỏa thiêu như câu chuyện đó xẩy ra ở các nước khác. Với lại, đây cũng không phải là quốc gia chúng ta, chúng ta là người Do thái, tổ quốc chúng ta là xứ Palestine. Cho nên giải pháp độc nhất là hungg ta phải di cư”.

Eddy Thall vẫn chưa nói gì. Max nói tiếp:

– Con không bằng lòng ư? Ít người Do Tháihiện nay được may mắn di cư lắm. Thế mà chúng ta có thể di cư được.

– Thưa bác, con muốn suy nghĩ thêm chút nữa bởi vì có nhiều việc mà chúng ta khổ sở lắm mới từ bỏ được.

– Thế nhưng, chỉ phải rời khỏi nơi đây, con mới từ bỏ được khủng bố và nhục nhã.

– Con không muốn rời bỏ Lỗ Ma Ni. Con sinh ra ở đây và đã xem xứ nầy như quê hương. Mà quê hương cũng giống như một người đàn bà bác đã cưới làm vợ. Cho đến ngày nào đó, nàng đang hoàn toàn xa lạ với bác. Nhưng lúc nào nàng đã trở thành vợ bác thì bác sẽ yêu nàng hơn tất cả mọi người, hơn cả mẹ già của bác, hơn cả chị em ruột thịt của bác. Với nàng, bác có thể từ bỏ hết. Đối với quê hương cũng như thế. Dù đó là một xứ lạ. Đó là đất đai bác đang sống và bác khó lòng bỏ mà đi nơi khác được nữa. Lỗ Ma Ni là nơi con đã sinh ra. Nó còn thân thuộc hơn cả chính tổ quốc của con là xứ Palestine nữa.

Max Reingold đứng dậy :

– Lý luận của con có vẻ hợp lý. Nhưng con suy nghĩ kỹ đi. Bác vẫn tin di cư là lối thoát duy nhất cho chúng ta. Và chúng ta chỉ còn giải pháp đó mà thôi.

XVIII

Eddy nói có vẻ van nài :

– Tôi cho vú một căn gác nhỏ, tôi van vú đừng vào nhà tôi nữa, nếu cảnh sát biết được vú ở đây, họ sẽ tưởng là vú còn phục dịch cho tôi thì phiền lắm.

Tinka đang đứng ở gần cửa, bà lên tiếng:

– Quan tòa Pillat không thể giúp tôi được gì sao?

– Vú à, không ai có thể giúp đỡ chúng ta để chống lại luật pháp cả. Luật pháp còn hung bạo hơn cả thú dữ nữa.

– Nhưng tôi làm gì cho hết ngày đây.

Tinka nhìn Eddy trừng trừng và hỏi như thế.

– Thì vú cứ lên trên gác đi. Và làm việc. Nếu vú chán thì đi xem hát bóng.

Tinka lại khóc nức nở. Đi xem hát bóng ngay trong giờ làm việc như những người đàn bà hư hỏng thật là nhục nhã.

Tinka có thể làm bất cứ việc gì nhưng mà đi xem hát bóng vào sáng thứ ba chẳng hạn thì thực bà không tài nào làm như thế được. Nên vừa bước ra cửa bà vừa khóc ; lên nhà bà, bà uể oải nhúng áo quần bẩn vào chậu nước. Vào lúc đó, có tiếng gõ cửa. Hai người cảnh sát bước vào. Họ quan sát kỹ lưỡng các bức tường. Một trong hai người đến gần chậu áo quần, cầm cái áo cụt bằng vải thô lên xem, trong lúc Tinka nói gần như quát :

– Các ông không biết hổ thẹn khi dí mũi vào chậu áo quần của tôi sao.

Người cảnh sát vẫn tiếp tục nhắc tấm drap, áo quần, khăn tay, cố xem thử trong đống áo quần bằng vải thô của Tinka có lẫn lộn áo lụa hay áo vải của bà chủ hay không. Nhưng chỉ toàn là áo quần của Tinka thôi.

Bực mình, Tinka đuổi:

– Các ông đi đi, ra khỏi nhà tôi ngay.

Viên cảnh sát phản đối:

– Chúng tôi chỉ biết làm phận sự. Nhưng nếu bà tiếp tục nói như thế thì buộc lòng chúng tôi phải làm một bản cáo trạng về tội bà lăng nhục nhân viên công lực.

Nhưng Tinka vẫn tiếp tục chửi rủa tàn tệ:

– Ngay cả một con chó cũng không đến đây để chúi mũi vào chậu quần áo của một người đàn bà già đang giặt. Nếu đó là phận sự của ngành cảnh sát các ông thì chắc cảnh sát không phải là người.

Hai người cảnh sát bỏ đi qua các phòng khác trong khi Tinka vẫn tiếp tục nói một mình như muốn trút hết cơn giận dữ:

– Nếu cảnh sát chỉ có từng ấy công việc, nếu bây giờ có những luật lệ gởi cảnh sát đi xét áo quần đầy tớ, lục lạo trong những đống áo quần dơ của đầy tớ để tìm ra chính trị thì thôi, thế giới này thật đáng tởm.

Và Tinka khạc đờm vào sau lưng họ như là muốn nhổ đờm lên trên nghành cảnh sát, lên luật lệ và lên tất cả những ai đang làm ra luật lệ hiện hành. Sau đó bà nức nở khóc như đang đưa ma. Mái nhà thấp quá bà có khóc cũng không ai nghe, nhưng khóc được bà thấy nhẹ nhõm như có ai đỡ hộ một gánh nặng trong lòng. Bà lấy lại cam đảm và quyết định sẽ đối phó với cảnh sát, để trả thù cho tất cả những nhục nhã và bất công của họ.

Xuống cầu thang, Tinka vào nhà bếp của Eddy Thall. Vào được đó bà cảm thấy dễ thở quá. Đã một tuần rồi, bà không được vào tận bếp của nhà bà chủ mà bà sống ở đấy suốt đời. Vũ trụ của bà là ở trong căn phòng nầy, với nào là vòi nước, lò lửa, soong chảo, nào là những xó xỉnh đầy chén đĩa và ly tách. Không có công việc bếp núc, đời Tinka không còn ý nghĩa gì nữa. Với bà, đời sống có nghĩa là chợ búa, mua bán với ngày ngày những giỏ đầy nhóc ngò tây, khoai đậu ; đời sống của bà có nghĩa rửa khoai, rửa chén bát, là mùi hành đã thái thật mỏng. Với bà đời sống là cắt cà rốt thành từng khoanh tròn, là giờ ăn với mùi cháo thơm ngát, với thịt rô ti và những thức ăn tráng miệng. Tất cả điều đó đã chấm dứt với Tinka từ một tuần lễ nay, nên đời Tinka hầu như hoàn toàn trống rỗng.

Ở trong bếp, Tinka lại khóc, ngồi xuống chiếc đòn bằng gỗ, Tinka ôm mặt, nhìn soong chảo trên tường sắp ngăn nắp theo thứ tự to nhỏ qua làn nước mắt như qua một cửa kính đọng hơi nước. Bà nhìn lò lửa mà chính tay bà đánh bóng mỗi chiều.

Tinka nhén lửa và có cảm tưởng như được sống lại. Bà lại bắt đầu nấu nước và quét nhà.

Bà tự nghĩ: ” Ngay cả nếu mình phải bị tù, hôm nay mình cũng cứ làm việc ở đây như thường “.

Eddy Thall không có nhà. Tinka bèn cầm giỏ đi chợ, hãnh diện được cầm giỏ xuống thang lầu, đi ngang qua các cửa hàng. Ngoài chợ, Tinka mua tất cả những gì có thể mua được, bà tiêu tiền như để sửa soạn một bữa tiệc, bà trả bằng tiền riêng của bà, bằng vốn liếng bà dành dụm bao năm trời. Rồi bà trở về nhà, thức ăn mua trong giỏ bà xem như là những chiến lợi phẩm, nên bà lấy làm kiêu hãnh đã ngang nhiên làm những điều mà luật lệ hiện cấm không cho bà được phép làm. Người cảnh sát gác đường nhìn bà khá lâu và mỉm cười, ông ta biết rõ bà Tinka lắm.

Ngày hôm đó không có vi phạm gì để ghi vào biên bản cả, không có khách hàng nào để thùng trống ở trên lề đường, không có người đầy tớ nào rủ bụi thảm trải nhà qua cửa sổ sau chin giờ sáng, không có xe chở hàng nào dừng ở giữa đường. Tuy nhiên, ông ta phải ghi gì trong biên bản chứ. Bỗng ông ta nảy ra ý kiến: “Mình cứ ghi là Tinka Neva tiếp tục phục dịch cho người Do Thái” và như thế ông đi nạp biên bản

Tinka trở về bếp, trút thức ăn trong giỏ ra và bắt đầu rửa rau. Chính lúc đó cảnh sát vào.

– Chủ nhà của bà đâu? Họ hỏi:

– Cô ấy đi vắng rồi.

Tim Tinka đập mạnh, nhưng bà không hề sợ hãi; ở trong bếp, bà bình thản tiếp tục thái cà rốt.

Một người cảnh sát bảo:

– Bà không biết là bà không được làm việc cho người Do Thái sao?

Tinka nhỏ nhẹ trả lời:

– Cô ấy không hề biết là tôi sửa soạn bữa ăn. Hôm nay là lần đầu tiên không hiểu ai xui khiến tôi như thế nầy.

Người cảnh sát ra lệnh:

– Bà đi theo chúng tôi ngay.

Tinka tiếc nuối nhìn những miếng cà rốt đã thái mỏng, những miếng thịt trong chảo, những miếng thịt sắp làm rôti, nhìn son quánh, bếp núc, rồi nhỏ nhẹ nói với hai vị cảnh sát:

– Tôi xin lỗi hai ông.

– Không có gì đâu, bà cứ theo chúng tôi làm tờ khai xong sẽ được thả ngay.

– Tôi đã phạm lỗi, mong hai ông thứ lỗi cho.

Nhưng lúc một trong hai tắt ngọn lửa trên bếp, thì Tinka nổi giận ngay và bà lớn tiếng cãi vả:

– Tại sao hai ông lại dẫn tôi về bót?

Hai người cảnh sát cứ nắm tay bà kéo đi. Tinka cố trì lại và la to. Nhưng hai người đã nhắc bổng bà lên mang ra ngoài.

Tinka la lên một lần nữa nhưng tiếng kêu bị tắc nghẹn. Một bàn tay cứng như sắt bóp miệng bà lại, Tinka muốn cắn vào bàn tay lông lá đó nhưng không thể nào nhếch quai hàm được. Bà chỉ thấy mùi bàn tay sắt đang bóp miệng bà làm bà nghẹt thở. Người ta kéo lê bà ra khỏi hành lang, xuống cầu thang lầu. Thiên hạ hai bên đứng nhìn bà bị kéo đi như một tên ăn trộm. Tinka không còn vùng vẫy được nữa, cánh tay bà đau nhức và bàn tay nhét vào miệng bà làm bà khó chịu vô cùng . Bàn tay sắt đó là bàn tay của cảnh sát.

XXI

Ngày hôm sau, Eddy Thall được người chung quanh cho biết là Tinka Neva đã bị bắt. Người gác cổng tả lại cảnh vừa qua cho Eddy:

– Chúng khóa miệng bà ấy không cho la to, kéo xếch bà ấy và đánh đập tàn nhẫn. Cô phải đi thăm bà ấy mới được.

Eddy mang gói đồ ăn đến bót cảnh sát và xin được gặp mặt, nhưng ông cảnh sát trưởng bảo :

– Không thể gặp mặt được. Trường hợp của bà Tinka quá nặng. Chúng tôi sẽ đưa bà ấy ra tòa án mặt trận, vì trường hợp nầy thuộc thẩm quyền của quân đội. Chuyện vi phạm đạo luật về chủng tộc vì phục dịch cho người Do Thái chỉ là chuyện phụ. Bà ấy đã phạm tội là nhục mạ Hoàng đế. Do đó, bà ấy có thể bị án khổ sai.

Nói xong, ông cò đọc bản cáo trạng cho Eddy nghe:

“Sau khi bị giữ, Tinka Neva đã có lời phỉ báng Hoàng đế trong đó người ta nghe thấy : Hỡi Hoàng đế, nếu mày ra lệnh cho cảnh sát đến kiểm soát áo quần tao đang giặt thì thật là mày còn ngu hơn một con sen nữa. Đó không phải là công việc của một ông Vua. Tao nhổ vào mặt mày bởi vì mày không có gì xứng đáng hơn là được nhổ nước bọt vào mặt. Tao chỉ là một người đàn bà lương thiện. “

Đọc xong, ông cò gấp hồ sơ lại, và nói với Eddy:

– Đó cô xem, có điều gì nặng hơn thế nữa không. tất cả nhân viên kể cả phạm nhân đều nghe bà ấy la to như thế cho đến lúc người ta khóa miệng bà lại. Vâng, cô nghe lại xem: ” Hoàng đế, mày còn ngu hơn một con sen nữa và tao nhổ vào mặt mày vì mày không có gì xứng đáng hơn là được nhổ nước bọt vào mặt “. Đó, từng chữ một. Bà ấy phải sẽ bị xử trước tòa án mặt trận, cô không thể nào gặp mặt được.

Eddy Thall đành trở về nhà. Nàng gọi điện thoại van Pillat giúp đỡ gì cho Tinka Neva. Pillat bảo:

– Tôi sẽ xem hồ sơ của bà ấy ngay. Đúng ra, tội xúc phạm hoàng đế sẽ bị khổ sai. Tôi sẽ thu xếp ít nhiều cho trường hợp Tinka. Nhưng hiện giờ không thể nào trả tự do cho bà được. Vâng, không thể nào được. Tôi sẽ đến gặp cô chiều thứ sáu, chúng mình sẽ thăm Tinka một lượt. Bây giờ, tôi được bổ nhiệm vào làm ở văn phòng quốc trưởng, nên bận lắm. Nhưng thứ sáu tới khoảng năm giờ chiều, tôi sẽ ráng đến nhà cô.

– Cám ơn ông nhiều lắm.

– À, này, thế dự tính đi Palestine của cô ra sao rồi. Cô đã dứt khoát chưa?

– Thôi để chúng ta sẽ nói chuyện sau. Cám ơn ông, nhớ thứ sáu đến nhà tôi đấy nghe.

Và nàng gác máy điện thoại, ngồi khóc một mình.

Trong lúc đó, nhân viên công lực cũng vừa chuồi một tấm giấy màu xanh qua cửa sổ vào nhà Eddy. Đó là lệnh gọi của sở cảnh sát về tội Eddy vi phạm luật lệ cấm người Do Thái dùng người giúp việc có đạo Thiên chúa.

Lần đầu tiên, Eddy thấy rằng lối thoát duy nhất còn lại là di cư. Và chỉ còn di cư đi Palestine nữa mà thôi. Nên nàng gọi ngay Max Reingold:

– Thưa bác, con đã nhất định muốn đi di cư. Đi đâu cũng được, nhưng càng sớm càng hay.

Nàng muốn kể cho max nghe về chuyện Tinka bị bắt, nàng bị Cảnh sát gọi. Nhưng Max có vẻ hấp tấp:

– Bác đang có hẹn với một vài người để lo việc di cư. Bác cũng biết là thế nào con cũng sẽ quyết định đi. Nên ngay từ đầu bác đã để tên con trước tiên trong danh sách. Tất cả đều được chính phủ chấp thuận. Con không thể nào không dứt khoát được, vì đó là lối thoát duy nhất, không có điều nào khác nữa, vâng lối thoát duy nhất đó con ạ.

XX

Max Reingold đặt xấp hồ sơ trước mặt Aurel Popesco, giám đốc sở an ninh Lỗ Ma Ni, tập hồ sơ có tên những người Do Tháisắp xuống 2 tàu Adassa và Euxin để di cư.

Aurel Popesco đang điều khiển tổ chức “Thiên thần của lửa”, là một trong những viên sĩ quan trẻ tuổi tài ba. Hắn nhìn kỹ danh sách những người Do Tháisắp đi Palestine, vừa đọc vừa mỉm cười. Sau đó hắn xấp hồ sơ lại và nhìn Max Reingold rất lịch sự:

– Chúng tôi không phải là những kẻ ăn thịt người Do Thái. Chúng tôi để các ông đi. Chúng tôi là một chính phủ quốc gia xã hội, chúng tôi có một chương trình chủng tộc chống Do Tháiđàng hoàng. Tốt hơn, chúng tôi muốn khai trừ các ông mà không cần bạo động và đổ máu. Vì vậy, mà chúng tôi trưng dụng hai tàu Adassa và Euxin, dĩ nhiên không phải là hai chiếc tàu tốt nhất của hải quân Lỗ Ma Ni. Những chiếc tốt chúng tôi phải để dành cho chúng tôi chứ, dĩ nhiên là thế. Chúng tôi chỉ để cho các ông hai chiếc đó mà các ông có thể mua dễ dàng và đi nơi nào mà các ông muốn.

Max mời điếu thuốc, Aurel từ chối. Hắn tiếp tục:

– Các ông đi đâu, chúng tôi không cần biết, nhưng các ông đi đi. Các ông ở đây bất tiện cho chúng tôi lắm. Chúng tôi là kẻ thù của người Do Thái, chúng tôi nói thẳng điều đó, và nếu các ông không đi, chúng tôi sẽ dùng các phương thức khác để khai trừ các ông. Người Lỗ Ma Ni chúng tôi cũng biết độc tài như các ông. Tất cả báo chí, hý viện, quán ăn, rạp hát bóng, kỹ nghệ, thương mãi đều nằm trong tay người Do Thái, trong tay các ông. Nhưng bây giờ, hết rồi, chúng tôi lên cầm quyền, chúng tôi sẽ tịch thu hết, và chúng tôi mời các ông ra đi. Thế thôi.

Max Reingold đáp lời Aurel Popesco:

– Hai chiếc thuyền đó, Adassa và Euxin hết sức đắt. Chúng tôi đã tìm cách để mua lại, giá cao hơn thường lệ, nhưng chúng tôi không còn giải pháp nào hơn nữa. Tuy nhiên, chúng tôi muốn biết một điều là các ông có bảo đảm cho chúng tôi ra đi nếu chúng tôi bỏ tiền ra mua hai chiếc tàu đó không?

Rồi vừa tránh cái nhìn mỉa mai của Aurel Popesco, Max vừa giải thích:

– Nghĩa là chúng tôi có được bảo đảm một khi mà hai chiếc tàu đã bán cho chúng tôi, các ông không tịch thu chúng lại?

– Tôi có thể lấy danh dự để bảo đảm với các ông điều đó. Đành rằng trong công việc làm ăn, lời hứa danh dự không đóng vai trò quan trọng nào cả, nhưng tôi không phải là một người làm ăn. Tôi là chỉ huy trưởng của tổ chức “Thiên thần của lửa” mà danh dự nằm trên tất cả. Vậy thì ông có thể tin nơi tôi.

Max đứng dậy định về. Aurel giữ lại:

– Tôi đặt hai điều kiện, các ông phải ra đi trong tuần nầy, và trước khi đi tất cả người Do Tháitrên hai tàu Adassa và Euxin phải ký một lời khai là sẵn sàng từ bỏ mãi mãi quốc tịch Lỗ Ma Ni.

Max trả lời: Chúng tôi đồng ý.

– Chúng tôi làm thế để các ông đừng bao giờ trở lại đây nữa. Quyền lợi của đất nước buộc chúng tôi phải làm thế, mà đối với chúng tôi thì quyền lợi đất nước ở trên tất cả. Chúng tôi, những “Thiên thần của lửa”, chúng tôi sẵn sàng – và nhiều lần chúng tôi đã chứng tỏ như thế – hy sinh đời sống cho tổ quốc. Trong hoàn cảnh hiện tại, thật là phi lý nếu chúng tôi không hy sinh một triệu sinh mạng Do Tháicho tổ quốc chúng tôi, nhất là nếu chúng tôi không làm thế thì chúng tôi không còn giải pháp nào nữa. Vấn đề Do Tháiphải được giải quyết gấp rút. Đức quốc và đồng mình Tây âu của chúng tôi đã làm được, bây giờ đến lượt chúng tôi. Tôi chúc các ông ra đi mạnh khoẻ và hy vọng trong tâm hồn nữa, các ông sẽ từ bỏ hẳn lãnh thổ của Lỗ Ma Ni. Vì tổ quốc của chúng tôi, chúng tôi không cần biết sự trục xuất đó có công bình hay không, thôi, từ giã các ông.

XXI

Eddy Thall thầm nghĩ: Còn một hôm nữa, mình có thể cùng Pillat đến thăm Tinka Neva trong tù. Hôm nay là thứ năm, còn bốn hôm nữa mới xuống tàu. Tất cả thủ tục đã xong rồi. Hành lý cũng đã sẵn sàng. Nàng chỉ có quyền mang theo 100 kí lô hành lý thôi. Hai tàu nhỏ như Adassa và Euxin mà phải chở đến 1500 người Do Thái. Cho nên phải bớt hành lý lại. Max đang ở Constantza để coi sóc công việc. Eddy tự bảo:

– Mình sẽ sung sướng lắm nếu mình cứu được Tinka Neva ra khỏi vòng tù tội trước khi mình đi. Sau đó Pillat sẽ tiếp tục giúp đỡ bà ấy. Mình sẽ để lại cho bà ấy tất cả những gì mình không mang theo được.

Bỗng chuông reo, Esther Reingold, con của Max bước vào. Vừa ngồi xuống ghế, Esther đã bảo ngay:

– Ba từ Constantza về rồi cô ạ. Em có mấy tin động trời và đáng mừng lắm. Mai mình sẽ ra đi lúc 5 g sáng. Ba dặn em báo tin cho cô hay. Cần phải ra ga sáng lúc 5 giờ. Gấp lắm, may mắn lắm mới đi được sớm hơn 3 hôm, ba bảo thế đó.

Rồi Esther tiếp tục nói một cách văn vẻ:

– Những đám mây đen đã hiện lên ở chân trời, không phải chỉ trên biển mà còn trên đất liền nữa. Trong chính trường, người ta tiên đoán bão tố sắp xảy ra. May sao, chúng ta đi được.

Esther Reingold 18 tuổi. Cô muốn trở thành nghệ sĩ như Eddy. Hôn Eddy xong, Esther hấp tấp nói:

– Em đi đây nghe cô. Tối nay, em phải đi từ giã mọi người, và báo tin chuyến đi cho bạn bè của em. Xin lỗi đã từ giã cô vội vàng như thế nầy. Nhưng từ nay về sau, chúng mình sẽ luôn luôn có nhau, trên biển cả cũng như trên Palestine. Em sắp đi thăm mấy đứa bạn ở lại đây, chúng nó thèm được như em lắm.

Rồi Esther bỏ đi, cũng nhanh nhẩu như khi mới đến và tràn trề hạnh phúc.

XXII

Chuyến xe lửa đi Constantza sắp khởi hành. Eddy Thall cùng đi chung toa hạng nhì với Rebecca và Esther Reingold. Bây giờ khoảng cuối tháng giêng: trời chưa sáng dù đã năm giờ. Max đứng trên sân ga và dặn dò:

– Lúc đến Constantza phải đi ngủ cả đấy. Cần phải nghĩ ngơi. Tôi đã giữ phòng trước trong một khách sạn đối diện tượng Ovide. Mấy căn phòng rất yên tĩnh. Phải cố mà ngủ đi. Chuyến đi không dễ dàng gì đâu, vì Israel còn xa lắm…

Nhìn đồng hồ ở ga xe lửa, Max nói tiếp:

– Tôi sẽ đi chuyến tàu ngày mai lúc 9 giờ và sẽ đến Constantza lúc nửa đêm (Max cảm động lắm). Tôi còn phải giải quyết một số vấn đề còn lại ngày hôm nay.

Eddy sợ Max quên, nàng dặn:

– Thưa bác, Pillat sẽ đến nhà cháu lúc 5 giờ.

– Vâng, bác biết. 5 giờ, bác sẽ gặp quan tòa Pillat. Cả hai sẽ đi thăm Tinka Neva. Bác sẽ cho bà ấy tất cả những gì cháu để lại. Bác gởi gắm bà ấy cho ông Pillat. Và bác thay mặt cháu xin lỗi Pillat về chuyện cháu đi mà không lại từ giã ông ấy được. Bác còn quên gì nữa không cháu nhỉ?

– Không, bác không bỏ sót gì nữa cả. Bác hôn Tinka hộ cháu nghe bác. Còi báo tin chuyến đi sắp khởi hành. Max còn dặn thêm:

– Phải nghỉ ngơi suốt ngày đấy. Chuyến đi cực nhọc lắm. Israel còn xa, rất xa.

– Bánh tàu đã bắt đầu lăn. Qua khung cửa sổ, Eddy Thall, Rebecca và Esther Reingold cùng vẫy khăn tay. Đứng trên ga, Max nhìn theo họ, tất cả đều vừa vẫy khăn, vừa khóc. Tiếng bánh tàu nghiến trên đường sắt như lập lại câu nói cuối cùng của Max: “Israel còn xa”.

Không nhìn thấy nhau nữa, họ mới chịu ngưng không vẫy khăn tay nữa, lúc mà bánh tàu bắt đầu lăn càng ngày càng nhanh và càng mạnh: “Israel còn xa, Israel còn xa, Israel còn xa… còn xa… xa”.

XXIII

Pillat nhìn đồng hồ tay. Đã 5 giờ rồi. Chàng nghĩ là Eddy Thall đang đợi chàng để cùng đi vào trại giam thăm Tinka Neva, trong lúc chàng phải ở cạnh tướng Roshu, quốc trưởng Lỗ Ma Ni, đang ngồi ở bàn giấy để đọc lại các bản tường trình. Ông ta ngửng đầu nhìn Pillat:

– Anh muốn xin phép tôi để đi có việc đấy ư? Không, anh không được đi đâu cả. Anh đã biết được phái qua văn phòng tôi với tư cách là một quan tòa quân đội. Anh phải ở bên cạnh tôi, chừng nào anh còn ở đây, anh không còn việc gì khác để làm cả. Tổ quốc trên hết.

Giọng nói của Quốc trưởng có vẻ rắn rỏi, ông tiếp:

– Anh hẹn với ai, với một người đàn bà phải không? Pillat đỏ mặt trả lời:

– Thưa vâng với một người đàn bà. Nhưng có nhiều vấn đề quan trọng. Chúng tôi phải cùng đi…

– Nhưng anh không được đi đâu hết. Chỉ có tổ quốc mới có chuyện quan trọng mà thôi. Gọi Aurel Popesco cho tôi.

Aurel Popesco trẻ trung trong bộ đồng phục “Thiên thần của lửa” bước vào văn phòng nghiêm chỉnh chờ lệnh.

Tổ chức “Thiên thần của lửa” là một phong trào quốc gia đã lên năm chính quyền. Chỉ trừ Quốc trưởng và vài vị tướng lãnh khác, còn tất cả các bộ trưởng đều có chân trong tổ chức đó.

Tướng Roshu đứng dậy, hai tay thọc vào túi quần, hỏi Popesco:

– Popesco, ông có thuộc mười điều răn không?

Popesco đỏ mặt. Hắn không ngờ bị hỏi như thế, nhưng vị tướng lãnh đã ra lệnh:

– Nào, ông đọc cho tôi nghe mười điều răn của Chúa đi?

Viên giám đốc sở an ninh đang ngập ngừng, thì Roshu đã đọc:

– Con không được giết hại. Nào lập lại theo tôi. Con không được giết hại. Đó là điều luật thứ nhất của Chúa dạy. Ông đã quên hết mười điều răn rồi ư? Trả lời tôi đi chứ. Có phải ông đã quên hết rồi không?

Roshu cầm cái roi ngựa để trên bàn và quất vào đôi giày:

– Ông là giám đốc, vậy ông nên ra lệnh cho các đảng viên “Thiên thần của lửa” không được giết bất cứ ai. Bảo với họ đó là lệnh của tôi, của riêng tôi, của tướng Roshu, và lệnh của Chúa là không được giết chóc. Nếu ông không thi hành thì Chúa sẽ trừng phạt. Nhưng trong lúc chờ đợi sự trừng phạt của Chúa đối với các ông, thì chính tôi sẽ trừng phạt các ông trước, bằng những phát roi vào mông, bắt đầu từ các vị bộ trưởng cho đến một tên lính trơn. Tôi sẽ đánh các ông tóc máu ra đấy.

Nói xong, Roshu quất mạnh chiếc roi xuống bàn, và dõng dạc ra lệnh:

– Nào, đánh diện cho các đảng viên của ông đi, đánh như thế này: “Các bạn không đuoc giết ai hết”.

Giấy tờ trên bàn rơi xuống đất vì phát roi của vị Quốc trưởng đập xuống. Viên chỉ huy “Thiên thần của lửa” cúi xuống nhặt. Nhưng Roshu đã ngăn lại:

– Chỉ có những người ở mới nhặt giấy, giám đốc sở an ninh ai lại làm thế bao giờ.

Popesco bực mình nói ngay:

– Thưa ngài, từ bốn tháng nay lúc chúng tôi lên cầm quyền và chúng tôi cai trị xứ này, chúng tôi chỉ đòi hỏi ngài phải công bình, thế mà ngài đã từ chối nên chúng tôi phải bước qua giai đoạn hành động. Kể từ hôm nay, chúng tôi không còn cộng tác với ngài nữa. Đảng viên “Thiên thần của lửa” đã bắt đầu hành động.

Roshu hét lên:

– Nghĩa là các ông đã bước sang giai đoạn tội lỗi phải không?

Ông ta giận đỏ mặt và tiến về bàn giấy.

Aurel Popesco bình tĩnh nói tiếp:

– Dân chúng đã trông cậy nhà cầm quyền giải quyết vấn đề Do Thái. Dân chúng đòi hỏi những hành động. Thế mà chúng ta đã không làm gì hết.

– Vấn đề Do Tháirồi sẽ được giải quyết. Nhưng phải giải quyết bằng phương pháp hợp lý, chứ không phải bằng sát nhân và tội lỗi, không phải giải quyết bằng ăn cắp và trộm cướp. Chúng ta là một dân tộc có đạo, mà người có đạo không bao giờ sát nhân. Ông có đồng ý như vậy không? Popesco? Người có đạo không giết bất cứ ai cả.

Nói xong, Roshu lại đập roi ngựa xuống bàn giấy, và tiếp tục:

– Người có đạo không giết đồng loại, cho dù đó là những đồng loại vô thần. Tôi là quốc trưởng của quốc gia nầy, tôi sẽ phản đối bất cứ ai giết người. Tôi biết các ông đang sửa soạn một cuộc cách mạng để khai trừ Do Tháiđêm nay. Tôi đã ra lệnh cho quân đội ngăn cản tội ác của các ông. Các nước láng giềng đang nhìn chúng ta. Ở trên trời, Chúa đang nhìn chúng ta. Ông có biết vậy không, Popesco? Hãy gởi gấp một công lệnh bằng điện tín cho tất cả đảng viên “Thiên thần của lửa” để họ tôn trọng điều răn của Chúa. Chỉ có thế trong lúc nầy, ông có thể ra về.

Popesco không nhúc nhích. Quay về Pillat, Roshu bảo:

– Anh ở lại đây cho đến lúc nào bọn du côn ở yên. Cần phải ngăn cản tội ác, muốn thế tôi cần một quan tòa ở cạnh tôi. Bảo họ đem giường ngủ cho anh. Anh sẽ ăn ở đây, ngay trong văn phòng tôi và ngủ đây luôn đêm nay.

Popesco bảo:

– Thưa ngài, tôi cần giải thích cho ngài hiểu thêm vấn đề.

– Đánh điện cho các đảng viên của ông đi đã, rồi chúng ta mới thảo luận sau.

– Thưa ngài, nếu tôi đi bây giờ, tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Tôi đã được bộ tham mưu “Thiên thần của lửa” ủy thác việc thông báo cho ngài một vài điều, để giữa chúng ta cái gì cũng được minh bạch.

– Vậy thì nói đi.

Roshu tiến ra phía cửa sổ, quay lưng lại Popesco và Pillat, trong lúc Popesco giải thích:

– Không thể nào giải quyết vấn đề Do Thái một cách hợp pháp được. Người Do Tháicũng như nước. Đuổi chỗ nầy họ tràn qua những ngõ ngách khác. Thật là hệt như nước. Chúng ta đã đuổi họ ra khỏi các ngành báo chí, thương mãi và hý viện. Họ núp dưới tên có đạo để làm việc, không có gì thay đổi cả, chỉ có sự sa đọa là mỗi ngày một tăng lên mà thôi. Chúng ta cấm họ ra đường, ho mua giấy thông hành gấp đôi và tiếp tục đi ngoài đường phố. Cấm họ phát triển hý viện, cấm họ mua vở kịch, cấm họ viết ư? Họ vẫn viết và ký tên bằng những danh hiệu có đạo. Không có gì thay đổi cả nên không có một giải pháp hợp lý cho vấn đề Do Thái. Không một luật lệ nào có thể chống nổi vấn đề Do Thái, cũng như gỗ và rơm không thể nào chống đỡ với lửa.

– Thế tại sao các ông không để cho họ di cư?

– Tôi vừa bán cho họ hai chiếc tàu Adassa và Euxin. Nhưng họ chỉ di cư có 1500 người. Chúng ta phải làm gì với một triệu người Do Thái còn lại?

– Phần còn lại, gần một triệu, các ông cứ để cho họ sống. Nếu người Do Tháikhông theo luật pháp của chúng ta, các ông cứ cho họ vào tù nhưng phải y luật pháp xét xử đàng hoàng. Chứ không được bạo động. Phải hành động như thế, tôi không cho phép lạm dụng và cướp bóc.

– Thưa ngài, “Thiên thần của lửa” sẽ không cộng tác với ngài nữa.

– Tôi sẽ mang các ông ra tòa về tôi giết người, ngay cả lúc ông chỉ giết một mạng người mà thôi, dù mạng người đó là Do Tháihay Thổ Nhỉ Kỳ, hay Trung Hoa cũng thế.

Aurel Popesco cương quyết:

– Nếu vậy, ngài cho phép tôi kiếu lui.

Và hắn rời văn phòng, sau khi đã đứng nghiêm chào.

Roshu nhìn qua cửa sổ và suy nghĩ lung lắm. Bỗng nhiên ông ta quay về phía Pillat :

– Anh hẹn với ai tối nay? Bà nào đang đợi anh đấy?

– Một người quen. Vâng, một nữ nghệ sĩ. Chúng tôi phải can thiệp ở sở cảnh sát về trường hợp người đầy tớ của cô ấy.

Trước mặt Roshu, khó lòng ai có thể nói láo được. Cho nên khi Roshu hỏi:

– Do Thái ư?

Thì Pillat đành nói thật:

– Dạ thưa ngài, cô ấy là người Do Thái.

Nói xong Pillat tái mặt, Roshu khuyên:

– Thế thì nói với cô ấy trốn đi cho rồi. Đêm nay, đêm nay tụi loạn trí đó sẽ giết hết người Do Thái. Anh nói với cô ấy là anh không đến nơi đã hẹn được, nhưng cô ấy phải trốn đi, bởi vì đêm nay sẽ có một cuộc thanh trừng. Pillat, mỗi lúc anh cứu được người nào thì anh hãy cứu đi, bởi vì thế anh mới đến trước mặt Chúa, đến nơi phán xét sau cùng và nói được rằng: “Con là một con người, thưa ngài, con là một con người đích thực”. Nếu không, anh không thể nào nói được như thế. Bây giờ anh bảo tài xế đến báo tin cho cô ấy đi.

Pillat không biết phải làm thế nào, nhưng chàng cũng tuân lệnh. Một giờ sau, người tài xế trở về và cho biết:

Eddy Thall đã rời thủ đô để đi Palestine trên chuyến tàu khởi hành lúc 5 giờ sáng: Cô ấy không để lại tin tức cho ai cả.

Đã có tiếng súng nổ ngoài đường, tiếng chiến xa đi qua. Roshu tự nhủ: “Ngay cả những tên chạy giấy cũng được trang bị vũ khí. Chúng ta phải tránh không cho đổ máu mới được”.

XXIV

Max Reingold đã hoàn tất chương trình. Ông đã đóng cửa nhà của Eddy Thall và trả lại chìa khóa. Ông chỉ tiếc là Pillat đã không đến để cùng đi thăm Tinka Neva, nhưng dù sao ông cũng có ý đợi Pillat, nghĩa là ông đã làm tròn phận sự. Bây giờ ông đang ở ngoài đường và tìm cách ra ga cho kịp chuyến tàu đi Constantza khởi hành vào lúc 9 giờ. Ông tìm một chiếc taxi, nhưng được người ta cho hay là cách mạng bùng nổ, Taxi không được phép chạy. Cả tàu điện cũng thế. Chúng tôi đang ở trong tình trạng báo động.

Max đành đi bộ ra ga. Ông rất hài lòng vì hành lý ông đã gởi từ ban sáng trên chuyến tàu mà Eddy, Rebecca và Esther đã đi. Chỉ có một cái cặp nhỏ trên tay thôi, nên bây giờ Max có thể thong thả đi ra ga xe lửa.

Chỉ trong 15 phút nữa mình sẽ đến sân ga ở miền Bắc.» Vừa đi vừa nghĩ như thế, Max không cần bước vội, dù ông thừa biết là đảng «Thiên thần của lửa» có ý định khởi xướng cuộc cách mạng đổ máu đêm nay. Cả thành phố đều biết điều đó. Nhưng ở đâu cũng có lính, quân cảnh và cảnh sát. Tướng Roshu đã biết tôn trọng luật lệ, quân đội trung thành với ông ta. Max yên lòng bước đi và hài lòng vì đã ra đi kịp đêm nay.

«Ngày mai có thể là chậm mất. Đêm nay tướng Roshu làm chủ tình thế, điều nầy rõ ràng quá. Nhưng ngày mai biết đâu được? Ngày mai quân phản loạn có thể thắng thế. Mà ngày mai thì mình đã lênh đênh trên mặt biển rồi. Nghĩ thế mà Max mỉm cười.

Nhưng bỗng có một giọng nói trẻ trung:

– Do Thái?

Rồi một thanh niên khác rọi đèn vào mặt ông làm nỗi bật hẳn cái lỗ mũi Do Thái, đầu tóc màu hung và những đốm lấm tấm màu hung trên khuôn mặt ông.

Max muốn đưa tấm vé xe lửa ra. Ông muốn nói với họ là ông sẽ lên xe lửa, sẽ rời xứ nầy ngày mai. Ông muốn chỉ cho họ xem tấm vé lên tàu thủy, giấy phép rời Lỗ Ma Ni. Cái gì ông cũng có trong túi cả. Nhưng mà không có thì giờ để nói một câu nào cả.

Một người thanh niên đã bảo với người cầm đèn bấm:

– Nào mang nó đi, Do Thái chắc chắn rồi đó.

Nhiều thanh niên mang súng ống hẳn hoi vây quanh Max. Bên lề đường một chiếc cam nhông đã đậu sẵn. Rồi Max có cảm tưởng bị đẩy đi. Ông phải leo lên xe. Không còn lý do nào để kháng cự hay năn nỉ. Xe cam nhông đầy nhóc; lúc đã vào bên trong Max tưởng như mình đang bị đè bẹp ra. Max vẫn thầm nhủ: Không có hoàn cảnh nào mà không có lối thoát nếu người ta bình tĩnh. Giữ được bình tĩnh mình sẽ ra khỏi đây và đi chuyến tàu 9 giờ. Nếu mình biết giữ bình tĩnh, nếu mình nhanh trí một chút, mình đã nói với họ là mình không phải Do Thái. Nhưng đã lỡ rồi phải tự lo liệu đi thì vừa. Muốn thế thì phải bình tĩnh. Nghĩ như thế, Max qui tu hết cả ý chí để tạo cơ hội, bắt đầu bằng cách thở dài hơi, ông dang hai tay ra để thở mạnh hơn nữa. Có tiếng súng nổ gần xe cam nhông, và có tiếng la «đồ sát nhân, sát nhân», tiếp theo là tiếng rơi bịch xuống đất của một xác người gần bánh xe. Max nghĩ đến chuyện khác. Ông phải quên đi tất cả những gì đang xảy ra chung quanh để không nghe tiếng rên xiết, tiếng van xin, vì tất cả thứ đó làm ông ta mất tinh thần. Rồi ông thầm nghĩ:

– Điều chính yếu là mình phải tự xem như là kẻ ngoại cuộc với hoàn cảnh nầy.

Max cho là điều trước tiên cần yếu để thoát khỏi sự khó khăn đó là phải có một kế hoạch. Vâng một kế hoạch kỹ lưỡng. Ông nhìn chung quanh và tìm cách tiến về phía cửa xe. Nhưng những người khác lại vừa bị vứt lên xe, ông ta lại bị thối lui. Tất cả người chung quanh ông đều lo sợ và nhốn nháo cả lên. Chỉ có Max vẫn chậm rãi tiến tới, từng ly một, về phía cửa bằng cách lách qua những thân thể chen chúc. Ngay lúc đó, xe bắt đầu chạy hết tốc lực. Ở cửa lên xuống đã có hai thanh niên ôm tiểu liên, nhưng Max biết rằng nếu đã đến gần cửa xe thì lúc nào may mắn cũng có thể đến với ông được cả. Đó là giai đoạn đầu tiên của kế hoạch.

Khu vực xe vừa đi ngang qua nằm trong tay bọn phản loạn, súng nổ, nhà cháy. Qua ngã tư, người ta nghe tiếng rên than. Những khẩu tiểu liên khạc từng loạt điếc tai.

«Năm 1916, mình đã đánh giặc trong các giao thông hào. Súng nổ không làm cho mình sợ hãi được. Max tự nhủ như vậy và lợi dụng khi xe chồng chềnh để tiến về phía cửa xe. Lúc không còn nghe thấy tiếng súng nữa thì xe đã ra khỏi thành phố. Max muốn định vị trí và chỉ một lúc sau ông đã biết «Mình đang bị đưa đi về phía trại quân lao Jilava. Nhưng trước khi đến đó, phải đi ngang qua một khu rừng. Chừng 500 thước rừng rậm. Ở đó mình có thể thoát thân được bằng cách nhảy ra khỏi xe. Sau đó mình sẽ lên tàu đi Constantza bằng ga Jilava và mình sẽ đến đúng giờ».

Max đã len đến cửa. Xe đang ở ngay trong rừng. Bỗng có ánh đèn pha quẹt ngang và có người ra lệnh:

– Dừng lại.

Chiếc xe thắng gấp. Một đám thanh niên mặt đồng phục vây quanh, một giọng hô to:

– Xuống hết đi.

Rồi nhiều tiếng quát khác:

– Xuống, xuống.

Max xuống trước tiên. Trời tối như mực. Max tránh những ánh đèn chói mắt. Nhìn vào bức tường nhà lao ngay trước mắt. Phía sau chiếc xe là rừng rậm. Max biết rõ khu rừng này lắm. Trời đang mưa lâm râm, dưới chân đất sền sệt ướt. Max nhìn hàng cây, nhìn những thanh niên mang đuốc, và những người Do Tháicòng lùng bước xuống xe.

Max cố nhìn tất cả hình ảnh đó thật khách quan như lúc đi xem chiếu bóng. «Cần hành động đúng lúc như hồi ở Bourse – ừ, như hồi ở Bourse, bình tĩnh, kiên nhẫn.» Max cố tạo lấy can đảm cho mình.

Bên phải, bên trái đều có những người đang bước xuống xe. Toàn là người và người. Max cầm chiếc mũ đã bị đè bẹp lúc ở trên xe, thắt lại cà vạt, gài nút áo choàng, cố để đừng làm bẩn đôi giày trong đám cỏ cao ẩm ướt. Không thể làm bẩn chúng được. Max cần giữ một bộ đồ chỉnh tề và đứng đắn bởi vì như thế rất cần cho kế hoạch trốn thoát của ông. Những người Do Tháilúc xuống xe đều lom khom vì sợ hãi. Max đứng thẳng người, ngang nhiên bỏ tay vào túi quần. Ông không muốn giống mấy người kia khom lưng lại vì sợ hãi. Ông thầm nhủ: «Max, nhìn xem, một lát nữa thôi, giờ hành động đã điểm». Chung quanh ông là bóng tôi và mưa phùn. Trong bóng tối, điều làm ông phân biệt được tù nhân và các đảng viên là tù nhân thì khom lưng, các đảng viên «Thiên thần của lửa» thì đứng thẳng người.

Max bình tĩnh đứng thẳng người xong bước ra khỏi hàng. «Trước tiên cần đứng thẳng và mình đã làm được rồi, sau đó phải có can đảm bước từ nhóm người còng lưng sang nhóm những người đứng thẳng.»

Nghĩ thế, Max bước một bước. Ông đã xa hẳn những người khom lưng. Nhưng ngay lúc đó một báng súng đập vào ngực ông. Ông thối lui và gấp người lại, phải trở lại hàng ngũ những người khom lưng và Max lại càng khom lưng hơn tất cả những người khác nữa. Cơn đau như xé ngực kéo đến, nhưng ông cũng đứng thẳng người lên. «Nếu mình đứng thẳng được tức là mình sẽ được cứu thoát.» Và ông ta làm được, đứng thẳng được. Nhưng cơn đau lại kéo đến, Max phải dựa vào tường, muốn nghỉ một chốc để lấy lại sức. Bức tường lành lạnh làm ông dễ chịu.

– Nhanh lên.

Giọng nói của viên chỉ huy vang lên từ xa. Ông ta đến gần, lũ thanh niên cầm đuốc vây quanh.

Max nghĩ thầm: «Mình phải đứng vào hàng ngũ của họ, phải bước qua nhóm của viên chỉ huy, sau đó mình sẽ thoát thân… Mình sẽ biến vào rừng. Khi đã đứng được vào nhóm của viên chỉ huy thì dễ dàng quá rồi. Nhưng muốn như thế mình phải cố gắng đứng thẳng người như họ. Phía sau họ là khu rừng rậm, qua khu rừng mình sẽ đến đường cái, đi bộ chừng năm phút mình sẽ đến ga Jilava. Đến đó mình sẽ lên xe lửa đi Constantza, rồi từ Constantza, mình xuống tàu thủy đi Israel».

Viên chỉ huy lại ra lệnh:

– Nhanh lên.

Trong hàng ngũ những người đứng thẳng mà Max muốn nhập bọn, đã có tiếng lắp đạn vào súng. Sau đó, có tiếng thử cò súng. Max biết rõ những âm thanh đó. Ông đã từng đánh giặc qua các giao thông hào. Ông vẫn đứng thẳng. Rồi bước một bước ngắn. Chỉ cần có hai thước để bước sang nhóm người đứng thẳng. Trời lại tối như mực. Vấn đề thật giản dị, không nên mất một phút nào cả. Ông ráng bước thêm một bước nữa, nhưng ngay lúc đó, những thanh niên theo lệnh trên lại đứng xa ra vài thước. Giữa những người cầm khí giới và những người khom lưng dựa vào tường còn những hơn mười thước. Trong khoảng cách mười thước đó, không có một bóng người. Họ hoàn toàn cách xa nhau. Max biết rõ là bây giờ không thể qua nhóm bên kia được nữa. Cơ hội đã qua mất rồi, ông phải thay đổi kế hoạch. Rồi như một con mèo, Max nằm nhẹ nhàng xuống đất ấm. Ông biết là tụi chúng sắp bắn, ông phải đào một hố ẩn núp, như ông đã từng làm thế nhiều lần hồi đệ nhất thế chiến 1914. Vâng, đào một hố cá nhân, nhanh lên mới được. Max bắt đầu đào thật nhanh với hai tay mang găng, và tự nhủ:

– Cứ bình tĩnh và thản nhiên. Như thế mình sẽ thoát khỏi bất cứ đường cùng nào.

Và ông tiếp tục dùng tay đào đất. Đạn đã bắt đầu nổ, viên nầy đến viên khác. Max đào đất thật nhanh. Tất cả tuỳ thuộc vào tốc độ nên ông đào bằng cả hai tay, đất lại rất mềm và dễ đào vô cùng. Lúc đó, Max đã ấn cái đầu xuống hố được rồi, và ông đào càng lúc càng nhanh, đào trong tuyệt vọng. Đạn réo trên đầu, nổ phía bức tường và dội ngược trở lại. Max lại thầm nhủ: Mình phải làm chủ tình thế, đêm nay mình sẽ đến Constantza, vợ và con gái đang đợi mình, sau đó, ngày mai mình sẽ xuống tàu thủy đi Israel».

Mấy ngón tay của Max ấn tuyệt vọng vào lòng đất ẩm. Lũ quỷ vẫn tiếp tục bắn. Tiếng la, tiếng thét không dứt. Tiếng rên rỉ, tiếng khóc thảm thiết như chó tru. Max nhất định không để mình bị lôi cuốn vào cái gì đang xảy ra chung quanh, ông chỉ theo kế hoạch của mình thôi, thực hiện kế hoạch và làm chủ tình thế.

Max giấu đầu xuống hố. Ông nghĩ đến sân ga, đến Constantza, đến cuộc hành trình đi Israel, chỉ nghĩ đến những điều làm ông phấn khởi, làm ông nắm vững tình thế, giữ ông ở ngoài sự khủng hoảng, sự giết chóc và tiếng kêu than.

Vì thế ông nhớ đến hý viện Eddy, đến thủ đô Tel Aviv, đến mảnh đất hứa hẹn… Nhờ thế mà Max tiếp tục đào đất thật nhanh, với tất cả sức lực, với nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Đó là những gì ông đã làm, để khỏi đầu hàng hoàn cảnh. Và ngay cả lúc ông bị đạn xuyên qua người, lúc mà đạn xuyên vào bộ óc còn nóng hổi của ông, cũng không hề có trong khói ốc đó một sự sợ hãi, một sự cuống cuồng nào mà chỉ là một nỗi ao ước duy nhất là không thể đầu hàng hoàn cảnh, niềm ao ước đến Constantza đêm đó, nơi mà những người thân nhất đời đang chờ đợi ông: Rebecca, vợ ông, mập mạp và tốt bụng; Esther, con gái ông, đa cảm và xinh xắn; Eddy Thall, nghệ sĩ tên tuổi của ông, hai chiếc tàu Adassa và Euxin, biển Đen và Mảnh đất hứa hẹn của Palestine.

Và Max chết như thế đó. Chết mà không hề nghĩ đến sự chết. Cũng không chấp nhận nó nữa. Tay, đầu, ngực áp lên đất ẩm và nghĩ đến mảnh đất quê hương.

Mấy tên lính tiếp tục bắn trong vài phút nữa. Sau đó chúng ngưng hẳn. Viên chỉ huy ra lệnh:

– Vứt xác chết lên xe hết đi.

Max bây giờ không còn nghe được tiếng ra lệnh đó nữa. Giọng của viên chỉ huy đã khàn. Trời mưa lạnh đã làm khan giọng viên chỉ huy.

Lũ thanh niên mang súng lên vai, nòng súng còn nóng hổi. Cứ hai đứa mang một xác chết và vứt lên xe như những khúc gỗ được vứt lên những chiếc cam nhông có đèn pha sáng quắt và máy đã nổ sẵn. Có tiếng ra lệnh:

– Chạy đi.

Những chiếc xe tiến lên, dọc theo bờ tường, đèn pha để sáng. Một toán thanh niên cầm đuốc xem kỹ thử có xác chết nào còn sót lại hay không.

Viên tài xế lái chiếc xe đầu tiên, chiếc xe có xác của Max Reingold hỏi:

– Chở đi đâu bây giờ đây?

– Đến nhà tế sinh. Các anh vứt họ vào nhà tế sinh.

Mấy chiếc xe chạy về hướng nhà tế sinh, chầm chậm, vì đất quá trơn, bánh xe có thể trượt dễ dàng.

Từ thành phố, nhiều chiếc xe khác tiến về Jilava, chở đầy những người còn sống, chạy ngược chiều với những chiếc xe chở đầy những xác chết.

Cứ như thế suốt đêm. Những chiếc xe đầy người sống đi vào khu rừng rậm. Và những chiếc xe chở người chết trở về lò sát sinh.

Người ta chất xác chết vào sân xi măng, chồng lên nhau cho đến lúc nào sân đầy xác. Vào khoảng 3 giờ sáng, một viên chỉ huy đi thị sát. Hắn nhìn xác chết của những người Do Tháichồng lên nhau trong sân nhà tế sinh. Hắn mỉm cười sung sướng, và hỏi:

– Ai đã ra lệnh đem họ lại đây?

Có tiếng trả lời ngắn ngủi.

– Lệnh trên.

– Nhưng tại sao lại đem đến đây, hợp lý ra thì phải đem lại nhà xác hay nghĩa địa chứ. «Không ai biết lệnh xuất phát từ đâu? Hắn tự hỏi như thế.» Họ ở đây thì các anh cởi hết áo quần họ đi.

Lại thành lập từng toán. Người chết bị lột trần truồng, trần truồng trên đất lạnh. Cảnh tượng thật khủng khiếp nhưng chẳng ai buồn để ý đến. Lũ thanh niên đang lo cởi áo quần người chết, một người hỏi bâng quơ:

– Có cần treo họ lên móc không nhỉ?

Thế là người ta móc xác chết lên và treo vào móc. Những xác chết lại nhiều hơn số móc. Trong nhà tế sinh, người ta chỉ giết chừng hàng trăm súc vật trong một ngày, đủ thịt cho cả thành phố dùng. Mà bây giờ lại giết cả hàng ngàn người Do Tháilàm sao số móc cho đủ được. Vì thế chỉ có vài trăm xác bị treo vào móc mà thôi. Trên bụng, lưng và ngực của mọi xác đều có đóng dấu như người ta có thói quen đóng dấu vào các súc vật bị giết theo tục lệ Do Thái. Và những xác chết cũng được làm như thế để chứng tỏ rằng họ là người Do Thái.

XXV

Sáng thứ bảy. Sau đêm cách mạng, tướng Roshu cho gọi Pillat vào để dặn dò công việc:

– Anh qua ben sứ quán Đức cho Nam tước Killinger biết là chúng ta đã dẹp được cuộc nổi loạn. Có hàng ngàn người bị ám sát. Những tên sát nhân do Aurel Popesco cầm đầu, đã ăn mặc theo đồng phục của sĩ quan Đức, nên bây giờ chỉ có trốn qua Đức mà thôi. Tôi yêu cầu sứ quán Đức giao họ lại cho tôi bắt giam để tôi có thể xét xử, dù chúng nó có mặc hay không mặc đồng phục do tòa đại sứ Đức cung cấp.

Pillat vừa nghe vừa ghi chép. Chàng vừa thức trắng đêm qua nên giờ quá mệt mỏi. Roshu dặn tiếp:

– Ở tòa đại sứ ra, anh nhớ ghé qua nhà tế sinh thành phố. Có hàng ngàn xác Do Tháiở đó. Anh nhớ nhận diện và lập biên bản. Chụp hình quay phim cảnh man rợ đó để mình có bằng chứng kết án tụi sát nhân. Sau đó anh đưa người chết về với gia đình họ để chôn cất y theo luật lệ đòi hỏi.

Pillat vâng lời, đến tòa đại sứ Đức, xong trở về nhà tế sinh. Các con đường chung quanh đó đầy người, quân cảnh không có ai đến gần cả. Pillat nhìn những xác chết trần truồng nằm chết chồng chất lên nhau trên sân xi măng, một số xác chết được treo lên móc thành bốn dãy, chàng bảo:

– Hạ xác chết xuống đất hết, và chụp hình nhanh lên.

Chàng bỗng để ý đến xác chết đầu tiên. Đó là xác một người đàn ông trạc 50 tuổi, trần truồng, mang ba khuôn dấu trên ngực, bụng và lưng. Một viên sĩ quan quân cảnh bảo với Pillat:

– Chúng tôi bắt đầu nhận diện đây.

Rồi chỉ cái xác chết mà Pillat đang khám và bảo:

– Ví dụ người này dễ nhận diện lắm, vì chúng tôi thấy trong bóp của ông có một vé xe lửa hạng nhì đi Constantza, một vé tàu thủy trên chiếc Adassa đi Tel Aviv và giấy phép rời Lỗ Ma Ni. Tất cả giấy tờ đều hợp lệ cả. Đáng lẽ ông ta ra đi. Thế mà ông ta lại nằm đây. Cuộc đời thật là lạ lùng, ông tên Max Reingold.

Pillat khiếp đảm nhìn xác chết. Trên đời, có nhiều xúc động làm người ta mù, điếc, làm cho người ta trở thành tượng đá. Pillat đang ở trong trạng thái đó, và đăm đăm nhìn xác Max bị treo trên móc thịt nhà tế sinh, trần truồng với những khuôn dấu đóng trên da thịt. Trong lúc đó, viên quân cảnh hỏi:

– Chúng tôi có thể trả ông ấy về cho gia đình không? Vì đã nhận diện được, chúng tôi sẽ lập biên bản và trả về cho gia đình, nếu ông cho phép điều đó.

Pillat chỉ nghe được câu: «Nếu ông cho phép điều đó», rồi vẫn đăm đăm nhìn xác Max, trong khi viên quân cảnh lập lại câu hỏi:

– Ông có cho phép chúng tôi trả người nầy về cho gia đình không? Pillat gật đầu đồng ý và bảo:

– Tôi sẽ yêu cầu người ta gởi một quan tòa khác thay tôi. Tôi mệt đuối sức rồi. Đêm qua, tôi không hề chợp mắt được tí nào.

Sau đó, Pillat rời nhà tế sinh, thất thểu.

XXVI

Rebecca, Esther và Eddy Thall đến Constantza giữa trưa trời nắng và mặt biển trong xanh, Eddy bảo:

– Chúng mình phải đến xem tàu trước tiên đã.

Ba người đàn bà cùng đi xuống hải cảng. Chỉ toàn là tàu chiến, trong đó nổi bật hẳn hai chiếc vừa mới sơn màu xám mang tên viết bằng màu đen: Adassa và Euxin.

Eddy hồi hộp, đúng là tàu của nàng sắp đi rồi. Sáng mai tàu sẽ nhổ neo đi Israel. Họ không có quyền vào hẳn trong hải cảng, nhưng ở đằng xa họ có thể trông thấy đoàn thủy thủ chất bao nhiêu thùng hành lý lên Adassa và Euxin. Họ biết là hành lý của họ sẽ được chất lên tàu Adassa. Rebecca dặn dò:

– Đừng quên lời dặn của Max. Chúng ta đi ăn trưa xong phải về nằm nghỉ ngay. Chuyến đi lâu lắm vì Israel còn xa. Chúng ta phải nghỉ dưỡng sức.

Ba người đàn bà muốn nán lại nhìn hai chiếc tàu sắp chở họ đi, nhưng phải đành trở về khách sạn, ăn trưa và ngủ. Qua khung cửa sổ, họ nhìn thấy hải cảng. Adassa và Euxin quá nhỏ. Đó là hai chiếc tàu cũ được sữa lại, để dành chở 1500 người Do Tháisắp xuống tàu ra đi. Thủy thủ đoàn cũng là người Do Tháicả, để số người đi được đông hơn. Thuyền trưởng cũng là Do Tháinốt. Tối đến, Eddy, Rebecca, Eddy, ra hải cảng ngắm mãi hai chiếc tàu mà không biết ngán, cũng như tất cả những người Do Tháikhác. Sau đó họ ra ga xe lửa để đón Max, đến sớm trước cả hai tiếng đồng hồ nên đành phải đi bách bộ trong sân ga để chờ chuyến tàu từ Bucarest đến. Nhưng lúc tàu đến nhìn mặt từng hành khách, họ không tìm thấy Max ở đâu cả.

Rebecca lo lắng:

– Max không bao giờ trễ tàu cả. Chúng tôi lấy nhau đã 24 năm nay, bao giờ Max cũng đúng giờ. Hay có thể Max đã đến mà chúng ta không thấy.

Họ lại trở về khách sạn, Max vẫn chưa đến. Rebecca muốn gọi điện thoại về Bucarest, nhưng điện thoại viên cho biết:

– Đường điện thoại liên lạc với thủ đô đã bị cắt đứt, vì đang có cách mạng ở Bucarest. Hỏi về những chuyến tàu sắp đến, thì được trả lời là không có tàu nào được phép rời Bucarest đêm nay. Nhưng ngày mai giao thông lại được tái lập như thường lệ.

Ba người đàn bà cố giữ bình tĩnh. Họ phải trở về khách sạn lúc 3 giờ sáng và kiên nhẫn chờ ngày mai. Vừa tảng sáng, Rebecca lại ra ga. Bảng thông cáo cho biết tàu từ Bucarest sẽ đến lúc 7 giờ. Họ trở ra hải cảng. Những người Do Tháiđang đứng từng hàng đợi để lên cầu xuống tàu thủy. Máy tàu đã lên sức ép. Mọi người đang xôn xao về vụ thanh trừng Bucarest. Thế là lúc bắt đầu chuyến đi đã có lộn xộn, vì bốn người khách vắng mặt, trong số đó có Max Reingold, người đã tổ chức cuộc di cư. Vào giữa trưa máy phóng thanh trên tàu cho biết:

– Adassa đã quá cũ phải đi chậm nên phải rời hải cảng đúng ngọ. Euxin đợi chuyến xe lửa 5 giờ sáng để đón những hành khách còn sót. Sau đó Euxin sẽ bắt kịp Adassa ở ngoài khơi. Rebecca mừng rỡ bảo với Eddy :

– Thế thì tốt quá. Hành lý của chúng ta để cả trên chiếc Adassa, Bác và Esther sẽ đi trước. Còn cô ở lại để chờ Max cùng đi luôn thể trên chiếc Euxin. Nhờ cô bảo với Max là không có gì đáng ngại cho bác và Esther cả, Max đừng lo lắng gì. Bác sẽ coi sóc hành lý. Cô đừng để Max đi một mình, khoảng tối hai chiếc tàu sẽ gặp nhau ngoài khơi, chúng mình lại cùng ở chung.

Eddy bước xuống, nàng vẫy khăn từ giã lúc Adassa từ từ rời hải cảng. Tất cả đều khóc và làm dấu tiễn biệt nhau.

Euxin vẫn buông neo chờ chuyến xe lửa từ Bucarest đến. Eddy ra ga đợi. Nhưng Max vẫn không đến. Trong số bốn người vắng mặt, không một ai đến cả.

Báo chí, đài phát thanh loan báo những tin tức khủng khiếp về cuộc thanh trừng ở Bucarest. Eddy sợ hãi, nàng phải trở về Euxin. Sự lo lắng đang bao trùm trên tàu. Máy tàu Euxin lại hơi yếu, loa phóng thanh lại loan báo «Euxin sẽ không nhổ neo tối nay». Eddy Thall phải ngủ ở một chiếc võng trên cầu tàu, suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, người ta cố để sửa chữa máy tàu, thế mà bốn người vắng mặt vẫn không thấy đến.

Sáng đến, thêm một tin tức mới cho biết Adassa đã bị đắm. Euxin không đi được nữa, vì theo lệnh chính quyền, không một chiếc tàu nào chở người Do Tháiđược phép rời bến.

XXVII

Rebecca, Esther cùng nhìn ra biển, hy vọng sẽ trông thấy chiếc Euxin. Biển đang động và sóng lớn. Hành khách trốn hết vào phòng. Vợ của Max vẫn đứng trên bong. Esther thì đang say sóng như đa số hành khách khác. 800 người Do Tháiđang đi trên chiếc Adassa, chồng chất lên nhau. Người đau cũng không nằm được vì phòng quá chật, mà đứng trên bong cũng không được vì sóng quá to. Adassa kêu răng rắc và tiến thật chậm. Khoảng 9 giờ tối, một ông già chịu không nổi lăn ra chết lại càng tăng sự hỗn loạn trong tàu. Hành khách kết tội thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm và không biết duy trì trật tự trên tàu. Có rất nhiều Y sĩ trên tàu nhưng cũng chẳng làm gì được trước các con bệnh say sóng; khoảng nửa đêm lại thêm một người chết. Xác chết được đặt lên bong tàu. Cho đến viên thuyền trưởng cũng say sóng. Mọi việc đều do viên kỹ sư điện khí lo hết; đó là một người còn trẻ tuổi và đầy cương nghị. Ông ta ra lệnh vứt hai xác chết xuống bể và khuyên mọi người bình tĩnh:

– Ngày mai chúng ta sẽ đến Istamboul. Ai đau sẽ được đưa vào bệnh viện, chúng ta sẽ tổ chức chuyến đi lại theo phương thức khác, vì bây giờ có nhiều hành khách trên tàu quá.

Trật tự có vẻ được vãn hồi, nhưng cơn bão tăng dần lên. Khoảng hai giờ sáng, Adassa có vẻ sắp vỡ, vì sóng đánh mạnh quá. Người ta đành phải nhốt hành khách vào phòng. Vì thế một người đàn bà nổi điên, thế là tốn một căn phòng để nhốt riêng bà ấy ra. Nhiều tiếng khóc la, con nít, người lớn, làm hành khách mất tinh thần.

Trước khi trời sáng, trong lúc bão tố không ngớt hoành hành thì máy tàu đứng hẳn. Trong cảnh chen lấn nhau, một số hành khách cầu nguyện, số khác ngồi than vãn, có kẻ thì nguyền rủa ban tổ chức chuyến đi. Viên thuyền trưởng mới của Adassa kêu cứu SOS và tuyên bố với hành khách:

– Ai cố chịu đựng đến sáng sẽ được cứu sống. Quý vị cần giữ gìn sức lực, giữ vững tinh thần. Chúng ta sẽ được cứu thoát.

Nước đã tràn vào tàu. Nhiều toán đặc biệt cho tát nước, nhưng chẳng thấm vào đâu, chỉ mỗi giờ một nhọc nhằn thêm mà thôi.

Máy phóng thanh lại loan tin:

– Ai gây ra hỗn loạn sẽ bị nhốt, cứ yên trí là chúng ta sẽ được cứu thoát, vì điện đài làm việc không ngừng. Adassa chưa bị hư hỏng gì, nhưng bão lớn quá. Quý vị cố giữ bình tĩnh.

Vào lúc 5 giờ sáng, máy phóng thanh lại yêu cầu hành khách giữ bình tĩnh, bờ biển không còn xa bao nhiêu, Adassa đã tiếp tục chạy được dù một máy thôi. Tàu đang tiến dần vô đất liền.

Hành khách đang đau đớn vì sợ hãi, vì sóng biển và tuyệt vọng đã ngỡ thấy đất liền trước mắt dù mắt họ đang nhắm kín. Tuy không phải là «Mảnh đất hứa hẹn» nhưng vẫn là đất liền, hy vọng sống sót bừng lên như một đám cháy. Họ bắt đầu hát các bài thánh ca, những bài hát tán dương uy quyền của đấng Toàn năng.

Máy phóng thanh lại loan báo:

– Hai ca nô cứu nguy đang đến gần. Quý vị ráng giữ bình tĩnh.

Động cơ thứ hai đã nổ lại nhưng đang còn yếu, cơn bão thì vẫn chưa dịu. Nhưng niềm hy vọng đã thắng được mệt mỏi và bệnh say sóng. Hai chiếc xà lúp chở cảnh sát và nhân viên hải cảng đang tiến dần về chiếc Adassa trước khi trời sáng, và một câu hỏi trước tiên qua loa phóng thanh:

– Tàu các ông thuộc quốc gia nào?

Thuyền trưởng Adassa trả lời:

– Chúng tôi đang đi Palestine. Tàu chúng tôi bị tắt máy, hành khách lại quá đông, nhiều người đã ngã bệnh, hỗn loạn hết sức.

Từ phía chiếc xà lúp trắng, lại có câu hỏi như cũ :

– Chúng tôi hỏi tàu các ông thuộc quốc gia nào?

– Chúng tôi là những người Do Tháiđi lánh nạn.

– Thế thì, một tàu trục sẽ đến, quí vị cứ giữ bình tĩnh, giấy tờ của tàu đâu hết?

Thuyền trưởng Adassa nói như hét lên:

– Các ông hãy lấy bớt số hành khách lên ca nô, và chở hộ số bệnh nhân trong lúc chúng tôi chờ tàu trục đến. Nhẹ bớt đi, Adassa chúng tôi cũng có thể chầm chậm tiến vào bờ được.

Một viên chức trên chiếc xà lúp lại hỏi:

– Có bệnh dịch nào xảy ra trên tàu các ông không?

– Tất cả chúng tôi đều đang bệnh và say sóng cả. Ông già, đàn bà và trẻ con cần được mang đi càng sớm càng tốt. Họ không thể chịu đựng thêm nữa.

– Các ông cứ bình tĩnh. Lát nữa thôi, sẽ có tàu cấp cứu đến. Các ông bảo là tàu không tổn hại gì nhiều, vậy cứ bình tĩnh chờ xem.

Thế rồi, hai chiếc xà lúp rẻ sóng biến mất.

Lúc trời sáng, lại có thêm hai chiếc tàu nhỏ xuất hiện mang theo đầy đủ nhân viên y khoa. Họ lên bong tàu, vào tận các phòng, phân phát rượu «Rhum», thuốc lá, nước chanh. Họ mang theo những hộp thiếc sơn trắng với đầy đủ thuốc men, mọi hành khách đều được săn sóc chu đáo suốt cả buổi sáng.

Adassa vẫn từ từ tiến một cách mệt nhọc. Đất liền không gần như người ta loan báo hồi đêm. Tuy nhiên tàu cũng không còn xa bờ bao nhiêu. Giữa trưa lại có một chiếc tàu nhỏ khác mang ký giả và đại diện các cường quốc lên tàu. Như thế là số phận của Adassa đã được biết đến. Người ta bàn tán về sự man rợ của Đức quốc xã đã vứt hơn tám trăm người trên một chiếc tàu quá nhỏ, vừa đủ để chở chừng 100 người thôi, thiếu thủy thủ đoàn, thiếu phương tiện cứu cấp.

Mấy người đàn bà mặc đồng phục màu trắng đưa cho hành khách trên tàu những dây thắc lưng cấp cứu mà họ bắt hành khách phải buộc lại và xem kỹ thử dây đã được buộc chặt chưa. Mọi hành khách nhận thêm một cây đèn gắn trên ngực nhờ một sợi dây. Người ta giải thích:

– Đó là những phương tiện tối tân để cấp cứu. Nếu tàu chìm vào ban đêm, nhờ những dây buộc có đèn nầy tàu cấp cứu có thể thấy rõ nạn nhân và đến vớt lên dễ dàng.

Viên thuyền trưởng Adassa hỏi:

– Độ mấy giờ thì tàu trục sẽ đến đưa chúng tôi vào bờ? Chúng tôi đang chen lấn nhau quá sá mà sóng thì…

– Đó là một tội khả ố nhất mà tôi chứng kiến trên đời. Một người Anh bảo thế, gần như run lên vì giận. Rồi tiếp tục:

– Để cho 800 người rời hải cảng trên một chiếc tàu nhỏ bé, cũ kỹ không máy móc, không phương tiện cấp cứu… Thế thì giết họ đi cho rồi. Đây là một cuộc sát nhân tập thể. Một chiếc tàu như thế này, thật không tôn trọng luật lệ quốc tế về hàng hải, không có thủy thủ đoàn giỏi, không có thuyền trưởng… Chính phủ Lỗ Ma Ni sẽ bị truy tố trước tòa án quốc tế về tội quái quỉ này đối với nhân loại.

Thân hình cao và mảnh khảnh của người Anh run lên vì giận dữ. Một luật sư Do Tháiđến gần ông ta và hỏi:

– Từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Palestine cần bao nhiêu ngày?

– Nhưng ông có giấy tờ hợp lệ để đi Palestine không?

Một ông già trả lời ngay cho người Anh vừa hỏi câu đó:

– Chúng tôi đều là Do Tháicả. Người Do Thái không cần giấy tờ để vào chính xứ sở của họ, mà Palestine là chính xứ sở của Do Thái cơ mà.

Người Anh nhìn vào mặt của ông già. Việc Do Thái trở về Palestine là ngược với quyền lợi của đế quốc Anh, nên điều ông già vừa nói là một thách thức lớn. Người Anh bèn thay đổi câu chuyện :

– Dân tộc như Lỗ Ma Ni chưa đủ khả năng để tự trị. Một nước man rợ đến thế này cần được sống dưới chế độ bảo hộ. Sứ mạng của các nước văn minh là kiểm soát những quốc gia man rợ.

Một người tóc vàng của sở báo chí Đức quốc phụ họa thêm:

– Đúng đấy, đó là bổn phận của các nước có văn hóa và văn minh. Một người Do Thái có bộ râu quai hàm lớn vừa nói vừa khóc:

– Tôi không muốn chết trước khi đụng được «Mảnh đất hứa hẹn» dù chỉ là đụng bằng đầu ngón chân của tôi thôi cũng được.

Người Anh đang nhìn vào một người đàn bà đang ẵm một đứa bé tóc hung trong tay, người đàn bà năn nỉ:

– Ông có thể mang cháu qua ca nô của ông được không? Tôi thấy là cháu khó có thể sống được để chờ tàu trục đến cứu. Chờ như thế sẽ chậm mất thôi.

– Bà có thể hỏi các viên chức có thẩm quyền hơn, vì chỉ có họ mới có thẩm quyền quyết định mọi việc. Tôi chỉ là một quan sát viên vô tư có sứ mạng nhận xét các sự kiện xảy ra và báo động cho thế giới văn minh biết những hành động man rợ chưa hề có nầy.

Nhưng người đàn bà vẫn năn nỉ thêm:

– Ít nhất ông cũng có thể mang cháu bé nầy sang thuyền của ông, chỉ một mình cháu bé nầy thôi.

Nói xong bà giao đứa bé đang được bọc trong mảnh vải trắng cho người Anh. Nhưng ông ta không đỡ lấy mà lại mở máy ảnh, thản nhiên chụp hình người đàn bà đang trao đứa bé cho ông bằng đôi tay cầu khẩn, vừa chụp vừa nói:

– Thưa bà bức ảnh nầy chỉ cho thế giới Tây phương biết cái gì đã xảy ra nếu người ta đồng ý trao độc lập cho một vài dân tộc chưa qua khỏi giai đoạn man rợ. Công luận Anh và ký giả Mỹ quốc sẽ xúc động sâu xa, xúc động ghê gớm. Tôi bảo đảm với bà điều đó.

Người đàn ông cao to, tóc hung quay đi nơi khác tiếp tục chụp hình các hành khách trên tàu, luôn cả cái bong tàu. Rồi ông giận dữ bước xuống chiếc thuyền nhỏ của ông trở về bờ biển một mình. Cho đến chiều người ta mang thức ăn, thuốc men xuống tàu Adassa. Những chiếc tàu nhỏ chở các nhà ký giả, ngoại giao và y sĩ. Tất cả đều đồng ý về những hành động dã man chưa hề có nầy.

Viên công chức quan thuế an ủi: «Quý vì sẽ được cấp cứu ngay». Những chiếc máy bay quan sát theo dõi chiếc Adassa. Bão vẫn còn dữ dội. Bây giờ trời đã tối, ai cũng ngong ngóng chiếc tàu trục đến mang họ đi. Trên bong tàu đã có đèn sáng.

Trong lúc đó, bỗng có một tiếng nổ long trời như tiếng bom. Hành khách giật nẩy người lên. Chỉ một vài phút hỗn độn thôi, sau đó tàu chìm ngay, chìm trong chốc lát. Không ai ngờ như thế cả, và chỉ trong vài giây đồng hồ, Adassa đã biến khỏi mặt biển.

Đa số hành khách không thể nhảy xuống nước được, nhưng họ đều có những dây buộc cấp cứu do các cơ quan quốc tế tặng. Do đó, những hành khách Do Tháikhông chìm theo chiếc Adassa. Họ vẫn trôi lềnh bềnh trên mặt nước.

Số phận đã không cho phép họ đụng chân lên «Mảnh đất hứa hẹn» của Palestine hay mảnh đất liền ở bờ biển và đồng thời cũng ngăn cản họ không cho đụng chân thấu đất ở đáy biển. Những kẻ đắm tàu nầy không được phép gặp đất đai. Bất cứ loại đất nào. Ngay cả thứ đất ở đáy biển dành cho những người chết đuối. Số phận bắt họ phải trôi bồng bềnh xa lòng đất.

Những kẻ bị đắm tàu Adassa là những kẻ ở ngoài luật lệ chung. Họ không bị chìm xuống đáy biển vì họ đang mang những dây buộc cấp cứu, quà tặng của những đại cường quốc văn minh.

Đàn bà trẻ con, người lớn chết bồng bềnh trên bể với những chiếc đèn sáng treo trước ngực.

Lúc tàu cấp cứu đến thì chỉ còn thấy những xác chết trôi lềnh bềnh trên sóng của Biển Đen.

Như đã có thói quen của công dân một nước văn minh, thủy thủ đoàn của tàu cấp cứu tìm cách vớt những xác chết và mang họ lên những chiếc thuyền con.

Một thủy thủ đoàn Hung Gia Lợi hỏi một cách chua chát và mỉa mai:

– Tại sao người ta cho họ đèn và dây buộc lưng nhỉ? Vào tháng giêng, ở Biển Đen mọi người đắm tàu đều bị chết ngay khi rớt xuống nước vì sự khác biệt thái quá giữa nhiệt độ thân thể và nhiệt độ nước biển. Vậy cho họ dây buộc lưng là một điều kỳ dị. Hơn thế nữa, người ta lại còn tặng họ đèn, chắc là để người chết trôi trên sóng với những ngọn đèn được thắp sáng.

Trước khi sắp các xác chết vào thuyền, các thủy thủ tắt các ngọn đèn trên ngực của các nạn nhân. Và người ta thấy rằng không có nạn nhân nào quên bật đèn khi tàu đắm.

XXVIII

Những người Do Tháitrên tàu Euxin không còn được phép rời Constantza nữa. Một trại lính được thành lập ngay với đầy đủ giường nằm và bếp nấu ăn. Người ta bảo họ cứ việc chờ đợi. Một số muốn trở về Bucarest, nhưng đều bị cấm.

Các cuộc phỏng vấn bắt đầu, Eddy Thall là người được gọi tên đầu tiên. Viên sĩ quan lập biên bản, vừa đưa cho Eddy tờ cam kết cho nàng ký không trở về Lỗ Ma Ni vừa bảo với nàng :

– Cô không có quyền trở về Lỗ Ma Ni nữa.

– Tôi vẫn muốn rời xứ này bằng tàu Euxin.

– Euxin là một câu chuyện đã được xếp lại rồi. Người ta không thể nào cho phép ngần ấy người đi trên một chiếc tàu quá cũ kỹ nầy, vì như thế thật quá dã man. Cô phải chọn một giải pháp khác vậy. Cùng lắm, cô có thể xin được trở lại quốc tịch Lỗ Ma Ni. Cũng bi đát thật, nhưng đành vậy. Cô hãy nghĩ đến một lối thoát khác hợp lý hơn đi.

Eddy Thall yên lặng. Nàng thừa biết trong hoàn cảnh này nàng không còn được phép ra đi mà cũng không còn được phép ở lại nữa.

Viên sĩ quan lập biên bản gợi ý cho Eddy:

– Riêng tôi, tôi thấy cô còn hai giải pháp. Hoặc là cô xin giấy nhập nội vào một quốc gia khác, hoặc là cô xin gia nhập quốc tịch nào đó. Hai điều cô chọn một. Cô quyết định thế nào?

Eddy bảo ngay:

– Tôi sang Nga. Một ước lệ mới cho phép công dân Lỗ Ma Ni của Bessarabie được sang Nga nếu họ muốn.

Viên sĩ quan cười mỉa mai:

– Cô là cộng sản?

Eddy mím môi không trả lời. Ông ta nói tiếp:

– Đoàn xe đi Nga sẽ khởi hành ngày mai. Cô có thể đi được, vì sang Nga thì dễ lắm.

Eddy Thall rời văn phòng. Nàng nhìn ra biển. Ngày mai nàng sẽ sang Nga với chừng vài trăm người Do Thái. Nàng cũng không còn hành lý để sửa soạn nữa, bởi vì bao nhiêu hành lý nàng đều gởi cả trên chiếc Adassa.

Nàng ngồi xuống và ôm đầu. Lần đầu tiên nàng nghĩ đến người bạn của Pierre Pillat, người bạn tên Boris Bodnar trốn sang Nga vì đã thi hỏng. Eddy tự nhủ:

Ngày hôm nay mình cũng làm như anh ấy, ra đi với những lý do tương tự. Hồi còn nhỏ anh ấy đã chọc thủng mắt em và bị mọi người xem như một đứa trẻ thoái hóa cần được loại trừ. Cũng như Boris, mình không biết phải đi đâu. Đành trốn sang Nga vậy. Người Do Tháisẽ như thế nào ở đất Nga nhỉ, ai mà biết được.

Thế là Eddy Thall ngồi khóc. Phần đầu tiên của cuộc đời Do Thái của nàng đã chấm dứt. Cuốn sách đầu tiên của người Do Thái cũng chấm dứt nốt. Nàng khóc cho nàng, cho đời nàng, mắt đăm đăm nhìn mặt đại dương ngoài xa.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply