Đáy địa ngục

Chương II; Suối Máu

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 13 May 2024

Phần 8

Tiếng kẻng đổi gác lôi tôi ra khỏi dòng mộng. Những tiếng nói cười, tiếng chân đi vọng đến tai rất rõ. Trời đất tối như mực. Tôi nghĩ đến Khắc và ước mơ của hắn. Giá lúc này tụi Cộng Sản mở cổng cho phép đi cầu, thì Khắc có cơ may trốn thoát, nếu không vướng mìn. Nhưng chiếc cổng đã được đóng chặt, hai tên cảnh vệ từ trên cao nhìn bao quát, chẳng ai dám đứng gần, chứ đứng nói mở. Chợt nghe tiếng gọi tên, tôi quay về hướng đó. A “tu-bíp” Cường.

– Có chuyện gì vậy ông?

– Tôi mới xin được mấy nén nhang, chờ Giao Thừa, đốt lên, cúng vái trời đất và tổ tiên, ông chịu không?

– Chịu quá đi chứ! Ông xin ở đâu, hay vậy?

– Mới đi khám bệnh cho một anh, bỗng nhìn thấy bó nhang để đầu giường, tôi xin mấy nén.

Cường vốn không được lòng anh em, nhưng ở gần mới biết, hắn không có ác ý với ai, còn câu chuyện hắn bợ đỡ tên y tá và buôn bán thuốc tây, chẳng qua vì quyền lợi!

Tôi ngồi hút thuốc lào vặt chờ Giao Thừa. Thời khắc lúc này hình như trôi rất chậm. Căn buồng tôi ở, nhìn thẳng ra vọng gác. Do đó, nhất cử nhất động của chúng tôi ở phía dưới, mấy tên gác trông rõ mồn một. Tôi đứng dậy, múc chén nước, bầy kẹo bánh vào chiếc dĩa, đặt trên mặt ghế ngay trước cửa nhà để lễ Giao Thừa . Cường đi đi, lại lại tỏ vẻ nóng ruột. Thân hình hắn lùn mập nên dáng điệu có vẻ chậm chạp. Bỗng hắn dừng lại, nói với tôi:

– Này ông, còn 2 phút nữa thôi, liệu thắp nhang thì vừa.

Tôi cầm mấy nén nhang, bật lửa. Làn khói thơm ngát tỏa ra. Tự nhiên, lòng tôi thấy vơi nhẹ, lâng lâng như trút hết mọi ưu phiền. Cưộc sống hiện hữu hay cõi chết vô thường cũng như nhau. Nó là sự giao thoa mầu nhiệm giữa cái có, cái không, cái còn, cái mất!

Tôi cắm nhang vào chiếc lon đựng đầy cát. Cường và tôi cùng chắp tay, cúi đầu, lâm râm khấn vái. Gió thổi từng cơn lành lạnh. Dòng khói quá mong manh vừa tỏa ra đã bị gió làm tan nhanh, không để lại chút gì. Đầu ngọn nhang cháy đỏ rực trông thật đẹp, như những cánh hoa lửa giữa đêm khuya. Một tràng pháo nổ vang từ xa vọng lại. Tiếng pháo nổ không làm tôi vui, vì nó thuộc về phía kẻ chiến thắng.

Chúng tôi vừa lễ xong, bỗng từ ngoài kẽm gai có tiếng nói vọng vào:

– Mấy anh kia, “nàm” gì đấy?

Chúng tôi giật mình khi thấy chiếc nón cối và khẩu A.K. đang đứng nhìn chằm chằm.

– Dạ, chúng tôi lễ Giao Thừa!

– Chắc các anh nhớ nhà “nắm” hả?

– Dạ, nhớ!

– Tôi cũng vậy, đi bộ đội đã trên 6 năm nay, chưa một “nần” được về thăm nhà. 6 cái Tết rồi! Tôi còn mẹ già và hai em: 1 trai, 1 gái!

– Tại sao cán bộ không xin phép về thăm, bây giờ hòa bình rồi!

– Có xin đấy, nhưng Trên chưa cho. Các anh tưởng tôi sướng lắm đấy ư? Các anh bị quây 12 lần kẽm gai, tôi cũng 9 vòng, kém gì?

Quả không ngờ, tên cảnh vệ lại nói với chúng tôi những lời như vậy, nhưng vì dè dặt, chả ai dám nói thêm điều gì. Nó lừng lững bỏ đi. Chúng tôi quay vào nhà, ngồi suy luận về thái độ của tên cảnh vệ.

Trời bên ngoài tối đen, không tiếng động nào vọng đến. Những giây phút tinh khôi của một năm mới bắt đầu. Mọi người chúng tôi thêm lên một tuổi. Chẳng biết trong năm mới này, những chuyện gì sẽ xảy đến? Có tiếng gọi từ ngoài rào:

– Có anh nào trong nhà không?

Tôi chạy ra. Tên cảnh vệ đưa qua rào kẽm gai một gói giấy và một chai la-ve:

– Các anh cầm “nấy” mà dùng. Nhanh “nên”, kẻo có người trông thấy.

Sau khi đưa xong, hắn đeo súng trên vai đi xuôi theo con lộ. Chỉ một thoáng, vóc dáng hắn đã chìm khuất vào màn đêm âm u. Tôi quay vào lẹ như cơn gió. Cường tưởng có chuyện gì, mở to mắt nhìn tôi.

– Có chuyện gì thế?

Tôi không trả lời, đưa cho Cường gói giấy và chai la-ve. Cường mở gói ra xem, thấy có một gói cơm sấy ngào đường, loại đồ ăn khô của Trung Cộng, còn chai la-ve bốc mùi rượu đế. Chúng tôi vô cùng ngac nhiên vì không ngờ tên cảnh vệ lại cho những thứ đó, nhất là rưọu. Nội quy Trại triệt để cấm uống rượu. Nếu có tiền, mua gì cũng có thể được, trừ rượu! Đêm nay Giao Thừa, tên lính Việt Cộng cho rượu uống, chẳng biết là điềm hên hay xui? Nhưng dù thế nào, có rượu hãy uống đã. Cường đi tìm Cúc, Sử và Khanh về cùng ăn, uống cho vui. La-ve pha đế và đường ngon quá, Khanh cứ uống tì tì hết chén này đến chén khác. Sau khi chai la-ve cạn, Khanh đi ra ngoài. Anh em chờ lâu không thấy vào, bảo Sử đi tìm. Lát sau, Sử dìu Khanh lảo đảo bước vô, người rũ xuống như chiếc dái khoai.

– Nếu tôi không ra, chẳng biết ông ấy nằm ngoài sân đến bao giờ? Chắc đã lâu không uống rượu, nay uống la-ve pha đế, đường, nên dễ say!

Chúng tôi ngồi ăn cơm sấy, nói chuyện đến 3giờ sáng. Quá mệt, tôi lăn ra ngủ, không buông mùng, quấn tròn thân mình vào tấm vải đắp, như con sâu nằm trong tổ!

Khi mở mắt, ánh nắng đã chói chang. Căn buồng vắng vẻ, mọi người đã đi đâu hết. Hôm nay, mùng một Tết. Tôi cố hồi tưởng đến ngày mùng một Tết nào đó của tuổi thơ, dậy thật sớm, mặc quần áo đẹp chờ tiền mừng tuổi. Ôi, ngày đó xa rồi, xa quá rồi! Những hình ảnh đẹp ấy, nay thuộc về thế hệ các con tôi, với tôi, nó chỉ còn là bổn phận và trách nhiệm!

– Ngủ gì dữ vậy ông ? Hồi sáng đến chúc thọ, ông chưa dậy. Chán ghê, chán ghê!

Tôi lè nhè trả lời:

– Hãy còn sớm mà !

– Còn sớm à?Người ta chúc nhau ầm ầm, vui như Tết, còn ông cứ nằm ì ra như con heo.

Tôi cười, xin lỗi Mậu, đi ra ngoài rửa mặt, đánh răng. Mặt trời lên đã quá cao, những tia nắng như bốc lửa trên mặt cát. Hôm nay mùng một Tết, thời tiết cũng chẳng có gì đổi thay. Mặt trời vẫn thiêu đốt, cảnh vật im lìm, chìm đắm dưới sức nóng hừng hực. Tôi quay vào:

– Nào, bây giờ ông muốn chúc gì, tôi sẵn sàng nghe.

Mậu nhìn tôi với cái nhìn nửa thương mến, nửa trách móc:

– Chúc ông năm nay sớm được về đoàn tụ với gia đình. Dồi dào sức khoẻ bằng năm bằng mười năm ngoái.

– Không còn câu nào hay hơn nữa sao? – Tôi hỏi Mậu với ý diễu cợt.

– Thế ông không muốn được tha à?

– Ai không muốn được tha, nhưng con đường cải tạo còn gian nan lắm ! Không phải tôi nói gở đâu, nhưng thực tế đã mặc khải cho tôi thấy nhiều khó khăn hơn dự tưởng.

– Thế ông không chúc gì tôi à? – Mậu mở to mắt nhìn tôi.

– Ông muốn chúc gì? Để tiện việc, tôi cũng chúc ông xêm xêm như ông đã chúc tôi! chịu chưa?

– Giản dị quá nhỉ? Ông là chúa ấm ớ! Mùng một Tết gặp ông, chán ghê, chán ghê! Thôi, tôi với ông đến thăm Lâm và Huy cùng các bạn thuộc B cũ đi.

manh hai flickr

Rít xong hơi thuốc lào, toàn thân tôi ngây ngất, lâng lâng. Chờ tôi hả cơn say, Mậu kéo tay lôi đi chúc Tết.

Hôm nay, mọi người hình như trẻ, đẹp ra. Trên nét mặt người nào cũng hồng hào như vừa uống xong ly rượu. Đi một quảng, tôi gặp Thượng Tọa Thích Thanh Long (Cựu Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo). Vừa thấy tôi, Thượng Tọa đã chắp tay đưa lên ngực:

– A Di Đà Phật. Năm mới, chúc ông ước gì được nấy!

Tôi cúi đầu, cũng chắp tay đưa lên ngực.

– Bạch Thượng Tọa, tôi kính chúc Thượng Tọa, trong năm mới được dồi dào sức khỏe để phụng sự Phật pháp.

– Cảm ơn, cảm ơn nhiều!

Thượng Tọa Thanh Long lại đưa tay lên ngực, cúi đầu chào tôi, trước khi quẹo ngả khác. Trong Trại Suối Máu có hai vị Thượng Tọa. Riêng tôi, rất kính phục Thượng Tọa Thích Thanh Long vì tư cách và đạo đức, xứng đáng vị lãnh đạo tinh thần của một tôn giáo. Thượng Tọa vẫn ăn chay, niệm Phật. Không ai thấy Thượng Tọa có hành động hoặc lời nói nào làm mất uy tín của người tu hành, dù trong Trại tù có rất nhiều hoàn cảnh tạo nên sự chao đảo. Còn vị kia đã ngả mặn, sống như người tù thường, ngoài chiếc đầu không tóc!

Lối đi hẹp nhiều lúc ứ nghẹn vì dòng người quá đông. Tiếng chúc tụng nhau qua lại, nghe mãi hóa nhàm. Câu được dùng nhiều nhất: Chúc bạn sớm được về đoàn tụ với gia đình! Còn các câu khác, loáng thoáng thôi. Những sáo ngữ thường chúc tụng ở ngoài đời trước kia như: thăng quan tiến chưc, nhất bản vạn lợi, đầu năm con trai, cuối năm con gái, v.v.., nếu có được dùng, chỉ nhằm diễu cợt.

Tôi gặp lại anh em trong B cũ hồi ở Long Giao, thật vui. Lời chúc, ít thôi, nhưng ăn kẹo bánh nhiều. Ai cũng thủ sẵn gói kẹo bánh trong túi, gặp ai thân rút ra mời. Sau một hồi trò truyện, nhắc nhở dăm ba kỷ niệm, tôi cáo lỗi để có thì giờ đi thăm những bạn khác.

Tôi đến thăm Nhân, Phúc và Hùng. Chúng tôi gặp nhau cũng bình thường như mọi ngày. Đời sống trong tù, lâu dần làm tâm hồn con người trở thành chai đá.

Phúc giết thì giờ bằng mạt chược. Cổ bài mạt chược do anh em làm lấy bằng gỗ, cũng vẽ và tô mầu khá đẹp. Cái thú phong luu từ ngoài đời được thực hiện ngay trong nhà tù Cộng Sản. Tụi quản lý Trại giam, chắc chưa bao giờ được biết cái trò cờ bạc này, nên chúng không ngăn cấm, miễn đừng đặt tiền. Ngoài mạt chược, có người chơi xì-phé, được thua cả trăm tiền mới. Để khỏi bị bắt, họ chơi bằng tiền bìa, 1 loại “jeton”, giá trị tùy theo hình thể và mầu sắc.

Đi một hồi, vừa mỏi chân vừa mỏi mồm, tôi quay về buồng nằm nghỉ, chờ cơm. Bữa cơm trưa ngày mồng 1 Tết, cũng khá đầy đủ, có thịt, canh. Đây, bữa ăn ngon cuối cùng để kết thúc ngày Tết, tuy Tết mới xuất hiện có trên 10 tiếng đồng hồ. Từ chiều, đời sống của tù lại kéo dài những ngày buồn nản. Tôi chưa gặp Khắc, nếu gặp, tôi sẽ chúc hắn sớm thực hiện được ý muốn.

Nhưng một ngày qua rất nhanh. Buổi tối, không khí ngày Tết hình như đã tàn phai. Anh em túm năm, tụm ba ngồi nói chuyện tầm phào, ăn mứt kẹo, uống nước. Dưới ánh đèn mờ ảo, những nét mặt lại đăm chiêu, phiền não ! Buồn quá, chả biết làm gì, tôi lại đi dạo quanh chiếc sân nhỏ như mọi tối trước giờ ngủ. Bỗng tôi nghe từ ngoài rào kẽm gai, có tiếng suỵt chó. Một con chó màu vàng từ đâu chạy băng qua mặt. Tôi đứng lại, ngó theo. Nó chạy sục sạo phóng nhanh qua sân, rồi quay trở lại, chui qua rào kẽm gai. Con chó sủa mấy tiếng ngắn. Tôi nhìn ra, một tên cảnh vệ đi dạo trên mặt lộ, đầu trần, khẩu A.K. lủng lẳng trên yai, con chó quanh quẩn dưới chân. Tên cảnh vệ cúi xuống, nhặt cục gach ném xa, con chó chồm lên phóng theo. Chỉ một thoáng, nó đã ngậm cục gach trong mồm, đuôi ve vẩy tiến về phía chủ. Tên cảnh vệ khom người lấy cục gạch trong mồm chó, rồi cho tay xoa đầu chó, như khen thưởng. Nó tiến sát rào kẽm gai:

– Sao, anh ăn Tết có vui không?

Tôi nghe đúng tiếng tên cảnh vệ đã cho chúng tôi cơm sấy và rượu đêm qua:

– Dạ, cũng vui! Tết bên ngoài, chắc vui lắm!

– Vừa phải thôi. Chỉ đốt pháo “nà” nhiều. Tiền đâu, họ mua pháo nhiều thế? Tôi gác tới nay, từ 9 đến 11 giờ, có thư, đưa tôi gửi về nhà cho. Đêm, gác 2 người, khi nào thấy mình tôi, hãy đưa!

– Vâng, khi nào cần, chúng tôi sẽ nhờ cán bộ giúp!

Tên cảnh vệ, không nói gì, đi về phía cái thang, leo lên từng bậc. Con chó đứng dưới, ghếch cổ lên nhìn, sủa vài tiếng rồi biến vào bóng tối. Từ trên vọng gác, một tên khác chăm chú nhìn xuống.

Tôi mang chuyện đó nói với Cường, Khanh và Sử trong lúc Cúc không có mặt. Mọi người đều có ý kiến, nên dè dặt, sợ bị phản phé. Riêng tôi, vì có nhiều việc cần nói với gia đình, nên viết sẵn một lá thư, kèm theo một đồng tiền tem, buộc vô cục gạch nhỏ, chuẩn bị quăng ra ngoài khi có cơ hội. Nhưng phải chờ đến hai, ba hôm sau, khi tên cảnh vệ lên phiên gác ban ngày mới thực hiện được. Đây, lần thứ nhất, tôi được nhìn thấy anh ta tận mặt. Da mặt đen đúa, tay chân thô kệch, giọng nói quê mùa, nhưng quả thật có tấm lòng tốt. Sau này, anh ta đã giúp chúng tôi rất nhiều trong vấn đề thư từ liên lạc giữa chúng tôi và gia đình. Chúng tôi, không biết tên, nên gọi anh là “ân nhân”. Thư từ trong Trại, gửi đi rất hạn chế, mỗi tháng một lần, lại bị kiểm duyệt, nên có những vấn đề cần nói, không dám viết ra, nhờ vào cơ hội này, chúng tôi viết thoải mái. Nhưng anh ta cũng đề cao cảnh giác, luôn luôn nhắc nhở:

– Trước khi ném thư, phải nhìn lên vọng gác, khi nào thấy tôi gật đầu làm hiệu hãy ném. Ban đêm, gác kép, nếu nghe tiếng suỵt chó hãy ra bờ rào kẽm gai. Chớ bao giờ ném thư hoặc đứng sát rào khi chưa có ám hiệu. Chẳng may, tên Hải bắt được, nguy cho mấy anh, còn tôi không cần, bất quá chỉ bị “điều” đi nơi khác thôi, nhớ nhá!

Những ngày Tết trong tù tàn theo cuộc vui đánh cờ tướng và những tờ Bích Báo lòe loẹt treo đầy vách nơi căn nhà đặt máy tivi. Nhiều tờ đã rách tả tơi vì gió. Sự thực cũng rất ít người coi vì nội dung toàn bợ tụi Cộng Sản một cách hời hợt giả dối, cho xong chuyện. Cộng Sản chắc cũng biết, nên chẳng đứa nào ngó tới. Chúng có trao một số kẹo bánh và thuốc lá để làm giải thưởng cho người thắng cờ và tờ Bích Báo nào được chấm là khá nhất, do tù tự quyết định với nhau.

Sau Tết, miền Nam nắng gắt. Suối Máu vùng đất cát nên càng nóng. Ai cũng tìm cách làm sao có chiếc mũ đội. Do đó, trên 1,500 người có mặt, có trên 1,500 kiểu mũ. Không ai có thể tưởng tượng được một rừng mũ đủ hình, đủ kiểu, đủ màu đi lượn lờ mỗi sáng, mỗi trưa, mỗi chiều trong vòng đai Suối Máu. Đây, cũng một hiện tượng lạ với óc sáng tạo phong phú của mỗi người tù.

Giếng nước, mỗi ngày mỗi cạn, gầu thả đã đụng đáy. Trời nóng, ai cũng cần nước. Vì vậy, nên sự chen lấn, giành giật không tránh khỏi. Nhiều vụ cãi lộn, chửi thề đáng lẽ không nên có giữa các người đồng cấp và cũng là chiến hữu từ mấy chục năm, nhưng con người vì tranh sống, nên đôi lúc nóng nảy quên cả tình nghĩa, làm kẻ thù đánh giá chung tập thể rất thấp. H.râu người đã sống những giờ phút vô cùng oai hùng giữa mặt trận XX, người đã coi thường cái chết, đã hạ chiếc T54 bằng trái M72 cuối cùng, Anh Dũng Bội Tinh xếp đầy một rổ… bữa nọ chỉ vì vài con cá nhỏ, chia chác không đều, đã gây lộn suýt thành ẩu đả ! Con người càng bị đè nén, phản ứng càng mạnh. Những câu chửi rủa tục tằn sở dĩ có cũng do sự bực bội mà ra. Người ta không dễ tha thứ cho nhau khi cảm thấy không còn ai tốt với mình.

Có lẽ Việt Cộng nghĩ, không nên để tù rổi rãi quá có thể xẩy ra những hậu quả không tốt cho chúng, nên phát động công tác trồng sắn.

Mỗi ngày có vài K đi lao động ở ngoài Trại. Đi ra ngoài, tuy nắng nôi thật đấy nhưng vui vì gặp dân chúng và được hưởng đôi chút tự do! Không hiểu sao, chỉ mấy hôm sau, đã thấy các bà chờ ở hai lề đường, tay cắp, nách mang đồ tiếp tế. Bà nào may gặp chồng, con, quăng được ít đồ, nói vài ba câu, mặc kệ tụi cảnh vệ xua đuổi. Nếu không gặp, mang về, mai lên tiếp. Có nhiều bà, chờ cả tuần không gặp chồng, vì ông không đi lao động do đau ốm hoặc đến phiên nấu cơm, vác củi hay làm công tác khác.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply