Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 2-10-93)

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 17

Tiếp Bài “Quanh Chiếc Xích-Lô” Của Số 142 Sggp

Minh Quân viết bài kể trên nhan nầy, vừa gọn vừa sáng, M.Q. mà lị! “Hay hèn lẽ cũng nối điêu” (Kiều) dưới đây là cảm tưởng của một già 92.

Chuyện 1.

Cách đây hơn bốn hay năm năm, lúc ấy chưn còn dẻo răng còn chắc, nhai sắt cũng tiêu, một hôm được mời ăn cơm Tàu trong Chợ Lớn, tiệc mãn, ngà ngà say xuống lầu, hai ba xích-lô đạp trước cửa, lựa một anh trai, ngả giá sáu ngàn, đưa về Bà Chiểu, lại đưa trước ba miếng hai ngàn cho chắc ăn, vì sợ lát nữa rượu thấm, đưa lộn 4, 5 miếng thì uổng. Xe chạy ra đường Lăng Cha Cả, trên đầu trăng nửa vành nhỏng nhẻo, gió hiu hiu thổi, ngồi trên xe mắt hí hí tơ-lơ-mơ, xe chạy tới đường C.M.T.8, nếu chạy thẳng qua Hoàng Văn Thụ thì chốc lát sẽ tới nhà, bỗng xe vụt nhanh qua đường Yên Đổ, tôi còn dở tỉnh dở say, hỏi anh xe:

– Sao không chạy đường thẳng. Đường nầy tối om.

– Không sao mà sợ. Tôi quen chạy đường nầy.

Rồi xe đạp chậm chậm… Trong bụng vụt nghĩ: Coi chừng nó làm thịt mình!

Rồi xe ngừng lại một hẻm nhỏ. Một xích-lô khác ló ra, phu là một ông già sồn sồn độ trên sáu mươi. Rồi họ nói với nhau nho nhỏ. Cơ khổ: hai người đổi y phục. Nói ngay ra cho mau hiểu, họ đổi quần ngay mặt mình, lão sồn sồn quần dài ống đổi lấy quần xà-lỏn, tôi chưa kịp hỏi, ông sồn-sồn mời:

– Mời cụ qua xe nầy!

Tôi la lên:

– Sao kỳ cục vậy?

Hai người, một già một trẻ đều cười:

– Thằng nhỏ qua chợ Bà Chiểu, lính xét sẽ phạt. Tôi đưa cụ tới chỗ, lo gì?

Xe chạy tới đầu chợ, đầu đường Lê Quang Định. Tôi cẩn thận không muốn cho biết chỗ ở, xin xuống xe, vừa bước xuống, vừa móc ví, vừa nói:

– Bao nhiêu?

– Hình như trả rồi mà!

– Không! Đó là khúc ban nãy. Còn khúc nầy, bao nhiêu?

– Cụ chưa hiểu… Tôi nói cho cụ biết. Cha con tôi thay phiên nhau. Ở Huế vào đây, chưa có nhà. Đều ở nhà nhà quen chờ lãnh giấy tạm trú. Nó chưa đủ tiền đóng vào Đại học… tôi có giấy chạy xe mười bánh, xin lỗi, tôi thế nó chờ thời… Chào cụ… Tôi về…

Tôi vụt hết say và tự nhiên chìa tay ra, nói:

– Cho tôi bắt tay, rua (bonjour) nhau đi.

Hai bàn tay siết chặt. Một người không nhận tiền, một đứa đi xe khỏi trả!

Chuyện thứ 2.

Người đối thoại là một bác sĩ, nay ở Canada, buôn đồ cổ. Năm đó, bà ở đây, một bữa sáng chủ nhựt, tôi đến nhà, bà mời tôi đưa đến xóm bán đồ xưa chợ Vườn Chuối, bà cỡi Honda, tôi xin đi xích-lô, bà không cho, bảo tôi ngồi sau xe, xe chạy tới xóm, xuống xe, tôi nói tỉnh bơ:

– Bà báo hại tôi suýt rớt trái tim!

– Sao vậy?

– Tôi ngồi mà chết cứng, không dám ôm.

– Thì cứ việc ôm, sợ gì! Tôi là bác sĩ mà!

– Ôm sao được? Ý! Quên! Tôi lỡ lời! Xin bà bỏ qua cho. Thôi, lựa đi rồi về.

Chuyến về, tôi nài cho được, được đi xích-lô đạp. Xe đưa về tới nhà. Tôi ăn quen, móc ví. Người phu xe đẩy xe, cười: “Trả rồi”. Thế là tôi đi xe “cọp” nữa. Nhưng từ ấy, không gặp nữa, và có người cho tôi đọc một tin: “… ancien élève de V.H.S.” Mà cơ khổ! Tôi nào có dạy giờ nào, và dạy giống gì?

Chuyện thứ 3.

Gần đây, tôi có việc phải vô nhà một bạn gần khách sạn Đồng Khánh. Vốn tính Harpagon, tôi không đi xích-lô, và muốn đỡ tốn, tôi leo xe lam, xe tới quán hủ tíu Cả Cần, chỗ cũ Năm Sa Đéc bán bánh bao độ nọ, tôi xin xuống xe, trả một ngàn, thấy có hai xích-lô đạp đậu đó, tội lựa một xe, tôi nói:

– Tôi muốn đi tới nhà hàng Đồng Khánh đường Trần Hưng Đạo. Một đồng. Được không?

Người phu xe nhảy lên yên, miệng cười và mời:

– Mời cụ lên!

Xe chạy một đỗi, đường quanh co. Thấy hơi xa, bụng nghĩ: “Lát nữa, đưa thêm”. Chạy tới đường gì đó, xe ngừng, anh phu nói: “Chạy tới Trần Hưng Đạo không được. Bị cấm”. Tôi bước xuống, tay móc ví, anh phu đẩy xe cười cười: “Tôi thấy cụ già, nên tôi chở giùm và không lấy tiền đâu”. Tôi phản ứng: “Bộ tiền tôi là tiền giả hả?”, “Dạ thưa không. Tôi thấy cụ già nên tôi đưa cụ tới đây, chớ cuốc xe từ đó, giá một đồng làm sao được”. Tôi lại làm theo thói quen cũ, chìa tay ra bắt tay anh phu xe. Anh nầy mặt nám một bên, nhớ chừng và hẹn kỳ sau sẽ trả đúng giá, nhưng từ ấy không gặp anh nữa. Lại vẫn đi xe khỏi trả tiền!

Chuyện 4 và chót.

Nhây quá. Già mà già chuyện. Bữa đó, tôi ở nhà bà Mộng Tuyết, đường N.T.L. Từ đây về tới Bà Chiểu, ngả giá bốn ngàn. Xe chạy êm ru… bỗng nghe anh phu nó từ trên đầu tôi nói xuống:

– Con thấy thầy còn mạnh, nên con mừng.

– Ủa?? Sao gọi tôi bằng thầy?

– Dạ! Tôi có học với thầy nơi Đại học Văn khoa. Tụi có bằng cấp đã chạy mất hết rồi. Mà tụi nầy cũng làm không xong!

Tôi nghe tới đó, hồn bay đâu mất, không biết làm sao trả lời,… xe chạy tới đường Phan Thanh Giản cũ, tôi xin ngừng xe. Có tiếng cười:

– Thầy sợ hả? Để tôi đưa thầy về tới nhà.

– Thôi! Cám ơn em! Để qua xuống nơi đây, ghé một chút, có việc cần nói với ông Khai Trí, nhà gần đây. Chào em và chúc sẽ gặp nhau nữa!

Lại có tiếng cười, tôi không dám nhìn kỹ mặt người phu xe, lại khỏi trả tiền lần nữa, từ giã nhau, giây lát có xe lam chạy ngang, tôi đón lại, leo lên ngồi, xe chạy tới Lăng Ông, móc ví trả một đồng, anh xe lam thối lại năm chục; chưn bước khấp khểnh, tay chống gậy, bụng nghĩ:

– Một đời đi đâu cũng khỏi trả, đi Paris, đi Đài Bắc, qua Nhựt, đi Istanbul, đều được đài thọ tiền nong, vụt sợ khan, nhắc lại chuyện gặp học trò cũ, có hại gì hay không, và xin hỏi Minh Quân, nói quá thẳng, không sợ mấy anh phu trong xóm hay được, không cho lên ngồi trên xe nữa?

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessneger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 5-7-1993)

Phần 16

Bài Tựa Thâu Gọn Cho Cuốn “Tự Vị Tiếng Miền Nam”

Tôi vốn học lem nhem, nhưng vì thấy Tiếng nói miền Nam bị lấn ép và đang suýt bị thay thế bằng ngôn ngữ người Bắc, tôi đã soạn và nhờ hai bạn Lê Ngọc Trụ và Nguyễn Hiến Lê duyệt khá kỹ, rồi tôi giao những thẻ rời cho bạn Nguyễn Minh Hoàng kiểm và bổ túc, nhưng cho đến hôm nay, sách vẫn chưa thành hình.

Bài tự cũ, tôi viết quá dài, nay vì việc ấn loát tốn kém nhiều, nên tôi viết lại bài tựa nầy, và chỉ lấy một ví dụ nhỏ làm mẫu, tỷ như từ “cần đóp” là một loại lá cây dừa nước dùng để lợp nhà, tức lá sắp xếp từ lá rời khâu lại nguyên tờ, và vẫn nên phân biệt với lá nguyên tờ mà miền Nam gọi “lá buông”, cả hai từ ấy “cần đóp” và “buông” theo tôi đều do tiếng Miên của người Đàn Thổ (nay gọi Cam-Bu-Chia) biến ra tiếng Việt, nếu không cắt nghĩa tường tận thì lần hồi sẽ không ai biết nữa.

Vả lại sức học Ngữ Miên của toi rất non nớt, tôi không dám cho là đúng, là chắc chắn, tuy vậy cũng tạm ghi lại để chờ người cao kiến dạy thêm, thì: kăn đâp slék, theo một sách Pháp viết, là assembler des feuilles (sắp lá), slăk mă kăn đâp là une paillette (một sắp lá).

Sau đó vì sống chung đụng nhau giữa người Thổ và Việt, ta đã thâu gọn vào tiếng miền Nam nầy, ra từ “lá cần đóp” (lá sắp kết) và lá buông (nguyên tờ).

Đến từ “buông” cũng có chút rắc rối, trong Nam nầy phân biệt: “rạch Lá Buôn là rạch chạy dưới chòm cây kè (dùng làm quạt) và rạch Lá Buông (buông có g) là rạch chạy dưới cây dừa nước, lá lấy để chép kinh Phạn (sanscrit), hoặc viết Thổ ngữ.

Tôi thêm ra đây một từ khác, cũng mượn của Cơ-me (khmer) là từ “bưng”. “Bưng” là étang, ao nước sệt sệt, ta ghép với một từ Hán “biền” hóa ra: “bưng biền”. Tiếng Miên tôi không biết nhiều, nhưng vẫn gạn đi gạn lại mới dám dùng, và mấy hàng nầy kể như lời trối,

Cẩn tự

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 1 th. 7-1993)

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Google photo

Phần15.

Ăn Năn Và Sám Hối

Ngày nay, với tuổi gần xuống lỗ, đã 92 rồi, buổi theo ông theo bà đã hầu kề, mai chết hay nay chết đều được, và như vậy mà xong, hơn sống như nay, thân yếu đuối, cẳng chưn không chở nổi thân xác, đi thì muốn té, đứng thì không vững, may thời còn cặp mắt còn ngó và thấy người đẹp, nhưng thấy rồi thôi, chớ đâu còn sức bày binh bố trận, tôi nói ba hoa chích chòe làm vầy để che giấu mình bất luận, nay vào để xin thú thật, lúc còn xuân xanh thuở trước đây, tôi có tính ngạo và khinh người, tôi ghét nhất là “lính mã-tà”, ngày nay, tuổi chết hầu kề, tôi ăn năn thì đã muộn.

Xét lại, “mã-tà” hay “ma-tà”, chỉ là danh từ buổi xưa để gọi theo tiếng Mã Lai “ma-ta-ma-ta” của họ là lính, và bắt qua của mình, “mã-tà” tức là lính, mà trong Nam nầy gọi theo Tây là “agent de la Garde Civile Locale” để đối chiếu với tiếng Pháp “tirailleur” ta gọi “lính tập” tức là lính tùng ngũ theo chế độ Pháp, ở Huế là “garde indigène”, ở ngoài kia, cũng đồng gọi một thể ấy, và nay tôi hiểu rộng và không khinh nữa, thì chữ “indigène” cũng không có chi là nhục, đến có lúc bỏ quách không đúng nữa, và nay ngày tàn bóng xế, tôi hiểu rộng rãi, thì “indigène” chỉ là “người bản xứ” và theo tôi, nói tiếng Tây chút chơi, và tỉ dụ: “le Parisien est un indigène de Paris”, nào có nhục gì đâu?

Tôi nay còn phân vân chưa hiểu, tại sao chức “caporal”, ta dịch “anh bếp, anh cai”, còn “sergent”, ta dịch “thày đội”? Và theo tôi hiểu như nay, thì chức “bếp” phải hiểu “người coi về bếp”, và đời xưa, một bếp là thủ một tốp 5 lính, có lẽ một cai thì thủ số lính trọng hơn, và tôi tạm hiểu tỉ như “một đội” gồm 10 cai hay 10 bếp, nên dịch theo tôi “đội” là “capitaine” hoặc một “lieutenant”… còn chức quản là chức trị được 10 đội (“commandant”), và “vệ” là “général”, vì tôi từng nghe một tiền bối dạy tôi:

“Chánh vệ” là từ riêng để gọi Lê Văn Duyệt khi chưa là Tổng trấn, Tả quân; và “Phó vệ” là từ riêng của Lê Văn Khôi xưng trong tuồng San Hậu và nay tôi tiếp theo kể cho đủ chuyện, tỷ như Dương Quí phi của vua Đường Huyền Tông, trước là dâu, sau là phi tử, lấy con rồi ngủ với cha chồng, Huyền Tông chiều chuộng nhưng tuổi già cung cấp không phỉ gái đương độ xuân thời, quá hăng lửa tình, tắm nước cho An Lộc Sơn là một phiên nô có dòng máu Thổ Nhĩ (Turc) để nơi trận Ma Sơn, Quí phi bị binh Đường sát hại đền tội dâm lộng, tuy vậy theo tôi, phương Đông vẫn có hạnh và giữ hạnh chín chắn, không như bà George Sand, lăng loàn không biết mấy đời chồng, ham trai tơ; George Sand, từ nhà tu ra, lấy chồng là một võ phu, chỉ ham đi săn thú hơn là vui đêm với vợ đẹp, đã thất bại về hôn lễ chánh thức lại vấp đường tình kế tiếp tám chín năm với thi sĩ Musset, chín mười năm với nhạc sĩ đa tài nhưng thiếu lực khỏe Chopin, đến khi tuổi xuân đã qua và tới chiều đông tàn, George Sand, ăn mặc theo trai, bỏ xiêm y nhảy qua làm và binh vực cách mạng, gái Tây phương dường ấy, và kể lại trai phương Tây, đại kỳ tài như Victor Hugo, để vợ chung chạ với Sainte Beuve, v.v… và mặc cho bà ăn nem, Hugo vẫn ăn chả, con đòi Blanche, nàng ái thiếp Juliette Drouhet, và xiết bao mèo vụn khác, lạ nhứt là Hugo nhắm mắt để vợ kéo cột – Adèle tò tí với bạn là Sainte Beuve, Hugo rõ tận mà làm thinh, để cho Juliette tận tụy và tận tình sao chép bản thảo những kiệt tác “Les Misésables”, vân vân, Adèle khi từ trần, Hugo khắc bia trên mộ vỏn vẹn hai hàng:

“Adèle

Vợ của Victor Hugo”

Hugo đã không giận Adèle ngoại tình trước và Siante Beuve, sau thời Théophile Gautier và trong lúc ấy chàng ta, Hugo kỳ tài nhưng quá dâm, làm sao kể xiết sự lắn-nhằn để ba lăng nhăng… và tôi chỉ nhớ trong quyển “Các cuộc đời ngoại hạng” của Lộc Đình có câu nơi trang 27, nguyên văn: “… Hugo chịu khó đi thăm tất cả các cổ tích của Paris, đặc biệt là giáo đường Notre Dame de Paris, mà ông biết rõ từng phiến đá, từng tấm kính, từng bực thang, cho nên viết phần lịch sử trong truyện rất đúng, từ cảnh tới nhân vật, và ngôn ngữ, không khí. Bình dân Pháp sở dĩ biết Paris thời cổ, yêu nó, phần lớn là nhờ đọc Notre Dame de Paris, cũng như chúng ta biết được chút ít về Thăng Long thời vua Lê chúa Trịnh là nhờ đọc “Ngược đường trường thi”, “Bốn con yêu và ba ông đồ” của Nguyễn Triệu Luật, dĩ nhiên tài năng và công phu của Nguyễn không thể so sánh với Hugo được”.

Viết thêm trang nầy và bàn rộng chút chơi, mình nói cho trong nhà đủ nghe, có sợ gì dư luận. Có câu, nhớ mãi: “Đức thắng tài, giả vi quân tử” và đối lại “Tài thắng đức, quân tử giả vi” như thường, chưa ắt là tiểu nhơn.

Alexandre Dumas cha, để lại tiểu thuyết “Les Trois Mousquetaires” soạn hình như vào năm 1844, mà nay còn người đọc và say mê dịch ra khắp nước. Người con là Alxeander fils, để lại tập lãng mạn “La Dame aux camélias” (Nguyễn Văn Vĩnh dịch là “Trà hoa nữ” đã làm cho phụ nữ khóc hết nước mắt).

Ngày nay chúng ta học và đọc các tập ấy, ít phê bình về hạnh kiểm hai vị nầy và các George Sand, Victor Hugo, luôn lão thầy tu hoàn tục Talleyrand, phản vua, phế vua, nhưng có công với nước Pháp; chúng ta bo bo chỉ lo phê bình, chỉ trích những Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường,… Tuy vậy Phan Thanh Giản đã có người Nga khen “khéo về chính trị”, Trương Vĩnh Ký nay có người quan trọng trong đảng, viết sách kể công; tôi cho sau nầy sẽ có người viết lại về Tôn Thọ Tường, nay chỉ còn danh ở Chợ Lớn, quán bán vịt quay ngon. Và nếu Tôn Thọ Tường có nhơ, tại sao tôi không thấy Đồ Chiểu chê bai, và đặc biệt bởi Tường không nhơ, nên quan Phan vẫn hòa thi trên dường sang Pháp địa. Tôi không dám viết dài, chỉ dặn cháu con: “Rủi sanh lỡ làm người, thì cứ cơm tẻ ngày hai, lựa nghề thủ công kiếm cơm độ nhựt, nhứt là đừng theo gương tôi “Hơn nửa đời Hư”, viết không hay và bị in bỏ bớt khá nhiều, lại nữa tiền công viết, viết 2 năm, lãnh không đủ xài nhứt ngoạt, có ích gì mà ham viết lách.

Đường về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 15 Jan 2021

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Kỳ 2

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Sau tiếng “Chát!” chói tai. Tôi quát lớn,

– Anh ở Ðoàn Xâm Nhập nào? Vào Nam ngày nào? Khai ra mau!

Không ngờ đòn đánh phủ đầu bất ngờ của tôi có hiệu quả ngay! Nghe tiếng hét của tôi, tân binh Nguyễn Văn Bính bỗng co rúm người trên ghế, hai đầu gối run run đập vào nhau lia lịa,

– Trình “Thủ trưởng” em là chiến sĩ Ðặc Công vừa ra trường được đưa vào bổ sung cho Ðội Ðặc Công Nội Thành Thành phố Sài-Gòn!

Ngay lúc này, Hạ sĩ Ba và Binh Nhứt Bích đã nhanh chân chạy vào đứng thủ thế hai bên bàn giấy, ghìm súng sẵn sàng.

Mặt anh tân binh bắt đầu ướt đẫm mồ hôi. Anh ta run lập cập,

– Trình “Thủ trưởng” em đi lạc, bị lính bắt vào trại huấn luyện rồi đưa lên đây!

Thấy Bính có vẻ không có gì là nguy hiểm, tôi ra lệnh,

– Thằng Ba và thằng Bích ra cửa gác được rồi! Còn chú Bính thì cứ bình tĩnh, anh không làm gì để chú phải lo sợ. Chú cứ từ từ kể cho anh hay, vì sao chú lại có mặt ở đây?

Nghe tôi ôn tồn dịu giọng, anh tân binh đã bớt run. Anh ta xoa hai tay vào nhau liên tục, rồi bắt đầu kể cho tôi nghe.

Nguyễn Văn Bính sinh năm 1956 tại huyện Gia-Lộc, tỉnh Hải-Hưng, vào bộ đội năm 17 tuổi. Theo học Trường đào tạo chiến sĩ Ðặc-Công ở Sơn-Tây. Mãn khóa học, Bính được lệnh đi B tạm dừng tại Binh Trạm T9, rồi được tách ra, phân phối cho Biệt Ðội Ðặc-Công Nội Thành ở Sài-Gòn.

Tháng 4 năm 1974 trong khi theo chân một nữ cán bộ giao liên trên đường từ Tân-Cảng tới Chợ Lớn thì y bị lạc. Bính lang thang suốt đêm trong khu Phạm Ngũ Lão và Ga Sài Gòn tìm dấu người đưa đường nhưng vô vọng. Bốn giờ sáng thì y bị Tuần Cảnh Hỗn-Hợp Ðô-Thành bắt gặp. Sau khi khai tên tuổi, hôm sau y bị chuyển sang Trung Tâm Quản Trị Trung Ương, rồi đưa ra máy bay chở lên Dục-Mỹ vào học lớp tân binh trong Trung Tâm Huấn Luyện Lam-Sơn.

Sau trận Pleime, vì nhu cầu quân số, Binh nhì Nguyễn Văn Bính đã được bổ sung cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi.

Chuyện nghe tưởng như đùa! Nhưng đây là chuyện trăm phần thật!

Sau khi nghe hiểu hết nguồn cơn, tôi đổi giọng, thật nghiêm nghị, nói với Bính,

– Chuyện đã rõ ràng như thế thì tôi chỉ có thể chuyển anh sang An-Ninh Quân-Ðội, từ đó anh sẽ được đưa vào trại giam Tù Phiến Cộng, sống chung với các đồng ngũ của anh đã bị chúng tôi bắt trước đây.

Bính nhìn tôi khẩn khoản,

– “Thủ trưởng” có thể giúp em, bỏ qua chuyện lý lịch, cho em ở với “Thủ trưởng” được không?

Trước yêu cầu của anh cán binh Cộng-Sản Nguyễn Văn Bính, tôi ngạc nhiên,

– Anh muốn ở lại với chúng tôi sao?

– Vâng! Em muốn lắm ạ!

Tôi đổi giọng ôn tồn trở lại,

– Trong thời gian mấy tháng vừa qua, sống dưới chế độ Cộng-Hòa, chú thấy thế nào?

– Dạ! Em thấy ở trong Nam sướng hơn ở ngoài Bắc.

– Ðược rồi! Tôi sẽ cho chú làm đơn xin “Cải danh Hồi Chánh” Chú sẽ được tiếp tục sống dưới chế độ Cộng-Hòa.

Khi nào chú được chấp thuận là Hồi Chánh Viên, chú xin gia nhập Biệt Ðộng Quân, anh sẽ tiếp nhận chú về tiểu đoàn này.

Từ chiều 16 tháng 9 năm 1974, sau khi cho xe giải giao Nguyễn Văn Bính cho Ty An-Ninh Quân-Ðội Pleiku, tôi không còn biết tương lai của anh ta ra sao.

o O o

Giã biệt Pleiku…

Ngày 19 tháng 9 năm 1974 hết hạn nghỉ dưỡng quân, tôi được lệnh dẫn đơn vị vào vùng Tây Pleiku tăng phái cho Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân của Trung tá Hoàng Thọ Nhu.

Tôi và Trung tá Nhu quen biết nhau từ năm 1971, khi ông Nhu còn mang lon Thiếu tá từ Sài-Gòn ra Pleiku thay thế ông Thiếu tá Vũ Quốc Khánh để giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2. Thời gian này tôi cũng vừa nhận chức Trưởng Phòng 2.

Tôi và ông Nhu đã làm việc chung trong một thời gian khá dài.

Tôi biết, nhờ sự giúp đỡ của Ðại tá Lê Khắc Lý, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 thời gian đó, mà cuối năm 1971 ông Nhu được vinh thăng trung tá.

Ông Nhu coi tôi như em, chúng tôi nói năng chẳng cần giữ gìn, câu nệ.

Tính nết của tôi ngổ ngáo, ương ngạnh thế nào, ông Nhu đã biết.

Năm 1972 tôi và Trung tá Hoàng Thọ Nhu đều có dịp thuyên chuyển khỏi Vùng 2; ông Nhu đi làm Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân, còn tôi cũng từ giã Pleiku, lên đường về Sài-Gòn theo học Khóa 3/72 Bộ Binh Cao Cấp.

Nhưng run rủi làm sao, chúng tôi ra đi một thời gian ngắn, lại tái ngộ, lại cùng làm việc với nhau thêm một thời gian nữa ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 dưới quyền Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ngày ông Nhu ra nhận chức Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, sau này cải danh thành Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, ông cũng rủ tôi đi theo, nhưng tôi chối từ.

Tới khi Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân được thành lập, thì tôi vào Pleime giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trực thuộc Liên Ðoàn 24.

Ðã có mấy lần ông Nhu nài nỉ Ðại tá Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 bắt tôi hoán chuyển nhiệm vụ với Ðại úy Nguyễn Lạn để tôi về làm việc với ông, nhưng tôi không đồng ý.

Trưa 19 tháng 9 năm 1974 đoàn xe Quân Vận chở chúng tôi tới vùng hành quân của Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân.

Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân tọa lạc trên một bãi đất trống cách Ðồi 37 Pháo Binh không xa. Vị trí này được một đại đội Biệt Ðộng Quân và một chi đội chiến xa M 41 bảo vệ.

Vừa xuống xe, tôi đã bị Trung tá Nhu kéo tay dẫn vào hầm riêng của ông ấy,

– Anh xin chú tăng cường cho anh mấy ngày, trong thời gian đó tiểu đoàn của chú sẽ thay thế Thằng 11 giữ núi Chi Kara. Thằng 11 sẽ thế chỗ cho Tiểu Ðoàn 1/ 41 để tiểu đoàn này trở về với Sư Ðoàn 22 Bộ Binh. (Thằng 11: Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân)

Trên phóng đồ hành quân, khu vực trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ là một vùng có chiều ngang 3 cây số, chiều dài 10 cây số, kéo dài từ vị trí Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Ðoàn 23 cho tới làng Plei De Chi ở hướng Tây.

Tôi thấy những vị trí mà tôi có nhiệm vụ kiểm soát chỉ nằm loanh quanh dưới chân núi Chi Kara, chứ không có điểm chốt giữ nào trong khu vực bình nguyên bao la trước mặt.

Thì ra thời gian này các đơn vị phòng thủ chỉ co cụm phòng thủ các cao điểm cố định, ai ở đâu cứ ở yên nơi đó chờ địch tới thì đánh.

Tôi thở ra nhẹ nhàng, vì thấy nhiệm vụ của mình thật là khỏe re!

Ngồi chơi trong hầm của Trung tá Nhu vài phút, tôi từ giã ông, rồi đi vào phòng hành quân liên đoàn để bắt tay những anh em đang làm việc ở đây. Trước năm 1970 tôi đã từng là một sĩ quan tham mưu của liên đoàn này.

Khi lui ra để chuẩn bị di chuyển, tôi lấy làm lạ là ông liên đoàn trưởng cứ theo sát bên tôi như bóng với hình, nên thắc mắc,

– Sao Trung tá cứ đi theo tôi hoài? Ông có gì cần nói không?

Ông Nhu khẽ liếc mắt cho tôi đi theo ra cổng căn cứ. Ông hất cằm về hướng Bắc để tôi nhướng mắt nhìn theo.

Trung tá Nhu nói nhỏ,

– Trước mặt chú là đồi 631. Thằng Lạn đánh mất ngọn đồi này đã năm ngày rồi, nhưng anh chưa báo cáo với quân đoàn! Anh nhờ chú lấy nó lại có được không? (Thằng Lạn: Ðại úy Nguyễn Lạn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân)

Tôi vừa ngạc nhiên vừa phẫn nộ,

– Ông nói cái gì lạ thế? Mất một cái tiền đồn đã năm ngày mà không tái chiếm, không báo cáo, vậy ông còn chờ cái gì nữa?

Trung tá Nhu đưa tay lên che miệng tôi, không cho tôi to tiếng để tránh cho người khác nghe,

– Tao còn phải chờ xem mấy thằng lính đóng chốt trên đó có còn sống không rồi mới báo cáo. Báo cáo sớm thì thằng Lạn lại bị phạt. Bị phạt mãi thì làm sao nó cất đầu lên được?

Tôi bình tâm trở lại, thấy lời ông Nhu cũng có lý. Ðại úy Nguyễn Lạn là bạn cùng khóa của tôi, chật vật bao năm mà anh ấy vẫn còn đeo cái lon đại úy.

Tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 Nguyễn Văn Toàn mà biết chuyện mất tiền đồn, lính giữ đồn mất tích, thì hình phạt của ông ấy chắc chắn sẽ không nhẹ hơn 40 Trọng Cấm.

Nếu không có chiến công, cứ chờ thăng thưởng thường niên thì người mang trên vai 40 Trọng Cấm sẽ chẳng bao giờ có hy vọng.

Nghĩ lại, tôi thấy thương hại anh Nguyễn Lạn, tôi cũng thông cảm cho nỗi khó xử của Trung tá Nhu.

Trung tá Nhu cho tôi biết rằng, hôm qua, trên đường từ Pleiku vào Thanh-An trực thăng của Ðại tá Phạm Duy Tất Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đã phát hiện ra một toán lính Biệt Ðộng Quân làm dấu cấp cứu trong vùng rừng thưa cách núi Hàm Rồng khoảng gần mười cây số về hướng Tây Bắc.

Ông đại tá đã đáp xuống cứu được bảy ông Biệt Ðộng Quân sắp chết đói, đang lang thang tìm đường về Pleiku.

Bảy ông lính này là quân nhân của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đóng chốt trên Tiền đồn 631.

Các ông lính này khai rằng giữa đêm 15 tháng 9 năm 1974 họ bị một đơn vị cấp đại đội Việt-Cộng tấn công, tràn ngập vị trí, phải rủ nhau bỏ chốt tìm đường thoát thân.

Chuyện mất tiền đồn, chuyện cứu được bảy ông Biệt Ðộng Quân thất lạc đã được giấu nhẹm, chỉ có mấy vị chỉ huy Biệt Ðộng Quân biết với nhau thôi!

Th/tá Vương Mộng Long và con gái Tiên Giao – Hình chụp tại Đà Lạt, tháng 10 năm 1974

Trung tá Nhu cầm tay tôi năn nỉ,

– Chú mày giúp anh một lần này thôi, mình là anh em mà!

Nhìn bộ dạng thảm hại của ông anh, tôi cầm lòng không đậu,

– Ðược rồi, chiều nay tôi trả lời.

Tôi dẫn quân đi đã xa mà ông Nhu còn đứng nhìn theo.

Việc chuyển quân, thay chốt, diễn ra không lâu hơn hai tiếng đồng hồ.

Tôi chẳng lạ gì địa thế Pleiku, do đó công tác thiết trí phòng thủ, yểm trợ hoàn tất rất nhanh.

Ðứng trên một mỏm đá cao, với cái ống nhòm, tôi quan sát ngọn đồi trước mặt. Ðồi này có cao độ 631 mét nên được đặt tên là Tiền đồn 631. Ðồi 631 nằm sát lằn ranh Bắc của khu vực mà tôi chịu trách nhiệm.

Tiền đồn này cách Tỉnh Lộ 565 đúng ba cây số về hướng Bắc. Muốn tới đó ta cứ đi thẳng hướng 360 độ, theo con đường xe be, vượt hai cái bình nguyên cỏ tranh và hai con suối nhỏ là tới mục tiêu.

Sau khi quan sát kỹ, tôi thấy đỉnh đồi đã bị khai quang trọc lóc, rất dễ bị lộ, địch không thể đặt súng phòng không để khống chế không phận Tây Nam Pleiku.

Theo tôi, về mặt chiến thuật, vị trí này chỉ có giá trị một đài quan sát.

Tôi đoan chắc rằng, lực lượng địch đóng trên tiền đồn này nhiều lắm là một tiểu đội là cùng.

Ba giờ chiều, tôi ra lệnh cho toán Viễn Thám 822 của Hạ sĩ Nguyễn Ba chuẩn bị một ngày ăn rồi cùng tôi và một toán cận vệ xuống núi.

Tôi vào tới hầm trú ẩn của ông Liên đoàn trưởng thì Trung tá Nhu đã chờ sẵn.

Kế hoạch tái chiếm đồi 631 của tôi thật là giản dị.

Ngay khi trời sập tối, toán Viễn Thám 822 sẽ mở đường, dẫn theo một trung đội của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Tới chân đồi thì trung đội của Tiểu Ðoàn 11 dừng lại, ém quân chờ. Toán 822 tiếp tục tiến theo kỹ thuật trinh sát. Chiếm lĩnh xong mục tiêu, sáng hôm sau Toán 822 sẽ bàn giao cao điểm này cho trung đội của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Mười phút sau khi có lệnh của ông Liên đoàn trưởng, một trung đội của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân được gửi tới. Trung đội trưởng trung đội này là Thượng sĩ Phan Thành, người Huế.

Thay vì đứng nghiêm trình diện tôi, Thượng sĩ Thành lại chạy tới ôm tôi thật chặt, miệng anh ta rối rít,

– Ông thầy! Ông thầy cho em về 82 với ông thầy đi! Ông thầy ơi!

Tôi vừa cười hì hì, vừa lắc đầu,

– Ông Vua Xóc Dĩa ơi! Tôi đem ông về 82 để ông bán hết sản nghiệp của tiểu đoàn rồi đem đặt vào chiếu bạc thì chúng tôi chết hết mất!

Trung tá Nhu trố mắt đứng nhìn. Ông chẳng hiểu vì sao mà một tay cứng đầu, sừng sỏ, mặt lạnh như tiền là tôi mà lại thân thiện, vui vẻ, bá vai, bá cổ một anh thượng sĩ cắc ké tên là Phan Thành của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Ông Nhu có biết đâu tôi và chú Thành đã trải qua nhiều năm chia ngọt, sẻ bùi, chung sống với nhau.

Từ tháng 2 năm 1966 tôi đã có mặt ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Tới năm 1969 thì tôi là sĩ quan kỳ cựu nhất của đơn vị này.

Trong thời gian tôi chỉ huy Ðại Ðội 3/ 11 rồi chỉ huy Ðại Ðội 1/11 thì anh Phan Thành là lính của Ðại Ðội 2/11.

Thành đánh giặc thật gan lỳ, nhưng lại mắc cái tật ham mê cờ bạc. Trong trại gia binh, anh ta là tay chuyên môn cầm cái cho các sòng xóc dĩa.

Tôi khoái cái phong cách gan lì trong chiến trận của Thành, nhưng không thể chấp nhận những hình ảnh bê tha trên chiếu bạc của chú ấy; vì thế, đã nhiều lần Thành xin về làm việc với tôi, tôi đều thẳng thừng từ chối.

Sau khi giới thiệu Hạ sĩ Nguyễn Ba với Thượng sĩ Phan Thành, tôi đứng giảng giải cặn kẽ nhiệm vụ hành quân đêm nay của hai người rồi hỏi,

– Có gì thắc mắc không?

– Dạ! Thưa không!

Hai thuộc cấp của tôi vừa trả lời xong, thì tôi quay qua nói với Thành,

– Bao giờ chú mi bỏ được cái tật đỏ đen, anh sẽ cho chú mi theo anh.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Jan 2021

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Kỳ 1

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Gặp mặt đồng đội mới …

Sau chiến thắng Pleime 1974, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi được thưởng ba ngày nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ. Hậu cứ của tiểu đoàn nằm ngay cổng vào Phi Trường Dân Sự Pleiku. Trong ba ngày 16, 17, 18 tháng 9 năm 1974 này, từ ông đại úy tiểu đoàn phó trở xuống đều được phép rong chơi trong phố, tới chiều thì về tập họp, rồi được phân phối từng toán năm, bảy người, lên xe, đi dự tiệc do các hội đoàn Dân Chính hay Doanh Gia tư nhân của Thành phố Pleiku khoản đãi.

Riêng cá nhân tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu đoàn trưởng, lại bận rộn đầu tắt, mặt tối, liên miên, suốt ngày.

Ngoài công việc thăm thương binh, thăm gia đình tử sĩ, ký phúc trình tổn thất, ký đề nghị thăng thưởng, tôi còn một công việc cấp thiết phải làm là “thẩm vấn” những quân nhân vừa được bổ sung.

Theo thông lệ, mỗi khi có quân nhân mới đáo nhậm đơn vị, tôi phải đích thân tiếp chuyện quân nhân đó vài ba phút, để biết anh ta là người như thế nào, rồi sắp xếp cho anh ta vào vị trí thích hợp.

Kỳ này tiểu đoàn tôi được bổ sung 150 quân nhân, gồm có hai sĩ quan, hai hạ sĩ quan, số còn lại là tân binh quân dịch từ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn chuyển tiếp cho Biệt Ðộng Quân.

Nếu chỉ bỏ ra năm phút để tiếp xúc với một người, thì tôi cũng phải tốn ba buổi sáng, mỗi buổi bốn tiếng đồng hồ mới gặp đủ 150 ông Biệt Ðộng Quân mới tới.

Ngày đầu tôi nói chuyện với những quân nhân này là 16 tháng 9 năm 1974. Ðây cũng là ngày đã ghi lại vài kỷ niệm mà suốt đời tôi còn nhớ.

Người thứ nhất bước vào văn phòng là một thiếu úy từ Vùng 3 ra, anh ta tên Ðặng Thành Học, quê quán Long-An. Anh thiếu úy này trông đẹp trai như tài tử Anthony Perkins thời còn trẻ.

– Vì lý do gì chú bị đưa ra Vùng 2. Nhìn Học, tôi từ tốn hỏi.

– Dạ! Thưa Thiếu tá tui trình diện trễ sau khi mãn khóa Rừng Núi Sình Lầy. Học vừa cười hì hì vừa trả lời tôi.

– Nếu không thích ở đây thì chú viết đơn khiếu nại, tôi sẽ chuyển tiếp và cho chú về liên đoàn, chờ quyết định của cấp trên. Ai không muốn làm việc với tôi, tôi sẵn sàng ký sự vụ lệnh hoàn trả, không lưu giữ. Ðặc biệt là sĩ quan, tôi tuyệt đối dễ dãi, cho đi ngay!

– Thiếu tá cho tui ở đây với Thiếu tá. Mắt nhìn ngay mặt tôi, miệng Học vẫn cười.

Tôi bắt tay Thiếu úy Học,

– Tôi biết chú đã từng làm đại đội trưởng, vậy thì ngay chiều nay chú thay Thiếu úy Lê Ðình Khay chỉ huy Ðại Ðội 1. Ông Khay mới được gọi đi học khóa Rừng Núi Sình Lầy, Dục-Mỹ. 

Từ ấy, Thiếu úy Ðặng Thành Học trở thành một trong những đàn em thân thiết của tôi; Học đã cùng tôi chiến đấu quên mình trong suốt những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến Việt-Nam.

Người thứ nhì giáp mặt tôi sáng hôm đó là Trung úy Võ Hữu Danh. Trung úy Danh là đàn em khóa 25 Võ-Bị của tôi. Chú Danh đã nghe biết tên tôi từ trước ngày chú ấy nhận lệnh thuyên chuyển về đơn vị này. Do đó thời gian tiếp xúc với Danh không dài. Tôi cho chú Danh coi Ðại Ðội 2 thay thế Trung úy Nguyễn Hữu Anh. Ông Anh vừa nộp đơn xin về phục vụ đơn vị địa phương nơi nguyên quán của ông ta.

Tiếp theo là hai hạ sĩ quan, một Trung sĩ người Quảng và một Trung sĩ người Thượng.

Anh Trung sĩ người Thượng vào trình diện trước. Anh này nước da đen đủi, nhỏ con nhưng dáng bộ rất lanh lẹ,

-Trung sĩ Y Thon Nier trình diện ông Thiếu tá.

-Ngồi xuống ghế đi! Trung sĩ từ đâu tới?

-Thưa ông Thiếu tá! Tui từ Tiểu Ðoàn 22 tới.

-Lý do thuyên chuyển?

-Tui xin ông Ðại tá! Ông Ðại tá cho tui về ở với ông Thiếu tá!

-Tại sao Trung sĩ lại muốn về ở với Thiếu tá?

-Tui là lính của ông Thiếu tá mà! Tui thương ông Thiếu tá tui mới xin về 82.

– Trung sĩ là lính của Thiếu tá hồi nào? Thiếu tá không biết Trung sĩ là ai cả!

– Thì năm 1971 tui là Binh nhất, lính của ông Thiếu tá ở Tiểu Ðoàn 4 Mike Force đó!

– Vậy chứ mi ở đại đội nào?

Anh trung sĩ người dân tộc Ra Ðê chợt đứng dậy, bước tới trước bàn giấy của tôi; anh giơ hai bàn tay cháy nắng, sần sùi, vừa nắm, vừa bóp nhè nhẹ bàn tay trái của tôi đang đặt trên bàn, rồi cúi mặt, sụt sịt khóc,

– Hồi đó ông thầy là Ðại úy Tiểu đoàn trưởng của tui! Tui là lính tải đạn đại liên cho khẩu M60 của Ðại Ðội Chỉ Huy và Công Vụ. Ông thầy quên tui rồi sao?

Cựu Th/tá Vương Mộng Long và Cựu Th/úy Lý Ngọc Châu – USA 2007.

Tôi bóp trán hồi tưởng lại chuyện bốn năm về trước. Lính của tôi thời đó, chín mươi phần trăm là dân thiểu số với đủ thứ dân khác nhau, nào là người Ra Ðê, người Ja Rai, người Stieng, người Ba Na, người Hời, người Nùng, người Thái, người Miên, anh nào trông cũng giống anh nào, khó mà phân biệt.

Mặt của hai ông sĩ quan người Thượng Ra Ðê và ông hạ sĩ quan thường vụ tiểu đoàn người Chàm mà tôi còn không nhớ, thì làm sao tôi nhận ra anh binh nhứt vác đạn đại liên?

Nhưng nhìn vào bộ dạng chân chất, mộc mạc, vô tư của người lính Ra Ðê này, tôi không đang tâm nói thật với anh ta rằng tôi không nhận ra anh ta là ai.

Tôi đành dối lòng, nghiêng đầu, gật gù, rồi dịu dàng nói với anh ta,

– Mi là thằng Thon tải đạn! Ðúng rồi! Thiếu tá nhớ ra rồi! Thôi! Nín đi Thon!

Nghe được những lời này, mặt Y Thon Nier rạng rỡ hẳn lên, nó toét miệng, nhe răng ra cười, hàm răng của nó bị cà, chỉ còn một nửa chiều cao.

Tôi đứng dậy, nhìn vào khuôn mặt đen đủi, nhạt nhòa nước mắt của người đàn em mà lòng chợt thấy lâng lâng một cảm giác êm đềm pha lẫn chút ngậm ngùi.

Chắc thằng Thon cảm động lắm khi tôi gọi nó là “Thon” mà không gọi nó là “Y” hay “Nier” chỉ vì trong thời gian chỉ huy Tiểu Ðoàn 4 Mike Force tôi đã học được chút ít về lịch sử các dân tộc thiểu số ở Cao Nguyên.

Người Ra Ðê đa phần mang họ Nier, con trai thì có chữ lót là Y giống như dân người Kinh có chữ lót là Văn còn con gái có chữ lót là H’ hay Hờ, đồng nghĩa với chữ Thị của dân Kinh.

Ngày Tiểu Ðoàn 4 Mike Force giải tán, tôi trở về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 2.

Tôi ra đi rồi, thì quân số của ba Ðại Ðội 1, 2, 3 trực thuộc Tiểu Ðoàn 4 Mike Force được xé lẻ, bổ sung cho các Tiểu Ðoàn 11,22,23 Biệt Ðộng Quân. Riêng Ðại Ðội 4 của Trung úy Thuận được sát nhập vào Ðại Ðội Chỉ Huy và Công Vụ của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Thời gian sau, tôi được thông báo rằng một ông cựu đại đội trưởng là Thiếu úy Ngọc tức Y Ngok Nier đã đào ngũ ngay sau khi trình diện Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Ba ông khác là Trung úy Ðức tức Y Dok Nier, Trung úy Thuận và Trung úy Trình đã theo nhau đền nợ nước.

Ba năm đi qua, thuộc cấp cũ của tôi ở Tiểu Ðoàn 4 Mike Force đã chết nhiều lắm rồi; không ngờ anh lính tải đạn đại liên vẫn còn sống; nay anh ta lại tìm tới đơn vị này để được ở với tôi.

Thế là từ đây, với người lính Thượng này, không cần huấn luyện, không cần thử lòng, bên cạnh tôi đương nhiên có thêm một đồ đệ có thể tin tưởng được, có thể trông cậy được mỗi khi gặp cảnh hiểm nghèo.

Tôi dang tay vỗ nhè nhẹ lên vai Thon rồi ôn tồn,

– Xuống tìm gặp Thiếu úy Lý Ngọc Châu, bổ sung cho tiểu đội cận vệ!

Suốt thời gian mười năm chỉ huy đơn vị, tôi chưa từng đem một người lính nào về làm việc nhà. Nhưng đi hành quân thì vây quanh tôi có nhiều người lắm!

Hiện thời, tháng 9 năm 1974, những người này được đặt dưới quyền chỉ huy của một ông chuẩn úy, sau là thiếu úy, tên ông ấy là Lý Ngọc Châu. Ông Châu bằng tuổi tôi; ông là một thầy giáo ở Nam-Vang, Cao-Miên. Thời người Việt bị “cáp duồn” ông đem gia đình bỏ chạy về Sài-Gòn. Về nước ông Châu bị gọi nhập ngũ vào Trường Thủ-Ðức học một khóa quân sự để làm chuẩn úy. Mãn khóa ông bị “Cọp liếm” phải ra đơn vị Biệt Ðộng Quân. (Cọp liếm: Tiếng lóng, có ý nói gia nhập binh chủng Biệt Ðộng Quân)

Qua một trận đánh, tôi thấy ông chuẩn úy này quờ quạng quá, nếu để ông ta ở vị trí tác chiến thì không sớm thì chầy, ông ta cũng đền nợ nước, nên tôi cho ông ấy đảm nhận chức vụ Sĩ quan Phòng thủ của tiểu đoàn.

Dưới quyền ông Châu có 11 ông lính, lo công tác canh gác đêm, ngày, lo cả công tác lều võng và cơm nước cho tôi.

Nay tôi tăng cường thêm anh Trung sĩ Y Thon Nier, xạ thủ súng M 79, thế là ông Châu có 12 thuộc hạ.

Người trình diện kế tiếp là một trung sĩ người Kinh gốc Quảng-Nam. Anh trung sĩ này mặt mày sáng sủa và trắng trẻo như một thư sinh, tôi thấy mặt anh ta có vẻ quen quen.

-Trung sĩ Nguyễn Minh trình diện Thiếu tá!

– Ngồi xuống ghế đi Minh! Hình như tôi có gặp anh ở đâu đó rồi?

–  Năm 1972 Thiếu tá còn là Ðại úy Trưởng Phòng 2, em là hạ sĩ quan mật mã của Ðại Ðội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2. Ngày nào em cũng gặp Thiếu tá trong Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy.

– Lý do gì cậu bị xuất ngành Truyền Tin phải ra tác chiến?

– Dạ! Em cũng chẳng biết vì răng mà em bị cho xuất ngành. Em có mẹ già và ba đứa em nhỏ ở Nghi-Xuân. Em đã làm đơn xin về phục vụ Tiểu Khu Quảng-Ðức nhưng chưa biết kết quả.

– Vậy cậu về Ðại Ðội Công Vụ ở tạm với Thiếu úy Hoàng, anh sẽ sắp xếp lại sau.

Trung sĩ Minh vừa khuất bóng thì Trung sĩ Ðốc, Hạ sĩ quan quân số rời bàn làm việc bước tới, trình cho tôi một văn thư mật. Trên văn thư có ghi rõ ràng lý lịch của Trung sĩ Minh: Anh này vốn là một hạ sĩ quan mật mã của Ðại Ðội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2.  Anh ta có thân nhân đi tập kết năm 1954.

Lý do thuyên chuyển: Vì nghi ngờ có dính dáng tới những tiết lộ đặc lệnh truyền tin trong thời gian gần đây nên An-Ninh Quân-Ðội đề nghị đưa Trung sĩ Minh ra đơn vị tác chiến.

Trung sĩ Minh ở Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân được hai tháng thì tiếp tục bị chuyển tiếp tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi.

Tiếp đó, tôi phải tạm ngừng công tác tiếp xúc những quân nhân vừa đáo nhậm để tiếp chuyện hai người đàn bà, thân mẫu của hai Biệt Ðộng Quân trong đơn vị.

Bà thứ nhất là phu nhân của Thiếu tá Lê Văn Ky, nguyên là Tham mưu trưởng Tiểu Khu Quảng-Ðức. Bà cụ nghe tin tiểu đoàn của con bà vừa trải qua một trận chiến thập tử nhất sinh, nên vội vàng bay từ Sài-Gòn ra Pleiku để năn nỉ tôi cho phép con bà khỏi tác chiến vì anh ta là đứa con trai độc nhất của ông bà.

Con trai của vợ chồng Thiếu tá Lê Văn Ky là Chuẩn úy Lê Văn Phước, Trung đội trưởng Trung Ðội 2, Ðại Ðội 2, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Bà thứ nhì là một láng giềng của gia đình tôi ở Ban Mê Thuột. Bà cụ mới theo chuyến xe đò sớm nhất sáng nay từ Ban Mê Thuột tới đây.

Nước mắt ngắn dài, bà cụ vừa khóc vừa kể lể rằng chồng bà đã qua đời, bà chỉ có hai mẹ con, nếu con bà cứ tiếp tục ra trận mà có mệnh hệ nào, chắc bà sẽ không còn muốn sống nữa.

Con bà cụ này là Trung sĩ Lê Văn Bình đang giữ chức tiểu đội trưởng trực thuộc Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Nhìn những giọt nước mắt theo nhau lăn trên gò má nhăn nheo của hai bà cụ, tôi hồi tưởng lại, ngày xưa, năm 1966, khi tôi còn là một thiếu úy vừa ra trường, mẹ tôi cũng lo lắng mất ăn, mất ngủ nhiều ngày, sau khi tôi thoát chết trong trận Tháp Bằng-An, Vĩnh- Ðiện, Quảng-Nam.

Và tôi cũng biết rằng trong thời gian 33 ngày đêm giao tranh diễn ra ở Pleime hồi tháng 8 vừa qua, chắc mẹ tôi cũng lo lắng không thua gì hai bà mẹ đang ngồi trước mặt tôi đây.

Thời buổi chiến tranh, mẹ của chú Phước, mẹ của chú Bình, cũng như mẹ tôi, và những bà mẹ của các chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa khác, đã phải sống với nỗi phập phồng, lo âu, ngày này, qua ngày khác, suốt tháng, quanh năm. Nước mắt chảy xuôi. Trên cõi đời này, không ai thương con bằng mẹ!

Trước khi tiễn chân mẹ chú Phước và mẹ chú Bình ra khỏi phòng, tôi đã hứa,

– Cháu không đủ quyền hạn để cho hai em làm công việc không tác chiến được. Nhưng cháu hứa rằng, cháu sẽ cho hai em làm việc ở bộ chỉ huy tiểu đoàn, dưới quyền trực tiếp của cháu. 

Từ ngày đó Chuẩn úy Lê Văn Phước được giữ chức Phụ tá Ban 3 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, dưới quyền Trung úy Trần Dân Chủ; Trung sĩ Lê Văn Bình được giao nhiệm vụ phụ tá khẩu đội trưởng súng cối 81ly của Thượng sĩ Nguyễn Văn Năng.

Ăn cơm trưa xong, tôi trở lại công tác “thẩm vấn” lý lịch những đồng đội mới.

Theo thứ tự A, B, C thì anh tân binh có tên Nguyễn Văn Bính là người lính đầu tiên được ông Trung sĩ Nguyễn Phượng Hoàng đưa vào phòng.

– Em là Binh nhì Nguyễn Văn Bính, trình diện Thiếu tá ạ!

– Chào anh Bính! Ngồi xuống ghế đi! Tôi ra lệnh.

– Dạ! Vâng ạ! Em xin phép ạ! Bính lễ phép, khép nép ngồi xuống ghế.

Vừa nghe tiếng anh tân binh này đối đáp vài câu, tôi bỗng giật mình, lạnh gáy. Giọng nói Bắc Kỳ của anh Bính này khác hẳn giọng nói của dân Bắc Di Cư năm 1954. Tôi cũng là dân Bắc Di Cư, nên tôi nhận ra ngay, anh tân binh này không phải là người xuất xứ từ Hố-Nai, Gia-Kiệm, Cái Sắn hay Blao.

Tôi đã từng là một sĩ quan Tình Báo đảm trách rất nhiều cuộc thẩm vấn tù binh ngoài mặt trận; tôi chắc chắn rằng anh tân binh trước mặt tôi chính là một cán binh Cộng-Sản mới từ Miền Bắc xâm nhập vào. Không biết vì nguyên do nào mà anh ta lại trở thành một anh lính Việt-Nam Cộng-Hòa?

Thời đó dân Tình Báo Chiến Trường chúng tôi thường gọi giọng nói của các cán bộ Trường-Sơn là “Tiếng Bắc Xâm Nhập”

Sau năm 1975, thì dân chúng Miền Nam gọi thứ tiếng nói này là “Tiếng Bắc 75”

Tôi bước vội ra cửa hất hàm cho Hạ sĩ Nguyễn Ba; chú Ba nhanh nhẹn kẹp khẩu M 16 trấn giữ sát cửa văn phòng ngay.

Nhìn mặt anh tân binh vừa hiện ra nét lo lắng, trong trí tôi chợt nảy ra một diệu kế. Tôi liền chụp cái gạt tàn thuốc lá bằng sứ giơ lên cao khỏi đầu rồi đập mạnh xuống mặt bàn.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by6 Sơn râu 10 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Em Nhỏ, Hầm Biệt Giam Và Giáng Sinh

Phần 27 – Phần cuối

Mấy tháng trước, người ta nhốt Cu lai dưới hầm biệt giam, tôi chưa rõ hầm biệt giam chỗ nào và ra sao. Bây giờ tôi rõ, quá rõ. Hầm dài ba mét, dư sức tống nhét hai chục thằng tù nhãi vi phạm kỷ luật nặng, bề ngang khoảng tám tấc, sâu gần một mét. Người ta kê gạch cách một tấc một cục theo chiều dài miệng hầm và đậy những miếng tôn xếp dọc lên kín mít. Như thế, kẻ bị nhốt dưới hầm thở hít khó khăn qua những khoảng cách hở của những cục gạch. Trên những miếng tôn là những tảng đá lớn. Kẻ bị nhốt không thể đứng thẳng dậy. Đứng thẳng, đầu sẽ đụng nắp hầm và vệ binh tưởng trốn sẽ ria đạn. Đành đứng khom lưng. Người ta không đào hầm thật sâu, vì vậy. Vì muốn kẻ vi phạm kỷ luật khổ sở, điêu đứng với tội lỗi của nó. Bề ngang của hầm chỉ giới hạn khoảng tám tấc để kẻ bị nhốt không thể duỗi thẳng chân. Đành ngồi dựa lưng, thả chân chứ khó nằm ngủ. Nếu nhốt hai chục đứa, chắc sẽ ngộp thở và phải ngồi. Số tôi còn may, hầm có một mình nên nằm dọc được. Mùa này khô nắng, chứ mùa mưa thì nằm ngồi trên nước bùn lõng bõng, cóc nhái, rắn tha hồ rơi xuống kết bạn với tù.
Tôi khom lưng đi hết chiều dài của hầm biệt giam xem có con rắn, con rết, con bò cạp nào không. Ở Phước Long nhiều rắn lắm, hàng trăm loại. Tôi có thể phân biệt ngày đêm nhờ những khoảng cách hở của những cục gạch. Lúc này là chiều, Mai bím vừa báo giờ, các đội chưa về mà nắng còn dữ dội. Mái hầm nóng bỏng. Người ta vất sẵn dưới hầm cái thùng đạn đại liên để kẻ bị nhốt tiêu vào đó. Còn tiểu thì tự do ở đáy hầm. Tôi không biết, trên thế giới, có kiểu biệt giam nào ghê gớm như kiểu biệt giam dưới hầm này không. Chứ, lạy Chúa, nếu Chúa đừng bắt con chết như thằng Cu lai, Chúa cho con sống, con sẽ thấy được niềm bí ẩn lung linh trong cuộc đời những ngày con bị quăng xuống hầm biệt giam. Tôi uống thêm ngụm nước nữa rồi ngồi thở. Tôi chưa thèm ăn. Đội về, nghe tiếng ồn ào tôi biết. Tôi còn biết cả giờ giấc qua từng hồi kẻng. Bóng tối trùm đen đặc trại, đen đặc hầm biệt giam, tôi mới ăn chén cơm và húp hết cóng canh của Mai bím. Tôi nhớ Bé Hai, không nhắm mắt nổi. Tôi cũng sợ Cu lai chết oan tức tưởi hóa thành ma, rình tôi ngủ bóp cổ tôi. Tôi làm dấu, cầu nguyện mà tâm hồn vẫn bối rối. Người ta khen tôi ngoan ngoãn, chăm chỉ, không chửi thề, văng tục rồi người ta đánh tôi vì tội đeo tượng Chúa và bỏ tôi xuống hầm tối tăm, hôi hám, ngộp thở, nơi đã có đứa chết dập thê thảm mà tôi biết rõ là Cu lai. Trước ngày tôi về trại, những đứa nào đã chết dưới hầm, tôi không biết.
Mái hầm đã nguội dần từ lúc mặt trời lặn. Bây giờ nó mát và lạnh. Nửa đêm thì lạnh buốt, rờ vào nó như rờ nước đá. Tôi ngồi co quắp không rét buốt, thèm cái chăn. Khó mà ngủ nổi dưới hầm mái tôn mùa đông rừng rú. Đêm chịu đựng lạnh. Ngày chịu đựng nóng. Những cơn gió quái ác, ban ngày mong nó nổ đom đóm mắt, nó không tới, ban đêm nó đùa rỡn chui qua kẽ hở tạo nên những tiếng rú đâm vào thân thể mong manh chiếc áo phạm của tôi. Tuy mùa đông khô ráo nhưng đất hầm vẫn ẩm và đũng quần tôi ướt nhẹp. Tôi phải chịu đựng mười lăm ngày đêm. Tôi ước ao giá Mai bím, Bé Mai hay bất cứ đứa nào bị nhốt chung với tôi thì đỡ sợ hãi. Tôi sợ ma và sợ chết. Tôi đã nhiều lần muốn chết, giờ gần cái chết, tôi run rẩy và mong sống. Dù sống để lao động quần quật, sống để ăn sắn, ăn ngô, ăn khoai và ăn đòn! Tôi thèm sống, thèm về với gia đình để kể cho bố mẹ tôi, các em tôi, bạn bè tôi nghe chuyện phiêu lưu các nhà tù của tôi.
Cứ nghĩ miên man, tôi thức trắng một đêm dưới hầm. Sáng sau, khi đội tập họp lao động, hầm bớt lạnh, tôi mới ngủ. Và ngủ đến lúc Mai bím gõ nắp hầm thì tôi biết là giờ cơm kỷ luật.
– Tao đây, Mai bím đây, Vũ ạ!
– Rõ.
– Đưa ca cóng lên đổi ca cơm, cóng canh mới.
– Rõ rồi.
– Mày nhấm nháp nước thôi kẻo hết là chết khát. Ngày hai gô, ráng uống cầm chừng. Tao mang cái khăn cho mày lau mặt.
– Mang mền được không?
– Cấm.
– Đêm tao rét run.
– Tao biết. Mày ngủ được chứ?
– Tao thức.
– Tao cũng vậy, tao lo mày không ngủ nên thức luôn. Bé Hai khóc sưng cả mắt. Liệu mày chịu đựng nổi không?
– Tao nghiến răng.
– Phải thế thôi, thoát phen này là hết sợ tù đày. À, mai lại Giáng Sinh, lẹ ghê. Mày muốn chào mừng Chúa một cóng canh nhái cải trời dưới hầm không?
– Muốn.
– Giá có tượng Chúa khác nữa nhỉ?
– Ừ.
– Tao sẽ khắc tượng khác tặng mày.
– Bảo Bé Hai làm cho tao cái cây Noel như năm ngoái.
Mai bím đã nhích cái nắp hầm. Tôi chuyền ca cóng lên và nó thả cơm, nước xuống cho tôi. Mai bím hành động thật chậm, cốt ý che mắt vệ binh trên chòi canh.
– Đừng nghĩ cái con …
Nó khựng lại. Tôi hiểu tại sao nó khựng lại.
– Hãy nghĩ tới ba má mày, em mày và hai đứa tao, ráng ăn no ngủ kỹ nhé, Vũ!
Tôi cố ngước nhìn Mai bím. Hình như, tôi thấy Chúa trong đôi mắt buồn bã của nó.
– Mày bắt tao hứa, mày cũng phải hứa với tao.
– Tao hứa, Mai ạ!
Mai bím kéo nắp hầm kín lại. Nó đè đá tảng lên và bỏ về. Tôi thấm chút nước lạnh trong gô của tôi mang theo hôm qua vào cái khăn. Lau mặt và cổ gáy xong, tôi dễ chịu. Đói quặn bụng từ sớm tới giờ, tôi ăn hết sạch ca cơm và cóng canh. Nếu Mai bím không làm trật tự, tôi chỉ được một bữa một cục cơm bằng cái hột vịt ăn nhạt. Chúa vẫn còn thương tôi. Chúa muốn tôi nếm mùi đòn và mùi hầm biệt giam đây mà. Tôi nằm, gối đầu lên gô nước dựng đứng lót cái khăn, đợi mặt trời đổ lửa xuống mái hầm tôn. Mai bím khuyên tôi đừng nên nghĩ ngợi gì, nhưng tôi cứ nghĩ lại đêm mưa mù mịt ở sân Hoa Lư, chuyến đi Đà Nẵng kinh hoàng và trận roi giây điện lạnh ớn xương.
Đêm mai Giáng Sinh. Năm ngoái Bé Hai và tôi chơi Giáng Sinh bằng cây bằng lăng nhỏ xanh mướt tấm lòng của Bé Hai. Hai chúng tôi ngắm sao trời và tưởng Chúa nhìn mình thương xót. Bé Hai hát thánh ca như thiên thần ru ngủ. Năm nay, tôi ở dưới hầm biệt giam, không được ngắm vì sao đơn độc run rẩy phía trời xa, không được nghe Bé Hai hát thánh ca ngọt lịm, không được thấy những bông hoa dại đủ màu trên cây Giáng Sinh của Bé Hai. Năm ngoái, Bé Hai ao ước làm cái hang đá, nặn tượng Chúa Hài đồng, tượng Đức Mẹ, các Thiên thần và các vua. Nếu Bé Hai đã làm hang đá, nó đã xuống hầm rồi. Nghĩ tới cái hang đá mơ ước của Bé Hai, tôi ngồi vụt dậy. Tôi sẽ có cái hang đá tuyệt vời.
Tôi mở cái nắp gô, khom lưng đi tới giữa hầm. Đất mềm dễ đào thôi. Tôi ngồi, dùng cái nắp gô khoét cái hang ngang tầm đầu tôi. Kẻng tan lao đã gầm gừ. Mặc xác nó gầm gừ. Đội đã về, sân trại ồn ào. Nắng đang gay gắt. Nắp hầm nóng hừng hực. Ngồi dưới hầm như ngâm mình trong nước ấm già. Không khí ngột ngạt hôi hám nên con người lúc nào cũng lờ đờ mệt mỏi. Tôi khoét cái hang nhỏ hình cánh cung chẳng khó khăn gì. Khoét xong, tôi miết cái nền hang phẳng lì, nhẵn bóng. Ba bề hang, tôi chà cẩn thận. Tôi đã có cái hang đá dưới hầm ngục một cách dễ dàng. Dơ hai bàn tay gần sát mái tôn cho mau khô, tôi phủi đất cát sạch sẽ. Tôi chùi tay vào quần, không dám rửa, sợ hết nước uống. Ở hầm biệt giam, uống cần hơn ăn. Nhờ tôi bị đòn ít nên mới còn sức. Chứ, sáng bị quần, đêm bị quần như Mẫm điếc, Cu lai, chắc chắn, tôi đã chết rồi.
Nóng quá, tôi không ngủ nổi, cứ ngồi dựa lưng vào vách đất ẩm, thả dài chân, ngủ gà ngủ vịt. Ban ngày mong chóng tối cho đỡ phí mồ hôi, ban đêm mong chóng sáng cho đỡ lạnh cóng. Ngày khổ, đêm khổ. Nắng khổ, lạnh khổ. Nếu nhằm mùa mưa còn khổ cực chừng nào! Chú Tường bảo ý nghĩa của đời sống chỉ tìm thấy trong những nỗi thống khổ. Và niềm bí ẩn, từ đó, phóng ra lung linh màu sắc, rực rỡ hào quang. Tôi chưa tìm thấy trong nỗi thống khổ một ý nghĩa nào của đời sống. Phải đến một tuổi nào chăng, hoặc là, ý nghĩa ấy đã thâm nhập vào tim óc tôi, đã biến thành máu, thành thịt làm tôi lớn lên, khôn ra mà tôi chẳng hề biết. Tôi không muốn làm thanh thép non nhưng đã là thanh thép non, thanh thép non đang tôi luyện trong lò lửa cực nóng. Thép không thể chảy. Tôi không thể chết. Tôi mới biết tin thế, và điều đó liệu có thể gọi là ý nghĩa của đời sống chưa nhỉ?
– Vũ, Vũ, tao nè …
– Rõ.
– Trưa mai mày có cây của Bé Hai. Mày ăn hết cơm canh chứ?
– Hết sạch.
– Tốt.
– Nhà bếp còn nhiều khoai sống không?
– Còn cả tỷ! Tụi nó thổi ác mô ni ca dài dài. Cả trại đau răng vì gặm bắp đá cứng đơ. Mày nóng ruột thèm cạp khoai sống hả?
– Không. Mày lấy khoai khắc cho tao ít tượng được không?
– Tượng gì?
– Hỏi Bé Hai ấy. Bảo nó là tao có cái hang đá rồi.
– Xiện chứ?
– Xiện. À …
– Gì nữa. Nói lẹ kẻo nó nghi!
– Mày kiếm được tí dầu nhớt không?
– Dễ ợt. Ra cơ quan xin thằng lái xe.
– Cho tao chút xíu đựng vào cái ve nhỏ.
– Gì nữa?
– Mấy que diêm có vỏ hộp.
– Nguy thấy mồ, nó bắt được là mày chết rũ dưới đó.
– Tao thắp ngọn đèn nhỏ xíu, nó không biết đâu. Nửa đêm tao mới thắp, nó ngủ hết trơn, hơi nào đi xét.
– Để tao nghĩ cái đã. Lấy cơm ăn đi!
Nắp hầm kéo khít lại. Mai bím đã về. Tôi tin rằng Mai bím không từ chối sự xin xỏ của tôi. Cán bộ trực trại “khoán” cái hầm biệt giam cho bọn trật tự. Bọn trật tự cử một thằng phụ trách cơm, nước và kiểm tra hàng ngày xem tù kỷ luật còn sống hay chết. Hẳn là bọn trật tự đã cử Mai bím vì bọn nó biết Mai bím thân với tôi. Dân vỉa hè độc ác thì vô cùng và khi tình nghĩa thì tình nghĩa đáo để. Bọn trật tự ngán Mai bím đã đành mà còn thương Mai bím “anh hùng” liều lĩnh nên ngó lơ chuyện Mai bím tiếp tế cơm ăn, nước uống cho tôi vượt tiêu chuẩn. Tù bệnh còn chẳng được ăn uống như tôi, nữa là tù kỷ luật nhốt hầm biệt giam. Ban đêm cán bộ trực trại, vệ binh không vào trại. Con nít không dám nổi loạn phá trại, người ta khỏi cần đề phòng. Người ta chỉ vào trại nếu phát hiện đứa trốn trại hay chém giết nhau. Còn thì giao cho bọn trật tự canh gác ban đêm. Tôi sống ở trại này hơn một năm rồi, tôi hiểu rõ sinh hoạt của trại nên mới đòi hỏi Mai bím vụ dầu, diêm. Ăn cơm chiều xong, tôi bắt đầu sợ hãi cái lạnh đêm thứ hai. Khó lòng chống cự với nó. Tôi cảm tưởng tôi là miếng thịt. Đêm, thịt ướp đông lạnh. Ngày, thịt chảy nước, mềm nhũn.

Photo edit by Sơn râu

Lại suốt một đêm thứ hai dưới hầm, tôi không ngủ. Cứ ngồi bó gối chặt cho chân tay khỏi run. Cu lai và những thằng nào khác nữa đã chết, chắc vì đói quá hết sức chống cự với cái lạnh quái ác. Giá nắp hầm xây bê tông cốt sắt hay đậy bằng gỗ thì sẽ không bị rang nóng và ướp lạnh. Vậy thì còn chi là kỷ luật! Kỷ luật làm mòn mỏi tâm hồn, rã rời thể xác. Kỷ luật làm con người khiếp đảm và hèn hạ. Kỷ luật làm con người phải xác nhận con bò có ba chân, đôi khi con bò giống hệt con người, tùy thuộc kỷ luật cao mức độ nào và người chơi trò kỷ luật muốn nó ra sao. Thí dụ, người chơi trò kỷ luật muốn con bò là vị cứu tinh của tổ quốc, là cha già dân tộc, là lãnh tụ quang vinh, người bị kỷ luật phải răm rắp tin tưởng con bò là cha già dân tộc. Cho nên, kỷ luật còn làm con người ngu xuẩn, kể cả người chơi nó lẫn kẻ bị nó chơi. Tôi quen chưa nói là, trước ngày tôi bị đày xuống hầm, bọn văn hóa đã cắt tóc cho tôi. Mỗi hai tháng, trại viên được cắt tóc một lần. Để tóc rậm bù, sẽ vi phạm điều lệ Nếp sống văn hóa mới. Lỡ cắt trọc lốc sẽ phạm tội chống cách mạng. Để kim khí bén nhọn thì cấm xử dụng nhưng móng tay dài thì vi phạm điều lệ vệ sinh. Bọn văn hóa, vệ sinh không cắt móng tay, móng chân cho trại viên. Trại viên đành cắt móng tay, móng chân bằng i nốc, sắt mỏng mài sắc hoặc bằng mảnh thủy tinh, hoặc cắn bằng răng rồi mài nhẵn lên mắt đá phẳng.
Càng gần sáng, sương xuống càng nhiều. Cuối năm, sương mù mịt. Mặt trời mọc thật muộn. Sương rừng nặng hạt lắm, nó rơi lõm bõm trên mái tôn. Nó là những viên đá nhỏ. Nó đọng ở nắm hầm. Nó đâm từng mũi buốt xuyên qua da thịt tôi, ớn tận xương. Tôi phải tưởng tượng bát bún bò Huế cay bỏng lưỡi, bát phở nóng hổi, ly cà phê sữa, cục đường phổi để chiến đấu chống lạnh giá. Bếp lửa nấu bánh chưng đêm ba mươi Tết là thiên đường, bây giờ. Và cái giường đệm, cái chăn dầy đã hạnh phúc trọn đời mình. Cùng lắm là mười giờ sáng hôm sau, giờ cơm, nắng đã khô sương.
– Vũ, Vũ, mày thức chưa? Mai bím đã tới.
– Ngủ đâu mà thức.
– Cả đêm mày không ngủ à?
– Lạnh chết người.
– Tội nghiệp mày, sáng giờ cũng không ngủ sao?
– Không.
– Tao mang đủ thứ mày dặn đây. Tao túm gọn vào cái bao giấy. Mấy ông tượng khoai, tao khắc nhanh, xấu ỉn.
– Tốt, có là tốt.
– Bé Hai chưa về, chiều mới có cành cây.
– Nhớ đấy.
– Ừ, tao về nhé! Cố ngủ chút kẻo gục, Vũ ạ!
– Tao sẽ cố.
Mai bím đã về. Nắp hầm kéo kín. Tôi chưa vội ăn uống. Mở bọc giấy ra, tôi sung sướng quên cả nóng lạnh. Bé Hai đã chỉ dẫn Mai bím khắc các thứ tượng bằng khoai lang. Chúa Hài Đồng năm trên nôi, Đức Mẹ, các Thiên Thần, các vua, thánh Giu Se, hai chú chiên con. Mai bím không nhớ mặt Chúa Hài Đồng. Nó có biết Giáng Sinh là gì đâu! Nó khắc mặt Chúa Hài Đồng già nua và buồn bã như nó đã khắc trên gỗ mun. Đức Mẹ, thánh Giu se, Thiên Thần, các vua, Mai bím khắc hình sai hết. Nhưng hai chú chiên con, Mai bím gọt khắc thật đẹp. Mai bím tài ghê. Nó sáng tạo cái nôi là củ khoai và khắc Chúa luôn trên củ khoai. Nó chế cái đèn bằng lọ dầu cù là thủy tinh, châm dầu Gasoil đầy nhóc. Giữa cái nắp nhôm vặn chặt, Mai bím làm cái tim vải. Tôi bỏ hộp quẹt còn vài cái diêm vô túi, sợ nó ẩm quẹt hết cháy, rồi khuân tượng tới hang. Cất tượng vào hang, tôi về chỗ của tôi ăn cơm. Bữa cơm trưa nay ngon miệng quá. Tôi cảm thấy tôi chưa khổ, tôi vẫn nhiều hạnh phúc, tôi còn Mai bím và Bé Hai cho tôi những thứ tôi mong muốn. Nếu Mai bím và Bé Hai cũng là ý nghĩa của đời sống thì tôi đã biết cái ý nghĩa đó, cái ý nghĩa tuyệt vời trong tâm hồn một đứa bé cô nhi viện và một thằng móc túi vỉa hè. Ý nghĩa ấy đong đưa và bay lơ lửng thành điệu ru êm ái ru tôi ngủ ngon dưới hầm hấp nóng. Tôi có giấc ngủ tường chừng không bao giờ có.
– Vũ, Vũ, Vũ… Mai bím đang bê những tảng đá trên nắp hầm. Mày ngủ được hả, Vũ?
– Ừ, tôi đáp, mắt còn thèm nhắm tít.
– Ngủ ngon chứ?
– Ngon lắm.
– Tao mừng đấy, tao lo mày mất ngủ. Có cành cây, ốc ma trắng và hoa lu bù của Bé Hai. Có cái này nữa…
– Cái gì?
– Lát nữa mày sẽ biết. Cái này của tao, mày nói với Chúa là tao dâng ổng nhé! Quên, quên, tao dâng Chúa. Buồn thối ruột, xoay mãi không ra mấy cục đường đen thổ tả!
– Tối nay mày với Bé Hai đảo quanh đây nhé!
– Ừ.
– Bảo Bé Hai chỉ cho mày thấy vì sao trên trời.
– Ừ.
– Mày phải cầu nguyện với Bé Hai.
– Tao biết gì mà cầu!
– Nghe Bé Hai đọc kinh rồi mày xin Chúa điều gì mày thích.
– Tao sẽ xin cho mày về nhà mày ở Sài gòn thôi, còn tao chả cần xin xỏ.
– Bậy bạ mày! Mày cầu xin Chúa cho ba đứa mình về sống với bố mẹ và em tao.
– Ừ, ừ…
– Khi kẻng báo ngủ, mày nhắc Bé Hai hát thánh ca, may ra tao nghe rõ đấy.
– Tao sẽ nhắc nó. Đêm nay ráng ngủ ngon nữa nghe, Vũ ! Này, cóng canh những mười chú nhái mập thù lù đó.
– Cám ơn mày.
– Cám ơn cái khỉ mốc gì. Mày còn cám ơn, tao bỏ đói mày luôn. Tao ghét đứa nào cám ơn tao lắm.
– Mai!
– Gì?
– Tại sao mày thương tao thế?
– Tao… tao không hiểu. Tao về nhé!
Mai bím suýt buột miệng nói “Tao đéo hiểu”, nó ghìm được. Nó đã hứa với tôi không chửi thề, văng tục mà. Nó về, sau khi đã chuyền cơm, nước và cái “lát nữa mày sẽ biết” gói trong tờ báo cũ. Tôi ngạc nhiên thích thú. Đó là cái bánh làm bằng bột sắn. Mai bím phàn nàn “xoay mãi không ra đường” thì chắc là bánh mặn. Tôi biết cách Mai bím làm cái bánh này. Nó kiếm miếng nhôm mỏng hoặc vỏ hộp bia, cắt ra, bẻ phẳng rồi lấy đinh nhọn đóng lỗ lí nhí sát nhau. Rồi bẻ cong lại. Nó mài củ sắn bằng cái bào trong ca nước. Bột củ sắn tươi với nước đặc quánh. Mai bím quấy chút muối, đổ vô nồi, nhóm bếp nướng, khơi than hồng đặt kín nắp. Nếu có đường, có nho, có bơ, bánh sẽ ngon lắm. Vì không đường, không cả mỡ phết đáy nồi nên cái bánh bị cháy đít. Chúa đã hiểu lòng Mai bím rồi.
Tôi bứt ít lá rắc trên thềm hang và ít hoa dại cắm ở ba bề rải rác. Và tôi bày tượng. Chúa Hài Đồng nằm đây. Đức Mẹ đứng gần Chúa. Thánh cả Giu se chỗ này. Thiên Thần canh chúa. Các vị vua hướng mặt về phía Chúa. Hai chú chiên con ngơ ngác trước cửa hang. Ngọn đèn đặt giữa hang. Cây Giáng Sinh của Bé Hai được cắm sâu vào tường hầm gần “hang đá”. Tôi cầm tờ báo cũ, gấp tư, quạt khẽ làm gió thổi. Những con ốc ma trắng toòng teng chạm nhau kêu lách cách. Mải mê trang hoàng hang đá, tôi quên khuấy mình đang ở trong lò nướng bánh mì. Tôi ngồi chờ kẻng gầm gừ. Hôm nay tôi mong nó gầm gừ. Tan lao. Bé Hai đã về trại. Bé Hai xách cóng canh Ốc rau tàu bay. Tưởng tượng bước chân và nụ cười của Bé Hai. Điểm số. Bé Hai xếp hàng. Bé Hai sắp thoát ra sân, lại gần hầm biệt giam với Mai bím.
Nắng đã tắt ngóm. Hầm tối om. Tôi mò tới hang đá, quẹt diêm châm đèn. Ánh sáng tràn ngập hang đá. Và, lạ lùng khó mà tả, những tượng khoai của Mai bím rạng rỡ, tươi vui như sống thật và đáng muốn nói với tôi điều gì. “Bé Hai, lại đây”, Mai bím gọi lớn, báo hiệu cho tôi là Bé Hai và nó đang quanh quẩn cách hầm biệt giam không xa mấy. Ánh sáng của ngọn đèn không thể thoát lên sân trại được. Nó chỉ đủ làm rực rỡ cái hang đá một đời tôi, cái hang đá, sau này, tôi nghĩ hai nghìn năm đã qua và hai nghìn năm sẽ đến chẳng có ai sáng tác nổi. Dễ hiểu thôi, bởi vì, đã và sẽ chẳng có ai, bằng tuổi tôi, ngụp lặn chới với giữa giòng nghịch lũ khốn khổ, bởi vì, đã và sẽ chẳng có ai trả giá cái hang đá này bằng những ngọn roi giây điện hằn lươn tím bầm đầy mình mẩy và những ngày đêm nóng chảy mỡ, lạnh đông máu dưới hầm biệt giam mùa đông ở rừng già hiu quạnh Phước Long. Và nữa, đã và sẽ chẳng có ai được Bé Hai tặng cây Giáng Sinh bằng lăng non kết nhiều vỏ ốc ma trắng, nhiều hoa dại và được Mai bím tặng tượng Chúa Hài Đồng, Đức Mẹ, thánh Giu se, Thiên Thần, các vua khắc bằng khoai lang sống.
Ánh sáng của đêm vô cùng từ hang đá của tôi không thể thoát lên thời đại khốn cùng nhưng lại đang chập chờn trong đôi mắt thiên thần Mai bím, Bé Hai. Chúng nó đứng cách tôi không xa mấy. Chúng nó gần tôi lắm. Hai đứa đây này, hai thiên thần khoai lang hiền hậu đang nhìn tôi. Tôi say mê ngắm hang đá, say mê ngắm vùng ánh sáng huyền diệu và, sau này, tôi dám đoan quyết, cái hang đá dưới hầm biệt giam của tôi mới giống hệt cảnh tượng Chúa Giáng Sinh trong máng cỏ đêm đông Bê lem diễn tả ở Thánh Kinh. Linh hồn ba đứa chúng tôi đã nhập vào tượng khoai. Ôi, Mai bím, nhà nghệ sĩ thánh thiện của tôi, đứa trẻ vỉa hè móc túi đã khăng khăng không tin Chúa thương nó lại sáng tạo nổi tượng Chúa Hài Đồng ngủ ngoan trên củ khoai lang oan nghiệt. Tôi quỳ trước hang đá, làm dấu và cầu nguyện. Trên kia, Bé Hai đang chỉ cho Mai bím nhìn vì sao cô độc, run rẩy góc trời xa và bảo Mai bím rằng Chúa đấy. Bé Hai cầu nguyện. Bé Hai đọc kinh Kính Mừng. Mai bím ngoan ngoãn nghe và cầu xin.
Tôi không thấy kẻng báo ngủ gầm gừ nhưng rõ mồn một giọng hát thánh ca của Bé Hai… “Ơn Thiên Chúa vô bờ bến, biết tìm kiếm của chi đền”. Tiếng hát tan trong không gian mù mịt. Rồi hoàn toàn im lặng. Hoàn toàn vô cùng. Bé Hai, Mai bím đã về nhà. Tôi vẫn chắp tay quỳ nguyên trước hang đá. Cho đến khi ngọn đèn tắt thì tôi không còn biết gì nữa.
– Vũ, Vũ, Vũ, Vũ!
– Rõ.
– Mày ngủ kỹ thế, tao gọi lớn, gọi hoài, suýt nữa tao phải dở nắp hầm xem mày còn sống không. Mày làm tao hoảng quá.
– Tao ngủ từ đêm qua tới giờ.
– Bánh mừng Giáng Sinh của tao ngon chứ?
– Tao chưa ăn.
– Cóng canh ngọt lịm?
– Tao cũng chưa ăn uống gì cả. Cơm, canh, bánh, nước y nguyên.
– Kỳ vậy!
– Ờ, kỳ lắm. Tao quỳ trước hang đá cầu nguyện rồi tao ngủ quỳ, mày ạ!
– Mày đói ngấu.
– Chẳng đói khát tí nào. Tao hết mệt mỏi, đau nhức luôn. Những vết roi nó quất tao, giờ lại ngưa ngứa, gãi thú vị ghê.
– Chúa thương mày đấy, Vũ ạ!
– Đêm qua mày có cầu nguyện với Bé Hai không?
– Có.
– Vậy nhờ mày cầu xin nên Chúa mới thương tao, Mai ạ! Này Mai…
– Gì?
– Mày khắc tượng đẹp nhất thế giới.
– Thôi mày, chuyền cơm canh cũ lên tao phát cho Bé Hai. Bữa nay mày dư cóng nước. Lẹ đi, bể hết bây giờ.
Mai bím thả cơm canh, nước mới xuống. Tôi chuyền cơm canh cũ lên. Ổ bánh của nó, tôi bẻ đôi, một nửa gởi tặng Bé Hai, một nửa tôi giữ lại ăn dần. Nó kéo nắp hầm, vọt lẹ. Tôi ngồi bình thản ăn uống. Nắng hừng hực trên đầu tôi. Không sao, tôi đã quen rồi. Cơm nước xong, tôi nhổ cây Giáng Sinh của Bé Hai, bỏ gọn vào hang. Rồi tôi lấp đất kín, chà miết phẳng phiu. Tượng, đèn, cây lá bị nhốt trong làng. Bấy giờ, tôi chỉ muốn phi tang chúng. Nhưng, bây giờ, khi ngồi viết những giòng chữ này, tôi bỗng có ý nghĩ lạ lùng. Biết đâu tượng khoai chẳng hóa thành tượng đá. Và mấy nghìn năm sau, các nhà khảo cổ khai quật vùng đất Phước Long, bắt gặp một cái hang đủ bộ tượng đá, đặc biệt, tượng Chúa Hài Đồng giống hệt tượng Chúa tòa thánh La Mã, họ sẽ giải thích ra sao. Họ sẽ đánh giá nghệ sĩ Mai bím thế nào và có xác định nổi thời đại nghệ sĩ Mai bím sáng tạo tượng đá với sự cố vấn tạo hình của nghệ sĩ Bé Hai là thời đại ngô, khoai, sắn ăn thay cơm gạo không? Tôi nghi ngờ các nhà khảo cổ lắm. Ý nghĩ lạ lùng khác. Biết đâu khoai tượng chả nẩy mầm, chồi lên từ lòng đất sâu chôn chặt rồi đơm bông, kết trái. Trái bung vỏ, tỏa khắp nhân gian một nền văn minh mới. Một nền văn minh Việt Nam, nền văn minh mà hiền nhân Tây phương hằng mong ước phát xuất ở Đông phương, cứu rỗi chúng sinh ta bà thế giới thoát khỏi móng vuốt của những nền văn minh phi nhân bản hiện đại. Ở nền văn minh Việt Nam mới, con người gần gũi con người, yêu thương nhau thắm thiết, không gian dối, không thù hận, không kỳ thị màu da, chủng tộc, không buôn bán súng đạn, xác chết, không còn ai dại dột, ngu xuẩn đem chiến tranh ý thức hệ vào đất nước mình, không nhà tù lao cải và con bò nhất định phải có bốn chân! Ý nghĩ của tôi lạ lùng mà rất con nít. Nhưng tôi có nhận tôi người lớn đâu ? Tôi vẫn là con nít khi ngồi ghi lại quãng đời niên thiếu thui chột của mình.
Bắt chước Mai bím, tôi lấy ngón tay vạch vào tường hầm để tính từng ngày mình bị đày đọa dưới hầm. Tôi đã vạch được chín cái. Quá tuần lễ rồi. Tôi chào mừng năm 1977 ở hầm biệt giam. Năm nay tôi mười lăm tuổi. Tôi không thấy mình lớn bao nhiêu. Có lẽ, mẹ tôi mới thấy tôi lớn. Mai bím nuôi tôi đều đặn. Nó vừa báo tin buồn cho tôi. Kể từ mồng 2 tháng 1 năm 1977, trại ăn khoai, sắn, ngô trăm phần trăm. Nhà bếp hết gạo nấu cơm, Mai bím không xoay đâu ra cơm bồi dưỡng tôi nữa. Nó chỉ còn khả năng kiếm chác thêm khoai. Tôi bình thản trước cái tin buồn của Mai bím. Đã chịu đựng quen, tôi hết sợ hãi nắng ban ngày, lạnh ban đêm. Hôm tôi vạch cái thứ mười bốn thì Mai bím nói đã nhắc khéo cán bộ tôi sắp mãn hạn kỷ luật.
Mười bốn ngày dưới hầm biệt giam, đối với thằng bé mười lăm tuổi chưa đủ tháng, phải chống chọi với sự sợ hãi, sự im lặng, kể cũng đáng một thành tích cải tạo tư tưởng! Cái thùng đại liên sắp không đậy nắp được. Mỗi lần đi tiêu, tôi bốc đất lấp phân nên thùng đạn mau đầy. Nếu không có mấy tờ báo cũ Mai bím gói dấu thức ăn cho, tôi đành xé áo chùi đít hoặc đi tiêu như con heo, con bò, con chó. Nước chẳng đủ uống, nói chi bớt phần rửa đít. Những chỗ xước máu trên những lằn roi đóng vảy làm da non ngứa ngáy dữ. Tôi gãi nhẹ một cách thú vị. Cáu ghét rơi lả tả. Mười đầu ngón tay tôi là mười cái muỗng nhỏ nhớp nhúa cáu ghét. Buồn tình, tôi tập kiểu tắm búng của dân nghiền thuốc phiện. Ở hầm biệt giam, không có gì đáng ghê rợn bằng sự im lặng. Người ta có thể “khắc phục” được đói khát, lạnh giá, nóng bỏng, nhưng khó mà “khắc phục” nổi sự im lặng. Sự im lặng không móng vuốt. Nó chỉ là cái bóng mơ hồ chụp kín tâm hồn ta. Và ta sẽ phát điên vì cái bóng đó. Giá không có Mai bím kéo nắp hầm nói chuyện từng khoảng khắc trong ngày, tôi đã điên rồi, tôi đã hò hét, đã đập phá và bị đánh chết. Người bị nhốt dưới hầm biệt giam là người hoàn toàn cô độc. Hắn tụt xuống khỏi dương thế và ở trên địa ngục. Hắn xa lạ cả hai nơi. Người khu trừ và ma quỷ không nhận. Tôi đã có mười bốn ngày đêm và sẽ đủ mười lăm ngày đêm kinh dị.
Hết ngày thứ mười lăm, nhờ Mai bím nhắc nhở cán bộ, tôi được ngoi lên cuộc đời, thứ cuộc đời chẳng đáng chi mừng rỡ. Mai bím mở tung một miếng tôn. Nó bảo tôi hít thở một lúc cho quen. Rồi nó đưa tay để tôi nắm. Nó kéo tôi lên. Tôi ngã vật, khó chịu. Mai bím bảo tôi say… khí trời. Khi tôi tỉnh tỉnh, Mai bím kéo tôi dậy. Nó nhìn tôi. Đôi mắt nó mở tháo láo. Nó không nói gì nhưng tôi hiểu nó nhìn thằng người nào đó gớm ghiếc chứ không phải nhìn tôi. Nước mắt nó ứa ra. Nó khẽ lắc đầu. Khuôn mặt nó thật buồn bã. Mai bím xách ca, cóng giùm tôi. Nó dắt tôi đến phòng cán bộ trực trại, cũng là phòng của bọn trật tự thuộc Nhà 1. Cán bộ trực trại lên lớp tôi một chập rồi khuyên tôi đừng để tôn giáo phỉnh phờ, lừa gạt. Tôi dạ dạ, vâng vâng qua nạn. Cán bộ rời phòng đi về cơ quan. Mai bím bảo tôi ngồi chơi chốc lát rồi sẽ xách nước cho tôi tắm. Lúc ấy, kẻng giải lao vừa điểm. Buổi sáng ở trại yên tĩnh và mát mẻ.
Mai bím lại nhìn tôi không chớp mắt. Tôi hỏi nó:
– Tại sao mày nhìn tao như nhìn quái vật thế?
Nó mím môi. Và bật tiếng khóc. Tôi sững sờ:
– Tại sao mày khóc, Mai?
Mai bím đưa ống tay áo quệt nước mắt. Nó mếu máo:
– Tao thương mày.
– Tao hiểu, tao hiểu rồi.
– Chúa ơi!
Đến lượt tôi nhìn Mai bím không chớp mắt. Nó đã biết gọi Chúa ơi. Hai tiếng Chúa ơi từ miệng Mai bím thoát ra nghe mới dịu dàng, êm ái, vuốt ve làm sao! Tôi đã có nhiều giờ học giáo lý, tôi đã đi lễ ở nhiều nhà thờ, tôi chưa hề nghe sư huynh nào, linh mục nào nói hai tiếng Chúa ơi ngọt ngào, mời mọc, yêu thương như Mai bím. Tôi ngạc nhiên sung sướng. Một thằng móc túi vẫn có thể trở thành thiên thần. Và một thiên thần cũng có thể trở thành thằng móc túi. Tôi bỗng nhớ chú Tường. Nếu tôi chưa giành lại được danh dự và phẩm cách mà cuộc đời đã tược đoạt của bọn nhãi vỉa hè, hoặc tôi chưa giúp chúng nó thu hồi lại danh dự và phẩm cách làm người mà chúng cố tình vất bỏ thì, ít ra, tôi đã khơi dậy từ đáy tâm hồn Mai bím một đốm lửa thiên lương tưởng chừng đã lịm tắt.
– Chúa ơi! Tôi gọi Chúa. Chúa thương nó nhiều, Chúa dạy nó xưng danh Chúa thiết tha biết mấy.
– Mày nói lảm nhảm gì đấy, Vũ? Mai bím hốt hoảng.
– Tao ghen mày với Chúa. Mày gọi Chúa ơi ngọt lịm.
Mai bím chưa hết hốt hoảng. Nó cầm chặt tay tôi:
– Mày chưa khùng, hả?
Tôi cười:
– Tại sao mày nghĩ tao khùng? Tao không sao cả, không bệnh tật gì.
– Chắc chắn mày không đau đớn trong người chứ?
– Chắc.
– Bao tử?
– Không.
– Tim?
– Không. Tao đã nói không bệnh tật gì cả.
– Ủa, kỳ cục!
Nó buông tay tôi ra, rờ rẫm tóc tôi đã đời. Tôi nghi Mai bím khùng. Nó lại nghĩ tôi khùng.
– Mày có đau đầu không? Nó hỏi.
– Không, tôi đáp.
– Mày nhìn rõ tao không?
– Rõ.
– Vũ ạ, tóc mày dựng đứng như chông tua tủa, mắt mày thồi lồi như cá tàu ấy. Trông khiếp lắm.
– Thế à?
– Ừ. Ghê rợn, hầm biệt giam ghê rợn thật! Tao muốn chửi thề quá.
– Đừng chửi thề.
– Bao giờ mình đục được tụi nó như đục thằng Cung củ đậu mới sướng. Sẽ có ngày thôi … Sẽ có ngày liều lĩnh.
Tôi không ngăn Mai bím. Để mặc nó lẩm bẩm. Phú mù và bọn trật tự đi dòm ngó các nhà đã về. Mai bím hỏi chúng nó có thằng nào nằm hầm biệt giam về bị dựng tóc, lồi mắt như tôi không. Phú mù nói thằng nào bị nhốt bảy ngày trở lên là bị dựng tóc, lồi mắt hết. Vì ngộp thở, vì hơi đất độc, vì sợ hãi, vì phải mở căng mắt đề phòng… Ít lâu sau, tóc sẽ nằm và mắt sẽ xẹp như cũ. Mai bím yên tâm. Bây giờ, nó nhìn tôi cười chế nhạo âu yếm. Nó hỏi bọn trật tự có đứa nào có miếng gương soi cho nó mượn. Phú mù đưa tôi cái gương nhỏ vỡ đôi. Nó lượm ngoài cơ quan, của cán bộ đánh vỡ vất bỏ. Tôi soi khuôn mặt tôi trong cái gương nứt rạn. Hai năm rồi tôi mới thấy tôi. Tóc tôi dựng đứng dễ khiếp. Mắt tôi lồi ra. Tôi chẳng còn giống tôi tí nào. Tôi vừa từ địa ngục chui lên. Nhưng tôi vẫn sống. Thế là tốt đẹp.

(Trích Đồi Fanta)

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Và Một Kiểu Cachot

Phần 26

James Fisher được dẫn ngay đến một cachot mới. Không giống những quan tài xi măng khác, cachot này cao ráo, trần đầy móc sắt và sàn phun xi măng trộn cát, sành, thủy tinh tua tủa như bàn chông ngắn. Người ta còng tay James Fisher phía trước cố tình để chàng đọc rõ hàng chữ made in USA. Sau bữa cơm, người ta đổi thế còng. Hai tay chàng đưa về phía sau. James ngồi trên bàn chông. James nằm trên bàn chông. Chàng đã tới tầng thứ sáu của địa ngục. Nếu kể căn phòng người ta ưu đãi chàng, cho chàng nằm giường, cho chàng ăn uống no đủ cũng là một tầng địa ngục và các cachot chàng đã ở ròng rã tám năm trước khi bị chuyển về đây là một tầng địa ngục nữa thì James Fisher đã có mặt ở tầng địa ngục thứ tám. Nhà Phạt dạy rằng địa ngục cả thảy chín tầng thâm u. James Fisher đã mò mẫm đến tầng thứ tám.
Chàng ngồi phệt, mảnh sành, mảnh thủy tinh nhỏ đâm lên mông chàng. Tay bị còng phía sau, James khó khăn ngả mình xuống sàn chông. Mà đã ngả mình, lúc trở mình, xoay mình, ngồi dậy, đứng lên đều gian nan, đau đớn. Vậy thì James ngồi phệt, dựa vai vào tường. Chàng cảm giác mông chàng rướm máu. Mỗi bữa ăn, người ta tháo còng cho chàng. Đợi chàng ăn uống xong, đại tiện, tiểu tiện xong, người ta còng lại. Cachot có cái thùng đựng đạn đại liên đặt trong góc thay thế cái xô. Gần đó, một mớ giẻ rách dùng làm giấy vệ sinh. Ngày thứ hai, James bị còng thêm chân. Ngày thứ ba, người ta còng hai tay chàng chung với hai chân chàng. Ngày thứ tư, James bị còng tay phải chéo sau lưng với cổ chân trái. Ngày thứ năm, đổi chân, đổi tay. Ngày thứ sáu, James phải nằm sấp trên sàn chông, co chân lên để người ta còng hai tay chéo phía sau với hai chân. Ngày thứ bảy, James nằm ngửa, chân và tay còng chung.
James Fisher đã nằm trên bàn chông ở tầng thứ tám của địa ngục vì sự chân thật của con người. Lưng chàng, ngực chàng, mông chàng, bàn chân chàng, bàn tay chàng rướm máu hết. Nhưng James vẫn ngủ. Nhờ vượt lên đau đớn thể xác, chàng ngủ được. Và nhờ ngủ được, chàng tỉnh táo. Ngày thứ tám, Chi Mai cho dắt chàng ra gặp nàng.
– James, anh chân thật lắm, có điều anh hơi ngu.
– Những người chân thật đều bị hiểu lầm là ngu.
– Anh chống tội ác mà anh hứng tội cho kẻ ác.
– Cô nói kẻ ác nào?
– Bọn Nhà trắng và Lầu năm góc.
– Tôi chưa thấy rõ tội ác của họ.
– Trung tá Kirk Powell đã thấy rõ, hàng nghìn tù binh Mỹ đã thấy rõ, hàng triệu lính Mỹ đã thấy rõ, thế giới đã thấy rõ.
– Vậy thêm tôi là thừa.
– Thêm anh để anh về Mỹ. Tôi đã nói ngày về do anh, do chính anh chọn lựa. Anh nhất định khước từ yêu cầu của tôi.
– Tôi rất tiếc, cô Chi Mai ạ!
– Anh thương gia đình anh à?
– Tôi thương nhiều.
– Anh tình nguyện chết ư?
– Không. Nhưng nếu tôi chết ở đây là do ý Thượng đế. Tôi đã sống chân thật và sẽ chết chân thật, suốt đời làm người chân thật.
Người ta dẫn James Fisher trở lại tầng thứ tám của địa ngục có bàn chông và các kiểu còng chân tay. Bây giờ, cái còng số 8 made in USA, một bên máng vào cườm tay bên phải chàng chéo ngang lưng, một bên đeo lên cái móc gắn ở trần cachot. James Fisher bị treo thê thảm. Một cánh tay chéo sau lưng đỡ cả thể xác chàng. Không, một cái cườm tay thôi. Chàng đu đưa theo hệ lụy. Có phải dân tộc Mỹ hạnh phúc quá đã trở nên ích kỷ và James Fisher phải chịu thống khổ để hứng hết lỗi lầm cho dân tộc ? Có phải James Fisher, người lính Mỹ chân thật chịu thống khổ để làm sáng danh nước Mỹ ? Chắc chắn, dân tộc Mỹ không thể tìm nổi một biểu tượng anh hùng nào ở cuộc chiến tranh Việt Nam, ngoài James Fisher. Có hàng vạn thứ anh hùng ngoài trận mạc, nhưng chỉ có một thứ anh hùng trong tù ngục cô đơn. James Fisher là thứ anh hùng đó. Chàng không phẫn nộ. Chàng không chống đối. Chàng bình thản chịu đựng nỗi khổ một cách dũng cảm và cao thượng. James Fisher không trách móc cả những kẻ đầy đọa chàng nhục nhã, ê chề. Nước Mỹ chỉ cần một James Fisher thôi, đã đáng tự hào.
James bị treo cả đêm. Chàng không rên la. Đã có một lần ở conex, khát nước quá, chàng mất tự chủ, suýt nữa sa ngã, hư hỏng. Chàng vẫn còn xấu hổ chuyện đó. Hình như càng thống khổ, con người càng được soi sáng. James thèm sống, James tiếc đời lắm. Hơn cả bao giờ, lúc này chàng cần sống sót. Nhưng nếu phải chết, chàng nghĩ, là do ý của Thượng đế. Vì Thượng đế không muốn chàng đi đến tận cùng đường hẹp để bắt gặp niềm bí ẩn của sự sống.
Ban ngày, người ta đổi thế treo. Một bên cườm tay trái của James máng vào còng chéo ngang lưng, một bên đeo lên móc. Chàng nhìn cườm tay phải, sước da, trầy máu, tím bầm. Cứ thế, ngày và đêm người ta đổi thế treo. James chỉ được ăn uống một lần khi đổi thế treo. Chàng tiểu tiện sũng quần trên còng đeo lắc lư cuộc đời lầm than. James bị treo một tuần lễ. Người ta đưa chàng về phòng cũ, cho chàng tắm gội, ăn ngủ một ngày. Hai cổ tay chàng sưng tấy tội nghiệp. Chưa hết đau đớn, người ta dẫn chàng lên gặp Chi Mai.
– Người Mỹ chân thật, anh cảm giác thế nào?
– Tôi suy nghĩ.
– À, anh đã suy nghĩ.
– Phải.
– Nói về điều suy nghĩ của anh đi!
– Con người khi bị chịu đựng đau đớn, nó đã chịu đựng một cách phi thường. Tôi phục tôi, phục công tử Mỹ.
– Chỉ có vậy?
– Vâng.
– Anh sắp hết phục anh.
– Tôi không tin thế.
– Tôi tin.
– Tùy cô.
– Anh nhất định ngoan cố?
– Tôi rất tiếc, cô Chi Mai ạ!
– Tôi cũng rất tiếc.
Người ta lại dẫn James Fisher về tầng thứ tám của địa ngục bàn chông. Người ta buộc chặt giây điện nhỏ vào giữa hai ngón tay cái của James Fisher, đẩy chàng úp sát mặt vào tường. Người ta bắt chàng kiễng mười đầu ngón chân lên. Và người ta cột hai sợi giây điện buộc chặt giữa hai ngón tay của chàng lên hai cái móc trên trần. James Fisher đứng kiễng chân, hai tay dơ cao. Người ta tính toán chu đáo. Nếu chàng để gót chân chạm đất cho đỡ nhức nhối mười đầu ngón chân thì hai ngón tay cái của chàng đau buốt. James không thể kéo cả thể xác chàng lên bằng hai ngón tay cái cho những ngón chân chàng đỡ nhức. Máu đã dồn xuống mười đầu ngón chân chàng. James lo sợ không đủ sức chịu đựng trò chơi mới lạ này. Úp mặt vào tường, chàng lâm râm cầu nguyện và đẩy ước mơ ra ngoài cachot cho nó bay cao, bay xa về nước Mỹ và đậu bên bờ sông Rio Grande.
James bị buộc ngón tay cái liên tục. Người ta không cởi ra, ngày cũng như đêm, dù chỉ một phút. Người ta bón cơm cho James, để sát ca nước vô miệng James. James biến thành đứa bé và cai ngục là vú em. Chàng được ăn uống một ngày hai lần. James tiểu tiện tại chỗ. Chàng đã ăn, đã uống, đã tiêu hóa thực phẩm và nước trong tư thế treo người rất xứng đáng vinh danh cho chủ nghĩa, cho ý thức hệ. Sự tiểu tiện và đại tiện ra quần của James Fisher sẽ không được ghi vào thành tích báo cáo trước một đại hội nào đó. Nhưng, chắc chắn, nó sẽ được lên bảng danh dự của Thống Khổ để vinh tôn con người chịu đựng thống khổ một cách nhẫn nại, cao quý và vượt lên nó một cách dũng cảm.
Trong bửu bối chỉ dẫn cách chơi của ý thức hệ, trò chơi buộc hai ngón tay treo người vừa tầm mười đầu ngón chân kiễng chỉ có thể kéo dài đến ngày thứ bảy. Kẻ nhập cuộc chơi khó lòng kiên nhẫn thêm. Nó sẽ hét lớn, xin được làm bất cứ việc gì người ta cưỡng bức nó. Nó sẽ ngoan ngoãn chống lại tất cả những gì nó đã khước từ chống đối. Nó mất nhân tính, mất lý trí. Nó không còn là con người nữa. Óc nó đã bị gột rửa sạch sẽ chất người. Và đó là tẩy não. Người ta bắt nó viết. Người ta bắt nó ký tên. Người ta bắt nó đọc vào máy ghi âm. Nó hân hoan viết, hân hoan ký, hân hoan đọc. Nó khiếp sợ nỗi nhức nhối râm ran khắp cơ thể, nỗi nhức nhối bắt nguồn từ đầu mười sợi giây thần kinh mọng máu ở mười đầu ngón chân. Có tế bào trong cơ thể nó thúc dục nó đầu hàng. Nó trở thành đồ bỏ sau khi viết, ký tên và ghi âm. Nhân loại khí phách ngoài nhà tù sẽ phán xét nó, sẽ khinh bỉ nó. Giữa nó và cuộc đời sẽ có một phân cách thăm thẳm. Cuộc đời ly dị nó. Cuộc đời đoạn tuyệt nó. Nó cô đơn. Bởi vì, cửa hẹp nó mở, đường hẹp nó đi tìm sự sống đã có những trò chơi đốn mạt của ý thức hệ mà những kẻ đi đường rộng cho là chuyện hoang đường. Những kẻ đó chưa bị nhốt ở conex, cachot đá, hầm nước, hầm giam, cachot bàn chông; chưa bị khát rã họng, lạnh thấu xương; chưa bị tóc mọc dựng đứng, mắt lồi ra; chưa bị còng các kiểu, treo các lối; chưa hiểu giá trị của ngụm nước lã, miếng cơm bốc bằng tay dính bùn bẩn thỉu; chưa nuốt con dán sống; chưa ngủ đứng, ngủ quỳ, ngủ ngồi … Những kẻ đó sẵn sàng kết tội bất cứ ai không chịu đựng nổi thống khổ ngục tù và sẵn sàng hoan hô bất cứ ai chết, dẫu chết hèn hạ, trong ngục tù, trong nhục nhằn thống khổ. Tuy nhiên, những kẻ đó lại bủn xỉn một bông hồng ném xuống nấm mồ tưởng tượng của bất cứ ai được họ vinh tôn cái chết anh hùng!
Kẻ bị tẩy não đã được cuộc đời đối xử tàn bạo hơn cả thời gian nó chống cự tẩy não. Ý thức hệ nắm vững điều này. Nó không cần thủ tiêu những kẻ đã thỏa mãn yêu cầu của nó. Nó đã giết kẻ bị tẩy não, dù kẻ tẩy não vẫn sống, và sống ở bất cứ nơi nào ngoài vòng kiềm tỏa của nó. Nhưng nó đã buồn bã với anh chàng lính Mỹ chân thật James Fisher. Quá bảy ngày rồi, người ta chờ đợi tiếng kêu đầu hàng của James một cách hồi hộp. Tầng thứ tám của địa ngục im lặng. James Fisher úp sát mặt vào tường, mười đầu ngón chân cứ kiễng trên bàn chông. Chàng vẫn rướn, vẫn rướn lên. James đã hết cảm giác nhức nhối. Quần chàng sũng phân tiểu. Nhiều lúc chàng tỉnh táo, nhiều lúc chàng hôn mê. Những lúc hôn mê, James nhẹ bẫng. Có lẽ, không phải chàng hôn mê. James đã phiêu lãng đó đây. Chàng du lịch địa ngục. James thấy còn một tầng nữa, một tầng cuối cùng. Phải chăng đó là cuối đường hẹp, là sự sống tìm thấy trong nỗi chết? Chàng ao ước xuống tầng thứ chín. Và thể xác chàng nhẹ bẫng, hai ngón tay cái và mười đầu ngón chân chàng bình thường.
Ngày thứ mười hai, người ta gỡ chàng xuống, dìu chàng về phòng cũ. James đã bắt ý thức hệ sửa đổi cách chơi của trò chơi chàng đã tham dự. Chàng lại tắm gội, thay quần áo và ngủ. James chờ xuống tầng địa ngục thứ chín.

(Trích Một tù binh Mỹ ở Việt Nam)

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Một Kiểu Cachot

Phần 25

Cachot xây bằng đá tảng. Trần đổ bê tông. Sàn đan dọc ngang những thanh sắt tròn, lớn hàn xì dính chặt vào nhau thành những hình vuông nhỏ, người không thể chui lọt. Dưới sàn là cái hầm nước có lối thông ra ngoài. Chuột bọ, cóc rắn, ếch nhái sinh sống ở đó. Mùa mưa, nước sấp sỉ mặt sàn. Mùa nắng, nước rút, hầm nước biến thành vũng nước tù hôi hám đầy muỗi. Cánh cửa thép vừa một người lách vô. Tù nhân nằm ngủ trên lưới sắt gập ghềnh, tiểu tiện và đại tiện xuống hầm nước. Giấy vệ sinh không được cấp phát ở cachot này. Và, ở cachot này, sự tắm gội tùy hứng cai ngục và tùy mức độ kỷ luật của tù nhân.
James Fisher đến cachot này vì thiếu thiện chí cải tạo tư tưởng. Người ta cưỡng bức chàng viết những lời mà chàng cho rằng không đúng sự thật. Người ta nuông chiều chàng rồi người ta trừng phạt chỉ với mục đích bắt chàng chống đối tổ quốc của chàng. James Fisher không dám chống đối tổ quốc. Chống đối tổ quốc là chống đối tổ tiên, cha mẹ, anh em, họ hàng, bằng hữ, là tự ý khu trù khỏi đời sống nước Mỹ và cư ngụ bất cứ nơi nào trên trái đất cũng bị khinh bỉ. James Fisher cố gắng làm người chân thật, suốt đời chân thật. “Các ngươi nên nói: có, có; không, không. Quá lời ấy, đều do kẻ ác mà ra”. Chàng đã có nói có, không nói không. James chẳng thể yea những gì lương tri chàng nay. Và chàng đã tình nguyện vác thánh giá cho sự đói khát công chính.
Cachot tối mò không có cửa gió. Chàng đón nhận dưỡng khí từ cái hang hốc nào đó dưới hầm. Nghe chừng thán khí ngập cachot. James được mặc bộ quần tù, tay không bị còng, chân không bị xích. Người ta cố tình quên cấp chăn chiếu. James sẽ nằm ngủ trên lưới sắt gập ghềnh hệ lụy. Ngày hai bữa, người ta mở cửa đẩy vô một ca cơm lạt và một ca nước. Nếu trại tù Lý Bá Sơ là địa ngục, James đã bước xuống tầng thứ ba. Tầng thứ ba thoải mái hơn tầng thứ hai. Bởi chỉ có lạnh mà thiếu nóng hừng hực. Cái lạnh của hầm đá cũng thua cái lạnh của conex ban đêm. Mùi vị của cachot đá tệ hại gấp bội mùi vị conex, nhưng chàng đã quen. Giả dụ lần đầu tiên vào tù Cộng Sản, người ta nhốt chàng chỗ này, chàng đã cay mắt, ngộp thở mà chết.
Người lính chân thật James Fisher vẫn chưa tìm thấy niềm bí ẩn trong trò chơi ý thức hệ. Trò chơi quái đản này không bắt con người chết đói, chết khát mà chỉ muốn con người đói, khát; không bắt con người chết mà chỉ muốn con người sợ chết; không bắt con người ngã gục mà chỉ muốn con người rã rượi. Nó cũng không bao giờ dồn con người cùng đường để người phản tỉnh bằng phẫn nộ. Nó biết lúc nào nhấn nước sặc sụa và lúc nào kéo lên. Nó biết hé những tia hy vọng trong tuyệt vọng của con người. Cái bí quyết của trò chơi ý thức hệ là làm con người thèm sống, thèm ăn, thèm uống và khiếp nhược. Từ đó, con người ngơ ngẩn trong hôn mê và thực hiện những gì kẻ điều khiển trò chơi muốn. James Fisher giả dụ là James Fisher khờ khạo. Người ta đang mong đợi chàng kết tội bọn đầu não chiến tranh Nhà trắng, Ngũ giác đài, không khi nào người ta để James Fisher chết, dẫu chàng khoái chết. Nàng Chi Mai đã nghiên cứu con người James. Nàng thừa hiểu tín đồ Thiên Chúa giáo không tự tử. James đã nói điều này thừa thãi.
Với cachot đá, quan tài đá, James mất ngủ vì muỗi tấn công chàng tới tấp. Bọn chuột đói không tha chàng. Chúng gặm ngón chân, ngón tay chàng khiến chàng la hoảng. James không dám nằm, không dám ngồi. Chàng phải đứng, xua tay đuổi muỗi, dậm chân đuổi chuột. Chàng hết sợ người và hình phạt của người thì lại sợ muỗi, sợ chuột. Mà cachot này, ngày như đêm. James Fisher đã rờ rẫm tìm ca uống nước. Nước trôi, một vật gì nham nháp cổ họng chàng. Khi chàng đập mạnh một sinh vật trên mu bàn tay và đưa tay lên ngửi, chàng mới biết nó là dán. James Fisher đã nuốt dán sống. Chàng phát ớn. Chàng buồn nôn. Chàng khạc hoài, khạc hoài. Con dán không phọt ra mà trôi xuống dạ dày chàng. James kinh hoàng. Chàng đợi phản ứng ghê gớm làm co quắp thể xác chàng rồi nhắm mắt lìa đời. Những giây phút chờ đợi đã khiến thần kinh của James căng thẳng. Chàng hét lớn. Nhưng cơn khủng hoảng đã qua. Chẳng có phản ứng gì. James vẫn sống. Chàng đã nuốt con dán. Người Mỹ đã nuốt con dán, vẫn sống! Bản năng sinh tồn của con người phép tích nhiệm mầu của Thượng đế. James vừa khám phá ra. Chàng lại không sợ muỗi và chuột nữa.
James buồn ngủ nhíu mắt, chàng lăn kềnh trên lưới sắt gập ghềnh. Và chàng ngủ ngon lành, ngủ say sưa, mặc kệ muỗi đốt, chuột bò lên thân thể và gặm nhấm ngón chân chàng. James bất chấp chuột đánh nhau chí chóe dưới hầm, ễnh ương, nhái ếch kêu loạn và muỗi bay vo ve. Ở đây, hình như gần khu giam nhốt tù chính trị Việt Nam, James nghe rõ tiếng kẻng tù. Chàng biết thời gian qua những hồi kẻng. Khi cóc nhái, ễnh ương ngưng kêu, kẻng báo thức: Buổi sáng. Hồi kẻng thứ hai: Buổi trưa. Hồi kẻng thứ ba: Buổi chiều. Sau hồi kẻng thứ ba, chuột bọ hoành hành. Tiếng kẻng tù, James có cảm tưởng như âm điệu của thù hận. Nó nhắc nhở tù nhân hình phạt mà tù nhân đang chịu đựng. Nó gợi tưởng chết chóc, thê lương. Tiếng kẻng tù James đã nghe ở Việt Nam, gợi tưởng muôn vàn đắng cay và cô đơn trong nhớ nhung, gợi tưởng mòn vẹt thể xác, tê cứng tâm hồn. Nó buồn thảm làm sao, tiếng kẻng tù Việt Nam, buồn ra riết hơn những hồi chuông báo chết bất đắc kỳ tử. James bằng lòng nghe ễnh ương kêu. Chàng muốn ễnh ương kêu tối ngày, át tiếng kẻng tù.
Chàng lại bị gọi ra gặp Chi Mai. Lần này chàng chui hang ra ban đêm. Chi Mai không chiêu đãi chàng thuốc Winston và Coca Cola nữa. Tháng trăng mật đã tàn.
– Thế nào, James?
– Thế nào là thế nào, cô Chi Mai?
– Anh ngủ được chứ?
– Tôi ngủ ngon.
– Anh nói thật, hả?
– Luôn luôn tôi chân thật.
– Tôi không tin rằng chuột, dán, muỗi, cóc nhái … cho anh ngủ ngon.
– Hôm đầu, muỗi đốt toi, chuột gặm ngón chân tôi, cóc nhái ồn ào. Rồi muỗi thương tôi tha đốt tôi, chuột thương tôi tha gặm ngón chân tôi. Cóc nhái ru tôi ngủ.
– James, anh kể chuyện cổ tích à?
– Chuyện Việt Nam, chuyện ở cachot đá Việt Nam. Tôi đã nuốt dán. Mới đầu tôi sợ hãi, tưởng sẽ chết đau đớn. Nhưng chẳng sao cả. Tôi đã nuốt dán, vẫn sống. Cô cho phép tôi phát biểu một cảm tưởng được không?
– Nói đi!
– Côn trùng ở Việt Nam nhiều lòng trắc ẩn cô ạ!
Chi Mai tái mặt:
– Anh ám chỉ gì?
James nói:
– Tôi phát biểu cảm tưởng chân thành. Cũng như, tôi chân thành đồng ý với cô khi cô phê bình người Mỹ vệ sinh quá lố và không biết đau khổ. Khi người Mỹ biết đau khổ như tôi, họ sẽ hết sợ hãi đau khổ. Có nhiều điều người Mỹ cần học tập.
Nàng bĩu môi:
– Anh cần học tập trước, học tập sự biết điều.
James nhìn nàng:
– Lúc nào tôi chả biết điều.
Nàng cười nhạt:
– Hôm nay anh tỏ thiện chí viết những lời tôi đọc chứ?
Chàng đứng dậy, đứng thẳng, ngẩng mặt:
– Tôi rất tiếc, cô Chi Mai ạ!
Người ta dẫn chàng trở lại cachot đá. Chàng nằm chưa yên thì người ta đến mở cửa. Một gã cai ngục rọi đèn bấm, một gã mở khóa cái nắp nhỏ ở dưới sàn, nâng lên. Người ta bảo chàng bước gần chỗ cái nắp và đẩy chàng xuống hầm. Người ta rọi đèn xem chàng ngoi lên chưa. Khi biết chàng đã ngoi lên, người ta sập nắp, khóa chặt rồi rời cachot. James Fisher ở dưới hầm nước. Nước sấp sỉ bụng chàng. Nước thối tha tanh tưởi. Nước của bùn lưu cửu, của phân tiểu tù nhân, của cả cả phân tiểu của chàng. Nước ướt sũng đầu tóc James. Chàng phải đưa tay vuốt tóc và nhắm chặt mắt vuốt mặt. James đã xuống tầng thứ tư của địa ngục. Chàng đang ngoi ngóp dưới đó. Chân chàng lún bùn. Chàng chôn chân một chỗ, đưa tay quờ nước để chuột bọ, ếch nahí, rắn nước khỏi bu quanh, bám lấy chàng. James bồng bềnh trong bóng tối, thứ bóng tối thiếu định nghĩa thông thường, thứ bóng tối phải định nghĩa bằng thù hận. Một nửa thân thể chàng chìm nghỉm, một nửa thân thể chàng lênh đênh. Bây giờ, James mới hiểu James, hiểu thân phận làm người.
Chàng thôi vùng vẫy đôi tay. Hầm nước thinh không. Bóng tối hư vô. Chuột bọ chui vào hàng lỗ. Ếch nhái im lặng. Giun dế nín câm. Côn trùng không hẳn chỉ có lòng trắc ẩn, mà còn biết cảm thông với con người. Côn trùng xúc động nỗi thống khổ của con người. Nhưng con người không xúc động nỗi thống khổ của con người. Con người luôn bày đặt những trò chơi hành hạ con người điêu đứng, khốn đốn. Chủ nghĩa, ý thức hệ, chiến tranh, thù hận, ngục tù, hình phạt … Đó là những trò chơi của con người. Những trò chơi này đã làm hư hỏng con người, đã dẫn dắt con người phiêu lưu quá xa khỏi quê hương đích thực của nó. Rốt cuộc, con người tự hủy diệt tâm hồn con người. Vì nó khước từ niềm cung kính đối với Thượng đế. Con người càng tiến vượt mức văn minh kỹ thuật bao nhiêu, càng mất mát vơi đạo nghĩa bấy nhiêu. Con người chế máy móc điều khiển con người. Riết rồi, con người quên gốc gác người, còn người đồng hóa cùng máy móc. Và sự độc ác nảy sinh, mọc rễ ở tim óc con người. Con người hết là cây sậy của Pascal. Nó đã là công cụ của ý thức hệ mù lòa, của kỹ thuật câm điếc.
James vẫn là con người nguyên vẹn của Thượng đế, con người chân thật trong hạnh phúc và trong bất hạnh, trong sung sướng và trong đau khổ, trên thiên đường cuộc sống và dưới địa ngục tù đày. Chàng đang chôn chân lún đầm đời hiu quạnh. James Fisher dang rộng đôi cánh tay ngang vai. Bóng tối mịt mù chẳng ai nhận diện chàng, trừ Thượng đế nằm úp mặt trên lưới sắt gập ghềnh hệ lụy ngó xuống. Chàng như thể Jésus Christ. Nếu nước Mỹ đã gây ra những lỗi lầm, những tội ác, James Fisher chịu cực hình cho nước Mỹ như Jésus Christ đã chịu cực hình cho nhân loại. Chắc chắn, người Mỹ sẽ phải truy nã bản thân mình. James nhắm mắt. Chàng ngủ đứng dưới hầm nước ngục đá. Xác chàng định cư ở cõi thế hẹp hòi, nhỏ bé nhưng hồn chàng phiêu du lên ngọn đỉnh đời mới lạ, ở đó, loài người đã quên hết mọi chuyện bần tiện và đã thương yêu nhau thắm thiết.
Chàng mở mắt khi nghe hồi kẻng báo ngày. James vẫn đứng, vẫn dang hai tay. Chàng ngạc nhiên biết mình còn sống. James thấy một luồng ánh sáng ùa vào hầm nước đen thui. Cơ hồ một dòng sông êm đềm giữa biển cuồng nộ. Cơ hồ một lối bình yên giữa khu rừng bốc cháy. Ánh sáng trên cửa hầm, chỗ dẫn nước ra vào mùa mưa, nơi dưỡng khí cho tù nhân chút hy vọng mong manh. Chàng lại nghe tiếng chân bước mạnh trên lưới sắt. Đèn bấm rọi xuống hầm nước. Nắp lưới kéo cao. Người ta thả cái thang giây. James bám lấy, leo lên, leo lên … Chàng vất vả leo lên từng bậc, từng bậc. Nghĩa đời ở những bậc thang giây đó.
Người ta dẫn James trở lại phòng cũ. Như lần từ conex trở về, chàng được tắm gội, đánh răng, thay quần áo mới. James Fisher chẳng còn băn khoăn, lo lắng gì về những hệ lụy chập chùng mà nàng Chi Mai đã răn đe chàng, đã bắt chàng ngụp lặn. Phải chăng, khi con người quá đau khổ, nó mất hết cảm giác đau khổ; khi con người quá sợ hãi, nó mất hết cảm giác sợ hãi. Và khi đó, tất cả mọi trò chơi của ý thức hệ đều vô nghĩa.

(Trích Một tù binh Mỹ ở Việt Nam)

Nhà hàng tiêu chuẩn Michelin

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

June 15th, 2023

Post by Sơn râu 9 Jul 2024

nguồn The Dot Magazine      

Michelin vốn quen thuộc với đại chúng về vỏ xe hơi và cách riêng, với giới yêu thích ẩm thực về các đánh giá nhà hàng. Nhân sự kiện ẩm thực Việt Nam lần đầu tiên có bốn nhà hàng tại Việt Nam được lọt vào danh sách Michelin một sao, chuyên mục mời các bạn cùng tìm hiểu đôi nét về Michelin Guide trong việc đánh giá các nhà hàng trên thế giới như thế nào.

Với giới yêu thích ẩm thực, dù chưa từng hay đã thử qua những nhà hàng sắp hạng Michelin cũng hiểu rằng đó là những nhà hàng đặc biệt, được đánh giá cao về món ăn phục vụ. Tuy nhiên trong vài ngày qua, cũng không ít những ý kiến trong cộng đồng mạng người Việt cho rằng, Michelin là gì mà lại xôn xao hay hãng sản xuất vỏ xe hơi lớn nhất nhì thế giới thì liên quan gì đến ẩm thực?

Có lý do cho những du khách đặc biệt yêu thích ẩm thực đã thực hiện chuyến du lịch của mình, chỉ để được ăn tại một nhà hàng Michelin hai hay ba sao sau vài tháng đặt bàn trước. Nếu tài chánh cho phép, họ đến không chỉ để thưởng thức một bữa ăn ngon mà còn trải qua một kinh nghiệm trọn đời về một phong cách và nghệ thuật ẩm thực tuyệt hảo đầy ấn tượng và đáng nhớ.

Michelin Guide, hay Cẩm Nang Michelin do hãng chế tạo vỏ xe Michelin của Pháp ra đời ngay đầu thế kỷ 20, vào năm 1900. Ðây là ấn bản đầu tiên và miễn phí nhằm hướng dẫn cho các tài xế về bản đồ, địa điểm thay vỏ xe, sửa xe, trạm xăng… tại Pháp.

Ấn bản đầu tiên của Sách hướng dẫn Michelin (1900) – nguồn dignet.com.

Theo thời gian, cẩm nang được phát hành sang tiếng Anh, đến các quốc gia khác. Và rồi nhận thấy nhu cầu của các tài xế không chỉ về xe mà còn về khách sạn, nhà hàng trên đường đi, Michelin bắt đầu có thêm các hướng dẫn này. Có quá nhiều nhà hàng, nên để đưa vào cẩm nang này, Michelin bắt đầu lập ra nhóm nhân viên đi khảo sát và đánh giá các nhà hàng để chọn lựa. Từ năm 1926 hệ thống chuyên đánh giá nhà hàng của Michelin ra đời, tính đến nay đã gần 100 năm.

Năm 1932, đánh giá Michelin chính thức đưa ra ba xếp hạng nhà hàng, bao gồm một, hai và ba sao, với các định nghĩa tồn tại đến hiện nay, bao gồm theo sau:

– Nhà hàng một sao: Nhà hàng rất tốt trong hạng mục của nó (A very good restaurant in its category)

– Nhà hàng hai sao:  Nghệ thuật nấu ăn xuất sắc, xứng đáng vòng lại (Excellent cooking, worth a detour)

– Nhà hàng ba sao: Ẩm thực tuyệt hảo, xứng đáng cho một chuyến du ngoạn đặc biệt (Exceptional cuisine, worth a special journey)

Từ năm 1926 hệ thống chuyên đánh giá nhà hàng của Michelin ra đời – nguồn michelin guide

Michelin thuê hàng ngàn chuyên viên ẩm thực am hiểu và lành nghề, được huấn luyện chuyên nghiệp để vào vai những thực khách thông thường tự đặt bàn, đi ăn và trò chuyện với đầu bếp tại các nhà hàng đã ít nhiều có tiếng ở khắp thế giới. Họ ẩn danh để không nhận sự đối xử đặc biệt. Ðánh giá cuối cùng không bao giờ phụ thuộc vào một chuyên viên hay một lần ăn, một món ăn mà trải qua với các chuyên viên khác ở những lần khác nhau để bảo đảm phẩm chất liên tục và ổn định của nhà hàng.

Sau đó sẽ có một cuộc họp giữa ban giám đốc Michelin cùng các chuyên viên thẩm định này diễn ra trong vài ngày để xem xét, đánh giá theo từng tiêu chí và cấp chứng nhận Michelin nếu có sự đồng thuận hoàn toàn. Thực khách có đồng ý hay không hay có thẩm định của riêng mình, xếp hạng của Michelin đã đi theo nguyên tắc này để giữ giá trị cho họ cũng như có giá trị trên toàn thế giới.

Có một điều quan trọng và khá thú vị là trái ngược với suy nghĩ thông thường của một số người rằng, các nhà hàng mà Michelin chấm phải rất sang trọng và đắt tiền. Tuy nhiên các chuyên viên thẩm định món ăn sẽ không bị khung cảnh bài trí và cách phục vụ chi phối đến nhiệm vụ duy nhất của họ là thẩm định món ăn, tiêu chí hàng đầu của Michelin. Ðó là lý do Michelin từng trao một sao cho tiệm ăn bình dân Raan Jay Fai tại Bangkok và hai quán mì đường phố tại Singapore trước đây. Nó mở cơ hội cho bất cứ hàng quán, nhà hàng nào cũng có cơ hội lọt vào danh sách Michelin.

10 nhà hàng Mỹ được Michelin xếp hạng năm 2023 – nguồn thegallivantingspoon.com

Với giới đầu bếp và nhà hàng, đây là tiêu chuẩn và mơ ước được lọt vào trong các xếp hạng Michelin này. Nó không chỉ tạo ra danh tiếng, thu nhập cho nhà hàng mà còn chứng tỏ một phong cách ẩm thực mà nhà hàng phục vụ. Cho đến nay, chỉ có 2805 nhà hàng Michelin một sao, 491 nhà hàng hai sao và 139 nhà hàng ba sao trên toàn thế giới, theo danh sách mới nhất của Michelin Guide, tính luôn cả bốn nhà hàng tại Việt Nam vừa được vào danh sách.

Bốn nhà hàng tại Việt Nam thì Hibana by Koki là một nhà hàng Nhật, đầu bếp Nhật trên đất Việt, là chủ nhân một nhà hàng được chứng nhận Michelin một sao tại Tokyo. Ba nhà hàng còn lại mới thật sự đại diện cho ẩm thực Việt là Ănăn (ăn ăn) tại Sài Gòn và Gia (Gia đình), Tầm Vị tại Hà Nội. Dù được lọt vào danh sách Michelin và có sự độc đáo riêng của chúng tuy nhiên chưa hẳn sẽ hợp khẩu vị người Việt so với các quán Việt tương tự khác hay thích hợp cho khách ngoại quốc, ngoài việc những thực khách tò mò nào đó muốn tự mình cảm nhận một nhà hàng Michelin star món Việt.

Ðó là lý do có những tranh luận về việc lựa chọn này. Tuy nhiên chính Michelin cũng bảo rằng, không phải nhà hàng Michelin star nào thì thực khách cũng sẽ thích mà họ giới thiệu các nhà hàng món ăn ngon theo so sánh trong nền ẩm thực đó (cùng chủng loại)  và thực khách nên chọn lựa nhà hàng Michelin star có những món ăn hợp khẩu vị.

Thực khách Việt với đầu bếp Ramón Freixa tại nhà hàng Michelin hai sao Ramón Freixa Madrid, Tây Ban Nha

Cũng đúng vậy, những nhà hàng Michelin star đại diện cho nghệ thuật ẩm thực của các nền ẩm thực thế giới, tuy nhiên hầu hết các nhà hàng Pháp, Ý, Ðịa Trung Hải, Nhật Bản, Trung Hoa… vẫn dễ thích hợp cho đa số người từ các nền văn hóa ẩm thực khác so với các nền ẩm thực quá riêng biệt, chẳng hạn như Việt Nam nói trên. Như những món ăn dân dã như canh chua, cá kho tộ, cà pháo, mắm tôm, chả ram…tại nhà hàng Tầm Vị sẽ giới thiệu thực khách nước ngoài một thực đơn thuần Việt nhưng chưa chắc đã thích hợp với họ, thậm chí cả với người Việt. Tương tự như một nhà hàng Michelin star món ăn Ấn Ðộ chưa hẳn đã thu hút các thực khách không quen các món ăn Ấn Ðộ.

Có những danh hiệu trọn đời, tuy nhiên sao Michelin chỉ có giá trị trong năm được công nhận. Những nhà hàng Michelin star cần cố gắng giữ được phẩm chất các món ăn hay chế biến ngon miệng, công phu và độc đáo hơn để tiếp tục nằm trong danh sách này. Nhà hàng nào được chọn sẽ không quan trọng bằng việc ẩm thực Việt được giới thiệu ra thế giới, khởi đầu cho những đầu bếp trẻ người Việt sáng tạo và đặt mục tiêu vào công việc mình đang làm.

Nhà hàng Anan tại Sài Gòn – nguồn feastio

ĐYT

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch
Post by Sơn râu 9 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 9

Thời tiết tháng tám sương giăng mù mịt có nhìn rõ gì đâu? Cây cầu sắt băng ngang đại lộ số 10 cũng chỉ thấy mờ mờ và phía dưới thì đen ngòm tưởng như vực thẳm chứ không phải dưới nó cỡ hai tầng gác là con đường lát đá xanh vừa đường ray xe lửa hai vạch sắt chạy song song. 
Có chiếc xe ngựa ì ạch từ đường 28 tới chui dưới dạ cầu. Con ngựa màu nâu đồ sộ kéo chiếc xe chở hàng bên trên chất đầy những thùng ván đựng đầy nho. Khoảng giữa hai đường 30 và 31, xe ngựa ngừng lại. Gã đánh xe và chú em hì hục khiêng cỡ hai chục thùng nho đặt trước cửa một chung cư. Gã ngửa mặt nhìn lên, tay bắc loa la lớn: “Caterina nho chở tới rồi. Xuống lấy nho”. 
Một cánh cửa sổ tầng tư mở bật. Mấy cái đầu con nít thò ra rồi đàn ông, đàn bà … Lẹ quá, có mấy giây đồng hồ sau đã thấy họ bay ra khỏi cửa. Gã đàn ông đi một vòng quan sát đống thùng nho, dừng lại hí mũi vào cạnh thùng hít hà đánh hơi. 
Hắn lên tiếng hỏi: “Nho mùa này tốt không cha?”. Gã đánh xe không buồn trả lời mà thong thả chìa tay ra hỏi tiền. Dĩ nhiên phải có ngay. 
Mụ vợ hối hả cắt hai đứa con canh chừng hai đầu và cùng với mấy đứa khác hì hục khuân từng thùng vào chất trong nhà hầm. Ông chồng lấy tay nậy một miếng ván cạnh thùng móc ra một chùm nho tím sẫm nếm thử. Vợ con mỗi người được phát một chùm nhỏ. 
Chung cư nào chẳng có một người năm nào cũng mua bao nho làm lấy rượu chát? Thùng nho vừa chất xuống là in như rằng vợ con người canh gác kẻ khiêng hùng hục, mỗi người một chùm nho đen nhấm nháp ăn chơi và ông chủ gia đình có quyền khoanh tay dựa lưng vào đống thùng nhìn vợ con làm việc. Dĩ nhiên mấy anh hàng xóm nhà nghèo lại được dịp bu quanh trầm trồ khen nho tốt và bốc mùa này rượu ông chủ nhất định phải ngon. Chắc chắn sẽ có mục liếm mép thèm thuồng, tưởng tượng ra từng vò rượu chát đồ sộ đang xếp hàng nằm chờ trong nhà hầm. 
Nhà thằng Gino sức mấy cất nổi rượu? Do đó có xe nho là phải có mặt nó đứng xớ rớ cạnh mấy thùng nho nhìn đỡ thèm. Nó đứng xem nho của nhà thằng Bianco nhưng cha con thằng này bần tiện nổi tiếng có mời ai ăn được trái nho bao giờ? Cha nó có bao giờ móc ra được một chùm nho để mời hàng xóm “ăn chơi” . Ngay họ hàng bạn bè cũng khỏi! 
Nhưng lão chủ lò bánh thì khác. Lão mập thù lù, đầu đội cái mũ thợ bánh màu trắng cao nghêu bước ra nhận ba chồng thùng nho thật cao, chất ngay trước cửa tiệm. Lão hô con nít tới, mở một lúc hai thùng, mỗi thùng lấy ra một mớ phân phát cho con nít mỗi đứa một chùm. Thằng Gino xông vào lĩnh phần gấp. Sau đó lão bảo: “Bây giờ khuân vào nhà hầm nghe? Đứa nào làm giùm tao xong suôn sẻ sẽ có xăng uých ăn chơi!”. 
Bọn con nít bèn ào ào xông vào như kiến tranh nhau thanh toán công tác nên chỉ loáng một cái đã không còn một thùng nào ngoài đường. Ba chồng cao như núi mà thằng Gino không lĩnh được tới một thùng! 
Lão chủ lò nhìn Gino hỏi móc: 
– À, cậu Gino đấy à? Mạnh giỏi chứ? Vẫn không khoái làm việc, ở không chơi cho sướng hả? Vậy ngon … nhưng cậu chịu phiền đi chỗ khác chơi chứ? Có làm mới có ăn là lẽ tự nhiên. 
Gino uất ức nhìn lão. Đã định quay vào nhưng chợt thấy nó nhìn gườm gườm không hiểu sao lão ngừng lại nói: 
– Ủa, hay mày cũng muốn làm mà chậm chân không tranh lại với tụi nó? Mày nói thật không? Nếu còn một thùng thì mày xông vào khiêng giùm tao? Nếu vậy thì cho mày vào đi … 
Gino vào liền. Chừng đám khiêng đồ rầm rập trở lên cửa tiệm để lĩnh phần xăng uých của ông chủ phát thì thằng Gino đã lững thững đi ra tay cầm bánh ăn ngon lành. Vừa ăn nho ngọt lịm xong đớp mấy miếng pizza này sốt cà chua vừa ngọt vừa cay vừa thơm ngon hết sẩy! 
Lúc trời tối sầm là bọn con nít ở trong lò bánh ùa ra và lâu lâu được đớp thả giàn thì hứng thú để đâu cho hết? Chúng bèn chạy nhảy phá phách loạn cả đường phố, mồm đứa nào cũng đỏ ngòm những sốt cà chua xem như bầy quỷ một lượt. Thấy xe lửa chạy tới chúng ào ào tranh nhau chạy lên cầu nổi chui vào đám hơi nước giỡn chơi. Chừng thấy mặt chúng ló ra là chen chúc cùng với đám tàn than đỏ bay mù mịt. Chúng la hét cho tới khuya chưa đã. Đường phố tối thui thì chúng nổi lửa đốt. Biết bao nhiêu ván gỗ khui thùng nho liệng đầy cống rãnh, chúng chỉ việc nhặt chất chồng đống. Một vài thằng lớn đầu bật quẹt là cả xóm đại lộ số 10 bừng lên năm bảy đống “lửa trại” để bọn con nít tha hồ chạy tới vòng vòng, reo hò ầm ầm đến quá nửa khuya, thây kệ những bà mẹ ở trên lầu thò cổ ra ngoài cửa sổ réo gọi tên con ơi ới. Hai bên đường những tiếng kêu ơi ới đua nhau vang vọng lên nghe như chạy dài giữa khe núi hẹp. 
Một mình chống tay lên bực cửa sổ, lấy chiếc gối trần kê đàng hoàng, Lucia Santa đứng nhìn xuống từ tầng bốn căn nhà số 358. Những gì phía dưới thoát sao khỏi cặp mắt mụ? Lucia thấy từng đứa con mình cũng như đám con hàng xóm. Chúng xách từng chùm nho ăn, chúng giỡn chơi trên cầu, chúng nổi lửa trại, mụ thấy hết. Bóng tối nó chập chùng ẩn hiện trong gió lạnh căm căm. Năm nay lạnh hơi sớm. Mùa hè ấm áp, mùa lý tưởng của dân nghèo thành phố đã thực sự qua rồi. 
Mùa đông đến là bao nhiêu lo nghĩ. Tựu trường là phải lo quần áo đàng hoàng, khâu vá lại tề chỉnh cho đám con có đồ sạch sẽ, ấm áp để học. Phải có giày da cho chúng đi chứ thứ giày vải rách đã có băng keo dán đỡ làm sao chịu nổi. Đến tiền cắt tóc cũng phải lo, rồi áo lạnh, rồi mũ và găng tay dĩ nhiên lại phải mua mới hết. Chúng đâu biết giữ những đôi cũ năm ngoái? 
Cái lò sưởi chạy dầu là phải xách từ hàng ba vào đặt trong nhà, khoảng giữa phòng khách và nhà bếp. Phải xem lại có hư là sửa, ngoài mớ dầu hôi phải mua trữ, còn tiền đau tiền ốm nữa, không có sẵn đâu được? 
Làm sao kiếm cho ra tiền xài ngần ấy khoản? Đầu óc mụ quay cuồng suy nghĩ và một ý tưởng chợt lóe lên? Hay là hàng ngày bắt thằng Sal theo bọn chúng nó vô nhà ga “nhảy dù” than? Đỡ lắm chứ? Nhưng kẹt thằng khốn nhút nhát quá, nó không chịu “làm” … như thằng Gino. Thằng anh bây giờ không “làm” được nữa rồi. Trông Gino đã lớn bộn, lớ quớ để chúng bắt được là lãnh đủ chứ không phải … con nít làm bậy nữa rồi! Nghèo phải tính toán khôn vậy chứ? 
Mụ chăm chú nhìn một đống lửa. Có một thằng từ vỉa hè phăng phăng chạy xuống đường, lấy đà nhảy vọt qua đống lửa như chơi. Thằng Gino nhà này chứ ai? Chết thực, còn gì là quần áo! Một thằng nhỏ hơn cũng bắt chước nhảy và hụt đà, rớt xuống ngay cạnh đống lửa, tàn than đỏ vung lên. Thằng Gino lại lấy đà trổ tài cú nữa. 
Lucia Santa rủa “Đồ súc sinh” rồi mụ chạy vào bếp xách cây tackeril vung vẩy chạy xuống. Đang đọc sách Octavia ngửng lên nhìn. 
Lúc mụ ra tới cửa thì bắt gặp Gino đang biểu diễn cú thứ ba. Đúng là quả tang. Nó đang lơ lửng giữa đống lửa, chợt thấy bóng mẹ là vừa đặt chân xuống vội chuồn gấp. Mụ vung cây roi. Gino bị một cú tackeril ngay lưng đánh đẹt, không đau lắm nó cũng ranh mãnh rú lên làm bộ đau đớn cho mẹ hả dạ rồi chạy vụt lên tầng. 
Đến lượt thằng Sal. Nó cũng nhảy lửa và thấy bóng mẹ cũng lo chạy trốn . Chạy ngang mặt mụ, rõ ràng Lucia ngửi mùi vải cháy khét. Quất cho một roi mụ cố tình chậm tay một chút nhưng nó đâu lẹ làng bằng thằng anh nên vẫn lãnh đủ một roi la chói lói. 
Chừng mụ hì hục leo hết bốn cầu thang lên đến nhà thì cả hai thằng đã cởi quần áo xong và chui gầm giường trốn kỹ. Ít ra tụi nó cũng chẳng dám hó hé cỡ nửa giờ. Cho nó xong một ngày, ít ra cũng qua được một ngày vô sự. 
Mụ bảo Octavia “Thôi nghỉ đọc sách đi . Mi lo cho bọn nhỏ giùm tao cái!”. Octavia gật đầu làm liền. Xưa nay nàng vẫn mau mắn giúp đỡ mẹ, nhất là vào những tối chủ nhật. Một tối thiêng liêng trong tuần, một tối nghỉ ngơi thoải mái. 
Nàng vào phòng tắm dọn dẹp mấy cái quần áo khô cất đi, cọ bồn đàng hoàng, mở nước nóng xong xả mới cúi xuống gầm giường kêu hai thằng nhỏ ra. Chúng lóp ngóp bò ra, thằng Sal vội nhớn nhác hỏi: “Mẹ còn la không?” Octavia bèn nồ trước: 
– Hiện giờ thì hết … nhưng tụi bây mà lộn xộn là bảo đảm còn tackeril nữa kìa! Bây giờ hai thằng lo đi tắm ngay, phá phách nhau là chết đòn! 
Lucia Santa lo làm cơm tối dưới bếp. Có thằng Vincenzo xem hát bóng về dọn bàn ăn phụ. Nó sẽ tắm sau. Tối nay phải lo xong quần áo mùa lạnh cho con nít. Lúc ở phòng tắm ra Gino và Sal xúng xính áo thun dài tay quần dài. Mấy cái cặp táp cũ năm ngoái cũng được moi ra sửa sang lại. 
Tối nay cả nhà ăn xăng uých với thịt viên đánh sốt cà chua. Lucia Santa đã có lệ có sốt cà chua là bổ béo rồi, khỏi phải uống sữa. Uống nước ngọt đủ rồi! 
Sau khi cơm nước xong, Octavia lãnh nhiệm vụ “huấn thị” bọn con nít trước khi chúng tựu trường. Cái vụ nghe giảng này Vincenzo, Gino và Sal vẫn bị hoài! 
– Tụi bây nghe tao nói đây. Niên học tới là không thể lạng quạng được. Tụi bây phải có điểm cao mà hạnh kiểm cũng phải khá nữa. Vincenzo năm vừa rồi cũng đỡ … nhưng năm nay lên năm thứ hai rồi. Muốn bò được lên đại học nhà nước khỏi tốn tiền là phải ráng ngay từ bây giờ. 
Điều đó Vincenzo biết lắm. Lên đại học mà phải chi tiền thì sức mấy nó được học tiếp? Tiền đâu ra? Chỉ sợ vừa xong trung học phổ thông đã phải bỏ học đi kiếm ăn rồi. Tuy nhiên nó đâu biết chị Octavia đã tính xong vụ này kể cả tiền bạc cũng không ngại lắm. Thằng Vincenzo thế nào cũng được lên đại học. Bằng không nàng đâu chịu từ bỏ giấc mộng trở thành cô giáo? 
Quay qua Gino nàng nồ mạnh hơn: 
– Thằng Gino mà điểm hạnh kiểm bết như năm rồi là tao đánh nhừ đòn mà còn tống vào nhà thương điên đấy! Học hành cũng phải chăm chỉ hơn bằng không thế nào trước sau mày cũng đến vào trại Giáo Hóa để mang tai tiếng cho cả nhà. 
Octavia nồ hơi quá đáng. Thực ra hạnh kiểm thằng Gino đâu đã đến nỗi tệ vậy và làm gì đến phải vô trại Giáo Hóa? Mà học hành nó cũng đã lọt xuống hạng “ngu dốt” bao giờ? 
Tuy nhiên mấy đứa nhỏ vẫn chăm chú nghe. Em bé Lena đang nằm trong nôi cũng bò dậy đòi ra ghế ngồi và được chị bế vào lòng để tiếp tục dạy dỗ thằng út. 
– Thằng Sal năm rồi học không tệ … nhưng năm nay lớp khó hơn nhiều nghe. Bài vở về nhà đã có tao giảng lại, chỉ cần mày chăm chỉ chứ tao dạy đâu có thua mấy cô giáo mày đằng trường? Đừng lo! 
Có điều này tụi bây phải nhớ kỹ: Tao đi làm về là phải thấy tụi bây ở nhà chứ không có lệ lêu lổng chơi ngoài đường đến tối nghe. Cỡ sáu giờ chiều mà tụi mày còn la cà đi chơi là chết đòn. Không chơi bài và đùa giỡn trước khi học bài xong và trả bài cho tao kiểm soát lại nghe. Ba thằng phải chia nhau việc rửa chén giúp mẹ, mỗi đứa một ngày. 
Nếu Octavia tự đề cao “không thua gì mấy cô giáo” quả có tự phụ hơi con nít một chút thì trái lại lời cảnh cáo của nàng không phải giỡn chơi hoặc lớn lối chút nào. Nàng quắc mắt nạt thẳng cánh, rõ ràng là “dám làm” chứ chẳng nói suông. Ngay bé Lena cũng nhột nhạt kia mà? 
– Thằng nào không lên lớp, ở lại một năm đừng có trách tao ác. Tao giết. Đừng để cả nhà mang xấu vì một đứa, nhớ đấy. Tụi mày được cho ăn học là để mai sau nên người đàng hoàng chứ không phải mạt đời ngu dốt ở cái xóm tồi bại này nghe chưa?
Thấy Octavia nói quá hăng, nhất là câu cuối cùng nghe không lọt tai chút nào mụ Lucia phải lên tiếng: 
– Thôi, mi nói vậy quá đáng. Đủ rồi! Mi làm như tụi nó sắp sửa lên đường ra mặt trận không bằng. 

Photo edit by Sơn râu

Sau đó chính mụ “giảng bài” tiếp: 
– Còn mấy thằng lêu lổng ma- cà- bông nghe đây. Chính con mẹ chúng mày đâu có được diễm phúc cắp sách đi học? Tao dám bỏ hết mọi thứ nếu hồi đó được đi học sơ sơ, đọc thông viết thạo thôi! Phải con nhà giàu mới đi học nổi, bên xứ sở mình vậy đó. Bằng tuổi tụi mày tao đã phải đi chăn dê, đi đào khoai, hốt phân. Ở nhà thì làm bếp, giặt giũ, lau nhà chứ có bao giờ dám mơ tưởng đến chuyện đi học? Còn thằng cha tụi bây nếu hồi đó được đi học thì đâu đến nỗi chịu ngu dốt làm cu ly và biết đâu chừng không đến nỗi cuồng trí? Vậy tụi mày giờ được đi học phải tự hiểu là có phúc lắm. Bằng không hiểu là tao sẽ dạy cho hiểu bằng roi. Có tackeril đây. 
Thằng Sal giương mắt nhìn mẹ. Gino và Vincenzo cũng hơi ngán, và thấm thía phần nào chứ? Tự nhiên thằng Sal đâm hoảng, nhìn ngớ ngẩn hỏi một câu, xem bộ nó sợ sệt nên cả Lucia Santa và Octavia cùng phát bật cười. 
– Mẹ à … lỡ con không học nổi thì sao? Nếu con không đủ sức, học không vào chẳng hạn? Đâu phải lỗi ở con? 
– Mày yên chí đừng lo! Nhà này không đứa nào đến nỗi ngu dốt vậy đâu. Miễn mày ráng sức là đủ. Tao sẽ chỉ bảo thêm cho. Hồi học trung học phổ thông tao học thông minh nhất lớp chứ bộ? 
Hai thằng Vincenzo, Gino thấy chị xem bộ muốn giỡn bèn cười ha hả. Cặp mắt Octavia đã muốn quắc lên nhưng nàng mỉm cười viện chứng cớ “Có phải vậy không mẹ?” 
Đối với mấy đứa nhỏ học dốt này có dọa dẫm bao nhiêu cũng chẳng bằng nêu một tấm gương học bảnh của chính người trong nhà. Nhưng có một lời đe dọa ghê gớm mà chúng nó ngán rõ: “Đứa nào bị ở lại đừng trách tao ác. Tao giết”. Tụi nó dư biết Octavia không nói chơi. 
Lucia Santa nhìn con gái. Mụ đâu đã quên Octavia vốn ham học lắm và xem việc học vô cùng quan trọng . Phải nói là nhờ vậy cô gái cưng có Mỹ hóa mụ cũng bỏ qua. Xưa nay mụ kỵ thói trèo đèo, mơ mộng quá cao xa, xét vì từng thấy trước mắt thiếu gì cảnh “trèo cao ngã đau”. Thà là thấp thỏi một chút mà an toàn còn hơn ham lên cao cho lắm chừng thất bại là thất bại quá nặng, hết đường gỡ. Có điều trường hợp Octavia khác, mụ thấy cần phải xác nhận giùm nó mới hợp lý. Mụ bảo mấy đứa nhỏ:
– Đúng, Octavia học rất bảnh. Nó dư sức làm cô giáo nếu thằng cha chúng mày như người ta …
Thằng Gino chợt ngước mắt nhìn sững nên mụ nhìn nó như có ý nói cho một mình nó nghe: 
– Phải chi cha chúng mày cũng đi làm ăn như người ta nuôi nổi gia đình thì con Octavia còn được đi học nữa chứ. Nhưng chính hắn có nghĩ đến ai đâu? Còn mày, thằng mất dạy kia, mày cứ bắt chước thằng cha mày đi. Mày phá hại không! Như lúc nãy mày xớn xác nhảy đống lửa biểu diễn, mày có thương tiếc gì áo quần? Mày còn bày điều cho thằng Sal … và lại đến tao phải may quần mới cho nó. Thấy chưa quân súc vật? Mày có nghĩ gì đến ai đâu? Tao cho mày hay … 
Lần này Octavia cắt ngang lời mụ: 
– Thôi, mẹ nói với tụi nó điều đó làm gì? Chỉ cần cho tụi nó biết trước việc học hành quan trọng cho tương lai thế nào. Tụi mày lo học bây giờ thì mai sau nên ông nên thầy. Bằng không lại đến phu khuân vác bến tàu … hay dân hỏa xa hạng bét như thằng Larry. Cho tụi mày hay … 
Đám con nít đi ngủ hết, Lucia Santa mới lo đi ủi bằng hết đống đồ để còn khâu vá nhiều thứ. Nhìn chồng áo quần cao ngất thấy sợ luôn! Octavia đặt cuốn sách trên bàn để dựa vào hũ đường ngồi đọc chăm chú. 
Đêm về yên tĩnh quá. Lâu lâu mới nghe tiếng bọn con nít trở mình cọt kẹt ở giường ngoài. Cả hai mẹ con cùng cảm thấy hài lòng vì đám con nít nhà này còn dạy bảo được. Ít ra cũng phải vậy! Hai mẹ con phải dựa lưng vào nhau để nuôi nấng, gánh vác cả gia đình. Octavia là đứa con ngoan biết đặt gia đình trên hết song nó đâu có thiếu cứng rắn? Nó lại biết chỉ huy và trợ giúp đắc lực cho mẹ nên có nể vì nó cũng phải, dù ở nhà này dĩ nhiên chẳng ai bằng mẹ! 
Dù không ai nói ra, nhưng hồi này cả hai mẹ con cùng đỡ khổ, đỡ thắc mắc sau ngày ông cha ghẻ phải vào nhà thương. Hắn đi như thế còn là may, để hai người đàn bà rảnh trí lo lắng cho cả một gia đình ngần này người. 
Lucia Santa đứng dậy đi pha cà phê lấy. Mụ biết Octavia mà đã chúi mũi vào cuốn sách thì chẳng thiết đến cái gì! Mụ lấy làm lạ không hiểu trong mấy cuốn sách chứa đựng những gì, nói những điều gì mà con nhỏ ham xem đến thế! Mụ chịu không hiểu nữa và phải chi còn ít tuổi thì không ganh tức với nó cũng tiếc rẻ mình không biết chữ mà đọc. 
Bề nào cũng lớn đầu rồi, tối ngày làm quần quật không hở tay lại toàn những việc không làm không xong thì mụ còn lòng dạ nào để bực bội tiếc rẻ chữ nghĩa là những thứ mụ chưa biết mùi vị nó ra thế nào. Có những thú vị mụ từng được nếm mùi rồi, mất mát hết có tiếc rẻ cũng chẳng được nào! Chịu, chẳng thể làm gì được kia mà! Lucia tự nhiên nhăn mặt vì ý tưởng đó mà cũng vì hơi nước sôi bốc phì phì. 
Mụ mò ra đầu hàng ba mở tủ lạnh lấy chai sữa tươi và một miếng dăm bông rắc nhiều tiêu từ Ý nhập cảng mà Octavia rất khoái xưa nay. Xem nó có ăn không chứ hồi này gầy đi trông thấy. 
Đúng lúc ấy rõ ràng tai Lucia Santa nghe có tiếng chân ai bước lên thang gác. Để ý vậy chứ thôi chứ có ai lọt nổi vô nhà này, ở tuốt tận tầng tư? Cùng lắm chỉ có thể lên tới tầng dưới … vì lên đây có mở được cửa thì không lẽ thoát ra được nóc nhà? Dù cửa có mở hứng chút gió để ủi đồ cho đỡ nóng thì cũng chẳng ai dám. Hai mẹ con cứ việc ngồi thản nhiên ăn bánh mì dăm bông uống cà phê. 
Nhưng tiếng bước chân mỗi lúc một gần rồi cái đầu sói của mụ Louche chầm chậm thò lên đầu cầu than. Mụ Louche bước chân vào, miệng lèm bèm chửi thề bằng tiếng Ý. 
Chỗ thân tình quá rồi, giữa Lucia Santa và bạn già Louche miễn cái vụ chào hỏi xã giao. Mụ Lucia lấy thêm ly tách ra rót cà phê, thêm bánh mời khách … dù biết Louche xưa nay quen lệ ăn uống cu ky, chẳng dùng bữa với ai bao giờ. Mụ cất tiếng hỏi đùa: “Thế nào, mạnh giỏi chứ?” 
Mụ Louche vùng vằng khoát tay, mặt nặng ra vì câu hỏi xỏ cái điệu “mày biết tao sắp chết đến nơi còn mạnh giỏi cái nỗi gì?”. Cả ba người nín thinh. Rút cuộc Lucia Santa lại phải mở lời: 
– Chao ôi, đến sợ cái ngày tựu trường! Bày đặt làm chi không biết? Con cái thì ăn mặc cứ như Tổng thống còn mẹ thì quần quật giặt ủi như một con mọi thế này! 
Mụ Louche lại ậm ừ xua tay như không muốn cho lại gần mấy người sống buông thả chỉ biết ham vui. Mụ từ tốn cởi chiếc áo ngoài, cởi luôn chiếc áo len dài có hàng nút chạy xuống tới đầu gối.
Có mặt bà già khó tính này, Octavia đành bỏ dở trang sách, sợ mụ bắt lỗi con nhà vô phép . Nàng đứng dậy lo ủi đồ giùm mẹ, ủi chầm chậm cho có lệ thôi. Cuốn sách để ngửa trên bàn mụ Lucia còn phải gấp ngay lại sợ con nhỏ đang mê xem dám vừa ủi đồ vừa liếc chừng lắm. 
Thấy điệu bộ mụ, Octavia biết ngay dì Louche sắp có chuyện nói với mình. Chắc phải chuyện trò với con nít ? Quả nhiên mụ hỏi bằng giọng kẻ cả: 
– Này nhỏ, trọn ngày hôm nay mi có thấy bóng dáng thằng em bô trai của mi mò về nhà không? 
– Thưa dì không. 
Octavia trả lời ngoan ngoãn dù xưa nay nàng kỵ lối hỏi trịch thượng này lắm. Nếu người hỏi không phải dì Louche, bồ ruột của mẹ nàng mà cũng là người thân nhất của gia đình nàng thì chắc chắn Octavia đã cho một bãi nước bọt vào mặt. Nhất là mấy mụ xồn xồn vô duyên xóm này động nói với mấy đứa lớp tuổi nàng là ưa lên mặt người lớn, ra điều “Mấy con nhỏ này chưa biết cái mùi đời nó ra thế nào” thì kể như vẫn con nít vậy! 
– Còn Lucia thế nào, có thấy không? 
Bà mẹ Octavia lắc đầu là mụ Louche dồn một hơi, giọng đanh đá gay gắt làm người nghe phải e ngại không biết chuyện gì đã xảy ra. 
– Cũng không biết. Vậy có nghĩa là cái thằng ranh mười bảy tuổi đó ở xứ sở này tha hồ tự do … nó làm gì khỏi cần biết! Mà chị cũng chẳng cần lo cho nó nữa. 
– Có chuyện gì đấy? Cái thằng đốn mạt đó có đêm thứ bảy nào chịu ngủ nhà đâu? 
Mụ Louche cười hăng hắc: 
– Có chuyện gì hả? Phải nói cả một vở kịch mới đúng và cũng theo lối Mỹ … bà mẹ bao giờ cũng biết sau hết mọi người. Đừng lo, con chị không sao đâu! Vẫn khỏe mạnh như thường và chàng hiệp sĩ đẹp trai của chị còn gặp một nàng tiên trong mộng còn đẹp hơn nữa. Xin ngỏ lời mừng chị sắp có một cô con dâu hách . Hách như đám cưới lối Mỹ vậy! 
Quái, mụ nói xa xôi văn vẻ … chẳng hiểu gì! Hai mẹ con Lucia Santa ngơ ngẩn nhìn nhau. Vì Louche mới đầu nói nghe ghê lắm, làm như mụ sắp nổi giận tới nơi. Vậy mà càng có vẻ giễu cợt, như muốn chọc cười vậy. Chính mụ lại cười trước hết, cười rung cả người, cười gập đôi người lại. 
– Xin lỗi phải nói dài dòng … chỗ chị em với nhau Lucia chẳng lạ gì tôi với chị cũng như mộ. Có điều lần này thằng Lorenzo nhà chị quá quắt. Nó quá quắt … quá lắm! 
Louche khựng lại vì Lucia Santa mặt lạnh như tiền, cặp môi mỏng mím chặt lại . Giận dữ đến thế là cùng nhưng mụ cố nén xuống làm bà bạn già hết dám cười mà phải vội vàng nghiêm nét mặt. Cười sao được nữa khi chỉ vì mình mà có một người mẹ đâm lo lắng? 
– Có một thằng con được đàn bà con gái mê lên mê xuống như thằng Larry không lẽ chị bắt nó chết hay để chúng giết? Nó đâu phải thằng hư hỏng? Nó là thằng ngon lành chứ bộ? Bằng không nó sức mấy mang lại hạnh phúc cho cả hai vợ chồng nhà Cinglata? Mụ Cinglata hai chục năm nay đâu có chửa đẻ … còn thằng chồng thì hai đời vợ, bốn mươi năm làm chồng cả thảy mà đâu có được làm cha bao giờ.  Bây giờ bỗng mụ vợ có bầu thì không phải là phúc đức quá sao? Cái đó là phải cảm ơn trời đất. 
Nói đến trời đất, Louche tự nhiên phải khẽ cúi đầu nhưng mụ chỉ làm bộ vậy để cười ha hả: 
– Nhưng kẹt ở chỗ thằng chồng không chịu tin trời ban ơn mà nhất định phải là người. Một người có dịp gần gũi mụ vợ nên lão Cinglata tính tạ ơn bằng một mũi dao! Trong khi đó mụ vợ lại mê thằng Larry quá, dám nghĩ tới việc vợ chồng đàng hoàng, chính thức ăn đời ở kiếp với nhau thì … chị nghĩ xem có tởm không? Đàn bà con gái nước Ý mình có bao giờ dám vậy? Sang đất nước này mới đổ đốn. 
“À, con mụ Cinglata khốn nạn thật! Rồi mày sẽ biết tay tao”. Lucia Santa rủa ngầm, xích gần tới để bà chị Louche kể tiếp: 
– Người kẹt trong vụ này lại là thằng Larry nhà chị mới khổ, chị nghĩ xem … con khốn chỉ rỉ tai chồng một câu thôi là chết thằng bé! Trường hợp nó không chịu là chắc chắn vậy. Nếu có chịu thì con đàn bà điếm đàng đó sẽ cho thằng chồng già một liều thuốc độc cấp kỳ. Rồi hai đứa sẽ dắt tay nhau lên ghế điện chứ thoát sao nổi? 
Chị thấy chưa, Lucia? Nguy hiểm cho thằng Larry chưa? Nào ngờ thằng con chị khôn quá đi! Xưa nay nguyên tắc của nó là không làm mất lòng ai, không từ chối ai bèn có ngay một giải pháp tuyệt vời. Nó lấy vợ! Hay tuyệt! 
– Thằng Lorenzo nhà tôi lấy vợ? Nó lấy ai? 
– Khoan đã … Nó cấp tốc lên xã Tây làm hôn thú, nó lấy một con nhỏ cũng người xứ sở mình, từ hồi còn kẹp tóc ở trong nhà nhìn ra thấy anh Larry cưỡi ngựa đêm đêm đã phải lòng rồi! Lạ lùng ở chỗ hai đứa chưa chuyện trò, hẹn hò đi chơi bao giờ … có ai biết chúng quen nhau đâu? Con nhà Maronozzi bên đường số 31 chứ ai ? Nhà nghèo nhất nhưng đàng hoàng thì chẳng ai bằng. Thấy thằng con chị ghê gớm chưa? Nó làm một tu sĩ cũng còn được! 
– Nhưng con nhỏ tính nết thế nào? Có ngoan thật không? 
Louche cười hề hề: 
– Cái đó theo tôi khỏi hỏi! Một thằng như Larry chừng lấy vợ có bao giờ chịu chọn thứ gái mất nết? Chỉ những thằng như nó, những thằng con trai gái chạy theo lu bù mới biết chọn vợ ngoan. Nó đã chịu là yên trí, khỏi có vụ lấy vợ thừa! 
Nghe chuyện vợ con của thằng Larry, Octavia sùng quá. Nó ẩu tả đến thế là cùng! Chơi bời bừa bãi thấy ghê … mà lấy vợ sao nó dám tính liều, muốn lấy là lấy dễ dàng được như vậy kìa? Đâu phải nhà nghèo mà tồi bại vậy? 

Octavia không hiểu sao bà mẹ tính nết khó khăn
là thế mà nghe vụ Larry cưới bừa con vợ lại không nói năng gì? Kể như vô hại mà xem bộ còn vui vẻ mới lạ! Nàng đâu đã đủ tư cách, đâu đã hiểu chuyện đời để chấp nhận cái “tin mừng” bất thình lình của Larry? Dù có đột ngột bừa bãi
và chẳng ai chờ đợi thật nhưng cũng vẫn là một tin mừng chứ? Chẳng hơn là lâu nay Lucia Santa vẫn nơm nớp chờ đợi một tin buồn rụng rời vì thằng con đàng điếm có thể chuốc bất cứ một bất hạnh nào sao? Nó dám bị đâm chém tù tội, đầu độc hay tai nạn như không! Dám ghế điện nữa kìa … Cái gì cũng có thể lắm, dễ lắm
…
Octavia đâu biết những nỗi lo sợ của bà mẹ lỡ có thằng con lớn “lả lướt”.
Với Lucia Santa thì thà nó làm bậy! Thằng Lorenzo dám lấy vợ người ta, dám cưới một con Ái Nhĩ Lan mà nó cũng dám rước một con điếm về làm vợ lắm chứ? Thiếu gì đám cưới nhà nghèo đã được tổ chức hối hả vào giờ chót cho xong? Nếu có mất mặt thì đàng nhà gái lãnh đủ chứ nhà trai có sao đâu! Đúng thế, nhưng nhà trai hay nhà gái Larry làm cú này cũng bậy! Octavia phải hậm hực kết luận: “Thằng mất dạy!”. 
Xem, Lucia Santa phát cười ha hả. Cứ nghĩ đến cả hai vợ chồng Cinglata cùng bị nó cho de là mụ chịu rồi! Mụ vui vẻ hỏi Louche: 
– Bây giờ chị có biết thằng con bô trai của tôi nó ở đâu không? 
Bà bạn già cười tinh quái: 
– Khoan, nghe tôi kể đã nào. Biết sao không … bây giờ thằng cha Cinglata lại
tin cái bầu là của nó! Dễ hiểu quá mà? Một thằng đàn ông mà vui lòng để cho con vợ nắm đầu thì nó muốn xách tai bắt đi đâu không được? Nhưng vụ đó kể bỏ. Vấn đề đáng ngại là bên nhà gái kìa. Họ nghèo thật nhưng họ đâu có hèn? Gả con mà chịu tai tiếng là “gỡ thế bí” giùm thằng con chị thì ai người ta chịu, nhất là bà sui gái? Giấu giếm sự thực với mụ là không xong rồi … 
Lucia Santa gạt đi ngay: 
– Cái đó dễ. Bọn nhà nghèo mình hiểu nhau. Tôi cũng nghèo và cũng chẳng chịu hèn, chẳng chịu mang tai tiếng mà? Do đó tôi nói được chắc. Có điều phải biết thằng Lorenzo với con vợ nó hiện giờ ở đâu chứ? 
Mụ Louche chẳng để chờ lâu mà đứng phắt dậy, tất tả đi ra thò đầu xuống thang lầu la lớn: 
– Lorenzo, Lousia đâu? Tụi bây lên đi … 
Vậy là tụi nó đã chuẩn bị để xuất hiện rồi. Trong khi chờ đợi thì mỗi người mỗi
ý nghĩ. Mẹ con Octavia chỉ nghĩ đến khía cạnh tài chính của vấn đề. Nghĩa là tiền!  Đầu óc Lucia Santa làm việc nhanh lắm. Chưa lấy vợ nó đưa về đủ lương … nhưng từ bây giờ thì sức mấy? Hụt tiền nhiều quá! Nhưng thằng Lorenzo phải hiểu hoàn cảnh nhà đông em nhỏ chứ? Lấy vợ thì được nhưng chưa có con bắt buộc nó phải chia lương để giúp mẹ nuôi em chứ? 
Nó mà không chịu đóng góp thì mụ làm liền! À còn chỗ ở thì tầng hai này sắp trống một căn. Hai vợ chồng nó dọn tới thì tiện quá. Dễ kiểm soát nàng dâu mới chạy qua chạy lại thật là gần mà trông nom cho chúng luôn thể càng hay. Nhấp nháy là chúng có tí nhau và phen này lên chức bà nội nhanh chẳng trật đi đâu nổi.  Vả lại Lucia Santa cũng nôn nóng muốn thấy mặt nàng dâu, muốn biết người ngợm nó như thế nào mà có thể khiến “cá mắc câu”. Thằng Lorenzo đâu phải tay vừa? 
Dĩ nhiên Octavia cũng suy tính như mẹ. Nàng thấy thằng em mất dạy quá. Nhè đúng lúc nhà đang cần tiền nhất thì nó hối hả tách ra ở riêng. Vậy là trốn nợ, trốn trách nhiệm còn gì? Xét ra dám có quyết định lấy vợ chỉ vì bà mẹ độc tài quá. Larry vừa bị hạn chế tự do mà lương lãnh bao nhiêu phải “đóng” cho mẹ gần hết. Nên nó muốn thoát ly … chứ ở lại chỉ thêm khổ! Nếu vậy lát nữa gặp mặt nó phải bảo thẳng cho nó biết. Nó đi thì còn ai gánh chịu cả cái gia đình này, ngoài nàng? 
Louche cũng có ý chờ chứ? Có bao giờ mụ có ý xấu với gia đình này đâu? Nhưng một vở kịch bi hài đặc biệt như thế này thì mụ khoái chứng kiến bằng thích. Để chờ xem sao …  Đầu thằng Larry với mái tóc đen đen thò lên trước. Con vợ nó chắc đi sau, nhưng bị che khuất hết. Thấy mặt thằng Larry là thấy nụ cười. Nó ưa cười một cách rất tự tin nhưng tối nay rõ ràng ngập ngừng, e ngại. Bà mẹ đang chờ đợi bèn đứng lên nở nụ cười khoan dung, tha thứ. 
Larry vội nhanh nhảu giới thiệu, đưa con nhỏ đứng nép sau lưng ra: 
– Mẹ, chị … bữa nay con đưa vợ con về. Còn Lou, đây là mẹ anh và đây là chị
Octavia.  Mụ Lucia Santa đứng lên đón con dâu, ôm hôn thân mật và kéo ép ngồi xuống ghế. Octavia nhìn con nhỏ và tự nhiên thấy thương hại nó quá: khuôn mặt trắng xanh xinh xẻo, đôi mắt to đen mở lớn và khổ người nhỏ nhắn trông rõ ra con nít, chưa lớn hẳn. Như vậy đó mà nhè làm vợ thằng Larry thì chết rồi! Làm sao nắm nổi thằng chồng khi chính cuộc đời mai sau cũng chưa biết ra làm sao? 
Thằng Larry đứng lên xem đồ sộ hẳn, người chắc nịch, mái tóc xanh đen. Nhưng tình cảnh nó cũng đáng thương lắm chứ? Thích tự do mơ mộng mà nhè “cột cuộc đời” vào một con vợ là thôi hết bay nhảy. Cuộc đời kể như bế mạc từ đây.  Octavia làm sao quên nổi hình ảnh thằng Larry đêm đêm cưỡi con ngựa ô dọc theo đại lộ số 10, móng ngựa gõ chan chát trên đường đá lâu lâu đụng đường sắt tóe lửa. Nó nghênh nganh chỉ mơ tưởng mai sau giàu lớn! Bản chất tốt thấy nhà nghèo là tự động lo bỏ học sớm để đi kiếm tiền phụ với mẹ nuôi các em. Chỉ vì vậy mà đời nó sau này hẳn chịu thiệt thòi, không đủ vốn để tranh sống với thiên hạ. Giờ đây có vợ là sẽ có con, đời nó sẽ vùn vụt như bóng câu qua cửa sổ, trung niên rồi già lão mấy hồi? Không biết còn giữ nổi đầu óc mơ mộng nữa không? 
Hồi còn nhỏ Octavia cũng thương Larry thật tình chứ? Bây giờ thấy con vợ còn
con nít của nó, nàng cũng đâm thương hại. Nàng hôn thằng chồng thân mật vào hai bên má và khi ôm hôn con vợ nàng thấy con nhỏ hoảng sợ tới cứng cả người. 
Tiện bữa cơm vợ chồng Larry ngồi ăn luôn. Cả nhà tính toán lo sắp xếp chỗ ăn chỗ nằm cho vợ chồng son trước khi mướn được căn nhà ở tầng hai. Thấy cả nhà vui vẻ, Larry đâm hứng chí cười nói luôn miệng xem như không hề có chuyện gì xảy ra. Giữa lúc đó thì Lousia tự nhiên ôm mặt khóc nức nở. Nó bảo phải về nhà hỏi mẹ, không dám ở lại. 
Thương tình Lucia Santa an ủi: 
– Con đừng lo … Để mẹ cùng đi về. Đằng nào thì mẹ cũng phải tới thăm mẹ con.
Sui gia mà? 
– Mẹ à … con phải đi làm khuya. Mẹ đi với nhà con, sáng mai thế nào con cũng
tới mà? 
Lousia nhìn Larry sững sờ, ngạc nhiên không hiểu tại sao thì Octavia gắt
lên: 
– Sao lại sáng mai? Mày kỳ quá, Larry. Lấy vợ mà không nghỉ nổi một ngày sao?
Mày phải đi với mẹ đưa Lousia về nhà nó rồi chồng đâu vợ đấy chứ? 
Con nhỏ ngại ngùng mở lớn mắt nhìn chị Octavia. Thằng Larry cười cười:
“Làm gì mà ghê thế chị! Em muốn anh cùng về không, Lou?”. Con vợ gật
đầu gấp. Nó ôm vai vợ như sẵn sàng che chở nó: “Được, về thì về
…” 
Lousia đáp: “Cảm ơn anh” làm Octavia cười ồ lên. Bà mẹ đưa mắt nạt
làm nàng càng thấy vô lý. Đáng lẽ bà ấy phải giục Larry chứ đâu đến nàng? Nàng hiểu tại sao khi bà mẹ từ tốn bảo nó: “Lorenzo … con nên đi cùng một thể thì hơn”. 
Có bao giờ Lucia Santa nói với thằng con trai khách sáo, mềm mỏng như vậy! Điệu này là bà ấy từ nay trở đi không muốn xem Larry như trước mà đặt nó ra ngoài vòng kiểm tỏa của gia đình. Không phải giận dữ, ghét bỏ mà thằng Larry đã bị mẹ gạt ra, xem như một gánh nặng không mang nổi nữa còn phải để sức lo những gánh nặng khác.  Lúc họ đi hết, Octavia tự nhiên thấy chán nản quá! Chán đến hết muốn đọc sách, bao nhiêu đồ ủi lấy ra ủi bằng hết. 
Sáng hôm sau thức dậy thấy giường anh Larry bỗng có cô nào ngủ chung, mái tóc đen dài xõa ra, Gino chỉ đứng nhìn, không ngạc nhiên mấy. Đời này thiếu gì cái lạ lùng hơn! 
Nó thấy anh Larry khác hẳn và cô kia cũng có vẻ lạ quá. Hai cái mặt ló ra trời
lạnh thế này xem trắng bệch thấy sợ như thây ma, chắc vì ngủ mê mệt quá khỏi biết trời đất gì. Hai mái tóc cùng rậm đen rối nùi và quyện vào nhau quấn quýt chẳng biết của ai vào với ai. 
Bỗng đâu anh Larry cựa quậy, lúc bấy giờ sinh khí mới chuyển động từ từ và
khuôn mặt tái nhạt bắt đầu hồng hồng màu máu. Hai gò má bây giờ mới thấy đo đỏ, cặp lông mày đen sẫm đụng đậy, con mắt chớp chớp mở và lòng đen sáng quắc. Anh Larry nghiêng đầu cho hai mái tóc hết quấn quýt vào nhau và thấy thằng Gino đang đứng nhìn đăm đăm bèn nhe răng cười. 
Vincenzo dậy sớm hơn và nãy giờ đã thưởng thức chai sữa tươi mà chỉ thằng nào chịu dậy sớm mới được hưởng: trời lạnh là thế nào chất kem bổ béo chẳng đóng váng đầy đến hai ba phân ở cổ chai sữa? Thằng Gino vớ chai sữa nguyên lui cui tính khui bỗng rụt tay lại vì bị mẹ đập cho một lưỡi dao đau điếng. 
Lúc Gino trở lại phòng ngủ để mặc nốt quần áo đã thấy anh Larry lưng dựa thành giường phì phà điếu thuốc lá. Cái lưng nho nhỏ dáng nằm khom khom. Có sợi dây nịt trắng lấp ló, đeo xung quanh chỗ xương vai gầy gầy chìa ra xem cứ như cánh gà vậy! Thấy bóng Gino anh Larry vội kéo chăn lên che cho cô vợ nhưng phía bên mép chăn lại tụt xuống để hở bộ ngực trần lông lá thấy ghê. 
Đối với Gino năm anh Larry lấy vợ là một năm không bao giờ quên. 
Một hôm tan học ra đi ngang hãng kẹo Runkel nó thấy bồ Bianco ngồi xệp xuống nền xi măng, sách vở liệng bừa bãi. Thằng Bianco lại khóc, xem bộ uất ức quá. Gino vội hỏi bồ: 
– Ủa, sao mày ngồi đó khóc? Bộ có chuyện gì ở đằng nhà mày? Hay ba mẹ mày làm sao? 
Bianco lắc đầu. Nó vẫn khóc sụt sịt làm Gino phải bá vai kéo nó lên ngồi trên
thềm gạ chuyện: 
– Làm vài ván bài cào chơi mày? Tao có mười sáu xu đây. 
– Tao hết tiền … 
Gino nhìn sững. Thằng này mà hết tiền được? Bianco bật khóc nức nở: 
– Mày ơi tao hết tiền, hết sạch tiền thật. Bố tao bảo bao nhiêu tiền phải gửi hết
vào nhà băng mà bây giờ nhà băng quỵt hết, quỵt cái một. Khốn nạn không? Bố tao còn cười ầm lên nữa. Bọn nhà băng bảo gửi tiền chừng lớn hãy lấy ra làm vốn. Bây giờ vốn mất tiêu luôn mà chúng còn cười vào mặt chắc! 
Mặt Bianco rầu rĩ. Nó khóc hu hu và chửi thề tùm lum. Bây giờ Gino hiểu ngay tại sao thằng bồ ruột đau khổ vậy. Nó biết tính thằng Bianco hơn ai hết. Thằng này chỉ tiền, chỉ lo dành dụm từng xu để bỏ băng! 
Xem, có hai xu một cây càrem mà Bianco có bao giờ dám mua ăn? Bao nhiêu lần Gino phải bỏ tiền ra mua càrem và cho nó mút nhờ mấy cái! Chiều chủ nhật nào nó cũng ở nhà, để tiền mua giấy xem hát bóng gửi băng. Thiếu gì dịp đi ngang xe bánh mì xăng uých che chiếc dù sọc vàng thằng Bianco đã làm lơ quay mặt đi, tay thủ chặt đồng năm xu trong túi? Gino là khỏi được, chịu không nổi! Nó khoái đớp lớp bánh xăng uých thơm mềm, nhân thịt bò băm ớt đo đỏ, ngon ngọt biết mấy, lớp sốt trắng tươi béo bổ và còn thêm chút mù tạt vàng cay cay nữa. Chao ôi, ngần ấy mùi vị trộn vào nhau khoái khẩu biết mấy? 
Vậy mà bây giờ bao nhiêu tiền mất sạch thì Bianco chịu sao nổi? Không phải tiền nó mà Gino còn tiếc quá xá mà? Lũ chúng bạn thấy Bianco ráng nhịn thèm thằng nào cũng chửi bần tiện, riêng một mình nó phục lăn. Có miếng bánh mì thịt, cặp xăng uých hay cây càrem là Gino luôn luôn chia cho Bianco một vài miếng ăn đỡ, cho khỏi thèm thuồng. Ngay đến ngày lễ Phục Sinh đứa nào ở xóm này chẳng có nổi một cắc mua mấy chiếc hột gà màu trắng, màu hồng để thưởng thức món quà đặc biệt truyền thống một năm mới có một lần mà Bianco có chịu bỏ tiền ra mua bao giờ? 
Gino thán phục Bianco lắm và lấy làm vinh dự có thằng bồ bịch giàu lớn. Có lẽ
dám giàu nhất cả khu Chelses luôn chứ xóm đại lộ số 10 này thì dĩ nhiên nhất nó rồi? Nó ghé tai bồ Bianco khẽ hỏi:
– Mày mất tất cả bao nhiêu? 
– Hai trăm mười ba đôla cả thảy … 

Photo edit by Sơn râu 9 Jul 2024

Nó nói con số một cách trang trọng nhưng giọng chán nản, đau khổ quá. “Hai trăm mười ba đôla đâu phải là ít?”. Hai thằng buồn bã nhìn nhau. Còn biết nói gì bây giờ? Gino không ngờ thằng Bianco có vốn lớn đến thế … và mất luôn cú một. Vì vậy nó ai oán than trời cũng phải. Gino phải rủ nó: 
– Bây giờ tụi mình phải lo về chứ mày? Nhặt sách vở lên xem. 
Thằng Bianco đứng bật dậy, lấy chân chà đạp đống sách văng tuốt luốt ra ngoài cổng rớt ra tới ngoài đường. Nó hét lên: “ĐM sách … ĐM trường. Tao sẽ chơi chúng nó phen này. Tao khỏi về nhà, tao đi luôn”. 
Chửi thề một hơi là Bianco vùn vụt chạy về ngã đại lộ số 9. Bóng nó mất hút dưới dạ cầu nổi. 
Gino bèn lượm sách vở giùm nó vậy. Xem, cuốn nào cũng rách tung beng, dơ dáy và dính cả phân ngựa nữa. Đành chùi sơ, chùi đại vào quần để cắp về nhà, mang qua trả cho nó. 
Nhà thằng Bianco ở số 356 trên tầng ba. Chừng gõ cửa rồi Gino mới nghe trong nhà có tiếng đàn bà khóc lóc. Nó định bỏ chạy luôn thì cánh cửa mở bật. Mẹ thằng Bianco người nhỏ thó bận đồ đen vẫy nó vào luôn.
Lạ quá, giờ này mà bố Bianco cũng đã về nhà sao? Ông ta ngồi lù lù sau bàn ăn dưới bếp. Bố nó xem cũng nhỏ người, lưng hơi gù và đặc biệt là để một hàng ria chổi xể rất đậm. Gặp ông ta ở ngoài phố là tứ thời độc chiếc mũ nỉ xám cũ mèm. Không hiểu sao bữa nay ngồi bàn ăn mà bố nó vẫn chưa chịu bỏ mũ kìa? Trước mặt ông ta có nguyên vò rượu chát bự và ly rượu uống dở. 
Gino chào hỏi: 
– Thưa bác cháu mang giùm Bianco mấy cuốn sách về. Cô giáo nhờ nó làm chút việc, nó phải ở lại về sau.
Nó đặt chồng sách lên bàn. Bố Bianco nhìn nó cất tiếng nhừa nhựa: 
– A, thằng nhỏ mày là con Lucia Santa, mày là bồ bịch thằng Bianco nhà tao? Mày khá. Mày bướng, mày đếch chịu nghe ai … cứ ý mình làm, phải không? Hay lắm, con trai vậy mới ngon. Làm với tao tí rượu chát đi? Cứ kể ra không cha như mày lại hên. 
– Cảm ơn bác … cháu không uống rượu! 
Gino không chịu cái vụ ông Pasqual xem việc mất tiền của thằng Bianco như không có gì . Bà vợ ngồi một bên bèn nhìn. 
Chừng ông Pasqual giục “Uống, uống đi mà!” thì bà vợ lấy ra một chiếc ly nhỏ. Ông ta rót đầy rượu cho Gino rồi cất cao ly của mình la lớn: 
– Nào tụi mình nâng ly chúc mừng Mỹ quốc. Mừng cho mấy thằng chủ nhà băng mai mốt có quyền moi ruột mẹ chúng ra nhậu. 
– Thôi đừng nói lớn chứ? 

Photo edit by Sơn râu
Bà Pasqual chỉ dám nói có bấy nhiêu. Gino hồi nhớ lại nó gặp bố Bianco gần như mỗi ngày và ông ta xem bộ “lên” đều làm ăn khá lắm. 
Hồi đầu xem ông ta vất vả quá, thân hình khẳng khiu bước thấp bước cao từ nhà ga đi ra, chạy quạy bước theo đường ray. 
Những lúc ấy xem ông ta mệt quá, người lem luốc mồ hôi, bụi đất bám mấy tầng, các lỗ chân lông dám bít luôn quá! Chiếc mũ nỉ xám vành đen đã cũ mèm lại dơ dáy quá. Chắc chỉ để che đầu đỡ nắng. Ông ta còn đeo cái giỏ đựng thức ăn trưa ở ngang hông. Cái giỏ đong đưa lúc ông ta hì hục leo từng bậc thang gác tối om … 
Bao giờ đi làm về, ông Pasqual chẳng tụt bộ đồ ra, tắm qua loa nước nóng xà bông rồi bà vợ lấy khăn lông lau khô người giùm để ông chồng khoác vội chiếc sơ mi xanh, mau mắn vớ lấy hũ rượu ly rượu xách ra bàn. 
Có cả thằng Gino ngồi đó mà mắt ông ta gườm gườm nhìn như giận dữ, nhưng rồi lắc đầu như có ý bỏ qua . Làm một hơi rượu chát và nghe chừng giãn cả xương cốt, khỏe mạnh như thường. Bà vợ bưng ra một đĩa đậu và “nui” lớn tướng đánh sốt ngon lành, còn nóng hổi bay thơm phưng phức mùi tỏi. Ông Pasqual lấy cái muỗng lớn xúc một muỗng đầy như xà beng xúc cát, mặt cúi xuống và “hụp” một phát đúng điệu nông dân thuần túy là trọn muỗng thức ăn chạy tuốt vào trong cái miệng có hàng ria rậm che gần bít. 
Sau khi làm một hơi ba muỗng đầy, ông ta bỏ muỗng xuống vớ lấy khúc bánh mì lớn. Rồi tay muỗng tay bánh “thanh toán” bữa cơm ào ào, làm như ăn thêm một miếng ông ta khỏe thêm được một chút. Nét mặt đâm hồng hào, bộ răng trắng bóng và nhờ bộ ria dính nước sốt nằm ép xuống mới thấp thoáng cặp môi đỏ sậm! Xem, vỏ bánh mì nâu, ròn ông ta nhai rôm rốp và cái muỗng cầm tay khua lên hoa cả mắt. Ly rượu cạn rất lẹ. Phải nói là chất nông dân của bố thằng Bianco đã bộc lộ đầy đủ trên bàn ăn nên nhìn ông ta ăn dễ dàng tưởng tượng mùi bột mì, mùi nho, mùi đậu tươi xanh phảng phất đâu đây. 
Xong bữa bà vợ đưa cho ông ta con dao và đẩy đĩa pho mát tới. Ông Pasqual xắt một miếng pho mát lốm đốm và chìa ra đưa cao lên cho mọi người cùng thưởng thức mùi thơm. Tay kia ông quơ lát bánh mì ăn còn dư trên bàn rồi lấy điệu bộ chững chạc, oai vệ vừa cười vừa hỏi mọi người: “Xem đây có thằng nào bảnh bằng tao không?” 
Bà vợ “ê à …” một tiếng xác nhận, đúng điệu: “Còn phải hỏi! Ông không tin tôi cũng tin đúng như vậy. Nhất ông!”. Bọn con nít dĩ nhiên chẳng hiểu gì chỉ biết giương mắt nhìn. 
Này bánh, này rượu, này thức ăn … cái gì cũng ngon ngọt, béo bổ, có giá trị nuôi sống con người, bồi bổ cơ thể mà điển hình là người chủ gia đình tối nay. Bao nhiêu mệt mỏi xương thịt, bao nhiêu rã rượi tinh thần đều biến mất sau một bữa ăn ngon. 
Ăn xong bữa ăn ngon lành, ông Pasqual vươn vai khoái trá. Hết mệt nhọc, hết buồn phiền, đời sống đâu đến nỗi gì? Nếu nói đến sung sướng thì còn ai sung sướng được như thế này nào? 
Ngồi bàn ăn thấy bố thằng Bianco có vẻ dễ chịu rồi Gino mới dám có ý kiến: 
– Thưa bác … tiền mất Bianco có thể kiếm lại được mà? Nó lấy than ở nhà ga ra cháu có thể bán phụ. Mùa hè tới hai đứa lại “làm” nước đá. Dần dà cũng kiếm lại được vậy! 
Rõ ràng Gino thấy hàng ria chổi xể của ông Pasqual rung rung. Ông ta cười khành khạch nhăn cả mặt mũi: 
– Thằng nhỏ, sao mày lo cho thằng Bianco nhà tao thế? Ôi chao, nó mất bấy nhiêu đã ăn nhằm gì! Nó đâu biết, mày đâu biết … tụi mày đâu biết tao mất đến bao nhiêu? Hà hà … năm ngàn đôla. Năm ngàn đôla thôi … nhưng cả một công trình hai mươi năm làm ăn ròng rã chắt bóp. Nóng lạnh, mưa nắng chịu đủ. Chủ chửi vào mặt cũng phải câm, tên cha mẹ đặt và họ là họ tổ tiên cả ngàn năm nay mà cũng phải đổi đi chỉ để kiếm ăn! Ôi chao, dòng họ Baccalona bao nhiêu đời lập nghiệp đất Salermo. Vậy mà tao phải thay họ đổi tên, phải bỏ đi hết. Thằng con tao mất có bấy nhiêu đã khóc hu hu ngoài đường!
Ông Pasqual vớ ly rượu làm ừng ực một hơi cạn. Không biết bao nhiêu ly rồi?
– Trời ơi, năm ngàn đôla! Năm ngàn đôla của tôi. Tôi làm quần quật và dành dụm đúng hai mươi năm trời, xương cốt muốn rã rời mới có nổi. Vậy mà Chúa ơi … chúng cướp giựt cái một, không gươm, không súng và giữa ban ngày ban mặt. Sao chuyện đời lại ghê gớm thế? 
Lúc bấy giờ bà vợ phải khuyên can: 
– Mình … mình đừng nhậu nữa! Mai còn phải đi làm mà ngày hôm nay đã ở nhà chơi rồi! Hồi này kinh tế khủng hoảng, kiếm việc làm đâu phải dễ? Bao nhiêu người bị đuổi sở, thấy không? Thôi mình lo ăn thêm chút nữa rồi đi ngủ cho khỏe. Mai đi làm. 
Ông Pasqual từ tốn đáp: 
– Đừng lo! Mai đi làm là tôi đi làm liền. Thấy không hồi có con nhỏ tôi cũng đi làm mà? Bao nhiêu lần mình đi sinh tôi có bỏ việc ngày nào? Mình ốm, con ốm cũng đâu dám nghỉ bao giờ? Vậy đừng sợ, mai tôi sẽ đi làm. Phải công nhận là tôi thua mình. Tối mịt hết thấy đường mới dám bật đèn để hà tiện được đúng một xu tiền điện. Một xu! Thịt không dám ăn, chỉ rau không! Trời lạnh quá xá, mình ở nhà cứ xù xụ áo len cả ngày để khỏi phải đốt lò, tốn tiền than. Vậy mà mình vẫn chịu đựng như không, tôi nói đâu có sai? Người mình vậy là sắt, là thép còn gì! Chao ôi, đến sợ mấy người đàn bà. Gino, mày phải sợ họ nghe? 
Ông Pasqual nâng ly rượu đầy làm một cái cạn đáy. Buông ly là nằm kềnh ra, té lăn trên sàn nhà! 
Bà vợ lúc bấy giờ mới la trời than khổ. Ông chồng say bổ ngửa còn biết trời đất gì đâu? Bà mẹ Bianco tha hồ khóc loc”, rên rỉ và nhờ Gino phụ lực lôi chồng vào buồng ngủ. Hai người hì hục khiêng ông ta đặt lên giường đàng hoàng, cởi quần áo tử tế mà ông Pasqual vẫn cứ ngáy vo vo trông bộ ria tức cuời hết sức. 
Bà Pasqual bảo Gino ra bếp ngồi để hỏi chuyện thằng Bianco. Nó đi đâu? Thằng Gino thuật chuyện để nghe bà ta kể lể. Bà ta than van, thương hại ông chồng đau khổ. Ông ấy là trụ côt, là niềm hy vọng của cả nhà này. Bây giờ quá tiếc của mà lăn đùng ra thì chết hết. Mất hết tiền thì cực kỳ đau khổ đấy nhưng đâu đã chết? Còn người còn củ. 
Chao ôi, đất tiền đất bạc là thế này đây. Bao nhiêu người từng đặt hy vọng sang đây làm ăn cho sung sướng tấm thân. Hạnh phúc thật … nhưng hạnh phúc phải có giá chứ? Nó đâu có tới khơi khơi, nó đắt giá lắm chứ? Nhưng dù sao thì ở đất này vẫn có quyền hy vọng, ở bên Ý khỏi! 
Thôi thì lại bắt đầu lại từ đầu. Ông Pasqual năm nay mới bốn tám tuổi, còn khỏe mạnh chán … còn làm được ít nhất hai mươi năm nữa. Còn người là còn làm ra tiền, còn cả một kho tiền để cung ứng cả tiền ăn tiền ở lẫn tiền khóc tiền cười. 
Gino không khỏi bật cười khi tưởng tượng “cái kho tiền” gầy gò, có hàng ria chổi xể, mặc bộ đồ lót sọc vàng đang ngáy khò khò. “Kho tiền” của bà mẹ Bianco đấy. Một người hà tiện tiền như bà ta … mà tiền mất hết không tiếc, chỉ lo mất chồng. 
Ngồi nghe chuyện một lát sau Gino mới chạy về nhà. Nó về trễ. Cả nhà đã ngồi vào bàn ăn, nhà bếp ấm áp quá và chao ôi mùi tỏi phi trong chảo dầu ô- liu, mùi sốt cà chua mới quyến rũ, sung sướng làm sao! Giữa bàn ăn là một đĩa mì xào tổ bố đầy có ngọn. Bữa nay thứ năm lấy đâu ra thịt băm viên? Chỉ có một khúc thịt bò nạm nhưng nhờ hầm thật nhừ nên lấy nĩa xắn cũng tơi tả ngay. Đang ăn thì vợ chồng Larry từ nhà dưới lên nhập cuộc. 
Thấy mặt Larry là cả nhà vui, nhất là bọn con nít chịu lắm lắm. Vì anh Larry có tài kể chuyện hay tuyệt vời, chuyện gì kể cũng hấp dẫn hết! Mấy chuyện vừa xảy ra trong nhà ga và đặc biệt là dân xóm này bất cứ nhà nào vừa xảy ra chuyện gì là anh Larry cũng biết liền. Chuyện của nó vui đến đỗi bà mẹ và chị Octavia nghe còn khoái, con nít ồn ào không buồn la kia mà? 
Gino liếc nhìn và thấy chị dâu Lousia hồi này xem mập ra nhưng khuôn mặt sao lại choắt đi kìa? Dĩ nhiên đề tài của Larry tối nay phải là chuyện nhà băng vỡ nợ, dân xóm này nhiều kẻ mất tiền toi. 
– A, mấy ngày nay dân xóm này có nhiều thằng thất nghiệp! Nhiều lắm. Lão mập chủ lò bánh nghe nói nguyên tiền mua chứng khoán cổ phần cũng đi đứt mười ngàn đôla. Còn mất một mớ gửi băng nữa chứ ? Cũng đỡ khổ vì cửa tiệm còn nguyên. Mẹ à, kể ra nhà mình không có tiền cũng hên đấy chứ! 
À, cái vụ này Larry khỏi biết! Hai mẹ con Octavia nhìn nhau. Tiền nhà này mất sao nổi? Gửi trương mục tiết kiệm Bưu điện, nghĩa là gửi nhà nước mà! 
Lucia Santa quay sang bảo con dâu: “Ăn đi con, con phải ráng ăn cho lại sức”. Mụ nhìn sang đĩa của Larry mà xúc một miếng thịt bò lớn đặt vào đĩa của Lousia. Mụ la: “Thằng chó này, người mày thế kia đâu cần ăn thịt? Mày ăn mì không đi, để thịt cho vợ mày!”. 
Hình như Lousia có ý khoái thì phải. Tính nó nói ít, ít quá nhưng cũng lí nhí “con cảm ơn mẹ” . Hai anh em Vincenzo và Gino lặng lẽ nhìn nhau. Cả hai đứa cùng thấy kỳ cục. Tính nết mẹ chúng thì chúng còn lạ gì ? Chúng biết hết. Mẹ chúng đâu có thương gì Lousia … chỉ làm bộ vậy ra điều chiều chuộng con dâu . Vậy mà cũng “con cám ơn mẹ” được! 
Larry nhoẻn miệng cười, nháy nhó hai đứa. Nó lấy muỗng múc một muỗng nước sốt đầy rồi “bổn cũ soạn lại” cứ y như thực. 
“Xem, mấy con gián làm cái điệu gì kỳ cục”. Cái trò gián nhảy, gián đánh bóng để hốt trộm khoai tây chiên bữa tối thứ bảy này đâu có xài được với bọn nhỏ nữa. Vincenzo và Gino cứ lờ tuốt … nhưng Lousia tưởng thật quay lại nhìn, nhớn nhác đưa mắt tìm. Lập tức miếng thịt bò của nó bị Larry câu sang đĩa mình, xắt một miếng lớn và trả về chỗ cũ nhanh như chớp. Bọn con nít cười ầm lên. Lousia biết bị mắc lừa bỗng bật khóc . Nó khóc thật làm cả nhà ngạc nhiên. 
Larry cười nói: 
– Ô hay, có gì mà khóc? Đùa tí chơi mà? Nhà này giỡn hoài vậy mà? 
Mụ Lucia và Octavia can thiệp ngay. Chị thì la: “Larry … lần sau đừng chọc nó nghe mày? Nó khóc tội nghiệp”. Bà mẹ còn nồ dữ: “Con à … thằng chồng con có lối đùa súc vật vậy đó. Nó tưởng hay lắm đấy. Để lần sau mẹ cho nó cái đĩa vào mặt …”. 
Được mẹ bênh, chị bênh thế đó nhưng Lousia vẫn đứng dậy chạy tuốt xuống dưới nhà, vừa chạy vừa khóc nức nở. 
Lucia Santa bảo con: “Nó chưa ăn xong đâu. Mày phải mang xuống cho con vợ mày đi” thì thằng Larry điềm nhiên khoanh tay đáp: “Khỏi. Thây kệ nó!. 
Nói xong nó lại tiếp tục xúc mì ăn. Cả nhà nín thinh, chẳng ai nói câu gì. Lát sau thằng Gino kể: 
– Mẹ biết không … thằng Bianco mất hết hai trăm mười ba đô la, còn ông già nó bị tới năm ngàn đôla lận! 
Mẹ nó không nói gì nhưng rõ ràng ánh mắt sáng lên khoan khoái, in hệt lúc nãy nghe tin ông chủ lò bánh bị nhà băng giật tiền vậy. Tuy nhiên nghe Gino kể tiếp Pasqual nhậu say tới té lăn thì mụ rầu rĩ lắc đầu: 
– Đời này là vậy đó! Khôn ngoan đến mấy cũng cứ bị … 
Mụ nhìn Octavia. Hai mẹ con cùng hể hả. Đúng là khôn ngoan cho lắm chừng bị vẫn cứ lãnh đủ như thường! Mẹ con mụ đâu có biết gì? Cũng may là dành dụm được bao nhiêu tiền là gửi quỹ tiết kiệm Bưu điện. Hồi đó mà gửi nhà băng thì … Chẳng qua là cả hai mẹ con cũng muốn vào nhà băng gửi và đã đi ngang rồi. Trời thương là nhìn vào thấy hàng cột vĩ đại quá, mặt tiền lộng lẫy quá mà số tiền gửi lại nhỏ nhoi quá nên khớp luôn, đâu dám bước chân vào? 
Nhờ vậy còn tiền … nhưng thấy bà con lối xóm bị mất đau xót quá Lucia Santa cũng rầu rĩ chứ và còn đôi chút ngượng ngùng. Mụ bảo các con: 
– Kể ra vợ chồng nhà Bianco cũng tội nghiệp chứ? Lúc lấy nhau mụ vợ nghèo mạt rệp và ra làm ăn lão chồng chỉ biết có tiền. Vậy mà lại có hạnh phúc chứ? Thế mà bây giờ cũng chẳng khỏi! 
Mấy đứa con cứ để kệ cho mẹ nói vì chúng dư biết tính mụ đầu óc lúc nào cũng bi quan, mở miệng ra là kêu khổ. Nhưng sự thực thì mụ tin tưởng ở vận mạng hơn ai hết, nuôi rất nhiều hy vọng từ giấc ngủ tỉnh dậy đến miếng bánh ăn vào miệng đều nuôi dưỡng một niềm tin. Đúng là liều thuốc bổ thêm sức cho tình mẹ thương con cương quyết đối phó với đời để cố nuôi chúng nên người. 
Bọn con Lucia Santa dư biết một người như mẹ chúng đâu có biết sợ là gì. Có mẹ là vững lòng rồi, cứ việc ăn.  Cơm nước xong Larry đốt thuốc hút ngồi nghe mẹ và chị Octavia ôn lại những vụ mèo mỡ của nó hồi trước . Trong khi đó, Vincenzo lấy đĩa mì của chị Lousia lúc nãy, bỏ vào miếng thịt bò và đổ nước sốt nóng lên trên. Nó lấy chiếc đĩa khác úp lại cho nóng. 
Lucia Santa khen: “Đúng đấy, vậy mới ngoan chứ? Mang xuống dưới nhà cho chị đi con”. 
Vincenzo bưng đĩa mì xuống, xách theo chai nước ngọt. Mấy phút sau nó trở lên tay không ngồi vào bàn. Larry nhìn nó một chút mới hỏi: “Thế nào, không sao cả chứ?”. Thằng Vincenzo gật đầu là nó lại tiếp tục kể chuyện như không có chuyện gì.