Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 17 May 2024

Phần 8

Sương mù tan dần. Tôi nhìn thấy nhiều bóng người qua lại ở căn nhà kế cận. Một người đi lại phía tôi.

– A, ông! Lên đây đêm qua hé!

– Ừ, ông ở lâu chưa? – Tôi hỏi Tính, người bạn mang cấp Thiếu Tá.

– Hơn một tháng rồi, tôi đi đợt đầu. Căn nhà các ông ở, làm chưa xong. Các anh em bên Trại B sang làm giúp đấy, trong đó có Phúc và Văn Quang!

– Trại B, gần đây không?

– Khoảng 3 cây.

– Họ có sang làm tiếp không?

– Chắc không! Tôi nghĩ, các ông sẽ tiếp tục! có ai đi lấy bắp ăn sáng chưa?

– Chưa!

– Ai làm Đội Trưởng?

– Chưa có ai!

– Phải bầu tạm, lo cho sáng nay đã. Lát nữa cán bộ đến, sẽ trình lại!

Tính nói xong, bỏ đi.

Lúc này đã có nhiều người dậy. Tôi mang ý kiến của Tính ra nói. Một anh, người dỏng cao, giơ tay nhận làm Đội Trưởng.

– Anh em mình mới tới, tất cả bao nhiêu người?

Sau một hồi đếm đi đếm lại, đúng 60. Anh Đội Trường “hờ” nhờ tôi hỏi Tính xem thủ tục lãnh phần ăn sáng ra sao? Đựng bằng gì, cho 60 phần ăn?

Tính nói:

– Cứ xuống khai với nhà bếp, có 60 anh em mới đến đêm qua, họ biết mà. Đồ dùng thì nhà bếp cho mượn.

Anh Đội Trưởng “hờ” đi xuống nhà bếp nằm dưới thấp. Sương mù đã tan, dãi mây trắng giăng ngang dẫy núi phía trước, đẹp như bức tranh. Ở dưới chân núi, rất nhiều mái lá nhấp nhô. Màu vàng óng của tre nứa nổi bật giữa mầu xanh thẫm của núi rừng tạo nên hòa sắc tuyệt diệu! Trại tù này khá lớn, được xây dựng giữa khu lòng chảo rộng. Xung quanh núi rừng bao che như vòng tay khổng lồ, ôm đàn con nhỏ. Nhiều con đường mòn chạy ngang dọc như vẽ vào khung cảnh nơi đây những nét tài hoa.

Tôi giương đôi mắt nhìn theo đàn chim rừng bay vút như cắt ngang vòm trời, Đội Trưởng “hờ” đã khệ nệ bưng thúng bắp nấu, còn bốc hơi ngùn ngụt.

– Anh nào khéo tay chia đi!

– Một “chén tầu thủy” đủ không?

-Thì coi, nếu thiếu, chia lại!

Thế là 60 cái chén nhựa được xếp quây tròn, quanh chiếc thúng. Một anh dùng cái chén được phát trên tầu Sông Hương, múc đầy, rồi dùng chiếc đũa gạt ngang miệng. Chia xong, còn dư một chút, anh lại chia đều.

Chén bắp nấu đầu tiên, trong trại tù mới, chúng tôi ăn ngon lành, vì từ hôm xuống tầu, chưa lần nào được ăn một bữa có đun nấu! Lương khô, mì gói, ăn nhiều nóng ruột. Sáng nay, dù món bắp nấu, chưa phải món ăn lý tưởng, nó cứng như đá, nhưng ít ra cũng nóng sốt, lạ miệng, nên ai nấy ăn hăm hở. Chỉ một loáng, mọi người đã tìm chỗ rửa chén.

Kể từ hôm nay, giữa tôi và miền Nam hoàn toàn cách biệt, chẳng biết ngày nào mới gặp lại để được đi dưới ánh nắng chói chang mà không nóng, được hưởng những làn gió mát mỗi chiều. Quanh năm không dùng áo ấm; đêm đêm, tấm đắp mỏng đủ tạo nên giấc mộng yên lành!…

Khi anh em ngôi đông đủ chờ cán bộ đến sinh hoạt, tôi nhìn thấy một anh, gò má sưng to như trái ổi, dòng máu khô chảy dài trên má. Vài người khác kêu đau ngực, đau tay, vì bị trúng đá đêm qua. Tôi cởi áo nhờ anh kế bên coi hộ xem lưng có sao không? Anh nói: chỉ hơi tím thôi!

– Đù mẹ, mỗi lần di chuyển, mỗi lần bị ném đá thế này thì bỏ cha!

– Họ giết mình còn được nữa là!…

Mọi người nín thinh sau hai câu đó!

Tính lai đến tìm tôi vì anh ở gần. Tôi hỏi:

– Sao, ở đây dễ chịu không? Họ điểm nghiệm có khó không? Họ thu gì?

– Tù ở đâu cũng vậy! Chính sách chung mà! Ông cẩn thận có thuốc men cất kỹ. Nó thu đó!

Nghe thấy thu thuốc, tôi sợ quá, ngỏ ý nhờ Tính giữ dùm vì anh đã ở trước, qua khỏi cuộc điểm nghiệm rồi. Tính nhận lời. Tôi tìm gói thuốc, đưa Tính.

– Thuốc gì đây ông? Có Chloroquine không?

Tôi giật mình, sợ Tính đoán được ý định của mình nên câu trả lời có vẻ như coi thường:

– Có ít viên đề phòng sốt rét. Ông cần, có thể lấy ít viên xài!

– Không, hỏi vậy thôi. Ở rừng núi, trước sau gì cũng ngã nước. Ông có nghe thấy câu ngạn ngữ “Nước Sơn La, ma Vạn Bú” rồi chứ?

– Có, nhưng đây là đâu?

– Sơn La! Thế lúc di chuyển ông không nhìn thấy núi non trùng trùng, điệp điệp à? Núi giăng như lưới, vì thế mới gọi: Sơn La! Nước độc ghê gớm! Người miền xuôi lên làm ăn, sớm muộn gì cũng ngã nước, rồi bỏ xác tại đây!

Nghe Tính nói, tôi rùng mình, nhìn thẳng phía trước. Những lớp núi như đan vào nhau, ngọn cao, ngọn thấp, nối tiếp như những lớp trường thành trùng điệp bằng dá, khó qua nổi!

– Thế chúng mình sẽ phải bỏ xác ở đây sao? – Tôi hỏi Tính.

– Cái đó chưa rõ ạ! Ông biết tin về Hùng và Lan không?

Nghe Tính nhắc đến Hùng và Lan, tôi sững mắt nhìn:

– Sao, có chuyện gì thế?

– Tôi đi cùng chuyến tầu với họ. Vì là chuyến đầu, nên tụi Cộng Sản cẩn thận lắm. Anh em chẳng những bị nhốt vào toa trâu bò, cánh cửa duy nhất lai bị khóa kín, do đó, thiếu không khí. Ông Hùng bị chết ngạt. Có lẽ, sau mấy đêm cực nhoc ở dưới hầm tầu thủy, nay lại bị nhốt kín trong toa trâu bò cả đêm. Nghe đâu, ông ta bị bệnh phổi nặng, không còn sức chịu đựng!

– Chuyến tầu chúng tôi đi, cửa có hé mở!

– Chính vì cái chết của Hùng và nhiều người khác ngất ngư, nên các chuyến sau, họ mới mở hé đó, ông!

– Thế còn trường hợp của Lan?

– Lan khác. Hắn tự tử!

– Sao biết?

– Ông biết “Đức đen” không?

– Có!

– Chính “Đức đen” đã nói với tôi về trường hợp của Lan. Lan đã chết dưới chân hắn. Cộng Sản đã bắt hắn phải ký vào tờ khai tử của Lan với tư cách nhân chứng!

– Đức có ở chung trại này không?

– Không, họ phân chia số người ra nhiều trại lắm. Cả mấy chục xe cùng khởi hành, khi đến nơi chỉ còn vài xe.

– Tụi tôi cũng vậy! Đức kể với ông hồi nào?

– Ở bến đò Ô Lâu, trước khi lên xe!

mạnh hải flickr

Tin Hùng và Lan mất làm tôi choáng váng. Hùng người cán bộ chiến tranh chính trị nhiệt tình trong công tác, bị anh em chụp mũ “tên Cộng Sản nằm vùng” đã chết một cách khổ nhục trong toa chở trâu bò, bỏ lại mẹ già, vợ và những đứa con yêu quý trong đó có 2 đứa cũng đi học tập cải tạo như bố. Còn Lan, đã giữ đúng lời nguyền “nếu tụi Cộng Sản đầy ải và làm nhục, tôi sẽ kết thúc đời sống bằng độc dược”. Số độc được, Lan đã chia cho tôi một nửa, tôi còn giữ và nhờ Tính giấu dùm để tránh sự tịch thu của Cộng Sản qua cuộc điểm nghiệm. Những viên thuốc mầu đo đỏ một ngày nào, sẽ đưa tôi ra khỏi cuộc đời, trong trường hợp tôi không còn khả năng chịu đựng ê chê, nhục nhã!

Chúng tôi bầy hết mọi thứ trên tấm nylon. Hai tên cán bộ xem xét từng thứ một.

– Anh nào có thuốc tây bỏ ra trình. Chúng tôi không tịch thu đâu, chỉ tập trung “nại” để các anh cùng dùng khi đau ốm! Trại mới được tổ chức theo yêu cầu, nên còn thiếu thốn, nhất ”nà” vấn đề thuốc men, do đó chúng tôi phải khắc phuc bằng cách “bình quân” số thuốc tây các anh có, để khi anh nào đau yếu chúng tôi sẽ phát “nại”. Cũng “nà no” cho các anh cả thôi! Cách Mạng chúng tôi, không dùng!

Sau câu nói, các vỉ thuốc được đưa ra, từ thuốc cấm đến trụ sinh. Tên cán bộ dồn tất cả vào chiếc túi nylon. Ngoài vấn đề thuốc, dao kéo và những đồ dùng bằng sắt cũng bị tịch thu. Nhờ có Tính, số thuốc của tôi còn nguyên vẹn!

Sau cuộc điểm nghiệm, chúng tôi được đi tắm giặt . Một tên bộ đội vũ trang đưa dẫn. Bây giờ tôi mới nhìn rõ con đường tối qua đã đi. Con đường khá rộng, tương đối bằng phẳng. Cây cầu gỗ bắc qua con suối nhỏ. Tôi ngó xuống, những viên đá đen nhánh, to, nhỏ, chồng chất lên nhau làm dòng nước chẩy len lách thành những chiếc vòi nhỏ róc rách, nhìn vui mắt. Tháng này chưa phải mùa lũ, nên các dòng suối nhỏ đều cạn. Từ chiếc cầu, tôi nhìn ra xa một con đường mòn đỏ quạch chạy ngoằn ngoèo trên triền đồi cao bằng tòa nhà 10 tầng đổ xuống. Có mấy bóng người đang trèo ở lưng chừng. Nhìn dáng điệu và mầu quần áo, tôi biết ngay, anh em đi lao động. Trên con dốc kia, leo lên, tụt xuống mỗi ngày với tre nứa trên vai, coi bộ khó khá được!

Ra tới lộ đá, tên bộ đội đưa chúng tôi đi xuôi xuống, chừng hơn một cây số tới bên hông quả núi bị vạt một góc để làm đường. Hắn cho lệnh dừng, rồi chỉ tay cho chúng tôi đi theo lối mòn ra suối.

Một dòng suối khá rộng, nước chẩy ào ạt tuy giữa mùa khô! Mọi người cởi nhanh quần áo dầm mình xuống! Tôi nằm dài trên tảng đá lớn chìm sâu, để dòng nước chảy qua người. Từ ngay đi tù, chưa lần nào tôi được tắm thoải mái như vậy. Nghe trong người sảng khoái. Từng lỗ chân lông như nở ra để đón nhận hơi mát. Tắm gội chán chê, tôi giặt giũ rồi lên bãi cỏ ngồi chờ.

– Đi về, mấy anh!

Tên bộ đội từ ngoài đường gọi. Tất cả vội vàng đi lên, tay người nào cũng nặng chĩu đống quần áo ướt. Chúng tôi về đến nhà, đã gần trưa, sắp tới giờ cơm.

Tính chờ tôi ở đầu nhà:

– Ông đi tắm suối hả?

– Tắm khoái thực ông ạ, nhưng vô ích, vì từ suối về nhà, mồ hôi lại ra đầm đìa, tắm cũng như không!

– Thôi, lần sau muốn tắm, chờ buổi tối, tôi đưa ông đi tắm máng nước phía dưới, gần nhà bếp cho khỏe.

– Họ cấm mà!

– Vì thế, mới tắm buổi tối! Ông này ngây thơ bỏ cha!

Tiếng kẻng báo giờ cơm đã đánh. Tính quay về.

Chúng tôi, những người mới nhập trại, nhưng chóng làm quen với hoàn cảnh. Việc phân công nhanh, vì ai cũng biết rõ nhiệm vụ của mình. Đội Trưởng “hờ’ buổi sáng nay được anh em bầu chính thức. 6 Tổ được thành hình. Tổ 1 chịu trách nhiệm lo cơm nước cho anh em hôm nay, mai Tổ 2 rồi cứ thế tuần tự đảm trách.

Bữa cơm trưa chỉ có cơm và canh bí đao nấu muối. Người nào mang được món mặn, bỏ ra ăn. Qua mấy ngay không có cơm, bữa nay được ăn, dù gạo đỏ, cũng quý hóa. Sau khi chia phần, mỗi người được hơn hai “chén tàu thủy”! Ai ăn khoẻ, chắc không đủ!

Buổi chiều chúng tôi dọn dẹp nhà cửa. Bao nhiêu tre nứa được gom lại một chỗ. Chắc chắn, chúng tôi sẻ ngủ đất đêm nay và nhiều đêm nữa. Khí hậu núi rừng Sơn La rất độc, ngủ đất sao chịu nổi? Trong lúc chúng tôi đang dọn dẹp, bên ngoài có tiếng tre nứa quăng ầm ầm. Tôi nhìn ra, mấy anh em, quần ao treillis ướt đẫm mồ hôi và đất đỏ bám đầy, đang đứng thở sau khi quăng được bó dang, nứa xuống đất. Có người cúi xuống cởi những sợi dây rừng cuốn tròn lại, cầm chặt trong tay. Một tên bộ đội lù lù đi đến.

– Sao, bó này của anh nào?

– Dạ, của tôi, cán bộ!

– Còn bó này?

– Dạ, của tôi!

– À, bó này chưa đạt tiêu chuẩn nhá? Các anh “nao” động bầy nhầy “nắm”. Mức khoán đề ra “nà” mỗi anh 12 cây dài 4 mét trở “nên”, đường kính 7 phân. Anh “nấy” cây này có được 3 mét không?

Người có bó dang, đứng im không nói gì. Tên bộ đội, nhìn anh ta bằng con mắt nghiêm khắc.

– Anh tên gì? Tổ mấy, Đội mấy?

– Dạ, tên Kha.

– Gì Kha mới được chứ? Trai này có mấy Kha đấy!

– Dạ, Trương Đình Kha, Tổ 2, Đội 28.

Tên bộ đội lạnh lùng:

– Ngày mai, anh “nấy” gấp đôi!

Sau khi điểm xong, tên bộ đội đi ngược lên trên đồi, nơi có những đội khác ở.

Buổi chiều núi rừng, trời chóng tối. Ban ngày và ban dêm là hai cảnh khác biệt. Nếu ban ngày núi rừng cho ta cái cảm giác hùng vĩ và khơi động trí mạo hiểm, thì ban đêm núi rừng lại làm ta e ngại. Mỗi bóng tối có thể là một cạm bẫy, một đe dọa! Tôi nhìn những mỏm núi nhọn cắt lên nền trời như chiếc lưỡi cưa khổng lồ bất động. Chỉ trong ít phút nữa thôi, cảnh vật sẽ bị xóa mờ rồi chìm đắm vào một vùng hoang vu đầy bí mật!

Chưa muốn ngủ, tôi ngồi trên tảng đá, chờ trăng lên. Những mái tranh ẩn hiện trước mắt tôi lúc này, không tăng thêm phần sinh động cho khung cảnh.

Hàng ngàn con người đang sống dưới những mái tranh ấy, họ đang suy nghĩ gì về hiện tại và tương lai? Nỗi đau khổ của con người nhiều hay ít cũng còn thuộc vào sự suy nghĩ cửa mỗi cá nhân về nó. Nếu nhìn bề ngoài, không ai có thể đoán nổi họ đang nghĩ gì, vì tất cả đều cố giấu thực chất của mình trước sự dò xét của mọi người. Cũng như tôi đã giấu Tính về ý đồ tự sát, qua gói thuốc gửi hắn cất dùm trước khi bị điểm nghiệm!

Cảnh vật sáng dần. Tuy chưa nhìn thấy, nhưng tôi biết trăng đã lên. Trời rất trong, càng nhìn càng thăm thẳm. Có vài tiếng kêu buồn bã của đàn chim ăn đêm từ xa vọng lại, xen kẽ tiếng “tắc kè” tặc lưỡi nghe khắc khoải. Cả một vùng rộng lớn quanh tôi như chìm lắng vào giấc ngủ quá sớm. Làn sương mù đã buông nhẹ, tôi cảm thấy lanh, sợ bị đau, đi vào nhà.

Anh em nhiều người còn thức, ngồi quây quần xung quanh ngọn nến, vừa ‘kéo pháo” vừa nói chuyện. Danh từ “kéo pháo” mới được sáng tạo để chỉ việc rít điếu cầy. Những câu chuyện thường nhắc lại “quá khứ oanh liệt” để tiếc, để thương.

– Thôi, xin các ông dẹp chuyện cũ lại, nói mãi nhục lắm!

Giọng nói khàn khàn, lè nhè như sắp đi vào giấc ngủ nhưng chắc chưa ngủ được vì tiếng nói chuyện.

– A, ông Khiêm, ông buồn ngủ cứ ngủ, chúng tôi nói chuyện cho vui mà!

mạnh hải flicr

– Không ai cấm các ông nói, nhưng nói chuyện khác! Cái thời oanh liệt đó, đã chết rồi! Quên đi!

– Quên thế chó nào được? Mình phải nhắc nhở, để nung nấu ý chí chứ? Ông không thích nghe, kệ ông!

Lời qua lại có vẻ gay go, Đội Trưởng sợ có chuyện không đẹp xẩy ra, vội nói:

-Thôi anh em, chuyện gì mai giải quyết, bây giờ ta đi ngủ, kẻng rồi!

Những điếu thuốc cuối rít lên, trước khi ngọn nến được thổi tắt. Căn nhà tối om như chiếc vực!

Sáng hôm sau thức dậy, sau khi ăn sáng xong, được lệnh đi học tập Nội Quy. Chúng tôi ra phía cổng, băng qua con lộ đến khu nhà có chiếc sân gạch rất rộng. Ở phía cưối sân, một căn nhà gỗ 5 gian khá khang trang. Có lẽ đây, căn nhà xưa kia giàu có, bị tich thâu làm trụ sở Hợp tác xã. Bên trong nhà chứa đầy thóc, bắp và bí đao. Ngay thềm nhà, kê chiếc bàn trên trải tấm vải đỏ. Chúng tôi được lệnh ngồi ngoài sân. Trời nắng chang chang. Mới sáng, ánh nắng đã đổ xuống sân gạch, hơi nắng hắt lên hừng hực. Chừng 15 phút sau, tên bộ đội mang quân hàm Đại úy từ ngoài cổng đi vô, bước lên thềm, môi nở nụ cười gây thiện cảm. Xung quanh lố nhố toàn “cối xanh”. Một tên, đặt chiếc cặp da trên mặt bàn, nói:

– Xin giới thiệu với các anh, Đại úy Trại Trưởng sẽ sinh hoạt với các anh trong ít phút về vấn đề Nội Quy.

Nói xong tự hắn vỗ tay. Chúng tôi vỗ tay theo. Những giọt mồ hôi bắt đầu thấm ướt lưng và ngực.

Tên Đại úy mở cặp, kéo ra xấp giấy. Hắn mở nắp túi áo lôi cặp kính trắng đeo lên mắt. Hắn trạc 50 tuổi. Khuôn mặt vuông vức, có vẻ cuồng tín. Hắn đọc từng điều một, trong bản nội quy gồm 12 điều. Hầu hết nội quy trong các Trại Tập Trung Cải Tạo đều giống nhau, nếu có khác, chỉ một, hai chi tiết do mỗi Trại Trưởng đề xuất. Có 3 điều, không bao giờ thay đổi:

– Cấm không được xưng hô bằng cấp bậc cũ, tất cả đều gọi nhau bằng anh, già cũng như trẻ!

– Cấm không được nói tiếng nước ngoài.

– Cấm không được tồn trữ các loại sách báo, tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy!

Mỗi điều, tên Đại Úy nói ra, chúng tôi đều cắm cúi ghi chép, vì phải học thuộc.

Đang nói thao thao, bỗng tên Đại úy ngừng lại chỉ tay ra ngoài.

– Kìa, các anh xem, mấy anh đang đi kia được hưởng “quy chế tự giác” sắp được thả rồi! Mấy anh đó, bị bắt từ 1965 trong chuyến nhảy ra miền Bắc. Các anh ấy “núc” này, đi “nại” tự do như người dân thường. Còn như tên Khang, tên “Nương” mấy thằng “ngụy ác ôn” Cách Mạng đã tha tội chết cho đi học tập cải tạo mà chúng còn trốn trại. Chỉ nay mai, bị bắt “nại” chúng nó sẽ bị cùm, cùm!

Tên Đại úy quắc mắt, nghiến răng, nếu có tên Khang và Lương ở đấy, chắc hắn phải ăn thịt!

Chúng tôi quay mặt nhìn ra ngoài, có hai anh đeo túi vải đang đi trên lộ. Tuy ở xa, tôi cũng thấy họ còn trẻ, tuy đã bị giam giữ trên 10 năm, giữa núi rừng Việt Bắc!

Buổi học tập Nội Quy đến gần trưa mới xong.

Chúng tôi ra về, quần áo ướt đẫm mồ hôi. Về đến nhà, ai nấy đều mở nắp bi-đông, hoặc lon gô, uống nước.

Bữa cơm trưa nay, không ai muốn ăn, dù có cơm, canh nóng hổi. Buổi chiều, chúng tôi phải khai báo lý lịch. Sáng hôm sau, lại nhận lệnh đi nghe nói chuyện, tại khu nhà dưới đồi. Một tên đeo quân hàm Trung úy, đứng trước một đám đông ngồi bệt dưới đất. Hắn cười, nói:

– May quá, đáng nhẽ hôm nay, báo tin buồn cho mấy anh về vấn đề hạ mức ăn, nhưng nhờ sự can thiệp tích cực của Trại trình lên Trên, Trên đã chấp thuận giữ nguyên mức ăn cũ 18 kí mỗi tháng, thay vì 15 kí!

Tiếng vỗ tay rào rao, hoan hỉ! Thế là buổi hội tan, ai nấy quay về nhiệm vụ của mình.

Những ngày kế tiếp, chúng tôi phải lao động, chẻ tre, vạt nứa, làm vách nhà và sạp nằm. Sáng, tổ trục mượn dao ở kho, chiều, hết giờ lao động mang trả. Mỗi tối đều có sinh hoạt để phê bình kiểm thảo công tác ở giữa sân, do tên quản giáo điều khiển. Chúng tôi đều phải nghe một luận điệu đại khái:

– Nói chung, đại bộ phận các anh đã ý thức được nhiệm vụ của mình, nhưng còn một số vẫn dựa dẫm,”nề mề”, không thích “nao động”! Ngày mai, Tổ 1 và 2 phải hoàn thành tấm vách trước mặt. Tổ 3, làm chân sạp. Tổ 4, đan phên, Tổ 5 và 6, chẻ tre, nứa, phục vụ cho các Tổ. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Đó, tối nào cũng từng ấy chữ, tên quản giáo nói như con vẹt. Còn chúng tôi, tai nọ bay qua tai kia, không chú ý tới nữa!

Trong vòng hơn 2 tuần lễ, chúng tôi thi hành xong công tác. Căn nhà đã có vách, sạp nằm. Mỗi tối thay vì nằm đất, chúng tôi nằm trên những tấm phên nứa, cách mặt đất khoảng 6 tấc. Nhưng chúng tôi chỉ được nằm trong vài đêm.

Đúng 16 ngày, kể từ hôm đến, chúng tôi được lệnh chuyển trại.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply