Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 18 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 2

Sáng nay, tôi trực, lo phần ăn cho anh em. Tay cầm chiếc rổ đi xuống nhà bếp, lãnh xong đem về chia cho Tổ. Cầm 1/4 miếng bánh mì nhỏ xíu đưa vô miệng, chỉ mấy phút sau, miếng bánh đã theo nước miếng vô bao tử. Từ hôm đến, chúng tôi chưa được ăn miếng cơm nào. Anh em nhà bếp nói trong kho hậu cần, bột mì đầy nhóc, không thấy gạo đâu! Có lẽ, phải ăn bánh mì luộc dài dài! Ăn gì cũng không bằng ăn cơm. Cơm ăn mát ruột, dù no hay đói, chứ ăn bánh mì luộc mãi chịu sao nổi? Nhưng chịu hay không cũng vậy thôi, tù làm gì có quyền đòi hỏi?

Một hồi kẻng dài báo giờ lao động. Tôi theo Tổ bước lên đồi phát quang. Tổ trực đã đi lãnh dao, cuốc ở kho vật dụng, nơi bên kia dòng suối nhỏ. Trong lúc chờ dụng cụ phát quanh, tôi ngồi dưới tàng cây có những bông hoa vàng nhỏ li ti như hạt kê, chẳng hiểu nó thuộc loại cây gì? Mỗi lần có gió thổi, những hạt kê vàng rơi lả tả như phấn rắc, tỏa mùi hương hăng hắc. Tia nắng đầu tiên chiếu trên ngọn cây cao phía xa. Ánh nắng lấp lánh nhảy múa qua cành lá còn đẫm sương buổi sớm, rung rung như những chiếc bóng đèn nhỏ treo giữa nền nhung xanh thẫm.

Dụng cụ phát quang đã được mang về và phân phối. Dụng cụ ít, anh em nhiều, nên thay phiên nhau làm. Những nhát dạo chặt đôm đốp vào thân cây, những nhát cuốc bổ ào ào xuống những bụi nhỏ. Khoảng nửa tiếng, xung quanh chỗ tôi ngồi đã quang hẳn. Một vùng ánh nắng đổ xuống chói chang. Mùi lá tươi xông lên ngai ngái. Chúng tôi cứ thay nhau làm đến trưa, một góc đồi đã trơ trụi. Chiếc Lán tôi ở, ngang tầm mắt nhìn và con suối uốn mình vòng theo chân đồi rồi mất hút sau bờ cây thấp. Vài người cởi áo vì trời bắt đầu nóng. Bỗng có tiếng kêu:

– Ong, ong, …anh em coi chừng!

Tôi nhìn ra xa, đám ong vò vẽ đang cất cánh. Tôi vơ vội một cành lá đề phòng. Mọi người đều chạy dạt, vừa chạy vừa mặc áo. Những cành lá khua vung vít để đuổi ong. Một anh nhanh trí bật lửa châm vào đống lá khô gần đấy. Ngọn lửa bén dần, nhờ gió bốc to, tỏa khói mù mịt một khoảng đồi. Đàn ong không dám bén mảng đến nơi có khói, chúng bay cao rồi biến mất. Một anh tiến đến chỗ có tổ ong, leo lên cây giựt xuống, cười hô hố:

– Đù mẹ, không có mật, nhưng nhiều ong sáp quá, nhậu cũng được một bữa!

Nói xong anh cho tay cạy từng con bỏ vào miệng.

Đội Trưởng không phải lao động. Nhiệm vụ của Đội Trưởng là nhận lệnh của cán bộ rồi xỉa lại cho anh em. Do đó các Đội Trưởng đều nhàn rỗi. Tôi nhìn thấy Hà, Đội Trưởng đội của tôi đang “cải thiện” gần bờ suối. Chẳng biết anh đun nấu gì, mùi thơm bay lên đến trên đồi!

Tiếng kẻng tan tầm khua vang. Tiếng vọng âm âm luồn qua khe núi một lát mới tắt. Chúng tôi ùa xuống suối, rửa tay chân, chờ lãnh chiếc bánh luộc! Buổi chiều vẫn ngần ấy công việc, nhưng anh em làm có vẻ uể oải vì quá nắng. Một tên bộ đội, cấp sĩ quan, đeo súng ngắn, đi kiểm soát công việc. Hắn dừng lại chỗ chúng tôi làm.

– Mấy anh, phát quang phải chặt sát gốc, nếu chừa gốc nhiều quá, cây có thể sống “nại” được, lúc đó phải đánh rễ “nôi” thôi “nắm”! Các anh rõ chứ?

Chúng tôi dạ cho êm chuyện! Tự nhiên, hắn nói thêm:

– Các anh “nà” may “nắm”. Khí hậu ở đây hiền hơn ở nơi các anh vừa rời khỏi. Dù sao cũng gần tỉnh.

Một anh nhanh nhẩu:

– Thưa cán bộ, anh em hết thuốc lào, cán bộ có đi Yên Bái làm ơn mua dùm!

– Được, tôi không đi, nhưng cán bộ hậu cần thường đi, có gì tôi bảo mua giúp!

Nói xong, hắn đi nhanh vòng qua phía bên kia đồi.

– Đây gần Yên Bái, anh em ơi! Tôi hỏi mánh, biết ngay!

Chúng tôi đều phục vì anh nhanh trí, nên biết được địa điểm mình đang có mặt.

Buổi chiều tôi ra suối lớn tắm. Dòng suối khá rộng, nước chảy cuồn cuộn. Chúng tôi chỉ được tắm ở phía dưới. Phía trên dành cho nhà bếp. Tôi đi men theo dòng nước, nhảy qua từng tảng đá lớn để đến nơi ít người. Tôi nhìn lên vách núi, cây cỏ mọc rậm rì, từng từng lớp lớp. Nơi bên kia bờ có nhiều thân cây đổ ngang, tạo nên một rào chắn tự nhiên. Tôi ngâm mình dưới lòng suối, nước chảy rào rạt bên trên như mơn trớn vỗ về. Do kinh nghiệm, tôi biết, sống trong nhà tù Cộng Sản có thể làm gì có ích cho bản thân cứ làm, vì không ai lường trước những gì sẽ xẩy ra tới cho mình trong giờ sắp tới.

Tôi trở về vừa kịp giờ lãnh bánh. Đàm cho tôi cục đường thẻ. Bánh mì luộc ăn với đường thẻ ngon tuyệt. Tôi cắn từng miếng nhỏ, tính toán sao cho miếng bánh cuối cùng vẫn còn đường. Ai đã ở tù, mới biết đường là quý! Tôi cảm ơn Đàm nhiều.

Buổi chiều nay, khoảng 6 giờ, chúng tôi phải tập họp để điểm số trước khi vào Lán chứ không muộn như đêm qua. Như tối trước, lần lượt mỗi Đội Trưởng báo cáo số người, rồi mỗi người đọc số thứ tự của mình. Sau khi điểm số xong, tên cán bộ trực sinh hoạt giao công tác ngày mai. Từ đó trở đi, chúng tôi cứ như những chiếc máy: lao động, lãnh bánh, điểm số, thức ngủ theo đúng giờ giấc quy định.

Sau một tuần, công tác phát quang ngọn đồi đã xong, chúng tôi gom cây, cành vào một góc chờ khô, đưa xuống nhà bếp. Công tác làm hố xí do đội 5 phụ trách cũng xong. Anh em mỗi sáng đi cầu phải trèo lên con dốc cao khoảng 6 thước. Hố xí có chừng 20 căn, dành cho 300 người nên vẫn còn có người chờ, nhưng sự chờ đợi này không thê thảm như hồi ở Suối Máu.

Chiều nay, Tổ tôi được phân công đào giếng nước.

Đường kính miệng giếng rộng 4 thước, sâu 10 thước. Đó là chỉ tiêu, phải thực hiện xong trong một tuần.

Sớm hôm sau, chúng tôi khởi đầu công tác. Mười người hì hục làm, thay phiên nhau cuốc và bốc đất. Khu đào giếng ở gần con suối nhỏ, dưới chân đồi, nơi chúng tôi vừa phát quang, cả đất lẫn đá. Chúng tôi đào hết sức từ sáng đến chiều cũng chưa lấy được một lưỡi mai. Như vậy làm cách nào xong được chỉ tiêu đã ấn định? Thời gian cứ qua đi lạnh lùng. Một tuần lễ đã gần hết, chiếc giếng đào sâu độ 2 thước. Mỗi ngày tên cán bộ trực đi kiểm soát lắc đầu, chê “nao” động kém!

Hôm nay, ngày cuối cùng của công tác, chúng tôi hết sức đào tới giờ chót, đo lại được chừng 2 thước rưỡi. Lòng giếng khô ran, chưa một giọt nước!

Tuần sau, chúng tôi được thay công tác vì bị phê bình là “nề mề”, bầy nhầy, không chịu triển khai công tác, “nao” động tiêu cực, không đảm bảo chất lượng v.v… Chúng tôi được giao công tác trồng dứa trên quả đồi vừa phát quang bữa nọ. Tên cán bộ phụ trách trông nom và hướng dẫn cách trồng, luôn luôn có mặt. Hắn cuốc và trồng vài cây làm mẫu, chúng tôi cứ thế thi hành!

mạnh hải flickr

– Các anh trồng rồi các anh hưởng, chứ ai ăn vào đấy?

Hắn nói như muốn chúng tôi hiểu, mình làm cho mình, do đó, phải cố gắng thực hiện công tác! Nhưng hắn muốn nói gì thì nói, anh em vẫn “nề mề”, “bầy nhầy” vì mỗi bữa có một chiếc bánh mì luộc vô bụng làm sao có đủ sức để tích cực?

Nhưng rồi công tác trồng dứa cũng hoàn tất. Chúng tôi lại thay công tác, đi san nền nhà cho tụi Việt Cộng, ở rải rác trên đồi. Từ trên đỉnh đồi, tôi có thể nhìn bao quát khắp vùng. Tôi nhận ra con đường khi mới đến, cả cái Trại có Tính ở. Từ xa, nó trông giống khu nhà bình thường, không có vẻ nhà tù.

Phong cảnh buổi sáng thật đẹp, những dẫy đồi núi xen kẽ nhau, tạo nên một vòng đai muôn mầu rực rỡ dưới ánh nắng. Những làn mây trắng như bông gòn rải rác trong các khe núi. Tôi làm ít, ngắm cảnh nhiều. Mỗi nhát cuốc bổ xuống chỉ để che mắt chứ không đạt năng xuất. Nhưng công tác này cũng không kéo dài được bao lâu. Ít bữa sau, Tổ tôi lại thay công việc khổ sai.

Buổi chiều nay, tên cán bộ sinh hoạt cho biết:

– Từ ngày mai, các anh đi lấy dang trên đồi, để làm hàng rào! Ngọn đồi trước mặt các anh đó!

Chúng tôi nhìn lên, ngọn đồi cao ngất, ngay trên đỉnh có hàng cây xanh rì!

– Chỉ tiêu cho mỗi anh, 10 cây một ngày, mỗi cây có đường kính 6 phân, dài 4 thước. Các anh nghe rõ chứ! Vấn đề làm hàng rào không phải để kềm chế các anh đâu! Ở đây nhiều thú dữ, chúng tôi phải bảo vệ các anh, và ít nhất, để giữa chúng tôi với các anh có một chút phân biệt. Chứ cứ như thế này, không tiện! Có đúng không các anh?

– Dạ đúng!

Chẳng hiểu sao, chúng tôi lại đồng thanh cùng thốt ra tiếng nói đó.

Buổi tối, vẫn không có đèn, trong lòng chiếc Lán đen thui. Đó đây, tiếng “kéo pháo” nghe ròn rã. Giọng nói rì rầm trôi dần vào vắng lặng.

Từ sớm, mọi người đã thức, tuy kẻng chưa gõ. Đây, công tác đi xa Trại lần thứ nhất nên anh em có phần nào sốt sắng. Tiếng kẻng vừa gõ, tất cả đã ồ ra sân đi lãnh bánh và nước chứa đầy bi-đông. Miếng bánh luộc nhỏ bằng 2 đầu ngón tay. Nhiều người lo xa chưa ăn, cất trong túi áo, để dành lúc leo đồi vì con dốc khá cao!

Tên cán bộ quản giáo người Hà Tĩnh, đeo súng ngắn, đến dẫn các đội leo đồi. Tôi cùng mấy anh em băng qua con suối lớn, tiến dọc theo triền núi kiếm dang. Tôi leo con dốc thấp, chắc nơi đây đã có nhiều người qua lại nên thành lối mòn. Lên tới đầu dốc, tôi thấy mấy bụi dang. Mừng quá, vung dao chặt lia lịa. Con dao quá cùn, chặt mười mấy nhát chưa đứt một cây. Mồ hôi đã ướt đẫm áo. Nản quá, tôi vứt dao ngồi thở. Vừa lúc đó, có tiếng nói phía sau:

– Thôi, anh nghỉ đi. Tôi đã chặt sẵn mấy cây, lát nữa buộc lại để anh mang về!

Nghe nói, tôi vội nhìn xem ai, nhưng cố nhớ mà không ra.

– Anh không nhớ tôi sao?

Tôi nói ngượng ngùng:

– Xin lỗi, không nhớ!

– Anh không nhớ cũng phải vì tôi mới chỉ gặp anh một lần ở nơi làm việc. Tôi tên Tài!

– A, Tài, bạn ở vùng 4 phải không?

– Đúng!

– Cảm ơn bạn nhiều. Con dao của tôi cùn quá, chặt không nổi.

Tài cười, đi đến nơi đã chặt, rút dang ra khỏi bụi. Vấn đề rút dang cũng khá vất vả vì bị vướng cành, có khi chặt rồi, không tài nào lôi ra được, đành bỏ!

Tài rút ra 6 cây, lấy dao vát hết cành nhỏ, chặt ngọn dùng dây rừng buộc chặt. Theo tiêu chuẩn, mỗi người phải lấy 10 cây, nhưng vì sức yếu, tôi chỉ vác 6 cây. Mang về nếu tụi nó hỏi, tôi sẽ trả lời theo đúng chính sách: Lao động tùy sức!

Tôi cảm ơn Tài lần nữa, rồi vác bó dang lên vai đi đến đầu con dốc. Tôi hạ bó dang, tìm cách đưa xuống. Sau khi suy nghĩ, không tìm ra cách nào hơn là thả cho bó dang tự do lao xuống, muốn rơi vào đâu cũng được.

Nhưng nghĩ lại, trong lúc bó dang đang lao, nhỡ có người từ dưới leo lên, chắc chắn không tránh được tai nạn! Không biết sao hơn, tôi khum hai bàn tay đưa lên miệng làm loa, hét to: nguy hiểm, tránh xa! Sau khi la mấy tiếng, tôi đẩy bó dang xuống. Bó dang lăn nhanh, va vào đá, sợ dây buộc đứt tung, mỗi cây văng một ngả. Báo hại, tôi bò xuống đi nhặt từng cây rải rác, tìm dây khác bó lại. Công việc tìm dây không dễ dàng vì ở dưới thấp khó có dây rừng. Tìm mãi không ra, tôi đành đi nhặt các sợi dây bị đứt nối liền, buộc tạm.

Tôi vác bó dang lên vai, men theo sườn núi đi về. Đường đi cũng không dễ dàng, vì gập ghềnh, có khi phải lội qua những vũng nước rộng, bên dưới lổn nhổn đá lớn, nhỏ, rêu bám trơn như mỡ. Các cây dang trên vai, vì buộc không chặt nên mỗi cây choãi một ngả, rất khó đi. Cuối cùng, tôi cũng mang về tới nơi. Mồ hôi ướt đẫm áo quần. Tôi cứ để nguyên, nằm lăn ra đất.

Đội Trưởng đang ngồi uống nước, thấy tôi về, chạy ra hỏi:

– Sao, có 6 cây, chỉ tiêu 10 cơ mà?

Tuy mệt, nhưng tôi cố nhỏm dậy:

– Lao động tùy sức! Anh khoẻ mạnh sao không đi lấy, lại ở nhà?

– Tôi là Đội Trưởng, cán bộ cho phép không phải lao động! Tôi chỉ kiểm soát sự lao động của anh em trong Đội thôi!

– Kiểm soát cái con c….! Tù cả mà! Lại còn chức sắc!

Thấy tôi nổi nóng, anh không nói gì, quay vào. Anh em cũng lục tục mang dang về. Người nào quần áo cũng ướt sũng như ngâm nước, mặt mũi bơ phờ như vừa trải qua cuộc chạy đua quá mức.

Tôi đã lấy lại sức, đứng lên định ra suối tắm giặt, chợt nhìn lên trên đồi. Một đoàn người đông đảo kéo dài từ đỉnh đồi xuống đến lưng chừng, trên vai mỗi người đều có bó dang dài thượt dưới ánh nắng chang chang trông giống như con rắn khổng lồ đang trườn mình bắt mồi.

Tôi vắt chiếc khăn mặt lên vai, lững thững đến bờ suối. Tôi tắm ở con suối nhỏ sau nhà. Vừa tắm, vừa nhìn lên ngọn đồi trồng dứa, trông khá vui mắt.

Vào xế trưa, mọi người đều về đến nơi. Đàm vừa quăng bó dang xuống đã chửi thề:

– Đù mẹ, lao động dài dài kiểu này chắc chết quá!

mạnh hải flickr

Hữu cùng đi với Đàm, nhưng vốn hiền lành, có tinh thần chịu đựng, tuy trước kia là ông Toà của Toà Án Mặt Trận Vùng 8. Còn Cung ở đội khác, nên trong công tác ít gặp nhau, ngoại trừ lúc rảnh rỗi, thường nói chuyện tâm tình. Vốn dòng dõi quan liêu phong kiến, chắc Cung cũng đã nhìn ra cái thế của mình, nên lúc này hắn thường buồn hon vui. Những tư tưởng trong thơ đã nghiêng về giải bầy nỗi u uất thầm kín!

Những bó dang chất đầy khoảng sân. Cứ như vậy, trong một tuần lễ, dang chất kín mặt sân với bề cao trên 1 thước. Buổi chiều anh em được tự do.

Qua tuần sau, Đội 1 và 3 làm hàng rào. Những cây dang được vạt nhọn một đầu, chặt ngắn còn độ trên 3 thước, đan chéo cánh sẻ kín xung quanh khu vực. Công tác làm hàng rào cũng mất cả một tuần mới xong. Có lẽ, chiếc hàng rào chỉ nhằm phân cách giữa chúng tôi và khu vực của tụi Cộng Sản ở, nên vẫn còn ba nơi để chừa lại không rào. Nó như ba chiếc cổng. Chiếc thứ nhất thông ra con suối lớn. Chiếc thứ hai qua con suối nhỏ đến khu nhà bếp của tụi cán bộ và kho dụng cụ. Chiếc thứ ba ngay vọng gác, lối đi ra bên ngoài. Trong khi các đội khác làm hàng rào, Đội tôi làm công tác phát quang những bụi lá dong mọc dầy đặc xung quanh khu nhà bếp của tụi cán bộ. Trong khi chúng tôi ăn bánh mì luộc dài dài, tụi cán bộ Cộng Sản ăn cơm. Tôi nhìn thấy cả đống cơm thừa đổ giữa lòng suối, trong khi mình đói thắt họng. Không phải một chỗ, nhiều nơi như vậy, chứng tỏ bữa nào tụi nó ăn cũng dư. Tôi chưa thấy lá dong ở đâu nhiều như ở đây. Nhìn những tầu lá to như lá chuối ngã gục dưới lưỡi dao, tôi chợt nhớ, mỗi dịp Tết vợ tôi thường đi mua lá dong để gói bánh chưng, làm sao tìm được những chiếc lá tốt như thế này.

Mỗi tối, tên cán bộ quản giáo đều sinh hoạt kiểm thảo công tác. Tụi Cộng Sản hay thiệt, dù ở đâu chúng cũng đều nói chung một luận điệu, không thấy ngượng. Lúc vào đầu, bao giờ cũng khen. Sau câu khen giả dối, mới phê bình xây dựng, đập tan nát. Nào lười biếng, tránh né lao động, không hăng say tích cực!… Nào chỉ tiêu, nào đánh giá, nào học tập tốt, lao động tốt sẽ sớm được về! Câu này nghe mãi trở thành trò hề. Không ai muốn nghe, nhưng bắt buộc vẫn phải làm ra vẻ chú ý để tiếp thu những lời giáo huấn! Công tác của Trại thay đổi luôn luôn. Nay làm việc này, mai việc khác. Việc nào cũng khổ sai cả.

Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và 1/4 chiếc bánh buổi sáng 50 gram. Như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 chất bột với muối, không có chất béo, chất rau, chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy dộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc, theo giấy tờ, chúng tôi được ăn 18kilo chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng. Nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13kí500 chất bột. Số bột dư và chất đạm, chất béo, chúng tôi hoàn toàn không có quyền được biết.

Buổi sinh hoạt chiều nay sau khi điểm số xong, tên cán bộ quản giáo hỏi:

– Ngày mai Đội nào trực?

Một cánh tay giơ lên:

– Dạ, Đội tôi!

– Sáng mai, anh cắt bốn người đi mua “nợn” cách xa Trại khoảng 15 cây. Những anh này phải mang theo dây, đòn khiêng và lương thực ăn bữa trưa. Nghe rõ chứ?

– Dạ rõ!

Nghe nói mua heo, ai nấy mặt mày tươi rói! Sau khi tan hàng, vào trong Lán, Đội Trưởng sinh hoạt chỉ định Tổ trực phải cắt bốn người ngày mai đi khiêng heo. Tổ Trưởng của Tổ trực lại sinh hoạt, tính toán số người đã và chưa thi hành công tác “đột xuất” để cử đi. Bốn người tới phiên, mặt mũi buồn xo vì biết đây là loại công tác vất vả.

Sáng sớm, khi anh em còn ngủ vùi, bốn anh đã nai nịt gọn ghẽ. Mỗi anh giắt theo chiếc bánh mì luộc, phần ăn trưa. Tên cán bộ hậu cần, đeo súng ngắn đứng ngoài Lán gọi vào:

– Đâu, những anh nào đi mua “nợn”?

– Chúng tôi đây, cán bộ!

Tiếng đáp từ trong vọng ra . Những tiếng chân đi ra ngoài, theo ánh sáng của chiếc bật lửa.

Anh em vẫn ngủ. Tiếng ngáy đều đều cất lên như thường lệ. Thật vô phúc cho anh nào khó ngủ lại nằm kế bên các ông “vua ngáy”. Nằm mãi cũng chán, tôi vùng dậy đi ra sân. Những vì sao chưa lặn hết nhấp nháy trên cao như những ngọn đèn sắp lụn. Cảnh vật vô cùng vắng lặng. Từ xa, tiếng chim “bắt cô trói cột” kêu ra rả như xé ruột. Hồi khuya, lúc thức giấc, tôi có nghe thấy tiếng rú thảm thiết, hình như tiếng rú của đàn vượn đang gặp cơn nguy hiểm. Tiếng rú chạy dài theo triền núi hồi lâu mới dứt. Núi rừng luôn luôn chứa trong nó niềm bí mật của đêm sâu. Khi ánh mặt trời đã tắt, không khí của núi rừng cũng thay đổi. Con người dù can đảm cách mấy cũng không có gan di hành một mình giữa cảnh thâm u của núi rừng ban đêm. Do đó, việc trốn Trại cũng khó thực hiện. Tôi nhớ đến Khắc, chẳng hiểu lúc này hắn ở Trại nào? Hắn còn nuôi ý định trốn Trại không? Trại ở đây không có kẽm gai và mìn, sự canh gác cũng lơ là chứ không kỹ như ở Long Giao hoặc Suối Máu, mà sao coi bộ khó lòng vượt qua được cái vòng đai thiên nhiên của núi rừng miền Bắc!

Trời sáng dần. Phía nhà bếp, ánh lửa cháy đỏ rực. Có tiếng vỗ cánh của bầy gà con bị nhốt trong chuồng. Cái chuồng gà nhỏ có tre dang, đã được làm lại kín đáo, không còn sợ rắn! Tuy không quen biết anh chủ gà, nhưng tôi vô cùng cảm phục tinh thần chịu khó, biết lo xa. Trong khi anh em ăn bánh mì luộc chấm muối, anh vẫn có trứng gà ăn đều đều.

Sáng nay, chúng tôi đi phát quang một khu vực ngoài Trại. Từ hôm đến, bữa nay, tôi mới được bước ra khỏi chiếc cổng gác. Phong cảnh nhìn theo mặt phẳng không đẹp bằng nhìn từ trên cao. Mặt trời chiếu chói chang trên những ngọn đồi trà phía xa trông tươi mát. Cảnh vật yên tĩnh, không có cả tiếng chim kêu. Chúng tôi, người vác dao, kẻ vác cuốc đi thành hàng dài theo lối mòn có sẵn, leo qua hai quả đồi trước khi đi vào địa điểm lao động.

Đây, một khu hoang, cây cối chằng chịt. hơn 200 con người phải làm sạch trong buổi sáng, để lấy chỗ trồng trọt.

Buổi sinh hoạt chiều qua, tên quản giáo nói:

– Hiện nay, Trại thiếu rau cỏ và thực phẩm. Các anh “Cải Tạo” phải giúp Trại tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình và người khác!

Một Đội được phân công phát quang từng mảng. Những tên cảnh vệ làm nút chặn trên các lối rẽ đề phòng việc trốn Trại. Có những tên đứng trên bờ đất cao để quan sát cho rõ.

Một hồi còi rúc lên, tất cả ào xuống khu đất đầy cây dại, cỏ gianh cao ngập đầu người. Từng nhát dao lia tới tấp, từng nhát cuốc bổ liên hồi. Khu đất quang dần. Các cây cao từ từ ngã xuống như những tên tử tội sau giờ hành quyết, được cởi dây trói, xác lìa khỏi cọc.

Trong khi mọi người đang làm, bỗng có tiếng hò reo vang dội từ mé trái. Tôi ngừng tay ngó nhìn. Một đám người đông đảo vừa reo hò, vừa khua dao, đập túi bụi từ góc nọ tới góc kia. Chừng 15 phút sau, tiếng reo hò lắng xuống. Một người giơ cao lên khỏi đầu một con vật mầu xám tro, có chiếc đuôi dài xù to như bông lúa. Nhìn thấy Quang, Đội Trưởng Đội 5, từ phía đó đi lại, tôi hỏi:

– Cái gì vậy?

– Anh em bắt được một con chồn.

– To không?

mạnh hải flickr

– Bằng bắp chân!

Nói xong anh đi thẳng về phía tên quản giáo, hình như để trình bầy chuyện vừa qua. Từ xa, tôi thấy tên quản giáo gật đầu. Chờ Quang qua mặt, tôi hỏi nữa:

– Cán bộ nói sao?

– Cho anh em ăn!

Tôi vừa làm vừa ngẫm nghĩ, mấy chục người ăn một con chồn bằng bắp chân, cũng chẳng khác gì 180 người ăn một con gà chết khi còn ở Long Giao năm ngoái! Trong lúc đang chống cuốc đứng nghỉ mệt, bỗng có người từ một bụi rậm bước ra, đến gần tôi, nói:

– Uổng quá, đáng lẽ anh đâu phải có mặt ở nơi này. Sáng ngày 29-4, Đại tá Anderson lái xe tìm anh để đưa đi di tản, rất tiếc, ông ta không biết nhà anh, tôi cũng không biết mà chỉ. Chắc cái số của anh đi tù nên bỏ lỡ dịp may!

Nghe xong, tôi cười. Đại tá Anderson mến tôi qua hội họa. Tên thực tế, tôi và ông ta không liên hệ gì với nhau nhiều trên công tác.

Sau mấy câu chuyện tầm phào, người bạn tù quay trở về Đội mình, còn tôi lại cúi gập người bổ từng nhát cuốc xuống bãi đất như trút tất cả sự giận hờn vào cây cỏ vô tri.

Sau 6 tiếng đồng hồ lao động liên tục, khu đất phát quang đã trống trơn. Cây cối nằm rạp ngổn ngang như bãi chiến trường sau giờ quyết chiến. Trời nắng gắt, nhưng trên đỉnh núi mây phủ mù mịt, một góc trời tối sầm. Có thể, chiều nay sẽ mưa. Từ hôm đến Trại, chưa mưa lần nào. Suối lớn cũng khô cạn, để lộ những tảng đá mầu xám chì mốc thếch.

Chúng tôi đi về, quần áo ướt nhèm, lấm bê bết, thất thểu như đoàn quân bại trận trước họng súng của những tên cảnh vệ áo quần khô ran sạch sẽ!

Vừa về đến Lán, mọi người quẳng nhanh vật dụng vào một góc, chạy ào ra suối. Ai thích nhiều nước ra suối lớn, ai ngại đi, tắm suối nhỏ. Có lẽ chất nước làm con người tỉnh táo, sau những giờ mệt nhọc, nên tiếng nói cười lại cất lên ầm ĩ. Sống trong cảnh lao tù, anh em cũng cố tạo ra niềm vui khi có dịp để khỏa lấp những giây phút buồn tủi! Dẫy núi cao bao quanh chúng tôi như bức tường thành không cách nào kinh qua được.

Tôi nghe nói, con chồn bắt được hồi sáng, đưa xuống nhà bếp làm thịt. Vì không có mỡ và gia vị nên sau khi làm lông, cho vào lửa thui vàng, chặt nhỏ kho muối.

– Thịt chồn kho muối, bố ai ăn được?

– Đù mẹ, thèm thịt quá, có cũng tốt!

– Chết thì thôi, nhất định tôi không ăn thịt chồn, tanh ngòm!

Những câu đối thoại trôi đến tai, dù không muốn nghe. Trên con suối nhỏ hàng trăm người tắm, nên tuy vẫn chảy mà dòng nước đục ngầu vì bị khuấy từ phía trên.

Trời bỗng tắt nắng. Mầu sắc chìm xuống, lắng đọng. Tôi nhìn lên. Từng tảng mây đen trôi cuồn cuộn như bị xô đẩy bởi luồng gió cực kỳ mạnh. Trên đỉnh núi hàng cây nghiêng ngã. Một đàn sáo xoải cánh bay vội về hướng núi, chỉ một thoáng chúng đã chìm khuất vào mầu xanh âm u của rừng rậm. Gió bắt đầu thổi dữ dội. Những quần áo phơi đây đó, bị gió hất tung vương vãi. Một cơn lốc bụi đỏ bay mù trời.

Giờ phát bánh đã tới. Những chiếc bánh nguội ngắt vì nấu từ sáng. Tôi đưa chiếc bánh lên miệng cắn từng miếng lớn. Có lẽ, vì quá đói nên tôi nhai rất nhanh. Chiếc bánh biến hết vào dạ dầy, cứ tưởng như chưa ăn!

Tôi nằm chờ mưa, nhưng gió đã đẩy cơn mưa về phía khác. Mầu trời sáng lại. Những tia nắng lại chiếu xuống cảnh vật là không khí oi bức hơn lúc chưa chuyển mưa.

Chiều nay chúng tôi được nghỉ vì đã đạt mức khoán. Anh em lợi dụng thời gian này để làm công tác riêng như vá quần áo, xếp lại túi hành trang. Toán đi mua heo giờ này vẫn chưa về. Ánh nắng chiều đã trải rợp 1/3 sân. Tôi ngồi trong bóng mát nói chuyện với Hữu và Đàm. Nói cho đúng, những câu câu chuyện nói mãi với nhau cũng chán, còn ước đoán về ý đồ của kẻ thù lại nản hơn, vì không bao giờ đúng. Do đó, nhiều khi chúng tôi ngồi với nhau, chẳng ai nói câu nào!

Bỗng có tiếng reo:

– A, heo đã về!

Tôi nhìn ra cổng, thấy bốn người cởi trần, trông rõ từng chiếc xương sườn, đang ì ạch khiêng con heo khá lớn. Vừa vào qua hàng rào, bốn người đặt mạnh con heo xuống đất, nhưng lạ quá con heo không kêu. Tên cán bộ hậu cần, bước vô đến ngay chỗ con heo, nói:

– Mấy anh không được việc gì hết, có mười mấy cây số mà để heo chết! Không khiêng xuống nhà bếp làm thịt, còn chờ gì nữa?

Bốn người uể oải đứng lên, đưa cây đòn vào vai. Tám bàn chân lảo đảo khiêng con heo chết xuống nhà bếp. Sau khi thi hành xong nhiệm vụ, bốn anh trở về Lán, nằm vật ra thở dốc như sắp chết theo con heo.

Tuy không quen thân, nhưng tôi biết một anh là Đại Úy, hai anh là Thiếu Tá, còn một anh là Chánh sở Quan Thuế Sàigòn. Lát sau, chắc đỡ mệt, anh Quan Thuế nói với người bạn nằm kế bên:

– Ối cha, từ thuở có mặt trên cõi đời, chưa bao giờ cực như bữa nay. Đi xa quá, nó kêu 15 cây mà đi hoài có lẽ tới 20 cây. Đi và về tổng cộng 40 cây. Đù má, mình đã mệt bỏ cha, con heo cứ quẫy. Mỗi lần nó quẫy chiếc đòn nghiến vào vai, đau chịu không thấu. Tôi bảo nó: “Thôi heo ơi! Một là mày chết, hai là tao chết. Nếu mày cứ quẫy hoài thế này có lẽ tao chết trước mày.” Bốn thằng chia phiên khiêng. Mỗi cây số lại nặng thêm. Sau bàn nhau, hai thằng khiêng, còn hai thằng coi chừng tên hậu cần. Nếu nó lơ là, thoi vào bụng heo, thoi liên tục kỹ cho chết, chứ nó quẫy như vầy, sao khiêng nổi. Từ lúc ấy, chúng tôi vừa khiêng, vừa thoi vào mạng mỡ heo. Mỗi lần thoi, con heo lại rống lên như bị thọc huyết. Sau thoi mãi vừa đau tay vừa mỏi, chúng tôi đá. Tên hậu cần đi cách xa chừng 20 bước chân, đến chỗ nào khuất, đá đấm heo thoải mái. Á, heo nó cũng khoẻ lắm đa. Đấm đá như vậy, khi về gần đến Trại nó mới tử đấy. Đường xa mệt quá, hai đứa khiêng không nổi, phải dùng chiếc đòn dài, bốn đứa cùng khiêng con heo khoảng 60 kí. Vái trời đừng bao giờ ăn heo nữa!

Anh ta nói một hồi, xong vùng dậy, ra suối tắm rửa! Mấy anh kia, không ai nói gì. Chắc cuộc đời chiến đấu đã quen chịu đựng gian khổ, hay vì một lý do nào đó, không ai hay biết!

Bữa bánh chiều nay ăn muộn vì còn chờ thịt heo. Đến tối mịt, anh em mới được phát mỗi Tổ một chén thịt cả nạc, mỡ lẫn xương chia ra mỗi người được một miếng to bằng hai ngón tay và chút nước muối!

– Ủa, con heo to thế, sao anh em mỗi người được có miếng nhỏ như vậy?

– Đù má, tụi cán bộ ăn mẹ nó hết bộ lòng và gần nửa con, còn lại bao nhiêu chia cho 300 người lấy đâu cho nhiều?

– Tiên sư cuộc đời, khiêng mấy chục cây số gần chết, cũng chỉ được miếng mỡ mỏng dính thế này, có đau không?

Tiếng chửi bới chìm dần vào bóng tối. Dù chê bai, nhưng miếng thịt và nước muối cũng hết vèo trong nháy mắt.

mạnh hải flickr

Vì ăn trễ nên sinh hoạt cũng muộn. Chúng tôi tập họp giữa đêm tối. Ánh đèn bão cầm trong tay tên cán bộ quản giáo chỉ đủ rọi sáng chỗ hắn đứng. Sau khi điểm số xong, đến phê bình kiểm thảo rồi giao công tác mới. Ngày mai, Đội tôi phải đi kiếm củi cho nhà bếp, cứ hai người 1 thước khối. Tôi nghĩ ngay đến những khúc cây rải rác trên triền núi, chỗ lấy dang.

Sáng hôm sau, tôi giắt 1/4 miếng bánh vào túi, vác dao cùng với Kiểm, người bạn nằm kế bên, đi lấy củi. Kiểm, nguyên Trung Tá Trung đoàn Phó, Trung đoàn K. Anh vốn hiền lành, ít nói. Tôi không hiểu với tính tình ấy làm sao anh chỉ huy? Chúng tôi leo theo lối cũ. Khi tới nơi, tôi choáng váng vì đã có cả chục người đang gom các cây củi khi trước đây không ai để ý. Tôi và Kiểm đành đi tìm nơi khác. Chúng tôi leo qua triền núi phía bên kia chặt cây tươi vậy. Chúng tôi chặt hoài, tuy đã mỏi, nhưng vẫn chưa được bao nhiêu. Trong lúc tôi chặt, Kiểm nhặt gom vào một chỗ, đến gần trưa, chuyển dần xuống con dốc để đưa về Trại. Chúng tôi phải khuân làm mấy chuyến, xếp củi vào chiếc ô vuông quy định có chằng dây. Hai người làm quần quật cả buổi sáng mới được 1/3 ô. Tôi nói với Kiểm:

– Trưa nay tụi mình khỏi ngủ, ăn xong đi kiếm ngay mới đủ.

Kiểm đồng ý. Chiếc bánh mì luộc bữa trưa lọt thỏm vào bụng, biến mất. Tôi dốc bi-đông vô miệng uống ừng ực, lấy nước làm no rồi ngả lưng nghỉ mệt chừng mươi phút. Trời nắng gắt, toàn Trại ngủ im lìm, chỉ có hai chúng tôi vác dao leo núi. Chặt đến chiều vẫn chưa đủ chỉ tiêu, mới chỉ được 3/4 ô, trong khi các ô khác đầy nhóc. Đã đến giờ tên cán bộ hậu cần đi kiểm củi. Khi đến ô của chúng tôi, hắn hỏi:

– Ô này của anh nào?

– Dạ, của chúng tôi!

– Sao có chừng này?

– Dạ, vì sức yếu, lấy không nổi.

Tên hậu cần nhìn chúng tôi bằng con mắt lạnh lùng:

– Các anh ăn thiếu có được không?

Chúng tôi không trả lời.

– “Nần” này thôi, “nần” sau không được đâu nhá!

Chúng tôi thở đánh phào như trút được gánh nặng, rủ nhau đi suối lớn tắm, trước khi về Lán. Tắm giặt xong, tôi mặc chiếc quần ướt đi về.

Buổi tối, chúng tôi sinh hoạt chính trị toàn Trại. Đề tài thảo luận về 3 cuộc Cách Mạng do Nhà Nước Cộng Sản đề ra. Đêm nay trời có trăng nên không cần đèn. Mỗi đội chúng tôi ngồi quay tròn để sinh hoạt ngay tại chiếc sân lớn. Tên quản giáo đi đi lại lại từ Đội này qua Đội khác để tham gia ý kiến và đôn đốc cho cuộc thảo luận được sôi động.

– Đảng và Nhà Nước đề ra kế hoạch 5 năm để tiến hành 3 cuộc Cách Mạng. Thứ nhất, Cách mạng về sản xuất; thứ nhì: Cách mạng khoa học, kỹ thuật; thứ ba: Cách mạng văn hoá. Tối nay các anh hãy thảo “nuận” về cuộc Cách Mạng thứ nhất. Còn hai cuộc kia để tối khác. Các anh còn ở “nâu” “no” gì? Đây, nằm trong kế hoạch học tập, các anh nên cố gắng “động não” để có những ý kiến sâu sắc, nhằm đưa buổi học tập tới kết quả! Nghe rõ chưa?

Mấy trăm cái mồm cùng nói:

– Rõ!

Cuộc thảo luận bắt đầu. Anh nào nhanh mồm nhanh miệng đưa ra ý kiến, để tên quản giáo chú ý tới mình. Nào sản xuất để cải tiến nông nghiệp, nào sản xuất để hiện đại hoá nền công nghiệp, nào sản xuất về Quốc Phòng! Lời qua tiếng lại, thấm thoát đã 9 giờ đêm. Tên quản giáo cho lệnh nghỉ, tối mai tiếp tục.

Mọi người ùa ra, tìm chỗ khuất nơi bờ rào đi tiểu, xong vô Lán. Tối nay trăng sáng quá. Không ngủ được, tôi cứ đi loanh quanh gần nơi cổng, nhìn ra chiếc cầu gỗ bắc ngang dòng suối, do Đội 1 thực hiện. Tôi đứng nhìn chiếc cầu phơi mình dưới ánh trăng, nổi bật như chiếc cầu trong bức tranh Nhật Bản. Tiếng nước suối róc rách nghe rõ mồn một. Tôi nghĩ thầm, giá lúc này không có chiếc rào ngăn cách, tôi có thể ngồi trên chiếc cầu gỗ nhỏ bé kia, vừa ngắm trăng, vừa nhìn cảnh vật, tai nghe tiếng suối chảy, thú vị biết bao! Vừa nghĩ tới đó, bỗng có tiếng quát:

– Anh nào kia, đứng “nàm” gì đấy?

– Dạ, nóng quá, chưa ngủ được!

– Vào ngay!

Sau tiếng ra lệnh khô và sắc, có tiếng kéo cơ bẩm lạch cạch. Tôi vội vàng đi vào! Anh em còn nhiều người thức, hỏi:

– Sao, chuyện gì vậy?

– À, chưa ngủ đứng ngắm trăng bị đuổi vô!

Có tiếng mỉa mai thốt khẽ trong bóng tối:

– Nghệ sĩ cho lắm vào, có ngày ăn đạn!

Những buổi kế tiếp, chúng tôi vẫn lao động đều đều. Có Đội đi lấy tranh lợp nhà. Có Đội cuốc đất trồng sắn. Có Đội làm nền nhà, phát quang v.v… Công tác lấy tranh lợp nhà có vẻ gay go nhất: vừa đi xa, vừa gánh nặng.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Post by Sơn râu 18 May 2024

Phần 1

Đoàn xe cứ xuống dốc hoài, thỉnh thoảng mới leo qua một con dốc nhỏ. Tôi biết, chúng tôi đang bỏ miền cao, nhưng đi về đâu, chưa rõ! Từng đoàn người lũ lượt, đeo, vác, gồng, gánh từ 5 giờ sáng đã phải thức giấc, chuẩn bị sẵn sàng để di chuyển. Bữa ăn sáng, lưng chén bắp cứng như đá, không ai nuốt nổi. Hôm mới đến, lạ miệng, còn ăn, nay vừa nhìn thấy đã sợ!

Sáu, bảy trăm con người cùng di chuyển một lượt, tạo nên sự nhộn nhịp khác thường. Những tên cảnh vệ, cầm ngang khẩu A.K. đứng rải rác ở dọc đường, từ nơi ở đến ngoài lộ, chỗ xe đậu. Ra tới đất Bắc, chúng tôi không phải chuyển Trại ban đêm nữa. Rừng, núi, vùng đất cấm của Xã Hội Chủ Nghĩa, nên họ chẳng còn kiêng sợ gì, chúng tôi không thể trốn giữa một địa hình không quen thuộc, không có lực lượng võ trang nào hậu thuẫn. Tôi nhận thấy sự đề phòng của họ chỉ nhằm hình thức phô trương, chứ không kềm chế ráo riết như hồi ở trong Nam. Mỗi chiếc xe chở 30 người, không che bạt. Chúng tôi ngồi trong lòng xe tha hồ ngắm phong cảnh bên ngoài. Chiếc túi đeo lưng đã được sửa chữa lại, tuy không tốt lắm, nhưng tôi tin nó không thể đứt chỉ bất ngờ nhu ở bến Sáu Kho Hải Phòng.

Phong, người bạn trẻ mới quen, đề nghị, hành trang của hắn và tôi luồn trong cây đòn tre, mỗi người khiêng một đầu cho nhẹ vì từ chỗ ở ra ngoài lộ cũng khá xa. Hắn muốn giúp tôi cho đỡ vất vả. Tre và dang ở đất này không thiếu. Phong đi một lúc, kiếm được chiếc đòn tre đực, xỏ qua hai túi đồ, bảo tôi khiêng thử. Tôi nâng đặt lên vai, quả nhiên nhẹ thực.

Giờ di chuyển bắt đầu. Chúng tôi khiêng hai túi đồ lủng lẳng bước tung tăng như đi chơi. Nhưng khi vừa qua chiếc cầu gỗ, tên cảnh vệ đứng ngay đầu cầu, kêu lại:

– Các anh “nấy” cây đòn này ở đâu?

– Dạ tôi nhặt được ở khe suối!

Tên bộ đội quắc mắt:

– Anh nói “náo”. Cây đòn này của chúng tôi bị mất sáng nay. Bỏ “nại” ngay!

Phong bẽn lẻn đặt hai túi đồ xuống, rút cây đòn ra, đặt ngay dưới chân tên cảnh vệ. Nó không nói gì. Tôi nâng chiếc túi đeo lên vai. Phong làm theo, trước con mắt tò mò của anh em.

Đi một quãng, tôi hỏi Phong:

– Sao cậu lấy của tụi nó?

– Đâu có biết! Sáng nay đi tìm, thấy cây đòn tốt quá, bèn cầm về!

– Cậu nhặt nó ở đâu?

– Ngay trước cửa căn nhà tụi cảnh vệ ở!

– Sao lúc ấy nó không nói?

– Nào ai biết! Lúc con lấy, chắc tụi nó không để ý!

– Chẳng biết nó dùng cây đòn ấy làm gì?

– Để tụi nó chống cửa! Bố không trông thấy, một đầu còn dính đất sao?

Nói xong Phong nhìn tôi cười, nụ cười hồn nhiên của tuổi trẻ.

Ra đến lộ, tôi và Phong mỗi người lên một xe do sự phân chia của tên cảnh vệ áp tải tù. Trước khi leo, Phong ngoái đầu nói với tôi:

– Cái số con không được giúp Bố, chờ dịp khác vậy!

Phong đưa tay vẫy vẫy. Tôi thấy Tính và Cung có mặt trong đám người rời Trại. Có lẽ vì quá đông, họ không nhìn ra tôi.

Sớm nay không nắng. Mầu trời bàng bạc với những đám mây mang hình thù kỳ dị, dính cứng ở tầng cao như tấm bích họa khổng lồ. Tiếng máy xe nổ đều đều. Dọc đường, tôi nhìn thấy những chiếc cối giã gạo tự động, tạo bằng sức nước. Đó là sáng kiến lâu đời của dân miền núi. Không thấy ai canh gác, chiếc chầy cứ lên xuống đều đặn, nhịp nhàng. Có lẽ, do sự tính toán từ trước, mỗi cối gạo sẽ phải mất khoảng thời gian bao lâu. Sau thời gian đó, chủ nhân cứ việc sai người ra mang gạo về sàng, sảy là xong! Nền văn minh cơ khí còn lâu mới có ảnh hưởng đến vùng đất này.

Phía xa xa, ở chân dãy núi, những mái nhà sàn ẩn núp sau các bụi tre, chuối trông nên thơ. Hàng cau cao vút ngả nghiêng theo chiều gió làm cảnh vật thêm phần sinh động. Đoàn xe chạy qua những khu có nhà ở đông đảo. Chúng tôi sợ ăn đá, nên mọi người đều đề phòng, nhưng khi xe chạy qua, họ chỉ đứng nhìn, không một viên đá, không một câu chửi.

Đoàn xe đang chạy bỗng chia hai. Một quẹo vô con lộ đất. Một đi thẳng. Chiếc xe chở tôi, chiếc cuối cùng quẹo vô. Tôi biết sắp đến Trại mới. Ngay đầu con đường quẹo, tôi nhìn thấy tấm bảng “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do”, nền đỏ chữ vàng nổi bật giữa mầu xanh của núi rừng. Đoàn xe chạy thêm chừng dăm cây số ngừng lại giữa những đồi trà bát ngát. Chúng tôi được lệnh xuống. Trời bắt đầu nắng. Những tia nắng ác liệt đổ xuống làm mọi người mệt nhoài. Tên cảnh vệ áp tải bảo chúng tôi đi lên ngọn đồi trọc phía trước mặt ngồi chờ. Trời nắng như vậy phải ngồi phơi mình trên ngọn đồi trọc làm sao sống nổi? Nhưng dù không muốn, mọi người vẫn phải lếch thếch mang hành trang lên đồi. Khi lên đến nơi, người nào cũng mở bi-đông dốc nước vô miệng. Từ ngọn đồi, nhìn ra xa, tôi thấy khu nhà ở sâu phía chân núi. Đinh ninh thế nào mình cũng phải tới nơi ấy, tôi rùng mình lo sợ, dưới cái nắng này đeo nặng từ đây tới đó chắc hụt hơi!

Tính và Cung đã nhìn ra tôi. Hai người trèo lên, ngồi nói chuyện. Cung đến Sơn La trong đợt chuyển Trại 2 tại Suối Máu, trước tôi nửa tháng.

Cung hơi gầy. Trong câu chuyện không thấy hắn nói đến Thanh Nghị nữa. Chắc hắn đã nhìn rõ sự thực. Chúng tôi nhắc đến anh em đã gặp hoặc chưa. Còn Tính cứ thắc mắc hoài không hiểu tại sao họ lại đưa mình đến địa điểm này?

Cung nói, có vẻ bất cần:

– Thắc mắc làm chó gì cho mệt xác! Đưa đi đâu cũng vậy thôi! Ra đến đất Bắc là hết rồi!

Những tia nắng quái ác, mỗi phút hình như mỗi nóng thêm. Nhìn mặt mũi người nào cũng đầm đìa mồ hôi. Một anh mang theo chiếc lồng gồm gà mẹ và năm, sáu gà con. Anh ta bỏ chiếc nón lá đang đội xuống che cho gà, còn anh trùm chiếc khăn rửa mặt lên đầu che nắng! Tôi nhìn anh thầm cảm phục, ngoài hành trang nặng, còn mang thêm chiếc lồng gà. Quả phi thường!

Một tên bộ độ tiến lên đồi:

– Anh nào đi trên xe từ số 1 đến số 10, theo tôi!

mạnh hải flickr

Tính đứng dậy đi xuôi xuống chân đồi. Một tên khác nói:

– Anh nào đi từ số 11 đến số 20, theo tôi!

Cung đứng dậy hỏi tôi:

– Ông đi xe số mấy?

– Tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết xe cuối!

– Số 20 rồi! Tôi số 16. Tôi với ông cùng đi.

Cung xách túi đồ lên vai. Chúng tôi men theo lối mòn đi chênh chếch hướng núi. Còn toán của Tính đi thẳng về phía khu nhà sát chân núi. Những bàn tay đưa lên trời vẫy vẫy chào nhau.

Tên bộ đội dẫn chúng tôi đi vòng qua đồi, rồi qua cây cầu gỗ bắc ngang dòng suối, đi sâu mãi! Đường không có, chúng tôi lần theo lối mòn, băng ngang nhiều vũng nước rộng. Chiếc túi đeo lưng nghiến vào vai mỗi lúc mỗi nặng. Người tôi ướt đẫm mồ hôi như vớt dưới ….(sách in thiếu trang 362)

……

Có tất cả 10 người xung phong làm bếp. Lán tôi ở có hai anh. Mười anh làm bếp đi theo tên bộ đội. Lát sau họ khiêng một bao tải bột mì xuống nhà bếp ở gần con suối khá lớn, nước chảy ầm ầm.

Cả chiều hôm ấy chúng tôi được nghỉ ngơi, chờ cơm. Ngay sát nhà, có dòng suối chảy uốn éo. Con suối tuy nhỏ nhưng nước rất trong. Tôi cởi quần áo, ngồi trên tảng đá, múc từng lon nước xối vào người. Nước suối mát thật. Khi trước tôi nghe tắm suối rất độc, vì nước suối chảy qua nhiều khoảng có lá mục, nhất là lá lim, nên người yếu dễ ngã bệnh. Bệnh sốt rét không nhất thiết do muỗi gây nên, còn do khí núi, nước uống và tắm rửa nữa! Nhưng, tuy biết vậy, tôi không thể không tắm giặt, vì ngoài nước suối, còn nước đâu dùng?

Chỉ một thoáng, con suối nhỏ đã đầy người tắm. Người nào cũng chọn nước đầu nguồn, vì tắm dưới sợ tắm nước thừa của người trên dòng.

– Ủa, sao ông tắm ở đây. Tôi vừa ra suối lớn tắm giặt, đã ghê vậy đó!

Ngẩng nhìn, thấy Đàm, người bạn đã gặp ở Suối Máu.

– Lỡ rồi, để mai. Mà sao, lúc lên xe tôi không thấy ông?

– Đông quá sao nhìn thấy? Cả Hữu nữa, hắn tắm sắp về.

– Vui hé! Ông đi đợt 2, cứ tưởng không bao giờ gặp lại nhau nữa!

– Anh em mình thiếu gì! Tại ông không để ý đấy. Ông ở Lán nào?

– Lán 2, cùng với Cung!

– Tôi cũng ở Lán đó, phía đầu.

– Mình phía cuối!

Nói xong tôi đứng dậy, mặc quần rồi xách mấy chiếc quần áo ướt tìm chỗ phơi.

Đến tối mịt, chúng tôi mới được phát mỗi người một chiếc bánh mì luộc nóng hổi. Những chiếc bánh, theo nguyên tắc, đều có cân lượng y như nhau, nhưng mỗi cái lại có một hình thể. Có cái tròn vo như trái banh “ten-nít”, có cái chè bè như cái dĩa con, có cái hình bầu dục! Do hình thể khác nhau đó, làm người ta có cảm tưởng cái nọ to hơn cái kia. Vì thế nên khi bánh được chia đều cho mỗi Tổ 10 người, các Tổ viên muốn tỏ ra công bằng đều đồng ý, mỗi người mang một con số, rồi bữa nay số 1 lấy trước, muốn lấy cái nào tùy ý, đến số 2 cứ thế nối tiếp. Bữa sau, người số 2 lấy đầu, bữa tiếp nữa là người số 3 v.v…cho hợp lý!

Nhịn cả ngày trời, mới có chiếc bánh luộc, mọi người đều tỏ vẻ chán nản, nhưng chẳng ai dám nói ra. Trong khi ấy dưới nhà bếp, toán nấu nướng tha hồ ăn. Ăn thừa còn mang cho bạn bè thân thiết. Sở dĩ anh em biết được do một người trong Lán có tới 3 chiếc bánh luộc!

Lẽ dĩ nhiên, anh em có phản ứng. Từ hôm sau nếu dư bánh sẽ chia đều cho các Lán. Những người làm bếp có quyền ăn no, miễn đừng mang cho.

Buổi sáng, mỗi người được 1/4 chiếc bánh đút vừa một miếng.

Vừa ăn bánh sáng xong, chúng tôi được lệnh mang đồ ra điểm nghiệm. Lần điểm nghiệm này làm tại chỗ nằm. Mọi người đều bầy hết cả hành trang của mình ngay trước mặt. Cả Lán biến thành cái chợ bán tả-pí-lù, thứ gì cũng có. Hai tên bộ đội đi khám xét. Một tên cầm tập vở, mỗi khi có món đồ bị tịch thu, hắn biên vào. Thuốc men cũng thu. Một tên cầm chiếc túi vải, đồ nào tịch thu cho vô đó. Tôi sợ quá, chưa kịp giấu gói thuốc Lan cho và 2 vỉ Valium, tôi ấn đại nó qua khe sạp cho rơi xuống đất.

Bên ngoài, một tên bộ đội nhòm qua chiếc cửa sổ con đối diện. Sống lưng tôi lạnh buốt như có cục nước đá vuốt mạnh. Tôi cảm thấy trên trán rịn mồ hôi, sợ tên bộ đội nhìn thấy cử chỉ vừa qua. Nhưng mấy phút trôi đi không thấy nó nói gì, tôi mới yên tâm. Hai tên điểm nghiệm đã tới trước mặt. Chúng giở từng thứ một, tịch thu của tôi con dao ăn. Con dao này, tôi đã giấu thoát từ Long Giao, Suối Máu đến Sơn La. Nhưng ở đây, tôi chủ quan vì thấy có mấy con dao nhỏ của các anh em khác, không bị thu. Có lẽ, con dao này đẹp, nó thuộc lại “i-nốc” của Pháp. Sau cùng, một tên hỏi , có tiền Giải Phóng không? Tôi móc túi đưa 80 đồng. Tên cầm vở, biên tên và số tiền rồi bảo sẽ đổi ra tiền “ngàn”, tiền miền Bắc trả lại, vì bây giờ đã thống nhất. Tất cả mọi người có tiền Giải Phóng đều nộp vì nghĩ, ở trong tù bị giam giữ giữa rừng sâu, có gì để mua bán và tiền Giải Phóng đâu có giá trị ở miền Bắc?

Cuộc điểm nghiệm đến gần trưa mới xong. Chờ cho tụi bộ đội đi hết, tôi kiếm một chiếc que dài khều gói thuốc, lòng mừng khấp khởi.

Ăn chiếc bánh luộc buổi trưa xong, nghỉ ngơi một lát lại nghe tiếng kẻng. Buổi chiều, anh em lại phải làm bản kê khai lý lịch. Chán gớm! Trại tù nào cũng vậy, cũng ngần ấy thủ tục phải làm, đến chỗ nào cũng khai báo. Vì luôn luôn phải khai báo, nên chúng tôi đều thuộc lòng: tên, tuổi, số quân, chức vụ, đơn vị, ngày vào lính, sinh quán, trú quán, vợ con, cha mẹ, anh em v.v…

Sau khi làm xong, trao cho Đội Trưởng để nộp. Tôi xem đồng hồ tay, mới hơn 5 giờ chiều, nơi đây đã chạng vạng. Tôi ngẩng mặt nhìn vòm trời, mầu mây vẫn xanh biếc, nhưng dẫy núi cao bao vòng xung quanh chiếc thung lũng nhỏ đã ngăn không cho ánh sáng lọt vô.

Từ chân núi, bốc lên làn sương mỏng. Đó là khí núi! Mầu tím ngăn ngắt trông dễ sợ. Ở đây, không có chân trời, vì bốn bề bao quanh bởi núi, đồi. Muốn nhìn trời, phải ngửa mặt. Tụi Cộng Sản tìm chỗ giam tù quá lý tưởng, lại luôn luôn di chuyển nên rất khó tìm. Cũng do đó, một đơn vị đặc biệt của Quân Đội Mỹ đã thất bại trong kế hoạch giải thoát tù binh tại Sơn Tây bằng trực thăng vận năm nào?

Tôi đi vòng quanh để tìm hiểu vị trí Trại. Ngoài ba chiếc Lán và ngôi nhà bếp ở dưới thấp, trên những ngọn đồi rải rác xung quanh, còn có những ngôi nhà lá khang trang dành riêng cho tụi cán bộ. Một chòi canh ngay đầu con lộ nhỏ, con lộ duy nhất dẫn vô Trại. Tên cảnh vệ súng trên vai, đi đi lại lại trước chiếc chòi như người máy. Chúng tôi không được đi ra ngoài khu vực hạn chế, tuy không có hàng rào phân chia giới hạn, nhưng ai cũng biết không được leo lên đồi hoặc băng ngang dòng suối để qua bên kia, dẫn vào chân núi. Cảnh vật nơi đây vô cùng buồn nản. Đời sống tù túng dễ làm con người cuồng trí, nếu suy nghĩ nhiều về nó!

mạnh hải flickr

Buổi tối, không có đèn nên anh em ai cũng buông mùng sớm, tuy chưa ngủ. Tiếng “kéo pháo” sòng sọc và tiếng nói chuyện thì thầm làm buổi tối đỡ buồn nản. Chẳng biết công tác nào sẽ đến với chúng tôi ngày mai khi thức dậy, vì đối với Cộng Sản, cái gì cũng bất ngờ!

Thức trong bóng tối mãi cũng chán, tôi chui vào mùng, nằm thẳng đơ, mắt nhắm chặt mong đi vào giấc ngủ càng sớm càng tốt. Tôi vừa thiu thiu, bỗng có tiếng gọi tập họp điểm số, người Lán nào đứng trước Lán đó. Một tên cán bộ xách cây đèn bảo đến giữa sân, bên cạnh lố nhố nhiều tên cảnh vệ vũ trang. Từng Lán một hô từ số 1 đến số chót. Sau khi điểm số xong, tên cán bộ cầm đèn, nói dằn từng tiếng:

– Các anh chú ý. Bắt đầu từ mai, các anh sẽ “nao” động. Trại có 3 “Nán”. “Nán” 1 gồm đội 1 và 2. “Nán” 2 gồm đội 3 và 4. “Nán” 3 gồm đội 5 và 6.

“Nán” 1 và 2 ngày mai phát quang sườn đồi phía sau. “Nán” 3, Đội 5 đào hố xí, Đội 6 “nàm” vệ sinh quanh Trại. Ban đêm các anh không được đi “nại” ngoài khu vực Trại. Nếu có gì cần kíp phải báo cáo với cán bộ cảnh vệ. Không được tự ý hành động! Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Tiếng nói âm vang giữa đêm sâu, trong lòng thung lũng.

– Tan hàng!

Anh em nhộn nhịp quay vào Lán. Vì quá tối, lối đi lại chật, nên có người dẫm chân lên nhau, hoặc va chạm, tạo nên những tiếng chửi thề thô tục!

Đêm nay, giấc ngủ không đến, tôi cứ trằn trọc, xoay qua trở lại bên cạnh tiếng ngáy đều đều của anh bạn nằm kế bên.

Có lẽ tôi cũng chợp mắt được một lúc. Hồi gần sáng bỗng giật mình thức giấc vì tiếng la mất gà.

– Thôi, chết cha, nó ăn mất một con rồi!

– Ai ăn?

– Rắn chứ còn ai vào đây nữa!

– Sao cậu không treo lên cao?

– Đâu biết có rắn!

Tôi nhỏm dậy, bước ra khỏi Lán, ngó về phía anh chủ gà đang nâng chiếc lồng lên ngang tầm mắt, nhòm vô trong:

– Đù mẹ, nó nuốt mất con to nhất đàn!

– Sao gà mẹ không chống cự?

– Gà nhìn thấy rắn, nín khe. Nếu nó dám kêu, mình chạy ra, làm sao rắn nuốt?

– Này, đừng có đùa, đêm cậu ra, rắn nó mổ luôn cậu, chết ngắc!

Vừa lúc đó, tiếng kẻng vang lên. Mọi người đều dậy. Một đám người bu quanh chiếc lồng gà, mỗi người góp một câu về vấn đề bảo vệ gà làm huyên náo góc sân.

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Nguyễn Đông Ngạc

Post by Sơn râu 18 May 2024

TIỂU SỬ

Tên thật Nguyễn Đông Ngạc sinh ngày 10.9.1939 tại Phúc Yên (Bắc Việt), cựu học sinh Chu Văn An. có đăng thơ và truyện trên Thái Độ, Văn Học, Đất Nước, Hành Trình, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Tìm Hiểu. Đa số các bài viết đều lấy chất liệu từ đời sống thực tế, nhất là cuộc chiến tranh hiện tại có từ đời cha ông còn kéo dài cho tới bây giờ. Các bài đăng thường bị cắt xén. Chưa có tác phẩm nào được xuất bản.

Hiện là giáo sư trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6, Saigon, và chủ trương Nhà Xuất Bản Sóng.

QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN

Về nội dung: Bất cứ đề tài nào của thơ, của truyện dài cũng có thể là đề tài của truyện ngắn. Nhưng vì là truyện ngắn nên tình tiết, ý tưởng phải thật chọn lọc và có tính cách quyết định hơn. Truyện ngắn gần giống như thơ Đường ở nội dung.

Về hình thức: Phần này theo tôi là phần quyết định sự thành công hay thất bại của truyện ngắn (nhất là loại truyện ngắn không có cốt truyện) và là phần xác định sắc thái của mỗi tác giả, phần khám phá và làm mới truyện của mỗi ngòi viết, còn Nghĩ và Viết như thế nào là sự lựa chọn của mỗi người, và dĩ nhiên truyện ngắn hay phải là truyện làm cho người đọc thích và chịu được sự thử thách của thời gian. Hiện nay, tôi quan niệm: quá khứ, hiện tại, tương lai là một giây chuỗi không thể tách rời và tôi đã chọn cách diễn tả không phân biệt rõ ràng từng thời gian. Người đọc sẽ thấy cả ba thời gian lẫn lộn kể cả không gian nữa. Một người trong cùng một lúc có thể sống nhờ ý nghĩ, nhờ trí tưởng tượng, nhờ kinh nghiệm ở mọi nơi và mọi thời gian.

Phần lớn truyện của tôi đều có bút pháp của truyện Đỉnh Cao Sương Mù.

Về Truyện Ngắn “ĐỈNH CAO SƯƠNG MÙ”

Đỉnh Cao Sương Mù là một truyện viết với mối ám ảnh của chính tôi về chiến tranh và là truyện duy nhất tôi nghĩ có thể qua được kiểm duyệt.

45. Đỉnh Cao Sương Mù

Nguyễn muốn ném cả cốc cà-phê vào mặt hai thằng mập như heo bàn góc trái đang nham nhở với một con điếm ngồi đợi khách bàn bên, hay ít ra cũng một trong năm thằng đang uốn trẹo cái mồm nói tiếng Mỹ giọng bồi ngồi ở giữa quán. Nhưng Nguyễn chợt nghĩ để làm gì và một nỗi buồn chán dâng lên. Nguyễn thở dài ngả lưng vào thành ghế, chân duỗi dài ra, thu ngắn cái nhìn trong một khoảng cảnh cũng vừa đủ. Cặp giò đứa con gái xoay đi xoay lại, Nguyễn ngó chăm chú, tối om chẳng thấy gì. Của em có gì lạ không anh? có Chứ, anh thích nằm hút thuốc lá ngắm nhìn em như thế, khói thuốc len lỏi mơn man, thật gợi cảm và súc tích, Anh kỳ quá, chúng mình yêu nhau mà và em làm sao cảm được như anh mùa thu sương mù trên mắt, trên môi, trên ngực em, trên đùi em, Anh này, người ta bảo con gái Bình Định, Qui Nhơn lạ lắm phải không? Ừ. Tại sao hả anh? Nguyễn phì cười. Thằng bé đánh giày mời đánh giầy thầy. Nguyễn xua tay. Thêm một người Mỹ dắt tay một con nhân tình người Việt đã về già má trát đầy phấn, mắt vẽ đen như con sâu róm vào ngôi cạnh Nguyễn. Anh chàng Mỹ còn trẻ khom lưng kéo ghế, con đĩ ngồi xuống gọi: bồi, bồi. Thằng đàn ông Việt hấp tấp chạy lại. Tim Nguyễn đau nhói. Ý nghĩ phải ném cả ly cà-phê vào mặt một đứa ngồi trong quán lại đến ám ảnh.

Nguyễn vẫy gọi thằng bé bán báo cho nó năm đồng nhờ mua thêm thuốc lá. Nguyễn nói với người yêu Anh chán bộ binh lắm rồi, Lính đi bộ vài tháng đánh vài trận, ở rừng ở xó người nó cùn đi. Nghe Nguyễn nói Hằng chỉ khóc. Nguyễn hôn lên mắt người yêu, tóc Hằng buồn buồn ở cổ, nước mắt ấm da thịt. Nguyễn chợt thấy thương Hằng nhiều, ôm chặt người Hằng và để nàng khóc. Nguyễn cảm thấy mệt mỏi. Đầu Hằng rung trên ngực Nguyễn cùng với tiếng nấc. Hai người lính bỏ về đá đổ mấy chai bia gây tiếng động, mọi người quay lại nhìn, đầy một bàn vỏ chai. Nguyễn nhìn theo, người bỗng lạnh toát, một người dáng đi giống hệt thằng bạn mới chết trận của hắn. Hắn đi giống hệt thằng bạn nối khố của anh Hằng ơi. Hai đứa chở nhau bằng xe đạp từ nhà ra tận Nghi Tàm tắm rồi trèo lên cây hái trộm ổi, ngày nào cũng chiều tối mới về nhà, lắm hôm anh bị ông bác đánh đòn đít sưng vù. Nhưng hôm san hắn đến anh vẫn không thể chống lại được sự cám dỗ của nó. Ngày anh yêu em hắn khóc hoài, hắn ghen với em và anh cũng khổ sở lắm. Mẹ chết chính hắn với anh đã lo việc chôn cất. Hai đứa như hình với bóng, đi chơi, học, ăn, ngủ.

Nguyễn rít mạnh điếu thuốc ngó mông lung vào khoảng không, trước mắt Nguyễn không gian là một khối đặc mù không một chướng ngại, hình ảnh thằng bạn chập chờn, đằng sau cái hình ảnh ấy mẹ Nguyễn mắt buồn thăm thẳm, rồi cha, em Nguyễn cùng hiện ra. Một người khách đi qua, Nguyễn co chân lại, cặp giò đứa con gái mở rộng vô tình hướng về phía Nguyễn, Nguyễn chớp mắt: đùi con bé trắng và đẹp. Nguyễn ngửng đầu lên, lúc đó Nguyễn mới nhận ra nó là đứa con gái mới vào, khá xinh và gay cấn, đứa con gái trước đã về từ lúc nào. Bóng người lính mất vào đám đông. Nguyễn ngẩn ngơ. Nó chết thật phi lý, đang hành quân bị một viên đạn xuyên qua đầu. Của một tên lính Việt Cộng già hay trẻ? Ông già nó khóc vai rung chuyển như lên kinh. Thằng con trai lớn độc nhất. Tội nghiệp. Còn Nguyễn đi trận liên miên, phép lạ nào đã cứu hắn, chung quanh đạn như mưa rào, Nguyễn vẫn trơ trơ. Nhưng có thể như thế mãi được không? Một ngày nào đó định mệnh sẽ đến, hắn sẽ nằm xuống như bao người lính khác. Thật giản dị. Nguyễn rùng mình. Có thể như thế được không. Nguyễn là người chót. Nguyễn phải sống. Nếu Nguyễn chết mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng.

Những hình ảnh đã quá mờ, những hình ảnh còn chập chờn, con đường làng, cái ao hình chữ nhật, cây đa đầu làng Nguyễn vẫn trèo lên nằm ngủ, bờ đê, cánh đồng nơi Nguyễn và em Nguyễn vẫn đùa nghịch với trẻ con, họ mạc, Ông Nội, Ông Ngoại, binh nhì Hai đã hy sinh cho Nguyễn sống, những người lính Nguyễn nhớ lẫn tên, lẫn mặt chết dưới chân. Nhất là gia đình Nguyễn, Nguyễn còn nhớ rõ từng chi tiết, một thảm kịch như thảm kịch quê hương, cha, mẹ, em Nguyễn, cái tiểu gia đình đã trôi nổi từ làng này đến làng kia ra tỉnh, vào Nam. Mỗi lần di chuyển là mỗi lần Nguyễn mất một người thân. Cha Nguyễn theo kháng chiến bị mất tích không biết đã chết hay bị Tây bắt cầm tù ở đâu, em Nguyễn ở lại Bắc với họ hàng cũng chẳng nhận được tin tức gì. Mẹ chết. Nguyễn coi như người sống sót cuối cùng. Chính cái thảm kịch gia đình này đã làm cho Nguyễn trên con đường tiến dần tới cõi chết bỏ rơi dần những quen thuộc của thời thơ ấu hay chỉ còn nhớ mù mờ về những thứ đó, quê hương, họ mạc, đồng đội như chỉ còn lẩn khuất trong một vùng sương mù len lỏi giữa những khuôn mặt cha mẹ, em hắn. Những khuôn mặt ấy như tự chiếu tỏa ánh sáng, thứ ánh sáng vừa đủ, nổi bật trong vùng sương mù của ký ức. Hai người Nguyễn được nói chuyện, một người Nguyễn chỉ được nghe kể lại đã tạo nên những màu sắc, khoảng cách khác nhau của ký ức, người cha như một quá khứ đã xa trườn ẩn sau cái quá khứ gần là người mẹ và đứa em. Họ, những người đã chết không còn được ai nhắc đến ngoại trừ Nguyễn, họ đã sống trong tâm tưởng Nguyễn, và Nguyễn từng giây, từng phút sống với họ, chiến đấu với thời gian, giết chết từng sự quên lãng để cho họ sống. Nhưng nếu Nguyễn chết, mọi hình ảnh, kỷ niệm sẽ chết theo. Không thể như thế được, Nguyễn cần phải sống. Nguyễn nghe rất rõ âm vang những lời nhắc nhớ của mẹ về người cha làm cách mạng đã làm khổ bà suốt đời.

Đời cha Nguyễn, Nguyễn chỉ biết qua lời kể của mẹ. Người cha đó bây giờ sống tùy thuộc trí tưởng tượng của Nguyễn. Bức ảnh độc nhất ông để lại nhỏ bằng nửa bàn tay, nhìn không rõ nét, chụp ông cưỡi ngựa đeo súng. Mộng của Nguyễn là học luật sư theo đuổi con đường cha hắn đã đi. Nhưng lịch sử đã bẻ cong đời Nguyễn. Nguyễn phải bỏ ngang việc học. Những ngày trước khi nhập ngũ Nguyễn đã có ý nghĩ họ sẽ sót tên. Nguyễn sẽ không nhập ngũ và nói cho họ hiểu lý do Nguyễn phải sống. Nguyễn sẽ đứng trước tòa cãi… Bây giờ thì mọi chuyện đã xong. Nguyễn đã nhập ngũ, vào cuộc với một thái độ chia xẻ những bi thảm của chiến tranh, quê hương phải gánh chịu như tất cả những người trẻ tuổi khác, chỉ cần một viên đạn là đủ kết liễu đời Nguyễn, kết liễu luôn cái thảm kịch đang quay cuồng trong óc Nguyễn, xóa mờ tất cả. Nguyễn chua chát tự hỏi, nếu em Nguyễn vào Nam, nếu mẹ Nguyễn bỏ Nguyễn lại. Sự lựa chọn đã xong. Bên này giòng sông là bạn, bên kia giòng sông là thù. Từ đó khởi đầu cuộc chém giết càng ngày càng không thể cứu vãn được. Nguyễn nghĩ nhiều tới gia đình và tương lai. Nếu Nguyễn chết. Nếu tên Nguyễn văn Nguyễn chết? Có gì thay đổi không?

Em, anh luôn bị cuốn hút vào những bí mật của thiên nhiên. Ngày xưa anh còn nhớ nữa thực nửa không thực đã nhiều lần vú bế anh từ nhà quê ra tỉnh đi bằng xe hỏa ban ngày qua những ruộng lúa, mồ mả, ban đêm đi trên con đường đầy cây, đèn điện lập lòe, chim kêu, vú dọa anh ma cà rồng. Tiếng xe lửa, âm thanh của rừng. Anh ngủ gật rồi xe ngừng lúc nào anh không biết. Tỉnh dậy anh đã nằm trong một căn nhà sóng biển đánh chung quanh. Anh nhìn qua cửa sổ, biền đen ngòm kỳ bí. Anh sợ hãi hoang mang. Đến bây giờ những lo sợ hoang mang từ thuở nhỏ vẫn mơ hồ xuất hiện. Anh cố quên nhưng không được, cố giải thích nhưng vô hiệu. Nó vẫn tới. Từ đó lớn lên anh sống có vẻ vu vơ làm sao, chưa hẳn chỉ là mơ mộng. Em, em có nghe anh đang nói gì không. Em hãy nhìn lên đỉnh cao sương mù kia. Nơi ấy là một hốc đá ngày xưa anh thường ngồi trên đó nhìn xuống thung lũng, cỏ xanh thắp thoảng, ẩn hiện trong sương mù. Anh nằm nhìn trời, nhìn mây, nhìn đất như thế gần hai năm trường. Anh yêu, em đã hiểu vì sao nhiều lúc trông anh ngơ ngác như người mất hồn, anh trở nên bí mật và em thấy anh đẹp một cách hoang đường. Những lúc đó em đã thấy gì trong mắt anh, em có thấy sương mù trên mặt anh không. Em, anh thèm hơi lạnh của đỉnh cao, hay chúng ta trèo lên trên kia đi em. Em lười di chuyển lắm anh. em mở cửa sổ cho gió lạnh thổi vào nhé, nằm quay đầu lại trên chiếc giường kia anh có thể nhìn được đỉnh cao. Em thấy sương mù đang tan dần, trời hơi có nắng. Tuyệt đẹp anh ơi. Thiên nhiên đang chuyển động, sương mù bay, di chuyển, em sợ chúng mình sẽ không còn yên tĩnh để thưởng thức cảnh này. Em yêu, anh muốn chúng mình cùng lên ngồi trên đó nhìn xuống thung lũng, thành phố và hôn nhau. Lần này cảm giác chắc lạ lắm. Anh thấy trong anh như có gì đang thay đổi sau những ngày chiến đấu nguy hiểm trở về nằm yên nghỉ bên cạnh người yêu. Anh mới từ thế giới của những người chết trở về. Anh còn như ngửi thấy mùi khét lẹt tanh hôi quanh đây, anh vẫn còn sống phải không em. Em nghe anh, anh ơi, em sẽ ở thật lâu trên đó với anh, ôm chắc trong tay thân thể nóng của anh, dù biết chắc rằng anh còn sống và không còn phải lo sợ vẩn vơ. Nhưng anh phải kể chuyện cho em nghe, phải hôn em đến khi nào em chết lịm vì ngộp thở và môi em nóng lên làm tan giá lạnh của trời thu Đà Lạt. Và tuyệt đối không được kể chuyện chiến tranh đó anh. Em không muốn nghe và nghĩ anh có thể chết, ít ra là lúc nằm bên cạnh anh. Em thích nghe những dự định tương lai của anh, những chuyện anh nói về một thế giới nào đó khác ngoài cái thế giới đang có này, nói về ngày xưa hay nói về hư vô chẳng hạn. Lúc đó anh vẫn ở gần em mà như xa em. Em sợ hãi tưởng như mất anh, nhưng anh vẫn trong tay em cùng hơi ấm. Em càng yêu anh nhiều hơn. Anh lạ lắm. Anh nhớ mang theo gói thuốc. Em thích mùi thuốc lá trong hơi thở anh. Hôn em và dìu em đi hỡi người yêu điên dại của em. Vũ trụ đang tan quanh chúng ta. Anh hãy ôm chặt em hơn nữa anh. Em đang nhìn thấy sương mù trên mặt anh mỗi lúc một dày hơn. Em chết trên tay anh chẳng còn thấy gì.

Một sự tình cờ nào chiếc máy bay Nguyễn đi đã trở về mang theo lá thư và cuốn nhật ký chàng gửi cho Hằng: “Hằng yêu của anh, đây là tất cả những bi ẩn của cuộc đời anh. Cuốn sách này sẽ làm em hiểu rõ tâm hồn anh hơn, nỗi câm nín chịu đựng và tính lạnh lùng của anh. Bấy lâu đời anh là một thảm kịch chỉ tại anh không đủ can đảm và tàn nhẫn giết họ thêm một lần. Anh ích kỷ và thành thật xin em tha tội, hiểu cho anh về sự đối xử tàn nhẫn của anh với em khi từ khước lời đề nghị hôn nhân của em. Lấy em, nếu anh không quên được họ anh sẽ chỉ làm khổ em thôi, mà như em đã biết anh sống không phải đời sống của riêng anh mà là đời sống của nhiều người đã chết. Anh hiểu em đã kiên nhẫn hy sinh nhiều trong lúc yêu anh với hy vọng sẽ thay đổi được anh. Nhưng sự thật không thể như vậy được, anh càng ngày càng sống gần họ hơn. Những sự xích mích xảy ra giữa chúng mình chỉ do một nguyên nhân giản dị, những người chết không chấp nhận sự có mặt của em trong đời sống anh và họ đã thắng. Anh bất lực như thế nên dù rất yêu em anh cũng chẳng biết phải giải quyết ra sao. Anh không thể xa họ và cũng không muốn làm phiền em.

Họ và em chống đối nhau. Em không chịu nhượng bộ và hiểu rằng yêu anh là em phải chấp nhận sự có mặt của họ. Anh đã cắt nghĩa cho em nhiều lần là hơn thua với họ sẽ chỉ làm cho anh khổ sở thêm, anh là nạn nhân và tình trạng cũng chẳng hơn gì, chúng mình vẫn không thể xóa được sự có mặt của họ trong đời sống. Riêng anh những lúc không nghĩ tới họ, anh thấy yêu em điên cuồng, không thể sống thiếu em và anh chẳng muốn đòi hỏi gì ở em ngoài tình yêu. Anh tự thấy vô lý tại sao cứ phải nghĩ tới họ. Anh đã tự làm khổ anh và khổ lây cả em. Tại sao anh đã không duy trì đời sống của họ bằng cách viết lại xong rồi không thắc mắc nghĩ ngợi gì về họ nữa. Biết như thế nhưng anh vẫn không thể thoát được sức chi phối của họ. Anh chỉ có thể quên được họ nếu anh tiêu diệt được ý thức của anh nghĩa là anh có thể làm cho sự suy nghĩ ngừng lại hay là có thể chắt lọc nó mà như em biết anh đã bất lực nên anh vẫn phải tiếp tục sống trong thảm kịch và làm cho em buồn khổ. Chắc em đã nhận ra tâm tính anh thay đổi bất thường vì sao và anh đã yêu em nhiều như thế nào. Anh cầu khẩn mong em tha thứ những lầm lỗi của anh với em. Anh cũng thành khẩn mong sẽ có ngày em chịu chấp nhận và chịu làm vợ anh.

Hiện tại tương lai anh đang bế tắc, anh cũng không hiểu anh có thể thoát qua được trận chiến này hay không. Anh phải làm sao bây giờ dù đã tìm đủ mọi cách để giải quyết vẫn chẳng hơn gì. Anh lại không thể tìm sự yên thân bằng cách đào ngũ. Anh chỉ còn biết cố gắng đương đầu với Định Mệnh.

Cuộc chiến đấu của anh hoàn toàn lần mò vì anh cũng chẳng biết Định Mệnh muốn bắt tương lai anh phải như thế nào, định lựa chọn gì ở anh. Đó cũng là lý do khiến anh trở nên tuyệt vọng, càng đau khổ hơn cho anh là sự tuyệt vọng này lại rất sáng suốt. Anh đang sống cái thảm kịch gia đình anh vì thế anh là hai lần thảm kịch khi cố gắng làm cho những cuộc đời ấy hồi sinh. Anh có quyền thù ghét cái chiến cuộc này không em. Nếu anh chết em biết rồi sẽ ra sao. Tất cả sẽ chết theo. Đấy là lý do anh đã viết nhật ký và đấy cũng là lý do anh muốn cuốn nhật ký này đến tay em. Em hãy đọc thật kỹ em sẽ dễ dàng nhận diện ra từng khuôn mặt trong gia đình anh. Người cha, người mẹ, đứa em qua những giòng đối thoại của anh với họ. Quyển sách sẽ được in ra, sẽ được viết thành tiểu thuyết, hay thành kịch do chính em, người thân, đồng loại, con em, hay sẽ bị bỏ quên, nhất nhất đều liên quan đến sự sống còn của toàn gia đình anh. Anh tự hỏi thảm kịch này sẽ còn kéo dài đến bao giờ, hết đời anh, đời em thôi hay còn mãi. Tùy chiến tranh, tùy sự sống chết của anh và tùy em. Trước khi dừng lời viết cho em anh phải thú thật em là người đàn bà duy nhất anh yêu và thành thật muốn cưới làm vợ. Thật buồn phải không em vì anh không tin anh sẽ qua khỏi được cuộc chiến tàn khốc này để cưới em.

Con đường bỗng tối lại hỡi anh. Em đang đi giữa những hàng cây và vẫn không thể náo ra thoát được sự bủa vây tình cảm. Nơi đâu cũng có hình ảnh anh. Từ trên cao em thấy sương mù bay dưới chân. Em đi trên sương mù. Ước gì em có thể bay đến với anh bằng con đường sương khói này. Nắng đã bắt đầu yếu ớt, cảnh vật dần chìm trong sương tạnh. Dày đặc. Em đang ở giữa những tiếng reo thầm thì của rừng thông và âm thanh tình ái. Lời buồn của anh. Những hôm trời có nắng anh thường trèo lên đỉnh cao. Từ đó anh có thể nhìn thấy con suối nước chảy êm đềm, sườn đồi cỏ xanh, đàn bỏ gặm cỏ nhởn nhơ. Nhiều hôm quên cả giờ về ăn cơm. Mẹ anh đi kiếm, hai mẹ con ngồi nhìn giòng nước. Mẹ kể cho anh nghe về đời cha anh, chống Pháp rồi mất tích. Cuối cùng cả hai cùng khóc. Mẹ ôm anh vào lòng. Lời anh như ru bên tai em ngọt ngào. Em im lặng nghe anh tả. Nhìn vào mắt anh vời vợi sâu hút em bỗng sợ hãi lo lắng vì liên tưởng tới những nguy hiểm chết chóc. Em không muốn khóc nhưng tự nhiên nước mắt vẫn ứa ra. Gió vẫn thổi vi vu. Dưới mắt em nhà cửa thấp thoáng, xe cộ trôi trên những con đường. Em thầm ao ước có anh bên cạnh lúc này. Em sẽ nằm dài trên cỏ nghe anh nói những lời yêu đương. Hiện tại quanh em chỉ có trống vẳng và tiếng rền rĩ thầm lặng của đồi núi ngập chìm trong sương lạnh trắng xóa mầu sữa.

Hằng lịm dần trong vùng trí nhớ của chính nàng. Tình yêu đã làm cho nàng đê mê. Trong khi đó Nguyễn người yêu của nàng, đã thực sự bay trên những ngọn cỏ lá cây. Chàng đã chết thật nhẹ nhàng. Một viên đạn đồng vô tình. Ngày qua đi, cỏ bắt đầu mọc và sẽ xanh mờ, gió sẽ thổi về hát cho chàng nghe như chính chàng hằng mơ ước. Nhưng suốt đời chàng sẽ không còn được nhìn lại người yêu, quê hương, sương mù… Một ngày nào đó Hằng sẽ biết là chàng đã chết, Cuốn nhật ký, những gì còn lại cuối cùng của đời chàng. Chiến tranh vẫn tiếp diễn đều đặn như nhịp sống. Trên hốc đá gió vẫn thổi làm bật lên những âm thanh buồn. Sương mù cũng vẫn lơ lửng bay đẹp như ngày nào của tình yêu. Và Hằng vẫn thầm thì trong óc những lời yêu đương. Anh là kẻ duy nhất nhận lời trăn trối của mẹ. Tìm cho ra tông tích cha và phải bằng mọi cách chôn bà cạnh ông nơi quê hương anh. Đến bao giờ đất nước mới thanh bình để anh làm vừa lòng mẹ anh anh cũng chẳng biết dù anh đang tham dự chiến tranh. Vi thế em hãy tin anh không thể nào chết được. Anh phải sống bằng mọi giá. Anh đã thứ thách với Định Mệnh lao mình trong những nguy hiểm và em thấy không, anh vẫn sống nhăn răng.

NGUYỄN ĐÔNG NGẠC

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Vũ Hạnh

Post by Sơn râu 18 May 2024

TIỂU SỬ

Tên. thật là Nguyễn Đức Dũng sinh ngày 15.1.1926 tại Bình Nguyên, Thăng Bình, Quảng Nam. Học ở quê nhà (Thăng Bình) rồi ở Đà Nẵng, và Huế. Sống trong vùng kháng chiến liên khu Năm cho đến Hiệp định Genève. Đấu tranh đòi hiệp thương hai miền Nam Bắc năm 1955, bị chính quyền Diệm bắt giam; cuối 1956 được tự do, vào Saigon viết báo và dạy học, cộng tác với Bách Khoa, Mai, Văn… Năm 1961 chính quyền Diệm bắt lại nhưng nhờ báo chí can thiệp nên sớm được tự do.

Năm 1967 đã tham gia Lực Lượng Bảo Vệ Văn Hóa Dân Tộc.

Đã viết: Vượt Thác, Mùa Xuân Trên Đỉnh Non Cao, Lửa Rừng, Đọc Lại Truyện Kiều…

QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN

Thu gọn một cảnh sống, một cuộc đời và cố gắng trình bày những nét đậm đà nhất, tiêu biểu nhất hầu góp phần xây dựng xã hội theo chiều hướng mà mình cho là hợp lý, tiến bộ. Sự trình bày ấy có thể là tố cáo, là khích lệ, là phê phán, là tán thường… Nó cũng đóng một chủ đích như truyện dài, nhưng chỉ khác ở chỗ nó ngắn, và vì ngắn vấn đề phải khiêm tốn hơn, đơn giản hơn.

Về Truyện Ngắn “CỔ TÍCH NGÀY XUÂN”

Nội dung câu truyện Cổ Tích Ngày Xuân thật quá rõ, nói dài dòng sợ bất kính với bạn đọc. Đó là mâu thuẫn giữa chính và tà, thiện và ác. Đó là đối lập giữa văn hóa thoái bộ, hưởng thụ vị kỷ, nhằm tạo những hạng mọt sách chỉ biết có mình mà không quan tâm gì đến đồng bào, đồng loại, sớm thành một mối tai họa cho dân chúng; và văn hóa nhân bản, một thứ nhân bản đích thực, cụ thể, bắt nguồn từ sự cảm thông với đông đảo kẻ khốn khổ và đồng hóa với những giá trị lớn lao, cao đẹp một cách hồn nhiên qua chiến đấu và thử thách.

44. Cổ Tích Ngày Xuân

Mai Trầm là một kẽ sĩ ở mạn Hoài Dương, người không cao, chí lại thấp, thường lấy cái lỗ đồng tiền làm thứ mắt kiếng ngắm nhìn thiên hạ. Trải bao nhiêu năm đèn sách, gã chỉ mong chiếm bảng vàng đặng làm một con chuột lớn đục khoét túi tiền của dân cho thỏa giấc mộng cao sang.

Mỗi ngày, ôm sách đến trường ở cách xa nhà độ hai ngọn núi, Mai Trầm thường dừng bước lại trên đèo Chân Cửu, cúi nhặt một viên đá nhỏ ném vào trong một hốc núi tục gọi là hang Huyệt Động và tự nhủ rằng: “Chừng nào hang đá lấp đầy thì ta cũng sẽ công thành danh toại”. Hăng hái trong khát vọng ấy, Mai Trầm chúi mũi chúi lái mà học, không biết đất trời gì nữa.

Thầy dạy, một hôm, gọi Mai Trầm lên và bảo:

– Ta thấy con rất có chí, biết điều cầu học. Nhưng nên soát xét lại thái độ học của mình.

Vòng tay cung kính, Mai Trầm thưa lên:

– Dám mong sư phụ chỉ giáo, chẳng hay con có điều gì phải nên sửa đổi?

Thầy dạy bảo rằng:

– Có hai điều đáng quan tâm: Một là con chỉ chuyên nhìn vào sách mà không chịu nhìn vào đời. Con người phải sống với đời chứ không thể nào nằm ngồi ở trong sách mãi. Sách chỉ là một phương tiện để đi vào trong cuộc sống đó thôi, cắm cúi vào trong sách vở mà không biết đến bên ngoài, liệu khi rời sách bước chân vào đời thì khác nào kẻ mù lòa nói chuyện trăng sao? Bởi lẽ sách vẫn ở nguyên một chỗ mà cuộc đời thì biến hóa phi thường.

Thầy dạy ngừng lại để xem phản ứng trên mặt người học trò giỏi, rồi tiếp:

– Hai là trong khi học tập con không nhìn thấy bạn mình. Không ai có thể tiến bộ thật sự nếu chỉ lo học riêng lấy cho mình. Con ngồi giữa đám bạn bè mà chỉ biết mỗi phần con, lấy họ làm cái khung tốt cho mình nổi bật thì sao cho hợp đạo học? Cái gì mà con cướp đoạt của đời thì đời sẽ cướp đoạt lại. Sự cướp đoạt lại có thể ở trong hiện tại, có thể ở trong tương lai, nếu không kiếp này thì trong kiếp khác.

Mai Trầm vâng dạ nhưng vẫn không chịu thay đổi lối học của mình. Đến mùa thi cử, Mai Trầm hăm hở đi thi. Con đường từ nhà dẫn đến kinh kỳ khá xa, phải tính ít nhất hai tuần băng qua nhiều thác, nhiều ghềnh. Họ Mai rủ một người bạn đồng môn, quê ở làng bên, tên là Vương Bái, khăn gói lên đường.

Khi qua gần lỗ Huyệt Động, Mai Trầm chợt nhớ đến lời khấn vái hàng ngày của mình là bao giờ đá lấp đầy thi mình thành đạt, cúi nhìn thấy huyệt vẫn còn khá sâu, bèn bảo Vương Bái:

– Bây giờ thì anh đi trước đi, tôi lấp cái huyệt này cho đúng với lời tôi đã khấn nguyện ngày xưa.

Người bạn họ Vương đáp lời:

– Chúng ta đồng hành mà lại kẻ trước người sau thì coi sao được? Anh cứ lấp đi, tôi góp sức với.

Mai Trầm liền nói:

– Phải rồi, anh lấp với tôi một tay cho chóng. Mình hứa với mình chứ có hứa với ai đâu!

Hai người hì hục suốt một hồi lâu thì hốc lấp đầy. Đến lúc xuống suối rửa tay, Mai Trầm rửa mãi không sạch nước cứ đục lầy loang rộng ra trên mặt suối. Mai Trầm giận lắm, hậm hực:

– Cái đất vùng này sao mà dơ bẩn đến thế?

Quay sang Vương Bái, thấy gã rửa xong ngồi trên tảng đá, Mai Trầm liền hỏi:

– Sao mà chỏng vậy? Chắc là anh quen ở bẩn quá thôi.

Vương Bái lấy làm ngạc nhiên, bảo rằng:

– Tay tôi đã sạch lắm rồi, sao còn phải rửa?

Mai Trầm lại đưa tay mình lên coi thấy còn lấm láp, lại xuống vũng suối kỳ cọ. Cuối cùng đôi bàn tay Mai vẫn không chịu sạch. Không được hài lòng, Mai vội lau tay rồi cùng khăn gói lên đường.

Đến một tòa miếu rất xưa hai người cùng ghé vào nghỉ. Nhân có tấm bia khá cổ, rêu phong, Vương Bái cúi đọc. Mai Trầm cũng ghé lại xem nhưng không biết được là gì. Mai hỏi:

– Chữ gì mà kỳ cục vậy?

Vương Bái đáp lời:

– Đây là một lối cổ tự có từ sáu bảy trăm năm về trước, gọi là chữ Triện Đại Trang, bây giờ ít ai dùng nữa.

Mai không muốn nhận mình dốt, bảo rằng:

– Tôi có học qua chữ ấy đã lâu nhưng quên nhiều rồi. Thế anh có đọc được không?

Vương Bái đáp lại:

– Đọc hết không được nhưng vẫn hiểu rõ đại khái.

Mai Trầm ra vẻ lưỡng lự rồi hỏi:

– Vậy bia nói gì?

– Ghi lại công đức một người ăn mày.

– Ăn mày mà cũng có công đức sao?

– Sao lại không thể có được? Người này tên là Mã Ngữ bấy giờ sống ở Thủy Lăng, gặp mùa lụt lội nước lên tràn ngập xóm làng đến phải bỏ xứ mà đi. Tiếp đến lại bị giặc cướp quấy phá không sao sống nổi, lâm vòng bệnh hoạn phải đi cầu thực tha phương. Đến tại miền này Mã Ngữ chọn ngôi cổ miếu làm nơi trú ngụ, ăn xin quanh vùng. Bấy giờ giặc ngoài kéo đến rất đông, án ngữ cả vùng Tây Bắc, giết hại vô số sinh linh. Đại tướng Ninh Sơn cầm quân tiến đánh, đẩy chúng ra được năm mươi dặm ngoài, nhưng sau quân giặc viện binh tiến đến khá đông lập mưu gài bẫy bắt được hùng tướng Ninh Sơn trói chặt dẫn về. Qua ngôi miếu này vừa trưa, trời rất oi bức, quân giặc dừng lại nơi đây, viên tướng của giặc là Trầm Phi Bá vào trong miếu cổ nghỉ trưa. Lúc ấy, Mã Ngữ đang nằm trong miếu, nghe động, vội dòm ra ngoài thấy thế không dám chạy đi, vội chui vào trong bệ gạch ở nơi chính điện. Đến trưa, Mã Ngữ nghe có tiếng ngáy như sấm làm cho các khung cửa gỗ mong manh rung động, thò đầu ra xem thì thấy tướng giặc nằm ngay trên điện mà ngủ. Liếc nhìn chung quanh không thấy có ai thấp thoáng, mấy tên lính gác đang ngồi ngủ gà, ngủ gật ngoài sân, lập tức họ Mã bò ra, men gần lại bệ, rón rén nắm thanh bảo kiếm tên giặc đặt bên cạnh mình, chém mạnh giữa cổ khiến nó chết ngay không kịp kêu lên một tiếng. Đoạn Mã cởi hết giáp phục mặc vào người mình, đun xác giặc xuống dưới bệ rồi leo lên trên nằm vào chỗ nó. Xế trưa linh gác ngoài sân nhìn thẳng vào trong thấy tướng còn ngủ không đánh thức, đành chịu bồn chồn chờ đợi. Mãi đến khi trời sụp tối Mã mới ngồi dậy, làm bộ mệt nhọc bước ra, rồi tiến đến chỗ Ninh Sơn, làm vẻ hung hăng, xua tay ra dấu bảo lính dạt xa hai bên và vung lưỡi kiếm như muốn chém đầu Nhưng Mã hạ kiếm chặt đứt các vòng dây trói, bảo nhỏ:

– Ngài trốn mau lên. Tôi đã giết tên tướng giặc ấy rồi.

Ninh Sơn tiếp lấy thanh kiếm, quay lại chém chết những tên đứng gần rồi kéo Mã Ngữ xông xáo giữa đám giặc cướp, mở một đường máu. Quân giặc canh giữ chung quanh ùn ùn kéo đến khá đông phóng dao bủa tên nhưng nhờ trời tối và tài võ nghệ của tướng Ninh Sơn nên cả hai người chạy thoát. Ra khỏi núi được một dặm, Mã Ngữ không đi được nữa vì kiệt sức rồi. Mã nói:

– Tôi đã bị tên từ sớm nơi lưng nhưng không dám nói, sợ Ninh tướng quân vì tôi mà dừng bước lại.

Ninh Sơn đặt Mã ngồi xuống, rút mũi tên ở lưng ra thì Mã ngã lăn trên đất. Bèn hỏi:

– Ngài là ai đây mà giết được loài giặc dữ cứu tôi trong lúc khốn nguy?

Mã Ngữ mệt nhọc đáp lại:

– Tôi chỉ là tên ăn mày ngụ trong cổ miếu đó thôi. Không có chí khí, không có bản lĩnh, nhưng cảm cái lòng oai hùng xưa nay của ngài vì dân khử bạo, lại căm cho loài cướp nước dã man nên thừa cơ hội mà giết được giặc.

Kể lại sự việc vừa qua, Mã gắng gượng tiếp:

– Bây giờ thế là toại nguyện, vì cả cuộc đời ăn mày tủi nhục đã có dịp tốt dựa nhờ thế mạnh tướng quân mà bớt xấu hổ. Nay có chết đi cũng chẳng hối tiếc.

Đại tướng Ninh Sơn cúi xuống lấy miệng hút máu thấm độc ở nơi vết thương của Mã, quỳ lạy rồi nói:

– Con người có những lúc bĩ không ai tránh được nghèo khốn nhưng cái tinh thần vị nghĩa, bất khuất vẫn còn, là còn sáng tỏ như sao trên trời. Hình hài của ngài là kẻ ăn xin, nhưng tâm hồn ngài là đấng trượng phu cao trọng hơn trăm ngàn lần những bọn mũ cao áo dài quỳ gối khom lưng trước lũ giặc quỷ để mong kiếm chút bỗng lộc cao sang. Tôi với ngài đây cùng gặp gỡ nhau ở trên tinh thần cứu nước, nhưng tôi xin cảm tạ ngài là bậc ân nhân.

Mã Ngữ gắng gượng đáp lại:

– Tôi biết mình không còn sống được nữa. Xin chúc tướng quân còn đủ sức khỏe giết loài ác tặc cứu dân.

Ninh Sơn khóc ròng, vội hỏi:

– Ngài còn dặn bảo điều gì nữa không?

Mã phều phào nói:

– Ước nguyện cho mọi con người đừng ai khốn khổ, đói nghèo, điêu linh vì giặc giã nữa. Xin cho gửi xác gần tòa cổ miếu, vì đó là nơi nương náu nhiều ngày…

Nói xong, tắt thở. Ninh Sơn vuốt mắt cho Mã Ngữ xong, cởi chiếc áo ngoái gói xác họ Mã rồi đào một huyệt mà chôn lấp lại, hì hục trong đêm bỏ đá mấy đống làm dấu mộ phần. Sau đó, Ninh Sơn đuổi sạch kẻ thù, thống nhất cõi bờ, truyền đem mộ người ăn mày dời đến cồ miếu, dựng một bia lớn ghi rõ công đức và phong là Vương.

Mai Trầm nghe xong có ý không được bằng lòng.

Gã nói:

– Thờ phụng cả bọn ăn mày là điều quá đáng.

Vương Bái trả lời:

– Đâu có thờ phụng ăn mày? Thờ người cứu nước là Mã Ngữ đó.

Mai bỗng hỏi lại:

– Thế anh học cổ tự này ở đâu?

Vương đáp:

– Nhà tôi vốn nghèo, đâu có cách gì học hỏi cho nhiều. Tôi tự tìm học trong các sách xưa rồi quen lê la tìm đọc trong các bia cổ. Nhưng biết thì ít mà hiểu thì nhiều là nhờ mình đọc ở ngoài các chữ.

– Làm sao mà đọc ở ngoài chữ được?

– Phàm các câu nói, câu văn đều có một số các tiếng chính yếu như là bộ óc, thấy được cái óc đủ rõ con người, không cần phải biết chân tay. Hơn nữa, đó cũng là thói quen thôi.

Nghĩ rằng Vương Bái giấu cái sở học với mình nên Mai tỏ ý không vui. Rồi họ tiếp tục lên đường về kinh ứng thí.

Qua đến Liêu Nam thì trời tuôn mưa xối xả suốt ba ngày liền, cả hai trú ngụ trong một ngôi chùa. Đến ngày thứ ba nước sông cuồn cuộn dâng lên tràn ngập. Đứng trên chùa cao nhìn xuống thấy những làng mạc bập bềnh trong nước, vị sư trưởng rất băn khoăn hội cùng tăng ni trong chùa đắn cây, phá các tường gỗ đóng bè cứu lụt. Vương Bái hăng hái phụ lực cùng với mọi người xông ra cứu giúp dân làng.

Mai cứ ngồi lì trong phòng đọc sách, bảo vời họ Vương:

– Lụt cả trời đất mà riêng chúng ta cứu đỡ phỏng được mấy người? Hơn nữa, bỏ công mười năm đèn sách mà chết đuối trong mưa bảo thì uổng phí quá.

Vương bèn đáp lại:

– Học cốt giúp người, nay thấy nỗi nguy kẻ khác mà ngồi yên sao?

Mai không đáp lại, chúi đầu vào sách. Càng ngày nước lụt càng cao, nạn nhân càng nhiều, mọi người quanh vùng sống sót đều tập trung lại nơi chùa là chỗ cao nhất để lo việc cứu trợ. Một hôm, có một nông phu là Hàn Kỳ Lực vừa vớt xác chết trở về đi qua phòng Mai Trầm ở, thấy Mai tay cầm quyển sách liền nhảy xô vào quát lớn:

— Khốn nạn! Nhà ngươi là ai mà lúc này còn điềm nhiên tọa thị ngồi đó nhai văn nhả chữ, mặc cho mọi người chết chóc, lo âu ?

Rồi giằng quyền sách ném ra ngoài cửa, túm lấy đầu tóc Mai Trầm kéo ngược hẳn lên, nói rằng: Mày có thấy nước ở ngoài kia không?

– Có… thấy.

– Thế sao mày cứ ngồi im trong phòng đề cho mọi người lo lắng mà không đóng góp phần nào? Cái loại như mày ngày sau thi đỗ làm quan lại càng chết bọn dân đen này thôi.

Nói xong Kỳ Lực những toan hành hung, nhưng vị sư trưởng nghe động, chạy đến bảo rằng:

– Thôi chớ gây điều huyên náo trong lúc mọi người đều phải bận tâm, bận trí vào việc cứu nạn. Việc người đều phải bận tâm, bận trí vào việc cứu nạn. Việc thiện phải được xuất phát từ lòng, bắt buộc làm gì ? Kẻ nào đã không muốn thấy, đã chẳng muốn làm, thì nên khuyên nhủ hơn là ép uổng.

Ròi gỡ tay Hàn Kỳ Lực, kéo gã ra ngoài.

Mai Trầm sau cơn hoảng sợ, lấy làm giận lắm, tự bảo:

– Ta nhớ mày rồi, sẽ có lúc gặp.

Ở trong thâm ý, họ Mai quyết tâm thi đỗ, làm quan, xin về trấn nhậm vùng này trị bọn lỗ mãng với mình một phen.

Nhưng sau hôm đó Mai Trầm cảm thấy không có cách gì ngồi yên mà học, nên gắng gượng theo Vương Bái cứu giúp nạn nhân bão lụt. Khi cả hai người chèo chiếc bè đến một ngôi nhà chìm ngập trong nước, thình lình bỗng nghe có tiếng kêu rên thê thảm. Họ Vương vội vàng lái bè cập đến rồi cả hai cùng leo lên trên nóc, sờ soạng tìm đến chỗ phát ra những tiếng kêu.

Họ thầy một người cao tuổi nằm trên mải ngói, nhợt nhạt, thoi thóp, tay vẫn còn cằm chặt lấy một gói khá nặng. Họ Vương vừa chạm đến người, kẻ kia đã kêu rủ lên, ôm sát gói đồ vào ngực, ngón tay run rẩy, co quắp, bấu chặt lại như móng vuốt của loài thú dữ.

Gã kia thều thào:

– Trời ơi! đừng ai động đến tôi hết.

Rồi lại rên rỉ hết sức thảm thiết như muốn kêu cứu. Họ Vương liền bảo với Mai:

– Đây là một gã trọc phú trong cơn lụt lội lo giữ lấy vàng để mặc vợ con cuốn theo dòng nước. Rồi đem vàng lên chỗ kín đáo nhất mà nằm, chờ cho nước rút, nhưng đã kiệt sức quá rồi.

Mai Trầm nói rằng:

– Vậy kệ xác nó.

Vương bảo:

– Trong khi cứu nạn thế này, khó lòng phân biệt kẻ ác người thiện. Chúng ta chỉ biết đó là mạng người mà thôi. Dầu sao cũng phải đem gã ra khỏi nơi này.

Nói xong, giục Mai áp lại khiêng người kia ra nơi bè. Người ấy kêu la hốt hoảng như ai cắt cổ, tay vẫn không ngừng ôm chặt gói vàng trên ngực. Gã kêu:

– Không đi đâu hết! Không đi đâu hết!

Vương cúi xuống bảo:

– Chúng tôi cứu ông, đừng sợ. Không ai chiếm lấy của cái ông đâu.

Gã kia quẫy mạnh, hé mắt nhìn ra, lại kêu:

– Trời ơi!

Và đạp cặp chân gầy nheo vào cả hai người như muốn đẩy họ xuống nước. Mai nói:

– Cho nó chết đi rồi đem vàng kia về cứu các nạn nhân khác, thế là thượng sách.

Vương đáp:

– Bổn phận của ta là đi cứu người chứ không có quyền phán xử.

Rồi tìm mọi cách đem gã kia lên trên bè.

Chèo được một quãng thì gặp gió ngược, bè không đi mau cứ lơ lửng mãi giữa vời. Trời dần dàn tối, gió càng thổi lạnh. Người kia chịu không nổi được, rên rỉ một hồi rồi tắt lịm dần. Vương Bái vuốt mắt cho gã rồi xé vạt áp đắp lên mặt. Nhưng được một lát, bỗng thấy xác gã ngồi nhổm hẳn lên đưa tay quờ quạng, rồi chừng như không chịu nổi một sự tuyệt vọng lớn lao gã nhoài người ra khỏi bè, lăn mình xuống nước tối đen như là vực sâu thăm thẳm.

Mai Trầm quá sức ngạc nhiên hỏi rằng:

– Sao gã đã chết, còn ngồi dậy được?

Vương Bái đáp lời:

– Có lẽ thần xác của gã nhiều năm quá tha thiết với bạc vàng nên khi đã chết còn thiết tha chăng?

Thốt nhiên, gió nổi rất lớn rồi mưa tuôn xuống thêm nhiều. Trong đêm mù mịt, hai người ngồi sát gần nhau trên bè mà vẫn không thấy mặt nhau. Chiếc bè mỗi lúc càng chòng chành hơn, Vương liền bảo Mai:

– Cố giữ gói vàng đem về cho vị sư trương cứu giúp nạn nhân.

Rồi bèn nỗ lực chèo chống, để mong ngược gió về chùa. Nhưng gió quá mạnh đẩy bè trôi phăng về phía Tây Nam. Phần đã gắng sức quá nhiều trong mấy ngày qua, phần bị đói lạnh trong đêm nên đến nửa khuya thì Vương cảm sốt, nằm gục mê man trên bè, không biết đất trời gì nữa.

Mai Trầm lo giữ gói vàng, không chèo chống được, cứ mặc cho bè trôi đi. Đến khi sờ vào trán của Vương Bái thấy nóng mê man, Mai tự nhủ rằng: “Cách này chắc gã không sao sống nổi. Nếu ta đưa gã về chùa mà gã sống được thì phải nuôi dưỡng mất cả tháng trời chưa chắc khỏi bệnh”.

Đoạn xô Vương Bái xuống nước, rồi cầm sào đẩy bè tới, sau khi đã cột chặt gói vàng vào cổ mình.

Bấy giờ trời đã lặng gió, Mai Trầm chèo cho tới sáng thì đến một thị trấn lớn. Ở đấy khá cao, nước chỉ tràn vào tới thềm nên mọi người vẫn đi lại mua bán như thường. Mai Trầm tìm một nhà trọ, thuê một gian phòng lịch sự rồi đóng chặt cửa, ngồi đếm số vàng. Đây là lần đầu họ Mai thấy vàng quá nhiều như vậy nên hoa cả mắt, tay cứ run lên không sao đếm được. Giờ lâu, gã mới định tâm và đếm được một trăm nén. Tuy vậy, vẫn cứ ngại mình lầm lẫn nên phải đếm đi đếm lại đến mấy mươi lần. Xong, gã tìm vào hiệu kim hoàn đồi bớt một nén, lấy tiền vào quán ăn uống no nê rồi sắm sửa các vật dụng lên đường.

Họ Mai thuê một chiếc ghe khá lớn, đi theo đường biển mà đến kinh kỳ. Trên ghe, suốt ngày Mai được ăn nằm thong thả nên thấy vui vẻ cực độ.

Một hôm, đến thành Giang Biên thì gặp trời tối, ghé đậu nơi bến. Cơm nước xong xuôi, Mai ra ngồi trước mũi thuyền ngắm cảnh đèn sáng và người đi lại nhộn nhịp trước mắt. Bỗng nghe có một tiếng hát rất là não nùng bên cạnh. Nhìn qua, thấy một thiếp phụ khá đẹp đang hát trong một khoang thuyền. Chung quanh, người nghe thỉnh thoảng ném tiền tán thường. Tiếng hát vẳng lên:

Vượt trăm nghìn ngục nhân gian

Tìm sao cho gặp mặt chàng thì thôi

Con thơ như ngọc tan rồi

Mẹ cha khuất bóng, còn đôi lứa mình

Đưa tay vuốt tóc còn xanh

Bạc đầu riêng vẫn để dành cho ai…

Mai Trầm gọi người lái thuyền, và bảo:

– Gọi người ca nữ ấy đốn cho ta. Bảo ở luôn đây đêm nay.

Người kia trả lời:

– Ca nữ ấy là Chung Từ Ly phiêu bạt tìm chồng bị quan bắt giam giữ trong ngục tối lâu ngày rồi đày ải đến chốn xa. Nàng không bao giờ tiếp khách.

Mai Trầm có vẻ khó chịu, nói rằng:

– Phàm gái xướng ca đều phải sống thêm nghề ấy cả, sao không chịu tiếp? Bảo nó đòi trả bao nhiêu, ta cũng chịu trả.

Lái thuyền đợi Chung Từ Ly hát xong đám ấy, đón mời sang thuyền. Mai Trầm vừa gặp mặt nàng vội nói:

– Ta tuy hơi lùn nhưng tài năng ta cao hơn thiên hạ, điều đó không nói ắt nàng cũng hiểu. Nguyên ta nghe nói chồng nàng bị bắt, thật là cảnh ngộ đáng thương. Hãy lấy mảnh giấy ghi rõ lý lịch, rồi nay mai đây thi đỗ ta sẽ tìm cách cứu xét cho nàng.

Từ Ly vội vàng lấy giấy trần tinh, rồi trao cho Mai. Mai nói:

– Ta nghe nàng hát ban nãy nhiều rồi. Bây giờ ta mời nàng qua để mà trả tiền.

Từ Ly tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi lại:

– Thưa ngài, những người ở trong đám ấy trả cho tôi rồi, ngài ở ngoại cuộc, không phải tính tiền.

Mai Trầm bèn đáp:

– Phàm nghe giọng hát thì phải nghe xa là hay. Ngồi gần, người hát chiếm hết giọng hát. Ta trả cho nàng gấp ba lần tiền của bọn lúc nãy.

Từ Ly trả lời:

– Thưa ngài, tôi không dám nhận.

Mai Trầm mỉm cười:

– Gái hát chê tiền, quả cũng là điều rất lạ. Xưa nay, ta đọc trong sách, thấy lớp như nàng đều sống vì tiền cả mà.

Từ Ly nghiêm sắc mặt lại, trả lời:

– Xin ngài đừng đem sách vở ra mà xúc phạm cuộc đời. Cho phép tôi lui.

Mai Trẫm gượng nói:

– Thôi đừng giận dữ. Chẳng qua ta nói thử lòng đó thôi. Nào hãy ngồi xuống đi nào.

Người đàn bà vẫn đứng yên.

Mai Trầm nói tiếp:

– Con đường ta đi còn xa, muốn có một người đàn bà bên mình. Vậy nàng theo ta có được hay chăng?

Từ Ly đáp lại:

– Ngài đi về đâu?

– Về kinh.

Sau một phút giây suy nghĩ, Từ Ly trả lời:

– Xin vâng. Tôi mong được theo về đó kêu oan cho chồng.

Mai Trầm nghĩ bụng: “Bọn này chỉ khéo làm bộ. Mới gặp thì lại khoác vẻ đạo đức, nhưng chính đó là kiểu cách đòi giá cao thôi.”

Rồi bảo lái thuyền dọn riêng một khoang cho Từ Ly nằm.

Từ Ly yên lặng đến nơi dành riêng cho mình.

Nửa đêm, đang nằm thao thức, nàng thấy Mai Trầm tắt đèn tiến tới bên nàng.

Lập tức, Từ Ly ngồi dậy, cầm lấy chiếc đàn.

Mai Trầm đưa một bàn tay lên che miệng nàng. Nhưng nàng gạt phắt tay gã, toan kêu to lên thì gã vội bảo:

– Đừng kêu. Ta sẽ cho nàng nguyên một nén vàng.

Từ Ly trả lời:

– Nén vàng của ngài không xóa sạch được ô nhục.

Mai Trầm liền bảo:

– Đêm tối không ai hay biết, làm sao mà ô nhục được?

Người đàn bà đáp:

– Ô nhục đối với chính mình, hà tắt phải đợi kẻ ngoài biết đến. Xin ngài lùi lại, không thì tôi sẽ kêu lớn.

Mai Trầm gắng gượng nói tiếp:

– Hai nén vàng ròng, có bằng lòng chăng?

Từ Ly cả giận, trả lời:

– Đem cả núi vàng cho ta, ta cũng không thèm. Đừng có nhiều lời, vô ích.

Mai Trầm bèn nói:

– Thân ngươi giá đáng bao nhiêu mà nói những lời khinh mạn. Nay mai ta đỗ đạt rồi, những hạng như nàng không đáng cho ta chọn làm tì thiếp một đêm, có gì mà cao giá vậy?

Nói xong, hậm hực lui về chỗ nằm nhưng cứ trằn trọc không sao ngủ được.

Sáng dậy gã bảo Từ Ly:

– Ta chọn một người đàn bà để theo ta trên đường xa mà nàng thì vô dụng quá.

Từ Ly trả lời:

– Tưởng ngài kiếm người sửa sang cơm nước cho nên tôi mới chịu lời. Nay không ưng chịu, xin trả tôi về chỗ cũ.

Bấy giờ thuyền đã đi xa biết là mấy dặm sông hồ? Mai Trầm hằn học:

– Ta đã bị ngươi lường gạt.

Người đàn bà nói:

– Kẻ lường gạt người, chính là ngài đó.

– Con tiện tì này vô lễ!

Từ Ly không khuất, đáp lại:

– Đê tiện hay là cao sang chỉ đo được bằng nhân cách mà thôi. Những kẻ khinh mạn đàn bà không phải con của giống người.

Mai Trầm trợn mắt:

– Hừ, to gan quá lắm. Sao ngươi dám bảo không phải con của giống người?

– Vì chúng đâu biết có mẹ. Mẹ chúng chẳng là đàn bà hay sao?

Mai Trầm tức lắm, tưởng có thể xách Từ Ly mà ném xuống bể.

Đến chiều hôm đó, thuyền ghé lại miền Nghi Đảo là nơi hoang vắng. Gã bảo người đàn bà lên mua ít đồ nhắm để tối uống rượu. Khi Chung Từ Ly lên bờ đi được một quãng, gã bảo lái thuyền nhổ neo mà chạy. Lái thuyền hỏi lại:

– Còn người đàn bà?

Mai đáp:

– Cho nó ở lại. Chẳng dùng được việc gì cả.

Lái thuyền không chịu:

– Ở đây là chốn hoang vu, sao nỡ bỏ người ta lại?

– Nhà ngươi chớ có bận tâm vô ích. Cứ cho thuyền đi, ta sẽ trả gấp rưỡi số tiền đò.

Chủ thuyền ham lợi, giong buồm, nhổ neo đi thẳng.

Ra đến kinh kỳ, chỉ còn ba ngày đã tới khoa thi, sĩ tử bốn phương kéo đến ồn ào tấp nập, quang cảnh thật là náo nhiệt khác thường. Trong thời bấy giờ có Lưu Hào Vĩ là viên chủ khảo hết sức tham lam, lén cắp đề thi đem bán cho những con nhà vọng tộc để kiếm vàng ngọc. Cứ mỗi đề thi được đánh đồi bằng số nén vàng ròng và kẻ mua bán gặp nhau trong một hầm đá khá rộng sau dinh thừa tướng họ Võ, vốn là cậu ruột của Lưu.

Giá bán quá cao nên bọn con quan lười biếng học hành rủ nhau chung vốn mua các đề ấy. Đồng thời đôi người thấy đó là dịp tốt để làm ăn nên quyết mua đề đem ra khai thác làm giàu.

Một người bạn thi ở gần phòng trọ của Mai, tên là Lý Can, thấy Mai ăn tiêu sang trọng biết là gã có tiền nhiều, bén mớm cái ý mua đề trục lợi. Mai Trầm mừng lắm hẹn với Lý Can vào một buổi tối cùng đi tới hầm đá ấy.

Đến nơi, cả hai thấy một người rất đạo mạo, ra vẻ là tay phương diện quốc gia đang ngồi chính giữa, hai bên có hai thuộc viên uy nghi, ngồi ở hai bên.

Mai Trầm bèn hỏi:

– Xin cho biết giá nhất định mỗi đề là bao nhiêu tiền?

Thuộc viên bên hữu trịnh trọng đáp rằng:

– Ở đây là một tổ chức nhân đạo giúp đỡ cho những kẻ sĩ suốt năm không có thể giờ học hành, nên không có một lề lối mua bán như bọn gian thương.

Người ngồi ở giữa gật đầu, nói tiếp:

– Chính thế. Chúng ta phải làm việc thiện để mà cứu đời.

Người ngồi bên cạnh phụ họa:

– Vi vậy, không thì nêu ra giá cả bây giờ. Văn chương lại vốn là một thứ đồ vô giá. Một khi đỗ đạt, các người có đủ phương tiện làm ăn, tiền của lương dân sinh sinh, hóa hóa hét sức nhiệm mầu, khai thác bao nhiêu cũng được. Do đó các người phải cho biết trước sẵn có bao nhiêu tiền bạc ta mới tùy liệu mà đòi giá cả phải chăng.

Mai Trầm bèn đáp:

– Tôi chỉ có ba nén vàng.

Lập tức, người kia hàm hầm quát lớn:

– Đồ khốn, lui ra! Chỉ có ba nén mà cũng tính chuyện đỗ đạt là nghĩa làm sao?

– Thực tình tôi có năm nén nhưng còn phải để chi dụng vì con đường về rất xa.

Người kia lộ vẻ suy nghĩ rồi hỏi vị ngồi ở giữa;

– Ý của Thượng Quan thế nào?

Vị này phán rằng:

– Nếu xem nó quá là học trò nghèo thì nên giúp đỗ’ để mua phúc đức về sau. Bán rẻ cho nó nửa đề cũng được.

Mai Trầm kêu lên:

– Nửa đề thi làm sao hiểu mà thi cho đặng?

Vị đại quan nói:

– Tiền nào của nấy là lẽ thường tình xưa nay. Nếu muốn hiểu đủ thì cứ trả gấp đôi số vàng. Bây giờ chịu vậy thì ta trao cho, song điều quan trọng ngươi phải là học trò nghèo mới được. Chúng ta chỉ thương những kẻ khốn cùng, vì đây là triều đại của dân nghèo.

Mai Trầm nói:

– Tôi quả là thứ dân nghèo chính hiệu, nghèo trên ba đời.

Vị đại quan truyền:

– Khám nghiệm ngay xem để biết thực giả ra sao!

Hai người bên cạnh áp đến lôi Mai Trầm lại trước đèn, lật bàn chân gã ra xem. Cả hai làm bộ quan sát thật kỹ, nháy nhỏ với nhau, rồi nói:

– Đích thực là học trò nghèo. Thôi lấy nó sáu nén vậy.

Mai Trầm lôi ra sáu nén, đặt ở trên bàn cho đại quan xem lại. Vị đại quan nói: Hãy chặn tên này xét lại chu đáo, chắc nó còn vàng trong người. Hai kẻ thuộc hạ lại xông đến lôi Mai Trầm, đè xuống, lọc lọi một hồi lôi ra từ trong lưng quần đủ hai chục nén và nói:

– Đại quan thật là sáng suốt. Đích thị nó không phải là dân nghèo.

Vị quan nghiêm nghị phán rằng:

– Đã nghèo sao còn có vàng? Vả lại bọn nghèo thường thường chăm học, làm gì phải chạy mua các đề thi! Tội của thằng này to lắm, dám mạo nhận cái danh nghĩa nghèo nàn để mà lường gạt bề trên, thật đáng vào ngục tối. Song nếu nó nộp đầy đủ số vàng thì khoan dung cho nó một lần thứ nhất.

Mai Trầm tiếc của, xanh mặt, nói giọng thiểu não::

– Vậy xin hãy giao đề thi cho tôi.

Vị quan rút một tờ giấy màu vàng có đóng dấu rất kỹ lưỡng, rồi bảo:

– Bọn ta làm ăn lâu dài và có tín nhiệm, nhà ngươi chớ lo. Cầm biên lai này, và trước ngày thi ghé lại nơi đây mà nhận đầu đề. Không thể giao sớm đề ngươi đem về phổ biến bậy bạ.

Mai Trầm cùng với Lý Can đành phải cáo từ lui ra, lòng rất buồn phiền. Ra đến bên ngoài, Mai Trầm giậm chân than thở:

– Thôi chết cha rồi, bị kẹt hai chục nén vàng trong đó, dễ gì mà lấy lại được! Đem bao nhiêu của mua mảnh giấy lộn này sao?

Họ Lý an ủi:

– Không hề gì đâu. Người ta là vị đại quan, lẽ nói sai lời.

Mai đáp:

– Nó không nói sai, nhưng chắc là nó nói láo. Bây giờ chúng ta nguy mất. Chưa kịp làm ăn mà đã lỗ hết cả vốn liếng. Việc này chung qui là tại anh ca.

Lý buồn rầu lắm, nghĩ ngợi một lát rồi nói:

– Thôi được. Tôi đã có cách.

– Cách gì?

– Bây giờ ta làm thế này…

Đoạn kề miệng vào tai của Mai Trầm nói nhỏ mấy câu. Mai Trầm hớn hở gật đầu:

– Thôi vậy cũng được.

Qua tối hôm sau hai người tìm thuê hai gã du đãng, cho ăn mặc rất lịch sự, đứng núp ở ngoài hầm đá của viên đại quan họ Lưu rồi cùng thuê một căn nhà rất là bí mật ở ngay cuối phố. Cứ thấy kẻ nào đi đến thì bọn du đãng đón đường, bảo rằng:

– Các người muốn tìm Lưu đại quan đấy phải không?

Nếu họ đáp phải thì cứ dẫn đi ngoằn ngoèo và đưa đến căn nhà riêng. Tại đây Mai Trầm đã mua của một gánh hát một bộ đồ quan rất đẹp mặc vào, ngồi giữa, gã Lý Can bận sắc phục nha môn làm người chuyển ngôn, cả hai bịa ra nhiều đề, viết thành nhiều bản, rồi đòi giá cao mới bán, do đó chỉ trong mấy ngày đã kiếm được một món tiền rất lớn, trên cả hai trăm nén vàng.

Mai bảo Lý rằng:

– Không ngờ mình lại làm ăn khá giả thế này. Cũng nhờ là bọn sĩ tử bây giờ lười biếng quá cỡ, thêm nữa địa vị ngày nay dễ kiếm chác hơn. Điều mà ta sung sướng nhất là chúng cứ ỷ có sẵn đề rồi không chịu coi lại văn bài nên mình có dịp đỗ cao.

Do bọn Mai, Lý phỗng hết tay trên như vậy nên quan họ Lưu ế hàng, cuối cùng đến ngày thi cử, đành phải giao đề cho Mai để lấy thêm vài nén nữa.

Năm ấy Mai đỗ thủ khoa, Lý cũng đỗ cao, và một số đông con nhà có tiền nhưng không biết chữ bao nhiêu cũng được mũ cao áo dài. Một số bị mưu của Mai, mất tiền mà không trúng đề, giận lắm, làm đơn tố cáo họ Lưu gian lận. Nhưng Lưu khôn khéo đút lói quan trên nên chỉ có vài ba người thuộc hạ bị khép vào tội tử hình mà thôi.

Mai được bô nhiệm làm quan trấn thủ Hà Tây là vùng hết sức giàu có. Bấy giờ xã hội bày ra tình trạng rối loạn vô kể. Nguyên do là vì những hạng cai trị đều không có một căn bản học vấn và đạo đức nào mà chỉ nhờ mấy nén vàng đã làm quan được nên cùng thi nhau vơ vét của dân, cốt sao cho được nhà cao cửa lớn, ngựa xe rộn rịp là thỏa dạ rồi. Họ lập thành một tổ chức rộng lớn gọi là Kim Tiền Đảng Hội, chỉ có mục đích là kiếm được nhiều tiền. Mỗi một hội viên phải đeo trên ngực ỏ trong lớp áo nhà quan một đòng tiền lớn, mài nhẵn, không có mặt trái mặt phải nào cả để làm huy hiệu. Gặp nhau thì chỉ lấy ngón tay trỏ bấm vào đầu ngón tay cái để làm dấu hiệu liên lạc, chào kính. Các hội viên này phát triển ngày một thêm đông, làm cho thanh thế của hội thật là lẫy lừng hết sức. Một trong những tay trụ cột của tổ chức này là Hoàng Kim Trọng có uy tín lớn khắp nơi, ở đâu cũng được một số quan lại cao cấp đỡ đầu và nhiều gái đẹp đỡ đuôi. Nói về nghi thức nhập hội thì ly kỳ lắm. Chỉ cần làm một tờ trình lý lịch, trong đó nêu rõ đã trục lợi như thế nào, rồi viết một bài luận văn bênh vực cho tiền, là được trúng cử vào kỳ thứ nhất. Sau đó, vào kỳ thứ hai là kỳ vấn đáp, có ba người đeo mặt nạ hỏi các câu rất khó khăn về chuyện làm tiền, phải thuộc lòng các nhân vật lịch sử đã nhờ tiền bạc làm nên danh giá hoặc đã vì tiền mà không từ bỏ một thủ đoạn nào. Trung bình cử hỏi mười câu mà đáp đúng được năm câu là trúng tuyển rồi. Ai không nói đúng số ấy thì phải về nhà nghiên cứu trên ba tháng nữa mới được ứng thi kỳ hai. Đậu xong cả hai khóa ấy là vào kỳ ba, thiên nhiều về môn thực hành hơn là lý thuyết.

Đại khái các môn thực hành gồm có các khoa như sau: bỏ người dự thi vào trong một phòng rồi bịt mắt lại, đoạn bảo anh ta tìm đồng tiền giấu một nơi nào đó trong các khe cửa. Thí sinh cần phải dùng mũi chứ không được phép dùng tay để tìm. Môn này tuy cũng hơi khó, song tính trung bình ba trăm thí sinh thì bị đánh hỏng độ năm sáu người là cùng. Nguyên do là các vị đứng giảm khảo cho Hội, vốn là những người có trình độ cao nên rất sẵn sàng nhận món hối lộ của các thí sinh đề cho họ đỗ. Thủ đoạn rất dễ: chỉ cần bôi vào đồng tiền một mùi gì đó rồi cho thí sinh biết trước để họ đánh hơi, và muốn cho thật chắc chắn họ vẫn bôi vào đồng tiền những chất hôi hám đặc biệt. Chỉ có thí sinh nào nghẹt mũi lắm mới bị đánh hỏng.

Về cách khảo thí thực tập thứ hai, thì có môn này: một người cầm một đồng tiền xoay mạnh cho nó quay như chong chóng rồi thí sinh phải xoay người cho kịp đồng tiền. Nếu tiền còn quay mà thì sinh đã ngã nhào thì coi như là phạm phép, không thể dung nạp. Cách này tuy khó gian lận vì nó có vẻ công khai, song các ông lớn chủ trì cũng vẫn có thừa phương pháp để mà ủng hộ thí sinh. Họ chỉ việc quay nhẹ tay một tí là được.

Còn cách thứ ba rất là khó nói, vì chẳng hợp với vệ sinh, song cũng nên kể ra luôn, là bỏ đồng tiền vào một thùng lớn đựng toàn phân bã rồi cho thò tay, mở mắt để mà bươi móc lục lọi sao cho tìm được. Tất nhiên phải có một sức chịu đựng cao độ về các mùi hôi mới đứng suốt buổi mò mẫm như thế. Nhiều thí sinh đã bôi đầy dầu thơm vào mũi mà vẫn không sao chịu nổi, có người ngất xỉu nửa chừng. Nói chung, còn có nhiều môn khác nữa, như là nhai tiền, nuốt tiền, câu tiền, giấu tiền… nhưng tương đối dễ thực hiện.

Trong số các bọn quan lại móc họng dân chúng lấy tiền và trong số các hội viên của tổ chức trên thì Mai Trầm có uy thế rất lớn. Một phần vì gã đậu cao, có tiền bạc nhiều khi ra nhậm chức, lại có thủ đoạn. Suốt một năm ròng trấn nhậm gã đã tống giam có đến ba trăm người dân có chút máu mặt, lấy vợ của hàng nha lại có đến bốn năm mươi người. Vàng bạc của gã đúc thành từng khối vuông vức, chồng làm bức tường trong nhà, và gã ngủ giữa tường vàng tên gọi là Kim Bích phòng.

Được trên hai năm, Mai Trầm một hôm soi gương bỗng thấy mặt mũi của mình thay đổi khác xưa rất nhiều. Trán gã tự nhiên lồi lõm, y tuồng bị sự suy tinh bất thường bên trong làm cho ảnh hưởng bên ngoài, lại thêm cặp môi dày ra mím lại, biểu lộ một tấm lòng tham không đáy và sự thèm khát không nguôi. Nhất là cặp mắt luôn luôn đục ngầu, hấp háy đảo nhìn đầy ý soi mói, sục sạo. Có quan Đô Úy ở gần muốn gả cô con gái quí cho Mai nhưng Mai chưa muốn lấy vợ. Gã nói:

– Có một người vợ thì chỉ có mỗi một vợ mà thôi. Không có vợ nào thì sẽ có được mọi người làm vợ.

Một hôm đang ngồi suy nghĩ bỗng nghe có tiếng động mạnh, ngẩng đầu nhìn lên thấy một quyền sách rớt ở góc phòng. Trong óc sực nhớ mối thù bị người nông dân nắm tóc kéo lên buộc đi cứu lụt ngày nào, liền nổi cơ giận quyết lòng trả thù. Mai liền cho kẻ tâm phúc là Hắc Đạo Nhân mang một lễ tốt và một phong thư đem qua cho viên tổng trấn vùng ấy, nhờ bắt và áp giải Hàn Kỳ Lực đến tại nha môn của mình.

Viên tổng trấn này là Tôn Bảo Ngọc cũng ở trong ban lãnh đạo Hội Đảng Kim Tiền nên khi nhận được phong thư, vội vàng cho đi bắt Hàn Kỳ Lực. Lúc ấy vào trưa, Kỳ Lực đang nằm ngủ dưới gốc đa thì có bốn tên sai nha đi tới. Kỳ Lực không hề hay biết gì cả, thiêm thiếp giấc nồng. Một tên lấy chân đá vào mạn sườn Kỳ Lực nhưng anh ta vẫn không hay. Một tên khác bèn dùng đao đánh mạnh vào ông chân anh, khiến anh choàng mắt, tỉnh đậy, hỏi rằng:

– Các anh là ai mà lại phá ngang giấc ngủ người ta như vậy?

Tên sai nha đáp:

– Mày đui hay sao mà không thấy rõ chúng ta là ai?

Kỳ Lực trả lời:

– Sao lại chẳng thấy? Lũ mày chỉ là một phường chó má đấy thôi, dựa lưng bọn quan lại ác thú để mà hiếp đáp dân lành.

Lập tức một tên sai nha vung chiếc roi da quất mạnh vào mặt Kỳ Lực. Nhưng Kỳ Lực không né tránh chỉ hơi lắc đầu, hé miệng cắn chặt chiếc roi vào giữa hàm răng rồi gặc một cái thật nhanh khiến cho tên kia ngã chúi về trước, buông vội tay ra. Kỳ Lực cằm lấy chiếc roi, đứng vụt ngay dậy, quát to:

– Nào, lũ chó săn, bay muốn trừng trị thế nào cho xứng tội trạng?

Mấy tên còn lại vung đao chém tới loạn xạ nhưng Hàn Kỳ Lực vẫn múa chiếc roi vun vút đỡ gạt, nhiều lần quất mạnh vào mặt mũi chúng, khiến chúng tối tăm mặt. Tên bị ngã chúi lần đầu nhiều lần muốn ngồi nhỏm dậy để cứu đồng bọn nhưng con roi da trong tay Kỳ Lực vận chuyển quá nhanh, đến nỗi mỗi lúc gã nhỏm dậy được đã bị một roi giáng xuống ngay mông quắn quýt không sao ngồi thẳng.

Kỳ Lực giao đấu một lát thì bọn sai nha đều chạy dài. Anh ta đuổi theo nắm cổ một tên hỏi rằng:

– Bọn mày đi tìm đứa nào?

Tên này liền đáp:

– Chúng tôi được lệnh bắt người có tên Kỳ Lực họ Hàn.

– Bắt về tội gì?

– Không rõ tội gì. Quan trên truyền bảo như vậy.

– Đưa trát cho tao xem nào.

Tên sai nha đưa tờ trát cho Kỳ Lực. Đọc xong Kỳ Lực kêu lên:

– Trời ơi! Nó bảo rằng ta can tội xúc phạm quan trên, hành hung kẻ sĩ, lỗ mãng, khinh người. Bọn này láo thật!

Rồi quay sang bọn sai nha, Hàn nói:

– Bọn bay chẳng cần phải tìm đâu xa, tao đây là Hàn Kỳ Lực. Nói thật, cả trăm đứa bay cũng chẳng làm gì nổi tao, nhưng bọn mày đã có lòng tìm đến mà ta cũng có bụng gặp quan chúng mày để xem cho rõ hư thực. Vậy hãy theo ta về nhà để ta gói ghém một ít áo quần, mang theo ít lương thực, thưa lại ít tiếng với cha mẹ già, rồi ta sẽ đi cùng với chúng mày.

Nói đoạn, đưa tay vẫy bọn sai nha trở lại, cùng quay về nhà. Sau khi chuẩn bị hành lý, Hàn thưa cha mẹ:

– Việc nhà đã có mấy em lo liệu, xin cha mẹ chớ lo phiền. Nếu con không đi, chúng sẽ vu cáo làm phiền cha mẹ. Nay thử đến đó, xem lũ ác ôn này dở trò gì.

Kỳ Lực vừa tới công đường thì quan trấn thủ chẳng nói chẳng rằng cho lính trói chặt nhốt vào ngục tối. Ngày sau, cho một toán quân mang đao, mang kiếm áp giải về dinh Mai Trầm. Vừa thấy mặt Hàn, họ Mai quát tháo:

– Hay cho tên kia! Mày có nhớ mặt ta không?

Kỳ Lực trả lời:

– Một kẻ làm ruộng khốn khổ như tôi làm sao quen được với ngài mà nhớ hay quên. Có lẽ ngài lầm với kẻ nào chăng?

Mai Trầm cười gằn, rồi đáp:

– Khốn nạn, mày đừng mong trốn tội lỗi của mày. Ta đây là kẻ học trò ngày trước trốn tránh nạn lụt tại chùa Hoa Nghiêm đã bị nhà ngươi xúc phạm. Nay ta cho đem ngươi đến không ngoài giáo dục cho ngươi về sự tôn kính đối với kẻ sĩ để ngươi nhớ mãi suốt đời và truyền lại cho con cháu của ngươi lòng tôn kính ấy.

Kỳ Lực mím môi, làm thinh, tự thấy mình đã dại dột dẫn mình đến nộp mạng cho quỉ dữ. Cuối cùng, nghĩ rằng không lẽ chịu sự khuất phục dễ dàng, Kỳ Lực trả lời:

– Quan lớn bây giờ là kẻ có quyền, ngài muốn làm gì lũ dân hèn này chẳng được. Nhưng nếu ngài muốn nhớ lại thì ngày xưa tôi chỉ xúc phạm đến một kẻ sĩ vô trách nhiệm trước bao nỗi đau khổ của đồng bào mình chứ đâu có làm thương tổn mọi kẻ sĩ được?

Mai Trầm quát lớn:

– Đừng có hỗn láo! Truyền cho nha lệ đánh nó trăm roi như là bài học vỡ lòng. Rồi mày còn được học tập nhiều bài khác nữa cho thêm sáng mắt.

Bọn sai nha lôi Kỳ Lực ra sân, đánh đúng trăm roi khiến Hàn quằn quại cố nén tiếng kêu, cắn răng chịu đựng gia hình.

Thấy vẻ mặt quá bình tĩnh của Hàn, Mai căm tức lắm, bảo rằng:

– Tên này thuộc loại cứng đầu, đánh đập bao nhiêu cũng không biết sợ. Phàm con người có biết sợ mới biết phục thiện. Vậy nhốt nó vào ngục tối, ta sẽ có cách.

Rồi người nông dân đôn hậu và kiên cường ấy sống chết ra sao? Và người đàn bà chung thủy và đáng yêu kia, bị bỏ rơi giữa hoang đảo, còn mất thế nào? Anh chàng thư sinh trung chính, nhiệt thành, bị xô xuống vùng nước lạ giữa đêm mưa bão, có thoát được chăng?

Sự việc còn dài, ngày xuân lại ngắn, chỉ xin vắn tắt trình bày để khỏi nản lòng bạn đọc đang phải thưởng xuân trong nổi băn khoăn.

Hòn đảo mà nàng Từ Ly lạc vào không phải là chốn hoang vu. Nơi đấy là chỗ trú ẩn của những đàn ông trốn chạy đàn bà. Những anh chàng gặp vợ dữ, những gã trai phụ tình, đồng mang những nỗi nghi hoặc về đời, đổi lại thành họ Nghi cả, chọn miền đất này gọi là Nghi đảo làm căn cứ địa. Bắt gặp Từ Ly, họ liền ghép nàng vào tội đột nhập phá hoại, toan xé xác nàng cho hả những mối hờn giận đối với đàn bà chất chứa lâu nay. (Kể ra điêu đó không những bất công mà còn phi lý nữa. Nhưng xét cho cùng thì xưa nay đàn ông đãi ngộ đàn bà vẫn chưa có gì tốt hơn điều đó bao nhiêu.)

Tuy nhiên Từ Ly không để cho mình trở thành nạn nhân của những anh chàng râu quặp mang mối mặc cảm hốt hoảng về người đàn bà. Dầu biết rằng đáng lý ra đàn bà phải nên xé xác đàn ông thì mới công bằng, nhưng tự hiểu mình cô thế nàng phải mềm mỏng để mà thoát nạn. May thay ở nơi người nàng ngời chói một thứ ánh sáng hết sức kỳ diệu đẩy lùi được sự hung tợn của bọn mày râu. Cái ánh sáng ấy không chỉ ở vẻ xinh đẹp và sự hiền dịu của nàng, mà chính ở lòng chung thủy và sự hi sinh của nàng cho một tình nghĩa cao sâu. Lớp đàn ông ở Nghi đảo thật sự xúc động về nàng, họ chợt thấy rằng người đàn bà tốt và đáng yêu quý vốn có nhan nhản trên mặt đất này. Và họ hiểu người đàn bà, có tồi tệ chăng, phần lớn cũng do chính bọn đàn ông gây ra.

Giác ngộ điều ấy, họ cùng tranh nhau hộ tống nàng Chung Từ Ly trở về đất liền, như tranh nhau bảo tồn một giá trị, và cũng vì thề dân trên Nghi đảo dần dần trốn hết, bởi không còn đủ lý do để tập họp nữa. Từ đó, ở trong đất liền, những anh chàng buồn và những gã tình nhân khổ không còn có chỗ di trú như xưa, đành phải lẩn quẩn trong nhà đề mơ về một chân trời xa lạ. Nơi chân trời ấy, không phải vắng bóng đàn bà, mà có người tình trong mộng chung sống với mình toàn bằng rau cỏ và không khí.

Còn chàng Vương Bái, đang sốt mê man, bị gã Mai Trầm xô xuống giữa vùng nước lụt, thoáng bị ngấm lạnh, tỉnh người. Cái tài chữa trị ngày nay bệnh viện Cơ Đốc vẫn dùng là ngâm các người bị sốt vào trong nước đá có lẽ cũng được xuất phát từ chuyện này chăng? Nhiệt độ đã nhờ nước lụt làm giảm khá mau, chàng Vương cố gắng bơi lội và vớ được một cây cột nhà khá lớn trôi nổi giữa dòng. Ôm chặt vị cứu tinh cột, chàng được sóng nước lấp vào chân núi hoang vu. Ở đấy, Vương Bái gặp nhiều nạn nhân sống sót như chàng, nhưng đều phải chịu đói lạnh vì đi cứu trợ được một số người làm việc từ thiện thuổng hết đem bán.

Nhưng trong những tháng ngày dài đói lạnh, Vương Bái có dịp nghĩ ngợi sâu xa về cuộc đời mình và về cuộc đời đồng loại. Đau khổ vẫn là vị giáo sư tốt, và học trò ngoan Vương Bái tìm được chân lý trong kiếp sống này. Chàng đã đứng lên, mạnh dạn đối diện với những gian lao trước mắt, quần tụ tất cả những nạn nhân lại, không còn mơ tưởng bảng vàng như một lá bùa hộ mệnh, mà đem sức mạnh hợp đoàn vươn lên từ những kêu đòi chính đáng mà xây dựng tương lai.

Và một mùa xuân đã đến với chàng. Ngục tù của gã Mai Trầm đã bị san bằng, Kỳ Lực cũng như chồng nàng Từ Ly và bao kẻ khác đã được giải thoát. Niềm vui đoàn tụ sau những đắng cay, lại càng thắm thiết, mặn nồng.

Tất nhiên Mai Trầm đã không còn nữa, dù gã vẫn còn tiếp tục được sống trong nỗi buồn phiền. Bởi lẽ gã tượng trưng cho bóng tối, mà bóng tối phải thuộc về dĩ vãng.

VŨ HẠNH

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Trùng Dương

Post by Sơn râu 18 May 2024

TIỂU SỬ

Tên thật Nguyễn Thị Thái, sinh ngày 15.4.1944 tại Sơn Tây, Bắc Việt. Di cư nào Nam năm 1954 và sống ở Saigon. Trình độ học vấn: Đại học. Khởi sự nhập tịch làng văn từ năm 1965 qua sự giới thiệu của nhà văn Võ Phiến với tạp chí Bách Khoa. Sau đó cộng tác thêm với các báo Văn, Vấn Đề, Đời, Diễn Đàn…

Ngoài lãnh vực văn chương còn sinh hoạt trong các ngành phát thanh, truyền hình, báo chí, điện ảnh… Tác phẩm đầu tay: Vừa Đi Vừa Ngước Nhìn, một tập truyện; và từ đó tới nay cũng chỉ mới cho xuất bản một tập truyện vì tự nghĩ chưa đủ “chín mùi” để viết truyện dài…

QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN

Tuy nhiên, vẫn quan niệm rằng truyện ngắn là một thể tài cô đọng, khó thực hiện và đòi hỏi người viết một sự duyên dáng trong lối kể chuyện — tựa như công việc của một họa sĩ hí họa tài ba.

Về Truyện Ngắn “CHUNG CƯ”

Truyện ngắn “Chung Cư” dành cho nhà xuất bản được sáng tác trong một hoàn cảnh khá độc đáo. Sáng hôm sau là thời hạn phải trao bài, tối hôm đó, cơm nước xong, 8 giờ tôi ngồi vào bàn viết với ý định kể một câu chuyện tình. Nhưng không khi nơi tôi ở dạo ấy (1970) — chung cư Nguyễn Thiện Thuật — vào giờ đó lại là lúc mà các tiếng động có cường độ mạnh nhất, và rồi trong lúc vật lộn tranh đấu cho tâm hồn mình một yên tĩnh vừa đủ để khai thác đề tài dự định, tôi bị lôi cuốn vào việc ghi lại sinh hoạt của chung cư với tất cả sự phản kháng dành cho nếp sinh hoạt không thể phù hợp với tâm hồn người Việt Nam nói riêng và tám hồn con người nói chung giữa một thời đại máy móc. Và viết xong truyện đó, tôi thấy sảng khoái và nuôi ý định rời chung cư từ đó…

43. Chung Cư

Đến chiều vụ dọn nhà kể như xong. Trong khi Hạo đang lo đóng đinh lên vách để treo vài bức tranh ở nhà ngoài, Nhiên loay hoay thu xếp những vật dụng gồm nồi niêu, soong chảo, bát đũa, v.v. vào hai dẫy tủ đóng sát vào tường cách mặt đất gần hai thước, theo hình thước thợ, trong bếp. Người thiếu phụ cảm thấy hân hoan, sung sướng đến độ, có lúc, nàng đứng ngẩn ra giữa những thùng sữa bằng giấy bỏ ngổn ngang trên sàn nhà, trong đựng các đồ bếp núc chưa được xếp ra, tự hỏi không biết nên sắp xếp ra làm sao, với một tâm trạng y hệt như của một đứa trẻ khi được dọn đến nhà mới. Nhưng ở một đứa trẻ, nó chỉ cảm thấy dọn nhà là một thay đổi thú vị, hơi pha tính chất phiêu lưu và hoàn toàn vô trách nhiệm. Còn ở Nhiên, việc dọn nhà lần này là cả một sự quan trọng, một hạnh phúc lớn lao và quý giá mà lần đầu tiên, từ ngày lấy Hạo, nàng có được. Bởi vì, đây là lần đầu tiên vợ chồng nàng được làm sở hữu chủ căn nhà này, một căn nhà vuông vức, xinh xắn, nằm ở lầu hai tại một trong khoang mười tòa nhà thuộc chung cư N.T.T. Bảy năm làm vợ Hạo, trên mười lần dọn nhà, đến cái độ nhiều lúc muốn sắm thêm ít đồ đạc cần dùng, Nhiên cũng không dám, vì luôn luôn sống trong tâm trạng phải dọn nhà khiến nàng e ngại. Với Hạo, việc đó đã trở thành quen thuộc, vả lại, trước khi lấy Nhiên, anh đã quen nếp sống lưu lạc giang hồ, đồ đạc sang lắm là một cái sắc tay trong đựng dăm ba bộ quần áo và mấy cuốn sách gối đầu giường (theo cả hai nghĩa), mà tệ lắm là… trần có bộ quần áo đeo trên người với đôi dép lẹp kẹp; hôm nào đồ bỏ giặt, rủi có người tới rủ đi chơi, là y như rằng anh phải cái ốm hoặc bận. Thành ra, việc phải dọn nhà luôn luôn không hề làm Hạo bận tâm. Nhưng với Nhiên không thể được! Nàng là một người đàn bà, có khuynh hướng vì một cuộc sống ổn định, giấc mộng muôn đời của đa số đàn bà. Dù chẳng bao giờ tỏ ra phiền trách chồng về nỗi cửa nhà, nhưng Nhiên đã có những lúc không che giấu được sự chán nản, mệt mỏi. Họ lênh đênh khắp Saigon hầu như khu vực nào của Saigon họ cũng đã đặt chân tới ở qua ít tháng, ít hôm hoặc ít giờ. Nếu có ai nghe họ kể chắc không tin được, nhưng quả thật đã có lần bấn quá chưa thuê kịp nhà, họ đã phải trú chân hết hai đêm tại một khách sạn rẻ tiền gần trung tâm thành phố. Đó là lần đầu tiên Nhiên ở tại một khách sạn. Nàng sợ cái không khí sô bồ và nhơ nhớp ở đó, đến độ không dám dời chồng đến nửa bước, sợ nhất là khi phải ở trong phòng một mình, tưởng như lúc nào cũng có thể có người giả vờ vào lộn phòng với một ẩn ý nào đó… Mà nào phải họ khó khăn trong vấn đề nhà ở gì cho cam. Nhiên cho rằng có lẽ tại số vợ chồng nàng nó lận đận, biết sao. Lại được cái anh chồng quá dễ dãi, gì cũng xong. Thuê nhà đấy, nhưng hễ chủ nhà vừa ngỏ ý lấy lại nhà là Hạo trả liền, để rồi vợ chồng lại khăn gói quả mướp ra đi. Hạo thường an ủi vợ “Thôi cứ sống tạm ở thành phố này, chịu lận đận đôi ba năm, khi nào yên lành vợ chồng con cái mình về miền quê, hay lên cao nguyên kiếm lấy mảnh đất trồng rau cải, dựng một mái lều, anh sẽ mở một lớp học nhận dăm ba đứa học trò kiểu Cao Bá Quát xưa, sống cũng sướng chán”. Hôm nào vui miệng, Nhiên góp chuyện, đùa chồng: “Nhưng nhất định là anh không bất đắc chỉ như Cao Bá Quát đấy chứ?”

Cho đến một dạo khi những gia đình nạn nhân cháy nhà sau vụ Tết Mậu Thản rục rịch rút thăm lãnh nhà bồi thường trong các chung cư do chính phủ xây cất, mở đầu kỷ nguyên “nhà chung cư” tại nước Việt Nam Cộng Hòa, có nhiều gia đình không ở, vì một số lý do nào đó, bèn gọi người bán lại. Thoạt đầu giá cả tương đổi rẻ: từ năm, sáu trăm ngàn đến hai, ba trăm ngàn, tùy theo nhà ở dưới đất hay lầu một, lầu hai, lầu ba. Dân Việt Nam dễ mắc bệnh phong thấp, hoặc… sớm bị mỗi lưng, chồn gối, nên có khuynh hướng không ưa nhà ở trên các lầu cao. Do đó, các căn ở dưới đất thường đắt hơn cả, và càng lên cao, giá càng rẻ.

Hạo có một người bạn thân hồi trước Tết Mậu Thân, dạo khu B.C., đường N.T.T. còn ở trong tình trạng mới mở mang, anh ta có chiếm được một mảnh đất trên một bãi rác, bèn dựng một túp lều, dựa nhờ vào vách một căn nhà gần đó, bán cà-phê, nước ngọt làm vì, theo kế hoạch chiếm nhà chiếm đất theo vết dầu loang, cho đến khi một ngôi nhà gỗ hai tầng được chính tay anh ta chớp nhoáng dựng lên, bất chấp cả các điều kiện nhà cửa của Sở Vệ Sinh Đô Thành. “Ngôi nhà” hẹp vanh vanh, chiều dài sáu thước, chiều ngang vỏn vẹn có… hai thước. Nhưng chiến thắng cuối cùng và đáng kể nhất của anh, là treo được một cái bảng số nhà và lấy được một cái sổ gia đình tại khu đó. Kịp khi vụ Tết Mậu Thân xảy ra, cả khu này bị khói lửa liếm sạch, trong đó có “ngôi nhà” kỳ dị của anh ta. Rồi khi khu đó được tái thiết xong với những tòa nhà chung cư rất khang trang, mát mắt đứng sừng sững vững vàng đầy vẻ mời gọi, anh ta, lúc đó đã phiêu bạt nơi khác làm ăn có chiều phát đạt, chợt nhận ra mình còn giữ được tấm sổ gia đình độ nào, bèn vác nó về và rút thăm lãnh được một căn, trong chung cư, nhưng anh khóa cửa bỏ đó, không ở.

Tinh cờ gặp Hạo, người bạn thân của thuở hàn vi lưu lạc giang hồ, và nghe Hạo cho biết về tình cảnh của mình, anh ta bèn cho Hạo mua lại căn nhà chung cư của mình, với điều kiện trả góp, đến khi nào hết thì thôi, với giá ba trăm ngàn.

Và thế là Hạo đương nhiên trở thành chủ nhân ông của một căn nhà trong chung cư. Khỏi phải nói Nhiên sung sướng đến mức nào, bởi vì đối với nàng, như thế có nghĩa là từ đây chấm dứt kiếp Do Thái lang thang, như thế có nghĩa là từ đây Nhiên có thể sắm sửa, bày biện tổ ấm của gia đình nàng thế nào, tùy thích, như thế có nghĩa là từ đây, nàng bắt đầu thấy được cái mộng ước muôn đời đàn bà của mình trở thành thực tế, không còn là một chuyện viễn vông nữa. Nếu dân Do Thái coi Palestine là Đất Hứa, là Thánh Địa của họ, thì căn nhà chung cư cũng là một thứ “Đất Hứa” của Nhiên vậy. Tuy nhiên, để làm vui lòng chồng, Nhiên đã nói: “Dù vậy, khi nào yên lành, em vẫn theo anh lên cao nguyên hay về miền quê, để cùng anh thực hiện giấc mộng của một Cao Bá Quát… không bất đắc chí. Căn nhà này, sẽ để cho con cái mình chúng ở, đi học, anh nhé”. Hạo chỉ cười. Dẫu sao, đây cũng là một dịp dừng chân nghỉ ngơi cần thiết. Hạo nghĩ đến việc cầm bút viết lại, một việc mà anh đã tạm xếp lại một chỗ, vì mắc kế sinh nhai và… dọn nhà liên miên.

– Em nghĩ gì mà đứng thần người ra thế?

Nhiên giật mình quay lại. Nàng chợt bẽn lẽn khi thấy chồng đứng ở hành lang dẫn xuống nhà bếp. Nàng có cảm tưởng chồng đã đọc được những ý nghĩ và cảm xúc của mình. Nàng nói lảng:

– Em… chắc phải cho bớt bát đĩa đi, anh à…

Nàng thấy ngay sự lố bịch của mình. Cứ làm như mình nhiều bát đĩa lắm không bằng, dù sở thích của mình là sưu tầm bát đĩa, đồ sứ, v.v. Lẽ ra mình phải nói: Em phải sắm thêm ít bát đĩa nữa để bày cho sướng, cho đã, mới phải.

– Các con chạy đi đâu rồi, anh?

– Chúng nó đang bận khuấy phá các ngõ ngách, xó xỉnh của “con tàu” này.

– Con tàu nào, anh?

– Đó chỉ là một cách ví von. Em không thấy mỗi tòa nhà chung cư với những hành lang chạy dài bao quanh nó, giống như một con tàu chở hành khách đấy sao…

Vặn nước rửa tay, Hạo bảo:

– Anh đói rồi. Mình đi ăn tiệm bữa nay chăng?

Nhiên dẫy nảy:

– Sao anh hoang thế? Em đã mua sẵn thức ăn từ sáng. Để em làm cơm, mình ăn mừng nhà mới luôn, chẳng hơn à?

Hạo vừa lau tay vào chiếc khăn bông, vừa nói:

– Em muốn thế, cũng được… Làm lẹ lẹ lên, anh đói quá rồi đấy.

Nhiên khẽ “dạ” một tiếng, rồi thu xếp đồ đạc và lôi chiếc bếp cồn ra.

Có tiếng bát đĩa chạm vào nhau từ các căn khác vọng lại và tiếng trẻ con khóc, tiếng người nói nghe như sát bên tai, bởi cứ tám căn một chung nhau một khoảng không gian lộ thiên cho có không khí, từng cặp căn một đối điện nhau, không vách ngăn, người từ nhà này có thể nhìn sang nhà kia, nhìn lên nhà trên, nhìn xuống nhà dưới một cách… vui vẻ, xum vầy.

Nhiên cảm thấy ấm cúng, thân mật ngay được với khung cảnh mới lạ này.

Một giờ sau, hai vợ chồng Hạo và hai đứa con trai, một lên sáu và một lên năm tuổi, cùng nhau quây quần bên mâm cơm đặt trên chiếc bàn ăn trong bếp. Ăn trong bếp tuy hơi hẹp, song gọn và tiện hơn. Thằng Tuấn Anh khoe đã cùng với thằng Tuấn Em đi lục lạo khắp cái tầng lầu trong “con tàu” này, lại sang cả “tàu” khác nữa làm Nhiên trợn mắt kêu lên:

– Coi chừng lạc đó, Con!

Tuấn Anh lên mặt thành thạo:

– Lạc sao được, mẹ, “tầu” nào cũng giống “tầu” nào hà. Các “ca-bin” đều y hệt nhau hà, chỉ khác ở chi có “ca-bin” có ti-vi, máy lạnh đủ hết, có “ca-bin” không…

Nhiên mắng yêu con trong khi Hạo nhìn con vẻ trầm ngâm, thú vị:

– Sư mày thằng Tuấn Anh nhé. Lanh lắm chỉ tổ choắt người, không khá được!

Hạo quay sang vợ:

– Khiếp! Em mắng con cái giọng gì nghe mà.. ghê quá vậy?

Nhiên cười xòa, lảng sang chuyên khác:

– Mình ở đây, thật tiện, anh nhỉ? Mưa gió khó lo nhà giột. Cống rãnh khỏi lo nghẹt… Chả bù dạo trước! Em nghiệm lại thấy là chưa bao giờ mình được ở nhà không bị mưa giột, hay cầu cống tắc, chưa kể nhà méo xẹo, thiếu đầu hụt đuôi. Em nhớ hồi mình ở cái nhà dưới Tân Định. Nghĩ lại vẫn còn ớn! Nhà gì mà thắt đuôi chuột dễ nể: lại thêm ngay giữa phòng khách mọc lên một cây dừa thân to như thân cổ thụ, trái dừa già khô lâu lâu lại rơi lộp bộp xuống mái ngói. Hôm nào mưa to gió lớn, thân cây vặn tới vặn lui làm sàn nhà muốn tróc vậy đó. Chưa kể chú tắc kè cứ đêm đêm vặn mình kêu “hết tiền! hết tiền!”…

Hạo cười, vừa ăn vừa ngó vợ. Nhiên là một người vợ rất dịu hiền và ngoan ngoãn. Chỉ phải tội nhiều lúc nàng nói hơi nhiều, như một đứa trẻ học nói, bạ chuyện gì nói chuyên ấy, líu la líu lô. Hạo cảm thấy vui lây với niềm vui của vợ.

Cơm nước xong, Tuấn Anh lại kẻo Tuấn Em đi chơi. Hạo rủ vợ đem ghế ra ngồi ngoài hành lang trước cửa. Anh bàn với vợ mua lấy vài loại cây leo cho leo ở phía trước để nhìn cho mát mắt. Anh cũng nói cho vợ nghe ý định viết lại của mình. Hai vợ chồng nói lan man qua chuyện ở chung cư, về sự thiệt thòi của những gia đình ở tầng cao nhất và tầng thấp nhất. Trời mưa, nhà dột, thì những gia đình trên cùng lãnh đủ, cống cầu có nghẹt hay đường chung cư có lụt lội, các gia đình tầng đất hứng. Mình ở tầng này, vậy là trung bình, anh nhỉ. Thế mỗi ngày hai lần giúp anh đem xe lên xuống vị chi là bốn lần cầu thang, em không ngại à? Như thế cũng như thể thao, càng khỏe, mà anh. À, tiền nước điện ở đây, mình trả ra sao há? Điện thì trả theo công tơ; còn nước thì họ tính theo công tơ chung, rồi chia đều ra từng căn, trả giá đồng hạng. Vậy thì nhà nào xài ít tha hồ mà chịu thiệt, anh nhỉ. Bà bên cạnh bảo em là có người lãnh đổ rác, mỗi căn chịu ít tiền mỗi tháng. Cái nhà bà ở căn 119 quét cầu thang lô này đó. Mỗi tháng họ xin hai chục. Vậy hả?… Họ tổ chức vậy được đấy chứ, anh nhỉ? Sao? Anh đang nghĩ gì vậy? Không… à…, anh nghĩ đến một cuốn truyện có bối cảnh là một chung cư…Này anh, em nghĩ nếu tụi nó có pháo kích lại, coi mòi mấy anh ở tầng trên cùng lãnh quá, anh há? Chỉ nói dại, cái nhà cô này. Bộ cô cho chúng nó chỉ pháo kích trên đầu mình chứ còn trước mặt sau lưng thì không, đấy chắc? Hôm nào rảnh, anh với em vô đường Nguyễn Trãi — phải đường Nguyễn Trãi không nhỉ? — tìm đến cái tiệm bán cây đó, lựa vài loại cây leo. Anh khoái trồng mướp. Lá mướp dẹp, trái mướp dài xanh buông thòng xuống dậu, trông thật đã con mắt — Thôi anh ơi, trồng mướp tụi nhỏ đi qua, chúng phá mất. Trồng thứ bông giấy hay bông kèn, tiện lại dễ mọc, không hay bị chết, bị khô. Nhưng việc đầu tiên là hẵng làm cái mái nhà che chỗ hành lang dẫn xuống nhà bếp bên cạnh nhà tắm đã, không có mưa xuống hắt chết — Em chỉ nghĩ đến cái nhà bếp của em thôi hà — Chứ sao. Cũng như anh lo giàn cây trước nhà của anh đó. Anh thấy không, trẻ con chơi ở đây cũng sạch sẽ hơn. Cả một lô những hành lang bọc quanh tòa nhà suốt bốn tầng lầu tha hò cho các cậu chạy nhé, khỏi lo xe cộ, rác rưởi, bụi bặm…


II


Cứ năm phút một, khi Hạo vừa gờ gờ ngủ, lại có tiếng trẻ con vừa chạy vừa la rầm rập qua trước cửa. Hạo lại lầm bầm trở mình. Cuối cùng, thấy nằm phía ngoài không ồn, Hạo ôm gối vào phía trong, sát lối bành lanh dẫn vào nhà bếp. Anh vừa đặt mình nằm xuống giường bỗng khám phá dường như căn trên đầu căn anh ở đang có một cuộc họp mặt gia đình trong bếp. Mọi người tranh nhau nói, cười oang oang. Thêm vào đó, là tiếng rửa chén bát, tiếng trẻ khóc, tiếng máy phát thanh. Đã hơn một giờ trưa rồi. Hạo cần nghỉ trưa để buổi chiều có thể làm việc. Nhưng Hạo không tài nào chớp mắt được lấy một phút.

Bên giường bên, Nhiên đang đọc báo. Thấy chồng thở dài, trằn trọc mãi không ngủ, nàng đưa mắt nhìn anh vẻ ái ngại, song không dám nói gì.

Bọn trẻ lại chạy qua trước cửa. Dường như có tiếng la của cả hai thằng Tuấn. Hạo bỗng chồm dậy, nhào ra cửa gọi như hét:

– Tuấn Anh! Tuấn Em! Về bảo!

Hai thằng bé đang hùng hục chạy, nghe bố gọi, bèn đứng khựng lại, ngó về phía bó nó, dò xét, chờ đợi. Hạo toan la con, bỗng nhận ra gốc cây mướp của anh đã bị đứa nào vặt khỏi chậu kiễng từ hồi nào, cái cây vừa mới nho nhoe leo được hàng lưới thưa đan bằng dây thép che hết gần nửa phần trên khoang lan can trước nhà.

– Đứa nào… đứa nào vặt cây mướp của ông!? Đứa nào’?

Hạo giận đến run cả người, run cả giọng. Tuấn Anh và Tuấn Em ngờ bố gọi về về vụ cây mướp, chúng cùng lên tiếng:

– Không phải con!

– Không phải con, bố. Con… không biết đứa nào. Chắc bọn thằng Vạn bên xóm Đền vẫn qua đây chơi!

Hai thằng bé, mỗi đứa đến đứng bên bố, tay chống nạnh, ngó cây mướp, vô tình không dè bị Hạo mỗi tay véo tai một đứa lôi vào trong nhà. Chúng kêu oai oái:

– Bố ơi, đâu phải con vặt!

– Oan con mà, bố ơi! Hu hu… con không biết gì hết!

Nhiên buông tờ báo xuống giường, ngồi dậy:

– Cái gì mà ba bố con làm ồn quá vậy? Buổi trưa…

Hạo quay lại vặc với vợ:

– Buổi trưa! Buổi trưa cái con khỉ! Sao không bảo bọn trẻ thôi chạy, mấy nhà hàng xóm thôi nói, thôi nghe máy hát đi, có được không?

Nhiên can chồng:

— Thôi mà, anh. Muốn bảo con nó về nhà, thì lựa lời chứ. Sao anh lại… giận cá chém thớt thế.

Được thể, thằng Tuấn Em ngoác miệng ra gào, bên thằng Tuấn Anh chỉ dám mếu máo là cùng. Nhiên dẫn hai con ra nhà bếp.

Còn lại mình Hạo, anh chán nản buông mình xuống ghế sa-lông, đốt một điếu thuốc để dằn cơn giận. Bây giờ thì Hạo thấy tỉnh hẳn ngủ. Một lúc sau cơn giận tan Hạo cảm thấy buồn buồn. Từ ít lâu nay, Hạo dễ mất bình tĩnh, hay nóng giận, không biết vì sao. Trước kia anh nổi tiếng là một người đơn giản, trầm tĩnh. Cái gì đã thay đổi mình đến thế nhỉ, Hạo tự hỏi. Có lúc Hạo nghĩ hay vì đã lâu anh không có dịp đi đây đi đó để thay đổi không khí tù túng của thành phố? Và vì con người ưa cuộc sống lưu lạc giang hồ của anh không thích nghi với một ổn định? Làm gì ra có được cái lý do lãng mạ đến thế! Đôi khi Hạo cảm thấy sống bên cạnh vợ con, nhất là Nhiên, mà anh thấy cô đơn hơn thuở hai vợ chồng còn lận đận? Chẳng lẽ anh ghen với vẻ an bình của vợ, với sự thích nghi khá nhiệt thành và say mê của nàng về cuộc sống ở chung cư, với sự am hiểu tường tận đầy thích thú của nàng về mỗi cá nhân riêng tư ở chốn này

Hay đúng hơn, anh tức vì Nhiên dường như đang bị lôi đi xa khỏi vùng ảnh hưởng của anh, để gia nhập vào cuộc sống ở đây, cuộc sống mà anh chẳng thể hòa mình? Ngày xưa, vì luôn luôn phải dọn nhà, Nhiên chẳng mấy quan tâm đến hàng xóm láng giềng. Ở đây khác hẳn. Cái bếp trong một căn nhà chung cư, thay vì là chỗ ẩn sâu kín nhất trong nhà lại là nơi để lọt ra ngoài những chuyện riêng tư của mỗi gia đình nhiều nhất.

Hạo dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn, đứng dậy sửa soạn đi làm, như một người bị xua đuổi ra khỏi một nơi đáng lẽ phải là chốn yên ổn và ấm cúng nhất.

Sau mấy tiếng làm việc hùng hục, Hạo thấy lòng nguôi nguôi. Anh ân hận đã để mất bình tĩnh hồi trưa, đã nghĩ không tốt về vợ. Anh toan về nhà, sực nghĩ ra hôm nay thứ sáu có cải lương truyền hình, nên ngần ngại. Anh nghĩ bây giờ có về nhà, cũng chẳng được cùng vợ con ngồi trò chuyện vui vẻ trong hòa khí nào. Anh không chịu nỗi cái cảnh đã chẳng làm gì được, dù ngồi đọc một cuốn sách, dù muốn nằm nghĩ nghe nhạc êm dịu, bởi vì Nhiên sẽ bị màn ảnh truyền hình lôi cuốn, bởi vì căn nhà sẽ tràn ngập những âm thanh từ tứ phía đổ lại. Đến cái thèm khát được rúc vào xó bếp cung là điều không được thỏa mãn tại chung cư. Cuộc sống đang bị loạn xà ngầu… Từ ngày về ở trong chung cư, Hạo chưa được hưởng lấy một buổi sáng ngủ muộn và thức giấc trong một sự êm lắng trọn vẹn, thanh thoát, trong sáng…

Khi Hạo về đến khu chung cư, đồng hồ đã chỉ mười một giờ ba mươi. Tuồng cải lương đã dứt. Mọi nhà còn chong đèn mở cửa ra vào hoặc cửa sổ, cho thấy mùng chiếu dọc ngang bên trong, có căn, cả gia đình lăn ra ngủ không trên nền nhà đá hoa lau sạch và đồ đạc duy nhất là một cái tủ đựng quần áo dựng ở góc nhà, với ba cái ghế dựng sát mé tường. Hạo tránh nhìn vào các nhà còn để đèn. Nhưng bước chân của Hạo, tuy nhỏ, cũng đủ khơi dậy sự chú ý của những khuôn mặt hoặc đang cúi trên sách báo, hoặc đang khâu vá… Họ ném cho Hạo những cái nhìn ơ thờ hơi mệt mỏi sau một ngày tranh đấu ngấm ngầm với đủ loại tiếng động ồn ào và cuộc chạy đua vô tận. Có lúc, Hạo thầm ví cuộc sống ở chung cư như một đứa trẻ: ban ngày thật hoạt động, ban đêm thật yên tĩnh êm đềm. Hạo hiểu rằng mình đã tỏ ra quá khắt khe với nó, đứa trẻ ấy.

Hạo dùng chìa khóa riêng mở cửa. Bọn trẻ đã ngủ cả. Chỉ còn mình Nhiên. Nàng đang ngồi giặt đồ. Tiếng giũ và sả nước khua động cả bốn tầng lầu. Ở đây, một căn có người đi vào nhà cầu, là cả tám căn liên hệ tới khoảng lộ thiên chung đều biết do tiếng nước giật cầu. Thường Nhiên giặt đồ sau khi rửa chén bát buổi tối xong. Hôm nay nàng giặt trễ. Tối thứ sáu nào nàng cũng giặt đồ trễ, trừ phi tuồng cải lương trên ti-vi dở quá! Hạo nghĩ có lẽ mình đã bất công với vợ. Cả ngày ở nhà lo việc chợ búa, bếp núc giặt giũ, nàng có gì để giải trí đâu, ngoài cái ti-vi. Trước kia, Nhiên cũng thích đọc sách. Nhưng Hạo không hiểu sao từ ngày về đây ở, Nhiên không mấy đọc nữa. Anh cũng chẳng có dịp hỏi vì sao. Anh ngỡ rằng mình có thể đã biết lý do tại sao. Dầu sao, Nhiên cũng chỉ là một người đàn bà đơn giản, dễ bị tôi cuốn bởi những thú vui dễ dãi.

– Hôm nay, em giặt đồ trễ vậy?

– Thứ sáu mà anh! Thứ sáu nào chả vậy. Cái ti-vi của nhà nó “nhảy” quá, anh à.

– Tại thiếu ăng-ten, chắc vậy.

– Anh dùng cơm chưa? Còn…

– Rồi, em.

Một lát sau, Nhiên xếp đồ giũ rồi vào một cái sô, đậy nắp lại, để mai sẽ phơi. Nàng tắm qua loa, thay bộ đồ mát bằng hàng nội hóa, rồi tắt đèn lên nhà nằn cạnh chồng lúc đó đang nằm hút thuốc. Hạo dang tay ra cho vợ gối lên tay mình. Họ nằm im một lát. Hạo cảm thấy tâm hồn dịu hẳn đi. Hạo thường làm việc khuya, khi vào giường nằm Nhiên đã ngủ rồi. Rất ít khi họ được hưởng cái thú cùng thức nằm bên nhau như hôm nay, Hạo có cảm tưởng dù sống bên nhau, mà hai vợ chồng có nhiều lúc như lạc mất nhau.

Anh dụi thuốc lá, quay sang vòng tay ôm lấy vợ siết vào người mình. Anh chỉ muốn nằm yên ôm vợ trong vòng tay như vậy. Nhưng người đàn bà lại nghĩ khác. Đôi khi cái ý thức bổn phận ở nàng mãnh liệt một cách thái quá.

Hạo biết vợ chỉ đợi làm xong bổn phận là sẽ lăn ra ngủ.

Hạo đốt một điếu thuốc khác khi nghe hơi thở đều đều, nhẹ nhàng đầy vẻ yên bình của người vợ đang nằm quay lưng lại phía mình, chiếc gối ôm trong vòng tay, giữa cặp đùi còn vương hơi ấm của cuộc ái ân vừa qua. Trong im lặng của đêm, Hạo nghe cay đắng trong lòng. Hạo có cảm tưởng sẽ có một ngày nào đó, khi cơ hội cho phép họ dời thành phố, dời khỏi cuộc sống bủa vây, ngột ngạt này, chính Nhiên sẽ từ chối đi theo anh.

Lúc ấy, anh sẽ trở thành một thứ Cao Bá Quát bất đắc chí thật sự, một thứ Cao Bá Quát tân thời, chỉ vì chẳng thể thích nghi được với cuộc sống đang đi dần đến chỗ máy móc của những đua chen, vật lộn, của những tòa nhà chung cư hiện diện như những con tàu bị kẹt trên đất liền, với những căn nhà chung cư không một góc xó an toàn cho một tâm hồn mỏng manh bị đe dọa không ngừng, bởi những âm thanh hỗn độn của ngày và bởi chính cả sự im lặng tĩnh mịch của đêm…

– Cậu nghĩ đến cậu nhiều quá,..

– Anh muốn nói… tôi ích kỷ? Tôi bình thường, như mọi người. Tôi thương vợ, thương con, hòa nhã với mọi người, và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai cần sự giúp đỡ, trong khả năng của tôi. Làm sao có thể gọi như vậy là ích kỷ được?

– Cậu không hiểu ý tôi. Tôi muốn nói, cậu thiếu sự hòa mình với cuộc sống xung quanh, cậu đặt ra một số nguyên tắc cho cuộc sống của cậu, và cậu bo bo giữ lấy chúng, không chịu linh động hóa chúng đi, khi cần. Muốn sống cho thích hợp với cuộc sống, đôi khi cần phải hy sinh một số nguyên tắc, hay ít ra tỏ ra uyển chuyển trong việc áp dụng chúng. Cậu thiếu cái đó.

– Kết quả?

– Cậu cảm thấy cô đơn trong xã hội cậu đang sống, cô đơn ngay giữa những kẻ thân yêu là gia đình cậu.

– Tôi đã tập cười, tập tha thứ. Anh thấy đó: tôi lúc nào cũng cười, và sẵn sàng bỏ qua mọi sự.

– Cậu cười, nhưng thật ra cậu đeo mặt nạ có vẽ cái miệng cười, đấy thôi. Cậu bỏ qua, nhưng sự thực như thế đâu có nghĩa là cậu từ bỏ quan điểm của cậu và chấp nhận những người mà cậu tha thứ, mà cậu đã phẫn nộ vì họ, dần dần, mọi người trở nên xa lạ đối với cậu, và ngược lại, cậu hóa ra xa lạ đối với họ.

Vậy tôi phải làm sao?… tôi phải làm sao bây giờ…

Hạo trở mình nghĩ đến ngày mai và những ngày mai nữa. Anh phải làm sao bây giờ? Nhiên ơi! Em Thiên Nhiên của anh ơi…

TRÙNG DƯƠNG

Con vào đại học

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on September 1st, 2022

Post by Sơn râu 17 May 2024

Hồi tuần trước, hầu hết các trường đại học tại Mỹ đã khai giảng niên học mới. Trong khi cuộc sống của nhiều tân sinh viên và gia đình các em xem như không có nhiều thay đổi đáng kể khi chỉ chuyển từ ngôi trường này sang trường khác trong cùng thành phố, thì đồng thời, đây là một sự thay đổi to lớn với những em rời gia đình để bước hẳn vào cuộc sống nội trú độc lập, dù trong hay ngoài tiểu bang, thậm chí tại các quốc gia khác. Là bậc phụ huynh, chúng ta sẽ làm quen hay điều chỉnh với điều này ra sao?

Đón chào sinh viên mới 

Sau 18 năm nuôi con, như nhiều cha mẹ khác, sau khi đưa con gái vào nội trú cũng làm tôi suy nghĩ vẩn vơ. Một người bạn bảo rằng, rồi sẽ quen với điều này vì anh cũng từng trải qua trước kia. Tất nhiên tôi hoàn toàn hiểu được trạng thái cảm xúc và sự biến chuyển suy nghĩ theo thời gian, nhưng điều đó không có nghĩa là bất cứ cha mẹ nào cũng sẽ làm quen với việc xa con một cách dễ dàng, cho dù có chuẩn bị từ lâu.

Bạn bảo rằng vì chúng ta là cha mẹ Việt hay là người Á Ðông nên lo lắng, nghĩ ngợi quá nhiều. Nếu bạn gia nhập vào nhóm phụ huynh của các sinh viên cùng khóa tại ngôi trường con cái bạn theo học trên mạng xã hội, bạn sẽ thấy rằng không chỉ cha mẹ mà ngay cả các em đang đối diện với một giai đoạn không dễ dàng. Ngắn hay dài sẽ tùy mỗi cá nhân hay gia đình khác nhau nhưng đây là điều đang xảy ra.

Tôi đọc được ít nhất hai chia sẻ của hai bà mẹ Mỹ kể rằng họ đã khóc suốt trên đường về nhà sau khi đưa con vào nội trú. Một người ở ngay trong thành phố và một người từ tiểu bang khác. Một người mẹ khác thì kể rằng con gái bà đã khóc suốt cả tuần vừa qua vì nhớ nhà, nhớ bạn bè. Cô bé này than với mẹ là cô đã “sai lầm” lớn khi chọn đi học xa. Một người mẹ khác thì xót con khi con bà bị cô bé ở chung phòng nói nặng lời vì con gái bà không muốn ra ngoài với cô bạn. Tôi đã đọc được vô số mẩu chuyện nho nhỏ như vậy trong nhóm phụ huynh gần cả ngàn người, có đủ sắc dân.

Chia sẻ của một phụ huynh về nỗi nhớ nhà của con gái 

Những chia sẻ trên là từ những cha mẹ Mỹ và sinh viên Mỹ. Họ bộc bạch, chia sẻ, tìm kiếm các lời khuyên, an ủi hay cố vấn trong nhóm với nhau. Còn văn hóa Á Ðông của chúng ta vốn kín đáo, chỉ ôm trong lòng vô số điều mà nếu thố lộ, biết đâu sẽ có những lời khuyên hợp lý hay hữu dụng để áp dụng.

Con cái chúng ta cũng vậy, mỗi em một tính cách khác nhau. Có em mạnh mẽ, cứng cáp, bước vào cuộc sống độc lập dễ dàng. Và không ít em mới lớn còn nhút nhát hay đã quen với sự bảo bọc của cha mẹ lâu nay giờ sẽ đối diện với cuộc sống mới trong một tập thể từ đủ sự khác biệt sẽ có phần bỡ ngỡ hơn.  Và không phải em nào cũng có thói quen thố lộ, chia sẻ niềm vui hay thử thách riêng tư của mình khi bước vào cuộc sống mới.

Ðó là lý do mà tất cả những suy nghĩ và trạng thái cảm xúc, kể cả lo lắng và lo sợ đều có thể hiểu và cần được thông cảm, chia sẻ với nhau.

Người Mỹ gọi trạng thái tâm lý này là hội chứng “empty nest”, một cảm giác trống vắng của cha mẹ khi con cái như những chú chim nhỏ trưởng thành và rời tổ  bay xa sau bao nhiêu năm chung sống với cha mẹ trong gia đình. Cảm giác trống vắng này càng lớn hơn bội lần nếu đó là đứa con duy nhất hay đứa con cuối cùng rời nhà.

Ngày đầu tiên niên học

Vậy là những người cha mẹ có con cái rời nhà để bắt đầu một đời sống độc lập, chúng ta sẽ làm quen với điều này như thế nào?

Thứ nhất là chúng ta hãy cảm thấy đây là điều đáng vui, đáng hãnh diện vì con cái chúng ta đã trưởng thành. Sau hàng chục năm học hành cấp dưới, được thụ hưởng một nền giáo dục căn bản từ học đường lẫn trong gia dình, đây là lúc các em chứng tỏ mình sẽ tự hòa nhập, thích ứng với môi trường mới như thế nào. Cha mẹ cũng có thể hãnh diện là mình đã đưa các em đi qua chặng đường đầu tiên để bước vào ngưỡng cửa đại học như vậy.

Cha mẹ có thể nhìn lại sự giáo dục, cách dẫn dắt con cái của mình để tin tưởng rằng các em sẽ biết cách xoay trở trong nhiều tình huống khác nhau, biết hành xử với những bạn đồng học, giáo sư có suy nghĩ hoàn toàn khác mình. Ðến lúc này thì chúng ta sẽ thấy rằng, không chỉ điểm học mà một tính cách, một  kỹ năng giao tiếp, ứng xử từng được vun đắp sẽ cần thiết thế nào.

Building nội trú của sinh viên

Thứ nhì là hãy nhắc mình rằng, con cái chúng ta bước vào đại học, bước vào một môi trường học thuật và là nơi huấn luyện các em trở thành những người hữu dụng cho mai sau. Các em không đi ra chiến trường, các em không đến nơi nguy hiểm. Chúng ta đang ở trong thời đại thông tin mà sự giao tiếp có cách xa ngàn dặm cũng có thể nghe thấy nhau trong tích tắc qua màn hình điện thoại trên tay bất cứ lúc nào. Tuy nhiên cũng đừng quá lạm dụng điều này, hãy để các em tự nhiên và liên lạc về cha mẹ.

Cuối cùng là chúng ta có thể biết rằng, đây là khoảng thời gian hào hứng, đáng nhớ và tiếp nhận vô số điều mới lạ của con cái mà một khi ra trường, các em sẽ không còn nhiều cơ hội khi đối diện với thực tại cùng áp lực công việc và đời sống. Chúng ta sẽ tiếp tục yêu thương, ủng hộ và đồng hành cùng con cái trong giai đoạn quan trọng này, cho dù có cách xa.

Chia sẻ những điều này cùng các bạn cũng là điều tôi nhắc nhở chính mình. Trong niềm tin rằng, rồi đây con cái chúng ta sẽ có được một nền tảng học vấn vững chắc và được huấn luyện những kỹ năng, những mục đích sống tốt đẹp để trở thành người hữu dụng mai sau.

ĐYT

Câu chuyện gia đình trúng độc đắc

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on September 8th, 2022

Post by Sơn râu 17 May 2024

Sau hơn một tháng kể từ lô độc đắc Mega Millions gần 1.4 tỉ đô la được thông báo có một vé duy nhất trúng thưởng được bán ra tại tiểu bang Illinois, thì vẫn chưa có người hay nhóm nào xuất hiện để nhận giải thưởng. Bất kể ai là người may mắn này, đây là khoảng thời gian vô cùng khó khăn, lẫn lộn giữa vô số cảm xúc mừng vui, lo lắng hay sợ hãi trước số tiền thưởng to lớn bất ngờ này. Câu chuyện thật của một cặp vợ chồng trúng độc đắc 1.5 tỉ đô la tại South Carolina trước đây đã kể lại hành trình trải qua của họ như thế nào.

Xếp hàng mua vé số – nguồn record-journal

Buổi sáng, sau đêm kết quả lô độc đắc được công bố của một ngày tháng 10 năm 2018, một phụ nữ lặng lẽ lái xe đến tiệm KC Mart No. 47 tại Simpsonville, SC để quan sát, nghe ngóng tình hình trong sự hồi hộp và nỗi bất an. Ðó là tiệm tạp hóa mà bà đã mua tấm vé số. Bà đã xem kết quả trên truyền hình cùng các phương tiện truyền thông nhưng vẫn không tin mình là người duy nhất đã trúng lô độc đắc, chính xác là 1.537 tỉ đô la và là giải lớn nhất thế giới này.

Nếu tiệm vẫn im ắng, vẫn hoạt động mua bán bình thường thì có nghĩa bà đã nhầm, mọi chuyện và đời sống vẫn sẽ lại bình thường. Nhưng mọi việc đã diễn ra đúng như vẫn thường diễn ra mỗi khi có cây xăng hay tiệm tạp hóa nào bán được vé độc đắc: vô số phóng viên, máy ảnh, ống kính truyền hình trước tiệm với hàng trăm người tụ tập, bàn tán xôn xao. Có cả trực thăng của hãng truyền hình đang bay lượn trên cao. Như vậy tấm vé số của bà đã dò đến dò lui hàng chục lần đêm trước thật sự là tấm vé đã trúng lô độc đắc. Người phụ nữ ngồi im trong xe, tay chân run rẩy và tim đập mạnh, có cảm giác như mọi người đến để đợi và biết bà là người đã trúng số.

Ðó là lời khai của bà Beth Smith, một cái tên giả khi ra tòa làm chứng chống lại người luật sư đại diện là Jason Kurland đã lấy của bà hơn 80 triệu đô la sau khi trúng lô độc đắc.

Bà Beth kể lại rằng, cảm giác đầu tiên khi tấm vé số của bà trùng khớp với tất cả con số lô độc đắc Mega Millions là sự kinh ngạc, không tin, mừng vui và hồi hộp, sợ hãi. Ở tuổi gần 60 và có chồng là một luật sư, cuộc sống hôn nhân đầm ấm và đầy đủ với con cái đã trưởng thành sau 36 năm chung sống khiến họ như không còn muốn có gì thay đổi hay cần phải có thêm thật nhiều tiền.

Vậy mà tấm vé số trúng độc đắc đến như một định mệnh và đã làm thay đổi, xáo trộn hoàn toàn cuộc sống của cả hai.

Một gia đình trúng vé số tại Columbiaville- nguồn michigan lottery connect

Lẫn lộn giữa niềm vui là sự lo sợ về sự an toàn của vợ chồng cùng con cái bà. Ðiều đầu tiên bà nghĩ đến là phải giữ tuyệt đối bí mật về việc trúng số, cất tấm vé số vào két sắt gia đình. Vợ chồng bà bàn bạc, nghĩ đến việc tìm luật sư, tìm cố vấn tài chính, những CPA thuế vụ, những hãng đầu tư. Ai là những người họ có thể tín cẩn và sẽ giữ bí mật danh tính cho họ? Có vô số điều bất ngờ mà bà chưa bao giờ từng lo nghĩ đến cùng lúc như vậy.

Họ chưa bao giờ biết hay nghe tên luật sư Jason Kurland tại New York cho đến khi thấy anh ta xuất hiện trên truyền hình hướng dẫn về việc trúng vé số. Ở tuổi ngoài 40, Jason từng đại diện cho hai thân chủ trúng giải đến hơn ba trăm triệu đô la trước kia. Nhìn cách Jason tự tin trình bày, dẫn giải, họ tin rằng Jason là một “luật sư vé số” thật sự, biết đại diện và cố vấn cho những người trúng thưởng lớn.

Chồng bà gọi đến Jason qua một điện thoại ma, không cho biết danh tính của người sử dụng. Một cuộc hẹn tại Las Vegas được hai bên thỏa thuận sau cuộc nói chuyện.

Luật sư Jason sẽ đại diện họ để nhận giải thưởng, phân chia cho các tổ chức từ thiện, con cái và thân nhân gia đình mà cả hai muốn cho tiền. Ðiều quan trọng nhất vẫn là không để lộ danh tính của họ, chỉ mỗi luật sư Jason là người đứng ra lo mọi chuyện.

Những cuộc nói chuyện, thảo luận kéo dài hơn 5 tháng. Ðến tháng Ba năm 2019, vợ chồng bà Smith, như đã nói bên trên là tên họ giả của cả hai khi danh tính của họ vẫn còn được giấu kín với công chúng, đã cùng luật sư hẹn gặp cùng phía ban xổ số tiểu bang. Xe an ninh có vũ trang đón ba người tại một địa điểm bí mật hẹn trước và chở về văn phòng Sở xổ số. Cửa rèm che lại, các máy thu hình tắt đi, hai vợ chồng trình ra tấm vé số độc đắc.

Số tiền trước khi đóng thuế họ nhận được một lần là 878 triệu đô la. Luật sư Jason Kurland được trả công là 200 ngàn đô la cho riêng việc sắp xếp này.

Câu chuyện đến đây đã có thể chấm dứt. Nhưng không!

Luật sư Jason Kurland – nguồn law.com

Số tiền được vợ chồng bà hiến tặng một phần cho nhiều tổ chức từ thiện khác nhau. Phần còn lại, luật sư Jason mở 4 tài khoản  khác nhau tại 4 ngân hàng lớn với 300 triệu đô và sẽ giao cho các giám đốc tài chính tại các ngân hàng này đầu tư và quản trị. Vợ chồng bà chỉ muốn những đầu tư hết sức an toàn, tiền lời có thể thấp nhưng không có bất cứ rủi ro nào. Ông bà giữ lại một số tiền khác.

Mọi chuyện như suôn sẻ, dễ dàng. Ngoại trừ tất cả các tài khoản ngân hàng này đều do luật sư Jason đứng tên và có quyền vào tài khoản, xem xét các chứng từ với thù lao là 50 ngàn đô la mỗi tháng. Còn vợ chồng bà thì không.

Jason bắt đầu cố vấn đầu tư vào các quỹ đầu tư và doanh nghiệp khác nhau số tiền còn lại. Ðầu tiên là vào hai quỹ tín dụng chuyên cho các tiểu thương vay, phân lời là 9%. Tiền lời hàng tháng sẽ chia cho 10 thành viên gia đình. Jason tiếp tục giới thiệu đến một hiệu buôn kim cương, trả hai triệu đô tiền lời mỗi sáu tháng cho mỗi 12 triệu cho vay. Jason tiếp tục đề nghị đầu tư vào ngựa đua với mức lời cũng đầy hấp dẫn. Rồi đầu tư vào một hãng nhựa cung cấp cho California. Vào khách sạn…

Nhưng rồi các tiền lời  từ các nguồn đầu tư chia cho các thành viên gia đình bắt đầu thất thường và không cố định số tiền như thỏa thuận. Rồi vợ chồng bà nghe tin hiệu buôn kim cương đang bị điều tra với dấu hiệu lừa đảo. Rồi cuối cùng chủ nhân cùng cả luật sư Jason cũng bị FBI bắt.

Vợ chồng bà hoảng sợ. Không biết những khoản tiền của mình ở đâu và sẽ như thế nào. Vì chỉ mỗi luật sư Jason đứng tên và được xem hồ sơ. Việc chứng minh mình là chủ nhân thật sự của những tài khoản ngân hàng khá nhiêu khê nhưng cuối cùng vợ chồng bà cũng sở hữu các tài khoản này nhờ sự giúp đỡ của Sở xổ số, các giấy tờ liên quan giữa vợ chồng bà cùng luật sư Jason.

Té ra luật sư Jason Kurland cùng các nhân viên của anh ta đã thâm lạm, tiêu xài tiền của thân chủ vào nhiều thứ xa xỉ khác nhau. Tổng cộng ba nạn nhân trúng số đã mất khoảng hơn 100 triệu đô la. Jason bị truy tố tội lừa đảo cùng nhiều tội danh khác.

Còn vợ chồng ông bà Smith, giữa sự sung sướng,  vui mừng là vô số đêm mất ngủ cùng nỗi lo lắng kể từ sau ngày trúng số độc đắc.

nguồn The State

ĐYT – theo The State

Đàn Gà Con Biết Bay

Hoàng Mai Đạt

tản mạn 

Post by Sơn râu 17 May 2024

 (Riêng tặng anh T.N., người đã âm thầm tưởng lệ kẻ viết này trong nhiều năm qua bằng một phong cách thật đáng cảm kích và trân quý.) 

Chúng bay đến mỗi buổi sáng. Chúng mang đến một khoảng khắc hạnh phúc nhất trong ngày, cho tôi. Đều đặn mỗi buổi sáng. Chúng đậu trên các nhánh cây, nhảy nhót chuyền cành lao xao, nói chuyện líu lo, gọi nhau líp chíp, bay trong sân nhà tôi vào một thời điểm đang có những biến đổi sâu đậm, trong tôi. Những thay đổi có lẽ có một không hai trong đời. Khoảng hơn một năm nay tôi có một thú vui mới, tôi nghĩ đó là thú vui của một người già mặc dù còn vài ba năm nữa tôi mới đến tuổi sáu mươi, còn quá sớm để lãnh tiền hưu trí. Thú vui cho chim ăn mỗi buổi sáng. Ban đầu tôi tưởng đó chỉ là một trò chơi mới, thế cho những buổi sáng ngồi quán cà phê tán dóc với mấy anh bạn, những bữa nhậu tưởng chừng không thể nào bỏ được mỗi khi chiều xuống, những đêm cuối tuần đi nghe nhạc, hay tụ tập ở một nơi nào đó với các bạn văn, thi, họa, ca hoặc một loại sĩ nào đó mà người đời thường tán tụng. Thế rồi một ngày nọ, khi quan sát mấy con chim đang mổ ăn những hạt gạo bé tí trắng ngần nằm vương vãi trên nền gạch đỏ như màu đất miền cao nguyên, tôi chợt nhận ra đây không phải là một trò chơi bình thường của một người đã luống tuổi. Nó là một bài học bắt nguồn từ những biến cố trong quá khứ, một bài học dẫn đến những sự việc trong tương lai. Một bài học mà tôi cần ôn lại, mỗi ngày. Chuyện “học” cho chim ăn của tôi thật sự khởi đầu từ vợ tôi. Năm ngoái, mấy bao gạo ở nhà bỗng có mọt, nghe nói vì chính phủ Mỹ cấm nhập cảng gạo được trồng với mấy loại thuốc diệt sâu bọ nào đó, nên gạo dễ xuất hiện những con mọt đen thùi, đầu nhọn như tê giác có sừng, bò lổn nhổn trong bao gạo cất trữ hơi lâu trong nhà. Những con tê giác đen, nhỏ bằng nửa hạt gạo. Nghe nói gạo có mọt là vì vậy, chứ tôi chẳng buồn tìm hiểu thêm chi cho mệt. Có điều chúng tôi phải dùng rổ để sàng gạo mỗi ngày, cho mấy con mọt đen rơi rớt ra ngoài, tránh cho chúng không bị ngâm trong nước vo gạo hay bị đun chín trong nồi điện. Đám mọt rơi xuống đất rồi muốn đi đâu thì đi. Chúng tôi chỉ có thể làm tới mức đó cho số phận của chúng. Nàng nhà tôi siêng sàng gạo, có lúc mang hết bao ra ngồi ngoài sân suốt cả buổi với tay rung qua lắc lại, cho mọt rơi xuống sân gạch. Cùng rơi rớt với đám tê giác li ti là những hạt gạo bể nát. Một buổi trưa kia khi đứng dậy bưng rổ gạo vào nhà, chưa kịp trở lại để quét sân còn lấm chấm với bụi gạo và những hạt bể, vợ tôi thấy mấy con chim sẻ lao xuống tranh nhau ăn gạo nát. Chỉ trong mấy giây, chúng ăn hết sạch gạo. Tội nghiệp, chúng nó đói, nàng kể cho tôi nghe trong bữa cơm chiều hôm ấy.

Không biết vì giọng nói cảm động của vợ, hay vì một điều gì đó tiềm ẩn trong tôi đã khiến tôi phải hành động. Thế là ngay ngày hôm sau tôi vốc một nắm gạo thảy ra ngoài sân, chờ xem đàn chim đến ăn. Chẳng thấy con nào đến ăn vào buổi trưa. Nhưng khi bước ra sân vào buổi chiều, tôi không thấy một hạt gạo nào còn sót trên sân, hết sạch. Như một nhà nghiên cứu thứ thiệt, nhà nghiên cứu… chim, mấy bữa sau tôi ném gạo ra sân gạch vào những giờ giấc khác nhau, cuối cùng mới biết đàn chim luôn bay đến ăn vào sáng sớm lúc mặt trời vừa mới mọc.Từ ngày đó, sáng nào cũng vậy, khi ánh nắng ban mai vừa rọi vào mái hiên, luồn qua những cành lá và làm sáng lên một góc sân, tôi vội vàng nắm một mớ gạo bước ra cửa. Rải xong, vừa bước vào bếp và đóng cửa lại, tôi biết đằng sau lưng đang có đám chim lao xao mổ ăn từng hạt gạo.

Mấy con chim cũng vậy. Một thời gian ngắn trước khi mặt trời tỏa sáng rực rỡ trong khu xóm nhà tôi giữa khu phố Little Saigon này, chúng tụ tập đâu đó trên những tàn cây, dây điện chung quanh nhà, đợi tôi làm động tác thảy gạo xong là chúng chuyền từ các nhánh cây xuống thật gần góc sân, và khi tôi vừa khép cánh cửa bước vào bên trong thì có lẽ chúng cảm thấy an toàn, liền đáp ào xuống nền gạch, bắt đầu một bữa ăn sáng trong yên lặng. Thật sự yên lặng. Tôi ít thấy chúng tranh ăn, cãi nhau chí chóe. Chúng di chuyển theo một hàng ngang, chăm chỉ mổ những hạt gạo, có khi nghiêng mỏ qua một bên để kẹp gạo vào miệng. Ăn no, chúng bay đi mất, để lại những hạt chờ dịp được ăn vào một lúc khác trong ngày.

Hầu hết mấy con chim ghé ăn sáng ở nhà tôi là chim sẻ màu nâu, mắt đen. Thường là gần một chục con, có khi nhiều gấp đôi, cũng có khi chỉ vài con bay xuống. Dạo sau này chúng dạn dĩ lắm. Thay vì đậu ở trên dây điện hay nhánh cây ở xa, chúng bay đến tụ năm tụ ba trên cây hoa bụt vàng cạnh mái hiên, hoặc lướt vào luôn bên dưới mái hiên để đậu trên lưng ghế, núp xen lẫn với lá trong những chậu cây trúc xanh, cây hoa lồng đèn ngược màu hồng lợt, chậu đinh lăng, hay chậu quỳnh, chậu giao. Đôi lần tôi đứng lấp ló cạnh cánh cửa, xem bầy chim làm gì trong lúc chờ tôi rải gạo. Tôi thấy chúng cũng dẩu mỏ nói líu lo, om sòm không thua người ta tán dóc ở mấy quán cà phê vào buổi sáng. Vui như tết. Mới bữa hôm trước có con còn đáp gần chân tôi khi tôi vừa thả những hạt gạo xuống, nhưng rồi nó cũng bay lên cành cây chờ cho tôi vào hẳn trong nhà rồi mới xuống ăn. Một sáng kia, thấy tôi ngồi xem chim ăn từ bên trong cánh cửa, nàng nhà tôi cũng “xà” xuống ngồi bên cạnh, cùng chồng ngắm mấy con chim xinh xinh, be bé đang nhảy lóc chóc mổ gạo. Nàng bỗng buột miệng nói, “Chúng ăn như đàn gà con, nhưng đàn gà này biết bay.”

Thế là trong hơn một phút sau, chúng tôi ngồi yên lặng xem đàn gà biết bay dự bữa điểm tâm, một bữa tiệc vui mắt và vui tai. Phải chi là một nhạc sĩ, tôi sẽ diễn cho bạn nghe tiếng chân chim nhảy thật nhẹ cạnh những hạt gạo, nhẹ nhưng vẫn nghe được, từng bước êm ái bắt đầu một ngày mới. Beethoven từng viết lên những tiếng gõ cửa thình thịch của định mệnh trong bản giao hưởng Fifth Symphony lừng danh khắp thế giới, Chopin với những Concerto đầy cảm xúc cuồng nhiệt của con tim, và Johann Strauss với Dòng Danube Xanh lả lướt đầy sức sống, nhưng chưa nghe có một nhạc sĩ nào, ngay cả thiên tài Mozart, tả lại những tiếng chân chim nhẹ nhàng, loắt choắt, lẹ làng bằng những nốt nhạc. Chắc mấy ông nhạc sĩ nhà mình bận lo chuyện lớn, chuyện thân phận con người, chuyện tình yêu, chiến tranh, nên chả buồn để ý đến mấy chuyện nhỏ xíu, chuyện vặt vãnh, chuyện vớ va vớ vẩn, như ngồi xem chim. Khác với gà, mấy con chim nhảy từng bước, nhảy nhảy, nhảy rồi bay, bay bay. Chim không đi lửng chửng như mấy con gà con màu vàng tơ mà tôi từng nuôi hồi còn bé ở Nha Trang. Nhưng cũng giống như đám gà con thuở xưa, đàn chim màu nâu ngày nay cho tôi được hưởng những giây phút bình yên, hạnh phúc nhất trong ngày. Bạn có bao giờ cho chim ăn, hay cho một ai đó một bữa ăn khi họ đang đói, bạn sẽ hiểu được niềm vui của người cho.

Từ lời nhắc nhở của những bậc tiền bối, tôi hiểu ra chim cũng như bao con thú khác, chúng không có cái may mắn của con người, không thể bước vào chợ hay một quán ăn ở phố Bolsa như tôi đây, để mua một bao gạo, mấy bó rau, thùng mì gói, hay ổ bánh mì mỗi khi đói. Sinh ra làm thú vật thật khổ sở, phải chiến đấu từng giây, từng phút đi tìm miếng ăn để sống còn, hết cả ngày. Ấy vậy mà chúng còn có thể bị túm bắt, bị luộc, bị xào lăn, bị chiên dòn hay thậm chí bị ăn sống để nuôi mạng của một sinh vật khác. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời vừa ló dạng, tôi rải cho chim ăn chỉ một chút gạo, mà rồi được chúng cho lại một món ăn tinh thần, đầy bổ dưỡng để nuôi nấng mầm thương yêu vốn thường bị lấp kín dưới đáy lòng.

Thế nên tôi cảm thấy rất hạnh phúc trong khoảng khắc ấy, khoảng khắc được xem chim nhảy ăn những hạt gạo, được quét đi vài bãi nhỏ trăng trắng do chim để lại cho ông “chủ quán,” trước khi lao vào một cuộc sống đầy bon chen, nhốn nháo, đi làm để nuôi mạng sống của chính mình. Tôi cũng không bao giờ quên, và cũng không muốn quên, rằng mầm tình thương cần được chăm dưỡng ấy trong tôi đã nảy sinh từ một biến cố kinh hoàng, cho tôi, và do chính tôi gây ra chứ không ai khác.Biến cố ấy xảy ra lâu lắm rồi, tôi sẽ kể cho bạn nghe ở đoạn chót, bạn ráng chờ. Còn bây giờ thì xin nói tiếp chuyện… chim, và sự thay đổi sâu đậm trong tôi lúc này.

Mùa hè qua, tôi dành những ngày nghỉ làm để leo lên mái nhà, cố gắng sửa cho căn mobile home của mẹ tôi không bị dột khi mùa mưa tới. Mẹ tôi tuy đã tám-mươi nhưng còn khỏe mạnh, sáng suốt như một người mới trên sáu-mươi. Bà sống trong căn mobile home với em tôi, chăm sóc đứa con bị bệnh cả thân lẫn tâm, đi đứng không bình thường, miệng không còn thốt ra những tiếng nói quen thuộc như ngày xưa, những ngày trước khi bị tai biến mạch não. Hai mẹ con sống với nhau như vậy đã lâu lắm rồi, cuộc sống tuy đầy đủ cũng có lúc cần được chắp vá thêm bằng những mảng tình thương, như căn mobile home bằng tôn đã cũ, quá cũ này. Mỗi khi mưa tới, nước dột nhễu xuống hành lang, rơi vào phòng ngủ, hay chảy thành dòng trong phòng tụng kinh dưới một trận mưa El Nino. Mẹ ngại tốn tiền cho căn nhà đã cũ, cho dù là tiền của con, nên không muốn lợp lại hết mái nhà. Tốn cả mấy ngàn, phí lắm, mỗi năm mưa có mấy lần, thôi khỏi cần, bà nói vậy.

Nhưng mỗi khi qua thăm mẹ vào ngày mưa, thấy mấy chậu hứng nước để chỗ này, chỗ kia, tôi không chịu được, muốn làm gì đó để giúp mẹ. Thế nên mùa hè vừa rồi, cứ mỗi Chủ Nhật được nghỉ làm, tôi lại vác thang đến nhà, leo lên mái và tìm nơi nghi dột để trét dầu hắc, dán những lớp mái mua ở Home Depot, có lúc dùng cả mấy tấm bạt lớn giăng kín một phần mái nhà, chặn xuống bằng gạch, hay bôi keo để dán chặt xuống đề phòng gió Santa Ana. Có làm mái nhà mới biết, không dễ tìm ra chỗ nước chui vào và rơi rớt trong nhà. Leo lên mái suốt mấy cuối tuần, che chắn tới một phần ba mái, vậy mà mỗi khi có một trận mưa thì lại thấy mẹ để chậu ở đâu đó, không nhiều như trước, nhưng vẫn còn chỗ bị dột. Một buổi trưa nắng cháy đen cả da, không chỗ núp bóng trên mái tôn kêu những tiếng ộp ẹp dưới bàn chân dò dẫm, tôi nghỉ tay ngồi xem mấy con chim đậu trên dàn ăng-ten ở đầu bên kia của mái nhà. Ban đầu chỉ dăm ba con, sau có tới gần hai chục con đậu kín dàn. Chúng nói chuyện líu lo, ỏm tỏi, không có vẻ gì sợ tôi, còn có vẻ như muốn xem cái ông này đang làm gì trên mái nhà.

Thấy có mấy con trông quen quen như chim thường ăn sáng ở nhà mình, tôi chu mỏ huýt sáo gợi chuyện… với chúng. Nghe những tiếng líp chíp từ mấy con đang nhìn về hướng mình, tôi có cảm tưởng chúng hiểu tôi đã huýt sáo chào “hello” chúng. Thế là chúng tôi “nói chuyện’ với nhau cả mấy phút. Tôi huýt sáo những tiếng dài ngắn không đều, chim đáp lại bằng những tiếng chíp chíp. Đến khi chim rủ nhau bay đi nơi khác, tôi mới nhận ra mình không biết tên của chúng. Cả đám chim sẻ màu nâu, con nào cũng giống nhau, chẳng đứa nào có một cái tên để gọi, để nhớ, vậy mà chúng vẫn có thể cùng tôi chia sẻ được một khoảng khắc bình yên, thân thiện giữa một buổi trưa nắng cháy. Từ đó tôi chợt nghĩ đến chuyện tên tuổi của chính mình. Có kẻ nói từ lúc sanh ra với cái thân, người ta được đặt cho cái tên, và rồi suốt đời phải khổ vì cái tên được gán cho cái thân ấy. Khổ vì phải bảo vệ cái tên và cái thân, ai đụng tới hai thứ đó là đánh lại liền, uýnh chết bỏ, bằng súng hay bằng cây viết. Nếu không bị ai chạm tới thì lại dành thời giờ để đánh bóng cho cái tên, giữ cho làm sao người ta không quên mình, tô điểm cho cái thân, làm sao cho nó luôn được đẹp đẽ, “trẻ mãi không già.” Gọi là khổ vậy chứ nói là sướng thì cũng không sai. Sướng khi được người ta nhắc đến tên mình, được thấy mặt mình trên Facebook, được người đời trao một phần thưởng hay khắc tên trên một tấm bia đá mà chính nó một ngày kia cũng hao mòn. Sướng khi cái thân được ăn ngon, được ngủ phòng khách sạn, được mặc đẹp.

Tôi trót lỡ là một người viết, lại có một cái tên để gọi, nên rất thấm thía chuyện sướng khổ nói trên. Tôi trót nhận một danh xưng mà người đời gán cho, “nhà văn,” nên luôn lao tâm tìm kiếm sự sáng tạo trong những “tác phẩm” mới nhất. Sau mấy phút trò chuyện “mạnh ai nấy hiểu” với chim trưa hôm ấy, tôi ngồi lặng yên nhìn đến hàng hàng lớp lớp mái nhà từ khu nhà của mẹ tôi đến tận phố Bolsa nằm cách đó không tới một dặm đường chim bay. Chỉ một khoảng không gian đó thôi, bé tí như hạt cát, viên sỏi trên một quả đất rộng mênh mông này, mà đã có tới cả ngàn con người, cả vạn cái tên luôn sống trong sự khổ rồi sướng, sướng rồi khổ, triền miên đến tận chân trời. Giữa nắng trưa khô gắt không một gợn gió và nóng như ở giữa sa mạc, tôi chợt nghĩ đến một cách sống “sáng tạo” nhất mà tôi có thể làm được. Đó là tự xóa dần tên tuổi của mình, ngưng đánh bóng nó, ngưng nhắc đến nó, ngưng hết mọi thứ, để từ từ quay ngược trở về thuở sơ sinh khi vừa mới chào đời, khi chưa có một cái tên để đeo vào người như đeo một cái gông cùm suốt đời. Thế nên từ bữa ấy, tôi tự nhảy ngược ra phía sau, nhảy nhảy, cầm chổi xóa dần những vết chân chim từng để lại trên sa mạc. Tưởng công việc xóa dấu vết ấy không mấy khó, vì tôi chỉ là một người viết hạng thường, tên tuổi không bay xa hơn chốn Bolsa này, vớ cái chổi quét quét vài cái là xóa sạch tên, vậy mà cũng khó nhọc lắm bạn ạ.

Ngưng tụ tập với đám bạn văn chương để dần dần người ta quên mình, cũng dễ thôi. Ngưng lao vào thế giới của chữ nghĩa, ngưng dùng những con chữ như một nhà ảo thuật biểu diễn trên sân khấu để được người đời vỗ tay, nhắc tới tên mình, cũng dễ thôi. Nhưng ngưng viết, dù chỉ viết để cất đi, chẳng bao giờ ngó lại hay gởi cho ai đó đọc, coi bộ khó hơn tôi tưởng. Vì lẽ gì? Một bữa nọ tôi nghiệm ra. Trở lại với mấy con chim đến ăn mỗi buổi sáng, một bữa kia tôi thấy có thêm một cặp bách thanh. Hai con chim này lớn gấp đôi mấy con chim sẻ ăn mót gạo. Hai con bách thanh không ăn gạo, chỉ đậu đâu đó trên hàng rào hay trên một nhánh cây, đợi cho đám sẻ ăn xong rồi mới bay vào mái hiên. Sau mấy lần thấy hai con bách thanh, chúng tôi mới biết chúng đến làm tổ bên dưới mái nhà, trong một góc kín của mái hiên. Rồi một thời gian sau vợ chồng tôi nghe có tiếng chim con kêu líp chíp liên tục, từ sáng đến xế trưa, xuất phát từ chiếc tổ được kết bằng những cọng cỏ khô và giấy rác.

Chim bách thanh này dạn dĩ lắm, Mỹ người ta gọi là mockingbird hay mockingjay gì ấy. Chỉ một con thôi mà cũng ồn như cái chợ, nói huyên thuyên với những âm thanh có khi nghe chát chúa, có khi nghe lét chét một chuỗi dài, mà bao giờ cũng lớn. Một bữa nọ, tôi ngưng cắt cỏ ở sân sau nhà khi thấy có con bách thanh đang nói lớn tiếng trên dây điện. Tôi huýt sáo gợi chuyện với nó, nó đáp lại bằng một tràng âm thanh nghe như tiếng huýt sáo của tôi. Nghe vui tai, tôi “hội thoại” với nó một hồi lâu. Vui ghê! Chuyện chim cũng có lúc buồn, buồn lắm.

Một bữa nọ vợ chồng không còn nghe chim con kêu chíp chíp đòi ăn từ tổ trên cao. Vợ chồng đoán chim con đã đủ lông đủ cánh, biết tự bay đi để kiếm ăn và có một cuộc sống mới. Hai con bách thanh lớn cũng đã biến mất. Vài bữa sau, nhân tháo gỡ một loa nhỏ từng được gắn trên góc mái hiên gần tổ chim, tôi tò mò nhìn vào tổ, và rồi khám phá một sự thật, đúng hơn là một phần của sự thật. Con chim con đã chết chứ không phải đã trưởng thành và bay đi. Xác của nó mới chớm mọc lông, mỏ ngoắc ra có lẽ chết trong lúc đang gọi mẹ và đói. Tôi mang xác chim chôn ở góc sân sau nhà, nơi tôi thỉnh thoảng vẫn chôn những con vật khác từng được tìm thấy chết ở trong sân, một con bọ hung, một con chuột đất, hay một con cắc kè. Khi còn nuôi cá, tôi cũng chôn cá chết ở đấy. Tôi từng niệm chú vãng sanh cho chúng, và nay cho con chim con mới mất. Tôi có nghe xúc động trong lòng, khi nghĩ rằng có lẽ con chim mẹ bách thanh đã gặp nạn, nên không thể bay về tổ cho con ăn, khiến chim con chết vì đói. Tôi không thật sự biết chuyện gì đã xảy ra cho chim mẹ, hay chim cha, chỉ biết chim con đã chết với miệng hé rộng, rất tội nghiệp. Tôi đã không kể lại chuyện này cho vợ biết, để cho nàng tiếp tục giữ ấn tượng về con chim con đã cất cánh bay xa.

Hôm đó tôi đã xúc động cho cuộc đời ngắn ngủi của chim, đứng suy tư một hồi lâu với chiếc xẻng con còn cầm trong tay, nhưng không khóc, như một lần kia tôi đã khóc khi chôn xác chim. Lần ấy đã lâu lắm rồi, cũng gần bốn-mươi năm chứ không ít, giữa một ngày mùa đông tuyết giá ở miền tây của tiểu bang Pennsylvania. Ba mẹ con chúng tôi đã may mắn, thoát khỏi Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975 trên một chiếc xà lan chật cứng người, được nước Mỹ bao dung này cho tị nạn và định cư tại Pittsburgh. Một nhà thờ đã đón chúng tôi sau những tháng sống bất an trong một gia đình bảo trợ. Họ giúp ba mẹ con được tạm trú trong một ngôi nhà cũ cho thuê, chia sẻ một phần ba ngôi nhà với gia đình chủ nhà và một cặp vợ chồng trẻ.

Ở bên kia đường, đối diện ngôi nhà của chúng tôi là nhà của ông Wes. Ngày đó ông Wes Stitely đã gần sáu-mươi, cỡ tuổi tôi bây giờ. Ông sống với vợ, bà Rita. Họ có ba người con gái đã trưởng thành, hai người đã lập gia đình, một người sống vậy với một con chó cưng. Như có duyên tiền định, tôi “chơi” thân với ông Wes ngay từ ngày mới đến sống ở thị trấn Rillton này. Chiều tối sau giờ học bài, tôi chạy qua chơi với ông. Hai ngày cuối tuần cũng vậy. Thật ra ông Wes là một thợ mộc chuyên nghiệp làm việc cho hãng Westinghouse, tôi lại thích mạy mọ với đinh búa, cưa cắt gỗ cây ở tuổi mới lớn, nên có lẽ vậy mà đôi bên hợp nhau. Ông dạy cho tôi cách cưa đóng, chà láng những chiếc bàn picnic nhỏ xíu, có khoét hai lỗ đủ lớn để đựng hai chai ketchup và mustard. Đi thăm ai ông cũng chở tôi theo trong chiếc Ford truck cũ màu đỏ, mời họ mua những chiếc bàn picnic để cho tôi có tiền xài vặt. Ông biết ba mẹ con chúng tôi chỉ đủ sống với tiền lương từ việc làm của mẹ ở một nhà hàng. Ông có xây một căn nhà gỗ ở cuối sân, nơi chứa gỗ và dụng cụ nghề thợ mộc, và cũng là nơi hai chúng tôi tá túc mỗi đêm, mỗi cuối tuần. Ông thường nói ông lên căn nhà gỗ để “trốn” vợ, trốn bà Rita sau bữa cơm chiều. Ông không có thói quen tụ tập với bạn nhậu hay bạn tán dóc, cũng chẳng bao giờ đi nhà thờ, không hút thuốc, chẳng bia rượu, cũng chẳng đọc sách báo chi hết, chỉ ở nhà với vợ rồi mỗi tối “trốn” lên căn nhà gỗ ấy để làm một việc gì đó. Còn tôi, một đứa trẻ mới đến tị nạn sau một cuộc chiến tàn khốc ở quê hương, cũng muốn “trốn” theo ông ở căn nhà gỗ ấy. Ông kiếm việc cho tôi làm, rồi thầy trò, hay cha con cũng vậy, mạy mọ, nói chuyện trên trời dưới đất mặc dù tiếng Anh của tôi chẳng ra gì cho đến tối khuya, khi tôi cần về nhà với mẹ và em, còn ông về với bà Rita. Thỉnh thoảng bà rời căn bếp ở ngôi nhà lớn, ghé thăm hai “cha con,” gõ cửa để trao một cái bánh ngọt mới làm xong.

Những ngày “thần tiên” giữa tôi với ông Wes kéo dài được hai năm, trước khi mẹ tôi tìm được một việc làm khá hơn ở gần thành phố Pittsburgh và chúng tôi phải dọn đi. Phải nói là thần tiên mà không có dấu ngoặc kép, vì khoảng thời gian đó đã thật sự là như vậy, khi nhìn lại từ mấy chục năm lưu lạc từ ngày rời Rillton. Ông Wes không có con trai, mấy đứa cháu ngoại thì không ai màng gì đến nghề thợ mộc, nên ngày ngày ông sống chỉ có vợ và ngôi nhà gỗ ở cuối sân. Còn tôi, có lẽ vì trong tiềm thức cần có một người đàn ông hướng dẫn sau ngày cha chết trận, tôi có cảm tình với ông ngay từ ngày đầu mới gặp. Đôi bên đã bổ túc những khiếm khuyết trong cuộc sống tinh thần. Có điều tôi không bao giờ nói được cho ông hiểu nỗi buồn của tôi về cái chết của cha tôi, về một người lính đã tử thương trong một cuộc phục kích của Việt Cộng ở đâu đó giữa đồi núi, về một người mẹ tay bồng một đứa con, tay kia nắm tay một đứa bé mới lên năm đứng cạnh một huyệt mộ đang được lấp đất, che dần một chiếc quan tài phủ cờ được chôn ở Nha Trang, và về ký ức duy nhất về cha khi ông còn sống là ngày ông chơi với tôi trong một ngôi nhà lá ở miền cao nguyên đất đỏ Ban Mê Thuột. Thế nên những ngày thần tiên ở Rillton cũng có một lúc không mấy êm đẹp, kinh hoàng nữa là khác, và có liên hệ đến chim. Vào những ngày mùa đông buốt giá trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi thường ngồi trong căn nhà gỗ nhìn ra sân trắng xóa tuyết, trắng xóa từ sân nhà ông Wes đến những ngọn đồi ở chung quanh. Ở tuổi đó ông bắt đầu có tật ngủ gật. Trong khi ông ngủ ngồi trong chiếc ghế cạnh lò sưởi đốt cây khô, tôi nhìn những con chim xà xuống ăn ở một máng cao đặt giữa sân. Ông Wes luôn đổ thóc lúa, hạt dưa cho chim ăn, nuôi những bầy chim hoang suốt mùa đông. Bữa trưa hôm ấy, đang xem những con chim nhiều màu sắc xanh đỏ chăm chỉ mổ ăn những hạt lúa, tôi thấy một con quạ đen từ đâu bay tới. Con chim đen to bằng con gà đã xua đuổi hết bầy chim nhỏ đi nơi khác, có lúc còn mổ vào mắt mấy con nhỏ như muốn giết chúng. Bất bình trước cảnh chim đen giành ăn với mấy con chim be bé, xinh xinh, tôi mở hé cửa sổ để la con quạ. Gió lạnh ùa vào phòng làm tôi phải khép lại cánh cửa, không thể la tiếp để đuổi nó. Thế rồi trong một lúc bực bội khi thấy con quạ tiếp tục la oang oác, uy hiếp mấy con chim nhỏ, tôi vói tay lên máng treo súng trong căn nhà gỗ. Chỉ là một cây súng bắn bi mà ông từng chỉ cho tôi biết cách bơm hơi bằng tay cho đến khi có thể bắn được mấy viên bi. Cầm lấy cây súng, tôi hé mở cánh cửa sổ một lần nữa, nhắm họng súng vào con chim đen. Phát đầu tôi bắn trật, làm nó bay lên cao. Một hồi sau nó lại đáp xuống máng, tiếp tục giành ăn với chim con. Phát thứ hai tôi bắn trúng, làm con quạ rơi xuống nền tuyết trắng xóa.

Trong giây phút cực kỳ phấn khởi như cảm thấy mình vừa làm được một điều có ý nghĩa, bảo vệ được mấy chim con, tôi vội vàng đánh thức ông Wes. Không hiểu tôi nói mô tê gì, ông khoác áo lạnh và cùng tôi lội tuyết đến xem xác quạ. Bộ xác đen tuyền, nổi bật trên tuyết trắng, những vết máu đỏ tươi loang thấm vào tuyết. Tôi thấy ông Wes thoáng giật mình khi thấy xác con quạ. Ông là người vui tính, nói nhiều, nhưng không giờ la mắng, nói xấu ai. Trưa hôm ấy, giữa một ngày lạnh buốt, bầu trời xám không có ánh nắng mặt trời, ông Wes không nói một lời trách mắng về hành động của tôi. Ông im lặng một cách khác thường, xong trở lại căn nhà gỗ và trở ra với hai cây xẻng, trao cho tôi một cây. Ông xúc xác chim với mớ tuyết thấm máu, bảo tôi đi theo đến một góc sân gần bìa rừng. Sau đó chúng tôi xúc tuyết ra khỏi mặt đất, đào một huyệt nhỏ cho con chim. Lúc đẩy xác chim vào huyệt, tôi bỗng nhớ đến giây phút quan tài của cha tôi được người ta đặt xuống hố, một hình ảnh không mờ phai trong suốt mấy chục năm. Cha tôi mất, để lại một góa phụ với hai con thơ, mà một trong hai đứa đã mang theo một nỗi giận tiềm ẩn, một nỗi hận khuôn ngôi, để rồi có lúc nó bộc phát qua một hành động dẫn đến đẫm máu. Nghĩ đến con quạ kia, không biết nó là chim cha hay chim mẹ, nhưng nó đã chết, vĩnh viễn không bao giờ được về với con của nó, tôi bỗng bật khóc và quì xuống cạnh ngôi mộ vừa được lấp. Tôi không nhớ mình đã xúc động, quì khóc trong bao lâu, chỉ nhớ ông Wes đã vỗ nhẹ vai tôi, nhắc tôi trời sắp tối, không khí đang rét lạnh. Sau đó tôi cầm xẻng đi cạnh ông trở về căn nhà gỗ, yên lặng trong cơn sám hối mà đến nay vẫn còn ở trong tôi. Ông Wes và bà Rita nay đã là người thiên cổ. Còn tôi, một kẻ đang tìm niềm vui ở những buổi sáng cho chim ăn.

Chúng bay đến mỗi buổi sáng. Đều đặn mỗi buổi sáng. Một buổi sáng nọ, khi “đàn gà con biết bay” đã cất cánh sau một bữa ăn no nê, tôi chợt thấy một con chim đen đậu ở trên dây điện. Nó kêu mấy tiếng oang oác, xong bay xuống sân nơi đàn chim con đã ăn trước đó. Nó đi quanh quẩn giữa các chậu cây, mổ chỗ này chỗ kia tìm miếng ăn. Vốc một nắm gạo, tôi mở cửa thảy ra cho nó. Ban đầu nó bay trở lên dây điện, sau biết tôi đã vào nhà, nó bay trở xuống mổ gạo ăn. Đợi nó ăn xong và bay đi, tôi bước ra sân như muốn tìm bóng dáng của nó. Con chim đen đã biến đi đâu mất, hoàn toàn không thấy đâu như chưa từng có mặt ở đây chỉ mới mấy phút trước đó. Trên nền trời cao, một bóng chim đang bay xa và tan dần vào ánh sáng ban mai, mờ dần cho đến khi không còn một dấu vết trên nền trời xanh. Ước chi một ngày kia, tôi đây, cùng những tội lỗi của chính tôi, cũng hòa tan vào hư không, được quét sạch, không còn để lại một vết chân chim nào ở cõi thế gian này.

Hoàng Mai Đạt

01.2017

Mần được chi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 4/11/2014 

Post by Sơn râu 17 May 2024

Tựa đề trên, ba chữ nọ bị chia lìa từ câu ca dao nguyên bổn:

Còn ăn còn ngủ còn gân,
không ăn không ngủ có mần được chi.

Nó thiếu dấu chấm hỏi đoạn hậu, hoặc một dấu chấm than? Cảm hoài hay một sự ta thán?

Trong ca dao không thiếu những hình ảnh ngây ngô đến duyên dáng, không thiếu những từ ngữ vụng về tới đáng yêu. Đơn cử:

Chuột kêu chút chít trong rương,
em đi cho khéo đụng giường mẹ hay.

Và:

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Chao ôi, hai chữ rảnh rang sao nó đắt giá tới ngần ấy. Hơn hẳn chữ thong thả, hơn hẳn tiếng thanh cao hoặc cung bậc nhiều nhạc tính du dương khi chim hót. Rảnh rang thường dùng để áp đặt vào hoàn cảnh một kẻ đang quỡn, chẳng có việc mần, ngồi chơi xơi nước, nhàn cư vi bất thiện… Đối cực với nó là lu bu, là đầu bù tóc rối, là cày 2 jobs, với over-time các thứ bở hơi tai.

Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi
xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô.

Hoài công! Nói kiểu mấy ôn mệ thuở xưa: Làm cho lắm tắm cũng ở lổ (trần văn trụi). Có công ăn chuyện mần thì mệt mà rảnh rang đôi khi cũng làm cho oải. Lo toan. Không ăn không ngủ để đi tới chung cuộc: Mô có mần được chi!

Đôi khi mất ngủ, rảnh rang nằm nghĩ ngợi, việc viết lách lung tung xèng của mình cũng chẳng khác kẻ gánh đôi thùng thiết đi xuống một dòng sông đang gặp hạn ngổn ngang cát đá. Phải mà còn đọng một vũng thì sẵn lòng múc ánh trăng vàng đổ hắt đi cho khỏi tiếc công. Nào khác gì đứa tiều phu mông muội đứng dưới rừng lá mù bay. Không nghe tiếng chim khôn hót cô quạnh, và mình rõ là người dại từng nói tiếng cộc cằn khó nghe.

Cô nhân tình bé nhỏ thuở đầu đời luôn phê bình trong những cái email đầy cao hứng mang nội dung trách cứ kẻ u mê xa ngái. Thiếu đường bị cô mắng là đồ phản động. “Cam sành lột vỏ còn chua, thương em còn nhỏ anh cua để dành”. Sai lầm, đánh hỏng một nước cờ, thay vì kéo pháo về phòng ngự lại ùn đẩy con tốt sang sông tạo cơ hội cho kẻ khác đốn ngã cây quế đơn lẻ giữa rừng tà nhiễu loạn. Cam sành thành bưởi thành thanh trà thành ngực khủng. Thành gia thất thành đầu bù tóc rối và điện thư mới hoan hỉ báo tin vừa thành bà nội. Chao ôi thời gian, thoắt cái nó xoá sạch những thơ mộng rồi bày biện ra bao bạc lòng. Bà nội nói, Huế chừ thay đổi dữ lắm, rứa khi mô mới giỏi chân về? Thay vì khoe ảnh đứa cháu cưng, bà nội gửi tấm hình một cô gái tóc thề đang đạp xe đi giữa phố mà trong tay nắm bộn một khoảng tiền. Không quên chú thích bên dưới: Chỉ có ở Huế!

Một sự hãnh diện? Nói tới nỗi yên bình riêng biệt của cố đô? Ở Hà Nội, ở Sài Gòn hả, ánh đao vung lên, xoẹt một đường hàn khí buốt bên tai rồi thì cánh tay nắm tiền đoạn lìa khỏi thân khổ chủ trong một chợp mắt. Tiền mất tật mang trong sát na nằm mộng cũng chẳng ngờ. Đau đớn tới độ nước mắt không thoát chảy ra được. Cứng thây.

Nguyễn Trãi gọi Huế là “phên dậu ở phía Nam”. Lê Lợi thì bảo: “Vùng đất ấy là lòng dạ của ta”. Bà huyện Thanh Quan trải lòng:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
thành cũ lâu đài bóng tịch dương”.

Nguyễn Bính than:

“trời mưa ở Huế sao buồn thế,
cứ kéo dài ra đến mấy ngày”.

Đông Hồ động lòng:

“Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”.

Sư Viên Thành làm mấy câu đậm chất thiền:

“Vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương
chưa đi tới đó hận muôn đường
khi đã tới rồi không gì lạ
vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương”.

Huệ Phổ trong bài Mạt Lị Từ, tuy nói về hoa nhài nhưng liên tưởng ra ảnh hình đất Thần Kinh:

“Vẻ như tuyết điểm đẹp dung nhan
một sợi hoa quanh búi tóc quàng
thức giấc, mùi hương đâu lạnh thoảng
nửa lầu trăng xế, nửa lầu sương”.

Toàn bộ nét cổ kính ấy có còn không? Dĩ nhiên mất. Có những đổi thay làm người ta hân hoan và có những thay đổi làm người ta xót xa trong câm lặng. Trả lời email cho “bà nội”, mình chỉ chép lại bốn câu của Kim Thánh Thán sáng tác khi ông tạm trú một đêm trong miếu hoang:

“Chung hưởng tiệm dĩ tịch
trùng ư Phật diện phi
bán song quan dạ vũ
tứ diện quải tăng y”.

Y như một black mail, “bà nội” thêm bực mình về cái thói ỡm ờ của thằng bồ cũ. Ai hiểu sao thì hiểu là sai lập trường, phải Ngô ra Ngô Sở ra Sở sắn ra sắn khoai ra khoai, qua lâu rồi thời nhá cơm độn. Mình đùa với bà nội, lỡ có người bắt gạo nấu hoài mà chẳng thành cơm thì sao, cháo không ra cháo hồ không ra hồ. Còn ôm vết thương lòng sâu đậm đến thế sao? Mình có o con gái học sư phạm “mắt chưa vương lệ sầu” dung mạo giống y như mình thuở nọ, có ưa không? Sao nhẫn tâm loạn ngôn ra thế?

Tạm dịch nhé:

“Im vắng mọi tiếng động
mặt Phật chấp chới bóng côn trùng
mưa đêm khép hờ cửa
bốn vách máng đầy áo sư”.

Bà nội viết, mình thích đọc những lá thư ngắn, trao đổi trong chừng mực như vậy thôi. Mình từng xem những bài viết dài của bạn, thường thì nó sa đà vào những thứ cấm kỵ, tỉ như nói xấu nhà nước quá cũng không nên, đôi khi nó làm cản trở việc tao phùng của chúng ta mất.

Trả lời bà nội, mình dùng hai câu ca dao xét thấy có chút trừu tượng “ai hiểu sao thì hiểu”:

Con ai đem bỏ chùa này
A di đà Phật con thầy thầy nuôi

Mình đã bỏ công viết, đã vắt óc nhào nặn ra, toàn là của chùa. Bá tánh thì có cả trăm bao tử khác nhau, chê mặn chê nhạt là điều dễ hiểu, không ai hạp bụng mình cũng chuyện tất nhiên; nhưng người mình từng thương yêu từng lậm bùa mê thuốc lú mà chê mình là phường phản động thì e phải “A di đà Phật con thầy thầy nuôi”.

Mình đã chẳng mần chi được người ấy thời trai tráng thì giả thử đóng vai Việt kiều hồi hộp áo gấm về làng e cũng không mần được chi. Lại tái diễn cái màn xoay mòng vòng Kim cô; lên non đốn củi với lại xuống sông lấy nước. Củi nằm toàn bộ trong tay lâm tặc, nước thì sắp cạn vào tay Trung quốc. Đụng chỗ đốn rồi và cát bồi khe khô. Trần tình có nhiêu đó thôi cũng bị “tình cũ nghĩa xưa” chì chiết rằng chao đảo lập trường với lại mất phương hướng. Đành buông thả tâm trạng theo Đồng Đức Bốn:

“tôi giờ xa cách bao nhiêu
đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”.

Nhắm ăn được không? Hay bắt chước Đạo Tiềm, bạn của Tô Đông Pha:

“Bế môn toạ huyệt nhất thiền sáp
đầu thượng tuế nguyệt không tranh vanh”.

Tuệ Sỹ dịch ra:

“Khép cửa hang sâu một giường thiền
trên đầu năm tháng trôi chênh vênh”.

Ôi chao cái chữ chênh vênh kia nó nói lên được biết bao điều!

Nếu không chênh vênh thì giờ đây mình cũng thành “ông nội” như ai kia. Ông nội từ khuya, từ đời tám hoảnh!

Thế đấy thế đấy! Thành cũ lâu đài bóng tịch dương. Buồn làm chi Công Tằng Tôn Nữ Huế ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Lỗi ở phông chữ

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 12/04/2016

Post by Sơn râu 17 May 2024

Thằng cháu tôi sinh ở bên ni
Ca-na-điên giấy thế vì
khằn con mộc cầu chứng to đùng
cực uy tín
không lôi thôi on đơ troa gì cả
tự trứng nước mày đã là người tử tế

cha sanh mẹ đẻ hồi nào tới giờ
nó luôn lễ phép gọi tôi là Uncle Ho
nói tiếng Việt thì khó lòng
mặt đỏ tía tai
chữ nghĩa ngô nghê
đầu voi đuôi chuột
cà rịch cà tang
cầu dừa đủ xoài
hổng có sầu riêng

hắn chẳng thích tôi
nếu không muốn nói là
khinh ra mặt
bởi tôi phu phen lao động
bị tư bản xà quần
tay làm thương tật mà hàm vừa đủ nhai
đếch biết câu ở đâu có bóc lột
ở đó có đấu tranh
hơi bị nhác như cáy
nhũn như con giun bị dày xéo
hắn xổ một tràng ngoại ngữ
rất vất vả tôi tự phiên dịch lòng thòng
sống chiến đấu lao động học tập
không theo gương chú Hồ tí teo

kệ cha mệ nội giày dép còn có số
nói thiệt nghe
phận người đâu biết lựa chọn cửa mình
để chui ra
giống như con lạc đà vậy
sách ở Việt-nam sáng mắt sáng lòng
chú giải, đấy là con chim có hai cánh hoành tráng
kiếp đại bàng nghe thế cũng xao xác
không dám bay xa
buồn lặng

mới hôm qua thằng rắn mắt kia
lại vui mồm cà khịa
du biết coi tin tức không
ở bên Úc chộn rộn
hơn trăm người hò reo đi biểu tình
ủa, lại chuyện biển đảo chứ gì
biết ngay mà, khỏi nói
nó kêu bu-sịt gà mờ gì đâu á
bị có quán ăn mở thương hiệu trêu ngươi Uncle Ho
tôi cà lăm thưa thốt với cháu
mày chúa dựng chuyện
vẽ rắn thêm chân
rồi mượn gió bẻ măng
ưa đá giò lái
ôi mà hơi đâu
xứ này tự do dân chủ
cho mày chửi tao thoải mái
đời tao coi như bỏ đi
thanh thản hưởng bonus
cứ tha hồ cứt đái
với lỗ đít
với phất lại phơ

cho tao chửi đê em mờ mày
một tiếng có đặng không
ấy là suốt cuộc đời buồn nhiều hơn vui
thằng uncle ho này đâu có nuôi râu
mẹ, cháu với chú, bác, dượng, cô, dì
mờ ám và rắc rối
tao đang oải.

Hồ Đình Nghiêm