Constant Virgil Gheorghiu
Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty
Post by Sơn râu 17 May 2024

9. Cuốn Sách Kết Thúc
Boris Bodnariuk trốn khỏi Ba Lê nhờ số tiền của giáo sư Voivod. Hắn định báo tin cho Bucarest biết nhưng sau hắn đổi ý, nên bí mật trở về không cho ai hay để còn đóng bản án viên thống chế đã cưng con chó như một nhà đại tư bản.
Hắn băng qua nước Pháp, nước Đức. Trước khi đến vùng Sô Viết, hắn bị lính Mỹ bắt, bị đem đến cho Aurel Popesco nhận diện, tra hỏi, đánh đập và trước khi kiệt sức hắn ta thu hết tận lực vượt ngục như thế đồng nghĩa với tự tử, nhưng hắn đã thành công.
Bám dưới một toa xe lửa chở hàng, hắn đã đến được đất Lỗ ma ni, băng qua Hung gia lợi, Ba lan. Hắn chỉ muốn đến Bucarest nhưng tàu lửa lại đứng ở phía Bắc đất Lỗ. Hắn đến trình diện viên cảnh sát trưởng Molda, đó là mảnh đất Lỗ đầu tiên do hắn cộng sản hóa. Nông dân đang cầm quyền ở mỗi làng. Đất hoang đã biến thành những nông trường tập thể. Đã có những con đường mới, khu kỹ nghệ. Nông dân đã biến thành thợ thuyền.
Boris Bodnariuk trông thấy tất cả quang cảnh đó lúc đi ngang qua làng Molda, hắn rất hài lòng. Ở Molda, đã có một xưởng đóng đồ hộp, nhiều máy cày, một nhà tù bằng gạch và một phi trường. Boris hỏi:
– Nói với chỉ huy trưởng của các anh là Boris Bodnariuk đã đến đây và cần được đưa đi Bucarest gấp. Tôi giao lại biên bản này cho các anh và tôi ngồi chờ ở đây. Tôi không thể đi một mình đến Bucarest được nữa.
Boris ăn mặc rách rưới. Áo choàng đã rách nát. Không có áo sơ mi. Nhưng hắn rất sung sướng được thấy lại các đồng chí cộng sản của hắn.
Nghĩa là được về nhà. Chung quanh không còn kẻ thù nữa. Nhưng thiếu ăn lâu quá, hắn gần kiệt lực.
Viên cảnh sát trưởng thông báo cho cấp trên, nhường phòng mình cho Boris ở, cung phụng đầy đủ thức ăn thức mặc cho Boris, gọi bác sĩ săn sóc sức khỏe. Nhưng Boris chỉ cần ăn uống và ngủ mà thôi. Hắn hơi sốt và cảm thấy kiệt lực.
Cảnh sát trưởng ở Molda là một người Nga còn trẻ. Anh ta rất sung sướng là Boris đến đây, vì khó mà làm thân với một người quan trọng như Boris. Anh ta thừa biết là nhờ Boris, địa vị anh ta có thể thay đổi, nên anh ta lại càng săn sóc cho Boris hơn. Ngày hôm sau, lúc Boris chưa ngủ dậy, anh ta đã lên tỉnh nhận lệnh cấp trên. Viên giám đốc cảnh sát địa phương đã cho Bucarest biết tin về Boris. Kết quả vài giờ sau là Bucarest không cho máy bay hay xe hồng thập tự để mang Boris đi. Và có lệnh: “Bộ chỉ huy đã ra lệnh lập thủ tục thường lệ để nhận diện người tự cho là Boris Bodnariuk. Anh cứ dùng biện pháp thông thường, lệnh cấp trên đấy”.
Viên cảnh sát ở Molda hỏi lại:
– Đồng chí cho là hắn không phải Boris Bodnariuk?
– Anh được lệnh là phải truy ra tên thật của hắn và làm bản tường trình hằng tháng. Thế thôi. Tôi không muốn bình luận gì thêm nữa, nhưng nếu đã là lệnh trên thì có nghĩa là thằng đó không có liên quan gì đến cái tên Boris Bodnariuk cả, hắn là một tên lừa bịp.
Viên cảnh sát trưởng trở về sở, mặt hầm hầm giận dữ. Dù Boris còn ngủ, anh ta cũng gọi lên hỏi cung.
Boris bây giờ đã mặc áo mới, cạo râu, tắm rửa sạch sẽ, mặt mày tươi tỉnh sau một giấc ngủ ngon lành. Từ khi trốn khỏi bệnh viện người Mỹ, chưa bao giờ Boris ngủ một đêm yên ổn như thế, nên hắn lấy lại sức khỏe rất nhanh. Hắn mỉm cười định ngồi xuống ghế. Nhưng đã bị quát:
– Ai cho phép anh ngồi xuống ghế?
Boris mới được đối xử rất tử tế ngày hôm qua nên nghe thế lại tưởng là một câu nói đùa, hắn mỉm cười. Tức thì bị viên cảnh sát bạt tai. Boris tức giận cắn môi. Một giòng máu chảy xuống cằm. Hắn cảm thấy trong miệng cái hương vị kẹo ho như lúc hắn đang rơi từ trên máy bay xuống. Viên cảnh sát trưởng nói:
– Đừng có trêu tôi, tôi chỉ muốn anh khai thật.
Anh ta bấm chuông, một người lính bước vào chào Boris trước tiên, nhưng khi thấy hắn đứng yên mặt đầy máu, người lính biết là mình lầm nên hổ thẹn rút tay về và quay nhìn cảnh sát trưởng. Anh này ra lệnh:
– Cởi hết áo quần cà vạt của hắn ra. Cởi hết. Và cho hắn mặc lại áo quần rách rưới của hắn. Rồi dẫn hắn về nhà giam. Với mục đích gì mầy tự khai mầy là nguyên bộ trưởng tên là Bodnariuk?
– Tôi không nói láo. Tôi chính là Boris Bodnariuk.
Viên cảnh sát trưởng đứng bật dậy và muốn đánh hắn thêm nữa. Người lính đã lấy áo quần rách cho Boris và trở vô ra lệnh:
– Cởi hết áo quần và giày dép ra mầy.
Boris tuân lệnh, xong hắn mang đôi ủng rách nát cố hữu của hắn, quàng chiếc áo choàng da vào, quấn cái khăn đỏ quanh cổ, mặc chiếc quần đen đã thủng nhiều chỗ.
– Nào khai đi chứ.
Máu chảy xuống cằm hắn cũng đỏ như chiếc khăn choàng cổ xưa kia của hắn, bây giờ chiếc khăn đó không còn có màu gì nữa vì đã quá bẩn. Trong bộ áo quần rách rưới, lần đầu tiên trong đời, Boris cảm thấy nhục nhã hết chỗ nói. Cố bình tĩnh hắn nói:
– Tôi chỉ là nạn nhân của sự hiểu lầm. Tôi chính là Boris Bodnariuk và tôi chỉ nói sự thật mà thôi.
Viên cảnh sát trưởng nhìn vào bức ảnh Boris trên một tờ báo cũ và so sánh với nét mặt kẻ đối diện. Có nhiều nét giống nhau, nhưng chưa đủ để chứng tỏ người nầy là Boris.
– Tao muốn mày nói thật, tao không muốn các ông chỉ huy của tao chê cười. Hôm qua nói chuyện tao thấy mày không đến nổi chó má lắm. Mày lại thông minh hơn nhiều đứa khác nữa. Mày hãy nói thật là tại sao mày tự nhận là nguyên bộ trưởng bộ chiến tranh Boris Bodnariuk. Với mục đích gì mày bày đặt ra chuyện giả danh này?
– Tôi khai thật mà.
– Nếu mày là Boris, Bucarest đã gởi máy bay đến đây kiếm mày, nhưng Bucarest đã không gởi máy bay, xe hơi đến đây mà lại còn yêu cầu nhận diện mày, mày hiểu chưa? Mày là ai? Một ông bộ trưởng dù là có tội cũng vẫn được dẫn đến Bucarest hay Mạc tư khoa để lập biên bản. Nếu có tội thật người ta sẽ treo cổ. Còn mày, người ta ra lệnh giữ mày lại đây để nhận diện mày. Lệnh này không áp dụng cho một ông nguyên bộ trưởng được. Tao chỉ muốn mày nói thật thôi.
Viên cảnh sát trưởng tiến đến gần Boris:
– Người ta cũng không cho tao áp đúng biện pháp gì đặc biệt với mày cả, chỉ cho áp dụng biện pháp thông thường thôi.
– Nhưng các ông đã lầm, lầm to mà.
– Không có lầm lẫn gì cả, sự lầm lẫn duy nhất là do tao, tao đã lầm mà tin mày nói thật ngày hôm qua. Một sự lầm lẫn lớn lao trong nghề của tao.
Boris lại lảo đảo vì hai cái tát tai nảy lửa. Xong viên cảnh sát trưởng tiếp tục đấm vào đầu Boris, hắn ngã xuống và tiếp tục nhận thêm những cái đá vào đầu, vào ngực. Hắn cảm thấy đầu nhọn đôi ủng đá hắn như có hơi nóng của bàn chân ở bên trong.
– Tao muốn mày nói thật.
Nhưng Boris chỉ còn cảm thấy lờ mờ là người ta đang nâng hắn lên để mang hắn ra ngoài, đặt một tấm ván lên ngực hắn cho xương sườn khỏi gãy và một người lính bước lên trên tấm ván như muốn nghiền nát hắn ra.
Boris không hiểu hình phạt đó kéo dài bao lâu. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình ngồi trên ghế và tiếp tục bị đánh đá. Những cú đá làm hắn đau đớn như là những thỏi sắt nung đỏ dí vào người hắn, đau đến tận não tủy. Chỉ lúc hắn ngã xuống đất thì sức nóng đó mới dần dần biến mất.
Viên cảnh sát trưởng lập lại:
– Tao muốn mày khai thật.
Câu nói đó hành hạ Boris cũng như những cú đá trên thân thể hắn.
– Nếu mày không nói thật tao sẽ giết mày, giết ngay tại đây. Và không ai biết tao đã giết mày cả, muốn sống nói ngay đi.
Boris muốn nói lại rằng đây là một sự lầm lẫn, nhưng hắn kiệt lực rồi. Vả lại, hắn cũng không hiểu có phải là một sự lầm lẫn hay không. Hắn chỉ còn biết một điều là hắn không thể chịu đựng được nữa và chỉ muốn chết mà thôi.
Lúc mở mắt, hắn đã thấy mình đang nằm trong xà lim, trên nền xi măng. Xà lim không có giường hay cái gì khác nữa. Chỉ là bốn bức tường và nền xi măng lạnh lẽo, mà hắn đang nằm trên đó. Hắn đưa mắt nhìn quanh. Đã từ lâu, hắn không hề nhìn gì cả, không nhìn lại hai tay hay nét mặt của chính hắn. Hắn đưa tay lên sờ mặt, sờ môi hắn. Hắn thấy đúng là mặt hắn, môi hắn nhưng sao chúng xa lạ đến thế. Trán, mắt, môi, má, ngực đều sưng vù lên và nhức nhối không tưởng được. Sờ mắt trái, Boris thấy đã mù rồi. Thì ra hắn thấy ánh sáng bên ngoài chỉ với một mắt phải thôi.
Trên tường xà lim, ai đã vẽ vào đấy mấy dấu thập tự và cái tên Iléana Kostaky. Boris không thèm nhìn nữa. Hắn biết là nông dân vùng này bị tù thường vẽ dấu thập tự lên tường.
Cửa xà lim mở, Boris cảm thấy bị nâng cao và đưa vào văn phòng cảnh sát trưởng. Ông này đã lấy lại bình tĩnh, nhìn cách ăn mặc cũ kỹ của Boris. Khăn choàng bẩn thỉu, ngón chân thò ra khỏi mũi giày đã há mồm. Râu tóc không cạo, mình mẩy đầy máu, mắt trái đã hư, vết sẹo trên trán hình như lớn và đỏ hơn.
– Nào nói lại đi, đồng chí… Boris Bodnariuk. Đúng là cái tên mà mày đã chọn cho mày phải không?
– Vâng, đúng là tên tôi.
– Hừ, một cái tên lừng lẫy trong lịch sử đảng cộng sản. Đó là cái tên của một vị nguyên bộ trưởng bộ chiến tranh, cái tên của một anh hùng đấu tranh giai cấp, của một vị tướng lãnh Hồng quân. Một cái tên có trên khắp báo chí. Có khó gì mà không tìm ra được một cái tên như thế. Chúng ta nên trở về lại với sự việc thực tế hơn và giải quyết dần từng việc một thì hơn.
Boris thu hết tàn lực của mình. Hắn không nghĩ đến cá nhân hắn, hắn chỉ cần làm sáng tỏ vụ nầy. Nên hắn chăm chú nghe.
– Lúc vừa mới đến đây, mày đã có khai nhiều điều, lập lại đi coi thử.
– Sau khi trốn khỏi trại tù người Mỹ ở Heidelberg, tôi đã bám vào xe lửa bí mật trở về đây. Trong biên bản mà tôi đưa cho ông để ông gởi về trung ương, tôi đã kể hết các công việc tôi làm suốt thời gian từ khi tôi bị tai nạn máy bay cho đến bây giờ. Vả lại, câu chuyện cũng dễ, anh có thể nhận diện tôi qua các cộng sự viên của tôi, so sánh tôi với các tấm hình từ trước của tôi, mọi người đều biết mặt tôi mà. Người ta cũng còn có thể nhận ra tôi bằng giọng nói qua điện thoại. Mặt tôi hơi đổi khác từ khi tôi bị tai nạn nhưng đó không phải là một trở ngại lớn lao trong việc nhận diện. Tôi yêu cầu điều tra và gởi tôi về Bucarest để tôi hoàn thành sứ mạng của tôi.
– Tao đọc trong tờ khai của mầy như thế này: “Sứ mạng của tôi (loại trừ viên thống chế những người Slaves miền Nam) đã bị thất bại vì tai nạn máy bay bất ngờ. Tôi là người sống sót duy nhất. Ở quân y viện mà người ta mang tôi lại đó, tôi bỗng thấy một bạn học cũ của tôi tên Pierre Pillat cũng đến đó. Tôi ngờ là người ta đem hắn đến nhận diện tôi nên tôi đã trốn khỏi nhà thương vì các sĩ quan Sô Viết ở Vienne có đến thăm tối hôm trước và ra lệnh không được để cho họ nhận diện. Tôi trốn qua Pháp. Lúc đó tôi đổi tên là Boris Neva như là các sĩ quan Sô Viết yêu cầu. Tôi tuân lệnh và chỉ tiết lộ tên thật của tôi một khi đã đến được vùng Sô Viết ở Molda. Tôi phải tức tốc từ Paris trở về đây để hoàn tất nhiệm vụ tôi trong bản cáo trạng giả của tên thống chế trưởng giả”.
Viên cảnh sát hỏi:
– Nhiệm vụ đó như thế nào?
– Đó là nhiệm vụ của đảng giao phó và tôi đã được các sĩ quan Sô Viết đến thăm tôi cho hay ở nhà thương. Tôi đóng vai bị cáo trong bản án đó. Tôi phải tự thú để đưa ra ánh sáng tất cả sự phản bội của viên thống chế trưởng giả đó. Tôi đã cố hy sinh mọi sự để đừng đến trễ. Tôi biết là vì ích lợi cho đảng nên phải tổ chức gấp bản án đó. Và tôi hy vọng là sẽ đến Bucarest đúng lúc. Tôi hy sinh tất cả cho đảng.
Viên cảnh sát trưởng mỉa mai:
– Chúng tao biết hết câu chuyện đó. Mày phải đóng vai chính trong vở kịch tội ác của viên thống chế đó ư? Mày tin là Sô Viết cần ngụy tạo những tên phản bội và những bản án giả mạo? Làm sao mày có thể khai như thế được nhỉ? Mày tin là Sô Viết dùng những kẻ vô tội để đóng vai bị cáo trong những tấm hài kịch đó sao? Như thế là mày đã lập lại những lời tuyên truyền chống cộng sản, đó là một cử chỉ thách đố và phỉ báng.
– Một vài tên phản bội đã trốn thoát được như Trotzky và tên thống chế đó chẳng hạn. Dù vậy, chúng phải được phán xét và kết án, nhu cầu chính trị đòi hỏi như thế. Và vì chúng không thể hiện diện trước tòa án Sô Viết, người ta phải kêu gọi những kẻ tình nguyện tự kết án dù cho có bị xử tử chăng nữa để nhân dân có thể theo dõi tiến trình của việc phản bội như thế nào. Đó là một hệ thống rất có hiệu quả. Đó không phải là một sự hèn hạ mà là một bằng chứng của sức mạnh Sô Viết. Người ta luôn luôn kiếm được những thành phần ưu tú dám hy sinh đời mình để tự kết án, hầu làm sáng tỏ cho dư luận quần chúng những đoạn chính của tội phản bội.
– Đúng là giọng điệu tuyên truyền phản động. Sô Viết không bao giờ ngụy tạo những bản án như vậy. Sô Viết luôn luôn bắt giữ và phán xét những thủ phạm thật sự. Ai nói ngược lại là một kẻ thù phản động. Từ lâu Sô Viết đã bắt hết lũ phản bội theo phe viên thống chế trưởng giả. Đã bắt được kẻ phản động thật sự thì còn ngụy tạo bản án để kết tội kẻ khác làm gì?
– Những kẻ tòng phạm với viên thống chế đó đã trốn qua biên giới mất rồi.
– Từ năm 1942, cảnh sát Sô Viết đã theo dõi tất cả những tòng phạm cũ của viên thống chế đó. Chúng bị kiểm soát rất gắt gao, cho đến các cuộc điện đàm cũng bị thu băng. Cho nên không đứa nào trốn thoát, tất cả đều bị bắt. Và thủ phạm chính là tên Rajk người Hung gia lợi. Báo chí nào cũng có đăng lời khai của nó cả. Đọc đi.
Boris đọc những tít lớn trên báo chí để trên bàn viên cảnh sát. Ông này đàn áp tiếp:
– Rajk đã hoàn toàn thú tội. Tại sao mày bảo là Sô Viết muốn ngụy tạo một bản án sau khi Rajk đã bị bắt và đã thú nhận tất cả tội lỗi, làm sao mày biện hộ cho lời khai của mày?
Ở trang đầu, Boris thấy ảnh của Rajk đứng trước các quan toà. Thì ra chẳng ai khác hơn là một bạn đồng học của hắn ở Budapest. Rajk khai :
“Tôi là thủ phạm đã âm mưu với tên thống chế những người Slaves miền Nam để thành lập một Liên minh Đông nam Âu châu đặt dưới sự cai trị của Anh Mỹ.”
– Mày thấy là sự phản bội của tên thống chế đó đã xảy ra ngay tại trung tâm Budapest chưa? Sô Viết đã biết hắn từ bao năm nay rồi. Sô Viết khôn ngoan lắm, đúng lúc đã chín mùi, Sô Viết bắt hết lũ âm mưu. Rajk thú nhận tất cả rồi.
Boris là bạn thân của Rajk. Cả hai cùng theo học ở Hàn lâm viện đỏ Mạc tư khoa. Sau đó cả hai vẫn thường gặp nhau ở các hội nghị. Rajk là một người công sản chính tông, Boris không bao giờ nghi ngờ hắn điều gì, Rajk cũng trung thành với chủ nghĩa cộng sản như hắn. Boris thầm nghĩ: “Trong lúc mình trốn khỏi bệnh viện mà không ai biết đến nữa, Sô Viết đã tưởng là mình chết rồi. Thế mà phải thực hiện cho bằng được bản cáo trạng đó, Điện Cẩm Linh đã chỉ định một người anh hùng khác. Rajk đã nhận sứ mạng đóng tuồng thay mình, tự nhận bị cáo đồng lõa với viên thống chế trưởng giả. Bản cáo trạng được gởi từ Bucarest sang Budapest, chỉ vì mình không còn ở đó được nữa. Rajk chỉ là một kẻ nhị trùng với mình. Và người ta tổ chức ở Budapest thay vì làm ở Bucarest như lúc đầu”.
Boris không suy nghĩ lâu thêm nữa, hắn sung sướng là vai trò của hắn đã có người thay thế cũng không kém khéo léo, vì Rajk là một thành phần tài ba. Rajk không phải là một kẻ phản bội, anh ta là một người hùng. Viên cảnh sát nhắc lại :
– Tên Rajk đã từ lâu là một điệp viên của tụi tư bản, bây giờ hắn đã thú nhận rồi.
Boris vẫn suy nghĩ: “Đáng lý là người ta nói về mình như thế đó. Ai cũng tưởng mình là thủ phạm chính. Quần chúng tin như thế. Bản cáo trạng thật là hiệu quả. Quần chúng tin như thế, chỉ có Rajk và mình mới biết đâu là sự thật.
– Nào, bây giờ mày có nhận là mày nói dối chưa, rằng câu chuyện bản cáo trạng là do mày bịa ra chưa?
– Tôi công nhận là tôi nói dối.
Boris biết là mục đích của hắn đã đạt được.
– Sau một lần nói dối như thế, người ta còn tin gì được ở các lời khai của mày nhỉ?
– Người ta không thế nào tin ở các lời khai của tôi nữa.
– Vâng, thế thì mày ký vào một tờ khai khác là mày công nhân đã bịa câu chuyện bản án. Tao cần hỏi mày một câu nữa: Tên thật của mày là gì?
Đây là lúc khổ sở nhất trong đời của Boris. Hy sinh đời hắn còn dễ dàng hơn là nói rằng mình là một người khác, nên hắn miễn cưỡng trả lời:
– Tôi tên là Boris Neva.
Hắn nói không suy nghĩ. Ở Phương Tây, hắn được gọi là Boris Neva, nên hắn lập lại: “Tên thật của tôi là Boris Neva”.
– Đồ ngu, Neva là tên của vị nữ anh hùng. Đó là tên bà tổ trong cuộc cách mạng của chúng ta. Neva không thể là tên của một kẻ du thủ du thực như mày được.
Boris cắn môi suy nghĩ, cho đến bây giờ hắn không…
thiếu trang 496
… người Slaves miền Nam mà cũng từ đó Anatole Barsov đã đào ngũ. Boris nhìn tất cả thứ đó bằng một mắt, mắt trái đã bị hư hẳn. Hắn nghĩ đến Ba Lê, đến Tòa đại sứ Sô Viết mà hắn không thể nào vào tận nơi để tìm cách trở về Bucarest đúng lúc cho bản cáo trạng. Nên hắn đã bị Rajk thay thế. Bản án diễn ra ở Budapest thay vì ở Bucarest. Nhưng có điều hắn không hiểu nổi là tại sao Bucarest nỡ bỏ hắn lại nơi này, trong một làng nhỏ, cho một quân cảnh canh giữ.
Boris thầm nghĩ: “Chắc là có sự lầm lẫn. Nếu bị nghi ngờ, mình sẽ được dẫn về Bucarest để điều tra rồi sẽ bị xét xử và kết án. Đúng là một sự làm lẫn không còn nghi ngờ gì nữa”.
Boris nhìn ra phi trường Piatra. Hắn muốn tìm ra lỗi của hắn vì hắn có mặc cảm phạm tội nhưng hắn không có cách nào chứng mình là mình có lỗi. Hắn nghĩ là bây giờ mình đã ghi tên thật vào danh sách của trại tù là Boris Bodnar, có nghĩa là người ta đã tước hết chức vị và công trạng của hắn rồi. Cấp bậc cũng không còn nữa. Người ta đã lấy luôn cái tên Bodnariuk. Hắn có tên là Boris Bodnar như lúc mới lọt lòng mẹ, cái tên hắn mang lúc mới trốn qua Nga Sô. Bây giờ cũng như hồi đó, hắn cũng rách rưới như khi vừa mới bị đuổi khỏi trường hoàng gia Kichinev. Y hệt như cũ.
Tất cả những công trình thay đổi khí hậu, thành lập binh chủng nghĩa quân, cộng sản hóa xứ Lỗ ma ni, tổ chức lại hệ thống quân đội đều do Bodnariuk hoàn thành. Hình như Bodnariuk là một ai xa lạ với hắn. Hắn bây giờ là Boris Bodnar, như lúc mới sinh ra, cũng nghèo nàn rách rưới, cũng cô đơn như khi chưa trở thành Bodnariuk. Hắn lấy lại tên cũ như khi chưa có một huyền thoại nào. Thật ra, Boris Bodnariuk là một tên bịa đặt. Chính hắn là Boris Bodnar. Trong xà lim, cô đơn và rách rưới, đau ốm và bị đánh đập, hắn không còn là một con người nữa. Trước đó, hắn là một người, bây giờ hắn đã già nua; thân thể, tâm hồn hắn đang làm cho hắn khổ sở. Hắn tự an ủi: “Chỉ có Boris Bodnar mới là thực sự, và khi mình chết đi, chính Boris Bodnar mới được chôn cất vì Boris Bodnariuk không bao giờ chết cả, vì Boris Bodnariuk chỉ là một huyền thoại không sinh ra nên cũng không chết đi”.
Hắn đã phấn đấu vì vinh quang của Boris Bodnariuk, mà đã không làm gì cho Boris Bodnar cả.
Bỗng có tiếng la trong xà lim bên cạnh. Hai người đàn bà cãi nhau, một trẻ, một già. Người trẻ có vẻ cương quyết. Họ đang đập lộn nhau. Boris lắng nghe lính gác mở cửa. Người trẻ nói:
– Bà ta muốn mở cửa sổ xà lim, từ khi tôi đến đây, bà ta không chịu đóng cửa bao giờ.
Người già nói:
– Nếu các ông đóng cửa tôi sẽ tự tử. Từ bao nhiêu năm bị giam cầm ở đây, tôi chưa bao giờ đóng cửa sổ cả, ngay cả vào mùa đông giá buốt nhất. Thế mà tôi có bị chết cóng đâu. Cô ta còn trẻ, và chỉ mới đến đây vài giờ thì lại càng không thể bị chết cóng cho dù cửa có mở chăng nữa.
Nói xong bà già khóc.
Boris nghe mấy người lính gác muốn đóng cửa sổ. Người đàn bà già nhảy xổ lại lính gác và đánh họ. Bà ta bị ngã xuống nhưng lại đứng dậy muốn mở cửa sổ. Lính gác đánh bà ta liên tiếp, đấm đá, tát tai. Sau đó họ lôi bà ta ra khỏi xà lim.
Người đàn bà già đó là Iléana Kostaky. Trước đó, bà ta ở trong xà lim có một mình, và không bao giờ cãi vả với lính gác. Bà hay cầu nguyện, chờ đợi một cách nhẫn nhục. Đêm trước, người ta lại đi bắt người, và đem một người đàn bà khác đến giam chung xà lim với Iléana Kostaky vì thiếu chỗ.
Boris lắng nghe người đàn bà trẻ nói với lính gác:
– Bà nầy bảo là chồng bà trốn vào rừng. Bà không hy vọng gì thấy lại chồng bà vì bà bị kết án đến 15 năm, bà biết là thế nào bà cũng chết ở trong tù. Nhưng từ ngày đầu, bà ta đã để cửa sổ mở luôn với hy vọng là nếu chồng bà có chết rồi, linh hồn ông ta sẽ đến đây từ giã bà. Bà ta để cửa sổ là cốt để cho linh hồn chồng bà có thể vào bên trong xà lim được.
Người ta đã đem bà già trở về sau khi đánh đập tàn nhẫn, họ xích tay chân bà lại để bà khỏi bước đến mở cửa sổ. Nhưng bà ta vẫn la lên:
– Thế nào tôi cũng mở cửa sổ. Nếu chồng tôi chết, linh hồn ông ta không thể đến từ giã tôi được. Tôi sẽ không biết là ông ta chết nếu linh hồn ông ta phải ở bên ngoài.
Iléana lại van cô gái mở cửa, cô ta từ chối.
Lính gác cột bà ta vào giường nằm, bà ta vẫn lải nhải:
– Tôi để cửa sổ bao năm nay mà có chết chóc gì đâu, ngay cả lúc lạnh buốt xương. Tôi không muốn người ta đóng cửa, tôi không muốn bị xa lìa chồng tôi. Ít nhất, vào lúc ông ta chết, tôi muốn linh hồn ông ta về đây bên tôi. Tôi cứ chờ ông ta, nếu đóng cửa, làm thế nào ông ta vào đây được. Có việc gì xảy đến cho ông ta, tôi phải biết chứ. Các ông không có quyền ngăn cách vợ chồng tôi như thế nầy.
Lũ lính gác và cô gái cười ngặt. Người đàn bà vẫn nói :
– Tôi phải để cửa sổ chờ chồng tôi. Nếu các ông đóng lại, chồng tôi không đến đây được.
Boris nằm dài lên giường. Hắn không muốn nghe tiếng rên la của bà già nữa, nhưng hắn nghe tiếng đấm cửa thình thịch bên cạnh. Đã hai giờ trôi qua từ khi bà già bị trói tay vào giường và cửa sổ bị đóng kín. Tiếng cô gái gọi lính gác:
– Bà già chết rồi; tôi không muốn ở chung với người chết trong xà lim, tôi sợ lắm.
Iléana đã chết khi lính gác nhất quyết đóng cửa sổ. Bà ta là một bà vợ có bổn phận chờ chồng về. Và vì bà ta không hy vọng thấy ông ta sống sót trở về, nên bà ta chỉ mở cửa để chờ linh hồn người chết. Và khi cửa sổ bị đóng kín, Iléana Kostaky phải chết vì bà ta không còn gì để làm trên trái đất nầy nữa, đời sống bà đã trở thành vô ích, vì không thể chờ chồng đến giờ phút chót. Phận sự làm vợ đã chấm dứt.
Lính gác đem xác Iléana ra chôn ở khoảng đất băng giá bên cạnh nhà tù. Linh hồn bà, nếu sự thật giống như mơ ước của bà, đã từ giã trái tim bà để đi tìm Ion Kostaky qua bao nhiêu là núi rừng, biển cả, để vĩnh biệt người chồng trên dương thế, nhưng không ai biết được sự thật của những điều đó cả, không người nào, không tu sĩ nào biết được điều đó.
Tất cả nhân chứng và lính gác biết rất ít về cái chết của Iléana Kostaky. Họ chỉ biết rằng tấm thân xác già nua đó được cởi hết xiềng xích và chôn xuống đất lạnh, và trên thân xác không có hòm chôn đó, người ta quăng từng mẫu đất lẫn với những cục tuyết cứng ngắt, rằng mấy sợi xích đã cột tay chân bà bây giờ được chùi rửa sạch sẽ treo kỹ trong nhà gác để dùng cho tù nhân khác. Tất cả chỉ có thế, nhưng rất là ít ỏi, quá ít ỏi để được gọi là tất cả.
III
Boris đã đạt đến yên tĩnh tâm hồn và sự thanh thản của những kẻ đã từ bỏ đời sống trần gian cho một lý tưởng. Boris đã biết là tất cả vật sở hữu của người cộng sản đều thuộc về đảng. Của cái, vốn liếng văn hóa, áo quần, đời sống và cho đến cái tên của hắn cũng thuộc về đảng. Điều họ bắt lầm hắn hay cố ý bắt hắn cũng chẳng quan hệ gì: đảng có quyền trưng dụng tất cả và hắn không có quyền phàn nàn. Người ta đã rút bớt nơi hắn những điều gì không thuộc về hắn.
Lúc đầu, hắn đã tiếc không còn được gọi là Boris Bodnariuk nữa. Nhưng bây giờ hắn đã hãnh diện về điều đó. Đã có bao nhiêu cuộc trưng dụng tên tuổi mà hắn chứng kiến? Thật ra chỉ có cái tên của các anh hùng mới có cái danh dự đó. Khi những anh hùng cộng sản các nước Tây Ban Nha, Đức, Pháp, đến Nga Sô, người ta bắt đầu bằng cách trưng dụng tên của họ. Họ sẽ nhận những tên khác. Những tên do những chiến trận và những chiến công không thuộc về cá nhân mà thuộc về lịch sử và cộng đồng xã hội.
Những người mới đến là những người bằng xương bằng thịt có thể điên rồ, làm bậy như bao nhiêu người khác. Thật là bất công nếu để họ giữ những tên anh hùng mà phạm lỗi lầm với những tên đó. Cho nên phải lột cái tên đi đem vào lịch sử. Người mang cái tên anh hùng đó có thể già nua có thể làm bất cứ điều gì nhưng phải có một cái tên khác chứ không được giữ cái tên đã làm vẻ vang cho lịch sử.
Boris sung sướng với ý nghĩ là tên của hắn sẽ tồn tại trong lịch sử và hắn sẽ tiếp tục sống với một cái tên khác tầm thường không có một huyền thoại nào cả.
°
Có ai thì thầm trước cửa hắn:
– Người ta mới bắt giữ cha Angelo.
Bước chân xa dần và giọng nói tiếp tục thì thầm ở các cửa xà lim khác.
– Cha Angelo đã bị bắt.
Tiếng thì thầm xa dần và mất hẳn ở cuối hành lang. Boris biết là tất cả những người bị giam ở ngục thất Molda đều là kẻ thù của Sô Viết. Hắn không muốn tham dự vào đời sống của họ. Vì họ cũng là kẻ thù của hắn nên hắn lánh xa. Hắn thầm nghĩ: Đó là một mật lệnh của những tên phản động trong tù. Giọng nói tiếp tục thì thầm ở trước cửa đi ngang qua lỗ khóa là cha Angelo đã bị bắt.
Boris áp tai vào tường lắng nghe: Có nhiều tù nhân ở xà lim bên trái nhưng hắn chỉ nghe có một giọng nói:
– Thưa cha, cha có tin là linh hồn Ion Kostaky sau khi chết sẽ hiện thành bóng ma để từ giã vợ hắn trong tù? Giáo hội có dạy bà ta như vậy không?
Cha Thomas Skobai trả lời:
– Chính bà tin thế.
– Nhưng lòng tin đó có đúng hay chỉ là một sự lầm lẫn? Boris muốn biết vị tu sĩ đó sẽ trả lời như sao.
– Lòng tin sắt đá của Iléana cho rằng linh hồn người chồng sẽ đến kiếm bà trước khi rời bỏ trần gian, ý chí quyết chờ chồng bên cửa sổ mỗi ngày, đông cũng như hè, đã bắt đầu trong tình yêu thương người chồng, trong sự chung thủy và bổn phận làm vợ của Iléana. Bổn phận đó là chờ đợi, là khổ đau nhưng không bao giờ nản chí trong quên lãng. Đó là những đức tính đẹp nhất của người đàn bà. Nếu những lòng tin tưởng phát xuất từ những đức tính đó mà sai lầm, thì Chúa, đấng toàn năng cũng sẽ tha thứ cho bà, vì bà đã đặt đức tin vào một cái gì sai lầm chỉ vì quá yêu chồng, quá thủy chung và quá kiên nhẫn với chồng.
Vị tu sĩ nói tiếp: “Lạy Chúa, ban ơn cho Iléana Kostaky và rước linh hồn bà về với thiên đàng nước Chúa, ở đó sẽ không có nước mắt, bóng đêm mà là một cuộc sống vĩnh cửu. Amen”.
Trong xà lim, Boris quyết định nhẫn nhục chịu đựng và chấp nhận cái tên mới của mình mà không hề phản kháng. Trong trường hợp người ta khám phá rằng những gì xảy đến cho hắn từ lúc hắn trở về Lỗ ma ni là kết quả của một sự lầm lẫn thì Sô Viết sẽ gọi hắn lại và sửa sai lầm lẫn. Trong trường hợp mà đó là ý muốn của đảng, là nhu cầu ích lợi cho lịch sử thì hắn sẽ tiếp tục phục vụ dưới một tên mới trong một quốc gia mới cũng với từng đó trung thành và rồi cũng sẽ chiến thắng như trong quá khứ.
Nhưng giọng nói truyền miệng là cha Angelo đã bị bắt không còn là những tiếng thì thầm nữa mà người ta đã la lớn. Đám đông vây quanh. Người ta la ở trong hành lang.
– Nông dân đến giải thoát cho cha Angelo.
Và cả trăm ngàn tiếng nói của những nông dân nổi giận, của những người đàn bà chạy lui tới, của người và người đang chen lấn. Cửa nhà giam mở rộng, tường sập, quần chúng đã đến giải thoát cho thánh Angelo. Boris không hề biết đến ông thánh đó. Hắn chỉ nghe tiếng mở khóa cho phòng giam hắn rồi nhiều người vào phòng bảo là hắn đã được tự do.
Hắn phải chật vật lắm mới ra ngoài được. Vì hành lang nhà tù đã tràn ngập nông dân. Không có bóng một tên lính gác hay một tên cảnh sát nào cả. Chỉ là đám đông tiến lên như sóng, bẻ cửa, dùng rìu phá tường. Đám đông đã chiếm nhà tù và đang phá nát các bức tường. Mọi người trở ra với một viên gạch trên tay và bỏ lên xe.
Boris theo một lỗ hổng bức tường thoát ra ngoài và cố kiếm đường thoát thân. Đã quen với đám đông trong các cuộc hội hộp, hắn ước lượng 10 ngàn người nông dân đã đến phá nhà tù ở Molda. Tất cả đều cầm gạch đá và các tấm ván của nhà giam mang đi. Có một giọng la to:
– Thánh Angelo đã được giải thoát.
Xong, tất cả đám đông quỳ xuống, người nào đứng đâu quỳ xuống đó, tay cầm gạch đá lấy được ở nhà tù.
Đám đông đã giải thoát cho một tu sĩ còn trẻ. Nông dân khiêng đức cha lên vai về phía xe hơi. Đám đông đã nổi dậy phá ngục giải thoát cho cha Angelo. Boris muốn trông thấy ông ta nhưng vì ông ta ngồi xây lưng về phía Boris nên hắn không nhận ra mặt. Một người đàn bà cạnh Boris lên tiếng:
– Chúng ta không còn ai để săn sóc những người đau yếu nữa. Thánh Angelo đã an ủi tâm hồn chúng ta, trị bệnh cho chúng ta và cầu nguyện cho chúng ta. Từ bao nhiêu năm nay thánh Angelo là niềm an ủi cho nông dân, thế mà người Sô Viết vào rừng bắt ông ta, thật là quá quắt, Chúa không thể nào cho phép điều đó được, nên bây giờ thánh Angelo lại được tự do.
Sau khi thánh Angelo đi qua, đám đông lại đứng dậy đi theo sau xe ông ta, xe có đôi ngựa trắng kéo đi chậm chậm trên một con đường rừng hẹp.
Boris bị chèn lấn khắp nơi. Chỉ có hắn là hai tay không cầm gì. Tất cả người khác đều cầm gạch đá lấy được ở nhà tù. Một người đàn bà bảo hắn:
– Cầm lấy một viên chứ.
Bà ta đưa một viên gạch cho Boris và giải thích:
– Những viên gạch trên tường nhà giam Thánh Angelo đã bị giữ trong đó sẽ đem lại vận may. Ông giữ lấy và để trước nhà hay trên tường.
Boris cầm lấy viên gạch. Chiều cao bức tường thấp xuống thấy rõ. Và nếu mọi nông dân lấy một viên gạch thì trong vài giờ nhà tù ở Molda chỉ còn là một khoảng đất trống.
Boris đi theo đám đông, đi theo biển người ở sau xe Angelo, để yên cho đám đông vừa xô đẩy vừa ca hát.
Đoàn xe đi về phía khu rừng. Không có người lính gác nào cả dọc đường. Không có ai ngăn cản sự nổi dậy của nông dân. Đoàn người vẫn tiếp tục vào rừng.
Boris được mời lên xe đi sâu vào rừng. Trên đường đi, hắn được biết là các giáo đường trong làng lần lượt bị đóng cửa. Những nơi nào còn mở cửa được đều là do các linh mục cộng sản đảm nhiệm. Nông dân đi vào rừng vì có một vị tu sĩ trẻ tên Angelo có thể làm phép lạ, đó là một hình thức tôn giáo mới, mà quần chúng muốn tin như thế. Cho nên khi Sô Viết bắt giữ Thánh Angelo, nông dân các làng đã nổi dậy phá nhà tù để giải thoát cho ông ta.
Người đàn bà dẫn con ngựa bảo:
– Phép lạ là người ta đã không thấy lính Nga trên đường đi. Đúng là phép lạ của Chúa. Không có lính gác ở nhà tù. Ở Molda, chúng ta không gặp lính hay cảnh sát. Chúa đã làm họ tránh xa để chúng ta giải thoát cho cha Angelo.
Đoàn xe dừng lại trước một cổng rừng. Boris không biết chuyện gì xảy ra nhưng chỉ nghe mọi người đang hát những bài ca tán tụng Đức Chúa.
– Ông quỳ xuống đi. Thánh Angelo đang cầu nguyện để cảm tạ Chúa đã cứu ngài khỏi nhà giam cộng sản.
Boris vâng lời, bước xuống xe và quỳ chung với hàng ngàn người nông dân trong khung cảnh bụi bặm của con đường rừng eo hẹp. Boris thầm nghĩ:
“Không thể nào một cuộc nổi dậy như thế mà Sô Việt không có biện pháp an ninh. Đúng là một cuộc cách mạng chứ còn gì nữa.”
Có người nói bên tai hắn:
– Ông giữ viên gạch nầy đi, nếu ông làm mất, ông không bao giờ tìm thấy lại nữa. Người ta đã lấy đến tận nền nhà tù. Không còn lại gì hết. Giữ lấy viên gạch đó nghe. Mất đi uổng lắm đó.
Boris cầm viên gạch. Chưa bao giờ hắn chứng kiến một cuộc nổi dậy của quần chúng như thế. Muôn người như một.
IV
Ion Kostaky và Pierre Pillat trốn từ Đức sang Lỗ ma ni bằng cách đi ban đêm trong rừng để khỏi bị Nga Sô bắt giữ. Cuối cùng họ cũng đến được cánh rừng trong làng Piatra, vào lúc trời sắp sáng. Kostaky muốn tiếp tục theo đường mòn xuống làng nhưng Pillat cản lại. Kostaky năn nỉ:
– Con không hiểu ba tí nào nếu con yêu cầu ba ở đây mà đừng về làng. Con tin là ba có thể đứng nơi đây nhìn làng mạc ở phía bên dưới sau khi đã vượt Thái Bình Dương để trở về Piatra sao? Con tin là ba chỉ cần nhìn làng mình ở đàng xa sao?
Nhưng ba ráng đợi đến tối đã, lúc nầy đi nguy hiểm lắm. Ba biết chứ, từ Heidelberg đến đây chúng ta chỉ có đi vào ban đêm thôi. Ba kiên nhẫn một chút, còn chừng hai giờ là trời sáng hẳn rồi.
Ion Kostaky nhìn sao trên trời, biết là ngày sắp đến rồi. Trời đang mùa xuân. Trong ánh sáng xanh dịu của ban đêm, xuyên qua từng hàng thông cao, người ta thấy trong thung lũng cảnh làng Piatra mà sương mờ bao phủ trắng và trong như tấm khăn choàng của cô dâu. Kostaky lại nói :
– Con nghĩ là ba có thể ở lại đây suốt ngày nhìn làng mạc đằng xa? Con muốn là ba chỉ nhìn nhà cửa và đồng ruộng thân yêu của mình ở xa xa thôi sao? Con tin là chỉ vì từng đó mà ba đã vượt qua bao nhiêu quốc gia, bao nhiêu rừng núi như một con chó hay một kẻ ăn trộm? Chỉ để nhìn ngôi nhà ở đằng xa?
Đất làng trải dài ở dưới chân họ, nhưng ở Piatra lúc nào cũng có người Nga, lính gác, quân cảnh cho nên họ đành đợi ban đêm mới dám mò xuống làng, nhưng bây giờ đứng trên cao trông rõ phong cảnh trong làng, Kostaky không thể nào kiên nhẫn được, ông ta xiết chặt cây gậy trong tay. Pillat lại can:
– Không nên xuống làng lúc ban ngày. Con biết khó nén lòng mà đợi đến tối lắm, nhưng nếu chúng ta xuống bây giờ, chúng ta sẽ bị bắt ngay, ba biết thế không? Con hiểu cái ước ao gặp lại làng mạc của ba lắm vì con cũng mong như thế. Đất đai nơi sinh trưởng, nhà cửa như là những người thân yêu mà sự dè dặt trở thành vô nghĩa và không cần thiết. Con hiểu như thế. Chúng ta có thể khôn ngoan không bước vào làng xa lạ vào ban ngày. Nhưng đằng nầy lại là làng mạc, nhà cửa của mình, khó lòng mà ở đây nhìn xa xa lắm. Nên nếu ba muốn con sẽ đi theo ba, nhưng con nói trước, như thế không thận trọng tí nào cả.
– Ba sẽ đi một mình. Ba để xách lại đây, ba chống gậy xuống đó một mình, chỉ để nhìn sơ qua nhà cửa, làng mạc và ba trở lại ngay khi trời sáng. Con đợi ở đây.
– Cả mấy tháng nay, cha con mình có bao giờ rời nhau nửa bước đâu. Cho nên con sẽ cùng đi với ba.
– Không, để ba đi một mình. Ba chỉ nhìn sơ thôi rồi trở lui. Đêm sau Ba con mình sẽ cùng đi. Con có lý, nên đi về ban đêm thì hơn. Bây giờ con chờ ba ở đây. Ba muốn xuống đồng ruộng một lát thôi để đạp chân lên đất nhà, nhìn khung cảnh quen thuộc thuở xa xưa, thở khí trời của vùng đất thân yêu. Ba muốn thế, con hiểu chứ. Ba không hy vọng được đi một ngày trên các con đường của làng mình. Chúa sẽ vĩ đại lắm nếu Ngài ban cho ba một niềm vui cuối cùng của đời ba là được dẫm chân lên những con đường nhỏ ở làng Piatra.
Lúc đi đường Kostaky mau mệt lắm và hay cần nghỉ chân. Nhưng lúc nầy như là ông ta vừa uống rượu xong, ông ta không muốn dừng lại nữa. Không muốn ngồi lại một giây lát nào nữa.
– Ba biết đường, nếu gặp lính tuần Ba sẽ không vào làng. Ba sẽ trở lui tìm con ở đây. Chừng một giờ thôi, Ba sẽ trở lui.
Ion Kostaky bỏ đi. «Ba sẽ mang theo một ít thức ăn. Biết đâu… Nhưng thôi Ba sẽ không nói chuyện với ai cả. Chào con nghe, Ba xuống nhìn một tí thôi.»
Ion Kostaky đi nhanh về phía làng, đi nhanh gần như chạy, tay cầm gậy, người thẳng như một cây thông. Bước đi lúc đó như là bước đi của một người còn trẻ. Đất đai xứ Lỗ ma ni đem lại sức sống tráng kiện cho ông ta. Pillat đứng nhìn theo.
Bóng Kostaky mất dạn trên con đường mòn giữa hai hàng cây, thỉnh thoảng lại hiện ra, hấp tấp, trẻ trung, khát khao. Đó không còn là Kostaky ở Đức hay ở Gia Nã Đại, Hung Gia Lợi, không phải là một Kostaky bị người Mỹ liệt vào danh sách những người phế thải, cặn bã của xã hội. Đó là Kostaky chững chạc như một vị vua chúa trên đời. Bước chân chạm đất quen thuộc như một người chơi vĩ cầm đang sờ những dây đàn.
Kostaky mất dạng sau lùm cây. Đường làng Piatra ngắn lắm. Pillat nằm dài xuống bãi cỏ. Chàng tiếc là đã không cùng đi với Kostaky, mà cũng tại Kostaky nhất quyết đòi đi một mình, lúc nầy thì chắc ông ta đã đến làng rồi.
Pillat vuốt ve bãi cỏ thấm ướt sương mai. Chàng bứt một nạm cỏ và úp mặt vào đó. Chàng mệt quá mà không chợp mắt được, chỉ nghĩ ngợi bằng cách ngửi mùi đất. Tai áp sát đất để nghe thử có ai bắn trong thung lũng hay không, bởi vì tụi cộng sản đi tuần luôn luôn trong làng và gác đường rất kỹ. Đâu đâu cũng có cảnh sát. Pillat lắng nghe xem bước chân của Ion Kostaky có vang trên đường làng Piatra hay không.
«Đáng lý mình phải đi theo, đang lý không nên để cha đi một mình như thế.»
V
Kostaky tiến vào các con đường làng Piatra, chân dính đầy bụi. Ông ta muốn biết thử người ta có thay đổi gì chưa, nhưng đúng là vẫn các con đường và khu đất cũ, ông ta tiếp tục đi, sung sướng nhìn lại cảnh cũ như là ông ta không phải đi trên con đường bằng đôi chân mà bằng chính trái tim của ông ta. Ông muốn cởi giày đi chân không: nhưng không cần thiết lắm, ngay cả xuyên qua một lớp giày kiểu Đức có đóng đinh, ông ta vẫn cảm thấy dưới lòng bàn chân con đường đất quen thuộc của làng Piatra, thứ đất đai quen thuộc của ông ta ngày xưa. Kostaky tiến thêm, nhìn thấy ngôi nhà đầu làng. Cũng như xưa không có gì thay đổi, cũng cái sân cũ, dù chung quanh không có rào dậu. Cũng cái giếng ở giữa làng. Kostaky bỗng thấy khát nước dữ dội và muốn nếm lại thứ nước ngon ngọt của cái giếng nầy. Ông ta đưa tay mân mê thành giếng say sưa như lúc vuốt ve da thịt của một người đàn bà. Kostaky sực nhớ có một cây liễu cạnh giếng bây giờ không còn nữa. Ông ta nổi cáu: «Tại sao lại đốn cây liễu đi? Hay là tại nó đã chết khô?»
Ông ta tiếp tục đi, mặt rầu rầu và lẩn thẩn: «Nếu họ đốn cây nầy đi thì phải trồng cây khác chứ? Ở Piatra, giếng nào cũng có cây liễu bên cạnh cả».
Kostaky cầm chặt chiếc gậy trên tay, nhìn một lượt các ngôi nhà đang chìm trong bóng tối. Ông ngửi thấy mùi cỏ thơm. Trong một thoáng, ông định gõ cửa nhưng nghĩ lại ông thấy không nên để bị lộ diện, «Mình đã hứa với Pillat là chỉ nhìn thôi. Để đêm sau cùng đi và xem kỹ hơn vậy».
Bước chân ông đi càng lúc càng nhanh. Bỗng ông dừng lại, ông vừa thoáng thấy bức tường trắng nhà ông mà ông ao ước thấy lại bao lâu nay. Ông dáo dác nhìn quanh. Đằng sau nhà ông là một khoảng đất trống. Ngày xưa ở đó là nhà Pillat và Marie, căn nhà đã bị đốt cháy mất rồi. Kostaky thầm nghĩ: «Chúng ta sẽ xây lại căn nhà khác, nhưng ông ta sực nhớ là Marie không còn nữa».
Giữa hàng cây hạt dẻ, Kostaky phân biệt được bức tường trắng, mái nhà xám và các cửa sổ nho nhỏ của căn nhà ông hồi xưa, căn nhà ở đó như một người thân yêu đang còn sống. Tim Kostaky đập mạnh, ông ta quên mất căn nhà cháy, quên người Nga đã ngự trị ở đó, Kostaky tiến vào nhà thầm nghĩ: «Có lẽ Iléana còn ngủ». Rồi, ông ta nghĩ là Iléana chắc không còn ở nhà, bà có lẽ còn bị tù, hay chỉ có trời biết bà đang ở đâu. Chắc là người ta lấy mất nhà rồi còn gì.
Kostaky buồn rầu bước vào sân. Ngày xưa, bên cạnh nhà, ông ta có làm một căn nhà nhỏ để chứa đựng dụng cụ cày bừa, nay không còn thấy đâu nữa. Kostaky ức trong lòng: «Ai đã phá căn nhà kho của mình? Không ai có quyền thay đổi bất cứ điều gì trong nhà nầy». Bởi vì ông ta mới là chủ nhà. Ông ta nghĩ có lẽ là chính phủ đã trưng dụng nhà của ông ta và thay đổi tùy theo ý muốn của họ. Kostaky tức giận nghiến răng. Các bức tường cũng vừa được quét vôi trắng. Ngày xưa, ông ta cũng hay cùng vợ quét vôi nhà cửa mỗi mùa xuân trước lễ Phục sinh, vào một tuần trước đó để ăn mừng ngày đại lễ. Kostaky vừa đưa tay sờ bức tường vừa thầm nghĩ : «Có lẽ Iléana đang ở trong nhà, và chính bà đã quét vôi cũng nên. Ông ta đến gần cửa sổ. Chúa vẫn hay ban phép lạ, có thể Iléana còn ở nhà và chưa bị đuổi, có lẽ bà ta đang ngủ…».
Tay Kostaky vẫn tiếp tục vuốt ve bức tường như đang vuốt ve chính thân thể người thân, một con bò hay một con ngựa nuôi trong nhà. Đồng thời ông cố tìm cái chuồng trâu bò, nhưng cũng không còn nữa. Mình không còn con gia súc nào nữa cả nhỉ! Nghĩ thế mà Kostaky tự nhủ là bây giờ có giận dữ cũng vô ích, lúc nào về đây mình sẽ gầy dựng lại tất cả, lo gì.
Nhưng càng nghĩ đến con bò cái gốc Thụy sĩ, hai con ngựa tốt ngày xưa, ông lại giận «Họ phải trả lại cho mình, không ai có quyền cướp của mình những thứ gia súc chính tự tay mình nuôi lấy, bằng mồ hôi nước mắt của mình. Ích gì mà tức giận nhỉ? Tại sao đến bây giờ mình mới tức giận, từ trước đến giờ sao chưa hề nghĩ đến điều nầy? Mình cứ tưởng là họ đã lấy nhà cửa của mình rồi mà sao mình không hề đau khổ. Nhưng có thể họ không lấy nhà mình thì sao…?».
Kostaky nhón chân nhìn vào bên trong qua cửa kính. Tay vẫn mân mê vuốt ve bức tường và mắt ướt đẫm. Gần cửa sổ ngày xưa có một cây dẻ, bây giờ không còn nữa. Bên trong nhà tối ôm. Ông ta muốn gọi Iléana, nhưng ông ta biết là làm như vậy không khôn ngoan tí nào. Iléana có thể không còn ở đây nữa. «Tụi cộng sản trung dựng nhà cửa của tất cả kẻ vắng mặt.»
Ông ta men theo đường đi quanh nhà. Ba sào đất quanh nhà không ai trồng tỉa gì cả. Mà chỉ dùng những căn lều cao ngất nghểu như nhà thờ. Chung quanh có kẽm gai bao bọc. Thôi đúng là phi trường rồi. Họ đã để hoang đất của mình. Đất của mình không thể dùng cho máy bay Nga hạ cánh được. Vì đó là một thứ đất đen tốt nhất Piatra. Bắp trồng lên đó mộc cao đến hai thước.»
Kostaky không nhìn phi trường nữa, quay mặt vào cửa sổ như không muốn rời xa nữa. Một mảnh vôi trên thành rơi xuống. Kostaky lại giận thầm: «Họ không thể săn sóc nhà cửa. Vôi nhà mình ngày xưa có bao giờ sứt mẻ như thế nầy đâu».
Ông ta nghiền mảnh vôi trong tay, rồi cố đưa tay mở cửa. Cũng là tay nấm đó, nhưng cánh cửa đã bị khóa, ông ta đành nhìn qua cửa sổ, vuốt ve những tấm cửa kính. «Nếu mình ở lại chừng nửa giờ, trời sáng mình có thể nhìn vào bên trong nhà được.» Nhưng nghĩ lại ông ta lại sợ trời sáng bị lính bắt gặp, nên đành thầm nhủ: «Thôi để ngày mai mình trở lại».
Nhìn khắp làng tất cả đều yên lặng, không một con chó, con mèo, gà vịt, không một bóng người. Kostaky trở lại ý nghĩ: «Có lẽ căn nhà đang trống, mình cố vào thử xem». Hơi cảm động vì ý nghĩ đó, ông ta mạnh dạn gõ cửa. Có tiếng đàn bà nói:
– Có ai ở ngoài cửa sổ.
Giọng nói xa lạ quá. Kostaky dựa sát vào tường. Rồi có tiếng người đàn ông trả lời. Có nhiều người lạ trong nhà quá, Kostaky cảm thấy đau lòng và bắt buộc đứng trước cửa mà không vào trong được.
Người đàn ông hỏi:
– Ai đó?
Qua cửa sổ, Kostaky thấy người đàn bà trở dậy thắp đèn. Bàn ghế bên trong đều đổi khác hẳn. Người đàn bà đó cũng xa lạ đối với Kostaky, dù trông không rõ mặt. Người đàn ông nằm trên giường sắt trông cũng lạ quá; cả đến giường, cây đèn cũng không có một dáng dấp gì quen thuộc đối với Kostaky cả.
– Ai đó?
Hỏi xong người đàn ông đứng dậy cầm một cái rìu tiến đến cửa sổ. Người vợ nói: «Cẩn thận đấy!»
Người chồng cầm chặt rìu, nhìn qua cửa sổ. Trong một chốc Kostaky có ý nghĩ muốn đánh mấy người bên trong, đuổi họ ra khỏi nhà ông ta. Nhưng vô lý quá, nếu mình có đuổi họ ra, mình cũng không ở đó được vì lính gác sẽ bắt mình ngay, Kostaky đành nhịn nhục và tránh xa. Nhưng ông ta trở lại vì ánh đèn bên trong vẫn còn sáng. Ông ta lên tiếng:
– Xin ông nghe đây.
Người đàn ông cầm rìu có vẻ sẵn sàng đối phó. Kostaky trấn an ông ta:
– Xin ông đừng sợ. Không ai muốn giết ông hay đến cướp nhà ông đâu, tại sao ông lại sợ?
– Nhưng ông là ai?
– Tôi là Ion Kostaky, người đã có công tạo dựng căn nhà nầy. Tôi là chủ nhân căn nhà nầy, ông hiểu chưa, người sở hữu chủ tên Ion Kostaky.
Người vợ lên tiếng :
– Tôi không biết, căn nhà nầy là của chúng tôi.
– Ông bà ở đây thật đó, tôi biết thế, nhưng đây chính là nhà tôi xưa kia. Tôi là Ion Kostaky.
– Ông điên à, người vợ hét to.
– Bà im đi chứ!
Người chồng ra lệnh xong hỏi Iớn:
– Ông nói rằng ông là…
– Vâng, tôi là Ion Kostaky. Ông không bao giờ nghe nói đến tên tôi sao?
– Chưa bao giờ, ông muốn gì bây giờ?
– Nhưng ông ở đâu đến mà lại không biết tôi nhỉ? Tôi là chủ nhân căn nhà nầy cơ mà.
Người chồng nói với người vợ :
– Có lẽ là một nông dân ở đây trước tụi mình.
Người vợ nói :
– Nói với ông ta đi đi. Mình đừng có rước họa vào thân. Nếu ông ta là một nông dân thì đúng là ông ta đã trốn thoát từ trước. Ngày mai quân cảnh sẽ đến đây và nếu họ biết là có ông nầy ở đây, họ sẽ bắt hai vợ chồng mình ngay. Thôi mình nói với ông ta đi ngay đi.
Người đàn ông nghe lời vợ bảo:
– Ông muốn gì, nói đi, xong cút ngay.
– Ông có thể cho tôi biết vợ tôi hiện giờ ở đâu? Ông có biết Iléana Kostaky hiện giờ ở đâu không?
– Đó, em đã nói với mình đúng là một tên vượt ngục. Thôi mình tắt đèn đi và đi ngủ. Nếu ai thấy chúng ta nói chuyện với hắn, mình sẽ bị rắc rối lắm chứ chẳng chơi.
Người chồng nói với Kostaky :
– Ông đến sở quân cảnh mà hỏi. Tôi không biết ai tên Iléana Kostaky cả. Cả ông nữa, tôi có biết ông là ai đâu? Ông đi đi.
– Xin ông nghe tôi, tôi xin nói một lời thôi.
– Tôi không có gì để nghe ông nữa và cũng không biết gì để nói với ông. Ông đến hỏi quân cảnh đi, ông hiểu chưa? Tôi không biết gì về bà ấy cả, cũng như tôi không hề quen biết ông.
Người vợ dọa:
– Nếu ông không đi, tôi sẽ gọi lính cho xem. Tôi sẽ gọi lính bây giờ đây.
– Thưa hai ông bà, nào tôi có làm thiệt hại gì hai ông bà đâu?
– Thế thì ông từ đâu đến?
– Từ thế giới bên kia, từ bên kia đại dương và núi rừng. Nhưng ở đây chính là nhà của tôi.
Người đàn bà lại hét:
– Đây là nhà chúng tôi. Nếu ông muốn gì, hãy đến ban ngày chứ không thể đến trong đêm tối như thế nầy. Tại sao ông lại đến đây vào ban đêm?
– Ông bà không biết gì về vợ tôi sao? Tôi chỉ muốn biết tin bà ấy thôi?
– Không, tôi không biết ai là Iléana Kostaky cả. Chưa bao giờ tôi nghe nói đến cái tên đó. Tôi không phải là người làng Piatra.
– Thế ông bà không nghe nói bà ta còn sống à?
– Không có ai tên Iléana Kostaky ở đây cả.
Người đàn bà tắt đèn. Bóng tối bao trùm căn phòng. Ion Kostaky lại vuốt ve bờ cửa sổ. Vôi trên tường lại nứt ra rơi xuống, Kostaky thấy thế mà đau lòng. Ông ta cầm lấy một nấm vôi trong tay trái, trong lúc tay mặt ông ta vẫn vuốt ve cửa sổ.
Trong nhà người vợ vẫn còn cãi vả với người chồng. Người đàn ông nói:
– Đúng là Ion Kostaky, người đã bị kết án khổ sai và trước đây ông ta ở căn nhà nầy.
– Nhưng nhà nầy là nhà của chúng mình. Em không nghe nói đến ai là chủ cũ cả, mà em cũng không muốn nghe thêm nữa.
– Nhưng tại sao em bảo là em chưa bao giờ nghe nói đến tên Kostaky. Em thường nghe là Ion Kostaky đã ở đây từ trước và đã bị bắt chứ!
– Nông dân bị loại trừ hết rồi. Nhà cửa bị sung công và chính phủ đã cấp cho vợ chồng mình căn nhà nầy rồi.
– Nhưng trước khi bị sung công, căn nhà nầy là của Ion Kostaky.
Người vợ hằn học:
– Điều đó không liên quan gì đến vợ chồng mình cả.
– Nhưng ít ra mình cũng nên nói là vợ ông ta đã chết. Ông Kostaky khốn khổ đó sẽ bỏ đi ngay. Em là một người đàn bà, tại sao em sắt đá như thế. Tất cả điều ông ta hỏi chỉ vỏn vẹn có một câu là vợ ông ta còn sống hay không. Ông ta không còn ai thân yêu trên đời nữa. Nếu chúng mình nói thật, ông ta sẽ bỏ đi ngay. Người đàn ông đó có đòi hỏi điều gì khác hơn đâu. Ông ta có thể từ Sibérie trở về đây. Có thể là ông ta đã đi hàng ngàn cây số đề về đây xem thử vợ ông ta còn sống hay chết. Tại sao lòng dạ em lại như sắt như đá? Anh sẽ đi kiếm ông ta và bảo rằng vợ ông ta đã chết trong tù. Anh sẽ nói với ông ta bất cứ điều gì anh biết. Anh đem cho ông ta thức ăn nữa là đằng khác… Một ngày nào đó, sự khổ sở đó cũng có thể xảy đến cho mình. Giả tỉ anh ở vào trường hợp ông ấy và anh lo ngại cho em thì em nghĩ sao?
– Nhưng nếu anh đi, anh sẽ bị bắt chung với ông ta.
Người đàn ông vẫn mặc áo:
– Anh sẽ ra kiếm ông ấy. Tại sao lại không nói thật cho một người chỉ muốn biết là vợ còn sống hay đã chết.
Người vợ hét:
– Anh đừng đi.
Kostaky nghe tiếng người đàn bà giựt chiếc áo ông chồng đang cầm.
Kostaky đành bỏ đi. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên trán. Tai ông ta vẫn còn nghe tiếng người vợ cãi vả với chồng trong nhà. Người vợ nói:
– Em sẽ tố cáo anh với quân cảnh nếu anh đi bây giờ.
Kostaky để ý thấy hai cây táo trồng trước nhà đã bị đốn mất. Ông ta buồn rầu không hiểu sao người cộng sản lại hay đốn cây như thế.
Người đàn bà vẫn to tiếng:
– Nếu anh đi em sẽ tố cáo anh.
Kostaky bỏ đi xa. Ông ta bắt đầu khóc. Cố quay đầu lại nhìn một lần nữa. Nhà ông còn nằm yên trong bóng tối. Kostaky thầm nói: Lạy Chúa, rước linh hồn Iléana về nước Thiên đàng, ông ta cất mũ làm dấu. «Lạy Chúa tha tôi cho bà.» Kostaky đội mũ lại và đi về phía rừng. Làng mạc hoang vắng. Đường sá vắng bóng người. Không có Iléana, trái đất đối với ông chỉ là một bãi sa mạc hoang vắng.
°
Kostaky thấy ba bóng người đuổi theo ông trên đường làng. Ông ta muốn vào trong một khu vườn, nhưng lính gác đã trông thấy và cố đến gần ông ta. Kostaky bỏ đi thật nhanh. Ông ta cảm thấy mùi đất thấm vào thân thể và hai buồng phổi. Đằng sau, lính gác đã nổ súng. Đã có lệnh báo động trên sân bay. Lính gác tràn đầy đường. Các lối ra khỏi làng bị gác hết. Kostaky chửi:
– Đồ lũ chó cộng sản.
Ông ta không trốn về nơi Pillat đang chờ, vì lính gác từ đó đến, ông ta đành bò về phía ngược lại. Đó là con đường dẫn đến nghĩa địa, ông ta núp vào trong các bụi rậm và nghĩ đến Iléana mà không hề nghĩ đến lũ lính gác đang đuổi bắt mình và làm náo động cả làng.
«Lạy Chúa đem Iléana về đất thánh. Bà đã đau khổ nhiều lắm rồi. Càng khổ nhiều hơn nữa nếu bà bị chết trong tù.
Iléana khốn khổ ơi!»
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.