Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường tra Bắc

Post by Sơn râu 17 May 2024

Phần 6

Ngồi trong một góc, tôi úp mặt xuống đầu gối, suy nghĩ hoài về cách xử sự qua tàn tệ của Cộng Sản đối với những người thua trận! Chúng tôi không chủ quan để đến lúc này còn cho rằng, mình tài giỏi và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà mạnh, có ý chí cao. Nhưng chỉ biết, nếu chúng tôi, từ người Binh II tới các ông Tướng đừng mất tinh thần chiến đấu trong những ngày đầu của trận đánh Buôn Mê Thuột, cứ kiên trì chống trả với quân thù trên từng thước đất quê hương thì dù người Mỹ có bỏ Việt Nam, còn lâu Cộng Sản mới chiến thắng? Thảng hoặc, nếu có chiến thắng đi nữa, lực lượng quân sự của chúng cũng bị tiêu diệt phần lớn, chứ không còn nguyên vẹn như hôm nay. Nhưng lúc này ván bài đã lật, có hối tiếc cũng vô ích, chỉ làm chán nản, buồn bực, đi đến phẫn chí!

Con tầu lắc mạnh trước khi chuyển bánh. Tiếng bánh nghiến vào đường sắt từng nhịp đều đều, từ chậm đến nhanh. Giữa một kích thước chật hẹp, anh em không ai nói với ai điều gì. Người nào cũng ngồi dựa lưng vào vách ngủ gà ngủ gật. Chỗ để hành trang tuy còn rộng, nhưng Đội Trưởng đã nằm dài choán chỗ.

Ngồi mãi quá mỏi, tôi đứng lên ghé mắt vào chiếc cửa lưới. Hơi gió thổi làm mát mặt, tôi hơi thấy dễ chịu, nhưng toàn thân, mồ hôi dâm dấp. Mùi quần áo quện mồ hôi xông lên khó chịu. Đứng mãi mỏi chân, lại ngồi tụt xuống. Tôi cố gây giấc ngủ, không tài nào được. Chắc chắn, điệu này, dù không muốn, tôi cũng phải gánh chịu những giờ phút cực kỳ thê thảm! Nhưng thời gian vẫn luân hành theo nhịp độ của nó.

Con tầu nghiến đường sắt nuốt đoạn đường dài. Máy tầu đang ngon trớn, bỗng hạ dần tốc độ. Tiếng bánh sắt nặng nề nghiến xuống đường rầy nhức nhối, rồi nó ngừng lại. Tôi kiểng chân nhòm ra ngoài. Đúng là ga Hà-nội. Sở dĩ tôi nhận ra ngay vì miền Bắc không còn có nhà ga nào lớn hơn nó. Tôi đinh ninh mình sẽ bị nhốt tại Hỏa Lò. Sân ga lúc này vắng hoe vì đã quá nửa đêm. Những tên bộ đội chạy lăng xăng với những bộ quân phục nhàu nát. Vài tên Công An áo vàng đứng nhìn đoàn tầu. Tất cả mọi người đều thức và chờ đợi việc gì sẽ xảy ra. Nhưng chờ mãi, canh cửa vẫn khóa. Một vệt sáng yếu ớt len qua khe hở không soi tỏ được vật gì bên trong. Vài tiếng ngáp to chán nản âm vang trong bóng tối. Tiếng đầu máy chuyển ầm ầm bên ngoài với từng hồi còi khàn khàn, rền rĩ càng làm cho không khí nặng nề. Bỗng thân tầu rung mạnh, từng chặp, từng chặp, rồi từ từ trôi đi, nhưng không, có lẽ nó dồn toa. Con tầu đậu khá lâu, chẳng biết để làm gì, nhưng rồi nó cũng chuyển mình chầm chậm khi trời bắt đầu mờ sáng.

Tiếng bánh sắt lại đều đều nghiến đường rầy. Tôi ngồi thụp xuống, nhưng chỗ ngồi quá chật và bí hơi, đành phải đứng lên cho dễ thở. Tất cả Hà-nội đều đang ngủ say qua làn sương mù buổi sớm. Tầu chạy khoảng 15 phút, băt đầu bò vào cầu Long Biên. Vì cầu bị hư hại nhiều sau những đợt ném bom, nên nó bò rất chậm. Tôi kiểng chân ngó ra ngoài.

Ôi, Hà-nội! Tôi cố mở to mắt nhìn cái thành phố thân yêu nơi tôi cất tiếng khóc chào đời, đã sống và lớn khôn với bao kỷ niệm vui, buồn! Hà-nội đó, trước mắt tôi đang mất dần hình ảnh. Tại sao con tầu không dừng lại ít phút để tôi có thể chiêm ngưỡng và nhớ lại những gì lâu ngày bỏ quên trong trí nhớ.

Con đường bờ sông với chiếc cột đồng hồ cũ kỹ vẫn còn đó, qua bao nhiêu phế hưng thời đại.

Xuôi xuống nữa là viện Bảo Tàng, cái kiến trúc đặc biệt như chiếc phi cơ đậu ở phi trường nếu từ cao nhìn xuống vì kiến trúc sư họa kiểu là cựu phi công người Pháp.

Những dãy phố cổ, cao thấp không đều mang sắc thái của Hà-nội. Nào phố Mới, phố hàng Mắm, phố hàng Thiếc, hàng Bạc, hàng Mành, nào ngõ Phất Lộc v.v… Tất cả những con phố đó thuộc về Hà-nội cổ xưa. Trước kia, ở miền Nam, có ai là người miền Bắc, nhớ Hà-nội, muốn tìm lại chút ít kỷ niệm qua hình ảnh phố phường, chỉ có thể tìm lại một phần nào tại Hội An, Đà Nẵng. Nay, giữa tôi và phố phường quen thuộc kia chỉ gang tấc, mà sao xa cách ngàn trùng?

Cả con đê kia nữa, thuở nhỏ tôi đã qua lại nhiều lần, đã từng chạy nhảy trên bãi cát vàng óng nổi lên thành vồng giữa mùa nước cạn, cũng như đã bao lần trong mùa nước lớn, tôi nhìn những lượn sóng đỏ ngầu phù sa vỗ vào chân đê như muốn phá vỡ, để tràn vào thành phố!

Và cây cầu Long Biên này nữa, mỗi nhịp đều nhắc nhở kỷ niệm. Từng thanh gỗ âm vang dưới từng bước chân. Mỗi lần xe chạy, mỗi lần các thanh gỗ lát cầu rung rung từng điệp khúc vội vã, rên siết mang nhiều hình ảnh của tàn phai!

Còn đây, bãi giữa, một mảnh phù sa bồi đắp qua mỗi mùa nước, những vườn dâu xanh biếc trải dài mút mắt. Dăm ba con đò qua lại, tiếng mái chèo nhịp nhàng khua động phá tan nỗi u tịch của không gian quạnh vắng.

Mỗi phút, con tầu đưa tôi ra xa Hà-nội! Con tầu chạy rầm rập qua những nhịp cầu. Vì không thò đầu ra ngoài được nên tôi không đoán biết đoàn tầu dài hay ngắn? Chỉ biết, tiếng “cành cạch” khua vang âm điệu lê thê. Nhà ga Gia Lâm đã hiện ra trước mắt. Con đê chạy vòng theo khúc uốn của sông Hồng tạo nên đường cong tuyệt mỹ. Con dốc đổ xuôi vào phố Gia Lâm, con phố duy nhất với những căn nhà cũ kỹ dẫn tới con đường vào phi trường dân sự. Gia Lâm đối với Hà-nội cũng như Thủ Thiêm đối với Sàigòn. Một bên, ánh sáng tượng trưng cho tiến bộ. Một bên, nếp sống mộc mạc hòa hợp với thiên nhiên.

Sau hơn 20 năm cách biệt, buổi sớm nay tôi gặp lại Hà-nội, Gia Lâm và cây câu Long Biên qua chiếc cửa sổ nhỏ giăng mắt cáo. Trong lòng dâng lên nỗi nghẹn ngào vì không bao giờ có thể ngờ, mình còn có hoàn cảnh gặp lại Hà-nội trong một tư thế khốn khổ như thế này! Hơi thở của tôi vẫn là hơi thở của Hà-nội, một Hà-nội sau hai mươi mấy năm chinh chiến vẫn giữ nguyên phong thái của một thành phố cổ kính. Chẳng biết bên trong Hà-nội ra sao, chứ bên ngoài tôi chưa thấy chút gì thay đổì, dù nhỏ nhặt qua mắt nhìn thực tế. Từ trong chiếc toa chở trâu bò, tôi được quân thù đánh giá ngang hàng với súc vật, nhưng trên bình diện đời sống, tôi vẫn là con người có đầy đủ trí năng và thẩm quyền để nhận xét về giá trị của Hà-nội, của thành phố đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi từ ngày đầu có mặt. Tôi gặp Hà-nội buổi sáng nay không phải để tiếc nuối hay hối hận mà chính để qua sự hiểu biết và trưởng thành, nhận định đúng mức cái còn và cái mất của mình đối với thành phố yêu dấu này. Tôi đã mất Hà-nội hôm nay, nhưng tôi còn Hà-nội trong kỷ niệm mãi mãi!

Vệt mây hồng chạy dài phía cuối trời hướng đông, báo hiệu một ngày khởi đầu, khi con tầu vừa ra khỏi ga Gia Lâm. Người trưởng Ga tay cầm lá cờ đỏ phất qua phất lại. Chỉ vài phút, hình ảnh đó đã chìm khuất. Tôi chỉ ghi nhận được nét mặt răn rúm, bộ râu mép lưa thưa, chiếc mũ kết bạc mầu!

– Ông ơi, có nhìn thấy gì lạ không?

– Nản bỏ cha, chẳng có gì lạ, ai muốn đọc khẩu hiệu, tôi nhường chỗ cho coi!

– Thành phố Hà-nội có to bằng Sàigòn không ông?

– Hà-nội làm sao to bằng Sàigòn được! Khi tầu qua Hà-nội, trời mới mờ sáng! Cả Hà-nội đang ngủ say trong chiến thắng! Tầu chạy ven thành phố mà, vì tôi sinh ra ở đây nên biết rõ đó thôi. Thế ông chưa coi phim “Một ngày của Hà-nội” sao?

– Coi rồi, nhưng tôi người miền Nam, chưa ra Bắc lần nào, làm sao có ý niệm chính xác về Hà-nội? Do đó, tôi muốn được nhìn một lần cho biết!

– Thôi, chịu khó chờ, khi nào được tha, thế nào cũng phải qua Hà-nội, lúc ấy có tự do mặc sức ngắm. Nào cảnh Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Hoàn Kiếm. Nào Ba Đình, “Lăng Bác”. Nào công viên Thống Nhất! Thiếu gì cảnh đẹp!

Anh bạn miền Nam ngước mắt nhìn.

– Ngày nào được tha, nếu cùng về, ông dẫn tôi đi thăm cảnh Hà-nội và nói cho nghe về lịch sử mỗi cảnh đẹp nhé!

mạnh hải flickr

Không trả lời, tôi ngó anh bạn miền Nam với niềm cảm ơn sâu xa, vì anh đã mến quê hương tôi qua Hà-nội trong tưởng tượng. Tôi ao ước, anh sẽ giữ mãi cảm tình đó trong lòng, đừng bao giờ bắt tôi phải nói về Hà-nội xưa và nay. Cùng là người Việt Nam, nhưng sống ở hai đầu Nam – Bắc, chưa một lần, anh được thấy Hà-nội; còn tôi vì hoàn cảnh đẩy đưa, đã được sống, được biết cả 3 miền Trung, Nam, Bắc.

Trong thời gian chia đôi đất nước theo hiệp định Genève, một phần miền Trung với kinh đô Huế thuộc về miền Nam. Địa đầu giới tuyến, dòng sông Bến Hải thuộc Quảng Trị, ngàn vạn năm sau vẫn còn đó và lịch sử không bao giờ xóa mờ được ranh giới Quốc, Cộng trong thời gian chinh chiến tàn bạo, gây nên bao nhiêu đổ vỡ điêu tàn, máu đổ thành sông, xương cao bằng núi, để giữ vững mầu cờ tượng trưng cho lý tưởng!

Ngày hôm nay, Việt Nam đã thống nhất trên phương diện địa lý, nhưng trong lòng mọi người dân miền Nam chắc gì đã thừa nhận sự cai trị bạo tàn của chế độ Cộng Sản?

Tiếng đường sắt kêu đều đều dưới sức nặng của những toa tầu chuyển động trên nó. Tiếng động rất đặc biệt, không làm khó chịu lỗ tai lại có tác động ru ngủ.

Lúc này mọi người đã tỉnh táo, tuy vừa trải qua một đêm cực kỳ nóng bức và chật chội. Khói thuốc lào, thưốc lá bay mù mịt cùng với tiếng nói thì thào.

Mặt trời chiếu từng làn ánh sáng rực rỡ xuống cảnh vật. Tôi cứ nghểnh cổ nhìn ra ngoài. Những cánh đồng sau vụ gặt mùa chiêm tháng 5, gốc rạ chưa cắt đâm tua tủa trên một chiều rộng xa thẳm, xen kẽ có những chỗ ngập nước trắng xóa. Cảnh vật này, tôi đã thấy nhiều lần từ lúc tuổi thơ, nhưng có đôi chút khác biệt. Bây giờ đôi chỗ, có hàng cây dưong cao ngòng mọc ngang dọc, chia cắt cánh đồng thành nhiều mảng. Một con đường đỏ như son, rộng rãi bằng phẳng, có thể di chuyển xe hơi dễ dàng, nhưng tôi chỉ nhìn thấy những chiếc xe đạp xuôi ngược, qua lại!

Con tầu bớt dần tốc lực rồi ngưng tại một địa điểm giữa khoảng không có nhà ga. Tôi nhìn qua bên kia đường. Một dãy nhà lá cũ kỹ, chạy dài theo mép đường, mái che bằng những miếng giấy dầy sơn hắc ín để tránh mưa nắng. Hàng cột xiêu vẹo. Nhiều tấm liếp chắn cửa rách nát, tố cáo sự nghèo nàn. Từ một trong những căn nhà đó, các tên bộ đội khiêng ra từng thúng bánh mì, đưa đến mỗi toa tầu. Chiếc khóa được mở. Hai tên bộ đội leo lên, đưa cho mỗi người 2 ổ bánh mì, một gói đường và gói ruốc cá nhỏ. Sau khi phân phối xong, hai tên đó nhảy xuống, tên khác leo lên với khẩu A.K. và chiếc ghế đẩu. Hắn đặt chiếc ghế ngay lối đi, rồi cho tay kéo cánh cửa vào sát chỗ hắn ngồi. Một hồi còi rúc, con tầu lại chuyển bánh. Có anh háu đói, cho ổ bánh mì vào miệng cắn. Tôi thấy anh ta cầm chặt ổ bánh trong tay lay lay, rồi giật mạnh.

– Đù mẹ, bánh gì mà dai như giẻ rách! Dứt muốn gẫy răng!

Tuy nói vậy, nhưng ổ bánh cũng biến vào bụng anh trong nháy mắt!

Tôi ngồi xuống, lúc này trong toa đã có chút gió vì cửa đã hé mở một khoảng. Tôi nghĩ, nếu cửa toa cứ đóng kín như hôm qua, thế nào cũng có người ngất xỉu!

Con tầu nuốt ậm ạch từng cây số đường sắt. Nó bò càng chậm khi băng qua chiếc cầu sắt bắc ngang sông Lô trước khi vào ga Việt Trì. Nó lừ lừ chạy thẳng. Tôi nhìn vào chiếc sân ga bé nhỏ, thấy những người dân quê gồng gánh, tay xách, nách mang như hệt cảnh tôi đã nhìn, cách đây mấy chục năm. Cái chính sách ‘‘Trước sau như một” của Cộng Sản, hình như áp dụng bao trùm tất cả đời sống của người dân miền Bắc, từ tinh thần đến vật chất. Do đó, cái gì mình đã thấy, còn phải tiếp tục thấy và biết mãi mãi! .. Cái nếp sống văn minh, tiến hóa, con người luôn luôn đòi hỏi, hầu như không được chấp nhận dưới vòm trời Cộng Sản!

Con tầu vận chuyển đếu nhịp. Từng dãy đồi núi phía xa chập chùng dưới ánh nắng chan hòa. Trời cao và trong, không một gợn mây. Cảnh trí đã thay đổi chứ không buồn nản như đồng bằng. Tỉnh lỵ Phú Thọ kia rồi, một thành phố được dựng lên bên bờ sông Hồng.

Tỉnh lỵ Phú Thọ, thuộc miền Trung Du, với những ngọn đồi trà bát ngát cùng những dãy đồi trồng cây sơn, nổi tiếng tốt nhất vùng Đông Nam Á. Nơi đây, rất nhiều phong cảnh đẹp, đã cung cấp cho các họa sĩ nhiều chất liệu để tạo nên những tác phẩm mỹ thuật. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, tôi đã gặp lại Phạm Duy và nhiều bạn khác tại nơi đây. Bỗng nhiên, tôi hồi tưởng đến khoảng thời gian xa xôi, khi tôi còn là một thanh niên mang trong người nhiều hoài vọng. Cái tỉnh lỵ đang ẩn hiện dưới mắt tôi kia, cách đây 30 năm, nó và tôi đã quen biết. Những dãy phố bị phá hủy do lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, ngổn ngang gạch đá, những quán cà-phê ca nhạc, kẻ ra, người vào tấp nập. Những chiếc “xà-cột”‘ đeo lủng lẳng bên vai, những khẩu súng cả dài lẫn ngắn hiện diện ở khắp nơi, nói lên không khí hào hùng của một dân tộc bất khuất, quyết đấu tranh để dành lại Tự Do, Độc Lập sau 80 năm nô lệ! Ôi, ngày đó xa rồi, xa thật rồi! Hôm nay tôi đứng trong chiếc toa chở súc vật, nghểnh cổ nhìn qua ô cửa nhỏ để nhớ lại “cái tôi” ngày trước, mới ngoài 20 tuổi, tràn đầy sức sống, và bây giờ, tôi tên tù chính trị đang bị dẫn giải đến nhà lao mới, chưa biết ở địa điểm nào, giữa vùng núi đồi miền Bắc?

Nơi nào tôi nhìn, cũng in đầy kỷ niệm thời kháng chiến. Cũng trên con đường tầu này, cách đây 30 năm, tôi đã bước trên nó. Từng bước chân, tôi dẫm lên đá, tạo nên âm thanh rào rạo. Có những đoạn đường sắt bị bóc đi, trông giống như con lộ nhỏ đang sửa sang. Tầu chạy qua Phú Thọ chừng hơn chục cây số bỗng dừng lại đột ngột. Mọi người nhốn nháo tưởng đã đến nơi. Tên bộ đội thò đầu nhìn ra, rồi ôm cây A.K nhảy xuống. Lợi dụng dịp này mấy người đứng ngoài len lén nhìn qua khoang cửa.

– Đến nơi rồi sao? – Một người ngồi trong, hỏi vọng ra.

– Không biết, nhung chắc chưa đâu, chỗ này đồng trống, chung quanh chẳng có nhà cửa gì cả.

– Đây là đâu? Ông nào người Bắc, làm ơn ra coi dùm!

– Tầu mới qua ga Phú Thọ mà! chắc hư cha nó rồi!

Vì tên bộ đội áp tải không có đó, anh em xô ra cửa, mọi người đều cố thò mặt ra ngoài để lấy chút gió và nhìn phong cảnh miền Bắc. Những tên bộ đội áp tải đứng tụ tập nói chuyện. Thỉnh thoảng lại cất tiếng cười hô hố. Chúng văng tục tùm lum. Lính tráng ở đâu cũng vậy! Nửa giờ, rồi một giờ qua đi, tầu vẫn chưa chạy. Vì không hiểu chuyện gì xảy ra, chúng tôi cứ thản nhiên hút thuốc, uống nước. Lũ trẻ con đi học về, nhìn thấy đoàn tầu đổ, chúng tò mò ngó vào mỗi toa. Bỗng một đứa trong bọn, kêu to:

– A, Việt gian, chúng mày ơi!

Sau câu dó, cả bọn hò reo rầm trời. Chúng lui ra xa, cúi xuống nhặt đá. Một trận mưa đá bay đến. Tiếng đá chọi vào vách toa kêu chan chát. Nếu chẳng may trúng ai, chắc cũng đau lắm, có thể gây chảy máu. Tụi trẻ con vừa ném đá vừa chửi rủa chúng tôi bằng những câu tục tỉu. Lũ bộ đội đứng ngay đấy, chỉ “suỵt, suỵt” lấy lệ, xong chúng lại quay đầu nói chuyện. Có lẽ đây là chính sách của nhà nước! Qua chuyện này, tôi thầm phục tụi Cộng Sản đã có công giáo dục trẻ con biết căm thù cả những gì mà chính chúng cũng không hiểu vì sao phải căm thù? Sự dừng tầu lại quãng đường này chắc cũng nằm trong ý đồ của Cộng Sản muốn làm nhục chúng tôi!

Một hổi còi rúc vang, con tầu lại bắt đầu chuyển bánh. Không hiểu sao, trưa nay tôi lại có thể ngủ được giấc dài, trong toa tầu bẩn thỉu và chật chội như thế này? Khi tỉnh dậy, ánh nắng đã tràn vào quá nửa toa. Tôi biết đã muộn. Nhìn đồng hồ, gần 4 giờ chiều. Con tầu bớt dần tốc lực, chạy chầm chậm. Tên bộ đội áp tải đứng dậy, thò đầu ra ngoài. Hắn cho chân đẩy chiếc ghế vô trong, xốc lại áo quần. Qua cử chỉ ấy, tôi đoán biết sắp đến nơi. Quả nhiên, con tầu dừng lại hẳn.

-Mấy anh chuẩn bị xuống!

mạnh hải flickr

Tất cả đã chuẩn bị sẵn, nên lúc này có vẻ thảnh thơi. Những chiếc túi đeo lưng được cầm sẵn trong tay, chờ đúng lúc để đưa lên vai. Tôi xem lại chiếc quai bị đứt. Tuy đã buộc lại, nhưng tôi nhận thấy không bảo đảm chút nào. Muốn chắc, phải có nhiều thì giờ khâu lại bằng sợi nylon. Không biết sao hơn, tôi đành phải vác nó trên vai. Tôi nhảy ra khỏi toa, quay nhìn vào nhà ga, chữ Yên Bái sơn đỏ chói nổi bật dưới nắng chiều. A, Yên Bái, cái tỉnh lỵ này đối với tôi cũng không xa lạ gì trong thời gian kháng chiến. Ở nơi này, tôi và Văn Cao đã sống với nhau một thời gian, đã uống nhiều bữa rượu giữa đống gạch ngói ngổn ngang. Chúng tôi đã đứng trên cây cầu nhìn dòng nước chảy mải miết sau mỗi cơn lũ. Ôi, thời gian, với đôi cánh lạnh lùng nó cứ bay hoài hoài không kể chi đến bao nỗi tàn phai của kiếp sống phù du! Cái tỉnh ly nhỏ bé nằm sau hàng cây thưa kia, tuy không xa tôi bao nhiêu, nhưng không cách nào tôi nhìn lại nó được. Những người dân ngó chúng tôi bằng con mắt thờ ơ, coi như không dính dáng gì. Cộng Sản thường rêu rao, Cách Mạng cần phải giữ chúng tôi để bảo vệ an ninh và cũng do lời yêu cầu của vợ con chúng tôi nữa. Nếu để chúng tôi tự do, nhân dân có thể nổi giận giết chết! A, Cộng Sản nhân đạo ghê! Vì mạng sống của kẻ thù không đội trời chung mà phải lo giữ gìn, nuôi ăn, kiếm chỗ cho ở, còn giáo dục để trở thành “những con người tốt cho Xã Hội Chủ Nghĩa”! Mỉa mai thay, qua kinh nghiệm sống hơn một năm dưới chế độ nhà tù Cộng Sản, chúng tôi đã quá ê chề tủi nhục! Cho tới hôm nay, đứng trên mảnh đất của Xã Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi vẫn luôn luôn là đối tượng chính trị của Cộng Sản, không dễ gì họ buông tha một cách dễ dàng! Mỗi giai đoạn chúng tôi trải qua, đều có ý nghĩa nhất định, nằm trong ý đồ của Cộng Sản. Từ Long Giao qua Suối Máu, từ Suối Máu ra Bắc, không phải là những cuộc du lịch, mà đích thực, nó là những mắt xích, những cửa ải đưa dần xuống đáy Đia Ngục bắt buộc phải kinh qua, ít ai được miễn trừ!

Đoàn người đã ra hết ngoài lộ đá. Tôi vác chiếc túi đeo lên vai, băng qua đường tầu lổn nhổn đá, rác rến quăng bừa bãi. Sự bẩn thỉu này làm tôi nhớ lại quang cảnh những sân ga, thuở nhỏ tôi đã thấy mỗi lần theo mẹ về quê. Âu đó là nét sống độc đáo của người dân miền Bắc, chỉ có khác, bây giờ không còn ai mặc váy, tất cả đàn bà đều mặc quần, dù già hay trẻ! Khi tôi ra tới đường, mọi người đã di chuyển được một quãng khá xa.

Sợ bị bỏ lại sau, tôi cố gắng chạy theo cho kịp, nhưng chiếc túi trên vai cứ lúc lắc tăng thêm sức nặng và làm đôi chân chậm bước. Tôi đành đi từ từ, muốn ra sao cũng được. Tên bộ đội áp tải như không cần để ý đến tôi. Tay nó cầm khẩu A.K. đã cũ đi theo sát đám đông. Trong đầu tôi thoáng nẩy ra ý nghĩ: trốn! Tôi nhìn quanh quất, không nơi nào có thể ẩn núp, không khuôn mặt nào có thiện cảm, để giúp đỡ tôi trong mưu toan. Tôi vội xóa bỏ ngay ý nghĩ đó, lại lầm lủi vác chiếc túi đi từng bước mệt mỏi trên con lộ buồn tênh!

Con lộ quá dài, tôi cảm thấy khó chiu đựng hơn nữa. Tôi muốn vứt ngay chiếc túi đó đi, vì mỗi bước chân là hao mòn, thiếu hụt. Quẳng mạnh chiếc túi xuống mặt đường, chiếc túi lăn ra xa. Một ý kiến nẩy ra trong đầu. Tôi đến gần nhặt lên, rồi dùng hết sức quăng thêm lần nữa. Chiếc túi lần này không lăn mà nằm chình ình ngay giữa lộ. Thấy làm cách này không được, tôi xốc lên, đeo vào vai. Tôi cho tay đỡ bên quai bị đứt với chủ ý làm nhẹ bớt, như vậy có lẽ được! Mồ hôi vẫn đầm đìa! Đưa tay gạt ngang mặt, tôi thấy mắt cay xè! Nhìn phía trước không thấy ai, kể cả tên bộ đội áp tải, tôi rảo bước! Sao con đường dài thế, chẳng biết còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn? Tôi không ngờ phải di chuyển xa như vậy, nhưng đã đến hoàn cảnh này, chẳng còn cách nào hơn là cố gắng. Hai chữ “CỐ GẮNG” binh chủng Dù thường dùng mỗi lần cần khuất phục khó khăn chiến trường. May mắn thay, tôi đã nhìn thấy dòng sông và bến đò. Đó là bến Ô Lâu, mấy chục năm trước, tôi đã từng qua lại. Chiếc phà máy chất đầy người sắp sửa tách bến.

Trông thấy tôi, tên bộ đội áp tải hét lớn:

– Mau “nên”, mau “nên”!

Tôi bước vội xuống con dốc. Khi vừa đăt được hai chân vào sàn phà, tôi té xỉu. Cũng nhờ anh em đông nên không ngã, tôi chỉ khuỵu gối xuống, đầu ngã vào túi đồ của ai chẳng biết!

– Ai bảo mang cho lắm, nghèo mà ham!

Nghe thấy tiếng mỉa mai, tôi hé mắt nhìn, nhưng hình như mọi người chẳng ai chú ý đến tôi. Chiếc phà nổ máy, đi ngược lên một quãng khá xa rồi mới băng ngang. Dòng nước cuốn mạnh đưa chiếc phà lạng dần xuống phía bến.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply