Thoi thóp miền Châu thổ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 May 2024

Sông Cửu Long, còn có tên là sông Lớn, sông Cái, bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp vùng châu thổ rồi đổ ra Biển Đông bằng chín cửa. Chính vì thế dòng sông mới có tên là Cửu Long, là chín con rồng,

Bắt đầu từ Phnom Penh, sông Cửu Long chia thành hai nhánh: Tiền Giang, Hậu Giang là do lưu dân từ vùng ngũ Quãng vào đất mới, vào miền Tây (khoảng nửa cuối thế kỷ 17), gặp con sông lớn đầu tiên gọi là Tiền Giang, sau đó gặp con sông lớn thứ hai gọi là Hậu Giang.

Trên sông Tiền có 6 cửaː Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, trên sông Hậu có 3 cửaː Định An, Ba Thắc và Tranh Đề.

Cửa Ba Thắc, khoảng thập niên 1960, đã bị nhiều cồn cát ở cừa sông bồi lấp, chỉ còn là con rạch nhỏ mang tên sông Cồn Tròn có cửa nằm sâu bên trong cửa Tranh Đề, nên sông Hậu ngày nay chỉ còn hai cửa biển.

Cái cửa thứ hai mới biến mất là cửa Ba Lai do bị hệ thống cống đập Ba Lai ngăn lại để ngọt hóa vùng ven biển của tỉnh Bến Tre.

Vậy là Cửu Long chỉ còn là Thất Long, 7 cửa sông chính thông thuyền ra biển Đông.

Bây giờ vùng châu thổ đồng bằng sông Cửa Long có khoảng 17 triệu người dân thân yêu của mình đang sinh sống. Vậy mà gần 2 triệu người dân phải đau lòng, nước mắt lưng tròng, đứt ruột tha hương, rời bỏ “vùng mật ngọt” với gạo trắng nước trong, dòng sông, ruộng đồng đầy tôm cá để tha phương cầu thực.

Đàn ông thì đi làm thuê, làm mướn cho hãng xưởng Đài Loan, Nam Hàn ở tận Bình Dương. Phụ nữ trung niên phải đi Đài Loan qua tới cả Arab Saudi làm ‘osin’ tức ở đợ.

Còn phụ nữ trẻ có nhan sắc một chút thì phải để cho mấy Chú Chệt Đài Loan, Củ Sâm nắn bóp lựa chọn như lựa một con thú cưng về làm vợ.

Thân phận người phụ nữ Việt nam bị bức hiếp, bạo hành; tiếng kêu cứu, khóc than cứ biến vào cõi hư vô.

Ai đang bức tử dòng sông Cửu Long đã nuôi sống đồng bằng thân yêu của chúng ta bao đời nay?

Thủ ác là Tàu Cộng và Việt Cộng, Lào Cộng và Miên Cộng. Tội ác hủy hoai môi trường sinh thái vùng hạ lưu sông Cửu Long trước hết là do Trung Cộng ngang nhiên xây con đập khổng lồ ở Vân Nam. Rồi nước Lào xây liên tiếp 9 con đập thủy điện để bán điện cho Thái Lan và Cambodia cũng xây hai đập.

Hậu quả nhản tiền thấy liền trước mắt là đập thủy điện thay đổi dòng sông, dòng nước làm bà con mình ở miền Tây lãnh đủ. Mất nguồn cát phù sa mầu mở, bờ sông sạt lở, nhà dân đổ chìm xuống sông. Bờ biển thì cũng sạt lở, nước mặn tràn vào.

Cái lẽ phải ở đây là dòng sông chảy qua nhiều nước. Không phải sông chảy qua nước Tàu rồi Tàu muốn làm gì thì làm.

(Bài học lịch sử ngày xưa về nguồn nước đã cho biết Ông Thái Hữu Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giúp cho dân cư ở khu này có nơi làm ăn sinh sống. Khi đó có ông Xã Hạc ở chợ Ngoài chơi ép, đắp đập chặn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vào chợ Trong. Ông Kiểm bất bình, kiện lên Huyện, Huyện xử chợ Trong thua với lập luận: “Mỗi làng đều có quyền đắp đập trong địa phận làng mình”.

Ông già Ba Tri Thái Hữu Kiểm không chịu cái phán quyết bá láp nầy khăn gói đi bộ 1000 cây từ Ba Tri ra Huế để đưa đơn lên nhờ vua Minh Mạng phúc thẩm lại phán quyết bất công kia.

Vua thụ lý rồi xử cho dẹp bỏ đập, vì rạch là rạch chung, đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẫn chợ Trong.

Vậy thì các nước trên thượng lưu sông Cửu Long, đầu têu là Trung Cộng ỷ mình là nước lớn làm càn như vậy đâu có được, các nhà học giả về môi trường của nước mình phải ra Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thưa nó mới được.

Ăn thua thì chưa biết chắc nhưng ít nhứt để các nước khác thấy được cái dã tâm của Trung Cộng mà dè chừng.

 ***

Cái gây hại cho vùng châu thổ sông Cửu Long do nước ngoài đã là kinh khủng; nhưng hậu quả kinh khiếp hơn lại chính là do chính những quan chức CS trong nước.

Vịn vào công trình nghiên cứu khoa học (tào lao) ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, bọn chúng đi mượn tiền nước ngoài về xây dựng cái hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé.

Nghe thấy vậy, nên mấy hôm nay các nhà bảo vệ môi trường người Việt trong cũng như ngoài nước khẩn thiết lên tiếng báo động công luận, khuyên can bọn chúng ngừng lại nhưng hình như là đàn khảy tai trâu, nước đổ đầu vịt!

***

Hồi CS Bắc Việt chiếm được miền Nam, CS Bắc Việt đã mang nguyên xi chương trình đắp đê ngăn lũ của sông Hồng ngoài Bắc vào áp dụng ở miền Nam

Vùng trủng tứ giác Long Xuyên, cứ đắp đê, cứ chận nước lại để làm lúa ba mùa. Được cái nầy là mất cái kia. Lúa thì có nhiều thiệt nhưng đất thì ngày một cạn kiệt không còn mầu mở, vì làm gì có phù sa theo nước lụt mà bồi đắp như xưa giờ.

Phải xài phân hóa học, thuốc trừ sâu…Tiền vốn nhiều, bán lúa giá chẳng bao nhiêu nên dân làm ruộng từ nghèo thành mạt.

Rồi cả đống công trình được vẻ lên nào là: Công trình Quản Lộ-Phụng Hiệp, Cống đập Ba Lai. Bà con dân Bến Tre có câu thơ như một tiếng chửi thề: “Ba Lai là cái cửa mình. Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ!”

Cái đập nầy chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị (Bình Đại) tới xã Tân Xuân (Ba Tri).

CS đánh trống thổi kèn là để ngăn mặn, giữ ngọt cho 115,000 hecta đất, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân Bến Tre và Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành. Rồi phát triển giao thông thủy bộ và cải tạo môi trường sinh thái vân vân và vân vân…

Hậu quả nhản tiền là: Sông Ba Lai ngừng chảy, vì biến sông Ba Lai thành hồ.

Nói ngăn mặn từ biển tràn vô giờ dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô, thiếu nước ngọt kinh niên, phải tới 100,000 đồng/mét khối mới có mà xài.

Không có tiền mua nước ngọt là phải bơm từ những giếng ngầm, nguồn nước ngầm này cũng ngày một hạ thấp và có nơi cư dân đã phải khoan đến độ sâu 80-120 mét làm đất sụt lún thấp nước mặn tràn vào nhiều hơn trước.

Ngăn dòng nước thì sông ô nhiểm do rác rưởi, độc chất thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón hóa học tràn xuống tích tụ dày đặc, nước trong các sông rạch đổi sang màu đen, bốc mùi hôi thối.

Các loài cá trắng của nước chảy, giờ trong nước tù đọng có nguy cơ chết ráo. Chỉ còn lại các loài cá đen nước tù của ao hồ như cá lóc, cá trê, cá rô phi. hủy diệt sinh cảnh và nguồn thủy sản nơi cửa sông và vùng ven biển.

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ như cây dừa nước, hư hại và chết do vùng nước lợ bị ngọt hóa.

Phía trong cống, thì chẳng còn nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước rong nước kém mỗi nửa tháng. Lục bình phát triển tràn lan kín cả mặt sông rạch ghe xuống hết đi luôn. Dân phải phun thuốc diệt cỏ trên lớp lục bình để còn thủy lộ mà đi lại khiến nước sông càng ô nhiễm thêm nữa.

Mấy nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã từng kêu gào là: trồng nhiều loại cây khác nhau chớ không hẳn là cây lúa. Nuôi nhiều loại con khác nhau chớ không hẳn là bắt com tôm ôm cây lúa rồi cả hai cùng chết. Vì con tôm cần độ mặn trên 4 phần ngàn, còn cây lúa dưới 4 phần ngàn. Nước thải ruộng tôm làm chết lúa và nước thải ruộng lúa có nhiều thuốc sâu cũng làm chết tôm.

Thế nên đừng đắp đập để ngăn mặn, lợ; vì nước mặn, lợ cũng có lợi cho dân miền ven biển. Đừng thế thiên hành đạo làm chuyện nghịch kỳ thiên nữa mấy cha nội!

Xưa giờ người dân miền châu thổ, miền văn hóa sông nước, chưa có nha khí tượng, mà đã biết dự báo thời tiết, nắng mưa khá chính xác và hiệu quả.

Chưa có nha Địa chất, nhưng đã biết chọn đúng loại cây trồng, không chỉ có cây lúa họ biết đa canh để giữ màu cho đất. Cứ một vụ lúa rồi cuốc khoai để đất sốp cho vụ mùa sau.

Hối xưa vùng châu thổ năm nào cũng lụt. Đâu có nghe ai than khóc gì đâu; vì lụt rửa phèn cho đất, nước dân lên tiêu diệt mầm mống sâu gây bệnh rồi bồi đắp phù sa, một loại phân bón của thiên nhiên ăn đứt phân hóa học vốn làm chai đất.

Không trồng được lúa mùa nước nổi được thì thủy sản: cá tôm dư sức bù qua. Mà còn bù rất sộp nữa!

Nhưng tại sao Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn của CS bộ dốt nát hay sao mà không biết cái thực tế rành rành ra đó.

Họ biết chớ ban bệ tùm lum đầy đủ học vị cũng cùng mình tứ đầu tới đích.

Biết nhưng vẫn vẻ ra cái đề án phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quí hiếm từ Sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án SôngCái Lớn – Cái Bé.

Được duyệt dự án thì họ mới có ăn, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc.

Chữ rằng: Nhứt phá sơn lâm nhì đâm Hà Bá là phá rừng và hủy hoại dòng sông, tiêu diệt môi trường sống của dân là hai tội ác trời không dung đất cũng không tha.

Bên mấy nước phương Tây dân chủ nầy đây, đâu có đứa nào dám gan cùng mình làm ẩu như vậy? Cái đảng ‘Xanh’ chuyên bảo vệ môi trường nó sẽ đem mấy cha ra mà mần thịt.

Ngẫm lại cuối cùng cái tàn hại của rừng, của sông, của biển quê mình là cũng do thể chế chánh phủ độc tài CS mà thôi.

Nó làm cái nầy, dân cự nự kêu ngưng thì nó vẻ ra cái khác. Cái vòng lẩn quẩn nó không ngừng. Bỡi cái bản chất của chế độ XHCN là thối nát, tham nhũng, độc tài…Mà bản chất thì làm gì sửa cho được chớ.

Nên Boris Yeltsin gần cả đời theo CS bên nước Nga nói “Cộng sản không thể nào sửa chữa, chúng phải bị đào thải” (Communists are incurable, they must be eradicated…).

Dân mình không chấm dứt nó. Thì nó sẽ chấm dứt dân mình!

đoàn xuân thu.

melbourne

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Y Uyên

9 Tháng Mười Một, 2020

Post by Sơn râu 17 May 2024

Kỳ 6

Mùa lạnh, tỉnh lỵ có được mấy ngày đại nhạc hội và một tiệm cà phê mới nên cũng đỡ buồn. Đại nhạc hội thì do anh Anh, Ty Tiểu học tổ chức, có khá nhiều cô giáo và một vở kịch cần nhiều hoa hường. Những tấm bìa quảng cáo dán trong các tiệm lớn nói về đại nhạc hội: Những người trình diễn sẽ là những anh em đang dùng cơm với bạn, đang chơi billard, đang che dù dạo phố, rất quen thuộc nhưng cũng rất độc đáo… Sãi nói đùa với anh Anh: “Mùa lạnh tên nào cũng hốc hác, bệ rạc. Gom cả mớ thảy lên sân khấu đèn màu, anh giúp tụi nó đỡ bị rét”. Những buổi chiều ghé về nhà ngắt bông hường mang lên rạp hát cho anh Anh, Sãi thấy cửa thường đóng kín. Không muốn quấy rầy người bạn mượn nhà, Sãi quay ra cổng đi luôn. Quân và người tình hắn mấy ngày liền chỉ ăn đồ khô và ngũ cốc. Sãi có ý chờ Đởm ở trên núi xuống để đi coi đại nhạc hội nhưng không thấy tăm tích. Hắn như có nợ với tỉnh này. Một con bé có chiếc jupe serrée giấu ở bờ biển miền trong mỗi năm rủ hắn vào đó dạo chơi ít ngày đã giữ hắn lại tỉnh này suốt mấy năm làm công chức và mấy năm đi lính. Giờ thì hai đứa bỏ nhau. Đởm thù tỉnh lỵ, hẹn sẽ chỉ trở về khi Sãi ngất ngư sắp chết. Nghe nói hắn có một người yêu mới cực đẹp và hắn đang dạy cho nó biết đọc, biết đi xe đạp. Hồi Sãi về Sài Gòn tính chuyện vợ con, Đởm có về một lần. Hắn uống rượu, nhổ hết mấy cụm chuối khuân vứt xuống bến sông viết bừa bãi lên vách tường rồi bỏ đi.

Mùa lạnh cùng những ống quần kéo cao của những cô giáo trong ngõ bùn phía cửa hậu sân khấu như một điều vỗ về nhớp nháp. Rạp hát có sức ấm của những người quen mặt. Có những Ty trưởng và phụ huynh già nhai trầu hút thuốc rê và bông đùa bằng tiếng Pháp. Sãi được anh Anh cho coi không mất tiền. Người con gái nào trên sân khấu cũng có màu buồn. Người con trai nào trên sân khấu cũng chợt có hứng khởi như sắp có một cuộc phiêu lưu. Nhưng một tình yêu nảy nở nhân dịp này chắc không có. Họ như luôn ở thế sẵn sàng bước ra phố với cái dáng thu trong áo, với cái lạnh riêng mình cũ kỹ. Sãi nói với một ông già dở chứng ngồi cạnh chốc chốc lại móc ve rượu trong túi ra uống: “Bạn bè tụi nó bỏ phố xá vào đây hết trơn, bữa nào tôi cũng phải tới đây ngồi nhìn”. Ông già hỏi sao Sãi không vô Sài-gòn giúp ông già buôn bán? Sãi cười: “Tôi mắc coi nhà cửa, vườn tược, vô chi được”. Ông già nói Sãi thực sướng. Sãi hết hứng nói chuyện. Có lúc mưa đổ bên ngoài nghe rõ tiếng, người trong lòng sân khấu chìm đi và người coi phía dưới có chút ngơi nghỉ. Sãi muốn rủ Thị xuống ngồi với mình nhưng ngại anh Anh phiền. Đứng ngấp nghé hoài ở cửa sau hậu trường mà khích lệ Thị cũng nhột nhạt. Màn chính của Thị là một màn điều khiển hợp xướng. Một bầy con nít vừa trai vừa gái được dàn hình vòng cung một góc sân khấu. Tất cả vận đồ trắng, con trai noeud xanh, con gái jupe ngắn buộc bím. Trông đứa nào cũng ra vẻ nghiêm trang nhưng lời hát như lời trả bài cô giáo. Thị quay mặt vào bọn trẻ, không kể cái dáng đánh nhịp, quần áo nàng cũng đủ lòe xòe. Bài hát có vẻ mỏi cẳng. Dứt bài có đứa co giò chạy bừa vào trong. Thị phải chạy vào lôi ra để hát theo lời hô bis, bis của mấy ông già ngồi hàng ghế đầu phía dưới. Lúc mãn hát, Thị cùng các bạn được anh Anh chở xe đi ăn và đưa về nhà. Sãi bảo Thị bỏ về sau màn hợp xướng, Thị không nghe. Thấy nàng có vẻ cố tình, Sãi bực mình bảo: “Cô ngỡ bữa nào tôi cũng đến ngửi mùi bã trầu nghe học trò cô ê a hát rồi về một mình sao”. Thị kêu: “Anh nói chi mô mô nghe sao sao đó”. Sãi làm thinh. Thị nghịch với sự phân giải. Lời Thị bày tỏ là lớp tơ tằm tự cuốn quanh mình. Nhưng dường như đó không là nỗi kín đáo. Những lúc đó mặt Thị vẩn vơ và lời nói bỏ lửng, chậm rãi như đang rời buông một đường dây trong tay với ít nhiều chểnh mảng. Cũng lúc đó Sãi nổi giận như không còn thấy cái vẻ lôi thôi, quen thuộc trong cặp mắt mở lớn. Cơn giận vụt đi như một cái chụp bắt muộn nhưng kịp để rút tay về. Thị đã trở về với nguyên vẹn. Sãi lặng thinh, một cái xoay lưng vào khoảng-không-ngỡ-vẫn-còn-hơi-nóng. Sãi nghĩ tại mình chẳng nói được gì hơn những lời vẫn nói với nàng. Sãi sắp đi. Và muốn có một người con gái quen quen, gần gần để nhớ. Những năm qua nếu được sống bên mấy đứa em gái, chắc mùa đông này Sãi đã không hấp tấp gượng gạo nhìn mớ quần áo loà xoà như một vật thực quen. Và Thị vẫn còn như nàng nguyên vẹn. Nhưng Thị, nàng có thể chờ những người có sự khoan thai, điềm tĩnh hơn. Những người sống và chết trong giả tưởng đã được sum vầy. Sum vầy là những vết chân ngoảnh lại nhận ra khi Sãi nôn nả chạy về phía trước. Sãi sắp đi. Mấy tiếng đó truyền trong bạn bè như một ngôn từ sáo mép. Có cuộc viễn du nào không gặp lại được mớ quần áo loà xoà?

Đêm đại nhạc hội chót, Sãi không tới coi. Thời gian để biết thêm về Thị còn ít ỏi quá. Nửa đêm ăn cháo gà với một người bạn ở nhà ga về, Sãi thấy Thị và mấy người bạn ngồi chen chúc trong một chiếc xe Jeep đậu trước cửa một tiệm nước sắp đóng cửa. Sớm hôm sau, Sãi nghe lời rủ của một cậu học sinh, đi xe đò vào chơi vùng biển, con bé của Đởm giấu chiếc jupe serrée. Trong chuyến xe chạy qua những núi đá, những rừng cây khô đã nghe có những người đàn bà buôn bán nói chuyện chia ba đất nước. Những lúc xe ngừng lại sửa, họ ngồi bệt trên đường đèo, bên những cây dương hút thuốc nhai trầu, ồn ào nói chuyện như đang ở nhà. Bầu trời lạnh lẽo không có chi thuận tiện cho việc đứng giữa đường nhưng Sãi đã gặp nhiều người quen sắp đi lính cỡi Honda về tán dóc ở những quán chợ, những chóm khóm ven lộ. Trời có lúc mưa. Mấy cây cầu nổi có khi kẹt xe, đầy người hai bên bờ sông. Cái lạnh nóng mặt khó chịu như hớp rượu khi đói bụng. Những vệt chữ lưu niệm ở những chồng đá ngổn ngang chân núi phơi bày thêm nỗi hoang sơ của bầu trời trống trải. Sãi nghĩ quanh về một người tình vừa lấy chồng, về Thị với mấy người bạn nàng ưa dạo phố. Sân khấu đối với Thị hết sức bất thường. Nhưng ấm áp hơn căn phòng nàng mướn. Một vài lúc chợp mắt trong rạp, tỉnh dậy Sãi có sẵn ý nghĩ nàng vẫn còn ở đó. Nàng đang săn sóc bọn trẻ. Một vài người già cả quen biết đang chờ đợi nàng.

Miền biển đi tới không còn cái lạnh tỉnh ngoài. Ở đây nghe nói có mấy người con gái rực rỡ và quyền thế. Chiếc xe tới bến, ngày đã muộn. Cậu học sinh giới thiệu Sãi với người phu xích lô chủ nhà trọ và xin được chở về nhà. Đường phố gió khô đầy bụi. Pháo được phép bày bán sớm cho bọn Mỹ mừng Tết. Trước những night-club vẫn còn những cành thông Noel. Cuộc hành trình vừa qua kéo dài mệt đừ. Những bã trầu, mẩu thuốc trên đường đèo, chuyện chia ba đất nước xa khuất như bầu trời lạnh bên kia rặng núi. Chải xong bộ quần áo, Sãi đi ăn rồi kiếm vào người bạn đã hẹn trước. Không gặp ai, Sãi theo cậu học sinh ra bờ biển loanh quanh kiếm một cái kiosque nghe nói triển lãm tranh. Bờ biển vắng như thể bọn Mỹ cũng có chiều cuối năm. Những chuyến xe lam rỗng không chạy ào ào kiếm mối. Một vài xe chở sinh viên Hải quân và con gái vào phố mang cái dáng chiến sĩ và dạ vũ. Sóng nổi bọt và những đèn hiu hắt ngoài xa thì gợi hình ảnh những chuyến xe đó cũng như thiệp mời không chính thức. Phố lên đèn. Sãi nhờ cậu học sinh dẫn tới thăm một ông bạn văn đứng tuổi. Ngôi nhà nom như một biệt thự bỏ trống. Ông bạn văn đang dùng bữa cơm muộn với mấy người con nhỏ dưới đèn. Sãi xưng danh tánh và nghe tiếng cười nói mừng rỡ. Sãi tự rót lấy trà uống để ông bạn dùng tiếp bữa cơm. Lúc ngồi nói chuyện, Sãi như gặp lại người anh đã lâu không tin tức. Chuyện viết lách, chuyện rong chơi. Chuyện nhà neo người, chuyện khó khăn kiếm kẻ giúp việc. Gần tới giờ chiếu xuất phim cuối, Sãi từ giã cái gia đình có tiếng cười thực khoẻ và công việc bộn bề. Giữa khuya, về nhà trọ. Phố đêm còn những người ngoại quốc đốt pháo. Sãi trằn trọc khó ngủ. Chỉ còn cái lạnh lúc đêm về sáng là có thể đợi chờ. Cỡ năm giờ sáng, Sãi rùng mình nghe có người đập cửa gọi tên Sãi. Người ta hô hoán có trộm. Dưới mặt ngõ dẫn vào những ngôi nhà của người phu xích lô, người ta thấy vứt bừa bãi giấy tờ của Sãi. Đèn bật sáng mọi phòng. Mọi người kiểm lại đồ đạc. Không ai mất gì. Kể cả chiếc quần và mớ giấy tờ vứt dưới đường của Sãi. Người ta bàn tán không hiểu. Căn gác Sãi mở cửa suốt đêm, treo nhiều áo ấm và một tủ đầy ra-dô, ti-vi của chủ nhà đã bị cạy khoá. Sãi bỗng dưng như một kẻ lạ bị theo dõi. Sãi bảo cậu học sinh sẽ về chuyến xe sớm nhất. Mặt trời lên, ông bạn văn tới thăm, nghe tiếng nói cười từ lúc bước chân giậm dưới những vòng thang gỗ. Những mái nhà phía dưới còn ướt sương sớm. Ông bạn văn ngồi bên mép giường hỏi chuyện hành trình của Sãi. Sãi nói phải quay về trước khi vô miền trong. Sãi cũng kể chuyện mất trộm cho ông bạn văn nghe chơi. Lúc tiễn ông bạn văn về, Sãi gặp mấy người bạn. Một bữa ăn sáng ồn ào những chuyện đi chuyện ở. “Đủ rồi. Thành phố này không dung người lạ”. Sãi giỡn giỡn lúc chia tay họ ở bến xe. Cậu học sinh tần ngần nhìn Sãi: “Ở đây học chờ Tết, thấy uổng. Muốn về lại quá”. Sãi bảo khung trời này dễ gợi nỗi thèm đi. Có về cũng vậy thôi. Bộ đã nhớ những đêm hai đứa nằm co quắp? Những đêm lạnh lẽo anh nhớ em vô cùng, vách núi lưng đèo mòn đôi gót phong sương… Tiếng hát nghêu ngao, sau cái phóng ào ra sân những đêm lạnh mà buồn đi tiểu. Bộ đã nhớ tiếng hát đuổi ma đó rồi sao?

Chuyến xe trở về ít khách. Có những đoạn đường xe chất đầy rơm và những người làm ruộng. Một cô thợ may đợt sóng mới ngồi bên Sãi ôm theo nửa trái mít ăn suốt dọc đường. Cô ta thích nói lại những buổi vũ Noel vừa được dự ở đây. Một bà già ra tỉnh ngoài lấy xác đứa cháu nội bỗng có chuyện gây gổ với cô gái. Hai người cùng lắm lời. Họ nói đủ thứ điên đảo, điếm đàng, đất nước, lẩm cẩm v.v. Đám người có rơm chất đầy xe còn chọc vô thêm để có chuyện cười. Cô gái bắt xe “tốp” giữa đường, ném lại cái nhìn ghê tởm rồi nhập với mấy người thanh niên choàng manteau cỡi Honda chạy ào ào ra miền ngoài. Về tới ranh giới hai tỉnh, trời mưa xối xả. Chiếc xe lại hư, nằm cả giờ bên bãi đá chồng lổn ngổn dưới chân núi. Những ống dẫn dầu từ dưới vịnh về phi trường có từng khúc sáng trong không khí mù mù ướt át… Sãi về tới nhà thì Quân và người con gái đã đi. Anh Huệ cho đứa con đầu lòng tới kêu Sãi lên anh ăn cơm và bàn chuyện cho mướn nhà. Sãi ăn uống ngấu nghiến. Chuyện nhà cửa, Sãi bảo anh Huệ tính sao cũng được. Ngôi nhà cũng như Sãi đã là những rắc rối, cha Sãi không muốn nghĩ tới. Cái đập vai đầy phấn billard hôm Sãi ghé vào tiệm chào ông để ra đây còn rõ như những chữ lem nhem Đởm viết trên tường. Thế giới của ông trẻ quá. Hôm người yêu Sãi đi lấy chồng, những bạn ông đã bắt tay Sãi chia buồn. Sãi thuật lại với Thị chuyện đó. Hôm Sãi đột nhiên nhận ra Thị có dáng lòe xòe.

Ở nhà anh Huệ về, Sãi tắm và cuốn mền ngủ. Như vậy lúc phố lên đèn mới đến Thị được. Cánh cửa đóng kín dối gạt bạn bè. Với bọn này, chỉ một ly cà phê tạm biệt qua quít. Còn phòng lúc trở lại bất ngờ.

Sãi dậy lúc có cảm giác Đởm về đứng trước cửa. Sãi quờ quạng bật đèn, ra giếng. Những đêm lạnh lẽo anh nhớ em vô cùng, vách núi lưng đèo mòn đôi gót phong sương… Những cành cây chạm mặt. Sãi tỉnh hẳn dưới những bóng lá rũ nước. Giấc ngủ, bộ quần áo mới thay, tấm áo khoác ngoài đổi mặt, Sãi bước trên mặt đường phố với dáng ấm áp, gọn gàng. Qua tiệm cà phê mới, Sãi thấy Thị trong đám bạn gái bạn trai bước ra. Sãi né cái ồn ào lối đó, tới nhà Thị ngồi chờ. Ở bệ xi măng xây bỏ lửng đầu hiên có một mớ vỏ chuối. Trước cửa ghim một tờ giấy. Tôi đến, các cô đi vắng. Ngồi đợi thêm ăn hết nải chuối vẫn chẳng thấy ai về. Xin hẹn khi khác. Du Thản Chi.

Bọn Thị vào tới ngõ ồn ồn tiếng cười nữ sinh nội trú. Mấy người con trai cũng theo vào. Sãi đứng trước căn phòng ngoài khoá kín tạo chút ngạc nhiên lúc chưa rõ mặt. Tiếng mở khoá của người con gái đầu đàn. Tiếng giễu của mấy người bạn trai. Tiếng kêu một cô đọc tấm giấy. Giọng thương gã Du Thản Chi, người bạn lặn lội, chân thành, Thị yên lặng, xa Sãi một khuôn mặt tối. Cánh cửa mở cùng hơi thở trút nặng lúc trở về. Mọi người nhường nhau vào căn phòng chật chội. Thị nói:

“Mình ở ngoài nói chuyện”.

Hai người lại bệ xi măng đầu hiên. Trong nhà nổi tiếng hát nghịch ngợm của một cô thay áo: Đêm nay một người tiễn một người. Sao rơi hò hẹn gặp sao rơi… Nơi cuối chân trời… Thị quay lại đóng im cánh cửa như tránh nói trước. Sãi hất tờ báo có mớ vỏ chuối, ngồi lên bệ xi măng. Thị khoanh tay tựa lưng vào cây cột. Sãi bảo:

“Để anh co giò lấy chỗ Thị ngồi cho ấm?”

Thị lơ đãng nhìn nóc nhà thờ vượt cao ngoài ngõ, cười không rõ:

“Em đứng một lát cho đỡ nực. Đi phố về nhà bao giờ cũng nóng”.

Sãi nghe như mình lặp lại:

“Vài bữa nữa anh đi”.

Thị lần này bụm miệng cười thành tiếng:

“Anh Sãi đi mạnh giỏi”.

Sãi cũng mơ hồ cười theo. Trong nhà vang âm âm tiếng khua động kẻ đứng người ngồi vẫn chưa yên ổn. Thị đẩy chân Sãi, ké né ngồi xuống. Sãi choàng qua vai bấm những đầu tóc cháy của nàng. Hai người hôn nhau. Nước mắt ướt trên mắt Thị khép kín. Thị đẩy Sãi ra và quay mặt khóc. Cái khóc vẩn vơ như một dịp tự nghĩ lại mình. Những giọt nước mắt như từ một tâm hồn có gió và cây lá đẩy đưa. Chẳng có Sãi.

“Ra phố?”

Sãi đứng dậy cùng Thị ra ngõ.

“Nhường chỗ cho người ở trong nhà ra ngồi dặn dò từ biệt”.

Đởm về nói được lắm, không có Thị tao cũng đến mất tiêu tăm tích mày. Sãi hỏi chuyện học hành của người yêu hắn, hắn chửi tùm lum. Nhưng rồi hắn vẫn kể. Người yêu hắn đã biết viết thư tự ví mình như con thuyền giữa dòng Bến Hải.

Đởm mở bung các cửa, đọc những chữ hắn và đám bè bạn viết. Sãi cho hắn biết chuyện cho mướn nhà. Phòng trên này cho một gia đình lính mướn. Phòng dưới Sãi định gọi Du Thản Chi lại ở để hắn giữ mấy tủ sách luôn thể. Thản lì lợm nhưng khí khái. Có bữa hắn đã định mạo hiểm lên đồn lôi Đởm về cho Sãi. Nhưng mấy lần Sãi bảo tới ở hắn đều từ chối. Hắn lấy cớ không chịu được không khí bạn bè Sãi. Nửa tháng nay không thấy hắn tới. Có dư luận hắn về ở dưới làng để sửa soạn cưới vợ. Nải chuối trước cửa nhà Thị chứng tỏ Thản đã lên phố. Không thấy hắn tự tìm đến, tìm hắn là chuyện mất công. Đởm nghe chuyện Thản, có vẻ thích thú:

“Xứ này đúng là xứ anh em kết nghĩa của mày”.

Đởm kéo Sãi đi ăn rồi rủ Sãi đi coi hắn đánh bạc. Hắn banh nút áo, kéo maillot bảo Sãi rờ vô ngực hắn. Sãi thấy một cái bùa vải vàng dấu đỏ của người Thượng.

“Lính nó làm biếu tao đó. Chuyến này về tao cốt ý thử bùa”.

Sãi nói:

“Tao không ngờ mày bệ rạc tới mức đó”.

Đởm cười:

“Chỉ giờ năm sau, đeo mười lá bùa về diễn ở phố này mày cũng đeo”.

Đởm đánh bài luôn mấy ngày đêm. Những người ca hát mấy bữa trước nhiều người có mặt trong sòng bài. Hắn bảo Sãi đừng bận tâm về hắn. Đây là canh bạc tìm lại bạn bè cũ. Khoá học này một số đông giáo viên nhập ngũ. Thị được về dạy một trường gần. Sãi bảo chờ Sãi đi hãy tới trình sự vụ lệnh. Buổi sớm, Sãi từ sòng bài của Đởm ghé tiệm cà phê mời mua ít pâté chaud lại nhà Thị. Những người bạn Thị đều đi dạy buổi sáng, Sãi đỡ mất công bảo Thị lại nhà. Thị khoác tấm áo len đỏ, vận bộ đồ ngồi trên chiếc ghế mây độc nhất hát những bản nhạc để bừa bãi trên bàn chờ Sãi. Sãi không ưa màu áo và nhạc đó. Thị đoán hiểu, cố ý chọc tức. Sãi ngồi một góc chân bàn, lật coi những lời đề tặng nghĩ đến lá bùa Đởm đe doạ. Cơn giận cô bùng lên cũng như lòng lạm dụng tình thân. Thị yêu dấu vẫn là Thị loà xoà cười nói. Thị tự do vẫn là Thị nguyên vẹn thu hình. Tình yêu có khi gây lầm lẫn giữa ước vọng và người đàn bà. Kẻ thất vọng đã ngỡ một đêm ái ân kia nàng đến với mình cùng bao nhiêu bùa phép. Vẻ óng ả sau lớp dầy vải vóc và nổi trống trải của bãi đá chồng dưới chân núi, Sãi có nơi Thị bấy nhiêu.

Sãi thường hôn xuống gáy Thị lúc hai người lại ngồi bên mép giường. Thị yên lặng cúi đầu quệt vạt guốc mỏng mảnh tạo tiếng động. Xúc động nàng âm thầm và khuất ở nơi ngực loã xoã tóc. Sắc đen đôi mi rất thực lúc xoay mặt hôn nhau. Thị ngộ nghĩnh ở vốc tay tham lam đầy vải dày vai áo. Đêm khuya bên sòng bài của Đởm, cái lạnh sau giấc ngủ vật vờ, Sãi thấy nhớ cái dáng quấn quít lúc đó. Đởm đánh bài, nguỵ biện như tình yêu. Căn phòng kín khiến hắn gặp Sãi trong ánh sáng không ngày đêm. Sãi thêm: đó không là ánh sáng con bé hồi trước đi dạo ngoài phố. Đởm cãi hắn không còn kể gì tới con bé. Con bé cũng chẳng là gì. Nó cũng như những năm ồn ào vừa qua chỉ là một sự cần thiết để nản nản mà dễ lấy một người vợ. “Rồi đứa nào cũng sống với một người vợ. Cũng chỉ một người thôi”. Sãi đùa đó là thứ triết lý bộ lạc. Đởm gật: “Rồi cũng có ngày mình tới được đời sống bộ lạc đó”. Đởm đi trước Sãi hai ngày. Hắn thua hết tiền và đưa cho Sãi lá bùa. Sãi thấy kỳ cục. Một người bạn làm thơ sắp cưới vợ đã nhận ra lá bùa vào buổi chiều anh ta mời Sãi tới ăn uống. Trong lúc say sưa, Sãi nói cảnh biệt ly nào mà chẳng cảm động nhưng thực ra lá bùa trong túi Sãi cũng chẳng giúp Sãi uống thêm được bao nhiêu. Và tới buổi tối đến Thị, Sãi thấy nên giữ lấy lá bùa. Sãi khi đã đi xa rồi, sẽ thấy lý do giữ lá bùa lại rõ ràng hơn. Nỗi nhảm nhí không có mốc nào đánh dấu nhưng cũng nổi rõ trong trường hợp bao biện, vị tình. Nỗi bao biện nghĩ mình chẳng có gì mang đi nhiều hơn. Thị vẫn ra khỏi nhà bằng tấm áo choàng thùng thình gần kín hai ống quần mỏng mảnh, sờn cũ. Miệng cắn những hột dưa đợi Tết. Hai người không nói sẽ đi đâu vì vẫn những con đường, những nơi ghé và thói quen mọi tối. Tiếng gió trên cao làm cái tin đám cưới người bạn thơ được loan trên đài phát thanh địa phương có giọng nho nhỏ như tiếng trò chuyện trong phòng. Sãi bảo cái vẻ lôi thôi của Sãi và Thị chỉ hợp với một đám cưới tập đoàn. Thị bỗng vui thích hát một bài ca con nít. Những đêm vầng trăng lên tròn tròn, gió đưa ngàn cây nghe xào xạc, chúng em cùng họp đoàn vui chơi… “Nghe… tình cảm hơn những bản nhạc em vẫn hát”. Sãi nói. Thị đùa không chừng Tết ni về Huế có một ông chồng. “Phải lặn lội về tận quê kiếm một ông chồng, bết quá”. Thị toan cãi thì tới một vùng nhiều ánh đèn. Rút tay anh lại. Hai người đi theo đuôi những chiếc xe bán bánh mì đèn rung chấp chới. Sãi nhớ Đởm đã giơ cao quả đấm khi nói đường phố đây chỉ thấy một lối áo choàng hai mặt và những trưng bày thuộc địa. Những nhà cửa đóng và những mái hiên khuất lấp còn để đèn Giáng sinh. Sãi bật cười khi nhận ra mình vừa giảng giải cho Thị thế nào là quý phái. Thị kể lại nổi buồn khi biết đã qua cái tuổi trèo cây. Giờ còn trèo cây thì hẳn cao hơn hết mọi thứ. Cao nhất. Thị cười rũ. Cái dáng của Thị hôm nom thấy chữ CAO NHẤT vô nghĩa của một người bạn Sãi viết trên tường. Căn nhà đó thực sự mang vẻ ngô nghê của những người đã đi, những người đã vướng vào nỗi bộc lộ bình nhật mình vẫn ít nhiều rẻ rúng. Hai người vào uống nước ở một tiệm nước nhiều bóng cây gần chợ. Tiệm vắng. Thị vẫn có chút ngập ngừng. Sãi có chút bực dọc. Hai người ngồi ở một góc chiếc bàn mặt đá rộng, trống trơn. Sãi hỏi Thị có gì nói không? Thị lặp lại: “Anh Sãi đi mạnh giỏi”. Sãi hỏi gặng, Thị cười: “Đầu óc anh nom thực bờm xờm”. Thị đã nói năng ít nhiều dễ dãi. Nàng bắt đầu quen với một lối nói chuyện. “Từ giờ tới mùa hè năm tới cũng không có gì là lâu”. Sãi nói. Thị cúi uống ly nước không ý kiến. Thị có vẻ chậm chạp ở những phản ứng chưa quen, không thể bắt chước.

Hai người đi nhiều vòng những con đường góc phía Bắc thành phố. Gần giới nghiêm, hai người về cùng những chiếc xe bán bánh mì bắt đầu tản dần khỏi vùng ánh sáng Ngã Năm. Ý nghĩ đi, ở như một không gian lơ lửng. Giữa vẻ óng ả sau lớp dầy vải vóc gần gũi và nỗi trống trải của bãi đá chồng dưới chân núi lúc dời xa. Hai người vẫn trở về qua lối nhà ga. Con đường đó vẫn phải bước bằng cái dáng vượt gió. Có bóng mấy gã lính rải dưới những bức tường đổ trước sân ga thách thức chuyện thanh toán. Căn nhà trong ngõ đã tắt điện. Có ánh bạch lạp một bạn đồng nghiệp của Thị thắp học thi. Hai người đứng tựa vào bệ xi măng đầu hiên. Thị nói chuyện viết thư. Sãi bảo sẽ không kể chuyện lính. “Để chứng tỏ tình yêu phong phú”. Sãi cười như giọng nói buông lơi. Thị đẩy Sãi: “Anh về đi, giới nghiêm rồi… Anh Sãi đi mạnh giỏi”. “Ít ra mỗi ngày cũng đứng đắn năm phút”. Sãi nói. Thị ngã vào lòng Sãi.

Nguồn: Chiếc xương lá mục. Tập truyện ngắn của Y Uyên, mẫu bìa của Duy Thanh, chân dung Y Uyên, được vẽ bởi Duy Thanh. Nguyệt san Tân Văn số 33, tháng 1 năm 1971. Ấn hành lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Cơ sở Văn, xong ngày 10 tháng 1 năm 1971.

Bản điện tử do talawas thực hiện. Gia đình tác giả giữ bản quyền.

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Y Uyên

6 Tháng Mười Một, 2020

Post by Sơn râu 17 May 2024

Kỳ 5

Chiếc xương lá mục
Đêm qua Nại chỉ chợp mắt lúc gần về sáng. Mười hai giờ Kim vẫn còn ở đây. Nàng ngồi trên tấm ghế, Nại bỏ xuống dưới sàn. Kim ngồi trên tấm nệm trên thềm. Kim thực sự muốn chấm dứt. Nàng nói làm con gái thì phải có chồng nên chúng mình không thể thương nhau tiếp. Nại cười cười cho tới lúc Kim giận dữ thực sự. Nàng nói: “Đó, anh vẫn còn cười được. Trước tới giờ lúc nào anh cũng cười. Yêu anh, tôi thành người nói một mình. Anh khinh tôi quá lắm”. Lúc đưa Kim về tới ngã ba, Nại tự dưng ngậm ngùi bảo: “Chúc Kim gặp nhiều may mắn”. Nại biết sớm mai Kim sẽ đi với một sĩ quan ra khỏi tỉnh. Nàng bỏ ta thực sự rồi. Nàng bỏ ta rồi. Ôi… Nại về buông mùng ngủ cười một mình. Hoa sầu đông trên những nền nhà cao bỏ hoang nực mùi thơm. Trời vào hè không khí thực yên thực mát những ngày sau tết còn sót. Nại nhớ một cái xương lá lâu ngày trong đáy một giếng nước nào đã quên. Ôi… ôi… Hai hàm răng Nại bỗng dưng đập vào nhau với âm thanh cười cợt quái dị trong miệng. Nại lục kiếm tấm áo len và vớ. Cơn lạnh buốt xương hoa dầu không kịp. Nại trùm mền xoay trở trên nệm. Cái lạnh như từ dưới sân hắt vô. Nại co người lăn sát vào bức tường ngăn với ngôi nhà phía trước. Nại thấy giận người bạn dạy học quận lỵ ghé chơi đã về quê quá sớm. Khoảng bốn giờ sáng Nại chợp mắt được một lát. Lúc tỉnh dậy người nóng hực. Nại nhoài ra khỏi mùng. Hương hoa sầu đông ngoài mùng thực đậm. Nại trùm lại mền ôm lấy cái đầu phảng phất hương thơm như một bình trà nóng. Mồ hôi nhớp nháp. Nại gắng giữ mình trong mền nhưng có lúc không kìm được tiếng la hét.

“Dưới mái hiên kia có người ta sao mà có tiếng rên dữ vậy?” 
Tiếng mấy người đàn bà đi buôn từ dưới ngõ băng qua những nền nhà trống vào thắp hương trong miễu Ông Cọp. Nại nghe lẫn cơn mê sảng bò lên núi cao với cái xương lá ngậm miệng. 
Nại choàng dậy lúc mặt trời đã có nắng trên những vách tường mốc. Tiếng chim sẻ nhốn nháo làm ồn. Đình mùng rớt một mớ rác vụn của những tổ chim trên mặt tường dưới mái ngói. Từ bữa hết mưa lớn, rút dần những tấm ván lát che mưa gió trong mùa lạnh vừa qua, mái hiên rộng hết còn vẻ một căn phòng. Người chủ nhà ở phía trước bảo Nại coi chừng. Nại nói không chịu được sự tù hãm căn phòng trong mùa khô, vả lại cũng chẳng có gì sợ mất trộm. 
Nại ngồi tựa vào cột lấy tay giật giật đuổi một con sẻ non rớt xuống đình mùng. Tiếng con chim mẹ nháo nhác dữ tợn. Nại bước xuống sân kiếm tấm khăn khô lau mặt. Cơn nóng lạnh chỉ còn lại sự nhức mỏi da thịt, Nại chắc mình không bịnh. Những ngày vừa qua Nại biết mình thực suy nhược. Nại quay vào lấy réchaud đun nước pha sữa. Nại cởi áo len phơi ra dây ngoài sân. Nại bỏ lá thư của Khánh vào ngọn lửa xanh lè. Tựa vào cột, uống từng hớp sữa, Nại nhớ xem trong cơn mê sảng có lúc nào thấy Khánh? Khánh trong dĩ vãng đó có như cái xương lá mục trong giếng nước? 
Nại ra giếng đầu nhà rửa mặt thấy tỉnh táo. Một đêm thực dài như tiếng cười nhọc mệt không thể nín, Nại bước lăng quăng trên những nền nhà, dưới những chùm lá sầu đông non thử bước chân coi đã khoẻ? Miễu Ông Cọp dưới gốc bàng những que hương đã rơi những đốm tàn cuối xuống nắm hoa tươi rẻ tiền của đám con buôn. Nại vào nhà thay quần áo, lấy chiếc mũ nan chụp đầu dắt Solex ra trước nhà. 
“Cho tôi gởi nhà, ông chủ”. 
Nại nói với người đàn ông đang lui cui tưới nước đám bông trang. Qua tiệm thuốc, Nại mua mấy viên Tyfomycine, nửa nuốt tại chỗ, nửa bỏ túi. Em gái có thấy anh giàu thiện chí không em gái? Nại vòng qua thành phố rồi quay trở lại, nhưng bằng con đường dẫn xuống quận. Ngày nghỉ, những con đường ngoại thành đầy người. Mùa trái cây. Những sọt những quán rải dọc vệ đường. Những dốc mát xuống vườn và những chiếc võng bạn hàng trong bóng cây đợi khách. Khánh, mười mấy cây số với cơn nóng lạnh đêm qua đó em. 
Anh với em sẽ ngồi thu cẳng lại nói chuyện con đường, cây ổi, cây xoài? Hay em sẽ kể những năm loạn ly chạy xa mãi cái bếp lò của ông ngoại mỗi ngày mấy lượt em bò chống hai tay phùng mồm ngậm cái ống thổi lửa? Hay em lẻo bẻo nói chuyện Mỹ, chuyện Đại Hàn? Và anh sẽ… Tiếng la hét và cái xương lá có là chuyện nói? 
Quận lỵ nằm hai bên con đường liên tỉnh. Có chợ ồn ào bên bờ sông. Nại dừng Solex trước tiệm hình Mỹ Lệ. Khánh là người con gái trong tấm hình treo ngay lối vào đó sao? Khuôn mặt mịn phảng phất vẻ con nít nhìn xuống. Nại nói với anh con trai tóc xoăn sau quầy: 
“Làm ơn chỉ giùm tôi nhà cô Khánh”. 
Người con trai tóc xoăn ngẩng lên nhìn Nại rồi hỏi: 
“Anh là bạn Khánh?” 
Nại miễn cưỡng gật đầu. Người con trai tóc xoăn quay vào dặn người trong tiệm rồi ra hiệu cho Nại đi. Nại hỏi: 
“Có xa không?” 
Người kia lắc đầu. Hai người rẽ vào một cái cổng gỗ của một đoàn hát, qua ba cái ngõ. 
“Nhà Khánh đó”. 
Anh ta trỏ một cái cổng sơn xanh. Nại nói: 
“Cám ơn anh”. 
Người kia quay lại. Nại dắt xe tới trước cổng. Dãy nhà nom như khu công chức. Ngõ sạch. Trước mỗi nhà có một mẩu sân và hàng rào gỗ. Cửa nhà Khánh đóng kín. Trong nhà có tiếng nhạc kích động. Nại gọi: 
“Khánh, Khánh”. 
Chờ một hồi lâu, Nại mới thấy một đứa nhỏ ra mở. 
“Cậu Nại”, và khoanh tay, “cậu ạ”. 
Thằng nhỏ reo. Nại nhìn nó không hiểu. Chắc một đứa cháu Khánh. Nại khoá xe hỏi: 
“Dì Khánh có nhà không?” 
“Dì Khánh đi chơi”. 
Thằng nhỏ nói và đu lên cánh cổng gỗ gài lại cái chốt. Tiếng nhạc trong nhà om sòm. Nại bước vào với thằng nhỏ dưới chân. Căn nhà chạy sâu. Ngăn ngoài là phòng khách. Thằng nhỏ ôm cẳng Nại kéo vào. Qua phòng ngủ, tới ngăn thứ ba, Nại thấy má Khánh nằm dài trên cái võng treo cao. Sát tường là tấm bàn đặt chiếc máy thâu thanh. Mớ tóc có nhiều sợi trắng của má Khánh quét xuống mặt tấm ngựa phía dưới. Nại nói: 
“Chào bác, cháu là Nại”. 
Má Khánh quay ra cười thoáng nét vui. Nại lại gần võng. Người đàn bà đảm đương lịch lãm những năm trước giờ có bộ mặt xanh mét. 
“Nại đó cháu? Em nó mong lên cháu hoài”. 
“Bác sao đó?” Nại hỏi. 
“Tê bại gần năm rồi đó cháu”. 
Nại nghe giọng nói loáng thoáng, thấy hai vai bà nhích qua một chút, hai chân để dài cuối võng. Nại bước lại gần máy. Tiếng nhạc kích động mở quá sức lớn. Miếng kính lồng trên mái lọt xuống nền gạch tối và ẩm một ô sáng trong vắt. Má Khánh kêu thằng nhỏ bưng một cái đẩu cho Nại ngồi. Bà nói Khánh vừa ra phố với một người bạn sắp về. Thấy Nại tò mò nhìn thằng nhỏ, bà thở ra: 
“Con thứ ba con Cúc đó”. 
Nại chợt hiểu cái khoanh tay và tiếng chào “Cậu ạ” của thằng nhỏ. Chồng Cúc là một người Hà Nội. Bà già hỏi Nại hiện làm gì. Nại kêu sức đâu mà nói. Cháu ở đủ chỗ, làm đủ thứ, bác nghe thêm mệt. 
“Hồi nghe cha cháu mất, bác đang kẹt xe thầu Câu lạc bộ Hưng Đạo, không đi được”. 
“Ổng già còn ham đi ghe, phần số ổng nó vậy, nói chi nữa bác. Ổng quá coi thường bão biển”. 
Nại bỗng chợt nhớ bật cười: 
“Có hồi ổng chê súng Mỹ dở, bữa sau bị bắn què cẳng tức thì”. 
Nại nói chuyện thấy sốt ruột, Khánh vẫn chưa về. Cúc và mấy đứa nhỏ đi chợ mua đồ ăn về thấy Nại có vẻ ngạc nhiên. Mấy đứa nhỏ vòng tay chào Nại thực lớn. Nại thấy Cúc mềm mại và khéo léo hơn trước. Trẻ vậy mà chồng chết thật uổng cho Cúc quá. Nại ngẫm nghĩ, cố nhớ lại một điều gì thoáng qua trong đầu. Cơn mưa bất ngờ rơi ngoài ngõ như bụi. Cúc nói: 
“Lâu ngày mới gặp, anh ở lại ăn cơm trưa với chúng tôi”. 
Nại ra nhà ngoài hỏi bọn nhỏ sao biết tên Nại mà kêu “Cậu Nại” ồn ồn? Đứa nào nghe hỏi cũng sợ, giương mắt nhìn. Cúc cười tự phụ: 
“Tụi nó lanh lắm. Tên mấy người quen nội, ngoại, chúng nhớ hết”. 
Nại nhìn những đôi mắt thực trong thực sáng, kiếm cái tên của một người đã chết đố chúng. 
Chiếc xe ra khỏi ngõ. Mưa nhỏ vẫn có nắng trên cao. Chiếc xe chạy ra lộ, ngược chiều về thành phố. Khánh nói nhiều về những người bạn, Khánh muốn Nại nói theo, Nại chỉ cười cười. Khánh hỏi: 
“Anh có nhiều bạn không? Anh có bạn gái không?” 
Nại nói: 
“Sức đâu mà kể, đứa sống đứa chết đủ cả. Giờ thì chẳng còn ai”. 
“Anh buồn?” 
“Ừ, buồn”. 
Nại nghe giọng mình như lúc chia tay Kim ở ngã ba đêm hôm trước. Nhà hai bên đường thưa thớt dần. Những quán lá bán trái cây với những người trú mưa. Qua con dốc chạy sâu hai bên đồi cao, đường rộng và vắng. Xe chạy chậm chậm. Khánh ngả về phía trước kể chuyện dạy học và cười ngặt nghẽo. Khánh mới xin vào làm giáo viên Ấp Tân Sinh. Nghỉ hè, Ty bắt tu nghiệp hai tháng. Giáo viên chỉ có mấy người con gái còn đều là bà già và những người có bốn năm con. Địa điểm tu nghiệp là một ngôi trường rộng vắng hoe, chỉ có chim sẻ và bông giấy sặc sỡ. Mỗi buổi sáng bọn đàn bà con gái xếp hàng hai đứng trước những khóm hoa, nghiêm trang nhắm mắt hướng về phía mặt trời hát quốc ca quấy quá. Khánh thường trốn chào cờ, chui vào nhà người phu trường. “Em hãi những đường mồ hôi bò xuống má phấn nhăn nheo của mấy bà”. Hoặc Khánh nhận đánh trống để khỏi phải ra sân. “Em trèo lên đứng trên bức tường ngang hiên, một tay che trán ngó ra, một tay thủ sẵn chờ nện vô mặt trống”. Khánh thở ra. “Mới có mấy hôm, đạp xe đi muốn gãy giò”. Nại nghe bật cười bảo Khánh: 
“Em chuyên làm những chuyện kỳ cục. Thuở nhỏ thì tối ngày bò chống hai tay phùng mồm ngậm ống thổi lửa, lớn lên thì trèo tường đánh trống. Lạ đời thực đó chớ”. 
Khánh bấm lưng Nại: 
“Còn anh dễ chừng đàng hoàng lắm?” 
Nại cười lớn hơn: 
“Anh còn kỳ cục hơn nhiều. Bữa nào ghé nhà anh chơi thì biết”. 
Hơi thở Khánh sau lưng nghe rõ. 
“Càng lớn càng thấy kẹt làm sao đó anh. Không ra con nít, không ra người lớn”. 
Khánh cười lấp liếm. Những lúc dứt lời bộc lộ, Nại thấy Khánh muốn lảng xa chuyện và lộ vẻ ân hận. Nửa Khánh muốn giấu giếm nói dối, nửa muốn tâm sự theo hứng. Khánh thích nói tới những ngày má Khánh còn thầu ở Câu lạc bộ Hưng Đạo sau những lúc buột miệng kể khổ. Có lúc Khánh như nép vào Nại chuyện trò, có lúc đột nhiên xa xôi kiểu cách. Tiếng nói con gái, hương lạ da thịt bên Nại như những bước chân hối hả không có hướng rõ rệt. Vẫn có điều gì thoáng qua mà Nại không nhận rõ mặt, nắm lại được. Nại vẫn nghĩ gặp Khánh thật tình cờ. Không hẳn từ cái dĩ vãng ngô nghê như cái cẳng ông già chê súng Mỹ dỡ ẹc. Không do cái mái hiên với những tấm ván bóc dần, với chim chóc, với chiếc xương lá nằm trong trí tưởng bỏ không hiện tại. 
Qua một cây cầu, Khánh bảo Nại: 
“Chừng nào về anh rẽ vô con đường tay trái về nhà mau hơn. Lộn lại thành phố mất công. Đường đang làm nhưng đã dễ đi”. 
Trời tạnh mưa. Nắng giữ màu non. Con đường vắng chạy giữa những vườn cây rậm rì. Khánh nói luôn miệng. Có lúc Khánh hỏi sao Nại chưa lấy vợ? Nại hỏi chừng nào em gái lấy chồng, anh còn phải ngủ thực nhiều cho mập sau đó mới tính được mọi chuyện. Khánh nói được nghe nhiều chuyện về Nại chẳng biết có đúng không. Nại hỏi: 
“Chuyện gì?” 
Khánh bắt chước Nại: 
“Sức đâu mà nói… Từ bữa biết chỗ ở của anh, gởi được một lá thư, má em mong anh hoài”. 
Nại quay đầu lại: 
“Em mong anh không?” 
Khánh nép sau lưng Nại gật đầu: 
“Mong”. 
“Thế thì bữa nào anh lên chơi?” 
Vẫn cái gật đầu: 
“Lên”. 
Tiếng Khánh kể chuyện hạnh phúc gia đình Cúc hồi người anh rể Khánh chưa mất. Nại nghe lơ đãng với cảm giác một người con gái xinh đẹp nửa lạ nửa quen vật vờ, dai dẳng, sau lưng. Nại bỗng dưng muốn rủ Khánh đi rõ xa rồi hai người cưới nhau. Cưới nhau thường tình như một cặp trai gái tới tuổi. Cưới nhau như an phận với chút dĩ vãng chẳng thể khước từ cũng chẳng thể gợi lại toàn vẹn gây ít nhiều liên lạc với đời sống bây giờ. Nại hỏi Khánh: 
“Có bao giờ em mong được đi xa?” 
Khánh có vẻ nghĩ ngợi trước khi trả lời: 
“Em muốn được đi nhiều như má em. Thích lắm anh. Nhưng em không thích những ngày cuối cùng phải nằm hoài trên võng. Từ hồi bịnh, má em ít vui với con cháu. Bả ưa nhắc tới mấy người hồi xưa để dỡ nghĩ tới bọn nhỏ ồn ào. Dù bọn nó ngoan và vui như chim hót. Bả ngán mấy thứ quen tai quen mắt. Em hết còn hiểu nổi má em”. 
Tiếng Khánh cười và nhiều đắn đo, dò hỏi: 
“Cũng như em hết hiểu nổi anh. Anh hồi trước khác giờ nhiều lắm”. 
Nại nhìn hàng bông trang đỏ tươi sau một hàng rào mới quét vôi trên những cột xi măng. Khánh có vẻ thắc mắc về Nại ngay từ lúc mới bước vô nhà. Khánh muốn gì Nại không hiểu nổi. Chắc chắn một điều Nại trong trí nhớ Khánh nhỏ bé và đơn giản. Cũng như Nại đã nhớ về Khánh. Có bấy nhiêu thôi. Giờ thì mỗi người như đắp nhiều lớp da thịt mới. Ở đó là tích luỹ người mệt mỏi thời gian và leo lét chút xúc động tuổi nhỏ có những lúc bùng lên đột ngột như một cái choàng tỉnh ngơ ngác vô ích. 
Với chút xúc động ngơ ngác đó, sáng nay hai người sẽ dẫn nhau đi được những đâu? 
Nại nghĩ đáng lẽ không nên rủ Khánh tới nhà mới phải. Nếu Khánh tới… Mái hiên, mảnh sân, chiếc ghế, cái cột tựa lưng, những thứ đó gợi không khí quen thuộc của những người như Kim. Nại không muốn có ý nghĩ sau khi dời Khánh. 
“Kiếm một vườn cây nào vô ăn ít trái đi em?” 
Nại nói. Khánh trỏ tay về một con đường đất đỏ bên tay trái. Con đường hẹp nhiều ổ gà, xe phải chạy sát vào hàng rào. Qua một cây cầu hư phải dắt xe, hai người vào một ngõ sâu có rãnh nước trong xanh dẫn vào vườn. Tiếng chó sủa. Tiếng Khánh hỏi vọng vào. Tiếng cần kéo nước im đột ngột. Một ông già ra đuổi chó. Khánh chào hỏi ông già bằng giọng quen. Nại dẫn xe dựa vào một gốc bưởi. Lối đi vào nhà sát bên bờ mương tối. Khánh nói: 
“Mình trốn mặt trời”. 
Ve sầu đậu đầy những cành cây trước sân. Một đứa trẻ mê mải ngửa cổ với chiếc vợt bằng vải mùng đi vòng quanh một gốc cây. Mặt đất nện sạch sẽ ở dưới lớp lá loã xoã, không ánh nắng. Khánh và Nại theo ông già ra sau nhà, lượm giúp ông những trái rớt xuống rãnh. Hai người ăn trái cây ở một gian ngói, quanh chiếc bàn tròn. Khánh bóc vỏ một trái đưa cho Nại. Nại nhìn những ngón tay búp măng, móng đỏ, nhai vội mấy trái cây, thấy mình kỳ cục nghĩ tới cái mặt trống da trâu. Nại hỏi: 
“Sao thư viết cho anh, em nói trước kia, bây giờ chỉ có anh là hiền?” 
Khánh có vẻ ngượng, cúi đầu. 
“Vì ai ở bên em cũng dữ hết. Không có ai thành thực”. 
“Anh thành thực tới đâu?” 
Khánh thở ra: 
“Biết được địa chỉ anh, em mừng quá viết bậy bạ. Giờ bắt giải thích, mệt quá!” 
Nại bật cười, thấy Khánh có vẻ giận. 
“Xin lỗi Khánh. Anh hỏi chơi vậy thôi, không phải vì tò mò”. 
Khánh thoáng chút ngơ ngẩn, bỏ quên Nại đối diện. 
“Bây giờ, anh thực khó hiểu. Nói với anh, có khi phải giữ lời”. 
Chắc Khánh vẫn còn giận nhưng Nại vẫn nói như hết lòng tin cậy: 
“Anh nhiều lúc bất thường. Sống một mình mà lúc nào cũng như múa rối. Những lúc thấy mình khó hiểu anh vẫn tự kết tội. Đầu óc nhiều lúc chỉ còn là chỗ kết hợp những hình ảnh quái đản. Đêm qua, sáng nay, anh nghĩ hoài về một cái xương lá. Cái xương không là căn nguyên đó có lúc anh lại nghĩ là em. Thực vô lối. Cũng thực đáng sợ. Anh đã phải ghép cái hình ảnh có thực đó với em để bớt thấy những thứ trong đầu mình hết còn liên quan tới đời sống. Chiếc xương lá đó có thực mà. Không gặp em, chắc anh vẫn còn giữ lại nó. Còn nghĩ hoài về nó. Nó sẽ ở trong đầu óc anh như một bức hoạ treo tường”. 
Khánh chăm chú nghe Nại. Nét mặt mỗi lúc một kinh ngạc, tới sợ hãi. Nại không để ý. Nại đang như đêm qua cuộn tròn mình trong mền với cái lạnh buốt từng đầu xương. Nại dứt lời, mỗi người ngẩn ngơ theo một suy nghĩ riêng. Nại nhìn Khánh, muốn cầm hai bàn tay Khánh xin lỗi. Nại ân hận thực tình. Không ngờ mình vẫn trẻ con tới thế. Nại chẳng khác gì Khánh. Cả hai đã lầm. Chẳng ai còn là bạn nhỏ của ai. Lời bộc lộ dội trở lại tai mình như tiếng gọi tuyệt vọng một đứa nhỏ mất tích. Nại lột vỏ một trái cây đưa cho Khánh. Khánh cầm ăn chểnh mảng. Giọng Nại ngậm ngùi: 
“Anh thực con nít”. 
Khánh như thuận miệng: 
“Em cũng vậy”. 
Bỗng dưng cả hai nhìn nhau bật cười như vừa qua một trò chơi ngớ ngẩn, kỳ cục. Trời lại đổ mưa nhẹ. Nại bỗng bảo Khánh: 
“Còn sớm, hay là anh chở em về cho biết nhà?” 
Khánh nhìn Nại rồi lắc đầu nhỏ giọng: 
“Không được đâu anh”. 
Nại hỏi: 
“Sao không được?” 
Khánh có vẻ thẹn không thực: 
“Bữa nay em mắc có cái hẹn với mấy đứa bạn. Bọn nó đang chờ ở nhà. Chúng hẹn phải có mặt trước mười hai giờ để đi chơi núi”. 
“Mười hai giờ còn đi chơi núi”. 
“Có xe hơi của mấy ảnh tới đón”. 
Nại nhìn Khánh không hiểu. 
“Chị Cúc nói trưa về nhà ăn cơm. Em có ăn ở nhà không?” 
Khánh ngập ngừng: 
“Anh về ăn với má em và chị Cúc trước đi. Đã lỡ hẹn, thất hứa kỳ quá. Em đi độ một hai giờ rồi về liền. Gắng chờ em nghe”. 
Nại bực mình im lặng. Khánh hỏi: 
“Anh giận em đó sao?” 
Nại lắc đầu cười mơ hồ. Nại không tin Khánh có người mang xe hơi tới đón đi chơi. Khánh như vẫn có những gắng gượng để che chở cho thực tại. Đã không tìm được ở Nại nỗi thông hiểu an ủi, Khánh muốn né cái nhìn của Nại. Nại ôn tồn: 
“Lâu ngày mới gặp lại anh, bỏ một cái hẹn không ăn nhằm gì”. 
Khánh có vẻ ngơ ngẩn nhưng lấy lại ngay vẻ cương quyết: 
“Em biết vậy là mắc lỗi với anh. Nhưng lỡ hẹn, vắng mặt không được. Em về liền mà”. 
Nại yên lặng nhìn Khánh muốn Khánh hiểu Nại không bị lừa và Nại thực buồn cho Khánh. Không có ngôn ngữ nào để gỡ cho Khánh nữa. Càng nói, Khánh càng chống trả, càng có trớn nương thêu dệt của mình. Nhìn Khánh, Nại biết Khánh chưa hề muốn chia tay. Dù giáp mặt chỉ là nỗi bất ngờ nhận ra những điều lầm lẫn của mỗi người. Khánh chưa muốn chia tay. Nại lặp lại. Nhưng cũng chẳng còn gì để giữ lại. Nại nói thêm mấy câu, Khánh như người tự mê hoặc, lời từ chối thêm nỗi tha thiết với những bày đặt vừa có. 
Nại kêu ông già trả tiền, lấy thêm ít trái cây mang về cho bọn nhỏ rồi dắt xe ra ngõ. Khánh đi bên Nại lộ vẻ bứt rứt, ân hận. Nại muốn la lớn: “Sao đóng kịch cả với anh, Khánh?”, nhưng hiểu mình còn sáng suốt và bình tĩnh. Nỗi sáng suốt bình tĩnh như một cái nhìn thực sáng thực buồn nỗi vô lý trước mặt. Không còn gì cản được Khánh trôi nổi và cuốn theo dòng ảo tưởng muốn tạo cho người khác. Thôi Khánh cứ đi và tới chỗ hẹn của em.
Chiếc xe chạy mau trở về. Khánh chốc chốc lặp lại: “Anh về ăn cơm trước. Em đi chỉ độ một hai giờ”. Giọng nói vẫn trong như tiếng cười giòn đột ngột giữa rừng cây. Con đường vẫn vắng, vẫn những con chim bay vù lên không tránh xe, Khánh cất giọng kể chuyện những người bạn với vẻ thích thú. Những buổi dạ vũ. Những buổi đi chơi ngoài trời. Những người thanh niên đam mê, mã thượng, những bê bối nhiều cá tính. Nại nghe lơ đãng. Người con gái sinh ra để sống diêm dúa. Dù với những tấm áo bằng giấy màu chẳng đủ để che lạnh một đêm. Điệu múa huy hoàng của Khánh ở những cánh tay giả. Nếu Khánh có một người con trai khác để kể chuyện, liệu Nại có được nói tới cùng cái xương lá của mình? Mẩu cổ tích dị kỳ như bắt nguồn từ chỗ quá khổ, quá nghèo nàn. Về tới con dốc vào quận, Khánh kêu: 
“Em xuống đây”. 
Nại dừng xe nhìn quanh: 
“Nhà bạn em đâu?” 
Khánh trỏ bâng quơ bên kia ngọn đồi: 
“Phía đó”. 
Nại buột miệng: 
“Phía đó cũng có người ở?” 
Khánh gật nhảy xuống. 
“Thôi anh về. Ăn cơm trước với má em nghe”. 
Nại bỗng nói: 
“Đi mau rồi về. Anh chờ ở nhà”. 
Chiếc xe vượt lên cao. Tiếng guốc cao gót gõ dưới mặt đá chân dốc. Lời Nại như một vỗ về khờ khạo, như lời an ủi của đứa nhỏ. Nại đành chịu đóng vai người bị gạt. Thôi Khánh cứ đi tới chỗ hẹn của em.
Ăn cơm xong, Cúc mới cho bọn trẻ ăn trái cây. Nại ra sau nhà nói chuyện với má Khánh. Trời mưa dai dẳng che mờ ô kính trên mái ngói. Má Khánh nói ở đây giờ chỉ còn gia đình bà và Nại, Nại lên lui tới cho vui. Nại “Dạ, dạ” cầm chừng. Bà hỏi đi chơi những đâu? Nại nói tới vườn trái cây rồi về. 
“Không ngờ ở đây cảnh đẹp quá bác”. 
Cúc dọn vườn, má Khánh giục Nại đi nằm nghỉ cho đỡ mệt. 
“Chờ ngớt mưa cháu phải về”. 
“Trời này có khi mưa tới chiều. Cứ đi nằm nghỉ chừng nào ngớt mưa bác kêu”. 
Nại nằm nghe mưa thấy mỏi nhiều hơn buồn ngủ. Trời hè nhưng gió có hơi nước thổi vào thấy lạnh. Nại ngước lên tấm rua màu che cửa bay lất phất nghĩ tới một bầu trời xa và yên tịnh. Nại thiếp ngủ thấy Khánh tay cầm áo mưa bước ngược lên con dốc ướt. Lúc tỉnh ngủ, Nại thấy xung quanh thực im lặng. Bà già, Cúc và bọn trẻ đều nằm ngủ. Nại ngước lên gặp tấm rua màu bỗng muốn dời ngay đây mà đi. Nại nhỏm dậy, mở cửa nhìn ra ngõ tránh làm kinh động mọi người. Những mái hiên nước giỏ giọt và khoảng tối hút gió phía trong. Cả quận như đang ngủ. Tiếng xe ầm ì ngoài lộ, đứt quãng. Nại quay vào, nằm trở lại nghĩ tới con đường về nhà. Qua ngả thành phố hay đi thẳng con đường đang làm? Tiếng đồng hồ ở nhà bên cạnh gõ hai giờ. Nại trở lại trạng thái mơ màng trước giấc ngủ. Có tiếng trẻ cười giỡn và tiếng Cúc nạt con. Nại giật mình thấy đã hơn ba giờ. Nại ra sau rửa mặt, mặc quần áo. 
“Trời này có khi mưa tới đêm. Xin phép bác cháu về”. 
Nại nói. Má Khánh quay mặt xuống võng: 
“Ờ thôi cháu về. Tuần sau nhớ lên với bác với mấy em cho vui. Con Khánh giờ này sao chưa về kìa?” 
“Chắc mắc mưa giữa đường”. 
Nại nói vu vơ. Lúc Nại ra khỏi nhà, Cúc bắt bọn nhỏ đứng thành hàng sau cửa vòng tay chào “Cậu về”. Nại cười bảo Cúc: 
“Chừng nào tôi có được căn nhà chứa đủ má con chị để mời lên chơi?” 
Tiếng Cúc và bọn trẻ cười theo phía sau. Khánh vẫn chưa về, không lẽ Khánh có hẹn thực sự? Có hẹn, chắc Khánh cũng đã về. Nại cho xe chạy chậm chậm, khó hiểu. Những đường phố trong quận quanh quẩn, chật chội. Nại cho xe chạy cùng khắp. Những người thành phố về chơi mua trái cây đã đi từ hồi nào. Chợ và đường phố vắng vẻ. Nại thử nhớ lại Khánh buổi sáng, chỉ thấy những lối đi vắng người và những vườn cây rậm rì. Khánh đã không hiểu Nại lần lữa ở lại như một lời an ủi. Khánh không về, sao thế? Dù sao trước khi dời đây, Nại cũng muốn thấy lại Khánh. Nại không tìm kiếm hoặc có ý ham thích quay về những ngày đã qua nhưng không thể làm ngơ khi nghe tiếng gọi của tuổi nhỏ. Nại muốn đột ngột thấy Khánh ở một cửa tiệm, một góc phố, một bờ đường. Rồi về và không bao giờ nghĩ tới việc trở lại. 
Xe chạy ra đường lớn. Những quán bán trái cây bỏ không. Mưa mù mù khoảng rộng đằng xa. Tất cả đều yên tịnh như bầu trời Nại mong ước. Nại liếm những giọt nước trên môi. Con đường tắt về nhà qua những vườn cây, những cánh đồng tự dưng quyến rũ. Nại nhẹ nhõm cảm giác đi sâu vào vùng mưa mù một mình. Tới gần con dốc, Nại cho xe chạy chậm lại. Nại để ý nhìn hai bên đường. Con dốc lọt sâu hai bên đồi có những cây dại thân óng ánh dẫn nước. Sau đồi, mãi về phía cánh đồng, rải rác vài căn nhà lá mờ mờ hơi nước. Nại cho xe xuống dốc, nghĩ tới cánh đồng mái hiên nhiều chim sẻ tránh mưa, ngôi miễu, những nền nhà hoang rải hoa sầu đông, tới Kim, tới Khánh. Tất cả chỉ còn khoảng mưa mù trước mặt. Thôi anh về, em gái.

Nguồn: Chiếc xương lá mục. Tập truyện ngắn của Y Uyên, mẫu bìa của Duy Thanh, chân dung Y Uyên, được vẽ bởi Duy Thanh. Nguyệt san Tân Văn số 33, tháng 1 năm 1971. Ấn hành lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Cơ sở Văn, xong ngày 10 tháng 1 năm 1971. Bản điện tử do talawas thực hiện. Gia đình tác giả giữ bản quyền.

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Y Uyên

2 Tháng Mười Một, 2020

Post by Sơn râu 17 May 2024

Kỳ 4

Mùa xuân qua đèo
Hồ về tới phi trường tỉnh, trời đã quá trưa. Hai người Mỹ trên chiếc trực thăng lại ngồi xuống trên cát phơi nắng uống Coca như lúc ở sân bay của lực lượng đặc biệt. Hồ và người đồng hành vừa kịp làm quen chia tay nhau ở cổng phi trường. Quận lỵ cách đây không đầy bốn chục cây số sau mười phút bay đã thành một vùng đất dĩ vãng có những này cuối năm ra sân bay ngóng một chuyến về vô vọng. Nỗi vui mừng lúc được chui vào máy bay và điều lo ngại sẽ phải ăn tết ở tỉnh đã đẩy lùi thiệt mau những điều thuộc về mấy ngày hôm trước.

Hồ giục người phu xe đạp mau về bến xe. Giờ này làm gì còn một chuyến xe khởi hành để băng qua hơn trăm cây số đường núi. Nhưng biết đâu. Chuyến phi cơ vừa rồi đã là một sự bất ngờ. Biết đâu… Hồ móc sẵn tiền xe cầm tay. Tới bến. Hồ nhảy xuống xách sắc lại gần hai chiếc xe hơi không người. Hồ nhìn quanh tìm chủ xe. Không có ai. Bàn bán giấy có người đàn bà đặt một thúng nem, giở khăn bịt lại đầu. Trời nắng vàng thoảng những hơi gió lạnh. 
“Có còn chuyến xe nào chạy về… nữa không bà?” 
Hồ hai lần hỏi người đàn bà. Người đàn bà tò mò nhìn Hồ, giọng chểnh mảng: 
“Giờ này đâu còn xe…” 
Hồ châm một điếu thuốc hút một hơi dài. Trên con đường vòng ngoài thị xã, những chiếc xe Lam-bét-ta ba bánh đầy người và hàng hóa ì ò chạy về các làng lân cận. Chỉ những người về ăn tết muộn cách tỉnh một vài đoạn đường ngắn còn có xe đi. Hồ sang đường kiếm một tiệm nước ngồi uống. Chiếc sắc được đặt dưới chân Hồ không còn là một sự thôi thúc như trong những ngày gần đây. Hồ uống nước chậm rãi, hút từng hơi thuốc dài. Một phòng ngủ ở bên kia đường, sau tấm cửa xếp đóng nửa chừng, có những chậu thược dược đầy bông đặt trên nền gạch bông. Một đám người bao quanh một đống dưa hấu ở gần lối vào bến xe. Những người đi trên đường đều có vẻ vội vã. 
Hồ đi sâu vào trung tâm thị xã. Những chiếc xe vụt qua, những người đi rảo bước chỉ gợi được những giờ cuối cùng trong năm đang trôi màu, không lấp được nỗi vắng vẻ. Thị xã thường ngày nhộn nhịp được là nhờ những công chức đã về ăn tết. Họ chiếm số đông, đa số còn trẻ. Hồ không muốn gặp mặt một vài đồng nghiệp địa phương lúc này. Hồ với họ không có những điểm chung nào để họ có thể hiểu việc biểu lộ lòng ái ngại của họ là vô lý. 
Hồ vẫy một chiếc xích lô về nhà một bà chủ nhà hồi Hồ còn ở thị xã. Con đường nhỏ nhiều ổ gà và đám trẻ nít nô giỡn hoảng hốt nhảy rạt sang hai bên tránh xe vẫn không thay đổi. Hồ nghĩ mình sẽ về nhà trong chuyến xe đầu tiên năm mới. Lúc đó, những đồng nghiệp Hồ có thể đã lục tục tính chuyện trở về nhiệm sở. Tâm trạng Hồ lúc bước lên chiếc trực thăng Hồ vẫn chưa quên. “Thoát”. Hồ như sẽ không có ngày phải trở lại nơi đó nữa. Nếu không ở trong tuổi quân dịch, Hồ có thể bỏ ra ba, bốn… nếu cần nửa năm lương để không bao giờ còn bận tâm tới vùng đó. Gần trọn một tháng nay Hồ mong có máy bay về. Quần áo đã sửa soạn đầy đủ. Những câu tiếng Mỹ để xin được lên phi cơ đã nằm lòng. Một tuần lễ chầu chực ở sân quận với gia đình những viên chức hành chính, với vợ con quân đội, với một hy vọng mong manh mình sẽ có ưu tiên. Những bộ mặt hoan hỉ sau cái gật đầu của người Mỹ có thể đếm trên ngón tay và in đậm trong đầu người ở lại. Những vẻ lo lắng, mệt mỏi mỗi ngày một tăng. Người chờ máy bay một ngày một nhiều. Hồ thấy một bà mẹ đứng sau đoàn người đổ xô lại gần viên phi công bấm móng tay sơn đỏ vào mông đứa con gái sáu tháng để thay cho tiếng nói quá nhỏ một quân nhân đã đứng nghiêm, thuật lại chín trận đánh có mình tham dự với quận trưởng, mắt lét thường trực về chiếc trực thăng và đám đông. Hai thiếu nữ áo dài màu hường, màu trắng hờn dỗi với người Mỹ ngơ ngác. Một đứa trẻ đã bị cả đám đông nguyền rủa đòi tát tai vì đã lén trèo lên phi cơ làm người Mỹ nổi giận. Số người ngày ngày ngong ngóng chờ đợi tăng dần, lòng hy vọng vào sự may rủi giảm sụt sau những lần bụng đói, uể oải khoác sắc đứng lên về nhà trọ trả thêm bốn chục đồng tiền cơm để sáng mai lại đeo sắc, lại nghe lời chúc may của chủ nhà. Trước những người dân ở đây, Hồ bị ám ảnh mình là người giàu có. Mua một con gà giò, hai trăm và một chục tiền “mượn trẻ nhỏ đi bắt”. Gà chưa bắt được, lối xóm chạy tới bao lấy Hồ khen gà mập, thịt ngon, giá “bán cho người quen”. Đến nhà quen được mời ăn tu-ma, Hồ phải gặng hỏi trả tiền chủ nhà mới chịu nói rõ năm đồng một trái. Có người từ xa tới vào một căn nhà xin nước uống, chủ nhà đem gáo giấu một chỗ. Đồng tiền thành một liên lạc duy nhất giữa họ với người khác. Đời sống đương nhiên trở thành đơn giản. Nhưng với những người ở trong quận lại không thế. Nhiều lần Hồ đã ân hận vì quen biết họ. Một người dân vệ một đêm bỗng bỏ trốn để mấy hôm sau thành một “kháng chiến quân” thường xuyên đón xe ở cái dốc cách quận cỡ mười cây số. Trong quận không ai không biết có lần Hồ đã mời hắn uống la de ăn bún bò. Những lần có việc phải vào quận, Hồ thấy có nhiều con mắt nhìn mình khác thường, những con mắt của mấy viên chức đã được Hồ mời cùng một bận với hắn. Và hắn cùng đồng chí chắc chắn sẽ có những con mắt tương tự và một phát súng thích hợp nếu Hồ gặp vào những hôm phải qua con đường dốc. Ban đêm, nằm ở những chỗ ngủ không nhất định, Hồ nghe chó sủa và lập lại dự đoán của mình. 
Chiếc xe dừng trước một đầu ngõ nhiều bóng dừa. Hồ trả tiền, xách sắc bước vào. Hồ đẩy một cánh cổng chằng kẽm gai. Hà – con gái út bà chủ nhà – đang phơi mẹt mứt bí ở ngoài sân, quay ra kêu kinh ngạc: “Anh Hồ”. Hồ hỏi: 
“Má đâu? Anh Tước đâu em?” 
“Má ra dọn hàng cho chị Hòa. Anh Tước đi chơi. Anh không về nhà ăn tết?” 
“Ở lại ăn tết với bà má với mấy em cho vui”. 
Hà dàn những miếng mứt đậm đường trắng thô lớn, cười: 
“Anh chỉ ưa nói láo. Về nhà ăn tết với chị, anh buồn chắc?” 
Hồ vừa vào trong nhà vừa nói: 
“Anh nói lộn. Ăn tết ở đây cho nó lạ”. 
Căn phòng Hồ bước vào là một khúc nối của ngôi nhà trên. Một ngôi bàn thờ lư đồng sáng loáng, bánh xếp chồng, hoa huệ trắng muốt và một chiếc bàn phủ khăn sặc sỡ sau một chậu thược dược bông lớn chiếm hết căn phòng. Hồ vén tấm ri đô nhạt màu nhìn xuống cái chái kế bên thấy có một góc trống. Chắc hàng của Hòa sẽ để đó. Mỗi năm Hòa dọn hàng về nhà hai lần. Vụ lụt và những ngày nghỉ tết. Ngày thường, Hòa về chợ như một nữ công chức về sở. Hàng trong gầm sạp khóa kỹ có cảnh binh coi ban đêm. 
Hồ rót một ly nước, ra hiên ngồi sưởi sáng. Một hàng trụ gạch vuông mới quét vôi chạy tới đầu nhà trên. 
“Mấy người thuê nhà về hết rồi sao em?” Hồ hỏi. 
“Mấy anh đó về từ hôm hai lăm. Năm bữa nay rồi”. 
Hà nhón một miếng mứt mang đưa cho Hồ: 
“Mời lén anh một miếng. Anh ăn lẹ, coi chừng bà má về la em”. 
Hồ bẻ đôi miếng mứt đưa cho Hà một nửa: 
“Mỗi anh em một miếng cho công bình”. 
Hà ngồi tựa vào trụ gạch vừa cắn từng miếng nhỏ vừa nhìn Hồ tủm tỉm cười. Nước da Hà nom thật mát. Còn kéo dài tình thế này, hai ba năm sau, về nhà này, Hồ sẽ ăn tết với một thiếu nữ có duyên. Hồ hỏi Hà chuyện học hành, chuyện bà má. Hà nói luyên thuyên, cười luôn miệng. Khi bà má về, thấy Hồ bà la từ ngoài cổng: “Lỡ xe rồi ông? Lỡ xe rồi ông?”. Bà gánh hai bó hàng quết đất, chân bước rầm rập, mồ hôi tháo đầy sống áo. Bà vào nhà nói Hồ năm trước ở đây, “có tết nào mà ông ở lại với mẹ con tôi đâu. Bây giờ xa xôi lại về đây ăn tết bất tử. Muốn chuộc lỗi đó sao ông?”. Bà cụ thật ồn ào, Hồ chỉ cười gật đầu. Ngày còn ở đây mỗi khi muốn vui, Hồ chỉ việc gợi chuyện cho bà cụ để thấy vui, không ai bị thất vọng. Nói chuyện một lát, Hồ lấy quần áo ra giếng tắm sợ hết nắng, trời lạnh. 
Lúc bà má mổ gà cúng giao thừa, Hà xách nước tưới những chậu bông trước sân. Hồ nói với bà mình ra phố có chút việc, không ăn tối. Trong các ngõ, trẻ con như đông hơn. Một vài đứa mặc áo mới nắm dây bong bóng bay. Ngoài phố, có nhiều cửa tiệm lục đục đóng cửa. Hồ mua một hộp bánh biếu bà cụ rồi ghé tiệm hớt tóc. Tiệm vắng, không được quét dọn sạch sẽ. Ông già chủ tiệm đang ngồi trước gương vắt chân đọc một tờ báo xuân. Thấy Hồ, ông già lật đật tụt xuống, tươi cười nhường chỗ. Hồ cầm tờ báo kiếm một truyện ma đọc. Ông già yên lặng làm việc, không có vẻ vội vàng. Tóc Hồ hớt xuống cả đống trên khăn choàng. Hồ cười nhớ hồi còn nhỏ hớt tóc để ăn tết. Vợ Hồ chắc sẽ lại có chuyện để nhạo Hồ. Hồ nhớ lần về trước cũng hớt tóc ở đây và phải lấy báo che mặt sợ đồng nghiệp nhận ra. Lần đó Hồ về ở nhà nửa tháng. Buổi sáng, hôm ra đây, vợ Hồ dậy từ bốn giờ sửa soạn hành lý cho chồng. Hồ tỉnh giấc không thấy vợ bên cạnh tự nhiên thấy thất vọng. Lúc vợ Hồ ở ngoài lên tiếng đánh thức, Hồ làm bộ ngủ. Vợ Hồ phải vào giường lay gọi. Hồ ngập ngừng kéo vợ nằm xuống giường. Vợ Hồ vùng vẫy gắt: “…Gì mà dữ vậy?”. Hai tay Hồ ôm vòng lưng vợ kéo xuống. Người vợ hai chân vẫn đứng dưới đất, một tay cố gỡ, một tay đẩy mạnh xống ngực Hồ. Hồ bỏ lỏng vòng tay cho vợ thoát ra ngoài mùng, thấy đau ngực và giận nghẹn ngào. Lần đó ra tới đây, chờ xin máy bay về quận, Hồ bị gọi lên Ty vì tội bỏ nhiệm sở cả tháng trời. Trước mặt ông Ty, Hồ nói, cặp mắt trũng sâu ngơ ngẩn: “Xa vợ cả năm trời, nhớ quá không chịu nổi. Khổ quá hóa liều, xin bác thương”. Bây giờ, thời gian đó đã xa đằng đẵng. Vợ Hồ, đêm nay biết đâu chẳng khóc. 
Hồ ra khỏi tiệm hớt tóc, ông già bắt đầu đóng cửa tiệm. Mái tóc hớt cao, những chân tóc vừa cạo bắt lạnh. Hồ cầm hộp bánh băng ngang đường, sang một phố khác. Buổi chiều cuối năm có những giờ nắng chói, vàng rực. Bây giờ, đã dịu. Hơi lạnh bắt đầu trở nên đậm. Hồ bước mau qua những khu phố vừa đóng cửa có những chậu cúc, thược dược bày trước nhà. Ở công viên cuối thị xã có người đông. Người và xe hai bánh chật trên các lối sỏi. Một chiếc xe bán bong bóng bay đậu ngay lối ra vào. Hồ để hộp bánh sau lưng, len vào vòng người nhìn xác chết. Có phải hắn đó không? Hắn nằm ngửa trên sỏi, đầu vẹo, hai tay úp lên rốn, hai chân dạng hai bên. Bộ mặt xanh khô hai đường xương gò má nhô cao. Hai mắt trũng như nứt phơi một phần con ngươi nhợt. Chiếc mồm nhô hàm răng hô. Kẽ mép do một kẻ tinh nghịch nhét một mẩu thuốc lá chỉ còn vòng giấy cháy đen và lớp tàn dính vào lợi. Tấm áo vải bô hai vạt nằm sang hai bên sườn để lộ cái bụng căng. Nơi thắt lưng một đầu ruột phòi tím bầm bên một đầu máu khô và đất. Hai bên có những ô vuông tím. Hồ ra khỏi vòng người, cảm thấy buồn mửa. Mùi hắn thật nặng nề đến nhức đầu. Người ta nói hắn và hai tên nữa võ trang súng “côn” chặn xe Lam-bét-ta ở cây số bảy. Trong xe, có một quân nhân mang trung liên. Hắn là trung đội trưởng. Để đó cho đồng bào coi. 
Hồ bước mau ra cửa công viên, dừng lại bên xe bong bóng cúi xuống hông xe châm một điếu thuốc. Hồ lên một chiếc xe bảo chạy tiếp con đường Hồ đi dở dang. Hồ xuống chỗ đầu xóm, đi bộ vào nhà ông lão có hai cây dừa. “Thầy uống la de?”, ông lão hỏi. Hồ lắc đầu, kéo ghế ngồi. Ông lão xách nón ra ngoài ngõ. Căn phòng lợp lá, tường đất mới quét vôi có một tấm màn gió chia đôi. Những ngày chầu chực chờ máy bay không phải chỉ để về đây bồn chồn nhớ vợ. Hồ nghĩ và thấy nhớ vợ nhiều hơn. Những ngày gần đây, vợ Hồ đã làm gì với số thì giờ nghĩ về Hồ và đi ra đi vào trông đợi. Đêm nay có đám tam cúc nào để một chân cho vợ Hồ không. 
Ông lão trở về có hai người đàn bà áo ngắn theo sau. Người đàn bà mặc áo chửa lại gần Hồ, cúi xuống hôn má Hồ và cầm tay đặt lên bụng mình. Hồ xoa tay lên lớp áo mỏng hỏi: 
“Bầu mấy tháng rồi?” 
“Ba tháng… đang mọc tóc”. 
Hồ kéo ghế cho người đàn bà ngồi. Ông lão hỏi: 
“Thầy chịu cô này?” 
Hồ quay lại nhìn người đàn bà đứng ở ngoài cửa, hai tay chắp sau lưng, chân dún đẩy, nhìn bâng quơ. 
“Chịu”. 
Hồ nói nhỏ giọng, Ông già và người đàn bà kia đi ra. Người đàn bà có bầu vạch tấm màn gió nhìn vào rồi ra khóa cửa. Hồ cản lại: 
“Có ra ngoài lấy… gì thì lấy đi. Ở đây tới tối được chứ?” 
Người đàn bà ra gọi ông già vào. Ông già nói, Hồ gật liên tiếp. Lúc ông già ra, người đàn bà đã sửa soạn xong, ra khóa cửa. Hồ dìu người đàn bà vào sau tấm màn gió. Bên người đàn bà, Hồ thấy mình quên được nhiều thứ. Tới khi người đàn bà đẩy tấm cửa nhỏ trên vách kêu “sắp tối”. Hồ ngủ lơ mơ và không buồn mở mắt. Người đàn bà lưng quay vào vách chống tay tò mò nhìn Hồ. Môi Hồ hé mở, mặt Hồ nom dài, gầy guộc. Chiếc gối của Hồ đầy phấn và tóc vụn. 
Lúc Hồ trở dậy, trời tối thui. Người đàn bà đã thắp một cây đèn bóng dài để ở giữa bàn. Hồ đưa tiền và chìa môi cho người đàn bà hôn rồi lại gần ánh đèn, tháo mấy sợi thung bao lại hộp bánh. 
Hồ bước ra đường mới thấy rùng mình vì lạnh. Hai bên ngõ, qua những hàng rào bóng cây tối thui. Hồ thấy những trang thờ ở ngoài trời, trong vườn, trước sân có ánh đèn, mùi nhang và hương hoa cúc. Giờ này vợ Hồ hết còn mong Hồ về. Có một sự yên lặng lạ thường. Người đàn bà có bầu vừa rồi hay ý nghĩ vợ hết còn trông đợi bồn chồn đã tạo trong lòng Hồ nỗi bình thản vắng ngắt đó. Ý nghĩ chua xót nào, cảm tình đau đớn nào rồi ra cũng có lúc mệt mỏi ngã quỵ như một người đàn bà khóc chồng, mắt ướt khép dần theo giấc ngủ. Đã bao lâu nay Hồ dự tưởng một cái tết xa vợ và sau những ngày rượt đón những chuyến xe muộn, dự tưởng đó trở về nhập với hiện tại. Tâm trạng Hồ lúc tưởng tượng mình xa lạ với niềm vui ấm cúng của mọi người trong đêm giao thừa đầy chua xót và sợ hãi. Bây giờ nỗi chua xót mỗi lúc lắng dần, lắng dần, chỉ còn khiến Hồ lờ mờ thấy bước chân mình có những bước chân ngậm ngùi. Hồ mệt mỏi thấy mình không thể nghĩ tới ai được một lúc lâu như ngày thường. Trong nỗi bình thản vắng ngắt, mơ hồ những bước chân ngậm ngùi đó, Hồ thấy mình hiền khô như nhiều người vẫn nói và phải đợi đến đêm nay Hồ mới biết một đời mình chỉ là người lỡ đường tuy chẳng rõ về đâu. Cơn giận nghẹn ngào vì bị vợ từ khước chuyện ân ái lần cuối có phải đã bắt nguồn từ một khao khát tưởng tượng như vợ Hồ là người có thể thỏa mãn? Hồ thoáng rung động, thương vợ đột ngột. 
Hồ băng qua những phố vắng người. Mọi nhà đều đóng cửa. Mặt đường trở nên rộng. Những dãy nhà hai bên phố nhỏ thấp. Ánh điện trắng xanh đường ngang đường dọc. Hồ tưởng như mình là một gã khổng lồ đi giữa những nguồn suối ánh sáng lúc nghe tiếng giầy nện quá rõ trên mặt nhựa. Hồ kẹp gói đồ vào nách, đứng giữa đường châm một điếu thuốc. Một mùi trầm từ nhà nào gần đó thoảng trong không khí. 
Hồ về tới nhà bà má lúc mọi người đã ăn cơm xong. Bà má đang sửa soạn bàn thờ. Hòa và Hà ngồi giữa những lọ, những mẹt mứt để trên mấy tờ báo trải dưới đất. 
“Ngỡ anh mải đánh bài ở nhà mấy người bạn mai mới về chớ”. 
Hà chiều diễu. Hòa phủi tay, kéo ghế cho Hồ: 
“Anh về hồi chiều? Ăn tất niên vui không anh?” 
Hồ cười thấy đói: 
“Lỡ hẹn với người ta. Nếu không tôi đã ở nhà ăn cơm cuối năm với bà má và các cô”. 
Hồ lột tờ giấy báo, đặt hộp bánh lên bàn thờ: 
“Biếu bà má để cúng các bác”. 
Bà má đập vào vai Hồ nói lớn: 
“Mua bánh lúc này khác chi cho tiền nẫu. Mệt quá”. 
Mọi người cười ồn ào. Hòa rót cho Hồ một ly nước nói chuyện thằng Tước kêu hãi ở nhà dọn đĩa chén bỏ đi đánh cua cá. Mặt Hòa như thoa phấn, lúc cười mơ hồ có nếp nhăn trên trán. Bà má gạt ngang câu khôi hài của Hồ, chỉ tay trên nhà trên: 
“Đêm nay ông ngủ trên đó. Hồi này ổng về, tôi đã giao ước mở cửa trên đó ngày mồng một”. 
“Chưa tới giao thừa bà má đã nói chuyện ngủ kỳ quá”. 
Hà kêu. Bà má nạt Hà im, bảo Hồ: 
“Ông lên trên đó mà thay quần áo. Đồ của ông tôi bỏ trên đó. Nhớ chỗ cái công tắc chớ?” 
“Lúc nào ngủ con thay cũng được. Để con nói chuyện với cô Hòa đã”. 
Nghe Hồ, Hòa cười, mặt hơi cúi. Ở Hòa lúc nào cũng có sự khéo léo. Hòa lấy chồng năm mười sáu, năm Hòa hăm ba, chồng Hòa chết. Hòa chia cho cha mẹ chồng nửa số lương tử tuất để nuôi đứa con trai rồi về ở với mẹ. Những năm con lấy chồng xa, nghe nói con bị chồng và mẹ chồng hành hạ, bà má chỉ biết chửi thề. Thấy con về, bà mới yên tâm, mới đỡ kêu khổ. Những người ở đây đều là những người xa gia đình, gọi bà cụ chủ nhà là bà má và tùy theo tuổi tác gọi Hòa là chị hay cô. Nhưng ai cũng đối với Hòa bằng sự thận trọng, vì nể. Họ kêu Hòa thông cảm được sự bê bối của tuổi trẻ, không gay gắt như bà má mỗi lần họ đem gái về nhà. Hòa thành một người khéo léo và rộng lượng. Nụ cười Hòa sau một lớp người tới, sau một lớp người đi, lại trầm thêm một lớp. 
Tới mười giờ đêm, Tước huýt sáo trở về. Nó ồn ào kể chuyện việc bị ông tỉnh bắt hụt. Ông bận đồ xi vin một mình dạo phố. Gặp những người đốt pháo ông túm cổ bạt tai liền. 
“Sao anh trốn được?” 
Hà hỏi. Tước cười lớn, giơ hai tay xoay người một vòng. 
“Tao mà thèm trốn, nói giỡn. Tao có mật báo, vẫn theo sau ổng, vẫn khơi khơi coi mấy người bạn bị bạt tai, đâu có sao”. 
Hà bĩu môi: 
“Sao anh nói bị bắt hụt?” 
Tước rút một điếu thuốc của Hồ để trên bàn: 
“Tao nói cho bà má giật gân… mà ủa, tao nói sai một lần không được sao?” 
Tới gần giao thừa, mọi người ra cả ngoài sân. Hỏa châu bắn rực trời để soi rõ bóng người ngoài ngõ. Mọi người ồn ào trong một không khí bình minh, lạnh buốt. Ở các căn cứ quân sự súng nổ liên hồi như giặc nhập thành phố. Ngoài đường người đi lại rầm rập. Chuông chùa, chuông nhà thờ đổ dồn, ngân nga, Hòa chạy vào trong nhà khoác thêm một manh áo ấm. 
Suốt ngày mồng một tết, Hồ hết ngồi ở bàn bên này cắn hạt dưa, ăn mứt lang, mứt me, mứt bí nói chuyện với Hòa, lại lên nhà trên chơi các tê với đám thằng Tước. Bà má đi chúc tết mọi người, kéo Hà đi theo. Chặp tối, sau bữa cơm chiều mỗi người đều uống ly rượu nếp, gia đình bà má đi lễ chùa, Hồ đóng cửa phòng dưới, lên nhà trên bật đèn nằm đọc cuốn Kiều đã cũ, Hồ mang về trả vợ. Sáng ngày mùng hai, Hồ định về chuyến xe đầu nhưng Hòa cản, sợ mìn. Tám giờ sáng Hồ từ biệt mọi người sau khi đã điểm tâm bằng bánh chưng. Hồ lên xe, Hòa bảo: 
“Có chiếc bánh chưng gửi anh đem về biếu chị để trong sắc anh đó”. 
Hồ lật đật ngoái lại, thấy Hòa đã kéo em vào nhà với những tiếng cười hỗn độn: “bánh chưng Trung kỳ”. Hồ chắc bà má và Hòa sợ Hồ bị kẹt xe giữa đường không có thức ăn, thác cớ biếu vợ Hồ bánh, báo cho Hồ biết vào phút cuối. Những hạt mưa trái mùa ướt láng đường. Phố xá vắng vẻ như một giấc ngủ muộn. Vài người đi chơi tết đi dưới những mái hiên rải rác vỏ bong bóng, hạt dưa, xác pháo. Tới bến xe, Hồ mới biết hôm qua đã có chuyến xe chạy mở hàng. “Ngày lẻ mà coi lành. Hai bên gặp nhau không thèm bắn, ngó lơ chỗ khác”. Một người lơ xe nói. 
Lúc Hồ lên xe, xe đã chật chỗ. Hồ ngồi giữa một ông già và một người đàn bà ăn mặt nửa như người buôn bán, nửa như người chơi bời. Một người lên xe muộn, hỏi lơ xe: 
“Lúc này đường đi chắc lộn xộn dữ?” 
Giọng người đó như đùa song không giấu được vẻ lo âu. Gã lơ xe nói: 
“Hai chuyến gần đây nhứt không có gì”. 
Ra khỏi thị xã, mọi người bắt đầu yên lặng. Chiếc xe chạy như tìm tốc độ. Tài xế và lơ xe đều châm thuốc hút. Những sườn núi như những đồng cỏ trên cao thuộc miền có ánh nắng. Hồ giở cuốn Kiều đọc mong tìm giấc ngủ. Xe càng chạy càng ít thấy những đồn binh và những chiếc GMC xả ga chạy ngược chiều. Biển có lúc chỉ còn thấp thoáng ở xa như một mặt hồ xanh thẫm sau những hàng cây và vách đá. Những làng mạc xanh lá cây, im ả dưới miền ruộng sâu. Những cánh đồng hẹp cỏ cháy và những cồn cát chạy dài như di tích thủa nước Việt có Đàng Trong, Đàng Ngoài. Chiếc xe như xa dần cuộc sống. Dấu vết con người và sinh hoạt như không hề có nếu không có những ngôi mộ mới rải rác trên những mảnh đất hoang. Một vài chòm khóm ở hai bên đường chỉ có những bờ tre nắng đốt khô trắng rợn mắt, không bóng sinh vật. Vài lò vôi rải rác, không mái, vách đất nền mốc với những đầu củi cháy dở, những đống san hô trắng toát. 
Hồ “ợ” một tiếng gấp sách, loay hoay châm một điếu thuốc. Gió như dồn trên cao xuống. Người đàn bà bên tay trái Hồ cúi xuống cái giỏ ni lông dưới chân lấy ra một tấm voan màu hoa đào buộc đầu. Vợ Hồ cũng có một tấm voan màu đó. Lần trước, khi ra ngoài này, lúc hai người chở nhau trên xe Solex ra bến xe, vợ Hồ cũng bịt tấm voan, trời cũng lất phất mưa. Những hạt mưa không đủ ướt bãi cát nhưng đủ làm mờ hồ những chồng đá quây quần ở ngoài biển xa. 
“Chị cũng về…?” Hồ hỏi người đàn bà. 
“Dạ”. 
Người đàn bà đáp không nhìn Hồ. Hồ nói: 
“Đường bây giờ chỉ có những người liều mới dám đi”. 
Người đàn bà vẫn nhìn thẳng về phía trước, hai tay thủ bọc. Ông già bên tay phải Hồ đã ngửa đầu vào lưng ghế, há mồm ngủ sau khi uống nửa xị rượu mang theo. Hồ thấy dường như chỉ có mình mới xa lạ và thắc thỏm. Hồ nhớ lại ngõ tối có nhiều trang thờ tối hôm giao thừa. 
Xe qua một dốc núi, vào một cánh đồng nhỏ. Con đường không hề có bóng một chiếc xe khác. Hồ nói với người đàn bà: 
“Con đường này chắc có lẽ dành riêng cho mấy chiếc xe này”. 
Người đàn bà không lên tiếng. 
Chiếc xe đột ngột dừng trước một cây cầu gãy gập. Thành cầu bằng sắt luồn trong các cột xi măng, một đầu rớt xuống dòng nước cạn như một chiếc thang để nghiêng. Hành khách ồn ào thò đầu ra ngoài xe bàn tán. Người lơ xe nhảy xuống chạy lại gần cầu. Tiếng người tài xế la lớn: 
“Muốn giỡn với mìn sao đó mầy?” 
Ông già cạnh Hồ mở choảng mắt hỏi: 
“Chi vậy?” 
Mặt ông đầy vẻ lo lắng. Một vẻ mặt lo lắng để dành bây giờ mới lộ ra. Người lơ xe đi rảo theo bờ con sông cạn, loay hoay tìm kiếm. 
Một lát, hắn trở lại, hai ống quần lầm cát và ướt. 
“Sao?” 
Nhiều tiếng bật lên một lượt. 
“Không phải trở lại đâu, bà con đừng lo”. 
Hắn nói, giọng hớn hở. 
“Bây giờ cảm phiền bà con xuống xe cho bớt nặng, qua sông được dễ dàng”. 
Mọi người ồn ào lục tục xuống xe. Người đàn bà bên cạnh Hồ xách cả chiếc giỏ ni lông xuống theo. 
“Hên thiệt, đang mùa khô”. 
Người đàn bà nói. Người lơ xe nhảy xuống lòng sông nhô cát và cỏ trước tiên. Hắn dang hai tay và đi giật lùi, vết chân hắn trên cát. Chiếc xe ì ạch vượt lên trên bờ cỏ rồi chúc mũi xuống. Hành khách lôi thôi theo sau. Hồ chống tay vào cái thang sắt sau xe bước từng bước dài. Nắng sáng cả bãi cát. Người đàn bà khăn màu hoa đào gọt một cái củ đậu, vừa đi vừa ăn. Suốt lòng sông những bãi cát nổi lên chạy dài. Nước hết còn luân lưu, đọng lại trong những vũng rải rác trông suốt đáy. 
Hồ hỏi ông già: 
“Thưa bác, xe sẽ dừng lại ở bên này hay bên kia đèo?” 
“Chân đèo bên này”. 
“Sao họ không sang tới bên kia? Đi bộ trên ba bốn cây số đường đèo cũng mệt lắm chớ?” 
“Nẫu cấm”. 
Sang tới bên này sông, mọi người vội vã lên xe. Chiếc xe từ từ xa cây cầu sập và lòng sông phơi nắng, chạy song song với rặng núi dài quá tầm mắt. Hồ lấy cuốn Kiều, tìm giấc ngủ. Nhưng thói quen ngủ trên xe ngày nay không còn. Ý định tìm lại sự bình thường thành bất lực. Có lúc Hồ nhắm mắt, tựa đầu vào thành ghế như ông già bên cạnh nhưng chỉ để thấy mình rất tỉnh táo trước nỗi lo âu của mình. Nỗi chết dường như không đáng sợ. Người chết tĩnh, yên lặng vô cùng. Nhưng cảnh chạy trốn hoặc chờ đợi cái chết là một náo loạn và tuyệt vọng. Mùi bánh chưng ngầy ngậy chốc chốc lại dồn lên một tiếng “ợ” thiếu hơi. Tâm trạng Hồ lúc này biết đâu sau này sẽ lặp lại theo mùi bánh. Mấy con bồ câu của ông già chốc chốc lại vỗ cánh phành phạch trong chiếc giỏ tre để dưới gầm băng xe. Hồ mở mắt nhìn ra cửa xe và luôn luôn bắt gặp những sợi tóc vượt khỏi khăn voan của người đàn bà phất vào má. Vẻ đẹp của người đàn bà vừa buồn vừa gợi dục tình. Hồ ngượng ngập có lúc chợt thấy mình nhìn má người đàn bà chăm chú trong khi người đàn bà vẫn ngồi bất động, nhìn thẳng phía trước hai tay thủ bọc. 
“Đồng bào có giấy tờ chi giấu đi. Rủi mà bị xét, nẫu xé uổng”. 
Người lơ nói lúc chiếc xe lượn vào chân núi. Có nhiều người sờ lại túi, lục lại sắc. Hồ bắt gặp một bộ mặt đen sạm má phị ở băng đằng trước quay xuống nhớn nhác. Đôi mắt đuôi nhiều nếp nhăn mở lớn nhìn khắp cả mà như không nhìn rõ ai. Đó là người đàn ông đứng tuổi, dềnh dàng ngồi bên cạnh vợ, lòng ôm một đứa con. Người đàn bà khăn hoa đào cười yên lặng. Hồ ngơ ngác. Trước mặt quãng đường mất hút ở đầu dốc rậm rì bóng cây. Chỉ có tiếng xe nặng nề lên dốc. Trong xe có một tiếng “tách” nhẹ khô khan. Người ngồi trên mấy băng trước quay cả xuống. Người lơ xe ngửa mặt kéo một hơi thuốc nhả khói ra mũi, thong thả đóng cái nắp máy lửa. Hồ thấy cặp mắt mở lớn của người đàn ông ôm con thoáng vẻ phẫn nộ. Ông già bên Hồ cất tiếng ho và cúi xuống chân ngó giỏ chim. Ông cụ luôn luôn tỉnh ngủ đúng lúc. Có tiếng khóc ré của đứa con trong lòng người đàn ông vì cái bong bóng bay khỏi cửa xe. Người đàn ông ngoái cổ ra trông theo rồi cúi xuống dỗ dành đứa nhỏ. Người vợ đứng dậy chao người với cái sắc trên giá để hành lý. Người chồng đỡ cái sắc cho vợ ngồi xuống, lấy ra một cái kèn đồng sáng loáng đút vào cái miệng đang khóc của con. Đứa nhỏ mắt ráo hoảnh, phùng má thổi. Nhiều cặp mắt đổ dồn vào cha con người đàn ông. 
“Kỳ vậy. Bộ muốn chết sao chớ”. 
Một ông già vận áo len, mang kính ngồi phía dưới cầu nhầu. Người đàn ông lúng túng quay xuống, cười gượng như muốn phân trần. Thấy đôi mắt ông già giận dữ, cau có, người đàn ông vội quay lên cúi xuống nói gì với con. Bàn tay thô lớn sau ống áo veste cũ nhàu khum khum trước miệng kèn. Xe như ở giữa một rừng cây có nhiều vách núi cao sừng sững quây tròn. Có những cành cây động đậy. Có người quần áo đen ngồi ôm súng trên mấy cái gióng bắc ngang lên mấy cành cây, mắt nhìn xuống đường. Có người cởi trần lưng khoác lá dừa đứng trên một mỏm đá che mắt hướng về phía xe. Có chặng cây cao vút chằng chịt dây leo để lộ cái cẳng người đứng im, mang chiếc vớ thủng. Mọi người ngồi ngay ngắn, nom thẳng. Chiếc xe chạy thong thả nhiều lúc như chực ngừng. Cái bong bóng màu hồng thoát khỏi những ngọn cây, vật vờ bay lên một vách núi thẳng đứng nhuộm nắng. Chiếc xe ì ạch lượn vào sát những gốc cây tránh khúc đường đầy hố có một chiếc xe jeep bẹp dụm lật ngửa bánh cháy đen thui. Người lơ bật lửa châm thuốc nghêu ngao nho nhỏ. Ông già mang mắt kiếng cau trán quay nhìn rồi lại ngồi ngay ngắn, yên lặng. Hồ muốn đập vào cái mặt xấc xược của gã lơ xe. Hắn muốn lợi dụng nỗi sợ hãi của hành khách để được chú ý tới. Nhưng Hồ hiểu ngay không bao giờ mình làm được chuyện đó. Những điều Hồ làm được, ít khi do một ước muốn thôi thúc. Lòng nhát sợ như bắt nguồn từ chỗ không còn tình yêu để thấy công phẫn nhưng là sự cố gắng bám lấy đời sống thiếu những tha thiết với người khác. 
Qua khỏi vùng cây, Hồ nom thấy hai chiếc xe nối đuôi nhau trở về. Người tài xế xe Hồ dừng lại, chặn hai chiếc xe ngược chiều. 
“Có chi trên đó không?” 
“Đánh lớn bên kia đèo”. 
“Còn không?” 
“Hồi nãy về súng còn nổ dữ. Đường chân đèo bên này hư rồi”. 
“Dài ngắn?” 
“Từ cầu Ông Luông”. 
“Chết cha… Khách đâu mà chạy?” 
“Không có. Bà con ngồi đây là mấy người khách quay trở về”. 
Hành khách trong xe nhốn nháo, thi nhau quay sang xe bên kia hỏi. Ông già mang mắt kiếng nói lớn: 
“Cho tôi quay trở lại”. 
Người tài xế bên kia vọng sang: 
“Bà con chớ hãi. Mình là dân mà. Khách của tôi xuống đi bộ gần hết”. 
Người lơ xe nhìn ông già cười: 
“Năm mới quay về xui xẻo thấy cha”. 
“Không lộn lại, theo mấy người bộ hên sao chớ? Lấy giùm mấy cành mai trên nóc xe cho tôi sang xe không mất công người ta chờ”. 
Ông già lật đật xách giỏ bánh nhào ra cửa. Có tiếng người khôi hài: 
“Qua tết còn tiếc chi ba cái cành mai đó. Cho tụi tôi mang lên tặng nẫu”. 
Ông già sang bên kia. Người tài xế càu nhàu cho xe chạy. Người đàn bà khăn hoa đào bảo Hồ: 
“Đã nhát sao còn đi đường này”. 
“Những người trong xe không chắc đều là người bạo gan. Kẹt thì phải đi vậy”. 
Người đàn bà cười nhẹ yên lặng. Hồ khó chịu châm một điếu thuốc. Chị ta có vẻ quen con đường này. Chị coi thường nguy hiểm nhưng không có quyền cười nhạo người khác nhát sợ. Muốn những người có mặt ở đây coi những họng súng trong lùm cây, con đường đứt khúc, những trái nổ trước mặt không là gì cả sao? Muốn tất cả coi những người như những bộ máy bắn giết không là gì cả sao? Trong cuộc chiến tranh này đã không có lòng phẫn nộ, người dân lẽ nào còn phải bưng bít cả nỗi hoảng hốt tuyệt vọng của mình. Tôi có thể bò lết như một con chó què chân ở trước mọi người mà không đỏ mặt. Điều sỉ nhục lúc này đâu có phải vì mình bị đơn giản vào một con vật hôi thối, bản năng. Con chó chỉ thật là con vật khốn nạn khi nào nó có óc suy nghĩ để thấy mình không thoát được hình dạng cầm thú. Có một cuộc vui nào đủ chỗ cho bấy nhiêu người tham dự để được là những kẻ trụy lạc quên đời. Thành phố xin hãy rọi về đây ít nhiều ánh sáng để chúng tôi từ những hầm hố, những bờ bụi nhảy ra, cào mặt mình bật máu tạo mê cuồng nhảy múa quên thôi.

*

Chiếc xe dừng lại trước một dòng sông rộng, tắt máy. Hành khách lao nhao hỏi nhau. Tiếng kèn “toe tóe” của đứa con người đàn ông mặc veste nổi lên. Người tài xế tươi cười nói lớn: 
“Bà con chớ hãi. Mình là dân, phi cơ nó ở trên mây nó cũng biết. Qua bên kia đèo, có xe Lam-bét-ta, xe ngựa, bà con khỏi lo”. 
“Qua đèo cả năm sáu cây số, chết cha nó rồi còn đâu mà đi xe”. 
“Đây tới chân đèo mấy cây? Chân đèo bên này sang chân đèo bên kia mấy cây?” 
“Đường đèo ba cây số là nhiều. Xuống dốc đi lẹ lắm bà con. Đây tới chân đèo… bà con coi, nom gần chút xíu”. 
“Gần gì, núi nào nom không gần”. 
Tiếng người ồn ào bàn cãi. Người tài xế hết biết nói sao, cười vơ vẩn, ngồi gác chân lên bánh lái châm thuốc hút. Trước nỗi xôn xao của mọi người, hắn không còn dịp để biểu lộ nỗi thất vọng của mình. Đường từ đây tới chân đèo lại bị phá, khách nào còn dám băng từ chân đèo bên kia, đi bộ cả mười cây số tới đây đi xe… Trước kia chờ dưới chân đèo, máy bay tới còn có chỗ ẩn. Bây giờ, chơ vơ giữa cánh đồng, chẳng lẽ trương cờ trên mui xe. Làm sao trương một lúc hai cờ. 
Có người quả quyết xách đồ đạc xuống. Có người xuống tay không, nhìn về dòng sông trước mặt. Vợ chồng người đàn ông mặc veste đã lấy đồ để dưới chân nhưng vẫn ngồi bàn tính. Hồ chờ ông lão uống xong phần rượu còn lại, hỏi: 
“Giờ mình xuống chớ bác?” 
“Xuống chớ sao không xuống. Bụng mà ấm rồi, qua sông, qua đèo, bất kể”. 
Ông lão cúi xuống lôi cái giỏ chim nhét cái chai vào. Mấy hộp sữa trong đó dính đầy phân chim. Hồ cúi mình, xách sắc bước xuống xe. Ở mạn sông, hồi nãy vắng im. Thấy xe hơi tới, từ trong những vòm cây rậm, có mấy người đẩy ghe ra chèo lại gần. Người đàn bà chít khăn màu hoa đào xuống trước tiên. 
Vợ chồng người đàn ông mặc veste xuống xe sau cùng. Lúc thấy ông ta đặt con xuống mặt đường nhớp nước, đưa áo veste cho vợ, đỡ cái xe Push từ trên mui xe, Hồ dự đoán hai vợ chồng hồi nãy có vẻ ngần ngại vì quá nhiều đồ đạc. Thấy Hồ tò mò nhìn, người vợ lắc đầu than: 
“Năm mới gì mà xui xẻo hết chỗ”. 
Người đàn bà mặt nhọn, da xanh, tay cầm cái áo của chồng một cách vụng về. Thấy ông già đã chạy lật đật tới bờ sông, Hồ đứng chờ vợ chồng người đàn bà. Vóc người cao lớn, khuôn mặt sạm đen có đôi má phị nhăn nhúm của người đàn ông làm Hồ chú ý ngay lúc ở trên xe. Thân xác nặng nề đó như có điều giống Hồ. Lúc nào cũng loay hoay, lật đật. Hồ lại gần người đàn ông ôn tồn. 
“Ông mang đồ hơi nhiều. Tôi có thể xách giùm ông cái va li”. 
Người đàn ông vừa mặc áo veste, vừa nhìn Hồ dò hỏi. Có lúc ông ta như lạ lùng, có lúc như muốn cười gượng gạo. Người vợ mau miệng: 
“Nhờ ông giúp cho một tay, may mắn cho chúng tôi quá. Xin cám ơn”. 
Người đàn ông như mở to mắt nhìn vợ. Ông ta cười hai đuôi mắt dúm lại: 
“Phiền ông quá… dạ, phiền ông quá…” 
Hồ đưa cái sắc của mình cho người đàn bà: 
“Bà xách hai cái sắc… chắc cái sắc của bà cũng nhẹ”. 
“Dạ không nặng lắm”. 
Hồ cúi xuống nhấc thử cái va ly. Đúng như Hồ dự đoán, chiếc va ly khá nặng. Người đàn ông dắt xe đi trước, Hồ và người đàn bà vai đeo sắc tay dắt đứa nhỏ đi sau. Trời mưa lất phất giống như lúc ở bến xe. Người tài xế đứng ở bậc lên xuông vẫy tay chúc mọi người may mắn. 
“Nếu khúc đường này không hư, đỡ cực được một phần”. 
Người đàn bà nói. Hồ an ủi: 
“Có người có ta, cũng không có gì đáng ngại lắm”. 
Ở bờ sông, nơi chân cầu gãy, người đàn ông dựng xe, lấy chiếc khăn tay buộc đầu che mưa. Chiếc cầu đứt gọn một khúc giữa. 
Thành sắt và xi măng còn nhô trên mặt sông cản nước xoáy. Một người đàn ông ở trần lực lưỡng, một mắt, chèo ghe đậu sát trước mặt ông ta. 
“Thầy qua sông?” 
Gã đàn ông một chân trên bờ, một chân trên mạn ghe hỏi. Người đàn ông nhìn chiếc ghe nhỏ bé, còn đang phân vân thì gã chèo ghe đã nhấc chiếc xe mang xuống. Người đàn ông giơ tay ra hiệu cản lại, lúng túng: 
“Tôi chờ chiếc ghe lớn bên kia sông. Tôi còn vợ, con tôi phía sau”. 
Gã chèo ghe như không nghe thấy đặt chiếc xe nằm vào mạn ghe chao chát. 
“Đứt dây côn của tôi rồi. Chiếc ghe nhỏ xíu này làm sao chở hết bấy nhiêu người?” Người đàn ông hớt hải la. Gã chèo ghe nhìn lên người đàn ông bằng con mắt độc nhất: 
“Ghe này nhỏ vậy mà chưa khẳm lần nào. Nhiều người thì chở hai lượt có sao. Thầy sang trước đi rồi tôi lộn lại chở mấy người kia. Vừa nói gã vừa giơ tay ra dấu cho người đàn ông bám lấy để gã kéo xuống. Người đàn ông lúng túng quay lại nhìn vợ rồi lật đật nắm lấy tay gã chèo ghe bước xuống. Gã chèo ghe ngồi phệt xuống ghe, cầm mái chèo quơ nước ra giữa dòng. Người đàn ông tay giữ đầu sợ cái khăn tuột, tay nắm cái “ghi đông” xe, chốc chốc lại quay nhìn phía sau. Lúc thấy vợ con và Hồ xuống một chiếc ghe vừa chèo sang, ông ta vẫn có những lúc nhìn trở lại áy náy. Ngồi sát mặt nước đục lờ lờ, Hồ nhìn lên chiếc cầu đứt khúc càng thấy vẻ chơ vơ của nó. Người phá hoại mỗi lần hoàn thành công trình của mình có dựng lại giây phút chiêm ngưỡng công trình đó không. Nếu không có những ly rượu để trên những bàn cắm bông, bên một giàn nhạc, nếu không có muôn vàn cánh tay cầm cờ vẫy hai bên đường có khải hoàn môn, nếu không có những vòng hoa quàng cổ, theo nghi thức chiến tranh, ít ra họ cũng có một cái vỗ vai của cấp trên, một lời khen lẫn nhau của những người cùng dự cuộc. Không nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh, phía sau có lửa, phía trước có máu của mình. 
Sang tới bên này sông, Hồ chuyển đồ đạc cho người đàn bà đứng trên bờ, rồi lấy tiền trả ông già chèo ghe. 
“Nhiêu đó bác”. 
“Cho nhiêu thì cho. Anh em mà”. 
“Bác cứ nói rõ giá. Mấy người kia lấy bao nhiêu?” 
“Tôi đâu có biết. Tôi sống về nghề đánh cá đâu có sống nghề chở mướn. Ngồi nhà, thấy bà con kẹt lấy ghe ra chở bà con cho vui, tính chi giá cả”. 
Người đàn ông đứng trên bờ nói: 
“Hồi nãy tôi trả ba chục. Hai chục xe, một chục người. Ông để tôi trả…” 
Hồ đưa cho ông già ba chục, ông già lắc đầu nhón lấy tờ giấy mười đồng: 
“Đủ rồi”. 
Hồ nhìn ông già, cám ơn rồi nhảy lên bờ. 
Trên con đường từ bờ sông tới chân đèo, không có khúc nào bị đứt nhưng bị xẻ dọc hai bên. Người đàn ông nhìn con đường, cúi xuống chiếc xe càu nhàu: 
“Côn đứt, làm sao mà chạy. Người chi mà dữ tợn hơn ăn cướp”. 
Ông ta nói vợ mắc hai cái sắc vào tay lai để bế đứa nhỏ kêu mỏi luôn mồm rồi lững thững dắt xe đi trước. Hồ vừa bước vừa lắng tai nghe những tiếng súng rời rạc ở phía đèo. Qua được quãng đường đèo mới đi được nửa đường nhưng coi như đã bớt nguy hiểm. Bên kia, đồng ruộng, xe nhiều trở ngại. Trước mặt Hồ người ta đi rải rác như một đoàn hành hương trong mưa xuân. Có những người đàn ông, những đứa nhỏ mười lăm mười sáu, quần sà lỏn, áo đen xuất hiện chở những người con gái. Đàn bà áo dài sặc sỡ. Người đàn ông nhờ hai chiếc xe đạp chở vợ con đi trước. Hồ nói: 
“Côn đứt, ông cho máy nổ, đẩy cho có trớn, sang số hai có thể chạy được”. 
“Đường này chạy mau nguy hiểm. Lỡ xe nhào xuống hố… Nghe nẫu nói, mấy cái hố trên đèo đều có mìn… mìn pin”. 
“Đường còn rộng thế này, chẳng hề chi. Lên tới đèo, đường hẹp, dắt xe cũng không muộn”. 
Người đàn ông yên lặng dắt xe, bước những bước dài. Hai vạt áo veste gió thổi bạt ra phía sau. Chiếc khăn trên đầu người đàn ông đập lất phất. Hồ định mướn một chiếc xe đạp chở va ly nhưng ngại người đàn ông sợ mất đồ. Mặt Hồ ướt nước, càng đi càng thấy hai thái dương bốc nóng. Có lúc Hồ muốn châm một điếu thuốc lại sợ gợi sự chú ý của những người quần áo đen. Họ như những sinh vật còn tồn tại được, thích hợp với không khí bom đạn. Họ như số ở những chỗ Hồ không thể đoán, buồn thảm. Nhìn cảnh vật quanh mình, Hồ thấy khó hình dung lại cảnh căn nhà, khu phố vợ mình đang sống những ngày đầu năm. 
Lúc Hồ và người đàn ông, hai người sau cùng, tới chân đèo, trời đã gần trưa. Trên mạn dốc, những người đi trước đang đứng dưới một vách đá có những khẩu hiệu sơn đỏ đả đảo Mỹ nghe một cán bộ tuyên truyền. Hồ nghe có tiếng cười quen thuộc ở trên cao, trước mặt. Hồ ngạc nhiên thấy người đàn bà khăn hoa đào ngồi trên một khúc cây ở sườn núi, ăn củ đậu bên mấy người đàn ông cắm cúi kẻ khẩu hiệu. 
Hồ thoáng chạm cặp mắt chị ta và bước mau lại vòng người như mất hồn. Những người quần áo đen và những chiếc xe đạp mất dạng. Đứa con trai người đàn ông tay níu mẹ, tay cầm kèn mắt mở lớn nhìn người cán bộ làm điệu bộ. Thấy mình bị nhiều cặp mắt lạ quan sát, Hồ đứng sát lại sau mấy người đàn bà. Cả chuyến xe chỉ có Hồ là thanh niên, lạc lõng xa lạ. Người cán bộ đang nói về một chiến công đầu năm ở địa phương. Từ trên đầu dốc, có hai người kéo một chiếc xe ngựa chạy xuống. Trong xe ngựa có một xác chết thò cẳng ra sau. Không thấy đầu, bụng đầy ruột và tóc. Ở trên sườn núi có tiếng người xôn xao. Người đàn bà khăn hoa đào cầm củ đậu, mấy người đàn ông cầm chổi sơn đỏ đứng nhìn xuống. Người cán bộ giở cái mũ nan đưa mắt nhìn khắp mặt mọi người. Có nhiều bộ mặt ngơ ngác, có vài người bắt chước, quay ra nom theo chiếc xe ngựa, giở nón. Vợ người đàn ông mặc áo veste vội dằng cái kèn khỏi miệng đứa con. Nó ngồi bệt xuống, đạp chân khóc lớn. Người đàn bà lật đật ngồi xuống làm bộ vắt mũi cho con, tay bịt mồm cho nó khỏi la. 
Lúc trời nắng gắt, mọi người bắt đầu qua đèo. Người đàn ông nói với Hồ: 
“Tôi đi trước với mấy người kia coi tình hình. Nhờ ông coi giúp cháu nhỏ”. 
Dốc đèo càng lên càng cao. Đường đèo từng khúc ngắn lại mất hút sau vách đá, phía trước luôn luôn thấy khoảng trống của vực sâu. Người đàn bà luôn luôn đổi bên đứa nhỏ. Nhiều lúc bà ta hốt hoảng ôm chặt lấy con khi nó cựa cẳng ngả người chỉ trỏ. Hồ luôn luôn để ý đến những người đi trước mình tuy ít khi nom thấy họ. Họ mau chân bỏ những người đi sau một đoạn khá xa. Ở bên này đường đèo nhìn qua bên kia, Hồ thấy người đàn ông dắt xe, ông già xách giỏ chim như đang dò dẫm trên bờ vực. Càng đi tiếng máy bay, tiếng bom từng chuỗi nghe càng vang vách đá. Người đàn bà bảo Hồ: 
“Nhà tôi không biết có nghe ngóng hay cứ đi liều mạng”. 
Hồ cười nhếch nhác. 
“Ông nhà cẩn thận lắm, không có chi đáng ngại”. 
Vượt được hơn hai cây số đường đèo đám người đi sau đồng ý ngồi nghỉ một lát. Người đàn bà ngồi dựa lựng vào vách đá thở dốc hai tay vòng lấy bụng con. Hồ lấy khăn lau mặt, lấy chiếc bánh Hòa cho bóc đưa mỗi người một miếng. Những bụi tranh sắc như lá mía ở hai bên đường gió thổi rạt từng hồi. 
Người đàn bà ăn không hết miếng bánh đã kêu no đứng dậy đi xin nước uống. Hồ nằm dựa vào vách châm một điếu thuốc. Đoàn người đi trước có người trở lại nói phía trước đang bỏ bom không đi thêm được. Sau một hồi bàn tán mọi người quyết định vừa đi vừa dò đường. Hồ nhổm dậy xách va ly uể oải bước sau cùng. Nếu Hồ cứ ở lại ăn tết với bà má. Hồ không muốn hình dung lại cảnh mọi người đứng ngoài sân lúc giao thừa, cảnh những đường phố thị xã như một giấc mơ ngủ muộn. Sống ở đó để mỏi mệt vì những ý nghĩ thì thà cứ đi như thế này. Hồ về không phải vì tình yêu vợ nhưng do những ước muốn đã giúp Hồ sống được những ngày ở xa. Ước muốn đó có khi sẽ không là gì khi đã được bàn tay người ngưỡng vọng đặt lên. Nhưng nó đã khiến Hồ quay về mà không như người chạy trốn tuyệt vọng. Hồ mong lần này về sẽ có với vợ một đứa con. 
Đám người đi trước đã ở quá gần chỗ dội bom. Những tiếng nổ rung chuyển chạy dài. Có vài chiếc máy bay lao qua lao lại trên không. Ông già xách lồng chim chạy ra đón đám người mới tới xin nước uống. 
“Đường đèo hiện có dội bom không bác?” Hồ hỏi. 
Ông già lắc đầu: 
“Chắc không. Êm êm một chút qua cây số nữa xuống tới chân đèo là nom thấy đường về. Về nhà còn kịp ăn tết mà”. 
“Không dội bom mình đi đại có sao”. 
“Đâu có được. Bom bỏ trên núi, qua chân núi không sợ chết sao”. 
Một giờ qua nhiều người đã sốt ruột sửa soạn hành lý để băng nốt quãng đèo. Có một số người lại tình nguyện đi trước dò đường. Hồ nói với người đàn ông. 
“Ông ở lại đi sau với bà nhà. Tôi đi trước một chuyến coi sao”. 
Người đàn ông cười gượng lắc đầu. 
“Tôi có xe rủi có điều chi mau hơn”. 
Dứt lời người đàn ông dắt xe bước mau theo mấy người đang đi rải trước mặt. Bọn người đó đi khuất sau những góc núi được một lát, một người chợt nghe có tiếng súng liên hồi thật gần. Ba bốn chiếc máy bay ầm ầm từ đâu tới lao bổ xuống. Hồ vội kéo người đàn bà nằm sấp xuống chân núi. Có tiếng hoảng sợ vừa vứt chiếc va ly rớt xuống vực. Tiếng kêu hoảng hốt là tiếng một bà già lúc thấy chị ta bổ ra bờ đường ngó xuống dưới sâu. Mấy chiếc máy bay vừa vụt đi, mọi người kéo nhau ùng ùng chạy về phía trước. Phía trước cũng vậy thôi nhưng không lẽ nằm yên ở chỗ bị đe dọa. Đi được một quãng quay lại Hồ vẫn thấy người đàn bà đánh rớt va ly tần ngần bên lề đường ngó đăm đăm khoảng không. 
Người đàn ông đã quay trở lại với mấy người khác. 
“Mấy người kia chạy nhào đi trước rồi. Tôi nằm tránh đạn, mấy người đó vẫn chạy, lúc nhổm dậy, không thấy họ đâu, chắc họ đã thoát”. 
Đoàn người do dự một lát rồi lại tiếp tục đi. Họ như đã quen với mọi đe dọa. Lúc qua chỗ máy bay đang dội bom người ta chạy ùa theo sườn núi. Hồ ngạc nhiên dừng lại nhìn quanh quất ngơ ngác. Bên vệ đường cái giỏ của ông già ngồi cạnh Hồ trên xe bỏ lăn lóc. Mấy con bồ câu đập cánh nhảy trên những hộp sữa tìm lối ra. Một nỗi hoảng sợ đến kinh dị chiếm lấy Hồ, Hồ cắm đầu chạy nhào đuổi theo đoàn người trước mặt. Lúc đã tới chân dốc, Hồ mới nhận ra vẻ hớt hải của mình. Hồ vừa thở vừa rảo bước xuống dưới ruộng có những chiếc xe đậu với hy vọng nom thấy mặt ông già. Từ chân dốc đó cách hơn một cây số người ta bắt đầu đi thong thả, ồn ào nói chuyện. Phía sau tiếng nổ vẫn nghe thật gần, vẫn vang vách núi. Những người lái xe Lam-bét-ta đón khách đang ngồi trên mui xe coi máy bay. Hồ ngồi bệt xuống sau một chiếc xe lấy thuốc lá ra hút. Cánh đồng nom thật rộng, nhiều nắng. Người đàn ông đi bên vợ con dắt xe thong thả đi tới. Đứa bé chạy trên đường mồm thổi kèn.

Nguồn: Bão khô. Tập truyện của Y Uyên, tranh bìa của Thái Tuấn, do Giao Điểm xuất bản lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của nhà xuất bản, xong ngày 1 tháng 12 năm 1966. Ngoài ấn bản thường có in riêng 30 cuốn trên giấy trắng mịn dành riêng cho tác giả và nhà xuất bản. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 17 May 2024

Phần 8

Sương mù tan dần. Tôi nhìn thấy nhiều bóng người qua lại ở căn nhà kế cận. Một người đi lại phía tôi.

– A, ông! Lên đây đêm qua hé!

– Ừ, ông ở lâu chưa? – Tôi hỏi Tính, người bạn mang cấp Thiếu Tá.

– Hơn một tháng rồi, tôi đi đợt đầu. Căn nhà các ông ở, làm chưa xong. Các anh em bên Trại B sang làm giúp đấy, trong đó có Phúc và Văn Quang!

– Trại B, gần đây không?

– Khoảng 3 cây.

– Họ có sang làm tiếp không?

– Chắc không! Tôi nghĩ, các ông sẽ tiếp tục! có ai đi lấy bắp ăn sáng chưa?

– Chưa!

– Ai làm Đội Trưởng?

– Chưa có ai!

– Phải bầu tạm, lo cho sáng nay đã. Lát nữa cán bộ đến, sẽ trình lại!

Tính nói xong, bỏ đi.

Lúc này đã có nhiều người dậy. Tôi mang ý kiến của Tính ra nói. Một anh, người dỏng cao, giơ tay nhận làm Đội Trưởng.

– Anh em mình mới tới, tất cả bao nhiêu người?

Sau một hồi đếm đi đếm lại, đúng 60. Anh Đội Trường “hờ” nhờ tôi hỏi Tính xem thủ tục lãnh phần ăn sáng ra sao? Đựng bằng gì, cho 60 phần ăn?

Tính nói:

– Cứ xuống khai với nhà bếp, có 60 anh em mới đến đêm qua, họ biết mà. Đồ dùng thì nhà bếp cho mượn.

Anh Đội Trưởng “hờ” đi xuống nhà bếp nằm dưới thấp. Sương mù đã tan, dãi mây trắng giăng ngang dẫy núi phía trước, đẹp như bức tranh. Ở dưới chân núi, rất nhiều mái lá nhấp nhô. Màu vàng óng của tre nứa nổi bật giữa mầu xanh thẫm của núi rừng tạo nên hòa sắc tuyệt diệu! Trại tù này khá lớn, được xây dựng giữa khu lòng chảo rộng. Xung quanh núi rừng bao che như vòng tay khổng lồ, ôm đàn con nhỏ. Nhiều con đường mòn chạy ngang dọc như vẽ vào khung cảnh nơi đây những nét tài hoa.

Tôi giương đôi mắt nhìn theo đàn chim rừng bay vút như cắt ngang vòm trời, Đội Trưởng “hờ” đã khệ nệ bưng thúng bắp nấu, còn bốc hơi ngùn ngụt.

– Anh nào khéo tay chia đi!

– Một “chén tầu thủy” đủ không?

-Thì coi, nếu thiếu, chia lại!

Thế là 60 cái chén nhựa được xếp quây tròn, quanh chiếc thúng. Một anh dùng cái chén được phát trên tầu Sông Hương, múc đầy, rồi dùng chiếc đũa gạt ngang miệng. Chia xong, còn dư một chút, anh lại chia đều.

Chén bắp nấu đầu tiên, trong trại tù mới, chúng tôi ăn ngon lành, vì từ hôm xuống tầu, chưa lần nào được ăn một bữa có đun nấu! Lương khô, mì gói, ăn nhiều nóng ruột. Sáng nay, dù món bắp nấu, chưa phải món ăn lý tưởng, nó cứng như đá, nhưng ít ra cũng nóng sốt, lạ miệng, nên ai nấy ăn hăm hở. Chỉ một loáng, mọi người đã tìm chỗ rửa chén.

Kể từ hôm nay, giữa tôi và miền Nam hoàn toàn cách biệt, chẳng biết ngày nào mới gặp lại để được đi dưới ánh nắng chói chang mà không nóng, được hưởng những làn gió mát mỗi chiều. Quanh năm không dùng áo ấm; đêm đêm, tấm đắp mỏng đủ tạo nên giấc mộng yên lành!…

Khi anh em ngôi đông đủ chờ cán bộ đến sinh hoạt, tôi nhìn thấy một anh, gò má sưng to như trái ổi, dòng máu khô chảy dài trên má. Vài người khác kêu đau ngực, đau tay, vì bị trúng đá đêm qua. Tôi cởi áo nhờ anh kế bên coi hộ xem lưng có sao không? Anh nói: chỉ hơi tím thôi!

– Đù mẹ, mỗi lần di chuyển, mỗi lần bị ném đá thế này thì bỏ cha!

– Họ giết mình còn được nữa là!…

Mọi người nín thinh sau hai câu đó!

Tính lai đến tìm tôi vì anh ở gần. Tôi hỏi:

– Sao, ở đây dễ chịu không? Họ điểm nghiệm có khó không? Họ thu gì?

– Tù ở đâu cũng vậy! Chính sách chung mà! Ông cẩn thận có thuốc men cất kỹ. Nó thu đó!

Nghe thấy thu thuốc, tôi sợ quá, ngỏ ý nhờ Tính giữ dùm vì anh đã ở trước, qua khỏi cuộc điểm nghiệm rồi. Tính nhận lời. Tôi tìm gói thuốc, đưa Tính.

– Thuốc gì đây ông? Có Chloroquine không?

Tôi giật mình, sợ Tính đoán được ý định của mình nên câu trả lời có vẻ như coi thường:

– Có ít viên đề phòng sốt rét. Ông cần, có thể lấy ít viên xài!

– Không, hỏi vậy thôi. Ở rừng núi, trước sau gì cũng ngã nước. Ông có nghe thấy câu ngạn ngữ “Nước Sơn La, ma Vạn Bú” rồi chứ?

– Có, nhưng đây là đâu?

– Sơn La! Thế lúc di chuyển ông không nhìn thấy núi non trùng trùng, điệp điệp à? Núi giăng như lưới, vì thế mới gọi: Sơn La! Nước độc ghê gớm! Người miền xuôi lên làm ăn, sớm muộn gì cũng ngã nước, rồi bỏ xác tại đây!

Nghe Tính nói, tôi rùng mình, nhìn thẳng phía trước. Những lớp núi như đan vào nhau, ngọn cao, ngọn thấp, nối tiếp như những lớp trường thành trùng điệp bằng dá, khó qua nổi!

– Thế chúng mình sẽ phải bỏ xác ở đây sao? – Tôi hỏi Tính.

– Cái đó chưa rõ ạ! Ông biết tin về Hùng và Lan không?

Nghe Tính nhắc đến Hùng và Lan, tôi sững mắt nhìn:

– Sao, có chuyện gì thế?

– Tôi đi cùng chuyến tầu với họ. Vì là chuyến đầu, nên tụi Cộng Sản cẩn thận lắm. Anh em chẳng những bị nhốt vào toa trâu bò, cánh cửa duy nhất lai bị khóa kín, do đó, thiếu không khí. Ông Hùng bị chết ngạt. Có lẽ, sau mấy đêm cực nhoc ở dưới hầm tầu thủy, nay lại bị nhốt kín trong toa trâu bò cả đêm. Nghe đâu, ông ta bị bệnh phổi nặng, không còn sức chịu đựng!

– Chuyến tầu chúng tôi đi, cửa có hé mở!

– Chính vì cái chết của Hùng và nhiều người khác ngất ngư, nên các chuyến sau, họ mới mở hé đó, ông!

– Thế còn trường hợp của Lan?

– Lan khác. Hắn tự tử!

– Sao biết?

– Ông biết “Đức đen” không?

– Có!

– Chính “Đức đen” đã nói với tôi về trường hợp của Lan. Lan đã chết dưới chân hắn. Cộng Sản đã bắt hắn phải ký vào tờ khai tử của Lan với tư cách nhân chứng!

– Đức có ở chung trại này không?

– Không, họ phân chia số người ra nhiều trại lắm. Cả mấy chục xe cùng khởi hành, khi đến nơi chỉ còn vài xe.

– Tụi tôi cũng vậy! Đức kể với ông hồi nào?

– Ở bến đò Ô Lâu, trước khi lên xe!

mạnh hải flickr

Tin Hùng và Lan mất làm tôi choáng váng. Hùng người cán bộ chiến tranh chính trị nhiệt tình trong công tác, bị anh em chụp mũ “tên Cộng Sản nằm vùng” đã chết một cách khổ nhục trong toa chở trâu bò, bỏ lại mẹ già, vợ và những đứa con yêu quý trong đó có 2 đứa cũng đi học tập cải tạo như bố. Còn Lan, đã giữ đúng lời nguyền “nếu tụi Cộng Sản đầy ải và làm nhục, tôi sẽ kết thúc đời sống bằng độc dược”. Số độc được, Lan đã chia cho tôi một nửa, tôi còn giữ và nhờ Tính giấu dùm để tránh sự tịch thu của Cộng Sản qua cuộc điểm nghiệm. Những viên thuốc mầu đo đỏ một ngày nào, sẽ đưa tôi ra khỏi cuộc đời, trong trường hợp tôi không còn khả năng chịu đựng ê chê, nhục nhã!

Chúng tôi bầy hết mọi thứ trên tấm nylon. Hai tên cán bộ xem xét từng thứ một.

– Anh nào có thuốc tây bỏ ra trình. Chúng tôi không tịch thu đâu, chỉ tập trung “nại” để các anh cùng dùng khi đau ốm! Trại mới được tổ chức theo yêu cầu, nên còn thiếu thốn, nhất ”nà” vấn đề thuốc men, do đó chúng tôi phải khắc phuc bằng cách “bình quân” số thuốc tây các anh có, để khi anh nào đau yếu chúng tôi sẽ phát “nại”. Cũng “nà no” cho các anh cả thôi! Cách Mạng chúng tôi, không dùng!

Sau câu nói, các vỉ thuốc được đưa ra, từ thuốc cấm đến trụ sinh. Tên cán bộ dồn tất cả vào chiếc túi nylon. Ngoài vấn đề thuốc, dao kéo và những đồ dùng bằng sắt cũng bị tịch thu. Nhờ có Tính, số thuốc của tôi còn nguyên vẹn!

Sau cuộc điểm nghiệm, chúng tôi được đi tắm giặt . Một tên bộ đội vũ trang đưa dẫn. Bây giờ tôi mới nhìn rõ con đường tối qua đã đi. Con đường khá rộng, tương đối bằng phẳng. Cây cầu gỗ bắc qua con suối nhỏ. Tôi ngó xuống, những viên đá đen nhánh, to, nhỏ, chồng chất lên nhau làm dòng nước chẩy len lách thành những chiếc vòi nhỏ róc rách, nhìn vui mắt. Tháng này chưa phải mùa lũ, nên các dòng suối nhỏ đều cạn. Từ chiếc cầu, tôi nhìn ra xa một con đường mòn đỏ quạch chạy ngoằn ngoèo trên triền đồi cao bằng tòa nhà 10 tầng đổ xuống. Có mấy bóng người đang trèo ở lưng chừng. Nhìn dáng điệu và mầu quần áo, tôi biết ngay, anh em đi lao động. Trên con dốc kia, leo lên, tụt xuống mỗi ngày với tre nứa trên vai, coi bộ khó khá được!

Ra tới lộ đá, tên bộ đội đưa chúng tôi đi xuôi xuống, chừng hơn một cây số tới bên hông quả núi bị vạt một góc để làm đường. Hắn cho lệnh dừng, rồi chỉ tay cho chúng tôi đi theo lối mòn ra suối.

Một dòng suối khá rộng, nước chẩy ào ạt tuy giữa mùa khô! Mọi người cởi nhanh quần áo dầm mình xuống! Tôi nằm dài trên tảng đá lớn chìm sâu, để dòng nước chảy qua người. Từ ngay đi tù, chưa lần nào tôi được tắm thoải mái như vậy. Nghe trong người sảng khoái. Từng lỗ chân lông như nở ra để đón nhận hơi mát. Tắm gội chán chê, tôi giặt giũ rồi lên bãi cỏ ngồi chờ.

– Đi về, mấy anh!

Tên bộ đội từ ngoài đường gọi. Tất cả vội vàng đi lên, tay người nào cũng nặng chĩu đống quần áo ướt. Chúng tôi về đến nhà, đã gần trưa, sắp tới giờ cơm.

Tính chờ tôi ở đầu nhà:

– Ông đi tắm suối hả?

– Tắm khoái thực ông ạ, nhưng vô ích, vì từ suối về nhà, mồ hôi lại ra đầm đìa, tắm cũng như không!

– Thôi, lần sau muốn tắm, chờ buổi tối, tôi đưa ông đi tắm máng nước phía dưới, gần nhà bếp cho khỏe.

– Họ cấm mà!

– Vì thế, mới tắm buổi tối! Ông này ngây thơ bỏ cha!

Tiếng kẻng báo giờ cơm đã đánh. Tính quay về.

Chúng tôi, những người mới nhập trại, nhưng chóng làm quen với hoàn cảnh. Việc phân công nhanh, vì ai cũng biết rõ nhiệm vụ của mình. Đội Trưởng “hờ’ buổi sáng nay được anh em bầu chính thức. 6 Tổ được thành hình. Tổ 1 chịu trách nhiệm lo cơm nước cho anh em hôm nay, mai Tổ 2 rồi cứ thế tuần tự đảm trách.

Bữa cơm trưa chỉ có cơm và canh bí đao nấu muối. Người nào mang được món mặn, bỏ ra ăn. Qua mấy ngay không có cơm, bữa nay được ăn, dù gạo đỏ, cũng quý hóa. Sau khi chia phần, mỗi người được hơn hai “chén tàu thủy”! Ai ăn khoẻ, chắc không đủ!

Buổi chiều chúng tôi dọn dẹp nhà cửa. Bao nhiêu tre nứa được gom lại một chỗ. Chắc chắn, chúng tôi sẻ ngủ đất đêm nay và nhiều đêm nữa. Khí hậu núi rừng Sơn La rất độc, ngủ đất sao chịu nổi? Trong lúc chúng tôi đang dọn dẹp, bên ngoài có tiếng tre nứa quăng ầm ầm. Tôi nhìn ra, mấy anh em, quần ao treillis ướt đẫm mồ hôi và đất đỏ bám đầy, đang đứng thở sau khi quăng được bó dang, nứa xuống đất. Có người cúi xuống cởi những sợi dây rừng cuốn tròn lại, cầm chặt trong tay. Một tên bộ đội lù lù đi đến.

– Sao, bó này của anh nào?

– Dạ, của tôi, cán bộ!

– Còn bó này?

– Dạ, của tôi!

– À, bó này chưa đạt tiêu chuẩn nhá? Các anh “nao” động bầy nhầy “nắm”. Mức khoán đề ra “nà” mỗi anh 12 cây dài 4 mét trở “nên”, đường kính 7 phân. Anh “nấy” cây này có được 3 mét không?

Người có bó dang, đứng im không nói gì. Tên bộ đội, nhìn anh ta bằng con mắt nghiêm khắc.

– Anh tên gì? Tổ mấy, Đội mấy?

– Dạ, tên Kha.

– Gì Kha mới được chứ? Trai này có mấy Kha đấy!

– Dạ, Trương Đình Kha, Tổ 2, Đội 28.

Tên bộ đội lạnh lùng:

– Ngày mai, anh “nấy” gấp đôi!

Sau khi điểm xong, tên bộ đội đi ngược lên trên đồi, nơi có những đội khác ở.

Buổi chiều núi rừng, trời chóng tối. Ban ngày và ban dêm là hai cảnh khác biệt. Nếu ban ngày núi rừng cho ta cái cảm giác hùng vĩ và khơi động trí mạo hiểm, thì ban đêm núi rừng lại làm ta e ngại. Mỗi bóng tối có thể là một cạm bẫy, một đe dọa! Tôi nhìn những mỏm núi nhọn cắt lên nền trời như chiếc lưỡi cưa khổng lồ bất động. Chỉ trong ít phút nữa thôi, cảnh vật sẽ bị xóa mờ rồi chìm đắm vào một vùng hoang vu đầy bí mật!

Chưa muốn ngủ, tôi ngồi trên tảng đá, chờ trăng lên. Những mái tranh ẩn hiện trước mắt tôi lúc này, không tăng thêm phần sinh động cho khung cảnh.

Hàng ngàn con người đang sống dưới những mái tranh ấy, họ đang suy nghĩ gì về hiện tại và tương lai? Nỗi đau khổ của con người nhiều hay ít cũng còn thuộc vào sự suy nghĩ cửa mỗi cá nhân về nó. Nếu nhìn bề ngoài, không ai có thể đoán nổi họ đang nghĩ gì, vì tất cả đều cố giấu thực chất của mình trước sự dò xét của mọi người. Cũng như tôi đã giấu Tính về ý đồ tự sát, qua gói thuốc gửi hắn cất dùm trước khi bị điểm nghiệm!

Cảnh vật sáng dần. Tuy chưa nhìn thấy, nhưng tôi biết trăng đã lên. Trời rất trong, càng nhìn càng thăm thẳm. Có vài tiếng kêu buồn bã của đàn chim ăn đêm từ xa vọng lại, xen kẽ tiếng “tắc kè” tặc lưỡi nghe khắc khoải. Cả một vùng rộng lớn quanh tôi như chìm lắng vào giấc ngủ quá sớm. Làn sương mù đã buông nhẹ, tôi cảm thấy lanh, sợ bị đau, đi vào nhà.

Anh em nhiều người còn thức, ngồi quây quần xung quanh ngọn nến, vừa ‘kéo pháo” vừa nói chuyện. Danh từ “kéo pháo” mới được sáng tạo để chỉ việc rít điếu cầy. Những câu chuyện thường nhắc lại “quá khứ oanh liệt” để tiếc, để thương.

– Thôi, xin các ông dẹp chuyện cũ lại, nói mãi nhục lắm!

Giọng nói khàn khàn, lè nhè như sắp đi vào giấc ngủ nhưng chắc chưa ngủ được vì tiếng nói chuyện.

– A, ông Khiêm, ông buồn ngủ cứ ngủ, chúng tôi nói chuyện cho vui mà!

mạnh hải flicr

– Không ai cấm các ông nói, nhưng nói chuyện khác! Cái thời oanh liệt đó, đã chết rồi! Quên đi!

– Quên thế chó nào được? Mình phải nhắc nhở, để nung nấu ý chí chứ? Ông không thích nghe, kệ ông!

Lời qua lại có vẻ gay go, Đội Trưởng sợ có chuyện không đẹp xẩy ra, vội nói:

-Thôi anh em, chuyện gì mai giải quyết, bây giờ ta đi ngủ, kẻng rồi!

Những điếu thuốc cuối rít lên, trước khi ngọn nến được thổi tắt. Căn nhà tối om như chiếc vực!

Sáng hôm sau thức dậy, sau khi ăn sáng xong, được lệnh đi học tập Nội Quy. Chúng tôi ra phía cổng, băng qua con lộ đến khu nhà có chiếc sân gạch rất rộng. Ở phía cưối sân, một căn nhà gỗ 5 gian khá khang trang. Có lẽ đây, căn nhà xưa kia giàu có, bị tich thâu làm trụ sở Hợp tác xã. Bên trong nhà chứa đầy thóc, bắp và bí đao. Ngay thềm nhà, kê chiếc bàn trên trải tấm vải đỏ. Chúng tôi được lệnh ngồi ngoài sân. Trời nắng chang chang. Mới sáng, ánh nắng đã đổ xuống sân gạch, hơi nắng hắt lên hừng hực. Chừng 15 phút sau, tên bộ đội mang quân hàm Đại úy từ ngoài cổng đi vô, bước lên thềm, môi nở nụ cười gây thiện cảm. Xung quanh lố nhố toàn “cối xanh”. Một tên, đặt chiếc cặp da trên mặt bàn, nói:

– Xin giới thiệu với các anh, Đại úy Trại Trưởng sẽ sinh hoạt với các anh trong ít phút về vấn đề Nội Quy.

Nói xong tự hắn vỗ tay. Chúng tôi vỗ tay theo. Những giọt mồ hôi bắt đầu thấm ướt lưng và ngực.

Tên Đại úy mở cặp, kéo ra xấp giấy. Hắn mở nắp túi áo lôi cặp kính trắng đeo lên mắt. Hắn trạc 50 tuổi. Khuôn mặt vuông vức, có vẻ cuồng tín. Hắn đọc từng điều một, trong bản nội quy gồm 12 điều. Hầu hết nội quy trong các Trại Tập Trung Cải Tạo đều giống nhau, nếu có khác, chỉ một, hai chi tiết do mỗi Trại Trưởng đề xuất. Có 3 điều, không bao giờ thay đổi:

– Cấm không được xưng hô bằng cấp bậc cũ, tất cả đều gọi nhau bằng anh, già cũng như trẻ!

– Cấm không được nói tiếng nước ngoài.

– Cấm không được tồn trữ các loại sách báo, tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy!

Mỗi điều, tên Đại Úy nói ra, chúng tôi đều cắm cúi ghi chép, vì phải học thuộc.

Đang nói thao thao, bỗng tên Đại úy ngừng lại chỉ tay ra ngoài.

– Kìa, các anh xem, mấy anh đang đi kia được hưởng “quy chế tự giác” sắp được thả rồi! Mấy anh đó, bị bắt từ 1965 trong chuyến nhảy ra miền Bắc. Các anh ấy “núc” này, đi “nại” tự do như người dân thường. Còn như tên Khang, tên “Nương” mấy thằng “ngụy ác ôn” Cách Mạng đã tha tội chết cho đi học tập cải tạo mà chúng còn trốn trại. Chỉ nay mai, bị bắt “nại” chúng nó sẽ bị cùm, cùm!

Tên Đại úy quắc mắt, nghiến răng, nếu có tên Khang và Lương ở đấy, chắc hắn phải ăn thịt!

Chúng tôi quay mặt nhìn ra ngoài, có hai anh đeo túi vải đang đi trên lộ. Tuy ở xa, tôi cũng thấy họ còn trẻ, tuy đã bị giam giữ trên 10 năm, giữa núi rừng Việt Bắc!

Buổi học tập Nội Quy đến gần trưa mới xong.

Chúng tôi ra về, quần áo ướt đẫm mồ hôi. Về đến nhà, ai nấy đều mở nắp bi-đông, hoặc lon gô, uống nước.

Bữa cơm trưa nay, không ai muốn ăn, dù có cơm, canh nóng hổi. Buổi chiều, chúng tôi phải khai báo lý lịch. Sáng hôm sau, lại nhận lệnh đi nghe nói chuyện, tại khu nhà dưới đồi. Một tên đeo quân hàm Trung úy, đứng trước một đám đông ngồi bệt dưới đất. Hắn cười, nói:

– May quá, đáng nhẽ hôm nay, báo tin buồn cho mấy anh về vấn đề hạ mức ăn, nhưng nhờ sự can thiệp tích cực của Trại trình lên Trên, Trên đã chấp thuận giữ nguyên mức ăn cũ 18 kí mỗi tháng, thay vì 15 kí!

Tiếng vỗ tay rào rao, hoan hỉ! Thế là buổi hội tan, ai nấy quay về nhiệm vụ của mình.

Những ngày kế tiếp, chúng tôi phải lao động, chẻ tre, vạt nứa, làm vách nhà và sạp nằm. Sáng, tổ trục mượn dao ở kho, chiều, hết giờ lao động mang trả. Mỗi tối đều có sinh hoạt để phê bình kiểm thảo công tác ở giữa sân, do tên quản giáo điều khiển. Chúng tôi đều phải nghe một luận điệu đại khái:

– Nói chung, đại bộ phận các anh đã ý thức được nhiệm vụ của mình, nhưng còn một số vẫn dựa dẫm,”nề mề”, không thích “nao động”! Ngày mai, Tổ 1 và 2 phải hoàn thành tấm vách trước mặt. Tổ 3, làm chân sạp. Tổ 4, đan phên, Tổ 5 và 6, chẻ tre, nứa, phục vụ cho các Tổ. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Đó, tối nào cũng từng ấy chữ, tên quản giáo nói như con vẹt. Còn chúng tôi, tai nọ bay qua tai kia, không chú ý tới nữa!

Trong vòng hơn 2 tuần lễ, chúng tôi thi hành xong công tác. Căn nhà đã có vách, sạp nằm. Mỗi tối thay vì nằm đất, chúng tôi nằm trên những tấm phên nứa, cách mặt đất khoảng 6 tấc. Nhưng chúng tôi chỉ được nằm trong vài đêm.

Đúng 16 ngày, kể từ hôm đến, chúng tôi được lệnh chuyển trại.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 17 May 2024

Phần 7

Con sông khá rộng làm tôi nhớ đến việc qua phà trên dòng sông Bassac ở Cần Thơ. Nhưng chiếc phà ở đây đơn giản, chứa được ít người, ít xe. Còn chiếc phà ở Cần Thơ quá đồ sộ, chứa cả chục chiếc xe đò và hành khách cùng những người qua lại bất ngờ!

Chiếc phà từ từ cập bến. Tia nắng cuối của một ngày chiếu trên những ngọn cây rừng phía xa trông vừa đẹp vừa rờn rợn. Chúng tôi lục tục lên bến. Từ bên này nhìn sang, phía bên kia đã đầy người đứng đợi.

Tôi, người cuối ra khỏi lòng phà, lết từng bước leo lên chiếc dốc khá dài trước khi gặp con lộ trải nhựa! Đi độ mấy chục thước, thấy anh em đứng lại uống nước . Mừng quá, tôi cố đi nhanh tới, đặt túi đeo xuống, lấy chiếc bi-đông ra, mở nắp xin nước. Tên bộ đội đã lớn tuổi, đeo quân hàm Thượng sĩ nói:

– Báo cáo mấy anh biết, nước đây “nà’ của nhân dân địa phương nấu để mấy anh giải khát! Mấy anh đáng tội chết, nhưng nhân dân tuân theo “nời” dạy của Đảng và Nhà Nước không trừng trị, “nại” còn cho nước uống đấy! Mấy anh phải học tập cải tạo cho tốt để đền ơn Đảng và Nhà Nước cũng như nhân dân đã tha tội cho mấy anh!

Nói xong, hắn nghiêm mặt nhìn khắp lượt. Khát quá, tôi định đưa bi-đông nước lên miệng, nghe hắn nói vậy, không còn đủ can đảm để uống, dù mồ hôi ra nhiều, cơn khát làm cháy cổ.

– Uống mau “nên” rồi đi!

Tên bộ đội bỏ cây súng từ trên vai xuống, cầm trong tay. Anh em dù chưa uống hết vì nước quá nóng, cũng vội vã bỏ ly, bỏ bát xuống, mang đồ lên vai, hoặc gánh gồng lếch thếch. Tôi vẫn là kẻ cuối cùng luôn luôn cầm đèn đỏ. Khi vừa quẹo về phía mặt, tôi bỗng nhìn thấy đoàn xe vận tải dân sự đậu dài theo mép lộ. Tôi biết, đoàn xe này sẽ đưa chúng tôi đến trại mới. Mấy tên bộ đội đeo băng tay đỏ, có in hàng chữ “Kiểm soát quân sự” mầu vàng. Đó, những tên quân cảnh Việt Cộng. Theo lệnh, mọi người dừng lại, cách đoàn xe khoảng 20 thước. Lúc ấy, chúng tôi đứng nhốn nháo, không còn phân chia thành đội rõ ràng. Chiếc jeep kiểu Liên xô phóng tới, cuốn theo đám bụi mù. Tiếng thắng kêu ren réc. Tôi bỏ chiếc mũ vải đang đội, úp vào mặt che bụi. Cơn bụi tan, tôi thấy tên bộ đội có khuôn mặt khắc khổ, đôi mắt sắc như dao, đảo qua đảo lại. Gã Thượng sĩ lúc nãy xỉ vả chúng tôi, đứng kế bên nói nhỏ điều gì. Tên kia gục gặc đầu ra chiều đồng ý, xong hắn lại leo lên xe jeep phóng thẳng ra bến phà.

Chúng tôi được lệnh, 30 người một xe, cứ tuần tự từ xe đầu đến xe chót. Đoàn người tự nhiên nhộn nhịp, ai cũng muốn lên trước, cứ là như nếu không lên kịp, Việt Cộng sẽ bỏ lại dọc đường! Những người khỏe mạnh đi phăng phăng. Từng toán, rồi từng toán lần lượt lên. Tôi lên chiếc xe gần cuối. Lòng xe khá rộng, đồ đạc để giữa, hai bên có ghế ngồi. Lần thứ nhất, chúng tôi được di chuyển bằng xe hơi có ghế ngồi, dù bằng gỗ. Tên quân cảnh ngồi sát ca-bin. Tấm bạt được cuốn lên như bức sáo.

Chúng tôi di chuyển công khai trước mặt mọi người, thay vì đi ban đêm như hồi còn ở trong Nam. Có lẽ, Cộng Sản nghĩ, đây một thành tích vĩ đại, họ đã đạt được sau hơn 20 năm đấu tranh gian khổ, cần phải phổ biến rộng rãi trước nhân dân miền Bắc để gây ảnh hưởng chính trị.

Trời đã nhá nhem. Đoàn xe vẫn đứng im chưa nhúc nhích. Tôi quay nhìn phía sau lưng. Rừng núi đã sẫm mầu không còn phân biệt được rõ ràng chiều sâu của cảnh vật. Cơn mệt đã tan, tôi đưa chiếc bi-đông lên miệng. Mùi lá vối nồng nồng làm nhớ lại tuổi ấu thơ, mẹ tôi thường nấu cho uống vì nó mát và lạnh. Sau này lớn lên, đi phiêu bạt nhiều nơi, miệng lưỡi làm quen dần với trà núi Vũ Di, cà-phê Moka, cacao, Ovaltine, và những loại rượu mạnh có tính cách kích thích hơn chất nước hiền hòa, thơm mát của quê hương đất Bắc! Tôi không ngờ trong chuyến đi tù nay lại có dịp được trở về quá khứ. Nhưng quá khứ, sự thực, đối với tôi, chỉ còn là kỷ niệm, thứ kỷ niệm thô sơ, thanh thoát không bị chi phối vì lý do chính trị!

Đoàn xe đã đầy người.

Khi xe chuyển bánh, trời ập tối. Ánh đèn pha rọi thành từng vệt dài, xe nọ chiếu sang xe kia, tạo nên dòng ánh sáng thẳng tắp. Hai bên đường hoang vắng, không một ánh đèn chứng tỏ nơi đây, miền đất hoang vu. Bụi tung mù mịt che khuất tầm nhìn. Nhưng chỉ lát sau, khoảng cách giữa hai chiếc xe đã khá xa. Nhờ đó, anh em đỡ phải hít bụi. Khi đoàn xe chạy vòng khúc quanh, tôi nhìn những vệt sáng thoáng còn, thoáng mất do sự chớp đèn làm hiệu khi qua khúc đường vòng nguy hiểm. Đoàn xe càng chạy càng lên cao. Những dãy núi như gần lại, đôi lúc lù lù chắn ngang mặt, tưởng như chiếc xe sẽ đâm sầm vào. Nhưng không, từ khúc quanh nọ đến khúc quanh kia, mỗi khúc quanh, chiếc xe lại lạng nghiêng như muốn lật sấp. Nhưng người lái xe khá giỏi, có lẽ đã chạy quen trên con đường này hằng đêm, nên biết trước quãng nào có thể chạy nhanh, hoặc chậm!

Chiếc xe có tôi ngồi, cứ chồm lên, chúi xuống, lạng qua lạng lại làm nôn nao. Hai ổ bánh mì phát hồi sớm, tôi mới ăn hết một. Tôi nghĩ có lẽ do đói nên trong người bồn chồn. Cho tay vào túi đeo lưng mò tìm ổ bánh và gói đường. Ổ bánh mềm xèo, èo uột trong tay với gói đường ướt nhẹp thấm qua giấy gói. Tôi đưa ổ bánh lên miệng, nghiến chặt hai hàm răng cắn vào ổ bánh như cắn vào miếng cao su. Gói đường cầm trong tay đã bể. Tôi đưa cả bàn tay lên miệng thè lưỡi liếm. Mùi bánh chua chua trộn vào đường tạo thành hương vị đặc biệt, khó nuốt, nhưng tôi cố nhai cho ra nhiều nước miếng để dễ trôi qua cuống họng. Cứ thế, từng miếng một, tôi ngoạm hết ổ bánh và gói đường. Sau cùng, chiêu ngụm nước. Thế là xong bữa ăn cực nhọc. Thuở niên thiếu, đã nhiều lần, tôi phải ăn bánh mì, uống nước phông-tên trừ cơm, nhưng chưa có lần nào tôi cảm thấy ớn bánh mì như tối nay, trên quãng đường núi rừng trùng điệp, giữa đêm tối trong lòng chiếc xe đưa mình đến nhà tù mới, chưa biết nơi nào?

Quả nhiên, sau khi ăn xong, trong người thấy dễ chịu, không cồn cào như trước. Chiếc xe vẫn chạy lảo đảo như lên đồng. Xe vừa leo khỏi con dốc cao, bỗng tôi nhìn thấy vầng trăng tròn xoe treo lơ lửng trên đầu núi. Làn ánh sáng dịu dàng tỏa xuống núi rừng thâm u càng làm cảnh vật thêm phần bí mật. Đây không phải lần thứ nhất, tôi gặp núi rừng trong đêm trăng sáng. Trong đời tôi đã được sống nhiều đêm trăng giữa núi rừng. Nhưng, những lần đó, hoàn cảnh và cương vị của tôi không cùng chung ước lệ với cuộc sống đêm nay. Cũng trên quãng đường này, khi trước, tôi đã sống bằng tất cả niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ trong nhiệm vụ thiêng liêng, đóng góp công sức mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại của dân tộc! Nay, cũng trên quãng đường này, tôi, một tù nhân của Cộng Sản! Ngày trước, tôi bỏ hàng ngũ về “Thành” không phải vì miếng cơm, manh áo, mà đích thực đã thấy ý đồ của Cộng Sản, lợi dụng sức mạnh của toàn dân làm sức mạnh của Đảng để đấu tranh cho quyền lợi riêng của giai cấp vô sản. Tôi có mặt trong hàng ngũ miền Nam cũng không ngoài mục đích chiến đấu cho Tự-Do.

Đau thay, trong thời gian phục vụ Quân Đội Cộng Hòa, tôi đã bị cục An Ninh Quân Đội điều tra vì lý do thân Cộng! Không, một triệu lần không! Nếu trong đời làm văn học của tôi, có đôi bài mang tính chất xã hội, cũng chỉ vì tôi không muốn nhìn thấy những bất công tồn tại trong một xã hội tiến bộ, dư thừa vật chất!

Tôi chợt nghĩ đến nhân vật của Georghiu trong “Giờ thứ 25”! Trăng càng lên cao càng sáng. Làn ánh sáng dịu dàng tỏa nhẹ trên cảnh vật núi rừng đẹp như giấc mơ. Đoàn xe vẫn tiếp tục leo đèo xuống dốc, nhưng leo nhiều hơn xuống. Núi rừng âm u bao quanh chúng tôi như những bức trường thành bất tận. Đoàn xe di chuyển trong đêm trông giống lũ quái vật đang tiến vào đấu trường. Ngoài tiếng máy xe, tuyệt nhiên không còn tiếng động nào khác. Con đường, chúng tôi đang di chuyển, khi trước nó hẹp, nhiều ổ gà, nhưng nay đã nới rộng, sửa sang lại trong chiến dịch Điện Biên để chuyển quân và pháo!

mạnh hải flickr

Chúng tôi ngồi ê cả hai bên mông, vẫn chưa đến nơi. Bên ngoài sương mù đã buông bức mành mỏng. Vầng trăng tròn xoe như chiếc đĩa thủy ngân treo lơ lửng giữa vòm trời thếp bạc. Chiếc xe tự nhiên chạy chậm lại. Tiếng máy rú lên có vẻ mệt mỏi, nó đang leo con dốc quá cao. Từ trên, tôi dòm xuống, chiếc đi sau ở xa, mãi dưới thấp. Khi xe vừa vượt qua con dốc, vẫn chạy từ từ thay vì sang số để chạy nhanh. Tôi nghiêng đầu nhìn qua bên, thấy có dãy nhà lá nằm ngay ven lộ. Một đám đông, cả trẻ con lẫn người lớn đứng trải dài theo mép lộ. Khi chiếc xe vừa lăn chậm chậm trước đám đông, những viên đá tới tấp ném vào xe với lời chửi rủa.

– Đồ Việt gian, tiên sư cha quân bán nước! ề! ê!

Vì bất ngờ, nên anh em có người bị ném trúng vào mặt kêu oai oái, có người bị trúng ngực, trúng tay! Bị trúng hai cục vào lưng, tôi vội cong người xuống, úp mặt vào đống đồ. Những viên đá vẫn ném ào ào vào thùng xe kêu dòn như tiếng pháo. Khi không còn nghe thấy tiếng chửi và tiếng đá, tôi ngửng lên. Phía tên quân cảnh ngồi, mảnh bạt đã buông xuống từ lúc nào, che kín. Tôi biết ngay, việc ném đá và chửi rủa này nằm trong kế hoạch của nhà nước. Giữa đêm khuya ở miền rừng núi giá lạnh, ai điên gì thức chờ đoàn xe chở chúng tôi qua để ném đá? Oán thù chi dữ vậy?

Trong suốt quãng đường từ bến đò Ô Lâu lên tới Sơn La chúng tôi bị ném đá và chửi rủa hai lần nên rút kinh nghiệm, mỗi khi nhìn thấy nơi nào có nhà, chúng tôi đều cúi rạp mình xuống. Do đó, lần thứ nhì không ai hề hấn gì!

Đoàn xe cứ mải miết di chuyển, trăng lên tới đỉnh trời vẫn chưa đến trại. Đã 6 giờ trôi qua! Gió thổi lạnh buốt. Tôi lấy chiếc áo mưa choàng vào người để chắn gió Anh bạn ngồi bên ngả đầu vào vai tôi ngủ gật. Trong lòng xe, vài người có lẽ quá mệt, tựa đầu vào thành xe, mắt nhắm lại, thỉnh thoảng lại bò nhoài về phía trước mỗi khi xe lắc lư. Như thế, vào khoảng 1 giờ sáng, chiếc xe dừng lại trước một bờ rào tre nhọn hoắt, người lái xe mở cửa nhảy xuống. Từ trong rào, tên bộ đội xách súng chạy ra. Họ nói nhỏ gì với nhau, nghe không rõ. Nhìn về phía sau, chỉ thấy còn một chiếc đậu cách xe tôi khoảng mươi thước. Tôi vô cùng ngạc nhiên, không hiểu đoàn xe mấy chục chiếc kia di về phía nào, nay chỉ còn lại hai chiếc?

Người lái xe leo lên, đóng cửa cái rầm! Máy lại nổ, chiếc xe tiến lên, quẹo qua, lùi lại để quay đầu. Chiếc sau cũng làmchung động tác. Chiếc xe chở tôi lại dẫn đầu. Tiếng máy đều đều phá tan sự yên lặng của núi rừng. Thời gian trôi chầm chậm. Vầng trăng đã lệch đi một chút. Tôi khép chặt áo mưa để tránh lạnh. Tên quân cảnh vẫn ôm chặt khẩu A-K ngồi nghiêm chỉnh. Suốt quãng đường dài như vậy, tôi để ý không thấy hắn tỏ vẻ mỏi mệt, hay uống một ngụm nước. Binh chủng Quân cảnh, dù ở quân đội nào cũng vậy, là binh chủng chịu nhiều kỷ luật khắt khe, do đó, sự nghiêm túc của tên Quân cảnh Việt Cộng hiện diện trong chiếc xe này không làm tôi ngạc nhiên. Chiếc xe lại lên xuống theo cơn dốc. Đến một ngã ba, nó quẹo trái. Chiếc sau vẫn bám sát. Giữa khu rừng núi mênh mông trong đêm khuya, hai chiếc xe xả ga chạy vun vút như cuộc chạy đua với tử thần. Có lẽ, thời gian làm họ vội vàng. Sự đi nhầm đường, nhầm trại đã buộc họ phải thu ngắn thời gian di chuyển. Ánh sáng đèn pha chiếu vào vách núi trông rõ từng lùm cây, khóm cỏ. Xe chạy men theo sườn núi. Bên dưới, một vùng tối tăm thăm thẳm. Tôi rùng mình khi nghĩ chỉ sơ sẩy nào đó, tính mạng chúng tôi sẽ chìm sâu dưới hốc đá vô tri!

Vài ánh đèn thấp thoáng phía xa. Tôi nghĩ nơi ánh đèn kia, có thể một khóm làng, có thể Trại Cải Tạo, điểm hẹn của chúng tôi. Chiếc xe hạ dần tốc độ rồi dừng lại ngay đầu trạm gác.

Lần này thay vì người lái xe nhảy xuống, tên bộ đội ngồi trên ca-bin mở cửa. Hắn cầm một tập giấy trong tay và chiếc đèn pin. Hắn rọi đèn vào trạm gác. Tên gác hỏi:

– Ai?

Tên kia không đáp, cứ tiến đến, nói nhỏ với tên gác, rồi đi thẳng vô. Lát sau, hắn và một tên khác cùng ra. Tên quân cảnh trèo qua thành xe, cho lệnh:

– Mấy anh, xuống!

Mọi người lần lượt nhảy khỏi lòng xe. Từng gói đồ được chuyển theo. Chúng tôi tập họp hàng một. Sau khi điểm số, tên bộ đội mới từ trong ra, cho lệnh chúng tôi đi vô, theo ánh đàn pin soi đường. Từ chỗ xe đậu, chúng tôi phải đi sâu vào, qua một chiếc cầu gỗ, đi leo qua con dốc nhỏ đến một khu nhà đang làm dở dang. Tiếng nước chảy róc rách qua các đường máng làm bằng những ống bương to sát mé nhà.

– Đêm nay, các anh nghỉ tạm đây, mai tính!

Tên bộ đội nói xong, chiếu đèn pin quanh gian nhà. Thoáng nhìn, dưới mặt đất tràn đầy tre nứa tươi, bốc mùi chua chua. Căn nhà không rộng bao nhiêu, chứa 60 người, quá chật! Tôi đặt chiếc túi đeo lưng xuống, tay quơ đều đống tre nứa vụn trên mặt đất ngay chỗ đứng, thành nơi ngủ. Trong hơn một năm sống qua hai trại Cải Tạo miền Nam, tôi phần nào đã làm quen với bất ngờ, nhất là chỗ ngủ. Đã đi tù Cộng Sản phải biết chấp nhận tất cả những áp bức, đầy ải, phải biết quên đi những gì gọi là nhân phẩm, tự ái! Phải quan niệm rõ ràng, đây là cuộc trả thù không đổ máu, nhưng kẻ bị trả thù sẽ chết dần mòn qua những năm dài gian khổ, đói khát, qua những uất ức, qua những hối hận, qua những nhớ thương, chờ ngày giờ nào không còn chịu dựng được nữa, sẽ trả lại cuộc đời hơi thở quý báu mà bố mẹ đã nâng niu, chăm sóc từ thuở lọt lòng!

Trải tấm nylon trên đống tre nứa, tôi nằm lăn ra như một xác chết!

Sáng hôm sau, khi tỉnh giấc, màn sương mù dầy đặc phủ kín cảnh vật. Tôi không nhìn thấy gì ngoài 5 thước, trước mắt. Anh em, số đông còn ngủ. Có lẽ, sau đêm di chuyển dài, không ai còn đủ sức để làm việc gì sáng nay, dù việc nhẹ! Có nhiều người co quắp không đắp mền. Những khuôn mặt đen đúa vì nắng gió. Phần lớn họ đều trẻ, tôi không quen ai. Sự xáo trộn lúc lên xe đã làm Đội tan rã. Có lẽ, đây cũng nằm trong kế hoạch giữ tù của Cộng Sản, họ không muốn mọi người quá quen nhau để có thể dễ dàng tuyên truyền, cấu kết chống lại họ!

Hồi kẻng khua vang. Tiếng động dội vào vách đá vọng lại rền rĩ! Kẻng! Trại tù nào cũng phải nghe tiếng kẻng, riết rồi, trở nên quen thuộc. Nhưng sao tiếngkẻng sớm nay lại làm lòng tôi bồi hồi xúc động? Tôi nhớ đến tiếng gồng của đồng bào Thượng trong các buổi đại lễ tại các Buôn, Sóc thuộc vừng Gia Rai, Kontum, Buôn Mê Thuột. Địa danh Buôn Mê Thuột hiện ra làm đầu tôi choáng váng, như có ai cầm chiếc búa chim bổ xuống. Buôn Mê Thuột nơi diễn ra trận đánh mở đầu, cũng là trận đánh cuối, để xóa nền Đệ Nhị Cộng Hoà, sau hơn 20 năm, đổ bao nhiêu xương máu để tồn tại. Nghĩa Trang Quân Đội, một chứng tích vừa oai hùng vừa bi thương và cuộc chiến đã kết thúc dưới hình thứ “đầu hàng vô điều kiện” là sự phản bội đê hèn nhất trước vong linh các chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ miền Nam.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường tra Bắc

Post by Sơn râu 17 May 2024

Phần 6

Ngồi trong một góc, tôi úp mặt xuống đầu gối, suy nghĩ hoài về cách xử sự qua tàn tệ của Cộng Sản đối với những người thua trận! Chúng tôi không chủ quan để đến lúc này còn cho rằng, mình tài giỏi và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà mạnh, có ý chí cao. Nhưng chỉ biết, nếu chúng tôi, từ người Binh II tới các ông Tướng đừng mất tinh thần chiến đấu trong những ngày đầu của trận đánh Buôn Mê Thuột, cứ kiên trì chống trả với quân thù trên từng thước đất quê hương thì dù người Mỹ có bỏ Việt Nam, còn lâu Cộng Sản mới chiến thắng? Thảng hoặc, nếu có chiến thắng đi nữa, lực lượng quân sự của chúng cũng bị tiêu diệt phần lớn, chứ không còn nguyên vẹn như hôm nay. Nhưng lúc này ván bài đã lật, có hối tiếc cũng vô ích, chỉ làm chán nản, buồn bực, đi đến phẫn chí!

Con tầu lắc mạnh trước khi chuyển bánh. Tiếng bánh nghiến vào đường sắt từng nhịp đều đều, từ chậm đến nhanh. Giữa một kích thước chật hẹp, anh em không ai nói với ai điều gì. Người nào cũng ngồi dựa lưng vào vách ngủ gà ngủ gật. Chỗ để hành trang tuy còn rộng, nhưng Đội Trưởng đã nằm dài choán chỗ.

Ngồi mãi quá mỏi, tôi đứng lên ghé mắt vào chiếc cửa lưới. Hơi gió thổi làm mát mặt, tôi hơi thấy dễ chịu, nhưng toàn thân, mồ hôi dâm dấp. Mùi quần áo quện mồ hôi xông lên khó chịu. Đứng mãi mỏi chân, lại ngồi tụt xuống. Tôi cố gây giấc ngủ, không tài nào được. Chắc chắn, điệu này, dù không muốn, tôi cũng phải gánh chịu những giờ phút cực kỳ thê thảm! Nhưng thời gian vẫn luân hành theo nhịp độ của nó.

Con tầu nghiến đường sắt nuốt đoạn đường dài. Máy tầu đang ngon trớn, bỗng hạ dần tốc độ. Tiếng bánh sắt nặng nề nghiến xuống đường rầy nhức nhối, rồi nó ngừng lại. Tôi kiểng chân nhòm ra ngoài. Đúng là ga Hà-nội. Sở dĩ tôi nhận ra ngay vì miền Bắc không còn có nhà ga nào lớn hơn nó. Tôi đinh ninh mình sẽ bị nhốt tại Hỏa Lò. Sân ga lúc này vắng hoe vì đã quá nửa đêm. Những tên bộ đội chạy lăng xăng với những bộ quân phục nhàu nát. Vài tên Công An áo vàng đứng nhìn đoàn tầu. Tất cả mọi người đều thức và chờ đợi việc gì sẽ xảy ra. Nhưng chờ mãi, canh cửa vẫn khóa. Một vệt sáng yếu ớt len qua khe hở không soi tỏ được vật gì bên trong. Vài tiếng ngáp to chán nản âm vang trong bóng tối. Tiếng đầu máy chuyển ầm ầm bên ngoài với từng hồi còi khàn khàn, rền rĩ càng làm cho không khí nặng nề. Bỗng thân tầu rung mạnh, từng chặp, từng chặp, rồi từ từ trôi đi, nhưng không, có lẽ nó dồn toa. Con tầu đậu khá lâu, chẳng biết để làm gì, nhưng rồi nó cũng chuyển mình chầm chậm khi trời bắt đầu mờ sáng.

Tiếng bánh sắt lại đều đều nghiến đường rầy. Tôi ngồi thụp xuống, nhưng chỗ ngồi quá chật và bí hơi, đành phải đứng lên cho dễ thở. Tất cả Hà-nội đều đang ngủ say qua làn sương mù buổi sớm. Tầu chạy khoảng 15 phút, băt đầu bò vào cầu Long Biên. Vì cầu bị hư hại nhiều sau những đợt ném bom, nên nó bò rất chậm. Tôi kiểng chân ngó ra ngoài.

Ôi, Hà-nội! Tôi cố mở to mắt nhìn cái thành phố thân yêu nơi tôi cất tiếng khóc chào đời, đã sống và lớn khôn với bao kỷ niệm vui, buồn! Hà-nội đó, trước mắt tôi đang mất dần hình ảnh. Tại sao con tầu không dừng lại ít phút để tôi có thể chiêm ngưỡng và nhớ lại những gì lâu ngày bỏ quên trong trí nhớ.

Con đường bờ sông với chiếc cột đồng hồ cũ kỹ vẫn còn đó, qua bao nhiêu phế hưng thời đại.

Xuôi xuống nữa là viện Bảo Tàng, cái kiến trúc đặc biệt như chiếc phi cơ đậu ở phi trường nếu từ cao nhìn xuống vì kiến trúc sư họa kiểu là cựu phi công người Pháp.

Những dãy phố cổ, cao thấp không đều mang sắc thái của Hà-nội. Nào phố Mới, phố hàng Mắm, phố hàng Thiếc, hàng Bạc, hàng Mành, nào ngõ Phất Lộc v.v… Tất cả những con phố đó thuộc về Hà-nội cổ xưa. Trước kia, ở miền Nam, có ai là người miền Bắc, nhớ Hà-nội, muốn tìm lại chút ít kỷ niệm qua hình ảnh phố phường, chỉ có thể tìm lại một phần nào tại Hội An, Đà Nẵng. Nay, giữa tôi và phố phường quen thuộc kia chỉ gang tấc, mà sao xa cách ngàn trùng?

Cả con đê kia nữa, thuở nhỏ tôi đã qua lại nhiều lần, đã từng chạy nhảy trên bãi cát vàng óng nổi lên thành vồng giữa mùa nước cạn, cũng như đã bao lần trong mùa nước lớn, tôi nhìn những lượn sóng đỏ ngầu phù sa vỗ vào chân đê như muốn phá vỡ, để tràn vào thành phố!

Và cây cầu Long Biên này nữa, mỗi nhịp đều nhắc nhở kỷ niệm. Từng thanh gỗ âm vang dưới từng bước chân. Mỗi lần xe chạy, mỗi lần các thanh gỗ lát cầu rung rung từng điệp khúc vội vã, rên siết mang nhiều hình ảnh của tàn phai!

Còn đây, bãi giữa, một mảnh phù sa bồi đắp qua mỗi mùa nước, những vườn dâu xanh biếc trải dài mút mắt. Dăm ba con đò qua lại, tiếng mái chèo nhịp nhàng khua động phá tan nỗi u tịch của không gian quạnh vắng.

Mỗi phút, con tầu đưa tôi ra xa Hà-nội! Con tầu chạy rầm rập qua những nhịp cầu. Vì không thò đầu ra ngoài được nên tôi không đoán biết đoàn tầu dài hay ngắn? Chỉ biết, tiếng “cành cạch” khua vang âm điệu lê thê. Nhà ga Gia Lâm đã hiện ra trước mắt. Con đê chạy vòng theo khúc uốn của sông Hồng tạo nên đường cong tuyệt mỹ. Con dốc đổ xuôi vào phố Gia Lâm, con phố duy nhất với những căn nhà cũ kỹ dẫn tới con đường vào phi trường dân sự. Gia Lâm đối với Hà-nội cũng như Thủ Thiêm đối với Sàigòn. Một bên, ánh sáng tượng trưng cho tiến bộ. Một bên, nếp sống mộc mạc hòa hợp với thiên nhiên.

Sau hơn 20 năm cách biệt, buổi sớm nay tôi gặp lại Hà-nội, Gia Lâm và cây câu Long Biên qua chiếc cửa sổ nhỏ giăng mắt cáo. Trong lòng dâng lên nỗi nghẹn ngào vì không bao giờ có thể ngờ, mình còn có hoàn cảnh gặp lại Hà-nội trong một tư thế khốn khổ như thế này! Hơi thở của tôi vẫn là hơi thở của Hà-nội, một Hà-nội sau hai mươi mấy năm chinh chiến vẫn giữ nguyên phong thái của một thành phố cổ kính. Chẳng biết bên trong Hà-nội ra sao, chứ bên ngoài tôi chưa thấy chút gì thay đổì, dù nhỏ nhặt qua mắt nhìn thực tế. Từ trong chiếc toa chở trâu bò, tôi được quân thù đánh giá ngang hàng với súc vật, nhưng trên bình diện đời sống, tôi vẫn là con người có đầy đủ trí năng và thẩm quyền để nhận xét về giá trị của Hà-nội, của thành phố đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi từ ngày đầu có mặt. Tôi gặp Hà-nội buổi sáng nay không phải để tiếc nuối hay hối hận mà chính để qua sự hiểu biết và trưởng thành, nhận định đúng mức cái còn và cái mất của mình đối với thành phố yêu dấu này. Tôi đã mất Hà-nội hôm nay, nhưng tôi còn Hà-nội trong kỷ niệm mãi mãi!

Vệt mây hồng chạy dài phía cuối trời hướng đông, báo hiệu một ngày khởi đầu, khi con tầu vừa ra khỏi ga Gia Lâm. Người trưởng Ga tay cầm lá cờ đỏ phất qua phất lại. Chỉ vài phút, hình ảnh đó đã chìm khuất. Tôi chỉ ghi nhận được nét mặt răn rúm, bộ râu mép lưa thưa, chiếc mũ kết bạc mầu!

– Ông ơi, có nhìn thấy gì lạ không?

– Nản bỏ cha, chẳng có gì lạ, ai muốn đọc khẩu hiệu, tôi nhường chỗ cho coi!

– Thành phố Hà-nội có to bằng Sàigòn không ông?

– Hà-nội làm sao to bằng Sàigòn được! Khi tầu qua Hà-nội, trời mới mờ sáng! Cả Hà-nội đang ngủ say trong chiến thắng! Tầu chạy ven thành phố mà, vì tôi sinh ra ở đây nên biết rõ đó thôi. Thế ông chưa coi phim “Một ngày của Hà-nội” sao?

– Coi rồi, nhưng tôi người miền Nam, chưa ra Bắc lần nào, làm sao có ý niệm chính xác về Hà-nội? Do đó, tôi muốn được nhìn một lần cho biết!

– Thôi, chịu khó chờ, khi nào được tha, thế nào cũng phải qua Hà-nội, lúc ấy có tự do mặc sức ngắm. Nào cảnh Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Hoàn Kiếm. Nào Ba Đình, “Lăng Bác”. Nào công viên Thống Nhất! Thiếu gì cảnh đẹp!

Anh bạn miền Nam ngước mắt nhìn.

– Ngày nào được tha, nếu cùng về, ông dẫn tôi đi thăm cảnh Hà-nội và nói cho nghe về lịch sử mỗi cảnh đẹp nhé!

mạnh hải flickr

Không trả lời, tôi ngó anh bạn miền Nam với niềm cảm ơn sâu xa, vì anh đã mến quê hương tôi qua Hà-nội trong tưởng tượng. Tôi ao ước, anh sẽ giữ mãi cảm tình đó trong lòng, đừng bao giờ bắt tôi phải nói về Hà-nội xưa và nay. Cùng là người Việt Nam, nhưng sống ở hai đầu Nam – Bắc, chưa một lần, anh được thấy Hà-nội; còn tôi vì hoàn cảnh đẩy đưa, đã được sống, được biết cả 3 miền Trung, Nam, Bắc.

Trong thời gian chia đôi đất nước theo hiệp định Genève, một phần miền Trung với kinh đô Huế thuộc về miền Nam. Địa đầu giới tuyến, dòng sông Bến Hải thuộc Quảng Trị, ngàn vạn năm sau vẫn còn đó và lịch sử không bao giờ xóa mờ được ranh giới Quốc, Cộng trong thời gian chinh chiến tàn bạo, gây nên bao nhiêu đổ vỡ điêu tàn, máu đổ thành sông, xương cao bằng núi, để giữ vững mầu cờ tượng trưng cho lý tưởng!

Ngày hôm nay, Việt Nam đã thống nhất trên phương diện địa lý, nhưng trong lòng mọi người dân miền Nam chắc gì đã thừa nhận sự cai trị bạo tàn của chế độ Cộng Sản?

Tiếng đường sắt kêu đều đều dưới sức nặng của những toa tầu chuyển động trên nó. Tiếng động rất đặc biệt, không làm khó chịu lỗ tai lại có tác động ru ngủ.

Lúc này mọi người đã tỉnh táo, tuy vừa trải qua một đêm cực kỳ nóng bức và chật chội. Khói thuốc lào, thưốc lá bay mù mịt cùng với tiếng nói thì thào.

Mặt trời chiếu từng làn ánh sáng rực rỡ xuống cảnh vật. Tôi cứ nghểnh cổ nhìn ra ngoài. Những cánh đồng sau vụ gặt mùa chiêm tháng 5, gốc rạ chưa cắt đâm tua tủa trên một chiều rộng xa thẳm, xen kẽ có những chỗ ngập nước trắng xóa. Cảnh vật này, tôi đã thấy nhiều lần từ lúc tuổi thơ, nhưng có đôi chút khác biệt. Bây giờ đôi chỗ, có hàng cây dưong cao ngòng mọc ngang dọc, chia cắt cánh đồng thành nhiều mảng. Một con đường đỏ như son, rộng rãi bằng phẳng, có thể di chuyển xe hơi dễ dàng, nhưng tôi chỉ nhìn thấy những chiếc xe đạp xuôi ngược, qua lại!

Con tầu bớt dần tốc lực rồi ngưng tại một địa điểm giữa khoảng không có nhà ga. Tôi nhìn qua bên kia đường. Một dãy nhà lá cũ kỹ, chạy dài theo mép đường, mái che bằng những miếng giấy dầy sơn hắc ín để tránh mưa nắng. Hàng cột xiêu vẹo. Nhiều tấm liếp chắn cửa rách nát, tố cáo sự nghèo nàn. Từ một trong những căn nhà đó, các tên bộ đội khiêng ra từng thúng bánh mì, đưa đến mỗi toa tầu. Chiếc khóa được mở. Hai tên bộ đội leo lên, đưa cho mỗi người 2 ổ bánh mì, một gói đường và gói ruốc cá nhỏ. Sau khi phân phối xong, hai tên đó nhảy xuống, tên khác leo lên với khẩu A.K. và chiếc ghế đẩu. Hắn đặt chiếc ghế ngay lối đi, rồi cho tay kéo cánh cửa vào sát chỗ hắn ngồi. Một hồi còi rúc, con tầu lại chuyển bánh. Có anh háu đói, cho ổ bánh mì vào miệng cắn. Tôi thấy anh ta cầm chặt ổ bánh trong tay lay lay, rồi giật mạnh.

– Đù mẹ, bánh gì mà dai như giẻ rách! Dứt muốn gẫy răng!

Tuy nói vậy, nhưng ổ bánh cũng biến vào bụng anh trong nháy mắt!

Tôi ngồi xuống, lúc này trong toa đã có chút gió vì cửa đã hé mở một khoảng. Tôi nghĩ, nếu cửa toa cứ đóng kín như hôm qua, thế nào cũng có người ngất xỉu!

Con tầu nuốt ậm ạch từng cây số đường sắt. Nó bò càng chậm khi băng qua chiếc cầu sắt bắc ngang sông Lô trước khi vào ga Việt Trì. Nó lừ lừ chạy thẳng. Tôi nhìn vào chiếc sân ga bé nhỏ, thấy những người dân quê gồng gánh, tay xách, nách mang như hệt cảnh tôi đã nhìn, cách đây mấy chục năm. Cái chính sách ‘‘Trước sau như một” của Cộng Sản, hình như áp dụng bao trùm tất cả đời sống của người dân miền Bắc, từ tinh thần đến vật chất. Do đó, cái gì mình đã thấy, còn phải tiếp tục thấy và biết mãi mãi! .. Cái nếp sống văn minh, tiến hóa, con người luôn luôn đòi hỏi, hầu như không được chấp nhận dưới vòm trời Cộng Sản!

Con tầu vận chuyển đếu nhịp. Từng dãy đồi núi phía xa chập chùng dưới ánh nắng chan hòa. Trời cao và trong, không một gợn mây. Cảnh trí đã thay đổi chứ không buồn nản như đồng bằng. Tỉnh lỵ Phú Thọ kia rồi, một thành phố được dựng lên bên bờ sông Hồng.

Tỉnh lỵ Phú Thọ, thuộc miền Trung Du, với những ngọn đồi trà bát ngát cùng những dãy đồi trồng cây sơn, nổi tiếng tốt nhất vùng Đông Nam Á. Nơi đây, rất nhiều phong cảnh đẹp, đã cung cấp cho các họa sĩ nhiều chất liệu để tạo nên những tác phẩm mỹ thuật. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, tôi đã gặp lại Phạm Duy và nhiều bạn khác tại nơi đây. Bỗng nhiên, tôi hồi tưởng đến khoảng thời gian xa xôi, khi tôi còn là một thanh niên mang trong người nhiều hoài vọng. Cái tỉnh lỵ đang ẩn hiện dưới mắt tôi kia, cách đây 30 năm, nó và tôi đã quen biết. Những dãy phố bị phá hủy do lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, ngổn ngang gạch đá, những quán cà-phê ca nhạc, kẻ ra, người vào tấp nập. Những chiếc “xà-cột”‘ đeo lủng lẳng bên vai, những khẩu súng cả dài lẫn ngắn hiện diện ở khắp nơi, nói lên không khí hào hùng của một dân tộc bất khuất, quyết đấu tranh để dành lại Tự Do, Độc Lập sau 80 năm nô lệ! Ôi, ngày đó xa rồi, xa thật rồi! Hôm nay tôi đứng trong chiếc toa chở súc vật, nghểnh cổ nhìn qua ô cửa nhỏ để nhớ lại “cái tôi” ngày trước, mới ngoài 20 tuổi, tràn đầy sức sống, và bây giờ, tôi tên tù chính trị đang bị dẫn giải đến nhà lao mới, chưa biết ở địa điểm nào, giữa vùng núi đồi miền Bắc?

Nơi nào tôi nhìn, cũng in đầy kỷ niệm thời kháng chiến. Cũng trên con đường tầu này, cách đây 30 năm, tôi đã bước trên nó. Từng bước chân, tôi dẫm lên đá, tạo nên âm thanh rào rạo. Có những đoạn đường sắt bị bóc đi, trông giống như con lộ nhỏ đang sửa sang. Tầu chạy qua Phú Thọ chừng hơn chục cây số bỗng dừng lại đột ngột. Mọi người nhốn nháo tưởng đã đến nơi. Tên bộ đội thò đầu nhìn ra, rồi ôm cây A.K nhảy xuống. Lợi dụng dịp này mấy người đứng ngoài len lén nhìn qua khoang cửa.

– Đến nơi rồi sao? – Một người ngồi trong, hỏi vọng ra.

– Không biết, nhung chắc chưa đâu, chỗ này đồng trống, chung quanh chẳng có nhà cửa gì cả.

– Đây là đâu? Ông nào người Bắc, làm ơn ra coi dùm!

– Tầu mới qua ga Phú Thọ mà! chắc hư cha nó rồi!

Vì tên bộ đội áp tải không có đó, anh em xô ra cửa, mọi người đều cố thò mặt ra ngoài để lấy chút gió và nhìn phong cảnh miền Bắc. Những tên bộ đội áp tải đứng tụ tập nói chuyện. Thỉnh thoảng lại cất tiếng cười hô hố. Chúng văng tục tùm lum. Lính tráng ở đâu cũng vậy! Nửa giờ, rồi một giờ qua đi, tầu vẫn chưa chạy. Vì không hiểu chuyện gì xảy ra, chúng tôi cứ thản nhiên hút thuốc, uống nước. Lũ trẻ con đi học về, nhìn thấy đoàn tầu đổ, chúng tò mò ngó vào mỗi toa. Bỗng một đứa trong bọn, kêu to:

– A, Việt gian, chúng mày ơi!

Sau câu dó, cả bọn hò reo rầm trời. Chúng lui ra xa, cúi xuống nhặt đá. Một trận mưa đá bay đến. Tiếng đá chọi vào vách toa kêu chan chát. Nếu chẳng may trúng ai, chắc cũng đau lắm, có thể gây chảy máu. Tụi trẻ con vừa ném đá vừa chửi rủa chúng tôi bằng những câu tục tỉu. Lũ bộ đội đứng ngay đấy, chỉ “suỵt, suỵt” lấy lệ, xong chúng lại quay đầu nói chuyện. Có lẽ đây là chính sách của nhà nước! Qua chuyện này, tôi thầm phục tụi Cộng Sản đã có công giáo dục trẻ con biết căm thù cả những gì mà chính chúng cũng không hiểu vì sao phải căm thù? Sự dừng tầu lại quãng đường này chắc cũng nằm trong ý đồ của Cộng Sản muốn làm nhục chúng tôi!

Một hổi còi rúc vang, con tầu lại bắt đầu chuyển bánh. Không hiểu sao, trưa nay tôi lại có thể ngủ được giấc dài, trong toa tầu bẩn thỉu và chật chội như thế này? Khi tỉnh dậy, ánh nắng đã tràn vào quá nửa toa. Tôi biết đã muộn. Nhìn đồng hồ, gần 4 giờ chiều. Con tầu bớt dần tốc lực, chạy chầm chậm. Tên bộ đội áp tải đứng dậy, thò đầu ra ngoài. Hắn cho chân đẩy chiếc ghế vô trong, xốc lại áo quần. Qua cử chỉ ấy, tôi đoán biết sắp đến nơi. Quả nhiên, con tầu dừng lại hẳn.

-Mấy anh chuẩn bị xuống!

mạnh hải flickr

Tất cả đã chuẩn bị sẵn, nên lúc này có vẻ thảnh thơi. Những chiếc túi đeo lưng được cầm sẵn trong tay, chờ đúng lúc để đưa lên vai. Tôi xem lại chiếc quai bị đứt. Tuy đã buộc lại, nhưng tôi nhận thấy không bảo đảm chút nào. Muốn chắc, phải có nhiều thì giờ khâu lại bằng sợi nylon. Không biết sao hơn, tôi đành phải vác nó trên vai. Tôi nhảy ra khỏi toa, quay nhìn vào nhà ga, chữ Yên Bái sơn đỏ chói nổi bật dưới nắng chiều. A, Yên Bái, cái tỉnh lỵ này đối với tôi cũng không xa lạ gì trong thời gian kháng chiến. Ở nơi này, tôi và Văn Cao đã sống với nhau một thời gian, đã uống nhiều bữa rượu giữa đống gạch ngói ngổn ngang. Chúng tôi đã đứng trên cây cầu nhìn dòng nước chảy mải miết sau mỗi cơn lũ. Ôi, thời gian, với đôi cánh lạnh lùng nó cứ bay hoài hoài không kể chi đến bao nỗi tàn phai của kiếp sống phù du! Cái tỉnh ly nhỏ bé nằm sau hàng cây thưa kia, tuy không xa tôi bao nhiêu, nhưng không cách nào tôi nhìn lại nó được. Những người dân ngó chúng tôi bằng con mắt thờ ơ, coi như không dính dáng gì. Cộng Sản thường rêu rao, Cách Mạng cần phải giữ chúng tôi để bảo vệ an ninh và cũng do lời yêu cầu của vợ con chúng tôi nữa. Nếu để chúng tôi tự do, nhân dân có thể nổi giận giết chết! A, Cộng Sản nhân đạo ghê! Vì mạng sống của kẻ thù không đội trời chung mà phải lo giữ gìn, nuôi ăn, kiếm chỗ cho ở, còn giáo dục để trở thành “những con người tốt cho Xã Hội Chủ Nghĩa”! Mỉa mai thay, qua kinh nghiệm sống hơn một năm dưới chế độ nhà tù Cộng Sản, chúng tôi đã quá ê chề tủi nhục! Cho tới hôm nay, đứng trên mảnh đất của Xã Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi vẫn luôn luôn là đối tượng chính trị của Cộng Sản, không dễ gì họ buông tha một cách dễ dàng! Mỗi giai đoạn chúng tôi trải qua, đều có ý nghĩa nhất định, nằm trong ý đồ của Cộng Sản. Từ Long Giao qua Suối Máu, từ Suối Máu ra Bắc, không phải là những cuộc du lịch, mà đích thực, nó là những mắt xích, những cửa ải đưa dần xuống đáy Đia Ngục bắt buộc phải kinh qua, ít ai được miễn trừ!

Đoàn người đã ra hết ngoài lộ đá. Tôi vác chiếc túi đeo lên vai, băng qua đường tầu lổn nhổn đá, rác rến quăng bừa bãi. Sự bẩn thỉu này làm tôi nhớ lại quang cảnh những sân ga, thuở nhỏ tôi đã thấy mỗi lần theo mẹ về quê. Âu đó là nét sống độc đáo của người dân miền Bắc, chỉ có khác, bây giờ không còn ai mặc váy, tất cả đàn bà đều mặc quần, dù già hay trẻ! Khi tôi ra tới đường, mọi người đã di chuyển được một quãng khá xa.

Sợ bị bỏ lại sau, tôi cố gắng chạy theo cho kịp, nhưng chiếc túi trên vai cứ lúc lắc tăng thêm sức nặng và làm đôi chân chậm bước. Tôi đành đi từ từ, muốn ra sao cũng được. Tên bộ đội áp tải như không cần để ý đến tôi. Tay nó cầm khẩu A.K. đã cũ đi theo sát đám đông. Trong đầu tôi thoáng nẩy ra ý nghĩ: trốn! Tôi nhìn quanh quất, không nơi nào có thể ẩn núp, không khuôn mặt nào có thiện cảm, để giúp đỡ tôi trong mưu toan. Tôi vội xóa bỏ ngay ý nghĩ đó, lại lầm lủi vác chiếc túi đi từng bước mệt mỏi trên con lộ buồn tênh!

Con lộ quá dài, tôi cảm thấy khó chiu đựng hơn nữa. Tôi muốn vứt ngay chiếc túi đó đi, vì mỗi bước chân là hao mòn, thiếu hụt. Quẳng mạnh chiếc túi xuống mặt đường, chiếc túi lăn ra xa. Một ý kiến nẩy ra trong đầu. Tôi đến gần nhặt lên, rồi dùng hết sức quăng thêm lần nữa. Chiếc túi lần này không lăn mà nằm chình ình ngay giữa lộ. Thấy làm cách này không được, tôi xốc lên, đeo vào vai. Tôi cho tay đỡ bên quai bị đứt với chủ ý làm nhẹ bớt, như vậy có lẽ được! Mồ hôi vẫn đầm đìa! Đưa tay gạt ngang mặt, tôi thấy mắt cay xè! Nhìn phía trước không thấy ai, kể cả tên bộ đội áp tải, tôi rảo bước! Sao con đường dài thế, chẳng biết còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn? Tôi không ngờ phải di chuyển xa như vậy, nhưng đã đến hoàn cảnh này, chẳng còn cách nào hơn là cố gắng. Hai chữ “CỐ GẮNG” binh chủng Dù thường dùng mỗi lần cần khuất phục khó khăn chiến trường. May mắn thay, tôi đã nhìn thấy dòng sông và bến đò. Đó là bến Ô Lâu, mấy chục năm trước, tôi đã từng qua lại. Chiếc phà máy chất đầy người sắp sửa tách bến.

Trông thấy tôi, tên bộ đội áp tải hét lớn:

– Mau “nên”, mau “nên”!

Tôi bước vội xuống con dốc. Khi vừa đăt được hai chân vào sàn phà, tôi té xỉu. Cũng nhờ anh em đông nên không ngã, tôi chỉ khuỵu gối xuống, đầu ngã vào túi đồ của ai chẳng biết!

– Ai bảo mang cho lắm, nghèo mà ham!

Nghe thấy tiếng mỉa mai, tôi hé mắt nhìn, nhưng hình như mọi người chẳng ai chú ý đến tôi. Chiếc phà nổ máy, đi ngược lên một quãng khá xa rồi mới băng ngang. Dòng nước cuốn mạnh đưa chiếc phà lạng dần xuống phía bến.

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 17 May 2024

10. Chỉ Còn Một Thế Giới

Nhiều tháng trôi qua từ ngày Ion Kostaky bỏ đi, bỏ đi để có thể thăm lại đất nhà, làng mạc và tìm lại tin tức người vợ thân yêu; nhưng bỏ đi để không trở về được nữa. Pillat đợi ngày một, ngày hai, tháng nầy qua tháng nọ mà vẫn chẳng thấy tăm hơi. Thế mà đã gần một năm trời từ ngày Pierre Pillat bị bắt buộc phải trốn vào rừng. Quân đội và cảnh sát càng ngày càng lùng soát gắt gao những người bỏ trốn vào rừng. Mà rừng núi thì đầy ắp cả người bỏ trốn; con người từ ngàn năm đã cùng những súc vật, cây đất tạo dựng, mang trên hai vai, trên hai tay, sỏi đá và tất cả thứ cần thiết để kiến thiết làng mạc phố phường, bây giờ bị bắt buộc phải từ bỏ hết mà đi; từ bỏ ruộng vườn, đường sá, cây cối đã mất bao năm gầy dựng, để trốn vào rừng sống như súc vật không nơi nương tựa, sống trong lùm cây hốc đá.

Như là cuộc di cư trong lời sấm Jérémie : «Hãy rời xa thành phố đến sống trong các hốc đá, như chim bồ câu làm tổ trên hố sâu vực thẩm». Pillat nhớ đến lần di cư của Ante Petrovici, cuộc trốn tránh của Daniel Motok; chàng nhớ đến Eddy Thall, đến Varlaam, Marie; chàng quay đầu nhìn lại, ngỡ rằng nước mắt chảy vì ánh nắng mặt trời, nhưng nào có phải tại mặt trời chút nào đâu.

°

Một tiếng súng vang trong thung lũng. Máy bay gầm trên trời. Pillat nép người dưới bóng cây; và nghĩ đến Ion Kostaky trốn vào rừng với cây gậy cụt ngủn, cây gậy có vẻ huyền thoại như của Tannhauser hay của Aaron trong kinh Cựu Ước.

Cầm dao găm, Pillat bắt đầu khắc lên thân cây tên Marie vợ chàng rồi lần lượt đến tên chàng, tên Ion Kostaky, Ante Petrovici, Eddy Thall, Daniel Motok, Varlaam, Isaac Salomon, Milan Paternik… nghĩa là tên tất cả những người chàng đã gặp trong cuộc di cư khổng lồ nầy; khắc tên như thế chỉ vì chàng đang quá cô đơn và chàng muốn có bất cứ ai bên cạnh; vâng, chàng đang cô đơn trong khu rừng nầy; cô đơn trong vũ trụ, cô đơn trong trời đất.

Mà con người thì không thể nào sống cô đơn. Rồi vừa nhìn cả lô tên khắc trên thân cây, Pillat vừa thầm gọi:

«Lạy Chúa, tim Ngài sẽ nát tan vì đau đớn khi loài người đến trước Ngài để được phán xét. Con tin là Ngài sẽ không phán xét người mà chỉ rủ lòng thương hại; vâng, chỉ rủ lòng thương hại đối với con người khốn khổ của thời đại nầy. Ngay cả lý trí nơi con người được phát triển nhiều nhất cũng không thể thấu hiểu những gì ngoài tầm tay, ngoài tầm mắt, hay ngoài điều tai con người có thể nghe thấy được. Lý trí của loài người thật là hèn mọn.»

Có giọng nói đàn bà bên tai:

– Ông là tu sĩ.

Đó là giọng một cô gái chừng 17 tuổi, đầu tóc bím quê mùa, nét nhìn e lệ. Pillat hỏi:

– Sao cô hỏi thế? Tại đầu tôi giống tu sĩ lắm sao?

– Không, tôi tưởng thế vì ông đang viết gì trên thân cây và lại không mang súng. Ai biết viết đều không phải là kẻ cướp. Khu rừng nầy đầy cả kẻ cướp, nhưng họ không biết viết. Mà chỉ có tu sĩ mới không mang vũ khí.

Pillat bỏ dao vào túi. Thiếu nữ sau một hồi yên lặng, nói tiếp:

– Tôi không biết đọc, nhưng tôi thích ai viết chữ được. Tôi tên là Magdalena.

Pillat đứng dậy chìa tay bắt. Nàng lại hỏi:

– Tại sao ông không mặc áo nhà dòng. Ông sợ hả? Tu sĩ trong rừng nầy ai cũng sợ mặc áo dòng cả.

Magdalena bỗng im tiếng, nàng thấy mình nói nhiều quá và bỗng sợ những gì mình vừa nói. Pillat hỏi:

– Cô ở đâu đến?

– Chúng tôi sống ở đây từ ngày Sô Viết xâm nhập. Người ta lùa chúng tôi từ bờ Hắc Hải; rồi cho nhà cửa đất đai ở nông trường, trong thung lũng, nhưng cha tôi đã đem súc vật đi trốn vào rừng. Chúng tôi đến sống trong khu rừng nầy còn sướng hơn ở nông trường tập thể.

– Thế cô có biết làng Piatra không?

Chàng muốn trở về đó để dọ tông tích Ion Kostaky; chàng đã xuống đó bao nhiêu lần nhưng không biết gì hơn về số phận của ông nhạc cả. Người thiếu nữ trả lời không biết, rồi hái một cánh hoa màu đỏ đưa lên môi, rồi vừa cắn cánh hoa bằng những chiếc răng trắng của nàng, vừa hỏi:

– Tại sao ông ở đây mà không lên trên hốc đá? Trên đó có nhiều tu sĩ lắm. Và đứng trên đó mới thấy quân đội và cảnh sát đến được chứ. Nếu là ban đêm ba tôi sẽ đốt lửa trên mõm đá báo động, ban ngày ba tôi thổi tù và, nghe thấy thế là các vị tu sĩ đi ẩn núp ngay. Ông có biết là trên đó dễ kiếm ăn lắm? Ba và dân làng bỏ trốn đều có mang theo bầy ong và súc vật vào rừng để sinh sống. Các vị tu sĩ cũng làm lụng để kiếm ăn, các vị đó luc trốn đi không đem theo gì cả nhưng được cái là họ rất lương thiện. Tôi không thể nói chuyện gì với họ được vì không biết lấy một tiếng Lỗ nào. Nhưng tại sao ông lại biết tiếng Lỗ nhỉ, ông không phải là tu si ngoại quốc sao?

Pillat trả lời :

– Tôi ở làng Piatra, cô không quen ai ở làng Piatra thật sao?

Nàng vẫn tiếp tục cắn cánh hoa hồng:

– Đây là lần tấn công lớn nhất và kéo dài vài ngày nay rồi. Quân cảnh bắn vào chúng tôi, máy bay thì dội bom trên rừng.

Tiếng nổ trên thung lũng vang lên đinh tai nhức óc. Trong rừng tiếng gì cũng nghe như là đang nổ bên cạnh, nhưng thật ra còn xa lắm.

Magdalena hỏi tiếp:

– Ông mặc áo dòng loại nào đó? Có vài tu sĩ mặc áo dòng màu trắng thật đẹp, tôi thích các vị đó nhất. Các vị khác lại mang dây lưng bằng thừng và kết bạn với chim chóc. Họ tốt đến độ chim đến bên họ mà cũng không sợ. Các vị khác lại mặc áo dòng thật chật như là loại áo các sĩ quan, mặt lúc nào cũng nghiêm nghị, họ không bao giờ ăn thịt và sống cộng đồng với nhau, họ không hề nói chuyện với dân làng và cầy cấy riêng rẽ.

Magdalena không biết họ thuộc dòng Tên. Pillat hỏi nàng:

– Cô có chắc mấy người đó là tu sĩ không chứ?

– Họ đều là tu sĩ cả, bởi vì họ biết đọc, biết viết, thường hay cầu nguyện và không mang vũ khí. Đúng là tu sĩ chứ còn ai vào đó nữa.

Súng nổ càng ngày càng nhiều, máy bay tiếp tục dội bom.

Magdalena vẫn nói:

– Nếu ông lên trên đó, ông sẽ có sữa uống. Tôi sẽ nói với ba tôi. Ông mặc áo dòng loại nào thế? Và tại sao ông lại có râu, mấy ông kia không để râu.

Nói xong nàng bỏ đi không cần chờ trả lời. Pillat gọi theo nhưng nàng đã đi xuống đồi thật nhanh.

Pillat đã nhìn thấy những toán lính tràn lên thung lũng sắp theo đội hình tấn công và chàng không thấy Magdalena đâu nữa.

Vài ngày sau, lính tràn cả khu rừng. Pillat phải lang thang như một con chó đói. Chàng muốn gặp lại Magdalena, muốn lên nơi các vị tu sĩ ở, nhưng quân đội đã chiếm cứ dãy núi mất rồi.

Pillat trông thấy một xác chết, thấy có thuốc lá, tiền Nga và hộp quẹt. Trong bị rết còn cả đồ hộp và nhiều gói thuốc lá khác. Pillat lấy bị rết và cởi áo quần nạn nhân. Đó là một anh chàng dân quân tự vệ. Không phải dân sự mà cũng không phải là lính nhà nghề. Anh ta mang theo súng tự động và một hộp đạn. Pillat dùng lưỡi lê của cây súng đào một hố nhỏ chôn xác chết rồi đắp một nấm mồ nhỏ. Cắt một nhánh cây làm chữ thập trên mộ, chàng cầu nguyện nho nhỏ:

«Lạy Cha chúng tôi…»

Bỗng có giọng nói:

– Tôi đã nói ông là tu sĩ, đúng quá mà.

Thì ra Magdalena đã đến sau lưng chàng, nàng nói:

– Rõ ràng tôi thấy ông là tu sĩ, chỉ có tu sĩ mới chôn người chết.

Magdalena suy nghĩ một chốc, không hiểu có nên nói tiếp hay không, sau cùng nàng quyết định nói:

– Hôm qua, lính lên trên đó bắt tu sĩ. Ba tôi trốn được, nhưng nhiều vị tu sĩ đã bị bắt.

– Sao lại có nhiều tu sĩ thế? Quanh đây có tu viện nào không? Họ ở đâu đến đây?

– Họ là tu sĩ ở Vatican, ông đã đến Vatican lần nào chưa?

Từ trên đỉnh núi, có tiếng tù và vọng xuống, Magdalena nói :

– Ba tôi báo động đó.

Và nàng mất dạng trong rừng cây.

Pillat lại cô đơn. Chàng lắng nghe đạn trung liên réo liên hồi cùng với nhiều tiếng nổ. Chàng châm một điếu thuốc vừa lấy được trong túi xác chết. Trên đầu chàng trực thăng bay lượn; lần đầu chàng trông thấy cảnh nầy, chưa bao giờ rừng núi lại có nhiều âm vang như thế. Pillat sợ hãi, sợ hãi hơn bao giờ hết. Cái chết đã gần kề.

II

Boris theo đám đông đã phá tù để vào rừng. Phá sập tường để cứu cha Angelo, nông dân cứu thoát luôn cả Boris. Họ còn cho hắn ẩn náu ở các chỗ núp trong khu rừng. Boris đang đau nhưng mỗi ngày hắn vẫn muốn trở về với một cuộc sống hợp pháp. Đối với hắn, tất cả những ai vào rừng đều là kẻ thù của Sô Viết, đều là tụi phản động, kẻ thù của nhân dân? Hắn thầm nghĩ: «Địa vị của mình không phải trong đám dân đen nầy. Hắn đợi cho sức lực bình phục hẳn để tìm cách xuống thung lũng. Ở gần hắn ít nói chuyện với dân làng, dù họ đã tìm cách cứu hắn khỏi cảnh tù đày. Bệnh hoạn đã bắt buộc hắn phải sống nhiều tuần trong rừng. Trong cảnh cô đơn, Boris suy nghĩ về cuộc nổi dậy của đám nông dân đó. Đó là một cuộc nổi dậy thực sự, một cuộc nổi dậy mà hắn chưa bao giờ thành công ở Lỗ ma ni lúc hắn được phái đến để tổ chức một cuộc phá hoại và một đội quân bí mật.

Đó là một cuộc vùng dậy của dân chúng, những kẻ đã phá từng viên gạch của nhà tù ở Molda, điều hắn thích làm mà chưa bao giờ thành công. Hắn chỉ thành công trong các cuộc phá hoại không đáng kể. Số người hắn gặp thường bất động trong tay hắn và trong tay các đồng chí hắn. Hắn chống lại lũ dân làng đã cứu thoát hắn chỉ vì cuộc nổi loạn của họ nhằm phản đối Sô Viết. Hắn hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù Sô Viết, nhưng hắn không hiểu sức mạnh đó do đâu mà có.

Trí óc hắn đã tạo ra thần tượng Tinka Neva, nhưng sự tạo dựng đó cũng như những lâu đài bằng giấy, đẹp thật đấy nhưng toàn là tiền chế cả. Nông dân thì đúng là cả một lực lượng rồi đó. Hắn đã trông thấy họ nhắc từng viên gạch để phá bỏ nhà tù. Hắn hiểu rõ bây giờ kẻ thù của hắn là ai rồi. Lực lượng đã phá bỏ nhà tù ở Molda thật là bất tận. Hắn muốn dùng lực lượng đó để phục vụ cho Sô Viết. Nhưng lực lượng phản động đó do đâu mà có được?

Boris nghĩ về tất cả những gì có thể làm thành lực lượng, một đảng phải, một tổ chức, nghĩ đến một tổ chức hành chánh hoàn hảo, một cơ quan cảnh sát đàng hoàng, nghĩ đến sự trung thành của các đảng viên, đến những tòa án, những biện pháp trừng trị kẻ lừng khừng. Sô Viết có tất cả những đặc tính đó, hơn nữa Sô Viết lại có đủ cán bộ, cả cán bộ siêu việt nữa. Hắn muốn ở lại với các cán bộ cộng sản ở trên hẳn cả thân phận làm người, trên hẳn loại cán bộ Thiên Chúa giáo cao cấp, vì người cộng sản có thể chế ngự được cái chết. Chỉ có một kẻ trong Thiên Chúa giáo có thể chế ngự được cái chết, kẻ đó là Chúa Jésus. Nhưng trong chế độ cộng sản, có cả hàng trăm triệu người không còn ý thức về mạng sống riêng rẻ của mình nữa mà có thể chết cho đảng không cần do dự, như chính hắn, như Rajk, như những kẻ muốn sẵn sàng hy sinh thân mạng cho ích lợi chung? Trái với người Thiên Chúa giáo, người Sô Viết hy sinh mà không cần đền bù.

Thế thì tại sao với cán bộ như thế mà Boris không thể xúi dục dân làng ở Lỗ ma ni nổi loạn như trong cuộc phá vỡ nhà tù ở Molda? Với sự trợ giúp nào, với lực lượng nào mà lũ dân đói khát đó, không súng ống, không tổ chức, không có một tí gì cả mà vẫn vùng dậy được?

Boris bỗng giật mình. Đâu đây trong rừng có tiếng tiêu réo rắc một khúc nhạc lưu đày Doina. Doina là một khúc nhạc như một kiếp người, buồn tẻ. Boris cài lại khuy áo. Hắn không còn mang áo choàng bằng da nữa. Lần đầu tiên trong cuộc đời cộng sản của hắn, hắn không mặc áo choàng da, quàng khăn đỏ, đi ủng đen. Bây giờ hắn đi chân trần. Hắn phải ẩn núp để người thổi tiêu không trông thấy hắn. Hắn nhìn những viên gạch vỡ mà dân làng đã mang từ nhà tù Molda đến chất quanh lều nầy. Một mối thù khủng khiếp dâng lên trong lòng hắn đối với lũ nông dân phản động. Hắn muốn phá bỏ căn lều nầy. Hắn nghe một cuộc đối thoại đằng xa. Tiếng người đàn bà:

– Tôi chưa bao giờ thấy người thổi sáo, nhưng biết ông ta là đảng trưởng đảng cướp.

Thiếu nữ có vẻ sợ hãi. Magdalena kể cho Pillat nghe những gì nàng biết về đảng cướp ở cạnh đây. Boris lắng nghe câu chuyện. Giọng Magdalena:

– Đừng có lại gần. Đó là một tên sát nhân chưa bao giờ có. Hắn khủng bố tất cả vùng nầy và lại điên nữa. Hắn vừa sát nhân vừa điên, ông hiểu chưa?

Pillat nghe tiếng nói của Magdalena hòa lẫn với điệu buồn của khúc hát Doina. Chàng biết lời của khúc nhạc đó. Con chàng cũng mang tên Doina. Tâm hồn chàng cũng chẳng khác gì một khúc nhạc lưu đày Doina. Marie cũng có thể được gọi tên là Doina. Đó là bài hát của người đứng nhìn trời cao mà nghĩ về cái chết, về tình yêu, về Chúa và về cuộc đời. Đó là chủ đề của Doina: con người nghĩ về những điều thiết yếu. Và tướng cướp làm cho Magdalena sợ hãi lại đang thổi khúc nhạc Doina. Magdalena nói :

– Chờ cho hắn đi đã, tôi sợ lắm. Nếu hắn thấy chúng ta, hắn sẽ giết chúng ta mất thôi.

Pillat vẫn thầm nghĩ tiếp: «Ion Kostaky cũng có một cuộc đời, một tâm hồn, một đôi mắt nhìn buồn như Doina. Tâm hồn Kostaky mở rộng để đón nhận tất cả những sự kiện lớn lao của nhân loại: sự vĩnh cửu, cái chết, tình yêu, trời đất và tất cả những gì chung quanh đời sống».

Magdalena lập lại:

– Nếu chúng ta đến gần, hắn sẽ giết chúng ta ngay. Nhiều đội quân cảnh vẫn truy tầm hắn trong rừng. Người ta gọi hắn là «Thằng Nông Dân». Không bao giờ người ta thấy hắn cầm vũ khí mà chỉ đấu súng ống ở các gốc cây vì thế hắn còn có tên là «tướng cướp tay không». Tuy vậy hắn dấu vũ khí ở khắp nơi, ông hiểu không, dưới mọi gốc cây đều có vũ khí hắn cất đấy.

Pillat hỏi:

– Thế nhưng có bao giờ cô thấy hắn chưa?

– Có một lần tôi trông thấy hắn lúc tôi đi lấy nước uống. Nhưng tôi không dám nhìn, tôi run lên rồi bỏ trốn, hay nói cho đúng tôi nhìn trộm hắn một chút thôi và thấy hắn đang nằm dài trên bãi cỏ để thổi tiêu và ngắm trời xanh. Quân cảnh thường nghe tiếng tiêu để kiếm hắn, nhưng hắn thính lắm, có thể nghe tiếng chân người cách xa hàng cây số và bỏ trốn ngay.

Cứ thế Magdalena thao thao kể về giai thoại của tướng cướp tay không cùng những kinh hoàng hắn gieo rắc khắp vùng. Pillat chặn hỏi:

– Hắn có nhiều đồng minh không nhỉ?

Magdalena chỉ nhún vai không trả lời.

Boris vẫn lắng nghe. Hắn muốn biết đồng minh của tướng cướp tay không đó là ai. Hắn đoán chắc là những kẻ nổi loạn đã phá ngục ở Molda, vì không còn ai khác hơn nữa; lúc nào trở về hắn sẽ khai báo cho Sô Viết hay lũ đó. Tiếng Pillat hỏi:

– Cô có bao giờ trông thấy đồng bọn của hắn chưa?

– Chưa bao giờ, nếu tôi thấy, chắc tôi sợ đến chết mất.

Boris lắng nghe, bây giờ chỉ có khúc nhạc Doina vang lên giữa cảnh yên tĩnh của núi rừng, khúc nhạc như reo lên tình yêu vĩnh cứu và nổi lòng quạnh hiu của con người trên trái đất, khúc nhạc muôn thuở của tướng cướp tay không. Magdalena lại lên tiếng:

– Chưa ai thấy đồng minh của tướng cướp đó, nhưng ở đâu cũng có họ cả.

Boris tưởng tượng trong khu rừng, trong các ấp ở thung lũng, đâu đâu cũng có đồng minh của tướng cướp, mà dù thế, vẫn không ai biết họ ở đâu. Họ đã xúi dục dân làng, đã phá ngục, trả tự do lại cho Đức Cha và cho những kẻ khác. Boris thích có loại đồng minh như thế để tổ chức các cuộc phá hoại, loại đồng minh ở đâu cũng có cả mà cảnh sát không thể dùng trực thăng xe tăng để bắt họ được. Thứ cộng sự viên mà không ai thấy đó, Boris không thể bắt giao cho cảnh sát để thủ tiêu, không thể giam trong xà lim, không thể chụp hình hay lấy dấu tay, không thể hành hạ. Đúng là một loại cộng sự viên đắc lực nhất cho một cuộc đấu tranh bí mật, cho những giai đoạn khó khăn.

«Đó là một loại đồng minh Sô Viết cần có ở Tây phương để có thể chinh phục thế giới. Có như thế mới có thể thay đổi khí hậu, thiết lập một chính quyền cộng sản khắp nơi, kiến tạo một nền hòa bình theo kiểu cộng sản đồng nhất. Với loại đồng minh như thế, ta có thể nâng cao đời sống con người và giải phóng con người khỏi những thành kiến.» Boris thầm nghĩ như thế, nhưng không bao giờ hắn có được những cộng sự viên như vậy cả. Hắn chỉ thấy và gặp toàn là lũ phản bội mà hắn phải mất công dò xét ngày đêm. Boris không tin là có loại đồng minh như thế trên quả đất nầy, và nếu chỉ có một thôi, hắn cũng hoàn thành được những kỳ công trên đời.

«Tụi đó phải mang tên mật, phải đặt tên là gì nhỉ?» Boris suy nghĩ mãi và không tìm ra nổi một cái tên để đặt cho thứ đồng minh đó đang sống ở trong rừng, ngoài vòng pháp luật, dù tên đó ở trên cửa miệng người đời. Bởi vì Boris sẽ không ngờ tên đó là Trời, cái tên gần như xa lạ với một kẻ biết quá nhiều điều như hắn, đó là một đồng minh hoàn hảo, nhưng xa lạ với Boris, hoàn toàn xa lạ với người Sô Viết, cái tên chống Sô Viết hữu hiệu đó lại không có trong danh sách mật vụ Nga Sô.

Không có người chỉ huy như thế, không thể nào phá nhà tù trong vài giờ. Chỉ có ông ta mới có tài làm thế. Không có những cộng sự viên như thế, người ta chỉ thực hiện được vài cuộc phá hoại nho nhỏ, kiểu huyền thoại Tinka Neva là cùng. Thế mà Boris vẫn thầm nghĩ: «Tai hại là mình chưa biết đến cộng sự viên đó. Với hắn, mình đã có thể thay đổi hoàn toàn khí hậu của Nga Sô, thay đổi tất cả các giòng nước trên đất. Với tất cả kẻ khác thì mình chỉ có cảm tưởng là đang làm việc trong hư vô mà thôi».

Buồn bã, Boris bước xuống thung lũng. Lại một cuộc tấn công khác đang bắt đầu. Trực thăng, lính nhảy dù, xe tăng, liên thanh đang được huy động để đổ bộ lên khu rừng. Nhưng Boris không còn sợ súng đạn nữa, không còn sợ chết nữa. Với hắn người ta chỉ chết khi người ta tưởng là phản đảng có lý. Boris đang sống và biết rõ cần phải làm gì, lúc nào hắn cũng trung thành với đảng. Dù đảng cũng rất có thể đang dùng hắn như một kẻ phục vụ vô danh. Boris nhớ lại một tướng Tây Ban Nha mà tên tuổi được đăng trên khắp báo chí, ngay cả trên các hộp quẹt Sô Viết. Trên đỉnh danh vọng, đảng đã quyết định rút tên đó lui để mình đừng làm phương hại đến chính tên tuổi mình hay đừng phạm vào những lỗi lầm lúc ông mang tên tuổi lừng danh đó… Người ta đã đặt cho ông ta một tên khác. Với Boris rất có thể đảng cũng sẽ hành động như thế. Trong một nước xã hội chủ nghĩa nếu biết tôn trọng khoa học thì thật là một điều dĩ nhiên khi không để tên giá trị cho một kẻ hèn mạt. Có thể là Boris không còn giá trị nào nữa chăng? «Nhưng cần gì, Boris thầm nghĩ, bổn phận mình là trình diện với Sô Viết và nói với họ rằng mình chấp nhận mọi sứ mệnh họ giao phó và tin cậy. Nếu họ muốn đưa mình đến nông trường, mình sẽ làm tròn bổn phận tại nông trường đó. Mình là cộng sản, thế là đủ, mình phải làm việc đến tận cùng của một đời người, và phải chết hoàn toàn theo cách của một đảng viên cộng sản.»

Thế là hắn bước về phía làng mạc trong lúc lính đổ bộ lên rừng. Boris muốn bước đến gần đội quân đầu tiên hắn gặp trên đường. Khu rừng đã bị phong tỏa kỹ càng, một con chim nhỏ cũng không thể thoát ra được, Boris nhìn mà bỗng sung sướng: «Muốn có một tổ chức quân đội hoàn hảo như thế, dù phải hy sinh hàng triệu người cũng được; mình kiêu hãnh về việc nầy của Sô Viết. Chưa bao giờ mình thấy một đội quân nào hoàn hảo như đội quân đang bủa vây để quét sạch khu rừng nầy».

Boris say sưa ngắm và khâm phục đội quân đang hùng hổ tiến lên mà quên cả đôi chân không giày đau đến rướm máu. Sung sướng hơn bao giờ hết, hắn bèn hát lại bản «Khúc nhạc rừng» mà hắn đã hát lúc làm việc để thay đổi khí hậu Nga Sô dạo nào. Cứ thế hắn bước dần đến phân đội cảnh sát đang tiến lên, sung sướng ngỡ rằng đó là quân đội Sô Viết.

Hắn cũng hiểu rằng cá nhân hắn chẳng còn gì nữa cả, nhưng đối với Sô Viết, cuộc đời mới chỉ vừa hé mở. Sô Viết sẽ hùng cường, dần dần hùng cường thêm lên nhờ những đóng góp, hy sinh của từng cá nhân trong đó có cả hắn nữa. Boris hát ngày càng to, hát khúc nhạc «Canh tác sa mạc và thay đổi khí hậu». Nhìn xe tăng và trực thăng, hắn biết mình đã dính liền dù chỉ là vô danh, dù không có một ấn thưởng nào với cuộc cách mạng vĩ đại Sô Viết. Và đó là điều chính yếu đối với hắn: Được dính liền với biến cố lịch sử duy nhất do Sô Viết lãnh đạo. Nghĩ như thế, hắn bước nhanh ra khỏi rừng.

°

Một người lính mắt chếch da vàng thò đầu ra khỏi xe tăng nhin Boris, để yên cho hắn lại gần. Boris thì chân trần, áo rách tương, trong lúc người lính mang nón sắt, áo da. Áo giáp sắt làm hắn to hệt như một tượng sắt. Đúng là phong độ một người lính, hàm luôn luôn siết chặt nghiêm nghị. Đúng là một quân đội hùng mạnh với những chiếc xe tăng cao ngất nghểu, cao hơn cả nóc nhà thờ trong làng. Boris sung sướng với ý tưởng đó là quân đội Sô Viết, sung sướng thấy mình đang ra khỏi khu rừng để hòa mình vào guồng máy vĩ đại của lực lượng đang mang sứ mệnh chinh phục thế giới, và sự hòa mình đó là công việc quan trọng nhất trong đời Boris.

Nhìn bộ mặt da vàng của người lính trên xe tăng, Boris nghĩ rằng người da vàng như Nhật Bản, Trung Hoa cũng góp phần vào lực lượng Sô Viết chứ không phải chỉ có người da trắng mà thôi, bởi đằng sau gốc xe tăng còn có cả người lính da đen nữa, thế có nghĩa là người da đen cũng được sung vào lực lượng Sô Viết như người Bắc Âu. Boris có cảm tưởng là tất cả giống người đều chiến đấu trong tình huynh đệ dưới ngọn cờ Sô Viết. Ở trên cùng một chiến xa, dưới cùng một ngọn cờ, đều có cả lính da vàng, da trắng lẫn da đen. Thế là Boris dong tay lên cao và đi về phía các họng súng trên chiến xa, đi về phía các người lính đủ màu da như là đi về với các đồng chí.

Bỗng có lệnh : «Đứng lại» do một người lính da trắng hô to, bằng tiếng Đức. Hắn dừng lại và nghĩ rằng hàng triệu lính đủ màu da đủ ngôn ngữ đang chiến đấu trong quân đội Sô Viết. Người da vàng, dáng nhỏ con, bước xuống xe và đi về phía Boris. Boris hô to:

– Hoan hô Sô Viết.

Hô to như thế không phải là để làm hài lòng mấy người lính mà là hắn muốn tự làm mình vui lòng, vì đã ngưỡng mộ và trung thành với Sô Viết. Hắn muốn tìm ngôi sao đỏ trên nón sắt của người lính đang khám xét thử hắn có mang vũ khí trong người không, trong lúc các người lính khác cầm vũ khí sẵn sàng nhã đạn về phía hắn nếu cần. Ở cuối khu rừng vẫn vang rền tiếng nổ. Boris nói với người lính bằng tiếng Nga :

– Tôi rất sung sướng được trở về với quân đôi Sô Viết.

Đôi mắt Boris sáng ngời khâm phục khi nhìn bộ quân phục dã chiến cùng vũ khí mà các người lính đang mang trên người. Người lính da vàng dùng lưỡi lê ra hiệu cho Boris dang xa ra, nhưng Boris vẫn la to:

– Hoan hô quân đội Sô Viết.

Dù những người lính trên xe không hiểu tí gì, nhưng hắn vẫn cảm thấy cần nói với họ đôi lời, và hắn khổ tâm khi thấy họ nhìn đi nơi khác mà không thèm nghe hắn.

– Hỡi các đồng chí, nếu các đồng chí biết là tôi đã chờ giây phút nầy từ bao lâu rồi, giây phút được trở về trong hàng ngũ Sô Viết…

Một người lính chăm chú nhìn Boris rồi bật cười và nói với hắn bằng tiếng Anh:

– Anh chờ cái gì mới được chứ?

– Đồng chí không nói tiếng Nga ư?

Boris hỏi thế vì cứ tưởng rằng Sô Viết cũng có nhiều quân đội Lê dương ở ngoại quốc.

Người lính vẫn cười to và ra hiệu cho Boris dang ra xa. Boris cứ nói :

– Tôi rất hãnh diện khi nhìn thấy quân đội Sô Viết như thế nầy. Người lính trên xe chỉ hiểu được có một tiếng Sô Viết thôi, và ông ta trả lời cho Boris bằng tiếng Đức:

– Không còn Sô Viết nào nữa, hết rồi, hết rồi. Không còn Sô Viết ở đây nữa.

Một người lính da ngâm đen hình như là góc Ý chỉ cho Boris cái huy hiệu trên ngực y có đề: «Liên minh thứ 9 của Lực lượng Đông Âu». Boris ngạc nhiên hỏi:

– Thế ra ông không phải là lính của quân đôi Sô Viết?

Một người lính lại trả lời bằng tiếng Anh:

– Không còn Sô Viết nữa, không còn Nga Sô ở đây nữa. Bây giờ chỉ còn một thế giới thôi hiểu chưa?

Boris ngơ ngác nhìn các chiến xa, các bộ quân phục; nhìn các bộ mặt đang đối diện với hắn, bỗng mắt hắn nhìn đúng vào bức hình tên thống chế trưởng giả mà hắn định tâm ám sát độ nọ khắc trên bảng súng lục của một người lính. Dưới bức hình có đề «Chỉ huy trưởng».

Boris không muốn tin vào điều đã trông thấy. Vậy thì đây không phải là quân đội của Sô Viết? Vị chỉ huy trưởng lại là viên thống chế có nuôi con chó dạo nào ư? Boris đang ngơ ngác thì bị một mũi súng đẩy mạnh. Các người lính cả da vàng lẫn đen trắng đều nhìn hắn cười to và bảo hắn đi xa đi. Họ mang cùng một thứ huy hiệu nhưng không phải là huy hiệu Sô Viết, không phải là ngôi sao đỏ. Boris òa khóc và qua làn nước mắt, hắn trông thấy trên các chiến xa đều có giòng chữ «Made in U.S.A.» viết thật to.

Mũi súng vẫn đẩy hắn ra đằng sau và bây giờ qua làn nước mắt, Boris thấy mình đang đứng trong một trại giam bao quanh bằng một hàng rào kẽm gai.

KẾT

Trong khu rừng, những người bỏ trốn đang kinh hoàng vì cuộc tấn công kéo dài gần một tuần lễ. Chưa bao giờ người ta giết nhiều người như thế. Chưa bao giờ người ta dội bom nhiều như thế. Chưa bao giờ người ta tấn công khu rừng nầy bằng ngần ấy lính tráng, vũ khí, thiết giáp và phi cơ.

Có tin đồn từ lâu là Sô Viết đã lùi chân và mọi người có thể bình yên trở về thị thành, làng mạc. Hồng quân đã lùi binh và người ta không còn trông thấy bóng dáng người Nga nữa. Nông dân đã dám phá ngục ở Molda vì người Nga đã rút quân. Nhưng đúng vào lúc mọi người tràn trề hy vọng là nếu không còn người Nga nữa, họ có thể trở về sinh sống trong căn nhà mà người Nga đã đuổi họ ra từ lâu, đúng vào lúc đó thì cuộc tấn công tàn nhẫn bắt đầu. Những kẻ tị nạn lại cứ tiếp tục chui rúc trong các rừng rậm, số phận của họ cũng chẳng cải thiện được chút nào.

Magdalena là người đẹp duy nhất trong rừng này, khu rừng mà từ một tuần nay con người bị cảnh sát săn đuổi như những con thú. Pillat say sưa nhìn đôi chân Magdalena. Người đàn bà bao giờ cũng là của đẹp trời cho, như bầu trời, như mặt trời. Người đàn bà soi sáng đời sống người đàn ông cho dù là trong bóng tối thâm cung nhất. Người đàn bà cũng giống như ánh trăng, đi đến đâu, bóng tối biến mất đến đó, người đàn bà làm cho mặt đất rạng rỡ thêm lên. Đôi chân Magdalena đang cử động nhanh, nàng đi mà như đang khiêu vũ, cả thân hình nàng như đang khiêu vũ với cây trong rừng. Nàng biến đi một hồi, rồi trở về òa khóc bên cạnh Pillat :

– Họ giết tướng cướp tay không rồi, rõ ràng tôi thấy tận mắt hắn chết, chết hẳn rồi.

Và nàng nức nở khóc, vì sợ hãi.

– Ai chết?

– Người nông dân có tên là tướng cướp tay không đó. Tôi dẫm phải xác hắn. Đi với tôi đi, tôi sợ phải đến gần hắn một mình. Rất có thể hắn giả vờ chết cũng nên. Đi đi. Hắn dễ sợ ngay cả khi đã chết, đúng là đồ quỷ.

Magdalena làm dấu thánh giá. Pillat cầm tay nàng đi đến nơi tướng cướp đã chết. Trong thung lũng, trên mõm đá, người nông đàn nằm ngửa mặt lên trời, ống tiêu vẫn để trên ngực, chết trong đám cỏ hoa. Magdalena che mặt để đừng trông thấy cảnh tên cướp nằm sóng sượt trên mõm đá. Cảnh sát Sô Viết đã không thể nào hạ nổi hắn ta dù họ đã từng gởi nhiều đội quân cảnh để đuổi bắt hắn, thế mà bây giờ hắn phải chết bởi cuộc săn đuổi của cảnh sát của khối Liên Quốc Gia. Magdalena che mắt chỉ:

– Đúng hắn đó.

Pillat bỗng đau đớn:

– Trời ơi hắn đây ư?

Và chàng quỳ xuống bên cạnh xác chết:

– Đúng là Ion Kostaky, cha của Marie đây rồi.

Ion Kostaky vẫn mặc bộ áo Gia Nã Đại. Pillat cầm lấy bàn tay lạnh lẽo đang nắm chặt ống tiêu để trên ngực. Chàng sững sờ nhìn chiếc nón theo lối Mỹ, quần dài theo kiểu Anh và đôi ủng nặng nề của Đức. Chàng sững sờ nhìn ống tiêu muôn đời gốc Lỗ ma ni. Chàng sững sờ nhìn miệng Ion dính đầy máu, lấy tay chùi hết máu nơi miệng. Chàng không quên vuốt đôi mắt đang mở rộng nhìn về phía đại đồng minh của người Nông dân: Trời. Kostaky vẫn hình như đang mỉm cười thỏa mãn vì đã chết bên cạnh Trời. Chàng sững sờ nhìn dây lưng gốc Sô Viết, nhìn bộ quần áo đủ mọi quốc gia, ở khắp nơi mà Kostaky đã từng đổ máu lên đó, đã từng chết dần chết mòn, mọi quốc gia đều có giết Ion một phần, và Ion tượng trưng cho xứ Lỗ ma ni bất hạnh này. Chàng bảo:

– Thôi chôn cất ông ta đi.

Cả hai đào đất và đặt Kostaky nằm dài xuống hố. Ở trên đầu, họ cắm ống tiêu mà ông ta vẫn dùng để dạo khúc nhạc Doina.

Và cả hai đồng quỳ xuống bên mộ đọc kinh: «Lạy Cha chúng tôi ở trên trời…»

Và họ bỏ đi. Magdalena thúc dục:

– Chúng ta lên trên cao kia đi. Trên đó không ai có thể đến được. Pillat bây giờ mới nói cho Magdalena hiểu:

– Ông ta không phải là một tướng cướp, dù luôn luôn bị các chính quyền săn đuổi, kể cả chính phủ Liên Minh.

Một chiếc trực thăng vừa khám phá ra Pillat và Magdalena. Ho trốn vào trong bụi rậm. Pillat bảo:

– Nên để tôi chết ở đây. Tại sao các tổ chức đó vẫn cố giết người. Cô nói cho tôi biết đi, Ion Kostaky cũng chỉ là một con Người. Tại sao họ lại bắn chết con Người?

Lính nhảy dù đang từ đỉnh núi tràn xuống. Pillat và Magdalena lại phải trốn vào một hố sâu. Bất ngờ họ vấp phải một xác chết đang chôn dở. Chắc là đồng bọn chưa kịp lấp đất. Xác chết mang áo dòng màu trắng. Magdalena cầu nguyện, trong lúc Pillat hỏi:

– Tại sao tu sĩ mà cũng bị giết?

– Vì tu sĩ trốn khỏi tu viện. Tu sĩ không có quyền ra khỏi tu viện nếu không sẽ bị xem như là đồ phản loạn. Mấy người mặc áo dòng trắng lưng đeo dây đai làm ruộng ở trên kia đều trốn khỏi Vatican.

Magdalena rút trong áo một mảnh giấy: đó là lệnh của Liên minh Đông Âu thứ 9, gởi cho các tu sĩ Thiên Chúa giáo bỏ trốn, yêu cầu họ trở về tu viện. Lệnh do một tướng Mỹ, chỉ huy trưởng tối cao của Lực lượng An ninh thế giới và viên thống chế các người Slaves miền Nam, lãnh tụ khối Liên minh Đông Âu thứ chín đồng ký tên. Pillat hỏi :

– Các tu sĩ đó bị tội gì đối với chính phủ Liên hiệp thế giới? Tại sao bắn họ, họ chỉ là những người rao truyền tình huynh đệ, tại sao lại giết họ? Họ có tội gì đối với Lực lượng «Một Thế giới»?

– Các tu sĩ này bị kết án là đã không nhìn nhận vị lãnh đạo của họ. Họ có kể cho tôi nghe là tại các quốc gia họ đã có kỹ luật tôn giáo sẵn. Khi hòa bình đã tái lập, Đức Thánh Cha được phong làm Bộ trưởng trong chính phủ Liên hiệp thế giới, nhưng ngài không chịu nhận và chết vì buồn phiền lo âu. Nên người ta đã đem đến từ bên kia đại dương một Đức Thánh Cha khác không biết tiếng La tinh để thay thế. Các tu sĩ ở Vatican thì chỉ biết tiếng La tinh thôi nên họ không hiểu nhau. Các vị đó không chống đối gì, nhưng họ bỏ đi vào khu rừng này, và cảnh sát cứ theo đuổi mãi, dù họ chỉ biết cầu kinh suốt ngày.

Một đợt máy bay xuất hiện trên trời, lính nhảy dù lại được thả xuống trên đỉnh núi. Magdalena lo sợ :

– Đúng là sắp tận thế rồi!

Nhìn đôi mắt đầy kinh hoàng của người thiếu nữ, bất giác Pillat nhớ đến một câu văn của Martin Luther nói về tận thế nhưng vẫn thanh thản như lời nói của Magdalena. Pillat nói bằng tiếng Đức «Und wenn morgen Weltuntergang ware, ich werde am heutigen Tage doch Apfelbaume pflanzen».

Magdalena lo lắng:

– Họ bắn đó, làm sao bây giờ?

– Cứ làm như con người vẫn thường làm… «und wenn morgen Weltuntergang ware…».

Đạn réo trong các bụi cây trên đầu họ, Magdalena áp má xuống đất, thầm hỏi:

– Ông nói gì thế?

Pillat dịch ra:

– Ngày tận thế có đến trong ngày mai chăng nữa, hôm nay tôi vẫn trồng táo như thường…

Một tràng súng làm Pillat im tiếng và Magdalena cũng hết nghe. Trong lúc máy phóng thanh trên một chiếc phi cơ vẫn loan tin khí tượng cho binh lính của chính phủ Liên hiệp thế giới, âm thanh vang lên trong thung lũng:

«Trời vẫn đẹp, trời vẫn đẹp»

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 17 May 2024

9. Cuốn Sách Kết Thúc

Boris Bodnariuk trốn khỏi Ba Lê nhờ số tiền của giáo sư Voivod. Hắn định báo tin cho Bucarest biết nhưng sau hắn đổi ý, nên bí mật trở về không cho ai hay để còn đóng bản án viên thống chế đã cưng con chó như một nhà đại tư bản.

Hắn băng qua nước Pháp, nước Đức. Trước khi đến vùng Sô Viết, hắn bị lính Mỹ bắt, bị đem đến cho Aurel Popesco nhận diện, tra hỏi, đánh đập và trước khi kiệt sức hắn ta thu hết tận lực vượt ngục như thế đồng nghĩa với tự tử, nhưng hắn đã thành công.

Bám dưới một toa xe lửa chở hàng, hắn đã đến được đất Lỗ ma ni, băng qua Hung gia lợi, Ba lan. Hắn chỉ muốn đến Bucarest nhưng tàu lửa lại đứng ở phía Bắc đất Lỗ. Hắn đến trình diện viên cảnh sát trưởng Molda, đó là mảnh đất Lỗ đầu tiên do hắn cộng sản hóa. Nông dân đang cầm quyền ở mỗi làng. Đất hoang đã biến thành những nông trường tập thể. Đã có những con đường mới, khu kỹ nghệ. Nông dân đã biến thành thợ thuyền.

Boris Bodnariuk trông thấy tất cả quang cảnh đó lúc đi ngang qua làng Molda, hắn rất hài lòng. Ở Molda, đã có một xưởng đóng đồ hộp, nhiều máy cày, một nhà tù bằng gạch và một phi trường. Boris hỏi:

– Nói với chỉ huy trưởng của các anh là Boris Bodnariuk đã đến đây và cần được đưa đi Bucarest gấp. Tôi giao lại biên bản này cho các anh và tôi ngồi chờ ở đây. Tôi không thể đi một mình đến Bucarest được nữa.

Boris ăn mặc rách rưới. Áo choàng đã rách nát. Không có áo sơ mi. Nhưng hắn rất sung sướng được thấy lại các đồng chí cộng sản của hắn.

Nghĩa là được về nhà. Chung quanh không còn kẻ thù nữa. Nhưng thiếu ăn lâu quá, hắn gần kiệt lực.

Viên cảnh sát trưởng thông báo cho cấp trên, nhường phòng mình cho Boris ở, cung phụng đầy đủ thức ăn thức mặc cho Boris, gọi bác sĩ săn sóc sức khỏe. Nhưng Boris chỉ cần ăn uống và ngủ mà thôi. Hắn hơi sốt và cảm thấy kiệt lực.

Cảnh sát trưởng ở Molda là một người Nga còn trẻ. Anh ta rất sung sướng là Boris đến đây, vì khó mà làm thân với một người quan trọng như Boris. Anh ta thừa biết là nhờ Boris, địa vị anh ta có thể thay đổi, nên anh ta lại càng săn sóc cho Boris hơn. Ngày hôm sau, lúc Boris chưa ngủ dậy, anh ta đã lên tỉnh nhận lệnh cấp trên. Viên giám đốc cảnh sát địa phương đã cho Bucarest biết tin về Boris. Kết quả vài giờ sau là Bucarest không cho máy bay hay xe hồng thập tự để mang Boris đi. Và có lệnh: “Bộ chỉ huy đã ra lệnh lập thủ tục thường lệ để nhận diện người tự cho là Boris Bodnariuk. Anh cứ dùng biện pháp thông thường, lệnh cấp trên đấy”.

Viên cảnh sát ở Molda hỏi lại:

– Đồng chí cho là hắn không phải Boris Bodnariuk?

– Anh được lệnh là phải truy ra tên thật của hắn và làm bản tường trình hằng tháng. Thế thôi. Tôi không muốn bình luận gì thêm nữa, nhưng nếu đã là lệnh trên thì có nghĩa là thằng đó không có liên quan gì đến cái tên Boris Bodnariuk cả, hắn là một tên lừa bịp.

Viên cảnh sát trưởng trở về sở, mặt hầm hầm giận dữ. Dù Boris còn ngủ, anh ta cũng gọi lên hỏi cung.

Boris bây giờ đã mặc áo mới, cạo râu, tắm rửa sạch sẽ, mặt mày tươi tỉnh sau một giấc ngủ ngon lành. Từ khi trốn khỏi bệnh viện người Mỹ, chưa bao giờ Boris ngủ một đêm yên ổn như thế, nên hắn lấy lại sức khỏe rất nhanh. Hắn mỉm cười định ngồi xuống ghế. Nhưng đã bị quát:

– Ai cho phép anh ngồi xuống ghế?

Boris mới được đối xử rất tử tế ngày hôm qua nên nghe thế lại tưởng là một câu nói đùa, hắn mỉm cười. Tức thì bị viên cảnh sát bạt tai. Boris tức giận cắn môi. Một giòng máu chảy xuống cằm. Hắn cảm thấy trong miệng cái hương vị kẹo ho như lúc hắn đang rơi từ trên máy bay xuống. Viên cảnh sát trưởng nói:

– Đừng có trêu tôi, tôi chỉ muốn anh khai thật.

Anh ta bấm chuông, một người lính bước vào chào Boris trước tiên, nhưng khi thấy hắn đứng yên mặt đầy máu, người lính biết là mình lầm nên hổ thẹn rút tay về và quay nhìn cảnh sát trưởng. Anh này ra lệnh:

– Cởi hết áo quần cà vạt của hắn ra. Cởi hết. Và cho hắn mặc lại áo quần rách rưới của hắn. Rồi dẫn hắn về nhà giam. Với mục đích gì mầy tự khai mầy là nguyên bộ trưởng tên là Bodnariuk?

– Tôi không nói láo. Tôi chính là Boris Bodnariuk.

Viên cảnh sát trưởng đứng bật dậy và muốn đánh hắn thêm nữa. Người lính đã lấy áo quần rách cho Boris và trở vô ra lệnh:

– Cởi hết áo quần và giày dép ra mầy.

Boris tuân lệnh, xong hắn mang đôi ủng rách nát cố hữu của hắn, quàng chiếc áo choàng da vào, quấn cái khăn đỏ quanh cổ, mặc chiếc quần đen đã thủng nhiều chỗ.

– Nào khai đi chứ.

Máu chảy xuống cằm hắn cũng đỏ như chiếc khăn choàng cổ xưa kia của hắn, bây giờ chiếc khăn đó không còn có màu gì nữa vì đã quá bẩn. Trong bộ áo quần rách rưới, lần đầu tiên trong đời, Boris cảm thấy nhục nhã hết chỗ nói. Cố bình tĩnh hắn nói:

– Tôi chỉ là nạn nhân của sự hiểu lầm. Tôi chính là Boris Bodnariuk và tôi chỉ nói sự thật mà thôi.

Viên cảnh sát trưởng nhìn vào bức ảnh Boris trên một tờ báo cũ và so sánh với nét mặt kẻ đối diện. Có nhiều nét giống nhau, nhưng chưa đủ để chứng tỏ người nầy là Boris.

– Tao muốn mày nói thật, tao không muốn các ông chỉ huy của tao chê cười. Hôm qua nói chuyện tao thấy mày không đến nổi chó má lắm. Mày lại thông minh hơn nhiều đứa khác nữa. Mày hãy nói thật là tại sao mày tự nhận là nguyên bộ trưởng bộ chiến tranh Boris Bodnariuk. Với mục đích gì mày bày đặt ra chuyện giả danh này?

– Tôi khai thật mà.

– Nếu mày là Boris, Bucarest đã gởi máy bay đến đây kiếm mày, nhưng Bucarest đã không gởi máy bay, xe hơi đến đây mà lại còn yêu cầu nhận diện mày, mày hiểu chưa? Mày là ai? Một ông bộ trưởng dù là có tội cũng vẫn được dẫn đến Bucarest hay Mạc tư khoa để lập biên bản. Nếu có tội thật người ta sẽ treo cổ. Còn mày, người ta ra lệnh giữ mày lại đây để nhận diện mày. Lệnh này không áp dụng cho một ông nguyên bộ trưởng được. Tao chỉ muốn mày nói thật thôi.

Viên cảnh sát trưởng tiến đến gần Boris:

– Người ta cũng không cho tao áp đúng biện pháp gì đặc biệt với mày cả, chỉ cho áp dụng biện pháp thông thường thôi.

– Nhưng các ông đã lầm, lầm to mà.

– Không có lầm lẫn gì cả, sự lầm lẫn duy nhất là do tao, tao đã lầm mà tin mày nói thật ngày hôm qua. Một sự lầm lẫn lớn lao trong nghề của tao.

Boris lại lảo đảo vì hai cái tát tai nảy lửa. Xong viên cảnh sát trưởng tiếp tục đấm vào đầu Boris, hắn ngã xuống và tiếp tục nhận thêm những cái đá vào đầu, vào ngực. Hắn cảm thấy đầu nhọn đôi ủng đá hắn như có hơi nóng của bàn chân ở bên trong.

– Tao muốn mày nói thật.

Nhưng Boris chỉ còn cảm thấy lờ mờ là người ta đang nâng hắn lên để mang hắn ra ngoài, đặt một tấm ván lên ngực hắn cho xương sườn khỏi gãy và một người lính bước lên trên tấm ván như muốn nghiền nát hắn ra.

Boris không hiểu hình phạt đó kéo dài bao lâu. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình ngồi trên ghế và tiếp tục bị đánh đá. Những cú đá làm hắn đau đớn như là những thỏi sắt nung đỏ dí vào người hắn, đau đến tận não tủy. Chỉ lúc hắn ngã xuống đất thì sức nóng đó mới dần dần biến mất.

Viên cảnh sát trưởng lập lại:

– Tao muốn mày khai thật.

Câu nói đó hành hạ Boris cũng như những cú đá trên thân thể hắn.

– Nếu mày không nói thật tao sẽ giết mày, giết ngay tại đây. Và không ai biết tao đã giết mày cả, muốn sống nói ngay đi.

Boris muốn nói lại rằng đây là một sự lầm lẫn, nhưng hắn kiệt lực rồi. Vả lại, hắn cũng không hiểu có phải là một sự lầm lẫn hay không. Hắn chỉ còn biết một điều là hắn không thể chịu đựng được nữa và chỉ muốn chết mà thôi.

Lúc mở mắt, hắn đã thấy mình đang nằm trong xà lim, trên nền xi măng. Xà lim không có giường hay cái gì khác nữa. Chỉ là bốn bức tường và nền xi măng lạnh lẽo, mà hắn đang nằm trên đó. Hắn đưa mắt nhìn quanh. Đã từ lâu, hắn không hề nhìn gì cả, không nhìn lại hai tay hay nét mặt của chính hắn. Hắn đưa tay lên sờ mặt, sờ môi hắn. Hắn thấy đúng là mặt hắn, môi hắn nhưng sao chúng xa lạ đến thế. Trán, mắt, môi, má, ngực đều sưng vù lên và nhức nhối không tưởng được. Sờ mắt trái, Boris thấy đã mù rồi. Thì ra hắn thấy ánh sáng bên ngoài chỉ với một mắt phải thôi.

Trên tường xà lim, ai đã vẽ vào đấy mấy dấu thập tự và cái tên Iléana Kostaky. Boris không thèm nhìn nữa. Hắn biết là nông dân vùng này bị tù thường vẽ dấu thập tự lên tường.

Cửa xà lim mở, Boris cảm thấy bị nâng cao và đưa vào văn phòng cảnh sát trưởng. Ông này đã lấy lại bình tĩnh, nhìn cách ăn mặc cũ kỹ của Boris. Khăn choàng bẩn thỉu, ngón chân thò ra khỏi mũi giày đã há mồm. Râu tóc không cạo, mình mẩy đầy máu, mắt trái đã hư, vết sẹo trên trán hình như lớn và đỏ hơn.

– Nào nói lại đi, đồng chí… Boris Bodnariuk. Đúng là cái tên mà mày đã chọn cho mày phải không?

– Vâng, đúng là tên tôi.

– Hừ, một cái tên lừng lẫy trong lịch sử đảng cộng sản. Đó là cái tên của một vị nguyên bộ trưởng bộ chiến tranh, cái tên của một anh hùng đấu tranh giai cấp, của một vị tướng lãnh Hồng quân. Một cái tên có trên khắp báo chí. Có khó gì mà không tìm ra được một cái tên như thế. Chúng ta nên trở về lại với sự việc thực tế hơn và giải quyết dần từng việc một thì hơn.

Boris thu hết tàn lực của mình. Hắn không nghĩ đến cá nhân hắn, hắn chỉ cần làm sáng tỏ vụ nầy. Nên hắn chăm chú nghe.

– Lúc vừa mới đến đây, mày đã có khai nhiều điều, lập lại đi coi thử.

– Sau khi trốn khỏi trại tù người Mỹ ở Heidelberg, tôi đã bám vào xe lửa bí mật trở về đây. Trong biên bản mà tôi đưa cho ông để ông gởi về trung ương, tôi đã kể hết các công việc tôi làm suốt thời gian từ khi tôi bị tai nạn máy bay cho đến bây giờ. Vả lại, câu chuyện cũng dễ, anh có thể nhận diện tôi qua các cộng sự viên của tôi, so sánh tôi với các tấm hình từ trước của tôi, mọi người đều biết mặt tôi mà. Người ta cũng còn có thể nhận ra tôi bằng giọng nói qua điện thoại. Mặt tôi hơi đổi khác từ khi tôi bị tai nạn nhưng đó không phải là một trở ngại lớn lao trong việc nhận diện. Tôi yêu cầu điều tra và gởi tôi về Bucarest để tôi hoàn thành sứ mạng của tôi.

– Tao đọc trong tờ khai của mầy như thế này: “Sứ mạng của tôi (loại trừ viên thống chế những người Slaves miền Nam) đã bị thất bại vì tai nạn máy bay bất ngờ. Tôi là người sống sót duy nhất. Ở quân y viện mà người ta mang tôi lại đó, tôi bỗng thấy một bạn học cũ của tôi tên Pierre Pillat cũng đến đó. Tôi ngờ là người ta đem hắn đến nhận diện tôi nên tôi đã trốn khỏi nhà thương vì các sĩ quan Sô Viết ở Vienne có đến thăm tối hôm trước và ra lệnh không được để cho họ nhận diện. Tôi trốn qua Pháp. Lúc đó tôi đổi tên là Boris Neva như là các sĩ quan Sô Viết yêu cầu. Tôi tuân lệnh và chỉ tiết lộ tên thật của tôi một khi đã đến được vùng Sô Viết ở Molda. Tôi phải tức tốc từ Paris trở về đây để hoàn tất nhiệm vụ tôi trong bản cáo trạng giả của tên thống chế trưởng giả”.

Viên cảnh sát hỏi:

– Nhiệm vụ đó như thế nào?

– Đó là nhiệm vụ của đảng giao phó và tôi đã được các sĩ quan Sô Viết đến thăm tôi cho hay ở nhà thương. Tôi đóng vai bị cáo trong bản án đó. Tôi phải tự thú để đưa ra ánh sáng tất cả sự phản bội của viên thống chế trưởng giả đó. Tôi đã cố hy sinh mọi sự để đừng đến trễ. Tôi biết là vì ích lợi cho đảng nên phải tổ chức gấp bản án đó. Và tôi hy vọng là sẽ đến Bucarest đúng lúc. Tôi hy sinh tất cả cho đảng.

Viên cảnh sát trưởng mỉa mai:

– Chúng tao biết hết câu chuyện đó. Mày phải đóng vai chính trong vở kịch tội ác của viên thống chế đó ư? Mày tin là Sô Viết cần ngụy tạo những tên phản bội và những bản án giả mạo? Làm sao mày có thể khai như thế được nhỉ? Mày tin là Sô Viết dùng những kẻ vô tội để đóng vai bị cáo trong những tấm hài kịch đó sao? Như thế là mày đã lập lại những lời tuyên truyền chống cộng sản, đó là một cử chỉ thách đố và phỉ báng.

– Một vài tên phản bội đã trốn thoát được như Trotzky và tên thống chế đó chẳng hạn. Dù vậy, chúng phải được phán xét và kết án, nhu cầu chính trị đòi hỏi như thế. Và vì chúng không thể hiện diện trước tòa án Sô Viết, người ta phải kêu gọi những kẻ tình nguyện tự kết án dù cho có bị xử tử chăng nữa để nhân dân có thể theo dõi tiến trình của việc phản bội như thế nào. Đó là một hệ thống rất có hiệu quả. Đó không phải là một sự hèn hạ mà là một bằng chứng của sức mạnh Sô Viết. Người ta luôn luôn kiếm được những thành phần ưu tú dám hy sinh đời mình để tự kết án, hầu làm sáng tỏ cho dư luận quần chúng những đoạn chính của tội phản bội.

– Đúng là giọng điệu tuyên truyền phản động. Sô Viết không bao giờ ngụy tạo những bản án như vậy. Sô Viết luôn luôn bắt giữ và phán xét những thủ phạm thật sự. Ai nói ngược lại là một kẻ thù phản động. Từ lâu Sô Viết đã bắt hết lũ phản bội theo phe viên thống chế trưởng giả. Đã bắt được kẻ phản động thật sự thì còn ngụy tạo bản án để kết tội kẻ khác làm gì?

– Những kẻ tòng phạm với viên thống chế đó đã trốn qua biên giới mất rồi.

– Từ năm 1942, cảnh sát Sô Viết đã theo dõi tất cả những tòng phạm cũ của viên thống chế đó. Chúng bị kiểm soát rất gắt gao, cho đến các cuộc điện đàm cũng bị thu băng. Cho nên không đứa nào trốn thoát, tất cả đều bị bắt. Và thủ phạm chính là tên Rajk người Hung gia lợi. Báo chí nào cũng có đăng lời khai của nó cả. Đọc đi.

Boris đọc những tít lớn trên báo chí để trên bàn viên cảnh sát. Ông này đàn áp tiếp:

– Rajk đã hoàn toàn thú tội. Tại sao mày bảo là Sô Viết muốn ngụy tạo một bản án sau khi Rajk đã bị bắt và đã thú nhận tất cả tội lỗi, làm sao mày biện hộ cho lời khai của mày?

Ở trang đầu, Boris thấy ảnh của Rajk đứng trước các quan toà. Thì ra chẳng ai khác hơn là một bạn đồng học của hắn ở Budapest. Rajk khai :

“Tôi là thủ phạm đã âm mưu với tên thống chế những người Slaves miền Nam để thành lập một Liên minh Đông nam Âu châu đặt dưới sự cai trị của Anh Mỹ.”

– Mày thấy là sự phản bội của tên thống chế đó đã xảy ra ngay tại trung tâm Budapest chưa? Sô Viết đã biết hắn từ bao năm nay rồi. Sô Viết khôn ngoan lắm, đúng lúc đã chín mùi, Sô Viết bắt hết lũ âm mưu. Rajk thú nhận tất cả rồi.

Boris là bạn thân của Rajk. Cả hai cùng theo học ở Hàn lâm viện đỏ Mạc tư khoa. Sau đó cả hai vẫn thường gặp nhau ở các hội nghị. Rajk là một người công sản chính tông, Boris không bao giờ nghi ngờ hắn điều gì, Rajk cũng trung thành với chủ nghĩa cộng sản như hắn. Boris thầm nghĩ: “Trong lúc mình trốn khỏi bệnh viện mà không ai biết đến nữa, Sô Viết đã tưởng là mình chết rồi. Thế mà phải thực hiện cho bằng được bản cáo trạng đó, Điện Cẩm Linh đã chỉ định một người anh hùng khác. Rajk đã nhận sứ mạng đóng tuồng thay mình, tự nhận bị cáo đồng lõa với viên thống chế trưởng giả. Bản cáo trạng được gởi từ Bucarest sang Budapest, chỉ vì mình không còn ở đó được nữa. Rajk chỉ là một kẻ nhị trùng với mình. Và người ta tổ chức ở Budapest thay vì làm ở Bucarest như lúc đầu”.

Boris không suy nghĩ lâu thêm nữa, hắn sung sướng là vai trò của hắn đã có người thay thế cũng không kém khéo léo, vì Rajk là một thành phần tài ba. Rajk không phải là một kẻ phản bội, anh ta là một người hùng. Viên cảnh sát nhắc lại :

– Tên Rajk đã từ lâu là một điệp viên của tụi tư bản, bây giờ hắn đã thú nhận rồi.

Boris vẫn suy nghĩ: “Đáng lý là người ta nói về mình như thế đó. Ai cũng tưởng mình là thủ phạm chính. Quần chúng tin như thế. Bản cáo trạng thật là hiệu quả. Quần chúng tin như thế, chỉ có Rajk và mình mới biết đâu là sự thật.

– Nào, bây giờ mày có nhận là mày nói dối chưa, rằng câu chuyện bản cáo trạng là do mày bịa ra chưa?

– Tôi công nhận là tôi nói dối.

Boris biết là mục đích của hắn đã đạt được.

– Sau một lần nói dối như thế, người ta còn tin gì được ở các lời khai của mày nhỉ?

– Người ta không thế nào tin ở các lời khai của tôi nữa.

– Vâng, thế thì mày ký vào một tờ khai khác là mày công nhân đã bịa câu chuyện bản án. Tao cần hỏi mày một câu nữa: Tên thật của mày là gì?

Đây là lúc khổ sở nhất trong đời của Boris. Hy sinh đời hắn còn dễ dàng hơn là nói rằng mình là một người khác, nên hắn miễn cưỡng trả lời:

– Tôi tên là Boris Neva.

Hắn nói không suy nghĩ. Ở Phương Tây, hắn được gọi là Boris Neva, nên hắn lập lại: “Tên thật của tôi là Boris Neva”.

– Đồ ngu, Neva là tên của vị nữ anh hùng. Đó là tên bà tổ trong cuộc cách mạng của chúng ta. Neva không thể là tên của một kẻ du thủ du thực như mày được.

Boris cắn môi suy nghĩ, cho đến bây giờ hắn không…

thiếu trang 496

… người Slaves miền Nam mà cũng từ đó Anatole Barsov đã đào ngũ. Boris nhìn tất cả thứ đó bằng một mắt, mắt trái đã bị hư hẳn. Hắn nghĩ đến Ba Lê, đến Tòa đại sứ Sô Viết mà hắn không thể nào vào tận nơi để tìm cách trở về Bucarest đúng lúc cho bản cáo trạng. Nên hắn đã bị Rajk thay thế. Bản án diễn ra ở Budapest thay vì ở Bucarest. Nhưng có điều hắn không hiểu nổi là tại sao Bucarest nỡ bỏ hắn lại nơi này, trong một làng nhỏ, cho một quân cảnh canh giữ.

Boris thầm nghĩ: “Chắc là có sự lầm lẫn. Nếu bị nghi ngờ, mình sẽ được dẫn về Bucarest để điều tra rồi sẽ bị xét xử và kết án. Đúng là một sự làm lẫn không còn nghi ngờ gì nữa”.

Boris nhìn ra phi trường Piatra. Hắn muốn tìm ra lỗi của hắn vì hắn có mặc cảm phạm tội nhưng hắn không có cách nào chứng mình là mình có lỗi. Hắn nghĩ là bây giờ mình đã ghi tên thật vào danh sách của trại tù là Boris Bodnar, có nghĩa là người ta đã tước hết chức vị và công trạng của hắn rồi. Cấp bậc cũng không còn nữa. Người ta đã lấy luôn cái tên Bodnariuk. Hắn có tên là Boris Bodnar như lúc mới lọt lòng mẹ, cái tên hắn mang lúc mới trốn qua Nga Sô. Bây giờ cũng như hồi đó, hắn cũng rách rưới như khi vừa mới bị đuổi khỏi trường hoàng gia Kichinev. Y hệt như cũ.

Tất cả những công trình thay đổi khí hậu, thành lập binh chủng nghĩa quân, cộng sản hóa xứ Lỗ ma ni, tổ chức lại hệ thống quân đội đều do Bodnariuk hoàn thành. Hình như Bodnariuk là một ai xa lạ với hắn. Hắn bây giờ là Boris Bodnar, như lúc mới sinh ra, cũng nghèo nàn rách rưới, cũng cô đơn như khi chưa trở thành Bodnariuk. Hắn lấy lại tên cũ như khi chưa có một huyền thoại nào. Thật ra, Boris Bodnariuk là một tên bịa đặt. Chính hắn là Boris Bodnar. Trong xà lim, cô đơn và rách rưới, đau ốm và bị đánh đập, hắn không còn là một con người nữa. Trước đó, hắn là một người, bây giờ hắn đã già nua; thân thể, tâm hồn hắn đang làm cho hắn khổ sở. Hắn tự an ủi: “Chỉ có Boris Bodnar mới là thực sự, và khi mình chết đi, chính Boris Bodnar mới được chôn cất vì Boris Bodnariuk không bao giờ chết cả, vì Boris Bodnariuk chỉ là một huyền thoại không sinh ra nên cũng không chết đi”.

Hắn đã phấn đấu vì vinh quang của Boris Bodnariuk, mà đã không làm gì cho Boris Bodnar cả.

Bỗng có tiếng la trong xà lim bên cạnh. Hai người đàn bà cãi nhau, một trẻ, một già. Người trẻ có vẻ cương quyết. Họ đang đập lộn nhau. Boris lắng nghe lính gác mở cửa. Người trẻ nói:

– Bà ta muốn mở cửa sổ xà lim, từ khi tôi đến đây, bà ta không chịu đóng cửa bao giờ.

Người già nói:

– Nếu các ông đóng cửa tôi sẽ tự tử. Từ bao nhiêu năm bị giam cầm ở đây, tôi chưa bao giờ đóng cửa sổ cả, ngay cả vào mùa đông giá buốt nhất. Thế mà tôi có bị chết cóng đâu. Cô ta còn trẻ, và chỉ mới đến đây vài giờ thì lại càng không thể bị chết cóng cho dù cửa có mở chăng nữa.

Nói xong bà già khóc.

Boris nghe mấy người lính gác muốn đóng cửa sổ. Người đàn bà già nhảy xổ lại lính gác và đánh họ. Bà ta bị ngã xuống nhưng lại đứng dậy muốn mở cửa sổ. Lính gác đánh bà ta liên tiếp, đấm đá, tát tai. Sau đó họ lôi bà ta ra khỏi xà lim.

Người đàn bà già đó là Iléana Kostaky. Trước đó, bà ta ở trong xà lim có một mình, và không bao giờ cãi vả với lính gác. Bà hay cầu nguyện, chờ đợi một cách nhẫn nhục. Đêm trước, người ta lại đi bắt người, và đem một người đàn bà khác đến giam chung xà lim với Iléana Kostaky vì thiếu chỗ.

Boris lắng nghe người đàn bà trẻ nói với lính gác:

– Bà nầy bảo là chồng bà trốn vào rừng. Bà không hy vọng gì thấy lại chồng bà vì bà bị kết án đến 15 năm, bà biết là thế nào bà cũng chết ở trong tù. Nhưng từ ngày đầu, bà ta đã để cửa sổ mở luôn với hy vọng là nếu chồng bà có chết rồi, linh hồn ông ta sẽ đến đây từ giã bà. Bà ta để cửa sổ là cốt để cho linh hồn chồng bà có thể vào bên trong xà lim được.

Người ta đã đem bà già trở về sau khi đánh đập tàn nhẫn, họ xích tay chân bà lại để bà khỏi bước đến mở cửa sổ. Nhưng bà ta vẫn la lên:

– Thế nào tôi cũng mở cửa sổ. Nếu chồng tôi chết, linh hồn ông ta không thể đến từ giã tôi được. Tôi sẽ không biết là ông ta chết nếu linh hồn ông ta phải ở bên ngoài.

Iléana lại van cô gái mở cửa, cô ta từ chối.

Lính gác cột bà ta vào giường nằm, bà ta vẫn lải nhải:

– Tôi để cửa sổ bao năm nay mà có chết chóc gì đâu, ngay cả lúc lạnh buốt xương. Tôi không muốn người ta đóng cửa, tôi không muốn bị xa lìa chồng tôi. Ít nhất, vào lúc ông ta chết, tôi muốn linh hồn ông ta về đây bên tôi. Tôi cứ chờ ông ta, nếu đóng cửa, làm thế nào ông ta vào đây được. Có việc gì xảy đến cho ông ta, tôi phải biết chứ. Các ông không có quyền ngăn cách vợ chồng tôi như thế nầy.

Lũ lính gác và cô gái cười ngặt. Người đàn bà vẫn nói :

– Tôi phải để cửa sổ chờ chồng tôi. Nếu các ông đóng lại, chồng tôi không đến đây được.

Boris nằm dài lên giường. Hắn không muốn nghe tiếng rên la của bà già nữa, nhưng hắn nghe tiếng đấm cửa thình thịch bên cạnh. Đã hai giờ trôi qua từ khi bà già bị trói tay vào giường và cửa sổ bị đóng kín. Tiếng cô gái gọi lính gác:

– Bà già chết rồi; tôi không muốn ở chung với người chết trong xà lim, tôi sợ lắm.

Iléana đã chết khi lính gác nhất quyết đóng cửa sổ. Bà ta là một bà vợ có bổn phận chờ chồng về. Và vì bà ta không hy vọng thấy ông ta sống sót trở về, nên bà ta chỉ mở cửa để chờ linh hồn người chết. Và khi cửa sổ bị đóng kín, Iléana Kostaky phải chết vì bà ta không còn gì để làm trên trái đất nầy nữa, đời sống bà đã trở thành vô ích, vì không thể chờ chồng đến giờ phút chót. Phận sự làm vợ đã chấm dứt.

Lính gác đem xác Iléana ra chôn ở khoảng đất băng giá bên cạnh nhà tù. Linh hồn bà, nếu sự thật giống như mơ ước của bà, đã từ giã trái tim bà để đi tìm Ion Kostaky qua bao nhiêu là núi rừng, biển cả, để vĩnh biệt người chồng trên dương thế, nhưng không ai biết được sự thật của những điều đó cả, không người nào, không tu sĩ nào biết được điều đó.

Tất cả nhân chứng và lính gác biết rất ít về cái chết của Iléana Kostaky. Họ chỉ biết rằng tấm thân xác già nua đó được cởi hết xiềng xích và chôn xuống đất lạnh, và trên thân xác không có hòm chôn đó, người ta quăng từng mẫu đất lẫn với những cục tuyết cứng ngắt, rằng mấy sợi xích đã cột tay chân bà bây giờ được chùi rửa sạch sẽ treo kỹ trong nhà gác để dùng cho tù nhân khác. Tất cả chỉ có thế, nhưng rất là ít ỏi, quá ít ỏi để được gọi là tất cả.

III

Boris đã đạt đến yên tĩnh tâm hồn và sự thanh thản của những kẻ đã từ bỏ đời sống trần gian cho một lý tưởng. Boris đã biết là tất cả vật sở hữu của người cộng sản đều thuộc về đảng. Của cái, vốn liếng văn hóa, áo quần, đời sống và cho đến cái tên của hắn cũng thuộc về đảng. Điều họ bắt lầm hắn hay cố ý bắt hắn cũng chẳng quan hệ gì: đảng có quyền trưng dụng tất cả và hắn không có quyền phàn nàn. Người ta đã rút bớt nơi hắn những điều gì không thuộc về hắn.

Lúc đầu, hắn đã tiếc không còn được gọi là Boris Bodnariuk nữa. Nhưng bây giờ hắn đã hãnh diện về điều đó. Đã có bao nhiêu cuộc trưng dụng tên tuổi mà hắn chứng kiến? Thật ra chỉ có cái tên của các anh hùng mới có cái danh dự đó. Khi những anh hùng cộng sản các nước Tây Ban Nha, Đức, Pháp, đến Nga Sô, người ta bắt đầu bằng cách trưng dụng tên của họ. Họ sẽ nhận những tên khác. Những tên do những chiến trận và những chiến công không thuộc về cá nhân mà thuộc về lịch sử và cộng đồng xã hội.

Những người mới đến là những người bằng xương bằng thịt có thể điên rồ, làm bậy như bao nhiêu người khác. Thật là bất công nếu để họ giữ những tên anh hùng mà phạm lỗi lầm với những tên đó. Cho nên phải lột cái tên đi đem vào lịch sử. Người mang cái tên anh hùng đó có thể già nua có thể làm bất cứ điều gì nhưng phải có một cái tên khác chứ không được giữ cái tên đã làm vẻ vang cho lịch sử.

Boris sung sướng với ý nghĩ là tên của hắn sẽ tồn tại trong lịch sử và hắn sẽ tiếp tục sống với một cái tên khác tầm thường không có một huyền thoại nào cả.

°

Có ai thì thầm trước cửa hắn:

– Người ta mới bắt giữ cha Angelo.

Bước chân xa dần và giọng nói tiếp tục thì thầm ở các cửa xà lim khác.

– Cha Angelo đã bị bắt.

Tiếng thì thầm xa dần và mất hẳn ở cuối hành lang. Boris biết là tất cả những người bị giam ở ngục thất Molda đều là kẻ thù của Sô Viết. Hắn không muốn tham dự vào đời sống của họ. Vì họ cũng là kẻ thù của hắn nên hắn lánh xa. Hắn thầm nghĩ: Đó là một mật lệnh của những tên phản động trong tù. Giọng nói tiếp tục thì thầm ở trước cửa đi ngang qua lỗ khóa là cha Angelo đã bị bắt.

Boris áp tai vào tường lắng nghe: Có nhiều tù nhân ở xà lim bên trái nhưng hắn chỉ nghe có một giọng nói:

– Thưa cha, cha có tin là linh hồn Ion Kostaky sau khi chết sẽ hiện thành bóng ma để từ giã vợ hắn trong tù? Giáo hội có dạy bà ta như vậy không?

Cha Thomas Skobai trả lời:

– Chính bà tin thế.

– Nhưng lòng tin đó có đúng hay chỉ là một sự lầm lẫn? Boris muốn biết vị tu sĩ đó sẽ trả lời như sao.

– Lòng tin sắt đá của Iléana cho rằng linh hồn người chồng sẽ đến kiếm bà trước khi rời bỏ trần gian, ý chí quyết chờ chồng bên cửa sổ mỗi ngày, đông cũng như hè, đã bắt đầu trong tình yêu thương người chồng, trong sự chung thủy và bổn phận làm vợ của Iléana. Bổn phận đó là chờ đợi, là khổ đau nhưng không bao giờ nản chí trong quên lãng. Đó là những đức tính đẹp nhất của người đàn bà. Nếu những lòng tin tưởng phát xuất từ những đức tính đó mà sai lầm, thì Chúa, đấng toàn năng cũng sẽ tha thứ cho bà, vì bà đã đặt đức tin vào một cái gì sai lầm chỉ vì quá yêu chồng, quá thủy chung và quá kiên nhẫn với chồng.

Vị tu sĩ nói tiếp: “Lạy Chúa, ban ơn cho Iléana Kostaky và rước linh hồn bà về với thiên đàng nước Chúa, ở đó sẽ không có nước mắt, bóng đêm mà là một cuộc sống vĩnh cửu. Amen”.

Trong xà lim, Boris quyết định nhẫn nhục chịu đựng và chấp nhận cái tên mới của mình mà không hề phản kháng. Trong trường hợp người ta khám phá rằng những gì xảy đến cho hắn từ lúc hắn trở về Lỗ ma ni là kết quả của một sự lầm lẫn thì Sô Viết sẽ gọi hắn lại và sửa sai lầm lẫn. Trong trường hợp mà đó là ý muốn của đảng, là nhu cầu ích lợi cho lịch sử thì hắn sẽ tiếp tục phục vụ dưới một tên mới trong một quốc gia mới cũng với từng đó trung thành và rồi cũng sẽ chiến thắng như trong quá khứ.

Nhưng giọng nói truyền miệng là cha Angelo đã bị bắt không còn là những tiếng thì thầm nữa mà người ta đã la lớn. Đám đông vây quanh. Người ta la ở trong hành lang.

– Nông dân đến giải thoát cho cha Angelo.

Và cả trăm ngàn tiếng nói của những nông dân nổi giận, của những người đàn bà chạy lui tới, của người và người đang chen lấn. Cửa nhà giam mở rộng, tường sập, quần chúng đã đến giải thoát cho thánh Angelo. Boris không hề biết đến ông thánh đó. Hắn chỉ nghe tiếng mở khóa cho phòng giam hắn rồi nhiều người vào phòng bảo là hắn đã được tự do.

Hắn phải chật vật lắm mới ra ngoài được. Vì hành lang nhà tù đã tràn ngập nông dân. Không có bóng một tên lính gác hay một tên cảnh sát nào cả. Chỉ là đám đông tiến lên như sóng, bẻ cửa, dùng rìu phá tường. Đám đông đã chiếm nhà tù và đang phá nát các bức tường. Mọi người trở ra với một viên gạch trên tay và bỏ lên xe.

Boris theo một lỗ hổng bức tường thoát ra ngoài và cố kiếm đường thoát thân. Đã quen với đám đông trong các cuộc hội hộp, hắn ước lượng 10 ngàn người nông dân đã đến phá nhà tù ở Molda. Tất cả đều cầm gạch đá và các tấm ván của nhà giam mang đi. Có một giọng la to:

– Thánh Angelo đã được giải thoát.

Xong, tất cả đám đông quỳ xuống, người nào đứng đâu quỳ xuống đó, tay cầm gạch đá lấy được ở nhà tù.

Đám đông đã giải thoát cho một tu sĩ còn trẻ. Nông dân khiêng đức cha lên vai về phía xe hơi. Đám đông đã nổi dậy phá ngục giải thoát cho cha Angelo. Boris muốn trông thấy ông ta nhưng vì ông ta ngồi xây lưng về phía Boris nên hắn không nhận ra mặt. Một người đàn bà cạnh Boris lên tiếng:

– Chúng ta không còn ai để săn sóc những người đau yếu nữa. Thánh Angelo đã an ủi tâm hồn chúng ta, trị bệnh cho chúng ta và cầu nguyện cho chúng ta. Từ bao nhiêu năm nay thánh Angelo là niềm an ủi cho nông dân, thế mà người Sô Viết vào rừng bắt ông ta, thật là quá quắt, Chúa không thể nào cho phép điều đó được, nên bây giờ thánh Angelo lại được tự do.

Sau khi thánh Angelo đi qua, đám đông lại đứng dậy đi theo sau xe ông ta, xe có đôi ngựa trắng kéo đi chậm chậm trên một con đường rừng hẹp.

Boris bị chèn lấn khắp nơi. Chỉ có hắn là hai tay không cầm gì. Tất cả người khác đều cầm gạch đá lấy được ở nhà tù. Một người đàn bà bảo hắn:

– Cầm lấy một viên chứ.

Bà ta đưa một viên gạch cho Boris và giải thích:

– Những viên gạch trên tường nhà giam Thánh Angelo đã bị giữ trong đó sẽ đem lại vận may. Ông giữ lấy và để trước nhà hay trên tường.

Boris cầm lấy viên gạch. Chiều cao bức tường thấp xuống thấy rõ. Và nếu mọi nông dân lấy một viên gạch thì trong vài giờ nhà tù ở Molda chỉ còn là một khoảng đất trống.

Boris đi theo đám đông, đi theo biển người ở sau xe Angelo, để yên cho đám đông vừa xô đẩy vừa ca hát.

Đoàn xe đi về phía khu rừng. Không có người lính gác nào cả dọc đường. Không có ai ngăn cản sự nổi dậy của nông dân. Đoàn người vẫn tiếp tục vào rừng.

Boris được mời lên xe đi sâu vào rừng. Trên đường đi, hắn được biết là các giáo đường trong làng lần lượt bị đóng cửa. Những nơi nào còn mở cửa được đều là do các linh mục cộng sản đảm nhiệm. Nông dân đi vào rừng vì có một vị tu sĩ trẻ tên Angelo có thể làm phép lạ, đó là một hình thức tôn giáo mới, mà quần chúng muốn tin như thế. Cho nên khi Sô Viết bắt giữ Thánh Angelo, nông dân các làng đã nổi dậy phá nhà tù để giải thoát cho ông ta.

Người đàn bà dẫn con ngựa bảo:

– Phép lạ là người ta đã không thấy lính Nga trên đường đi. Đúng là phép lạ của Chúa. Không có lính gác ở nhà tù. Ở Molda, chúng ta không gặp lính hay cảnh sát. Chúa đã làm họ tránh xa để chúng ta giải thoát cho cha Angelo.

Đoàn xe dừng lại trước một cổng rừng. Boris không biết chuyện gì xảy ra nhưng chỉ nghe mọi người đang hát những bài ca tán tụng Đức Chúa.

– Ông quỳ xuống đi. Thánh Angelo đang cầu nguyện để cảm tạ Chúa đã cứu ngài khỏi nhà giam cộng sản.

Boris vâng lời, bước xuống xe và quỳ chung với hàng ngàn người nông dân trong khung cảnh bụi bặm của con đường rừng eo hẹp. Boris thầm nghĩ:

“Không thể nào một cuộc nổi dậy như thế mà Sô Việt không có biện pháp an ninh. Đúng là một cuộc cách mạng chứ còn gì nữa.”

Có người nói bên tai hắn:

– Ông giữ viên gạch nầy đi, nếu ông làm mất, ông không bao giờ tìm thấy lại nữa. Người ta đã lấy đến tận nền nhà tù. Không còn lại gì hết. Giữ lấy viên gạch đó nghe. Mất đi uổng lắm đó.

Boris cầm viên gạch. Chưa bao giờ hắn chứng kiến một cuộc nổi dậy của quần chúng như thế. Muôn người như một.

IV

Ion Kostaky và Pierre Pillat trốn từ Đức sang Lỗ ma ni bằng cách đi ban đêm trong rừng để khỏi bị Nga Sô bắt giữ. Cuối cùng họ cũng đến được cánh rừng trong làng Piatra, vào lúc trời sắp sáng. Kostaky muốn tiếp tục theo đường mòn xuống làng nhưng Pillat cản lại. Kostaky năn nỉ:

– Con không hiểu ba tí nào nếu con yêu cầu ba ở đây mà đừng về làng. Con tin là ba có thể đứng nơi đây nhìn làng mạc ở phía bên dưới sau khi đã vượt Thái Bình Dương để trở về Piatra sao? Con tin là ba chỉ cần nhìn làng mình ở đàng xa sao?

Nhưng ba ráng đợi đến tối đã, lúc nầy đi nguy hiểm lắm. Ba biết chứ, từ Heidelberg đến đây chúng ta chỉ có đi vào ban đêm thôi. Ba kiên nhẫn một chút, còn chừng hai giờ là trời sáng hẳn rồi.

Ion Kostaky nhìn sao trên trời, biết là ngày sắp đến rồi. Trời đang mùa xuân. Trong ánh sáng xanh dịu của ban đêm, xuyên qua từng hàng thông cao, người ta thấy trong thung lũng cảnh làng Piatra mà sương mờ bao phủ trắng và trong như tấm khăn choàng của cô dâu. Kostaky lại nói :

– Con nghĩ là ba có thể ở lại đây suốt ngày nhìn làng mạc đằng xa? Con muốn là ba chỉ nhìn nhà cửa và đồng ruộng thân yêu của mình ở xa xa thôi sao? Con tin là chỉ vì từng đó mà ba đã vượt qua bao nhiêu quốc gia, bao nhiêu rừng núi như một con chó hay một kẻ ăn trộm? Chỉ để nhìn ngôi nhà ở đằng xa?

Đất làng trải dài ở dưới chân họ, nhưng ở Piatra lúc nào cũng có người Nga, lính gác, quân cảnh cho nên họ đành đợi ban đêm mới dám mò xuống làng, nhưng bây giờ đứng trên cao trông rõ phong cảnh trong làng, Kostaky không thể nào kiên nhẫn được, ông ta xiết chặt cây gậy trong tay. Pillat lại can:

– Không nên xuống làng lúc ban ngày. Con biết khó nén lòng mà đợi đến tối lắm, nhưng nếu chúng ta xuống bây giờ, chúng ta sẽ bị bắt ngay, ba biết thế không? Con hiểu cái ước ao gặp lại làng mạc của ba lắm vì con cũng mong như thế. Đất đai nơi sinh trưởng, nhà cửa như là những người thân yêu mà sự dè dặt trở thành vô nghĩa và không cần thiết. Con hiểu như thế. Chúng ta có thể khôn ngoan không bước vào làng xa lạ vào ban ngày. Nhưng đằng nầy lại là làng mạc, nhà cửa của mình, khó lòng mà ở đây nhìn xa xa lắm. Nên nếu ba muốn con sẽ đi theo ba, nhưng con nói trước, như thế không thận trọng tí nào cả.

– Ba sẽ đi một mình. Ba để xách lại đây, ba chống gậy xuống đó một mình, chỉ để nhìn sơ qua nhà cửa, làng mạc và ba trở lại ngay khi trời sáng. Con đợi ở đây.

– Cả mấy tháng nay, cha con mình có bao giờ rời nhau nửa bước đâu. Cho nên con sẽ cùng đi với ba.

– Không, để ba đi một mình. Ba chỉ nhìn sơ thôi rồi trở lui. Đêm sau Ba con mình sẽ cùng đi. Con có lý, nên đi về ban đêm thì hơn. Bây giờ con chờ ba ở đây. Ba muốn xuống đồng ruộng một lát thôi để đạp chân lên đất nhà, nhìn khung cảnh quen thuộc thuở xa xưa, thở khí trời của vùng đất thân yêu. Ba muốn thế, con hiểu chứ. Ba không hy vọng được đi một ngày trên các con đường của làng mình. Chúa sẽ vĩ đại lắm nếu Ngài ban cho ba một niềm vui cuối cùng của đời ba là được dẫm chân lên những con đường nhỏ ở làng Piatra.

Lúc đi đường Kostaky mau mệt lắm và hay cần nghỉ chân. Nhưng lúc nầy như là ông ta vừa uống rượu xong, ông ta không muốn dừng lại nữa. Không muốn ngồi lại một giây lát nào nữa.

– Ba biết đường, nếu gặp lính tuần Ba sẽ không vào làng. Ba sẽ trở lui tìm con ở đây. Chừng một giờ thôi, Ba sẽ trở lui.

Ion Kostaky bỏ đi. «Ba sẽ mang theo một ít thức ăn. Biết đâu… Nhưng thôi Ba sẽ không nói chuyện với ai cả. Chào con nghe, Ba xuống nhìn một tí thôi.»

Ion Kostaky đi nhanh về phía làng, đi nhanh gần như chạy, tay cầm gậy, người thẳng như một cây thông. Bước đi lúc đó như là bước đi của một người còn trẻ. Đất đai xứ Lỗ ma ni đem lại sức sống tráng kiện cho ông ta. Pillat đứng nhìn theo.

Bóng Kostaky mất dạn trên con đường mòn giữa hai hàng cây, thỉnh thoảng lại hiện ra, hấp tấp, trẻ trung, khát khao. Đó không còn là Kostaky ở Đức hay ở Gia Nã Đại, Hung Gia Lợi, không phải là một Kostaky bị người Mỹ liệt vào danh sách những người phế thải, cặn bã của xã hội. Đó là Kostaky chững chạc như một vị vua chúa trên đời. Bước chân chạm đất quen thuộc như một người chơi vĩ cầm đang sờ những dây đàn.

Kostaky mất dạng sau lùm cây. Đường làng Piatra ngắn lắm. Pillat nằm dài xuống bãi cỏ. Chàng tiếc là đã không cùng đi với Kostaky, mà cũng tại Kostaky nhất quyết đòi đi một mình, lúc nầy thì chắc ông ta đã đến làng rồi.

Pillat vuốt ve bãi cỏ thấm ướt sương mai. Chàng bứt một nạm cỏ và úp mặt vào đó. Chàng mệt quá mà không chợp mắt được, chỉ nghĩ ngợi bằng cách ngửi mùi đất. Tai áp sát đất để nghe thử có ai bắn trong thung lũng hay không, bởi vì tụi cộng sản đi tuần luôn luôn trong làng và gác đường rất kỹ. Đâu đâu cũng có cảnh sát. Pillat lắng nghe xem bước chân của Ion Kostaky có vang trên đường làng Piatra hay không.

«Đáng lý mình phải đi theo, đang lý không nên để cha đi một mình như thế.»

V

Kostaky tiến vào các con đường làng Piatra, chân dính đầy bụi. Ông ta muốn biết thử người ta có thay đổi gì chưa, nhưng đúng là vẫn các con đường và khu đất cũ, ông ta tiếp tục đi, sung sướng nhìn lại cảnh cũ như là ông ta không phải đi trên con đường bằng đôi chân mà bằng chính trái tim của ông ta. Ông muốn cởi giày đi chân không: nhưng không cần thiết lắm, ngay cả xuyên qua một lớp giày kiểu Đức có đóng đinh, ông ta vẫn cảm thấy dưới lòng bàn chân con đường đất quen thuộc của làng Piatra, thứ đất đai quen thuộc của ông ta ngày xưa. Kostaky tiến thêm, nhìn thấy ngôi nhà đầu làng. Cũng như xưa không có gì thay đổi, cũng cái sân cũ, dù chung quanh không có rào dậu. Cũng cái giếng ở giữa làng. Kostaky bỗng thấy khát nước dữ dội và muốn nếm lại thứ nước ngon ngọt của cái giếng nầy. Ông ta đưa tay mân mê thành giếng say sưa như lúc vuốt ve da thịt của một người đàn bà. Kostaky sực nhớ có một cây liễu cạnh giếng bây giờ không còn nữa. Ông ta nổi cáu: «Tại sao lại đốn cây liễu đi? Hay là tại nó đã chết khô?»

Ông ta tiếp tục đi, mặt rầu rầu và lẩn thẩn: «Nếu họ đốn cây nầy đi thì phải trồng cây khác chứ? Ở Piatra, giếng nào cũng có cây liễu bên cạnh cả».

Kostaky cầm chặt chiếc gậy trên tay, nhìn một lượt các ngôi nhà đang chìm trong bóng tối. Ông ngửi thấy mùi cỏ thơm. Trong một thoáng, ông định gõ cửa nhưng nghĩ lại ông thấy không nên để bị lộ diện, «Mình đã hứa với Pillat là chỉ nhìn thôi. Để đêm sau cùng đi và xem kỹ hơn vậy».

Bước chân ông đi càng lúc càng nhanh. Bỗng ông dừng lại, ông vừa thoáng thấy bức tường trắng nhà ông mà ông ao ước thấy lại bao lâu nay. Ông dáo dác nhìn quanh. Đằng sau nhà ông là một khoảng đất trống. Ngày xưa ở đó là nhà Pillat và Marie, căn nhà đã bị đốt cháy mất rồi. Kostaky thầm nghĩ: «Chúng ta sẽ xây lại căn nhà khác, nhưng ông ta sực nhớ là Marie không còn nữa».

Giữa hàng cây hạt dẻ, Kostaky phân biệt được bức tường trắng, mái nhà xám và các cửa sổ nho nhỏ của căn nhà ông hồi xưa, căn nhà ở đó như một người thân yêu đang còn sống. Tim Kostaky đập mạnh, ông ta quên mất căn nhà cháy, quên người Nga đã ngự trị ở đó, Kostaky tiến vào nhà thầm nghĩ: «Có lẽ Iléana còn ngủ». Rồi, ông ta nghĩ là Iléana chắc không còn ở nhà, bà có lẽ còn bị tù, hay chỉ có trời biết bà đang ở đâu. Chắc là người ta lấy mất nhà rồi còn gì.

Kostaky buồn rầu bước vào sân. Ngày xưa, bên cạnh nhà, ông ta có làm một căn nhà nhỏ để chứa đựng dụng cụ cày bừa, nay không còn thấy đâu nữa. Kostaky ức trong lòng: «Ai đã phá căn nhà kho của mình? Không ai có quyền thay đổi bất cứ điều gì trong nhà nầy». Bởi vì ông ta mới là chủ nhà. Ông ta nghĩ có lẽ là chính phủ đã trưng dụng nhà của ông ta và thay đổi tùy theo ý muốn của họ. Kostaky tức giận nghiến răng. Các bức tường cũng vừa được quét vôi trắng. Ngày xưa, ông ta cũng hay cùng vợ quét vôi nhà cửa mỗi mùa xuân trước lễ Phục sinh, vào một tuần trước đó để ăn mừng ngày đại lễ. Kostaky vừa đưa tay sờ bức tường vừa thầm nghĩ : «Có lẽ Iléana đang ở trong nhà, và chính bà đã quét vôi cũng nên. Ông ta đến gần cửa sổ. Chúa vẫn hay ban phép lạ, có thể Iléana còn ở nhà và chưa bị đuổi, có lẽ bà ta đang ngủ…».

Tay Kostaky vẫn tiếp tục vuốt ve bức tường như đang vuốt ve chính thân thể người thân, một con bò hay một con ngựa nuôi trong nhà. Đồng thời ông cố tìm cái chuồng trâu bò, nhưng cũng không còn nữa. Mình không còn con gia súc nào nữa cả nhỉ! Nghĩ thế mà Kostaky tự nhủ là bây giờ có giận dữ cũng vô ích, lúc nào về đây mình sẽ gầy dựng lại tất cả, lo gì.

Nhưng càng nghĩ đến con bò cái gốc Thụy sĩ, hai con ngựa tốt ngày xưa, ông lại giận «Họ phải trả lại cho mình, không ai có quyền cướp của mình những thứ gia súc chính tự tay mình nuôi lấy, bằng mồ hôi nước mắt của mình. Ích gì mà tức giận nhỉ? Tại sao đến bây giờ mình mới tức giận, từ trước đến giờ sao chưa hề nghĩ đến điều nầy? Mình cứ tưởng là họ đã lấy nhà cửa của mình rồi mà sao mình không hề đau khổ. Nhưng có thể họ không lấy nhà mình thì sao…?».

Kostaky nhón chân nhìn vào bên trong qua cửa kính. Tay vẫn mân mê vuốt ve bức tường và mắt ướt đẫm. Gần cửa sổ ngày xưa có một cây dẻ, bây giờ không còn nữa. Bên trong nhà tối ôm. Ông ta muốn gọi Iléana, nhưng ông ta biết là làm như vậy không khôn ngoan tí nào. Iléana có thể không còn ở đây nữa. «Tụi cộng sản trung dựng nhà cửa của tất cả kẻ vắng mặt.»

Ông ta men theo đường đi quanh nhà. Ba sào đất quanh nhà không ai trồng tỉa gì cả. Mà chỉ dùng những căn lều cao ngất nghểu như nhà thờ. Chung quanh có kẽm gai bao bọc. Thôi đúng là phi trường rồi. Họ đã để hoang đất của mình. Đất của mình không thể dùng cho máy bay Nga hạ cánh được. Vì đó là một thứ đất đen tốt nhất Piatra. Bắp trồng lên đó mộc cao đến hai thước.»

Kostaky không nhìn phi trường nữa, quay mặt vào cửa sổ như không muốn rời xa nữa. Một mảnh vôi trên thành rơi xuống. Kostaky lại giận thầm: «Họ không thể săn sóc nhà cửa. Vôi nhà mình ngày xưa có bao giờ sứt mẻ như thế nầy đâu».

Ông ta nghiền mảnh vôi trong tay, rồi cố đưa tay mở cửa. Cũng là tay nấm đó, nhưng cánh cửa đã bị khóa, ông ta đành nhìn qua cửa sổ, vuốt ve những tấm cửa kính. «Nếu mình ở lại chừng nửa giờ, trời sáng mình có thể nhìn vào bên trong nhà được.» Nhưng nghĩ lại ông ta lại sợ trời sáng bị lính bắt gặp, nên đành thầm nhủ: «Thôi để ngày mai mình trở lại».

Nhìn khắp làng tất cả đều yên lặng, không một con chó, con mèo, gà vịt, không một bóng người. Kostaky trở lại ý nghĩ: «Có lẽ căn nhà đang trống, mình cố vào thử xem». Hơi cảm động vì ý nghĩ đó, ông ta mạnh dạn gõ cửa. Có tiếng đàn bà nói:

– Có ai ở ngoài cửa sổ.

Giọng nói xa lạ quá. Kostaky dựa sát vào tường. Rồi có tiếng người đàn ông trả lời. Có nhiều người lạ trong nhà quá, Kostaky cảm thấy đau lòng và bắt buộc đứng trước cửa mà không vào trong được.

Người đàn ông hỏi:

– Ai đó?

Qua cửa sổ, Kostaky thấy người đàn bà trở dậy thắp đèn. Bàn ghế bên trong đều đổi khác hẳn. Người đàn bà đó cũng xa lạ đối với Kostaky, dù trông không rõ mặt. Người đàn ông nằm trên giường sắt trông cũng lạ quá; cả đến giường, cây đèn cũng không có một dáng dấp gì quen thuộc đối với Kostaky cả.

– Ai đó?

Hỏi xong người đàn ông đứng dậy cầm một cái rìu tiến đến cửa sổ. Người vợ nói: «Cẩn thận đấy!»

Người chồng cầm chặt rìu, nhìn qua cửa sổ. Trong một chốc Kostaky có ý nghĩ muốn đánh mấy người bên trong, đuổi họ ra khỏi nhà ông ta. Nhưng vô lý quá, nếu mình có đuổi họ ra, mình cũng không ở đó được vì lính gác sẽ bắt mình ngay, Kostaky đành nhịn nhục và tránh xa. Nhưng ông ta trở lại vì ánh đèn bên trong vẫn còn sáng. Ông ta lên tiếng:

– Xin ông nghe đây.

Người đàn ông cầm rìu có vẻ sẵn sàng đối phó. Kostaky trấn an ông ta:

– Xin ông đừng sợ. Không ai muốn giết ông hay đến cướp nhà ông đâu, tại sao ông lại sợ?

– Nhưng ông là ai?

– Tôi là Ion Kostaky, người đã có công tạo dựng căn nhà nầy. Tôi là chủ nhân căn nhà nầy, ông hiểu chưa, người sở hữu chủ tên Ion Kostaky.

Người vợ lên tiếng :

– Tôi không biết, căn nhà nầy là của chúng tôi.

– Ông bà ở đây thật đó, tôi biết thế, nhưng đây chính là nhà tôi xưa kia. Tôi là Ion Kostaky.

– Ông điên à, người vợ hét to.

– Bà im đi chứ!

Người chồng ra lệnh xong hỏi Iớn:

– Ông nói rằng ông là…

– Vâng, tôi là Ion Kostaky. Ông không bao giờ nghe nói đến tên tôi sao?

– Chưa bao giờ, ông muốn gì bây giờ?

– Nhưng ông ở đâu đến mà lại không biết tôi nhỉ? Tôi là chủ nhân căn nhà nầy cơ mà.

Người chồng nói với người vợ :

– Có lẽ là một nông dân ở đây trước tụi mình.

Người vợ nói :

– Nói với ông ta đi đi. Mình đừng có rước họa vào thân. Nếu ông ta là một nông dân thì đúng là ông ta đã trốn thoát từ trước. Ngày mai quân cảnh sẽ đến đây và nếu họ biết là có ông nầy ở đây, họ sẽ bắt hai vợ chồng mình ngay. Thôi mình nói với ông ta đi ngay đi.

Người đàn ông nghe lời vợ bảo:

– Ông muốn gì, nói đi, xong cút ngay.

– Ông có thể cho tôi biết vợ tôi hiện giờ ở đâu? Ông có biết Iléana Kostaky hiện giờ ở đâu không?

– Đó, em đã nói với mình đúng là một tên vượt ngục. Thôi mình tắt đèn đi và đi ngủ. Nếu ai thấy chúng ta nói chuyện với hắn, mình sẽ bị rắc rối lắm chứ chẳng chơi.

Người chồng nói với Kostaky :

– Ông đến sở quân cảnh mà hỏi. Tôi không biết ai tên Iléana Kostaky cả. Cả ông nữa, tôi có biết ông là ai đâu? Ông đi đi.

– Xin ông nghe tôi, tôi xin nói một lời thôi.

– Tôi không có gì để nghe ông nữa và cũng không biết gì để nói với ông. Ông đến hỏi quân cảnh đi, ông hiểu chưa? Tôi không biết gì về bà ấy cả, cũng như tôi không hề quen biết ông.

Người vợ dọa:

– Nếu ông không đi, tôi sẽ gọi lính cho xem. Tôi sẽ gọi lính bây giờ đây.

– Thưa hai ông bà, nào tôi có làm thiệt hại gì hai ông bà đâu?

– Thế thì ông từ đâu đến?

– Từ thế giới bên kia, từ bên kia đại dương và núi rừng. Nhưng ở đây chính là nhà của tôi.

Người đàn bà lại hét:

– Đây là nhà chúng tôi. Nếu ông muốn gì, hãy đến ban ngày chứ không thể đến trong đêm tối như thế nầy. Tại sao ông lại đến đây vào ban đêm?

– Ông bà không biết gì về vợ tôi sao? Tôi chỉ muốn biết tin bà ấy thôi?

– Không, tôi không biết ai là Iléana Kostaky cả. Chưa bao giờ tôi nghe nói đến cái tên đó. Tôi không phải là người làng Piatra.

– Thế ông bà không nghe nói bà ta còn sống à?

– Không có ai tên Iléana Kostaky ở đây cả.

Người đàn bà tắt đèn. Bóng tối bao trùm căn phòng. Ion Kostaky lại vuốt ve bờ cửa sổ. Vôi trên tường lại nứt ra rơi xuống, Kostaky thấy thế mà đau lòng. Ông ta cầm lấy một nấm vôi trong tay trái, trong lúc tay mặt ông ta vẫn vuốt ve cửa sổ.

Trong nhà người vợ vẫn còn cãi vả với người chồng. Người đàn ông nói:

– Đúng là Ion Kostaky, người đã bị kết án khổ sai và trước đây ông ta ở căn nhà nầy.

– Nhưng nhà nầy là nhà của chúng mình. Em không nghe nói đến ai là chủ cũ cả, mà em cũng không muốn nghe thêm nữa.

– Nhưng tại sao em bảo là em chưa bao giờ nghe nói đến tên Kostaky. Em thường nghe là Ion Kostaky đã ở đây từ trước và đã bị bắt chứ!

– Nông dân bị loại trừ hết rồi. Nhà cửa bị sung công và chính phủ đã cấp cho vợ chồng mình căn nhà nầy rồi.

– Nhưng trước khi bị sung công, căn nhà nầy là của Ion Kostaky.

Người vợ hằn học:

– Điều đó không liên quan gì đến vợ chồng mình cả.

– Nhưng ít ra mình cũng nên nói là vợ ông ta đã chết. Ông Kostaky khốn khổ đó sẽ bỏ đi ngay. Em là một người đàn bà, tại sao em sắt đá như thế. Tất cả điều ông ta hỏi chỉ vỏn vẹn có một câu là vợ ông ta còn sống hay không. Ông ta không còn ai thân yêu trên đời nữa. Nếu chúng mình nói thật, ông ta sẽ bỏ đi ngay. Người đàn ông đó có đòi hỏi điều gì khác hơn đâu. Ông ta có thể từ Sibérie trở về đây. Có thể là ông ta đã đi hàng ngàn cây số đề về đây xem thử vợ ông ta còn sống hay chết. Tại sao lòng dạ em lại như sắt như đá? Anh sẽ đi kiếm ông ta và bảo rằng vợ ông ta đã chết trong tù. Anh sẽ nói với ông ta bất cứ điều gì anh biết. Anh đem cho ông ta thức ăn nữa là đằng khác… Một ngày nào đó, sự khổ sở đó cũng có thể xảy đến cho mình. Giả tỉ anh ở vào trường hợp ông ấy và anh lo ngại cho em thì em nghĩ sao?

– Nhưng nếu anh đi, anh sẽ bị bắt chung với ông ta.

Người đàn ông vẫn mặc áo:

– Anh sẽ ra kiếm ông ấy. Tại sao lại không nói thật cho một người chỉ muốn biết là vợ còn sống hay đã chết.

Người vợ hét:

– Anh đừng đi.

Kostaky nghe tiếng người đàn bà giựt chiếc áo ông chồng đang cầm.

Kostaky đành bỏ đi. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên trán. Tai ông ta vẫn còn nghe tiếng người vợ cãi vả với chồng trong nhà. Người vợ nói:

– Em sẽ tố cáo anh với quân cảnh nếu anh đi bây giờ.

Kostaky để ý thấy hai cây táo trồng trước nhà đã bị đốn mất. Ông ta buồn rầu không hiểu sao người cộng sản lại hay đốn cây như thế.

Người đàn bà vẫn to tiếng:

– Nếu anh đi em sẽ tố cáo anh.

Kostaky bỏ đi xa. Ông ta bắt đầu khóc. Cố quay đầu lại nhìn một lần nữa. Nhà ông còn nằm yên trong bóng tối. Kostaky thầm nói: Lạy Chúa, rước linh hồn Iléana về nước Thiên đàng, ông ta cất mũ làm dấu. «Lạy Chúa tha tôi cho bà.» Kostaky đội mũ lại và đi về phía rừng. Làng mạc hoang vắng. Đường sá vắng bóng người. Không có Iléana, trái đất đối với ông chỉ là một bãi sa mạc hoang vắng.

°

Kostaky thấy ba bóng người đuổi theo ông trên đường làng. Ông ta muốn vào trong một khu vườn, nhưng lính gác đã trông thấy và cố đến gần ông ta. Kostaky bỏ đi thật nhanh. Ông ta cảm thấy mùi đất thấm vào thân thể và hai buồng phổi. Đằng sau, lính gác đã nổ súng. Đã có lệnh báo động trên sân bay. Lính gác tràn đầy đường. Các lối ra khỏi làng bị gác hết. Kostaky chửi:

– Đồ lũ chó cộng sản.

Ông ta không trốn về nơi Pillat đang chờ, vì lính gác từ đó đến, ông ta đành bò về phía ngược lại. Đó là con đường dẫn đến nghĩa địa, ông ta núp vào trong các bụi rậm và nghĩ đến Iléana mà không hề nghĩ đến lũ lính gác đang đuổi bắt mình và làm náo động cả làng.

«Lạy Chúa đem Iléana về đất thánh. Bà đã đau khổ nhiều lắm rồi. Càng khổ nhiều hơn nữa nếu bà bị chết trong tù.

Iléana khốn khổ ơi!»

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Nguyễn Tường Giang

Post by Sơn râu 17 May 2024

TIỂU SỬ

Tên thật là Nguyễn-Tường Giang, sinh ngày 24.6.1942 tại Hà Nội. Con út nhà văn Thạch Lam. Qua bậc tiểu học ở trường Hàng Than Hà Nội. Cựu học sinh Chu Văn An Saigon. Hiện là bác sĩ. Hoạt động trong nhóm Văn Hóa Thái Độ, viết và đăng thơ trên Thái Độ, Đất Nước. Từ năm 1973, cùng một số bạn hữu chủ trương Tập San Văn Chương.

QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN

Hai yếu tố quan trọng cho sự thành công của truyện ngắn là không khí của toàn truyện và cách thức thực hiện (cách viết). Viết truyện ngắn là một điều khó khăn vì người ta chỉ có một số vật liệu hạn chế (những chữ, những chi tiết…) để nói lên những điều thường mơ hồ, không nói được trực tiếp với người đọc. Một truyện ngắn hay là truyện ngắn đã hoàn thành, không hứa hẹn gì thêm ngoài chính nó.

Về Truyện Ngắn “MỘ BIA”

“Mộ Bia” không thể gọi là một truyện ngắn. có lẽ đó là một tùy bút. Đã in trong Tập San Văn Chương số Mỹ Từ Pháp dưới tựa đề Dấu Xưa. Có thể gọi tùy bút là một hình thức của truyện ngắn chăng?

42. Mộ Bia

Buổi sáng hôm ấy trời có nhiều sương mù. Lúc tôi tỉnh dậy hơi lạnh thấm qua nền nhà gỗ truyền qua gan bàn chân làm tôi có cảm tưởng như trở thành một giọt sương. Các cửa sổ đều đóng kín, nhưng qua làn kính trong suốt, những bông hoa mimosa nở vàng lay động êm đềm. Căn nhà nằm trên một triền đồi cao, con dốc sáng lên với những viên đá xanh nằm ngổn ngang và những đám cỏ non còn ướt thảm. Phía dưới xa kia là mặt hồ lớn, hơi khói bốc lên nghi ngút, quyện vào nhau. Kinh đứng bên cạnh tôi, hai tay thủ vào túi áo bành-tô bằng dạ xám đã cũ, thả những làn khói thuốc vào mặt kính. Anh nói nhỏ qua hàm răng cắn chặt cán chiếc tàu thuốc: Ông có nhìn thấy cây soan tây ở chân đồi không. Tôi nhìn theo tay trỏ xuống một thân cây mảnh khảnh ở giữa những rặng thông, một cây soan tây với những bông hoa mờ nhạt. Kỳ còn nằm ở trong phòng hỏi vọng ra: Có phải cây xoan tây ngoài mình gọi là cây sầu đông. Không ai trả lời vì Kinh còn mải mồi lại tẩu thuốc đã tắt. Tôi hà hơi lên mặt kính rồi lấy tay xoa một vòng nhỏ, một hình ảnh nào đó trong một cuốn phim coi đã lâu. Kinh rủ tôi ra xem mấy chậu lan. ở ngoài trời, gió mát lạnh lùa vào người như thấm nước trên từng phần nhỏ của da. Kinh lấy tay hất nước từ một chiếc mũ sắt tưới cây. Những giọt nước bay lên cao lóng lánh. Hình ảnh một người bốn mươi tuổi, miệng ngậm tẩu thuốc, những đám chân râu xanh chạy trên mép, cầm một chiếc mũ sắt tưới những hàng lan nằm trên bể nước cũ hoặc treo lủng lẳng trên cây làm tôi ngậm ngùi, một chút gì mất mát ở đâu đây. Không khí như không một vẩn bụi, sạch quá. Một chậu lan mới nở sáng nay, những cảnh hoa trắng và mỏng, long lanh như tuyết đọng. Tôi kề mũi vào ngửi, chỉ thấy mùi mát lạnh của sương đêm và những cành nhụy nhỏ như đốm phấn vàng trên cánh bướm. Kinh đã ngừng tay, chiếc mũ sắt rung rinh như một con thuyền. Lan Tuyết Ngọc đấy. Ngày xưa ông bác ông cũng nói về thứ này. Một buổi sáng mù sương nào ở núi rừng Phi-Nôm, người bác già đã dặn tôi, một cậu bé chưa đầy mười lăm tuổi, vào khu rừng sau nhà tìm lan. Căn nhà bằng gỗ nằm xa quốc lộ, phía sau mở một con đường vào rừng. Qua một con suối nhỏ róc rách những tiếng reo vui

– Người đi lâu chưa thấy về. Nhớ người lòng suối cũng buồn — là tới rừng rậm. Mùa mưa, rừng âm u và những con vắt lạnh như kim khí bám vào người khiến tôi không có một chút thích thú nào. Ông đi một đôi ủng cao-su cao đến đầu gối, mỗi lần kiếm được loại lan lại giảng giải tôi nghe. Tội nghiệp tôi, trời lạnh và trí óc còn mơ đến những bông hoa rực rỡ của cuộc đời, tôi nào có thấy những cánh hoa thanh thiết và cao quý của núi rừng là đẹp. Ông chỉ tôi ngửi từng loại hoa, nhưng hương thơm của lan nhẹ quá, nhẹ đến nỗi khứu giác non nót của tôi chỉ thấy mùi đất ẩm và gỗ mục. Tháng Tám năm đó, ông làm những ngôi đèn ông sao bằng giấy bản mỏng và cả ngày ngồi vẽ từng loại lan trên mặt đèn. Ngày rằm được chiếu sáng bởi những ngọn nến nhỏ, những bông lan như nở hết những cảnh hoa đẹp nhất, lung linh trong trận mưa nhỏ hạt. Bây giờ ông đã chết. Tôi ngó bông lan mới nở, ngó những cành lá lan dài và thon nhẹ, những chiếc rễ cây nhô bám vào đất ẩm của chiếc vỏ dừa bổ đôi hay của một thanh gỗ mục. Tôi đã già rồi chăng. Tôi đọc hai câu thơ nhớ được về lan: Sắc trong Thanh Ngọc hương thơm mộng. Một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần. Kinh nói: Đó là lan Thanh Ngọc, đây cũng có một giò Thanh Ngọc. Lan Thanh Ngọc thơm hơn Tuyết Ngọc nhiều. Rồi Kinh trỏ một giò lan nằm lẫn lộn với các loài khác. Những cành lá nhỏ, rêu xanh mọc lan trên các rễ cây. Những ngón tay Kinh mơn man nhẹ trên các lá, ngó những đốt cây một cách thích thú. Nhiều khi chỉ có những con sâu nhỏ mà làm hỏng một giò lan của mình. Tôi cười: Thì giết nó đi, có gì khó đâu. Kinh trả lời như tôi vừa làm một điều xúc phạm: Sâu cũng là một sinh vật, nó chắc không ý thức được việc nó làm. Rồi Kinh cười buồn, có tiếng Kỳ gọi vọng ra: Vào uống trà cho ấm người. Kinh nhấc chậu lan mới nở, mang bằng cả hai tay. Tôi đốt một điếu thuốc thơm, trời lạnh và buổi sáng vắng người.

Chiếc bàn bằng gỗ thấp nằm ở góc phòng trên một chiếc chiếu hoa. Mặt bàn phủ một lớp chăn dạ mầu xám nhạt. Một chiếc bình thủy mầu ca-rô đỏ, một cái ấm đất bằng nắm tay và những tách nhỏ như hạt mít. Kinh đặt chậu hoa ở giữa bàn. Chiêm cũng đã dậy và ngồi gần góc bàn. Chiêm hói: Các ông định ở chơi bao lâu. Kỳ đáp: Vui thì ở lâu buồn thì về. Kinh rót trà ra từng tách nhỏ: Phải uống thật chậm, trà Trung Quốc đấy. Lan Thanh Ngọc phải có hơi trà mới thơm. Chúng tôi cùng nâng tách trà lên, thổi nhẹ trên mặt nước trong như hồ phách. Hơi trà bốc lên quyện vào những cánh lan và hương thơm tỏa ra, tỏa ra. Căn nhà lát bằng gỗ cả bốn bức tường, sàn cũng lát bằng gỗ đánh vẹc-ni đen bóng. Phòng này Chiêm và Kinh ở. Nửa bên kia là văn phòng làm việc của Ty. Kỳ và tôi hôm qua đến đây đã nói đùa: Ông đúng là công chức gương mẫu, việc nha như việc nhà. Chiêm rời bàn làm việc, chân đi vớ dầy và dép da dẫn chúng tôi qua phòng riêng. Những chiếc ghế mây đã cũ, không còn nệm. Cành đào còn nở hoa cắm trong chậu sứ. Bàn thờ Phật với hình Đức Quan Âm bồ tát. Một nén nhang đang cháy thơm phảng phất. Chiêm nói: Nhà này trước là hotel thời Pháp, bây giờ mình dùng làm Ty sổ. Mà ở đây cũng chẳng có gì để làm cả. Ông có bao nhiêu nhân viên? Chiêm chỉ bâng quơ: Sáu người, mà lẽ ra một người làm cũng quá đủ rồi. Người sinh viên đã từng tranh đấu bao nhiêu năm, làm đổ bao nhiêu chế độ. Giờ đây Chiêm thủ mình trong chiếc áo đan bằng len dầy, mầu tro xám — mầu của Phật tử — một mình đi lại trong căn phòng gỗ của miền cao nguyên. Chiêm mới được ba mươi tuổi. Tôi nhìn trên vách ở đầu giường có treo hình hòa thượng Thích Quảng Bức lúc viết bức thư trước khi tự thiêu và chân dung của Gandhi, lãnh tụ bất bạo động. Trời lạnh. Ở phía cuối giường có dán một tấm bìa lớn vẽ phỏng lại một trang báo Văn Hóa Ngày Nay. Bức tranh có ánh trăng chiếu hiu hắt qua song cửa, soi lên mặt bàn có để một cái ly nhỏ. Bài thơ Tương Biệt Dạ của Huyền Kiêu. Kính nói: Các ông có thấy tượng Phật đặc biệt của tôi chưa? Tôi và Kỳ cùng đáp chưa và theo Kinh ra nhà ngoài. Pho tượng đã nát một bên mặt, hai con mắt bị phá vỡ và một mảnh gang của trái bom nào còn gài trên vai. Tôi rờ trên mặt pho lượng, những mấu đồng ram ráp dưới làn da. Giữa thời đại này Phật không có mắt mà lại hay. Chúng tôi trở lại bàn uống trà, cùng im lặng. Chiếc máy thu thanh nhỏ đã cũ rè rè phát ra một bản nhạc buồn. Kỳ vẩn vơ vuốt tay trên nòng súng carbine phòng vệ dân sự, nòng súng đã rỉ ở ngoài. Kinh hít một hơi thuốc dài rồi nhả khói lên cao, hai tay vẫn thu vào trong áo bành-tô. Ngoài trời hình như có gió, tôi nghe thấy tiếng sào sạc của lá cây.

Mẹ tôi mất vào lúc 6 giờ tối. Lúc đó tôi mới làm việc ở B.H. về, qua nhà đón vợ con lên thăm bà. Không có một linh tính nào báo trước việc đó cả. Có một chi tiết nhỏ, vợ tôi buổi sáng có mua một ít bánh cuốn Thanh Trì— thứ bánh mẹ tôi rất thích khi còn sống — nơi bà gánh hàng rong hông chợ Bến Thành. Đáng lẽ ra tôi về nhà từ buổi trưa và mang lên cho mẹ tôi ăn. Nhưng một phần vì chiếc xe bị hết bình điện phải đi sửa lại, một phần vì hôm đó là ngày trực của tôi, tôi phải nhờ một người bạn thay thế. Buổi trưa trời nắng gắt đến độ mổ hôi bết cả áo quần, tôi mệt như người ở trong lò lửa. Vào khoảng 3 giờ tôi có hơi sốt ruột vì sự chậm trễ. Tôi xuống phòng mổ lấy một bịch máu loại 0, bỏ vào bao ny-lông, mua ít đá cục chườm chung quanh. Tôi dặn dò vài nhân viên về sự vắng mặt và đi ra chỗ sửa xe. Bình điện chưa được mạnh lắm nhưng tôi cũng lấy và đi về Saigon. Chiếc xe hơi quá cũ, tay lái bị lỏng, tuy nhiên tôi chạy hết tốc lực có thể được. Tôi có nghĩ nhiều đến mẹ tôi trên đường về nhưng không một chút nghi ngờ bà chết ngày hôm nay. Mẹ tôi bị bệnh đã lâu, ung thư dạ dầy. Cách đây hai năm bà đã bị mổ cắt đi hai phần ba. Người giải phẫu cho bà cũng là ông thầy đỡ đầu cho tôi trình luận án, đã kéo tôi vào phòng riêng và nói: Nếu ăn uống đàng hoàng thì có thể kéo dài hai năm. Tôi cũng nghĩ như thế và bây giờ sức khoẻ của mẹ tôi đã yếu lắm. Hai năm qua đi không một biến chứng nào, tôi nghĩ đôi khi khoa học cũng bị vượt qua bởi nhiều sự tình cờ. Tôi cũng đã đi làm việc được một năm và về thăm bà rất đều đặn. Tôi có gửi bà nuôi đứa con lớn nhất, mới hai tuổi, cũng là cháu trai nội độc nhất của bà. Bà ở cùng người con lớn, anh tôi. Anh độc thân và làm việc ở Bộ Kinh Tế. Tôi còn một người chị theo chồng ở ngoài Huế, lâu lâu về thăm bà một lần. Mẹ tôi vui hay buồn trong thời gian này tôi cũng không quả quyết lắm. Tôi mồ côi cha từ nhỏ khi sinh ra có ba ngày và tôi đã sống gần mẹ trong suốt ba mươi năm. Khi chiến tranh bùng nổ, một mình bà dắt díu ba chị em tôi về một làng hẻo lánh ởBắc Giang và tôi sống cả tuổi thơ ở đó. Mẹ tôi đi mót lúa, đi gánh gạo suốt mười cây số để đến chợ, chị tôi phụ giúp bà. Tôi và người anh đi vào rừng kiếm củi, nhặt nấm rẻ hay trải cây. Năm sáu tuổi tôi được đi học ở trường làng cách hai cây số. Con đường đến trường phải qua một khu rừng lau. Vào mùa thu bông lau nở trắng xóa cả một vùng. Năm 49, bà đưa chúng tôi về Hải Phòng, đưa làm hai lần vì sợ nguy hiểm. Tôi và anh tôi về trước, bà gửi chúng tôi ở nhà một người cô (chị ruột cha tôi) rồi lại vội vã quay về đón chị tôi. Lúc trở về Hải Phòng tòi có bị chết hụt mấy lần. Có lần đại bác nổ gần chúng tôi và khi phải tranh nhau qua đò, tôi bị xô đẩy bay xuống lòng sông cuồn cuộn. Họ vớt tôi lên và khi qua sông phải chạy thêm hai cây số với quần áo ướt đẫm. Sáng hôm sau đã nghe tin con đò bị trúng đạn và chìm ở giữa sông. Tôi nhớ mãi chi tiết này là vì từ sau lần đó mẹ tôi không rời tôi nửa bước, và lòng mến thương của bà, sự âu yếm đặc biệt của bà đã khiến tôi được như ngày nay. Chúng tôi ở Hải Phòng hơn một năm rồi theo gia đình bà cô về Hà Nội. Mẹ tôi xin được việc làm ở Nha Bưu Điện, và với một sổ lương ít ỏi, bà nuôi anh em tôi ăn học đủ cho tới khi vào Nam. Tôi sẽ không có gì nhiều hơn để kể trong khoảng thời gian này. Mẹ tôi tiếp tục làm việc, có được một căn nhà nhỏ của sở. Khi anh em chúng tôi vào đại học, anh tôi đi dạy học thêm phụ giúp mẹ. Tôi trong suốt thời gian này cũng như khi còn nhỏ, không giúp được gì cho gia đình ngoài việc lêu lỏng đi chơi, như các thanh niên trẻ và ham chơi khác. Tôi lập gia đình sớm, mẹ tôi vẫn còn giúp đỡ vợ chồng tôi. Cho đến khi bà chết. Lúc tôi sửa soạn lên thăm bà thì anh tôi tới. Anh không kịp tắt máy xe, bảo tôi: Mợ chết rồi. Tôi không hỏi gì cả. Mẹ tôi chết rồi. Tôi nhớ lại lúc đó tôi không có cảm giác gì lạ. Tôi không tin bà chết. Lần cuối tôi ngồi bên giường, bà cười và nói với tôi: Con cố mua phần đất cho mợ càng gần bà nội càng tốt. Tôi còn nói đùa với bà: Còn phần đất trong hội mợ dành cho con nghe, bỏ đi uổng quá. Mẹ tôi có chân trong một hội tương tế nào đó, nhưng lúc chót bà đổi ý và muốn được chôn gần họ hàng trong một nghĩa địa đã có khá nhiều bia mộ mang những tên đệm giống nhau. Tôi cúi xuống sàn xe, hơi nước đã từ bao ny-lông đựng máu làm tê lòng bàn tay. Tôi mân mê bịch máu, thầm mong có thể anh tôi đã nghĩ nhầm. Vợ tôi tay còn cầm gói bánh cuốn, run run và muốn òa khóc. Tôi lái xe đi bình tĩnh. Tôi chỉ tin cái chết khi chính tôi xác nhận điều đó. Mẹ tôi nằm yên lặng trên giường, bình thản, mắt đã khép. Tôi nắm lấy cổ tay bà, cố nghĩ rằng mạch máu còn đập ở đâu đây. Nhưng tôi chỉ thấy mạch máu tôi đập trên đầu ngón tay. Tôi đặt tai lên ngực bà, ngực còn nóng nhưng tôi mơ hồ nghe thấy tiếng là cây sào sạc bên ngoài cửa sổ. Bà đã chết thật rồi. Tôi ngó những chai nước biển còn lay động trên đầu giường, tôi bóp nhẹ mu bàn chân hơi phù lên của bà. Tôi đứng dậy và đi ra ngoài. Tôi còn nhìn thấy bà. Anh tôi ngồi yên lặng ngoài phòng khách. Tôi hỏi: Mợ chết lúc nào? Buổi trưa khi tao đi làm mợ còn dặn mua nho cho mợ, nhưng khi tao về thì mợ đã chết. Tôi nói: Mợ chết không đau đớn là tốt lắm, bệnh này hay gây cho bệnh nhân khổ sở nhiều. Rồi tôi đi ra vườn. Bấy giờ đã cận Tết, cành đào chị tôi gửi từ Huế vào đang trổ những bông hoa mầu hồng xinh xắn, cây mai ở góc vườn đã trổ hoa vàng. Tôi không thấy mình muốn khóc. Tôi thấy lòng thanh thản, buổi tối chỉ có sao lấp lánh trên nền trời và những cơn gió mát. Hình như tôi vừa chết chứ không phải mẹ tôi.

Uống trà xong, tôi và Kỳ rủ nhau xuống phố. Nắng đã lên nhưng mỏng manh quá, chỉ đủ làm hoe vàng một vài ngọn cây. Trời còn lạnh và gió đã thổi bay những lớp sương đọng trên mặt hồ. Con đường ánh lên một mầu xám sáng, chia ra nhiều nhánh như một giòng sông. Khách sạn lớn nhất và đẹp nhất của thành phố nằm giữa hai đường vòng, cô đơn như một tòa lâu đài cổ. Thành phố còn giữ vẻ im lặng của những ngày Tết, người lác đác qua lại, những mầu áo đỏ, vàng còn mang vẻ rực rỡ trên những tấm lụa mới. Tôi hỏi Kỳ: Kinh sao hắn không đi. Kỳ cười: Hắn không có giấy phép. Đã mùng bảy Tết rồi nhỉ. Một vài cây đào ven đường còn giữ lại bông hoa hồng nhạt, một con chim bay từ mái nhà cũ đến một cành thông. Tôi cố chờ đợi thêm một con chim khác. Nhưng không có gì cả. Tôi nhìn sang Kỳ. Kỳ đốt một điếu thuốc mới, bẻ lại cổ áo. Chiếc áo len đã cũ mầu xám nhạt, quần cũng đã phai mầu và đôi giầy mua sẵn sờn lông đã ngả mầu đất bùn.

Trông Kỳ cô đơn quá. Nhưng tôi yêu vẻ cô đơn và trầm tĩnh. Kỳ hơn tôi khoảng mười tuổi, tôi vẫn tự hỏi làm sao chúng tôi lại rất thân với nhau và hiểu nhau như đã nô đùa chung từ khi còn nhỏ. Chúng tôi quen nhau khoảng bốn năm, khi hai người cùng hoạt động trong một nhóm chính trị. Nhưng khi đã bắt đầu thân nhau, ngồi uống cà- phê ở một tiệm cà phê khuất nẻo, hay nhâm nhi chút rượu mạnh nơi hàng quán bên sông, chúng tôi khám phá ra là cả hai đều không ưa chính trị. Chúng tôi kể cho nhau nghe những thú vui thời tuổi trẻ, sự hoài niệm dĩ vãng và vẻ đẹp của mọi sự vật trên đời. Chúng tôi nói về những ngôi nhà cổ trong vườn trồng đầy những hoa hải đường mà thật tình tôi cũng không nhớ rõ mầu sắc. Đôi khi chúng tôi bàn về thú uống rượu của cổ nhân, kể cho nhau nghe quá khứ mịt mù khi còn nhỏ ở Huế và Hà Nội, hai thành phố mà chúng tôi yêu mến.

Chúng tôi lẫn lộn không hiểu Kỳ còn quá trẻ hay tôi già trước tuổi. Tôi và Kỳ đến ăn sáng tại một quán nôi tiếng về bún bò Huế, cắn những miếng ớt cay đến chảy nước mắt và trở lại phòng ăn của khách sạn ngồi uống cà phê. Kỳ hỏi tôi lơ đãng: Bà cụ ông bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Tôi đáp: Hình như là 65. Thực tình tôi cũng không nhớ rõ tuổi cửa bà. Tôi tiếp: Chóng quá, đã chín ngày rồi. Kỳ gọi một ly cà-phê đen và tôi một ly cà-phê sữa. Buổi sáng, căn phòng rộng mênh mông, lạnh lẽo. Bàn bên cạnh hai người ngoại quốc đang đánh một thứ cờ nào đó, một người đàn bà tóc vàng yên lặng hút thuốc. Những ghế khác còn trống, bày ra các tấm nệm mầu hoàng yến và xanh rêu. Tôi lấy chiếc pipe nhồi thuốc và mồi lử. Kỳ nói: Mùi thuốc cherry ngon quá, ngồi gần ngửi còn thú hơn hút. Tôi bập bập trên cán pipe giữ cho lửa khỏi tắt. Người ngoại quốc bàn bèn cạnh ho vài tiếng nhẹ. Người đối diện nói với người đàn bà hai ba câu bằng tiếng Pháp. Tôi có cảm tưởng như đã sống trong cảnh này ít nhất một lần và tự dưng tôi buồn đã. Mẹ tôi đã chết thật rồi. Tôi biết chắc điều đó vì vĩnh viễn tôi không thể nhìn thấy bà một lần nữa. Người quản gia của chị tôi đã vào phòng liệm bà và lần cuối cùng, trước khi đưa vào áo quan tôi chỉ thấy một gói vải mầu đỏ rợ. Rồi sau đó là tiếng khóc, tiếng người nói và có thể là tiếng cãi nhau xôn xao. Rồi mùi hương và mùi nến chảy, tiếng tụng kinh gõ mõ đều đều như từ cõi nào vọng lại. Tôi quì hàng giờ trước quan tài, tôi lễ trả hàng ngàn lần và ôm mặt khóc sau xe tang. Buổi sáng mùng hai Tết, đoàn xe chạy buồn bã giữa những quần áo mới bên đường, và trước khi trở lại nhà tôi vẫn tự hỏi không biết đầu bà nằm về hướng nào dưới lòng đất. Tôi nhấp một ngụm cà- phê còn hơi ẩm, tò mò ngắm chiếc tách bằng sứ có vẽ một bông hoa hồng. Mọi vật yên lặng quá. Tôi nghĩ giả có một chút rhum ở trong cà-phê thi ngon biết mấy. Nắng đã lên cao, chiếu một vệt dài ngang qua mặt bàn, ngang qua ly cà-phê của Kỳ. Một cặp trai gái chụp hình cho nhau trước cửa khách sạn, bên ngoài cửa kính. Người con gái đưa tay vuốt tóc, những sợi tóc mềm và dài bám hờ hững trên vai. Cô gái còn nhỏ, mặc áo dài mầu tím và khoác áo len mầu sữa đục. Họ nói và cười với nhau, nhưng tiếng động không vang vào được phía trong. Nhìn ra ngoài thấy môi họ mấp máy hay hả ra như một phim câm. Cô gái chỉ những bông hoa cúc mới nở phía trái khách sạn, rồi cô đến đứng bên cạnh và một tay mân mê những cúc áo len. Kỳ nói nhẹ: Trông những người yêu nhau hạnh phúc quá. Tôi cười: Sao ông không kiếm lấy một cô cho đời đáng yêu. Nhưng tôi thầm nghĩ cái hình ảnh đẹp đẽ như trong phim ảnh kia chỉ có thể có khi đứng ở ngoài mà nhìn vào, qua một tấm kính. Nó thật trái ngược với cảnh buồn khổ, chỉ có người trong cuộc mới thấm thía nỗi đau đớn dầy vò mình. Cặp trai gái đã bỏ đi, tay nắm tay chạy trên những bậc thang dẫn xuống hồ. Bên kia hồ, đồi cỏ xanh nhuộm nắng và tôi nghe tiếng thông reo như một điệu nhạc buồn.

Ba người ngoại quốc đã đứng dậy. Một người khoác áo lạnh cho người đàn bà. Chiếc áo mầu vàng ấm. Họ vừa đi vừa nói, âm thanh vi vu trong gió. Kỳ trả tiền, tôi cởi bớt những cúc áo len cho đỡ nóng. Nắng tràn ngập các bàn ghế kê sát bên cửa kính. Chúng tôi rời khách sạn, đi ngược về phía cuối thành phố. Một chiếc xe Lambro rồ máy chạy ngang rồi khuất nẻo ở một đường dốc. Tôi nói: Đến nhà bà cô tôi ăn cơm trưa luôn. Nhà ở lưng chừng thung lũng, trong một con đường nhỏ. Chúng tôi đi ngang nhà thờ vắng vẻ, hội Văn Hóa Mỹ còn đóng cửa. Những villa nở đầy hoa mimosa. Rẽ vào một con đường nhỏ rất xấu, lăn lóc những viên đá xanh làm đường. Một con chó lớn lông vàng úa ngó chúng tôi nhưng không sủa, tôi vuốt đầu nó. Bà cô tôi ở trong nhà đi ra, chiếc áo lạnh bằng nhung đen giống hệt chiếc áo của mẹ tôi. Bà nói: Tội nghiệp mẹ cháu chết đi chằng được hưởng gì cả. Tôi đáp: Vâng. Người ta sống để mong hưởng một cái gì. Chắc không phải thế. Đó chỉ là một cách nói để che đậy vẻ cao quí của đời sống. Người ta sống và khổ sở không hưởng một cái gì. Như những bông lan nở hoa và tàn rụi. Tôi nghĩ thế, ít ra cho mẹ tôi và bà cô buồn rầu đứng kia. Chúng tôi vào nhà, bà cô xuống bếp làm cơm. Tôi và Kỳ ngồi nói chuyện với mấy cô em họ. Kỳ khen những cành đào thật đẹp. Tôi chọn một băng cassette và bấm nút. Tiếng ca mềm và ấm trong căn phòng nhỏ. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Trong bữa cơm ai cũng nhắc đến mẹ tôi. Còn tôi, những món ăn quen thuộc làm tôi nhớ bà hơn cả những lời hỏi thăm. Từ đây, tôi sẽ chẳng bao giờ được ăn những món ăn mà tôi đã ăn trong ba mươi năm qua. Tôi ngồi uống trà, lơ đãng trả lời những câu hỏi và nhìn qua cửa kính xuống thung lũng. Bên kia thung lũng là một nghĩa địa lớn, những tấm bia mầu trắng sáng lên dưới nắng. Trước mộ mẹ tôi cũng có một tấm bia làm vội vàng bằng xi-măng quét vôi trắng và người khắc chữ đã khắc lầm cả ngày mẹ tôi chết. Tôi quỳ xuống trước mộ, dùng dao sửa lại cho đúng rồi dùng bao hương mầu đỏ chà lên chỗ mới sửa cho cùng mầu. Tôi chợt hỏi không biết hai chậu cúc vàng để bên mộ đã tàn chưa? Mẹ tôi vẫn mong có dịp lên đây thăm bà cô và ở lại chơi một thời gian —trên này có phong vị Tết như ngoài Bắc—nhưng tôi hiểu rằng, dù là một mơ ước nhỏ mẹ tôi cũng không bao giờ thực hiện được. Tôi đi thơ thẩn ra vườn, ngó những bông hoa xác pháo đỏ rực trên mái nhà, những bông cúc tươi mát vàng rực rỡ, những bông hoa mầu hồng mầu đỏ mà tôi không biết tên, tôi hả lớn miệng và hít đầy không khi vào phổi, mẹ tôi đang đứng ở gần đấy, ngắt vài bông cúc lớn cắm lên bàn thờ Phật. Kỳ ra rủ tôi lên chợ. Chúng tôi leo qua những con dốc đầy hoa quỳ, la cà khắp các quán cà-phê chung quanh chợ cho đến tối. Khi chúng tôi trở lại nhà Chiêm và Kinh, hai người đang ăn cơm. Chiêm ngửng lên nhìn tôi: Bà cụ ông mới mất hả? Hồi chiều lên phố mới biết. Kinh nói: Ăn cơm chưa, ngồi ăn chút cơm cho vui. Tôi và Kỳ ngồi xuống bàn ăn, bữa cơm chỉ có một đĩa đậu và mấy cọng rau.

Buổi tối tôi theo Kinh ra xếp lại những chậu lan trên bể nước. Kinh xếp những giò lan sắp nở vào một góc. Lan phải có sương mới thanh khiết. Trời tối sẫm và gió lạnh thổi qua đồi, thấm những giọt sương vào da. Kinh thọc hai tay vào áo bành-tô, lửa đỏ lặp lòe trên đầu tàu thuốc. Mùi khói thuốc như tan vào gió. Tôi thấy lạnh ở cổ và ho. Chúng tôi ngồi uống trà đến nửa đêm, Chiêm nhường cho tôi và Kỳ giường có nệm và chăn bông. Hơi lạnh như ùa qua các kẻ hở, tràn ngập trong phòng. Tôi nằm co ro cố rúc sâu vào lòng mẹ, chiếc chăn bông mỏng không đủ ấm nhưng hơi ấm trong người của mẹ tôi có thể nóng như than trong hỏa lò. Tôi ứa nước mắt, khóc và gọi trong đêm khuya lạnh lẽo đầy bóng tối: Mẹ ơi. Mẹ tôi đã chết rồi.

NGUYỄN TƯỜNG GIANG