This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tên thật Nguyễn Sỹ Tế, sinh năm 1922 tại Nam Định. Ông nội đậu tiến sĩ dưới đời Thành Thái. Ông tứ đại ngoại đậu bảng nhãn thị trạng nguyên dưới đời Tự Đức. Học chữ Hán từ nhỏ. Sau theo học chữ Pháp: trường Thành Chung Nam Định, trường Bảo Hộ Hà Nội, trường Luật Hà Nội trước 1945 và sau 1950. Làm thơ chữ Hán hồi nhỏ. Làm thơ chữ Pháp hồi Trung học. Viết văn và dạy học từ 1945. Di cư vào Nam năm 1954. Ở Đại Học Sư Phạm Saigon trên mười năm nay.
Đã xuất bản tập truyện Chờ Sáng.
QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
Tạm chia hai loại: loại thuật sự thuần túy có lợi ích gián tiếp, loại có chủ đề triết học, văn chương, tâm lý, chính trị… Thích loại thứ hai hơn. Chọn chủ đề rồi thì đào sâu chủ đề đến cùng độ và tìm một kỹ thuật thích hợp để thực hiện chủ đề đó. Luôn luôn đổi thay chủ đề từ truyện này đến truyện kia. Và mỗi lần, đổi thay kỹ thuật: thuật sự, thư tín, đối thoại, độc thoại, phân tâm, phơi bày, ngụy trang, gợi ý, khẩn cầu…
Về Truyện Ngắn “DÒNG SÔNG XANH”
“Dòng Sông Xanh” của tôi thuộc loại có chủ đề chính trị. Chủ đề này có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau: giá của tự do và độc lập; vỡ mộng thiên đường; sự phản bội lý tưởng của chính những người mác-xít.
Kỹ thuật sử dụng biến câu chuyện thành một khúc ca bi hùng bằng văn xuôi theo cấu tạo nhạc: một nhập đề (dạo nhạc), nhiều điệp khúc láy đi láy lại, và một kết thúc mau lẹ (finale). Đối thoại làm sáng tỏ câu chuyện; khẩn cầu, gợi ý, ngụy trang, tả cảnh để khắc sâu thảm kịch nội tâm của các nhân vật.
Để ghi nhớ những thanh niên và sinh viên Budapest đã gục ngã cho tự do và độc lập của quê hương họ năm 1956.
Những tràng súng liên thanh lẻ tẻ. Một phát đại bác vang rền. Tiếng gạch rơi vụn. Đêm chập choạng ngã xuống Budapest. Những chiếc chiến xa với những cỗ súng dài lăn nát hè phố. Cây vắt ngang hè đại lộ bên nhưng mảnh tường. Xác ai chết co ro đường rầy, súng bên ngực không người nhặt. Gió gào đưa băng giá từ xa về. Trong những hẻm tối, sau những bức tường chướng ngại vật mong manh, một vài bóng người lom khom di chuyển, nặng nề trong những chiếc áo choàng đồ sộ. Những căn nhà không cửa sổ, và những cửa sổ không ánh đèn. Xa xa một vài đợt sáng vàng vọt, lẻ loi nơi những khu nhà cao. Những đám cháy ban ngày vẫn còn bập bùng rỡn cùng bóng tối và gió rét.
I
Trên con đường bờ sông, một vài căn nhà hiếm hoi xây lưng ra nước vừa xụp đổ sau một tiếng nổ vang trời. Bụi cát tung lên qua ánh lửa.
Một chiếc xe tuần tiễu không mui từ bóng tối vụt hiện, hãm rít phanh, đậu sóng kề chiếc chiến xa còn nhả khói. Từ chiếc xe mới đến nhảy xuống hai bóng người võ trang cùng mình. Họ từ từ tiến lại căn nhà đổ, súng và lưỡi lê chĩa ra phía trước. Những câu trao đổi cộc lốc:
– Lại một ổ loạn quân tan vỡ!
– Chúng ta có bao nhiêu?
– Trên sáu ngàn.
– Bọn chó săn đừng hòng thoát một mống!
Trời bao ta một màu tro xám. Sao như hoa tuyết lạnh ghê người. Những ánh tượng hỗn loạn nhảy múa. Đây quá khứ sầu bi qua những trang sử mỏng thơm mùa giấy mới. Đời chúng ta là kiếp ngựa trâu, bánh không có mà ăn, dạ không có mà mặc. Tiếng ai hò thê thảm dòng Volga, nhịp chèo rướm máu? Cách mạng tháng 10. Cờ đỏ hơn máu. Người trẩy đông như hội. Cộng hòa xã hội muôn năm! Thế giới đại chiến. Bom nổ long trời. Đạn xẻ không khí. Những trại quân. Hàng rào thép gai. Tuyết rơi đêm tối. Cánh đồng ngập xác chết. Những nhà ga ánh đèn le lói. Những chuyến tầu đầy ních người, khởi hành mỗi 15 phút.
II
Khói lửa đã bắt đầu bốc lên từ căn nhà đổ. Nhưng ở một góc tướng, nghe có tiếng người vừa cất lên yếu ớt. Tiếng khàn khàn:
– Nína, đồng chí ở đâu?
Tiếng trong hơn:
– Imre, đồng chí có sao không?
– Phía này.
– Không phía này.
– Ngực tôi tức thở.
– Chân tôi rướm máu.
Có tiếng chân người lê trên gạch cát:
– Đỡ tôi một tay. Cái túi rết và khẩu súng vướng xà nhà không gỡ ra được.
– Phía này.
– Không phía này.
– Lửa ở đàng nào?
– Sau lưng.
– Imre.
– Nína.
Rồi im lặng. Lửa cháy kinh thành, lửa chảy trong lòng dân chúng. Những trang lịch sử chắp nối. Thân ta là kiếp ngựa trâu, bánh không có mà ăn, dạ không có mà mặc. Dòng sông Danube u buồn vắng tiếng gái giặt hát vang bờ nước. Thế giới đại chiến. Muôn tiếng gào rách phổi. Tổ quốc giải phóng khỏi đế quốc. Cộng hòa mở. Người ta lũ lượt đi bầu, Vương quốc tái lập. Đồ phản bội, Thế giới đại chiến. Những ngày vinh quang. Muôn người hùng dũng như một. Đồng bào đã lầm đường theo lũ chó săn phát-xít, người ta bảo thế. Có một điều vương quốc mở rộng biên cương ba mặt…
III
Hai người lính từ bờ sông cao nhìn xuống. Một người dương súng ngắm hai bóng đen vừa từ căn nhà cháy chui ra tìm đường xuống sát bờ nước. Anh bạn đồng đội trông thấy ngăn lại:
– Theo rõi thì hơn. cố tìm sào huyệt.
– Có lẽ. Bằng cách nào?
– Chúng đi ven bờ nước, ta phía này bờ cao.
– Hảo ý.
– Nhưng chúng đâu rồi.
– Thận trọng kẻo chúng nhận ra.
– Đi về phía cầu?
– Quân ta canh giữ. Chúng chẳng dại gì.
– Tchérévik. Đồng chí đứng nguyên đây dán mắt vào mục tiêu. Tôi về báo cáo rồi trở lại ngay.
– Grégoriévitch! Đồng ý.
– Nhưng mà này! Bỏ súng dài và mũ sắt đi cho đỡ lộ.
Trời bao la một màu tro xám. Sao như hoa tuyết lạnh ghê người. Tiếng ai chạy bì bạch trên cỏ ướt? Đời học sinh kiên vui trong những bộ đồng phục đổi thay theo mùa. Những chiếc trống đồng. Những cuộc tuần hành thị uy. Những cuộc mít tinh vĩ đại. Rừng cờ và biểu ngữ. Cha mẹ chúng ta đâu? Còn trong xưởng máy xây dựng ngày mai tươi sáng. Thế giới đại chiến. Quân phát-xít tiến sâu vào thành trì cách mạng. Dậy lên! Hỡi những nô lệ trên hoàn cầu! Dậy lên!
IV
Dưới bờ sông hai bóng người nặng nhọc dìu nhau khi cúi, khi bò trên cát.
– Nína!
– Imre!
– Tôi thấm mệt.
– Tôi đói đã hai ngày.
– Cố lên.
– Thì vẫn cố.
– Đi lối nào?
– Ngược phía cầu.
– Đi đâu?
– Cứ lần bờ sông.
– Biết đường chưa?
– Chưa biết nhưng không hề gì.
– Làm sao bây giờ?
– Học địa dư còn nhớ lờ mờ. Ngược dòng sông sang Áo.
Dòng nước lặng lờ câm nín. Sóng nhấp nhô xóa nhòa những ánh sao. Dòng sông xanh phát nguyên từ giải Rừng Đen nơi Tây Âu xa vời, chảy qua Bavière có những cô gái giặt đẹp khỏe mạnh tiếng ca vang dài như muôn con nước bất tuyệt của con sông ngàn cũ, Đại chiến thế giới. Bọn người phát-xít sát hại đồng bào; đi ngược quyền lợi nhân dân nên thua trận lần lần, người ta bảo thế. Quân ngoại quốc đến giải phóng, hôn trẻ con vào má. Dân chúng đứng đàng xa. Tuần hành thị uy. Mít-tinh vĩ đại. Rừng cờ vàbiểu ngữ. Hoan hô nước bạn. Chúng tôi đem lại hòa bình ấm no, người ta bảo thế.
V
Dãy nhà thưa và thấp dần. Ngoại ô. Hai người lính dừng lại.
– Tchérévik!
– Grégoriévitch!
– Chúng nó dừng lại.
– Xem chúng nó làm gì.
– Đây là đâu?
– Sắp hết thành phố.
Một phút sau.
– Chúng nó ngồi xuống.
– Chắc là lấy hơi.
– Chúng muốn sang sông?
– Có là điên!
– Hai thằng lính?
– Không có lẽ. Hai thằng thường dân. Bộ điệu vụng dại lắm. Vả lại một đứa cao lớn một đứa còn thấp nhỏ.
Trời bao ta một mầu tro xám. Sao như hoa tuyết lạnh ghé người. Chim đêm giật mình bay từ bờ sông lên không trung. Tổng động viên, thêm nhiều bạn mới. Lên đường cứu nước, giải phóng nhân loại. Những đồn binh. Hàng rào thép gai. A! ha! Quân chó má phát xít dám đặt chân vào thành trì cách mạng. Chúng tiến sâu vào đất ta rồi. Không, muôn lần không, không thể thế được. Toàn dân vùng dậy. Bầy chó săn bị chặn đứng. Stalingrad! Stalingrad! Dậy lên! Hỡi những…
VI
Một đồn binh vừa vượt qua. Vài đốm lửa hắt hiu. Những khoảng thiên nhiên rộng bằng, đã giao nhau bốn bề, gói lại trong lòng sâu kinh thành sô lệch.
– Imre!
– Nina!
– Thoát một chặng đường.
– Một chặng đường.
– Tôi thấm mệt lắm rồi.
– Cố lên vì cách mạng.
– Hay là tìm vào một đồn binh ta.
– Chí nguy.
– Vào xóm làng.
– Vô ích nếu chưa xa.
Một lúc lâu.
– Đây là đâu?
– Xa kinh thành ngoài hai mươi cây số.
– Chân tôi rướm máu; đau và buốt.
– Cố lên vì tự do!
– Đi đâu bây giờ?
– Ngược dòng sông sang Áo.
Dỏng sông lầm lì chảy. Sóng nhấp nhô xóa nhòe những ánh sao. Những cuộc tuần hành thị uy thưa dần. Mít tinh kém phần đông đảo. Hòa bình và ấm no vẫn chỉ là viễn ảnh như bao giờ vậy. Mẹ và chị chúng ta tối ngày trong xưởng máy để xây dựng ngày mai tươi sáng, người ta bảo thế. Cha và anh chúng ta nguyện đi công tác những miền băng giá xa xôi để xây dựng ngày mai tươi sáng, người ta bảo thế.
VII
Trên bờ sông hai người lính dừng lại.
– Grégoriévitch!
– Tchérévik!
– Chúng nó làm gì?
– Vẫn dìu nhau đi.
– Thế là nghĩa làm sao?
– Chúng nó đi trốn.
– Không có sào huyệt?
– Có lẽ.
– Ta hạ sát quách?
– Chưa nên. Đã mất công thì theo đến chốn.
– Tôi bực mình lắm rồi.
– Nhẫn nại vì cách mạng! Đây là đâu?
– Ngoài ba mươi cây số cách kinh thành.
Trời bao la bất tận, sao như tuyết vẫn lạnh nghiêm. Đã qua rồi bão táp. Chiến thắng cuống say. Mít tinh vĩ đại. Đêm liên hoan ngào ngạt, Vẫn những ngày doanh trại. Đây là cuộc chiến đấu cuối cùng ôi huy hoàng: Bá Linh — Varsovie — Prague — Bắc Kinh — Bình Nhưỡng đang rơi vào tay ta. Cuộc tranh đấu cuối cùng!
VIII
Dưới bờ nước hai bóng người khi hợp, khi tan.
– Imre!
– Nina!
– Tôi kiệt sức lắm rồi.
– Cố lên vì cách mạng.
– Chân tôi gãy rồi.
– Để tôi vác vậy.
– Đây là đâu?
– Gần đến biên thùy.
– Bao giờ mới thoát khỏi cực hình?
– Chúng ta đi đã gần trọn đêm.
– Có chắc đường đi không.
– Chắc.
Một lúc sau.
– Đi đâu bây giờ?
– Ngược đòng sông sang Áo.
Dòng nước lặng lờ. Sóng dập dìu xóa nhòe những ánh sao. Cha anh chúng ta ở miền băng giá xa xôi không về. Những ngày dài vô tận. Mười năm hổ nhục. Thân chúng ta là kiếp ngựa trâu, bánh không có mà ăn, dạ không có mà quấn. Bạn bè ngày một vắng dần. Ngục tù chật ních. Dậy lên hỡi con yêu tổ quốc. Ngày vinh quang đã tới. Bóng cờ tam tài theo bọn người hải cảng tiến vào Ba Lê trong tiếng hát. Dậy lên! Chúng ta xây dựng ngày mai tươi sáng. Ngày mai chúng ta làm việc sáu giờ. Chúng ta có một căn nhà nhỏ đi về. Chúng ta dắt con cái đi chơi mỗi chiều thứ bẩy…
IX
Trên bờ sông hai người lặng lẽ bước đều.
– Tchérevik!
– Grégoriévitch!
– Chúng nó làm gì?
– Một đứa cõng một đứa.
– Thế là nghĩa làm sao?
– Chúng nó đi trốn.
– Không có sào huyệt?
– Tất nhiên rồi.
– Đây là đâu?
– Biên thùy trước mặt.
Một lúc sau.
– Hay là ta hạ sát?
– Mười lăm phút nữa cũng chưa muộn.
– Tôi bực lắm rồi.
– Nhẫn nại vì cách mạng!
Trời bao la nhạt màu tro xám. Sao thưa và đục dần, Thế giới dang ngã vào tay ta. Trận chiến cuối cùng. Những ngày trại binh. Bá Linh, Bình Nhưỡng. Tin sét đánh. Người đã chết rồi, cha già dân tộc. Dân chúng xôn xao. Cởi nới. Những ngày liên hoan. Nghị viện họp và họp. Tuần hành thị uy. Mít tinh vĩ đại thay đổi chủ trương: Hoan hô! Thay đổi đường lối. Hoan hô! Cách mạng nhất định thành công, người ta bảo thế. Đã hai ba lần tượng hình đổi thay. Vén màn bí mật. Chao ôi! Một kẻ bạo tàn. Không có lẽ!
X
Đêm đã hầu tàn. Cỏ cây xao động. Căn nhà đầu tiên tồi tàn, ven sông của một thị trấn nhỏ, xuất hiện. Hai bóng người dưới nước chỉ còn kịp nhào vào trong đó.
– Imre!
– Nina!
– Chúng ta sẽ làm việc sáu giờ một ngày…
– Sáu giờ một ngày…
– Chúng ta sẽ có một căn nhà nhỏ xinh xinh…
– Nhỏ xinh xinh…
– Có một bó hoa đặt bàn…
– Một bỏ hoa…
– Chúng ta sẽ dắt con cái đi chơi mỗi chiều thứ bảy.
– Đi chơi…
Hai bóng người trôn bờ sông sông vừa ập tới. Một loạt sủng nổ. Khói vừa tan thì Tchérévik và Grégoriévitch tiến lên góc nhà. Luồng sáng đầu tiên của ban mai non cũng vừa hắt qua cửa sổ. Hai xác người đẫm máu úp mặt vào nhau chết trên đống cỏ khô. Tchérévik đá tung vào xác chết, gỡ chúng ra:
– Một đứa con gái giả trai và một thằng ranh con giả ông lão.
Grégoriévitch hút điếu thuốc lá đầu tiên trong ngày, chậm rãi:
– Tuổi con chúng ta.
Tchérévik vẫn lúi húi lục soát:
– Sinh viên, con thợ thuyền, con nông dân.
Khói thuốc của Grégoriévitch ửng hồng vì tia nắng xiên ngang:
– Giai cấp chúng ta.
Tchérévik xoa tay:
– Liều lĩnh thật.
Grégoriévitch trầm ngâm:
– Thế là nghĩa thế nào… Cách mạng…
Tchérévik hút điếu thuốc do bạn vừa trao:
– Làm gì bây giờ?
– Nhưng đây là đâu?
– Thị trấn Esztergon, cách Budapest hơn 50 cây số trên biên thùy Hung- Tiệp.
Một tia sáng thoáng qua mắt Grégoriévitch lại tắt ngay:
– Tiệp?
– Tiệp!
Im lặng giây lâu, Grégoriévitch nói vu vơ không chủ từ:
– Ngược dòng sông sang Áo…
Rồi quay đi:
– Vứt xác xuống sông cho chúng trôi trở về Budapest!
Tên thật là Nguyễn Quốc Trụ (còn ký bút hiệu Sơ Dạ Hương, Tuấn Anh) sinh năm 1938 tại Bắc Việt, cựu học sinh Chu Văn An, học Đại Học Văn Khoa và bỏ dở, hiện làm công chức.
Đã xuất bản: Những Ngày Ở Saigon (tập truyện). Ngoài ra, viết những bài phê bình khảo luận đăng rải rác trên Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề, Văn Học…
Củng một số bạn hữu chủ trương Tập San Văn Chương.
Quan Niệm Về Truyện Ngắn
Đối với cá nhân yêu mến và theo đuổi nghiệp văn, truyện ngắn là giai đoạn chuẩn bị, sửa soạn trước khi sáng tác những truyện dài. Như thế, truyện ngắn là một bài toán nhỏ về bút pháp (exercice de style).
Muốn biết một nhà văn thành công hay không, cứ coi những truyện ngắn đầu tay của người đó. Tuy nhiên, cũng còn có những trường hợp ngoại lệ.
Truyện ngắn giống như những dấu hiệu thay đổi thời tiết trước khi sang mùa. Người đọc phải nhạy cắm một chút mới nhận ra truyện ngắn hay hoặc dở. Giống như những viên ô mai, ăn ít thì còn ngon.
Ba Xuyên, thời gian viếng thăm thành phố hồi bắt đầu đi làm, những năm tập sự đầu tiên của cuộc đời một gã chuyên viên kỹ thuật làm việc ngày hai buổi tại một ty trung ương cơ xưởng chuyên lo sửa chữa, tu bổ những máy móc và đồ dùng kỹ thuật bị hư hỏng từ các nơi gởi về, lâu lâu, tùy theo nhu cầu công vụ, được biệt phái đi các đài địa phương để giúp đỡ mấy người trưởng đài (thường chỉ là những hiệu thính viên, chỉ biết sử dụng nhưng không biết và cũng không có phận sự phải lo sửa chữa máy móc) về một vài trở ngại kỹ thuật cần phải điều chỉnh cấp tốc tại chỗ để tránh những chậm trễ có thể tạo nên những phiền nhiễu, những khiển trách, những trở ngại có tính cách chuyên môn đại loại như là máy nhận tin bỗng nhiên yếu, rè, nhiều nhiễu âm, khi nghe được khi không, hoặc là máy phát tin cháy, phát nổ, ngừng phát tín hiệu… Tất cả những rắc rối tương tự như vậy thường chỉ mất một hai ngày làm, do đó thời gian trù tính cho mỗi chuyến đi thường trong khoảng trên dưới mười ngày, nhiều lắm là tới nửa tháng, trừ những ngày vừa mới tới, bắt tay ngay vào công việc tìm kiếm sửa chữa, những ngày còn lại của chuyến đi được dùng vào công chuyện viếng thăm thành phố một thành phố không có gì đáng nhớ (khi cố gắng muốn nhớ lại) có một người trưởng đài khổ người loắt choắt nhưng tánh tình thật niềm nở, lịch sự, đã lập gia đình, trong những lúc ăn cơm vừa xong hay những khi rảnh rang công chuyện, người chồng (người trưởng đài) ưa kể chuyện cho khách nghe về quãng đời đã qua của ông (những năm còn trẻ, những năm phiêu lưu giang hồ, những mơ ước, những tham vọng hồi đó, những năm phục vụ trong quân đội viễn chinh Pháp, lý do giải ngũ, trường hợp lấy vợ, những mơ ước còn sót lại…) hỏi khách tốt nghiệp đã lâu chưa, hồi còn ở ngoài Bắc quê hương ở vùng nào, khi đã gần hết câu chuyện để nói hay để hỏi, như sực nhớ tới hiện tại, ông khuyên khách đừng nên thuê phòng ngủ tốn tiền, đừng nên đi chơi quá xa vượt ra ngoài phạm vi châu thành, cười cười nói đùa khi thấy người vợ ít nói cùng lũ con lui vào trong nhà trong, ở đây chỉ có những cô Mai Liên, phải nghỉ một lúc lâu khách mới hiểu chủ nhà định nói tới những cô gái nước da ngăm đen ở vùng này.
Hết hai năm tập sự, được đổi sang làm tại một đài chuyên duy trì những đường dây liên lạc viễn ký, viễn ảnh và vô tuyến điện thoại giữa Sàigòn và một số thủ đô các nước, không còn dịp ra khỏi thành phố, quên dần những chuyến đi xa, những cuộc phiêu lưu vặt có hạn kỳ, cuối cùng chỉ còn nhớ mơ hồ về những thành phố đã một hai lần ghé qua, một vài ngày ở lại đó, những nỗi nhớ mơ hồ về một lần đầu tiên trong đời, về một bài học đầu tiên (những tiếp xúc đụng chạm và sau cùng là sự khám phá chiếm đoạt thân thể một người khác phái, ở đâu, bao giờ, trong một trường hợp như thế nào, những tò mò thắc mắc, những tưởng tượng lần đầu tiên đã có một giải đáp thỏa đáng) hay những chi tiết vụn vặt không liên quan, không ăn nhập vào đâu cả về một hình thể, địa thế vị trí của mỗi thành phố, (hình như) cách kiến trúc phảng phất giống nhau, khu trung tâm thành phố thường gồm có một tòa hành chính, một chợ nhỏ được vây bọc bởi một vài khách sạn chệt, một vài quán nước, tiệm cà phê, hủ tiếu, quán bi da, banh bàn, những buổi sáng thứ hai tất cả mọi người đều phải đứng dậy đi chào cờ theo lệnh của những chiếc loa phóng thanh được đặt ở những nơi công cộng (thành phố lúc đó có một bộ mặt trang nghiêm tức cười, những thực khách đang dùng điểm tâm vội vã đứng dậy miệng vẫn còn mẩu bánh mì chưa nuốt kịp, dáng lúng túng của mấy bà già nghễnh ngãng chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra) tiếng hát vọng cổ khoảng chập tối hay trong khi chập chờn ngủ được âm thanh của một cây đàn tây ban cầm phụ họa, từ một đám đông tụ tập trong một quán cà phê trước mặt khách sạn theo gió lọt vào căn phòng ngủ nghe như những thở than tình tự của một linh hồn tỉnh nhỏ, như một lời từ biệt chưa kịp nói của cô gái lúc nãy vội vàng rời khỏi căn phòng, chân đi đất không gây nên một tiếng động, nàng đã lén lút tới, im lặng chỉ cho biết hơi ấm nồng nàn của tỉnh lỵ rồi sau đó lén lút đi khỏi giống như con mèo đen không biết tới nằm trên thành cửa số từ lúc nào, mắt xanh biếc trong đêm tối, tiếng nước nhỏ từng giọt đều đặn ở phòng tắm kế bên hình như một người khách đã vô ý không vặn chặt vòi nước, tiếng còi của những chiếc xe hàng đánh thức giấc ngủ khoảng ban mai, đánh thức luôn cả mùi ẩm mốc hình như toát ra từ bốn căn tường loang lỗ, từ chiếc nệm giường mục nát, vẻ tiều tụy của căn phòng thường gây nên một nỗi trắc ẩn vô duyên cớ, một cảm giác bực bội, buồn bã không đâu…
Trở lại Ba Xuyên khi được tin đứa em trai chết. Tử trận.
Gia đình gồm bốn anh chị em tất cả, một chị, ba anh em trai. Bố làm nghề dạy học. Ông là hiệu trưởng trường tiểu học trong những năm Pháp thuộc và hồi đầu 1945. Nơi sinh của bốn anh em đều khác nhau bởi vi nghề nghiệp của bố không cố định ở một nơi nào. Đứa em trai tử trận sinh tại Gia Khánh, Ninh Bình. Nơi tử trận: một quãng sông nào đó thuộc địa phận xã Trường Khánh, tỉnh Ba Xuyên. Trong báo cáo một quân nhân (CLQ/BP) tử trận (chết) do bộ chỉ huy tiểu đoàn… ngày 23 tháng 11 ghi rõ:
Họ và tên:
Cấp bậc: Chuẩn úy. (CLQ)
Số quân:
Chức vụ: Trung đội trưởng
Ngày và nơi sanh: Gia Khánh (Ninh Bình) năm 1912.
Tên cha: (chết)
Tên mẹ:
Gia cảnh: Độc thân
Ngày chết: 23 tháng 11 năm 1967.
Trường hợp chết: Trong cuộc hành quân… chạm súng với địch tại xã Trường Khánh, quận Long Phú, tỉnh Ba Xuyên, bị trúng đạn, tử thương lúc 10 giờ.
Ngày và nơi mai táng: Được thân nhân xin thi hài về mai táng tại nghĩa trang Quân Đội, Saigon ngày 23.11.1967.
Địa chỉ cấp báo thân nhân:
KBC, ngày 23-11-1967
Đại úy…
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn…
(Gia Khánh, Trường Khánh, có thể có sự tình cờ giữa hai tên gọi, hai địa danh, một ở miền Bắc, một ở miền Nam, có thể có một mối liên lạc không thể nào giải thích nổi giữa hai địa danh, hai ký hiệu gần như vô nghĩa nhưng lại liên quan đến định mệnh của con người? Có thể như vậy không, hai tên gọi như hai dấu báo của một định mệnh?…)
Bố mất tích đúng ngày ba mươi tết năm 1945, năm bắt đầu của tất cả những biến động. Khi đó ông đang làm hiệu trưởng trường tiểu học Việt Trì, một quận lỵ ở bên kia ngã ba Hạc thuộc sông Hồng Hà, bên này sông là nơi ông sinh ra, lớn lên, học tiểu học trường làng rồi sang học trung học bên kia bờ sông, sau đó thi vô trường sư phạm, tốt nghiệp được bổ làm giáo học, dạy học ở nhiều nơi, nơi sau cùng là Việt Trì. Những mẩu chuyện dính dáng đến sự mất tích của bố hồi đó thật nhiều. Thoạt đầu ông bị nhóm người chiếm giữ quận lỵ hồi đó bắt giam vì không chịu theo phe chúng. Người chỉ huy cuộc bắt bớ này lại là một học trò cũ của ông. Cuối cùng nhóm người chiếm giữ quận lỵ không chống cự nổi với lực lượng tiến đánh của Việt Minh và bỏ chạy. Bố mất tích từ ngày đó. Sau này người thì nói ông được giải thoát và theo bạn hữu qua Tầu theo kháng chiến chống Pháp, người thì nói bị chính người học trò của ông thủ tiêu bằng cách cột đá vào người rồi đem thả xuống sông. Bốn anh em và một người mẹ bắt đầu sống chuỗi ngày khổ cực kể từ ngày bố mất tích đó. Ba mươi tết năm 1945. Năm thứ nhất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Một ngày nào tự nhiên anh nhớ hay có cảm tưởng sẽ nhớ lại, hiểu được tất cả những chuyện đó và anh sẽ viết, sẽ phải bỏ vào đống gạch ngói vụn nát đầy rong rêu có dại của những năm tháng già nua cũ kỹ đã gần trở nên vô ích mà chúng ta thường quen gọi là ký ức, là kỷ niệm sự quyết tâm không để cho những thú vui vật chất có tính cách nhất thời, những thói hư, tật xấu chi phối (những cờ bạc, rượu chè, chơi bời lêu lỏng, túm năm tụm ba nơi quán nước, nhà hàng, những cơn buồn ngủ và sự lười biếng trốn tránh công việc, trốn tránh sự khổ hạnh cần thiết bằng cách tìm đọc những cuốn sách vớ vẩn, những cuốn truyện trinh thám, kiếm hiệp, gián điệp, vừa đọc vừa tự nhủ thầm, tự an ủi giây phút quan trọng đó chưa tới, cần phải chờ đợi nữa, còn phải sửa soạn trong khi chờ đợi, tương tự như đám người trẻ tuổi, trong khi chờ đợi hạnh phúc đã phải giết thời giờ bằng những đam mê vô ích); sự quyết tâm, sự cố gắng, sự nhẫn nhục chịu đựng, thời giờ và trí tưởng tượng. Bởi vì đối với hạng người như anh, những cá nhân quá coi trọng chữ viết cùng là lời nói, quá coi trọng bởi vì không thể hiểu được tại sao, nguyên nhân huyền bí hay tầm thường giản dị nào đã khiến cho chữ viết mang ý nghĩa này thay vì ý nghĩa khác, quá coi trọng đến nỗi đôi khi bàng hoàng sợ hãi khi phải nghĩ tới, phải đối diện với đám chữ viết (với cô đơn và sự yên lặng); đôi lúc có ý nghĩ kỳ cục biết đâu trong đám chữ viết nặng nề tưởng như vô tri vô giác đó lại chẳng ẩn náu những xôn xao, những ồn ào huyên náo, những âm thanh kỳ dị mà thính giác trong những điều kiện bình thường không thể nghe thấy và hiểu được, quá coi trọng bởi vì coi đó (chữ viết) như là một khí giới độc nhất để chống trả với sức mạnh khủng khiếp của thời gian, của lãng quên và của tuyệt vọng. Khi đó, khi anh định viết những gì anh đã sống, đã trải qua hay những gì tuy anh không thực sự chứng kiến nhưng đã được nghe kể lại (hoặc được nghe kể lại một lần nữa qua sự trung gian của một người thứ ba, hay đã đọc được) nhưng vì giọng nói, nét mặt cùng là dáng điệu của những người kể chuyện, vì sự chân thành cảm động của chính anh khi được nghe kể, khi đọc được; những duyên cớ đó đã khiến cho anh có ý nghĩ chính anh đã sống, đã trải qua những giờ phút khổ sở, nhục nhã, cay đắng, (chiến tranh) đã may mắn sống sót, đã được hưởng một chút hạnh phúc (hay một cái gì từa tựa như vậy) đã hy vọng, đã thất vọng sau khi hy vọng, đã hy vọng vì còn có thể thất vọng, đã tin tưởng, đã mơ mộng (tuổi trẻ) y như vậy. Khi anh định viết, chắc là lúc đó anh đã đứng tuổi, đã lập gia đình, ngoài mẹ già mà nhiều lúc anh phải thầm cảm ơn Trời Phật đã cho anh được dịp phụng dưỡng trong những ngày gần đất xa trời, trong khi bốn người con của người, trong khi bốn anh chị em của anh, đứa chết (tử trận), đứa còn ở lại ngoài Bắc, không biết còn sống hay đã chết, ngoài mẹ già, ngoài người đàn bà già nua, tật bệnh và khốn khổ vì những bất hạnh, suốt đời chỉ được hưởng độ một vài năm sung sướng khi người chồng (khi người cha của anh) chưa mất tích vì tai họa đảng phái hồi đầu cách mạng (hồi bắt đầu những thảm họa), sau đó, sau những ngày tháng chạy ngược chạy xuôi, lặn lội lên vùng thượng du Bắc Việt, đến tận biên giới, hay xuống tận vùng biển, vùng mỏ vì vẫn còn nhen nhúm trong lòng một đôi chút hy vọng người chồng chỉ mất tích nhưng chưa chết, vẫn còn sống và sẽ trở về, những đốm lửa hy vọng chập chờn khi nghe người này người nọ nói (hoặc nói lại sau khi đã nghe một người khác nữa nói) đã gặp một người đúng như thế hoặc tương tự như thế ở đây, ở đó, ở trong hàng ngũ bè bạn hay trong tay những kẻ đã bắt giữ giam cầm rồi bắt buộc phải theo họ, sau khi đã hy vọng đã theo đuổi đã trèo đèo lặn suối vì những tin đồn lành, sau khi đã khổ sở, đã tuyệt vọng vì những tin đồn dữ về người chồng mất tích đúng vào ngày ba mươi tết Nguyên đán năm 1945, 1946 gì đó, những tin đồn dữ đại loại như là ông giáo hiệu trường Việt Trì chồng bà đó đã chết (bị bắn vào một buổi sáng tinh sương, bọn người bắt ông đã bắn ông cùng một vài người khác ở bãi bỏ ngay sân trường tiểu học của quận lỵ, nơi ông dạy học và làm hiệu trưởng; người chỉ huy cuộc xử bắn đó là một học trò cũ của ông trong những năm còn đi học, ông đã kiếm tiền thêm để sắm sửa dụng cụ đồ đạc lặt vặt bằng cách kèm trẻ tư gia, chính một trong những đứa học trò cũ đó đã giết ông (đã sai người giết ông) bởi vì một đố kỵ, một ghen ghét nào đó; bị trói chặt bỏ xuống sông kèm theo một khối đá sau khi đã bị lột hết quần áo, tiền bạc. Mẹ anh sau này kể lại cho anh nghe chính bà đã trông thấy một trong những người đã bắt cha anh mặc bộ đồ của ông) sau đó, sau khi đã hứng chịu một tai họa ghê gớm như vậy, sau khi cố gắng bớt nghĩ đến những ngày tháng thê thảm đó, tự nhủ bây giờ phải lo lắng cho mấy đứa nhỏ, thay vì chạy ngược chạy xuôi để tìm kiếm tung tích bóng dáng người chồng mất tích chắc đã chết trong những ngày đầu của tai họa, nhưng bây giờ phải chạy xuôi chạy ngược để tìm kế sinh nhai, để kiếm tiền nuôi sống chính mình và bốn đứa trẻ, một gái, ba trai, đứa lớn nhất độ mười một mười hai tuổi, đứa nhỏ nhất độ sáu bảy, trong khi chính mình cũng chưa tới ba mươi, vừa nuôi nấng dậy dỗ, yêu thương con, vừa tìm cơ hội để được con yêu thương, cố gắng chống trả không phải với sự già yếu, tật bệnh nhưng mà là sự trẻ trung, cố gắng chống trả lại không phải sự xấu mà là điều tốt (tuổi trẻ, đời sống, những thú vui) cố gắng chống trả sự cám dỗ của đời sống, của những sự đẹp ở ngoài bốn đứa con, ở ngoài bổn phận một góa phụ còn trẻ, còn nhan sắc, cố gắng đừng bước thêm một bước nữa, cố gắng nuôi lũ con trai ăn học thành tài, hy vọng trong những ngày, trong quãng đời về già, trong khoảng trời chiều, bóng xế sẽ có con, có dâu, có cháu nội, cháu ngoại, nhưng định mệnh tàn khốc vẫn chưa chịu ngừng nghỉ, vẫn để ý theo dõi người đàn bà kiên nhẫn, yếu đuối nhưng dẻo dai chịu đựng, người đàn bà ngày còn trẻ đã không tiếc thương tuổi trẻ của mình (đã không tha thứ hay chiều chuộng tuổi trẻ, nhan sắc của mình), đã phải khóc người chồng mất tích khi chưa tới tuổi ba mươi (khi chưa bước qua khỏi quãng đời khó khăn nhất của một người đàn bà), sau đó đã phải khóc người đã sinh thành ra mình (bị đấu tố vì tội địa chủ, bị gán ghép cho những tội ác nhục nhã khác nữa đến nỗi ông già lẩn thẩn, lẫn lộn vì đã gần kề miệng lỗ đã trở nên sáng suốt, đã tìm ra được cách thức hữu hiệu nhất để phản kháng, để chống cự và để rửa sạch những tội ác mà ông suốt đời chưa hề biết tới, những tội ác chồng chất, nhiều đến nỗi dù cho ông sống thêm một đời nữa, ông cũng không có đủ thì giờ để phạm tội, ông già nhân lúc đám đông độc ác lơ đễnh đã bứt được dây trói và nhảy xuống sông tự tử), sau khi đã khóc vì phải bỏ lại miền Bắc hai trong bốn đứa con, đứa con gái lớn vừa có thể nhờ cậy được đã bị lôi cuốn vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đã không còn là con của một người nhưng là con của nhân dân, đã trở nên một dân công, một cán bộ, một nữ chiến sĩ (người chị của anh sau này lấy chồng, một cán bộ thuộc thành phần cốt cán, sinh hạ được hai hay ba đứa con theo như tin của một bà cô của anh hiện đang ở Pháp. Thỉnh thoảng bà cô của anh vẫn nhận thư từ ở phía bên kia bức màn tre, thường là thư xin tiền, xin vật dụng, quần áo, xe đạp, nhất là xe đạp) đứa con trai út ở nhà quê với bà nội, bị nhóm người du kích trong xã đang đêm lội qua sông trở về bắt đứa nhỏ mang đi sau đó trao lại cho người bác của anh, viện cớ đứa nhỏ đã khá lớn, để ở trong làng cổ thì bị Tây bắt hoặc bị chúng dụ dỗ, lợi dụng, hay bị tra tấn bắt chỉ chỗ ẩn núp của anh em du kích (đứa em của anh lúc đó bị đau mắt hột khá nặng, mẹ anh sau này mỗi khi nhớ tới, vẫn lo lắng sợ hãi không hiểu ở ngoài đó thuốc thang ra sao) sau khi đã khóc vì không thể mang tất cả bốn đứa con cùng di cư vào Nam, sau khi đã vất vả, đã làm đủ các nghề kể từ nghề bán bánh cuốn, bán bún riêu, cháo gà, cháo vịt cho đến nghề đi làm chân giữ em cho một gia đình quen thuộc, để kiếm tiền nuôi hai đứa con còn lại (anh và người em trai của anh) đến khi cả hai đã lớn, đã kiếm được tiền nuôi thân, nuôi mẹ, đến lúc đó người đàn bà khốn khổ tưởng đã hết khốn khổ lại phải khóc khi nghe tin đứa con trai ngoan nhất, hiếu thảo nhất, tử trận, (em của anh tử trận sau khi ra trường Thủ Đức được đúng bảy tháng, chưa kịp lãnh lương theo đúng cấp bậc chuẩn úy, chưa có vợ, có con) ngoài người mẹ già khốn khổ vì những bất hạnh chồng chất đó; (khi anh định viết) chắc là anh đã lập gia đình (đã yêu thương một người đàn bà) đã có con (đã có hai con, một trai, một gái) và đúng như một nhận xét (một kinh nghiệm) của một nhà văn mà anh đã đọc một phần lớn tác phẩm của ông ta (đã học và đã kính phục, ngưỡng mộ, W. Faulkner) bởi vì anh cần tiền trang trải nợ nần, hay để mua cho vợ anh một chiếc áo mới, để mua giày dép, quần áo cho con anh nhân dịp năm hết Tết đến, từ những nhu cầu tầm thường đó và anh sẽ viết. Tất cả những nhu cầu nhỏ mọn, chẳng cần thiết gì cho lắm đó đã xui khiến anh viết, đã cho anh thêm một chút can đảm để bỏ một cuộc vui, một cuộc họp mặt cùng với một hai người bạn thân của anh nơi nhà hàng, quán nước, (cái không khí túm năm tụm ba quen thuộc đó vẫn toát ra một vẻ quyến rũ) đã cho thêm anh một chút sức mạnh để chống cự lại những giấc ngủ lết bết, mệt nhọc, chống cự lại sự lười biếng làm tê liệt tất cả mọi dự định của anh: Anh sẽ viết về những gì thật nghiêm trang, đứng đắn (những cái gì từa tựa như là chiến tranh, sự sống, cái chết) chỉ vì những nguyên nhân thật tầm thường giản dị và đem tập bản thảo đó đi gạ bán cho một nhà xuất bản.
Lưng khom dáng thú, bụng phơi hình người Viên Linh
Tiệm ăn ở trên một gò đất cao cây cối xum xuê sát bên con đường chạy xuống tỉnh. Trời nắng, trong suốt và hơi lạnh. Những bụi tre bao quanh tiệm ăn sau những ngày giá rét trở thành màu đỏ úa, cành lá xoăn xeo. Tiệm là một căn nhà ba gian lợp lá, phía trước có một giàn dưa tây đã khô chết. Ở ngay trên hiên, phía đầu nhà là một cái giếng thành xi măng cao có trục quay kéo nước. Từ ngoài đi vào, gian đầu là chỗ mọi người ăn uống, gian giữa, chỗ ở của vợ chồng chủ tiệm, gian cuối, chỗ chứa gái điếm cửa đóng thường xuyên. Máy ra-dô mở lớn. Tiếng cười nói ồn ào. Khách đa số là người trong quận. Chủ tiệm đang đắc ý kể chuyện. Hồi hôm một bọn lính biết con Hoàng Mai ngủ ở đây, gõ cửa nhiều lượt, một mực đòi xét sổ gia đình. Lúc đầu, chủ tiệm còn chối, sau hắn liều, cười nhạt nói Hoàng Mai đang ngủ với một trung uý biệt động, muốn vô cứ vô. Bọn lính nghe nói hoảng hồn làm bộ dậm doạ một lát rồi rút êm. Chị Tấm đã ăn xong, kêu nước uống rồi trả tiền, kéo cô Khê ra ngoài hiên.
“Ngồi đây chờ chút nữa coi. Trong đó nhức đầu quá”. Cô Khê đặt cái túi xách tay xuống, dựa chiếc gậy vào vách tường, ngồi xuống bên chị Tấm. Cô hỏi: “Như có mùi bông vạn thọ đâu đây?” Chị Tấm nhìn những chậu thược dược, vạn thọ dưới giàn cây khô. “Ở mấy cái chậu dưới giàn”. Chị nói: “Lâu không đi xa, cẳng đã thấy nhức”. Cô Khê cười mơ hồ nói tiếp như sợ làm phiền chị Tấm: “Nghỉ một lát, chắc lại đi ngon lành”. “Một giờ nữa, không có ai đi, cũng đi. Vài giờ nữa ngưng chiến rồi… gắng về tới nhà tối nay”. Cô Khê yên lặng cúi nắn hai bụng chân. Chị Tấm lại giếng kéo một gầu nước vã lên mặt. Dưới mái hiên trước cửa gian nhà cửa đóng kín, một người đàn ông mũ vải che mặt nằm trên cái võng giăng giữa hai cây cột. Trong tiệm có tiếng một người say đòi uống thêm rượu. Tiếng chửi thề và tiếng cười như hét. Một chiếc xe ngựa dừng dưới đường cho mấy người đàn bà gánh đồ xuống. Chị Tấm nhìn ra cánh đồng dưới kia. Qua cánh đồng, vượt qua cây cầu bằng những phên thép đan vào nhau tới chỗ cái đầu xe lửa bên kia bờ sông là bắt đầu tới vùng xảy ra trận đánh kéo dài ba ngày vừa mới chấm dứt. Rừng cây nhỏ ở đó nghe nói bị rắc thuốc khai quang chỉ còn những cành khô. Mấy người đàn bà gánh đồ đã lên tới con đường dẫn lên gò, tản mát ở chỗ ngã ba, khuất vào những bụi tre, những mái nhà tranh xám thấp. Một người đàn ông vận quần xà lỏn, mặt đỏ gay từ trong tiệm chệnh choạng bước ra kéo nước vục đầu vào gầu cho tỉnh rượu. Anh ta lấy vạt áo lau mặt, dựa vào thành giếng, gạt mớ tóc xoã, hỏi chị Tấm: “Mấy chị đi đâu giờ còn ở đây?” Chị Tấm nói miễn cưỡng: “Chúng tôi về tỉnh”. Người đàn ông bật cười ngạo cợt “Về tỉnh, về tỉnh” rồi trỏ lại chỗ chiếc võng: “Kêu anh đó dậy cùng về cho vui”. Chị Tấm sầm mặt quay đi. Người đàn ông cười lớn tiếng bỏ vào trong tiệm. Cô Khê nói: “Xuống dưới gò chờ vậy chị?” Chị Tấm lắc đầu: “Đã đi xa còn ngồi phơi nắng, chịu sao nổi”. Chị Tấm lấy một lọ dầu bạc hà trong túi mở nút quệt bôi quanh cổ và hai thái dương. “Cho em một chút”. Cô Khê buộc lại tấm khăn trắng chít trên đầu để lộ hai thái dương cho chị Tấm bôi dầu. Ở chiếc võng, người đàn ông nhỏm dậy. Qua chỗ hai người ngồi, anh ta dừng lại tò mò nhìn như muốn hỏi han rồi bỏ vào trong tiệm. Trong tiệm ra-dô đã tắt. Mấy người say đang đờn và ca vọng cổ. Người đàn ông tần ngần đứng ngó một lát rồi bước vào khung cửa thông với gian nhà dưới. Chủ tiệm đang bày bàn thờ, thấy anh ta, cười hỏi: “Tính ăn tết ở đây sao bây giờ còn luẩn quẩn chưa về?” Người đàn ông không trả lời, đẩy cánh cửa sang gian chứa gái. Một người lái buôn ngồi ở cái giường bỏ trống than mất tiền quá uổng. Con nhỏ như trinh nữ. “Tính vô xả xui đó sao?” Anh ta hỏi. Người đàn ông gượng gạo: “Ờ… xả xui…” Một gã cao lênh khênh đi tiểu ở ngoài vào, mặt nhăn nhó coi bộ đau đớn, kéo người lái buôn ra ngoài nhà uống rượu xả xui. Người đàn ông đứng giữa nhà nhìn theo. Anh ta móc bóp lật lật mấy ngăn tìm kiếm. Cho bóp vào túi, anh ta lại cái giường có buông mùng, vạch mùng nhìn vô, giường trống trơn. Còn đang phân vân, anh ta chợt để ý đến tấm phen ở vách tường đang động đậy. Tấm phên bị đẩy mạnh sang một bên, một gã mặt rỗ to lớn từ cái buồng nhỏ sau vách khom khom chui ra, lòng ôm một đống quần áo, trán lấm tấm mồ hôi. “Phải đứng sau một tiểu đoàn Mỹ đen chắc mới hạ nổi con nhỏ”. Gã than thở. Người đàn ông chờ cho gã ra ngoài tiệm mới chui vào cái cửa giữa vách. Cái buồng ép sau vách hẹp và tối. Có một đứa con gái áo trắng ngồi trên giường. Người đàn ông bước lại ngồi xuống bên vòng tay ôm lưng nó. Đứa con gái nhỏ nhắn, cúi gầm mặt. Người đàn ông nói: “Tôi vừa mất cả đàn bò… Có thích nuôi bò không?” Đứa con gái hứ hự trong cổ, không ngửng lên cũng không nói. Người đàn ông hỏi: “Không thương tôi sao?” “Kỳ quá!” Tiếng đứa con gái nhỏ nhẹ bẽn lẽn. Người đàn ông cười lửng lơ. Lúc nằm, đứa con gái hỏi cho có chuyện: “Tên gì?” “Tên Mậu”. Khi lom khom chui ra gian nhà ngoài, người đàn ông nghe tiếng đứa con gái cười nho nhỏ phía sau và tiếng “Anh Mậu, anh Mậu” thì thầm như một lời hát nghèo nàn trẻ con. Người đàn ông ra ngoài tiệm kêu một chai la-de, uống chậm chạp. Có tiếng người chủ tiệm nói giỡn: “Có về, cho hai cô ngoài kia về theo cho vui”. Người đàn ông “Ờ… về chớ” và kêu thêm một chai la-de khác. Anh ta lẩm bẩm trong miệng, nhớ tới đứa con gái cởi hết quần áo còn ngồi bưng lấy mặt. Nó nhỏ nhẹ quá. Nó ngồi hoài trong cái buồng tối đó kêu tên từng người đàn ông uổng tiền vì nỗi nhỏ bé của nó. Mọi cái xui vẫn do cái xui mất đàn bò gây ra. Anh ta nghĩ vậy. Về hay ở cũng bứt rứt như nhau. Chỉ có rừng cây khô mới không làm anh quấy quá nghĩ tới những chỗ khác. Phải về đó một lần nữa. Đàn bò trong những lúc đột ngột nhớ tới vẫn là đàn bò trong rừng cây khô. Anh ta ra khỏi tiệm, lại giếng múc nước rửa mặt. Hai người đàn bà vẫn còn ngồi đó. Anh ta hỏi: “Mấy chị muốn về tỉnh?” Chị Tấm hỏi lại: “Ông cũng về?” Anh ta cười, vẩy những giọt nước trên tay lên giàn cây khô. “Tôi chỉ đi tới rừng cây khô”. Chị Tấm tò mò nhìn anh ta thấy có vẻ thật thà. Cô Khê nói: “Cứ đi. Giữa đường biết đâu chẳng gặp thêm người. Chờ hoài tối lúc nào không hay”. Người đàn ông nói chị Tấm sửa soạn chờ anh ta vào lấy gói thuốc rồi đi. Lúc ba người xuống tới chân gò, trời đã muốn đứng bóng. Người đàn ông bảo cô Khê đưa cái túi anh ta xách giúp. Chị Tấm gợi chuyện. Người đàn ông nói: “Tôi vừa mất cả đàn bò… Chị có thích nuôi bò không?” Chị Tấm cười, gật đầu. Người đàn ông nom vạm vỡ nhưng vẻ mặt rụt rè, nhiều lúc ngẩn ngơ. Chắc anh ta buôn bò ở những vùng mất an ninh về bán, nhưng chị chỉ hỏi dè dặt. Cô Khê không nom thấy đường, bước chậm nhưng chắc chắn. Lâu lâu cô mới nói một câu, tay trái không rời tay chị Tấm. Cô biết mình làm phiền chị Tấm nhiều. Và lần này chắc là lần chót. Về tỉnh cô sẽ đến người chị họ, đi coi bói kiếm ăn. Từ lúc toà nhà bị sập, cha cô chết, mọi việc trong nhà chị Tấm lo hết. Người chồng già của chị Tấm khi bỏ toà nhà cho chị và cha cô trông coi, lên ở luôn với mấy người vợ trên cao nguyên chắc đã đoán trước được lúc này. Mấy ngày vừa rồi, chị Tấm có vẻ bận rộn tuy không hề tha thiết tới những thứ ở đây. Cô Khê thường nói tiếp câu chuyện cho chính mình nghe những lúc chị đột ngột bỏ lên căn phòng còn lại của toà nhà. Cô Khê nói để được nghe và nghĩ về mình. Cô nhớ những ngày lớn lên, mắt mang tật, vận áo dài ngồi coi bói cho mọi người. Trong xã, những ngày giỗ kỵ, ngày tết, vào dịp họp mặt với bà con, người ta thường mời cô vào nhà quây quanh hỏi chuyện. Những bộ mặt cô quen hoặc lạ tạo quanh cô một vòng ấm áp và vui. Nghe cô, mọi người như đang làm một cuộc tìm kiếm ít nhiều náo nức đó, cô đều có mặt. Cô không còn tật nguyền. Cô lang thang dẫn họ đi những con đường bất ngờ cả với cô. Những bộ mặt đã giúp cô sống trên những con đường sáng láng đó, giờ cô thấy nhớ. Ánh sáng trong cô như thực sự mất dần từ khi những bộ mặt quanh cô bắt đầu tản mát. Cô cần phải về tỉnh. Cô sẽ ngồi ở cửa một phòng ngủ chẳng hạn, cầm tay những người gái điếm áo xanh áo đỏ và bắt đầu những chuyến đi trên những con đường sáng láng. Chị Tấm đi bên cô có vẻ mau mệt vì phải bước chậm và dắt mình hơn vì đã qua một quãng đường dài từ đêm trước tới giờ. Tay chị có lúc như ướt. Người đàn ông nói muốn thế chị dắt cô Khê một khúc nhưng chị từ chối. Trời có vẻ nóng. “Tới chỗ đầu xe lửa có khi gặp người đi xuống”. Người đàn ông nói: “Ở đó có một làng nhỏ nhưng không chắc còn người ở đó. Trận đánh vừa rồi gỗ đá cũng hãi nói chi người”. Giọng chị Tấm nghe có hơi thở. Người đàn ông chốc chốc lại nhìn lén chị. Chị có vẻ đẹp thiệt sáng. Mớ vải vóc bao bọc người chị thiệt mềm mại. Càng đi anh ta càng có vẻ dạn dĩ. Có lúc anh khôi hài, anh chưa có vợ, chỉ thích lùa bò. Chị Tấm cũng cười nói cho quên mệt. Chị nói về ở với cha mẹ, chằng tiếc gì toà nhà đổ nát. Nhưng đêm qua lúc bước ra khỏi cổng cũng thấy buồn, mới nhớ ra mình đã ngớ ngẩn thắp cả chục mẩu bạch lạp trong căn phòng đã sụp một góc, ra tới cánh đồng nhìn về vẫn thấy mấy lỗ đạn trên tường sáng le lói. Lúc mọi người bắt đầu thấy xung quanh đột ngột vắng vẻ là lúc nhìn trở lại, quận lỵ phía sau thu nhỏ lại ở cuối đường. Người đàn ông phàn nàn đám dân ở quận tò mò và xấu bụng. Họ vây lấy anh nghe kể lại trận đánh và sau đó cười nhạo đàn bò của anh. “Kiếm lại được đàn bò, cho ăn vàng ăn bạc tôi cũng không thèm trở lại đó nữa”. Chị Tấm bảo cô Khê: “Cô bói giùm ông đây xem đàn bò ở đâu?” Cô Khê cười mơ hồ không nói. Chị Tấm cười: “Có khi đàn bò chạy về với chủ cũ cũng nên?” Người đàn ông lắc đầu: “Không có. Mắt tôi nom thấy chạy vào rừng cây khô mà”. Thấy anh ta lại có vẻ băn khoăn ngơ ngẩn, chị Tấm nói lảng sang chuyện khác. Đôi mắt mất ngủ của anh ta đỏ và ướt ở đuôi. Chiếc mũ vải rộng vành đội trễ nải. Cụm tóc phía trước xoã xuống cái trán ngắn gồ cao. Lần đầu tiên chị Tấm thấy mình nhìn kỹ một người đàn ông. Đời chị như vất vả nhiều với hai người đàn ông lúc đầu không nom rõ mặt. Người chồng đầu, mãi ngày ăn hỏi chị cũng chỉ mới mờ mờ hình ảnh trong đầu. Tới hôm cưới, khi vận áo mới leo qua những động cát bị bão cuốn tới cản trên đường, chị mới dám lén nhìn mặt chồng. Chị nhìn để so sánh với người học trò nghèo đã quả quyết nặng tình với chị đến những động cát cũng động tâm dắt díu nhau ra chắn lối chị đi lấy chồng. Người chồng thứ hai, khi về tới ngôi nhà cổ chị mới nom rõ. Những ngày trước đó, chị chỉ nghe nói nhiều tới toà nhà, tới vườn cây. Cha chị như chỉ cần biết có bấy nhiêu. Về sau, khi rõ người đàn ông chỉ cốt lấy chị về để trông giữ cho ông ta toà nhà đã dạm bán không ai mua, cha chị nổi giận thì chị bắt đầu quen với vẻ hiu quạnh của toà nhà. Người đàn ông đã bỏ đi vội vã. Chị quanh quẩn trong toà nhà với những cầu thang, những hành lang và những gốc cây. Chị đã tái giá với những bất động sản. Bây giờ những thứ đó đã bị bom đạn giết chết. Căn phòng sụp một góc còn sót lại chẳng thể giữ chị lâu hơn một lúc ngơ ngẩn thắp hơn chục mẩu bạch lạp cắm rải rác trong đêm bỏ đi. Qua khỏi cánh đồng, vượt hết một gò cát, ba người xuống tới Bãi Nhà Máy. Con đường lớn với những hố những mô đất nom như một vệt xám nhỏ. Người đàn ông trỏ một ngôi miễu ở giữa bãi: “Tới đó nghỉ một lát. Hai chị coi bộ đã mệt”. Bãi bằng phẳng toàn cỏ cằn cỗi. Qua một cống nước, chị Tấm xuống múc một nón cho mấy người uống. Trời bắt đầu có gió. Ngồi trước miễu, chị Tấm lo ngại bảo cô Khê: “Tới chừng gió lạnh mà vẫn chưa qua được rừng cây khô, khó mà về tới nhà đêm nay”. Người đàn ông châm một điếu thuốc, nhìn chị Tấm, suy nghĩ. Chị Tấm hỏi: “Nếu không thấy đàn bò, ông trở lại trên quận?” Câu hỏi có vẻ bất ngờ làm người đàn ông bối rối. Anh ta ngập ngừng: “Tôi cũng không biết nữa”. Chị Tấm ái ngại không biết an ủi anh ta cách sao. Thiếu đàn bò, anh ta như không tính toán được gì. Nhà anh ta như không ở đầu con đường hay cuối con đường. Mà ở nơi có đàn bò chạy súng lang thang gậm cỏ. Niềm vui anh không có mặt người. Nhưng bừa bộn dáng thú. Những cười cười nói nói của anh như những bất ngờ ở ngoài rừng cây khô và những sừng bò lấp ló. Chị Tấm ngập ngừng: “Mấy ngày rồi… có thấy đã thấy rồi…” Người đàn ông tò mò nhìn chị như thấy có sự khác lạ. Vẻ chú ý, lanh lẹn của anh thiệt đột ngột. Rồi anh lại trề môi ngẩn mặt với điếu thuốc cháy âm thầm trên tay. Những ngọn cỏ lớp lớp rung rung dưới nắng. Cô Khê đứng dậy giục đi. Vào lúc bất ngờ nhất, người đàn ông chụp lấy tay chị Tấm. Chị Tấm kinh ngạc giật tay ra hoảng hốt. Người đàn ông ngước mặt nhìn chị, chỉ cô Khê, ý khẩn khoản bảo chị chớ la. Chị Tấm thở một hơi dài, cúi xuống, tay xách va-li, tay cầm cái gậy đặt vào tay cô Khê. Hai người bước đi. Người đàn ông cũng phủi quần, đứng dậy lẽo đẽo theo sau. Chị Tấm lại thở dài. Chị như vừa vô ý hé cho anh ta một lối để quên đàn bò. Chị không có lời an ủi anh ta. Nhưng nguyên chị lại là một vỗ về đáng kể mà chị cũng không hay. Trong giây lát, chị thấy mình như sống rất nhiều với người đàn ông chị chửa biết tên. Nỗi khổ của anh ta lồ lộ vẻ thành thực. Chị cúi đầu, tránh phải nhìn lại anh ta. Qua Bãi Nhà Máy, ba người lại vượt lên mặt lộ. Người đàn ông đã theo kịp, gượng gạo nói một câu bâng quơ. Chị Tấm im lặng nhớ tới những mẩu bạch lạp. Cô Khê đập đầu gậy đều đều lên những cục đá lổn nhổn. Có bóng một con chim liệng trên cao. Có tiếng cô Khê kêu đột ngột. Người đàn ông nhảy tới thì cô đã buột khỏi tay chị Tấm ngã chúi xuống mặt đường. Một chiếc dép bật quai tung lại phía sau. Người đàn ông đỡ cô Khê ngồi xuống bờ cỏ ven đường. Chị Tấm cũng lao đao suýt ngã. Chiếc va-li văng xuống dưới ruộng. Lúc chị xách được va-li lên, cô Khê đang khóc như con nít, người đàn ông thì đang loay hoay sửa lại cái quai dép. Chị Tấm kéo cao ống quần cô Khê, thấy có một vệt rách dài ở bắp chân ứa máu. Chị xin người đàn ông mấy điếu thuốc gỡ ra đắp vào vết thương, lấy khăn tay buộc quanh. “Coi có đi tiếp được không?” Chị hỏi. Cô Khê gật đầu, mặt nhếch nhác. Người đàn ông đưa chiếc dép vừa sửa cho cô Khê. Chị Tấm nhìn trời rồi nhìn cô Khê và người đàn ông. Cô Khê quơ chiếc gậy gượng gạo đứng dậy: “Lỗi tại em hết. Không có em chị đâu khổ như vầy”. Cô lẩm bẩm. Chị Tấm gắt: “Chớ có nghĩ bậy”. “Để tôi xách đỡ cái va-li. Chị xách cái túi này”. Người đàn ông trao cái túi cho chị. Dòng sông nhỏ nhưng cây cầu nom dài. Mặt nước sâu có gió lớn màu xám. Khúc sông trước mặt ba người như vừa hiện ra sau rừng dương nhỏ phía tay trái và mất hút sau khúc quành ở cái gò bên tay mặt, ngắn ngủn và càng rõ chiều sâu. Cảm giác đầu tiên vẫn như đứng trước một đầm nước hơn là đứng trước một dòng sông. Những con quạ, con diều hâu cánh đen nặng nề trên đám ngọn dương, bay là là trên mặt nước trong ánh sáng và gió. Những mỏm đá rêu nổi nhô giữa dòng nước, dưới bóng dương như những mầm đen vừa mới nhú. Cây cầu võng xuống giữa sông. Bề rộng là ba tấm phên thép đan vào nhau. Cầu không có tay vịn. Người đàn ông phải dắt tay, kèm sát bên cô Khê. Bước bên này cầu, chị Tấm thấp lớp phên bên kia rung chuyển. Nhìn người đàn ông và cô Khê ở giữa cầu, chị tưởng như họ dắt díu nhau xuống phía những mầm đá. Bóng những con quạ, con diều hâu lượn hai bên cây cầu tạo cảm giác chóng mặt. Chị Tấm đành cúi xuống những lỗ tròn dưới chân, tưởng như khó lòng sang tới bên kia. Khỏi cây cầu, vượt một cái dốc thì lên tới đầu lộ. Chiếc đầu xe lửa chặn ở đó, đen đủi, sừng sững. Một miếng thép gỉ sét thủng giữa nom như một cánh cửa, bị gió đẩy kêu rít, đập phành phành. Hai bên là hai vệt đen vạch trên mặt đất bằng những vụn gỉ sét. Có những bã mía mốc kẹt dưới bánh xe lún. Để cô Khê ngồi nghỉ bên một phía khuất gió, người đàn ông chạy xuống dốc đón chị Tấm. Chị Tấm thở dốc bước bên người đàn ông mặt mũi phờ phạc. Chiếc mũ vải vẫn trật ra sau như một bướng bỉnh kỳ khôi. Chị Tấm đưa cho người đàn ông lọ dầu bảo nên bôi một ít cho ấm người. Người đàn ông nắm những đầu ngón tay chị và lọ dầu. Chị không còn thấy kinh ngạc. Đường đi như không tránh được khúc này. Chị không rụt tay và chỉ nhìn anh ta, buồn bã. Người đàn ông không làm gì hơn. Bộ mặt cứng lại lúc đầu dần dần trở nên bối rối. Bàn tay nới dần và buông rơi lúc anh nhếch môi cười. Anh ta vẫn còn lúng túng ở giới hạn thăm dò? Chị Tấm lại vơ vẩn nhớ những mẩu bạch lạp. Mới từ đêm qua tới giờ đã thấy xa xôi. Sau lưng đã đành chỉ còn ánh sáng vô ích của mươi mẩu bạch lạp. Nhưng trước mặt, càng đi càng bỏ rơi ý nghĩ sẽ về tới nhà nội đêm nay. Cha chị như vẫn chưa một lần thoả được ước nguyện ở con cái. Những năm trước đã có lần chị nghe ông than thở như vậy. Hồi đó trở về trước, ước mong của ông là có một ngày kéo thuyền lên cạn, xếp lưới xếp vó làm một chuyến du chơi vào sâu trong đất liền. Trừ người con gái lớn, bốn chị em Tấm được ông gả chồng nơi xa vì ao ước đó. Bước chân mỗi người con gái về nhà chồng như dọn trước đường cho ông. Mỗi người là mỗi cái mốc vùng đất ông sẽ tới. Nhưng ông vẫn chưa một lần dời được cái ven biển hẻo lánh. Không một người con nào không có những vất vả riêng. Có người theo chồng sang tận Cam-bốt vì tội thụt két, có người theo chồng đi đồn trú ở những miền xa xôi hoặc đổi chỗ ở như dân du mục. Đám cưới của mỗi người con gái như đều tới một địa chỉ giả. Chị Tấm thấy thương cha. Đáng lẽ những thiệt thòi phần chị phải bù đắp được nhiều ít thiếu hụt nơi ông. Nhưng chung cuộc thì chị đứng bên cái đầu tàu này và ông thì vu vơ chờ đợi cuối đường kia. Những bất động sản mà chị gá nghĩa chỉ còn là một đống vụn đổ nát. Những ngày tháng qua trống rỗng như những lỗ tròn trên cây cầu chị vừa chợt qua. Đã tới lúc chị phải lựa cho mình một cách riêng. Không còn những lúc mặc áo mới đứng trên động cát cản đường, không còn những cầu thang, hành lang, gốc cây đi làm lễ hỏi vợ. Mươi mẩu bạch lạp trong căn phòng sập một góc dù vô ích nhưng vẫn có ánh sáng. Và tự do với đêm tối có chị đứng ngoài xa ngó lại. Miếng thép kêu rít tăng lần âm thanh vật vã. Những bóng quạ, bóng diều hâu lảng dần mặt nước tụ trên những ngọn cao có nắng. Cô Khê ôm cẳng, mặt dạn vẻ lì lợm như tự trấn nỗi bối rối. Từ lúc cô vấp té, những chỗ dừng nghỉ tăng dần. Cô không khóc, cũng không còn kêu làm khổ chị Tấm. Người đàn ông châm điếu thuốc đi lăng quăng, trèo lên phòng đầu máy. Anh ta vẫn khó hiểu, bất thường. Cái ngước mặt buồn bã của chị Tấm không là oán trách. Người đàn ông như không biết điều đó. Anh đứng trên bực lên xuống nói vọng xuống: “Thôn làng gì mà như chết hết vậy kia”. Cô Khê bảo chị Tấm: “Nếu làng còn người ở, mình vô đó ở qua một đêm. Cách sao cũng không về tới nhà đêm nay”. Chị Tấm hỏi: “Còn gắng đi ít cây số nữa được không?” “Không dừng lại được cũng phải cố gắng chớ sao”. “Vậy nghỉ một lát nữa rồi đi. Qua rừng cây khô, chắc có người ở”. Chị Tấm bước lại trước đầu máy bảo người đàn ông: “Chiều rồi, vô rừng có khi kẹt trong đó. Đi với chúng tôi kiếm chỗ nghĩ đỡ một đêm, sớm mai quay lại kiếm cũng được”. Người đàn ông rùng mình có vẻ lạnh, xoa xoa vào hai cánh tay bước xuống, mồm rực đỏ đầu thuốc. Chị Tấm nhỏ giọng: “Bị lạnh?” Người đàn ông lắc đầu. “Trời này vận sơ-mi không ngồi trong nhà cũng lạnh”. “Tôi có áo da mà chị. Mới bán bữa qua xong”. Những ngón tay ngắn ngủn, to thô kệch vẫn vuốt vuốt hai cánh tay. Chốc chốc người đàn ông lại áy náy nhìn lại chỗ cô Khê. Chị Tấm nhắc lại câu nói khi nãy. Chiều rồi. Người đàn ông vẫn không trả lời. Vẻ ngập ngừng, bứt rứt càng lúc càng tăng. Anh ta nhăn nhó: “Không có chị kia, có khi tôi còn trở về quận kịp”. Anh buông thõng hai tay nhìn chị Tấm. Cái cổ ngắn, cái lưng có vai rộng khom khom buồn bã. Chiếc dây lưng bằng da cũ to bản đầu cong xoắn chốc chốc lại được rờ rà. Chị Tấm nói chẳng bao giờ có ý tưởng dời bỏ cô Khê. Chị chỉ còn mình cô là bạn. Người đàn ông ngơ ngẩn nghe chị và cưới vấp váp, gượng gạo. “Tôi không có bạn”. Anh ta nói, tay vuốt ve cái đầu dây lưng cong xoắn. Bỗng anh “a”, reo một tiếng lớn chạy xuống con dốc. Chị Tấm ngạc nhiên trông theo. Anh ta nhảy qua những bụi cây, những tảng đá bên bờ sông, chốc chốc lại cúi xuống dừng lại xem xét. Một lát anh mất hút trong đám dương. Cô Khê hỏi giọng lo ngại: “Có chuyện gì đó chị?” “Không”. Đàn quạ, đàn diều hâu đột nhiên vỗ cánh bay hoảng loạn. Chị Tấm trèo lên bực lên xuống nhìn về phía đám dương. Có lúc chị thấy thấp thoáng bóng người đàn ông chạy. Có lúc anh ta ngửa mặt đôi đá bừa lên các ngọn cây. Anh ta điên? Chị Tấm lật đật chạy xuống nắm chặt cổ tay cô Khê, mắt không dời dòng sông. Cô Khê sợ hãi hỏi lại: “Chuyện gì đó chị?” Chị Tấm nuốt hơi, cố giữ giọng bình tĩnh: “Người đàn ông tự dưng chạy xuống bờ sông đôi đá đám quạ”. Cô Khê rờ cây gậy: “Mình đi trước vậy chị?” Chị Tấm giữ tay cô Khê ra dấu ngồi nguyên: “Chờ một lát coi sao đã. Người ta giúp mình nhiều…” Dời cô Khê, chị Tấm lại đầu tàu nhìn xuống. Người đàn ông mũ trật sau ót, tóc xoã dưới trán đang bước trở lại. Dáng bộ ảnh hưởng nom thất thểu. Một vai áo bị rách. Vành mũ phía sau mắc một sợi dây leo. Anh ta mệt nhọc bước lên dốc. Chị Tấm chạy lại hỏi: “Chuyện chi đó?” Người đàn ông lắc đầu thở hào hển: “Không lẽ đàn bò ở rừng cây khô có nước uống…” Chị Tấm cười gượng: “Có vậy mà làm tôi hết hồn”. Người đàn ông đưa tay xoa xoa vai áo bị rách, bước từng bước uể oải. Chị Tấm im lặng theo sau. Anh ta bỗng quay lại, hơi thở vẫn dồn dập: “Thương được tôi không?” Chị Tấm mím chặt môi nhìn trừng trừng. “Chớ có làm vậy nữa”. Chị lùi lại kêu. Người đàn ông không cần biết. Anh ta ôm choàng lấy chị. Cả hai cùng chới với muốn ngã. Mồm anh ta cọ khắp mặt chị. Anh nói: “Tôi đã quên đàn bò”. Chị Tấm ngậm chặt môi rồi bật khóc, vùng xô mạnh người đàn ông, chạy lại chỗ cô Khê. Sao tới giờ chị mới thấy sợ vẻ bất thường của anh ta. Sao tới giờ chị mới khóc. Người đàn ông đó với những cục đá đôi lên đàn quạ không thêm một lần chứng tỏ sao? Niềm vui anh ta không có mặt người. Mà bừa bộn những dáng thú. Không có an ủi nào dành cho anh ta. Anh ta muốn có sự thay thế. Chị Tấm oà lên khóc lớn hơn. Tiếng miếng thép vật vã kêu rít. Người đàn ông ngẩn mặt ngơ ngác. Anh ta vẫn có vẻ vô tội. Anh không biết bàn tay anh chỉ để vuốt ve da thú. Cũng như chị, bây giờ mới rõ rệt mình có thời gian làm vợ những bất động sản… Cô Khê đứng lên cầm gậy và xách cái túi, dò dẫm bước. Trong một lát chị Tấm và người đàn ông đối diện. Anh ta ngập ngừng nhìn chị và cúi xuống chiếc va-li. Chị Tấm giật lấy rồi quây quả bước theo cô Khê. Cô Khê giọng khổ sở: “Chị có chuyện gì với người đàn ông mà vẫn cố tình giấu em. Em làm mất tự do của chị…” Chị Tấm nắm lấy tay cô, cúi đầu bước, giọng như nén hơi: “Rồi tôi sẽ nói cô nghe. Cũng chẳng có gì”. Cũng chẳng có gì. Chị Tấm muốn nói cho cô Khê và cả mình nghe. Cũng chẳng có gì. Một người đàn ông đi trên một quãng đường dài với một người đàn bà thì phải như vậy. Anh ta chắc không ồn ào quá nếu không có xúc động đột ngột về đàn bò. Những cái cầm tay rụt rè sẽ giữ nguyên ở giới hạn thăm dò lúc đã chia tay. Lầm lỡ chỉ có một mình chị. Như vậy, tới giờ chị vẫn chẳng quyết được gì cho riêng mình. Chị vẫn như tiếp tục hoài con đường này với những rủi ro và bất trắc. Người đàn ông áo rách vai ủ rũ bước sau hai người một quãng. Bóng nắng đã lẫn với khí rét. Gió băng trên mặt đồng trống. Rừng cây khô phía trái con đường mỗi lúc một nom rõ. Không có ai lỗi trong vụ này. Cũng chẳng có gì. Phải nghĩ vậy để quên lần từng thứ sau lưng. Đàn quạ coi như không còn những ngọn dương le lói nắng trên những mầm đá. Dòng sông coi như đã hết nước luân lưu. Người đàn ông coi như không còn đàn bò. Chị Tấm không còn người đàn ông phờ phạc phía sau. “Gần tới rừng cây khô chưa chị?” Cô Khê hỏi: “Gần tới nơi rồi”. “Người đàn ông đâu?” “Ở phía sau”. “Cho em cám ơn ông ta một câu”. Tới một ngã rẽ vào rừng cây, chị Tấm giữ lễ đứng lại chờ người đàn ông. “Cám ơn ông đã giúp chị em chúng tôi tới được đây”. Chị Tấm nói lúc người đàn ông lại gần. Cô Khê nói nhỏ: “Tôi tới nơi rồi, ông cũng nên kiếm một chỗ nghỉ chân?” “Tôi phải kiếm đàn bò”. Người đàn ông nói. Chị Tấm bấm vào cổ tay cô Khê ra hiệu bước đi. “Chúc ông tìm thấy lại đàn bò”. Chị Tấm nói, không quay lại. Người đàn ông nhìn theo hai người rồi rẽ vào rừng cây. Đi được một quãng, hai người chợt nghe giọng người đàn ông hư hư thực thực vọng tới như tiếng thì thầm mơ hồ “Anh Mậu. Anh Mậu”. Chị Tấm bảo cô Khê: “Anh ta điên thật sự rồi”. “Chắc bị ma ám”. Chị Tấm chợt khóc ấm ức và ngơ ngẩn dừng lại nhìn về rừng cây tìm bóng cái mũ vải trật ra sau ót. “Sao vậy chị?” Cô Khê hỏi. “Cũng chẳng có gì. Như đêm qua đứng ở ngoài xa nhìn trở lại những mẩu bạch lạp thắp sáng căn phòng đã sập một góc”.
Nguồn: Chiếc xương lá mục. Tập truyện ngắn của Y Uyên, mẫu bìa của Duy Thanh, chân dung Y Uyên, được vẽ bởi Duy Thanh. Nguyệt san Tân Văn số 33, tháng 1 năm 1971. Ấn hành lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Cơ sở Văn, xong ngày 10 tháng 1 năm 1971. Bản điện tử do talawas thực hiện. Gia đình tác giả giữ bản quyền.
Ngày về của bọn họ Ngưỡng đi như lẩn vào những gốc cây um tùm. Trên núi, tiếng những người kiếm củi vọng xuống, nhỏ, lơ lửng giữa thinh không. Qua một vùng đất quang bóng cây, Ngưỡng ngước nhìn lên rồi lại cắm cúi đi. Hồi mới tới đây, từ xa, nom ngọn núi thật trần trụi, như chỉ có cỏ phủ trên đất. Ngưỡng đã nghĩ giá có người đứng trên sườn núi, chắc nom rõ cả từng bước đi, cả từng cái dáng khom người. Bây giờ, trên núi có người, nhưng phải để ý mới thấy một cái nón, một bóng người quần áo đen nhỏ bé lẫn lộn với cây cối. Có người đeo giỏ củi đi trên con đường mòn vòng quanh núi, trông thiếu hẳn bề cao lẫn bề dầy, chỉ còn là một khối nhỏ di chuyển chầm chậm, câm lặng. Tiếng trao đổi của họ chỉ còn âm thanh xào xạc, rời rạc, không còn hơi hướng tiếng nói. Trời lạnh, đi lâu dưới bóng cây, Ngưỡng thấy rùng mình. Hai tay thọc sâu trong túi nhưng bước chân Ngưỡng có vẻ dồn dập. Buổi sáng gió ít, có nắng, những người trên kia chắc đỡ lạnh hơn. Ngưỡng nghĩ, giá mình với Diệu có một bãi cỏ trên sườn núi phơi nắng, thật tuyệt.
Ngưỡng bước lên lối mòn dẫn vòng vèo tới vách đá sừng sững. Vách núi cao ngất trơ đá màu ngà bị soi mòn, càng cao càng nhô ra ngoài tạo một vùng trống trải ở dưới chân. Những phiến đá bám vào vách, như những phiến gỗ nứt toang hoác. Diệu ngồi nhỏ bé trên một đường gờ như đào trên vách núi, hai chân buông thõng trên những lá thầu dầu tía mọc hoang. … [1] Ngưỡng cười chỉ tay lên vách đá trên đầu Diệu. Diệu ngước lên như rồi lắc đầu, tỏ dấu không nhìn thấy. Ngưỡng bước lên mấy cành gai khô, nhảy lên ngồi bên cạnh Diệu: “Trong hốc núi này, đến những kẻ thù ghét nhau nhất cũng biết khôi hài”. “Chờ anh ở dưới kia mỏi cẳng quá, trèo đại lên đây”. Ngưỡng rút một điếu thuốc châm hút. Diệu cầm bao thuốc, tủm tỉm: … [2] Ngưỡng vuốt mái tóc Diệu rồi hít hít mấy cái. Diệu sầm mặt, quay ngó xuống mấy tấm lá thầu dầu. “Tóc em nhẹ rồi đó. Cũng hết luôn mùi dầu dừa. Làm sao mà sửa soạn mau vậy?”. Ngưỡng hỏi, chợt để ý đến khuôn mặt Diệu. “Nói vậy cũng giận sao?”. Diệu lặng thinh. Ngưỡng thấy Diệu gần gũi mình, đáng yêu hơn bao giờ. Những lúc Diệu yên lặng, Ngưỡng vẫn thấy Diệu đầm ấm hơn; hợp với dáng mảnh dẻ của Diệu hơn. Ngưỡng vòng tay ôm vai Diệu kéo ngả lại mình. Vai Diệu rung như có sự trở mình của một bắp thịt. Những khao khát trong các đêm nằm một mình, hoang mang vì những tiếng súng gần bên, giảm xuống tới độ Ngưỡng hết còn mường tượng nổi lại lòng mình các lúc đó. Ngồi bên Diệu, Ngưỡng thương Diệu hơn thương mình. Đời sống thường ngày đầy lo lắng đã bị trật nhịp. “Chừng nào anh nghỉ tết?”. Diệu hỏi. Đời sống thật đã trật nhịp. Nghe Diệu, Ngưỡng thấy chuyện về những dự tính lạc thú trở thành những điều không cần nghĩ đến. “Hai mươi bốn tháng chạp. Nhưng làm sao mà về?”. Ngưỡng nói đến những khó khăn ngăn trở chuyện về bằng một giọng bình tĩnh chưa có bao giờ. Diệu gỡ tay Ngưỡng, đặt trở về đùi Ngưỡng: “Em chỉ muốn làm em anh”. “Em học ở đâu kiểu nói đó”, Ngưỡng toan nói lại thôi. Nhưng nếu tình yêu chỉ là những thỏa thuận tốt đẹp về nỗi vụng về, giả dối của nhau thì thật hỏng. Ngưỡng cười thấy hai má thật lạnh: “Thì anh bao giờ chẳng muốn em làm em gái của anh. Nhưng trong những đêm nằm ngoài bờ bụi mà mơ mộng được ôm em gái mà nằm ngủ, kể ra cũng kỳ khôi”. Ngưỡng lại vòng tay đặt lên vai Diệu. Diệu ngả hẳn lưng vào vách đá, kêu nho nhỏ: “Coi chừng, em té”. “Em té thì gãy cây thầu dầu”. Diệu tựa im vào vách đá, hai tay vòng trước ngực. Những lá thầu dầu dưới chân có gió, lòa xòa lắc lư. Ngưỡng nói: “Anh về Sài Gòn, em muốn anh mua gì tặng em?”. Ống quần Diệu lật phật đập vào đá. Diệu nhìn hai bàn chân mình, do dự. “Em không biết thứ gì để mà lựa. Thứ nào em nghĩ được cũng thấy thường hết”. “Để anh lựa giùm cho. Lúc anh ra ngoài này, em cũng thấy bất ngờ”. Ngưỡng mở fermeture áo len, cúi đầu xuống châm một điếu thuốc. Diệu nhìn những cử động của Ngưỡng, miệng nhổ những sợi tóc vương vào bên mép. Đôi lông mi của Ngưỡng dầy đậm, Diệu thấy phần đuôi ở trước mặt mình xếch ngược. Diệu khó hiểu được một người có tướng dữ như Ngưỡng lúc nào cũng bận tâm về chuyện chạy trốn. Diệu chợt cau mày nghe ngóng như Diệu chỉ mơ hồ tưởng có tiếng người xào xạc từ trên cao vọng xuống. Diệu men theo vách đá, bước xuống. Ngưỡng muốn giữ lại nhưng sợ Diệu ngã. “Đã về rồi sao?”. Ngưỡng nhảy xuống những cành gai khô, chặn Diệu, hỏi: “Ngồi mỏi quá sức”, Diệu nói. Tiếng gai gãy ròn dưới chân Diệu. Ngưỡng toan nhấc bổng Diệu lên song lại lấy chân giẫm bẹp những cành gai lấy lối cho Diệu bước. “Từ giờ tới tết, tới hôm anh về anh muốn gặp lại Diệu lần nữa ở đây”. “Ở đây hãi lắm”. Hai người xuống con đường mòn. “Ở chỗ khác vậy.” “Vậy cũng đủ rồi. Tết ra, gặp lại. Gặp hoài coi dị lắm.” “Mấy lần rồi mà gặp hoài?” Ngưỡng nghe như mình nói uể oải. Diệu yên lặng, Ngưỡng cũng không muốn nói gì thêm. Lần nào cũng vậy, trước khi chia tay, Ngưỡng tự nhiên nản một cách lạ lùng. Trước lúc đến đây, trước khi thấy Diệu ở nơi hò hẹn, Ngưỡng vẫn bị ám ảnh bởi những điều ở ngoài Diệu và trước khi rời Diệu, những ám ảnh đó lại lấp ló hiện ra khiến Ngưỡng thấy những phút bên Diệu như một cách tìm sự lãng quên. Ngưỡng đã định ôm Diệu hôn trên đống cây gai như nhớ lại Diệu, có lúc – dù trong khoảnh khắc trật nhịp của đời sống – đã làm mình thương một người không phải mình. Ngưỡng dành cho việc từ bỏ ý muốn đó như một đền đáp khiêm tốn với Diệu. Hai người rẽ sang trái hai con đường khác nhau lúc qua ngôi mộ đá tổ ong có nhiều hốc tối dành cho rắn và bò cạp. Ngưỡng không thấy tiếc, thấy ngùi ngùi cho mình và Diệu. Diệu cũng cần, cũng khao khát một chỗ bình yên, cũng cần được săn sóc. Ngưỡng qua những ruộng mía, đi chậm lại. Cả một rừng bông mía vươn cao, trắng ngát. Ngưỡng ngắm các ruộng mía như một chủ ruộng đi thăm đồng. Nghe tiếng lá khô loạt xoạt cọ vào nhau liên hồi, Ngưỡng vững lòng. Nếu có người bò trong đám mía, có vấp ngã, những tiếng loạt xoạt cũng át đi, khỏi sợ lộ. Ông thầy ngày xưa lúc rảnh đi ra đồng thăm đất, tìm long mạch khai thác cái chết gây lợi cho con cháu, ông thầy bao giờ ra đồng, tìm một chỗ ẩn trốn cái chết. Hiện tại đã gây những tuyệt vọng ở ngay nỗi sống, nói chi đến cái chết với một thế giới khác bình yên. Người ta hủy hoại tiêu diệt nhau ngay lúc tưởng cần cùng nhau góp sức, nói chi đến một thương mến con cháu sau này. Mọi hướng về tương lai, mọi hứa hẹn một thiên đàng sắp có chỉ là một hình thức hợp lý hóa việc tung một trái lựu đạn vào đám đông, việc đâm ngập lưỡi dao vào gáy kẻ khác. Ngưỡng trở về nhà trọ, thấy vợ chồng ông cụ già đã lịch kịch ở dưới bếp. Phan cuốn mền đọc tờ báo của Ty. Huỳnh ngồi phơi nắng ở giàn cây đầu nhà mạng lại manh áo sơ mi. “Ăn thua chi không?” Huỳnh hỏi. “Ăn uống mẹ gì. Lần nào cũng hỏi”. “Người ta hỏi để nếu có gì người ta mừng cho mà cũng khó tính”. Huỳnh cười hềnh hệch. Trong đầu Huỳnh dường như từ trước tới giờ Ngưỡng vẫn đang cố gắng chiếm đoạt Diệu. Hắn muốn được theo dõi. Ngưỡng úp mở: “Thì cũng phải từ từ, dễ gì mỗi lúc làm hư được con cái nhà người ta”. Huỳnh nhìn Ngưỡng như toan hỏi han. Ngưỡng bỏ vào nhà. “Như vậy là đủ để cậu có chút hấp dẫn mà sống rồi. Đừng tò mò nữa.” Ngưỡng rót một ly trà nóng, nhúng cả đôi môi nứt nẻ vào mặt nước rồi đặt ly, thè lưỡi liếm từng giọt nước có vị chát chát, ngọt ngọt. Phan đặt tờ báo xuống chiếu, hỏi Ngưỡng: “Mấy giờ rồi anh Ngưỡng?” “Đồng hồ tôi hư rồi”. Phan nhỏm dậy, gấp mền. Hắn vận một tấm áo len không tay nom như gấm gilet nẹp lấy người, ngắn cũn cỡn. Bàn tay hắn vuốt mấy lượt tấm mền đã gấp trước khi mở cái rương sắt, bỏ vào. “Bữa nay mới có thì giờ đọc hết tờ báo. Nhiều bài khá lắm, anh Ngưỡng” – Phan nói. Ngưỡng nhớ tờ báo đó có một bài thơ của Phan ca tụng vùng này “…Nơi đây trái ngọt cây lành.” Ngưỡng hỏi: “Anh đã được thêm tin gì chưa?”. Ngưỡng hỏi không rõ ràng nhưng Phan hiểu Ngưỡng muốn nói gì. Lúc này chẳng còn chuyện gì khác chuyện ấy. “Không. Từ sáng tới giờ, tôi không ra khỏi nhà một bước.” “Nếu họ xuống đã ồn lên rồi. Nhưng chắc rồi thế nào họ cũng xuống nay mai” – Ngưỡng chắc chắn. Phan cười nhợt nhạt: “Chẳng có gì bảo đảm cả. Không khéo mình ăn tết ở đây mất thôi.” “Càng vui. Tôi chưa hề ăn một cái tết ở xa nhà bao giờ.” “Bàn tán chi cho mất công, thêm lo. Chỉ bây giờ tuần sau, ai ở nhà người nấy rồi” – Tiếng Huỳnh vọng vào và cười to. Phan hết băn khoăn: “Tôi e ba mươi tết mình vẫn còn ở đây đó chứ.” Bà cụ già từ dưới bếp lên, lôi ở gầm giường ra một khúc gỗ lớn có khoét ba cái lỗ dùng làm cối giã trầu. Bà cụ lần lượt móc lá trầu, cau tươi… để mỗi thứ một lỗ. Phan bảo bà cụ: “Bác để tôi đâm cho, bác xuống sửa soạn cho chúng tôi ăn đi”. “Sắp xong rồi. Thầy mặc tôi”. “Lâu lâu mới giúp bác một lần. Kính lão đắc thọ”. Phan cúi xuống giữ lấy cái chầy đầu bịt sắt. Bà cụ vẫn có vẻ ngần ngại, tay chưa chịu buông cái chày. Ngưỡng xen vào: “Thì bác cứ để anh ấy giã giùm”. Bà cụ buông tay ra, đứng lên, áy náy. Đường giao thông còn như trước kia, chắc có ngày Diệu được vào Sài Gòn làm tóc. Chỉ một đêm ngủ gà ngủ gật trên xe lửa. Cơm dọn trên cái bàn tròn, mặt ẩm. Huỳnh lững thững vào ngồi sau cùng. Hắn nhìn mâm cơm nhăn mặt. Vẫn đĩa trứng thường xuyên, vẫn hai bát rau muống chẻ, một khúc cá và ba tô canh bầu hạt tổ bự. Phan bảo ông cụ: “Gần tết, bác nên cho thay đổi món ăn một chút”. Ông cụ cười ừ ào như mọi bận. Bà cụ vừa nhai trầu, vừa nói: “Tháng này đã thay món cá biển bằng cá trầu rồi đó. Tới cuối tháng, mấy thầy “kiểm thảo”, tôi sẽ thay đổi thêm”. Ngưỡng nhớ tới buổi họp trong trường: “Kiểm thảo, kiểm tục chi cho mất công. Có trái ớt nào, bác cho một trái để át bớt mùi cá tanh?” Huỳnh ăn ngốn ngấu. Hắn vẫn có thói quen ăn một cách hăm hở để tự đánh lừa. Những hôm học trò mới về nhà ăn giỗ, hắn vui như trẻ con. Trước kia thỉnh thoảng còn về thị xã, mỗi lần ra, hắn mua cả một cái giò lụa, cả sáu bảy ký lạp xưởng rồi bắt cả ba phải chịu tiền. Phan khó chịu, kêu hắn “tự tiện”, hắn mặc. Cơm xong, Phan thay áo, ra khỏi nhà đi thăm hiệu trưởng. Huỳnh bỏm bẻm nhai trầu nói tiếu lâm với Ngưỡng. Ngưỡng bảo: “Có lẽ từ nay không nên đánh bài với bọn dân vệ nữa. Tụi nó cay cú”. “Không chơi, tụi nó lại kêu kém thân thiện”. “Đấy chỉ là một cái cớ của mình”. Huỳnh suy nghĩ, trầm giọng: “Hết năm nay có lẽ Phan được về gần Ty”. “Ai nói vậy?” “Hiệu trưởng”. “Hiệu trưởng nói thì đáng tin lắm”. “Hết niên học này, tám năm mình sống ở miền núi của ba tỉnh. Mỗi lần hoán chuyển sang tỉnh khác, mình lại lầm thêm một lần. Năm nay, cóc cần xin đi đâu nữa”. Ngưỡng khôi hài: “Giọng nói bắt chước lơ lớ giọng địa phương, mớ tóc che tai của cậu khiến người ta lầm cậu thích hợp với đời sống rừng núi, than thở chi, mất công”. Huỳnh sững mắt, giận: “Mình mà thèm thở than, cậu đừng có giỡn”. Huỳnh vẫn kỵ những lời phán đoán mình đang ở trong cảnh khổ. Hắn giận cấp trên nhưng lại cho hoàn cảnh hiện tại do mình tự do định đoạt. “Mình không chịu, chỉ có Việt Công mới bắt bí được mình”. Hắn giận Ngưỡng kêu hắn than van. Nhưng ngay cả dáng điệu hắn cũng luôn luôn là sự than thở. Từ tảng đá ở bên giếng nước nhà trường. Ngưỡng có thể nhìn qua cánh đồng dưới chân đồi thấy vùng An Bình ở xa xa. Chỉ năm cây số đường chim bay nhưng chuyện về An Bình có khi đã thành mộng ước của Huỳnh. Ngưỡng vừa tới thị xã đã bị đưa lên đây ngay nên thị xã không là một hình ảnh để Ngưỡng khao khát quá như Huỳnh. Cách đây một năm, theo lời Huỳnh, đường từ đây về thị xã đi lại thật dễ dàng. Những ngày nghỉ, chỉ việc đứng đợi một chuyến xe từ quận chạy qua chân đồi, một giờ sau đã có mặt ở đại lộ thị xã. Bây giờ, khúc đường từ đây về An Bình đã hoàn toàn bị đứt. Những người dạy ở An Bình tuy cách xa thị xã cả ba bốn chục cây số, tuy rất dễ gặp một ổ phục kích, một trận đánh, một trái mìn giữa đường nhưng đường về thị xã vẫn còn có thể đi lại được. Ở đây thì hoàn toàn cô lập. Hồi đường từ đây về An Bình bị cắt ít lâu, có người vùng này qua đó đã thấy có những căn nhà của Việt Cộng dựng vào chân núi, đã thấy những con heo từ các căn nhà đó ra đường đầm mình trong những vũng đất. Huỳnh, sau mỗi buổi học, ra giếng rửa tay, thường đứng trên mỏm đá tần ngần nhìn về phía An Bình. Hắn theo Thiên Chúa giáo, trông tháp chuông nhà thờ An Bình nhô cao trên nền trời vùng biển, hắn nói An Bình dù sao cũng còn điều ấm cúng. Bây giờ về mùa đông, bầu trời xám và thấp, tháp nhà thờ thường mờ mờ sau những buổi chiều tan học. Huỳnh kêu đó là vùng dĩ vãng của hắn. Hắn muốn được một Chủ nhật về ở đó, đứng ở bực tam cấp nghe lễ và sưởi nắng. Sau đó, lên xe về thị xã rủ một đứa em đi thọc bi da. Ngưỡng hiểu Huỳnh, thấy hắn thật tội nghiệp. Hắn khao khát về bao nhiêu, lúc ra tới đây hắn mừng rỡ chừng nấy. Hè vừa rồi, hắn đã ra sau ngày khai giảng một tháng rưỡi vì không đi được. Lúc đầu, gặp những người bạn trong thị xã, hắn cười trước vẻ ngạc nhiên khi thấy hắn vẫn dong chơi trên đại lộ như một người an nhàn nhất: “Dạy xa là thế đó. Mỗi năm trung bình đến lớp ba tháng”. Nhưng sau nhiều ngày xách “sắc” ra ngồi ở một quán nước xiêu vẹo, ngong ngóng trông vào sân bay quân sự chờ một chuyến máy bay bất ngờ, hắn bắt đầu sốt ruột. Ngày lại ngày, hắn trèo lên xích lô đi rồi lại trèo lên xích lô về. Trong quán cơm, bên câu chuyện của các đồng nghiệp, hắn lạc lõng với bộ mặt phờ phạc vì chờ đợi. Chờ đợi trở lên miền mỗi bữa cơm có một đĩa trứng tráng và đêm đêm nằm ngoài ruộng trông sao. Ba mươi buổi chầu chực ở cổng sân bay, sáu mươi lần trèo xuống xích lô đã động tâm Ty. Bây giờ hắn khỏi phải lên phi trường, sáng sáng xách “sắc” lên Ty, ngồi trên hiên chờ máy bay. Hắn lựa chỗ cuối hành lang có những cây huỳnh anh dựa vào cột hoa ngủ gà ngủ gật. Bên tai hắn, mơ màng tiếng gõ máy chữ, tiếng “sạch sạch” của máy quay ronéo, tiếng giầy sẽ sàng trên đá hoa và những tiếng ho trong lòng bàn tay. Cuối cùng, hắn theo một đoàn “công voa” chở thực phẩm ra ngoài quận. Hắn luống cuống trước cái tin bất ngờ đó nhưng còn cố chạy đi mua ba ký lạp xưởng cỡ lớn. Lúc ra tới nơi hắn lôi trong “sắc” của hắn ra sau cây thuốc Quân tiếp vụ, một chai xá xị đựng xăng, một ống đá lửa, một tấm khăn để chít đầu trong lúc chui ra ngoài ruộng, mấy chai thuốc đỏ và vài ống pommade xức các vết xướt, một chai cồn chín mươi độ để nặn khi sai khớp xương. Bây giờ, Huỳnh đã quên hết nỗi vất vả, những ngày chầu chực của hắn. Trên tảng đá nhìn xuống vùng An Bình, tấm thân phục phịch của hắn chơ vơ trong những buổi chiều tan học mùa đông trông vừa hài hước, vừa bi thảm. Ngưỡng hỏi hắn: “Đã quên ngày ngồi ngủ gật ở Ty rồi sao?” Hắn ngớ ra một lúc, đưa mu bàn tay cọ cọ vào hàm râu nham nhở: “Không hẳn quên cũng không hẳn nhớ. Mình nhớ mình đã vất vả về chuyện chờ đợi nhưng hết còn mường tượng nổi tình cảm của mình lúc đó. Mọi tình cảm nơi mình lúc này đều dồn vào chuyện về. Sau ngày hai mươi lăm tháng Chạp, còn ở đây, coi như hết hy vọng. Cậu cứ tưởng tượng, đêm giao thừa nằm ở đây mà nhớ nhà…” Nghe Huỳnh, Ngưỡng không còn thấy một chút bình tĩnh, vững chãi ở người đàn ông ba mươi mấy tuổi này nữa. Trong giây lát Ngưỡng thấy mình già đi nhiều. Ngưỡng bảo hắn: “Trẻ như tụi này có lẽ đỡ khổ hơn mấy cậu. Phan và cậu, nguyên việc xa vợ xa con cũng đủ thấy oán vùng núi non này rồi. Nhưng cậu cứ yên tâm. Thế nào chẳng có mấy chiếc trực thăng chở đồ ăn tết ra cho quận”. “Cậu nói như thật. Tháng trước nó vừa tải thực phẩm ra dùng trong tháng, có điên nó mới ra nữa” – Huỳnh nhăn nhó. Thấy Ngưỡng cũng ngẩn mặt, hắn vội nói: “Tuy nhiên mình chắc đám biệt kích núi không chịu ngồi yên từ giờ đến tết đâu. Thể nào họ cũng xuống núi, về thị xã khuân thực phẩm lên”. Ngưỡng lắc đầu. Chỉ có Huỳnh mới tự an ủi được hắn. Nếu có giấc ngủ làm hắn sung sướng chắc là giấc ngủ mơ thấy những người lính quàng khăn đỏ ở cổ họng súng gờm gờm chĩa vào các bụi cây. Nhưng có đêm nào hắn ngủ được trọn giấc. Giấc mộng của hắn nếu có cũng dở dang. Cách đây mấy hôm, thằng học trò trưởng lớp Ngưỡng ra đi, Huỳnh lại càng vất vả. Hắn nghiễm nhiên phải thay thế thằng bé, làm kẻ dẫn đường lẩn trốn trong đêm. Ngưỡng thấy nhớ buổi chiều hôm ấy, nhớ thằng bé lạ lùng. Những cây phượng cao hơn tầm tay trụi hết lá, cành cong đầy mắt, trông những cái đuôi khô nhô đốt xương. Bụi tre xơ vàng óng cuối dãy trường vật vờ phần ngọn loáng thoáng ánh nắng. Thằng học trò trưởng lớp vẫn co ro trước cửa văn phòng hiệu trưởng đợi Ngưỡng. Đầu nó chùm hụp một cái mũ nhà binh đã cũ. Ngưỡng không hiểu nó thiếu khôn ngoan hơn mình hay bạo dạn hơn. Ngưỡng không bao giờ vứt cái vỏ Quân tiếp vụ ở trường như trước kia vẫn vứt những vỏ Ruby. Chắc thằng bé lại muốn xin thôi học. Buổi nào Ngưỡng cũng vỗ về chúng như một thông lệ cầu nguyện: “Các em cứ gắng đi học, cuối năm thầy cho đậu hết”. Nhưng sổ điểm danh ngày nào cũng chạy dọc một cột dấu chữ thập. Có đứa vừa ra khỏi lớp học vừa mếu máo, luẩn quẩn bên cửa sổ nhìn vào cả buổi, có đứa Ngưỡng nghe tin bị bắt lên núi cả tháng mới thấy người nhà đến xin lại hồ sơ, có đứa nghỉ hôm trước, hôm sau gửi cho thầy một lá thư đầy lỗi chính tả hẹn ngày “giải phóng” cho thầy. Ngưỡng thay vì soạn bài đã lục trí nhớ chép lại những bản nhạc của Phạm Duy đem dạy học trò. “Ngày trở về có anh thương binh chống nạng cày bừa…”; “Từ ngày chinh chiến mùa thu…”; “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”. Lúc này, chỉ còn Phạm Duy mới dạy được chúng nó. Nhưng chỉ dạy một bài ca, một câu nói về Phạm Duy, những đứa trẻ lại thấy mình tách khỏi khối Việt Nam thảm họa, thấy mình một mình lo lắng trên đường về, một mình thao thức chờ tiếng trống tựu để biết đã qua đêm. Không còn ai để cất lời than chung với nó, chỉ có từng người hoang mang lẫn trốn. Những lúc dự đoán đời sống đám học trò Ngưỡng thường đột ngột nhớ tới Sài Gòn. Nhớ tới nhà hàng Quốc Tế chỉ vài hôm đã tẩy xóa hết vết tích do những trái nổ rạng ngày 1/11/1963. Mười năm, hai mươi năm sau, những đứa còn sót lại liệu có được mặc quần áo mới để hát nhạc Phạm Duy hay lại thành những gã cày ruộng đầy những hoảng hốt, cắm đầu lội trên những luống cày nghêu ngao những bản nhạc của lớp học xưa, giọng buồn như một giọng Hời mất nước. Tết này ở đâu cũng vậy thôi. Ngưỡng thấy mình như tự lừa gạt trong tâm trạng chờ đợi ngày về. “Thưa thầy, thưa thầy…” Thằng trưởng lớp ấp úng. Ngưỡng thấy tội nghiệp thằng bé. Thằng bé đêm nào cũng ra ngoài bãi mía trốn với bọn Ngưỡng, lủi nhanh như con sóc. Huỳnh không mấy ưa nó, thấy nó quá sợ thầy. “Những hiệu trưởng trước kia đều là những thằng trưởng lớp như mày”, có lần Huỳnh đã bảo nó. Ngưỡng thấy thật khó xử mỗi khi bất đắc dĩ phải gọi thằng bé nằm bò bên mình cả đêm hôm trước đọc bài. Ngưỡng thấy nó là một người bạn xoay xở lanh lẹn trước những trường hợp nguy hiểm của mình hơn là một đứa học trò. Trong bóng tối, nhoài người trong ruộng mía mênh mông, không bao giờ nó nhầm phương hướng. Nó thuộc từ cái bờ có thể nấp lánh đạn, từ cái giếng khô trong bãi. Nhiều bữa nó xin phép Ngưỡng cho nghỉ học để mò mẫm tới những gò đống bọn Ngưỡng ẩn trốn, bắt rắn và bò cạp, dọn chỗ cho thầy. “Thưa thầy, em muốn xin rút lại hồ sơ.” “Hồi nãy, ở trong lớp sao không nói?” – Ngưỡng hỏi. Thằng bé cười gượng: “Em sợ tụi nó ngạo em. Em muốn xin thôi học, lấy lại hồ sơ để… đi biệt kích”. “Đi biệt kích?” – Ngưỡng lạ lùng: “Nhỏ như em làm sao đi lính?” Thằng bé tự tin: “Em đã hỏi cẩn thận rồi. Cứ lên gặp họ, nói không có chỗ trốn Việt Cộng, họ nhận liền”. “Sớm mai em nói lại với ông hiệu trưởng”. Hai thầy trò ra khỏi cổng trường. Gió dưới đồng thổi lên hun hút. Mấy luống lang ở khu học đường viên vừa được tưới nước, ẩm ướt lạnh lẽo. “Tối nay em đến thầy”. Thằng bé nói, nhảy lên sau chiếc xe đạp của một đứa bạn đứng chờ bên hàng rào. Chiếc xe lao xuống con đường dốc. Chiếc mũ nhà binh như trôi trên thác nước rồi khuất hẳn. Ngưỡng lững thững về nhà. Những chiếc lều chợ xiêu vẹo trống trải. Con đường hai bên thoai thoải như lòng sông cạn đầy phân trâu phân ngựa. Đẩy cửa vào, Ngưỡng nghe tiếng Huỳnh nóng nảy, chua chát: “Đã ở cảnh khổ này, không thương nhau, ít ra cũng phải biết điều với nhau một chút”. Huỳnh hậm hực nhổ toẹt miếng trầu lúng búng trong miệng. Phan mỉm cười đứng dậy gài lại chốt cửa. Ngọn lửa trên bàn chập chờn, chập chờn. Người Phan trông dóc hẳn đi. Hai gò má đậm, bóng tối, lõm sâu. “Mỗi người có lý của mình. Làm hiệu trưởng mà để giáo viên muốn dạy, muốn nghỉ ngày nào cũng được, khi Ty quở trách ai gánh chịu đỡ cho đây. Mình phải đặt mình vào địa vị người ta mình mới thấy được sự công bình”. Tiếng Phan yếu ớt như một hơi thở dốc nhưng luận điệu vững vàng. Huỳnh có nóng nảy cũng không nỡ cắt đứt, át đi tiếng nói của Phan song yên lặng nghe, thấy Phan mỗi lúc nói một đậm như thể chính Phan là hiệu trưởng và Huỳnh càng dồn cơn giận mỗi lúc một bừng cao. Huỳnh chờ Phan dứt hẳn mới nói: “Tôi không đả kích hiệu trưởng như đả kích chức vị của anh ta, anh đừng nói rộng ra để buộc lỗi tôi. Sự thực, tôi chỉ muốn nói riêng đến một chuyện đó. Chỉ một chuyện đó thôi. Nếu lính họ đi qua, không về với họ, đành chờ thanh bình mới về ăn tết sao”. “Thì một chuyện đó chớ sao. Trong bất cứ chuyện nhỏ nhặt, riêng rẽ nào khác, người ta cũng chỉ có một thái độ. Thái độ của một người có tinh thần trách nhiệm”. Huỳnh có vẻ bí, tay vung lên biểu lộ nỗi ấm ức. Ngưỡng nói: “Hai anh cứ còn có những cuộc tranh luận thế này, tự động sẽ có anh biến thành cấp trên, một anh thành kẻ phản kháng, trong lúc cả hai anh đều là những người dưới quyền hiệu trưởng, mong về với vợ con”. “Lẽ phải nhiều khi tách rời những người cùng cảnh ngộ”. Phan thản nhiên. Ngưỡng cười nhạt: “Nhưng nhiều khi lẽ phải cũng là thứ ngụy trang có thể lợi dụng để dành ưu thế cho mình”. Huỳnh trong khi bị hậm hực mỗi khi cãi nhau với Phan nhưng thấy Ngưỡng gay go, Huỳnh lớn tiếng: “Các ông làm như thể sắp được về đến nơi, nói hoài về chuyện đó chi cho tốn nước bọt. Hiệu trưởng có mở rộng cửa trường cho các ông về ngay ngày mai, các ông cũng đành nước nằm khoèo mà đợi”. Ngưỡng rót một ly nước, Phan bỏ lên giường nằm. Ngưỡng nghĩ tới cái lỗ khoét dưới chân vách áp giường Phan. Đã bao nhiêu lần cả ba chui qua cái lỗ đó, sao vẫn khinh nhau. Hắn tham sống và vin mù quáng vào những hình thức mang danh sự ổn định? Nhưng còn Ngưỡng? Có lần nào hắn chui qua lỗ đó mà thiếu Ngưỡng đâu? Hay tại sự hèn nhát ghê tởm của hắn trong dĩ vãng và “lẽ phải” của hắn trong hiện tại. Tới đây, Ngưỡng hết đường trả lời và thắc mắc, Ngưỡng hình dung cảnh Phan hoảng hốt chỉ vào bụi rậm trong lúc đám dân bị bắt cùng với hắn đứng chết cứng. Một khẩu tiểu liên hết đạn giơ lên khỏi bụi cây. Những tràng đạn hung nộ xả vào. Những ngọn cây gẫy gục. Một bàn chân giầy da cao cổ lòi ra. Trở về hắn bị bắt và được tôn giáo mở cửa ngục, dẫn về cho đi dạy học lại. Ngưỡng chắc “lẽ phải” của hắn đã có ngay từ khi lọt lòng mẹ, như nỗi hèn nhát và tội lỗi của hắn. Ngưỡng không nghĩ mình khá hơn hắn nhưng nếu đám dân còn im lặng, chắc chắn Ngưỡng không phải là kẻ tình nguyện. Ngưỡng châm một điếu thuốc thấy ngọt miệng lạ thường. “Thằng trưởng lớp lớp tôi nó đi biệt kích cậu ạ” – Ngưỡng nói. Huỳnh cười buồn: “Càng may cho nó. Sau này nó đỡ phải làm hiệu trưởng”. “Sau này là bao giờ?” “Sau này là sau này”. “Ừ, sau này… Cậu quả đã có thói quen chờ đợi” – Tiếng Huỳnh cười lớn rồi kìm ngay lại. “Tết về Sài Gòn cậu định làm gì?” “Hơi khó nói đấy nhé. Phải nghĩ lại coi. Có lẽ rút bất… ờ… ờ”. Chiếc phi cơ dời phi trường. Những ngọn núi sụt chiều cao. Ghế da trong những rạp có máy lạnh. Cả vùng ruộng bờ biển khô cháy. Những vũng nước thu nhỏ, xanh mắt mèo. Vẻ đẹp đánh lừa người trên cao. Những luống nước đục đất thó trải thành từng giải trên mặt biển. Mây phẳng như một biển bông gọi chuyện Tề Thiên, Trư Bát Giới. Những chiếc thuyền như gấp bằng bìa xoay vần dưới kia đã mất hút. Những đốm lửa đỏ quạch đốt tha rải rác trên các sườn núi. Đèn trong phi cơ bật sáng. Ngưỡng đột nhiên thấy dưới kia nhòa hết, chỉ còn mình nhìn bóng mình mỗi lúc mỗi nổi bên cửa mi ca. Núi non và biển cả đều là vực thẳm mênh mông bóng tối. Một vài đô thị xa vời dấu vết là mấy chuỗi đèn li ti. Sài Gòn đột ngột hiện ra như một ánh sáng bất ngờ. Ngưỡng xuống những sườn đồi sao sa. Bến xe buýt phi trường vắng không. Lối ra chắn ngang cây gỗ cản. Snack bar, con gái, Mỹ, phu xích lô. Tắc xi đòi giá gấp đôi. Những ngả đường ngoại ô có cảnh binh xét giấy quân dịch. “Tôi ở ngoài Trung dạy học, máy bay về tối”. Những giáo khu cổng kín, những ngôi chùa trong lòng… [3] … dần, nhỏ dần rồi biến thành một biển mây hồng mây trắng dưới cánh máy bay. Buổi chiều, Ngưỡng thảo đơn xin hiệu trưởng nghỉ dạy một buổi, lên quận. Ngưỡng gặp người thiếu úy phụ tá. Anh ta nói mai Diệu sẽ được về, không có chi đáng ngại. Ngưỡng chào anh ta, về. Ngưỡng gặp một chiếc xe jeep chạy về quận, chở một con nai bị bắn chết và ít người dân vệ vừa hát vừa reo. Không hiểu Diệu ăn gì trong thời gian bị giữ. Chắc chắn là không có thịt. Những người trong quận nếu một tháng đôi lần không săn được nai, có lẽ cũng không bao giờ được ăn thịt. Về tới nhà, Ngưỡng thấy Huỳnh đã về, vừa huýt sao vừa lau chiếc bàn giữa nhà. “Phan đâu cậu?” “Ăn giỗ ở nhà hiệu trưởng”. Ngưỡng cười: “Cậu được mời?” “Sao lại không. Cậu cũng được mời song mình đại diện từ chối. Ăn giỗ, nói chuyện người chết và công văn, chỉ thị, nuốt sao vô?” “Chuyện cô Diệu sao?” “Mai về. Biết vậy thôi”. “Có nghe tin tức gì không?” Huỳnh vứt cái khăn xuống chậu nước, ngâm một ngụm rượu, bắt chước ông già chủ nhà, phun xuống mặt bàn. Những con ruồi vừa đáp xuống bay ùa lên. “Sẽ dành cho cậu một bất ngờ” – Huỳnh nói. Thấy Huỳnh vui, chịu khó lau bàn, Ngưỡng đoán Huỳnh vừa kiếm được một món nhậu. “Nhậu phải không?” Huỳnh hít hít mấy cái. “Cậu thính mũi thật. Gan nai xào có khác”. Ngưỡng chắc Huỳnh đã khéo léo điều đình ngầm với mấy người dân vệ lúc họ săn nai mang về quận. Thấy Ngưỡng không lộ vẻ mừng, Huỳnh bảo: “Thịt gan đều tươi mà mình lại chỉ dẫn cho bà cụ cách xào nấu, chắc không đến nỗi dở.” “Cậu từ chối ăn giỗ hợp lúc lắm”. Lúc mâm thức ăn bưng lên trời chạng vạng tối. Khi hai cánh cửa đóng lại, tiếng gió như trở nên lớn hơn. Huỳnh lấy một xị rượu, rót đầy ba chén, bảo ông già và Ngưỡng: “Tối nay phải say một chuyến, rồi ngủ ở nhà, mặc súng đạn trời đất. Chiều nay nhớ nhà quá, chịu hết nổi rồi”.
*
Ngưỡng nghe tin Diệu về, chưa kịp gặp, lại nghe nói Diệu bệnh. Ngưỡng xin Huỳnh ba viên tifomycine gửi cho Diệu. Những ngày cuối năm qua mau. Ngưỡng không dám nghĩ đến chuyện chờ đợi nữa. “Em chỉ muốn là em gái anh”. Có lẽ đó là cách gỡ khó cho cả hai trước khi mỗi người trở về đời sống riêng lẻ của mình. Nếu Ngưỡng thấy mình chẳng thể bao bọc được một người vợ như Diệu, Ngưỡng cũng không thể đóng vai người anh thầm vụng nhớ thương em gái. Diệu cũng như những chữ bằng vôi nguệch ngoạc trên vách đá, đành coi như những kỷ niệm ở ngay hiện tại. Nhưng đời sống Ngưỡng vẫn còn bám lấy miền núi này như một loài cây leo bám vào các khe đá, liệu bao giờ chuyện xa cách Diệu thoát khỏi được vòng dự tính để thành sự thật. Bên Ngưỡng, Huỳnh mỗi ngày một tỏ ra nóng nảy, sốt ruột. Phan cũng sốt ruột nhưng trước vẻ ồn ào, bực bội của Huỳnh, Phan chỉ còn biết yên lặng băn khoăn. Có bữa Huỳnh đã toan làm lớn chuyện với viên hiệu trưởng địa phương vì câu nói: “Ông Ty đã thỉnh ý ông Tỉnh về việc di chuyển của giáo chức ở các trường hạng C và ông Tỉnh có lời khuyên giáo chức nếu không nhằm ra nhiệm sở được đúng ngày, không nên về trong các dịp lễ. Tết, các anh giáo về, có gì xảy ra, tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm”. “Tôi đã ba mươi mấy tuổi đầu lại cần anh chịu trách nhiệm về chuyện tôi về ngủ với vợ tôi sao?” – Huỳnh đã hét lớn. Một buổi sáng, Ngưỡng đang dạy học, chợt Huỳnh chạy sang, hân hoan bảo Ngưỡng: “Về, về đến nơi rồi. Sửa soạn mau lên mới kịp”. Ngưỡng còn đang ngơ ngác, Huỳnh vội chỉ ra ngoài cổng trường và văn phòng hiệu trưởng: “Thấy chưa? Về đến nơi rồi, về đến nơi rồi. Sửa soạn đi là vừa”. Huỳnh nói xong hối hả quay về lớp. Những người đến văn phòng xin cho con về đứng quây lấy hiệu trưởng người nào cũng nhớn nhác. Có nhiều người chạy thẳng lên các lớp học. Bọn trẻ nhốn nháo ngó ra. “Xin thầy cho chúng tôi về. Đánh lớn tới nơi…” Mấy người đàn ông vây lấy Ngưỡng, vừa nói vừa ngó vào lớp ra hiệu cho con. Ngưỡng lắng nghe, không hề có một tiếng súng. Nhưng kinh nghiệm đã cho Ngưỡng biết, dân chúng đánh hơi trận chiến rất nhanh. Ngưỡng phân vân chờ hiệu trưởng quyết định thì nhiều câu nói khác đã ồn ồn nổi lên: “Biệt kích đã xuống tới Phú Hiển rồi”. [4] Bọn trẻ không cần chờ thầy ra lệnh, nhốn nháo thu sách vở, ùa ra hiên lấy nón mũ chấp chới chực chạy về. Lớp Huỳnh học trò về trước tiên. Huỳnh sang bảo Ngưỡng: “Cho về là phải. Tình hình này có vẻ gay lắm đấy”. Ngưỡng nhìn Huỳnh. Hắn chỉ còn thiếu nước ôm Ngưỡng nâng bổng lên. Trưa hôm đó đánh lớn ở Phú Mỹ. Lúc nghe những tiếng súng rung chuyển bàn ghế trong nhà, ba người đã sửa soạn xong. Nhưng trái với thông lệ, sau trận đánh, biệt kích lại trở về núi. Huỳnh nghe ngóng suốt một buổi chiều. Khi biết chắc biệt kích không về thị xã, hắn lại uống rượu kèm theo câu nói: “Phải uống say một chuyến rồi ngủ đại ở nhà, mặc tuốt”. Vợ chồng ông cụ già đã bắt đầu cạo khoai lang, xắt từng khoanh ngâm nước sửa soạn làm rim. Các quán chợ ngoài đường bày thêm ít áo mới con nít và dọn hàng về muộn hơn trước. Người ta lập lại chuyện mùa xuân có đoàn du kích trên núi kéo xuống ruộng, gác súng, đá banh với nghĩa quân, hy vọng được vài đêm ngủ yên trong nhà không nghe tiếng súng. Bà cụ già bảo bọn Ngưỡng: “Tết ở đây cũng vui. Mấy thầy uống rượu nếp, đánh xóc đĩa rồi đi coi chọi gà…” Huỳnh cắt ngang: “Bác nói, tụi tôi càng sốt ruột”. Những lúc gần sáng từ ngoài ruộng mò về, nhiều khi Huỳnh và Phan thức nói chuyện tới lúc đi dạy. Ngưỡng về tới nhà, thấy ấm hẳn lại, để nguyên quần áo rúc vào ngủ một mạch. Ngưỡng vẫn hay mơ thấy Diệu, thấy máy bay và chiếc lan can gỗ mục ở nhà. Phan lại bắt đầu có những lời mê hoảng trong giấc ngủ sau mấy tháng êm ả mà Phan cho là bệnh tim đã trị dứt. Có đêm ở ruộng về vừa đặt mình ngủ Ngưỡng chợt tỉnh dậy vì tiếng than phiền của Phan. Ngưỡng tưởng Phan và Huỳnh còn thức nói chuyện. Khi nghe tiếng Huỳnh ngáy lớn đứt đoạn như tắc mũi, Ngưỡng mới biết Phan nói mê. Lúc đêm về sáng trời thật lạnh, tiếng hắn thật rõ, tự nhiên như lúc thức. Sau đó, hắn lịch kịch trở dậy, mò mẫm trong bóng tối, lại bàn thắp đèn, lấy nước nóng trong bình thủy pha một ly trà nhạt ngồi uống. Một hôm nói chuyện với bà cụ già về ngày cúng ông Táo, hắn bảo bà cụ nửa đùa nửa thật: “Có lẽ ma quỉ ám ảnh chúng tôi, cản đường không cho chúng tôi về”. Hắn lặp lại câu nói nhiều lần. Càng lúc vẻ khôi hài của câu nói càng bị giảm nhường cho vẻ tin tưởng của hắn. Lúc đầu Huỳnh bảo Ngưỡng: “Những thằng ưa nói lẽ phải, trách nhiệm vốn là những thằng sợ ma”. Về sau, mỗi ngày thấy Phan một hốc hác vì thiếu ngủ, vì một nỗi hoang mang mơ hồ, Huỳnh thường thức nói chuyện với hắn. Nhiều đêm Huỳnh mải miết tâm sự với Phan, hôm sau hắn băn khoăn bảo Ngưỡng: “Không hiểu sao mình lại nói nhiều với hắn như vậy. Dễ hố bỏ mẹ”. Nhưng Huỳnh cứ tiếp tục băn khoăn và tiếp tục tâm sự. Trong bóng đêm Phan ngồi bên hắn như một sự quyến rũ ma quái đầy tình chân thật. Nhìn Phan trước mặt, hắn hết còn hình dung nổi một Phan đáng ghét lúc ban ngày, chỉ có một người bạn cũng buồn, cũng lo lắng như mình. Những buổi đến lớp, Huỳnh thường sang nói chuyện với Ngưỡng. Hắn bảo Ngưỡng: “Bây giờ chỉ nom thấy thằng trưởng lớp của cậu về đây hoặc những người đến lôi con cái về là làm mình còn yêu đời được một tí”. Ngưỡng biết Huỳnh vẫn còn lòng chờ đợi tuy hắn không còn nhiệt thành như trước nữa. Hắn không hề nhắc lại những dự tính, như về nhà hớt tóc, cạo râu cho vợ con dễ nhận ra mình. “Bà cụ nói có lẽ hợp lý. Mình ở lại, sáng mùng một mang một bộ bầu cua ra hốc núi xốc… (thiếu 8 chữ) có khi lại đỡ sầu” – Hắn nói.
*
Lá quốc kỳ phất phới trong không khí lạnh lẽo buổi sáng như một lá bùa hộ mệnh của ngôi trường. Ngưỡng bảo Phan: “Chắc ăn rồi đó. Phi cơ không thể nào lầm tưởng mình với những trường đã bị chiếm”. Phan hỏi: “Anh đã sửa soạn bài Ý nghĩa ngày tết Nguyên đán rồi chứ?” “Rồi. Anh có muốn tôi dượt lại trước với anh bài đó không?” – Ngưỡng cười, nói. Phan hình như sợ Ngưỡng cẩu thả không chuẩn bị sẽ lúng túng trước đại diện xã, hội trưởng hội phụ huynh. Trước dãy trường, một chiếc bàn phủ vải trắng nom ra trụ cờ trên đặt một bình bông vạn thọ bằng giấy. Hai bên, hai dãy dài ra tới trụ cờ. Một chiếc bàn học đặt ở giữa để những phần thưởng và số kẹo bánh sẽ phát cho học sinh. Những cành phượng trơ trụi loáng thoáng đủ các loại hoa do học trò tự động buộc vào. Có một số trẻ vận áo mới cổ tay có nút gài, luẩn quẩn quanh trụ cờ. Huỳnh đứng trên hiên nhìn xuống, mắt đờ đẫn. Ngưỡng lại trụ cờ ngồi xuống bậc xi măng, châm thuốc hút, vẫy bọn trẻ lại nói chuyện: “Thầy còn chờ trò trưởng lớp ở núi xuống đưa thầy về. Thầy về, thầy ra liền, nhớ dành phần rim cho thầy nghe”. Ngưỡng nhìn từng đứa: “Chút nữa, mấy trò gắng hát cho thật nhiều, cho thiệt vui, rồi thầy sẽ kể chuyện cho tất cả nghe. Khi hát, nhớ vỗ tay đánh nhịp, vỗ thật giòn”. Huỳnh lại xin Ngưỡng một điếu thuốc. Bọn trẻ bấm nhau, cười ồn. Huỳnh trợn mắt: “Tết đến nơi rồi, bây sắp có thêm một tuổi rồi. Gắng lớn lên mau mau một chút, đi biệt kích, về đây đưa chúng tao về thị xã”. Huỳnh kéo Ngưỡng đứng lên, xuống sân: “Đạn bom tơi bời còn bày vẽ tất niên”. Huỳnh nói lúc hai người qua phòng hiệu trưởng. Ngưỡng lắc đầu: “Chuyện gì thì trách hắn chuyện này không nên”. Huỳnh chỉ rặng núi trước mặt: “Bom nổ đạn réo ngay bên tai còn vui thú gì”. Ngưỡng yên lặng, vừa bước vừa kéo gót giày cày từng đường đứt quãng trên cát. Giọng Ngưỡng cất lên đột ngột: “Như vậy nếu vui được càng nên vui. Nhiều khi quay lưng được vào nỗi khổ mà sống cũng nên làm. Bọn nhỏ cả năm chỉ trông ngày tết. Chiến tranh bất thường hóa tất cả nhưng lòng mong đợi ngày tết nơi bọn trẻ vẫn nguyên như tự bao giờ. Mình chẳng nên làm chúng quá thất vọng”. Huỳnh vẫn bứt rứt: “Mình vẫn thấy có sự trái ngược như mâu thuẫn. Khóc để rồi cười, cười ngay sau tiếng khóc. Ngay bên tiếng khóc…” “Chiến tranh là bất thường hóa triệu chứng. Mình có sống mâu thuẫn không có chi lạ. Mình vẫn đề cao tình huynh đệ, lòng đoàn kết trong khi bom nổ rung cả bảng đen. Mình vẫn nói đến lòng kiêu hùng trong khi không một đứa trẻ nào không biết đêm đêm mình lần ra nằm ngoài ruộng. Nhưng tôi thấy nếu nghề mình có ý nghĩa, chính là ở trong lúc này”. Ngưỡng dướn người cột giùm mấy đứa trẻ một bó vạn thọ lên cạnh phượng trơ trụi. Hai người đi dọc theo bờ rào bàn chải. “Nếu bản chất những điều mình dạy học trò vẫn có thể coi là tốt, bọn mình chính là những đứa đến cái hốc núi này, sống cực nhục trong những mâu thuẫn, ngoan cố giữ lại sự tốt đó. Nhưng không giữ lại với nỗi lạc quan máy móc mà với nỗi đau đớn của mọi người quanh mình có thể, của cả chính mình. Đó cũng là điều làm mình xa cách bọn Phan, bọn hiệu trưởng”. “Mình không có thói quen nghĩ đến học trò những khi ra khỏi cổng trường” – Huỳnh nói. Ngưỡng cười: “Tôi không hơn gì cậu. Nhưng ít ra, ngồi trong lớp dàn mặt với học trò hết ngày này qua ngày khác, chẳng lẽ không có lấy một lần mình nghĩ đến mối liên hệ giữa mình với chúng, chẳng lẽ không có lấy một lúc cả thầy cả trò cùng quên những thắc thỏm riêng để cùng cười với nhau. Dù muốn dù không mình cũng không bỏ được vai trò ông thầy. Có khác chăng, mình đóng không giống người khác”. Huỳnh cười yên lặng như bất cứ lúc nào hắn nén lòng không cãi Ngưỡng. Hắn hỏi lảng: “Cậu đã gặp lại Diệu chưa? Khỏi rồi thì phải”. “Gặp rồi” – Ngưỡng lững lơ. “Khỏe chưa?” “Còn hơi xanh”. Một ông cụ già quần áo xốc xếch hiện ở trên đầu dốc, lật đật bước vào cổng trường, ông cụ đứng sững đưa mắt về phía trụ cờ có những chiếc băng trống trải. Ông nhếch một nụ cười bâng quơ, thăm dò. Ngưỡng vỗ vào mông Huỳnh: “Ban tiếp dân, xếp chỗ cho khách kìa”. Huỳnh chậm chạp bước lại phía ông lão. Hắn cười lúc đã tới sát ông cụ. Nụ cười có vẻ đột ngột như hắn vừa chợt nhận ra cần phải tiếp ông cụ. Ngưỡng lại gần mấy đứa học trò con gái nhảy lò cò với nhau ở góc sân, khôi hài mấy câu. Một hai đứa nhát không dám nói chuyện lảng đi chỗ khác. Ngưỡng bỏ lên lớp học. Qua cửa sổ lớp Phan, Ngưỡng thấy lớp vắng không, Phan ngồi trên bục, cầm tì trên hai bàn tay đan nhau, hai mắt sấp xuống mệt mỏi. Ngưỡng vào lớp. Vài đứa học trò ít nô giỡn ngồi chụm lại nói chuyện ở xó lớp. Ngưỡng lên bục. Lúc nghe tiếng trống tụ tập học trò, Ngưỡng mới thấy mình cũng tì cằm lên hai bàn tay đan nhau, mặt mệt mỏi như Phan. Học trò xếp hàng vây quanh trụ cờ và mấy tấm bàn ghế. Quan khách có ba bốn người ngồi xa nhau ở hai băng đầu. Hiệu trưởng nói chuyện nho nhỏ với người đại diện xã. Người giáo viên phụ khuyết áo dài tay, cổ cứng không ủi, hai tay cầm tờ giới thiệu chương trình đứng sau tấm bàn trải khăn trắng. Huỳnh hai tay chắp sau lưng qua lại sau đám học trò giữ trật tự. Bốn chiếc oanh tạc cơ bay thành hình bầu dục trên rặng núi trước cổng trường. Khi hát quốc ca, tuy cờ đã treo từ trước, học trò ngửng hết mặt lên trời. Ngưỡng đứng bên đám học trò lớp mình, yên lặng như chúng, thỉnh thoảng lại miết giầy lên cát vì một âm thanh thật sắc từ phía tấm bàn phủ khăn trắng đập vào tai. “Em đã nghĩ ra món quà để anh mua tặng. Lúc nào ở Sài Gòn ra qua thị xã anh mua cho em cũng được”. Diệu đã nói lúc thấy Ngưỡng nhìn chiếc nón có bốn chữ bằng sơn đỏ chói “Đả đảo Cộng sản” Diệu đội trên đầu. “Em đã định bỏ chiếc nón này ngay hôm ở quận về nhưng người còn mệt quá đầu trần ra nắng không chịu nổi”. “Cứ đội, có sao. Chừng nào có nón Huế ở thị xã mang về rục đi cũng không muộn”. Diệu cười trong nón nom thật yếu. Lúc Diệu chào Ngưỡng, đi về phía nhà ông thầy thuốc bắc, Ngưỡng còn muốn giữ lại. Người giáo viên phụ khuyết giới thiệu đến phần của Ngưỡng. Ngưỡng thong thả bước vào gần trụ cờ, nhìn bọn trẻ và cười. “Thầy sẽ kể cho các em nghe một câu chuyện thật vui. Một câu chuyện nói rõ ý nghĩa ngày tết Nguyên đán”. Tiếng Ngưỡng chậm rãi, lớn. Những chiếc máy bay sà xuống thật thấp lao vút vào những cột khói đen sậm ở chân núi. Những trái rocket như những cái chầy bạc lấp lánh dưới nắng tới tấp phóng xuống trước nền rặng núi xanh đậm. Đất rùng từng đợt dữ dội. Bọn trẻ nhao nhao hướng về phía đó. Ngưỡng nuốt nước bọt, thấy Phan và Huỳnh nhìn mình. Ngưỡng gạt đi hình ảnh Diệu đội chiếc nón lấp lánh có bàn tay nhô gân xanh giữ vành trên đường tới nhà thầy thuốc, vỗ mạnh hai tay vào nhau, lớn tiếng: “Yên lặng, tất cả yên lặng, nghe đây. Ngày xưa, có một ông vua…”
[1]Bản in mà chúng tôi sử dụng bị mất 3 dòng ở đoạn này, rất mong được độc giả có bản in nguyên vẹn giúp bổ sung (talawas). [2]Bản in mà chúng tôi sử dụng bị mất 2 dòng ở đoạn này, rất mong được độc giả có bản in nguyên vẹn giúp bổ sung (talawas). [3]Bản in mà chúng tôi sử dụng bị mất 4 trang ở đoạn này, rất mong được độc giả có bản in nguyên vẹn giúp bổ sung (talawas). [4]Bản in mà chúng tôi sử dụng bị mất 8 chữ ở đoạn này, rất mong được độc giả có bản in nguyên vẹn giúp bổ sung (talawas).
Nguồn: Bão khô. Tập truyện của Y Uyên, tranh bìa của Thái Tuấn, do Giao Điểm xuất bản lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của nhà xuất bản, xong ngày 1 tháng 12 năm 1966. Ngoài ấn bản thường có in riêng 30 cuốn trên giấy trắng mịn dành riêng cho tác giả và nhà xuất bản. Bản điện tử do talawas thực hiện.
Sinh năm 1943 (theo khai sinh, năm sinh thực là 1940) tại làng Dục Nội, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.
Là con cả trong gia đình có 9 người em.
Năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.
Học Trung học tại các trường Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn)
Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964.
Dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964-1968.
Nhập ngũ khóa 27 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, mãn khóa chuyển về đóng quân tại đồn Nora Phan Thiết, không lâu sau bỏ mình trong trận phục kích, bên dòng suối, dưới chân núi Tà Lơn ngày 8-1-1969.
Khoảng 4 giờ chiều ngày 11-1-1969, Y Uyên trở về Sài Gòn trong quan tài kẽm phủ quốc kỳ.
10g30 sáng Chủ Nhật 12-1-1969 lớp đất hửng đỏ ở Nghĩa trang Hạnh Thông Tây vĩnh viễn phủ kín anh.
Tạp chí Văn cũng xuất bản một số đặc biệt Thương Nhớ Y Uyên (1969) bao gồm nhiều bài viết của văn hữu và gia đình, bạn bè về nhà văn.
Sau năm 1975, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và Hạnh Thông Tây bị buộc phải di dời, nên hài cốt anh được hỏa thiêu và đặt tại Bảo Tháp cộng đồng chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn.
Riêng bức tượng đồng của anh được đặt tại nhà riêng của cha mẹ, anh em tại Gò Vấp.
Các tác phẩm đã xuất bản:
TƯỢNG ĐÁ SƯỜN NON, tập truyện (Thời Mới, 1966)
BÃO KHÔ, tập truyện (Giao Điểm, 1966)
QUÊ NHÀ, tập truyện (Trình Bày, 1967)
NGỰA TÍA, truyện dài (Giao Điểm, 1967)
CHIẾC XƯƠNG LÁ MỤC, tập truyện (Tân Văn, 1968)
ĐUỐC SẬY, tập truyện (Văn Uyển, 1969)
CÓ LOÀI CHIM LẠ, tập truyện (Tân Văn, 1971)
Bão khô Chợ ở khúc quẹo của con đường dẫn từ ngoài lộ vào giữa làng. Ở chợ nhìn ra, mặt lộ cao bằng những mái tranh lụp xụp dưới chân lộ. Con đường chạy lên lộ mấy năm trước lụt bị nước phá bây giờ lổn ngổn những cục đá xanh. Những chiếc xích lô đón lính Mỹ lắc qua lắc lại vất vả mới vào tới chợ. Buổi sáng họp chợ lấn ra cả ngoài đường, trên lộ nhìn xuống thấy một hàng dài những người quần áo đen nón lá san sát lấp lánh. Trưa đến, trên đường thỉnh thoảng mới có một chiếc xe xích lô buông mui dập dình hoặc một chiếc xe nhà binh sao trắng ầm ì chở nước xuống bãi cát bên kia con đường làng. Trời cao nắng bóng mặt đá đường ra lộ, mặt cát đường trong làng. Bụi cuốn từng cơn đột ngột xoay tròn trên đường, tan vào bụi tre rậm. Chợ trống trơn, mái tôn mới sáng lòa. Mấy con chó luẩn quẩn trong chợ, lưỡi thè ra thở. Trước mặt chợ, sát bên đường, một dãy lều tranh mái lốm đốm hoa sầu đông màu tím nhạt. Có vài người đàn bà ngồi bán những mẹt mận, ổi choắt choeo, bán bánh, đồ uống. Mấy chiếc xe xích lô quay đít ra chiều gió, đậu rải rác dưới những bóng cây. Những người phu xe nằm trong lòng xe vấn thuốc hút hoặc ngủ lơ mơ. Đối diện với dãy lều, bên kia đường, tấm bảng gỗ hình mũi tên chỉ vào một mái nhà lợp rạ sau bụi tre với mấy chữ nguệch ngoạc “Laundry number one” chốc chốc lại khua lúc lắc lưng chừng một thân gòn cụt ngọn. Đường làng bên hông chợ mất hút sau những rặng cây trùng điệp. Bên kia đường, dưới sâu là bãi cát với làn nước cuối dòng sông tù hãm lấp lánh, với những chiếc xe sao trắng bên những chiếc lều màu cỏ thấp sát mặt đất bên những ruộng mía xanh non mới mọc. Một chiếc xe ba bánh bán giải khát có mui viền tua vàng rực rỡ, thùng xe kẻ đầy những chữ Refreshment nép khuất vào một bụi tre trên con dốc xẻ xuống bãi cát. Gió thổi từ bờ bể xa về lâu lâu ào lên như một hơi thở hắt. Từ một lối rẽ sau rặng cây trùng điệp, một bọn học trò con trai con gái hiện trên đường làng. Chúng đeo trên vai, xách trên tay những gà mèn, những mo cơm, vừa đi thơ thẩn, vừa đọc cho nhau nghe những lời sấm truyền về tai họa sắp xảy ra ở vùng này. “Ngày hai mươi tháng Ba năm Bính Ngọ tới đây kể từ lúc trăng lên khỏi đám mây ngũ sắc ngoài mặt biển, trời đất không còn ngày đêm. Bốn phương mờ mịt âm u, ngang trời có khói màu đen bay tới đâu nghe có tiếng than khóc tới đó, núi phía tây tinh tú sa xuống tận mặt đất bốc cháy thành lửa. Cây gai lưỡi long thảy thảy lớn lên gấp năm gấp sáu mọc chật đường, chật ngõ, bông gai thảy thảy nở, thành bông lan, người tu hành mới hửi được hương thơm. Gà không còn gáy, chó không còn sủa, ngoài đường đầy beo cọp yêu tinh. Kẻ ăn chay làm lành thì biết đóng cửa ở trong nhà, kẻ không tin thần tin quỷ thì chẳng đặng ngồi yên, lòng như có than hồng lửa đỏ, ra đứng trước nhà mà chịu chết thảm. Như kẻ nào mà đọc được lời dạy này biết sao thành ba bốn đưa cho người khác thì cũng đỡ phần tai họa”. Bọn trẻ kéo nhau ra tới chợ, vào những túp lều bỏ trống giở cơm ra ăn. Mấy con chó lại gần chúng ngồi thè lưỡi chầu chực. Ăn xong chúng xúm lại bên đứa trẻ có tờ sấm ngồi bệt xuống đất vây quanh một cái phản bán hàng lâm râm đọc và cặm cụi chép. Những cơn gió ào lên đứt quãng bị bờ tre bên kia đường cản lại nhưng vẫn thổi rạt được mấy ngọn sầu đông bên này. Những tờ sấm trên mặt phản gỗ trong lều rắc đầy những hoa tím nhạt. Vài đứa chép xong ép giấy sấm vào sách vở lại mấy gian lều bán hàng phát cho mấy người phu xe choàng tỉnh, đưa sấm cho họ. Chỉ còn người bán giải khát bên cái xe ép vào bụi tre trên dốc cát. Chúng ùa chạy tới, đứa nọ sợ đứa kia giành mất. Người bán nước bỏ đi đâu, chiếc xe thì đầy bụi, lớp tua vàng viền bên mui thì đập phần phật. Thấy một thằng bé ôm một mẹt hành đứng vơ vẩn nhìn xuống trại lính dưới bãi cát, bọn trẻ nhào tới. Thằng bé giật mình quay lại hai tay vòng chặt quanh mẹt hành. Một đứa con trai gỡ bàn tay nó ra nhét tờ giấy vào, một đứa con gái sẽ sàng đặt tờ giấy trải rộng lên mặt cái mẹt. Thằng bé hốt hoảng vứt mấy tờ giấy xuống mặt dốc: “Tôi không biết chữ, không đọc được truyền đơn”. Đứa học trò con trai chạy lượm tờ giấy chìa trước mặt thằng bé. “Mầy không đọc được thì mang về cho cha mầy đọc, lời thần dạy mà mày”. “Tôi không có cha”. “Mày nói láo. Bộ gà vịt chúng đẻ ra mầy chắc?” “Tôi cũng có cha mà cha tôi chết rồi”. Thằng bé vừa nói vừa ôm mẹt hành đi. Đứa học trò chạy theo nhét vào túi áo nó. Thằng bé đứng lại nhìn mấy đứa học trò, có vẻ không hiểu. Bộ mặt cháy nắng của nó ửng lên. Nó móc túi vứt tờ giấy xuống đường: “Má tôi cấm không được lượm giấy lạ về nhà”. Mấy đứa học trò nhao nhao bảo nhau: “Thằng bán hành phách lối”. Đứa học trò lượm tờ giấy rồi chỉ vào mặt thằng bán hành. “Có thiệt mầy không cầm?” Thằng bé bán hành nhìn bọn trẻ, giọng bối rối: “Má tôi cấm không được lượm giấy lạ về nhà”. Đứa học trò bật lên một tiếng chửi, cả hai bàn tay móc vào mẹt hành giật xuống. Những củ hành vỏ tía, những trái ớt, trái chanh rơi vung vãi bắn vào bụi tre, lăn xuống dốc cát. Mắt thằng bé bán hành mở lớn, môi cắn chặt. Nó nhào sang bên kia vệ đường, lượm một cục đá. Lúc ngửng lên, nó thấy bọn trẻ bên này đứng rải rác bên những bó hành. Đứa học trò gây với nó đá vào cái mẹt trỏ sang: “Mầy mà chọi đá, tụi tao bẻ gãy cẳng, giậm nát cái đống hành này. Chọi thử coi”. Thằng bé bán hành lưỡng lự trông sang, tay vẫn nắm chặt cục đá. Bên này bọn trẻ nhìn nhau cười. Một đứa vạch quần tiểu trên những bó hành. Thằng bên kia nhìn ngược nhìn xuôi. Thấy từ phía đầu đường có một người đi lại, nó cầm cục đá chạy sang húc đầu vào bụng thằng học trò cầm đầu. Đứa học trò bất ngờ lộn nhào xuống dốc nhưng những đứa kia đã xúm lại. Thằng bé bán hành bị đè xuống đất, cục đá nơi tay bị đánh văng đi. Những quả đấm đập tới tấp trên mặt nó. Đứa học trò từ dưới dốc nhảy lên lượm lấy cục đá nhào vào: “Đập nát ống chân nó ra nó mới sợ”. “Để tao tiểu hẳn lên mặt nó coi nó làm gì tao”. Một đứa khác kêu. Người mà thằng bé bán hành thấy ở đầu đường đã đi tới. Đó là một người lính râu lởm chởm, lệch vai. Bọn trẻ thấy có người vội vàng ùn ùn bỏ chạy. Thằng bé bán hành chống tay ngồi dậy nấc lên khóc. Người lính dừng lại hỏi: “Chuyện gì đó?” “Tụi nó muốn bẻ gãy cẳng tôi”. “Người lính cúi xuống nhìn những vết sưng trên mặt thằng bé. Anh ta dùng hai tay mở nút áo nó, nhìn vào trong xem xét rồi rờ nhẹ nhẹ trên hai cẳng nó: “Có nhức không?” “Không”. “Vậy thì chưa hề gì”. Người lính kéo ống quần lên, rút trong ống quần một lưỡi dao trắng lóa, một tay đỡ lấy ót thằng bé, một tay cầm dao lấy sống giập giập trên những vết sưng nơi mặt nó. Thằng bé nhắm mắt lim dim. Thỉnh thoảng lại nhăn mặt, rên nho nhỏ. Nó thuật lại câu chuyện cho người lính nghe. Lát sau, người lính nhét dao vào ống giầy, cúi xuống ôm lấy hai bên nách nó đưa người nó đứng lên. Nó khập khiễng xuống dốc lượm lần những quả chanh, quả ớt, bó hành. “Không hề gì mà”. Người linh nói và đứng sát vào bóng tre. “Mày ở làng này?” “Tôi ở làng Hòa Mỹ”. Người lính nhìn xuống những túp lều dưới bãi cát như tìm kiếm. “Mầy tới đây chi?” “Đổi hành cho lính Đại Hàn lấy đồ hộp, thuốc hút rồi bán lại cho mấy người trong chợ. Bữa nay cấm không được tới hàng rào tới giờ vẫn không có người đổi”. Người lính trỏ xuống bãi: “Dưới này cũng có Đại Hàn?” “Đại Hàn ở đồn ngoài lộ”. Người lính thè lưỡi liếm hai bên ria mép, bật nút áo ngực kéo cổ áo ra sau gáy, ngoắt tay ra gãi. Dáng người lệch vai của anh ta nhích mãi xuống bờ dốc cát, bóng anh ta nhích dần ra khỏi bóng tre. Thằng bé bán hành ngửng lên tò mò nhìn anh ta. Dường như anh ta vừa cất tiếng chửi tục. Anh ta móc túi lấy một điếu thuốc ngậm miệng, vừa quẹt lửa vừa lùng bùng hỏi: “Nghe nói ở đây có chiếc xe đò Vạn Hưng bán đồ uống cho Mỹ mà sao không thấy?” “Bữa nay chưa thấy tới”. Người lính nhìn thằng bé lê trên mặt đất với cái mẹt trước mặt. “Mầy có biết người con gái bán trong xe đó không?” Thằng bé lắc đầu chỉ cho người lính thấy vùng đất bên dưới dốc ngổn ngang những vệt bánh xe. “Làm sao thấy mà biết. Cửa xe có vải đỏ che kín, đậu dưới đó ai mà dám xuống”. “Con đĩ”. Tiếng người lính nguyền rủa giận dữ. Anh ta bỏ đi về phía chợ. Bọn học trò ngồi chép sấm trong lều thấy anh ta, tản mát đi chỗ khác. Trời nắng gay gắt. Anh ta toan vào cái quán đầu dãy, thấy có người đàn bà chít khăn tang ngồi đó, lại bỏ sang căn lều có mấy người ngồi nhậu với bánh tráng. Điếu thuốc trên miệng anh ta bốc khói hỗn loạn. Tay anh ta luôn luôn ngoắt ra sau gáy gãi sồn sột. Anh kêu cà phê phin. Người đàn bà áo dài đen bán quán cười nói không có. Anh ta lắc đầu chán nản, kêu la de, mặt hếch lên nhìn một gã lính Mỹ da đen cao lớn bụi bậm ngồi phơi nắng trên bực gạch cửa chợ cúi đọc những chữ số trên những tờ giấy bạc Việt Nam, đếm tiền. Người đàn bà đặt ly la de trước mặt, anh ta cầm lên lắc lắc rồi cau mặt hỏi: “Sao không có đá?” Người đàn bà cười xoa hai tay: “Dạ, hồi này đá hiếm lắm, không có mua được, anh vui lòng uống đỡ”. “Không có cà phê, không có đá, không có chi ráo cũng bày đặt bán giải khát”. Người lính cầu nhầu rồi chỉ chai rượu đế: “Cho một xị pha uống đỡ vậy. Ai mà uống la de không đá. Tôi đâu phải là người không rành chuyện ăn xài. Thằng này đã từng uống huýt ky Mỹ rồi mà”. Một ông già trong mấy người ngồi ăn bánh tráng cười bả lả đặt một miếng bánh trước mặt người lính: “Ăn miếng bánh, chú. Chú từ miệt trên xuống đây có nghe gì về vụ mìn nổ hôm trước ở bờ sông. Nghe nói có người mất chân, mất tay, mò hoài không thấy?” Tiếng ông già nói lớn làm người đàn bà chít khăn tang ở quán đầu dãy nhìn sang. Người lính vươn cổ gãi không đáp. Từ phía dốc cát, một người lính Mỹ da cổ đỏ vằng, quần áo dầy cộm rộng thùng thình dắt thằng bé bán hành vào quán có người đàn bà chít khăn tang. Người lính kéo hai chiếc ghết dưới gầm bàn, ngồi đối diện với thằng bé. Ở bên này, ông già vẫn cười bả lả với người lính lệch vai. Ông nói với anh ta những thiếu sót của một quán giải khát miền quê, nói mình muốn cất một cái quán đàng hoàng ở đây mà quận không cho phép. “Từ ngày quân đội đồng minh tới đây thiếu gì người muốn cất quán mà không được. Chỉ có chiếc xe đò Vạn Hưng là tự do hốt bạc. Thiệt là một thứ phòng ngủ lưu động. Giang hồ lãng mạn quá mà”. Người lính chằm chằm ngó ông già nghe ông nói. Anh ta hỏi: “Sao bữa nay chưa thấy tới?” “Có khi chiều mới được phép xuống, chiều mới thấy tới”. Người lính co chân lên gãi rồi cầm ly la de pha rượu đế uống một hơi lớn. Anh ta bắt đầu nói nhiều với ông già. Giọng người Mỹ ở bên kia kêu “giời ơi” vọng sang. Thằng bé bán hành mặt nhô khỏi mặt bàn ngồi ngước người Mỹ yên lặng nhai bánh. Trước mặt nó là một đống lá với một ly cam tươi. Trước mặt người Mỹ là một ly la de lớn và vòng tay lông lá của anh ta. Anh ta nếu không đột ngột kêu “giời ơi” với nó thì yên lặng dựa vào lưng chiếc ghế mây, vòng tay nhìn nó ăn. Có lúc thằng bé cười rồi ngước nhìn thấy anh ta không hưởng ứng. Mặt anh ta lúc đó tĩnh như một người ngủ mở mắt. Người lính lệch vai càng uống càng ồn ào, yếu đuối. Vẻ gây gổ của anh lúc mới tới mất dần khi thấy mấy người trong quán chú ý nghe chuyện của mình. Anh nói vợ anh ở trên chiếc xe đò có che màn màu đỏ đó. Anh tới đây để đâm nó chết. Hồi mới cưới vợ anh không bao giờ làm mẹ con anh phiền lòng. Trong nhà không chuyện gì nó không biết, không lo. Nó thuộc cả từng sợi tóc sâu trên đầu má anh, lấy than viết lên tường ghi cả ngày gà khởi ấp. Nhưng lần lần những săn sóc, chăm lo của nó thành những lời thôi thúc âm thầm muốn anh phải thế này, thế nọ. “Nó luôn luôn muốn hơn thế nữa”. Những ngày anh đồn trú ở ngoài quận địa đầu tỉnh, anh nghe nó thường theo những người đi lấy lúa ở vùng địch. Mấy bữa vừa rồi, về tới nhà anh nghe nó chỉ mượn cớ đó để đi cho thỏa tính hoang. Có người nói chắc nó vẫn theo chiếc xe đò Vạn Hưng đi bán giải khát. Nó giấu mặt trong những tấm màn đỏ nhưng ai cũng biết đến. Anh tìm tới đây, giết nó rồi đi ở tù. Nó luôn luôn muốn hơn thế nữa thì lúc này xa anh nó cũng chẳng sung sướng chi. Lưỡi dao anh mang theo đây sẽ giúp anh khỏi buồn vì nó và cho nó khỏi buồn vì cả đời không đầy được nỗi khát khao tự mình bày đặt cho mình. Buổi trưa như một giấc ngủ trằn trọc nực nội. Người lính lệch vai vừa hung dữ vừa yếu đuối mặt mũi bơ phờ cuối cùng cũng im lặng uể oải. Còn tiếng gió lùng bùng thổi từng chập trên ngọn cây làm rụng từng lớp hoa sầu đông xuống hai bên dãy lều. Từ ngoài lộ, có hai ông thầy tu đạp xe vào chợ. Chân họ đạp thoăn thoắt nhưng chiếc xe lăn nhấp nhổm, chậm chạp. Hai người đều đã có tuổi, tóc búi sau lưng, vận hai tấm áo dài xanh màu da trời óng ả, cổ đeo xâu chuỗi đen. Nơi tay lái xe, đeo lủng lẳng cái khăn gói. Họ mang dép đế dầy và cong của những người miền núi. Ở giữa quán đầu dãy, người đàn bà chít khăn tang, đội nón bước ra đường. Chị ta đi xuống phía làn nước cuối dòng sông dưới bãi cát. Người lính lệch vai đã banh hết nút áo, mồm ngậm ướt điếu thuốc đứng dậy ngó lên phía mặt lộ. Ông già và mấy người ngồi cùng với anh ta nhỏ to bàn tán về hai ông thầy tu áo xanh vừa vào một cái lều trống nghỉ chân. Người ta nói màu áo nom lạ mắt. Có người nói chắc họ ở Bình Định đi thuyền men theo bờ biển vô đây. “Phải là người gan dạ, võ nghệ cao cường mới dám xem thường nguy hiểm”. Người khác lại nói họ là bạn ông thầy pháp chín vợ ở thôn trên, hồi mở hội bắt thăm người vợ út của ông dường như cũng có mặt hai người này. Cũng có thể là hai anh em họ Trần dong thuyền đánh cá ra khơi mất tích cả chục năm ít lâu nay lại nghe nói trở về hốt thuốc cứu độ cho những người dân miền bờ biển. Cũng có thể là người ở trong bọn chuyên môn đổi đô la và buôn lậu bò sang bán ở bên kia đèo cải trang. Nhưng dù sao, mọi người cũng nhìn hai người lạ với sự e dè, kiêng nể. Những lời sấm của bọn học trò truyền nhau chép và họ như có một liên lạc vu vơ. Người lính lệch vai mỗi lúc như mỗi thêm nóng ruột. Anh ta bỏ ra giữa đường, dáng điệu bứt rứt. Những điếu thuốc trên mồm anh ta không bao giờ cháy đều, không lần nào khô đầu ngậm. Lẽ nào đứa vợ hoang giấu mặt hổ thẹn trong những tầm màn đỏ biết được anh đang ở đây chờ nó. Nó vẫn chưa bao giờ nghĩ nó đáng chết sao. Từ lúc da thịt nó mang một mùi đàn ông khác với mùi da thịt anh, nó chết rồi đó. Thân xác nó lúc này đâu còn tươi mát như trước nữa. Nó mãi mãi không còn cái nhan sắc hồi cầm than viết trên tường ghi ngày gà khởi ấp. Nó chỉ còn vẻ tươi của vòng môi song tô vụng về và những tia máu phun có vòi lúc lưỡi dao của anh ngập trong da thịt. Anh ta ngoắt tay ra dấu cho thằng bé bán hành ra đường. Thằng bé lắc đầu. Nó cười với vẻ giận dữ của anh rồi lại ngồi yên. Trước mặt nó vẫn là đống lá bánh, ly bia và người lính Mỹ. Lúc này người lính Mỹ ngủ thiệt sự. Hai tay khoanh trước ngực, lưng tựa vào thành ghế, mũ úp xuống tới mũi. Thằng bé bán hành chỉ nom thấy cái mồm môi nhỏ và hồng khô, cái cổ ngửa lên đỏ vằn. Nó nhìn hoài cái thứ có trước mắt và chưa dám bỏ đi. Người Mỹ đã nhặt được nó ngồi lê lượm những bó hành ở dốc cát giữa lúc anh ta có vẻ buồn. Bây giờ nó phải ngồi yên canh chừng nỗi buồn của anh ta. Nó mong anh ta ra khỏi quán để ôm mẹt hành trở lại đồn Đại Hàn xem có đổi đỡ được ít bó nào không. Tay nó vẫn xua những con ruồi bay qua bay lại trên mặt bàn. Người lính lệch vai ra đầu đường làng gây với người chủ xe giải khát về tội không có đá cục. Người chủ xe cười và xin lỗi luôn mồm. Chán ngán, anh ta đứng trên dốc cát ngắm những vết xe hỗn loạn thằng bé bán hành chỉ anh lúc mới tới. Phía những làn nước lấp lánh cuối dòng sông, người đàn bà khăn tang tay giữ nón đang bước lò dò như một con chim kiếm mồi. Thấy một đám học trò ngồi dưới bóng bụi tre bên đường, người lính nạt một tiếng lớn rút dao cầm tay múa một vòng. Bọn trẻ hè nhau ùng ùng chạy trốn. Người lính cúi xuống cắm dao vào ống giầy và ngửa mặt cười. Trời chiều dần dần, gió không còn đứt quãng, thổi ào ào liên tiếp. Bụi cát bay hỗn loạn vào lều vào lòng chợ mù mịt trên đường. Một vài tấm liếp dựng ngang mái lều che nắng được hạ xuống. Cơn buồn ngủ ráo khô trên những bộ mặt ngồi ở chợ không còn vẻ uể oải nhưng tỉnh táo đến thảng thốt. Mấy người ngồi trong lều với người linh đã đi vào đường làng. Người lính trở vào ngồi sau tấm liếp che với mặt đường. Một vài chiếc xe ầm ì kéo rờ moọc chở nước chạy qua đều làm anh ta giật mình. Chiếc xe đò Vạn Hưng vẫn chưa tới. Anh ta kêu thêm xá xị và rượu đế. Người đàn bà bán quán tóc búi, áo dài đen chân đất quen dần với vẻ bất thường của người khách độc nhất còn lại. Từ dưới bãi cát người đàn bà khăn tang trở lên, hai gấu quần ướt và quệt đầy bụi. Người lính hỏi bà chủ quán: “Chồng chết?” “Chết mìn hôm trước đó. Một cái xe Lam, một cái xe nhà binh, chết sáu mươi mấy người”. “Kiếm gì đưới đó?” “Cánh tay có mang cà rá của chồng. Lúc điên, lúc tỉnh, lúc dại lúc khôn, biết sao mà tin”. Người lính lầm bầm chửi tục, trề môi: “Chồng chết lấy chồng khác, mắc mớ gì mà điên”. Anh ta dùng cùi chỏ đẩy mạnh tấm liếp ngó lên mặt lộ rồi lấy lưỡi dao lầm lì bào những lớp bụi trên tay, trên ngực. Người đàn bà nhỏ giọng: “Giờ chưa thấy tới, chắc bữa nay xe đi bán nơi khác”. “Tôi chờ tới tối”. Người lính nói và đưa tay chặn ngực “ợ” một tiếng lớn. Hai người tu sĩ áo xanh ở căn lều bỏ trống lên xe dướn người đạp vào đường làng. Người đàn bà khăn tang đến đứng dưới trước lều có người lình, nền mắt đỏ, mặt ngơ ngẩn. “Tới đây từ hồi sớm, mấy mươi lần xuống bãi cát rồi đó”. Người đàn bà bán quán nói rồi lớn tiếng hỏi: “Có thấy gì không?” Không có tiếng trả lời. Người đàn bà có tang vào quán, mặt nhìn thẳng, ngồi xuống tấm băng, tay mân mê vành nón. Người lính nhìn, mắt ngó chằm chằm. Người đàn bà bán quán nhìn trước nhìn sau, mặt thoáng bối rối. “Chết ở trển, kiếm dưới này làm sao thấy?” Người lính hỏi. Người đàn bà có tang vẫn ngẩn mặt, giọng thì thầm như nói một mình: “Đây cũng không có biết kiếm đâu giờ”. Người lính “ợ” một tiếng, nhăn mặt: “Người chết nhiều vậy, thịt xương nát hết, cánh tay cũng ở đống đó chớ đâu”. “Không có, không có” – Giọng người đàn bà nho nhỏ như một tiếng cánh chim run. Người đàn bà bán quán lắc đầu. “Chết vậy mà chỉ tét bụng, đứt chân, mất đầu chớ không nát bấy như hồi ở Đốc Đá. Mấy xác người vô thừa nhận có một người đàn bà đầu văng xuống sông tới hồi vớt lên mớ tóc dài vẫn còn như cũ. Người lính cau mặt, nhấc ly rượu uống ừng ực. “Chết là hết rồi nói qua nói lại chỉ cho mất công”. Anh ta vịn vào cọc lều đứng dậy, lảo đảo ra đường, nhìn lên phía mặt lộ. Bụi kéo thành đám phủ xuống người anh. Anh đưa hai tay lên chụm mặt, quay lưng về hướng gió. Sao chiếc xe vẫn chưa tới? Sao nó chết cũng cũng bắt anh chờ đợi nôn nao như hồi sắp cưới nhau. Người đàn bà nào chết ở trển mà vô thừa nhận? Cũng có đứa đàn bà trốn mẹ, giấu chồng đi lấy lúa như nó hồi trước sao. Người lính không muốn trở vào quán nữa nhưng anh cũng biết mình không thể đi đâu lúc này. Sống lưng lạnh khô và như có cát bám từ gáy trở xuống. Mắt anh nhức nhối, hai màng tang máu đập dồn dập. Nắng vẫn chói lòa nhức nhối. Như có những đốm hoa sầu đông bằng bạc hỗn loạn trên không. Len vào bên tấm liếp, người lính buông người trên mặt ghế. Hai tay ôm mặt, anh ta gục xuống mặt bàn. Rồi một bàn tay đập nhẹ trên vai anh. Giọng người đàn bà bán quán: “Có nước chanh. Uống chút cho tỉnh”. Người lính mở mắt ngửng cổ uống một hơi rồi đột ngột hỏi người đàn bà có tang: “Người đàn bà vô thừa nhận đó ra sao? Chết mà không nát mặt sao chớ?” Người đàn bà hai tay thủ bọc, giọng buồn: “Tay ảnh có mang cà rá mà. Vàng thau lẫn lộn tùy thời; triều đình suy, thịnh tùy người nịnh, trung”. Người lính lắc mạnh đầu. Người anh chấp chới. Người đàn bà khăn trắng đó cũng chấp chới theo. Người lính đột nhiên hoảng hốt. Anh cầm miếng vỏ chanh chà lên mặt, cố tĩnh trí. Nỗi sợ hãi thiệt không hình dạng. Đột ngột như cái rùng mình của một cơn say. Anh không muốn hỏi, muốn nghĩ gì cả. Anh không muốn. Người đàn bà chết thảm đó không thể là vợ anh được. Nó đang giấu mặt trong chiếc xe đò Vạn Hưng đó. Miếng chanh vứt đi đầy cáu ghét và cát. Người lính vẫn không ngồi thẳng lên được. Đầu anh vẫn nặng nề nhức nhối. Anh gục xuống với nỗi sợ hãi chập chờn trước mặt. Cánh tay cổ tròn vạch lên tường ngày gà khởi ấp vẫn hợp với người đàn bà xuôi ngược gánh lúa, gánh thóc lúc chồng vắng nhà hơn. Những lời đồn đãi về vợ anh, từ trước tới giờ lời cuối cùng anh vẫn thấy gần lòng tin nhất. Vợ anh ngồi sau tấm màn đỏ theo lời đồn và chết lúc gánh gạo theo trí tưởng cùng mơ hồ nhưng có lý như nhau. “Ngư… ờ… đàn… bà đó… ó…” Mồm người lính mở lớn, nước mép chảy ứa. Anh muốn hỏi nhưng lưỡi líu lại và những giọt mồ hôi lạnh vẫn nhỉ trên trán. Anh kê mặt trên cánh tay vòng trên bàn, mắt nháy hoài. Nước mắt vẫn ứa ra và bộ mặt người đàn bà khăn tang thì mơ hồ. “Vàng thau lẫn lộn tùy thời; triều định suy, thịnh tùy người nịnh, trung”. Nó là bầy tôi nịnh hay bầy tôi trung của anh đây? “Nó muốn hơn thế nữa”, ước muốn ấy bây giờ cũng vẫn là cánh tay vạch lên tường những chữ bằng than ghi ngày gà khởi ấp. Nó giấu mặt sau những tấm màn đỏ trên chiếc xe đò chiều nay không tới bãi cát. Nó văng đầu xuống sông, mớ tóc còn nguyên. Người lính say thiệt sự rồi. Anh ta nhắm mắt thở khò khè với hai cái chết người vợ mình về tìm gặp. Người đàn bà có tang vẫn ngồi nhìn thẳng, hai tay thủ bọc. Người chủ quán nhìn người lính rồi nhìn chị ta, môi mấp máy như muốn nói. Bà ta lăng quăng chạy quanh lều, khép lại cánh phên, hớt những bông hoa sầu đông ra khỏi thùng nước, rồi lại nhìn từng người khách. Một đám lính Mỹ từ dưới bãi cát, quần áo xốc xếch, đi lên ồn ào cười nói. Những người phu xích lô nhảy vội xuống đất, hờm lòng xe trước lối đi của đám lính. Những tiếng trao đổi với chân tay làm điệu bộ. Những tiếng hô hối hả của một chiếc xích lô đã có khách dẹp đường. Thằng bé bán hành ở lều bên kia đang dẹp mớ lá bánh trước mặt người lính Mỹ vừa tỉnh dậy. Nó tò mò nom sang người đàn bà có tang ngồi bên người lính say rượu. Người lính bỗng cất đầu khỏi mặt bàn vươn cổ mửa thốc tháo xuống mặt đất. Người đàn bà có tang ngơ ngác nhìn anh ta. Những con chó lang thang trong chợ chạy ra xúm trước mặt người lính. Người đàn bà có tang lấy nón đội đầu đứng dậy ra khỏi quán. Bằng những bước dài và nhẹ, chị ta khom người tiến từ từ vào sâu lòng chợ, nơi có một con chó không chạy vào lều, ngồi cúi đầu gặm một khúc xương. Người lính say mửa một hồi lại gục xuống mặt bàn, người như chúi về một phía. Ở lều bên kia, thằng bé bán hành ôm cái mẹt bước ra đường. Bóng nó tần ngần đổ dài trên mặt cát bụi bậm. Nó nhìn những đốm hoa sầu đông rơi lả tả trên mái rạ, nhìn người lính gục trong lều. “Coi kìa”. Có một giọng đàn bà lẫn với tiếng gió ở sau tấm liếp như tiếng mẹ thằng bé. Nó nhìn lên mặt lộ. Trên con đường lổn nhổn đá xanh dẫn lên trên đó, người đàn bà có khăn tang đang nhảy qua nhảy lại, rượt theo một con chó ngậm trong mõm một khúc xương.
Nhà văn Đoàn Xuân Thu ở Melbourne được biết đến nhiều qua các bài viết trên báo chí Việt Ngữ tại Úc và trên các trang mạng xã hội, hoặc được trích đọc trên các đài phát thanh tư nhân ở Hoa Kỳ hiện nay, thế nhưng từ trước đến nay ông không hề nhận bất cứ cuộc phỏng vấn nào cả. Đặc biệt nhân kỷ niệm ngày 30 tháng 4, lần đầu tiên ông nhận lời với SBS Việt ngữ, qua những tâm tình về cuộc đời từ Việt Nam sang đến nước Úc nầy, cùng quí thính giả thân thương.
Văn nghiệp và nghề nghiệp –
Với tên thật cũng là bút hiệu, nhà văn Đoàn Xuân Thu ở Melbourne thỉnh thoảng cũng là thi sĩ có một số bài thơ gây nhiều xúc động, khi nói về mẹ già, quê hương đất nước.
Trước đó ông có nhiều bài được đăng tải trên các báo chí tiếng Việt tại Úc, nhất là Việt Luận tại Sydney.
Ông đặt chân đến nước Úc, tính đến nay đã được 33 mùa lá rụng.
Lúc còn ở Việt Nam, ông cho biết có viết chút đỉnh, nhưng công việc chính là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm.
Ông cho biết, đã về hưu công việc chính thức vài năm nay nên có thời giờ viết nhiều hơn, như một dạng tâm tình.
Nhà văn gốc miền Nam –
Ông gốc ở Mỹ Tho, có người cha viết báo cùng thời với ông Sơn Nam, Ngọc Linh, Kiên Giang với bút danh là Đoàn Hùng Việt, thế nhưng đó là nghề tay trái của thân phụ ông trong khi nghề chính thức là làm trong ngành Bưu Điện.
Cũng vì thế mà ông cũng cùng với gia đình sống ở nhiều nơi, khi cha ông chuyển đổi đến các nơi như Cái Bè, Rạch Giá, Ban Mê Thuột, Sài Gòn và Mỹ Tho mà ông Đoàn Xuân Thu nói đùa rằng ông có thể thuộc thành phần ‘giang hồ’, khi đổi nhà cửa không biết bao nhiêu lần, do thân phụ ông chuyển đi đến các nhiệm sở khác nhau của ngành Bưu Điện.
Các báo Ba ông cộng tác là Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc, Đuốc Nhà Nam, Tin Sớm của Nguyễn Ang Ca.
Nhà giáo và sĩ quan biệt phái –
Về phần ông Đoàn Xuân Thu sau 1975, do gốc sĩ quan biệt phái sau khi tốt nghiệp khóa 4/72 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức rồi biệt phái về Bộ Giáo Dục, sau 75 bị đuổi chứ không được lưu dung.
Được biết Sinh Viên Sĩ Quan khoá 4/72 ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy và 18 tháng sau nếu không bị kỹ luật, sẽ được thăng lên Thiếu Úy.
Lúc đi chiến dịch nhân Hiệp Định Paris vào ngày 7 tháng 1 năm 1973, ông mới là Sinh Viên Sĩ Quan, tới tháng 8 hay 9 mới chính thức đặc cách tốt nghiệp Chuẩn Úy.
‘Cô Hai Bông’ là một sáng tác viết về chuyện 3 chàng Sinh Viên Sĩ Quan lớ ngớ đi chến dịch sau năm 1973, rất mùi mẫn và hấp dẫn, theo ông dựa vào một ít sự thực chứ không phải là hồi ký.
Đến miền đất lành chim đậu –
Việc đặt chân lên nước Úc ông tin rằng đó là phần số, lúc đó đã lập gia đình và có con trai lớn 19 tuổi và con trai nhỏ 13 tuổi.
Ngày 21 tháng 9 năm 1995, gia đình ông đến Melbourne và lúc đó cũng chẳng biết thành phố nào để chọn.
Sang Úc, ông làm bảo vệ hay security officer trong 25 năm và mới về hưu được 3 năm.
Ông cũng đã dành thời gian rỗi rãnh viết ít nhiều và sau 30 năm nay về hưu, sẽ có thời giờ nhiều hơn để viết mà ông xem là, một hình thức tâm tình với người đọc.
Trong tương lai, ông sẽ ngồi viết lại những gì đã có trong đầu, nhưng cũng không biết trước được.
Ông nói như nhà văn Bình Nguyên Lộc, mà ông cho là một ‘Cuống Rúng Chưa Lìa’.
Nhìn về ngày 30/4/1975, dù muốn hay không thì đã xảy ra với nhiều cách cắt nghĩa, nhưng với tư cách là một người Việt Quốc Gia, ông cho rằng đối với ông là một ngày rất buồn không có gì vui hết, Đoàn Xuân Thu.
Giọng văn giống như nhà văn Bình Nguyên Lộc –
Được hỏi ông có giọng văn như nhà văn Bình Nguyên Lộc, khi nhắc lại truyện ngắn của nhà văn nầy là ‘Hồn Ma Cũ’, ông cho biết ‘Có thể chữ nghĩa do 2 nguồn, đó là tiếng mẹ đẻ hay ‘mother tongue’ và thứ hai là do học tập và đọc các tác phẩm của nhà văn Bình Nguyên Lộc, Hồ Biểu Chánh… rồi thấm vào mà không hay.
Được biết số cây viết miền Nam hầu như đếm trên đầu ngón tay và nhiều người trên các trang mạng rất yêu quí các giọng văn miền Nam, chuyên viết về những phong tục, tập quán và thổ nhưỡng miền Nam, khiến cho người xa xứ thích thú đọc các truyện đó.
Ông không có ý định tập trung các bài viết của mình vào những tập truyện ngắn hay truyện dài, mà chỉ là trên trang mạng Facebook hoặc trang mạng riêng của mình mà thôi.
Ông cho biết trước nhất là viết cho chính mình, sau đó cho quí độc giả về những kỷ niệm đẹp của một thời đã qua dù rằng rất khổ, nhưng có ‘Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư’ với nhau.
Tiếng Việt ngày nay –
Về cách dùng chữ tiếng Việt hiện nay, ông có vẻ cởi mở với cách dùng chữ hiện nay trong nước, hay hải ngoại.
Tiếng Việt là một sinh ngữ phải sinh sôi nẩy nở, nên có những chữ những từ mới, trong nước cũng như ở hải ngoại nếu thích hợp.
Vấn đề đặt ra là hay hay dở, hay thì xài còn dở thì thôi, theo ông quan điểm khác nhau là chuyện bình thường.
Nhận định về thời cuộc –
Về ngày 30 tháng 4, khá nhiều bài viết về gần 50 năm đã qua mà 2/3 ảnh hưởng đến toàn bộ người dân Việt Nam, làm thay đổi rất nhiều đến cuộc sống của mỗi người.
Với ông, không có thái độ bi quan hay lạc quan vì trong cái dữ cũng có cái hay và trong cái xui cũng có cái hên.
Chẳng hạn như bỏ nước ra đi là một chuyện buồn không ai muốn, nhưng con cái có tương lai tốt hơn.
Nhìn về ngày 30/4/1975, dù muốn hay không thì đã xảy ra với nhiều cách cắt nghĩa, nhưng với tư cách là một người Việt Quốc Gia, ông cho rằng đối với ông là một ngày rất buồn không có gì vui hết.
Với con cháu còn nhỏ có tương lai ở Úc, ông cảm thấy có phần nào an ủi và may mắn.
Ông cảm ơn quí thính giả đã theo dõi phần tâm tình thô thiển của mình, trong một dịp hiếm hoi trước công chúng.
Năm 66, tôi xa Sài Gòn, xa ngã bảy Cộng Hòa, xa xuôi đường Hồng Thập Tự tới ngã tư Hai Bà Trưng quẹo trái để nghe tiếng chuông nhà thờ Tân Định ngân nga chiều tan học. Xa những ngọn đèn đường thủy ngân cao áp dọc tường rào nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi cho tôi bớt sợ ma những hôm về tối.
Về lại Mỹ Tho, thị xã quê hương, mà tôi đã bỏ ra đi khi tóc còn để chỏm.Tôi về lại Mỹ Tho với những ngọn đèn néon vàng hiu hắt, về lại Mỹ Tho 9 giờ đêm đi ngủ, về lại Mỹ Tho đêm giới nghiêm chờ nghe pháo kích, chạy cong lưng xuống tranchée.
Nhà tôi là Bưu Điện, sân sau là trụ phát tuyến đài vi ba, trên đỉnh có đèn lân tinh chiếu sáng về đêm, VC lấy nó làm tâm chỉnh pháo, khi bắn vào thị xã Mỹ Tho.
Xa Petrus Ký, tôi về Nguyễn Đình Chiểu.
Thầy Lê Chí Nhơn là Tổng Giám Thị. Thầy cũng dạy tôi Pháp Văn năm lớp đệ tam B4. Động từ Être, Avoir, Thầy dạy bữa nay, chưa tới sáng mai tôi đã trả lại hết cho ông tây, bà đầm.
Thầy là bạn ba tôi nên thỉnh thoảng có đến nhà chơi. Nhác thấy bóng Thầy là tôi, Tề Thiên, hô biến. Nhưng vào lớp không biến được thì tôi né. Vậy mà không thoát, Thầy hay kêu tôi lên bảng trả bài. Thường là tôi đực mặt ra, chịu trận…
Ngay cả tiếng Anh, sinh ngữ chánh, tôi còn không thèm học, tôi bận học tiếng Em, vì một lẽ rất đơn giản là : tôi đang tập tểnh vào đường yêu “có trăm lần vui, có vạn lần buồn.”
“Sách Dinh”, con gái Lê Ngọc Hân, tóc Sylvie Vartan, tay em gầy guộc nhỏ. Em quậy đời tôi xôn xao bằng cách pha ly cà phê sữa, khi trên đường tới lớp, tôi ghé quán em dưới tàng me đường Trương Định, ngang Bịnh viện 3 dã chiến.
Ngoài ly cà phê sữa, em còn cho tôi “free of charges” những lá thư tình màu mực tím mồng tơi, ép pensé tím, dấu trong sách vở. Em đâu biết tím là màu hoa tan vỡ để sau đó em… vui vẻ … lấy chồng.
Em pha cho tôi ly cà phê sữa, như tình em, mới đầu thì ngọt, cạn ly rồi sao đắng quá tay! Ôi! con gái trường Lê Ngọc Hân làm tan nát tim tôi. Tôi theo Huyền Kiêu “Hạ đỏ có chàng tới hỏi? Em thơ chị đẹp em đâu?”
(Nó lấy chồng rồi. Nó cho nị leo cây rồi …)
Một hôm, tôi nhận được bức thơ tình cuối cùng, bản “tuyệt tình ca” của em. Đọc xong, buồn quá, tan học, tôi bỏ quên trong hộc bàn, bèn quay lại lấy. Khi trở ra cửa lớp thì Thầy đã đứng đó tự bao giờ.
Thầy hỏi: “Em đang làm gì đó?”
“Thưa Thầy! em bỏ quên sách học”
“Vậy mà tao tưởng bây rải truyền đơn chớ!”
Câu nói của Thầy làm tôi suy nghĩ. Thì ra cuộc chiến tranh kinh khiếp này không từ bất cứ chổ nào, đã tìm cách len lỏi đến tận trường tôi.
*******
Rồi miền Nam thất thủ! Nối nghiệp Thầy, tôi đang dạy giáo. Cái khác là tôi không được những người chiến thắng lưu dung. Lưu dung chứ hỏng phải lưu dụng. Lưu dung là dung thứ rồi xài lại. (Thầy giáo dạy cho học trò biết chữ thì tội gì hởi trời mà phải xin dung thứ). Thôi làm thầy giáo, thì tháo giầy, tôi đi chân đất.
Em tôi, Lệ Nga, con gái Lê Ngọc Hân, cũng giáo, rán bám theo nghề để tháng tháng được hai chục ký gạo cho cả nhà nheo nhóc ăn cháo cầm hơi.
Tình cờ em tôi đổi về Lương Hòa Lạc, Bến Tranh dạy chung với Thầy.
Thầy hỏi em tôi: “Thằng Thu giờ sao rồi?”
Tôi cũng muốn lên thăm Thầy cũ để thưa với Thầy rằng :
“Thưa Thầy! em ngộp quá rồi, chắc em lặn”.
Mà tôi lặn thiệt, lặn nhiều hơi, mới ra tới biển.
Bao năm ly hương, cho dù ông Trần văn Thủy kêu gào: “đi hết biển sẽ gặp lại quê hương”. Tôi cũng đã đi hết biển, cũng gặp quê hương, nhưng hỏng phải quê hương của tôi, quê hương của người ta, của Úc trắng, Úc đen, vừa xa, vừa lạ.
Quê người, thấy sang, tôi bắt quàng làm họ, dẫu là khách trú … tôi cũng nhận đại là quê hương … quê hương … thứ hai. Tôi cắm sào, ghé bến, đậu lại trên bước đường phiêu giạt mà vẫn chưa chịu nghe theo lời ông Trần văn Thủy dụ khị để lặn trở về.
Bao năm ly hương, cho dù ông Đỗ Trung Quân, nhà thơ nổi tiếng… sơn đông mải võ … đánh phèng la, chập choã, rao bán cao đơn hoàn tán, thuốc dán, đau đâu dán đó, trật đâu sửa đó, cho chế độ toàn trị Việt Nam, kêu gào: “quê hương là chùm khế ngọt” (Tôi thì chúa ghét khế ngọt, đã là khế thì phải chua để tôi ăn với chuối chát và cơm mẻ.) để tôi trở về rủng rỉnh đô la, tôi vẫn chưa chịu nghe lời ông Đỗ Trung Quân dụ khị để lặn trở về …
Khi lặn nhiều hơi ra biển, tôi cũng đứt ruột bỏ lại nhiều thứ : Mỹ Tho, Trường Nguyễn Đình Chiểu, Thầy Lê Chí Nhơn của tôi thời thơ dại.
Cũng như những người Việt tha hương khác, tôi thường ước mơ: rán sống tới bình minh để lặn trở về.
Ngày Cá tháng Tư đã qua, đùa cợt xin xếp lại. Đọc thấy trên mạng tin này chắc không liên hệ tới chuyện Poisson d’avril. “Một nghiên cứu cho thấy việc chia sẻ quá nhiều ảnh trên Facebook sẽ làm tổn hại mối quan hệ trong đời sống thực”. Tin được bao nhiêu phần trăm? Mình không là tín đồ facebook, chẳng ưa vọc nó nên mù tịt nỗi sướng khổ nó mang lại. Tuy vậy, nghĩ thầm: Gì mà ghê gớm đến độ phải đưa ra lời cảnh báo cắc cớ kia. Mình lạc hậu, nhưng vợ mình thì không. Đồng chí ấy mở phây đã gần 4 năm, thu nhặt khá bộn “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” của bá tánh. Có khi buồn, đồng chí ấy phán: Nghỉ chơi một thời gian. Rồi “khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười” nàng ta lại mang máy ra “kì cọ”. Những vụ hành quân đột xuất nọ lắm lúc “đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Xấu che, tốt khoe và đồng chí ấy đã mang cái màn hình di động của riêng đương sự dí trước mặt mình. Nàng đã bật đèn xanh chứ mình tuyệt chẳng muốn vi phạm tài khoản riêng tư cá nhân. Ghé mắt chùng vụng là điều đáng lên án.
Nàng cả gan kết giao “làm bạn” với nhà thơ Luân Hoán. Và cái nàng muốn khoe là bài “Tin Cùng Bạn Văn” của nhà thơ vừa post lên. Nhà thơ Luân Hoán là người đầu tiên chia sẻ nỗi đau không dưng bị bà vật của mình. Hơn 62 người thích “toa thuốc” anh ghi cho mình và có không dưới 20 lời vấn an rất uy tín của các văn thi hoạ sĩ khắp bốn phương góp tiếng. Một thứ “lương y mà từ mẫu không có được”. Đâm hối hận, giá mà mình cũng có facebook như ai kia để gửi đi lời cám ơn chân thành đến tất cả các anh chị giàu lòng nhân xa mặt cách lòng. Mình sẽ selfie cái chân tật nguyền, chụp đủ mọi góc cạnh. Ghi lại khuôn mặt thương phế nằm chìm thây trên giường bệnh ngập bóng cảm hàn. Và như vậy liệu nó có “làm tổn hại mối quan hệ trong đời sống thực”? Không, trường hợp này trăm lần không vạn lần không. Có tổn hại chăng là gây ra sự hiểu lầm: Muốn nhặt xin sự thương hại của tha nhân.
Hiểu lầm là thứ đáng ngại. Cá ngoài biển đem nuôi trong hồ nước ngọt, cá vùng vẫy nhưng không thoả thích bơi lội “cá gặp nước”, bởi không dưng rắn mắt đày ải phận này vào môi trường khác lạ. Mật ngọt chết ruồi, nước ngọt cũng làm thuỷ sản đại dương ngất ngư mắt trợn môi trề chẳng mấy lâu.
Nhân nói chuyện cá, nhớ lại năm 1978, trước khi vượt biển, bọn mình đi chợ Đông Ba ở Huế, không đủ tiền để mua cá lơn lớn, chỉ chơi được với loại cỡ bằng ngón chân cái để mang về kho và mặc cả rõ lâu bởi bạn hàng họ nói thách dễ sợ. Hét giá bà chạy! Cá lớn, nhất là cá biển không tài nào mua đặng bởi có nguồn tin, một o người làm trốn biệt tăm biệt tích vì làm cá, moi ruột thấy có cái nhẫn hột xoàn 5, 7 li nằm ở trong. Chuyện lạ. Suy đoán một hồi mới vỡ lẽ: Cá ăn thịt những thuyền nhân bất hạnh. Hy hữu chăng? Không, bởi ngoài nhẫn kim cương, có người “tốt phước” moi được cái khâu 2 chỉ. Hai chỉ vàng thời điểm 1978 là một “kho báu” nói gì tới thứ đá bất hoại chớp sáng kia. Trời đãi kẻ khù khờ, bọn mình vượt biển mà chẳng đem mạng đi nuôi cá. Đến xứ sở tự do để “ráng làm người tử tế” và do phạm tới một điều gì khuất mặt, đang đi mần ăn khi không ngã một cái đụi. Thấy sao, thấy tinh tú quay cuồng, thấy tuyết nát vụn bay xuống chôn thân. Và cuối cùng thấy bài thơ anh Luân Hoán chia sẻ nguồn cơn. Cám ơn anh Luân Hoán, làm nhịp cầu để tải về cho mình những hồi âm đầy ấm áp của các văn thi hữu xa xăm. Anh cũng là người chóng loan đi những tin buồn của các vì sao chợt rụng: Nguyễn Ngọc Bích, Tạ Chí Đại Trường, Hoài Khanh… May cho bổn mạng mình, chưa tự đọc lấy bốn chữ “thành kính phân ưu”. Một vòng hoa trắng, một ánh nến, một giọt nước mắt là thứ luôn được hiển thị dưới cột tin buồn. Facebook, trong trường hợp này cũng có cái “hay” của nó, nhỉ? Rất nung ninh!
Rốt cuộc mình là con cá lia thia đã quen chậu, thích bỏ thời gian để “tập làm văn” hơn là loay hoay đi vào dòm ngó trong thế giới “phây phây”. Nói điều này ra chỉ để biện minh cho lỗi lầm mắc phải: Mình còn mang ơn các anh chị gửi lời hỏi thăm mà chưa biết cách dóng lên một lời cám ơn. Một đứa tử tế có khi sẽ bị ngộ nhận, dù sao chăng nữa mình cũng xin hứa sẽ ráng làm người tử tế. Xin các anh chị vị tình, đừng rắc muối vào bể nước ngọt có con lia thia đang tập bơi sau sự cố làm trầy vi tróc vảy. Lỗi tại tôi mọi đàng!
Nguyễn Xuân Phúc và kiều bào về quê ăn tết Mậu Tuất
phúc nói: tổ quốc lắng nghe hơi thở của bà con kiều bào… đối tượng việt kiều hồi hộp nghe ngóng tim lãnh đạo đã ngừng đập chưa bà con vui đắp chiếu nghĩa trang yên trung tốn mấy ngàn tỷ (nhỏ như thằng đầu sỏ mỹ) ba đình buồn lẻ loi tình đồng chí mặc xác chết không chôn phân lô khó bởi ai cũng dày tuổi đảng
nhân thân xấu tóm vào đồn chết dễ trở bàn tay yêu nước lâu ngày có đứa về bị mắng sạt sài ở cửa khẩu hơi thở mong manh khò khè hen suyễn buổi đoàn viên bà con xa thua láng giềng gần cổ thư dạy làm dã nhân trung quốc bây giờ có thế giá lắm nghe em
fuck lời ông phúc phỏng chừng tựa bác sĩ tim mạch kẻ hiền lương nhịp thấp thỏm giấu trong ngực yếu lắm cơ về quê cũ hổng chừng tai biến mạch máu não năm mươi năm sự cố mậu thân vẫn nhồi máu cơ tim những đứa ác ôn đắc thọ ngậm máu phun người gắp lửa bỏ tay thôi phỏng dái nhờ đồng đô la cứu chuộc lăn tăn gãi háng moi ruột tượng hết tiền bùn chít mịa
thủ trưởng à. ngài còn nghe tui thở nữa hăm? hấp hối ca dao sai qui trình thuở nọ: “thương cha nhớ mẹ thì về nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng” bên tàu (nước lạ) kinh kha lận dao một đi không trở lại hắn sang sông muốn chứng kiến bạo chúa tàn hơi trung quốc cũng đẻ ra thằng thánh thán cực đoan một mực ngôn rằng: “nghe tin một thằng gian ác vừa chết đó chẳng phải là điều thậm khoái lắm ru?”
người hiền tài trong thơ có tên ông Luân Hoán tôi lắm lần ngợi ca thêm lần nữa thêu thùa nếu có chiếc áo thụng tôi sẵn lòng ấm thân tròng vào người nghiêm nghị thì cứ vái, khó chi? những người sống chứng giám mai kia mốt nọ buồn im tiếng làm sao thưa? lòng ông như sông Hàn mênh mang chảy ra biển trôi đi những dòng chữ thiết thân lượng ân tình ta bà ông kết giao giang hồ đủ hắc bạch ông chơi qua tài nghệ nhân thân? chuyện không màng cầm súng chế độ cũ ông đã mặn hoà bình cô một chữ trong thơ sống thở với tình yêu
người tài ba trong văn lỗi lạc Phan Nhật Nam thiếu uý Tiểu đoàn 7 Nhẩy dù luôn cố gắng KBC 4919 tấm căn cước thuỷ chung tôi chưa từng ngợi ca dù tuổi học trò đã mê mệt đọc quên ăn những trang sách hực lửa anh hùng anh hùng tận nghiệt ngã ván bài thua có thể giam thân ta nhưng khinh miệt trong đầu cưỡng hãm chuyện bất khả sức mạnh của ngòi viết sánh ngang một sư đoàn tiếc miền Nam ngày cũ thiếu nhiều Phan Nhật Nam ông qua “Dấu Binh Lửa” tới “Dọc Đường Số Một” từng “Dựa Lưng Nỗi Chết” người ta vẫn vay mượn từ “Mùa Hè Đỏ Lửa” chữ ông từng nghiệm thu băng suốt cuộc bể dâu “Tù Binh Và Hoà Bình” và hơn mười bốn năm sừng sững sống can qua các trại tù khắc nghiệt ông tự hào “Người Lính” với đầy đủ số quân dù tan hàng cố xứ trả lời bằng điện thư blog “mượn dấu thời gian” do Phan Nguyên chủ xướng: “hãy gạch bỏ tên tôi vì tôi không hề là nhà văn theo định nghĩa/ xếp loại của người chủ trương ra trang mạng này”.
tôi chưa từng cầm súng dẫu làm một binh nhì lội bộ địa phương quân vẫn nể nang ông thầy rạch ròi chuyện chánh tà vàng thau không lẫn lộn xin đứng gập hai chân chào nhà văn lưu lạc sĩ khí nằm ở ông chẳng phải ai cũng có được làm kẻ chính nhân trang sách xưa gấp lại vẫn hiện bóng thiên thần mũ đỏ ôn người Huế mang tên Phan Nhật Nam.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.