This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tên tôi xém trùng với tên cô ấy. Lằn ranh khác biệt ở m và n.
Chữ Nghiêm thì thường nhưng chữ Nghiên nghe chùng một cung bậc hiếm hoi.
Tôi ở miền Nam chưa thể nói là già tuổi nhưng cũng từng hứng chịu bao biến cố đau thương. Cô ở miền Bắc, người Hải Phòng và có mặt ở đời sau năm 1975, mốc thời gian vốn được cho là hoà bình ấm no.
Trong bảng xếp hàng của mẫu tự, m đứng sát bên n, nhưng Nghiêm và Nghiên rõ là tuy gần mà xa tuy xa mà gần. Xa vì cách trở địa hình ngăn sông cấm chợ, vì giống đực giống cái “nàng là phận gái ta là phận trai” và muôn trùng năm tháng ở cách biệt tuổi tác. Nhưng gần, rất gần ở đồng cảm, ở cách bày tỏ của cô qua những trang viết, mà xúc động mới nhất, còn đang toả lan trong tôi là bài “Ba Sao chi mộ”. Thật lòng, m rất cám ơn n. cám ơn người bé như cây kẹo từng vào tù ra khám với thái độ “khó cải tạo được”. Một thứ “nhân thân tốt” đối với riêng tôi. Tôi từng được nhìn thấy dung mạo cô, một người lý ra phải có mẫu tự m ở đằng sau tên gọi. Nghiêm nghị, cứng rắn, mang vẻ đẹp của hoa xương rồng. Và nghiên mình, có cần thêm chữ g, nếu tôi có cơ duyên đối mặt trực tiếp với cô. So vai bên con người cứng cỏi ấy buộc lòng tôi phải tỏ ra sự ngưỡng mộ. Phạm Thanh Nghiên còn dấu kín một đoá hoa sầu đông luôn hé nụ, vì rằng thiếu vắng cái dịu dàng mong manh kia chúng ta hẳn sẽ chẳng đọc được tấm lòng từ bi cô trải ra trong Ba Sao chi mộ.
Nghiêm, gần như tên của các nhà tu hành vụng dại nhưng Nghiên, hình như đã bước chân qua được một cảnh giới khác. Nghiêm xin cám ơn tâm vô lượng của Nghiên.
Khi muốn giải quyết, bất luận là vấn nạn nào, người ta luôn kỳ vọng vào những người trẻ tuổi. Phạm Thanh Nghiên chính là cái gạch nối mang lại cho ta sắc son sự mong ngóng. Thế hệ sau Nghiên sẽ hiểu do đâu “đàn chị” mình bỏ công sức đi đào xới những khuất lấp mà kẻ quyền uy quyết tâm vùi chôn, xoá bỏ, làm thui chột thứ ánh sáng ở cuối đường hầm.
Để kỷ niệm tròn 5 năm, Bắc Phong, người quản thủ thư viện Sáng Tạo có làm bài thơ, tôi xin chép lại 2 câu:
Vì sao phải dựng lên bức tường lửa? Cớ sao “bức tường ô nhục” ấy vẫn không cách chia được “tình trong nối ngoài”. Hơn ai cả, Phạm Thanh Nghiên là một trong những thành viên đủ tư thế để trả lời thứ bi kịch kia. Một bài viết đầy nhân ái, đậm tình người như “Ba Sao chi mộ” có phải là đoá hoa tươi thắm an nhiên nở ra bên tường cao lửa bỏng?
Xa quê hương, bất chợt có khi yếu lòng hồi tưởng, trong muôn một vẫn lung lay vẻ đẹp thầm kín có tên gọi Phạm Thanh Nghiên. M lại phải cám ơn n lần nữa. Thực sự thì giữa cuộc đời này, muôn năm bạo lực sẽ vô phương đánh thắng thứ yếu đuối nhất: Nhân bản. Dĩ nhiên, m cũng như n vốn dĩ là người tử tế mà chẳng đợi kẻ quyền hành rỗi hơi đi khuyên nhủ. Không tử tế suốt cuộc đời anh chẳng thể viết tròn câu văn làm xúc động lòng người.
Mấy nhà văn Việt Nam mình hồi trước 75, đôi khi phải đến nhà in, vừa uống cà phê, tay mân mê điếu thuốc, viết cho kịp để thợ sắp chữ in ngay. Vì tối qua mắc nhậu quắc cần câu, viết bài không có kịp.
Gấp gáp nên làm sao tránh khỏi sơ sót? Có cái thấy nhỏ như con thỏ, chỉ thêm một dấu huyền thôi mà tiểu thuyết dã sử của nhà văn chợt biến thành một câu chuyện tiếu lâm.
Chẳng qua nhà văn hạ bút là: “quân ông Tướng kéo xuống”. Thợ sắp chữ không biết có cố tình chơi xỏ mấy nhà văn mặt thấy ghét nầy không? Mà quánh thêm một cái dấu huyền vào chữ quân.
Quân ông Tướng kéo xuống… thành quần ông Tướng kéo xuống! Mà khi quần kéo xuống, nó lộ ra biết bao là chuyện bi hài trong thời buổi ngày nay.
Chớ ngày xưa làm Tướng quân, quần kéo xuống là chuyện rất bình thường!
Chuyện binh đao, làm tướng phải tả xung hữu đột ở sa trường, sống nay chết mai, nên ngu sao mà cữ ‘sex’?
Chuyện rằng: Thời Tam Quốc, trong lịch sử Trung Quốc, Ðiển Vi là một vị tướng giỏi, có 500 quân sĩ tinh nhuệ dưới quyền, nên lập được nhiều chiến công, được Tào Tháo phong làm Hiệu úy, cho theo hầu cạnh bên mình.
Nói theo thời bây giờ, Ðiển Vi là sĩ quan cận vệ, là ‘tà lọt’ cho Tào Tháo.
Tào Tháo đem quân đi đánh nơi nào là Ðiển Vi theo sát như hình với bóng để bảo vệ cho chủ tướng lúc lâm trận trên chiến trường… hay cả lúc chủ tướng lâm trận trên giường… Ðiển Vi cầm song kích gác ngoài, để không đứa nào dám bén mảng đến làm hỏng một đêm vui của Tào chủ tướng.
Năm 197, Tào Tháo đem quân đánh Trương Tú. Trương Tú sợ… nên đầu hàng. Tào Tháo kiêu căng tự phụ, muốn gì được nấy, lại khoái gái đã có chồng, nên tư thông với thím dâu của Trương Tú, Trương Tú lấy làm nhục nhã nên rất tức giận.
Trương Tú mời Ðiển Vi đến uống rượu cho say mèm rồi ăn cắp đôi thiết kích của Vi! Ðêm đó nổi lửa tấn công dinh trại của Tháo. Bị tập kích bất ngờ, Tào Tháo xách quần bỏ chạy.
Ðiển Vi say rượu đang ngủ, mơ màng nghe tiếng ngựa hí quân reo, giật mình vùng dậy, lăn xả vào đám quân ấy, chém giết một lúc, làm chết hơn vài chục người, quân mã ấy mới lui, lại có quân bộ kéo đến.
Hai bên giáo mác tua tủa như ngọn lau, mình Vi không một mảnh giáp, trên dưới bị vài mươi nhát đâm nhưng Vi vẫn cứ lăn xả vào đánh.
Giặc không dám đến gần, chỉ đứng đằng xa bắn tên lại như mưa! Ðiển Vi vẫn liều chết giữ cửa trại, nhưng quân giặc đã kéo được vào cửa sau! Ðiển Vi lại bị một mũi giáo đâm trúng giữa lưng! Ðau quá, Vi kêu to một tiếng, máu chảy đầy đất rồi ngã lăn ra chết ngắc.
Tào Tháo nhờ có Ðiển Vi chặn cửa trước nên thoát chạy được về Hứa Xương. Kiểm điểm quân số: Trưởng nam là Tào Ngang và cháu Tào An Dân của Tào Tháo đều tử trận.
Tào Tháo khóc hu hu: “Ta mất một con trưởng và một cháu yêu, cũng không thương là mấy, chỉ thương khóc Ðiển Vi mà thôi”.
***
Làm tướng Tàu xưa nay, ỷ có quân có lính trong tay, là một ông Trời con muốn làm gì thì làm! Ngày nay ở các nước độc tài CS cũng rứa!
Nhưng trong quân đội Hoa Kỳ là không có được cái chuyện bậy bạ nầy đâu nhé. Lỡ có thì ráng mà giấu cho kỹ; bằng bị báo chí đánh hơi được, khui ra là Tướng quân không còn ‘chăn’ lính nữa mà phải về nhà ‘chăn’ vịt.
Mất chức, lột lon cũng chưa sợ bằng về nhà bị con Sư tử Hà Ðông nó đem ra mà xé xác.
Chắc quý bạn có nghe nói đến căn cứ không quân cực kỳ bí mật có bí danh là “Ðặc Khu 51” nằm trong sa mạc hoang vắng, thuộc tiểu bang Nevada, Hoa Kỳ.
Trời gần chập choạng tối rồi, nhân viên an ninh căn cứ ngạc nhiên thấy một chiếc phi cơ Cessna loại nhỏ, đáp xuống căn cứ bí mật nầy.
Họ nhanh chóng bao vây chiếc phi cơ, điệu phi công khả nghi nầy vào phòng thẩm vấn. Viên phi công thật thà khai báo là đã cất cánh từ Vegas và bị lạc.
Không quân bắt đầu kiểm tra tư pháp lý lịch của anh chàng phi công nầy và giữ anh ta lại để thẩm vấn suốt cả một đêm dài.
Sáng hôm sau, nhân viên điều tra tin rằng anh chàng phi công nầy bay lạc chớ không phải điệp viên của thế lực thù địch nước ngoài nào hết ráo.
Họ cho đổ đầy bình xăng và phóng thích viên phi công với lời căn dặn rằng:
“Không được hé môi cho thiên hạ về chuyện ông đã vô tình đáp xuống căn cứ bí mật nầy vào đêm qua nghe không?! Bằng bép xép, ông sẽ được đưa vô tù gỡ lịch cho tới ngày đi bán muối.”
Viên phi công gật đầu cam kết: “OK Salem!” Rồi nổ máy nghe phành phạch, cánh quạt bay vù vù, phi đạo anh cất cánh bay lên… để về nhà má nó.
Vậy mà bất ngờ thay, ngay chiều tối đó, chiếc phi cơ hạng nhẹ nầy quay trở lại căn cứ tối mật nầy.
Quân cảnh báo động, quây quanh chiếc máy bay. Cũng viên phi công đó, mặt mày hình như bị móng tay ai cào mấy lằn rướm máu, thổn thức nói: “Tui vẫn giữ rịt những lời cam kết với quý ông là không mở miệng hé môi một lời.
Giờ thì tới phiên các ông hãy cắt nghĩa cho con vợ tui đang ngồi trong chiếc máy bay biết là: Tối hôm qua tui đã ở đâu?!”
***
Hồi xưa bà con mình có câu là: “Trai khôn tìm vợ chợ Ðông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”
Mấy em muốn lấy chồng nên chọn chồng lính. Vì lính quen kỷ luật nhà binh. Lịnh đâu làm đó; không dám lạng quạng như mấy anh mình sống đời dân sự.
Nhứt là ca sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ và thi sĩ, có máu văn nghệ là bướm bay bay bướm tùm lum, hết cụm hoa nầy tới bụi hoa khác… làm em ghen quá xá hè.
Chắc có lẽ vì khờ, cả tin như vậy, nên vợ lính Mỹ rất an tâm, không lo chồng mình đóng quân xa nhà mà manh tâm đem lòng bội phản.
Phu nhân của quý Tướng lãnh càng chắc ăn hơn cho cái lòng chung thủy của tướng quân… Vì theo quân kỷ, cấm quân ông tướng kéo xuống (mà có kèm theo cái dấu huyền!)
Nhưng nghĩ vậy mà không phải vậy. Khi con cá đã mê mồi thì Trời cứu!
Mới đây nè! Báo chí Hoa Kỳ làm rùm beng vụ một ông tướng hai sao dê đạo lộ.
Tướng hai sao là có quyền, có chức, khó lòng nào tránh khỏi được lòng khoan với khoái khi được mấy em tỏ lòng ngưỡng mộ.
Còn em, dù đã có chồng, mà lại được tướng quân đem lòng ái mộ, tui cho rằng lòng em cũng khoan với khoái! ‘Trai tài gái sắc’ phải không nè?
“Em nóng bỏng quá”, “Em đẹp quá”,“Em mà làm người mẫu thì thích hợp lắm”, “Tối nay chồng em có nhà không? Hắn đi trực hả?” “Ước gì chúng mình ngủ chung tối nay!”
Các công tố viên của Lục quân Hoa Kỳ cho rằng tướng quân đã phạm quân phong, quân kỷ và chuẩn mực đạo đức của một quân nhân cấp lãnh đạo. Ðâu có ngồi xổm trên quân luật được nè?!
Bởi cấp bậc càng cao, quyền lực càng nhiều và quyền lợi cũng lắm; nhưng cũng có rất nhiều trách nhiệm với quân đội, phải làm gương cho thuộc cấp và gia đình, phải gương mẫu, cơm nhà quà vợ!
Tướng quân chắc sẽ bị rơi đài, phải về hưu non, coi như tiêu tan sự nghiệp.
***
Tướng quân nầy chắc đương độ hồi xuân, đèn leo lét cháy rồi đột nhiên con lợn lòng bừng lên một cái, trước khi tắt ngủm; chớ tui già rồi thì cái đời sống tình dục của tui như chiếc máy chạy phải cần pin.
Gần hết pin thì kêu rè rè, nhìn… chớ không làm ăn gì được ráo trọi! Chỉ là ‘Yamaha’ tức ‘Già mà ham’… nhìn, làm ăn sao bằng mấy đứa hồi xuân cho được chớ? Sắp sồn sồn còn làm ăn được là tui mừng cho họ chớ không ganh tị gì hết ráo!
Chữ rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân!” (Sắc đẹp chẳng phải cơn sóng dữ, nhưng dễ dàng đánh đắm được người)
Va vào cảnh trái ngang, chỉ ước ao thôi, chớ quân ông tướng (có dấu huyền) chưa kéo xuống… mà quân đội Mỹ đã kéo ông tướng xuống rồi hè.
Ngay cả Bill Clinton, Tổng thống Mỹ, Tổng tư lịnh quân đội còn bị vướng vào con đường tình ta đi thì tướng hai sao nhằm nhò gì mà phê với phán?!
Ở các nước độc tài CS, đứa nào cũng già khú, ăn đáo tuế, tức trên 60, sau nhiều năm đấm đá, kết bè kéo cánh mới từ từ leo lên được cái chóp bu, nhưng theo giao ước chỉ được ngồi tối đa hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5 năm, tổng cộng là 10 năm, phải tuột xuống cho đứa khác nó leo lên!
Chớ hỏng phải như hồi thời Stalin, hay Mao xếnh xáng ngồi hoài chừng nào ngỏm củ tỉ mới chịu nghỉ.
Như Giang Trạch Dân rồi Hồ Cẩm Đào, sau mười năm, từ già háp đến già cúp bình thiếc, dẫu uống cả ký sâm Cao Ly vẫn ngồi không nổi nữa, đuổi ruồi không bay, chờ xuống Diêm vương hạch tội ác ở trần gian thì mới chịu xử thế nhược đại mộng mà thôi!
Nhược đại mộng cho bản thân mình nhưng vợ lớn, vợ bé, bồ nhí rồi một đàn con lúc nhúc, vàng bạc tom góp bấy lâu chất cả núi như tài sản của Hòa Thân (1750-1799), thời Càn Long, triều Mãn Thanh, không có mình chở che nữa thì tụi nó biết trông cậy vào ai lúc tối lửa tắt đèn?
Thế nên, không cha truyền con nối như Bắc Hàn được, vì lộ liễu quá, mình cho đàn em tin cẩn nhứt lên thế, hầu bảo vệ quyền lợi, tiền bạc tài sản của mình chớ phe khác nó lên nó giựt mất thì sao? Tuy vậy, năm 2012, khi Hồ Cẩm Đào tuột xuống thì đám đang sắp hàng chờ lượt tới phiên, đã đấm đá nhau dữ dội, mưu toan hành thích lẫn nhau, thanh trừng trong nội bộ đảng CS, một mất một còn,được ngụy trang dưới cái vỏ bọc là chống tham nhũng, đồng nghĩa với giành chức, giành quyền để giành ăn vậy thôi!
Tập Cận Bình đã trầy vi tróc vảy mới ”đả” được ba con cọp lớn là: Bạc Hy Lai (Bí thư Trùng Khánh, 2012), Chu Vĩnh Khang (Công an, 2014) và Từ Tài Hậu (Quân đội, 2016).
Mất chức, mất quyền, mất tiền, mất luôn chục con bồ nhí! Đời vắng em rồi vui với ai! Nên tự sát cho rồi; hẹn nhau kiếp sau ta tìm thấy nhau!
Giờ tới 80 quan tham, đệ tử ruột của đám nầy, đã về chầu ông bà tiên tổ bằng cách nhẩy lầu.
Đứa láu cá hơn, tẩu tán tiền bạc, gởi con ra nước ngoài, dọn sẵn bãi đáp an toàn; làm giá nhà bên Mỹ, bên Canada, bên Úc… vọt lên như pháo thăng thiên làm dân sở tại la làng quá xá!
Còn đứa không biết lo xa, ỷ y, ối ai lên cũng vậy. Nó lên rồi cũng ăn; mình cũng ăn mà. Có gì khác đâu? Vấn đề là ráng chạy chọt, bắt giò để được nhập băng, cùng phe, cùng cánh hẩu vậy thôi?
Bắt khai tài sản hả? Giấu hết trọi rồi, có giỏi thì đi kiếm đi chớ ai ngu mà lạy ông tui ở bụi nầy!
Thiên hạ thường hay nói: đảng CS Trung quốc và đảng CS Việt Nam là hai anh em. Thằng anh làm cái gì là thằng em bắt chước theo hè.
Như: Cải cách ruộng đất, lôi địa chủ ra đấu tố bên Tàu thì bên Việt Nam cũng y hịt vậy. Rồi trăm hoa đua nở, nhà nhà đua tiếng, tố cáo lẫn nhau để biết đứa nào phản động? Đứa nào theo Lưu Thiếu Kỳ, đứa nào theo Lâm Bưu, đứa nào theo Giang Thanh và bè lũ bốn tên để đem ra nhốt ráo thì Việt Nam cũng y như vậy.
Tập Cận Bình đả hổ diệt ruồi thì Việt Nam cũng ném chuột đừng làm bể cái bình… y chang như vậy.
Nhưng tới giờ chỉ có mới Đinh La Thăng, Ủy viên bộ Chính trị, bị ‘đả’ mà thôi.
Cũng kêu đảng viên cao cấp kê khai tài sản nhưng tới giờ chỉ có 5 đứa là bị cho là khai láo.
Rồi cũng tính điều tra tài sản khoảng 1.000 quan chức cao cấp! Nhưng tụi nó vẫn im re, chém vè, nằm nghe ngóng coi gió chiều nào mình che chiều ấy!
Còn nhắm hỏng êm là nó vọt ra nước ngoài như Trịnh Xuân Thanh vậy thôi! Là huề cả làng.
Như có đứa vốn làm quan to, no mập, đáp cái ạch nhưng an toàn xa lộ, thanh lịch trong thành phố!
Dân hỏi tiền đâu mà cất cái nhà tới hàng triệu đô Mỹ? Thì nói nhờ ngoài giờ làm việc, tớ chạy Honda ôm.
Đứa khác thì nói của em kết nghĩa nó cho, cộng với công lao tui làm vườn, làm rẫy tới thúi móng tay mới có đó!
Biết nói dóc trần trắng trợn như vậy hỏng ai tin, nên chơi chiêu khác. Nhờ quan có máu kịch nghệ, từng học trường Nghệ thuật Sân khấu thì bắt đầu diễn tuồng Xúy Vân giả dại, Tôn Tẫn giả điên… giả khờ, giả nghèo, tớ hỏng có sơ múi gì đâu để chờ cho sóng lặng gió êm…
Một trong số đó là nguyên đại thần, tòng nhị phẩm, tức Bộ trưởng, đã về hưu… rồi kêu khóc.
“Tớ có nhà thiệt nhưng nhà ngập hoài hè nên xin cho tớ mướn cái nhà ‘công vụ’ thêm một khoảng thời gian nữa!
Nhà tớ hết ngập, tớ dọn về. Còn hỏng cho tớ mướn nữa thì bán tớ mua vậy. Xưa làm lớn thiệt nhưng tớ chưa được hưởng gì hết mà! Hu hu!”
Dân Hà Nội cười đểu, nói: Hết làm quan, trả nhà lại cho quan khác mới lên là chuyện bình thường, vì đó là của công. Còn than vợ ốm con đau nhà ngập nước lúc trời mưa thì nhà tớ nè: Không mưa chỉ cần thủy triều lên là nó cũng ngập đó.
“Dân nghèo trong hẻm nhà thuê! Nhà quan mặt phố còn chê nỗi gì? Hết quyền, hết chức trả đi. Vốn làm quan lớn mặt lì sao đang?”
Người khác thì cho rằng ông quan nầy muốn mướn nhà xịn nhưng giá rẻ. (Đó là cái chắc rồi!) Nếu đồng ý mướn theo giá thị trường thì thiếu cha gì nhà mà phải khóc lóc ỉ ôi cho nó nhục.
Tui cho rằng: Quan kịch thôi! Chẳng qua quan muốn hát bài nhà tớ nghèo lắm mấy đồng chí ôi! Tớ về hưu là chỉ có xách cái ‘đít’ không về thôi; chớ không có vàng cây, vàng miếng và một đống đô la Mỹ gì hết trọi đâu nhe.
Thưa bà con! Tui là người rất cả tin, dễ mũi lòng lắm!
Hồi nhỏ, Má dắt tui đi coi hát cải lương ở rạp Quốc Thanh hay rạp Hưng Đạo mà thấy đào, kép đóng tuồng nghèo than thở, áo vũ cơ hàn, rách rưới lang thang, đêm lạnh chùa hoang, là tui khóc híc híc, mũi dãi tùm lum vì thương cảm.
(Mặc tui cũng thừa biết là mấy anh kép chánh và đào chánh nầy toàn đi xe Huê Kỳ, cả triệu đồng thời đó, không hè! Nhưng lên sân khấu mặc áo rách vá đùm vá đụp, đi cẳng không, cầm cái thau nhôm móp méo, bà con cô bác dùm thương cho tôi một chén cơm thừa… là tui rưng rưng nước mắt theo hè!)
Huống gì ông nầy làm lớn, tới chức Bộ trưởng, tức Đại thần, tòng nhị phẩm triều đình, một thời lên xe xuống ngựa, mà về hưu rồi không có được cái nhà đàng hoàng để mà dưỡng già. Nghe thiệt là mũi lòng tui quá!
Nhưng tui cũng nghe nói em trai bà Bí thư, tòng lục phẩm, chức nhỏ hơn ông nhiều, mới làm Giám đốc Sở Tài nguyên tại một tỉnh trung du nghèo mạt rệt là Yên Bái, mà đã giàu thôi hết biết.
Tiền đâu mà nó cất một cái biệt phủ, cái dinh cơ siêu khủng đến nỗi tỉ phú Donald Trump, Tổng thống Mỹ, có thấy cũng hết hồn?
Cùng làm quan, đứa lớn đứa nhỏ mà khác nhau quá xa… Đứa làm quan nhỏ tại địa phương lại sống rất xa hoa mà đứa làm quan lớn tại trung ương chỉ xin mướn ở đỡ có 6, 7 chục thước vuông tại cái đất Hà Nội mà cũng không cho mướn để thằng chả khóc bù lu bù loa vậy cà?
Nghe tui cảm thán như vậy, anh bạn văn chê tui ngây thơ, khờ hơn con nít.
Anh chiêu một ngụm rượu đỏ rồi nhẩn nha kể cho tui nghe một câu chuyện xỏ xiên như vầy: “Có một tay chết xuống hỏa ngục bị quỷ sứ cho ăn cháo lú để quên hết tiền kiếp của mình. Sau khi trả hết nợ ân oán giang hồ, tội lỗi gây ra kiếp trước, ngày mãn án, quỷ sứ điệu y ra trước công đường để Diêm Vương ký sự vụ lịnh cho y đầu thai về trần thế.
Xét vì bị can đã trả hết tội lỗi của kiếp trước; nên Trẫm ký quyết định cho đương sự được đầu thai trở lại trong kiếp con heo nọc.
Cầm sự vụ lịnh, quỷ sứ toan áp tải tay nầy ra phi thuyền con thoi để trở lại trần gian nhưng y vùng vằng chưa chịu: “Cho tui khiếu nại cái đã.”
“Bẩm Diêm Vương! Bấy lâu nay thần đã lao động khổ sai, xuống biển mò ngọc trai, lên rừng tìm sừng tê giác về cống nạp cho Hoàng hậu, tức em yêu của Diêm Vương! Công bù tội sòng phẳng coi như huề; sao Diêm Vương lại bắt thần phải đầu thai làm con heo nọc?”
Diêm Vương bèn vuốt râu cười khè khè, phán: “Nhà ngươi ăn cháo lú đã lâu mà tới bây giờ cũng còn ngu quá xá! Trẫm cho ngươi đầu thai làm con heo nọc cũng vì những lý do sau đây:
Sở dĩ nhà ngươi phải ăn cám xú hơn là tôm hùm sốt bơ, xào mỡ tỏi là vì kiếp trước nhà ngươi đã lừa thầy phản bạn, bất hiếu với mẹ cha; không nghe lời dạy dỗ của bực sinh thành nên đổ đốn tùm lum.
Ta cho ngươi thành heo nọc có đôi tai to để ngươi nghe kịp những lời giáo huấn của thánh hiền mà tu thân tích đức! Không cà giựt như kiếp trước nữa.
Kiếp trước, nhà ngươi nhắm mắt làm ngơ trước lời kêu van đói khổ của nhân dân, nên kiếp nầy ta cho ngươi mở mắt hí hí để nhìn đời một tí!
Kiếp trước, nhà ngươi hay dùng tay để nhận phong bì nên kiếp nầy ta cho ngươi không có tay để không thể nhận quà biếu trên mức tình cảm được nữa. Chỉ có 4 cái chưn thôi.
Nếu nhà ngươi cứ tiếp tục ăn không chừa một thứ gì thì nhân dân sẽ lấy 4 cái chưn của ngươi để nấu bánh canh giò heo đó nhe!
Kiếp trước, nhà ngươi làm đầy tớ của nhân dân lại không lo mà chỉ khoái đi hát karaoke, nên kiếp này ta cho cái mõm của ngươi nó dài ngoằng, hát mới hay.
Kiếp trước, nhà ngươi ăn chơi sa đọa trụy lạc, nên kiếp này ta cho ngươi thành con heo nọc chỉ ăn hột gà sống tẩm bổ… rồi chơi thôi.
Sướng quá Trời rồi, còn kêu khóc cái gì?”
“Dà như vậy kiếp trước có phải thần đã làm quan lớn hay không?”
Diêm Vương gục gặc cái đầu: “Đúng thế! Mới đầu thai làm heo không bao lâu mà ngươi đã bớt ngu nhiều lắm đó. Vậy mà nhân dân lại thường bảo làm quan lớn mà ngu như heo không hè!”
Sự liên hệ mỗi chiều, tuy vậy vẫn tiếp diễn như thường, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tên Trung có lẽ tin rằng sau khi tóm được hai tên liên hệ nhốt trong Connex, ít còn ai dám vi phạm, nên hắn ít lục lạo ! Anh em cũng cảnh giác, có chuyện gì quan trọng muốn hỏi đều viết vô giấy, bọc viên sỏi nhỏ quăng sang. Nhưng không phải chỉ một bên bắt liên hệ. Phía bên kia, tụi Cộng Sản cũng bắt liên hệ, nhưng khó hơn, vì căn buồng tù ở, gần sát bờ rào kẽm gai, nên từ trong buồng, họ có thể ném bất cứ vật gì sang bên này. Bên kia, nếu tụi cán bộ hậu cần không cho đăng ký mua thuốc lào, đường, đậu phộng v.v… họ nhờ bên này mua dùm. Khi nào có, sẽ gói vào bao nylon thẩy sang gọn gàng. Bên này cần gì, nếu bên kia có, cũng làm như vậy. Như thế, đời sống của anh em cũng được điều hòa cân bằng dù ở Trại này hay Trại kế bên.
Bính và Hưng được tha, sau 48 tiếng bị nhốt.
Ngay buổi tối hôm đó, Bính đến, tôi nhìn Bính gầy hẳn đi, đôi mắt trũng sâu, bộ râu quai nón mọc lởm chởm sau hai ngày đêm thức liên tục.
– Sao cậu, vất vả lắm không?
– Quá vất vả ! Tuệ đã nói với anh rồi về 24 giờ trong Connex. Nay tụi tôi phải chịu đụng gấp đôi số thời gian đó, lẽ dĩ nhiên, sự gian khổ sẽ tăng gấp ba, gấp bốn vì mỗi giờ phút kéo dài, sức chịu đựng sẽ giảm thiểu rất nhiều. Anh nhìn coi, mới có 48 tiếng, thân xác tôi đã như thế này, nếu lâu hơn nữa, chắc thê thảm !
– Tụi nó có cho các cậu ăn uống gì không?
– Cơm, anh em mang ra, nước thiếu. Ban ngày nằm trong Connex nóng quá, mồ hôi ra nhiều, càng uống càng khát, bao nhiêu cũng không đủ! Thỉnh thoảng tên gác mở cửa dòm vô, xem nhỡ có ai chết bất tử. Cứ 2 giờ nó thay phiên gác. Thằng nào tử tế thấy mình kêu la quá, nó mở khóa, hé cửa cho gió lùa vô mát một chút. Có thằng khốn nạn, kêu la mấy nó cũng mặc kệ, cứ đóng chặt. Buổi sáng, sau một đêm bị giam, chúng tôi buồn quá, hát cho vui, cho quên thời gian, tuy biết hát như vậy tốn sức và càng khát nước. Bỗng có tiếng mở khoá. Trong này chúng tôi mừng thầm, nghĩ có lẽ tên gác nào thấy mình hát hay nên mở cửa nghe cho rõ ! Cánh cửa được kéo mạnh. Tên Trung uý Hải đứng lù lù, mặt hầm hầm quát:
– Ai cho chúng mày hát?
– Dạ, chúng tôi hát bài Cách Mạng!
– Cách Mạng không cần đến chúng mày hát. Ra đây!
Hưng ra trước, đang định đứng thẳng người chờ lịnh, một trái đấm lao thẳng vào mặt, Hưng té xuống.
– Còn thằng kia nữa, ra!
Tôi lừ lừ bước ra, ở trong tư thế ăn đòn. Vừa đặt chân xuống đất, tôi lảo đảo vì một cú đá vô bụng. Tuy không té vì có sức, nhưng bụng đau dội!
– Tao cấm chúng mày hát, nghe chưa? Nhốt “nà” nhốt, “nà” thi hành kỹ “nuật” nhà nước, chứ không phải “nà” cho tụi mày giỡn chơi, nghe không? Đi vào!
Tôi chui vô, hai tay ôm bụng. Hưng một bên má đỏ au, lảo đảo vô sau. Tiếng cánh cửa đóng sầm theo tiếng khóa. Chúng tôi ngồi dựa lưng vào thành Connex, phía bên không có ánh mặt trời. Hưng cứ cho tay xoa má hoài. Tôi vặn người qua lại, cho gân bụng co giãn đỡ đau. Tự nhiên, chúng tôi ôm chặy lấy nhau, và cùng nguyện quyết trả thù này, ngày nào có hoàn cảnh.
Đến chiều lại có tiếng mở khóa. Tên Hải đứng trước cửa:
– Đi ra!
Nghe câu đó, tôi có ý mừng tưởng được tha, nên nhanh nhẹn bước ra, Hưng đi sau vì sợ ăn đòn nữa. Chúng tôi vừa ra khỏi lòng Connex, tên Hải cho tay ấn cánh cửa Connex lại. Tôi nhìn thấy tay trái nó cầm sợi dây thừng dài. Tên Hải bảo tụi tôi quay mặt, quặt tay về phía sau. Chúng tôi làm theo. Nó trói lại, buộc dằng với nhau, rồi cho lệnh đi về phía trước. Tên cảnh vệ đứng gần đấy, lăm lăm cái cây A.K. như sẵn sàng yểm trợ cho tên Hải, trong trường hợp chúng tôi có phản ứng. Chúng tôi đi theo con lộ dài khoảng 100 thước đến Ban Chỉ Huy. Tên Trung đứng đó. Hải cho lệnh tên Trung mở dây trói. Hắn bước lên bậc thềm đi vào nhà, khoát tay cho lệnh tụi tôi vô theo, rồi chỉ hai chiếc ghế đẩu, bảo ngồi. Hắn rút khẩu súng lục đặt trên mặt bàn, Vì lịch sự, tôi nói:
– Cảm ơn cán bộ!
Tên Hải tự nhiên phẫn nộ, thét lớn:
– Ai cho mày cảm ơn. Tao không cần cảm ơn, biết không? Tao giải tụi mày “nên” đây để “nấy” cung vì sao tụi mày “niên” hệ, “niên” hệ với đứa nào, vì chuyện gì, chúng mày hãy khai thực thà, tao xét tha cho, nghe không?
Tôi và Hưng ngẩn người, sững sờ, không hiểu vì lý do gì mà tên Hải lại giận dữ như vậy? Nhưng chúng tôi cứ ngồi im, không có phản ứng nào, sợ nó đập đủ. Tên Hải nhìn chăm chăm vào tôi, có lẽ vì tôi có vóc dáng dềnh dàng.
– Sao, “niên” hệ với đứa nào bên khu 5, về chuyện gì? Âm mưu trốn Trại hả?
– Dạ, chúng tôi đâu có liên hệ với ai bên khu 5. Sau bữa cơm, tôi và anh bạn đây ra sân hóng gió, không hiểu tại sao lại bị cán bộ Trung bắt giữ!
– Chối hả?
Nói xong, tên Hải đưa tay sờ vào khẩu súng, rồi cầm lấy, đút vào bao ở ngang hông.
– Thưa cán bộ, tôi chỉ nói sự thực!
Tên Hải lại dọa nạt, hò hét. Thấy khai thác tôi không được nó quay sang Hưng, nhưng Hưng cũng chối dài ! Sau thấy không thể làm gì hơn, nó gọi tên Trung, bảo nhốt hai tên ngoan cố này vô Connex. Chúng tôi yên trí lần này nó nhốt lâu, ai ngờ, chiều hôm sau nó tha.
– Mừng hai cậu nhé! Âu đó cũng là cái xui của hai cậu qua loa rồi cũng xong! Lần sau có liên hệ nên cẩn thận.
Bính rít hơi thuốc lào xong đứng dậy. Tôi tiễn Bính một quảng, lúc quay về gặp Lâm mời uống cà-phê. Khi tôi đến đã có Huy và Mậu ngồi sẵn. Chiếc bàn là một thân cây to chờ bửa làm củi, còn ghế là những thân cây nhỏ hơn, bày ngay bên hông lối đi. Tối tối anh em thường ngồi chơi uống nước trà hay cà-phê nói chuyện trước khi ngủ. Nhưng trước khi ngồi vào chỗ, phải dặn nhau trước, nếu tên Hải đi tuần có hỏi, nói chuyện gì, mọi người đều phải nói cùng một ý, ví dụ nói chuyện về gia đình, về thời tiết v v… Tối hôm trước, tên Hải bắt một bàn 3 người, dẫn mỗi người ra một góc, hỏi nói chuyện gì ? May quá, 3 người cùng trả lời tương tự nhau, nếu không, nó làm khó, hỏi lên hỏi xuống mất công lắm !
Lúc trước, thời phong lưu, nào phin, nào “tuyớc”, nay trong tù, uống café bí tất với đường thẻ cũng vẫn thấy ngon!
Huy hỏi:
– Sao, Bính nói chuyện gì không?
– Dĩ nhiên có!
– Nghe hình như bị trói và bị đánh nữa phải không?
– Đúng, chúng đánh chưa đau bằng nó chửi và xưng mày, tao.
– Đồ vô học, mất dạy! Xưa kia tụi nó không đáng đánh giày cho tụi mình, lúc nay nó có quyền hành và sỉ nhục tụi mình thả ga!
– Biết thế này quyết đánh đến viên đạn cuối cùng. Đéo hàng! chán ghê, chán ghê!
– Câu này, ông Mậu đã nói nhiều lần rồi đấy nhé. Từ nay về sau xin ông thôi, cho anh em nhờ.
manh hai flickr
Lâm nói xong cười khục khục.
Câu chuyện cứ loanh quanh về cách đối xử của Cộng Sản với anh em, về chính sách của Đảng và nhà nước cứ lập lờ khi thế này, khi thế khác. Họ vừa phổ biến chính sách 3 năm, làm anh em nhiều người thất vọng ! Câu dự đoán của mình là 1 năm, nay đã tăng lên gấp 3, chẳng biết sau 3 năm còn tăng lên mấy lần 3 nữa?
Tôi đứng dậy về, khi nghe tiếng kẻng gõ báo giờ ngủ.
Buổi sáng nay, không khi toàn Trại tự nhiên căng thẳng. Những khẩu A.K. tràn ngập các lối đi.
Tiếng còi thổi ren réc, mật hiệu của tụi cán bộ gọi nhau. Tên Thiếu úy Tư và tên Trung uý Hải đeo K54, đội cối, chứ không để đầu trần như mọi khi. Anh em ai nấy đều hồi hộp.
Tên Tư cho lệnh:
– Tất cả ra khỏi nhà! Không ai được mang theo gì.
Mọi người túa ra, nhà nào ngồi theo nhà đó.
Sau khi anh em đã an vị, tên Tư nói:
– Hôm nay, theo “nệnh” trên, chúng tôi điểm nghiệm tư trang và chỗ ở. Các anh đã học tập nội quy, đã biết rõ những gì Trại cho phép, những gì Trại không cho. Nay chúng tôi điểm nghiệm, xem các anh có nghiêm chỉnh chấp hành “nệnh” không? Trong thời gian điểm nghiệm, tuyệt đối cấm mọi người bỏ hàng, hoăc đổi chỗ. Nếu cần, phải xin phép cán bộ cảnh vệ. Được phép, mới thi hành. Các anh nghe rõ chứ?
– Nghe rõ! Hơn trăm cái miệng đều há ra, tạo nên âm thanh rộn ràng, nhung nghe kỹ, nó vẫn có một chút gì sợ sệt xen lẫn trong đó!
Tên Thiếu úy Tư bảo K.Trưởng đi theo hắn cùng với hai tên cảnh vệ! K.Trưởng, đại diện anh em chứng kiến cuộc khám xét.
Trời bên ngoài nắng. Anh em tuy người nào cũng có mũ, nhưng ngồi một chỗ dưới ánh mặt trời hừng hực, từ giờ này qua giờ khác, sao chịu nổi? Nhiều người gục đầu xuống gối ngủ. Tiếng điếu cầy rít liên tục, người nọ chuyền tay người kia cũng không làm thời gian chờ đợi ngắn lại. Có anh bị ghẻ đầy người, ngồi bóc từng chiếc vẫy, hoặc gãi liên hồi. Da anh sùi lên như da cóc! Ngồi ở ngoài, tuy không nhìn thấy gì, nhưng những tiếng động và lời nói từ trong vọng ra, khiến ai nấy nhột nhạt.
– Cái này của anh nào? À dao, à kéo! Thu! Còn cái này “nà” cái gì? Ai nằm chỗ này?
Cứ thế, những câu hỏi và trả lời vang lên, từ sáng tới trưa, cuộc điểm nghiệm mới chấm dứt. Cơm canh đến giờ phát không ai lãnh, lúc lãnh, nhìn phần canh, hàng chục con ruồi chết đuối trong đó! Anh em ồ vào buồng thu dọn vật dụng của mình. Quần áo bị quăng bừa bải, thư từ tung toé! Người làm nhanh nhất cũng mất nửa tiếng!
Buổi chiều, có phiên gác của “ân nhân”. Khi nhìn thấy tôi từ vọng gác, anh đi xuống. Tôi có ý đứng nấp vào bên vách để tránh sự dòm ngó. Từ ngoài bờ rào, anh cho biết, buổi sáng nay, anh cũng bị xét. May quá, thư từ của chúng tôi gửi, anh đã bỏ vào thùng thư tối qua. Vì nhu cầu, tôi nhờ anh mua hộ mấy thứ cần thiết như thuốc lào, đuờng thẻ. Tôi vừa quăng tờ giấy 10đ ra ngoài rào, từ trong buồng Cường bước ra. Cuờng thì thầm nhờ anh liên lạc với gia đình để lấy đồ tiếp tế. Tôi chẳng hiểu sao anh chưa nhặt tờ giấy 10đ lên. Câu chuyện giữa anh và Cường đang trao đổi, bỗng anh nghiêm mặt, nói to:
– Bệnh của tôi, như vậy có sao không? Anh bảo tôi mua thuốc gì?
Tôi vô cùng ngạc nhiên, chắc Cường cũng vậy. Nhưng chưa kip hiểu vì sao, thì từ sau có tiếng hỏi:
– Các anh “nàm” gì đấy?
Tôi và Cường đều quay lại. Tên Hải sắc mặt lạnh như tiền, mắt quắc nhìn Cường.
– Tôi hỏi, các anh đang nói chuyện gì?
Trong khi Cuờng trả lời tên Hải, “ân nhân” đã xuôi theo con lộ như đi tuần thường lệ. Tôi choáng người khi nhìn thấy tờ 10đ vẫn nằm chình ình sát khóm cỏ, dưới vòng kẽm gai. Tên Hải đi men theo bờ rào quan sát, nhưng chẳng hiểu sao, nó không thấy tờ 10d… Nó quay lại, truy Cường nữa. Còn tôi nó không hỏi gì tới, có lẽ, nó nhìn thấy Cường đang nói chuyện. Buổi tối, nó lại gọi Cường để thẩm vấn dưới mái nhà nhỏ vẫn dùng làm nơi họp K.Trưởng mỗi chiều. Sau gần tiếng đồng hồ, Cường trở vô, mặt mũi phờ phạc, có vẻ lo, nhưng không chịu nói tên Hải đã hỏi những gì? Vì chuyện đó xảy ra, mấy hôm sau chúng tôi không ai dám bén mảng tới gần rào kẽm gai.
Một đêm, đã khuya đang nằm ngủ, tôi nghe có tiếng gạch chọi vô vách tôn. Tôi nhổm dậy, giả vờ đi tiểu, nhìn ra ngoài rào, trông thấy “ân nhân”. Tôi ngạc nhiên, tại sao không có con chó. Thường thường lúc trước, mỗi lần cần thông tin, anh suỵt chó, sao đêm nay thiếu nó? Tôi cẩn thận đi sâu vào lối ngõ cho khuất, rồi luồn qua chiếc ngách nhỏ, ra phía hàng rào! Khi thấy tôi, anh tiến đến, nói nhỏ:
– Con chó vừa chết chiều nay vì trúng mìn trong khi nó sục sạo bắt chuột dưới 9 lớp kẽm gai! Từ nay đêm nào nghe có tiếng chọi gạch, các anh muốn gửi gì cứ đến chỗ này.
Nói xong anh đi ngay, tôi cũng quay vào.
Tôi nằm, không sao ngủ được. Tôi nghĩ đến Khắc và lỗ chó chui nơi hố phân. Nếu Khắc liều trốn Trại, biết đâu, Khắc lại không chịu chung số phận với con chó khôn ngoan kia?
Thấm thoát, chúng tôi đã sống trong Trại Tập Trung Cải Tạo gần một năm rồi. Biết bao nhiêu chuyện vui buồn, bao nhiêu nỗi nhục nhằn, chúng tôi đã gánh chịu. Có nhiều lúc, tưởng sức người khó kéo dài. Từ Long Giao qua Suối Máu, chúng tôi đã kinh qua nhiều khó khăn về tinh thần cũng như vật chất. Quả thực, trong cuộc sống, chưa bao giờ tôi có thể nghĩ đời mình phải trải qua một giai đoạn khắc nghiệt như thế này. Nhiều lúc nản quá, tôi bỏ mặc cho định mệnh muốn dẫn dắt tới đâu cũng được. Nếu ngày nào, không còn súc để mang nổi cuộc sống khốn nạn này, có gục xuống, tôi cũng chẳng còn gì hối tiếc, chỉ mang theo về cõi chết niềm tủi nhục ngàn kiếp không phai. Nó sẽ theo linh hồn tôi bay lang thang trong cõi vô cùng chờ phút nào đó tan loảng vào Hư Không Vĩnh Cửu.
Vào buổi chiều đầu tháng 6-1976, có lệnh ăn cơm sớm. Từ mấy bữa nay, anh em đã nghe tin đồn sắp chuyển Trại nhưng không biết bao giờ? Có lẽ chiều nay chăng? Nhưng chuyển đến Trại nào, về Sóng Thần hay Trường Thủ Đức? cả hai nơi đó đều có thể dùng để tập trung số lượng người đông đảo nơi đây. Hơn nữa, ai chuyển trước, ai sau, vì không cách gì chúng tôi có thể chuyển cùng một lượt, vì quá trình tội lỗi khác nhau.
Tất cả mọi câu hỏi đều đặt ra. Mỗi người, cố tìm câu giải đáp. Nhưng bàn luận, luôn luôn là một nhu cầu, không thể thiếu được trong đời sống tù nhân. Cái gì cũng bàn, cũng tranh luận tuy chả đem lại kết quả nào! Trong khi hăng say bảo thủ ý kiến, mỗi người cố dẫn chứng bằng tin nọ, tin kia, nào tin nhà, tin người thân quen lớn với tụi Cộng Sản , có người còn quả quyết, tên Hải đã nói thế này, thế khác, có lợi cho vấn đề chuyển Trại.
Vào khoảng 4 giờ chiều, tên Hải và Tư cùng một số cảnh vệ vác A.K. vào Trại. Tôi vô tình đứng cạnh tên Tư, thấy tên này cầm trong tay bản danh sách đánh máy có ghi dấu bằng bút xanh, đỏ. Theo lệnh, tất cả đều phải có mặt ở chỗ ngủ của mình như lúc điểm số buổi chiều. Khi mọi người đã ở vị trí, tên Tư bước vô nói :
– Các anh nghe đây, tôi gọi tên anh nào, anh ấy nói “có mặt”, rồi đứng riêng ra. Bây giờ, các anh đứng cả về phía cuối nhà.
Mọi người làm theo. Việc gọi tên bắt đầu. Non nửa số anh em có tên, tiến lên đứng ngay giữa nhà.
– Những anh vừa được gọi, ngay lúc này, thu xếp tư trang rồi tập họp tại sân nhà bếp chờ “nệnh”. Nghe rõ chưa?
– Rõ!
Những người ra đi vội vàng thu xếp.
Ai không có tên, giúp anh em thu dọn, xếp mùng mền chén đũa, ca cóong v.v… Một không khí trầm trầm bao phủ khắp nơi. Tôi tìm Lan, thấy đang sắp xếp vội vàng, tôi biết ngay, anh có tên trong danh sách chuyển Trại. Vừa thấy, Lan cười:
– Chắc ông đến đòi nợ?
manh hai flickr
Không dám cười theo, vì tôi không thể vui được trong hoàn cảnh này. Biết ý, Lan lục trong túi đồ, lôi ra dúi vào tay tôi một gói nhỏ. Tôi cầm chặt trong tay, nói vài câu cảm ơn, xong chạy nhanh đi thăm Phúc, Hùng, Nhân và vài bạn khác xem sao? Số đông bạn bè của tôi đều di chuyển lần này. Tôi chúc mọi người mấy câu, xong phải về ngay vì có lệnh phong tỏa khu vục tập họp, không ai được qua lại. Các tên cảnh vệ làm nút chặn ngang lối đi xuống sân nhà bếp. Về đến nhà, tôi cất gói thuốc Lan cho, rồi nằm xuống suy nghĩ về thân phận mình ngày mai sẽ ra sao? Để tránh ám ảnh, tôi vùng dậy tìm cách men dần đến nơi tập họp.
Mặt trời đã xuống hết. Buổi chiều miền Nam đẹp nhất những giờ phút này. Từng cơn gió thổi nhè nhẹ như mơn trớn, vỗ về. Ánh sáng vẫn soi tỏ mọi vật. Tôi lách mình qua lối đi hẹp tiến gần đến căn nhà sát sân bếp.
– Ê, anh kia đi đâu? – Tên cảnh vệ cầm A.K., quay mũi súng!
– Dạ, tôi về nhà.
Vừa nói, tôi vừa chỏ tay vào căn nhà. Thấy nó không nói gì, tôi lướt nhanh vô, căn nhà còn khá đông người. Ngay cửa trông ra sân bếp, có tên cảnh vệ đứng gác, nên không ai dám nhìn thẳng. Tôi thoáng thấy anh em đang mở đồ để tên Hải và tên Tư khám. Cuộc khám xét chắc mất nhiều thời giờ. Các vật dụng như ca, cóong được ném ra ngoài cả đống. Tiếng kẽm chạm nhau kêu loảng xoảng. Trời đã nhá nhem tranh tối tranh sáng, tôi không nhìn thấy Hùng, thấy Lan và các bạn thân của mình đâu, tất cả trở thành một khối đen đông đặc dính cứng vào màn đêm từ từ buông xuống.
Tôi tìm cách trở về. Ánh đèn đã thắp sáng, trải dài từng khoảng trong lối đi hẹp.
Đoàn xe vận tải, phủ bạt kín mít, ầm ầm chạy theo con lộ lướt ngang Trại. Bụi cát bay mù! Tôi biết, đoàn xe này, lát nữa sẽ cho bạn bè tôi đi về phương nào chẳng biết?
Bên ngoài, trời tối như mực. Những người chuyển Trại tiến dần ra phía sân trước, theo từng đội. Mỗi người đeo trên lưng chiếc ba-lô to kềnh, tay còn xách thêm vai thứ. Có người gánh trông khá gọn gàng. Từ xa, tiếng động cơ nổ ầm ầm. Những ánh đèn pha chiếu sáng. Một chiếc lao đến, đứng ngay nơi cổng Trại. Tiếng thắng xe ken két. Bụi tung mù. Một đội đi ra theo sự hướng dẫn của tên cảnh vệ áp tải. Cảnh cũ tái diễn. Đồ đạc quăng lên trước, người lên sau. Tôi cố mở to mắt tìm Hùng, Lan, Nhân và Phúc ở đội nào nhưng trời tối và quá đông nên đành chịu thua. Tôi tiễn các bạn tôi bằng nỗi nhớ âm thầm nhưng sâu xa vì biết, mai đây sẽ gặp lại nhau trong Trại tù nào đó, dù xa hay gần!
Lần lượt từng đội lên xe, chiếc sân vắng dần rồi trống trải ! Tôi đếm hơn 20 chiếc xe chở khoảng 600 anh em tôi trong đợt đầu, không biết tốt hay xấu? Chờ chiếc xe chót ra khỏi Trại, tôi mới quay vô, lấy chiếc gói nhỏ Lan đưa tôi hồi chiều ra xem. Dưới ánh đèn mờ nhạt, tôi đếm được 18 viên Chloroquine, 10 viên Nivaquine. Tôi nghĩ, những viên thuốc này, cộng với 20 viên Valium có sẵn, sẽ đưa tôi ra khỏi cuộc sống khốn khổ này bất cứ lúc nào tôi muốn.
“Tu-bíp” Cường từ phía bên kia nhìn thấy.
– A, ai cho ông nhiều thuốc vậy?
– Anh em cho trước khi đi, để nhỡ đau ốm dùng!
– Ông có biết không, chỉ 5 viên Chloroquine đó của Quân đội Mỹ, đủ hạ con heo 100 kí. Ông có mấy chục viên, hạ voi cũng được!
Tôi cười bải lải để đánh lừa sự nhận biết của Cường.
– Bác sĩ các ông, cái đếch gì cũng coi là nguy hiểm. Tôi hỏi ông, nếu mai mốt mình bị đưa đến nơi nước độc, tìm đâu ra Chloroquine để mua? Kinh nghiệm dịch kiết ly vừa qua đó! Ông quên sao?
Cường không nói gì, nằm yên, mắt nhắm lại. Buổi tối nay không mở Tivi, nên phía trước Trại vắng người. Hơn nữa, tâm lý anh em đang bị giao động nên cũng ít ai đi lại như mọi tối.
Không ngủ được dù kẻng đã gõ! Từ trong bóng tối nhìn ra ngoài, tôi thấy ngọn đèn đỏ quạch chiếu một khoảng ánh sáng mờ nhạt trên mặt con lộ buồn hiu. Trên vọng gác, một tên cảnh vệ, đứng ngó xuống Trại, còn tên kia đang ôm súng ngồi duỗi chân thẳng, ngữa cổ đưa bi-đông nước lên uống, xong đổ ra tay vã vào mặt, có lẽ, để đánh tan cơn buồn ngủ!…
Buổi sáng nay, không khí toàn Trại có vẻ gì khang khác ngày thường. Không K nào đi lao động. Các K. Trưởng đều ăn mặc gọn gàng tề chỉnh. Anh em thắc mắc không hiểu có chuyện gì xẩy ra. Tôi hỏi Cúc:
– Có việc gì đó ông?
– Ai biết! Sáng sớm, tên “tà -loọc” Trung, xuống cho lệnh các K.Trưởng phải ăn mặc tề chỉnh để dự lễ. Chỉ biết có thế. ·
– Tên Trung đi phép về, khi nào vậy?
– Không biết! Sáng nay hắn xuống mới hay.
– Tôi nghe nói, hôm nọ hắn lấy cớ đi phép về Băc, bắt mỗi K góp cho hắn một khoản tiền dùng làm lộ phí, được cả mấy trăm! Nhưng hắn đâu có về Bắc, mà ra Biên Hòa chơi bời em út! Hết tiền quay về Trại!
– Thôi đi ông, đến tai nó phiền lắm! Nó là con chó săn đó. Nó ghét ai, người đó khó sống lắm! Không biết lúc nào nó đưa vào chơi Connex!
Tôi nhìn thấy tên Trung từ ngoài đi vào. Các K.Trưởng tự xếp hàng, theo tên Trung đi ra cổng.
Anh em đều ngạc nhiên khi nhìn thấy từ trên vọng gác hai tên cảnh vệ nhìn chăm chăm về phía Trại giam. Khẩu trung liên chĩa thẳng xuống sân Trại như sẵn sàng nhả đạn.Trên con lộ, mấy tên khác vác A.K. đi tuần, nòng súng cũng chĩa vào Trại. Như vậy Cộng Sản đã tăng cường an ninh, chắc có chuyện gì quan trọng.
Tiếng thử loa: một, hai, ba, bốn từ xa vọng lại. Anh em người nào cũng lắng tai. Nhìn thấy Khắc, tôi vẫy hắn đến gần, nói nhỏ:
– Nè ông, sao chưa thực hiện ý định?
Khắc nhìn tôi với cái nhìn buồn bã.
– Chưa có cơ hội! Tuy vậy, cũng khó lắm! Cứ giả thử tôi qua lọt 9 lớp kẽm gai và bãi mìn mà không chết, nhưng làm sao có thể băng qua được khoảng trống mông mênh dài cả dăm bẩy cây số? Chờ đến đêm chăng? Cũng không được, vì đêm nào tôi cũng nghe tiếng suỵt chó. Khó quá , khó quá, nhưng chưa tuyệt vọng!…
Giữa lúc ấy, tiếng loa từ xa vọng đến. Anh em nào có mặt nghe được những lời trong loa đều tái mặt.
...Bản Cáo Trạng của tên Nguyễn văn B cấp bậc Đại Úy sinh ngày… tại… có vợ, 2 con, được đào tạo tại Trường Võ Bị Đà Lạt khóa… năm…, đã phục vụ trong Ngụy Quân với các chức vụ sau đây :
. Cấp bậc Thiếu úy, giữ chức vụ Trung Đội Trưởng. . Cấp bậc Trung uý, giữ chức vụ Trưởng Ban An Ninh chi khu. . Cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Chi Khu Trưởng.
Bị bắt ngày 24-6-75. Can tội: phản Cách Mạng, có nhiều nợ máu với nhân dân, được Đảng và nhà nước khoan hồng cho đi học tập cải tạo, lại tìm cách trốn Trại, không chịu học tập.
Nay:
. Chiếu đạo luật số… về tổ chúc các Trại Tập Trung Cải Tạo, . chiếu đề nghị của Ban Chỉ Huy Liên Trại Cải Tạo thuộc quân khu 7, . chiếu đề nghị của Ủy Ban Cách Mạng tỉnh Đồng Nai ngày… tháng… năm, . chiếu Án lệnh của Toà Án Nhân Dân tỉnh Đồng Nai ngày… tháng… năm,
nay tuyên án tử hình tên Nguyễn văn B…
Tiếng vỗ tay rào rào. Sau đợt vỗ tay, lời hỏi cuối cùng:
– Can phạm có điều gì cần nói?
Một giọng rắn rỏi:
– Tôi không có gì để nói!
Tiếng loa im bặt. Anh em có mặt, ngơ ngác ngó nhau. Khắc, mặt tái mét, hai mắt đỏ ngầu như mới khóc. Đôi môi hắn run run như cố chặn cơn xúc động!
Một loạt súng ròn tan từ xa vọng lại! Trời đang nắng chói chang, tự nhiên sầm xuống. Lớp lớp mây đen che kín một vùng rộng lớn. Gió thổi xô từng cụm mây đang cuồn cuộn như sắp nổi cơn giông lớn. Cảnh vật bị chìm ngập trong mầu xám nặng chĩu hơi nước. Phía xa, những tầu dừa ngã nghiêng, vật vã. Tôi ngước mắt nhìn lên vọng gác. Một tên cảnh vệ vẫn chĩa khẩu trung liên về phía chúng tôi, còn tên kia đứng tựa lưng vào thành gỗ hai tay khoanh trước ngực.
Cơn mưa rào bất chợt bủa xuống. Dòng nước đổ như thác làm cảnh vật mờ dần, hư ảo trong cơn mưa. Tôi vô nhà ngồi nhìn ra ngoài. Từng hạt mưa to đều đều trải trước tầm mắt. Chỉ chừng 10 phút, cơn mưa tạnh đột ngột. Mặt trời lại chói chang phả ánh nắng xuống gay gắt. Những bãi cỏ hình như xanh hơn, con lộ đỏ tươi như mầu máu nằm phơi mình dưới sức nóng hừng hực. Tôi úp mặt vào tay. Trong đầu hiện lên hình ảnh pháp trường: một chiếc cọc, một tội nhân bị bịt mắt, trói ghì vô cọc, một tiếng hô, hai tiếng hô, ba tiếng hô, một loạt súng cùng nổ. Xong, một kiếp người!….
Bản án được đọc, trích đúng Bản Tự Khai. Anh em tuy không nói ra, nhưng chắc không ai tránh khỏi niềm lo âu, thắc mắc khi hồi tưởng những gì mình đã viết trong Bản Tự Khai tại Long Giao! Mỗi người, tự kết tội, nhận mình phạm nhiều lỗi lầm, có nhiều nợ máu với nhân dân, dù văn phòng hay tác chiến! Cộng Sản lý luận: nếu không có Bộ Tham Mưu với các Phòng Sở chuyên môn yểm trợ cho mặt trận, làm sao người límh có thể chiến đấu được? Ai lo “điều” quân, ai lo “hậu cần”, ai lo “hợp đồng tác chiến”? Vì quan niệm như vậy, nên mọi người đều có tội ngang nhau. Văn phòng nhiều khi còn nặng tội hơn như ngành Chiến Tranh Tâm Lý và “tình báo Xê-i-a!”
Tôi nhìn thấy từ xa, các K.Trưởng xếp hàng hai đi vào cổng. Nét mặt người nào cũng đăm chiêu, hình như nỗi lo sợ chưa tan hết. Cơm đã lãnh chưa ai muốn ăn. Những lon cơm để tơ hơ đó đây, ruồi bu đầy như rắc đổ đen. Chờ cho các K.Trưởng đi khuất sau vách nhà, tránh sự dòm ngó của hai tên cảnh vệ trên vọng gác, với họng súng đen ngòm, anh em mới bu đông, hỏi han tiú tít.
– Sao, ghê không? Ông có được nhìn lúc họ bắn anh em mình không? Còn hay hết?
Những câu hỏi dồn dập làm Cúc không biết đâu trả lời!
– Từ từ chứ mấy cha nội! Họ cốt cho mình chứng kiến để dằn mặt mà! Ai có ý định trốn Trại coi đó làm gương! Chiều nay, còn trự nữ!
Cúc vừa nói vừa cởi nút áo, phanh ngực cho mát.
– Ghê quá, nhưng phải nhận, anh B can đảm lắm. Anh không chịu bịt mắt khi bị dẫn ra pháp trường. Trước phút hành quyết, anh còn hô “Việt Nam Cộng Hoà muôn năm ! Đả đảo Cộng Sản!”
Buổi trưa hôm ấy, không ai ngủ được. Chỗ nào cũng bàn tán về cuộc xử bắn sáng nay và ước đoán về cuộc hành quyết buổi chiều. Tôi không thấy Khắc suốt từ lúc hắn rời tôi khi sáng, nhưng tôi chắc sự việc vừa diễn tiến sáng nay, còn tiếp tục đến chiều, chắc làm tâm hồn hắn giao động dữ lắm ! Khắc vốn ít nói, không ai đoán được hắn nghĩ gì, nhưng sau mấy lần tiếp xúc trực tiếp, tôi biết, trong thâm tâm hắn đã phần nào nao núng và ý nghĩ trốn Trại chắc cũng tàn dần như chiếc đèn lụi bấc!
Vào khoảng 2 giờchiều tiếng kẻng vừa đổ, các K.Trưởng lại tập họp hàng hai đi ra cổng. Anh em hồi hộp đợi chờ. Tiếng thử loa lại vang vang: một, hai, ba, bốn!… Khẩu trung liên vẫn chĩa mũi xuống Trại, chiếc ổ đạn tròn xoe to bằng chiếc đĩa, nằm im trên nắp cơ bẩm. Chỉ một cái nhấn tay, hàng trăm viên vút ra, lao tới mục tiêu trong nháy mắt. Chúng tôi là quân nhân, sự đụng chạm với súng ống coi chuyện thưòng, cũng như vấn đề chết, sống ở mặt trận cũng coi nhẹ. Nói vậy, không có nghĩa, mọi chiến sĩ đều can đảm, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng và ao ước được cái chết “poncho” bọc thây nơi trận địa, nhưng một khi, tâm lý con người đã vượt quá mức sợ hãi không có và không còn cách nào khác, phải đối diện trực tiếp với tử thần, thì mọi người đều để trở thành anh hùng. Lúc ấy, máu chảy không tạo nên sợ hãi, trái lại, nó tác động mạnh vào cân não, do phản ứng tự nhiên, nên tìm mọi cách, dù tàn bạo, để làm cho kẻ thù đổ máu chứ không phải mình và đồng đội!
manh hai flickr
Nhưng sao hôm nay, khi nghe tiếng súng, khi nhìn khẩu trung liên lại thấy sợ? Mình hèn chăng? Mình sợ chết chăng? Tại sao mình không dám trốn Trại, chui qua lỗ chó, chui ở hố phân như Khắc có ý định? Nếu bị bắt, bị đem ra xử bắn, viên đạn ô nhục nào đó xuyên qua thân xác tôi, làm những giọt máu quý báu của đời mình thoát ra, chảy tràn trề khắp thân xác rồi chìm vào quên lãng!… như thế còn hơn cứ tiếp tục một đời sống mỏi mòn trong tù ngục!…
Tôi đang suy nghĩ, một tiếng hô lớn từ xa theo loa vọng lại. Cuộc xử án buổi chiều bắt đầu. Vẫn những lời nói ban sáng, sắc gọn, khô khan và quyết liệt:
…Tên Trần Mạnh C… cấp bậc Trung uý sinh ngày… tại… có vợ, 3 con.
Được đào tạo tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa…, năm…. Đã phục vụ trong Ngụy Quân với chức vụ sau đây!….
Tiếng nói trong loa theo gió vọng đến nghe rất rõ. Người bị hành quyết can tội trốn Trại, có nhiều nợ máu với nhân dân, là Tình Báo Xê-I-A của Mỹ Ngụy. Bị bắt ngày 24-6-75 v.v… Nay tuyên án tử hình… Tiếng vỗ tay lại rào rào.
– Can phạm có điều gì cần nói?
– Không!
Trời xế chiều, càng nắng gắt. Tôi nhìn lên, mầu trời xanh ngắt, không làn mây nào vương vất đó đây như thường có mỗi chiều tại miền Nam nước Việt. Trong đợt gió hiu hiu thổi nhè nhẹ, không xua đuổi được cái nóng hầm hập từ mái tôn dội xuống!
Loạt đạn nổ vang. Tôi biết một kiếp người vừa bước vào cõi hư vô ! Lạ thay, từ đâu đó, tôi nghe thấy tiếng rít như có cơn lốc lớn thổi luồn trong hang đá rộng. Tôi ra hẳn bên ngoài ngó nhìn. Mặt trời vẫn chiếu từng dòng nắng rực rỡ xuống cảnh vật. Hàng cây cuối chân trời lắc mạnh như đang chịu một sức đẩy nhanh khủng khiếp. Chỉ loáng sau, cơn gió đã thổi tới với tốc độ kinh hồn. Cát bụi bay mù mịt. Tôi phải nhắm mắt để tránh bụi cát. Gió thổi làm những mái tôn rung rộn ràng. Chưa bao giờ tôi thấy một cơn gió mạnh như vậy, giữa trời nắng chang chang. Cơn gió thổi như muốn cuốn theo tất cả những gì có thể cuốn được. Cát bụi phủ mù mịt trong vòng 15 phút, tự nhiên, gió lặng. Cảnh vật lại im lìm như không hề có chuyện gì xẩy ra ! Hiện tượng này làm mọi người suy nghĩ. Buổi sáng trời đang nắng bỗng đổ cơn mua rào, sau tiếng súng. Buổi chiều trời nổi gió tự nhiên, cũng sau tiếng súng giết người. Có lẽ, do sự huyền bí nào đó, cảm ứng từ cõi xa xăm không ai đoán biết, nên mới có sự tình như vậy ! Hai chiến sĩ bất khuất đã chống lại chế độ bạo tàn phi nhân của Cộng Sản trong Trại tù, bằng cách trốn Trại, đi tìm tự do và có thể đi tìm môi trường để chiến đấu chống lại kẻ thù vì họ còn trẻ, nhưng chí chưa thành, thân đã bại, nên đất trời cùng nhỏ lệ và uất giận, tạo nên mưa, gió?
Suốt ngày hôm đó cho tới giờ ngủ, tôi chưa tìm thấy ai nở nụ cười, chỉ có tiếng bàn tán thì thầm và những cái nhìn ủ dột.
Dòng người đi cầu mỗi sáng vẫn đông nghẹt. Khẩu trung liên không còn thấy trên vọng gác nữa mà sáng nay nó trở lại trạng thái bình thường. Chiếc cổng chưa mở. Tên cảnh vệ từ trên vọng gác thản nhiên nhìn dòng người đang bấn loạn ruột gan. Khẩu A.K. chĩa mũi thẳng hướng về phía dưới.
– Cán bộ, cho đi cầu!
Không có tiếng trả lời.
Anh em đứng chờ. 15 phút sau, lại có tiếng xin, nhưng tên bộ đội, mặt vẫn lạnh lùng không hé môi cũng chẳng gật đầu. Anh em lại chờ. Bỗng từ trên cao vọng xuống.
– Cho đi!
Một số người ào ra. Mặt trời đã lên cao, những tia nắng dọi xuyên ngang tầm mắt. Trong lúc chờ đợi, tôi nghe anh em bàn tán.
– Uổng quá, một người đã ra tới đường rồi, nhưng chưa kịp chạy đến nơi hẹn, có chiếc Honda nổ máy chờ, đã bị phát giác! Còn một người đang kẹt trong rào kẽm gai!
– Họ được chôn ở đâu?
– Đù mẹ, chôn đâu nữa. Chôn vào 2 chiếc huyệt, tụi K7 của mình đào chiều hôm trước, gần lề đường đi Biên Hòa, đối diện với “Nghĩa Trang Liệt Sĩ” của chúng nó. Tụi K9 phụ trách khiêng đi. Không hiểu sao hai chiếc hòm nặng quá, tám người khiêng ì ạch. Anh em khấn: “Hai anh sống khôn, thác thiêng, cùng chung lý tưởng khi trước, nay hai anh thác đi, anh em thương tiếc, mang hai anh đến nơi ở cuối cùng. Xin thương nhau, cho nhẹ đi, để anh em khiêng đỡ khổ!” Lạ thay, sau lời khấn đó, hai chiếc hòm nhẹ tênh!
– Có mộ bia gì không?
– Có hai khúc củi!…
Tiếng nói chuyện ngưng lại vì kẻ ra người vào liên tục. Dòng người ngắn dần, ngắn dần!…
Đời sống trong tù cứ kéo dài một nhịp chán nản, nếu thỉnh thoảng không có những bất ngờ xảy ra.
Mỗi chiều sau khi ăn cơm xong, anh em thường đi đến cuối Trại nơi đó có chiếc sân xi-măng nhỏ, xa vọng gác, có thể liên hệ với Trại bên, tương đối dễ dàng. Nhưng sự liên hệ càng vô cùng nguy hiểm nếu sơ ý để tụi cảnh vệ bắt được, nó sẽ nghiêm trị vì vi phạm nội quy. Tuần trước, không hiểu vì lý do nào, tụi Cộng Sản điều động một số anh em qua Trại khác. Tuy gần nhà mà xa ngõ. Hai Trại chỉ cách nhau 3 lớp kẽm gai, kẻ đứng bên nầy, người đứng bên kia nói chuyện dễ dàng. Nhưng muốn đi từ Trại này qua Trại kia phải di chuyển theo con lộ đất đỏ chạy vòng theo rào kẽm gai dài khoảng trên 1 cây số. Tôi đã chứng kiến cảnh chuyển Trại đó vào một buổi chiều gần tắt nắng. Những người tù trông lôi thôi lếch thếch, dìu dắt nhau lê từng bước chân nặng nề, trên con lộ đỏ sẫm ánh chiều. Nào túi đeo lưng, nào ca cóong, nồi niêu, nào đồ ăn, thức uống, mỗi thứ một chút. Trông họ như một lũ quái vật, người chăng ra người, ma chẳng ra ma! Mấy tên cảnh vệ cầm A.K. áp tải, miệng luôn luôn hét: Đi mau “nên”! Nhưng vì mang vác quá nặng, mỗi bước chân như cắm chặt xuống mặt lộ, muốn rút lên cũng khó, do đó, sự di chuyển mỗi lúc mỗi chậm thêm.
Người biết gánh còn đỡ, nếu không, chỉ lết ì ạch.
Sau nghĩ lại, tôi thấy cuộc di chuyển này tuy ngắn, nhưng nếu ai chú ý, có thể rút kinh nghiệm cho những lần chuyển Trại mai sau, dài gấp 5, 7 lần trên những con đường đồi núi vô cùng gian khổ, sẽ đỡ được phần nào cực nhọc.
Sau đó ít lâu, tụi Cộng Sản “điều” về một số tù cấp Đại Úy và Thiếu Tá để bổ sung.
Tên Trung, một hung thần chuyên phục kích bắt liên hệ. Anh em biết rõ, nên luôn luôn cảnh giác. Nhưng ngặt nổi, Trại có nhiều lối đi, lại đông người, nếu tên Trung mặc quân phục còn dễ nhận, nếu mặc thường phục rất khó nhận ra. Khi biết, làm ám hiệu cũng không kịp, nó đã ở ngay sau lưng.
Buổi chiều nay, tên Trung bắt được hai người đang liên hệ với Trại bên, có anh em mới chuyển qua.
Bính (Tiểu Đoàn Trưởng Pháo Binh) và Hưng (Sĩ Quan Tiếp Vận). Tên Trung chĩa khẩu súng lục vào Bính vì anh này cao lón, vạm vỡ, còn Hưng người nhỏ thó. Bính, khá bảnh trai, nói tiếng Anh rất thạo, có giọng hát hay, tuy chưa bao giờ là ca sĩ.
– Đi! tên Trung ra lệnh. Bính và Hưng bước đi giữa những cặp mắt thương xót của anh em ! Khi tên Trung vừa đi khuất, những tiếng chửi rủa bắt đầu.
– Đù mẹ! cái thằng khốn nạn, khi xin tiền sao tử tế thế, nay lại trở mặt bắt anh em?
– Cộng Sản vậy mà!
Những tiếng chửi vọng, tuy không can đảm chút nào, nhưng cũng nguôi ngoai được bực tức. Tôi nghĩ đến Tuệ với 24 giờ sống trong Connex lại lo sợ cho Bính và Hưng. Tối nay làm sao họ ngủ với tiếng động lách cách liên tục do sự co giãn của sắt dưới áp suất nhiệt độ! Sống trong tù, mỗi đêm mất ngủ là một thảm họa. Những suy nghĩ vẩn vơ làm suy nhược cơ thể. Tôi chắc đêm nay họ sẽ thức suốt sáng. Họ sẽ nói chuyện cho quên đêm dài tủi hận. Chăn chiếu không có, họ sẽ ôm nhau để truyền hơi ấm, còn hơn trường hợp của Tuệ, chỉ có một mình đương đầu với mọi bất ngờ!
Chiến tranh tiếp diễn; quân Đức tiến dần về đất Nga. Hàng triệu người lại bị lính đưa về miền Oural để chế tạo vũ khí cho Sô Viết. Đó là một miền lạnh lẽo, đâu đâu cũng toàn là những vùng rào kẽm gai, những núi quặng, những đường rầy, những ống khói nhà máy.
Eddy Thall cũng được chở đến đây, nhưng trong đám nữ tù binh, nàng lại được tên gác dan cho làm việc ở văn phòng, chứ không phải ở trong các hầm mỏ như các tù nhân khác.
Eddy Thall bắt đầu quét nhà, quét thứ đất xa lạ đã bám vào giày dép của đám người nô lệ, đám người trốn Đức quốc xã, để lại rơi vào tay Sô Viết. Dấu vết tổ quốc họ chỉ còn tượng trưng bằng một ít đất bụi bám vào giày dép. Đó là loại đất toàn thể Âu Châu, nên Eddy Thall vừa quét vừa nhìn chúng qua làn nước mắt tủi thân.
Giữa trưa tên gác dan trở về văn phòng. Hắn đặt bàn tay nặng nề, đẫm mồ hôi và mùi thuốc lá lên vai Eddy Thall; nàng thối lùi nhưng hắn mỉm cười và giao cho nàng chiếc chìa khóa:
– Cô sang quét phòng tôi bên cạnh. May mắn lắm cô mới được làm việc ở văn phòng đó nghe.
Nói xong, hắn bỏ đi, Eddy bước vào phòng hắn một mình, một phòng nhỏ vách ván với những bức ảnh cắt ở các tờ báo, một giường ngủ, một lò sưởi; nàng quét thật nhanh xong đóng cửa trở về văn phòng.
Qua khung cửa sổ, nàng trông thấy rõ những nữ tù đang khiêng các khúc đường rầy trên vai.
Người gác dan trở lui, hắn tự giới thiệu:
– Tôi tên là Ivan.
Hắn lại đặt tay lên vai Eddy nhưng nàng thối lùi. Hắn chán nản ngồi xuống ghế, lúc nào hắn cũng đội mũ, trong phút chốc hắn buồn bã lạ lùng; đôi mắt, vầng trán, tối hẳn xuống, nỗi buồn trĩu nặng trên đôi vai, người ta có thể nói không ngoa là niềm thất vọng não nề đó đã làm mềm xương hắn đi. Hắn lại đứng dậy, chậm chạp, mệt mỏi, đưa tay mở cửa phòng bên cạnh và ra lệnh:
– Cô bước vào đi.
Nhưng Eddy vẫn đứng yên. Hẳn bèn nắm ngực nàng đẩy mạnh vào phòng và khóa trái cửa lại.
– Tại sao cô không muốn vào phòng tôi?
Eddy bị đẩy vào chính giữa phòng, mở to đôi mắt nhìn đôi tay nắm chặt của Ivan cùng nét mặt, đôi môi thèm khát của hắn. Nhưng hắn vẫn bình tĩnh rút thuốc lá hút, dựa lưng vào cửa.
– Tại sao cô thích làm việc mười bốn giờ một ngày trong hầm mỏ với cuốc xẻng hơn là ở đây với tôi?
Ivan cắn điếu thuốc rồi tiếp tục:
– Tất cả người đàn bà ngoại quốc da trắng, tóc uống, mặc áo như cô ai cũng thích đi xuống hầm mỏ hơn là ở đây với tôi. Tôi muốn hiểu tại sao lại thế. Tôi muốn biết rõ sự thật. Trả lời cho tôi, tôi sẽ không làm gì cô cả.
Eddy Thall không trả lời.
Ivan hỏi tiếp, răng vẫn cắn chặt điếu thuốc:
– Nếu cô không nói, tôi cũng bắt cô nói. Nào nếu em nói thật cho tôi biết, tôi sẽ để em đi, tôi hứa sẽ giúp đỡ em. Tôi chỉ muốn biết tại sao những người trưởng giả lại thích sống 14 giờ dưới hầm mỏ hơn là sống với tôi.
Eddy Thall năn nỉ:
– Ông làm ơn để tôi đi.
Ivan dơ tay cao lên. Hắn muốn tỏ ra bình tĩnh nhưng bắp thịt hắn vẫn đưa tay hắn cao lên, những thớ thịt như những cây cung căng lên bởi thù hận. Hắn đánh mạnh vào ngực của Eddy. Nắm tay đó có thể vật ngã một con bò hay giết được một con ngựa, nên Eddy ngã xuống, và trước khi bất tỉnh nhân sự, nàng còn nghe Ivan giận dữ hét lên:
– Có phải tôi xấu xí hơn cả hầm mỏ hay không? Có phải tôi còn đáng sợ hơn hầm mỏ hay không?
Sau đó nàng không còn nghe thấy gì nữa cả. Hình như xương nàng gãy kêu răng rắc, hệt như tiếng kêu răng rắc của chiếc tàu ở hải cảng Constantza độ nào vào một đêm bão tố.
Nàng tối tăm mặt mày và có cảm tưởng là không phải Ivan đã đánh nàng mà chính là người đàn ông mang áo choàng da, khăn quàng đỏ, người đàn ông đã la hét ở Kichinev và ở sa mạc.
Bây giờ, Eddy không còn ở trên chiếc tàu sắp chìm ở Constantza nữa, mà là đang ở trên bãi sa mạc mênh mông. Bầu trời, cát, da thịt nàng, tất cả đang cháy thành tro bụi. Sa mạc cũng tiêu thành mây khói. Chỉ còn lại một thứ ánh sáng yếu ớt phát ra từ hai lá phổi của nàng chạy dần đến cằm nàng, một thứ ánh sáng âm ấm chạy trên môi nàng, trên vú nàng, trên thân thể nàng, như một thứ thuốc mở đang phủ lên người nàng. Thân thể Eddy im lìm, bất động, từ lúc máu ở hai buồng phổi chạy dài trên môi, trên má, trên vú, thấm ướt cả áo nàng.
Eddy chỉ còn cảm thấy một sự mơn trớn nóng hổi, dịu dàng trên người nàng, một thứ mơn trớn trìu mến của chính những giọt máu chảy từ thân thể nàng. Chúng chạy dài trên tay nàng, nhẹ nhàng như một con mèo và êm đêm như sự vuốt ve của một bà mẹ. Nàng không còn sợ hãi nữa. Mà chính là một sự yên nghỉ và ngọt ngào đang bắt đầu. Tất cả đều tan rã, dưới sức nóng của máu nàng, và Eddy muốn đưa tay ra để cầm lấy, nhưng những giọt máu đã lánh xa nàng.
Ivan vẫn còn nói:
– Tôi không muốn làm em đau khổ. Tôi không phải là một người hung tợn.
II
Eddy Thall mở mắt. Nàng nhận ra căn phòng vách ván với những bức ảnh cắt ra từ các tờ báo. Nàng nhận ra chiếc giường nàng đang nằm và nàng đang bị băng bó trên đầu. Nàng nhớ là nàng đã bị đấm ngã nhưng không hiểu từ bao lâu. Hôm qua chăng. Qua khung cửa sổ, nàng trông được những khu rào thép gai, những đống quặng sắt và than đá, qua làn nước mắt, nàng trông rõ bồn tắm, lò sưởi, nền nhà nàng đã từng quét dọn. Bỗng cửa mở Ivan bước vào. Nàng không muốn trông thấy hắn nữa nên giả vờ nhắm mắt, nàng biết rõ hắn đang nhẹ nhàng bước đến và quỳ xuống bên giường.
– Em hãy tha lỗi cho tôi.
Đúng là giọng hắn, nhưng lần nầy không còn rắn rỏi nữa.
– Tất cả những người đàn bà trưởng giả đều thích làm việc ở hầm mỏ hơn là chung sống với tôi. Với tôi chỉ toàn là những đàn bà nông dân. Tại sao như thế, chỉ vì câu hỏi đó mà tôi đã mất bình tĩnh. Tôi chỉ muốn, một lần thôi, biết được sự thật đó. Tôi chỉ muốn biết tại sao những người đàn bà trưởng giả đẹp đẻ lại cứ lánh xa tôi. Nếu em nói cho tôi điều đó thì tôi đã để cho em đi, và không đánh đập em như thế nầy.
Eddy Thall vẫn nhắm mắt nghe hắn nói :
– Tôi xấu lắm chăng? Tôi làm em sợ hãi ư? Tại sao em cứ muốn bỏ đi?
Nàng vẫn yên lặng, hắn vẫn quỳ bên giường nàng:
– Nếu em biết là em đẹp, vâng, chưa bao giờ tôi gặp được một người đàn bà đẹp như em.
Tự nhiên Eddy ứa nước mắt. Chúng tự nhiên trào ra, chạy dọc theo cầm nàng, xuống tận cổ nàng, ra đến tai nàng. Ivan đưa tay chùi nước mắt trên cổ nàng. Đúng là bàn tay đó đánh nàng hôm qua, cũng là bàn tay to lớn, nặng nề nhưng không còn hung dữ như hôm qua.
– Hãy tha thứ cho tôi đi em. Từ nay tôi sẽ không bao giờ đánh em nữa đâu. Hôm qua, tôi bồng em trong tay, để em lên giường. Em nhẹ như một sợi lông măng. Em thật như những thiên thần, người ta bảo thiên thần không có trọng lượng, em cũng như thế đó. Tôi đã mời y tá bệnh xá đến. Cả hai chúng tôi cùng săn sóc em, người em đầy cả máu. Chúng tôi phải cởi hết áo quần em, và nhờ đó, tôi mới biết là tôi chưa bao giờ gặp được người nào đẹp như em, đẹp như một bức tranh trong báo. Ngực em, chân em hệt như bọt nước trắng xóa. Vai em, tay em hệt như của đứa bé sơ sinh, mà người ta không dám động đến, sợ chúng gãy đi mất.
Eddy Thall hé mắt nhìn chiếc đầu dài của Ivan. Hắn vẫn tiếp tục nói.
– Suốt đêm tối thức trắng bên em.
Sau đó hắn đứng dậy, pha một tách trà cho Eddy, rồi nói tiếp:
– Cô ý ta bảo là em đang đau phổi. Tôi rất sung sướng đã không bắt em làm việc ở hầm mỏ. Đau phổi mà xuống đó thì chỉ vài tuần là chết. Bây giờ em cho phép tôi nhìn đôi chân xinh xắn của em chứ?
Hắn nhấc chiếc mền lên một chút. Eddy Thall lo sợ thu chân vào trong nhưng Ivan đã nhìn thấy, và hắn sung sướng bỏ đi.
Eddy Thall lại bắt đầu cô đơn. Chưa ai chiêm ngưỡng đôi chân nàng như anh chàng khổng lồ hồi nãy. Nàng cảm thấy hổ thẹn khi nghĩ rằng người đàn ông đã quỳ bên chân nàng như quỳ trước một điều linh thiêng lại là anh chàng gác dan đã đánh đập nàng hôm qua. Tuy nhiên, sự chiêm ngưỡng đó cũng làm cho nàng sung sướng. Dù sao, hắn cũng yêu nàng, và không người đàn bà nào lại có thể lãnh đạm khi được yêu và được tôn thờ, ngay cả đến người yêu là một kẻ thô kệch.
Trong khoảnh khắc, Eddy quên khuấy đi mất là nàng bị giải tới miền Oural, nàng bị đưa vào hầm mỏ, quên khuấy đi là nàng từ một bãi sa mạc đến đây và đã bị đánh đập đến thổ huyết hôm qua. Nàng quên mất hết. Tất cả đều mờ đi, chỉ còn một điều chính yếu là có một người đàn ông đã kính cẩn quỳ dưới chân nàng. «Mảnh đất hứa hẹn» mà người đàn bà tìm kiếm không phải là một mảnh đất nhưng chính là lúc mà một người đàn ông nào đó yêu thương nàng hơn hết bất cứ gì trên đời.
Tuy nhiên lúc Eddy nghĩ đến Ivan, nàng vẫn hổ thẹn, vẫn sợ hãi và ghê tởm.
III
Boris Bodnariuk đã được chở vào bệnh viện. Không những đảng không xem hắn là thủ phạm mà còn khen thưởng hắn về hoạt động canh tác sa mạc và thay đổi khí hậu. Trán hắn dần dần lành hẳn, chỉ còn lại một vết sẹo, như hình một chiếc lá. Ở nhà thương, Boris chờ trung ương chấp thuận cho hắn được ra tiền tuyến. Đa số thương binh ở đây đều là những sĩ quan không quân trẻ tuổi, những người hùng đầu tiên trong cuộc chiến chống quốc xã.
Gặp một hạ sĩ quan không quân còn trẻ, Antola Barsov, Boris đã nói ngay :
– Cá nhân không thể ở ngoài đoàn thể. Cá nhân ở ngoài đảng sẽ mất thăng bằng hay bị chết bất cứ lúc nào. Với một người cộng sản, không thể có cuộc sống nào ngoài đảng, vì như thế người cộng sản chới với trong khoảng không.
Antole Barsov chăm chú nghe. Mọi người trong bệnh viện nầy lúc nào cũng chăm chú nghe Boris Bodnariuk nói, vì đó là người hùng đã thử thay đổi khí hậu sa mạc. Hắn vẫn thao thao:
– Nỗi đau khổ lớn lao nhất của người cộng sản là bị đảng sa thải và bắt buộc sống trong một xã hội trưởng giả.
Một người y tá gọi Boris vào văn phòng quản đốc, Antole Barsov đứng chờ hắn, nhưng hắn không trở lại nữa. Tại văn phòng quản đốc đã có hai tướng lãnh từ Moscou đến kiếm Boris, trong đêm nay. Đã có một chiếc xe mang huy hiệu tướng lãnh của hồng quân đậu sẵn trong sân bệnh viện chờ để chở Boris đi.
IV
Các vị tướng lãnh lần lượt bắt tay Boris Bodnariuk. Họ chăm chú nhìn vết sẹo chạy dài trên trán hắn, rồi một người lên tiếng, một ông già tên Budieny:
– Tổ quốc Sô Viết đang trải qua những thời kỳ khó khăn. Quân phát xít hiện đang tràn vào Mạc Tư Khoa. Chúng đã chiếm Ukraine. Tổ quốc kêu gọi sự cộng tác của những kẻ có tài. Vì thế nên chúng tôi đã mời đồng chí đến đây để làm tròn sứ mệnh xứng đáng với đồng chí. Đồng chí đã quá thành công trong công cuộc canh tác các đồng cỏ. Tiếc thay chúng tôi phải ngừng kế hoạch đó để dồn sức lực chúng ta vào kỹ nghệ chiến tranh, sau khi chiến thắng, chúng ta sẽ trở lại kế hoạch biến đổi khí hậu và canh tác sa mạc.
Boris đỏ mặt cảm động. Thế là giấc mộng ra tiền tuyến của hắn có thể thực hiện được.
– Bộ chỉ huy hành quân đã có ý định phong cho đồng chí cấp tướng lúc nào đồng chí bình phục hẳn và giao cho đồng chí một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.
Boris nghe chữ «tướng» trong chốc lát, hắn nhớ lại hệt như trong một khúc phim, quãng đời trôi nổi của hắn từ lúc xảy ra tai nạn cho Angelo: Trường võ bị, bộ áo quần nhục nhã, cuộc vượt sông Dniestr, Hàn lâm viện Mạc Tư Khoa, sa mạc đồn điền trên cát, Natacha, bệnh viện, Antole Barsov… Và bây giờ trước mắt hắn, hai vị tướng đang nói với hắn: «Bộ chỉ huy hồng quân muốn phong cho đồng chí cấp Tướng.» Người tướng già tiếp tục:
– Bộ chỉ huy muốn tiền nhanh trong công việc nầy. Quân Đức đã tiến tới như vũ bão. Chúng ta đã có dự định tổ chức lại tất cả hệ thống Hồng quân. Tôi muốn nói là tổ chức lại hệ thống Hồng quân đằng sau phòng tuyến địch. Nếu đồng chí cảm thấy đã bình phục chúng tôi sẽ giao cho đồng chí chỉ huy tất cả lực lượng Sô Viết ở hậu phương. Đến Mặc Tư Khoa, đồng chí sẽ có thêm nhiều chi tiết khác. Lúc đi đường, đồng chí phải thảo ra một kế hoạch. Cần phải sẵn sàng khi đến Mạc Tư Khoa nghĩa là đồng chí phải đi ngang phòng tuyến địch và tạo lập một đội hồng quân khác. Lúc đầu chỉ là một lực lượng nghĩa quân, sau đó sẽ là chủ lực quân. Điều chính yếu là đi tới chiến thắng càng nhanh càng tốt. Đồng chí có thể nghĩ đến, ngay từ bây giờ, địa điểm của bộ tư lệnh – Bucarest hay Varsovie, nơi nào tuỳ ý. Chúng tôi để đồng chí toàn quyền định đoạt. Nào mặc áo quần vào đi và nhớ thảo một kế hoạch.
V
Một tháng sau, Boris Bodnariuk đã đến ga Bucarest. Hắn là một vị tướng, nhưng là một vị tướng không quân phục. Hắn là một vị chỉ huy tối cao của lực lượng Sô Viết đằng sau phòng tuyến Đức quốc, nhưng lực lượng đó không hiện hữu, chính hắn phải lập nên. Các yết thị ở ga xe lửa báo tin là quân Đức đã gần đến Mạc Tư Khoa. Boris mỉm cười :
– Nếu quân Đức tàn sát chủ lực quân Sô Viết, họ vẫn còn phải vất vả lắm với bộ đội bí mật do mình lập nên.
Hắn đi về phía khách sạn. Ngày hôm sau, hắn ra đường với bộ đồng phục mang cấp bực đại úy Lỗ Ma Ni và bắt đầu thành lập kế hoạch tạo dựng một đội quân bí mật.
Lúc đầu, hắn gặp toàn là trở ngại. Hình như nhiệm vụ của hắn không thể nào thực hiện được. Hắn đi khắp các nước, gặp hầu hết các tổ chức. Thật quá khó, trên hai chục triệu dân Lỗ Ma ni, chỉ có tám trăm đảng viên cộng sản, tám trăm người đó lại bị theo dõi chặt chẽ. Không thể nào cộng tác với họ được. Ở Hung Gia Lợi, ở Bảo Gia Lợi, và Tiệp Khắc tất cả đều như thế cả. Đảng cộng sản khá nhất lại ở tận vùng núi của Cộng Hòa Serbie. Đó là những đảng viên của thống chế những người Slaves miền Nam. Lại càng không thể cộng tác với ông ta được, ông ta là một kẻ quá kiêu ngạo. Như thế trong nhiều tháng, Boris không thể hoạt động gì hơn đuoc ngoài một vài vụ khủng bố không đáng kể.
Boris Bodnariuk trở về phòng như mọi đêm. Đã gần khuya, hắn muốn đánh một mật điện, nhưng lúc hắn vừa mở máy thì đã có tiếng còi báo động. Vội vàng mặc áo, hắn bỏ ra đường, thường là hắn muốn chứng kiến những kết quả của cuộc oanh tạc, vì đa số bom Sô Viết thả đều không nổ. Boris bước vào quán cà phê. Vừa nghe tiếng động cơ rền, Boris vừa đoán những mục tiêu oanh tạc. Khách hàng nhìn bộ quân phục Lỗ Ma Ni trên người Boris và mỉa mai về những trái bom Sô Viết không hề nổ bao giờ. Boris quay đầu lại và trông thấy một người đàn bà say rượu đang cầm một ngọn đèn bấm. Bà muốn đi ra ngoài, nhưng đã có lệnh không ai được đi trên đường phố lúc có oanh tạc. Nhưng bà không muốn nghe theo, vừa chửi thề vừa bước ra đường phố.
Viên chủ quán muốn phân trần với Boris, vì trong thời chiến vị sĩ quan nào cũng được xem là đủ tư cách để đại diện cho chính quyền.
– Bà đó là một người tôi tớ, ở cách đây chừng 20 thước. Bà luôn luôn say rượu, có lẽ vì quá buồn phiền. Trước đây bà ở cho một nữ nghệ sĩ Do Thái, lúc nàng bỏ đi, bà không muốn đi làm công cho ai nữa. Bao nhiêu tiền dành dụm được, bà đem đi uống rượu suốt ngày.
Boris lơ đãng nghe người chủ quán kể chuyện không có gì hào hứng cả, vì đó là một chuyện thường tình như trăm ngàn chuyện khác.
Có tiếng bom nổ ở gần đây. Cửa kiến rung lên. Nhiều trái khác rơi gần hơn, một căn nhà bị thiêu hủy, rồi tiếng xe cứu hỏa. Khách hàng đã trốn xuống hầm trú ẩn. Boris sực nhớ đến máy phát thanh của hắn và vội vã bỏ đi. Nhà hắn ở trước mặt nhưng đã có lính và cảnh sát vây kín.
Họ chưa vào lục soát trong nhà. Ngay lúc đó, một trái bom nổ ngay ở khách sạn của Boris. Những căn lầu trên sập xuống. Nhà cháy, nhiều tiếng kêu la hỗn độn mọi người ồ ạt đổ ra đường. Boris đứng bất động hắn chỉ nghĩ đến bộ máy phát thanh của hắn, bởi nếu không có đám cháy, nếu căn nhà không bị hủy, bộ máy đó sẽ rơi vào tay kẻ thù và hắn sẽ tức tốc bị lộ tung tích ngay, nhưng may mắn thay không ai để ý đến gì được cả trong bóng tối đầy chen lấn và la hét ầm ĩ.
VI
Trong đám đông có kẻ la lên:
– Người ta đã bắt được một số gián điệp Sô Viết. Boris sợ toát mồ hôi, hắn đứng như dán lưng vào tường, núp sâu trong bóng tối. Hắn đặt bộ máy phát thanh trong phòng. Nếu hệ thống đó bị phát giác, thì hành tung bí mật của Boris bị bại lộ, công tác của hắn đành chấm dứt. Hắn sẽ bị bắt và bị xử tử.
Boris trà trộn vào đám đông. Lúc còi báo động chấm dứt thì một hàng rào cảnh sát đã có trước cổng ra vào. Đội cứu hỏa mang xuống một người đàn bà già nua trên băng ca. Đám đông thấy Boris mang y phục sĩ quan bèn nhường chỗ cho hắn đi ngay. Thế là Boris đành phải đứng cạnh hàng rào cảnh sát và cạnh băng ca người đàn bà bị cháy. Viên biện lý tòa án quân sự đã lập biên bản xong:
– Ngay sau khi báo động người ta đã cho chúng tôi biết là có một người làm hiệu bằng đèn bấm trên lầu căn nhà nầy. Chúng tôi đã đến tận nơi ngay, nhưng lúc đó, bom đã trút xuống căn nhà. Người làm hiệu đã chết trong đống gạch vụn, tay vẫn còn cầm cây đèn.
Viên cảnh binh chỉ người đàn bà nằm trên cáng:
– Không còn nghi ngờ gì nữa, chính là bà nầy đã ra dấu cho máy bay.
Người gác dan rẽ đám đông đi vào, trả lời ngay :
– Đúng là Tinka Neva, tôi biết bà ta rõ lắm. Bà thuê một căn trong nhà nầy.
Boris nhìn kỹ người chết. Đúng bà già hắn đã thấy ở quán lúc mới có báo động, trong lúc người gác dan giải thích tiếp.
– Đó là một người ở của một gia đình Do Thái, gia đình Thall. Sau khi bà chủ đi, Tinka ở lại trong căn nhà và luôn luôn say sưa. Đúng là Tinka Neva rồi đó.
Trong lúc cảnh sát rọi đèn để xem rõ mặt Tinka, người gác dan quả quyết:
– Tôi biết chắc là bà ta không phải cộng sản. Không ai nghĩ Tinka là cộng sản, ai cũng tin là bà chỉ là một người say rượu không hơn không kém.
Boris nhìn kỹ mặt viên biện lý tòa án. Hắn nhớ đến trường võ bị Hoàng gia, và giật mình, người nầy chính là bạn cũ của hắn năm xưa, đúng là Pierre Pillat. Hắn bước đi lập tức, và trà trộn ngay trong đám đông. Mọi người đang bàn tán về Tinka Neva như là một nữ gián điệp cộng sản. Boris lắng nghe những câu chuyện đang trao đổi :
– Nếu bà ấy không phải là gián điệp cộng sản thì tiền đâu mà bà ấy uống rượu suốt ngày như thế được?
Một giọng nói quả quyết :
– Cứ mỗi lần có báo động, Tinka Neva lại lên mái nhà. Tôi đã để ý đến cái đèn quá lớn đó của bà ta, đúng là đèn ấy đã làm hiệu cho máy bay Sô Viết.
Boris cố nhớ lấy cái tên Tinka Neva, mà hắn mới nghe lần đầu. Trong hai danh sách đảng viên cộng sản ở Bucarest, không có ai có mang tên Tinka Neva, nhưng đám đông vẫn cứ bàn tán về bà ấy, làm Boris lại nhìn kỹ một lần nữa người đàn bà đó, trong lúc Pierre Pillat nói với cảnh sát:
– Tinka có thể là một điệp viên Sô Viết, nhưng cũng có thể chỉ là trường hợp lẩm cẩm của một người đàn bà già nua và say sưa. Tôi có biết Tinka Neva, nên riêng tôi không tin bà ấy là một nhân viên Sô Viết. Chúng ta cứ cố tìm ra ánh sáng xem sao. Chúng tôi sẽ lập biên bản vụ nầy.
Boris bước lên phòng, mọi vật còn y nguyên, chỉ trừ những căn phòng ở phía Bắc đã bị phá hủy. Nhưng trong nhà hắn, bức tường không hư hại, bộ máy phát tin vẫn còn tại chỗ, tiền bạc giấy tờ cũng không hề mất mát. Trong chốc lát, vừa cởi áo, Boris vừa nghĩ đến người bạn đồng học, Pierre Pillat, nay đã trở thành biện lý tòa án quân đội, nghĩ đến người đàn bà mang tên Tinka Neva cùng những lời bàn tán sự việc vừa xảy ra. Trước mắt hắn, xuất hiện một người đàn bà nhân công với bộ mặt đầy nét nhăn, nhợt nhạt, với đầu tóc bạc phơ mang chiếc khăn tay cột tận cổ, và Boris thầm nghĩ:
– Đúng là bộ mặt muôn đời của một công nhân. Ngay cả nếu bà ta chỉ cầm đèn lên lầu vì vô tình hay vì say sưa, hành động của bà vẫn có một giá trị từ đó mình có thể tạo ra một huyền thoại.
Boris nghĩ đến các hoạt động bí mật của mình, đến sự bất động của quần chúng, cùng sự hững hờ của giai cấp công nhân. Hắn cho là quần chúng Âu Châu cần có những anh hùng mới thức tỉnh được, mới dấn thân được, cũng như thuyền cần đến cánh buồm vậy.
Cho nên hắn viết ngay một bản phúc trình bằng một giọng văn rắn rỏi. Hắn nói đến những người vô sản đang bị giai cấp trưởng giả phát xít ở Âu Châu đàn áp, nói đến Hồng quân đang chờ dịp để giải phóng công nhân. «Tinka Neva, một nữ công nhân già nua thất nghiệp đã lâu đang ở tại Bucarest, đường Apolodor, số nhà 165, vì quá đau khổ nên ban đêm đã cầm đèn lên mái nhà làm hiệu cho máy bay Sô Viết đến giải phóng tổ quốc. Bà ta đã chết ngay trên nóc nhà cao, nhưng bà đã chứng tỏ sức mạnh phi thường của giai cấp thợ thuyền đã tranh đấu chống lại xã hội trưởng giả và phát xít. Bà đã nêu gương sáng cho công nhân toàn thế giới. Tinka Neva là một nữ anh hùng, là vị thánh tử đạo, là vị đại diện cho giai cấp thợ thuyền.»
Boris Bodnariuk viết rất dài, đó là bản phúc trình dài nhất của hắn từ khi hắn rút lui vào bóng tối để hoạt động. Cho nên, lúc trời sáng, bước xuống đường, bắt chuyện với người gác dan, với người lối xóm, Boris mừng rỡ thấy mọi người tin chắc Tinka là một nhân viên Sô Viết, nếu không thế thì tại sao bà ấy lại lên mái nhà làm hiệu cho máy bay địch. Boris gởi ngay bản phúc trình đi Ankara và từ đó đến Mạc Tư Khoa, tất cả báo chí thế giới đều dành những cột lớn để kể lại cuộc tranh đấu anh hùng của Tinka Neva, chỉ một mình bà đã dẫn đạo cuộc chiến đấu chống quốc xã, chống phát xít, chống tất cả mọi kẻ thù để dành lấy tự do.
Nhờ thông tấn xã TASS và báo chí Hoa Kỳ, Tinka Neva trong một tuần đã trở thành cái tên quen thuộc của thính giả bốn phương. Bà đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài nói về tranh đấu và tự do. Tinka Neva trở thành ngọn cờ cho những quốc gia đồng minh.
VII
Trong lúc mà xã hội văn minh Tây phương nói về Tinka Neva như là một tượng trưng cho tự do, trong lúc mà các nhà soạn nhạc, các tác giả báo chí dùng tên bà như là một vị nữ thánh và các tập san đã dùng những số tiền khổng lồ để kiếm cho ra một bức ảnh của vị anh hùng chống phát xít đã chết trên mái nhà trung tâm thành phố, thân thể của Tinka Neva được chở đến nhà xác của thủ đô Bucarest. Ở đó người ta lột hết áo quần bà, khám da, khám tóc, khám đến những móng tay. Ở đó người ta cắt xác Tinka Neva thành từng mảnh nhỏ ở trên bàn khám nghiệm tử thi. Người ta cặm cụi xem từng miếng gan, trái tim, bộ óc, buồng phổi của bà, người ta đem từng bộ phận ra cân, cân xong lại đem nấu, pha máu, bỏ vào ống nghiệm. Chết đã ba ngày, thân thể Tinka vẫn trần truồng, vẫn còn bị cắt thành từng miếng trong phòng khám tử thi. Một người đàn bà sợ các thứ giấy tờ, sợ các cơ quan công quyền, một người đàn bà suốt 60 năm chưa hề bước chân lên cân bao giờ, bây giờ lại bị người ta cắt từng mảnh cơ thể bỏ lên cân, cân gan, não tủy, cân tim đã ngừng đập, bị người ta soi mói tất cả những gì bà đã có trong bao tử, trong ruột non, trong bọng đái, tất cả những gì bà đã ăn, đã uống. Trong lúc cơ thể bà bị lột trần như thế thì tên bà lại đuoc nhắc nhở trên khắp tất cả đài phát thanh bằng tất cả ngôn ngữ của loài người, tên bà được loan đi trên khắp các làn sóng điện, cho nên nếu bà còn sống biết được cuộc phiêu lưu bẩn thỉu đó, bà cũng sẽ chết mất vì hổ thẹn.
May thay Tinka Neva đã chết, đã không còn biết những gì đang xảy ra trên trái đất nầy nữa. Sau khi chết đi, chắc chắn bà bước lên ngưỡng cửa thiên đàng, nơi đó, có thánh Pierre đang cầm chìa khóa nơi tay. Suốt đời, Tinka đặt hết tin tưởng vào trời đất, tin có địa ngục, tin có thánh Pierre. Cho nên sau khi chết đi, bà cũng chỉ biết có thánh Pierre thôi. Và nếu ngài hỏi bà «Tinka Neva, con có ý định gì khi con cầm đèn lên mái nhà lúc đang có còi báo động?», thì bà cũng sẽ thản nhiên trả lời: «Con không lên mái nhà, thưa ngài, con chỉ lên lầu thượng, vì muốn vào phòng con ở bên kia, con phải đi ngang qua lầu thượng. Một người đàn bà già nua như con muốn đi trong đêm tối phải cầm đèn, nhưng con không ngờ là chính lúc đó, máy bay oanh tạc trông thấy con».
– Thế con có uống rượu không?
Nghe câu hỏi đó, Tinka hơi cúi đầu và trả lời:
– Nếu con không uống rượu, con đã không cầm đèn đi như thế.
Và bà sẽ nói thêm:
– Thưa ngài, con uống vì buồn phiền quá. Sau khi chủ con, cô Eddy Thall bỏ đi, con đã khóc bao nhiêu ngày đêm, nên con đã uống rượu để giải sầu, con không uống vì trác táng, thưa ngài con chỉ uống vì buồn phiền thôi…
Cho nên, nếu Tinka gặp được thánh Pierre ở bên kia thế giới như bà hằng ao ước lúc còn sống, ngài sẽ đặt bàn tay thân yêu lên vai bà và sắp bà vào hạng những kẻ khốn khổ nhưng tâm hồn trong sạch, vì thật nếu có một cõi thiên đàng thì cõi đó phải được dành riêng cho họ. Tinka Neva cũng sẽ được giảm tội, cái tội đã làm cho hai người bị dập nát trong cuộc dội bom thành phố Bucarest.
VIII
Eddy Thall chưa lành bệnh hẳn, Ivan đành ngủ ở phòng làm việc để nhường giường cho nàng, hắn trở thành y tá riêng cho nàng và săn sóc nàng như săn sóc một người em gái, hắn đau khổ không ít khi thấy nàng ho ra máu dính cả lên gối. Nhưng hắn giấu hết mọi việc, bởi nếu hắn khai rằng Eddy bị bệnh, nàng sẽ bị chuyển sang bệnh xá, và một lúc đã vào đó, không ai có thể sống sót được, cứ mỗi ngày người ta lại khiêng ra ngoài chừng mười xác chết trần truồng và vứt vào hố công cộng. Cho nên Ivan vẫn khai với thượng cấp là Eddy lo việc quét tước cho văn phòng để đợi ngày toàn thắng. Mỗi ngày hắn mang tin chiến trận cho Eddy. Một hôm, hắn bảo :
– Quân đội Sô Viết đã chiếm Bucarest.
Thật là một biến cố lớn lao đối với Eddy, nên nàng khóc lên vì sung sướng. Nhưng chiến thắng vẫn chưa đến, vì còn một số các nước khác cần chinh phục. Tuy nhiên tù nhân vẫn còn nuôi hy vọng. Hàng ngàn người Do Thái hùng hục làm việc trên mảnh đất băng giá nầy, gồng gánh, đẩy những toa xe chở đầy quặng sắt. Mọi người trong hàng ngàn người đó đều có cảm tưởng mình là một người lính đang chiến đấu trong hàng ngũ của 52 quốc gia cho vinh quang và tự do. Cho nên dù cho thân thể đã già nua, đầy mụt nhọt và chí rận còn bị hành hạ bằng lạnh lẽo và đói khát, mọi người đều tự khuyến khích mình bằng niềm hy vọng đó, như là trên một cuộc hành trình tuyệt vọng, người ta vẫn vỗ về con ngựa bằng mấy tiếng : Nào, cố lên chút nữa, chút nữa, xem…».
Một đêm nọ, Eddy Thall nằm mơ thấy Tinka Neva, rồi Lidia Petrovici và bà Debra Paternik. Đất bỗng nứt ra, và các nắp hầm mở rộng. Người Do Thái choàng hết dậy để mừng chiến thắng. Esther và Rebecca mặc lễ phục bồng bềnh trên sóng của biển Đen. Trên bệ cao, Churchill, Roosevelt và Staline đang mỉm cười tuyên dương công trạng những kẻ đã sống dậy từ lòng đất, từ biển cả, từ trong những đống tro tàn, những kẻ đã liều mình đóng góp cho vinh quang. Churchill hút xì gà và Roosevelt mang cà vạt màu vàng chói. Họ ngồi chễm chệ như những vị thánh có hào quang chói sáng để ngỏ lời cùng người Do Thái rằng: «Các bạn đã chiến đấu trong các hầm mỏ, trong ngục tù, trong sa mạc cho thắng lợi chung».
Thực là một giấc mơ đẹp, Eddy muốn mơ mãi như thế, nhưng Ivan đã la lên đánh thức nàng dậy.
– Chiến thắng đã đến rồi. Chúng tôi được lệnh để cho tất cả người ngoại quốc trở về tổ quốc của họ. Mọi người chỉ làm một tờ đơn và sau đó có thể tự do về nhà.
Eddy Thall nức nở khóc:
– Trời, chiến thắng… Tôi biết thế nào ngày đó cũng đến, tôi đã mong ước bấy lâu nay. Hàng triệu người đã mong ước bấy lâu nay, và bây giờ, ngày đó đã đến…
Nàng muốn trở dậy. Nhưng Ivan đã yêu cầu nàng nằm yên, để hắn đi nạp đơn dùm cho nàng. Eddy Thall vừa khóc vừa bảo hắn :
– Tôi muốn chính tay tôi viết đơn xin trở về cố hương. Ông để tôi tự mặc áo lấy một mình.
Thế là Ivan đành bỏ ra ngoài.
Eddy bước đến tấm kính treo trên tường, đau khổ thấy từng sợi tóc của mình đã bạc. Nàng nghĩ: «Đối với người đàn bà đau khổ, có lẽ những sợi tóc chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Đầu tóc óng ánh nơi một người đàn bà sung sướng sẽ mất vẻ tinh anh đó ngay, lúc nào đau khổ bắt nàng phải gánh chịu». Eddy nhìn đầu tóc mình và nghĩ:
– Biết là thế nào tóc cũng bạc nhưng mình không ngờ tóc mình bạc nhanh và nhiều đến thế.
Rồi vừa chải đầu, nàng vừa an ủi: «Mình cứ chải đi, rồi chúng sẽ xanh lại cho mà xem».
Nàng lại ngắm đôi mắt. Cũng như xưa nhưng bây giờ mắt nàng đã mất vẻ tinh anh. Nàng đúng là một Eddy Thall thường hay diễn kịch thời xa xưa, nhưng bây giờ ánh mắt không còn là của nàng nữa. Ánh mắt của một người đàn bà đau khổ không còn tinh anh mà chỉ rõ ràng là tính toán và khô cằn như đất cát, mắt của một người đàn bà đau khổ thật chẳng khác gì một mảnh đất hoang vu mà hoa đã tàn, cỏ đã héo, sông rạch cũng đã khô khan. Như đôi mắt của Eddy Thall bây giờ, sau bao năm đau khổ. Nàng nghĩ đến một loạt bài đăng ở tờ báo La Pravda với 6 triệu người Do Thái đã bị quốc xã đốt cháy. Nàng vẫn còn là một kẻ được ưu đãi, bởi lẽ nàng còn sống để nhìn ngày chiến thắng. Mắt nàng không còn tinh anh nhưng ít nhất cũng còn nhựa sống. Mười hai triệu con mắt đã bị đốt cháy để vĩnh viễn không thấy ngày chiến thắng. Ngoài mười hai triệu đó ra còn biết bao nhiêu cặp mắt khác nữa, cặp mắt đen Hy Lạp, cặp mắt người Pháp trong sáng, mắt xanh của người Na Uy, Đan Mạch, Hòa Lan, Ý Đại Lợi, bao nhiêu cặp mắt bị tàn phá, đốt cháy để không bao giờ trông thấy ngay chiến thắng. Eddy Thall bỗng thầm cảm ơn số mệnh, bởi vì cho dù nét nhìn đã tàn úa, đôi mắt nàng vẫn còn để nhìn ngày giải phóng.
Nhìn quầng thâm quanh mắt, Eddy Thall bỗng so sánh vòng mắt như hai nấm mồ chôn sâu đôi mắt. Trán nàng cũng đã nhăn nheo, những nếp nhăn sâu như vết dao đâm không hy vọng bóng láng trở lại, những nếp nhăn tràn xuống quanh môi, quanh cằm, quanh cổ nàng.
Eddy Thall ngửng đầu lên. Ngay lúc đó, một tràng ho dài làm khăn tay nàng lấm chấm máu đỏ. Nhưng nàng không còn sợ hãi nữa, bởi bệnh lao còn có thể chữa trị. Điều chính yếu là ngày chiến thắng đã đến. Nàng nghĩ đến những ngọn đồi đầy thông ở Lỗ Ma Ni. Nhưng sự thực bây giờ vẫn qua khung cửa kính, cũng chỉ là hàng rào thép gai với từng đống quặng sắt, người nữ tù vẫn kêu khóc vì bị tên cai ngục đánh đập. Eddy Thall muốn cởi áo nhìn kỹ thân thể mình. Vú nàng đã mềm xèo, xệ xuống như những trái cây đã quá chín trên cành. Xương đòn gánh lòi ra, thân thể nàng móc vào đấy như một chiếc áo treo vào một cái móc quá rộng lớn.
Eddy mặc chiếc áo lính rộng thùng thình, bất giác buồn rầu nhớ lại những áo lụa mềm ngày xưa. Thật nàng không biết nàng bây giờ đang ở đâu.
Ivan đã đem giấy bút vào, Eddy nằm dài lên giường. Ivan đã viết sẵn và đọc cho nàng viết. Eddy chú ý đến câu cuối: «Tôi xin ông chấp thuận cho tôi trở về Lỗ Ma Ni». Nàng đưa tay ký bên dưới : Eddy Thall. Cũng là chữ ký ngày xưa. Chữ ký làm nàng nhớ đến cây bút đã mất ở Kichinev, nhớ đến những đồ vặt vãnh của nàng ngày trước, mỗi thứ hiện ra trong trí nhớ như những thớ thịt của chính nàng. Vào những lúc nguy hiểm, nàng đã để lại hoặc đánh mất hết những đồ vật kỷ niệm, như những con nai bị săn đuổi vừa chạy trốn, vừa để lại những mảnh thịt rải rác đó đây nhưng hệt như những con nai, vì quá sợ hãi và quá lo thoát thân, nàng không hề cảm thấy khổ đau. Nên bây giờ, lúc rảnh rỗi nàng mới có dịp nhớ lại tất cả cùng với những giọt máu từ hai buồng phổi bệnh hoạn của nàng, nhớ đến cả cái kéo cắt móng tay, đến làn lược mạ bạc. Bây giờ cả đến bàn chải đánh răng nàng cũng không còn. Bao nhiêu gian khổ đã qua, nàng đã quên khuấy đi là nàng đã mất mát quá nhiều nhưng bây giờ, lần đầu tiên, nàng mới thấy rõ là nàng không còn gì trong tay nữa cả.
Nàng phải đứng dậy, dựa vào cánh tay của Ivan lần đến bàn giấy để đưa đơn xin hồi hương càng sớm càng tốt.
Ở ngoài lều, hàng trăm người đang sung sướng chờ đợi nạp giấy hồi hương. Phần đông là những người còn trẻ, bởi vì hầm mỏ đã nuốt hết những người già cả và bệnh tật. Eddy Thall vừa húng hắng ho vừa nghĩ thầm: «Mình cũng thế, mình còn khỏe và trẻ nên mới sống sót đến bây giờ. Nàng nắm chặt mảnh giấy trong đó có câu chính nàng viết: «Tôi xin ông chấp thuận cho tôi trở về Lỗ Ma Ni…».
IX
Sau bao nhiêu là chờ đợi, bỗng một hôm người ta nhận được lệnh chỉ cho hồi hương những ai gốc Ba Lan, còn tất cả những đơn xin khác đều bị hủy bỏ, những tù nhân khác phải ở lại Sô Viết.
Lúc đầu, Eddy không muốn tin, dần dần nàng muốn chống đối. Sau cùng, nàng ngã lên giường vừa ho vừa khóc. Hỏi ai bây giờ, hỏi bức tường, hỏi chính nàng, hỏi Ivan?
– Người ta còn giữ tôi lại đây bao lâu nữa?
Ivan căn nhắc từng chữ lúc trả lời cho Eddy:
– Thật may mắn cho cô nếu cô được ở lại đây. Vâng, không có gì nguy hiểm nếu cô được ở lại đây. Ngày mai tôi phải đi xa, đi đến một doanh trại ở Sibérie. Chúng tôi cũng như lính tráng, phải đi bất cứ nơi nào mà người ta thuyên chuyển.
Eddy la to :
– Ông đi đâu thì đi, tôi chỉ muốn biết một điều duy nhất là người ta sẽ giữ tôi lại đây bao lâu nữa.
– Cô nên nhớ là cô đang được ở trong phòng của một người gác dan. Ngày mai sẽ có người khác đến thay tôi. Cô hiểu chưa?
Eddy sợ hãi nhìn hắn. Hắn vẫn nói:
– Có nhiều vấn đề còn quan hệ hơn cả chuyện hồi hương nữa. Người thế tôi sẽ dọn nhà đến đây ngày mai. Rồi cô làm gì nữa đây?
Cầm mũ đứng dậy, Ivan giải thích thêm:
– Nếu cô phải vào làm việc ở hầm mỏ, cô sẽ chết trong vài tuần. Chết, hoàn cảnh cô như thế đó, cô hiểu chưa? Cho nên cô có cần tôi nói với người thế tôi giữ cô ở lại đây hay không?
Những điều hắn vừa nói làm hắn khổ tâm nhưng hắn phải nói:
– Tôi có thể nói với anh ta điều đó, nhưng cô phải thông cảm cho tôi. Anh ấy sẽ ngủ trong phòng, chứ không ngủ ở bàn giấy để nhường chỗ cho cô như tôi đâu. Nào nói đi, cô muốn làm gì đây?
Eddy Thall đứng dậy. Nàng hết cả chóng mặt, hết cả mệt mỏi, hết cả nóng sốt. Nàng vội vã mặc áo quần. Ivan hỏi tiếp:
– Sao, cô quyết định thế nào?
Nhưng Eddy không trả lời, nàng tiếp tục mặc áo quần vội vã như là nhà sắp cháy.
– Cô muốn ở với anh ta hay vào hầm mỏ, chọn lựa đi chứ!
Eddy đến trước mặt Ivan, mím môi, mặt đanh lại và thản nhiên trả lời:
– Tôi muốn chết.
Sau đó, nàng chạy trốn khỏi căn phòng, bỏ đằng sau lưng Ivan, bỏ đằng sau lưng nàng những bức tường có treo những tấm hình cắt trên báo, chiếc giường nằm, bỏ luôn câu nói sau cùng của nàng: «Tôi muốn chết».
X
Eddy Thall cắm đầu chạy giữa những cột dăng dây thép gai, trong gió lạnh như cắt. Tay ôm ngực, nàng chạy mải miết không còn suy nghĩ gì nữa cả, đề cuối cùng ngã lăn trên đống than giá lạnh trong cơn họ không dứt.
Có người đến gọi tên nàng và mang nàng đi:
– Tại sao cô khóc.
Eddy tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường trong một căn lều xa lạ, bên cạnh là hai tù nhân, một Bác sĩ và một sỉ quan tiếp liệu.
– Tại sao cô khóc?
– Tại vì tôi là người Do Thái.
– Thì chúng tôi cũng Do Thái vậy.
– Nhưng tại sao người ta lại gởi tôi vào hầm mỏ sau ngày chiến thắng? Hàng triệu người chết để làm gì nếu kẻ nô lệ không được giải phóng sau ngày chiến thắng. Tại sao Churchill uống rượu tươi cười trước các nhà nhiếp ảnh?
Viên y sĩ an ủi:
– Cô hãy bình tĩnh, chúng ta sẽ được giải thoát.
Eddy Thall vẫn hằn học:
– Người ta không thể trả tự do cho những xác chết.
– Tôi sẽ chích cho cô một liều thuốc, cô sẽ bình tĩnh lại ngay.
Nghe viên y sĩ nói thế, đề nghị của Ivan để nàng sẽ trở thành người tình của tên gác dan bèn hiện về trong trí óc nàng. Trong một thoáng nàng ôm đầu chạy ra cửa, vừa hằn học vừa trả lời viên y sĩ:
– Tôi không muốn chích vì tôi không muốn bị chà đạp, bị đánh đập, bị nhục nhã. Tại sao lại chích thuốc cho tôi mới được chứ. Tôi không muốn bị ô uế. Mà chích làm gì?
Nhưng nàng chưa chạy đến cửa thì đã ngã xuống với một cơn ho dài, miệng đầy máu. Sự ấm áp độc nhất nàng cảm thấy lúc đó là sự ấm áp của chính những giọt máu trong cơ thể nàng.
Viên y sĩ chích thuốc xong, nàng mở mắt đứng dậy. Lúc đó nàng mới nhận chân được rằng ngoài chính máu huyết của nàng còn có một sự ấm áp khác trong cuộc đời nô lệ của nàng, đó là máu của đồng bào nàng. Viên y sĩ lên tiếng:
– Chúng tôi có một tổ chức chuyên lo cứu giúp đồng bào Do Thái ở các xứ khác. Chỉ có những người Do Thái gốc Ba Lan là có thể trở về cố hương bằng chuyến công voa sắp đến. Chúng tôi có thể mang các bà vợ chúng tôi đi theo. Vậy cô có muốn giả vờ kết hôn với người Do Thái Ba Lan để có thể chính thức từ giã nơi đây không?
Eddy tròn xoe mắt ngạc nhiên, trong lúc viên y sĩ giải thích tiếp:
– Hàng trăm người đàn bà Do Thái gốc Lỗ Ma Ni, Hung Gia Lợi, Bỉ, của mọi quốc tịch khác nhau có thể rời bỏ nơi đây bằng cách đó. Bạn tôi là Isaac Salomon đang còn độc thân. Cô có thể giả kết hôn với anh ấy để ra đi. Nào, cô có bằng lòng không?
Eddy Thall ngạc nhiên:
– Xin ông làm ơn lập lại câu hỏi?
– Chỉ là một thủ tục giản dị để từ bỏ nơi đây. Mỗi người Do Thái Ba Lan có thể mang theo một người vợ đang ở trong hầm mỏ.
Eddy lại khóc.
– Tại sao cô còn khóc?
– Từ lâu không ai hỏi tôi rằng tôi có bằng lòng không. Đây là lần đầu tiên, từ bao năm nay, tôi nghe được câu hỏi đó. Mọi người buộc tôi làm mà không hề hỏi ý kiến tôi bao giờ. Không bao giờ người ta hỏi xem một tên nô lệ thử nó có bằng lòng hay không. Cho nên nếu còn ai đặt cho tôi câu hỏi đó, nghĩa là tôi không còn là kẻ nô lệ nữa. Vâng, tôi bằng lòng, bằng lòng, bằng lòng.
XI
Eddy Thall kết hôn với Isaac Salomon và trở thành công dân Ba Lan để chờ ngày hồi hương.
Lúc mới bị bắt sang Nga, Isaac Salomon là một sinh viên còn trẻ nhiều tình cảm, Salomon cũng như Eddy và hàng ngàn người Ba Lan khác đã được chở đi từ trại tập trung nầy sang trại tập trung khác, nhưng ngày hồi hương vẫn chưa thấy đến. Đám cưới được cử hành trong trại tập trung trong những ngày tháng chờ đợi hồi hương. Thế mà ngày hồi hương không thấy đến, mà điều cặp vợ chồng đó thấy trước tiên lại là một đứa con. Eddy Thall trở nên mẹ một đứa bé tên là Orly, tiếng Do Thái có nghĩa là «Ánh sáng của tôi». Mà thật vậy, trong những ngày tháng chờ đợi, Orly đúng là một thứ ánh sáng cho họ. Vì lúc Orly được bốn tháng, họ cũng vừa được trở về Ba Lan, sau sáu năm trời sống chui rúc trong các hầm mỏ. Cũng như mọi người công dân Ba Lan, Eddy ôm con vào lòng cùng với những giọt nước mắt sung sướng khi đặt chân lên mảnh đất quê hương.
Tất cả tù nhân lúc trở về xứ đều quên hết những nhọc nhằn đã qua, Eddy cũng thế, nàng tự nhũ là diễm phúc lắm nàng mới được trở thành người dân Ba Lan, bởi lẽ trong lúc những người khác còn ở trong hầm mỏ, nàng lại đặt chân đến Varsovie để sống với cha mẹ chồng con.
Từ bao nhiêu năm nay, đây là đêm đầu tiên mà đôi vợ chồng Salomon được sống trong một căn phòng tuy nhỏ và nghèo nhưng không có kẽm gai bao quanh và lính canh trước cửa. Tuy nhiên, cô của Salomon vẫn còn khuyên nhủ:
– Hai con đừng nói với ai các con là người Do Thái. Cần phải cẩn thận lắm đấy. Bởi vì mỗi sáng, người ta vẫn còn chứng kiến cảnh người Do Thái bị ám sát chết ở ngoài đường, ở trong sân nhà, khắp nơi ở Ba Lan.
Trong căn phòng ấm cúng xinh xắn đó, Orly đang ngủ; trên bàn có cây đèn cồn để pha trà, chiếc giường ngủ tuy nhỏ nhưng không phải là chiếc giường của tù nhân, cho nên mặc dù người cô của Salomon vừa pha trà vừa lập đi lập lại: «Các con cần phải cẩn thận lắm mới được», đôi vợ chồng Salomon vẫn cảm thấy thoải mái hơn bao giờ hết.
Salomon thắc mắc:
– Thế thì người ta chưa loại bỏ hết phát xít sao? Chính phủ ta đang làm gì nhỉ?
– Ba Lan là một quốc gia khốn khổ. Quốc xã ra đi chỉ để lại đây toàn là những đổ nát. Vài bước lại có một nấm mồ. Đúng là một nghĩa địa mênh mông, mà người Nga lại còn đặt chân đến, và lấy hết những gì còn sót lại, lấy từ những đường xe lửa, những bếp lửa cho đến cả tuổi trẻ đầy nhựa sống của dân Ba Lan.
– Nhưng tại sao chính phủ vẫn dung túng chuyện giết chóc người Do Thái?
– Ấy, các con phải cần thận lời ăn tiếng nói chứ, nguy hiểm lắm đó.
Isaac Salomon đứng dậy, không buồn cầm tách trà. Anh biết rằng Ba Lan nghèo nàn, rằng người Nga bóc lột tất cả những gì quốc xã còn để lại, nhưng anh không hiểu nổi tại sao người ta còn giết người Do Thái, bởi ở đây có những bộ trưởng Do Thái, những sĩ quan gốc Do Thái, những uỷ viên chính trị cao cấp cũng gốc Do Thái. Và anh được người cô giải thích ngay:
– Người Ba Lan đói kém đã từng bị lưu đày sang Nha, đã từng trốn tránh. Bây giờ họ biết là chính quyền Ba Lan do người Nga lập nên đều là người Do Thái, họ ngỡ là dân Do Thái lạm quyền và tàn ác, nhưng đáng lý phải trả thù người Nga, thì họ lại đổ hết tội lên đầu người Do Thái, bởi vì như thế dễ dàng hơn. Cho nên các con phải cẩn thận là tại vì thế, nguy hiểm lắm.
Isaac Salomon vẫn không tin những điều bà cô giải thích:
– Cô đã quá sợ lũ phát xít, sợ luôn cả cái bóng chính mình nữa, cho nên cô đã nói quá đáng, ngày mai sẽ biết đâu là sự thật. Con thì tin là lũ phát xít hay lũ mật vụ quốc xã chưa bị thanh toán hết.
Chúng ta hiện đang có một chính quyền bù nhìn thân Sô Viết, nhưng ít nhất đó cũng không phải là một chính quyền phát xít.
Orly khóc đêm. Cả hai vợ chồng nhìn kỹ con, nhìn kỹ đôi má hồng hào, nghe tim đứa bé đập nhanh hơn thường lệ. Salomon bảo vợ:
– Orly mới có bốn tháng, dĩ nhiên là nó phải mệt và sốt sau một chuyến đi xa. Nhưng chắc là nó không bị ốm đau. Để anh đi kiếm cái cặp thủy xem sao.
Eddy ôm con vào lòng, nựng con bằng mấy tiếng Lỗ Ma Ni, gọi nó là «Luminitza» nguồn ánh sáng của mẹ. Nhưng Orly vẫn khóc. Isaac kiếm không có nhiệt kế, nhưng vẫn hớn hở:
– Có bác sĩ ở trong căn nhà nầy rồi, ở từng thứ sáu. Chúng mình đem con lên khám thử xem. Rồi em sẽ thấy là con không sao đâu, nó chỉ bị mệt chút đỉnh thôi.
Hai vợ chồng ẵm con lên từng lầu thứ sáu, một người trẻ tuổi mở cửa, mời họ vào nhà.
– Tôi là bác sĩ đây, mời hai ông bà vào, và xin hai ông bà bỏ qua cho sự nghèo nàn của tôi.
Căn phòng không có đến cả một chiếc giường. Mền chiếu, sách vở, thuốc men để lên sàn nhà. Viên y sĩ vẫn ái ngại:
– Xin lỗi đã không có ghế ngồi cho hai ông bà.
Nói xong hắn nhìn cả ba người từ Salomon, Eddy đến đứa bé để đoán xem ai là bệnh nhân. Xong hắn lại xin lỗi một lần nữa.
– Rất tiếc là trong nhà không có ghế ngồi. Nhưng ông bà hiểu cho không phải lỗi tại tôi, chính phủ đã lấy hết nhà cửa, đồ đạc, phòng mạch, sách vở của tôi ngay từ lúc tôi ở tù về. Tôi bị tống ra đường hai giờ sau đó.
Noi xong, hắn bắt đầu khám bệnh cho đứa bé, bắt mạch, đo nhiệt độ rất kỹ lưỡng.
– Tôi không có thuốc cho em bé nhưng không sao, ngày mai cháu sẽ khỏi, không có gì nặng lắm đâu:
Sau khi giao đứa bé lại cho Eddy, viên y sĩ giải thích tiếp hoàn cảnh của hắn:
– Sau khi quân Đức trả tự do cho tôi, người ta bảo tôi: người Đức đã giết hết tất cả những ai chống lại Phát xít, chỉ có những cộng tác viên với họ mới còn sống sót.
Tay hắn run lẩy bẩy:
– Nghĩa là còn sống cũng là một tội trạng, và vì tôi đã trở về sau bốn năm tù tội, người ta đã lấy hết nhà cửa, phòng mạch, sách vở của tôi, lấy sạch. Chính phủ Ba Lan do người Do Thái thân Sô Viết cầm quyền cho rằng tất cả người Ba Lan không bị quốc xã giết đều là những người phát xít cần phải loại trừ. Tôi ở trong trường hợp đó. Lý luận của người Do Thái giản dị như thế. Nhưng chúng tôi sau khi đã thanh toán lũ phát xít, bây giờ chúng tôi cần đoàn kết lại để thanh toán nốt tụi Do Thái và Bôn Sô Vít.
Viên y sĩ lau mồ hồi trán, có thể hắn đang bị bệnh tật và hận thù dày vò:
– Tôi bị lao phổi vào thời kỳ chót, nhưng tôi không thể nào chết đi nếu chính tay tôi chưa giết được ít nhất là một trong những tên Do Thái sát nhân thân Sô Viết ở trên phần đất Ba Lan nầy. Tôi muốn chính tay tôi giết chúng…
Orly khóc ré lên. Viên y sĩ lại muốn ẵm lấy nó:
– Tôi cũng muốn có một đứa con, vì nó chính là nguồn sống cho bất cứ người đàn ông nào. À cháu tên là gì ông bà nhỉ?
– Orly. Eddy trả lời.
Trong lúc đó, viên y sĩ vừa nhìn Eddy vừa nhìn Isaac Salomon vừa khen ngợi:
– Orly, trời cái tên đẹp quá.
Nói xong, tay hắn không còn run rẩy nữa. Hắn đã chắc chắn rồi. Giọng nói lai Nga của Eddy, dáng điệu của Isaac Salomon, cái tên Orly, đủ để chứng minh cho hắn rằng họ là người Do Thái. Biết chắc thế, hắn ung dung rút thuốc vào ống tiêm và từ từ chích thuốc cho đứa bé. Xong, hắn bảo:
– Từ đây cho đến mai, mọi sự yên ổn. Ông bà có thể trở lại đây ngày mai, nhưng tôi nghĩ là vô ích.
Eddy yên lòng là Orly sẽ lành bệnh, bà không cần phải trở lại tìm bác sĩ ngày mai nữa.
Viên y sĩ vừa nhận điếu thuốc của Salomon mời, vừa nhìn kỹ một lần nữa nét mặt của Salomon. Đúng rồi, hắn không thể nào lầm lẫn được, chắc chắn họ là người Do Thái nên hắn bảo:
– Ngày mai ông bà trả tiền tôi cũng được, vì thế nào ngày mai ông bà cũng sẽ đến kiếm tôi lần nữa.
Nói xong, hắn mở cửa cho họ ra về.
XII
Ban đêm thỉnh thoảng Eddy Thall trở dậy xem Orly ngủ. Hơi thở đứa con vẫn êm đềm và đều đặn.
– Thì anh đã bảo với em là con không có gì nặng lắm đâu. Isaac Salomon ôm vợ vào lòng, sung sướng. Đây là lần đầu tiên từ năm 1939 mà anh được trở về quê hương và được ngủ trong chính nhà mình, trong chính thành phố mình, với cha mẹ mình.
Ngày vinh quang đã thực sự trở về với họ. Giấc ngủ yên lành, không sợ hãi đã đến với họ.
Nhưng lúc thức giấc, Eddy bỗng thấy Isaac đang ôm con vào lòng khóc lóc:
– Orly đã chết rồi.
Eddy đã ngất xỉu. Người ta phải chở nàng vào nhà thương. Trong nhà có đủ mọi người, cô của Isaac, người gác dan, hàng xóm, cảnh binh. Isaac cố lập lại lời nói của viên y sĩ và đoán chắc là con chàng đã bị giết chết.
Viên cảnh sát trưởng gay gắt:
– Kết án như thế thật là hồ đồ, bởi không thể nào còn có sự dã man đó ở Varsovie nầy nữa. Giả thuyết rằng tên bác sĩ nọ đã chích thuốc cho con ông chết đi không thể nào đặt ra nữa. Với lại còn phải khám nghiệm tử thi xem sao đã.
Mấy người cảnh binh kia bảo:
– Thôi chúng ta xuống đó thử xem thì biết.
Họ bắt đầu ghi tên họ Eddy, Isaac và lập biên bản về cái chết của Orly, họ cũng không quên lấy lời khai của tên gác dan và hàng xóm. Họ dìu Isaac bước lên sáu tầng lầu như đêm qua, Isaac đã cùng vợ con lên khám bác sĩ. Cửa phòng không khóa và căn phòng tên bác sĩ đã trống rỗng. Hắn không còn trong nhà nữa. Qua làn nước mắt, Isaac chỉ còn trông thấy bốn bức tường và nền nhà trống trơn.
– Đúng là căn nhà nầy hôm qua chúng tôi đã đến.
Cảnh binh hỏi lại:
– Cũng trống trải như hôm nay sao?
– Không. Có vài vật dụng như sách vở, thuốc men, mền chiếu, đèn…
Cảnh binh quay qua hỏi tên gác dan:
– Tại sao hắn trốn đi mà anh không nghe thấy gì cả?
– Có thể lắm chứ, có thể là ông ấy đi qua mà tôi không nghe gì cả.
– Dù sao, chúng tôi cũng cho đăng hình hắn lên báo chí. Có thể đó là quân khủng bố hay là nhân viên của tình báo quốc xã. Hắn bỏ trốn tức là hắn không yên lòng. Đó cũng là một bằng chứng đầu tiên…
Isaac Salomon hỏi:
– Eddy đâu rồi. Tôi muốn biết Eddy. Ít nhất Eddy…
– Ông nên yên tâm là chúng tôi đã lo lắng cho bà đủ cả rồi.
– Chậm mất rồi. Orly đã chết, nó là nguồn hy vọng độc nhất của chúng tôi.
– Nhưng bổn phận của công lý là tìm ra kẻ sát nhân và chúng tôi sẽ làm thế.
– Eddy đâu rồi hở các ông?
Và lần đầu tiên trong đời chàng khóc. Từ năm 1939, Isaac đã chịu đựng tất cả nhọc nhằn và nhục nhã. Nhưng giờ đây, chàng không còn sức lực nào nữa, chàng năn nỉ:
– Tôi muốn gặp vợ tôi ngay.
Ba ngày sau, Isaac và Eddy lại dẫn nhau đi về phương Đông, với hai bàn tay trắng và tâm hồn rách nát hơn bao giờ hết.
Họ phải bỏ Ba Lan mà đi. Tây phương không thể nào trả Orly cho họ cùng những giọt máu mà Eddy đã mất. Tây phương không hàn gắn được vết thương của họ nhưng vẫn cứ để cho họ sống với sự hành hạ do vết thương đó gây ra, sống trong đau khổ nhọc nhằn. Không thể ở lại Ba Lan, họ đành bỏ đi. Tuy nhiên họ không hề đòi hỏi gì hơn nữa.
Phần thứ hai I
Đối với Pierre Pillat, ngày chiến thắng đồng nghĩa với ngày quân đội Sô Viết chiếm đóng Bucarest, lính Nga lục sạo từng nhà một. Dân chúng trốn xuống hầm núp trong vựa thóc hay trốn hết đi chỗ khác. Đàn bà bị hiếp dâm, cửa hiệu bị cướp bóc, dân chúng bị đánh đập ngay ngoài đường phố.
Pillat cũng cùng hôn thê lẫn trốn. Đó là một người con gái con một bác nông phu và có theo học trung học mấy năm. Nàng chạy trốn theo Pillat và họ cùng chờ những ngày sôi động của chiến thắng qua đi để có thể ló mặt ra ngoài đường. Một tuần sau, Marie và Pillat ra đường thật. Họ đói quá mà vẫn không mua bánh mì được. Trước các tiệm bánh mì, dân chúng sợ hãi nối đuôi nhau chờ mua bánh, nhưng chỉ những kẻ có thẻ kiểm tra hợp lệ mới được mua bánh mì.
Nhiều người sắp hàng trước ủy ban an ninh. Trên tường đã có danh sách dài lòng thòng những người phải trình diện sở cảnh sát. Người ta không chịu đóng dấu trên thẻ của Pillat với lý do «Thẩm phán đoàn trưởng giả không còn hữu hiệu nữa, bây giờ công lý sẽ do các tòa án nhân dân đảm nhiệm».
Pillat chỉ tiếc có một điều là không mua được bánh mì mà thôi. Marie hỏi:
– Anh không làm gì nên tội, tại sao họ không chịu hợp thức hóa thẻ căn cước của anh?
Pillat xiết chặt tay nàng và muốn rời khỏi sở cảnh sát, nhưng cửa đã đóng chặt. Người ta đẩy chàng vào một phòng bên cạnh, văn phòng chuyên kiểm nhận giấy tờ những ai không được mua thức ăn.
Không khí nặng nề khó thở. Người ta kiếm tên Pillat trong danh sách những chánh trị phạm. Không có. Viên công chức gạch một chéo đỏ trên thẻ của Pillat và trả lại cho chàng. Pillat thì thầm bên tai Marie:
– Ra khỏi đây mình sẽ mua được bánh. Anh sẽ bán đồng hồ. Vừa định bước ra thì người công chức hồi nãy cản lại:
– Những ai không có nghề nghiệp không có quyền có một căn nhà trong thủ đô. Ông phải dọn nhà ngay, từ đây cho đến 6 giờ chiều và trả chìa khóa cho ủy ban trưng dụng nhà cửa.
– Vâng, tôi hiểu.
Chàng nói thế bởi vì chàng đang nghĩ rằng từ ngày chiến thắng ai cũng ở dưới hầm. Không ai dám ở trong nhà vì mỗi đêm quân Nga đến lục xét từng nhà.
Chàng đã định đi ra, nhưng người ban nãy còn dặn thêm :
– Ông không được mang đi bất cứ vật dụng gì trong nhà. Nếu không ông phạm tội xâm phạm của công.
– Vâng, tôi hiểu.
Chàng nói thế bởi vì chàng biết là nhà chàng đã nhiều lần bị quân Nga cướp bóc, cái gì chưa bị cướp mất thì cũng bị phá hủy. Không còn gì đáng lấy nữa. Chàng nói thế và ngỡ là xong chuyện, không ngờ lại được nghe dặn thêm :
– Còn một điều này nữa. Những ai không có công việc gì, không có quyền trú ngụ trong một khoảng chừng 60 km chung quanh thủ đô.
– Vâng, tôi sẽ rời khỏi thủ đô.
Nói xong, chàng xiết tay Marie và nghĩ rằng chàng phải về quê vợ ở Piatra.
Nhưng anh chàng nọ vẫn chưa tha:
– Nhờ quân đội Sô Viết, Lỗ Ma Ni đã trở thành một nước xã hội, mọi công dân bị bắt buộc phải làm việc.
– Vâng, tôi sẽ kiếm việc làm. Tôi biết rõ là trong một nước xã hội chủ nghĩa ai cũng phải làm việc.
– Chính phủ giúp đỡ mọi công dân tránh nạn thất nghiệp. Đường chéo đó trên căn cước của ông rất lợi hại, bởi nhờ có nó mà mỗi cơ quan công quyền sẽ giúp đỡ ông tránh nạn thất nghiệp, gởi ông vào trong những trung tâm khuếch trương, trong trường hợp ông không kiếm được việc làm. Hiểu được như thế rồi, bây giờ ông có thể rời nơi đây.
Pillat và Marie bước ra. Sợ bị bắt Pillat bảo:
– Đi Piatra ngay. Cần phải rời thủ đô càng sớm càng hay.
Vào lúc đó, một bàn tay đặt lên vai Pillat. Chàng tái mặt.
– Xin ông đừng sợ. Tôi là Motok đây. Tôi cần nói với ông vài câu thôi. Thì ra đó là anh chàng làm ở sở hỏa xa độ nọ. Hắn kéo Marie và Pillat ra khỏi đám đông đang sắp hàng trước ủy ban với đói khát và sợ hãi. Daniel Motok mặt một bộ áo quần giản dị, không có cà vạt. Mặt hắn biến đổi hẳn đi, mắt bên phải bị thương.
– Ngày chiến thắng, tôi bị lũ nhân viên hỏa xa cộng sản bắt giữ và hành hạ cho đến nay. Gặp ông đây để từ giả thật là may mắn. Thôi, tôi đi.
Pillat muốn cầm tay giữ Motok lại, nhưng hắn đã rút tay lui và quay về phía Marie :
– Nếu tôi ở lại, họ sẽ giết tôi. Với lại, tôi nói được bốn thứ tiếng thế nào tôi cũng kiếm được việc làm ở Đông Âu. Cầu trời phù hộ cho cô.
Nói xong, Motok khóc và biến vào đám đông, áo đang còn dính máu và chân không còn mang tất. Khó mà nhận ra hắn nữa, tù tội đã làm hắn thay đổi rất nhiều.
– Tội nghiệp cho Motok, khó mà có thể nói là chỉ mới 7 ngày sau ngày chiến thắng…
Trong lúc đó, máy phóng thanh đang loan truyền một bài diễn văn. Pillat cố tìm lại Motok, nhưng hắn đã biến mất. Từng tiếng trên máy phóng thanh dội vào tai Pillat, khó chịu : «Tinka Neva tượng trưng cho nữ anh hùng vô sản. Cho đến năm 60 tuổi, bà vẫn còn bị chủ nhân giam trong bếp không lớn hơn xà lim bao nhiêu thiếu không khí thiếu ánh sáng. Nhưng đến năm 60 tuổi, con người vô sản trong bà sống dậy và sẵn sàng tranh đấu. Bà đã leo lên mái nhà cầm đèn ra hiệu cho máy bay Sô Viết đem lại chiến thắng ngày hôm nay. Bà đã chết ở một nơi cao nhất…»
Pillat bực mình bảo Marie:
– Đi em. Người Sô Viết muốn giết hết người để thế giới chỉ còn toàn là huyền thoại. Tinka Neva đúng là một người đàn bà can đảm, nhưng không phải là một bà phù thủy dạo chơi ban đêm trên các mái nhà. Đúng là chuyện bịa đặt để người Nga thay thế vào những người đã bị họ giết chết. Marie, thôi đi em.
Vài giờ sau, Marie và Pillat đến ga xe lửa. Họ lo sợ bước lên tàu lửa đi đến vùng núi xứ Moldavie. Hình ảnh Motok theo dõi họ suốt chuyến đi. Trên bến tàu, máy phóng thanh còn tiếp tục kể câu chuyện về Tinka Neva.
Pillat bảo Marie:
– Tội nghiệp cho Motok thật. May là tụi mình còn một chỗ để ẩn thân. Núp kín trong một góc toa tàu, hai người cầm tay nhau và cùng nghĩ đến Piatra. Đó là một làng nhỏ với chừng một trăm nóc nhà, trong vùng núi Néamtz, quê hương của Marie.
II
Sau ngày chiến thắng, Boris Bodnariuk xin được trở lại thực hiện các công tác thay đổi khí hậu và canh tân sa mạc, nhưng hắn không được chấp thuận. Sô Viết đang cần hắn ở Lỗ ma ni để biến quốc gia này thành một nước cộng hòa nhân dân. Đó là một chuyện thật khó khăn, vì chưa có cán bộ, chưa có ai để thi hành mệnh lệnh.
Boris quyết định đến tận chỗ, đi từ nơi nầy sang nơi khác để lập một nền hành chánh cộng sản. Trước khi rời văn phòng, người nữ thư ký đưa cho hắn một bức thư và bảo hắn :
– Hình như đây là bức thư của một tu sĩ tên là Angelo, ông ta tự cho là em ruột của đồng chí. Kèm theo thư có cả bức ảnh.
Boris nói như hét :
– Chúng ta, những người cộng sản, không có anh em ruột. Anh em chúng ta toàn là những công nhân trên khắp thế giới.
Hắn không thèm nhìn ảnh đứa em mà hắn đã làm mất một mắt hồi ba tuổi. Trong thư Angelo báo tin đã đi tu, ngày đêm vẫn cầu nguyện cho Boris và cảm ơn thượng đế đã để cho Boris sống sót trên trần gian.
Boris bỏ tấm bản đồ Lỗ ma ni vào túi áo, quấn chặt tấm khăn quàng quanh cổ.
Vài ngày sau đó, do một người địa phương hướng dẫn, Boris đã bước chân lên khu đất ẩm ướt của một làng ở về phía bắc xứ Moldavie.
– Serghei Severin, làng nầy tên gì nhỉ?
Boris hỏi Severin. Người nầy gốc Nga sinh ở Lỗ ma ni, to lớn khác thường. Trong lúc Boris cố tránh những vũng bùn trên đường thì Severin bước đại lên cả các vũng nước, vũng bùn mà không cần né tránh, như súc vật.
– Đây là làng Piatra. Severin trả lời thế và để Bodnariuk đi một mình vào trong sân nhà ông lý trưởng. Dân làng đã đợi sẵn ở hai bên đường, người nào người nấy mũ cầm tay, khúm núm lúc Boris đi qua. Hắn khinh khỉnh đi vào ngồi liền trên ghế ở văn phòng viên lý trưởng. Qua khung cửa sổ, hắn nhìn lũ dân làng sắp hàng dưới mưa với cặp mắt căm hờn, bởi theo hắn, giai cấp nông dân là một trở ngại lớn lao cho công cuộc hoàn thành một quốc gia cộng sản. Nhìn lên bức vách, ngổn ngang những tấm hình cắt trên báo. Boris bực dọc nhìn bức hình của thống chế những người Slaves miền Nam, bởi vì hình như vị thống chế thương yêu con chó của ông ta hết mực, mà theo Boris, người cộng sản còn một đam mê nào đó tức là còn hèn yếu.
Đám dân làng đã đến ngồi ở các băng ghế trước mặt Boris, e dè nhìn Boris như lũ trẻ chờ đợi trong ngày khai giảng niên học mỗi năm.
Boris hách dịch ra lệnh:
– Đưa tôi danh sách dân làng ở đây.
Hắn mở cuốn sách, ở trang đầu viết: «Piatra, làng của Néamtz, 150 dân. Mấy trang sau ghi tên họ tuổi tác của từng dân làng. Boris hỏi tiếp:
– Danh sách đã phân loại đâu?
Viên lý trưởng, tóc ướt sũng vì đã đợi Boris dưới mưa, từ từ đứng dậy:
– Chúng tôi ở đây không có ai ở giai cấp thứ nhất vì không có ai là điền chủ, tư bản cũng như tư sản. Giai cấp nầy thật ra không có trong làng Piatra này.
Boris có vẻ không bằng lòng. Thông thường đi công tác hắn có thói quen hạ nhục một điền chủ hạng bự trước mặt quần chúng. Sau đó, hắn ra lệnh tịch thu tài sản và chia đều cho nông dân. Cứ theo phương pháp đó, đám dân làng lỏng lẻo tự nhiên bị khích động và cuộc đấu tranh bắt đầu.
– Vậy thì cho tôi danh sách các người thuộc giai cấp thứ hai vậy.
Nhưng viên lý trưởng bình tĩnh trả lời:
– Cũng không có ai ở giai cấp đó cả, vì muốn liệt vào hạng đó ít nhất phải có hơn năm sào ruộng. Ở Piatra, không ai có nhiều ruộng đến thế.
Đám dân làng sung sướng, nghĩ rằng không có ai giàu có, điền chủ. Họ ngờ là Boris sẽ khen ngợi làng Piatra lắm, nhưng Boris đã cố tình moi móc thêm :
– Những chủ máy xay, chủ quán, những quân cảnh cũ, nghĩa là tất cả những ai đã bóc lột nhân dân dưới chế đó tư bản đều thuộc về hạng thứ hai cả.
– Viên quân cảnh không còn ở trong làng nữa. Ông ta trốn đi sau ngày chiến thắng. Không có chủ máy xay ở đây vì một lẽ giản dị là làng này không có máy xay, làng chúng tôi nghèo lắm. Chúng tôi phải đi xay bắp và lúa ở làng khác. Cà phê cũng phải mua ở làng bên cạnh.
Giọng Boris trở nên rắn rỏi, hắn muốn tìm cho ra những kẻ thù của nhân dân:
– Cho tôi danh sách tay sai của tụi tư bản cũ và các viên lý trưởng hồi trước.
– Chúng tôi chỉ có một lý trưởng từ hai mươi năm nay, ông ta đã chết và vừa mới chôn cất ba tuần lễ nay.
Ở sa mạc, Boris đã phải chiến đấu không ngừng để làm sống dậy những tấc đất đã hết màu mỡ. Những công việc của một cán bộ cộng sản trong xứ Lỗ ma ni nầy thật khó hơn nhiều. Cũng như tất cả các làng ở Lỗ ma ni, Piatra là một làng bất động. Sự bất động lại là kẻ thù số một của tiến bộ. Đã từ 3000 năm nay, dân Lỗ ma ni đều như thế. Muốn khích động họ, cán bộ cộng sản phải đâm dao sâu vào tận xương tủy, bởi vì họ cũng cằn cõi như đất ở sa mạc, người ta không thể trồng trọt gì lên trên đó được nữa. Cho nên Boris căm thù nhìn đám dân làng ngồi trước mắt hắn. Hắn lại lật từng trang cuốn sổ phúc trình. Hạng thứ nhất: điền chủ, không có. Hạng thứ hai: nông dân giàu, không có. Tay sai của chế độ trưởng giả, không có. Những kẻ bóc lột nhân dân như chủ đồn điền café, chủ máy xay, quân cảnh, không có. Giáo học, không có. Nạn nhân của cấp trưởng giả, không có. Người đã từng du học sang ngoại quốc, không có. Người có gia đình ở nước ngoài, không có.
Piatra không có một tên nào có thể khích động căm thù và nổi loạn, có thể lôi dân làng ra khỏi sự lờ phờ muôn thuở. Chỉ có một tờ giấy rời ghi: linh mục Thoma Skobai với giữa hai ngoặc đơn ghi chú: mù, 68 tuổi và những người mới đến trú ngụ trong làng, Pierre Pillat, thẩm phán, có vợ, đảng viên đảng cộng sản địa phương.
Boris nhíu mày, thế là hắn bằng lòng. Vì hắn thừa biết chỉ cần một cây diêm là đủ để đốt cháy một căn nhà. Chỉ cần một thủ phạm là đủ đốt cháy cả một làng. Boris lúc đó thật giống như một nhà trinh thám, sau những tuần lễ tìm tòi và những đêm mất ngủ, tìm ra được một dấu tay trên tấm kiếng, trên cái ly hay trên nấm cửa, dấu tay đủ để mang ánh sáng lại cho một vụ án và bắt được kẻ sát nhân.
Hắn nghĩ đến những phương thức hắn đã chị thị cho các vị quận trưởng phải thi hành: lập biên bản tên tuổi và nghề nghiệp mỗi công dân, phân ra từng loại khác nhau, theo dõi và kết tội những giai cấp giàu có, lập phiếu lý lịch và phiếu kết án những ai thuộc vào hai giai cấp đầu.
Bodnariuk đã ra lệnh cho nhân viên phải tìm tòi trong quá khứ mỗi người thuộc thành phần lên án, vì ai cũng có thể phạm một vài lỗi lầm. Điền chủ nào mà cả đời không hề đánh đập một người đầy tớ, gia chủ nào lại không có lần xô ngã một tên đầu bếp, nhà giàu nào mà không có lần lái xe cán phải một con chó của một người nghèo? Tất cả sự kiện đó cần phải được tố cáo để biến chúng thành những căm thù giai cấp. Bất cứ một viên lý trưởng nào cũng có điều bất công lúc xét xử, vị điền chủ nào cũng có thể là một kẻ bóc lột công của các tá điền. Đó là những bất công xã hội. Cũng như mọi linh mục đều là kẻ lợi dụng giai cấp lao động vì họ không có những hoạt động chính trị, sống bám vào sức lực kẻ khác. Tất cả điều đó cần phải được ghi vào biên bản để kết tội những kẻ đã đàn áp bốc lột nhân dân để có thể bỏ tù hay loại trừ họ. Biên bản đó rất cần thiết để khởi động óc tranh đấu giai cấp.
Boris vẫn còn trông thấy qua khung cửa một hàng dài nông dân im lặng chờ hắn như những bức tượng đứng dưới mưa. Bốn tháng trôi qua sau ngày chiến thắng mà hắn vẫn chưa làm được gì cả. Mỗi làng đều như mỗi gia đình. Những cái khối đông đặc đó cần phải cho nổ tung ra, bẻ gãy đi, phân loại đàng hoàng. Boris nghĩ như thế và bảo nhỏ với Serghei Severin:
– Đồng chí cần phải học cách thức phá hoại một làng. Hãy dùng cùng một phương pháp trong các khu phố khác trong quận của đồng chí. Không khó lắm đâu.
°
Boris Bodnariuk chăm chú nhìn Pillat. Chàng đã cố tiến đến gần lúc hắn vừa bước xuống xe. Chàng chào hắn, nhưng hắn tảng lờ như không biết chàng là ai.
Ngay cả lúc Pillat ngồi ở hàng đầu trong đám dân làng hắn cũng không thèm để ý đến. Nhưng bỗng hắn nhìn đăm đăm vào Pillat và bảo:
– Chúng ta hỏi nhỏ cùng học ở trường Hoàng gia Kichinev. Pillat đứng dậy. Bên cạnh chàng là Marie, cha nàng, bác Ion Kostaky. Ông này cảm động và coi bộ hân hạnh ra mặt khi biết thằng rể mình lại là bạn thân của một nhân vật quan trọng.
Pillat muốn nói với Boris rằng cuộc gặp gỡ này làm cho chàng sung sướng lắm, rằng những kỷ niệm tuổi thơ vẫn còn rõ mồn một trong ký ức chàng, nhất là lúc hai đứa vừa mới chia tay ở sân trường với những điếu thuốc chia nhau vào giờ ra chơi, với bức ảnh của người nữ sinh Eddy Thall ở trường quốc gia âm nhạc. Nhung Pillat chỉ nói được:
– Tôi vẫn có ý kiếm cậu từ bấy lâu nay.
Trong lúc đó Boris thản nhiên cởi áo choàng, đặt khẩu súng lúc xuống bàn. Pillat đợi cho hắn xong xuôi mới giới thiệu:
– Tôi đã cưới vợ ở Piatra (Marie đứng dậy cúi đầu chào) và đây là ông nhạc của tôi (chàng giới thiệu Ion Kostaky) ông nhạc tôi còn có một căn nhà cho chúng tôi ở. Chúng tôi cũng làm việc đồng áng với nhau…
Tất cả các nông dân có mặt đều vui cười như trong ngày lễ phục sinh vì đúng là một vinh dự khi được nhìn thấy Pillat thân mật nói chuyện với anh chàng Boris lúc nào mặt cũng lạnh như tiền và không ai dám đến gần. Lúc này thì họ không còn sợ hãi gì cả, bằng chứng là Pillat nói chuyện với anh chàng đó rất đàng hoàng. Họ nghĩ là nhờ ở tình bạn thân mật đó mà làng Piatra sẽ nhận được một số tiền cứu trợ cùng cây gỗ sửa lại những cây cầu đã bị hư. Nhưng họ không vui mừng lâu, Boris lên tiếng với Pillat:
– Ông cũng không thoát khỏi luật lệ chung được vì ông đã hành động giống như tất cả lũ trưởng giả phản động. Vào ngày chiến thắng ông đã đến ẩn núp trong làng này. Tôi có bổn phận cảnh cáo ông rằng không có nơi nào dung túng kẻ phản động, trong các làng mạc lại càng không được nữa. Nghĩa là không có nơi nào dung túng kẻ thù của nhân dân nữa cả.
Dân làng nghểnh dài cổ ra nghe, vẫn có cảm tưởng là họ đã nghe lầm.
Boris nhìn về phía họ và nói tiếp:
– Tôi chiến đấu cho công lý của dân tộc. Tôi không muốn phản bội giai cấp công nhân, và đây là một bằng chứng. Trước kia tôi là bạn thân của người này, ông ta trở thành một người trí thức trưởng giả và đã phục vụ trong giai cấp tư sản, cho nên bây giờ ông ta phải bị trừng phạt. Điều mà trước kia tôi đã là bạn thân của ông không có một chút gì quan trọng cả, bởi vì tôi không thể nào phản bội cả giai cấp nông dân Lỗ ma ni chỉ vì một người bạn cũ có thời đã từng là một tên bồi bếp cho lũ tư bản. Tôi hứa với các đồng chí là tôi sẽ trục xuất ông ta ra khỏi làng.
Dân làng không ai vỗ tay cả. Họ không muốn có một thứ công lý như vậy. Họ không muốn có gì oan ức xảy đến cho Pillat. Ion Kostaky nắm chặt tay, lên tiếng trước tiên:
– Rể tôi không phải là người phản động. Nếu ông kết án nó như vậy thì ông lầm to. Tôi biết rõ nó hơn ông.
Đến lượt viên lý trưởng lên tiếng:
– Tôi xin báo cáo với đồng chí, Pillat là người đầu tiên ghi tên vào đảng cộng sản, và còn khuyên bảo chúng tôi gia nhập đảng cộng sản nữa. Dĩ nhiên ông ta không phải là người phản động vì ông ta giữ giấy tờ của đảng ở Piatra. Mỗi tối chúng tôi đến họp ở đây và đồng chí Pillat là nguồn hy vọng của toàn thể chúng tôi.
Boris yên lặng, cái yên lặng nặng nề và đe dọa, đến độ người ta có thể nghe tiếng mưa rơi và tiếng gió thổi cùng với nhịp tim đập trong lồng ngực mọi người. Boris vẫn yên lặng, vì hắn biết rằng sự yên lặng của hắn dày vò đám đông ngay ngô đó và hắn muốn kéo dài sự dày vò đó. Sau cùng hắn sang sảng nói:
– Hỡi các đồng chí, bổn phận của các lãnh tụ đảng là phải tranh đấu để đem lại công lý cho các đồng chí. Chúng tôi biết nhiều hơn các đồng chí. Các đồng chí chỉ là những nông dân khốn khổ vừa mới thoát ách thống trị, chưa biết bảo vệ quyền lợi của mình. Bổn phận đầu tiên của chánh phủ nhân dân là bảo vệ cho các đồng chí. Lũ phản động, mật vụ bị chánh phủ theo dõi thường về ẩn núp các làng mạc như những con chó sói khoác bộ áo lông cừu. Chánh phủ không cho phép lũ vô lại đó đánh lừa nhân dân. Chúng là những con chó sói chứ không phải là những con lừa như đồng chí lầm tưởng. Chúng tôi sẽ lột da chúng ra. Tụi trưởng giả là những con chó sói sinh sống bằng xương máu của nhân dân. Pillat cũng là con chó sói và chánh phủ sẽ giúp các đồng chí chống lại chúng.
Boris đứng dậy. Dân làng yên lặng trong lúc Marie âm thầm khóc. Boris dặn nhỏ Severin: «Hãy qui tụ đám thanh niên lại và thành lập những đội dân quân. Cung cấp vũ khí cho họ. Gieo căm hờn trong lòng họ. Rồi họ sẽ gieo căm hờn trong làng mạc. Không có căm hờn thì không thể nào khích động quần chúng được. Chừng nào đám nông dân chưa biết căm hờn thì ta chưa thể trông cậy họ trong vai trò xây dựng một xã hội cộng sản được. Làng mạc sẽ nằm ngay trong trạng thái cách đây 3000 năm và chiến thắng của Hồng quân không đem lại được gì; cho nên phải gieo căm hờn, đồng chí biết chứ, căm hờn, có phải thế không? Hở Serghei Severin?»
III
Sau cuộc thăm viếng và đe dọa của Boris, dân làng ở Piatra tưởng là sẽ có gì ghê gớm xảy ra sau đó. Nhưng không có gì xảy ra cả. Chỉ có Severin chạy lui tới quanh làng, rồi triệu tập chừng 12 người thanh niên trong làng, cung cấp áo quần và vũ khí, dạy họ bắn súng, diễn thuyết cho họ nghe và chỉ có thế, đời sống vẫn êm đềm trôi qua. 12 người thanh niên đó được cho ở trong một căn nhà cạnh trụ sở phường và nhờ họ mà Severin biết được ai là người thường hay gây gổ với vợ con, ai thường hay đi nhà thơ, ai thường hay ra phố… Nhưng mà đối với dân làng họ cũng chả cần giữ bí mật, Severin có thể biết được hết, với điều kiện là để cho họ yên thân. Mà thật sự là họ được yên thân. Ngay cả Pillat cũng không còn sợ hãi nữa. Chàng nói với cha vợ:
– Ba à, nếu lũ Sô Viết để cho chúng ta yên thân chúng ta không việc gì phải chống lại họ cả. Ngay như thánh Mathieu cũng có nói «con hãy đồng ý với kẻ thù lúc mà họ đang đi cùng đường với con…».
«Chúng ta đang bị bắt buộc phải sống với người Sô Viết vì quân Sô Viết đã chiếm Lỗ ma ni với súng ống của Hoa kỳ có khắc chữ «made in USA», với những viên đạn của Anh quốc và với sự chấp thuận của Giáo Hội La Mã. 52 quốc gia văn minh nhất hoàn cầu đã dẫn quân Nga đến tận làng Piatra, lúc mà quân Nga đã xâm lăng Lỗ ma ni thì tất cả những thánh đường đều rung chuông để ăn mừng biến cố, từ Luân Đôn cho đến Ba Lê, từ Nữu ước cho đến Lisbonne, bởi người ta cho rằng cuộc thánh chiến cho tự do đã hoàn toàn thành công».
Kostaky khạc xuống đất, mỉa mai:
– Tự do là thế à?
Xong, cả gia đình cùng đến phường dự ngày giỗ của nữ anh hùng Tinka Neva. Cả làng đều phải có mặt. Trước khi an tọa, Kostaky và cả nhà không quên kính cẩn hôn tay đức cha Thomas Skobai. Đức cha tuy mù nhưng vẫn biết tên từng người một. Mặt ngài hướng về phía có treo cờ, nhưng không thấy gì cả. 40 năm về trước, vào đêm phục sinh, có người quên cây đèn cầy cháy dở trong nhà thờ, nên nhà thờ bốc cháy. Cùng với dân làng chữa cháy lúc 3 giờ sáng, cha Thomas Skobai đã bị mù mắt từ đó. Từ đêm phục sinh đó, hình ảnh duy nhất còn lại trong đôi mắt cha là hình ảnh ngôi nhà thờ bốc cháy trên đỉnh đồi. Ngày hôm sau, cha làm lễ trên đống tro tàn còn nóng. Dân làng ra công sửa sang ngôi nhà thờ. Đức Tổng Giám Mục nghe cha Thomas bị mù định tìm người thay thế, nhưng khi biết chuyện, Ngài ôm cha mà hôn và không bao giờ nghĩ đến việc thay thế nữa.
Cha Thomas Skobai nhìn Severin lên sân khấu, nhưng cha chỉ thấy hình ảnh ngôi nhà thờ bị bốc cháy. Severin bắt đầu nói về Tinka Neva bằng giọng Lỗ ma ni mà không đúng lắm. Trong lúc đó thì dân làng vẫn nghĩ đến đồng ruộng của họ, và cha Thomas thì chỉ thấy ngôi nhà thờ đang bốc cháy mà thôi. Severin trở lại vấn đề.
– Lũ chính trị phạm vẫn đang còn ẩn nấu ở Piatra. Chúng ta cần phải tống cổ họ đi ngay.
Nông dân hoảng hốt không còn nghĩ đến ruộng vườn nhà cửa nữa mà bắt đầu sợ sệt nhìn về phía Pillat. Severin tiếp tục:
– Chúng ta không cần đề cập đến lũ chính trị phạm đã lộ mặt, lũ đó chúng ta bắt lúc nào cũng được. Bây giờ, cuộc tranh đấu của giai cấp thợ thuyền đã thắng, chúng ta cần vạch mặt nạ bọn phản bội đang ẩn náu. Tôi yêu cầu những ai còn là kẻ thù của nhân dân xin đứng dậy ngay.
Mọi người tái mặt. Không ai nhúc nhích cả. Severin ra lệnh:
– Marie Kostaky, cô đứng dậy ngay cho nhân dân thấy mặt cô. Marie đứng phắt dậy, trong lúc Pillat xiết chặt tay nàng:
– Tôi không phải là chính trị phạm.
– Cô đã phạm những tội lớn lao đối với nhân dân nhưng hãy để đấy đã, bây giờ để tôi lột mặt nạ một kẻ thù khác của nhân dân: Ion Kostaky.
Ion Kostaky đứng dậy, nhưng người ta cũng có thể nói là cả sự căm hờn và khinh bỉ của nhân dân cũng đứng dậy theo với ông ta. Kostaky cắn răng, nắm chặt tay. Ông ta muốn những lời ông sắp nói sẽ như những viên đá giáng vào đầu tên Nga sô đó, đã dám cho ông ta là kẻ thù của nhân dân, trong lúc đó, Severin kết tội:
– Ion Kostaky, trước tòa án nhân dân, tôi tố cáo ông là một tên Phát xít. Trước khi bị treo cổ ông hãy quay đầu lại để mọi người xem thử mặt tên kẻ thù nhân dân giống cái gì.
Kostaky mất hết cả phản ứng thường lệ. Ông ta chỉ nghiến răng tức giận, dân làng thì nắm chặt tay phẫn uất. Severin cầm một trang giấy và đọc:
Ngày 14-8-1943 lúc 14 giờ hai sĩ quan Quốc xã đã vào nhà Ion Kostaky để cùng âm mưu hại dân làng. Hai tên Quốc xã đó đã bị tòa án Sô Viết kết tội và treo cổ tại Kiev.»
Severin chìa bức hình cho dân làng xem, bức hình có hai người Đức bị treo cổ. Dân làng kinh hoàng chuyền tay nhau xem bức hình đó. Cha Thomas Skobai cũng cầm bức hình nhưng cha không thấy gì ngoài ngọn lửa đang thiêu rụi nhà thờ. Severin tiếp tục nói:
«Hai tên sát nhân này đã khai trước tòa án Sô Viết là đã giết không biết bao nhiêu người, cho đến nỗi chúng không nhớ nổi con số nạn nhân của chúng nữa. Và chúng lại là bạn thân và là chủ nhân ông của Ion Kostaky. Chúng đã nói chuyện với Ion Kostaky tại nhà. Để khỏi bị ai dòm ngó, chúng đã kéo tấm màn cửa xuống, nhưng nhân dân đã thấy hết và nghe hết.»
Bộ mặt của Kostaky và của dân làng bắt đầu tái mét. Chưa bao giờ ở làng này lại có một chuyện kinh hoàng như thế.
Nào, nhìn lại bức hình đi, ông Kostaky, và trả lời cho nhân dân là ông có quen với hai tên Quốc xã này và có âm mưu gì với chúng không?
Kostaky nhìn bức hình và thản nhiên trả lời:
– Tôi không biết họ, tôi chưa nhìn thấy họ bao giờ, làm sao ông bảo tôi biết họ cho được. Nhưng tôi biết chắc tôi không phải là phát xít và tôi chưa hề nói chuyện với một ai cả… Cả đời tôi chưa hề nói chuyện với người Đức.
Đúng lúc đó một sự kiện không quan hệ gì cả xuất hiện trong trí nhớ và Kostaky giải thích tiếp:
– Có một lần tôi cho họ một thùng nước để rửa mặt và một bình sữa cho hai người Đức dừng xe trước cổng và muốn mua thức ăn.
– Ông không biết hai người trong bức hình nầy? Thế mà họ là bạn của ông đấy, những người đã đốt cháy làng mạc Nga, đã hãm hiếp đàn bà Nga ở Ukraine, đã đâm chết không biết bao là nông dân vô tội. Nào, nói cho nhân dân nghe thử tại sao ông kéo bức màn khi hai tên Đức nầy vào nhà, và ông âm mưu điều gì trong thời gian ông cho chúng ăn?
– Tôi không còn nhớ là bức màn có kéo xuống hay không. Nhưng vào tháng 8 trời nóng và nhà nào cũng đều kéo màn như nhau cả.
– Đồ nói láo, tòa án nhân dân sẽ buộc ông nói thật. Trong lúc ông âm mưu với hai tên Quốc xã đó, dù màn vẫn kéo xuống, mắt nhân dân vẫn nhìn thấy và tai nhân dân vẫn nghe được, vì thế mà ông có tên trong sổ đen. Ngày xét xử đã đến và đúng là ngày hôm nay đây.
Kostaky ngồi xuống, Severin nói:
– Hỡi các đồng chí, Ion Kostaky, nhân viên phát xít, đã bị trừng phạt. Pierre Pillat, tên bồi bếp trưởng giả cũng bị như thế. Marie Kostaky chuyên khủng bố các cô gái nghèo khổ cũng không tránh khỏi tội trạng. Các đồng chí cứ tin chắc là nhà nước cộng sản không để một ai thoái khỏi công lý.
Marie đã nghe người ta tố khổ cha và chồng mình nhưng không thể nào chịu được hai chữ «khủng bố» người ta dành cho nàng, nên nàng tức khắc đứng dậy phản đối:
– Tôi không phải là quân khủng bố. Mà tôi đã khủng bố ai?
– Nào đồng chí Sanda Apostol hãy đứng dậy và kể cho các đồng chí khác nghe Marie Kostaky đã bạc đãi đồng chí như thế nào? Severin ra lệnh như thế.
Lúc Sanda Apostol đứng dậy, Severin khuyến khích:
– Đồng chí Sanda, đừng sợ ai hết. Đồng chí là con gái của một nông dân nghèo khổ. Mà người nghèo đang cầm quyền. Nhà nước đang bảo vệ người nghèo, vậy đồng chí hãy kể lại tại sao đồng chí bị đánh đập và bị người con của tên phát xít Kostaky hành hạ đến có sẹo ở trên mặt?
Sanda trả lời :
– Tôi không nhớ gì cả. Hồi đó cả hai còn trẻ. Chúng tôi vui đùa rồi lỡ vô ý…
– Và bây giờ đồng chí mang sẹo trên mặt. Đồng chí hãy cao giọng tố cáo cho mọi người hiểu, vì ngày của công lý nhân dân đã đến. Đừng sợ gì cả, bây giờ đã đến lúc nhân dân cầm quyền và các đồng chí phải mạnh dạn để tố cáo tất cả những sỉ nhục mà các đồng chí đã gánh chịu từ bao lâu nay. Hay kể lại người ta bạc đãi đồng chí như thế nào. Để kỷ niệm cái chết anh hùng của nữ đồng chí Tinka Neva, ở tất cả làng mạc của xứ Lỗ ma ni dân chúng đều mở chiến dịch tố cáo những kẻ phản bội, những kẻ thuộc đảng phát xít và những kẻ bóc lột nhân dân. Chúng ta tiếp tục tố cáo họ mỗi ngày và chúng ta sẽ treo cổ họ dọc theo lề đường.
– Nhưng tôi đã bảo là chỉ vì thuở nhỏ vô ý lúc chơi thôi, Sanda Apostol trả lời.
– Không, đồng chí sẽ kể lại vào một dịp khác vụ đồng chí bị hành hạ như thế nào, bây giờ tôi thấy rõ đồng chí đang sợ.
Thế là ngày kỷ niệm cái chết của Tinka Neva chấm dứt nơi đây. Dân làng vẫn đứng yên. Sau khi Severin đi rồi, họ đồng nhìn phía cha Thomas Skobai, chờ đợi phản ứng của cha, nhưng đức cha vẫn chỉ thấy một hình ảnh duy nhất, đó là hình ảnh ngôi nhà thờ bốc cháy trên đồi. Ai nấy về nhà, sớm hơn thường lệ. Sợ hãi đã hoàn toàn xâm chiếm tâm hồn mộc mạc của họ. Bởi đây là lần đầu tiên mà dân làng Piatra bị một mẻ như thế. Họ tự bảo nếu người cộng sản biết cả chuyện trẻ con chơi với nhau 15 năm về trước và Sanda Apostol bị té và có sẹo lúc chơi với Marie Kostaky, thì thực là người cộng sản không có điều gì không biết nữa cả. Lo lắng như thế nên đêm đêm tắt đèn đi ngủ, họ vẫn còn cảm tưởng là có kẻ đang rình nghe ở cửa, dòm ngó giấc ngủ của họ qua cửa sổ, rình mò họ, nhìn họ qua cả tường nhà, trần nhà… Họ có cảm tưởng một con mắt nào đó đang theo dõi họ trong bóng tối. Trong tấm chăn đắp, người nông dân cầu nguyện trong kinh hoàng, bởi vì đã bắt đầu có cuộc khủng bố.
IV
Sáng hôm sau, dân làng Piatra dậy thật sớm, nhưng không ai ra khỏi nhà mà chỉ làm việc quanh quẩn trong sân để nghe ngóng tình hình.
Họ chờ tiếng xe nổ của Severin.
Severin xuất hiện như thường lệ và đến thẳng phường. Dân làng không hiểu họ phải có thái độ nào nhưng họ khôn ngoan chờ đợi, họ không muốn bị ngỡ ngàng, bởi họ biết chờ đợi lính đến bắt Ion Kostaky, Pillat và không biết còn ai nữa; lo sợ cứ tăng dần lên nhưng cho đến trưa, Severin vẫn thản nhiên tập dượt cho lính, dạy dỗ cho lũ thanh niên.
Giữa trưa, Pillat hết cả kiên nhẫn, bàn với Ion Kostaky:
– Boris Bodnariuk hiện đang ở trên phố, ở Molda. Con sẽ đến gặp hắn và nói thật với hắn.
Không muốn để Pillat đi một mình, Kostaky nói:
– Ba cũng cần mua một ít đinh và ván để sửa lại hàng rào, vậy để cho ba cùng đi luôn.
Hai người lính gác chận họ ở cổng làng, hỏi họ đi đâu, như thường lệ, rồi để họ đi. Pillat nói:
– Con không muốn hạ mình xin xỏ, nhưng con chỉ mong hắn để cho mình yên ổn. Hắn với con cùng học một trường thuở nhỏ, có lẽ hắn sẽ nghe lời con. Có được không ba nhỉ?
Kostaky gật đầu và quất ngựa đi nhanh.
Đến phố, Kostaky lo mua đinh, trong lúc Pillat đến thẳng nhà Boris, đề nghị:
– Boris, tao muon xin mày một chuyện không dính gì đến quyền hạn trong đảng của mày cả, là tao muốn trở thành một đảng viên nhiệt thành. Tao thực lòng muốn gia nhập đảng. Mày chờ một thời gian để tao chứng tỏ bằng hành động. Tao muốn trở thành một thành phần hữu ích cho cộng đồng xã hội và cho đảng. Mày hãy nhìn thẳng vào mắt tao và mày sẽ thấy tao rất thành thật lúc nói thế.
Boris trả lời:
– Tao biết mày thành thật, nhưng mày yêu cầu một điều không thể được.
– Nếu tao thành thật muốn thế, và nếu tao hướng tất cả cố gắng về mục đích đó, mày có tin là tao sẽ trở thành một người cộng sản tốt?
Boris mỉm cười:
– Không, mày không thể trở thành như thế được. Mày có nhớ bài học giáo lý ở trường Hoàng gia «con lạc đà bước qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu có bước vào nước Chúa». Không ai nghĩ đến việc kết tội Thiên chúa giáo vì tôn giáo này khai trừ người giàu có. Một tên trí thức trưởng giả không thể nào trở thành một người cộng sản.
– Người giàu có thể trở thành nghèo, nếu họ từ chối của cải. Cho nên không thể mãi mãi loại họ ra ngoài, với điều kiện là họ phải từ bỏ hết. Boris, tao đã từ bỏ hết. Vậy hãy để tao cùng làm việc với các đồng chí. Mày hãy giúp tao trở thành người cộng sản.
– Làm sao mày có thể chối bỏ nguồn gốc trưởng giả của mày được? Vô ích, mày đã là một trí thức trưởng giả. Bây giờ nhân dân cầm quyền, và nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền đó lúc cầm quyền là tìm mọi cách để loại bỏ giai cấp trưởng giả. Đằng nào mày cũng bị tố khổ.
– Để phạt tao mày phải có bằng cớ, vậy mày kết án tao điều gì?
– Trong cuộc cách mạng vô sản, chúng tao không cần biết đến cá nhân. Xã hội không được cấu thành bởi cá nhân và bởi giai cấp. Cá nhân mày không có gì để lo lắng, nhưng giai cấp tư sản có tội và chúng tao trừng phạt giai cấp đó. Mày là một thành phần đã hưởng lợi cho nên mày phải bị trừng trị với giai cấp đó. Giản dị có thế thôi.
Boris khoác áo da và khăn quàng đỏ, trong lúc Pillat cố nói những lời sau cùng:
– Nhưng đặc biệt tao xin mày một ân huệ. Tức là hãy để cho tao gia nhập vào giai cấp vô sản, mày sẽ không thất vọng về điều này đâu.
– Không, mày không nên xin tao một điều không thể được. Nếu tao cho phép, tao phản bội nhân dân và đảng. Tao có phận sự loại trừ các thành phần giai cấp trưởng giả ở các thành phố và làng mạc, như lũ nha sĩ phải nhổ những chiếc rằng hư. Người trưởng giả nào cũng là một ung nhọt nguy hiểm cho đảng. Xã hội cũng có những định luật về vệ sinh chính trị và nhân danh các đỉnh luật đó mà mày phải bị khai trừ. Các anh trí thức trưởng giả, lúc nào các anh cũng tự hào là biết hết những tế nhị của cuộc sống, làm sao các anh lại không biết đến những nguyên tắc giản dị đến thế?
Cuộc hội kiến thế là chấm dứt. Boris để cho Pillat ra về mà không cần chìa tay bắt xã giao. Trước quận, Ion Kostaky đợi Pillat về. Pillat ra ngồi lên xe ngựa không nói một lời nào. Kostaky hiểu là chuyến đi thật vô ích.
V
Buổi chiều, Ion Kostaky bắt đầu sửa hàng rào. Ông ta cảm thấy cần một hàng rào thật kín và thật chắc. Tất cả dân làng Piatra đều sửa lại ổ khóa nhà cửa. Pillat cuốc đất ở ngoài vườn, cùng với Marie. Chính giữa vườn, Pillat lấy cỏ mịn đắp quanh thành hình trái tim. Bỗng có tiếng hỏi :
– Pillat, bao giờ thì anh hết khiêu khích nhỉ?
Pillat ngửng đầu lên đã thấy Severin và lính gác đứng trước cổng. Pillat có cảm tưởng là họ đến bắt chàng. Severin vào trong sân:
– Tôi tưởng anh đứng về phía chúng tôi chứ? Severin nói thế và ra hiệu cho lũ lính gác. Chúng vứt khí giới xuống và cùng nhau dẫm nát bãi cỏ hình trái tim. Pillat không hiểu ất giáp gì cả lặng yên nhìn lũ lính gác phá tan mảnh đất có hình trái tim dưới gót giày đinh.
-Tụi trưởng giả các anh tưởng là người cộng sản ngốc hết hay sao, nhưng chúng tôi biết cái gì chúng tôi muốn biết, và biết cái gì kẻ thù chúng tôi muốn làm. Với mục đích gì mà các anh làm một mô đất có hình trái tim lớn như một bích chương mà bên ngoài đường cũng có thể trông thấy được?
Marie ngạc nhiên hỏi:
– Mà có ai nói cho chúng tôi biết là chúng tôi không được phép trồng hoa theo hình trái tim đâu?
– Trái tim tượng trưng cho quyền tư lợi. Đúng là ngày chúng tôi bắt đầu tập sản hóa đất đai, các anh đã tức khác vẽ hình trái tim trong vườn để phản đối công việc tập hóa đất đai ở Piatra.
– Tôi thề với đồng chỉ là không bao giờ tôi có ý tưởng đó cả.
– Chúng tôi đã ngăn cản lũ phản động tìm cách phản đối công việc tập sản hóa đất đai bằng cách cho làm mô hình trái tim ngay giữa vườn như là một dấu hiệu phản kháng. Chúng tôi theo dõi mọi phong trào, các anh đừng có đánh lạc hướng vô ích. Lũ phản cách mạng không thể thắng nổi.
Tụi lính đã phá xong bãi cỏ, đứng nhìn Severin. Tên nầy lại ra hiệu, và sáu đứa nhào vô cướp cái rìu trên tay Ion Kostaky và trong chốc lát phá hết bức rào, ván gẫy, cột nghiêng. Nhà Kostaky và Pillat thế là không còn hàng rào che chở nữa. Ván bị vứt hết ra đường và bị dẫm nát.
Lũ thanh niên phá hoại xong, phủi tay, vứt cuốc, cầm lại khí giới như thường, trong lúc Severin điều tra:
– Ai đã ra lệnh cho các anh làm thêm hàng rào nầy?
Kostaky hằn học trả lời:
– Nó hư đi thì chúng tôi phải sửa lại. Các ông bây giờ lại cấm việc làm hàng rào nữa sao?
Chúng tôi đã bắt được mật lệnh truyền cho lũ phản động là phải lập hàng rào thật cao và chắc chắn để núp trong đó mà chóng đối âm thầm kế hoạch tập sản hóa đất đai.
Severin bắt đầu đọc một đoạn trong báo do Boris gởi:
«Hàng rào là hình ảnh của một xã hội phong kiến và là sáng kiến của cá nhân chủ nghĩa. Lũ đại tư bản đã dùng tường cao hào sâu để tự cô lập mình. Chủ nghĩa cộng sản lại muốn kiến tạo một cuộc sống cộng đồng, kết hợp mọi người lại chứ không chia rẽ.
Cho nên các rào dậu không thể tồn tại giữa các cá nhân trong một cộng đồng. Vì thế phản ứng cấp thời của lũ tư bản là ra lệnh cho cán bộ của họ ở Lỗ ma ni ra công sửa sang gấp rút rào dậu quanh nhà.»
Phong trào sửa hàng rào, đắp mô hình trái tim giữa vườn bắt đầu đúng lúc chúng tôi nêu kế hoạch tập sản hóa đất đai.»
Pillat bảo:
– Thực chúng tôi không có ẩn ý gì cả. Thật mà.
– Tôi sẽ đưa cả ba người ra hội đồng xã để khai hết cả, để nói cho chúng tôi biết mật lênh ấy ở đâu ra. Phải khai hết những cán bộ, chủ tịch, nghĩa là tất cả những kẻ âm mưu.
VI
Đã ba ngày trôi qua từ lúc bị phá phách, Pillat thầm cảm ơn trời đất đã không bị hỏi han điều tra lôi thôi về hoạt động «phản cach mạng» của chàng, chàng nghĩ là họ đã để cho chàng được yên ổn. Ngày ngày quanh quẩn trong sân, tối vào gian nhà tranh nho nhỏ bên cạnh Marie đối với chàng đã là một niềm vui lớn. Có ông bà nhạc gia ở cạnh là một niềm vui khác.
Chàng tìm sự yên nghỉ trong công việc trồng trọt hằng ngày và tìm nguồn vui trong những sự kiện nhỏ nhặt nhất, từ ánh nắng mặt trời, sự trong mát của hồ nước cho đến màu xanh bầu trời và tất cả mọi sự việc khác.
Mỗi lần nghe tiếng xe gắn máy của Severin ngoài đường, chàng trốn vào nhà cho yên thân. Nhưng khác mọi lần, Severin ngừng xe ngay trước nhà.
– Pillat, tại sao anh trốn tôi? Không ai có thể trốn tránh người Sô Viết cả.
Ba người lính theo Severin bước vào:
– Tôi thấy anh có nuôi con chó trong nhà?
– Chó hoang đấy mà, đến sân nhà tôi chừng ba tuần.
– Đó, thấy không, chó cũng đánh hơi được nhà của bọn phản động. Chó đến nhà có chứng minh được thức ăn của nhà anh thừa thải không nhỉ?
– Chó thì ăn cơm thừa canh cặn, cho nên người nghèo kiết xác cũng còn nuôi nỗi chó nữa, huống hồ.
– Theo bản thống kê của đồng chí Boris thì ở Lỗ ma ni hiện nay có chừng 30 triệu mèo, chó. Mỗi chủ nhà phải chia thức ăn của mình và con cái cho một chó và một mèo. Như thế là một số lượng khổng lồ thức ăn đút vào mồm những thứ vô tích sự đó. Chỉ có một chế độ bóc lột lao động mới có thể đem cơm nước của lao động cho chó mèo. Chừng đó thôi cũng chứng minh sự man rợ của giai cấp trưởng giả; đó là chưa kể những bệnh hoạn do loại đó mang lại. Nhà nước đã quyết định loại bỏ chúng bằng cách khoá miệng 30 triệu mèo chó đó lại để phân phát thức ăn cho kẻ nghèo khổ. Vào lúc nhà nước quyết định thế thì anh lại nuôi chó, làm sao giải thích thái độ đó của anh nhỉ, chắc anh không thể cho là tình cờ chứ?
Marie, Iléna và Kostaky và vài người hàng xóm lại phải lắng tai nghe một lời kết tội mới. Severin nói tiếp :
– Một trong những thứ vui bỉ ổi nhất của lũ bóc lột lao động là thản nhiên nhìn lũ trẻ con nhân công chết đói, trong lúc thức ăn họ đem quăng cho mèo chó. Nên đã từ lâu Nga sô quyết định loại bỏ súc vật vô ích. Xã hội nào còn nuôi thú vật ăn bám là một xã hội thoái hoá. Chúng ta bắt chước gương sáng của Nga sô để rửa nhục cho dân tộc. Da của loài thú đó sẽ đem dùng vào kỹ nghệ. Mỡ sẽ được chế thành xà phòng cho nhân dân xài. Nga sô đã viện trợ máy móc cho chúng ta phát triển thứ kỹ nghệ đó.
Nói xong, Severin ra hiệu, bốn thanh niên cùng nhắm bắn con chó. Tiếng nổ hòa lẫn với tiếng rên la quằn quại của con chó. Máu văng vào tường nhà và vườn tược của Pillat. Lính gác vẫn tiếp tục bắn. Marie, Iléna, Kostaky bịt tai bưng mặt chạy vào nhà để khỏi nghe tiếng rên siết.
Pillat bỗng nhiên mặc nhận một tội lỗi sâu xa. Chàng kinh hoàng chứng kiến cảnh đó mà không phát ra một cử chỉ nào cả. Đành rằng chàng không thể nào cứu mạng sống con chó nhưng ít ra chàng phải có cử chỉ phản đối. Chàng đã không làm gì cả, và điều đó xem như là một sự phản bội.
Chó không bao giờ phản chủ, thế mà con người lại đang tâm phản bội mèo chó.
Severin gọi Kostaky và Pillat lại gần:
– Nào, mang chó ra trụ sở phường, còn nhiều con nữa. Ra ngoài đó rồi người ta sẽ dạy cách lột da chó.
Lũ thanh niên lại cầm khí giới đi hạ sát chó trong làng Piatra. Đàn bà trốn biệt trong nhà cầu nguyện Đức mẹ đồng trinh. Lúc Ion Kostaky đến gần con chó, Severin đá sau lưng hách dịch:
– Nhanh lên, tởm hả? Chó là bạn thân của tá điền. Nó sống trong nhà ông, bây giờ ông lại tởm à?
Kostaky muốn quay lại, nhưng một cú đá khác bắt ông cúi xuống con vật:
– Nào, mang lên vai ngay.
Máu chó chảy xuống cả vai Kostaky, thân thể nó còn nóng như lúc còn sống.
Chưa tha, Severin còn gọi Marie, Iléna:
– Hai người kia, ra đây cầm lấy cái đuôi chó. Marie và Iléna vừa khóc vừa bước ra.
Cả ba cùng theo lệnh Severin tiến ra trụ sở phường, trong lúc dân làng nhìn cạnh đó nghiến răng kèn kẹt. Severin nói tiếp với Pillat:
– Bước theo ba người kia, bắt đầu từ hôm nay tất cả bọn phản động phải lột da chó và mèo. Việc làm nầy mới xứng với chúng nó…
VII
Mỗi tối, lính gác tiếp tục giết mèo chó trong làng Piatra. Dân làng cứ phải mang đến trụ sở phường để lột da.
Chiều hôm đó trở về nhà, Kostaky còn ngửi thấy mùi máu đong trên áo quần, da thịt và hình như đong lên cả ký ức của ông ta nữa. Cũng như Pillat, cả nhà không ai thiết đến chuyện ăn uống. Họ cùng quay quần trong bóng đêm để tìm một lối thoát.
Cửa ngỏ mở toang cả ra để thoáng hơi, nhưng mùi thịt chó mèo nóng hổi hình như đã thấm sâu vào tường. Bỗng một chiếc bóng xuất hiện trong sân. Nicolas Vornik bước vào nhà trong dáng dấp sợ hãi, áo quần rách rưới, mình mẩy đầy máu:
– Họ sẽ bắt tụi mình đêm nay. Đừng thắp đèn lên, cứ nói chuyện trong bóng tối thế nầy tốt hơn. Chúng gọi tôi lại phường, giam vào hầm và đánh đập tôi không ngớt cho tới bây giờ. Bác nhìn xem, chúng đập tôi đến nát xương.
Vornik run rẩy kể tiếp:
– Tôi có nghe lỏm thằng Nga nó đọc lệnh mới vừa nhận được. Bảy người ở làng này sẽ bị bắt đêm nay và bị đưa đi đày. Cả bác lẫn cô Marie và cậu Pillat đều nằm trong sổ đen. Có tôi và một vài người họ hàng của bác nữa vị chi là bảy người tất cả.
Ion Kostaky cẩn thận bảo vợ ra ngoài, chỉ còn Vornik và Pillat ông ta mới bảo:
– Bác kể lại cho nghe một lần nữa đi.
– Chính tai tôi nghe là đêm nay khoảng 3 giờ lính sẽ đến bắt chúng mình, bởi vì lúc đó tôi đang bị giam phòng bên cạnh và tôi chỉ biết có thế thôi, nhưng phải đến đây để cùng bàn xem sao.
Vornik ôm đầu suy nghĩ trong lúc Kostaky ra ngoài bảo Iléna làm cơm, và bảo với vợ con:
– Đêm nay mình sẽ không ngủ ở nhà. Marie, con cùng đi với ba luôn. Kostaky đề nghị với Vornik :
– Chúng mình trốn vào rừng, cuộc biến động rồi sẽ qua đi, sau đó vài ngày chúng mình lại về nhà chứ gì.
Thế là, Marie và Pillat sửa soạn đồ dùng, Vornik về nhà, báo tin cho họ hàng Kostaky. Iléna lo sửa soạn thức ăn.
Thấy quyết định của mình sắp thực hiện sẽ rất trầm trọng, Kostaky bước ra sân, ngắm cây cối, vườn tược, nhà cửa, vào chuồng vuốt ve mấy con ngựa, và tự nhủ:
– Mình không đi đâu hết. Thà chết trong sân nhà còn hơn. Không, mình không đi đâu cả.
Nhưng ông ta lại đổi ý kiến:
– Đi chứ, mình đi một đêm thôi để tránh chúng nó, rồi sau đó mình trở về ngay.
Ông ta hỏi con rể :
– Con có tin là họ sẽ bắt chúng mình không?
– Dù sao cũng đừng nên ngủ ở nhà đêm nay.
– Ừ nhỉ.
Buồn đến phát khóc, Kostaky đứng trước nhà như muốn hít hết không khí cả làng mình đang ở, như muốn đem theo hết với mình nếu có thể, không những chỉ không khí mà thôi, mà còn muốn mang hết vào trong hai buồng phổi cả nhà cửa lẫn súc vật trong chuồng.
Kostaky vào nhà bảo vợ đi tìm cha Thomas Skobai, còn ông ta thì ở nhà để xem chừng lũ lính gác, rồi thầm nghĩ :
– Mình chỉ ăn qua loa thôi, vì mình sẽ trở về nhà. Mà họ bắt mình làm gì mới được chứ?
Nghĩ thế, nhưng ông ta vẫn ra chuồng, vuốt ve lại một lần nữa mấy con ngựa thân yêu. Họ hàng, đức cha, Vornik mới đến, tất cả đều âm thầm sửa soạn trong bóng tối.
Kostaky an ủi vợ:
– Bà đừng khóc, vì nếu đêm nay không có gì xảy ra ngày mai mình lại trở về nhà, lo gì.
Kostaky lại hỏi:
– Bác có chắc là chúng sắp bắt tụi mình không? Hay bác nằm mơ?
Vornik lập lại một cách chắc chắn:
– Đúng 3 giờ đêm nay.
Vợ Vornik đã băng đầu lại cho ông ta và thay áo. Duy chỉ còn cái quần còn dính máu chưa kịp thay.
– Thưa cha, cha cầu nguyện cho chúng con đi, một thứ kinh cầu ngắn ngủi cho những con chiên đang gặp nguy hiểm, cho một giai đoạn khó khăn của thời cuộc.
Đức cha cầu kinh trong bóng tối, mọi người đều quì xuống. Nửa đêm, mưa bắt đầu đổ xuống. Thỉnh thoảng một lằn chớp lóe sáng đủ để cho mọi người nhìn rõ dáng dấp dong dỏng, vần trán cao, bộ râu tóc bạc phơ của đức cha. Và sáu người đang quỳ gối, Marie gục đầu lên vai mẹ. Tất cả bức tranh đó xuất hiện trong chốc lát, rồi mọi sự lại chìm trong bóng tối. Và người ta chỉ còn nghe tiếng mưa rơi cùng tiếng cầu kinh trầm trầm của đức cha như tiếng đại hồ cầm.
Sau cùng, Kostaky lên tiếng:
– Thôi, chúng ta đi.
Cần phải ra đi đột ngột, để khỏi nghe tiếng khóc của Iléna, Kostaky dặn vợ lần nữa:
– Hết mưa thì mình phải dẫn cha Skobai về, và mình chờ tôi, chừng ngày mai tôi sẽ trở về. Mình xem chừng nhà cửa. Nếu chúng có hỏi thì mình cứ bảo là tôi đi kiếm củi trong rừng.
Mọi người mang xắc lên vai, hôn tay đức cha, chào Iléna và bước đi.
Lúc người cuối cùng ra khỏi cửa, Iléna mới bắt đầu khóc. Bà khóc thảm thiết như là trong nhà có người chết.
Cha Thomas dù tin rằng điều tốt cũng như điều xấu đều do Chúa ban bố nhưng trước khung cảnh trốn tránh của đám nông dân cha cũng không khỏi ngậm ngùi, nỗi buồn nầy đối với cha còn nặng nề hơn cả lúc chứng kiến cảnh một người chết. Cha thầm nghĩ, ý nghĩ giống như một lời kinh hay một bài thơ:
«Lúc bác nông dân bỏ hoang ruộng vườn, lúa cỏ cũng buồn theo, bởi ai cắt cỏ ai gieo mạ?
«Lúc bác nông dân bỏ đi, trâu bò cũng buồn theo bởi nước đâu mà uống, rồi cũng đói cả.
«Lúc người nông dân bỏ đi, chim chóc cũng buồn theo, bởi luống cày không có, mồi đâu mà kiếm?
Giọt mưa cũng buồn theo
Cả vũ trụ cũng buồn theo
Lúc người nông dân bỏ hoang ruộng vườn…»
Và nỗi buồn như thế lan tràn khắp làng Piatra từ lúc bảy người đó trốn đi.
VIII
Trong lúc Kostaky và sáu người khác trốn vào rừng thì Severin và lính gác đang thử lại cách thức bắt bớ tội nhân. Severin bảo:
– Công việc lưu đày lũ phản động bắt đầu ở Piatra. Các đồng chí phải hãnh diện về điều đó. Ngày mai đồng chí Boris sẽ đến đây để chứng kiến diễn tiến của cuộc lùng bắt nầy.
Lính gác mang theo đầy đủ áo, mũ, súng ống, Severin đọc to một lần nữa huấn thị của thượng cấp:
«Việc bắt bớ các người có tên trong danh sách lưu đày sẽ xảy ra từ 2 giờ đến 4 giờ sáng, và phải thực hiện rất nhanh chóng. Nhân viên vào nhà không được gây tiếng động để khỏi làm hàng xóm chú ý. Tù nhân phải được mang đi thật kín đáo. Không được dùng đến súng. Phải lừa cho phạm nhân ra khỏi nhà mà không biết mình bị bắt.»
Xong, Severin cho lệnh khởi hành. Đèn ở phường vẫn để sáng, Họ đi trong đêm mưa, Severin đi trước, 12 người lính đi theo sau.
Đến trước nhà Pillat họ ngừng lại. Severin ra lệnh:
– Các đồng chí tiến lại gần nhà, mỗi người cách nhau một bước, phải bao vây căn nhà vì chúng ta phải bắt họ thình lình.
Lính gác tuân lệnh, mọi người đều đứng trước các cửa sổ canh phòng sợ Marie và Pillat trốn đi. Severin lắng tai nghe ở cửa chính. Chỉ có tiếng đàn bà khóc ở bên trong. Hắn bước vào, soi đèn bấm khắp nhà.
Iléna đang quỳ khóc trước bàn thờ. Cha Thomas Skobai đang ngồi chống tay lên đầu gối. Cha không nhìn thấy ánh sáng của chiếc đèn bấm trên tay Severin, vì ngọn lửa đốt cháy nhà thờ của cha độ nào còn mạnh hơn ánh sáng đèn đó gấp bội.
Quan sát khắp nhà, Severin hỏi:
– Mấy người khác đi đâu hết rồi?
– Đi hết.
Iléna trả lời cộc lốc. Severin bực tức:
– Không có âm mưu nào mà không có mấy ông cha cố. Lũ phát xít đâu rồi? Họ trốn hồi nào và về phía nào?
Đức cha không có tên trong danh sách lưu đày, nhưng cũng thuộc vào hạng đáng ngờ. Severin phải xiềng đôi tay ốm nhách của cha lại, rồi hỏi:
– Họ trốn đi lúc nào và ở đâu?
– Họ bỏ đi cách đây một giờ. Ở đâu tôi không biết. Chỉ có một người biết mà thôi.
– Ai?
– Trời, vâng, chỉ có trời biết mà thôi. Cha Skobai trả lời.
Severin không thể nào tra hỏi nhân chứng này. Hắn không thể bắt hoặc bỏ tù Trời.
Hẳn phải hành hạ cha:
– Tôi sẽ đánh cha cho tới lúc cha nói cho tôi biết họ trốn đi đâu, bởi vì cha biết rõ điều đó.
Vừa nói vừa đánh cha đến chảy máu. Lũ lính gác lục soát khắp nhà, xích tay Iléna, nhưng không tìm thấy ai.
Severin nhớ lại là Boris sẽ đến đây ngày mai để xem công việc diễn tiến ra sao, cho nên việc trốn đi này làm hắn giận sôi lên. Hắn lại tiếp tục đánh đập cha Thomas, cha vẫn không nói gì, chỉ nhận những cú đấm đá mà mắt vẫn hướng về Chúa và ngôi nhà thờ bốc cháy. Tức giận, Severin bảo hai lính gác dẫn hai tù nhân về trụ sở phường, xong tiếp tục lục soát. Nhưng vô ý hắn làm đổ cây đèn dầu hỏa trên bàn. Lửa bốc cháy rất nhanh, lũ lính gác muốn tìm nước dập tắt lửa, nhưng Severin đã ra lệnh:
– Dẫn ông cha và mụ này ra phường. Đừng có dập tắt lửa, cho cháy hết đi.
Trong lúc họ đưa đức cha và Iléna về phường, thì lửa đã liếm rất nhanh ngôi nhà gỗ của Pillat. Severin ra lệnh tiếp:
– Đi bắt bọn khác. Chốc nữa sẽ kiếm tụi nầy sau. Severin định ra khỏi sân nhà Pillat. Nhưng trước mặt hắn ngoài đường dân làng đã tề tựu đông đủ. Họ đã thấy đám cháy và định vào chữa lửa, nhưng Severin la to:
– Không ai được đến gần.
Mọi người dừng lại, hằn học nhìn Severin và lũ lính gác, lửa cháy sáng như ban ngày. Severin giải thích:
– Trong nhà nầy hiện có một âm mưu của bọn Phát xít, tôi yêu cầu đồng bào hãy giúp sức chúng tôi bắt hết bọn đó.
Nhưng hắn thừa biết là dân làng đang ghét hắn, một bà phản đối:
– Còn chán thì giờ để bắt họ, bây giờ phải dập tắt lửa đã.
– Phải để cho cháy rụi, vì đó là một ổ phát xít.
Người đàn bà la to :
– Cái nhà không có âm mưu gì cả, tại sao lại để cháy rụi?
Dân làng muốn tiến lên, nhưng Severin và lũ lính gác đã dùng súng ngăn lại, họ đành thối lùi. Một người chửi to vào mặt chúng:
– Đồ lũ cộng sản chó má, chúng mầy muốn bắn lên cả đầu cha mẹ chúng mầy nữa phải không?
Một tiếng đàn bà la to:
– Nếu các ông tự cho là làm việc cho nhân dân, tại sao lại đốt cháy nhà nầy mà không đem phát cho dân làng?
Severin trả lời:
– Căn nhà nầy và tất cả vật dụng trong nhà đều đã bị phát xít làm cho thối tha đi rồi, nên ai đến dập tắt lửa sẽ bị bắn ngay. Nhà nước sẽ cấp nhà cửa cho nhân dân nhưng tất cả những gì nhiễm độc đều phải đốt đi. Chúng ta thừa hiểu là nhân dân đang cần nhà cửa, bàn ghế nhưng ở đây tất cả đều bị nhiễm độc rồi, cần phải đốt đi mới được.
Lửa đã liếm đến mái nhà, dân làng rút lui ra xa. Severin biết lợi dụng lửa để làm đồng minh, nhờ đó mà dân làng không dám lại gần. Đợi căn nhà thành tro, Severin tuyên truyền:
– Đồng bào thân mến, lửa đốt cháy căn nhà nhưng đồng thời cũng đốt cháy luôn loại vi trùng của cuộc âm mưu, kỷ niệm tủi hổ của tụi sát nhân cũng cháy theo, loại vi trùng chính trị tội lỗi cũng cần phải đốt đi. Nơi đó lũ phát xít đã sinh sống, nghĩa là đã có những vết máu của nhân dân, yêu cầu đồng bào không nên lại gần.
Nhưng không ai nghe Severin, mọi người đang mãi nhìn đám cháy và những họng súng đang chĩa vào họ. Severin tức giận ra lệnh:
– Không ai được về nhà, mọi người phải theo tôi đi bắt lũ giặc này mới được.
Và họ bắt đầu lục lạo khắp vườn, thấy một bóng cây đáng nghi là họ nổ súng, sau cùng họ tiến về phía đồi, dân làng theo sau không phải đi bắt bọn Pillat mà chỉ vì tò mò. Vừa đi, họ vừa đổ các thùng nước cứu hỏa ban nãy xuống đường, và tiếp tục theo gót Severin và lũ lính gác.
IX
Bảy người đã trốn lên đến đỉnh đồi. Họ dừng chân lại để ngắm cảnh làng thân yêu, không ngờ đúng lúc đó một ngôi nhà bốc cháy. Ai cũng tưởng là ngôi nhà mình đang cháy, và cố để đoán xem thực sự nhà ai đang cháy, nhưng Kostaky quả quyết:
– Đúng là nhà tôi.
Và ông toát mồ hồi lo sợ. Trao bị rết cho Marie, ông cắm đầu cắm cổ chạy về nhà. Mấy người kia muốn cản lại nhưng vô ích. Kostaky vẫn chạy về hướng đám cháy. Marie chạy theo bị vấp ngã. Pillat phải dừng lại để đỡ nàng dậy, và Kostaky đã mất hút vào bóng đêm, băng qua vườn tược, trông thấy rõ căn nhà Pillat đang cháy. Lúc đến gần, ông ta thấy rõ lửa đã đến mái nhà và mọi người đang đứng nhìn, không ai nghĩ đến chuyện chữa cháy.
Kostaky hét to:
– Vô lý, không thể như thế được. Cả làng nhìn nhà ta cháy mà không ai lại gần dập tắt cả.
Kostaky dụi mắt, cố để không tin những điều nhìn thấy:
– Ngay cả nhà kẻ thù bốc cháy người ta còn đến cứu thay huống hồ mình không là kẻ thù của ai hết.
Kostaky nhảy qua hàng rào để chạy đến nhà cho nhanh, nhưng lúc đó ông nghe đạn nổ khắp nơi. Ông ta nghe rõ tiếng la của những thanh niên quanh đó:
– Tên sát nhân trước mặt chúng ta đó, bắt nó ngay đi. Và mọi người nhắm hướng Kostaky chạy đến.
Kostaky lạ lùng tự hỏi:
– Tên sát nhân là mình ư? Dân làng Piatra bảo mình là sát nhân? Một viên đạn reo lên trong lùm cây. Kostaky đau nhói ở ngực, rồi ngã chúi xuống đám cỏ ẩm ướt. Hai tai trước đó còn nghe rõ «đúng nó, tên sát nhân đó», bây giờ không còn nghe gì nữa cả, chỉ còn tiếng vù vù như tiếng chong chóng phát ra từ đầu rồi loãng dần khắp châu thân.
Kostaky thầm hỏi:
– Mình là sát nhân ư? cả làng lùng bắt mình hay sao? và họ muốn bắn mình ư?
Thân thể dẫy dụa trong đống bùn, Ion Kostaky vẫn muốn biết có phải là chính ông mà dân làng xem như sát nhân và muốn lùng bắt hay không? Kostaky vẫn muốn biết tại sao dân làng Piatra lại đứng khoanh tay nhìn nhà ông cháy, tại sao cả làng cùng tìm bắt ông ta. Đó là ý nghĩ độc nhất lúc thân thể đã buông xuôi, sức lực theo với máu chảy ra bên ngoài, lúc thân thể ông đang nằm dài trong đống bùn, mà phải áp xuống đất ẩm ướt. Mặt đất mát dượi như tấm băng êm trên má, trên vai, trên ngực. Thân thể ông cố chống cự như để lún sâu vào lòng đất, đúng là đất làng Piatra có mùi thơm mát. Mảnh đất in dấu mặt và má Kostaky như không bao giờ muốn quên ông, giữ mãi nét mặt bờ vai của ông. Dấu vết đó còn lẫn chút máu, mảnh đất đó không bao giờ quên ông ta cả. Thế là Kostaky bất tỉnh, trong lúc giòng tư tưởng còn nghĩ về căn nhà đang cháy và không ai màng đến chuyện cứu chữa, nghĩ về cảnh dân làng chạy về phía ông ta, mồm la to: «tên sát nhân đó». Và chỉ có thế thôi.
X
Lúc tỉnh dậy, Kostaky nhớ lại lời cầu nguyện của cha Thomas Skobai, nhớ lại cuộc trốn đi của bảy người bạn, lúc dừng chân trên đồi, tưởng đến căn nhà bị cháy rụi lúc ông vội vã trở về. Tất cả đều là sự thật. Ông lại nhớ đến lúc lính gác nhắm bắn vào người ông, đến dân làng Piatra vừa đuổi theo ông vừa la to : «tên sát nhân kia», và ông thầm nghĩ:
Không thể như thế được, chắc mình nằm mộng đó thôi.
Ông kéo lê thân thể trên bãi cỏ, trong bóng tối, Kostaky trông rõ rằng nhà ông còn đó, nhưng nhà Marie chỉ còn một đống tro tàn. Kostaky buồn rầu lý luận: «Vết thương mình có thật, đám cháy có thật. Tất cả đều là sự thật, vậy thì chuyện dân làng cho mình là kẻ sát nhân cũng là chuyện có thật».
Suy nghĩ một lát, Kostaky buồn rầu quay mặt bò về phía khu rừng. Bởi lẽ dân làng Piatra đã đốt nhà Marie, đã cho ông ta là kẻ sát nhân và cố tính muốn giết, thì còn lý do gì cho ông ở lại nữa. Tất cả vết thương đều bỏ hở và đang chảy máu, nhưng có lẽ vết thương lòng của ông ta là đang chảy máu nhiều hơn hết.
Một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu óc:
– Marie, Pierre, Vornik bây giờ đang ở đâu? Và họ hàng bà con mình nữa? Iléna rồi sẽ ra sao?…
Trời hừng sáng, Kostaky vẫn cố lết về phía khu rừng, bởi ông không còn muốn trở lại làng nơi mà mọi người đã đốt nhà ông và cố tình tìm giết ông.
°
Ở Piatra, lúc về sáng dân làng đã thấy xe hơi của Boris Bodnariuk. Với bộ y phục muôn đời của hắn, hắn lạnh lùng bước vào trụ sở phường, không cần nhìn dân làng, không cần chào trả mọi người.
Hắn bình tĩnh lắng nghe bản báo cáo của Severin và không tỏ vẻ gì bất bình về vụ phạm nhân bỏ trốn. Hắn nói:
– Tụi đó sẽ trở về và chúng ta sẽ bắt họ lại. Dân quê lúc nào cũng trở về làng mạc của họ, họ là thứ súc vật ngu nhất vũ trụ, luôn luôn làm nô lê cho mảnh đất của họ, và không bao giờ muốn rời bỏ nó cả.
– Đồng chỉ có cần điều tra cha Thomas? Severin hỏi.
– Không.
– Thế Iléna Kostaky?
– Giải về Molda. Chúng sẽ bị kết án là giúp đỡ cho kẻ thù, và sẽ chết trong tù.
Thế là lính gác giải cha Thomas và Iléna về phố. Đức cha đi thẳng người, vì cha không còn thấy gì nữa. Cạnh đó, Iléna luôn miệng khóc, bởi vì nếu cha Thomas lúc nào cũng mang hình ảnh ngôi nhà thờ thì Iléna lúc nào cũng trông bóng chồng bà, con gái và Pillat. Cũng như bao nhiêu người đàn bà khác trên thế giới, Iléna Kostaky chỉ biết có nhà cửa và chồng con, vị linh mục đi bên cạnh chỉ biết có nước Chúa thì bà ta cũng chỉ biết có nhà cửa của mình. Vị linh mục mù lòa đó có thể mang vào tù ngôi nhà của Đấng tối cao và không ai có thể giành giựt được. Nhưng với Iléna lại khác, cứ mỗi bước đi, bà ta lại xa nhà thêm một chút. Cho nên, bị áp giải đi xa thật chẳng khác nào có những lát dao đâm vào thân thể bà.
Qua các khung cửa, dân làng sợ hãi nhìn cảnh tượng đó. Chỉ qua một đêm, 3 người dân làng đã biến mất, mấy người khác trốn vào rừng, chẳng ai hay.
Thế là hết, Ion Kostaky. Thế là hết, Iléna và đức cha Thomas, và Marie, Pierre Pillat bây giờ ở đâu? Boris bảo Severin:
– Đồng chí bỏ chiếc xe gắn máy lại cho người đến sau, vì đồng chí không còn cần nó nữa. Người ta sẽ nhờ đồng chí vài việc ít rắc rối hơn, vì đồng chí không làm nổi việc bắt người đi đày.
Và người ta thấy Severin cũng ra đi.
Đêm đó, con nít trong làng cũng khóc trong giấc ngủ. Và một con mèo không hiểu từ đâu chạy đến đống tro tàn của căn nhà Marie và Pillat, dừng lại trong chốc lát. Nhưng tro còn nóng quá, con mèo lại biến nhanh vào bóng đêm.
Phần thứ 3
I
Pillat và Marie tìm Kostaky suốt đêm không thấy, đến đêm sau cả hai người phải bò rừng lần mò về làng Piatra. Marie đến một căn nhà đầu làng dò hỏi một người em họ, trong lúc Pillat chờ ở trong một vườn cây. Lúc trở ra, Marie khóc nức nở báo hung tin:
– Họ bắt mẹ em đi rồi. Nhà thì bị đốt. Và cha em ra sao thì không ai được biết cả.
Nỗi lo sợ tràn ngập khắp làng, và ai cũng muốn trốn đi. Marie và Pillat đành quay lui vào rừng, tạm ở vào khu vực gần làng để tìm cách trở về một lần nữa. Nhưng đâu đâu cũng có lính Nga gác. Kostaky vẫn bặt tin. Mỗi ngày số người trốn đi càng tăng thêm. Lính Nga bắt đầu lục soát khu rừng buộc lòng Marie và Pillat phải trốn sâu hơn vào rừng. Và trong vài tuần, họ bắt đầu gặp một số người Hung gia lợi, Ba lan và Đức, cùng nhiều người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng tất cả trốn đi vì một lý do duy nhất là họ sợ người Nga. Đêm đêm, họ về làng kiếm thức ăn, xong lại phải trốn sâu vào rừng. Một đêm nọ, họ gặp một số người Mỹ lái xe Jeeps rồi họ được người Mỹ dẫn về một ngôi trường.
Marie muốn kể lại cho họ nghe mẹ nàng bị bắt ra sao, cha nàng trốn mất như thế nào, vì sao nhà nàng bị cháy, hàng rào bị phá mất… Những người Mỹ đã quá hiểu những điều đó. Mỗi ngày, hàng trăm người từ các khu rừng trở về đều kể lại tại sao cha mẹ họ bị giết, nhà bị cháy, hàng xóm bị bắn. Ai cũng kể từng ấy chuyện cho đến nỗi chúng trở thành chuyện tầm thường của mỗi ngày…
Marie nằm dài trên ghế trong khi Pillat bắt chuyện với một người Nam Tư. Ông này cho biết:
– Chúng ta sẽ ở đây một đêm thôi. Ngày mai người Mỹ sẽ phân loại chúng ta.
Anh chàng Năm Tư ăn mặc cũng giống các người khác, bộ đồng phục quân đội hầu như biến thành đồ dân sự vì dính đầy bùn, nhưng ông ta có dáng dấp của kẻ trí thức. Đôi mắt mệt mỏi vì đọc nhiều sách, vì lo âu giống như những chiếc ống điếu đã bị cháy mòn. Ông cho biết tên ông là Ante Petrovici, vừa là tiến sĩ luật khoa vừa là thạc sĩ toán. Pillat cũng kể cho ông ta nghe về lộ trình trốn tránh của hai vợ chồng từ Hung gia lợi qua Tiệp khắc đến Áo quốc. Pillat bảo :
– Chúng tôi không ngờ là đang ở trong vùng kiểm soát của người Mỹ. Chúng tôi đi kiếm thức ăn, tình cờ gặp xe Jeeps của người Mỹ mới biết, và đây là đêm đầu tiên chúng tôi ngủ mà không sợ người Nga bắt giữ. Thật sung sướng.
Bác sĩ Ante Petrovici bước đến cửa sổ nhìn những dãy nhà gạch năm từng có kẽm gai bao quanh, có đèn pha chiếu sáng như những lâu đài thời cổ vào các dịp quốc lễ.
Ante Petrovici cho biết:
– Đó là trại tập trung của phạm nhân chiến tranh.
Marie nghe câu đó buồn rầu nghĩ đến cha nàng ở Piatra; người Nga cũng gọi cha nàng là phạm nhân chiến tranh. Pillat cũng là một thứ phạm nhân chiến tranh. Tất cả những người nàng thương yêu đều là phạm nhân chiến tranh cả sao? Cho nên đối với Marie danh từ đó đồng nghĩa với lương thiện, với nạn nhân, với những danh từ «cha mẹ chồng con»… Bởi vì nàng cũng bị Severin coi như là phạm nhân chiến tranh.
Pillat nhìn dáng đi nghiêng nghiêng của Petrovici có ý ngạc nhiên. Ông ta trả lời ngay :
– Tôi có phải đánh giặc mà bị què chân đâu. Tôi bị tật từ hồi mới sinh. Mọi người đều có một khoảng trống ở lòng bàn chân, nơi tôi không có như thế, mỗi lần đi tôi chạm bàn chân sát mặt đất nên hình như một chân ngắn hơn chân kia, vì thế tôi phải đi cà nhắc. Tôi vẫn thường tự hỏi là tôi có phải là một kẻ tàn phế hay không.
Qua cửa kính, mọi người trông rõ nào xe tăng nào xe Jeeps có đầy đủ lính tráng mang súng ống sẵn sàng, bên trong Petrovici vẫn nói với Pillat:
– Vài mi li mét đó thì hẳn là lúc nào cũng thiếu rồi, nhưng tôi không phải khi nào cũng đi cà nhắc đâu. Khi nào tôi có gì phiền nào tôi mới đi cà nhắc, lúc nào tâm hồn thanh thản tôi lại đi như người thường. Như vậy thì tình trạng tâm linh tạo ra nhiều hậu quả hơn là thiếu thốn một vài mi li mét ở lòng bàn chân.
Bên ngoài lại có tiếng súng bắn, tiếng máy phóng thanh truyền lệnh. Ante Petrovici tiến về phía cửa sổ, lúc đó ông đi cà nhắc có vẻ nặng hơn lên và nói :
– Lều chính giữa tập trung tù binh Sô Viết. Người Mỹ muốn trả họ về Nga sô nhưng họ từ chối và đòi tự tử. Người Mỹ đành phải dùng vũ lực để gởi họ trở lại Nga sô.
Marie đứng dậy nhìn căn lều tù nhân Nga, nghe Petrovici kể chuyện về lối 200 người Nga vừa mới bị tập trung cách đây chừng vài giờ.
Một toán lính Mỹ đến gần cửa sổ có vẻ dọa nạt. Cả ba người biết là họ không được phép dòm ngó như thế nên đành nằm dài xuống ghế. Nằm để nghe tiếng xe tăng gầm thét bên ngoài và nghĩ đến những tù nhân thà tự tử chết còn hơn là bị đưa về Nga sô. Ante Petrovici lại nói :
– Chết bằng cách lưu đày thì dễ, nếu họ có tự tử hay bị lính Mỹ giết đi thì họ cũng không khổ sở bằng cái chết đầu tiên của họ. Anh còn nhớ câu thơ của Ovide không?
Cum patriam amisi tum me periisse putato
et prior, et gravior mors fuit, illa mihi.
nghĩa là cái chết đầu tiên và cũng là cái chết đau đớn nhất là lúc phải rời bỏ tổ quốc.
Căn lều chính giữa đã bắt đầu bốc cháy, khói lên nghi ngút. Marie che mắt. Ngay cả đêm nay, đêm đầu tiên thoát khỏi tay người Nga, nàng cũng không hề ngủ được. Có một số người bị đốt cháy ở ngoài kia.
II
– Chúng tôi thà chết còn hơn là trở về Sô Viết. Bởi vì Sô Viết sẽ treo cổ chúng tôi lên cây ở bên vệ đường. Tôi, tướng Grisha Costak và tất cả anh em ở đây chúng tôi đã chiến đấu trong bốn năm cho Vinh quang và cho tổ quốc Sô Viết. Nếu chúng tôi có điều gì lầm lỗi, người Mỹ các anh hãy treo cố chúng tôi đi.
Lính Nga đã chiến đấu bên cạnh các anh trong suốt thời kỳ chiến tranh. Trong bốn năm, báo chí các anh đã nói đến sự can trường của tướng Grisha Costak, tại sao bây giờ các anh muốn tôi bị treo cổ vào ngày chiến thắng.
– Nếu ông là anh hùng tại sao lại sợ phải trở về Sô Viết?
Viên chỉ huy trưởng trại giam vừa hỏi vừa nhìn đồng hồ tay. Ông ta được giao phó phận sự chở những công dân Sô Viết về nước, và họ nhất quyết không chịu, y theo lời tướng Costak. Ông ta nói khích Costak:
– Một người Mỹ bị bắt không bao giờ sợ phải trở về nước. Nếu hắn sợ thì có nghĩa là hắn đã phản bội hay là trong thâm tâm đã có điều gì mờ ám rồi.
– Người Mỹ các anh không hiểu cái khỉ khô gì về Nga sô cả. Tôi đã nói với các anh bao nhiêu lần rằng Mỹ quốc không phải là Nga sô và Nga sô không thể nào giống Mỹ quốc. Luật lệ các anh không có điều gì giống luật lệ Sô Viết cả. Một viên đại úy như anh thì đầu óc để đâu cả mà không hiểu nổi một điều giản dị như thế. Tôi phải kể lại từ đầu cho anh nghe một lần nữa : Tôi, tướng Grisha Costak và toàn thể anh em nơi đây, chúng tôi đã chiến đấu anh dũng cho đến lúc bị tụi Đức bắt cầm tù. Chúng tôi bị thương gần như đã chết trong một loạt trọng pháo địch, vì vậy tụi chúng mới bắt sống chúng tôi.
Costak chỉ vết sẹo trên đầu, trên cổ, trên ngực ông ta, xong nói tiếp:
– Lúc lính Đức tiến đến, chúng tôi đều bất tỉnh hết cả. Mà anh biết là lính Nga không được bị bắt làm tù binh. Chỉ có thắng hoặc chết chứ không được làm tù binh. Nhưng lúc đó chúng tôi bất tỉnh nên không thể tự vận được. Chương 193 của bộ hình luật Sô Viết và điều 270 của năm 1942 quy định rành rành là quân nhân nào bị bắt sống trong tay địch là một kẻ phản bội. Mà ai phản bội đều bị treo cổ. Đó là điều được ghi vào chương 14 của bộ luật nói về các tội phạm quân sự, ghi trong bách khoa từ điển Sô Viết số 289. Theo luật lệ và phong tục Sô Viết chúng tôi phải bị treo cổ. Nhưng chúng tôi đã chiến đấu trong bốn năm để quét sạch lũ phát xít Đức không phải là để bị treo cổ vào ngày chiến thắng quân Đức. Không phải chúng tôi giải phóng tổ quốc xong để bị treo cổ.
Viện đại úy Hoa Kỳ đã bắt đầu nản chí. Ông ta lại nhìn đồng hồ, châm một điếu thuốc Lucky Strike :
– Không phải tôi đến đây vì điều đó. Tôi có bốn phận trả các anh về cho Sô Viết. Và chỉ có thế thôi.
– Anh không thể làm như thế. Anh có thể trả xác chết chúng tôi về cho Sô Viết thì được, nhưng phải giết chúng tôi trước đã. Tôi không nghĩ là người Mỹ muốn giết lính Nga đã chiến đấu bên cạnh trong suốt thời chiến?
– Tôi không làm chính trị. Tôi phải dẫn các ông đến biên giới để giao cho Sô Viết như tôi đã nhận được lệnh như thế. Phần còn lại không liên quan gì đến tôi cả. Nếu các ông chống cự, buộc lòng chúng tôi phải dùng đến vũ lực.
Một người lính Mỹ, mang nón M.P., găng tay trắng, giây lưng trắng, đùi cui trắng, đẩy nhẹ Costak và ra lệnh:
– Đi thôi.
– Hoa Kỳ không thể giết bạn đồng minh, hay là trời sẽ hại họ…
– Đi thôi.
Và Costak bị đẩy ra ngoài về phía căn lều của tù binh Nga sô.
III
Tướng Grisha Costak bị lính dẫn trở về lều. Lần điều đình sau cùng với vị chỉ huy người Mỹ thế là thất bại. Ông ta phanh ngực cởi áo. Ngực to như vị hộ pháp, hít đầy hơi vào như để thách thức với lưỡi lê. Bây giờ không còn là chuyện lưỡi lê nữa, mà là hàng trăm con mắt đang nhìn Costak hiên ngang giữa những quân cảnh Mỹ.
Costak cười nói:
– Hoa kỳ đã quyết định trả chúng ta về tay Sô Viết, tôi có ý bảo với họ rằng nếu tôi còn sống họ không thể làm điều đó được. Tôi sẽ kháng cự, và ai có muốn ở lại với tôi thì cứ việc. Chúng ta sẽ đóng chặt cửa lại. Và chúng ta sẽ kháng cự ở đây cũng như lúc chúng ta tranh đấu trong rừng của tổ quốc Nga sô chúng ta. Lần kháng cự này sẽ không mang lại ngày chiến thắng cho chúng ta mà là cái chết, nhưng trong chúng ta nào có ai sợ chết?
Sân trại giam đã đầy lính Mỹ mặc quần dài bò sát người, áo mão súng ống đầy đủ. Costak chỉ vào họ:
– Nếu ra trận, không bao giờ lũ con nít đó thắng ta nổi. Costak thở dài, ông ta hỏi thử có ai muốn đi không, nhưng không ai thèm trở về Sô Viết. Và đồng thanh quyết định chống cự đến cùng. Costak lấy làm hãnh diện và ra lệnh đóng chặt cửa.
Xe tăng đã tiến vào sân. Máy phóng thanh gọi:
– Xin các tù binh hãy ra sân điểm danh và bắt đầu đi.
Costak giận dữ :
– Tụi Mỹ vẫn còn chưa hiểu là chúng ta không chịu để họ mang đi. Tôi mới nói với họ cách đây vài phút là chúng ta không muốn rơi vào tay Sô Viết, nhưng tụi nó chẳng chịu hiểu gì ráo.
Máy phóng thanh tiếp tục truyền lệnh. Một đại đội quân cảnh đã bao vây căn lều. Chưa bao giờ lính Mỹ tiến vào trại tù mà có mang khí giới, nhưng bây giờ họ muốn mang đầy đủ khí giới trước khi vào.
Costak lên tận tầng lầu thứ năm, đứng ở cửa sổ. Viên sĩ quan phụ tá báo cáo tình hình ở trong sân như là ông ta vẫn có thói quen ở chiến trường:
– Lính Mỹ gồm chừng hai đại đội. Vũ khí nhẹ, tự động, lựu đạn cầm tay, có súng sáu đàng hoàng.
Hai trăm tù binh lắng nghe lính Mỹ phá cửa chính.
Viên sĩ quan phụ tá tiếp tục báo cáo:
– Lựu đạn cay ở từng dưới nhất. Không còn ai ở đó nữa.
Rồi ông ta thò đầu ra cửa, có cảm tưởng như đang ở chiến trường nhìn lính Mỹ thận trọng tiến lên, Costak ra lệnh:
– Tất cả lên hết từng chót. Nằm xuống nền nhà và đừng đến cửa sổ.
Súng ống xe tăng của Mỹ hướng về căn lều, chờ lệnh phát hoả. Máy phát thanh vẫn yêu cầu tù binh bước xuống, nếu không lính Mỹ sẽ nổ súng.
Costak hỏi lại một lần nữa ai muốn ra hàng, lệnh truyền miệng, nhưng chẳng ai nhúc nhích.
Lính Mỹ tiến lên từng thứ nhất. Costak được thông báo chi tiết đầy đủ. Ông ta muốn châm một điếu thuốc, nhưng không ai còn lấy một điếu. Lính Mỹ đã bắt đầu dùng chất nổ phá từng dưới. Costak áp má xuống sàn nhà. Trên chiến trường Nga mỗi khi mất liên lạc với bộ chỉ huy Hồng quân, và mỗi khi phải tự mình quyết định một điều gì quan trọng, Costak thường áp tai xuống đất và nghe lòng đất ra lệnh.
– Tôi rất sung sướng là không ai trong chúng ta muốn trở về, thà chết còn hơn. Nhưng tai hại là chúng ta không bị quân Đức giết mà lại bị bạn đồng minh giết chết sau ngày chiến thắng…
Costak lại áp tai xuống sàn nhà, lính dưới quyền đã quen thuộc với thái độ của ông tướng vào những lúc chiến trường gặp hiểm nghèo, vì Costak vẫn thường nói:
– Chúng ta tranh đấu dưới sự chỉ huy tối cao của đất mẹ, chúng ta phải biết nghe mệnh lệnh truyền đi từ lòng đất quê hương và phải thi hành đúng đắn mệnh lệnh đó.
Vầng trán Costak nhăn lại buồn rầu:
– Tai tôi không còn nghe gì nữa. Tiếng nói từ lòng đất Nga, từ vị chỉ huy tối cao của tổ quốc không thể truyền mệnh lệnh được nữa.
Thay vào đó, người ta nghe tiếng súng nổ ở các từng dưới, tiếng nói ở máy phóng thanh và tiếng gầm thét của các chiếc xe tăng ở sân trại giam. Costak bảo:
– Đất Nga xa quá, chúng ta không nhận được mệnh lệnh nữa rồi.
Chỉ còn lại một mảnh đất xa lạ không bao giờ nhắc nhở đến những nông dân Nga sô cùng cuộc đấu tranh bảo vệ ruộng vườn của họ. Chỉ còn lại một mảnh đất không nói cùng một thứ tiếng với họ mà thôi.
Và khi một người lính báo cáo là quân Mỹ đã lên từng thứ tư thì Costak bắt đầu đứng dậy, hỗn loạn cũng bắt đầu. Cửa hành lang từng thứ năm bị phá vỡ, vài người đã bị bắt. Viên sĩ quan phụ tá Costak báo cáo:
– Chừng hai mươi bạn đã bị trùm mền dẫn xuống sân.
Costak ra lệnh:
– Tất cả đứng dậy.
Họ chứng kiến bạn đồng hành bị trùm mền đi giữa hàng lưỡi lê và chất lên cam nhông, mặc dù bọn họ đã vùng vẫy để cố thoát ra.
Costak bảo:
– Việc đó không thể xảy ra cho chúng ta được.
Nói thế xong, ông ta đứng thẳng trên bờ thành cửa sổ, nhìn lính Mỹ ở bên dưới và la to:
– Bắn đi.
Ông ta xé áo phanh ngực, chỉ chỗ cho lính Mỹ bắn vào. Thân hình to lớn chật cả khung cửa sổ đang làm bia cho khẩu súng ở bên dưới.
– Nào, bắn đi, bắn vào tướng Costak đây. Tôi đã cùng quân nhân Nga sô giải phóng cho đất Nga khỏi tay quân thù, để cho nông dân kiếm ăn trên mảnh đất quê hương. Chứ chúng tôi không đánh giặc để thấy nông dân bị treo cổ vào ngày chiến thắng. Hỡi các bạn đồng minh Hoa Kỳ, hãy bắn chết tôi đi.
Costak đấm vào ngực thình thịch. Quả đấm, có thể làm thủng một bức tường, không đủ sức để đâm thủng bộ ngực hộ pháp đó. Nhìn khí giới đang nhắm về phía mình, Costak hỏi:
– Các anh muốn bắt sống tôi chăng? Tại sao không bắn đi? Không thể nào các anh bắt sống tôi được đâu.
Costak nhìn xuống đất đầy cả dấu chân tù binh. Ông ta muốn nhảy qua cửa sổ xuống đất, nhưng chết như thế dễ quá, bao nhiêu cặp mắt thuộc hạ đang lo lắng nhìn ông.
– Xé bỏ hết áo quần đi.
Vừa ra lệnh Costak vừa xé bỏ áo quần, dùng răng cắn ra từng mảnh. Lính tráng cũng làm theo, giận dữ như muốn cắn nát kẻ thù.
Trong khoảnh khắc, lính của tướng Costak đều trần truồng, để lộ những thân hình lông lá, như những chiếc xe tăng có đầy đủ khí giới, họ nắm tay, nghiến răng kèn kẹt. Costak giải thích:
– Để cho họ giao trả chúng ta về Sô Viết hoàn toàn trần trụi. Để cho sự ô nhục của người Hoa Kỳ được trọn vẹn.
Đã đến gần sát, lính Mỹ chỉ việc ném lựu đạn cay mà không bắn vào người nào. Họ muốn bắt sống tốt hơn. Nhưng nhóm người trần truồng đó vẫn cố tạo những chướng ngại vật. Và theo lệnh của Costak, họ leo hết lên mái nhà. Đèn pha chiếu sáng lên đó, trông họ như những tượng đồng ngày đại lễ.
– Đốt. Costak ra lệnh.
Mảnh áo, mảnh vải thi nhau cháy. Ngọn lửa lan nhanh từ mái nhà. Lính Mỹ nghẹt thở vì khói phải rút lui. Nhưng sau khi mang mặt nạ vào họ lại leo lên.
– Ai không bị cháy phải cắt mạch máu để đừng bị bắt sống, trong tay bạn đồng minh. Hỡi các bạn anh hùng, tướng Costak, vị chỉ huy của những khu rừng Nga sô đang cắt mạch máu để vĩnh biệt các bạn.
Costak cầm chặt lưỡi dao cạo có để chữ «Made in USA» và cắt mạnh vào mạch máu ở tay trái. Máu chảy như suối, chảy giữa lửa và khói. Nhiều người khác làm theo, máu hòa lẫn trong đám cháy, thân thể bắt đầu bị thiêu sống, tường sập, thịt bị nướng chín, máu, lửa, thịt chan hòa.
Niềm luyến tiếc lớn lao của tướng Costak là phải chết trước khi nhìn thấy bạn đồng đội cùng mảnh đất Ukraine. Dù đã ở cạnh nhau nhưng trong cơn hấp hối họ không thể nhìn ra nhau giữa đám khói mịt mù. Ánh mắt họ giao nhau qua máu lửa, qua bóng đêm, như những lưỡi gươm chéo nhau vì một lời thề.
Thân thể bị thiêu sống, trần truồng, họ không còn nhận ra nhau. Chỉ có Chúa mới thấy họ nổi.
Viên sĩ quan chỉ huy trại giam đứng nhìn căn lều bốc cháy vừa suýt soa :
– Những người lính du kích đó thật kỳ dị. Họ không thể nào hiểu là có một hiệp ước về điều nầy. Và tôi chỉ thi hành phận sự. Tôi đã giải thích cho họ nghe là chính phủ Hoa Kỳ đã ký hiệp ước với Sô Viết sau ngày chiến thắng. Vậy thì phản kháng lại chỉ là điều ngu xuẩn khi đã có sự ký kết giữa hai chính phủ.
IV
Marie thức dậy muộn ngày hôm sau, vì đêm trước nàng chỉ ngủ đôi chút sau khi đám cháy đã được dập tắt và xe tăng có gắn máy phóng thanh bỏ đi nơi khác.
Lính Mỹ làm việc suốt đêm, nên hôm sau mọi việc đều yên ổn, dù mùi thịt cháy vẫn còn phảng phất trong không khí và dính vào tóc, vào áo những kẻ tị nạn. Ante Petrovici hỏi:
– Có phải đây là đêm đầu tiên bà ngủ ở phương Tây không?
Nếu vậy bà đã thấy một cảnh thật ngoạn mục.
– Thế người ta có cứu các tù nhân đó không?
– Có thể có một vài người được cứu sống. Lúc nửa khuya, lính Mỹ đem các máy cứu hỏa khổng lồ. Mỹ thì lúc nào cũng có máy móc vĩ đại. Tù nhân nào chưa bị chết cháy sẽ bị làm… tù nhân lần thứ hai. Họ sẽ được gởi đến bịnh viện để săn sóc các vết bỏng. Sau khi đã lành lặn họ lại bị trả về Sô Viết để bị treo cổ. Người Hoa Kỳ văn minh lắm, họ không để cho Sô Viết treo cổ những người bị thương. Trước đó, họ phải trị các vết thương bằng Pénicilline, cái gì người Mỹ cũng trị bằng Pénicilline hết thảy. Sau đó họ trả tù nhân cho Sô Viết để người Nga treo cổ. Đó là cảnh tượng xảy ra hằng ngày. Hàng ngàn công nhân Nga bị giao cho Sô Viết như thế để bị treo cổ. Một vài người trốn thoát, chạy qua Tây phương. Người Mỹ bắt họ lại lần thứ hai, lần thứ ba, cho đến lúc nào họ không còn trở lại được nữa.
Marie nghĩ đến những người bị thiêu sống, nàng bật khóc. Ante Petrovici kể thêm:
– Thiêu người sống không phải là chuyện mới mẻ gì cả. Trước khi bị suy tàn, xã hội nào cũng bắt đầu bằng cách đốt người, vào thời kỳ Trung cổ, Đại học đường ở Coimbre cũng thỉnh thoảng thiêu sống một người để tránh nạn động đất. Sau khi chấp nhận thủ tục đó, xã hội Trung cổ sụp đổ. Đức quốc xã cũng thiêu sống Do Thái trong các lò sát sinh để tạo lập một trật tự mới trên thế giới. Vợ tôi cũng bị thiêu sống trong các lò đó. Tức khắc chế độ quốc xã sụp đổ. Lúc mà một xã hội đốt cháy người sống để duy trì trật tự, thì sự suy tàn bắt đầu, bởi đó là dấu hiệu sau cùng, tiếng hát báo hiệu. Đêm nay, những kẻ dân chủ quá khích đã đốt tù binh ở căn lều trước mặt để duy trì liên hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Sô Viết.
Một công chức bước vào phòng đưa cà phê và bánh mì cho những kẻ tị nạn, sau đó bắt đầu ghi tên từng người. Họ được chia làm hai loại, loại được Hoa Kỳ che chở và loại không, tùy theo quốc tịch của họ. Loại thứ nhất được cho lên xe cam nhông. Marie, Pillat thuộc loại thứ hai phải đi bộ.
Marie sưng chân vì đi nhiều quá. Ante Petrovici bước lên xe còn quay lại nói:
– Tôi sẽ ở Stuttgart, trong trại những kẻ tị nạn. Nhớ đến thăm tôi nghe.
Ông ta muốn nhường chỗ cho Marie, nhưng không được, vì nàng thuộc về loại người phải đi bộ.
Họ từ giã nhau lúc xe chạy xa, bàn tay của họ như là đang hướng về căn lều mà tù nhân bị đốt cháy ngày hôm qua để bảo đảm cho sự liên hệ bền chặt giữa Sô Viết và Hoa Kỳ.
Pillat lên tiếng:
– Đây là ngày tự do thứ nhất của chúng ta. Đối với hàng triệu người sống dưới chế độ Sô Viết, Tây phương tưởng trưng cho cơ hội thóat ly thứ hai, vì đó là mảnh đất tị nạn. Hảy cảm ơn trời đất đã cho chúng ta vận hội nầy, vạn hội ở đất Tây phương này.
Thanh niên mang áo choàng da, khăn quàng đỏ ngồi cạnh tài xế vừa nói thế vừa đăm đăm nhìn bãi cát vô tận đang trải dài trước mắt. Nhiều chiếc cam nhông theo sau chở toàn là nam và nữ sinh viên, bánh xe ấn sâu vào lòng cát nóng hổi. Tụi trẻ chăm chú nhìn bãi sa mạc mênh mông, trong lúc cát theo chiều gió vẫn tiếp tục tạt vào áo quần của họ và thành xe cam nhông.
– Đã thấy được lều đằng kia rồi.
Thanh niên mang áo choàng da quay đầu nhìn theo hướng tay của người con gái đang chỉ về phía 3 chiếc gồ cao màu xám tro; toán xe chạy chậm lại rồi hướng dần về phía những căn lều vừa mới được dựng lên. Lúc xe đã ngừng hẳn, lũ thanh niên lần lượt bước xuống, mở ngay cửa lều vì tất cả đều không có khóa. Lều được dựng toàn là bằng gỗ thông, bên trong hoàn toàn chưa có gì, chỉ nồng một mùi hăng hắc của thứ gỗ đã khô cằn, thứ gỗ đã bị sa mạc tàn nhẫn hút hết nhựa sống. Chung quanh những căn lều chỉ toàn là cát màu xám xịt, cát bị gió thổi tung lên như thử người ta đang nhìn xuyên qua một cái rây. Vì thế mà tài xế phải bọc bánh xe và nắp xe bằng những tấm vải dầy.
Hai mươi người cả trai lẫn gái vừa bước xuống xe đứng nhìn quanh trong lúc thanh niên áo choàng da ra lệnh:
– Khoan lấy dụng cụ xuống đã.
Viên chỉ huy đó là Boris Bodnariuk. Hắn vừa nói vừa leo lên thềm của gian lều chính giữa, lũ thanh niên vây quanh hắn, lưng xoay về phía gió thổi.
Boris Bodnariuk nhìn đoàn xe nối đuôi nhau cạnh mấy căn lều, hướng về lũ thanh niên và nói:
– Tôi biết các đồng chí đang vừa đói, vừa khát. Tuy nhiên trước khi khởi công, tôi muốn nhắn nhủ các đồng chí vài điều:
«Chúng ta đang sống trong một thời đại phi thường. Trước mắt chúng ta là 53 triệu mẫu tây sa mạc Kara Koun, xa hơn nữa là 20 triệu mẫu tây sa mạc Kizil Koun. Tổ quốc Sô Viết từ lâu đã nghiên cứu một kế hoạch khai khẩn đất vô dụng, những sa mạc mênh mông. Chương trình đã thảo xong. Chúng ta là toán thanh niên đầu tiên của đại học Sô Viết đang bước vào sa mạc. Chúng ta là những kẻ tiền phong trong cuộc «Đại tấn công» làm sống lại những mảnh đất đã cằn cỗi của sa mạc để thay đổi khí hậu, thay đổi chiều gió, thay đổi mạch nước. Đó là công trình xây dựng vĩ đại nhất của lịch sử. Nhớ ơn Sô Viết mà hai mươi người chúng ta đây vừa bước chân xuống xe đã có thể đặt viên đá đầu tiên trên bãi sa mạc nóng bỏng nầy. Công trình đó là một công trình mà bất cứ thanh niên nào trên trái đất nầy cũng mơ ước và ngưỡng vọng. Hãy tri ân tổ quốc Sô Viết đã ban cho chúng ta an huệ nầy.»
Một tràng pháo tay vang lên. Không ai còn nghĩ đến uống nước dù môi đã khô. Tất cả đều đồng thanh hát «Khúc ca rừng» của Dimitri Chostalovich.
Boris Bodnariuk ra dấu tay. Tất cả ngừng hát:
– Các đồng chí thân mến, còn điều nầy nữa. Bây giờ đã 5 giờ chiều rồi. Cũng vào giờ nầy đúng 15 năm về trước, lần đầu tiên tôi đặt chân lên Sô Viết. Hồi đó tôi mang tên Boris Bodnar. Kỷ niệm ngày tôi đặt chân lên đây thật đáng kể và đáng cho chúng ta một bài học:
Đưa tay chỉ về sa mạc, Boris nói tiếp:
– Các đồng chí biết là bãi sa mạc nầy cũng như nhiều bãi sa mạc trên thế giới không phải là công trình của thiên nhiên, mà do con người tạo ra. Cái xã hội sơ khai sinh sống trên mặt đất trước kỷ nguyên cộng sản đã phá hại cỏ cây, làm tắt những giòng suối. Họ làm thế vì ngu dốt, vì khao khát chiếm đoạt. Bị tước đoạt hết cỏ cây, đất trở nên cằn cỗi và biến thành sa mạc. Cát lan tràn như một vết thương. Như vậy, sa mạc là kết quả của sự tham ăn man rợ của những kẻ chủ trương các xã hội phản cộng sản từ sự xuất hiện đầu tiên của loài người trên trái đất cho đến cuộc cách mạng vĩ đại tháng 10.
«Cứ nhìn thật xa mà xem, các đồng chí sẽ không thấy gì trên mảnh đất đã bị con người giết chết nầy. Không một sinh vật, không một cây cỏ, không có đời sống chỉ có sự chết chóc. Toàn là cát và cát. Bầu trời cũng mang màu chết. Tia sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú cũng chết nốt, hay có chiếu sáng cũng không có sinh lực. Giờ lại mang đến hàng triệu tấn cát, gào thét như một con chó sói thèm thuồng. Các đồng chí thân mến, tiểu sử của bài sa mạc nầy là tiểu sử của tôi. Vâng của cuộc đời Boris Bodnariuk, hay là tiểu sử của tất cả những đứa trẻ nào vô phúc sinh trưởng trong một quốc gia tư bản.
«Hỡi các đồng chí, tôi không được may mắn như các đồng chí được sinh ra trong quốc gia Sô Viết, tôi sinh ra trong một xã hội trưởng giả. Từ lúc ấu thời, cha mẹ, hàng xóm, linh mục, tất cả thành phần của xã hội trưởng giả nơi tôi sinh ra đã bắt đầu giết mất đời sống của tôi, chẳng khác gì những xã hội phản cộng sản tham lam, tàn bạo đã lột trần và chà đạp đất đai nầy và biến nó thành sa mạc.
Lúc mười lăm tuổi, tôi đã là một đứa trẻ đã chết. Do đó, tôi đã vượt sông Dniestr và đặt chân lên đất Sô Viết. Lúc mới đến đây, tôi không còn một niềm tin nào nữa, không còn một ảo tưởng nào nữa, hết ham sống hết cả ước mơ. Trong tôi, tất cả đều đã chết. Tất cả cái gì tạo thành đời sống một con người đã chết, giống như tất cả cái gì tạo thành đời sống của mảnh đất đã chết trong bãi sa mạc đang bao quanh chúng ta. Xã hội trưởng giả đã cướp hết niềm tin, ảo tưởng, tình đoàn kết nơi tôi. Cho nên, cách đây 15 năm, cũng vào giờ nầy lúc tôi mới đặt chân đến đây, tôi chỉ biết có sự sợ hãi khủng bố và cô đơn. Dù là tất cả những gì xã hội trưởng giả đã mang lại cho tôi, tất cả những gì tôi mang theo hồi đó.
Đời sống tôi chỉ bắt đầu cách đây 15 năm. Sô Viết đã cho tôi lý tưởng, cho tôi đức tin, cho tôi sự may mắn sống cho một cái gì. Và trên hết, Sô Viết đã cho tôi tình đoàn kết, tình cộng đồng, tình huynh đệ. Trong xã hội trưởng giả, tôi chỉ biết có sự cô đơn não nề, sự cô đơn còn lớn gấp bội sự phiền muộn của 60 triệu mẫu tây sa mạc nầy.
Boris Bodnariuk cúi xuống bốc một nắm cát, bóp mạnh cát trong tay, hắn nghĩ đến người mẹ suốt ngày đánh đập hắn đến đổ máu, nghĩ đến bạn bè mỗi lần hắn đi ngang đều che mắt và la lên «Đồ sát nhân». Hắn nghĩ đến quê hương, nơi mà ai cũng mong hắn chết đi, nghĩ như thế hắn ứa nước mắt. Cầm nắm cát trong tay như vậy, hắn tiếp tục nói:
«Với nắm cát trong tay, với sa mạc mênh mông nầy trước mắt, tôi xin thề với các đồng chí, và tôi yêu cầu các đồng chí cũng thề với tôi là chúng ta sẽ mang lại sức sống cho mảnh đất cằn cỗi nầy của tổ quốc Sô Viết. Lòng đam mê của tôi có được, không những chỉ vì tôi là kẻ ở đậu trên mảnh đất nầy, mà còn bởi vì hơn ai hết tôi đã biết thế nào là sự đớn đau của một kẻ bị chà đạp, bị giết chết bởi sự man rợ của con người, bởi vì tôi đã biết thế nào là sự sung sướng của một kẻ được người khác mang lại sức sống, nghĩa là tôi đã biết thế nào là sự chết và thế nào là sự hồi sinh.»
Bài diễn văn của Boris Bodnariuk chấm dứt bằng những tiếng vỗ tay vang dội, bằng nhịp điệu của những bài hát ca tụng sự vinh quang của công trình thay đổi khí hậu và tái tạo sức sống của sa mạc. Boris thật sung sướng, nên khi nữ đồng chí Natacha Olt bước đến ôm hôn, nét mặt của Boris đã lấm tấm vài giọt nước mắt hân hoan.
II
Ngày hôm sau, nhóm của Boris Bodnariuk đã làm việc hết sức hăng hái. Các sinh viên được chia thành từng toán tùy theo khả năng chuyên môn của họ, còn nhiều toán khác chưa đến kịp. Trong ba căn lều vừa dựng, đã có những máy vô tuyến điện, những dụng cụ đo sức mạnh và hướng gió, đo độ ẩm cùng nhiệt độ và khoảng cách. Các tiểu ban khảo cổ và canh tác đã dựng được những phòng thí nghiệm sưu tầm và quan sát đất đai cây cối. Các tiểu ban thú y và trồng tỉa cũng đã bắt đầu công tác. Boris Bodnariuk làm việc ở tổ trung ương với nữ thư ký Natacha Olt và một uỷ viên chính trị gốc người Mong Cổ tên là Vladimir Kanayan. Ngoài Kanayan ra chỉ toàn là sinh viên. Boris ra khỏi cửa lều đã rung chuông hội hộp:
«Hỡi các đồng chí, các đồng chí đang tượng trưng cho mọi ngành chuyên môn của khoa học và cũng đều qua một cuộc tập sự đặc biệt ở Hàn Lâm Viện canh tác sa mạc. Vậy không lý do gì tôi lại giảng nghĩa thêm về những khía cạnh kỹ thuật, những khía cạnh mà những nhà bác học Sô Viết đã chỉ dạy các đồng chí từ lâu rồi. Tuy nhiên tôi phải nói vài lời để hướng dẫn các đồng chí trong lúc hành động, những sinh vật đầu tiên xuất hiện trên sa mạc sẽ là những tên gián điệp, những tên phản bội và những kẻ phá hoại.»
Giọng của Boris không còn tràn đầy đam mê, xa vắng và mơ mộng như ngày hôm qua nữa, mà đã rắn rổi và đầy uy quyền.
«Hỡi các đồng chí của mọi ngành chuyên môn, hóa học, sinh vật học, nông học cũng như khí tượng học, thiên văn học, kỹ sư các ngành, các đồng chí đừng bao giờ quên rằng trong công trình vĩ đại của chúng ta nhằm canh tác sa mạc và thay đổi khí hậu, nên sinh vật đầu tiên xuất hiện trên sa mạc sẽ là Kẻ thù của Tổ quốc. Những nơi nào có Sô Viết, nghĩa là có sự sống, ắt có kẻ thù của đời sống, kẻ thù đó là những ký sinh trùng. Cho nên các đồng chí hãy đề phòng cẩn mật. Hãy giết ngay con vật ký sinh đó đi, vì nó là kẻ thù của tổ quốc, nếu các đồng chí không chú ý, các đồng chí sẽ có tội với tổ quốc và tất cả công trình chúng ta sẽ ra mây khói. Châm ngôn của chúng ta là khám phá và loại trừ ngay kẻ thù của tổ quốc. Rất có thể nó đã đến sa mạc trước cả chúng ta nữa.»
Boris nhìn các đồng chí thuộc hạ đang chăm chú nghe và giảng giải tiếp:
«Thứ ký sinh đó xuất hiện khắp nơi. Để tôi kể các đồng chí nghe trường hợp sơ xuất tai hại của một đồng chí trong tiểu ban Trồng tỉa ở Leningrad…
«Trong tám trăm hạt giống và cành chiết do những cộng tác viên Sô Viết gởi từ những sa mạc Nam Mỹ sang để thí nghiệm ở đây, có một cây con ở Ba Tây. Đồng chí đó đã đem trồng vài cành chiết vào nhà gương của Viện Đaị Học để thí nghiệm nhưng y lại sơ hở rất tai hại. May thay, một đồng chí ở phòng thí nghiệm đã không quên rằng Kẻ thù của tổ quốc ẩn nắp khắp nơi nên đã dùng kính hiển vi nhìn kỹ rễ của cây con đó. Quả nhiên, đồng chí đã phát hiện ra con vật đê hèn đó. Một bọn phản động ở Ba Tây, bọn của nhóm Trotzky dĩ nhiên, đã đặt trong rễ cây gởi về cho Nga Sô trứng của loại kiến đỏ. Thứ kiến đỏ không những đã phá hoại cây cỏ ở Ba Tây mà còn phá hoại tất cả thực vật quanh đó. Nhờ sự cẩn thận của đồng chí đó mà loại kiến đỏ đã bị giết, lũ phá hoại và đồng bọn bị bắt, tai họa đã tránh được. Tôi khuyến cáo các đồng chí là đừng nên sơ xuất xem thường. Kẻ thù của tổ quốc, lũ phá hoại, những tên gián điệp, những tên phản động cũng muốn xam nhập và ẩn núp trong rễ cây, trong hạt giống, trong mọi đồ vật.
«Cho nên bổn phận của mỗi đảng viên cộng sản là khám phá ra loại sâu bọ đó và loại trừ tức khắc. Nào bây giờ chúng ta làm việc, nhưng hãy cẩn thận. Diệt trừ kẻ thù cũng quan trọng như mọi công trình xây dựng vậy, có thể quan trọng hơn nữa là đằng khác. Nào, bây giờ làm việc đi…»
III
Ngày thứ ba có buổi họp của toàn nhóm. Ai nấy đều dấu sự mệt mỏi, bệnh hoạn dù tất cả đều khó chịu vì khí hậu ở sa mạc.
Boris Bodnariuk chủ toạ buổi họp, bên phải là Natasha Olt chuyên thảo biên bản các buổi họp; phía sau là khuôn mặt bầu bĩnh của Vladimir Kanayan. Boris Bodnariuk chưa đầy ba mươi tuổi. Hắn đã theo học tại Hàn Lâm Viện đỏ, ban khủng bố, ban nầy có mục đích huấn luyện hắn có thể đi hoạt động ở ngoại quốc. Mấy năm cuối cùng của chương trình, hắn có theo học ban «Canh tác sa mạc». Đối với hắn chiến thuật cộng sản thật rõ ràng, và hắn đã được liệt vào hạng kỹ sư đào tạo con người mới chứ không ở vào hạng theo chủ nghĩa thần bí hiếm thấy ở liên bang Sô Viết. Hắn thừa biết là tuổi trẻ luôn luôn ham thích những kế hoạch to tát, tuổi trẻ lúc nào cũng say mê những thần thoại, những niềm tin đáp ứng được nhu cầu phiêu lưu, tính phóng khoáng cùng lòng hy sinh nơi mọi người. Mỗi thanh niên mơ ước sẽ trở thành anh hùng, và phải tạo cơ hội cho mỗi người thấy rằng trong sự lao động hàng ngày đảng có thể giúp thanh niên đó đạt được ước mơ. Việc làm khô khan nhất, và chính nhờ sự khô khan đó, cũng có thể cung ứng sự khát khao của tuổi trẻ, đó là sự khát khao trở thành người hùng, làm những việc phi thường không giống một đồng bạn nào cả. Chính vì thế mà Boris Bodnariuk đã quyết định là mỗi sáng các tổ trưởng phải phúc trình sơ lược những tiến bộ thực hiện được trong khuôn khổ của kế hoạch thay đổi khí hậu nhờ bàn tay cùng sự khéo léo của mọi người hiện diện.
Trong chừng mười câu sáng sủa, gãy gọn, ban phúc trình phải nêu được mục đích và những tiến bộ đã thực hiện được. Cứ tuần tự như thế, phúc trình công tác hệt như một điệu nhạc mỗi sáng trong đó Boris cũng hệt như một nhạc trưởng. Hắn bắt đầu chỉ định tổ trưởng toán chuyên về dẫn thủy và hàng hải. Người này nói thao thao:
– Toán của tôi là một trong những toán chuyên đắp những con kênh cho tàu bè qua lại. Mục đích tối hậu là nối liền 6 biển: biển Caspienne, biển Azov, biển Đen, biển Trắng, biển Aral và biển Baltique. Nhờ hệ thống kênh đào đó, Mạc Tư Khoa sẽ là một hải cảng trên 6 biển (có tiếng vỗ tay). Kênh Turkmène sẽ là con kênh dài nhất thế giới dài 1100 cây số, và sẽ kết thúc trong chừng 7 năm. Kênh Panama do tụi trưởng giả đào dài chỉ 84 cây số mà mất đến 34 năm. Thứ đến là Kênh Volga Don. Hàng triệu mẫu tây đất sa mạc biến thành vườn tược nhờ hệ thống kênh đào. Để thực hiện điều đó, chúng tôi sẽ dùng chừng 5 triệu thước khối đá. Sông Amour Daria đã bắt đầu dùng được. Không bao lâu nữa, và không xa đây bao nhiêu, nơi mà hiện giờ không có lấy một giọt nước, thuyền bè sẽ tấp nập qua lại trên 6 biển, ngang qua sa mạc. Toán chúng tôi lúc đó lại sẽ phải đắp một đường bộ và một đường sắt nối liền ga cuối cùng đến công trường chúng ta. Chúng tôi sẽ đem nước đến đây trong vài tháng nữa cho các đồng chí cũng như cho các đồn điền.
Boris hướng về một thanh niên khác, anh nầy liền lên tiếng:
– Toán khí tượng và thủy học sẽ có chừng một phi đội để tưới những trận mưa nhân tạo lên vùng đồn điền với một diện tích trên một trăm mẫu tây. Chúng tôi đợi máy bay trong một tuần.
Boris lại ra dấu, một thiếu nữ thuộc toán thực vật đứng dậy đọc tên các hạt giống: «Trong 6 tháng, chúng tôi sẽ trồng được trên 200 mẫu tây chừng 800 loại cây khác nhau. Thật chưa có một cuộc thí nghiệm nào vĩ đại như thế từ khi có loài người trên quả đất. Một thiếu nữ khác đứng dậy phát biểu ý kiến:
– Cùng một lúc với sự biến đổi độ ẩm, gió cũng sẽ được dịu bớt không bao lâu nữa, chiều gió sẽ hoàn toàn thay đổi. Chúng tôi có thể buộc mây từ phía bắc đến đổ mưa xuống vùng sa mạc nầy. Nhóm chúng tôi sẽ thông báo cho ủy ban trung ương biết về áp lực và các lỗ hổng không khí khi chiều gió đã được thay đổi. Tôi xin nhường lời cho đồng chí trong nhóm thiên văn.
Một thiếu nữ cao, tóc hung, chuyên về thiên văn tiếp tục:
– Ngay từ bây giờ, chúng tôi có thể tuyên bố rằng, chính nhờ chúng tôi mà trong khoảng đất nầy của liên bang Sô Viết trong khoảng đất rộng bằng cả Anh quốc, màu trời sẽ được thay đổi. Theo sự nghiên cứu của chúng tôi, nhờ sự thay đổi khí hậu bầu trời sẽ xanh như ở Ukraine. Các ngôi sao sẽ sáng hơn, mặt trời cũng sẽ có màu vàng hơn, đám mây vàng ta thường nhìn thấy quanh mặt trời và mặt trăng sẽ biến mất. Ban đêm sẽ sáng hơn, độ sáng sẽ lớn hơn các vùng lân cận là 25%. Sự thay đổi màu trời, tia sáng của mặt trời, mặt trăng cũng như các ngôi sao có được là nhờ Sô Viết và vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.
Mọi người vỗ tay, ai nấy mắt sáng ngời nhờ các bản tường trình vừa đọc xong, Boris Bodnariuk biết là đã đến lúc cuộc hòa tấu buổi mai có thể chấm dứt. Với ngần ấy nhiệt thành, thì khí hậu và oi bức của sa mạc rồi cũng chịu đựng được. Tuy nhiên, hắn còn nhớ đến Kanayan và bảo:
– Hiện còn vài ngàn dân bản xứ còn sống lang thang trong sa mạc. Họ phải biết đến hoạt động của chúng ta mới được, bởi vì họ là những giống dân Sô Viết chưa được hưởng ưu đãi của chế độ. Xin mời đồng chí Kanayan cho biết làm sao để tìm ra họ và kết hợp họ vào công trình xây dựng của chúng ta.
Đôi mắt nhỏ đen của Kanayan không hề nhấp nháy hắn trả lời cho Boris thật nhỏ:
– Hiện còn những kẻ sống lang thang trong sa mạc thật nhưng không thể nào tìm gặp và không thể đếm được lớp người đó. Họ hệt như cát trong sa mạc, họ đến rồi họ đi và không thể nào phân biệt nổi họ với cát.
– Ủy ban chính trị sẽ để cho đồng chí xử dụng vài phi cơ trinh sát.
Boris nói thế nhưng Kanayan không trả lời thêm. Boris hỏi:
– Vậy theo đồng chí thì cần độ bao lâu ta có thể kiểm tra được số người vô gia cư đó?
– Tôi là đảng viên cộng sản từ thuở bé. Cha tôi cũng vào đảng từ lâu, nhưng thật khó lòng mà đi sâu vào sa mạc. Lénine vĩ đại đã chinh phục Nga Sô toàn diện từ lâu, thế mà với Người cũng cần 7 năm để đi từ Mạc Tư Khoa đến làng tôi cách đây chừng 80 cây số. Dân tộc Sô Viết chỉ đến biên giới sa mạc vào khoảng năm 1925, nhưng nếu phải đi xa hơn, đi vào tận sa mạc thì thú thật tôi không biết phải cần bao nhiêu lâu, khổ lắm, đó là tất cả những gì tôi biết được.
Boris mỉm cười lên tiếng:
– Hỡi các đồng chí, tôi muốn rằng những lời nói vừa rồi của Kanayan là một bài học cho các đồng chí. Các đồng chí thấy rõ là dưới một chế độ phản cộng sản con người thật quá thấp hèn. Những kẻ lang thang đó khổ sở vì đói, vì khát, và kéo lê một cuộc sống trong địa ngục đầy cát nầy, một cuộc sống mà không một con vật nào ham muốn cả. Thế mà họ là những người, lại là những người Sô Viết, họ đã bị khủng bố, sợ hãi, thua sút đến độ họ không còn can đảm nhìn thẳng vào tương lai. Chúng ta mang lại cho họ nước uống, nhà cửa, một khí hậu dễ chịu hơn, một điều kiện hợp với con người hơn thế mà họ vẫn sợ hãi. Vâng, sợ hãi. Đó là những kết quả của một xã hội phi cộng sản. Xã hội đó đã biến con người thành một con vật sợ hãi đến độ thích bị giết hơn là thích từ bỏ nghiệp khổ để đi đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mặc họ, chúng ta cứ sẽ giúp đỡ họ. Các đồng chí thương mến, ai yêu thương loài người thì phải mang lại lợi ích và không có quyền sợ những đổi thay. Nhiệm vụ của chúng ta là mang lại cho các thế hệ mai sau một khí hậu trong lành, một mảnh đất có năng suất cao và một xã hội công bằng. Vì ích lợi của nhân loại chúng ta sẽ bắt buộc hàng ngàn người lang thang đó trở thành những cộng tác viên của chúng ta. Đó là thứ tình cảm cao thượng nhất của nhân loại. Ngoài những người Sô Viết ra, không có một tôn giáo nào lại biết thương yêu con người như thế. Chúng ta sẽ biến những người vô gia cư đó thành những cộng tác viên của chúng ta, dù họ không muốn, nhưng vì ích lợi cho họ và cho con cháu họ chúng ta phải làm thế. Liên bang Sô Viết được thành lập trên căn bản của đoàn kết nhân loại. Boris Bodnariuk đứng dậy:
– Nào bây giờ chúng ta làm việc, làm việc cho lợi ích của nhân loại. Trong lúc đó Kanayan vẫn đứng đấy, bất động.
IV
Boris Bodnariuk đã tổ chức các công tác tại công trường xong. Sau đó hắn trở về Mạc Tư Khoa bằng máy bay để nhận những chỉ thị mới và bây giờ hắn đang ở lại tại Kichinev vừa mới được sát nhập vào Nga Sô.
Hắn cần tuyển mộ ở đó rồi mang đến sa mạc vài trăm ngàn người tị nạn để làm việc cho công trình thay đổi khí hậu. Boris cho là «Không phải là lần đầu tiên những người Do Thái làm quen với sa mạc vì trong lịch sử họ đã từng ở trên những đồng bằng đầy cát».
Boris muốn thấy lại trường Trung học hoàng gia nơi mà hắn đã bị đuổi trong bộ quần áo nhục nhã mười lăm năm về trước. Đằng sau hắn là đại tá Novirok chuyên lo về vấn đề tị nạn, một người mập mạp nhưng thụ động:
– Hàng trăm ngàn người Do Thái đó, những «desperados» đó đến xin tị nạn ở Sô Viết để khỏi phải bị đốt như những con chuột trong những lò hỏa thiêu của bọn phát xít. Họ chống phát xít vì sợ chết và sợ những trại tập trung, nhưng họ cũng chống cộng sản nữa. Sự kiện họ đã đến với Sô Viết không có một ý nghĩa nào cả. Người Do Thái sang Nga bởi vì họ không thể đi đâu được nữa. Các nước dân chủ không chấp nhận họ trừ phi lúc họ có trương mục ở ngân hàng, như Thụy Sĩ đã làm. Một vài nước khác lại xa quá. Dù sao chúng ta cũng phải giam giữ họ bởi họ chống lại chủ nghĩa cộng sản. Điện Cẩm Linh đã chấp nhận giải pháp của tôi. Vị trí của những người Do Thái là ở tại sa mạc, vì Nga Sô đang có hàng triệu mẫu tây sa mạc.
Đại tá Novirok đã soạn sẵn danh sách và hồ sơ hàng ngàn người tị nạn mà mai sẽ được chở vào những toa tàu bọc kín để đem đến những công trường làm thay đổi khí hậu và canh tác sa mạc. Boris lại bảo:
– Nhờ khoa vật lý, đồng chí thừa biết là một nguyên tử hýt rô vẫn là một nguyên tử hýt rô trong bất cứ phân tử nào. Cũng như thế một cá nhân là sản phẩm của một xã hội nơi mà người đó sinh ra; người đó vẫn là người đó mãi mãi, cũng như một nguyên tử, trong bất cứ xã hội nào mà đồng chí mang người đó đến, đó là một luật lệ đương nhiên. Y theo kế hoạch, tôi có thể thay đổi màu trời ở sa mạc, thay đổi chiều gió, mực nước biển nhưng tôi biết chắc là tôi không thể nào thay đổi bản tính của một cá nhân trừ phi tôi loại trừ nó. Moise biết rõ điều đó lắm, nên ông ta đã ở 40 năm trong sa mạc trước khi cố tái lập một tân đế quốc Israel. Ông ta phải ở như thế trong sa mạc để cho thế hệ mà ông không cần đến phải chết đi, và sau đó, chỉ với lớp người trẻ, ông ta mới bắt đầu xây dựng lại. Thật là làm chính trị lãng mạn mới tin rằng ta có thể thay đổi một cá nhân gốc trưởng giả thành một cá nhân cộng sản. Cũng như là phải lãng mạn chính trị lắm người ta mới tin rằng có thể biến người cộng sản thành trưởng giả. Ngu ngốc lắm mới tin như vậy được, bởi lẽ khoa học xã hội chưa khám phá ra bí quyết của sự «Biến thể» cá nhân. Chúng ta phải đợi một thế hệ nữa. Tôi lập lại là những cá nhân cũng giống như những nguyên tử. Đời sống họ cũng không phải đơn độc và người ta không thể thay đổi bản tính của họ được. Họ là sản phẩm của xã hội. Tất cả những cá nhân sinh ra trong xã hội trưởng giả đều là những kẻ trưởng giả, ngay cả lúc họ là Do Thái và chống phát xít. Cho nên họ sẽ được đem đến sa mạc, ở đó họ sẽ chết dần, nhưng ở đó họ sẽ không truyền nhiễm sang kẻ chung quanh những con vi trùng trí thức và chính trị của họ được. Họ ở sa mạc cũng như họ ở trong một lò sát trùng; chúng ta vẫn có thể giúp đỡ họ được, vì dù họ không muốn, chúng ta cứ ghép họ vào một công trình vĩ đại. Chúng ta đang đem lại lợi ích cho nhân loại và cho những thế hệ mai sau thế hệ sẽ được hưởng những công trình mà họ bị bắt buộc phải làm. Đối với họ, đó là một dịp may mà họ không mong đợi, nhưng con hơn là để họ chết trong những trại tập trung của quốc xã, chết một cách thật vô ích. Trong lúc với chúng ta, họ cũng có điều may mắn đó, may mắn chết một cách ích lợi cho nhân loại. Thế cho đến bây giờ, đồng chí đã làm gì với những người Do Thái trưởng giả đó?
Đại tá Novirok trả lời:
– Giáo huấn họ lại.
– Ai chủ trương giáo dục lại sẽ mang tội lãng mạn chính trị. Chúng ta đã có kinh nghiệm trong sự giáo dục đó vào hồi đầu của cuộc cách mạng với những nông dân, những sĩ quan Nga hoàng cũng như các giáo sĩ, và chúng ta đã thất bại hoàn toàn. Một cá nhân từ tây phương đến phải cần cô lập, bắt làm việc hay loại trừ, vi cá nhân đó đã hư hỏng rồi. Vâng hư hỏng, đồng chí có biết như thế không.
Boris đưa mắt nhìn thành phố, nhìn những nóc nhà thờ nhọn hoắt như những ngón tay chỉa lên trời, rồi hắn quay lại nói tiếp:
– Lúc tôi đã hoàn thành xong kế hoạch thay đổi khí hậu, ta còn một giấc mơ khác cần thực hiện nữa. Đó là biến Tây phương thành một đống tro tàn, nhìn những thành quách cùng các giáo đường thời trung cổ của những thủ đô lớn lần lượt bốc lửa, và sau đó máy cày Sô Viết sẽ được đem đến Âu Châu, chúng ta tái tạo các khu rừng, thành lập những thành phố mới, những cơ xưởng mới. Nhưng trước đó, phải để Âu Châu cháy sạch hết đã, để có thể đứng từ Odessa nhìn con lửa đốt hết Luân Đôn, Bá Linh, Ba Lê, những con lửa liếm Tây Phương trọn vẹn giết sạch tất cả vi trùng và dấu vết của một xã hội đã kiềm chế nhân loại với một đời sống tăm tối trong suốt hai nghìn năm dưới dấu hiệu thánh giá, đã kiềm chế nhân loại trong áp bức, sợ hãi và những khủng bố dưới dấu hiệu thánh giá. Đồng chí có muốn chứng kiến cảnh tượng đó không nhỉ?
Novirok đăm đăm nhìn Bodnariuk mà không nói gì. Đại tá Novirok biết rằng nếu ý nghĩ của Bodnariuk được chế độ Sô Viết chấp nhận thì ông ta có thể trả lời «vâng» mà không sợ hãi gì. Nhưng nếu một mai chính phủ Sô Viết xem những ý nghĩ đó là quá sớm hay không hợp thời thì những ai đã trả lời «Vâng» sẽ bị nguy hiểm. Cho nên tốt hơn hết là im lặng, đừng đồng ý hay không đồng ý, và nhất là không nên nói «có lẽ» vì chữ «có lẽ» sẽ bị xem như là đồng ý hay không đồng ý. Điều chính yếu là giữ im lặng và chỉ nhìn mà thôi, nhìn với đôi mắt không trung lập, cũng không lờ mờ, một nét nhìn không nói lên sự đồng ý hay không đồng ý, một nét nhìn giống như lũ trâu bò. Đó là thái đó chắc chắn nhất để giữ sinh mạng, và thái độ mà đại tá Novirok đã chấp nhận.
Và cả dân tộc Sô Viết củng cố gắng để có thể nhìn như thế.
V
Kichinev, Boris đến viếng thăm trung tâm những người Do Thái tị nạn, và căn cứ theo biên bản hắn có thể tính được số người đến tị nạn mỗi ngày. Hắn yêu cầu trung tâm mỗi tuần phải chở những người tị nạn nầy đến sa mạc.
Lúc hắn đến trước khu trường trung học Hoàng gia, Novirok chỉ cho hắn một ngôi giáo đường nhỏ và bảo:
– Ngôi nhà thờ nầy đã đổi thành hý viện, một số người tị nạn đã trình diễn bằng tiếng Lỗ ma ni.
Boris và Novirok vào bên trong. Một người đàn ông và vài người đàn bà đang làm việc ở đó. Cảnh tượng ở bàn thờ đã thay đổi hẳn, vải bàn thờ đem làm màn che, tượng thánh và thánh giá vất ngổn ngang trên nền nhà. Boris thọc tay vào túi quân tiến lên, khinh khỉnh nhìn các bức tượng, trong lúc đó đôi mắt của các bức tượng thánh đăm đăm nhìn đôi ủng màu đỏ của Boris. Thánh Nicholas, thần Michel và Gabriel, thánh tông đồ Pierre vẽ bằng sơn dầu trên tường cũng đăm đăm nhìn chiếc khăn choàng cổ màu đỏ của Boris. Một thiếu nữ đang ngâm thơ bằng tiếng Lỗ ma ni lúc Boris bước lên sân khấu:
Boris chỉ cảnh trần thiết và la lên:
– Không đúng theo nghệ thuật của Sô Viết tí nào cả.
Nghe thế người thiếu nữ thôi ngâm, trong lúc một thanh niên của đoàn hát trả lời:
– Dạ thưa đó là cảnh tượng trưng con sông Prut phân chia tổ quốc Sô Viết với thế giới trưởng giả; bên bờ của trưởng giả là cảnh nô lệ nghèo đói, trong lúc bên bờ Sô Viết toàn là hoa cỏ và thịnh vượng.
– Vậy thì những cây cối mảnh khảnh ở bờ Sô Viết có ý nghĩa gì?
– Những cây đó giúp cho khung cảnh Sô Viết thêm thơ mộng bởi vì đối với bọn nghệ sĩ tị nạn chúng tôi, bờ sông phía Sô Viết là bờ của tự do.
Viên họa sĩ, các nghệ sĩ trên sân khấu và trong căn phòng cũng như Novirok đều sợ hãi nhìn Boris. Họ tưởng Boris là một công chức cao cấp của Sô Viết, số phận của hý viện nầy phụ thuộc vào hắn. Những thánh thần, Đức Mẹ lại bình thản nhìn Boris, vì họ biết số phận của họ đến đây đã chấm dứt. Các bức tượng sẽ được phủ lên một lớp sơn mới, một lớp vôi mới, với những câu cách ngôn mới, của đảng cộng sản vì thế mà họ chẳng sợ sệt điều gì cả.
Viên họa sĩ nói tiếp:
– Trong vở kịch nầy, nghệ sĩ của gánh hát Eddy Thall sẽ kể lại vì sao chúng tôi đã trốn sự khủng bố của phát xít để tị nạn sang quốc gia tự do Sô Viết.
– Thế thì lúc đến bên bờ Sô Viết, anh không để ý thấy những cơ xưởng chế tạo nào cả ư? Tại sao anh chỉ vẽ sông Prut băng ngang qua đồng cỏ và đất đai hoang phế?
– Dạ thưa tại tôi muốn diễn tả khung cảnh nên thơ của Sô Viết. Nhưng Boris lại hỏi:
– Nước sông chảy ngang qua cây liễu và đồng cỏ hoang có nên thơ hơn lúc chính con nước đó làm quay những bánh xe của một nhà máy điện chiếu sáng bờ sông? Có gì trong một cây liễu và hai con bò mà lại nên thơ hơn một nhà máy cung cấp ánh sáng cho hàng chục làng mạc, cho hàng ngàn ngôi nhà của công dân Sô Viết? Một con bò có nên thơ hơn một nhà máy nước không? Một cây liễu có nên thơ hơn một máy cày không?
Viên họa sĩ bắt đầu run rẩy:
– Ý của chúng tôi là muốn bày tỏ sự biết ơn đối với những người Sô Viết đã cho chúng tôi đến tị nạn. Tôi đã lý tưởng hóa tất cả những gì ở bờ sông phía Sô Viết.
– Anh bày tỏ sự biết ơn của anh bằng cách mời khách ngắm tranh quay lưng lại trước tất cả những công trình xã hội vĩ đại để chỉ nhìn một mảnh đất hoang phế với bò, cừu đang gặm cỏ?
– Anh làm cho khách ngắm tranh quên mất những cơ xưởng tân tiến, những cải cách xã hội rồi anh bảo đó là sự biết ơn của anh đối với Sô Viết ư? Tại liên bang Sô Viết, điều đó được gọi là tội phá hoại nghệ thuật và sẽ bị trừng phạt như những tội trạng khác.
Người họa sĩ lo sợ bảo:
– Chúng tôi sẽ vẽ lại tất cả những khung cảnh ở đây. Thế ngài có muốn nghe một nghệ sĩ tài danh của gánh hát chúng tôi diễn lại một vở kịch không?
Eddy Thall trong bộ quốc phục bắt đầu kể chính câu chuyện của nàng. Nàng kể rõ người ta đã đóng cửa hý viện của nàng ra sao, đã tịch thu nhà của nàng như thế nào, kể chuyện Tinka Neva bị buộc ra khỏi nhà nàng, Lidia Petrovici bị đốt trong trại giam, kể rõ trường hợp bị giết của bà Debora Paternik cùng hàng triệu người khác. Nàng cũng nói rõ ý định di cư sang Palestine của nàng cũng như của các bạn đồng hành dù biết rằng sang đó, ở đất Thánh, họ cũng sẽ bị người Anh bắt bớ giam cầm. Họ cũng muốn di cư trong tuyệt vọng nhưng tiếc thay chiếc tàu Adassa đã bị chìm tại biển Đen mang theo bao nhiêu là sinh mạng tài sản Do Thái. Những người may mắn còn sống sót đã quay sang Nga Sô, và nước Nga đã chấp nhận họ cũng như đã bao lần nước Nga tiếp đón những người bị ngược đãi.
Thình lình, Boris Bodnariuk hỏi Eddy:
– Nhưng tại sao cô lại mặc thứ y phục nầy?
Người họa sĩ lại trả lời thay Eddy:
– Đó là y phục của Cộng hòa Sô Viết Moldavie.
– Người đàn bà Sô Viết không thể mặc y phục đó bao giờ, vì nó thuộc về xã hội thoái hóa. Quốc phục đó là quốc phục của một người đàn bà nô lệ. Vì mặc nó, người đàn bà không thể nào làm việc được, nhất là ở các nhà máy hay ở bộ môn thể thao. Nghệ sĩ Sô Viết xuất hiện trên sân khấu phải ăn mặc thế nào để có thể khuyến khích đàn bà Sô Viết biết cách chọn y phục. Cô gợi ý cho khán giả chọn thứ y phục nô lệ nầy mà cô lại cho là quốc phục ư?
Người họa sĩ lại lo sợ bảo:
– Thưa ngày chúng tôi sẽ thay đổi cách ăn mặc.
Eddy Thall tiếp tục kể chuyện nhưng đã run lên vì sợ hãi. Boris lại cắt ngang hỏi:
– Cô ấy kể gì đó?
– Cô ấy đang kể lúc những người tị nạn phát xít khám phá ra dân tộc Sô Viết tự do mà trước họ không hề hay biết vì bị che dấu bởi thứ tuyên truyền của xã hội trưởng giả.
– Trong những xã hội trưởng giả, đã có hàng triệu đảng viên cộng sản hy sinh mạng sống để có thể nói lên được những sự thật về Sô Viết. Không nhớ điều đó tức là phản bội cuộc đấu tranh nầy và làm sai lạc lịch sử. Nghệ sĩ mà làm sai lạc lịch sử cũng phạm tôi rất nặng.
Boris bước ra cửa, đôi ủng bước lên trên cả những cây thánh giá, những bức tượng bằng sứ, bằng nhung vứt bừa bãi trên nền nhà, vừa đi vừa lầm bầm với Novirok:
– Không thể nào giáo dục lại bọn trưởng giả. Đồng chí cứ gởi hết họ ra sa mạc. Mấy người khác sắp đến đồng chí cũng cứ gởi nốt họ ra, theo những chuyến công voa hàng tuần. Con người của xã hội trưởng giả không thể nào thay đổi được nữa. Nếu chúng ta tin là có thể giáo dục họ được, chúng ta sẽ phạm đến tội lãng mạn chính trị.
VI
Chuyến công voa đầu tiên chở những người Do Thái tị nạn đã đến Sa mạc. Họ cũng đều ở trong lều và làm việc suốt ngày để hoàn thành con đường sắt nối liền ga cuối cùng đến công trường. Vài ngày sau, vào một phiên họp buổi sáng, Bodnariuk bảo:
– Hiện có hàng ngàn nhân công đang góp công vào việc hoàn thành hệ thống dẫn nước và đường sắt cùng các con đường nối liền công trường chúng ta đến mảnh đất phì nhiêu. Tôi cần các đồng chí liên lạc với họ. Số lượng những người đó mỗi tuần mỗi tăng lên để tạo một số nhân lực bất tận cho công tác của chúng ta.
Sau lời nói đó, buổi hòa tấu ban sáng lại bắt đầu. Boris ra hiệu cho một thiếu nữ thuộc tiểu bản địa chất. Thiếu nữ đó lập tức đứng dậy và tuyên bố:
– Khu đất mà chúng ta đang đứng đây, theo sự khảo sát của chúng tôi có nhiều mỏ dầu hỏa rất quan trọng. Ngoài ra chúng tôi đang kiếm thêm vài khoáng chất khác và than đá. Công tác khai thác kho tàng địa chất Sa mạc, sắp bắt đầu và chúng tôi có thể cam đoan với các đồng chí là không bao lâu nữa để thay thế cho những bãi cát, sẽ mọc lên những thành phố kỹ nghệ với những cơ xưởng, những nhà máy lọc dầu, những nhà máy sản xuất hoá chất vĩ đại. Tất cả điều đó có thể thực hiện được nhờ những cố gắng ăn khớp nhau của kế hoạch Sô Viết trong công trình khai thác Sa mạc và thay đổi khí hậu.
Tiếng vỗ tay lại vang lên. Boris xoay qua viên tổ trưởng ban hóa học. Người nầy lại đứng dậy phúc trình:
– Cây cối do các đồng chí ở tổ thực vật đem trồng ở đây đều được nghiên cứu kỹ lưỡng ở phòng thí nghiệm. Chúng tôi có thể đoán chắc ngay từ bây giờ là một vài hoá chất rất hiếm hoi trên thị trường sẽ do đồn điền ở sa mạc cung cấp, vì chúng ta sẽ có nhiều nhà máy sản xuất hoá chất ở đây. Đây là một vài thí dụ: Runex Humeno-bepalus là một thứ cây có nhiều chất tanin, và có thể dùng để chế tạo trụ sinh chữa bệnh lao rất công hiệu, một loại Agave đem lại rượu và một thứ cây rất đắt đỏ trên thị trường, Larrea Divaricata là một cây có lá luôn luôn xanh tươi sẽ cung cấp nguyên liệu bậc nhất cho kỹ nghệ hóa học. Nhờ sự canh tác sa mạc, nền hóa học mới có được một kho tàng nguyên liệu mà không thứ đất nào có thể cung ứng nổi. Chúng tôi đã nhận dạng được trên 500 cây rất quí cho chúng ta. Chúng ta có thể xem sa mạc sẽ là nơi của phòng thí nghiệm và của những nhà máy chế tạo hóa chất trong tương lai.
Boris lại chỉ định tiếp đồng chí trong tổ lo về rau sống:
– Theo kinh nghiệm của chúng tôi, sa mạc này có thể sản xuất 12 ký khoai tây trong mỗi thước vuông đất, mỗi trái xu có thể nặng 5 ký, một củ hành trồng ở đây có thể nặng 280 g. Đất cằn cỗi ở đây không ngờ lại ích lợi vô tận cho công việc làm vườn. Chúng tôi đang chờ đợi những kết quả mỹ mãn trong tương lai?
Một người khác trong tổ vệ sinh đứng dậy:
– Trại tù binh cách công trường chừng 50 cây số có thể là một ổ nhiễm độc cho toàn thể sa mạc. Vì gốc gác trưởng giả của họ nên có thể các công nhân rất suy yếu. Số lượng người chết sẽ rất cao. Mà sa mạc lại không phải là nơi có thể lập thành những nghĩa địa, vì gió có thể cuốn những nấm mồ đi rất dễ dàng. Vi trùng được mang đi hàng trăm cây số và sẽ rất nguy hiểm vì chúng sẽ làm không khí nhiễm độc và có thể gây ra những bệnh dịch cách xa hàng ngàn cây số. Tôi yêu cầu phải đốt các xác chết chứ đừng chôn xuống đất, vì các nấm mồ sẽ bị gió quật lên ngay.
Boris Bodnariuk mỉm cười, nhìn về phía cô thư ký Natacha Olt. Nàng cầm mảnh giấy đứng dậy đọc:
– Đồng chí trong tiểu tổ vệ sinh đã cho chúng ta một sự kiện rất hay. Trung ương cục về canh tác sa mạc gồm nhiều nhà bác học Sô Viết đã từ lâu giải quyết vấn đề nghĩa địa trong sa mạc. Đúng là không thể nào chôn người chết ở đây được, vì xác chết bị gió bới lên sẽ rất nguy hiểm nhưng đem đốt đi cũng là một lầm lẫn lớn lao. Vì thế uy ban trung ương đã có một quyết định phi thường. Đồng chí trong tiểu tổ «Trồng cây ăn trái» sẽ cho các đồng chí biết quyết định đó ra sao.
Một thiếu nữ khác đứng dậy:
– Vấn đề các xác chết ở trong sa mạc sẽ được giải quyết như sau. Những người chết sẽ được chôn xuống một hầm sâu chừng 60 phân dọc theo thủy lộ, cách nhau chừng năm thước. Trên mỗi xác sẽ được phủ lên một lớp đất mềm chừng 10 phân. Xong với sự kiểm soát của tiểu tổ trồng trọt, ta sẽ trồng lên đó một loại cây ăn trái, rồi mỗi chiều sẽ tưới lên đó chừng 5 lít nước, tưới trong một khoảng thời gian cần thiết để cây đâm rễ và xác chết vữa ra để giữ đất cứng lại. Theo kinh nghiệm của các đồng chí trong các tiểu tổ khác về sa mạc thì theo phương pháp đó, cát sẽ cứng hẳn lại và nấm mồ sẽ không bị gió quật lên nữa. Phương pháp đó có rất nhiều tiện lợi: đường thủy, đường bộ cũng như đường sắt có cây cối hai bên sẽ tránh bớt gió của sa mạc. Ta sẽ trồng thêm một ít cỏ để làm cho đất chung quanh được rắn chắc thêm, như thế đồn điền có thể được nới rộng. Hệ thống dẫn nước nhờ cây cối hai bên sẽ tránh bớt được ánh sáng gay gắt ở sa mạc. Trung ương cục đã tính là một cây trồng ở trong nghĩa địa, bón bằng xác người chết kết trái hai lần nhiều hơn các cây khác, như thế trong thời hạn năm năm, nghĩa là thời gian cần thiết cho sự phân hóa xác chết. Trái cây sinh ra cũng ngon và tốt hơn bội phần, ví dụ như trái anh đào sẽ ngọt và lớn hơn nhiều; vả lại phương pháp nầy đã được áp dụng từ lâu, chính vì vậy mà các nghĩa trang thôn quê lúc nào cũng có cây cối. Nhưng nhờ Liên Bang Sô Viết mà phương pháp đó được kế hoạch hóa và sẽ đem dùng tại công trường chúng ta.
Boris lại mỉm cười tuyên bố:
– Sô Viết không quên điều gì cả, nghiên cứu cả đến những xác chết ở sa mạc nữa.
Nói thế xong, hắn lại mỉm cười và bế mạc buổi họp.
VII
Bất thần Boris dùng cam nhông đi thanh tra công trường làm thủy lộ và thiết lộ. Hắn bước xuống xe, theo sau là Natacha, trưởng ban đồn điền, trưởng ban chính trị, y sĩ và ba thanh niên, sau cùng mới đến Vladimir Kanayan.
Người ta vừa lo trồng cây, vừa lo chôn cất những xác chết trong ngày. Trong lúc Boris đang xem công tác đắp đất mà cạnh đó người ta đã đào sẵn 27 hộ hình chữ nhật sâu chừng 60 phân, thì từ một căn lều có lính gác, 27 tù binh ăn mặc rách rưới bước ra mang theo 27 cây keo con.
– Chúng ta trồng cây keo ở đây vì chúng mọc rất dễ trên đất cát, trong 14 tháng nữa chúng sẽ được ghép cành và trở thành cây ăn trái.
Cũng từ căn lều đó, hai hàng nam tù binh cũng vừa bước ra, cứ hai người lại mang một xác chết trong ngày đem đặt cạnh hố vừa đào. Boris không thèm nhìn những người chết nằm úp mặt trần truồng, úp mặt để người ta không biết được xác nào đàn ông, xác nào đàn bà. Theo lệnh của trưởng ban, cứ hai người lại ẵm một xác chết quăng xuống hố, sau đó người ta đem đất vàng phủ lên. Viên chỉ huy xem kỹ thử tù nhân đã phủ đúng 10 phân đất mềm trên mỗi xác chết chưa. Xong người ta mang cây lại và trồng ngay trên ngực mỗi xác chết. Tất cả việc đó đều do đàn ông phụ trách, mấy người đàn bà chỉ đứng nhìn, mọi việc diễn ra trong yên lặng, bình thản, cho đến lúc xe mang lại 5 thùng nước. Tức thì mắt bọn tù nhân sáng hẳn lên, vì họ đã quá khát nước. Người ta có cảm tưởng là họ phải cố dằn lòng hết sức mới khỏi nhảy xổ đến các thùng nước. Họ đành liếm môi cho đỡ thèm, và cho dù họ bị chóa mắt trước những dòng nước đổ xuống bãi cát, họ cũng không thể làm gì hơn được trước những toán lính gác các thùng nước, đã được lệnh của tên ủy viên chính trị là: «Phải xem chừng nước bị đánh cắp, mỗi thùng nước phải được canh gác ngày đêm bởi một số lính gấp đôi».
Bodnariuk đứng nhìn người ta tưới nước lên cát mà không nói một lời nào. Natacha đã tránh xa công trường vì nàng không thể nào dự kiến quang cảnh tạo đồn điền bằng xác chết. Đứng ở xa nàng nghe được một giọng nói quen thuộc, đúng là giọng Vladimir Kanayan đang nói chuyện với một nữ tù nhân. Natacha muốn la lên là «không ai được đến gần công nhân ở công trường» nhưng giọng Kanayan đã vọng đến tai nàng thật rõ rệt :
– Với năm tiền vàng tôi sẽ dẫn bà sang Do Thái. Cho đến bây giờ đã có bốn trường hợp như thế rồi, và việc xảy ra thật hết sức giản dị. Ở đây qua Irak, và tới Israel chẳng bao xa, chỉ cần năm tiền vàng thôi. Có nhiều toán dân bản xứ đưa bà sang Irak dễ dàng đêm nay cũng được nếu bà muốn.
Người đàn bà khá cao, đẹp và hơi gầy, chỉ lắng nghe Kanayan mà chưa nói gì. Trong lúc đó Natacha rón rén tiến đến gần hai người. Nàng nghe rõ người đàn bà nói bằng tiếng Nga hơi khó khăn và khó nghe :
– Nhưng ông có bảo đảm là đưa chúng tôi khỏi biên giới an toàn khi tiền đã trao xong? Làm sao chúng tôi có thể chắc chắn là các ông không giết chúng tôi dọc đường?
Kanayan trả lời:
– Khi nào bà đi khám bệnh thì điều duy nhất bà có thể tự hỏi là bác sĩ đó có giỏi hay không. Thế thôi, sau đó, bà không thể nào kiểm soát xem bác sĩ đó sẽ làm gì cho bà, bởi vì một lúc đã giao tính mệnh cho ông ta, thì chỉ có vấn đề tín nhiệm mà thôi. Với bác sĩ, không có vấn đề bảo đảm. Với những người bản xứ dẫn bà qua Israel cũng thế, điều chính yếu là xem họ có biết đường hay không, thế mà họ biết sa mạc nầy rõ ràng lắm, vậy thì điều còn lại chỉ là vấn đề tín nhiệm.
Trong lúc người đàn bà còn suy nghĩ, Kanayan đã nói tiếp:
– Ngày mai, chừng quá nửa đêm, một số người sẽ đến đây dẫn những người Do Thái nào có đủ năm tiền vàng. Họ sẽ gặp các người ở nơi những ngôi mộ mới chôn ngày hôm nay. Họ sẽ bò đến, và các người đừng sợ, đêm mai không có ánh trăng. Nhưng các người phải có ít nhất là năm tiền vàng, không thể thiếu được. Dân bản xứ lang thang ở đây là những kẻ đáng tin cậy, không ai là người Sô Viết cả. Eddy Thall nhìn Kanayan. Hắn nhìn nàng và cười đồng lõa. Gần đó người ta nghe rõ giọng của Bodnariuk :
– Người nào chỉ sống cho hiện tại mà thôi kẻ đó là một tên mọi hay là một tên phản bội. Con người phải sống cho tương lai và hòa mình vào một kế hoạch. Kế hoạch là điều may mắn đích thực cho con người. Tương lai sẽ rạng rỡ không phải nhờ cá nhân mà nhờ ở đoàn thể và nhờ ở đoàn thể đã đi đúng vào một kế hoạch. Ngày hôm nay con người sống trong sa mạc này với đói khát. Hiện tại như vậy đó. Nhưng họ phải chịu để các thế hệ tương lai có nước mà uống. Nhờ ở kế hoạch của chúng ta, dân chúng trong tương lai không còn biết đến đói khát nữa. Chúng ta chôn xuống đồn điền nầy hàng trăm ngàn người để cứu vớt hàng triệu người trong tương lai. Có một thứ tình nhân loại nào lớn hơn thế không?
Xe cam nhông rồ máy. Natacha cắn chặt môi mà không dám nhìn Kanayan :
– Tối nay mình sẽ nói hết cho Boris Bodnariuk những gì mình đã nghe được. Boris sẽ bắt quả tang cả lũ…
Nàng còn nhớ rõ lời dặn của Boris: «Đó là sinh vật đầu tiên xuất hiện ở sa mạc». Vì thế nàng nhìn Kanayan, khinh bỉ, và nghĩ rằng vì thế Sô Viết đã có lý khi tìm kiếm kẻ thù của dân tộc trong cát, trong các rễ cây và trong những nấm mồ, vì kẻ thù ở khắp mọi nơi.
VIII
Một chiếc cam nhông chở đầy lính đang đứng đợi trước dãy lều. Cạnh đó, một số sĩ quan cảnh sát cao cấp đang bước vào lều, Boris vui vẻ tiếp đón họ và bắt đầu kể cho họ nghe công trình trồng trọt trên xác chết, dọc theo hệ thống dẫn nước.
Trong lúc Boris cùng quan khách bước vào văn phòng, Natacha và Kanayan đã lo sắp xếp ghế ngồi. Natacha hơi xanh, nghiêng người nói nhỏ với Boris:
– Tôi cần báo cáo với đồng chí một điều hết sức quan trọng. Nàng muốn lập lại từng chữ cuộc đối thoại giữa Kanayan và người nữ tù, nhưng một viên sĩ quan đã cản lại:
– Đồng chí cứ để khi khác hãy nói, giờ chúng tôi cần nói chuyện riêng.
Boris ra dấu cho Natacha bước ra ngoài. Viên sĩ quan vừa đuổi Natacha ra ngoài vừa tiết lộ với Boris :
– Chuyện nầy quan hệ lắm. Cơ quan an ninh biên giới của ta đã bắt được thêm một toán tù binh trong nhóm của đồng chí.
Sáu người sĩ quan đăm đăm nhìn Boris. Bên kia vách, Natacha lắng nghe. Cũng ở bên kia vách nhưng ở đằng sau căn lều, Vladimir Kanayan đang rình nghe.
– Hiện có một tổ chức chuyên dẫn tù binh ra ngoại quốc, một người nói thế, trong khi một sĩ quan khác viết biên bản.
Boris bình thản kể chuyện:
– Những người chết ở công trường đều dùng vào công tác trồng trọt. Chúng tôi khám phá ra rằng số cây trồng, nghĩa là số nấm mồ, ít hơn là số tù nhân đã chết. Hiện thiếu mất năm nấm mồ, tôi sẽ cho các đồng chí biết giả thuyết của tôi.
– Vâng, đồng chí cứ nói. Chúng tôi cần biết lắm.
Boris mỉm cười thản nhiên nhìn sáu viên sĩ quan trước mặt : hắn đang vừa khát vừa mệt, mồ hôi nhễ nhại :
– Chúng tôi chôn xác người chết dọc theo hệ thống dẫn nước và trồng cây lên trên. Không những xác người mà thôi, mà những xác súc vật cũng được dùng trong mục đích đó. Và tù nhân đã quật xác ngựa, lừa để ăn… Chúng tôi đã suy ra như thế, nhưng muốn kiểm soát lại chúng tôi phải kiểm soát chừng 400 nấm mồ, nghĩa là phải 400 cây, điều này chúng tôi không thực hiện được, vì mỗi cây trồng được cũng mất 5 lít nước mỗi ngày. Nhưng tôi vẫn chắc chắn là những xác mất đi là xác súc vật chứ không phải là xác tù nhân.
Boris nói tiếp:
– Bởi vì tù nhân không đi đâu được cả. Muốn trốn về phía Tây họ phải vượt qua nhiều hàng kẽm gai, như vậy trốn về phía đó chắc chắn là không được rồi. Phía Đông và phía Nam là hàng ngàn cây số sa mạc. Cả đến chim chóc cũng không dám bay qua huống nữa là người. Sa mạc là một thứ lính gác bảo đảm nhất.
Một viên sĩ quan phản đối:
– Trong phạm vi sở cảnh sát không có gì chắc chắn cả. Đúng ra phải kiểm soát cả ngày lẫn đêm.
– Nghi ngờ như thế là phi lý, vì sa mạc không cho phép bất cứ ai vượt qua cả. Các đồng chí cứ thử đi về phía Đông và Nam mà xem, chỉ đi được chừng hai cây số là nhiều, rồi sẽ bị nắng thiêu cháy như gà rô ti vậy.
– Ấy thế mà tù nhân của đồng chí đã băng qua rồi đấy. Họ đã khai với chúng tôi hết cả rồi, rõ như ban ngày. Cho nên chúng tôi phải đến đây để tìm xem ai là kẻ đã cho phép họ băng qua vùng cấm.
Viên đại tá rút trong túi ra vài tờ thông hành, loại giấy tờ chỉ Boris mới có quyền cấp mà thôi.
– Chúng tôi muốn biết ai ở văn phòng đồng chí đã cấp cho họ giấy tờ nầy.
Mọi cặp mắt đổ dồn về phía Boris quan sát từng biến chuyển trên mặt hắn. Ngay lúc đó, Natacha Olt ở phòng bên đứng bật dậy. Nàng quyết phải nói thật, vì chỉ có nàng biết điều đó. Kẻ thù của dân tộc, thứ rắn độc đó cần phải bị loại trừ. Người tổ chức cho tù nhân trốn thoát chính là Vladimir Kanayan. Nên nàng tiến đến cửa và sắp sẵn những lời tố cáo.
Qua cửa sổ căn lều, Vladimir Kanayan theo dõi từng cử chỉ của Natacha. Và lúc nàng đặt tay lên nắm cửa, Kanayan rút súng lục bắn ngay ba phát vào cổ trắng nõn nà của cô nữ thư ký, xong hắn vứt ngay khẩu súng xuống chân Natacha trước khi nàng ngã xuống, và bình tĩnh tiếp tục nghe lóm câu chuyện của các viên sĩ quan. Nhưng không ai tiếp tục nói chuyện nữa. Chỉ còn tiếng ghế rớt loãng choãng, tiếng cánh cửa răng rắc, tiếng chân chạy thình thịch. Lưng Kanayan ướt đẫm mồ hôi, nhưng nét mặt hắn vẫn lạnh lùng, thân thể vẫn bất động. Mọi người vào phòng Natacha, nàng đã chết cạnh khẩu súng lục, cổ đầy máu. Viên đại tá nói như hét:
– Như thế là quá đủ, không có lời thú tội nào đầy đủ hơn là lời thú tội của chính thủ phạm giết người. Kanayan sững sờ nghe giọng nói của viên đại tá.
– Đồng chí Boris, đồng chí bị bắt để điều tra.
Kanayan đứng dậy. Qua khung cửa hắn thấy rõ vừng trán cao, thông minh của Boris, thấy rõ viên sĩ quan trẻ ôm cứng Boris, một người khác cầm chặt hai tay và người thứ ba còng đôi tay trắng trẻo của Boris.
Hắn đứng thẳng, bất động như một pho tượng đồng.
Một viên sĩ quân lục hết giấy tờ trong ngăn kéo, trong lúc Boris lẩm bẩm:
– Kẻ phản bội phải chết đã đành, những ai không tìm thấy kẻ phản bội cũng đáng tội chết lắm.
Rồi Boris hình như thầm nói với riêng mình:
«Mình không có hân hạnh giết kẻ nào phản bội nhưng mình muốn làm tròn phận sự với Sô Viết bằng cách sẽ giết chết những ai không truy tầm được sự phản bội; dù nó đang lẩn quẩn quanh mình. Ai không trông thấy kẻ thù của Sô Viết không xứng đáng là một người Sô Viết. Một kẻ mù lòa không thể là một đảng viên cộng sản, không, Boris ơi, không…»
Boris nắm chặt tay lại, hình như chúng trở nên to lớn lạ thường và không còn nằm trong xiềng xích nữa. Và chính trong não tủy hắn, tội ác của hắn – thứ tội ác đã không tìm ra được những kẻ phản bội đang làm việc cạnh hắn – cũng chiếm những thể tích kinh khủng, Boris biết rằng có những thứ tội ác làm cho người ta không thể nào sống sót được nữa. Thế là hắn nắm chặt tay, nghiến răng dơ tay cao, đôi tay trong xiềng xích, vận dụng tất cả thớ thịt và trí óc, quyết tâm đánh mạnh vào thái dương, mạnh đến độ hắn bất tỉnh nhân sự. Trong giây lát hắn chỉ còn trông thấy muôn ngàn ngôi sao li ti màu lục, biến dần sang màu đỏ như máu đang chảy trên trán hắn. Hắn cảm thấy hơi nóng phát ra từ miệng rồi hắn ngã xuống nền nhà. Vạn vật thành màu tím thẫm, rồi hết, không còn gì nữa.
Viên đại tá ra lệnh thật hằn học:
– Vất nó lên xe. Một người cộng sản, ngay cả sau khi hoàn thành một tội ác, cũng còn phải phục vụ đảng bằng cách khám phá tụi phản bội khác. Boris đã xao lãng nhiệm vụ. Cái chết nầy gọi là đào ngũ. Cũng không phải là cái chết nữa, nhưng là một tội ác, tội đào ngũ.
IX
Một vết máu trên ngưỡng cửa chiếc lều còn sót lại sau khi chiếc cam nhông đã chở Boris đi. Vết máu đó là tất cả những gì Boris còn để lại đó sau khi hắn đi. Từ hồi ba tuổi đến giờ, hắn đã để lại đằng sau hắn không biết bao nhiêu là vết máu, nhưng là máu của kẻ khác, bây giờ mới là máu của hắn. Bắt đầu từ ngày mai biện pháp canh phòng sẽ gắt gao hơn nhiều. Người ta chôn Natacha xuống dưới một gốc cây như bao nhiêu xác tù nhân trước đây. Mỗi đêm người ta lại tiếp tục chôn người như thế dọc theo hệ thống dẫn nước. Máy bay bắt đầu đến rải hạt giống mỗi tuần hai lần Vladimir Kanayan coi sóc lũ thanh niên trong các công tác sưu tầm. Một hôm, hắn gặp Eddy Thall, người nữ tù trẻ đẹp bảo với nó là nàng có đủ năm tiền vàng. Nhưng Kanayan nhún vai bỏ đi, sa mạc bây giờ được canh phòng cẩn mật, không ai trốn thoát được nữa.
Vài tháng sau, một đoàn xe cam nhông đến chở hết tù nhân đi nơi khác. Kế hoạch thay đổi khí hậu và canh tác sa mạc tạm thời bị đình chỉ.
Chiến tranh đã lan tràn. Nhân lực cần được dùng vào việc khác. Các căn lều được giở đi. Gió sa mạc lại thổi tung cát. Và cuốn theo những dấu vết Sô Viết. Mặt trời lại thiêu đốt hết thảy, thiêu luôn cả những xác chết.
Boris đã để lại một vết máu; kế hoạch Sô Viết thì để lại những xác chết. Vladimir Kanayan lại trở về với cô đơn, với khô cằn và nắng cháy của sa mạc. Hắn tự nhủ:
– Mình thừa biết là không thể nào biến sa mạc thành những khu vườn. Ngay cả nếu chiến tranh không xảy ra họ cũng không thể thành công được. Muốn thành công, họ cần trồng cây trên xác chết nhưng không ai có thể giết người nhiều đến thế để chôn trên sa mạc. Cho dù có dùng máy móc chăng nữa, cũng không ai có thể giết được nhiều người như thế. Họa hoằn là có trời mới làm được thôi.
Trước khi rời sa mạc, Kanayan nổi lửa đốt hết đồn điền. Sa mạc đã có hàng ngàn cây nhưng vẫn cháy rất mau. Kanayan thầm nghĩ:
«Nếu Sô Viết thắng trận, họ sẽ trở lại đây và sẽ lại trồng cây trên xác chết. Người chết được tự do, nghĩa là người chết phải được ở ngoài kế hoạch.»
Lâu nay tôi vẫn theo dõi lời của bà trên mục “Giải đáp tâm tình.” Bà đã dàn xếp bao nhiêu rắc rối nội tâm. Những người nghe bà giờ đây có lẽ đã bình yên rồi. Hôm nay, tôi xin mạn phép tuần tự kể câu chuyện dài đời tôi và mong bà giúp cho đoạn kết.
Vì câu chuyện ấy có liên quan đến những điều xảy ra trong đời tôi sau này, cho nên mặc dù như thế không được khiêm tốn tôi vẫn phải thưa ngay rằng trước đây bốn năm tôi đã từng là một ca sĩ có tên tuổi ở đô thành. Trời cho tôi giọng hát hay, cái may mắn ấy giúp tôi nuôi sống gia đình.
Nhà cũng có anh, nhưng trong hoàn cảnh cần phải hy sinh này, anh tôi lại làm reo đòi cho có một gia đình riêng của anh. Đàn ông lấy vợ khi nào cũng còn kịp; nghĩ thế nên cả nhà tôi kết bè phản đối nàng dâu chưa về nhà chồng. Ai mà ưng được người chị dâu biết gần hết chuyện đời ấy, chị nói chuyện liên hồi trước mặt đàn ông. Chị quá tỉnh táo, không bao giờ để lộ cảm xúc lên mặt hay ngập ngừng im lặng trước nam phái.
Mẹ tôi bảo anh: “E hắn nhai mày.”
Anh tôi nổi cộc. Anh đem cả số tiền tháng lương mới lãnh về chặt hai ra, làm mồi lửa. Anh đành đoạn thoát ly gia đình! Cha mẹ tôi có con trai đầu lòng mà không nhờ được. Gánh nặng trên đôi vai ngang, tôi phải hát đêm ngày. Ở tuổi hai mươi, con gái bây giờ vẫn còn rất trẻ, nhưng lòng tôi thì già đắng lại. Đau buồn trĩu nặng trên mí mắt. Già tự trong lòng già ra. Tôi không có nhan sắc để giúp đỡ cho tiếng hát, cố tránh chuyện buồn để tìm tươi non cho gương mặt.
Tôi theo học nhạc từ năm mười lăm. Trên đầu lưỡi tôi vẫn quen nhảy nhót những tiếng ca rộn rã. Ở chéo khăn tay, trên ngực áo mặc ở nhà, luôn luôn khập khễnh những nốt nhạc vui đời. Gia đình níu nhờ tiếng ca của tôi. Tôi đem hơi ca đổi lấy tiền. Các chị em ở nhà đi ra đi vào mòn guốc, ai cũng đẹp hơn tôi cả. Trổi nhất là Thanh, cốt cách chứa trong cái bằng tú tài. Có người mời Thanh đóng phim. Thanh cười. Nó đang chờ ngày làm bà lớn. Trong cuộc sống thiếu điều kiện vật chất nhưng vẫn trau chuốt bề ngoài, dĩ nhiên chúng tôi va chạm lung tung. Lục đục cãi nhau cả ngày từ khi mặt trời mọc cho đến lúc trăng lên. Gây gổ sa đà mê man, quên cả việc đóng cửa gương đề phòng hàng xóm. Bao nhiêu tật, bao nhiêu tướng trên người đều bị xoi ra hết. Thật là nhìn vào, đời ở đâu cũng đều thấy khổ. Làm con gái trong nhà này như làm tướng cướp. Thanh hét ra lửa, ngọn đón của nó bao giờ cũng độc, hạ liền độc thủ trong nháy mắt:
“Đó, đó là chị, chị Liên của tôi đó. Chừng ấy tuổi mà chưa có chồng. Chị tưởng cha mẹ hãnh diện vì chị lắm chắc. Không đi cho rồi, còn ở nhà báo hại mãi. Vẫn biết chị luống tuổi thì sinh ra gắt gỏng, khó nết, nhưng ai dại gì mà làm nạn nhân cho sự khủng hoảng kia.”
Phần tôi, lập đầu công trong gia đình nhưng Thanh vẫn tìm cách hạ:
“Đồ ‘khôn nhà dại chợ.’ Cái đồ ca sĩ ưỡn ẹo ra hát bị bọn cao bồi chửi vào mặt cũng phải vuốt mà chịu. Còn về nhà thì… thì…”
Tôi tức giận oằn người. Chỉ có cách nói xấu nó với người ngoài mới trả được hận. Ra đường Thanh đẹp, tinh thần cao.
Tôi mắng lại: “Dù có làm chi đi nữa, ta cũng hãnh diện nuôi mi một phần. Mi là cao bồi ở nhà cao bồi vườn, vì mi chửi tao ở đây còn tụi bạn mi ở dọc đường dọc chợ chửi tao trên bục ca. Cân quá.”
Bao giờ gây sự với Thanh, tôi cũng được tiếp sức cả. Các chị ở ngoài mỗi người “thở” vào một câu làm Thanh hao mòn khí phách. Bao giờ Thanh cũng phải đương đầu với một lực lượng. Thanh cô đơn, nó phải khóc cho sự yếu thế của mình.
“Ai cũng có vây cánh cả, chỉ mình là trơ trọi. Hoàn cảnh dồn mình vào chỗ xấu. Chị Hiền, chị là tiên hiện xuống nhà này, chị hái ra vàng mà. Tôi mà đi khỏi cái nhà này, khi khuất mắt cái sào huyệt đàn bà là không thèm ngoái lại, không thèm lui một bước. Chị Hiền, được, cho chị hơn tôi đi, hiện tại bây giờ thì chị hơn đi, nhưng để còn tương lai coi ai sẽ hơn ai.”
Bao giờ cũng khoe vốn! Tôi mong cho Thanh đi lắm. Tôi mong cho các chị mỗi người có một “lối đi đưa đến thành La Mã.”
Thưa bà, chị em cứ xáo trộn mãi nên mẹ hằng ao ước gả trụm cả bầy cho một chàng!
Thời gian làm con gái, chúng tôi sống vô trật tự với nhau; ngoảnh đi ngoảnh lại tuổi ba mươi đã gần kề. Đêm nằm mà nóng gan, nóng phổi. Cha tôi mài miệt xem sách trọn tuổi già để quên lo. Mẹ tôi chơi bài tứ sắc và dạy dỗ con cái. Bà la mắng con nhiều nhất là ba câu, đánh tứ sắc ù được ba ván đầu, còn thì “xỉu” dài. Khi mẹ rầy chúng tôi vài tiếng không nổi, bỏ đi chỗ khác thì lòng nặng trĩu; khi mẹ phủi áo tan sòng tứ sắc thì “túi rỗng không và lòng cũng rỗng không.” Trong truyện Tàu có anh Trình Giảo Kim ráng được ba búa đầu rồi vác đại phủ co giò chạy, bà có đọc “Thuyết Đường” không? Mẹ tôi chắc là hậu thân của tướng Tàu đó. Đánh đâu thua đấy. Mẹ muốn thả lỏng cho chúng tôi tự giác lỗi lầm. Có lẽ mẹ tôi bắt chước J. J. Rousseau mà dạy con, theo gương Trình Giảo Kim mà đánh bài, nên cha tôi mới không giàu sang chăng?
Thưa bà, đó là chuyện trong nhà, còn chuyện ngoài đường nữa. Cái khổ vì nghề nghiệp mới chính là tai ách. Đi nắng về sương, ăn ngủ thất thường, tôi tự ví mình với “kiếp cò ăn đêm.” Thịt xương hao mòn lần. Trời khuya tê cóng, đường phố nằm yên, chỉ còn mình ca nhi thức, lật đật về gõ cửa nhà mình, lau vội phấn son, lên giường nằm trở mình cho đến sáng. Da mặt ít có dịp trở lại tự nhiên, ngày đêm vẫn chà xát kem với bụi phấn lần lần dày và to ra. Hai lá phổi mỏng mảnh của tôi một ngày kia sẽ bở rệt như đôi cánh bướm. Sau mỗi đêm đại nhạc hội, sinh lực chuyền hết ra cuống cổ, tôi phải ngậm sâm cho ngọt giọng. Người đời ác với chúng tôi lắm. Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm hãi hùng đêm đầu tiên ra mắt khán giả phòng trà. Cả một bầy thú rừng la ó, huýt còi miệng, đập phá bàn ghế, tôi co rúm người lại, chới với chụp lấy cổ chiếc micro tìm một chỗ vịn đỡ; bọn ác quỷ rú lên làm sao cho mình dở sống dở chết trên bục ca. Để cám ơn họ mình phải tập trung tất cả sức lực ra hát cho thật hay, uốn người thật dẻo, mỉm cười sao cho lẳng.
Giọng hát độc đáo, kỹ thuật vững chắc, tôi thủng thẳng đi hát và gấp rút thành công. Bà có nhận thấy loài xướng ca của chúng tôi giàu lòng vị tha không? Mặc người ta gào thét, đả đảo, mặc bọn đàn ông thô bỉ xô đuổi người ca sĩ vẫn nhởn nhơ như không, cố đem cử chỉ đẹp nhất ra khoe, nụ cười khéo nhất ra chìu, ra dâng hiến. Bao nhiêu “anh hoa đều phát tiết ra ngoài,” bao nhiêu duyên dáng mặn mòi đều vung vãi dưới ánh đèn màu. Người đời không tốt nhưng mình cứ tốt lại. Mình cần họ, mình phải mất cho họ.
Tôi tuyên bố riêng với các bạn: “Mấy anh chàng ở xa ỷ đông làm tàng… Một khi muốn sống gần với ca sĩ thì chết… Các con của mẹ ơi…”
Tiếng hát của tôi có ngôi thứ rõ rệt. Ngoài lúc trau giồi, tập tành với một vài nhạc sĩ quen thân, tôi còn phải luyện giọng ca, tiếng ngân. Nghe dĩa vừa thích vừa lợi. Tôi còn một phương pháp nhà quê nữa là rúc đầu hát vào lu nước nghe tiếng mình như ễnh ương kêu. Mình phải tập cách dồn ép hơi trong cổ họng làm sao cho lần lần nghe bớt rồ, bớt xốn tai. Đừng để hở cả hai tai, mình phải bịt kín lỗ tai lại để nghe giọng thật của mình. Phải nghe mình hát để sửa cho mình. Sự tập luyện kéo dài suốt đời ca sĩ. Tôi biết chịu thương chịu khó nên được mến chuộng. Có người bảo tiếng hát của tôi như hiểu thấu lòng người, như an ủi; đôi khi nghe như vừa khóc vừa hát. Người đời vẫn thích mình làm nũng với họ, lắm khi thật đáng giận đáng ghét: mình hát cho họ nghe mà họ còn ác với mình.
Một buổi chiều mấy chị em tôi đang sang trọng đi làm, có hai chàng ôm nhau trên chiếc xe Vespa phanh chậm xe lại, nói vào mặt: “Các em của anh bữa nay đi ăn sương sớm quá?”
Một chị bạn phản ứng liền: “Quân hạ cấp, ba người… sáu chiếc gót sắt đâm lủng mắt bây giờ.”
Tôi nhủ thầm: “Mẹ rất buồn khi nghe các con nói thế.”
Càng ngày tôi càng “bay” nhiều ở các phòng trà. Họ tranh nhau mời tôi. Tôi “chướng” với họ đủ mọi điều kiện. Vì thiếu những người như tôi cuộc đời sẽ đình công.
… Rồi sự lạ ở ngoài xảy vào gia đình chúng tôi. Một người mê giọng hát của tôi và mê cả tôi, đêm đêm trực ở phòng trà nhưng không bao giờ thấy tận mặt mặt thật của tôi cả. Người ta đánh tiếng muốn nói chuyện với tôi để tìm hiểu. Đó là một sự huy hoàng và rực rỡ: Tiến sĩ Vật lý. Xôn xao quá! Nhưng khi cái xôn xao đã lắng một nửa tôi mới bình tĩnh lại để nghe kể rằng ông Nghè Vật lý tuổi đã giáp ngũ tuần, tóc mây đã bị thời gian cướp mất một khoanh trên đầu.
Ông đề nghị đến nhà gặp tôi cho biết. Cả mấy chị em cùng đợi.
Cha mẹ tôi bàn ra bàn vào rất nhiều. Mẹ cứ hỏi đi hỏi lại đến mười lần tôi có bằng lòng không làm Thanh phải bực: “Để còn ngắm dung nhan ông ta đã chứ!” Mẹ tôi chắc lưỡi: “Lấy chồng già như hắn bây giờ thì sướng nhưng về sau phải nuôi con mệt. Đợi đến chừng ấy tuổi mới lấy vợ. Mình nên nghĩ đến sau này một chút… cha già con mọn.”
Chị Liên cãi lại: “Ở Mỹ, ở Pháp người ta lấy toàn chồng già. Hơn hai, ba giáp là chuyện thường. Càng so le càng độc đáo. Tình càng già càng bảo đảm…” Mẹ tôi cười: “Cơ chi hắn hỏi con Hoài thì gả liền, cho thêm con Liên nữa, gả một biếu một.”
Thanh cười lộ cả hai hàm răng đều như bắp tươi. Cái lúm đồng tiền thêm duyên trên má bên phải rất sâu. Vẻ đẹp phong phú, khi thôi cười đồng tiền vẫn còn.
Nó nói với tôi: “Bất luận già trẻ lớn bé, ai đáng phục thì lấy. Bọn con nít ở trong nắm tay mình, muốn nắm lại lúc nào cũng được cả. Tụi mình ví như mấy chiếc đò. Đàn ông là những cái neo, neo đò lại, níu đò cho cứng đề phòng sóng gió, mà neo thì phải lựa thứ tốt, bằng sứt hảo hạng, sắt tra…”
Diệu, người chị kế hơn tôi một tuổi, đẹp thua Thanh một ít, hất Thanh ra để khuyên tôi: “Con Hiền có sự nghiệp, thiên hạ đều biết. Mi muốn lấy ai cũng có sẵn. Người tầm thường như tao mới đáng lo… giá trị cứ đánh vào ông chồng… Mi cần chi mà phải ham… Chẳng thà cha mẹ ép rồi mình mới đau khổ mà lấy.”
Diệu thích dạy học, tin ở mình. Chị biết mình đẹp, biết món này, món kia, nên biết giá trị của mình từ mọi góc cạnh. Chị nói rất nhiều lần, cho tôi biết ý nghĩ của chị: “Ai mà lấy tao sau này sướng lắm nghe.”
Một bữa chị nhờ thằng em con dì chở Solex đến trường. Đứa em vùng vằng, Diệu cười với nó: “Thằng này không biết hân hạnh chi cả. Bao nhiêu người sẽ mời tao lên ô-tô của họ. Chứ mi chở tao một bữa đỡ đã…”
Chuyện gì mà vào nhà tôi cũng có thể được bàn bạc suốt năm canh. Tôi muốn ngủ quá rồi, chị Diệu vẫn còn hăng: “Đàn ông bây giờ bần lắm. Họ chỉ cưới ai có nghề nghiệp trong tay. Con Hiền lương to hơn tổng thống… Nhưng… người đàn bà Tây phương có can đảm lấy chồng già vì bên họ có đạo luật ly dị. Chịu lấy ông lão lúc ấy là nghĩ dài sau này còn làm lại, còn tái bản nhiều lần nữa. Mình mà muốn thay chồng thì chỉ có việc trù cho chồng chết hoặc thuốc…”
Thưa bà, chuyện lấy chồng, dù là lấy ông già đi nữa cũng đáng làm mình xao động chứ. Tôi chuẩn bị chờ đón, gọt dũa những câu sắp nói cho trơn láng. Tôi hoang mang không biết ông ta đến thăm vào ngày giờ nào. Và… mẹ cha đã cố tình làm cho tôi vắng nhà lúc người ấy xuất hiện. Thanh bưng khay nước ra mời khách và Thanh đã làm cho người ta quên rằng người ta đến đây là vì tôi. Qua phút ban sơ mẹ và các chị đều hiểu rằng tôi đã bị loại tuy chưa vào bán kết. Những lần mấy chị em rút vào trong nhường chỗ cho Thanh tiếp chuyện với nhân vật mới của gia đình, chúng tôi nhìn ra đôi lứa ấy mà thấy cả một sự sắp xếp lộn xộn.
Tôi trêu Thanh: “Con Thanh tiếp chuyện mệt lắm nghe. Khi không muốn cưới hắn cũng phải bặm miệng cho cái lúm đồng tiền lõm vào. Lỡ quên thì đêm nằm ân hận mãi.”
Sau ngày Thanh lên xe về nhà chồng thì chị Hoài được làm việc với Mỹ, Diệu đi dạy học. Hai phòng trà mời tôi ký giao kèo. Tiền vào nhà tôi như lá mít rụng. Không khí gia đình bây giờ thở ra thở vào thấy khoan khoái lắm. Ngoài số đồ dùng và đồ trang sức thời đại, chúng tôi mỗi người trung bình có hai áo lụa mỡ gà để đi dưới nắng Sagion. (Thi nhân bắt buộc mỗi người con gái đều phải may áo lụa, phải không bà?)
Tôi cần hát cũng như tôi cần thở. Tiếng hát của tôi bây giờ yên một chỗ nhưng tên tuổi tôi nổi dồn dập. Cái khó là tạo được thanh thế ban đầu. Tiếng tăm tôi cứ nhẹ nhàng đi lên như bong bóng khinh khí. Đúng là thời kỳ tôi làm mưa làm gió. Tôi than với các anh nhà báo là không ai chia sẻ thân phận tôi ra nhiều miếng nhỏ để hát được nhiều nơi.
Danh vọng đón rước tình yêu. Một trung úy Quân y, Chinh, đi hỏi tôi giữa gian nhà chật ních bà con bên ngoại. Chinh đến với tôi hoàn toàn lạ hoắc. Và tôi yêu người đàn ông lạ ấy giữa đám đàn ông quen. Các chàng nghệ sĩ tính sai. Ai cũng tưởng đời làm nhạc phải cột liền với đời ca nữ để “anh đặt lời ca nàng đem bán.” Tôi gieo cầu vào địa hạt cao tức là đánh lạc thành kiến của họ.
Chinh cao, to oai, đúng với quan niệm về đàn ông của phụ nữ. Cái bằng cấp của chàng thì cây cối súc vật đều thích. Tôi đã đủ mọi chiều cao ước. Trời đất cùng nhau hân hoan!
Các chị phê bình kín Chính như thế này: “Người cẩn thận, kỹ lưỡng quá… Hí! Chắc là khi cất tiền anh chàng vuốt xếp tờ bạc thẳng lắm, thẳng lắm, ờ ờ, anh chàng đút bàn ủi điện ủi cho láng, cho phẳng phiu, cầm lên hôn một cái rồi cho vào hòm.”
Cái gì ở đầu lưỡi các bà ấy xuất ra cũng trần ai cả!
Tôi nguyện với tình yêu, lúc quay lưng xô ngã cuộc đời con gái tôi sẽ từ bỏ tất cả, xa sân khấu, lui khỏi địa vị một ngôi sao để làm một người bình thường. Tôi sẽ giã từ sự nghiệp đang lên, hy sinh tất cả danh vọng để trọn nghĩa làm vợ. Một người đàn bà không thể vừa giỏi bên ngoài vừa giỏi bên trong được. Vì chàng tôi phải ly thân với nghệ thuật. Tên tuổi của tôi phải chết cho lòng thành quấn quýt bên chàng. Tôi không tự hào mình có ý nghĩ to đáng tuyên bố. Bất cứ nữ nghệ sĩ nào gặp được tình yêu chân thành cũng đều làm thế cả. Đó là ơn huệ tối cao cho đàn ông ở thế gian. Ngoài ra chồng tôi giàu và danh giá, tôi cần chi phải đi làm. Chàng nuôi mười vợ cũng còn dư dả.
Nhưng thưa bà, tôi đã làm vợ chàng trước khi hy sinh. Buổi sáng hôm ấy tôi đến thăm Chinh ở phòng trực. Kinh nghiệm còn sơ suất, đi thăm người yêu mà tôi đánh phấn nụ và mang áo dài nội hóa. Bản tính hiền khiến mình quên cả. Thứ phấn nụ bằng thạch cao nhồi với bột gạo. Chính chỉ cúi hôn xuống hai lần là bay cả màu trắng.
Hàng nội hóa, chuyên môn sống lại khi bàn ủi nguội, chỉ một tay âu yếm của chàng đủ vò nhăn nếp. Hàng mình còn một cái bậy nữa là mau rủ, sợi xạc lỏng ra lần, làm mình lạc quan cứ tưởng bụng nhỏ lại. Tôi thầm nghĩ đời tư mình không có chi để phải xin lỗi người yêu cả. Có bao giờ tôi chương hình mình lên mặt báo hay bìa nhạc; lạnh lùng với ký giả, lập nghiêm với nam nghệ sĩ, không bao giờ “em, em” với các “chú” bạn. Ngôn ngữ vẫn còn tân. Một bài báo chê dáng đi của tôi cực khổ. Đôi vai ngang gánh vác nhiều. Chiếc lưng dài muốn trườn tới trước như để giảm bớt chiều đi lên của bộ ngực.
Niềm vui trong đôi mắt Chinh đón tiếp tôi ở phòng trực. Chàng kéo tôi ngồi bên ghế nhựa. Toàn thân tôi xao xuyến dễ chịu. Chiếc đùi hằn lên trong ống quần satin sáp vào lần vải lính kaki. Bàn làm việc của Chinh nhiều sách chữ Pháp. Dưới mặt kính bàn có ba chữ: dur, pur, sur. Lần đầu đến chơi tôi đã chú ý. Đó cũng là một phần nội dung, tâm hồn của chàng.
Tôi mở sắc lấy nho đút cho chàng. Chinh vừa nhai vừa ngậm những cọng tóc mai trên trán tôi. Chung quanh yên lặng, sổ sách, giấy tờ ngăn nắp. Trong phòng trực có vẻ thân mật ấm cúng như trong phòng làm việc của người chồng trong nhà. Chinh nói chuyện rất ít và có duyên. Tôi nhìn xuống vạt áo dài và hỏi:
“Anh Chinh, nếu dĩ vãng của em hắc ám, nếu có người dèm với anh rằng ngày xưa em phải đi gánh nước, thì anh có tin không? Anh có đi cưới em chăng?”
Chinh vòng tay qua sau lưng tôi:
“Nếu ngày trước em đi gánh nước thì ngày nay anh có người vợ biết được môn gánh nước… À, Thanh đã có tin vui chưa?”
“Mới nghi ngờ.”
Tôi tháo cái khuy bấm cuối cùng của áo dài ra tránh đường xếp nơi bụng mỗi khi ngồi lâu và ngã người ra đàng sau. Chinh nói đột ngột:
“Em đẹp hơn Thanh, chị Diệu, đẹp nhất nhà.”
“Vì mắt anh chỉ thấy em nên không quen nhìn những cái khác dù đẹp.”
Chinh nhìn tôi, nhìn phủ cả người. Cái khuy áo dài bỏ ngỏ. Thứ hàng lót valisère mềm mại như da thịt con gái. Bàn tay Chinh lần đi dạo trên người. Tôi cảm biết những cái rùng mình của da thịt, hất tay chàng ra thì bị níu đứng lên. Hơi thở đổ dồn lên mặt. Bốn cái môi dán vào nhau liên hoan rất dài. Tôi có cảm tưởng thân thể vạm vỡ của chàng đổ trên người tôi. Những khớp xương và gân yếu đi rã rời. Trời đất loạng choạng trước mắt. Tinh thần, ý chí không còn nữa. Nước mắt và mồ hôi ướt mặt. Gia đình tôi không ai hay biết tôi mắc nạn ở đây cả. Tất cả chỉ có hai người, chuyện gì mà chẳng xảy ra. Chinh đi khóa cửa lớn cửa nhỏ và khóa luôn thân thể tôi lại. Thôi, đủ hiểu rồi…
Tai nạn bao giờ cũng kết thúc bằng tiếng tỉ tê của đàn bà. Vết đau đầu tiên có bao giờ lành được. Tôi khóc vì cái quyền làm được mọi sự của đàn ông. Từ đây nhất định đời mình phải dán vào đời chàng. Cuộc sống đã ngã ngũ. Mình vừa ký giao kèo chịu thua.
Những thời gian sau tôi không đến với chàng ở phòng trực. Chúng tôi đi chơi nhiều nơi. Chuyện khó đầu tiên chàng đã được rồi đưa đẩy thói quen cho những lần sau.
Chinh giới thiệu tôi với những người bạn mới. Chàng hướng dẫn tôi vào hát trong quân đội. Tôi ngạc nhiên lắm:
“Anh Chinh, em sắp lấy chồng còn bày thêm hát xướng gì nữa… Em phải lo giải nghệ lần lần chứ… Anh đừng chìu em không đúng chỗ. Vì con sau này, vì anh bây giờ, em phải từ bỏ tất cả nghệ thuật. Em không thèm đi hát nữa đâu.”
“Hiền vẫn hát khoẻ lắm mà.”
Tôi cười:
“Nhưng có chồng thì phải biết coi sóc cửa ngõ chờ chồng đi làm việc về.”
“Em không thông minh một tí nào cả. Yêu em, anh đâu phải ngồi nhìn em, anh phải cảm thông hướng đi của em, anh phải hãnh diện lắng nghe tài nghệ của em tung hoành. Nếu anh nhốt em lại, nghệ thuật sẽ lên án anh. Anh không có can đảm cướp em trên tay nghệ thuật. Anh không xứng đáng làm em phải hy sinh cuộc đời đầy hào quang của em. Anh không có quyền chận đứng danh vọng của em. Bổn phận của anh là thúc đẩy khuyến khích em: anh tôn thờ em để em tôn thờ nghệ thuật.”
Những lời sốt sắng ấy như dán đôi môi của tôi vào nhau. Lặng đi một lát tôi mới nói được:
“Nhưng từ khi gặp anh, nghệ thuật, người yêu cũ của em, đã thấy tự bất lực, thấy thua sức hẳn, nên tự rút lui. Em nhất định ngã trên tay anh… Anh đã thắng trận huy hoàng.”
“Ơn em to quá, anh không dám nhận… Em phải suy tính cho sòng phẳng để sau này khỏi phải ân hận.”
Tôi bỗng bật cười quệt má chàng:
“Nói nghe tuyệt lắm, nhưng sau đừng có ghen nghe ông anh.”
Một đêm đang ca hát, bỗng dưng tôi thấy buồn nôn. Gần đây thân thể có phần hư sự. Vòng eo và dưới eo cành ra. Công việc mấy bộ máy trong thân thể bắt đầu sai, chạy lủng củng như thể phải chứa thêm một mầm sống nữa. Tôi nghi mình đã “bị” rồi, khi bác sĩ Chinh dò lại thì quả đúng. Chàng cưới tôi với một bào thai còn non như trứng.
Thưa bà, đám cưới xong, đêm ngày tôi vẫn tiếp tục ca hát. Chinh thúc đẩy tôi siêng năng đến phòng trà. Chàng không thuộc hạng đàn ông muốn đóng cửa giữ hạnh phúc ở nhà.
Tôi không còn xem việc lấy chồng là một cách tu nữa. Lấy chồng cũng như tiếp tục làm con gái, ca hát liên hồi như lúc xưa. Cha mẹ lỗ, mình còn mệt nhoài người vì đã có một gia đình với một ông chồng. Nghệ thuật và chồng làm tôi tiêu hao sinh lực.
Tôi xin nhắc lại với bà, bất cứ một nàng ca sĩ nào lúc sắp vu quy cũng phải chịu cho nhà báo ít nhất một lần phỏng vấn, đại để: Lấy chồng rồi cô có thôi hát không? – Và muôn câu trả lời như đúc kết vào một: – Đợi xem tình yêu của chồng ra sao rồi sẽ xét sau.
Chinh từ chối sự hy sinh cuối cùng ấy. Chàng chỉ nhận xương thịt của tôi, còn nghiệp dĩ cầm ca nhường cho nghệ thuật. Chinh muốn gửi tôi cho tất cả thiên hạ, chàng không hoàn toàn thuộc về một người. Tình yêu chung chạ thế này làm tủi mặt cả vợ lẫn chồng. Tôi không chịu nổi. Một cách gián tiếp, chàng buộc tôi phải đi hát cho cả thiên hạ nghe. Tôi cảm thấy rõ ràng mình bị cưỡng bách yêu nghệ thuật. Chàng thật độc tài vô lý. Tôi suy nghĩ nhiều đêm và cảm thấy đau khổ như thể mình bị ép duyên. Đã ghét thì không thể sống với nghệ thuật được. Mình đâu phải là vật giải trí lành mạnh. Đi hát mà cũng bị bó buộc như lúc còn bé phải cắp sách cặp đi học. Các bạn ca nhi vẫn tôn lên ngôi hoàng hậu vì chồng tôi biết trọng tự do của vợ. Khi mình đã ớn nghệ thuật mà còn xông xáo vào các phòng trà ca hát nữa là tự đày đọa mình. Thật là hỗn láo. Đứng trên bục ca nhìn xuống đám thực khách nhồm nhoàm vừa ăn vừa thưởng thức, được nghe những câu đe dọa, những lời nhục mạ thô bỉ, tôi căm thù tất cả, đàn ông và chồng. Ánh đèn thay đổi màu sắc luôn luôn trên da mặt khiến mình cảm thấy vẻ giả dối nhân tạo của mình; lòng oán giận vu vơ, và cái thai đang mọc tứ chi ở bụng dưới mỗi lúc cứ thúc nhẹ dạ dày tống những chất chua lên cổ khiến tôi vừa ca vừa lợm giọng.
Hát mà không cần biết đến nghệ thuật, dửng dưng lạ hoắc không chút rung cảm. Tôi trực giác cái đà đi xuống của mình. Biết nhưng không có quyền tha cho mình được giã từ trà thất. Chính mình vật lộn với nghệ thuật, với nghề của mình. Tiếng hát sẽ mất hết căn bản.
Tôi ao ước được ở nhà đợi chồng đi làm về. Tôi muốn sống yên. Cứ tất cả lo việc bên ngoài, vợ chồng thật không có thì giờ để thương yêu, tìm hiểu săn sóc cho nhau. Chuyện phục vụ chồng, thờ chồng đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Không có thời giờ để thực hành những bài “Gia huấn ca” đã học ở trường. Về nhà tự săn sóc cho mình cũng chưa xuể. Mỗi ngày phải mang hai ba thứ mặt nạ dưỡng da.
Nhưng cuối tháng cầm hơn sáu chục ngàn đồng bạc về nhà tôi cũng không tự hào cho cái công dụng của mình. Chinh ăn lương nhà nước có giới hạn ít ỏi.
Chàng đem tiền gửi hết ở ngân hàng. Chúng tôi có dư bạc nên yêu nhau không cần tiền, nhìn nhau mà cùng nhìn về nhà băng. Chỉ nhìn theo hướng ấy chúng tôi mới cảm thông nhau. Nhưng chính hướng đi ấy đã giết chết lần mòn tâm trạng và sự nghiệp của tôi. Một thời gian không lâu nữa tôi sẽ bị chết chìm trong lãng quên và trong sự ruồng bỏ của thính giả. Tôi tiên đoán sẽ nhìn tận mặt ngày tàn của mình nên muốn “rụng” trước cho rồi.
Bụng còn sát, bốn đường nhíp trên áo dài chưa nao núng, tôi còn phải lăn lộn với nghệ thuật. Cha mẹ và các chị giận lẫy tôi về chuyện không vâng lời chồng chịu ở nhà. Ai cũng tỏ thiện ý giúp đỡ Chinh, dành nhau khuyên răn tôi, Thanh tự lấy mình làm gương để trách:
“Không biết đến bao giờ chị mới hết hát. Chị không biết thương cho thân chị. Chị cũng là người sao chị cứ tự hành hạ, cứ hạ mình cho thiên hạ giải trí. Đúng là đem bán linh hồn cho người ta chơi, người ta thưởng thức. Ngày nào cũng cứ bêu mặt trước công chúng, quá nhẹ thể. Em thì em ở nhà hãnh diện với địa vị của chồng em. Còn chị đau khổ cho đàn ông hơn là chỉ nắm được thể xác của vợ còn tâm hồn thì ‘muôn sự của chung.’ Chị là người của ngoài đường. Ai muốn thương chị cũng được, ai muốn nói hỗn cũng được. Chị coi em, lúc xưa em định học tới cùng. Lấy anh Thân rồi em cũng còn đi học nhưng một hôm em nghĩ lại mình còn đi học là chưa thương chồng lắm, tội cho chồng, chẳng thà đi làm để giúp đỡ thêm…”
“Nhưng ca hát cũng là một nghề.”
“Nghề chi không đứng đắn, không có tôn ti trật tự chi cả, nghề ăn sương tinh thần. Nếu chị cứ đi dạy học hay làm thư ký thì có ai phàn nàn. Chị nghĩ coi, anh Chinh cao thượng, hiền lành. Sao chị không cho chuyện lấy chồng là hết. Chồng là tất cả… còn có chi hơn để mình mơ ước. Đi hát bị tai tiếng suốt đời…”
Dù muốn dù không, khi bụng lồm cồm tôi cũng phải ở nhà. Nghỉ hát khoẻ người như ngày nào uống thuốc. Da thịt đâm chồi ở những chỗ khuyết trên thân thể.
Trên bàn làm việc của Chinh vẫn hàng chữ dur, pur, sur. Chàng có đến ba đức tính chính, không kể những cái phụ tùng khác trong khi tôi chỉ có lòng thành yêu chồng. Trong thời kỳ dự bị sinh đẻ, tôi rất sợ phải ngửa tay xin tiền chàng. Tiền chẵn ngân hàng giữ hộ, còn tiền lẻ tiền riêng đã cạn từ lâu. Vì tự ái, vì e ấp tôi chỉ cho thai nhi những cái mình có thể. Quà biếu cũng tạm đủ dùng. Con tôi chưa ăn nhờ chi của cha nó cả.
Đến ngày con tôi phá vỡ lòng mẹ để ra ngoài, Chinh đi công tác trạm xa. Mẹ, các chị em và anh rể dìu tôi vào quân y viện. Mỗi người nịnh một câu cho tôi quên đau nhưng tôi cần một người, cần hai vòng tay ân ái để lấp khỏa những đau đớn tày trời do đứa con đang làm dữ bên trong. Giờ phút ra đời của thai nhi là một cuộc động đất trong lòng mẹ. Tôi cần một bả vai thân yêu để cắn, để cào trả thù những giờ phút sung sướng. Mắt tôi mờ lệ và mồ hôi. Mẹ đưa cho ngậm một lát sâm, tôi cắn cả tay mẹ. Đứa con đang xé rách bào thai, đang xô ngã chỗ cưu mang nó để mau ra đời. Nghĩ đến lúc Chinh tìm tôi, tìm đến cái khó nói nhất của thế nhân, nghiến răng bóp chặt cánh tay anh rể và nguyền rủa:
“Đồ chó…”
Mẹ tôi lau mồ hôi cho tôi và can:
“Xấu con… gắng chịu một chút.”
Qua một đêm lộng hành, sáng hôm sau thằng bé mới ra đời. Tiếng khóc lọt lòng của con là bản hùng ca đầu tiên đời làm mẹ của tôi. Tôi mỉm cười, khi anh rể vào thăm tôi khoe:
“Để em chọc cho nó khóc, giọng tenor khá lắm.”
Chinh chưa về chào đón con. Tôi muốn kể với chàng nỗi đau đớn chịu đựng đêm qua.
Anh rể đánh điện tín ra Huế cho mẹ chồng tôi. Mẹ Chinh vào đến nơi mà chàng vẫn chưa xong công tác. Bà đến thăm dâu với một người bạn già. Mẹ Chinh còn rất trẻ. Nhan sắc vẫn còn giữ được ở khuôn mắt, sống mũi, tái gái cũng còn có người yêu được. Vuốt ve thằng cháu đích tôn, bà quay sang bà bạn:
“Chị coi dâu tôi ngoan chưa. Đám cưới vừa xong, thiệt hút chưa tàn điếu thuốc Cẩm Lệ đã đẻ rồi.”
Bà kia tiếp liền:
“Thế là chị phúc hơn người ta chứ sao.”
Thử xong hai câu nói trên, qua mười lăm phút tôi mới biết trong người thiếu máu sản hậu.
Mẹ Chinh ra Huế liền. Hơn một tháng sau thì chết vì đứt mạch máu cổ. Đúng là có phúc, vì tôi không sinh sớm thì bà đâu thấy mặt cháu nội.
Cháu bé quấy lắm. Cháu lộn ngày với đêm. Từ mười giờ tối trở đi cháu thức dậy rầy rà cho đến sáng. Ban ngày thì nhắm tít hai con mắt lại; ai đến thăm cũng nhằm lúc ngủ. Cháu là thằng Viêm. Viêm được hai tháng thì thôi khóc đêm. Cặp mắt bây giờ nhiều lúc biết nhìn theo một chiều hướng. Thỉnh thoảng cháu đưa hai bàn tay bé xíu của mình lên ngắm mãi không biết chán. Viêm không phá nữa, tôi phải lồm cồm trở dậy đi hát. Áo dài phải may lại vì thân thể nở to ra. Những đường cong lún vào thịt.
Thưa bà, đứa con ra đời làm tôi sạch cả vốn liếng. Giọng hát vàng son tắt đi nghẹn ngào. Âm thanh của ngày xưa đã vỡ rồi, khí giới không còn nữa. Bà thử tưởng tượng một danh ca bỗng dưng mất giọng, gái giang hồ mất nhan sắc… cuộc đời cũng bệ rạc như nhau. Tôi chết sớm quá.
Bây giờ tôi hát tạm được như những giọng ca sản xuất từ đất Huế. Nhờ uy thế cũ của một thời ngang dọc, tôi chỉ hành nghề ở một phòng trà nhỏ với số lượng ít ỏi. Quá khứ bị tổn thương nặng quá. Tôi lấy biệt hiệu khác. Người ta còn nhắc nhở đến tôi một thời gian tỉ như khi một vì sao rụng đi ánh sáng còn xuống trần gian vài năm mới tắt.
Tôi cần tiền ghê gớm, cũng như lâu nay vẫn đòi tự lập.
Chinh thì đi công tác cả đời. Chúng tôi sống hòa bình nhưng không có ánh sáng hạnh phúc. Mỗi người nghĩ mỗi ngả.
Thằng Viêm được một năm rưỡi thì Chinh đi Pháp tu nghiệp. Mẹ con tôi sống lạnh lẽo với người con gái giúp việc. Ngày tiễn chân Chinh đi xa có mấy chị em và một người bạn gái của gia đình. Sương, bạn của Thanh, thân với chúng tôi như ruột thịt.
Tôi quên nhắc đến Viêm. Đầu tóc da thịt của cháu thơm mùi con nít một cách dễ thương lạ. Cháu tròn và nục như thằng bé quảng cáo sữa Gugioz. Bà mà thấy thì thương liền. Chỉ tội nước da hơi xấu, chắc là sán. Trẻ con vẫn thường bị sán hành. Con ở hay bồng Viêm ra nắng. Một buổi tối đi trình diễn về thì Viêm nhác chơi, nóng nóng giẫy, tôi hoảng hốt bồng con thức suốt đêm. Sáng tôi vội vàng viết thư cho Chinh kể nỗi lo lắng. Hơn một tháng sau mới có thư ở Pháp về. Đại ý bức thư: “Con đau là chuyện nhỏ nhặt. Đàn bà lo chuyện ấy không nổi sao mà còn quấy rầy, không cho chồng yên tâm tu học phương xa.”
Quả thật tôi chưa đủ điều kiện làm đàn bà. Nếu đủ sao còn bị chồng khinh. Tôi đốt bức thư giấu cảnh bạc phước với chính mình.
Vái trời trả cho tôi vốn liếng ngày xưa, cho tôi tìm lại phong độ cũ. Tất cả không còn nữa nên hạnh phúc mới thẳng cánh bay. Tôi muốn đoạt lại thanh sắc nguyên vẹn ban đầu và sẽ cố gắng trau giồi sự nghiệp để đứng trên địa vị cao ngất của mình nhìn xuống và để ngửa mặt mỉm cười hào quang danh vọng. Chỉ có cách ấy mới trả thù được. Phải rực rỡ như một tinh tú, phải cao hơn chồng, phải có sau lưng hàng ngàn kẻ ái mộ.
Hiện tại héo hắt quá.
Bụng của Viêm tích được nhiều sán lãi rồi. Tôi mua chai thuốc tẩy ruột. Viêm phải ăn ngọt đến ba ngày. Ngày thứ nhất tôi cho nó uống làm bốn lần cách nhau một buổi cháo đặc với đường phổi. Hai ngày sau, vì bận tập dượt theo chương trình đại nhạc hội, tôi giao chai thuốc cho người ở, dặn di dặn lại phải coi đồng hồ, cách hai giờ cho em ăn cháo uống thuốc. Đứa con gái ham trai, rót ụp cho con người ta uống cả một lần. Mấy trăm con sán lãi trong bụng thằng bé say thuốc quấy phá ruột gan để ra ngoài một lúc. Từng nùi, từng nùi sán đũa chui ra hậu môn. Chúng bò ngọ nguậy chọc thủng dạ dày. Chúng thoát bằng mọi ngả, trồi lên miệng, bò ra lỗ mũi, chui lên cửa hai mắt, bóp nghẹt con tôi tím bầm cả người. Ngồi trên taxi đến nhà thương tôi gào khóc, tôi móc giun lãi trong cổ họng Viêm, ghé miệng hút những con sán trong mũi. Sán ra bít lối làm con tôi tắt thở dọc đường. Tôi chết giả trên nệm xe. Thưa bà, đau chi mà chết cho cam.
Tôi viết thư cầu cứu Chinh che chở tinh thần, van xin tình thương để dằn nỗi khủng hoảng.
Chinh trách tôi bất cẩn, thiếu ý thức bổn phận. Chàng đau đớn không muốn về nước. Chàng sợ hậu quả tai hại đã cưới vợ nghệ sĩ.
Nhưng rồi Chinh cũng trở về và chúng tôi sẽ sống hai người hai nỗi cô đơn cho hết kiếp vợ chồng trong căn nhà rộng thênh. Ngày giờ kế tiếp nhau buồn. Căn nhà thiếu hạnh phúc yên lặng như bệnh viện, thỉnh thoảng mới vang tiếng cười của Sương. Từ khi Viêm chết, Sương hay đến ăn cơm với chúng tôi.
Tôi cần Sương đến nhà chơi. Chinh ít lầm lì. Sương tuyên bố: “Chỗ nào có Sương, mọi người không được buồn.” Sương bắt ai cũng phải cười theo nàng. Nhưng Sương sống cẩu thả bất cần như thể mình không phải là con gái, học hành phất phơ cho có lệ. Tâm hồn chai lại, hết mơ ước, không còn muốn nói xấu ai nữa nhưng tôi vẫn nhột nhạt trước tính táo bạo của Sương. Ngày hiệp kỵ gia đình, trước tinh thần nghi lễ và bao nhiêu nhân vật cũ, Sương cứ đi theo trêu cha tôi. Ông cụ lúc này thường hay đeo kính đen trong nhà, thứ kính mặt rất nhỏ như hình con mắt:
“Bác đeo gương nhỏ tí ti hấp dẫn quá, trông như cháu mặc đồ tắm deux pièces.”
Lúc này Chinh không còn yên lặng trong cách đối xử nữa. Chàng có những câu nói xé đầu óc:
“Hiền phá hư cuộc đời của tôi, phá lở toang cả. Lột tước giọng ca ra khỏi con người thì còn lại chi? Hiền chỉ còn là một xác phàm, thua hết, thua hết cả mọi người. Con người của Hiền có chi, nuôi một đứa con cũng để cho chết… Vợ tôi chỉ là một cái xác phàm.”
Tôi nói rõ cho chàng biết:
“Anh không cần nói tôi cũng hiểu từ lâu. Thái độ của anh, cách đối đãi của anh đối với tôi từ trước đến giờ đã giảng nghĩa quá nhiều rồi. Khi cưới tôi, anh chưa cân nhắc kỹ lắm. Cái vốn liếng của tôi làm sao bền vững, làm sao dai cho bằng những cái chỉ số lương cao của những người vừa học giỏi, vừa đẹp vừa con nhà, sắp hàng lấy chồng la liệt trong xã hội. Tôi biết anh lấy tôi không phải vì thanh, vì sắc, vì chi tiết khác của con người nghệ sĩ… Bọn xướng ca vô loại của chúng tôi có bao giờ giữ tiền được lâu, làm ra dễ, mất dễ. Cái tài trời cho tôi cũng mong manh như bọt xà phòng, một thời thôi, sống đó, chết đó. Khi đã tuộc dốc thì lăn ù, tuột thẳng, tuột một mạch. Tôi bây giờ hiện nguyên hình tầm thường, rẻ mạt, hết thời. Tâm hồn của tôi, nếu có, thì cũng bị đe dọa quá rồi, con chết, sự nghiệp tan tành. Anh Chinh ạ, chính lúc này, lúc cái tinh thần yếu đuối của tôi cần được nâng đỡ, mơn trớn xoa dịu, lúc này tôi cần tình thương gia đình, cần anh, bấu víu anh, khao khát tình thương của anh, nhưng lại chính là lúc tôi phải chịu tội, phải trả, chịu trách nhiệm về những cái tội đã để mất nó. Và anh, từ lâu, anh vẫn thi hành cái bản án trừng phạt đó. Tôi làm hư đời anh, tôi đâu cố ý.”
Tôi nói một hơi dài, nước mắt trào lên nghẹt mũi.
“Nếu tôi không lo đi làm tiền, nếu tôi được yên thân ở nhà như bao nhiêu người vợ khác thì Viêm đâu có chết oan… Từ khi lấy anh lúc còn thời, còn giọng, tôi đã bất mãn về việc đi hát, tôi cảm thấy như bị ép buộc phải hiến dâng khoái lạc tinh thần cho thiên hạ.”
Chinh nghe nói cũng buồn lắm. Tôi mất ngủ mấy đêm liền cứng hai mí mắt. Sương đến ăn cơm tối và đòi ngủ lại. Hắn đeo hai chuỗi hạt lòng thòng đến bụng như ca sĩ. Sương lục tung những đồ trang điểm. Áo ngủ của tôi cái nào Sương mặc cũng chật. Khi hắn cởi áo dài bên trên thân thể chỉ còn mặc một chiếc nịt ngực không dây treo như “đeo gương mát” (lời Sương) thì Chinh đi vào. Cả Chinh và Sương đều tỉnh như không.
Khi ăn cơm Sương nói chuyện lảy lảy. Tối hôm ấy tôi quên cả lịch sự không ngủ với Sương cho có bạn. Sương nằm phòng ngoài nói chuyện vào. Tôi nằm bên Chinh thao thức câm nín. Chừng một giờ khuya thì Sương vùng dậy gõ cửa phòng chúng tôi thình lình. Hai vợ chồng hốt hoảng trở dậy. Tay níu áo khép ngực, miệng Sương nói thật thà đến trắng trợn:
“Em sợ cô đơn – cho em nằm ngủ chung với anh chị…”
Tôi trợn mắt xô ngược Sương ra ngoài:
“Giỡn vừa thôi.”
Đứng ngượng ba người với nhau vài phút, tôi lật đật kéo tay Sương, lấy gối đến nằm với hắn.
Một hôm đi công tác về, Chinh cầm tay tôi bảo:
“Có tin mới cho em… tin lành…Vì em chán sống ở Saigon rồi nên anh đã xin về Huế làm ăn. Sống ở đó yên hơn. Cái mòi này, ở đây mãi chắc em chết yểu. Anh chỉ còn đợi giấy tờ thuyên chuyển và sự vụ lệnh là bay ra Huế liền. Sương có ông cậu lập một trường mẫu giáo ở Vỹ Dạ. Anh nhờ Sương viết thư xin ông cho một lớp. Em thu xếp ra Huế trước giữ chân, không có người ta giành. Anh phải ra sau vì còn đợi giấy tờ. Em hát hay, thích hợp với nghề. Dạy con nít vui lắm em à, tiếp xúc với tụi ấy mình thấy yêu đời, yêu nghề.”
Thưa bà, khi cánh tàu bay lìa mặt đất, từ từ nhướng lên, cúi xuống Saigon lần chót, nhìn những người dưới đất làm nền cho cảnh biệt ly, mắt tôi bỗng vướng phải hình ảnh Chinh đứng bên Sương, rất xứng đáng. Tôi lạnh người cảm thấy chắc chắn mình bị phỉnh. Cảm giác tức tối bẽ bàng như sa mù phong kín tâm tư làm tôi không thấy gì nữa. Nước mắt lặng lẽ chảy một đường nhỏ dài xuống hết mặt; tôi nuốt những giọt sắp xuống bên trong mũi và ngồi yên như những người khác. Sắp đặt không cao chi cả mà cũng dụ được mình. Người ta đẩy tôi ra bằng một miếng mồi tầm thường. Có những chặng đường nặng mây, tàu bay chao mũi, tôi ậm ọe nôn mửa. Một bà người Huế bên cạnh bảo:
“Đi máy bay lần đầu phải không chị?” Tôi luận điệu. Cổ họng lợm mãi. Nước vàng vọt ứa ra. Có nên tin rằng chuyện buồn nôn là một triệu chứng vui.
Tôi ở nơi nhà xưa cũ, cột kèo choán hết diện tích. Nhà rộng thênh thang gió vào bốn ngả. Thời tiết Huế nặng như chì. Đôi lúc trời thật mâu thuẫn vừa nắng vừa mưa. Chiều chiều, những ngọn gió nồm thổi trái phương làm mình ngái ngái trong người.
Thưa bà, cần chi, có chi đó mà trở lại. Huế với Saigon có bao lăm, muốn bay về lúc nào chẳng được. Quay lại làm gì. Miễn cưỡng ghép hai cái xác không hồn vào nhau để khinh bỉ nhau suốt đời sao? Lý hay tình chi cũng bỏ hệ thống. Cứ cho đấy là chuyện ly thân mà pháp luật là đôi tâm hồn tự làm chứng lấy. Tôi nhất định sang tên chồng cho người khác, cúi đầu sống cho mình.
Nhưng thưa bà, tôi không phải cô đơn rõ ràng như vậy thiên hạ có cười không? Họ có cho là quá dại không? Tôi xin bà một quyết định: về với chồng, ở lì đất Huế, hay quay lui lại sống cùng cha mẹ? Bà đã thu xếp việc nhà cho bao kẻ mất hạnh phúc, xin bà giúp tôi một chuyến. Xin đội mãi ơn bà.
Tôi nhớ tất cả mọi sự vật vừa hiện ra kia mà. Tôi cũng nhớ là mình rõ ràng có cắn một trái đào giữa bầu trời hồng bên cạnh một giai nhân kỳ diệu… Sao lại thế nầy, tôi lại đứng chơ vơ ở trong cái bóng cây chôm chôm nầy. Oi bức quá. Tôi cởi phanh áo nhìn ra bốn phía. Ô hay, nàng bỏ tôi? Nàng có thật chăng? Miệng tôi còn thơm tho, tôi còn nghe rõ, thở rõ thật đậm đà làn hương nhẹ nhàng nồng ấm của nàng bốc ra. Ở chốn thị thành nào, tôi có thể quay về chứ? Tôi phải trở lại chứ? Đường nào để trở lại đây! Tôi chơ vơ, một hình một bóng. Cái thế giới thần kỳ đâu rồi? Ở phương xa, ồ lạ lùng ghê gớm chưa, một bầy diều hâu đang bay lên. Tôi chả lẽ đứng đây mãi sao? Nàng đã dùng một thứ ma thuật chăng? Bỗng dưng tôi nghe văng vẳng bên tai, tôi thấy mường tượng trước mắt hình ảnh tuyệt đẹp, lời vọng thiết tha của nàng – Hỡi chàng hãy đến em, hãy tìm em… Đường đi dù gian hiểm, nhưng nghị lực của chàng sẽ thắng, linh hồn chàng đủ bình tĩnh và lên đường… Chàng hãy tìm đến em để sống trùng phùng trong giấc mơ vạn đại của chúng ta… Chàng hãy từ bỏ trần gian mà lên đường, nơi gió cát không phải là cõi trú của những linh hồn trong sạch, hãy lên đường chàng ơi. IIãy yêu em, tự ngàn năm qua em vẫn chờ đợi khắc khoải ở trong tòa cổ tháp cô đơn nầy.
Rồi hình ảnh tòa cổ tháp mường tượng ở phía chân trời xa tiếng nhạc thiều huy hoàng trời và một màu trời hồng lam lớt phớt bao phủ một vùng. Hình ảnh Nữ Chúa càng lúc càng xa xôi mờ dần cùng với màu sắc nhẹ nhàng đó trước mắt tôi. Và tôi nhìn rõ thấy hình bóng một lằn chớp đang soi qua đám bụi mờ còn lại. Lằn chớp ở hướng mặt trời lặn trên một vùng sỏi khô cỏ cháy, màu đất cằn cỗi xám xệt như da người già cả.
Tôi vội mặc nhanh chiếc áo. Mồ hôi vã ra từ ngực như vừa tắm xong, tôi theo đuổi lằn chớp trước mặt. Càng lúc hồ như tôi càng quay trở về… mặc dù tôi tiến bước. Trên đường đi càng nhanh, tôi cảm thấy đường về càng gần gũi. Có lẽ tòa cổ tháp không xa, vì lằn chớp cứ xoắn tít phía chân trời Tây, và bước chân tôi đà vững vàng tiến mạnh. Tôi chưa chồn chân mà lẽ nào tôi không thể đến được cái xa vời huyền ảo đó, cái cõi mà rõ ràng tôi chiêm niệm được vài lẽ buồn vui hoặc đã cảm thấy lạ lùng vì chứng kiến bọn trần gian mê muội nọ. Tôi biết họ câm lặng, họ mê muội có lẽ nào tôi cũng mê muội như họ hay sao?
Chiều xế bớt sức nóng, tôi nghe bụng đói. Cái đói thường ngăn chặn và làm trở lui nhiều bước tiến, tôi hy vọng rằng ở cái hướng tôi đến, trên đường sẽ có nơi trọ, sẽ tìm được thức ăn. Lúc đói cồn cào tới tôi chợt thấy hối hận lúc lên đường tôi không hề chuẩn bị mang theo những đồ vật cần thiết, hoặc gạo hoặc muối hoặc lương khô. Đi giữa đường mình mới thấy cần thiết những thứ ấy vô cùng. Mệt nhoài tôi muốn đặt lưng xuống, ý nghĩ mông lung cứ xoắn trong điều tôi. Những ý nghĩ về nơi đặt lưng nằm xuống hơn là những thôi thúc bước nhanh.
Khi tới một làng nhỏ ở cận quả đồi trọc, tôi thấy xa xa có một vườn đào xanh um. Vườn đào mọc giữa bãi cát nóng, tôi chợt nghĩ ngay đến việc gặp gỡ nàng. Hy vọng có lẽ đó là nơi mà tôi tìm đến. Cái vườn đào giống như vườn đào đã biến mất trong thế giới kỳ ảo của nàng. Tôi cố nhướng đôi trong mắt đã mệt mỏi lên để nhìn rõ hơn, Trong cây lá đó, làn gió thổi rào rào. Gió như mang đến niềm tin, gió như nhắn gởi, gió như thúc giục mình mau bước đến. Tôi lần theo bước người đi trên cát. Có lẽ ở đây có người, những dấu chân nhỏ như dấu trẻ con hay phụ nữ. Có lẽ họ vừa mới qua đây, họ để lại dấu chân trên cát.
Chung quanh tôi ngoài khu vườn đào rậm tôi không thấy bóng dáng nào nữa cả. Tôi lại lo âu, tôi lại thấy bơ vơ. Tôi cô đơn lắm. Ở phương xa, bóng tối hầu như những khu rừng cây sầm uất, bao phủ không còn thấy gì, dù là hình ảnh của ký ức, hay tưởng tượng mà ra. Tôi chợt nghĩ tới một cơn bão, có thể xua đẩy tôi nhanh hơn. Tôi nghĩ tới ánh sáng. Tới ánh sao. Tới mặt trăng và mặt trời. Rồi đầu óc tôi điên mê. Lúc tay tôi với vào một nhánh cành rậm, tôi nắm chặt cho khỏi ngã, nhưng kỳ thực thì tôi đã ngã chúi xuống cát. Tôi cố nhìn lên lờ mờ những quả đào lộn hột, không như thứ đào hồng mơn mởn mà nàng vừa cho tôi hưởng… Dù sao cũng đỡ dạ được. Tôi đưa cả hai tay, tôi chới với ngồi lên. Nhưng đành chịu thôi. Tôi đã kiệt lực… và mơ thấy hình bóng nàng. Nàng đổ nước lay tỉnh và cho tôi ăn một trái đào. Tôi nhớ những ngón tay nuột nà kia và lời sầu hận, xen lẫn lời trao gởi hứa hẹn một niềm yêu đương lạ lùng, hình ảnh sùng diễm đó, không… không bao giờ tôi thấy được lại cõi trần nầy!
Lúc đưa tay nắm được bàn tay nàng, tới lúc sắp sửa ghì chặt lấy vòng lưng, lúc sắp kề môi lên môi, ma mịn màng nọ, nàng đã tan biến, và tôi đau xót thấu tim gan. Tôi gọi to, chới với và hồi tỉnh.
Một bàn tay sạm đen nhỏ, rất duyên dáng của ai vừa khép lại chiếc cửa sổ, như đóng khung nơi tôi nằm. Tôi chưa chết ư? Tôi thấy khát nước và tội gọi lên. Tôi gọi giữa hoang vu. Ôi tiếng gọi tự nhiên chua xót vô cùng. Hỡi loài người, tôi đã bỏ người, tôi đã khinh người, tôi đã định hủy diệt tất cả những tính chất người của tôi mà đi, mà lên đường tìm nàng. Nhưng giờ phút nầy, tôi kêu gọi… tôi quá cô đơn rồi người ơi! Tôi quá khao khát nước. Tôi kêu gọi nhưng biết gọi ai đây! Giữa hư vô… Tôi nghĩ thế.
Thoạt cửa phòng mở, một người đàn bà hiện vào nói to:
– A, ông nầy đã tỉnh rồi! Bà ta nói dường như để mọi người ở ngoài cải căn buồng nầy biết. – Bà làm ơn cho tôi chút nước. – Ông nằm yên đề tôi lấy cho. Nằm tĩnh dưỡng nhé ông. Một lát sẽ có cháo cho ông dùng lại sức. Tôi bỗng ứa nước mắt gật đầu. Tôi khát quá, nói giọng khao khao có lẽ bà ta không nghe, nên tôi thều thào lại:
– Xin bà cho tôi chút nước… khát lắm. Người đàn bà nghe rõ vội chạy đến bàn rót vào một cái tô lớn, mang đến: – Đây ông dùng, nước mưa lâu năm đó. Tôi ực xong tô nước, gật đầu cán ơn, định hỏi xem họ vực tôi vào đây đã từ bao lâu và bây giờ đã mấy giờ, nhưng ê chề mỏi mệt, tôi đành im bặt, cố giữ lại sức.
Trong phòng yên tịnh tôi cố giữ bình tĩnh lắm mới nằm yên được, khỏi chồm dậy. Vì tôi biết nếu tôi chồm lên tức thời sẽ ngã xuống ngay, tức thời sẽ tăng gia mệt mỏi. Tôi ráng đề tâm trí yên nghỉ. Không dám nghĩ đến màu sắc của lằn chớp rực, vì nó sẽ hiện lên khuôn mặt kiều diễm của nàng. Nó sẽ thu hút tôi trỗi dậy, lên đường trong lúc còn mê mệt. Nàng ơi nàng đẹp lạ thường! Lạ thay tôi không thể nào chợp mắt được yên tĩnh sao. Nàng, bóng dáng và thế giới thần kỳ nọ cứ hiện ra chập chờn uyển mộng! Để xua đuổi những uyền mộng vô cùng đó tôi mở mắt nhìn ra ngoài cái kẽ hở của vách phên. Tôi thấy chập chờn vài tia sáng nhạt, tôi cố nhìn nhưng nó biến mất. Tôi cố tìm nhưng hầu như là đốm bay, vừa chợp tắt đã xa xôi, trả lại cái mênh mông vô cùng của đêm tăm tối. Thời gian lúc nầy thật cần thiết cho tôi. Tôi nao nức muốn hiểu đã mấy giờ đêm, và bao lâu nữa tôi mới được thoát khỏi nơi u tối nầy, thoát khỏi cái vùng bóng tối miên man. Tôi nghĩ về những con đốm bay. Ờ, có lẽ một giây phút nào đó ta hóa thành đốm bay ra ngoài dạo chơi với cây cỏ, có lẽ thú vị biết bao nhiêu!
Nhưng đốm đã bay rồi. Nó không mang lại ánh sáng. Tôi yếu đuối, tôi cô đơn và không dám gọi. Tại sao tôi không dám hét lên. Hay là… Ồ, tại sao họ bỏ mình nằm trên giường nầy và không cho mình một ngọn đèn sáp nào cả. Họ sống âm thầm đã quen, mình đâu có thể sống âm thầm như thế được. Họ phải thông cảm một kẻ cô đơn chớ. Một kẻ đau yếu, một kẻ lạ lạc đến phương trời, đến khu vườn của họ chớ? À, mà lạ chưa, sao ta lại oán hận họ? Họ đã cứu mình mà. Họ muốn cho mình ngủ yên đây mà. Trong bóng tối, ngoài ánh sáng có khác nhau gì đâu đối với họ. Chỉ riêng có ta thôi, căn phòng sao bịt bùng quá đỗi, thu hẹp buồng ngực thở của ta. Mấy giờ rồi ? Ta muốn biết lắm! Sao thế kia, ta không yên được, ta còn thở đây mà, ta còn biết đây mà, nhưng cái biết hư vô tràn ngập thật vô ích mà thời gian hiện hữu thì quá mơ hồ, ví mà ta biết bây giờ một, hoặc là hai, hoặc ba giờ khuya, ta đỡ xao xuyến vì thao thức biết bao.
Hình ảnh người Nữ Chúa lại hiện lên trong trí não ta. Lẽ mầu nhiệm nào đó? Có lẽ là kỷ niệm chăng? Kỷ niệm của những giây phút thần kỳ đã hiện lên một lần tạo thành viễn ảnh xa xăm, tạo thành giấc mơ xao xuyến mãi linh hồn. Hình ảnh của nàng phủ vây ta trong bốn bề u tịch nầy như hình ảnh của Thượng Đế soi rọi, hiện khắp nơi trong niềm tin mãnh liệt của loài người. Ta cứ chập chờn mê loạn mãi, giữa trần gian mạc… giữa cây lá xanh um, hay giữa khoảng không gian nào ngoài cõi đời, ngoài kiền khôn ta còn bắt gặp được thế giới của nàng lại. Cái thế giới kỳ bí kia, ta chưa tường tận hiểu biết, ta chưa nghe rõ âm vang lạ lùng, ta chưa hiểu sự thật… A, có lẽ hình ảnh chói lọi của nàng đã mờ đi đã xóa đi thật nhiều sự thể mà khối óc ta cần biết, tính tò mò của ta cần được thấy rõ ràng. Và cả nàng nữa, ta chưa hiểu rõ lai lịch nàng ra sao, và cái vòng hào quang bao phủ quanh nàng có phải chăng là một màu huyễn hóa cả. Cho tới lúc ta nghe vọng một tiếng gà, tiếng gà báo bình minh thì ta mới yên lòng ngủ được. Nhưng tiếng gà báo hiệu bình minh giữa mê tâm nầy lúc nào sẽ gáy vọng. Ta đã mường tượng nghe đâu đây, nghe từ plhương trời Tây… nghe tự hướng Đông, không đúng và không phải? Đó chỉ là giọng cú rúc chứ không phải tiếng gà. Ôi tiếng gà bình minh bao giơ trỗi lại, bao giờ đôi cánh vỗ, đôi cánh tả hữu cùng vỗ một lần… để cho giọng gà kia gáy vang lên giữa vườn đào nầy… gáy vang lên giữa căn phòng tối nầy, gáy vang lên trải dài tiếng ngân trong lòng sa mạc mênh mông nầy? Chưa, tiếng và chưa vọng lên, và đôi cánh gà chưa vỗ lên… Đôi cánh vỗ thì cát bụi sẽ mù mịt, tất nhiên là cát bụi sẽ mù mịt trước rạng đông, trước giọng gáy vang đó, rồi vẻ bình minh sẽ hiện lên chan hòa.
Ta ao ước ngủ một giấc ngon lành. Thao thức mãi thế nầy sao hỡi nàng, sao hình bóng của nàng ám ảnh mãi lấy hồn ta. Ta bị vây phủ bởi hào quang với mùi hương sùng diễm kia rồi… ta sắp choáng ngợp đây và… Ô kìa cái lằn chớp.
Bây giờ thì ta mở mắt thực sự đây, tất cả mọi cửa sổ đã mở toang, khí trời oi bức quá, làm sao đây, ta lại khát, ta lại đói, thân thể ta mỏi nhừ và mộng ảo của ta đã tan biến đi đâu cả. Ta cố gượng dậy. Dù sao cũng phải cố gượng dậy chớ? Ta một mình mà. Ta có bạn bè đâu, ta có thấy ai đâu. Cát nóng hắt vào mắt ta, gió nóng lùa vào ngực ta, bụi nóng bay mù trời. Ồ ngọn gió nào thổi qua chăng? Ta khát, ta đói quá chừng trong cái giới hạn quá tầm thường, quá nhỏ mọn của ta.
Bầy quạ khoang đã hiện ra trên nền trời phía Bắc. Bầy quạ khoang hiện nhanh và hầu như bao trùm lấy mặt trời, khiến tối sầm lại một thoáng, khiến tinh thần ta xao động, khiến ta cảm thấy một điều lạ xâm chiếm tâm hồn, da thịt ta đang bị loài quạ rỉa rã rời đây, đau buốt đây. Và mỏm sọ dừa của ta sao mà trống rỗng thế nầy?
Một giọng cười rất êm hầu như là một tiếng hát khẽ… Ờ phải, đó là một giọng cười nhỏ của người đàn bà, bàn tay bà ta đã cho nước ta uống. Ta nhớ lại rồi. Bàn tay đẹp quá, và lúc mơ mệt, ta không nhìn rõ gương mặt của bà ta. Ắt là gương mặt phúc hậu lắm. Gương mặt của bà tiên hiền, của Quan Thế Âm hiện lên để cứu khổ cứu nạn cho ta chăng?
Nhưng sao bước chân của người lại nặng nề thế kia. Ta nghe rõ là bước chân đó đang tiến về phía mình, tiến về chậm chạp, tiến về phía cửa cái căn phòng nầy. Ta chờ đợi từng bước chân đó, bước chân mang hy vọng đến cho ta trên chiếc giường nầy…
Những cửa sổ soi rọi tia nắng quá đỗi gay gắt, tôi vã mồ hôi ra và phát sợ những cơn gió khô khan thỉnh thoảng phả vào như hơi thở của mùa hạ. Tôi chờ trong chốc lát, và đinh ninh rằng thế nào cánh cửa phòng, cánh cửa cái của căn phòng sẽ được mở ra. Tôi cố gượng dậy được, dựa lưng và nhắm mắt.
Cái quả lắc khua động, tôi mở bừng mắt ra nhìn. Ờ, cửa phòng chính đã mở rồi kìa. Tôi ho khẽ để bà biết rằng mình đã tỉnh dậy từ lâu và ngồi lên ở đây. Tôi muốn kêu gọi bà một tiếng nhưng mắt tôi lại nhắm nghiền không mở ra được. Tôi không biết vì sao thế. Tôi cũng không mở miệng nói lên lời nào được nữa. Lạ chưa?
Một khắc bà đề một vật gì lên bàn, tự dưng mắt tôi mở ra được và bắt gặp đôi mắt mờ nhạt của bà, đôi mắt xa vắng hầu như mất thần vì bụi cát phủ nhòa qua tròng mắt.
Tôi bắt gặp một gương mặt đen sạm chữ điền, làn da rám nắng và loang lổ như tổ ong, mí mắt lèm nhèm bên trái, còn bên mặt bà quấn chiếc khăn màu vải nâu phủ sụp xuống đến ngang trái tai, tôi không nhìn được. Gương mặt của người giống như một chiếc lá bàng khô vàng võ, in đậm lên những dấu vết tàn phá chày ngày chày tháng. Bà im lặng một lát, rồi mở lời:
– Tối qua tôi mang cháo đến cho chú em nhưng chú em mê man không biết gì cả, bây giờ tỉnh rồi, vậy tốt lắm đó, có cháo nóng cho chú em dùng đây, đừng ngại gì cả.
– Cháu cám ơn bà lắm. Tôi gượng nói như thế.
Bà xua tay và mang tô cháo đến gần giường, đặt cạnh tôi:
– Mệt ăn vào sẽ thấy khỏe ngay, chú em đừng ngại.
Nói xong bà ngồi xuống cạnh tôi, nhìn tôi từ từ húp những muỗng cháo. Đúng là những muỗng cháo hồi sinh. Tôi cố húp hết tô cháo, mồ hôi mồ kê nhỏ ra đầm đìa. Bà ta trao khăn và nói với giọng thương cảm, tiếng nói như bốc dậy lên mối tình nhân loại thương mến nhau lúc hoạn nạn, tiếng nói tôi khó quên được:
– Chú em ở đâu lại đến khổ sở như thế nầy, chú em hãy lau sạch mồ hôi. Chắc bị cảm nắng đó. Ở đây người lạ đến dễ bị nhiều thứ bệnh hoạn lắm. Nhưng không sao đâu, có mồ hôi tươm ra sẽ dễ chịu ngay đó mà. Ráng tĩnh dưỡng và đừng nghĩ gì hết.
– Thưa bà ở đây là miền nào, xứ nào bà cho tôi được biết?
Người đàn bà lắc đầu:
– Chú em hỏi làm gì cái miền đất nầy, khô khan đá sỏi, quanh năm họa chăng mới có một đoàn người buôn lậu, hay làm việc gì có vẻ mờ ám nguy hiểm đi qua. Họ không làm khó dễ già này, và cũng chẳng ai để ý đến vùng cỏ cháy đất cằn này mà đặt cho nó một cái tên gì. Cả già nữa, có lẽ già cũng quên cả tên họ của mình rồi kia.
Tôi ngồi nhỏm dậy, cảm thấy khỏe một chút vì có chất gạo muối vào người, tôi thấy người đàn bà có vẻ lẩn thẩn, nhưng cũng không muốn để ý đến công việc gì của ai. Tôi im lặng thì thấy bà ta mỉm cười, nụ cười dung dưỡng như của một hiền mẫu.
Giây phút sau khoảng chừng vài hơi thở, người đàn bà hỏi bâng quơ:
– Rồi chú em định đi về đâu?
Tôi lắc đầu tư lự hơn lúc nào hết khiến bà ta cười:
– Tôi đoán chú em không phải là một người làm việc mờ ám gì, chú em cũng đừng ngại gì tôi hết. Nếu nay mai thấy khỏe cứ việc lên đường. Tôi đi theo một lằn chớp… Ý định của tôi muốn trả lời như thế, nhưng thật là ảo tưởng, thật là mơ hồ, thật là huyền hoặc nếu tôi nói cho bà biết như vậy nên chỉ ậm ừ:
– Tôi đi ngắm cảnh lạc bước đến đây bà ạ. Rồi để cho vui câu chuyện, tôi hỏi thăm đến gia đình. Bà ta lắc đầu chưa kịp đáp thì bên ngoài một đứa con gái độ mười hai mười ba tuổi ẵm xề xệ trên tay nó một đứa nhỏ hầu như còn bú, nó vừa quẹt mũi rãi vừa đặt đứa nhỏ xuống chiếc giường bên cạnh tôi. Nó nhìn tôi trân trối, ánh mắt đượm vẻ buồn bã lắm.
– Đó chúng nó đó, tôi đã lượm chúng nó ngoài bìa rừng ngoài kia. Nơi đám mả loạn của dân làng dưới thung lũng. Ngoài ra không còn một ai nữa. Con lớn đó suýt bị cọp vồ đấy chớ, bây giờ nó gan lì lắm không sợ gì cả, nhiều lúc nó đi chơi rong, nó đuổi theo lũ khỉ vượn mãi trong rừng sâu cả ngày đêm. Ba bà cháu nói xong từ giã tôi ra ngoài. Người đàn bà bảo phải đi hái củi, đứa cháu được trao cho việc tắm rửa đứa bé. Tôi chắc đâu đây có giếng nước, khi tôi hỏi bà ta lắc đầu và bảo đứa con gái lem luốc trước mặt tôi phải ẵm đứa bé đi mãi vào tít ở trong khe suối khỏi lùm cây khô khan cao chót vót bao quanh tầm mắt. Nơi đó có khe suối trong, huyết mạch của cả một vùng quanh đấy.
Tôi tin ở đâu đây còn có một vài túp nhà của dân miền sơn cước, mơ hồ tôi nghe văng vẳng trong gió có một điệu nhạc khí nào như tiếng chuông mõ công phu.
– Em bé, em đưa dùm tôi ra bờ suối, tôi tắm mát một chút nào… Ồ, sao em ngó tôi như vậy? Em làm y lời bà nọ chớ, em đưa đứa bé nầy ra bờ suối đi, tôi sẽ theo ngay, mùa xuân gì mà nóng nực thế nầy hở em.
Mặc tình tôi nói, đứa bé vẫn đứng im. Bà nọ thì bỏ đi ra ngoài từ lâu, bà đi mất hút vào cánh rừng rậm, ban đầu tôi còn thoáng thấy hình bóng nhỏ nhoi nọ lang thang, tôi còn thấy màu áo, thứ màu đất đỏ lâu ngày lấp loáng trong nắng. Rồi bông đó qua khỏi khuôn cửa sổ, tôi không thấy gì nữa hết.
Đứa bé im lìm, cho đến một lúc lâu nó ú ớ đưa tay nói gì với thằng bé con. Thằng bé con cười, tôi không biết nó có rõ cái cử chỉ nọ hay không. Nhưng tôi vừa có ý nghĩ là đứa bé gái nọ dường như là bị câm vậy.
Sao nó lại nhướng mắt nhìn tôi. Nó lại đưa tay vẫy tôi kìa. Tôi nghĩ lại – Nó biết nghe thì phải. Nhưng sao nó câm lặng và u buồn thế này. Tôi thấy chua xót cho nó quá. Tôi thấy trong lòng nhuốm lên một màu vô vọng vì nó. Thực tốt, nếu mà nó ở trong một xã hội đầy rẫy những hạng người biết nói… Ở đây thì tốt hơn, nó câm lặng, cỏ cây cũng thế. Niềm câm lặng hòa dịu, đồng điệu lắm, có lẽ cả hai đều hiểu được nhau, cỏ cây sự vật, và nó…
Giờ khắc qua tôi đi theo nó, nó đi quá nhanh, vẹt qua cỏ dại, vẹt qua bờ bụi, vẹt qua cỏ rậm và chen lẫn trong các gốc cây rậm rì, bám víu đầy những rong rêu mốc thếch. Tôi bươn bả theo nó phát mệt. Một lát thì ra đến vùng cỏ lau xanh mướt khác hẳn cái khu vườn đào và những luống cát nóng hổi ngoài kia. Tôi nghe một tiếng chim đầu tiên hót. Tiếng chim trong một nhánh hoa màu vàng ở trên chót vót cao vọng xuống ngọt ngào như hơi mát cỏ hoa…
Đứa con gái mặc tình với khung cảnh quen thuộc, nó cũng không cần nhìn tôi, nó vứt thằng nhỏ nằm chỏng gọng trên đám cỏ lún phún bên bờ suối. Thằng bẻ khóc la mặc tình. Còn nó đi tìm thứ gì đó trong bụi rậm! Tôi tắm rửa trên dòng suối một lúc lâu, sốt ruột vì nó không trở về. Lau chùi xong, tôi leo lại nơi thằng bé, thấy nó ngủ, quanh nó vài con ong bay vù vù. Thằng bé ngủ vùi trong điệu rít vi vu của bầy ong như một điệu ru êm ái mà mùa hạ vàng dành riêng cho nó.
Thử tưởng tượng một người đàn ông đứng tuổi, đứng đắn. Một người đàn ông sắp sửa 40 tuổi, có vợ, có địa vị tiền bạc. Không lý tưởng sao, tuyệt vời nữa. Một hôm chàng nói với tôi:
– Em dám bỏ trốn với anh không?
Tôi nhìn chàng nghi ngờ:
– Chưa có cuộc ngoại tình nào thành công cả.
Chàng hỏi:
– Ngoại tình là gì?
– Là một cố gắng tuyệt vọng.
Chàng có vẻ tâm sự :
– Có khi chung thủy cũng là một cố gắng tuyệt vọng.
Tôi kêu lên:
– Vậy chứ ngoại tình là gì?
– Là yêu một lần nữa mà không cần phải cố gắng.
Tôi chịu chàng có lý. Hôm đó chúng tôi đi chơi xa lần đầu. Xe qua khỏi Đập Đá vào Vỹ Dạ. Chàng ngâm nga, giọng ấm:
Lâu quá không về thăm thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…
Nắng thật. Nắng lướt trên những tàu cau xanh mượt, rộn rã chói chang. Mặt sông Hương như có trăm ngìn mãnh chai vỡ lóng lánh, những ngôi nhà rãi rác đọc đường tường cổng im lìm trong cái vẻ quan liêu rơi sót, những bụi tre xanh mát, những con đường nhỏ um tùm cây lá dẫn xuống bờ sông, thềm đá dưới mé nước… Tôi đã nghĩ thầm chàng thật thi sĩ, chàng vẫn có cách nói chuyện ví von rất duyên dáng và khả năng liên tưởng của chàng thật bén nhạy bất ngờ. Chàng thuộc nhiều thơ tiền chiến, biết nhiều về địa lý nước nhà cũng nhưnguồn gốc các di tích lịch sử, chàng thực tế trong công việc, nhạy cảm trước mọi hoàn cảnh và mơ mộng trong tình yêu. Đó là một người đàn ông có tâm hồn và biết liều lĩnh, biết ngoại tình. Sau đó, như cao hứng bởi cảnh trí thanh bình và tươi mát trước mắt, chàng luôn miệng ngâm thơ.
Xe ra cửa Thuận. Trời vẫn trong sáng cho tới hai giờ rưỡi rồi đột nhiên đổ mưa. Cơn mưa mịn màng làm trời đất trắng xóa như được phủ một lượt tơ mỏng. Ở một đoạn đồng trống chàng dừng xe lại, sát mé ruộng. Chúng tôi hôn nhau. Cái hôn đầu tiên chưa kịp đoán trước hay chuẩn bị dù sao cũng đã làm tôi thất vọng chút ít. Tôi quệt nước bọt trong tay áo và chàng có vẽ bồn chồn khi nhìn thấy cử chỉ đó. Tôi không biết, lúc ấy tôi khinh chàng. Tôi nói: À, thì ra! Chàng tỏ vẻ không hiểu. Tuy nhiên sau đó chàng vẫn hôn tôi hoài.
Trên đường về chúng tôi ngừng lại một quán lá, gọi bia và khô mực nướng thay cơm trưa. Chàng nhìn mưa lướt trên mặt đường nhựa bên ngoài, dáng đăm chiêu. Tôi bày tỏ thiện chí:
– Thú quá nhỉ!
Chàng chỉ gật đầu. Hai người vì thế không nói gì thêm với nhau cho đến lúc xe trở về phố. Chàng không nhắc gì về ý định rủ tôi đi trốn nhưng có vẻ muốn hẹn với tôi một lần gặp khác. Để cho không khí đừng căng thẳng quá, tôi làm bộ bắt chước giọng ngâm thơ rên rĩ của chàng:
Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé!…
Chàng cười lớn, gượng vui thích thú trước bộ tịch tôi. Chàng không biết thật ra trong thâm tâm tôi cũng đã muốn như vậy hết sức. Tôi không muốn gặp lại chàng.
Buổi đi chơi đầu tiên như vậy không có dấu hiệu gì tốt. Những lần sau gặp nhau tình cảm của mỗi người có phần khả quan. Tôi tỏ ra sẳn sàng hơn, chuẩn bị hơn trong những lúcđón nhận chàng. Trong khi đó chàng cũng có cái vẻ chu đáo không kém. Nếu dan díu với đàn ông có vợ là tội lỗi thì đó là một thứ tội lỗi rất quyến rũ. Tôi bịlôi cuốn lúc nào không biết. Ít lâu sau chàng đưa tôi về nhà.
Đó là một căn phòng thuê, thuộc phần chái của một tòa nhà lớn gồm nhiều gian cho thuê. Căn phòng dẹp lép tối thui, diện tích khoảng 2m50x10m50, trang trí theo chiều dọc. Chàng ít khi có ở nhà nên cửa trước luôn khóa trái, và vì vậy đi từ cửa sau sẽ nhìn thấy theo thứ tự : Bàn rửa mặt, nhà vệ sinh chung với nhà tắm, giường ngủ cở lớn, kệ sách ngay trên đầu giường, tủ đứng nằm ngang đâu lưng với kệ sách ngăn chỗ ngủ với gian trước, một chiếc tủkhác mới hơn kê sát tường tiếp theo đó, bàn viết, tủ lạnh. Tất cả những thứ nàyđều nằm hẳn phía bên trái; bên mặt là lối đi, hẹp khoảng 4 tấc, dọc theo tường có giăng dây thép để vắt quần áo, khăn lông. Riêng gian trước đối diện với bàn viết và tủ lạnh là một bộ ghế thấp, gồm 4 cái bọc đệm kê xoay quanh một cái bàn nhỏ, làm nơi tiếp khách, uống trà, đọc báo, nghe nhạc… Ngoài cùng là cửa trước, khóa trái. Nguyên dãy cửa sổ dọc theo thành tường bên phải đều được đóng kín mít, che thêm giấy bồi bên ngoài. Phòng phải để đèn luôn vì không có ánh sáng.
Cửa sau bước xuống mấy bậc tam cấp, rồi cách một khoảng sân xi măng là nhà bếp. Trên bếp những cái lò dầu ám khói nguội lạnh. Chị giúp việc còn nhỏ tuổi kẹp tóc, mặt rỗ hoa mè, da đen xám, răng sún. Chị không phải nấuăn thường nên suốt ngày nằm chèo queo trên cái giường sắt cũ trong góc bếp, hoặc giặt ủi lờ lững như phim quay chậm. Chỗ ở của chàng nhìn chung có vẻ gì cẩu thả tạm bợ, dù thế đã được chàng giới thiệu như một tổ ấm thâm niên.
Ngay ngày đầu tiên tôi bắt gặp trong tủ đứng những chiếc áo dài cũ, máng chung với những bộ đồ lạnh của chàng, đồ ngủ và nịt vú xếp ngăn nắp ở ngăn trên cùng. Trên bàn viết , lẫn với mớ sách báo bừa bãi những bức thưnét chữ mềm mại quấn quít. Chàng không giấu giếm nhưng ghét giải thích, tôi quan sát im lặng. Không phải tôi tò mò hay muốn xông xáo ngay vào đời tư của chàng, tôi chỉ muốn biết rõ cái chỗ tôi sẽ chung sống với chàng dù tạm bợ hay lâu dài, một căn phòng và chàng, dù thế nào, không đáng gọi là chốn mơ ước sao? Nhưng trong đó, trời đất, còn quanh quẩn một bóng dáng khác, người đàn bà mà chàng chẳng bao giờ nhắc nhở nói tới dù chính đó là điều khó khăn duy nhất trong cuộc ngoại tình của chàng. Tôi im lặng và chàng im lặng kình địch. Hay chàng sợ mọi cách giải thích của chàng sẽ làm tôi khổ tâm? Hay trong sự im lặng, chàng muốn nói rằng sự có mặt của tôi trong nhà này đã là một cách giải thích rõ ràng sự lựa chọn của chàng? Dù sao, mọi lý luận của tôi lúc bấy giờkhông có gì chắc chắn; tôi không muốn nói là tôi đang lo âu, như thế tôi có vẻthất thế ngay từ phút đầu.
Đêm đó chúng tôi yêu nhau. Chàng không ngạc nhiên khi biết tôi còn ngây thơ. Chàng nói không phải sự trong trắng của tôi quyến rũ chàng. Chàng mê sự sòng phẳng của tôi. Trong hơi thở nóng ấm tình ái, tôi nghe chàng nói nhỏ:
– Em…
– Nghĩa là sao?
– Nghĩa là em yêu anh chứ sao!
– Vì sao khi yêu nhau người ta dày vò nhau?
– Để nhớ.
Tôi bấu tay trên lưng chàng. Thật không còn thứ đau đớn nào hơn. Thứ đau đớn để nhớ lại bùi ngùi về sau trong những tình cảm ơn nghĩa. Đêm nóng và mùi mồ hôi trộn lẫn giữa hai người làm tôi bứt rứt cảm động. Chàng khen:
– Em can đảm lắm
Tự nhiên tôi nói lớn giọng hờn mát :
– Rồi sao nữa, trời đất!
– Nằm yên…
Tôi thì thầm:
– Nàng sẽ trở lại.
Hai người im lặng sau câu nói đó. Chàng có vẻ khổ tâm. Bây giờ chính tôi là người lên tiếng trước. Sợi dây căng thẳng tự nhiên bị đứt mộtđầu…
Gần sáng tôi khóc. Chàng dỗ, nín đi em. Chàng nói nhỏ, nín đi em.
Những ngày sau chúng tôi bình tĩnh hơn. Tôi bắt đầu làm quen với các thói quen của chàng. Buổi sáng thức dậy chàng nghe tin tức đài BBC trong khi tôi còn ngủ nán trong giường, sau đó cả hai cùng uống cà phê ở cái bàn nhỏ ngoài gian trước (chàng không ưa ăn sáng, dù một lát bánh mì mỏng, tôi nhịn đói theo). Chàng đi tắm và hắt hơi khoảng 6,7 cái trong lúc xối nước. Chàng thường ra khỏi phòng tắm với cái khăn lông màu xanh quấn quanh cái bụng phệ, người nhễ nhại thơm ngát. Chàng vừa tiếp tục hắt hơi vừa loay hoay với lọthuốc cạo râu The Hot One, có lúc hôn tôi khi mồm miệng đầy bọt nóng bỏng. Chàng mặc quần áo, chải tóc, mái tóc ướt chải sát xởn xơ làm khuôn mặt chàng trơ trụi bóng nhẩy. Đôi mắt cận thị không mang kính có những tia máu đỏ mệt mỏi, nụ cười sáng, những hạt tàn nhang phập phồng trên hai cánh mũi. Chàng đi làm lúc 8 giờ rưỡi sau khi đã để lại một nụ hôn thơm kem đánh răng.
Tôi thường ngồi thừ người sau đó, trên cái ghế thấp chàng ngồi uống cà phê khi nãy, hoặc chỗ bàn viết, hoặc ở mép giường, lắng tai nghe tiếng giày chàng đi ngoài hè, tiếng chàng mở cửa xe, đóng lại, tiếng chàng nổmáy xe, chờ máy đủ nóng để de ra cổng. Tiếng xe hù hụ ồn ào như động cơ trực thăng lát sau nhỏ dần, lẫn lộn trong các tiếng động khác của phố xá. Tôi tự nhiên thở dài, bắt đầu dọn dẹp những thứchàng vất bừa bãi (tờ báo, ly nước, chiếc khăn tay, bộ đồ ngủ, đôi dép….). Tôi tắt đèn, tắt quạt, tắt nhạc, bắt đầu chờ đợi chàng, trong giấc ngủ gà gật lười biếng, trong những dòng chữ vô nghĩa lơ đãng, quyển sách thờ ơ trên tay như để trám một việc làm, một sự trống vắng buồn tẻ đến ngao ngán. Tôi làm bộtắm gội cho lâu, săn sóc cái cổ cái gáy, lưng ngực tay chân như sửa soạn trang trọng cho chàng một món quà tặng. Tôi uống nước, xuống bếp lóng ngóng xem chịgiúp việc lo bữa ăn trưa hoặc tự tay nấu lấy những món chàng thích. Trở lên phòng xem đồng hồ, lắng nghe tiếng xe chàng về, tiếng chàng tắt máy đóng cửa, tiếng giày chàng nghiến trên cát, bước lên bậc tam cấp phía sau, tiếng chìa khóa tra vào ổ mở cửa. Tôi đã làm bộ chăm chú viết một cái thư, đọc một trang sách, theo dõi một tin chiến sự, trong tờ báo cũ, để lắng nghe bước chân chàng nhẹ nhàng đến gần, chàng hôn tôi chào hỏi, mừng rỡ.
Chúng tôi ăn trưa ở cái bàn vuông dưới bếp. Những bữa ăn trưa thường có rượu ngọt, hoặc tệ lắm bia hộp. Trong lúc ăn chàng hỏi thăm tôi về buổi sáng ở nhà, em làm gì, buồn không, em mới gội đầu hả, em có làm yaourt thêm không…vân vân…, tuyệt nhiên chàng không đề cập gì tới công việc của chàng ở sở hay về bạn bè chàng. Thỉnh thoảng chàng nhận được thư của nàng, nét chữ trên bì thư mềm mại quấn quít, những hôm đó chàng lộ vẻ tư lự, ít nói (chàng ghét giải thích, tâm sự, than thở). Chàng có cách ăn uống hồn nhiên, tôi thường cảm động một cách đột ngột khi nhìn thấy chàng vò vặn đôi đũa kẹp nhúm rau xanh chấm trong đĩa nước kho, hoặc khi chàng cầm ly rượu tu một hơi cạn tớiđáy. Chàng đưa chén xới thêm hoặc ăn canh không ở cuối bữa. Tất cả những động tác chàng làm, những thói quen của chàng đối vơí tôi như một thứ rượu làm nghiện. Tôi muốn hớp cạn cả đời sống chàng. Chàng không biết thế, chàng ghét tỉtê tỉ mỉ. Chàng chỉ thích nhìn tôi và khen em đẹp, mắt em buồn, môi em đa tình, anh thích em mặc cái áo đó… vân vân..
Sau bữa ăn chàng đứng dậy cầm cái chìa khóa cửa đi lên nhà trên, hai vai chàng tròn trịa khỏe mạnh, hai cánh tay bỏ trần, những hạt tàn nhang trên ngực, cổ, gáy, chiếc áo may-ô trắng mới nhét trong cái quần tây chưa thay. Chàng đánh răng, ra nằm ở cái ghế nylon mở dài, tờ báo banh trước mặt lật phật hơi gió từ cái quạt điện Westinghouse vặn số 2, chàng nghe nhạc FM, trởmình làm các thanh sắt cứa nhau cút kít, chàng ngủ với tờ báo đắp trên ngực, cái đầu ngoẻo một bên vai, chân gác lên chiếc ghế thấp. Tôi yêu cái bộ say sưa của chàng khi ngủ, giống hệt giấc ngủ thẳng thớm của một nông dân mệt nhọc sau công việc đồng áng. Trông chẳng có vẻ trí thức chút nào nhưng được cái vô tưlành mạnh. Tôi thường bỏ ngủ ngồi ngắm nghía chàng, chờ giờ chàng đi làm buổi chiều. Chàng thức dậy lúc hai giờ rưỡi hay sớm hơn, rửa mặt, uống nước, tìm cái gì ăn, khen yaourt tôi làm khéo, hôn tôi trong lúc cài nút áo sơ mi hay lúc sửa lại cà vạt, thắt lưng. Chàng nói, anh đi nhé!
Buổi chiều như thế tôi lại chờ đợi nữa, trong những tình cảm rũ rượi, ủ ê hơn, bởi thời tiết oi bức nóng nảy, gian phòng chật hẹp lúng túng. Tôi sẽ tắm nữa, hoặc ngồi hàng giờ săm soi mặt mũi trước tấm gương lớn của chiếc tủ đứng. Có khi tôi bật khóc nức nở không vì lý do gì rõ rệt, rồi thử kẻchì đen lên hai mí mắt sưng. Tôi trầm trồ say đắm vẻ hoang tàn trên mặt mình, những lúc ấy coi tôi giống hệt một góa phụ. Một góa phụ còn trẻ và xinh đẹp. Tôi sẽ tủi thân với ý nghĩ ấy hoặc tôi sẽ tỉ mẩn so sánh, tưởng tượng về ngườiđàn bà của chàng- nàng là một người như thế nào, tại sao nàng bỏ đi rồi viết những lá thư hứa hẹn ngày trở về, tại sao chàng yêu tôi mà vẫn có vẻ như đang dốc lòng mong ngóng nàng, tại sao tôi ở đây chia sẻ may mắn, đánh cắp hạnh phúc nàng ? Cũng có khi tôi rón rén một mình, mở hé cánh cửa tủ nhìn lại những chiếc áo dài của nàng máng trong đó bên cạnh những bộ đồ lạnh của chàng, rón rén và bắt gặp mình vụng trộm nhỏ mọn, một cách tội nghiệp. Sau những giây phút nhưthế, tôi chờ đợi chàng bứt rứt ân hận, đôi khi quyết liệt hăm hở trong những dựtính mới về những ngày dây dưa tạm bợvới chàng, đôi khi tôi eo sèo tìm cách an ủi mình.
Như thường lệ những ý tưởng của tôi phần nhiều ít khi ngã ngũ hay được sắp xếp thứ tự, minh bạch. Chàng sẽ về trước khi tôi kịp hấp tấp tìm ra một giải pháp nào đó. Chúng tôi ăn cơm tối, và chàng – như thường lệ,không nói gì về một ngày vừa qua của chàng. Có thể chàng để ý nhìn thấy đôi nét hốt hoảng bất thường trên mặt tôi, chàng sẽ hỏi: em giống như mới khóc?
Buổi tối là thời gian tôi yên tâm nhất, với những tình cảm hoàn toàn về chàng. Và vì vậy tôi sẽ quên hết lo lắng phiền muộn. Chúng tôi thường ngồi ở gian trước uống trà, đọc báo, bàn về thời cuộc, hoặc vui miệng chàng kể cho tôi nghe về tuổi nhỏ của chàng bằng cái giọng chàng cố làm ra vẻkhách quan (chàng ghét tâm sự), nhưng đã có lúc chàng không dấu được những cảm xúc chất phác chân thật. Có đêm chàng mời tôi uống rượu rồi mang thơ cổ ra đọc. Giọng chàng ngất ngưởng, cao hứng. Lúc ấy chàng trẻ hẳn lại, đôi mắt cận thịbỗng lãng mạn và đôi môi mềm yếu của chàng như kích thích hết mọi giác quan của tôi. Còi hụ giới nghiêm và chúng tôi nấn ná kéo dài những buổi tối như thế với những xúc động đằm thắm. Đêm, sau đó đẹp như một cơn mưa, chàng xối lên tôi cơn mưa nồng nhiệt hạnh phúc.
Một thứ hạnh phúc mỏng manh, bùi ngùi. Một sự yên tĩnh đầyđe dọa. Những buổi trưa buổi chiều chờ đợi chàng khốn khổ một mình. Những giấc ngủ sảng hoàng, cánh tay chàng ghì siết dớn dác giữa khuya, tiếng chàng gọi tức tưởi em. Em. Chàng la lớn : Không ! Chàng đau đớn như đang bị hối thúc trong những ý nghĩ ráo riết. Tôi đắm đuối hơn trong hơi hướm chàng, thèm nhớ các thói quen chàng, thương xót tâm tình chàng. Không có những ngày chủ nhật, ngày lễ,không còn những buổi đi chơi xa, những bữa ăn sang trọng ở hiệu, không còn liên hệ bạn bè gia đình. Bên cạnh chàng tôi quên hết ngày tháng, sở thích. Tôi sống như thách thức với sự dị nghị, phân bua với mọi bất trắc khả dĩ.
Một hôm chúng tôi đồng ý xa nhau. Nàng sẽ về trong tháng tới giữa lúc cả tôi lẫn chàng đều gần như kiệt quệ. Tình ái là cái gì thật kinh khủng. Cuộc ngoại tình của chàng dần dần chỉ là những cố gắng tuyệt vọng, chàng thú thật. Đêm cuối chúng tôi say rượu ngất ngư. Tôi ngả ngớn hát ca dao:
Đồng hồ sai vì bởi dây thiều….
Em xa anh vì bởi sợi chỉ điều xe lơi…
Chàng, mặt mũi đỏ ké đỡ tôi vào phòng trong. Chàng dụi mặt vào cổ tôi phụ họa :
Đứt dây nên gỗ mới chìm…
Bởi anh ở bạc em tìm nơi xa.
Chàng hỏi:
– Ngoại tình là gì?
– Vừa thôi, Cha nội!
Đêm túy lúy, ngây ngất.
Sáng sớm tôi xếp quần áo vào va-li. Chàng ngồi cạnh mép giường nhìn tôi đi tới đi lui thu dọn những thứ lặt vặt (bàn chải đánh răng, khăn mặt, kính soi, kẹp tóc, thuốc gội đầu, thuốc ho…). Tôi mang đi hết, không để sót một món. Tôi ghét di tích, kỷ niệm. Chàng ngồi tằn mằn mớ quần áo lót tôi còn để bừa ở ngoài, hỏi xin:
– Cho anh một cái
– Cái nào?
– Cái này. Chàng chọn.
– Cái đẹp nhất của em đó.
– Anh sẽ đền cho em hai cái mới.
Chàng sẽ quên, hoặc chàng sẽ nhớ tôi trong sự lẫn lộn của thời khắc, kỷ niệm. Chàng sẽ… Không hề gì. Chúng tôi hôn nhau chỗ tủ lạnh. Chàng thoa vòng lên môi tôi một chút nước thơm trong cái lọ con màu xanh hiệu Old Spice, loại nước hoa chàng hay dùng sau mỗi lần cạo râu, nụ hôn nóng rát như muối ớt. Tôi hít lấy hít để ngực áo chàng, cánh tay chàng, cổ chàng. Tôi nói:
– Để nhớ.
Cuộc chia tay coi bộ bịn rịn. Trước khi đi tôi nhìn lại một lượt căn phòng. Những sợi tóc còn sót trong chăn gối chàng, chiếc khăn ướt vắt cẩu thả trên sợi dây thép, ly sữa uống giữa khuya còn một chút cặn dưới đáy, tờbáo tơi tả nhàu nhượi, mùi xà phòng chàng tắm buổi sáng, mùi Parazol quen thuộc trong nhà cầu, ống kem đánh răng vặn vẹo… Tôi nhìn lần cuối và nghĩ thầm, không hề gì, đâu sẽ lại vào đấy khi tôi đã đi, chàng sẽ tiếp tục những thói quen cũ, sẽ chờ đợi nàng. Phải không anh? Cái ly bôi mình nhấp cạn rồi mà, còn một chút cặn chứ mấy? Thôi để dành.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.