Duyên Anh Cuối Đời

24 Tháng Mười 1995

Đỗ Tiến Đức
Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Tối thứ sáu 29 tháng 9, 1995, tôi đến thăm Duyên Anh để xem ba cuốn sách mới nhất của anh vừa in xong mà anh mang từ Santa Ana về hồi chiều. Duyên Anh ở nhờ nhà một người bạn trong một chung cư ngay chợ Tàu Los Angeles. Anh ngồi ăn một mình. Anh chỉ dùng được một tay trái để xúc thức ăn và cơm đưa lên miệng. Cánh tay phải của anh bất động, buông thẳng trước ngực anh như một cành cây chết.
Tôi hỏi cho có chuyện:
– Dạo này bạn thích ăn cơm với món gì?
– Canh thôi. Vì canh chan với cơm, xúc bằng muỗng ăn được dễ dàng là ngon rồi. Ăn một tay mà, dù mấy năm rồi nhưng vẫn khó nên tôi chỉ thích món gì có nước. Mà lại phải nấu nhừ nữa. Cái gì phải cắn, nhai thì khổ sở lắm, thành thử ngon thế nào được.
– Nhớ lại thì theo ý bạn, cơm Mỹ, cơm Tây, cơm Tàu, cơm Việt, cơm nào ngon hơn cả?
– Úi giời, tôi thấy cơm Việt là số dách. Việt Nam có nhiều món ngon lắm. Ngay cả cách ăn của người Việt cũng đáng nói. Ở bên Tây ít năm, có dịp quan sát, tôi thấy người Pháp khi ăn thì đều cúi mặt nhìn chăm chăm vào dĩa đồ ăn để dưới bàn, còn người Việt thì khi ăn, vì cầm bát cầm đĩa mà nên khi ăn thì nhìn thẳng, nhìn ra ngoài.
– Thế thì theo ý bạn, sự nhìn thẳng của người Việt và sự cúi mặt khi ăn của người Pháp, nó mang cái triết lý gì?
– Thì khi người ta để ý tới miếng ăn nhiều quá thì người ta coi cuộc đời sinh ra chỉ để ăn thôi. Trái lại, người Việt Nam mình, ăn thì nghĩ đến cái gì khác.
– Vậy bạn ở Paris được bao lâu rồi?
– Từ 84 tới nay, nhưng tôi chưa ăn cơm Tây một bữa nào, chỉ cơm Việt Nam thôi.
– Ở Paris mười năm mà không ăn cơm Tây một bữa nào, thế thì Paris đối với bạn là vui hay buồn?
– Chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Ở nơi nào cũng thế thôi. Mình là dân lưu vong mà…
– Nhưng Paris có cho bạn cảm hứng để sáng tác không?
– Chẳng nơi nào cho tôi cái cảm hứng sáng tác cả.
– Nếu thế thì tại sao mấy năm qua bạn viết hăng thế?
– Là như thế này: Tôi còn nhiều hơi thở của quê hương cho nên, tôi lại chịu nhiều đau khổ vì quê hương, thí dụ như mấy năm ngồi trong tù chẳng hạn, vào tù đối với một nhà văn thì cũng như đi nghỉ mát ấy, đi nghỉ mát thì có nhiều cảm hứng, đấy là những chất cay đắng mà tôi thấy cần phải viết lại. Tuy viết nhiều thế mà tôi vẫn cảm thấy chưa đủ, chưa nói hết những điều mà quê hương mình bảo mình phải nói.
– Đi tù khổ nhục chết chứ nghỉ mát nỗi gì!
– Mình là nhà văn mình cần nhiều cuộc giỡn chơi chứ. Giỡn chơi mới nảy ra những cảm xúc thực, không vay mướn, không tưởng tượng…
Tôi quen biết Duyên Anh từ năm 1954 khi chúng tôi cùng ở trong trại học sinh di cư nhà hát lớn Sài gòn. Hồi ấy bọn chúng tôi còn Đằng Giao, Hà Huyền Chi, nhưng chỉ có tôi và Hà Huyền Chi “làm văn nghệ” còn Đằng Giao và Duyên Anh thì chưa. Kỷ niệm mà tôi còn nhớ được về Duyên Anh vào thời đó là anh đã mê cô A. rất xinh đẹp, con gái một ông giáo nổi tiếng đang tạm trú trên tầng lầu ba.
Thấm thoắt thế mà gần một nửa thế kỷ. Hai chúng tôi giờ đây tóc đã điểm sương rồi. Nhớ­ lại hồi ở Sài gòn, có khi cả chục năm chúng tôi không gặp nhau, tôi trở thành viên chức nhà nướ­c, thỉnh thoảng cũng viết văn rồi cuối cùng đi vào lãnh vực điện ảnh còn Duyên Anh thì làm báo chuyên nghiệp và có tiểu thuyết được phóng tác thành truyện phim như Điệu Ru Nước Mắt và Trần thị Diễm Châu thời tôi làm Giám đốc Nha Điện ảnh, phát động phong trào làm phim Việt nam. Tôi hỏi Duyên Anh:
– Nghe bạn trả lời như thế thì tôi có thắc mắc khác. Hồi trước 1975, Duyên Anh nổi tiếng với những tác phẩm viết về du đãng nhiều hơn mà theo tôi biết thì bạn chưa thuộc băng đảng du đãng…
– Vậy để tôi nói cho bạn nghe. Thời đại mà tôi viết cuốn tiểu thuyết du đãng đầu tiên là cuốn Điệu Ru Nước Mắt là lúc các tướng lãnh mình đảo chánh nhau, ông tướng này bắt ông tướng kia, nay là tướng anh hùng mai là tướng gian, lung tung hết. Dưới mắt một nhà văn thì tình trạng đó nản quá, tôi thấy chẳng còn thứ gì đáng ca ngợi nữa. Với phản ứng đó, tôi mới đem du đãng ra ca ngợi, thế thôi.
– Và những nhân vật du đãng đó là những du đãng có thật?
– Toàn là tưởng tượng.
– Tưởng tượng? Tuần vừa rồi, tôi có đọc tờ Công An Thành Hồ của Việt cộng, có bài viết về du đãng ngày nay, tác giả của bài này nhắc lại du đãng của thành phố này trước năm 1975 và viết rằng bạn đã viết về nạn du đãng đó, đề cao du đãng khiến thanh niên thích làm du đãng. Bài báo này nhắc tới tên những nhân vật của bạn như Đại Ca Thay, Tứ Đại Thiên Vương … Nhân vật Châu Kool của Duyên Anh là Lệ Hải, vợ Đại Ca Thay.
– Nó viết sai rồi. Nhân vật Trần Đại giống Đại Ca Thay thôi. Hồi đó, Đại Ca Thay có lần mời tôi đi nhảy, tôi nhận lời dù có biết nhảy chó gì đâu. Buổi đó nói nói với tôi rằng : “Anh viết chuyện về tôi không đúng tí nào cả”. Tôi trả lời: “Tôi viết về anh bao giờ ? Nhân vật của tôi chỉ là sự tưởng tượng”. Tôi nói thẳng là Đại Ca Thay làm sao mà bằng Trần Đại của tôi. Nhưng mà tụi du đãng đàn em của Đại Ca Thay như Huỳnh Tỳ thì chúng nó thích, chúng nó bốc thơm đại ca nó bằng cách rêu rao là đại ca nó là Trần Đại, đại ca nó là người đã được Duyên Anh viết thành tiểu thuyết.
– Bạn kể cho nghe những gì bạn biết về Đại Ca Thay và những điểm khác nhau giữa du đãng Đại Ca Thay và nhân vật Trần Đại?
– Đại Ca Thay tên thật là Lê Văn Đại, cháu cựu thiếu tướng Lê Văn Hoạch. Sau một thời làm dân anh chị, nó mắc bệnh ghiền nặng lắm. Thời ông Nguyễn Ngọc Loan mới đưa nó ra Phú Quốc rồi nó chết ở ngoài đó. Bạn nên nhớ là cảnh sát mình ngày xưa cũng nuôi du đãng ở một cái trại của Biệt Đoàn Dã Chiến để xử dụng và khi không nuôi nữa thì bắt chúng nó ở tù thôi.
– Lần này sang Mỹ, bạn in một lúc bốn cuốn mới viết, trong đó ba cuốn về ca dao. Vậy bạn còn bao nhiêu cuối chưa in nữa?
– Còn 16 cuốn chưa in.
– Bạn chỉ viết bằng tay trái mà được như thế thì mỗi ngày bạn phải viết mấy tiếng?
– Tôi làm việc bình thường thôi, nhưng sở dĩ viết được nhiều vì què quặt rồi, không đi đâu được, cứ ngồi ở nhà nên chỉ viết hoặc là hít thuốc lá thôi.
– Từ ngày bạn viết bằng tay trái thì đề tài nào là chính?
– Chuyện người Mỹ dính dáng v­ới Việt Nam nhưng là những người Mỹ không giống như những người Mỹ trong những sách những phim ảnh đã có. Người Mỹ sẽ yêu ca dao Việt, và từ ca dao Việt sẽ hiểu dân tộc Việt Nam.
– Bạn định cư ở Paris, sao bạn không chú ý tới người Pháp mà lại “bắt” người Mỹ yêu ca dao Việt nam?
– Bây giờ thì mình phải theo thời đại chứ. Người Pháp thì bây giờ họ muốn quên lãng người Việt Nam mình rồi. Người Pháp cũ thì còn được chứ người Pháp mới thì nó cũng chẳng biết Việt Nam là cái đếch gì.
– Bạn tính làm cách nào để người Mỹ hiểu ca dao Việt Nam chứ?
– Thế mới là vấn đề. Tôi thấy Mỹ nó cũng có nhiều người tạm gọi là quái đản đi, nó thích cái này thích cái kia thì có thằng Mỹ thích ca dao Việt Nam.

– Như thế thì được mấy thằng.
– Thì mình làm thành số nhiều, ai cấm mình.
– Nghe bạn nói thì bạn coi ca dao là kinh rồi, có phải thế không?
– Tất nhiên là mình phải viết về những tinh túy, những cái hay của ca dao chứ. Đây này ba cuốn sách mới lấy từ nhà in về, tôi viết về ca dao đây. Mới lạ lắm. Một khám phá mà. Một trong những truyện mới viết của tôi là người thằng lính Mỹ, thằng trẻ con Việt Nam và con dế, thế là thành một truyện dài rồi. Tôi đã định viết từ hai mươi năm trước rồi. Tôi tả một trận càn quét của lính Mỹ vào một làng có nhiều Việt cộng. Mỹ nã pháo vào làng đó thì có một thằng bé nó chạy ra. Khi gặp mặt thằng lính Mỹ trẻ thuộc loại lính đi quân dịch, thằng bé cứ khóc. Thằng lính Mỹ không hiểu tại sao nó khóc. Hai đứa ngôn ngữ khác nhau nên không nói gì cả. Thằng Mỹ dỗ nó, cho nó kẹo bánh, nó không lấy. Cho cả đồng hồ mà nó cũng không lấy. Rồi thằng bé mới chỉ vào cái hộp quẹt, thằng Mỹ chẳng hiểu thằng bé muốn gì. Cuối cùng thì thằng lính Mỹ theo đơn vị rút đi, thằng bé con nhìn theo. Đến khi được giải ngũ, trở về Mỹ, thằng lính vẫn cứ bị ám ảnh hình bóng thằng bé con này với cái hộp quẹt. Đó là động lực thúc đẩy thằng Mỹ đi học tiếng Việt. Lúc học tiếng Việt, thầy giáo giảng cho nó nghe các câu ca dao Việt Nam. Với các câu đơn giản mà vô cùng í nghĩa đó đã làm thằng Mỹ này say mê và để tâm nghiên cứu ca dao Việt Nam. Nó yêu ca dao nên nó yêu dân tộc và đất nước Việt Nam thôi. Nó bèn trở lại Việt Nam. Nó tìm tới nơi trận chiến năm xưa để mong gặp thằng bé. Thằng bé hồi ấy nay đã lớn. Hai người đã truyện trò được với nhau. Thằng bé đưa thằng Mỹ đi chơi, xem các buổi đá dế. Một hôm thằng Mỹ thấy những đứa trẻ Việt Nam cầm những cái hộp quẹt, mở ra thì bên trong chứa dế. Bây giờ nó mới hiểu năm trước khi thằng bé Việt Nam này khóc và chỉ vào chiếc hôp quẹt là bởi vì con dế của nó trong đó đã mất. Thằng bé thương con dế như người bạn. Đại khái thì cứ thế mà kéo dài ra… thành tiểu thuyết thôi.
Tôi để ý Duyên Anh tuy đã bình phục trí nhớ nhưng khi nói, anh vẫn còn đôi lúc phát âm còn hơi ngọng, hơi khó khăn như phải tìm kiếm chữ nghĩa. Nhưng anh vừa kể chuyện thằng bé với con dế vừa cười, nụ cười thật tươi, tiếng cười thật giòn. Nếu tôi tưởng tượng thì tôi sẽ nghĩ rằng người bạn tôi đang hồi tưởng về thời thơ ấu của anh ở làng Tường An, tổng Ô Mễ, tỉnh Thái Bình. Nhiều lần Duyên Anh nói về quê quán của anh rằng nơi anh sinh trưởng là một làng nghèo nhất tỉnh, cơm không đủ ăn nên cho tới năm 1954 khi anh di cư vào Nam, cả làng chưa ai có mảnh bằng trung học phổ thông, kể cả anh.
Duyên Anh tên thật là Vũ mộng Long, là con cả của một gia đình 7 anh em. Mãi gần đây tôi mới hay anh lấy vợ rất sớm. Khi bỏ vô Nam, Duyên Anh đã để lại ở miền Bắc người vợ và một ngườI con gái. Cô này mới gởi ra hải ngoại cho bố tấm hình chụp năm cô tròn 42 tuổi.
Trong cuốn tiểu thuyết Áo Tiểu Thư, Duyên Anh viết về giai đoạn anh mới đặt chân lên Sài gòn, sống ở nhà hát lớn. Anh ghi lại trong tác phẩm này rằng lúc đó nhìn thấy tôi hàng ngày đi làm ở tòa soạn báo Ban Mai, cầm tờ báo về nhà hát lớn, là một hình ảnh mà anh mơ ước. Quả nhiên, Duyên Anh đã đi vào nghề báo. Đầu tiên anh viết truyện ngắn, ký tên Duyên Anh. Tôi hỏi tại sao lại lấy biêt hiệu là Duyên Anh thì anh kể cho nghe, Duyên Anh là tên một bản nhạc của người bạn cùng lớp ba với anh, tên là Nguyễn Thịnh. Khi Nguyễn Thịnh sáng tác xong bản nhạc này đã nhờ anh mang tới đài phát thanh Hà nội, tìm ca sĩ Quách Đàm đưa tặng và nhờ ông hát. Ít lâu sau thì anh nghe tiếng Quách Đàm hát bản Duyên Anh trên làn sóng điện. Duyên Anh rất thích bản nhạc này. Nên khi viết xong truyện ngắn đầu tay, anh đã lấy biệt hiệu là Duyên Anh cũng là để nhớ ngườI bạn ở lại miền Bắc. Năm 1975, khi Việt cộng chiếm được Sài gòn, Duyên Anh được tin người bạn này trở thành giám đốc nhà xuất bản nhạc của chế độ Hà nội. Nguyễn Thịnh được đảng chỉ định tiếp thu nhà in Trương Vĩnh Lễ. Nguyễn Thịnh cũng tìm vào khám Phan Đăng Lưu ở Gia Định để thăm và tiếp tế cho Duyên Anh đang bị giam cầm trong đó.
Tôi quay qua hỏi Duyên Anh:
– Thời trước, tôi thích bạn với tờ Tuổi Ngọc, viết cho tuổi thơ. Tôi thích cái tiếng mà một số người gọi bạn là nhà văn của tuổi thơ.
Duyên Anh cười:
– Gọi thế có quá đáng chăng?
– Cộng sản rất chú ý tuổi thơ nên chúng nó dựng lên nhiều huyền thoại cho tuổi thơ bắt chư­ớc, chẳng hạn như Kim Đồng. Bộ đội cộng sản vào Sài gòn năm 1975 là thế hệ Kim Đồng cả đấy. Vậy không hiểu khi bạn làm tờ Tuổi Ngọc cho tuổi thơ, bạn thấy độc giả của bạn học được những gì?
– Tôi viết về tuổi thơ thực sự không mang một hoài bão nào mà chỉ vì tôi, tôi không có tuổi thơ. Tôi thèm tuổi thơ nên viết về tuổi thơ để giải tỏa những ẩn ức, những thèm khát… Nhưng khách quan mà nói thì những bài viết mang nội dung giáo dục đó cũng có một số ảnh hưởng tốt. Những độc giả tuổi thơ thời đó nay ở lớp tuổi bốn mươi cũng vẫn còn nhắc nhở tới Duyên Anh với những bài như Mơ Thành Người Quang Trung… Tôi cũng được an ủi.
– Bây giờ xin hỏi bạn, tại sao người Pháp lại chọn tiểu thuyết viết về tuổi thơ mới đây của bạn để làm phim và dịch sang tiếng Pháp?
– Dịch ra tiếng Pháp là cuốn Những Đứa Trẻ Thái Bình, còn làm phim là cuốn Đồi Fanta. Nó dịch cuốn Những Đứa Trẻ Thái Bình vì nó là cuốn tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong bối cảnh từ năm 1944. Những nhân vật chính vào thời đó là những đứa trẻ rồi từ đó lớn lên theo những cuộc biến động của đất nước, thành những người thanh niên. Và những thanh niên này thằng thì bị thương tàn phế, thằng thì nổi trôi tàn mạt. Kết quả chúng nó thấy tuổi thơ của chúng nó đã mất vì chiến tranh giống như đất nước bị tàn phá về chiến tranh.
– Thế thì có thể hiểu Những Đứa Trẻ Thái Bình là hồi ký hay tự truyện của chính tác giả không?
– Không, tuy viết về quê của tôi là Thái Bình, về những đứa trẻ như tuổi của tôi nhưng không phải hồi ký, tự truyện. Không có gì của riêng tôi trong đó. Nó là vấn đề của thế hệ của tất cả chúng ta. Tôi nhắc lại là tôi không có tuổi thơ.

*

Chúng tôi rời bàn ăn sang phòng khách, ngồi ngả người trên những chiếc ghế nệm dày. Tôi đảo mắt nhìn quanh phòng, đồ đạc đơn sơ, một chiếc ti vi cũ để trên kệ tủ, một chiếc thu phát băng video phía dưới, tất cả đều im lìm nhưng rõ ràng chứa đựng biết bao nhiêu bí mật. Chỉ cần nhấn ngón tay vào cái nút, luồng điện sẽ làm màn ảnh sáng lên và chiếc máy sẽ bắt được những làn sóng đang tràn ngập căn phòng này, đang vây quanh tôi mà tôi không thấy không biết, rồi mang lên màn ảnh những hỉ nộ ái ố… Ý nghĩ của tôi đưa tầm mắt tôi chú ý vào cánh tay phải của Duyên Anh đang nằm xuôi bên sườn, những ngón tay như nải chuối cau cằn cỗi đặt trên đồi. Bất giác tôi hỏi người bạn tôi một câu rất thừa:
– Thành ra bây giờ bạn chỉ viết bằng tay trái?
Duyên Anh cười :
– Tại vì tay phải bị người ta cướp đi rồi.
– Bạn thật là người can đảm
. – Nhiều người cũng nói như vậy. Nhưng với tôi thì là can đảm bất đắc dĩ thôi. Tôi như một người bị đẩy xuống cho chết chìm trong bóng tối thì phản ứng đương nhiên là mình phải ngoi lên.
– Ai muốn đẩy bạn vào bóng tối? Bạn có thể thuật lại ngày mà bạn bị “người ta” đánh bạn không?
Duyên Anh ngập ngừng:
– Thì đó là ngày 30 tháng 4. Trần Đình Thục nó chở tôi đi ra ngoài Bolsa xem đồng bào biểu tình… Thôi, tôi quên bố nó hết rồi. Tôi chỉ nhớ đại khái lúc ấy vừa mới ở tiệm ăn trong khu Tú Quỳnh bước ra, đang đi lông nhông. Khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong nhà thương.
– Bạn không trông thấy thằng đánh bạn?
– Không. Tôi chỉ nghe người ta nói lại là trước khi đánh tôi, nó gọi tên tôi, tôi mới xoay mình về phía nó là nó đập vào đầu tôi rồi.
– Bạn nghĩ kẻ đánh bạn thuộc thành phần nào?
– Trước đây, tôi nghĩ nhiều lắm nhưng nay thì với tôi, mọi chuyện đã qua cả rồi, không còn nghi ai nữa hết. Tôi nghĩ rằng người đánh tôi phải là một tay võ sĩ hạng giỏi, chơi nhẹ một phát vào trán, đánh thẳng vào huyệt. Nhưng tôi phải cảm ơn Chúa, cảm ơn Trời, cảm ơn Phật đã khiến tôi quay đầu nơi cú đấm hơi chệch đi một chút. Nếu họ đánh đúng huyệt, nghĩa là tôi không có phản ứng tự nhiên lúc đó thì tôi đã vĩnh viễn sống mà như chết từ ngày đó rồi.
– Thằng đó chỉ đánh bạn có một cái thôi?
– Ừ, nó đấm có một cái. Bạn thử tưởng tượng nếu tôi trúng “trực tiếp” cú đòn đó, tôi sẽ cứ nằm một chỗ, muốn ăn thì phải có người đút vào miệng, muốn đi tiêu đi tiểu cũng phải kêu gọi, có người bưng bô tới…
– Bạn còn thù kẻ đã làm hại đời bạn?
– Có lẽ tôi cần phải nói là tôi biết ơn người đã đánh tôi đấy. Tôi nói thế, bạn hiểu không? Vì nhờ cái vụ bị đánh này mà tôi được chính phủ Pháp trợ cấp tàn phế, ăn cho đến lúc chết. Tôi được hưởng nhiều thứ lắm. Tôi không phải lo về áo cơm như một số đồng nghiệp tuy đã lưu vong mà vẫn không có tự do để viết vì thì giờ còn bận chuyện áo cơm. Nhờ vụ đánh này mà tôi được ngồi viết, như thế không khoái sao? Thành ra, nếu có dịp nào đó, tình cờ được gặp người đã đánh tôi, tôi sẽ mời người đó sang Paris chơi như một người bạn. Tôi mời tới ở trong nhà tôi, mình có gì cùng ăn để tôi bày tỏ lòng cám ơn.
– Nhưng có dư luận cho rằng kẻ đánh bạn thuộc thành phần cộng sản?
– Biết rõ hơn kẻ đó để làm gì? Biết hay không biết thì chân mình đã què, tay mình đã liệt rồi. Giờ có giết được họ, bắt họ vô tù đi nữa thì bệnh tật của mình có nhờ đó mà khỏi chó đâu. Thành ra, tốt nhất là quên hết chuyện cũ. Tôi mong anh bạn nào chơi tôi một quả rất đẹp đó cũng nghĩ thế để mình thân thiện với nhau đi.
Nói xong, Duyên Anh cười sảng khoái, rít một hơi thuốc thật dài rồi chu miệng thổi khói lên không trung. Từng sái khói lãng đãng bay. Những sái khói gợi nhớ trong tôi những hình ảnh hợp tan tan hợp, hình ảnh của có không, không có, còn mất, mất còn. Tôi chợt nh­ giọng hát karaoke của một người bạn gái trong cuốn cassette có câu “Em là mây bốn phương trời”… Tại sao em lại là mây bốn phương trời?
Tôi vội trở lại với Duyên Anh. Người bạn gái của anh đã mang tới trước chúng tôi hai ly cà phê sữa nóng. Tôi kể cho Duyên Anh nghe khi Thời Luận đăng cuốn truyện dài “Hồn Say Phấn Lạ” của anh, nhiều độc giả cho rằng đó là một tác phẩm chống cộng có giá trị. Nhưng sau đó Duyên Anh ra khỏi đề tài này. Giờ đây anh mê say ca dao. Tôi hỏi:
– Lúc này đây bạn nghĩ thế nào về cộng sản?
– Nhiều người đọc sách của tôi, cho là tôi căm thù cộng sản ghê lắm. Không, tôi không căm thù. Ngòi bút tôi chỉ theo lẽ phải, chỉ theo sự thật. Người cộng sản không yêu sự thật và lẽ phải nên tôi chống họ, buộc họ phải tôn trọng sự thật và tôn trọng lẽ phải. Ngoài cộng sản, những người nào không yêu sự thật và lẽ phải, tôi cũng chống. Những kẻ bị tôi chống kêu ầm lên rằng tôi hay đánh phá. Họ tạo nên một dư luận xấu về tôi để mọi người ghét tôi. Có điều này nữa, cộng sản chúng nó căm thù tôi vì tôi chỉ là con một nhà nông nghèo. Thành phần này trên nguyên tắc thì là giai cấp vô sản rồi, phải là người của đảng rồi. Nhưng từ khi cầm bút, tôi thấy cộng sản không thực sự làm những gì họ nói. Giai cấp vô sản à? Chỉ là đồ bỏ trước nhu cầu của đảng. Họ không yêu sự thật và lẽ phải thì mình với họ phải chống nhau thôi.
– Như vậy thì tại sao chúng nó chỉ giam giữ bạn trong nhà tù có 6 năm?
– Đúng. Tôi ở tù 6 năm. Nói thật với bạn là lúc đầu tôi không tin các ông ấy chơi tôi kỹ thế. Tôi thành thực tin là các ông ấy chỉ giỡn chơi tôi chừng một năm rồi thả tôi về, mặc cho tôi viết lách những đề tài cho tuổi thơ và quê hương… Không ngờ các ông ấy om tôi tới sáu năm. Khi được thả, một số các ông lớn của phía các ông ấy tới gặp, nói rằng tôi ở tù 6 năm thì hơi lâu, đó cũng là một sơ suất của cán bộ cấp dưới, đảng không chủ trương giam kỹ thế. Các ông ấy chiêu hồi mà. Tôi còn lạ gì hồi Nhân Văn Giai Phẩm nhiều anh đi tù hàng chục niên mút mùa chứ sáu năm đã thấm gì. Các ông bảo tôi, thôi bây giờ về thì viết lại đi. Nhưng tôi bảo tôi đâu có biết viết cái gì vì “học tập” chưa thông. Các ông ấy bảo, không, tôi không cần anh viết ca ngợi đảng và bác. Anh cứ viết về tuổi thơ như anh từng viết. Tôi ậm ờ cho có chuyện. Thế rồi đến ngày vợ con tôi được đi chính thức sang Pháp, các ông ấy không cho tôi đi. Đấy, cộng sản lúc nào thì vẫn là cộng sản. Cộng sản lúc nào cũng sợ sự thật và lẽ phải. Tôi phải trốn ra biển để đi đoàn tụ với vợ con tôi. Thành ra nếu ngòi bút tôi hung hãn với cộng sản thì cũng dễ hiểu thôi.

Lời cuối Duyên Anh nói khiến tôi chợt nhớ lại hồi 1975 ở Sài gòn. Đó là tối 22 tháng 4, 1975 khi tôi ở phim trường Mỹ Vân đường Ngô Thời Nhiệm bước ra sau một buổi chiều ngồi ráp nối đoạn chót cho cuốn phim Giỡn Mặt Tử Thần, thì gặp Duyên Anh tình cờ phóng xe hơi chạy ngang. Duyên Anh nhìn thấy tôi nên anh thắng xe thật gấp rồi cho xe chạy lùi tới chỗ tôi. Anh thò đầu ra ngoài khung cửa xe, giọng hốt hoảng : “Này thằng Thiệu nó từ chức rồi, Sài gòn sắp mất mẹ nó rồi, doọc lẹ đi”. Tôi hỏi: “Mày có đường nào binh chưa?”. Duyên Anh trả lời: “Rồi. Tụi Mỹ nó sẽ đón tao”. Thế nhưng vài ngày sau, khi Sài gòn đã rơi vào tay cộng sản, tôi tình cờ gặp Duyên Anh. Chúng tôi đưa nhau vào tiệm bánh cuốn Thanh Trì khu Đa Kao. Duyên Anh kể cho tôi nghe khi xe của một cơ quan Hoa Kỳ tới đón thì hai vợ chồng anh đang gây gổ nhau. Việt cộng vô, anh đưa gia đình về Long Xuyên rồi xuống Rạch Giá, cùng một số người chung mua một ghe đánh cá, thuê tài công chở sang Thái Lan. Nhưng khi ghe ra giữa biển, tài công nhảy xuống lúc nào không ai hay, rốt cuộc đành quay về. Tôi cũng kể cho Duyên Anh nghe trường hợp của tôi. Một ông chú của vợ tôi làm trong tòa đại sứ Úc, đã lo mọi giấy tờ để chúng tôi sang Úc tị nạn. Tôi còn kéo theo gia đình ông bà Lưu Trạch Hưng, chủ nhân hãng phim Mỹ Vân đi chung với dự tính sang Úc làm phim tiếp. Ngày 28 tháng 4, 1995 khi phi trường Tân Sơn Nhất bị oanh tạc, người chú này đưa chúng tôi tới tạm trú tại tư thất của ông đại sứ Úc trên đường Phan Đình Phùng, xế đại học Luật Khoa, để chờ giờ xe chở ra phi trường. Nhưng chờ cho đến lúc Dương Văn Minh đầu hàng thì chúng tôi lên xe phóng ra Vũng Tàu, tin rằng nếu thuê được ghe, phóng ra ngoài khơi thì vẫn hy vọng còn gặp hạm đội 7. Chúng tôi vượt biên lần đầu tiên vào sáng 3 tháng 5, 1975 có bộ đội Việt cộng đứng trên bờ vẫy tay chào vì khi rời bến, chúng tôi khai là hồi hương về Phan Thiết. Vợ chồng tôi cũng bị tài công lừa sau một đêm cho ghe chạy vòng vòng quanh Côn Đảo.
Ăn bánh cuốn xong, Duyên Anh và tôi tới trụ sở hội Văn nghệ Giải phóng ở đường Trương Minh Giảng để “đăng ký” theo thông cáo của chính quyền mới đọc trên đài phát thanh. Khi đến lượt, Duyên Anh cầm bút ghi, bắt đầu là cột “số thứ tự”, sang cột “họ và tên” anh viết ba chữ Vũ Mộng Long, rồi cột “biệt hiệu” anh đề hai chữ Duyên Anh, tới cột “nghề nghiệp”, Duyên Anh đề “nhà văn”. Lúc đó, một người trong giới văn nghệ sĩ Sài gòn ngồi ở đấy bèn nói: “Mày phải đề mày là “nhà văn chống cộng” mới đúng chứ”. Lập tức tôi thấy mặt Duyên Anh đanh lại, nhìn tròng trọc vào người vừa nói, miệng anh gằn từng tiếng: “Đ.M. tác phẩm của Duyên Anh còn đó, hiểu chưa”. Rồi Duyên Anh bỏ đi.
Người bạn gái của Duyên Anh nhắc tôi uống cà phê kẻo nguội. Tôi gật đầu cảm ơn xong nhìn Duyên Anh, hỏi:
– 6 năm trong tù, bạn được chiếu cố đi những trại nào?
– Tôi ở tù ba năm và đi “học tập cải tạo” ba năm. Phải nói rõ như thế vì ở tù khác học tập cải tạo. Ở tù là vì họ đến tận nhà mình, đọc bản án rồi còng tay bắt mình đi. Họ đưa tớ­i Sở Công an Nội chính, ở đó ba bốn tháng lấy cung rồi đưa về nhà tù Phan Đăng Lưu Gia Định giam một năm, rồi đưa về nhà tù Chí Hòa giam thêm một năm, tổng cộng là ba năm. Sau đó mới được đưa đi “trại học tập” Xuyên Mộc, rồi “trại học tập Hàm Tân”, tất cả là thêm ba năm nữa.
– Bạn có nghe người ta đồn bạn làm ăng ten trong tù không?
– À có chứ. Nói về ba năm ở tù thì khổ ghê lắm, khổ tận cùng, không thể khổ hơn nữa. Thế mà người ta không đồn tôi làm ăng ten trong giai đoạn ở tù. Người ta bảo tôi làm ăng ten thời ở trại học tập Xuyên Mộc. Ở tù Phan Đăng Lưu, Chí Hòa khổ như chó không làm ăng ten mà sang trại Xuyên Mộc sướng lắm rồi thì lại đi làm ăng ten là nghĩa lý gì? Tôi nghe người ta nói tôi làm ăng ten từ lúc tôi chuyển trại từ Xuyên Mộc sang Hàm Tân. Xuyên Mộc cách Hàm Tân có một dãy núi Mây Tào thế mà ngày đầu tiên tới Hàm Tân, tôi đã nghe những anh em tù ở đây xì xầm tôi làm ăng ten, điều đó mới lạ, và điều đó đã cho tôi câu trả lời từ đâu phát xuất ra sự đồn thổi tôi làm ăng ten.
– Bạn nói rõ hơn đi.
– Có gì đâu, cộng sản tuy căm thù tôi nhưng chúng nó cũng biết sẽ có ngày phải thả tôi vì nhiều áp lực quốc tế như Ân Xá Quốc Tế, như Văn Bút Quốc tế. Theo tin tôi biết thì đáng lẽ tôi được thả sau 5 năm, nhưng chúng nó xỏ lá, nhốt thêm một năm nữa để có thì giờ bôi bẩn và làm cô lập hóa tôi nơi quần chúng. Trước khi thả tôi ra, họ phải thấy tôi là kẻ tật nguyền rồi, trúng thương rồi, hết múa may rồi. Tôi đã bị họ bắn mũi tên độc đó.
– Bạn cho là chính Việt cộng chủ trương vụ phao tin bạn làm ăng ten?
– Thì chính chúng nó chứ còn ai nữa. Chúng nó thổi cái tin đó ra hải ngoại để tôi có muốn viết chống cộng cũng không ai tin nữa.
– Phản ứng của bạn về vụ bạn làm ăng ten thế nào?
– Tôi buồn cười. Bạn nhớ là tụi cộng sản nó khinh chúng mình lắm. Bằng cớ là nó chỉ sai những thằng mười tám hai chục, hạ sĩ trung sĩ làm quản giáo, làm đội trưởng, làm giảng viên cho tù cải tạo dù tù đó là ông tướng, ông bộ trưởng hay văn nghệ sĩ. Thế mà chúng nó bảo là mình đi học tập cải tạo để thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Nếu nó thực tâm hay nếu nó trọng mình một tí thôi thì chúng nó phải đưa xuống nói chuyện với mình những thằng tương đương chứ. Ở trại Xuyên Mộc của tôi cũng thế, chỉ có các ông bộ đội canh gác và dạy dỗ mình là những ông thanh niên mười tám hai chục tuổi. Chúng nó biết cái chó gì. Mà mình thế này không lẽ có thể muối mặt đi nịnh bợ mấy ông nhóc đó? Mình thế này mà có thể đi làm ăng ten thì thụt cho mấy ông nhóc tì đó? Về tuổi tác thì chúng nó chỉ bằng con cháu mình. Về quyền hành thì chúng nó bắt mình thì không có quyền, mà thả mình thì lại càng không có quyền thả. Chỉ có quyền hành hạ ấm ­ mấy thằng tù tội ca cóng chứ làm đếch gì hơn thế. Mà làm ăng ten thì hỏi tất cả anh em cựu tù ở đây xem, những người bị ăng ten báo cáo bị chúng nó phạt thế nào? Cao nhất là cúp thăm nuôi một kỳ, một kỳ thôi, hay nặng nữa, với những bằng cớ cụ thể thì nằm trong biệc giam vài ngày một tuần. Ăng ten có giết được ai đâu? Tội lỗi thì mọi người đã tự khai, đã viết hết cả rồi. Mà cũng chưa có vụ ăng ten nào trong 6 năm tù mà tôi nghe liên quan đến hồ sơ lý lịch, tội lỗi trước năm 1975, toàn là chuyện ca cóng vớ vẩn thôi. Ăng ten đâu có giết nổi ai.
Tôi nói cho Duyên Anh nghe về một cách giải thích khác của một người bạn tôi sau năm 1975 có làm việc với cộng sản ở Sài gòn, tới đầu năm 1982 mớ­i vượt biên. Theo lời người bạn này thì chính anh ta nghe một cán bộ Việt cộng nói trong buổi học tập ở cơ quan về sự “bách chiến bách thắng của đảng ta” vì đảng ta có những lãnh đạo là “đỉnh cao trí tuệ loài người” như các “đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng vân vân”. Người cán bộ này dẻo miệng kể huyên thuyên mọi thí dụ để chứng minh là ngay cả bọn sừng sỏ phản động nhất của Mỹ ngụy cũng phải đầu hàng đảng ta nếu không muốn bị đảng ta nghiến nát. Trong những thí dụ này, tên cán bộ nói nhiều lần đến tên nhà văn Duyên Anh, như “tên Duyên Anh nay đã biết thành tâm hối cải”, “tên Duyên Anh nay đã thú tội và được đảng khoan hồng vì dù sao anh ta cũng có tài”, “Duyên Anh đang lập công chuộc tội đã đánh phá đảng và nhà nước”…
Tôi hỏi Duyên Anh :
– Nhưng bạn giải thích thế nào khi mà chính tù cải tạo, chính độc giả của bạn cũng đồn là bạn làm ăng ten trong tù ?
– Có thể là vì mình đã có tí danh còm, lại chuyên viết chuyện du đãng, nhân vật ghê gớm lắm, mà khi mình vào tù, mình không có hành động nào anh hùng như nhân vật của mình chăng ? Mình cúi mặt trước cán bộ nên bị khinh chê là hèn chăng? Hay cũng có thể vì khi trước mình viết báo chửi bới quá nên nhiều người không ưa mình chăng?
– Thế thái độ trong tù của bạn là cúi mặt chịu đựng chứ không chống đối?
– Chống đối ai trong tù? Chống mấy anh mười tám hai mươi tuổi canh giữ mình thì chống làm cái chó gì? Bạn dù có muốn làm gì hơn thì cũng vô ích vì chúng nó độc tài, tin về chống đối của bạn có ra khỏi hàng rào nhà tù đâu mà mong có tiếng vang, có áp lực?
– Nghe bạn nói thế, tôi lại nhớ tới vụ chống đối của anh Nguyễn Mạnh Côn ở trong tù. Mà cũng có người đồn rằng bạn trách nhiệm về cái chết của anh Côn. Bạn có thể kể cho nghe không?
– Trước hết là tôi ở một đội và ông Nguyễn Mạnh Côn ở đội khác do Đằng Giao làm đội trưởng. Hai đội ở hai chỗ xa nhau thì làm sao mà tôi làm cho ông Côn chết được?
– Ông Côn chết trong trường hợp nào?

– Ông Côn thì bạn còn lạ gì. Tôi rất thương ông ấy chứ. Ông ấy chết một cách lãng nhách. Thế này này. Trong thời ở Công an Nội chính hay đề lao Gia Định, tôi cũng không ở chung phòng với ông Côn. Chỉ có lúc ở Chí Hòa thì hai người bị nhốt chung thôi. Thời đó ông Côn đã suy nhược nhiều vì ông ấy thiếu thuốc. Tôi còn nhớ một chuyện về giai đoạn đó. Lúc trại nó cho tin là có Hội Nghiên cứu Mác xít tới thăm nhà lao thì ông Côn bèn làm đơn cho trại xin gặp những người này. Trại nó thuận cho ông Côn ra gặp. Nhưng ông Côn nói những gì thì tôi không lại vào tù thôi. Có những lúc ông ngồi nói chuyện với Đoàn Kế Tường, Đằng Giao, Hoàng Mạnh Hùng, hắn ta đang ở Costa Mesa đấy. Ông Côn nói như thế này: “Các cậu nay mai phải có độc giả mới”. Đoàn Kế Tường mới hỏi: “Độc giả gì nữa, anh. Tù là hết rồi”. Ông Côn đáp: “Có chứ. Khi tù ra, mình viết đúng đường hướng là được”. Đoàn Kế Tường nó nói: “Anh làm thế thì vợ anh khinh bỉ anh”. Ông Côn đáp : “Cần gì, lấy vợ khác”. Đại khái là ông Côn đã nói không giống ai khiến Đoàn Kế Tường nó tức, nó đá ông Côn ngay tại chỗ. Anh em phải xúm vào ôm giữ nó. Nó to con, dân Quảng Trị, khỏe như trâu, lại rất phản động, từng nằm cát xô rồi.
– Bạn có nghĩ rằng ông Côn đóng kịch để qua mắt tụi nó vì người như ông Côn thì tụi nó choảng cho hai cái án, án phản khảng chiến và án phản cách mạng…
– Ai biết tim gan ông ấy. Chỉ thấy những sự kiện như ông ấy khai bệnh, xin ở nhà. Một hôm ông rủ tôi: “Tớ với cậu viết chung một quyển sách đi”. Tôi hỏi: “Thưa anh viết sách gì?”. Ông Côn nói: “Cậu viết làm sao cho trại vui vẻ lên đi”. Tôi trả lời ngay: “Thưa anh, em còn đang học tập nên chưa thông, chưa viết được”.

*

Tôi kể thêm cho Duyên Anh nghe một số điều dư luận đồn đại về anh liên quan đến cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Theo những tin này thì ông Nguyễn Mạnh Côn vào ngày hết hạn ba năm “học tập”, bèn đòi ban quản trị trại thả ông về. Việt cộng không thỏa mãn yêu sách của ông, ông tuyên bố tuyệt thực và Việt cộng đem nhốt giam ông. Một số anh em tù thấy ông Côn ốm yếu nên tìm cách lén tiếp tế thức ăn cho ông nhưng Duyên Anh đã làm ăng ten, báo cho trại biết khiến cho việc tiếp tế này không thành, kết quả là ông Nguyễn Mạnh Côn chết.
Chúng tôi thảo luận về ông Nguyễn Mạnh Côn, người mà tôi kính trọng từ khi được đọc cuốn Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, người mà tôi cảm mến khi được quen biết, đã thấy ở ông một thái độ điềm đạm, giản dị, đôi môi luôn luôn có nụ cười. Ông Côn khi đề nghị Duyên Anh viết sách, ông Côn khi đến ngày đúng ba năm ở tù đã ngang nhiên ra trước trại đòi phóng thích và rồi tuyệt thực, những hành động này của ông Côn hẳn phải có một ý nghĩa. Bởi vì ông từng tham gia kháng chiến, từng là dân biểu quốc hội thời Việt cộng, không thể nói ông không hiểu Việt cộng.
Tôi cũng kể lại cho Duyên Anh nghe thêm, trong một buổi trò truyện với nhà văn Hà Thúc Sinh, anh đã nhắc lại cho tôi nghe buổi anh tới thăm ông Côn sau ngày 30 tháng 4, 1975. Hà Thúc Sinh nói: “Ông ấy ít nói, mãi mới bảo mình: “Rồi có lẽ tôi sẽ sướng hơn các cậu”. Theo Hà Thúc Sinh thì anh hiểu câu nói ấy là một quyết định của ông Côn, nghĩa là chỉ có cái chết tự chọn, thì ông Côn mới có thể sướng hơn những người sẽ sống vất vưởng trong trại tù cộng sản. Nghe tôi kể, Duyên Anh nằm ngữa mặt nhìn trần nhà, hút thuốc. Nét mặt anh đanh lại, vẻ cay đắng hiện lên sau cặp kính trắng. Mãi lúc sau, Duyên Anh mới nói:
– Hiện ở Nam Cali này có một số cùng tù chung với tôi thời đó, họ biết sự thật. Tôi mong họ nói ra đi. Còn tôi, nếu cứ phải đi cải chính thì biết bao giờ mới cải chính xong trước cả một âm mưu triệt hạ tôi? Tôi có thể khẳng định thêm điều này, sự thực của nhiều nhân vật trong tù nó còn thối hơn nhiều, tôi đã không thèm viết ra… Tôi không thèm viết ra…
Tôi nói với Duyên Anh:
– Nếu bạn thấy những chuyện mà bạn bảo là thối đó, mà bạn không thèm viết thì cũng là một điều đặc biệt. Bởi vì cho đến bây giờ, người ta vẫn cho rằng bạn là một tay chuyên đánh phá tàn bạo…
– Tôi nói thật với bạn, mà tôi chẳng sợ gì mà không nói thật, rằng tôi không cộng sản mà cũng chẳng quốc gia nếu hiểu chữ quốc gia như một số người ở đây đang tự nhận, đang hành động ở đây.
– Có phải đó là động lực khiến bạn viết báo chửi không?
– Chắc phải nói hơi dài. Trước hết, bạn chưa biết gốc gác tôi nhiều đâu, tôi là con một gia đình bần nông ở Thái Bình. Từ nhỏ, tôi đã sống nghèo khổ, chứng kiến cảnh bố mẹ chạy ăn từng bữa mà còn bị bọn cường hào ác bá hành hạ, ức hiếp. Tới khi khôn lớn lên, sống bằng nghề báo thì mỗi khi cầm bút, viết về câu chuyện bất công của thời đại, tự nhiên tôi lại nhớ tới dĩ vãng thù hận. Thành ra giọng văn trở thành phẫn nộ, ác độc.
– Bạn cũng biết điều đó?
– Biết chứ. Lúc đầu thì chửi sơ sơ thôi, rồi độc giả khoái, gửi thư về bơm mình lên làm mình sướng, chửi nữa.
– Giờ nghĩ lại, bạn có bao giờ hối hận vì những điều mình đã viết không?
– Tôi công nhận là đôi khi tôi đả kích quá đáng nhưng tôi không đánh sai mục tiêu nào nên không có gì hối hận.
– Thế bây giờ bạn còn ý định làm sống lại ông Thương Sinh trong người bạn nữa không?
– Không. Tôi muốn từ nay tôi không phải đả kích ai nữa.
– Lí do?
– Giờ đã già rồi. Vả lại mình nhận thấy rằng dù có vung dao phạt cỏ thì cỏ vẫn cứ mọc mà. Bạn thấy đó, tiểu Sài gòn ngày nay thì có khác gì đại Sài gòn ngày xưa? Có chửi cũng thế thôi. Xã hội nó thê thảm quá rồi. Nhưng tôi rất muốn làm sống lại biệt hiệu Thương Sinh chứ.
– Khi bạn lấy biệt hiệu Thương Sinh là bạn nghĩ gì?
– Lúc đầu tôi lấy chữ Thương Sinh với ý nghĩ là thương kiếp nhân sinh. Nhưng sau này khi tôi tra tự điển thì thấy chữ Thương sinh lại là một gã đau ốm. Thành ra cũng định mệnh thôi. Thuở nhỏ tôi cũng là đứa trẻ đau ốm. Nay về già lại là một ông già bán thân bất toại.
– Bạn nói bạn không đánh phá ai thì còn muốn làm sống lại biệt hiệu Thương Sinh làm gì nữa?
– Tại vì tôi rất yêu văn chương hài hước của người mình. Mà văn chương hài hước thì đã chết trên quê hương ta từ 50 năm nay, tức từ ngày có đảng rồi.
– Nhưng thực sự thì vẫn còn một số người viết văn hài hước đấy chứ. Theo bạn thì người viết nào mà bạn nể nhất?
– Tôi chỉ thấy ông Chu Tử.
– Và Thương Sinh?
– Thương Sinh sẽ viết văn hài hước.
– Làm sao để phân biệt khi nào hài hước khi nào đánh phá?
– Rất dễ hiểu lắm. Tinh thần hài hước là phải dùng ngôn ngữ của thời đại, mà ngôn ngữ của thời đại thì rộng lắm. Đại khái là năm 1996 tới nơi rồi mà ta còn dùng nhân vật Ba Giai Tú Xuất hay Lí Toét Xã Xệ thì ai cười nổi.
– Vậy theo bạn thì tờ Con Ong trước đây là báo hài hước hay đánh phá?
– Đó là tờ đánh phá thôi.
– Paris, nơi bạn ở có tờ “Con Vịt Buộc”, đó là tờ hài hước hay đánh phá?
– À, tờ đó ghê lắm. Đó là tờ hài hước. Mà muốn hài hước thì độc giả phải biết yêu tiếng cười. Từ xưa đến nay, dân tộc ta là dân tộc thích cười nên hài hước mọi chuyện dù là chuyện tôn nghiêm nhất. Ông Nguyễn Văn Vĩnh viết: “An Nam ta cái gì cũng cười, người ta khen cũng cười mà người ta chê cũng cười. Nhe răng hì một phát là mọi chuyện coi như hết“. Chính cái cười đó nó mới đẻ ra cái tinh thần dân chủ. Mấy ông bây giờ cứ nhân danh dân chủ mà lại sợ nụ cười của dân chúng. Muốn có dân chủ mà lại sợ cuời thì dân chủ thế chó nào được? Các ông các bà ấy làm gì tầm bậy, người ta cười thì kêu ầm lên là bị đánh phá. Các ông các bá ấy hối lộ tham nhũng, thụt két, vợ nọ con kia, người ta cười thì cũng la lên là bị bọn báo chí nó chửi bới làm tiền. Mà thời đệ nhị Cộng Hòa, bọn lố lăng đó nhiều lắm, một tờ Con Ong viết không hết các chuyện dởm, chuyện phản dân hại nước của các ông các bà tập sự lãnh đạo đó, vì thế mà Con Ong bị gán là tờ báo chửi mà người ta quên gía trị hài hước của nó.
– Bạn lăn vào lãnh vực đó, bạn cũng biết gió tanh mưa máu, nhưng sao bạn cứ tiếp tục?
– Không lẽ mũ nón che tai à ? Không lẽ câm miệng khi thấy những chuyện thối tha ăn hại đái nát à ? Tôi đã nói với bạn, tôi là gốc bần cố nông, thuở nhỏ đã chứng kiến cảnh bố mẹ tôi bị ức hiếp, bị đì mọi thứ đè lên đầu nên tôi hay nổi giận khi thấy bọn cường quyền làm bậy. Chúng nó khi thấy tôi chửi thằng khác, chúng nó khoái lắm chứ, chúng nó khuyến khích tôi chửi thêm mà, cho tôi tài liệu để đánh cho trúng huyệt mà, thế nhưng khi tôi quay ngòi bút hỏi thăm nó thì nó nổi giận, nó tấn công tôi, bôi nhọ tôi…
– Nếu quả như bạn nói thì người dân thầm lặng phải khoái bạn lắm chứ, sao cũng có nhiều người không thích bạn?
– Dân mình khoan dung lắm. Nhưng dân mình cũng đa nghi. Một số hay nghĩ rằng bọn nhà báo ăn tiền phe này đánh phe kia vì quyền lợi cá nhân, phe nhóm mà không nhớ cũng còn một số ngòi bút bảo vệ lẽ phải và sự thật. Tôi cũng được an ủi là rất nhiều người thương tôi, hiểu tôi chứ.
– Vì thế bạn vẫn muốn làm báo hài hước?
– Có thể nói tôi thích loại văn chương này. Cũng có thể nói tôi yêu dân tộc tôi. Thời xưa, trong xã thôn, dân ta đã biết cười. Những bài văn hài hước của cổ nhân, gần đây như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương vân vân đều được coi trọng. Các cụ ấy chỉ làm mấy câu thơ thôi, đả kích một hiện tượng xấu nào đó và dân gian truyền tụng thì bố bảo kẻ đã gây hiện tượng xấu đó dám tái diễn. Chính bọn độc tài ở cả hai miền đã dập tắt nụ cười của dân chúng. Bọn này được một số trí thức vô tài toa rập để xin miếng đỉnh chung. Chúng nó chỉ mang cái bằng cấp để lòe thiên hạ nên chúng nó sợ thiên hạ biết bộ mặt thật của chúng nó. Vì thế chúng nó tấn công các cây viết hài hước trước bằng luận điệu như nhà báo nói láo ăn tiền, và đánh phá để moi tiền vân vân. Bây giờ thì dân ta hết cười nổi rồi.
Duyên Anh trở mình đứng dậy một cách khó khăn. Thân thể anh bự hơn trước nhưng đó là kết quả của những ngày ít vận động. Nhìn theo dáng anh đi chập chững nhờ công sức dồn từ tay trái xuống chiếc ba toong bằng nhôm xám, tôi thở một tiếng thật dài. Chàng thanh niên 19 tuổi làng Tường An ở Thái Bình, năm 1954 thực hiện một chuyến đi dài, vào miền Nam cùng lớp người đi tìm tự do nhưng chàng thanh niên này không ý thức mình bỏ quê hương vì phản kháng cộng sản. Chàng ta đi một mình, tớ­i Sài gòn mưu sinh bằng đủ công việc lặt vặt từ giữ xe đạp tới quảng cáo cho gánh xiếc trên hè phố để bán thuốc kiểu Sơn Đông mãi võ, rồi kèm trẻ tư gia, rồi dạy đàn guitare ở Hậu giang. Bây giờ thì chàng thanh niên ấy thành một lão già tàn phế. Lão già này đang trôi dạt tới Los Angeles. Mai đây, định mệnh sẽ đưa lão già này tới đâu và nơi nào sẽ là chốn an nghỉ cuối cùng của lão?
Nhớ lại tôi đã quen biết Duyên Anh hơn bốn mươi năm, và lúc này nhìn Duyên Anh trong tôi cũng sống dậy những hình ảnh trong bốn mươi năm đó, lòng tôi chùng xuống một nỗi buồn man mác… Một đời của chúng tôi đã gần qua. Tôi nhớ lại có lần đi ăn cưới mà chú rể 61 tuổi, tôi lại nghe một ca sĩ giúp vui lên sân khấu ca bài “60 năm cuộc đời”. Cuộc đời dưới mắt người nhạc sĩ này chỉ tính có 60 năm mà 20 năm đầu thì thơ dại, 20 năm sau thì bết bát, thành ra chỉ có 20 năm giữa. Thế mà chú rể đã 61 tuổi. Chú rể đã là người ở lậu, cư trú bất hợp pháp trên cõi trần gian này. Hôm đó tôi đã yêu cầu cô ca sĩ nâng cuộc đời lên 80.
Tuy quen biết Duyên Anh trải gần cả cuộc đời nhưng chúng tôi lại ít gặp nhau. Sau khi chia tay ở trại di cư Nhà Hát Lớn Sài gòn, mãi đến năm 1962 tôi mới gặp lại Duyên Anh khi anh xuất bản cuốn Hoa Thiên Lý, tập truyện đầu tay của anh. Năm ấy Duyên Anh đã 27 tuổi, đã mưu sinh bằng nghề viết báo. Rồi tôi nghe Duyên Anh làm ở tờ Xây Dựng, cơ quan ngôn luận bán chính thức của Thiên Chúa giáo Việt Nam năm 1964. Từ 1968 thì Duyên Anh biến thành chục biệt hiệu khác nhau, tung hoành trên tờ Con Ong, trở thành tay đánh phá với phe quốc gia và trở thành tên Biệt Kích Văn nghệ với đảng cộng sản. Cuốn “Những tên Biệt kích của Mặt Trận Văn Hóa Tư tưởng Miền Nam” của Việt cộng in năm 1980, Duyên Anh bị Việt cộng coi là một cây bút nguy hiểm cho chế độ của họ. Đang miên man nghĩ thì Duyên Anh đã chập chọang trở lại ghế ngồi. Tôi hỏi:
– Tới nay bạn đã viết được bao nhiêu tác phẩm?
– Tôi đã in 64 cuốn truyện ngắn truyện dài.
– Vậy là kỷ lục trong lịch sử văn học Việt rồi.
– Tôi không viết vội để đạt một kỷ lục về số lượng. Tôi viết vì sự thôi thúc của dĩ vãng và của sự quằn quại với lịch sử đất nước. Như mọi người trong thế hệ chúng ta, khi mới 10 tuổi tôi đã chứng kiến cảnh Nhật đảo chính Pháp. RồI sau đó, tôi đã đi đếm xác những dân làng tôi bị Nhật làm cho chết đói. Rồi thì cách mạng Tháng Tám tiêu thổ kháng chiến, dân làng tôi bồng bế chạy lọan. Tuổi thơ và tuổi trẻ của tôi đã mất hết trong cách mạng và chiến tranh. Nếu cộng sản không bắt tôi tù 6 năm, nếu tôi không bị người ta đánh liệt óc, liệt tay phải thì tôi đã có trên 100 tác phẩm.
– Ở Sài gòn, tôi có nghe bạn còn viết một số bài diễn văn, phát biểu trước nghị trường cho một số chính khách, phải không?
– Có.
– Động lực nào khiến bạn viết?
– Họ trả tiền thì tôi viết?
– Những ai nhờ bạn viết?
– Hai nghị sĩ và 4 dân biểu. Họ nói với tôi là nhờ những bài của tôi mà họ nổi đình nổi đám.
– Tôi thấy bạn đa diện, viết nhiều thể loại, lại sáng tác nhạc, làm thơ nữa… Bây giờ, theo bạn thì bạn thích nhất diện nào?
– Tôi thích làm thơ nhất. Nhưng tôi làm thơ không hay. Thời gian mà tôi làm thơ nhiều nhất là lúc ở trong tù. Lúc ra tù tôi còn nhớ lại được 34 bài.
– Kinh nghiệm trong tù của tôi là rất nhiều người tù làm thơ, và thơ viết về vợ con…
– Không, đề tài của tôi là thân phận của mình.
– Bạn vượt biên năm nào?
– Năm 1983. Vợ con tôi đi chính thức năm 1982, chúng nó không cho tôi đi cùng danh sách nên tôi phải tìm đường vượt biên. Tôi xuống tàu ở Nhà Bè, 6 ngày sau thì tới đảo Paulo Bidong của Mã Lai. 6 tháng sau thì sang Pháp. Cũng may là do sống ở Pháp mà tôi có cơ hội quen biết với một số nhà xuất bản và họ đã mua bản quyền, dịch sách của tôi ra Pháp ngữ. Tới nay họ đã dịch xong 5 cuốn, còn hai cuốn mới ký. Cuốn Đồi Fanta đã được tái bản và được làm thành phim.
Duyên Anh ao ước sách của anh cũng sẽ được dịch ra tiếng Mỹ. Để đạt mục tiêu này, anh viết về chủ đề người Mỹ, chẳng hạn cuốn Một Người Mỹ ở Sài gòn và mới đây là cuốn Những Đứa Trẻ Con lai Mỹ Hẩm Hiu… Ngồi bên tôi, anh mơ ước người Mỹ sẽ hiểu văn hóa văn nghệ của dân tộc Việt Nam nhiều hơn. Theo anh thì khi người Mỹ tới giúp Việt Nam chống cộng là tốt nhưng vì không hiểu gì về dân tộc ta, coi thường, coi khinh người Việt, thành ra thấy bọn nịnh bợ, thích làm tay sai là khoái, điều này đã gây bất mãn cho dân chúng mà hậu quả là thái độ chống Mỹ lan tràn khiến Mỹ không còn là đồng minh mà trở thành kẻ thù.
Tôi ngồi yên không hỏi thêm, mặc cho Duyên Anh sống với chính anh. Trong giờ phút thành phố Los Angeles đã ngủ thì quê hương của Duyên Anh và của tôi đang thức. Tôi nghĩ, tôi hy vọng trái tim Duyên Anh đang đập chung nhịp với Việt Nam dù đất nước cách xa chúng tôi nửa vòng trái đất.

Đỗ Tiến Đức
Tháng 10, 1995.

Cuộc Đời Lưu Vong Của Nhà Văn Duyên Anh

Vĩnh Phúc

Senior Producer của đài BBC.

Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Nhà văn Duyên Anh (1935-1997)

Nhà văn Duyên Anh qua cái nhìn của một người bạn thân, Vĩnh Phúc, Senior Producer của đài BBC. Dưới đây là bài viết của Vĩnh Phúc từ Luân Đôn. 

Hôm nay, mở e-mail, tôi thấy một bài, tựa đề 20 năm nhà văn Duyên Anh lìa cõi tạm. Tôi ngồi lặng người, để mặc cho bao nhiêu ký ức về Duyên Anh chợt dồn dập trở về.

Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 30 tháng chạp năm Bính Tý, từ Luân Đôn tôi bàng hoàng nhận được tin Duyên Anh qua đời ở Paris ngày hôm trước. Tính theo dương lịch thì là ngày 6/2/1997.

Tang lễ cử hành 10 giờ sáng 14/2/1997, hỏa thiêu lúc 14 giờ cùng ngày. Cuối cùng, tôi đi tới quyết định phải kể lại những điều tôi biết về Duyên Anh, để giúp những người ái mộ nhà văn hiểu rõ hơn về anh, đồng thời đính chính những hiểu lầm của người đời, do vô tình hay cố ý.

Ngay khi Duyên Anh sống trên đảo Pulau Bidong chờ được sang Pháp sum họp với vợ con, anh đã liên lạc với tôi ở Luân Đôn. Và cũng vào thời gian này, rắc rối đã xảy ra. Hồi đó, có người kể lại với tôi rằng một số người trên đảo nghe nói là Duyên Anh làm ăng ten khi đi tù cộng sản, nên họ dọa đánh.

Cũng trong thời gian này, con gái Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Hương gửi cho tôi và giáo sư Patrick Honey bản thảo hai truyện “Đồi Fanta” và “Một người Nga ở Sài Gòn”. Tôi thấy trong “Đồi Fanta” tác giả mượn lời mấy đứa trẻ bụi đời để chửi các nhân vật lãnh đạo cũ của VNCH như Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, hoặc nhà văn Mai Thảo.

Tôi dùng bút chì đánh dấu những chỗ đó rồi chú thích đề nghị Duyên Anh bỏ các đoạn đó đi, với lý do chúng chỉ làm rẻ tác phẩm mà thôi. Sau đó tôi cảm động và ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh nghe theo lời khuyên mà bỏ những đoạn văn đó. Tôi mừng vì nghĩ rằng môt con người cao ngạo và bướng bỉnh như Duyên Anh mà bây giờ biết “tu tỉnh” và biết nghe lời khuyên hợp lý rồi chăng?

Nhưng không lâu sau thì chứng nào vẫn tật nấy khiến tạo ra biết bao nhiêu là hệ lụy. Tuy nhiên, trong mối giao tình suốt gần hai thập niên 1980, 90, đã có những lần Duyên Anh chịu lắng nghe tôi.

Có thể nói rằng Duyên Anh mang một cuộc sống nội tâm nhiều dằn vặt. Phải chăng điều này tạo ra một Duyên Anh bề ngoài khinh mạn, bướng bỉnh, phá phách ? Có những chuyện riêng tư dường như Duyên Anh chỉ giữ kín trong lòng không hề thố lộ với ai, kể cả người bạn thân nhất, từng gắn bó với Duyên Anh từ thời trai trẻ hàn vi hồi mới di cư, từng hi sinh rất nhiều cho Duyên Anh cả về vật chất lẫn tinh thần, là Đặng Xuân Côn. (Đặng Xuân Côn lớn tuổi hơn Duyên Anh nhưng lấy cô em vợ Duyên Anh, cô Minh).

Đây là ví dụ cho thấy tình thân giữa hai người bạn, và sự hi sinh của Đặng Xuân Côn dành cho Duyên Anh như thế nào: Hồi hai người còn nghèo, với đồng lương thư ký và chỉ đi làm bằng chiếc xe mô bi lét cọc cạch, mà Đặng Xuân Côn dám mua chiếc xe Vespa mới toanh đầu đời cho Duyên Anh.

Và ba lần vợ Duyên Anh đi sanh, thì chính Đặng Xuân Côn là người vào bảo sanh viện trông nom săn sóc sản phụ và hài nhi, khiến cho các bác sĩ và y tá cứ tưởng Đặng Xuân Côn là cha mấy đứa trẻ !

Tôi nghĩ rằng hệ lụy đeo đẳng cuộc đời Duyên Anh có lẽ từ khi Duyên Anh kết hôn. Duyên Anh theo đạo Phật trong khi vợ theo đạo Chúa. Song hình như Duyên Anh cũng không quan tâm chuyện tôn giáo.

Nguyễn Ngọc Phương – vợ Duyên Anh – là con nhà đại điền chủ miền Nam Nguyễn Ngọc Đề, em phó tổng thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Thơ. Ở Long Xuyên có con kinh gọi là kinh Ông Đề, chính do cha vợ Duyên Anh cho đào để đem nước vô giúp dân làm ruộng. Dù lấy vợ nhà giàu và có thế lực nhưng Duyên Anh hầu như không nhờ nhà vợ gì cả, vì mẹ ruột Ngọc Phương mất sớm, và ba chị em gái gặp bà dì ghẻ khắc nghiệt.

Tuy vậy cũng khó tránh được “lời ong tiếng ve” và chính Duyên Anh sau này có viết mấy lần về thái độ xem thường của cậu em vợ, để rồi khi đã có danh vọng thì Duyên Anh “tuyết hận” (chữ của Duyên Anh)

Sau này nhờ có dịp tiếp xúc nhiều nên tôi được biết khá rõ về tính tình của vợ Duyên Anh. Chính vì giữa hai vợ chồng không có được mối quan hệ hòa thuận kẻ tung người hứng, hiểu nhau, thông cảm cho nhau, nên gia đình thỉnh thoảng xảy ra cảnh bất hòa.

Theo ông Trần Kim Tuyến, hồi những năm trước 1975, cứ trung bình khoảng 2, 3 tháng, vợ Duyên Anh lại đến khóc lóc nhờ ông và linh mục Thiên Hổ (Nguyễn Quang Lãm, báo Xây Dựng) đi tìm Duyên Anh vì anh chàng cãi nhau với vợ, đã bỏ nhà đi biệt.

Hai vị niên trưởng lại phải cho người đi dò la tin tức Duyên Anh, rồi khuyên nhủ hắn về với gia đình. Đã đành vợ chồng nhà nào cũng đôi khi có chuyện mà người ta gọi là “bát đĩa có khi xô”. Nhưng với Duyên Anh hình như tình trạng này không phải chỉ xảy ra “thỉnh thoảng”.

Sau này, khi đã lâm cảnh mất nước, mất nhà, thân đi tù đi tội, thế mà cũng vẫn còn cảnh xào xáo lục đục. Lắm khi tôi cứ giả thiết : nếu Duyên Anh lấy một người vợ tính tình nhu mì, biết cách chìu chồng, biết nhẫn nhịn chịu đựng, thì có lẽ Duyên Anh đã không gây gổ và có cuộc sống gia đình thật hạnh phúc. Duyên Anh ham bạn, rồi khi có sẵn đồng tiền thì lại ham chơi vung vít.

Khi sống cuộc đời tị nạn ở Paris, không còn tiền để vung vít nữa, nhưng tính ham bạn vẫn còn. Cộng thêm hoàn cảnh sống gò bó cả tinh thần lẫn vật chất, nên càng thèm bạn và chỉ còn cách tìm sự khuây khỏa bằng ly rượu. Bởi vậy, trong một lá thư gửi cho tôi hồi cuối năm 1987 trước khi bỏ Paris sang Hoa Kỳ, Duyên Anh thổ lộ tâm sự với tôi, còn bình thường không hề hé môi.

Trước đó không lâu, Duyên Anh tỏ ra buồn và cô đơn vì cuộc sống ở Paris không thích hợp với mình, nên đã làm bài thơ Lưu đầy gồm 100 câu gửi tặng tôi. Hiểu rõ tâm trạng Duyên Anh, tôi đã viết trả lời bằng bốn câu có giọng hơi trách móc như sau:

“Đến được đây ta ở lại đây

Có ai vui kiếp sống lưu đầy

Sao vội quên câu “sông có khúc…”

Địa ngục, thiên đàng, ai tỉnh say?”

Viết như vậy, nhưng tôi biết rất rõ rằng Paris không phải nơi có thể cầm chân Duyên Anh được. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn cho Duyên Anh biết rằng đất Mỹ cũng chưa hẳn sẽ là nơi thích hợp với anh. Bởi vì bây giờ thời thế đã đổi khác. Những người bạn mà anh tưởng có thể chia bùi xẻ ngọt, những người trước kia đã nhờ vả anh hoặc tỏ ra hào sảng với anh; tất cả bây giờ đã đổi khác rồi. Sẽ khó trông mong gì ở họ. Có kẻ gặp vận may trở nên khá giả, nhưng họ làm mặt xa lạ chứ không nồng nhiệt với anh.

Có những người còn tình nghĩa nhưng lâm cảnh “ốc chưa mang nổi mình ốc làm sao mang cọc cho rêu”. Tôi cũng nhắc nhở Duyên Anh rằng nếu vẫn cứ muốn đi Mỹ thì phải rất thận trọng. Vì đất Mỹ vốn có lối sống rất bạo động, mà bằng cách ăn nói, viết lách đụng chạm, gây thù oán với nhiều người của Duyên Anh thì khó tránh được tai họa.

Nhưng sau khi đọc hai lá thư cuối cùng của Duyên Anh viết từ Paris, tôi mới hiểu rõ thêm những nguyên nhân thúc đẩy Duyên Anh có quyết định dứt khoát. Trước nhất là sự việc liên quan đến buổi ra mắt 3 băng cassette nhạc do Duyên Anh thực hiện. Trước đó một thời gian Duyên Anh viết cho tôi, nói rằng cần tiền để làm việc này. May mắn là một mạnh thường quân giúp một khoản lớn, một vài anh em khác ủng hộ những món nhỏ. Và Duyên Anh ngỏ ý “vay” tôi một khoản nhỏ, hứa bán xong cassette sẽ trả ngay. Tôi đã gửi “ủng hộ, chứ không vay mượn gì cả”.

Chẳng ngờ, khi buổi ra mắt băng nhạc được tổ chức khá xôm tụ với hi vọng tràn trề của Duyên Anh, thì bất ngờ vợ Duyên Anh ập đến phá đám. Bởi vì vị mạnh thưnh là một phụ nữ.

Người này tôi đã biết, và khoảng nửa năm trước đã mời tôi cùng Duyên Anh về nhà ăn cơm. Đây là một phụ nữ đã có hai con gái học trung học và đại học ở Mỹ. “Bị” mời thì tôi đến, nhưng tôi không tỏ ý kiến tán thành hay phản đối mối liên hệ này của Duyên Anh.

Vì tôi nghĩ bạn tôi đã quá khôn ngoan từng trải và nhiều tài hoa do đó đi đến đâu cũng có rất nhiều người mến mộ. Đó là chuyện… bình thường. Còn tôi “tài hèn trí đoản”, nên chỉ biết an phận mà thôi. Vì vụ đánh ghen bất ngờ đó mà Duyên Anh và vị mạnh thường quân được bằng hữu đưa vội ra cửa sau, biến mất; còn quan khách cứ tự động giải tán trong sững sờ.

Sau đó, vợ Duyên Anh tịch thu hết băng nhạc, cho nên không ai mua được, và chỉ một số rất nhỏ bạn thân của Duyên Anh có được các băng nhạc đó mà thôi. Sau vụ này Duyên Anh viết thư cho tôi.

Tất nhiên, không khí gia đình Duyên Anh càng kém vui hơn. Có lẽ sự dằn vặt của vợ đã khiến cho Duyên Anh đi đến quyết định dứt khoát là bỏ gia đình, bỏ Paris để đi Mỹ, mặc dù chưa có quốc tịch Pháp, mà cũng chẳng có một thứ bảo hiểm nào cả, trong đó bảo hiểm du lịch là tối quan trọng.

Chính vì vậy mà khi bị hành hung ngày 30/4/1988, Duyên Anh lâm vào tình trạng rất bi đát. Trong lá thư cuối viết từ Paris, Duyên Anh tỏ cho tôi biết quyết định dứt khoát. Hình như khi sang Mỹ, Duyên Anh đến ở với gia đình Đặng Xuân Côn một thời gian ngắn, rồi đi gặp một số bạn cũ và mới, rồi cũng viết cho một hai tờ báo (hồi đó báo chí Việt Nam ở hải ngoại còn phôi thai lắm). Và dĩ nhiên, Duyên Anh cũng đả kích vung vít khá nhiều người. Đụng chạm lớn nhất có lẽ là với mặt trận Hoàng Cơ Minh mà nghe nói hồi đó đang phát triển mạnh lắm.

Những hệ lụy do Duyên Anh tạo ra khiến đưa đến vụ hành hung thô bạo. Tôi thương và buồn cho Duyên Anh. Không lâu sau khi Duyên Anh đến Paris từ Pulau Bidong, tôi đã sang ngay để phỏng vấn và tường thuật trên BBC.

Còn nhớ, tôi đã chỉ mặt Duyên Anh mà bảo: “Thôi nhé. Từ nay hãy chôn bỏ những thằng Thương Sinh, Bếp Nhỏ, Thập Nguyện v.v… mà chỉ giữ lại thằng Duyên Anh nhé! Để cho người ta thương và tránh gây thù chuốc oán. Vả lại, viết lách và làm báo ngoài này rất khác với trong nước như cách các ông quen làm trước 1975”.

Khi đó, Duyên Anh đã cười, trả lời, “Tôi hứa với ông và thề sẽ chỉ giữ lại một thằng Duyên Anh thôi”. Và vợ Duyên Anh đã đúng khi nói: “Anh Duyên Anh thề cá trê chui ống!”

Những huyền thoại quanh vụ Duyên Anh bị hành hung

Đã 29 năm rồi, kể từ cái ngày định mệnh 30/4/1988, ngày nhà văn Duyên Anh bị đánh suýt vong mạng. Lúc đó là 5 giờ sáng giờ Luân Đôn. Chuông điện thoại reo, tôi ngạc nhiên bật dậy khỏi giường và lẩm bẩm, “Ai gọi sớm thế!” Đầu dây bên kia, tiếng vợ Duyên Anh khóc và kể rằng chồng bị người ta đánh hôn mê bất tỉnh, chắc là chết mất!

Tôi sững sờ, hỏi xem tình trạng Duyên Anh ra sao. Chị Ngọc Phương vẫn mếu máo, bảo, “Đưa vào nhà thương, nhưng vì anh Duyên Anh không có giấy tờ, không có bảo hiểm, nên chúng nó vất nằm một xó như con chó, không biết gì cả. Anh làm ơn gọi ngay cho bệnh viện, bảo lãnh cho anh Duyên Anh, thì họa may họ mới chữa cho. Anh làm ngay đi!”

Tôi hỏi tên bệnh viện, số điện thoại, và tên bác sĩ trực hôm đó. Vợ Duyên Anh cho mọi chi tiết. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ được ông bác sĩ hôm đó có tên Fernandez (?) nên đoán ông ta gốc Mễ. Tôi gọi ngay, xin nói chuyện với ông ta, xưng tên họ, là senior producer trong đài BBC London, cho số điện thoại sở cũng như nhà riêng, kèm theo địa chỉ.

Tôi cho biết Duyên Anh là một nhà văn nổi tiếng của VNCH, từ Paris sang Mỹ chơi, chứ không phải một tên vô gia cư. Và tôi thay mặt gia đình Duyên Anh, hứa sẽ thanh toán mọi phí tổn của bệnh viện. Sau đó, tôi gọi luôn đại diện Pen Club International ở Mỹ, nói cho biết sự thể, và đề nghị họ cũng gọi cho bệnh viện để giới thiệu thân thế và sự nghiệp Duyên Anh.

Tôi lại gọi đại diện Secours Catholique của Pháp (một tổ chức thiện nguyện Công giáo) yêu cầu họ làm tương tự. Rồi sau được biết là Đặng Xuân Côn và con trai lớn của Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Chương đã từ Texas bay sang ngay để săn sóc cho Duyên Anh và lo mọi thủ tục giấy tờ.

Tôi yên tâm vì Đặng Xuân Côn và Thiên Chương đã có mặt ngay bên cạnh Duyên Anh. Rồi được biết là sau một thời gian chữa trị trong bệnh viện, Duyên Anh được cho về. Một mạnh thường quân dấu tên (sau này nghe nói là Bùi Bỉnh Bân), đã bí mật đem Duyên Anh về tiếp tục săn sóc.

Theo gia đình Duyên Anh thì người này phải giữ hoàn toàn bí mật, vì vào thời điểm đó người Việt tị nạn sống ở Mỹ rất hoang mang sau vụ Duyên Anh bị hành hung. Trước đó đã thỉnh thoảng có người bị khủng bố hoặc sát hại vì bày tỏ thái độ chính trị.

Vợ con Duyên Anh còn sợ rằng kẻ thù sẽ tiếp tục truy tìm để làm cho Duyên Anh chết luôn hầu bịt miệng. Cơ quan FBI gặp bế tắc vì cộng đồng người Việt tại Orange County không có ai dám hợp tác để giúp cho cuộc điều tra truy tìm hung thủ. Người ta sợ và hèn!

Trong khi đó, lại không thiếu những tin đồn, những lời rỉ tai trong quần chúng cũng như trong giới cầm bút về tình trạng sức khỏe của Duyên Anh. Những người bạn tốt muốn tìm hiểu sự thực cũng mù tịt, trong khi có người tung tin là Duyên Anh đã về Pháp rồi.

Thậm chí có một vài ông trong giới cầm bút còn tuyên bố (như thật) rằng tổng thống Mỹ ra lệnh dùng một chuyến bay riêng để đưa Duyên Anh về Pháp, có nhân viên FBI đi theo bảo vệ! Ông khác lại nói rằng tổng thống Pháp ra lệnh đem một máy bay đặc biệt sang đưa Duyên Anh về Pháp.

Ấy thế mà người Việt mình quả thật quá dễ tính, cứ tin là có thật. Nực cười nhất là cho đến tận ngày nay mà vẫn còn có nhiều người tin như vậy ! Vậy sự thật ra sao ? Sự thật là sau một thời gian chờ đợi cho Duyên Anh phục sức để có thể ngồi máy bay về Pháp, tổ chức thiện nguyện Secours Catholique của Pháp gửi tặng 2 vé máy bay. Một cho Duyên Anh và một cho một người thân đi theo săn sóc. Chỉ có vậy thôi.

Và từ đó, tại Paris, mỗi tuần Duyên Anh phải vào bệnh viện mấy lần để cho bác sĩ theo dõi sức khỏe, rồi được cho tập vận động nhẹ nhàng, nếu không thì sẽ bị bại liệt luôn. Thế rồi, với thời gian, với việc tập vận động, lần lần Duyên Anh sử dụng được tay trái và chân trái.

50 tác phẩm của Duyên Anh xuất bản trước năm 1975

Nghĩa là nửa người bên trái phục hồi tuy không mạnh như xưa, còn nửa bên phải vẫn liệt. Tôi lại luôn luôn gọi qua Paris khích lệ để Duyên Anh đừng nản chí. Tôi thường nhắc Duyên Anh về một thí dụ mà chính Duyên Anh đã viết trong truyện của mình về tấm gương nghị lực và ý chí phấn đấu không chịu khuất phục trước nghịch cảnh, đó là con gọng vó, một loài nhện nước chân dài lêu khêu trông như những gọng của cái vó đánh cá.

Trong một đoạn văn, Duyên Anh tả con gọng vó đứng trên một dòng nước chảy xiết. Nó bị dòng nước cuốn xuôi, nhưng không chịu thua. Nó gắng hết sức vượt lên, ngược dòng. Rất nhiều lần nó bị cuốn xuôi, nhưng nó nhất định không chịu khuất phục, lại vượt lên ngược dòng. Và tôi đã nhắc Duyên Anh hình ảnh con gọng vó để cho Duyên Anh lên tinh thần, khắc phục nghịch cảnh.

Duyên Anh hứa với tôi sẽ làm như con gọng vó. Qủa nhiên, một thời gian sau, Duyên Anh đã viết bằng tay trái khá nhanh, tuy không đẹp được như ngày xưa viết bằng tay phải. Ngày xưa Duyên Anh nổi tiếng viết khá nhanh, chữ nhỏ li ti như con kiến, và rất đều, thẳng tắp. Bây giờ viết tay trái không nhanh và đẹp bằng, nhưng chữ cũng nhỏ và đều đặn.

Họa vô đơn chí

Duyên Anh bị hành hung 30/4/1988, còn đang thời kỳ phục hồi sức lực và gặm nhấm đau thương thì thảm họa lại bất ngờ chụp xuống đầu anh một lần nữa. Đó là sự mất đi đứa con gái duy nhất mà Duyên Anh rất thương vì cháu rất thông minh lanh lợi: Vũ Nguyễn Thiên Hương cùng chồng tử nạn trong chuyến máy bay trở về, sau chuyến đầu tiên về thăm quê nội làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chồng của Thiên Hương là David McAree, một thanh niên hiền lành gốc Tô Cách Lan. David nói tiếng Việt khá giỏi và trước kia có thời gian làm cho đài BBC.

Khoảng gần cuối năm 1988, một hôm vợ Duyên Anh gọi điện thoại than phiền với tôi rằng con gái muốn đem chồng về thăm quê nội, nhưng chị không muốn. Chị cố thuyết phục và ngăn cản, nhưng nó vẫn giữ ý định. Cuối cùng, chị nói, “Tao bảo mày không nghe, mày cứ đi, nếu mày có rớt máy bay mày chết, tao cũng không thương đâu!” Tôi kêu lên, “Sao chị ăn nói gì kỳ cục vậy? Nói gở như vậy, nếu rủi có chuyện gì xảy ra thì chị sẽ ân hận suốt đời đấy!”

Rồi vì bận rộn công việc, tôi cũng quên chuyện đó. Cho tới một hôm, em trai của Thiên Hương là Thiên Sơn gọi điện thoại sang báo tin, “Bác ơi! Chị Hương cháu tử nạn máy bay rồi! Bố cháu bảo cháu báo tin cho hai bác”. Tôi như bị điện giật, sửng người đi một lát mới hỏi, “Sao? Còn thằng David? Bố cháu nay ra sao?” Sơn đáp: “Cả anh David cũng chết luôn. Bố cháu chỉ ngồi yên, không nói gì”

Thì ra, vợ chồng cháu Hương về Việt Nam, ghé về quê nội thăm họ hàng. Ở chơi ít ngày, David còn nhảy xuống tắm ở ao làng, cả làng ra xem. Không ngờ trên chuyến bay đến Bangkok trước khi về Pháp thì máy bay đâm xuống ruộng lúa khi gần tới thủ đô Thái Lan làm 76 người thiệt mạng. 

Bà mẹ góa của David McAree xin đem hài cốt của con trai và con dâu về chôn trong hai ngôi mộ cạnh nhau gần nhà ở Tô Cách Lan.

Một thời gian sau, vợ chồng Duyên Anh được Thiên Chương là con trai lớn cùng Đặng Xuân Côn từ Mỹ sang, đưa đi thăm mộ Thiên Hương ở Tô Cách Lan. Họ ghé nhà tôi ở Luân Đôn làm trạm nghỉ chân ít ngày.

Vợ Duyên Anh không ngớt cằn nhằn chồng tại sao để cho bà sui gia giành lãnh hết tiền bồi thường của hãng hàng không. Phần Duyên Anh chỉ nói, “Cái mạng con mình đã mất rồi, còn chẳng giữ được, tranh giành tiền bạc để làm gì?”

Những tháng năm cuối đời

Bị tàn tật, chỉ sử dụng có nửa người bên trái, lại bị thêm thảm họa mất con gái, Duyên Anh như chết lịm hẳn đi. Nay trong mắt người vợ, Duyên Anh mất giá hẳn. Cho nên Duyên Anh lại càng phải nghe những lời cằn nhằn vốn đã quá quen thuộc. Tôi không ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh rất muốn thoát khỏi không khí tù túng của gia đình.

Thỉnh thoảng Duyên Anh sang ở với tôi ít ngày. Trong những dịp như thế, tôi lại đưa lên thành phố Cambridge cho anh thăm ông Trần Kim Tuyến và nhà văn lão thành Lãng Nhân Phùng Tất Đắc.

Những lúc như thế, Duyên Anh vui lắm, cứ như cá gặp nước. Tuy nhiên, tôi vì bận công việc nên khó thu xếp thời giờ để luôn luôn giúp bạn vui. Ngay như ở Paris, không dễ gì để Duyên Anh có thể đi đây đi đó gặp gỡ bạn bè. Họa hoằn mới nhờ được người đem xe đến chở đi. Và người có lòng tốt cũng lại ngại ngùng không muốn làm phật lòng bà Duyên Anh.

Hình như bà không muốn chồng đàn đúm, vui vẻ với bạn bè. Ngày xưa Duyên Anh còn khỏe mạnh, sẵn tiền bạc, danh vọng, thì có lý do chính đáng để bà giữ chồng vì sợ tính nết trăng hoa của chồng đã đành. Nhưng nay Duyên Anh đã tàn phế, thất thế, không tiền bạc, mà bà cũng không muốn cho chồng ra ngoài.

Khoảng giữa năm 1995, chẳng hiểu vì sao, Duyên Anh phải kéo lê cái va li nhỏ, được bà đầm hàng xóm kêu giùm cái xe taxi, để đến tá túc ở nhà bà Bích Thuận. Rồi bà Bích Thuận bị vợ Duyên Anh gọi điện thoại dùng lời lẽ khá bất nhã.

May quá, dịp đó bác sĩ Tuyến đang có mặt ở Paris, liền mua vé máy bay cho Duyên Anh sang Luân Đôn, định đến ở nhà tôi. Nhưng lại gặp rủi, là vì đúng ngày hôm sau tôi phải lên đường đi Việt Nam công tác sáu tuần lễ. Nên Duyên Anh phải lên Cambridge ở 3 tuần với bác sĩ Tuyến. Sau đó ông lại mua vé cho Duyên Anh sang Mỹ.

Sang California, Duyên Anh được một số đàn em cưu mang: ở với Vũ Trung Hiền một thời gian, rồi Nguyễn Kim Dung đón về ở một thời gian. Trong những năm này, có lần Duyên Anh trở về Paris để lấy quốc tịch Pháp. Nghe nói cũng thời gian này, FBI cử nhân viên sang Paris gặp Duyên Anh, cho biết họ đã tìm ra kẻ hành hung Duyên Anh trước kia.

Nếu Duyên Anh muốn thì khởi tố, họ sẽ bắt và đưa hung thủ ra tòa. Nhưng Duyên Anh trả lời rằng anh không muốn làm gì nữa. Người Mỹ làm việc quá chậm, còn anh thì đã cảm thấy chán hết mọi chuyện rồi. Thôi hãy bỏ đi! Cho nên vụ án này chìm và bị quên luôn!

Không phải tới năm đó Duyên Anh mới “bỏ qua” vụ án. Năm 1991 Duyên Anh sang nhà tôi. Tôi đã phỏng vấn để phát trên đài BBC. Khi được hỏi về vụ bị hành hung, Duyên Anh trả lời không còn thù hận gì những kẻ hành hung mình. Duyên Anh bảo họ cứ sống thản nhiên, đừng lo ngại. Theo anh, có thể người ta nghĩ rằng anh đã sợ. Nhưng ai muốn nghĩ sao tùy ý.

Điều xót xa đau đớn cho Duyên Anh là trong những tháng năm cuối đời, khi đã thất thế, thân thể tàn tật, chỉ có thể sử dụng được tay trái và chân trái, nói năng cũng chậm chạp, đầu óc không còn minh mẫn như xưa, nên lắm khi cần phải có người giúp đỡ trong các sinh hoạt hàng ngày.

Vốn là người nhiều nghị lực và tự ái, Duyên Anh cố gắng, không muốn nhờ vả ai cả. Ngay trong gia đình đã thiếu đi tình thương yêu và sự an ủi săn sóc của một người vợ hiền. Cứ nhìn cảnh Duyên Anh ngồi ăn cũng đủ thấy hoàn cảnh bi đát của anh. Thường thường, Duyên Anh thích được ăn cơm để trong cái tô lớn, có chan canh, để có thể dùng tay trái xúc bằng muỗng mà ăn. Gặp những món ăn cứng, thái miếng to, hay phải gắp bằng đũa thì chịu chết!

Đã vậy, còn bị đổ vãi ngoài ý muốn. Có khi chỉ vì một sự bất ưng ý nào đó, tô cơm đang ăn bị lấy đi, đem đổ vào thùng rác! Cho nên, đã từ lâu rồi, Duyên Anh chỉ muốn vùi đầu vào ly rượu để quên đời, quên sầu tủi.

Tiểu sử nhà văn Duyên Anh (1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ.

Ông sinh ngày 16/8/1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội. Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…

Có một dạo, Duyên Anh thường viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong tác phẩm của Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong cuộc sống. Tuy nhiên vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình.

Các tác phẩm mổi tiếng phải kể đến “Ðiệu ru nước mắt”, “Luật hè phố”, “Dzũng ÐaKao”, “Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang”, “Nặng nợ giang hồ”, “Bồn Lừa”…

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ngày 8/4/1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo. Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11/1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như “Đồi Fanta”, “Một Người Nga ở Sài Gòn”. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6/2/1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp. 

(theo Vĩnh Phúc)

Hồng Anh st

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch
Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 11

Như một tướng soái lâm nguy, Lucia Santa ngoài việc phải nghiền ngẫm cảnh ngộ gia đình, công việc làm ăn của con cái, xét lại số lợi tức phải lo sắp đặt chiến thuật, chiến lược cũng như dò xét lòng dạ của bà con, bạn bè ai thân, ai thù. Giờ đây bệnh của Octavia ít nhất phải nằm nhà thương sáu tháng và nghỉ làm một năm chắc. Mất toi một năm lương. Thằng Lorenzo thìmột tuần lễ đưa về $5 đều đều, đôi khi còn cho thêm vài đôla. Thằng Vincenzo sẽ phải sang lò bánh làm, một tuần thêm $5 nữa, dĩ nhiên tiền bánh mì khỏi mất. Thằng Gino thì vô dụng, Sal và Aileen còn quá nhỏ. 
Nhưng vợ thằng Lorenzo vừa có bầu. Lại sắp thâm thủng ngân sách chắc! Cứ kể là nó không đem về đồng nào đi là vừa. Mà thôi, nghĩ cách khác đi. Ba năm nữa Vincenzo mới xong trung học phổ thông. Nó có cần phải thi lấy bằng không nhỉ? À, thằng Gino cứng đầu quá, phải cho nó vào khuôn khổ, nó cũng phải làm một cái gì chứ? Lâu nay thả lỏng nó tệ quá đi!
Lúc bấy giờ Lucia Santa mới thấy nhà này thiếu Octavia là nguy quá. Đâu phải nó chỉ đi làm đưa tiền về nhà mà thôi? Đôn đốc buộc mấy đứa nhỏ phải học hành chăm chỉ là nó. Đưa em đi chữa răng, nhổ răng khỏi mất tiền cũng nó. Chính Octavia đã tính toán để dành tiền cách nào, có dư là tự tay đi gửi ngay vào trương mục tiết kiệm … có cần mua đồ ăn, may mặc cũng khỏi. Có nó là mụ có điểm tựa, có người nương tựa, có người đứng bên giúp đỡ những lúc xuống tinh thần … Thiếu nó là cái gì mụ cũng phải lo giải quyết một mình hết. Hệt như ngày bố nó vừa qua đời! Có điều bây giờ không đến nỗi chán chường thất vọng, lo bấn người như hồi đó, ít ra bây giờ mụ cũng đã già dặn, đầy kinh nghiệm khôn ngoan và chai lì hơn nhiều. Khỏi nông nổi điên rồ sinh thối chí hoảng, chịu nhiều đắng cay của cuộc đời quá rồi! Vấn đề bây giờ là phải tranh sống, làm sao cho sống được cái đã. 
Đó là lý do Lucia Santa đành phải xin cứu trợ, đành phải ngửa tay nhờ tiền xã hội trợ cấp vậy. Xét ra chẳng còn cách nào khác, vậy mà mụ phải đắn đo suy tính lợi hại nữa. Nhiều vấn đề lắm. 
Vấn đề lương tâm khỏi phải đặt ra. Cũng chẳng phải Lucia Santa không tin ở lòng tốt của nhà nước, dù mụ thấm nhuần nếp sống quê hương Ý Đại Lợi, có bao giờ dân và nhà nước tử tế được với nhau! Vấn đề xem vậy khó hơn nhiều. 
Vì nếu lòng từ thiện là muối thì thằng nhà nghèo là vết thương. Xát muối vào xót xa lắm. Nhà nước có cứu trợ thằng nghèo thì đại khái cũng như ông nhà giàu nhả tiền ra cho quân bắt cóc vậy. Ngửa tay nhận đồng tiền cứu tế xã hội là nhục nhằn, là phải chịu đựng lời nặng tiếng nhẹ đủ thứ. 
Ngay mấy nhà báo cũng được kết nạp để đánh những thằng nghèo mà lì lợm nhất định đòi cứu trợ … thay vì chịu đói, bỏ đói con cái! Làm như đi ăn xin nhà nước, sống đồng tiền xã hội bố thí sung sướng lắm vậy. Sự thật cũng có những thằng bám víu xã hội thật. Thiếu gì thằng chọc kim nhọn vào thịt, nhai miếng chai bể mà hả hê? Đó là một “gu” đặc biệt. Tuy nhiên nói chung thì đại đa số đã phải sống nhờ tiền cứu trợ hay bố thí là nhục nhã, là mất tư cách thảm hại lắm rồi. Chính thằng Larry đứng ra thu xếp, mời ông điều tra viên tới nhà nó “điều tra gia cảnh” chứ ai? Nhưng lúc người nhà nước tới là nó cố tình lánh mặt … để tránh thương tổn tự ái nam nhi! Nó tự tách rời, nó muốn xác nhận là không liên hệ gì với cái gia đình đi xin tiền cứu tế này. Trong khi đó Lucia Santa lật đật chạy đi giấu biến mấy thùng dầu ô- liu thứ chiến, thứ nhập cảng từ Ý qua. Xin tiền cứu trợ nhà nước cử người tới điều tra gia cảnh xem có nghèo mạt thực không mà để hở mấy thứ nhà giàu này ra thì hư hết còn gì. 
Mãi xế chiều ông điều tra viên mới tới. Ông ta xem trang trọng, cặp mắt đen tròn xoe đến tức cười. Hàng lông mày rộng đã vòng cung mà phía dưới quầng mắt lại thâm xì trông không khác mắt cú. Xem vậy mà ông ta rất lịch sự, gõ cửa cũng gõ đàng hoàng mà nhiệm vụ đó bắt buộc phải điều tra xông xáo cũng xin lỗi chủ nhân trước đã. Rồi mới đi vạch vòi từng khe hở, thấy cửa là mở banh ra nhìn … cứ như người đi mướn nhà sợ hố chứ chẳng phải người nhà nước đi điều tra gia cảnh! 
Nói với bà chủ nhà, ông ta “dạ”, “thưa” đàng hoàng. Ngay cái tên La Fortezza cũng có chút hơi hướng quý phái! Nghe Lucia Santa kể lể gia cảnh ông điều tra viên gật gù chăm chú lắm. Chỗ nào thấy cần là ghi ngay vào sổ tay và tới khúc nào xem bộ thương tâm là thế nào cũng thở dài tội nghiệp. Ông ta nói tiếng Ý, dĩ nhiên thứ tiếng của người học cao song cũng hiểu chứ? 
Bao nhiêu giấy tờ thủ tục được bày ra, bao nhiêu câu cật vấn. Lucia Santa một mực lắc đầu. Cái gì cũng không. Tiền gửi băng không, con gái không tiền, không sở hữu chủ một cái gì … nói chi tiền đóng bảo kê? Nữ trang vàng vòng lấy đâu ra? Cả nhà chỉ có độc một chiếc nhẫn cưới. Ông điều tra viên bảo cái đó không kể. Cuộc điều tra tiến hành xuôi rót. Chừng kết thúc La Fortezza ngồi lặng một lúc rồi ngả người phía trước, hai bàn tay níu chặt cạnh bàn … Cặp mắt tròn xoe rõ ràng bất mãn. Và sau đó nói lời nào xem ra cũng nhẹ nhàng như búa bổ! 
– Xin bà Corbo nghe tôi nói … Thực ra tôi lấy làm đau khổ hết sức nhưng vẫn có bổn phận nói để bà hay trước là hồ sơ của bà khó lòng được chấp thuận. Chẳng hạn như bà nói không tiền nhưng giấy tờ còn đó, ông nhà tử nạn thì ba đứa nhỏ hiển nhiên phải có một số tiền tử tuất khá khá. Chúng chưa đến tuổi thành niên thì tiền phải nằm trong trương mục mỗi năm mỗi sinh lời chứ ai rút ra được mà mất? Như vậy là còn tiền nói hết đâu được? Xét về nguyên tắc thì chỉ những gia đình nào không một xu dính túi mới được hưởng tiền cứu tế xã hội. Luật pháp là vậy rõ ràng quá! Nếu tôi mà cố tình lờ số tiền đó giùm bà để bà lãnh tiền cứu trợ thì chính tôi dám kẹt, thấy không? 
Lucia nghe giọng nói thằng điều tra viên dễ ghét quá! Mắt nó nhìn trừng trừng. Vậy là bị nó qua mặt rồi. Xem mặt mũi nó sáng láng, ăn nói chững chạc và mới tí tuổi đầu … ai dè trước khi vào nhà này điều tra nó đã đi hỏi dò lối xóm chán chê. Nó biết hết còn làm bộ ngây thơ không biết gì để cho “bà chủ” sập bẫy! 
Nội cái vụ đó Lucia Santa đã tức. Nó còn bảo không một xu dính túi mới được … nên mụ cay cú vặn ngược lại: 
– Vậy hả? Nói vậy để tui liệng mớ tiền của tụi nhỏ đi nghe? 
Ông điều tra viên cười ngất. Chỉ cười mà không có ý kiến gì nên Lucia Santa biết hắn muốn gì . Điệu này hồ sơ chưa chắc đã bị bác bỏ. Mụ bèn nhóng hỏi: 
– Ông điều tra viên liệu có thể giúp đỡ mẹ con tôi phần nào chăng? 
La Fortezza xem bộ lúng túng. Lúng túng như một con cú mắc nghẹn nuốt chưa trôi con chuột quá lớn vậy! Sau đó “sự giúp đỡ” được hắn chấp nhận bằng một màn ấp úng, quanh co khởi đầu bằng một triết lý vô cùng thiết thực “có bàn tay dơ nào mà tự rửa lấy được đâu”. 
Đúng! Lucia Santa còn lạ gì ông điều tra viên quá trẻ, quá mới mặt có ló mòi tham những cũng vụng về, lúng túng? Hắn ta nhấn mạnh là cái vụ này kẹt quá, dính vô là mất việc như chơi. Vậy kẻ có của người có công. Cứ nửa tháng hắn sẽ mang tới tận nhà tấm séc $16 tiền cứu trợ … và bà chủ phải nhớ đền ơn $3 tiền mặt. Phải hiểu là đúng ra không thể nào được hưởng một xu của nhà nước vậy có ăn thì mỗi người một tí, ai cũng có phần có phải hơn không?
Cái đó khỏi hỏi, Lucia Santa gật đầu đồng ý và chấp nhận điều kiện cái rụp. Mụ còn tha thiết cảm ơn, không phải bằng lời nói suông mà cụ thể bằng đĩa bánh ngọt để mời ông điều tra viên dùng tạm dù ai chẳng biết mời một tách cà phê cũng đã là hiếu khách chán. 
Chủ và khách có dịp tìm hiểu thông cảm qua tách cà phê. Ông điều tra viên thở than nhà cũng nghèo không khác nhà này, cha mẹ bóp bụng cho học luật nhưng tốt nghiệp ra đâu có việc làm. Đành phải nhận đỡ chân “điều tra viên cứu tế xã hội”, ăn lương chết đói của thị xã vậy! Lương ít thì lấy đâu ra tiền “đền ơn sinh thành”? Lắm lúc cũng cảm thấy đau khổ phải dính vào những vụ như thế này, nhưng chẳng biết làm sao hơn? 
Những khó khăn đó Lucia Santa hiểu hết, ăn thua gì, mỗi người giúp nhau một chút. Không được quyền hưởng trợ cấp mà được thì phải biết điều, biết ơn chứ? Thế là sau một chầu tâm sự chủ khách thông cảm nhau quá xá. 
Kể từ bữa đó cứ hai tuần một lần Fortezza lại mang một tấm séc “cứu trợ xã hội” đến. Dĩ nhiên mỗi lần đều phải có một chầu đãi đằng nồng hậu, dù đã thân tình như người nhà, xưng hô bác cháu. 
Thấy mặt anh Fortezza là Gino lãnh ngay công tác xách tấm séc xuống tiệm đổi thanh toán sổ sách mua dăm bông. Bao giờ nó cũng xách về một gói cỡ trên 100g dăm bông thứ chiến nhất, thịt nạc đỏ hồng viền lớp mỡ trắng tươi, một ổ xăng uých mềm mại và một miếng pho mát vàng tươi. Anh Fortezza yếu bao tử đâu có ăn được mấy thứ thịt nguội Ý kể cả dăm bông ướp tiêu sọ cay xè và bánh mì Ý ròn và cứng nhai muốn gãy răng. 
Những lần thù tiếp anh Fortezza là Gino phải đứng giương mắt nhìn. Một đĩa bầu dục sang trọng sắp lẫn lộn dăm bông và pho mát, cả một bình cà phê lớn. Hắn mang đủ thứ chuyện kinh nghiệm bản thân ra kể lể mà mẹ nó không hiểu sao khoái nghe thế. Sao hắn ngồi ăn lại ghếch chân lên ghế bên kia vậy kìa? 
Thì ra chỉ ngày ngày leo thang gác đi công tác mà chân Fortezza mỏi nhừ sưng lên! Còn phải cãi nhau phát mệt với mấy ông bà người cùng xứ sở nhưng quá hạ cấp ưa chơi cái lối giấu biệt vụ con cái có việc làm để xin trợ cấp thất nghiệp. Không chịu đề nghị thuận cho họ là bị chửi lên đầu và còn bị liệt vào hạng Do Thái vì họ quan niệm giản dị rằng đã gọi là người Ý, cùng quê hương xứ sở có lẽ nào “bênh” nhà nước và “hại” bạn đồng hương! 
Fortezza ưa than làm công tác điều tra viên này quả có uổng công cha mẹ nhịn đói nhịn khát nuôi cho ăn học, để dành từng xu kham khổ. Làm chỉ vừa đủ nuôi thân mà mệt nhọc đến gần tổn thọ được. Mụ Lucia Santa nghe nói cũng động lòng thương … 
Cặp mắt tròn xoe của Fortezza buồn lạ. Nắng mưa, nóng lạnh phải đi làm đều … toàn chạy ngoài không! Khỏe mạnh thế nào được? Huống hồ 4 năm đại học đã ráng quá mức rồi. Hắn thú nhận rằng: “Bác biết không … cháu học hành có thông minh gì đâu? Ông bà, cha mẹ cho chí tổ tiên cháu gốc nông dân mù chữ cả ngàn năm có … Nay đến đời cháu không đến nỗi tay làm hàm nhai đã mãn nguyện quá rồi!”. 
Bao giờ cũng vậy, thanh toán xong đĩa dăm bông pho mát là Fortezza đứng dậy sửa soạn ra về. Số ba đôla chia chác sẽ được Lucia Santa khôn khéo nhét tận tay, thật kín đáo và ép uổng làm như chỉ sợ ông điều tra viên từ chối . Fortezza sẽ ngần ngừ nửa nhận nửa không, rồi khẽ lắc đầu nhướng mắt than: “Ồ …” một tiếng trước khi cầm tiền, rõ ràng là đời sống khó khăn quá, tiền đến tay không lẽ liệng đi sao? 
Fortezza và Lucia Santa hợp nhau lắm. Ông điều tra viên trẻ chịu bác Lucia Santa ở chỗ tiếp đãi nồng hậu, ăn uống thịnh soạn và chuyện trò thật là thân tình. Trái lại mụ Lucia Santa có ý thương cậu Fortezza tối ngày mặt mũi rầu rầu cũng may trẻ nhà này không đứa nào âu sầu buồn bã như vậy. Dù có phải chia chác mất chút ít tiền cũng nỡ lòng nào tiếc rẻ? 
Ít tuần sau chính Fortezza xoay sở được cho nhà này thêm mỗi tháng $15 về tiền trợ cấp nhà cửa. Chẳng cần phải đợi hỏi bà chủ nhà cũng tự động nhét vào tận tay ân nhân $5 thay vì $3 như cũ. Xưa nay ân nghĩa là phải phân minh, chẳng ai chối cãi được! 
Chính vì chỗ “ân nghĩa phân minh” đó mà ít lâu sau gia đình Lucia Santa lại có thêm $4 một tuần tiền trợ cấp . Cậu Fortezza dĩ nhiên cũng phải có thêm nhưng lần này không phải tiền mặt. Lập tức mụ Lucia sai con đi mua một gói đồ để hắn xách về nhà, trong đó thế nào cũng có nửa kí lô dăm bông hạng nhất và nguyên chai rượu hồi thứ đặc biệt nhà làm uống mau tiêu cơm nhất hạng. Ngoài ra cậu Fortezza còn được em Lorenzo đánh xe đưa về tận nhà ở đại lộ Arthur bên khu Broux. Gọi xe nhà cho hách chứ xe hơi của Larry chỉ là thứ cũ mèm gần phế thải, chỉ tốn công hì hục sửa máy tối ngày nếu không mắc đi làm! 
Mỗi lần Larry lái xe cà tàng đưa Fortezza về là phải có thằng Gino đi theo. Xe nhảy tưng tưng, lách qua lách lại giữa cả rừng xe cộ. Xe ngựa, xe hàng, xe điện, xe hơi đủ thứ … 

Photo edit by Sơn râu

Ngồi băng sau nghe người lớn trò chuyện, Gino để ý thấy anh Larry luôn luôn lịch sự lễ phép … lâu lâu mới khều nhẹ ông luật sư điều tra viên một phát. Fortezza làm như không để ý đến những câu móc lò mà chỉ luôn miệng tả oán. Nào mấy người lãnh tiền xã hội chi quá ít … nào căn nhà đang ở tháng tháng phải trả góp chịu không nổi … nào cha mẹ già hết lộc nếu không gồng mình trả nợ góp thì chừng nào mới thanh toán cho xong món tiền cầm nhà? 
Fortezza tả oán kỹ quá khiến Gino đâm thắc mắc. Chẳng hiểu sao cứ nhắc đến tiền, đến sự thiếu hụt tiền là y như rằng anh chàng điều tra viên xem bộ sợ sệt, hốt hoảng. Nó không hiểu tại sao giàu có như vậy mà Fortezza luôn miệng than khổ vì tiền? Không tiền mà học lên tới đại học? Không tiền mà tậu nhà lớn, hai gia đình ở cũng vừa? Không tiền mà cả nhà dám đi nghỉ mát đều đều? Theo Gino thì hãy cứ được khổ vì tiền như vậy! Dân xóm đại lộ 10 hùng hục làm việc cỡ bốn mươi năm nữa đã chắc được khổ như vậy chưa? Họ chỉ mong sao leo được tới địa vị của Fortezza … Vậy mà anh chàng này cứ rên rỉ đau khổ vì đồng tiền hơn cả mấy ông hàng xóm bần nông của nó! 
Lúc tới nhà Fortezza hắn mở cửa xe bước xuống và cắp chặt gói đồ biếu dưới nách là anh Larry châm điếu thuốc nhìn Gino nháy mắt một cái. Dĩ nhiên nó cũng biết điệu nhắm mắt nháy lại một phát. Trên đường về cả hai anh em cùng hể hả. Ra điều đời này là vậy, đã biết rồi thì có gì đâu mà ngán? Phải thành công chứ? 
Phải hì hục leo bốn cầu thang lên nhà mụ Lucia Santa, bác sĩ Barbato bực bội không để đâu cho hết. Đã thấy tụi nó nghèo, tha không nỡ đập nặng mà trời đất ơi … tụi nó lại để cho thằng khác ăn thì chịu sao nổi? Tại sao lại phải bày đặt đưa đi nhà thương tư, cho đi nằm bệnh viện Pháp kìa? Bộ dư tiền quá hả? 
Bộ mấy đứa nghèo mạt rệp ngu ngốc này dám chê nhà thương nhà nước Bellevue? Phải nằm nhà thương tư, mất tiền để được săn sóc đàng hoàng, thuốc men tử tế? Đúng là bọn một xu không dính túi mà còn học đòi làm sang ! Quân ăn mày không có nổi túp lều chui ra rúc vào, sống bám vào tiền cứu tế xã hội, có đứa con gái thì lao phổi còn nằm viện bài lao Raybrook … mà dám chơi sang lắm vậy đó? 
Ông bác sĩ vừa ló ở đầu cầu thang là cánh cửa mở bật. Nãy giờ thằng Sal có nhiệm vụ canh cửa, nó thấy rồi mà? Bàn nhà bếp còn bày la liệt những đĩa thức ăn vừa ăn xong, tấm khăn bàn màu vàng còn dính đầy mảnh bánh vụn và trứng chiên. Hai thằng nhãi Gino và Vincenzo lo ngồi chồm chỗm đánh bài, đúng là quân đầu trộm đuôi cướp! 
Có điều vừa thấy bóng ông bác sĩ là thằng lớn đứng bật dậy, mau mắn đưa ông bác sĩ vào nhà trong ngoan ngoãn nói “Thưa bác sĩ mẹ cháu đau”. 
Trong căn phòng nhỏ tối mò bưng bít, bác sĩ Barbato thấy mụ Lucia Santa nằm sù sụ trên giường. Đầu giường có con bé Lena đứng để mẹ lấy khăn nhúng nước ở cái chậu kế bên chùi tay chùi mặt. Đột nhiên Barbato nhớ lại những tấm tranh tôn giáo cổ Ý Đại Lợi mà hắn có dịp chiêm ngưỡng. Cảnh trí hệt như thế này, cũng bà mẹ đau ốm săn sóc con thơ, cũng ánh sáng mờ nhạt … có điều nơi đây ánh sáng hắt ra từ bóng đèn điện vàng vọt, rọi những bóng lung linh trên vách tường màu sậm. 
Cảnh trí đượm màu sắc tôn giáo, dù đầu óc Barbato không vướng vất chút tình cảm nào. Hắn muốn phân tích sự trùng hợp kỳ lạ đó và chợt nhớ ra đã từng đọc ở đâu là các bậc danh họa ngày xưa cũng từng nhờ những người quê mùa như thế này làm người mẫu để diễn tả tình mẫu tử, cho thấy đứa con trọn lòng tin mẹ như thế nào. Bác sĩ Barbato nhích người đến chân giường, cất tiếng buồn bã: “Bà Corbo … mấy tháng rồi bà xui xẻo quá”. Có thể hiểu là một lời an ủi mà cũng có thể là một sự trách móc về vụ cho Octavia đi nằm nhà thương tư. 
Điều đó làm gì Lucia không hiểu? Dù đang nằm bệnh mụ cũng giận run người, cặp mắt đã muốn quắc lên. Nhưng biết thân phận nghèo hèn và người ta bề nào cũng đường đường một ông bác sĩ nên mụ phải cố nhịn. 
– À, ông bác sĩ! Tôi đau quá … nhức lưng nhức chân đi hết nổi. Không làm ăn gì được … 
Bác sĩ Barbato “vậy hả” … rồi truyền lệnh: 
– Để tôi xem cho … nhưng bảo con nhỏ đi ra ngoài chơi đi. 
Con Lena xích lại gần mẹ, bàn tay nhỏ bé đưa lên sờ trán mẹ. Lucia Santa phải dỗ: 
– Con à … đi xuống bếp xem? Có bát đĩa nào chưa rửa lo phụ giùm các anh đi con. 
Barbato mỉm cười. Thấy nụ cười của ông bác sĩ, Lucia Santa lớn tiếng gọi vọng ra bằng tiếng mẹ đẻ: 
– Gino, Vincenzo … hai thằng mất dạy đâu rồi? Bát đĩa rửa chưa hay chúng mày tính bày bừa ra đấy để khoe ông bác sĩ đấy? Không làm liền tao bẻ què giò cả hai đứa! Lena con ra xem chừng … Tụi nó làm biếng vô mách mẹ. Được mẹ trao công tác giám thị, bé Lena chạy vụt đi liền. Ông bác sĩ bèn đi một vòng và ngồi xuống mép giường thong thả kéo tấm mền xuống để đặt ống nghe trên ngực, ngay chỗ cổ áo. Đúng lúc sắp sửa bảo mụ kéo áo xuống thì con nhỏ chạy vào giương mắt nhìn và mách mẹ: 
– Hai anh Vincenzo, Gino rửa chén, anh Sal đang lau bàn. 
Thấy mặt ông bác sĩ cau có, mụ phải đuổi nó: 
– Tốt lắm … Nhưng mẹ bảo con đi ra ngoài xem chừng tụi nó kia mà? Con ở ngoài đó và nói đừng đứa nào chạy vào … nếu mẹ không kêu nghe? 
Lúc Lucia Santa đưa tay vuốt ve xoa đầu con nhỏ, nựng cho nó đi ra ngoài chơi thì bác sĩ Barbato đã để ý thấy chỗ cổ tay mụ sưng sưng. Vậy là biết chính bệnh gì rồi? Cho chắc ăn, mụ Lucia còn bị ông bác sĩ bắt nằm sấp kéo cao váy lên để quan sát kỹ khúc cuối xương sống. Quả nhiên mấy đốt xương cùng sưng hết. Có gì đâu mà lo, bác sĩ Barbato cười khà: 
– Tưởng gì … bà bị chứng sưng khớp xương! Chỉ chữa cỡ một tháng là phải hết. Đúng hơn chỉ cần nghỉ ngơi phơi nắng, sưởi ấm. Xuống bãi biển Florida nghỉ cỡ một tháng là đủ dứt rồi. 
Sau đó, Barbato lấy tay thử nắm bóp mạnh trên khắp người Lucia Santa xem những chỗ nào đau. 
Lucia Santa quay người lại … để thấy ông bác sĩ nhìn chăm chú và nói nhấn từng câu: 
– Bà nói đau nhức không đi được, không làm gì nổi … ngay trong nhà? Làm gì dữ vậy? Chứng sưng khớp xương này cần nghỉ ngơi thật nhưng đi lại phải đi được chứ? Tôi có thấy mấy chỗ sưng ở cổ chân, cổ tay, sống lưng và ở ống chân … nhưng không đến nỗi nằm liệt đâu! 
Sau khi nhìn ông bác sĩ một lát, mụ Lucia nói: “Bác sĩ làm ơn đỡ tôi dậy chút”. Mụ nhanh nhảu vắt chân xuống thành giường nhờ Barbato đỡ một bên để cố gắng đứng dậy. Chừng vừa ngồi thẳng lưng lên thì mụ la “ối” và buông người để ông bác sĩ phải vội vàng chịu cả sức nặng rồi thong thả đặt cho nằm trở lại trên giường. Xem bộ mụ đau chối xương sống thật chứ chẳng phải vờ.
Barbato bèn kết luận: 
– Vậy là bà bắt buộc phải nghỉ ngơi nằm một chỗ thật. Cũng chóng thôi, vì xem vậy chứ cứ ấm áp là hết đau liền . Rồi lại ra lò sưởi ngồi mấy hồi? 
Thấy ông bác sĩ có ý an ủi, Lucia Santa chỉ cười mỉm cảm ơn. 
Ở nhà bệnh nhân Lucia Santa ra, bác sĩ Barbato đi bách bộ trên đại lộ 10 một quãng để hứng gió và suy ngẫm về cuộc đời, về thân phận con người. Xem cuộc sống mà như gia đình này thì dễ sợ quá, khổ quá? Sống mà làm gì? 
Có ông chồng khù khờ thì nằm nhà thương điên, đứa con gái xem ngực nở nang đồ sộ vậy mà lại lao nặng … ấy là chưa kể ông chồng trước đang làm thì bất đắc kỳ tử. Thằng con trai lớn đi mèo chó chán thì vớ phải con vợ còn con nít nghèo mạt rệp. Một mình mụ đàn bà nhà quê phải lo gánh vác một đàn con nhỏ thì khi không nhức xương nằm liệt! 
Bác sĩ Barbato vừa đi vừa ngắm những dãy nhà ổ chuột. Khổ thật, nhà cửa ở chui rúc như thế kia thì sống làm quái gì không biết? Ngọn gió lạnh căm căm từ sông Hudson thổi tạt qua khu nhà ga xe lửa hất vào mặt càng làm ông bác sĩ khó chịu. Thấy tình cảnh cay đắng như thế đó … thân danh bác sĩ mà không thể làm gì giúp họ sao? Nó phơi bày ra trước mặt, làm như thách thức vậy. Khổ sở vậy là quá rồi. Phải làm một cái gì phải giúp đỡ họ phen này chứ? 
Ý nghĩ hăng say đó làm Barbato nóng mặt. Rồi cả người cũng nóng ra vì máu chạy rần rật. Trời lạnh, gió rét là vậy mà hắn phải mở cổ áo, cởi bớt chiếc khăn len quấn cổ mà chính bà mẹ đã đan cho. 
Chỉ vì muốn làm một cái gì cho họ đỡ khổ … mà suốt hai tháng trời, bác sĩ Barbato đã làm đúng thiên chức cứu nhân độ thế. Cứ hai ngày một lần hắn đến nhà Lucia Santa nghe bệnh, chích thuốc, lại chịu khó thoa nắn những chỗ sưng đau nhức đến hai mươi phút, vừa làm vừa gợi lại những kỷ niệm ngày xưa. Bệnh mụ xem bộ đỡ dần nhưng ngồi dậy vẫn chưa nổi. 
Muốn mụ cố cho mau khỏi, Barbato phải nhắc tới Octavia, bảo nàng sắp ở viện bài lao về đến nơi mà về nhà thấy mụ đau liệt giường thì buồn quá. Sắp đến ngày đó hắn chích liên tiếp cho Lucia Santa mấy mũi vitamin và thuốc khỏe. Quả nhiên đêm trước bữa Octavia xuất viện, hắn thình lình bước vào nhà đã thấy mụ đang ngồi ủi một đống đồ ở dưới bàn nhà bếp. Mấy đứa con nít hớn hở ngồi vây quanh mẹ, đứa lăng xăng chờ mẹ sai chạy đi lấy nước, đứa gấp đồ phụ. Barbato hân hoan hỏi: 
– Thế nào … ủi đồ được là chắc hết bệnh rồi, phải không nào? Tốt lắm … 
Lucia Santa mỉm cười đáp lễ. Một nụ cười ẩn ý biết ơn … nhưng cùng lúc đó cũng muốn cãi lại rằng: “Cứ ủi đồ. Có bất cứ một việc gì phải làm … thì ốm gần chết cũng phải ngồi dậy như thường”. 
Điều đó hẳn bác sĩ Barbato chẳng lạ. Lúc sửa soạn chích thêm một mũi thuốc nữa, Lucia Santa khẽ hỏi bằng tiếng mẹ đẻ: 
– Bác sĩ … xin cho biết tôi thiếu bác sĩ bao nhiêu cả thảy? 
Gặp lúc trước thế nào ông bác sĩ cũng nổi giận … nhưng bữa nay Barbato chỉ mỉm cười mà rằng: 
– Tiền công ư? Bữa nào Octavia về nhà chồng bà nhớ cho tôi uống rượu là xong! 
Câu trả lời của bác sĩ Barbato hàm ý mừng cho gia đình này “sau cơn mưa trời lại sáng”, cuộc đời còn đáng sống và chịu đựng đau khổ chán chê rồi cũng phải có ngày hạnh phúc. Nghĩa là rồi đây dòng đời sẽ trôi êm ả, chuyện gì rồi cũng phải xong. Octavia sẽ lành mạnh và đám con nít sẽ khôn lớn dần.

Đường về Gia Nghĩa

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted on 29 Jan 2021

Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Kỳ 4

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi chọn vị trí đóng quân cho hai Ðại Ðội 1/82 và 3/82 cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 82 là một ngọn đồi nhỏ và hẹp nằm bên hướng Tây của Liên Tỉnh Lộ 8 B và cách vị trí pháo binh ba trăm mét về hướng Bắc.

Ngọn đồi này có lợi thế ngụy trang vì có cây cao che khuất tầm nhìn từ xa của địch.

Bên trái ngọn đồi này là một thông thủy tuy không sâu lắm, nhưng dốc hơi đứng, rất khó xung phong.

Chỉ còn một hướng chính Bắc là cần chốt chặn nơi ngã ba giao tiếp Liên Tỉnh Lộ và con đường xe be. Ông đại úy tiểu đoàn phó cùng với hai Ðại Ðội 2/82 và 4/82 sẽ trấn thủ cái ngã ba này.

Bố quân xong, tôi đang ngồi trên bãi cỏ ven đường chuẩn bị mồi một điếu thuốc lá thì một quân nhân tới đứng nghiêm chào xin trình diện. Người này chính là anh Trung sĩ Nguyễn Minh, mới được bổ sung.

Minh vừa xoa hai bàn tay vào nhau, vừa cười cầu tài, rồi năn nỉ tôi,

– Nhà em ở Nghi-Xuân, sau chuyến hành quân này Thái Sơn du di cho em nghỉ vài ngày thăm nhà.

Tôi gật đầu,

– Nơi này cách Nghi-Xuân hơn mười cây số thôi, nhưng đường lại bị Việt-Cộng đóng chốt. Chờ hôm nào bứng xong mấy cái chốt, trên đường về Gia-Nghĩa anh sẽ thả chú xuống, cho chú ghé thăm gia đình vài bữa.

– Cám ơn Thái Sơn! 

Minh lí nhí, chào tôi rồi lui về khu trú quân của đơn vị anh ta.

Hai phút sau Trung sĩ Minh quay trở lại, anh ta có vẻ như muốn nói với tôi chuyện gì đó.

Tôi mở lời,

– Gì đó Minh?

Minh gãi đầu, cúi gằm mặt xuống, miệng lí nhí,

– Dạ! Em muốn trình bày với Thái Sơn một chuyện.

– Có gì cứ nói đi! Tôi từ tốn.

Minh rụt rè nhìn tôi rồi ấp úng,

– Trình Thái Sơn! Em không phải là nội tuyến đâu! Em bị nghi oan!

Tôi lấy làm lạ, tại sao Trung sĩ Minh lại tự ý tới gặp tôi để nói chuyện này, vì tôi có để lộ cho anh ta biết rằng tôi đã đọc biết lý lịch của anh ta đâu?

– Nội tuyến cái gì? Ai nói chú là nội tuyến mà chú phải phân trần với anh?

– Dạ! Em nghe mấy anh bạn trong ban Truyền Tin của Liên Ðoàn 23 nói rằng em bị xuất ngành vì bị tình nghi làm nội tuyến.

– Chắc tụi nó đồn bậy đó! Ðừng có lo nghĩ gì cho mệt xác! Ở đây có anh! Anh tin rằng chú không làm bậy là được rồi!

– Em cám ơn Thái Sơn!

Miệng trả lời tôi mà đầu Minh vẫn cúi nhìn xuống đất. Vài phút sau anh trung sĩ ngửng mặt lên, tôi thấy hai dòng nước mắt đang lăn xuống má anh ta.

Tôi chợt thấy lòng xót xa. Người đứng trước mặt tôi không thể là một tay giỏi đóng kịch. Những giọt nước mắt kia chắc chắn là kết quả của những ưu tư, lo sợ, muộn phiền, và uất ức tạo nên.

Tôi chỉ tay xuống bãi cỏ trước mặt,

– Chú ngồi xuống đây anh có chuyện cần hỏi.

Minh từ từ ngồi xuống trước mặt tôi. Tôi bắt đầu tìm hiểu con người trước mặt với câu,

– Trước khi đi lính, chú có gia nhập đảng phái hay đoàn thể nào không?

– Dạ không! Em học xong chương trình Ðệ Nhất Cấp thì đi làm thợ hàn để giúp đỡ mẹ em. Tới năm 1971 em xin được cái Chứng Chỉ Ðệ Nhị rồi tình nguyện theo học khóa Hạ sĩ quan của trường Ðồng-Ðế. Ra trường, em được chọn về Biệt Ðộng Quân, rồi bị đưa đi Vũng-Tàu, thụ huấn lớp Hạ sĩ quan Truyền Tin. Mãn khóa học, em được phân phối về Ðại Ðội Truyền Tin của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, dưới quyền Ðại úy Táo. Ngày đó Thái Sơn còn là Ðại úy Trưởng Phòng 2.

Cựu Th/tá Trần Đình Đàng và cựu Th/tá Vương Mộng Long – 2004 USA 

Tôi đổi đề tài,

– Thân nhân của chú có ai đi tập kết không?

– Trình Thái Sơn! Bố em đi tập kết năm em vừa lên bốn. Em còn hai đứa em, một đứa em trai sinh năm 1952, một đứa em gái sinh năm 1953. Em không nhớ bố tên gì. Em đã nhiều lần thắc mắc với mẹ nhưng mẹ cứ trả lời rằng mẹ đã quên rồi! Trên giấy tờ thì mẹ khai tụi em có cha vô danh nên tụi em mang họ mẹ. Hiện thời mẹ em và hai em của em sinh sống ở Nghi-Xuân. Gia đình em vào đó từ thời cụ Diệm thành lập các khu Dinh Ðiền.

Tôi hỏi tiếp,

– Ở Ðại Ðội 2 Truyền Tin chú giữ công việc gì?

– Em là hạ sĩ quan mật mã, mỗi ngày em mã hoá các công điện gửi đi, giải mã các công điện mật từ nơi khác chuyển về.

– Chú có vào máy chuyển công điện hằng đêm, hằng ngày hay không?

– Dạ không! Từ tháng Giêng 1972 cho tới ngày có lệnh ra Liên Ðoàn 23. Ban ngày em chỉ làm công tác chuyên môn, ban đêm em phải trực gác pháo đài hay cổng chính của đại đội.

Tôi vỗ vai Minh ôn tồn,

– Ðược rồi! Anh sẽ giải oan cho chú! Chú về lều đi! Ðừng lo nghĩ gì nữa!

Sở dĩ tôi quả quyết người hạ sĩ quan này không phải là kẻ gian chỉ vì ngay từ đầu, tôi chưa cật vấn, anh ta đã thành tâm, tự ý cho tôi biết gia phả của anh ta.

Anh ta không phải là người trực tiếp chuyển công điện; nếu anh ta muốn chuyển tin cho địch bằng phương cách khác thì cũng vài ba ngày sau, tin mới tới tay người nhận.

Trong khi đó thì, hằng đêm, các đài kiểm thính của ta đều báo cáo rằng Việt-Cộng có trong tay toàn bộ điểm đóng quân đêm của các đơn vị Biệt Ðộng Quân Vùng 2 chỉ vài giờ sau khi Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gửi bản tổng kết lên Quân Ðoàn II.

Trước đây, mỗi lần về Pleiku, tôi thường vào gặp Ðại tá Tất để lưu ý ông chuyện này. Ông Tất đã ra lệnh cho Phòng An-Ninh của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 mở những cuộc điều tra theo dõi những kẻ tình nghi.

Ðã xảy ra nhiều chuyện thay đổi nhân sự ở các phòng, ban liên quan tới đặc lệnh truyền tin hay khóa mật mã.

Trung sĩ Nguyễn Minh và một vài nhân viên văn phòng khác đã bị xuất ngành và thuyên chuyển lâu rồi, mà tình trạng tin tức bị tiết lộ vẫn còn tiếp tục thì nhất định người chuyển tin cho địch vẫn chưa bị phát giác.

Tôi có cảm tưởng rằng, tên nội tuyến ấy vẫn còn sống phây phây đâu đó ngay trong Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 ở Pleiku chứ không đâu xa.

Bốn mươi năm sau chiến tranh, ở Mỹ, qua điện thoại, ông Cựu Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 than phiền với tôi rằng ông không ngờ viên Ðại úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 lại là một thượng úy nội tuyến của Việt-Cộng!

Trong hai ngày 25 và 26 tháng 9 có ít nhất năm, sáu vụ bắn tỉa nhắm vào Căn cứ Ðạo-Trung.  Về phía Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân không có đe dọa gì. Có thể vì chúng tôi tới đây bằng chân, không có xe cộ rầm rộ, nên địch chưa phát giác ra vị trí trú quân của tôi. Lý do thứ nhì là anh em chỉ nấu nướng một lần vào lúc chạng vạng tối, sương mù che khói lửa, địch không nhìn ra.

Trưa ngày 27 tháng 9 năm 1974 Ðại tá Từ Vấn đáp xuống mặt tỉnh lộ, cách lều của tôi vài chục thước.

Sau ba ngày nghỉ phép đặc biệt ở Sài-Gòn, ông Vấn đã bay ra Nhơn-Cơ bằng Air Việt-Nam rồi nhờ trực thăng của Ðại tá Nghìn để tới đây.

Máy bay vừa trở đầu cất cánh thì phòng không Việt-Cộng đã “Choang choác!” từ khe suối bên hướng Tây bắn sang.

Ông đại tá chạy vội vào lều của tôi rồi lấy máy truyền tin của tôi để ban lệnh cho các đơn vị thuộc quyền.

Nửa giờ sau, bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Bùi Ngọc Long phải di chuyển sang trú quân trên một ngọn đồi ở hướng Ðông liên tỉnh lộ để nhường chỗ cho Biệt Ðộng Quân thiết lập Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Ðoàn 24.

Trong khi các quân nhân Biệt Ðộng Quân đang căng võng đào hầm, thì đạn đại bác của Cộng-Quân từ hướng Tây ào ào bay tới. Gần hai chục viên 105 ly đã rơi trên mặt Liên Tỉnh Lộ 8B, may mắn là không có ai bị thương.

Chiều 27 tháng 9 năm 1974 tôi được lệnh sang Căn cứ Ðạo-Trung để họp hành quân.

Cựu Th/tá Vương Mộng Long và cựu Tr/tá Hoàng Kim Thanh – USA 2007

Trong phòng họp chỉ có năm người cầm đầu liên đoàn. Ðại tá liên đoàn trưởng mở đầu buổi họp với giọng thật là nhỏ nhẹ,

– “Tông Tông” bắt tụi mình phải khai thông con đường này trước ngày lễ thành lập Quân Ðoàn II để ổng ra thăm Pleiku và Quảng-Ðức, rồi gắn huy chương cho các chiến sĩ hữu công. Ông Nghìn cho mình 10 ngày, nhưng tôi thấy, nếu cố gắng, mình có thể hoàn tất công việc này trong vòng một tuần.  (Tông Tông: Tổng Thống)

Nghe ông liên đoàn trưởng ban lệnh, tôi nhớ lại, trong buổi họp hành quân cách đây ba ngày thì, Tiểu Ðoàn 63 sẽ là nỗ lực chính, còn Tiểu Ðoàn 82 là thành phần trừ bị, tôi bèn giơ tay vỗ nhẹ lên vai Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, để an ủi,

– Ông tổng thống ra lệnh hoàn thành công tác trong vòng 2 tuần lễ, tức là 14 ngày, ông tỉnh trưởng rút xuống còn 10 ngày, ông liên đoàn trưởng trả giá thấp chút nữa thành …7 ngày! Thế thì kỳ này niên trưởng Ðàng của tôi hơi mệt đó!

Tôi kêu Thiếu tá Trần Ðình Ðàng là “niên trưởng” chỉ vì ông thiếu tá này xuất thân từ Khóa 15 Ðà-Lạt, ngang vai với các ông thầy dạy tôi trong trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.

Nào ngờ tôi vừa dứt lời, Ðại tá Từ Vấn đã giơ tay, quơ quơ trước mặt,

– Khoan! Khoan! Các ông im lặng nghe tôi nói đây! Lệnh hành quân bây giờ đổi lại là, Tiểu Ðoàn 82 sẽ đảm nhận vai trò nỗ lực chính, dồn sức bứng các chốt chặn hướng Tây tỉnh lộ; Tiểu Ðoàn 81 có nhiệm vụ thám sát mặt lộ, rà mìn và đặt các trạm an ninh; Tiểu Ðoàn 63 vì có ông tiểu đoàn trưởng mới từ Vùng 3 thuyên chuyển ra, chưa quen địa thế Vùng 2 nên được đi sau bộ chỉ huy liên đoàn và là thành phần trừ bị!

Tôi sững người ngồi im không phản ứng ngay được. Sao lại có chuyện kỳ vậy nè? Rõ ràng ba ngày trước ông Vấn nói, vì chúng tôi mới bị vây lâu ngày, có nhiều người chết và nhiều người bị thương chưa xuất viện, nhiều tân binh vừa bổ sung chưa quen trận mạc, nên ông ta cho 82 làm trừ bị, nay chẳng hiểu vì duyên cớ gì mà đột nhiên ông ta đổi ý bắt 82 làm nỗ lực chính?

Tôi đứng dậy, trợn mắt nhìn Ðại tá Vấn, rồi lớn tiếng,

– Ba ngày trước Ðại tá cho tôi làm trừ bị, ba ngày sau ông lại bắt tôi “húc” ông làm cái gì mà kỳ vậy?

Thấy tôi nổi dóa, Ðại tá Từ Vấn bèn ra dấu cho hai vị tiểu đoàn trưởng kia lui ra rồi đấu dịu,

– Không phải trận này anh cố ý ép Long. Chỉ vì anh biết khả năng hai ông tiểu đoàn trưởng kia không thể hoàn thành công tác đúng thời hạn mà tổng thống giao, rồi cuối cùng chú vẫn phải vào trận. Chi bằng anh giao việc này cho chú ngay từ đầu.

Tôi vùng vằng bước ra khỏi phòng họp, cúi đầu đi về lều, không thèm đôi co thêm tiếng nào.

Lúc đó mặt tôi nóng bừng bừng, hai tay run lên vì giận. Rõ ràng ông Vấn là một cấp chỉ huy không công bằng! Trận Pleime tiểu đoàn tôi chịu trận hơn một tháng trời, bị chết chóc, thương tật cả trăm người, Tiểu Ðoàn 81 đánh nhau vừa đúng một ngày thì tan hàng, bỏ chạy, Tiểu Ðoàn 63 từ ấy tới nay không phải bắn một phát súng nào vì cứ núp ở đàng sau xa.

Nay thấy lệnh của tổng thống ban ra, các ông chỉ huy sợ không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bị khiển trách nên bắt Tiểu Ðoàn 82 “húc” tiếp!

Tới sẩm tối, thằng Bích vào báo cho tôi hay trung tá liên đoàn phó đang đứng dưới đường chờ vào gặp tôi có việc cần. Tôi bảo nó,

– Mi xuống nói với ông trung tá rằng thiếu tá mệt, đi ngủ rồi!

Vừa lúc đó Trung tá Hoàng Kim Thanh đã chui vào lều, ngồi nơi đầu võng của tôi, vừa cười vừa nói,

– Bớt nóng đi chú em! Anh sang nói chuyện với chú vài phút, nghe xong, chắc chú sẽ hết giận ngay thôi!

Tôi miễn cưỡng ngồi dậy,

– Anh có gì cần thì nói đi! Tôi bực cái ông Vấn này quá! Tiền hậu bất nhất!

Trung tá Thanh ra dấu cho Binh 1 Nguyễn Bích đi ra ngoài, rồi hạ giọng,

-Trưa nay anh và ông Hai Lẻ Chín có họp riêng với Ðại tá Nghìn. Ông Nghìn cho biết nếu không khai thông được con đường này đúng thời hạn thì ông ta sẽ mất việc, nên ông ta cứ nài nỉ ông Vấn cố gắng lên. (Hai Lẻ Chín hay 209, là danh xưng truyền tin của Ðại tá Từ Vấn)

Tôi cự nự,

– Bộ cứ sợ ông Nghìn bị mất việc là các ông bắt tiểu đoàn tôi phải đâm đầu vào chỗ chết hay sao?

– Không phải thế đâu! Anh với ông Vấn sợ Thằng 63 vào trận, chưa chi đã chạy thì quân ta sẽ mất tinh thần. Việc này sẽ ảnh hưởng tâm lý tới các tiểu đoàn khác. Cuối cùng cũng phải nhờ tới chú. Chi bằng cho chú đánh từ đầu, chắc chắn sẽ xong việc thôi!

– Thế còn Thằng 81?

Anh Thanh lắc đầu,

– Sau khi thằng Lân (Tiểu đoàn trưởng 81) bị Việt-Cộng chặt đầu, thằng Ngọc (Tiểu đoàn phó 81) mất tích, thì tinh thần binh sĩ của Tiểu Ðoàn 81 sa sút trầm trọng lắm! Không còn ngon lành như trước đây nữa đâu! Chúng nó đang chờ ngày đi tái huấn luyện dưới Dục-Mỹ.

Đường về Gia Nghĩa

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 22 Jan 2021

Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp

Kỳ 3

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Thành gãi đầu,

– Trình Thái Sơn, em đã thử nhiều lần lắm rồi mà chưa bỏ được. Kỳ này gặp lại ông thầy, nghe ông thầy khuyên bảo, em sẽ cố gắng thêm! Chắc chắn em sẽ làm được!

Trong khi ngồi chờ giờ xuất phát, tôi hỏi thăm Thành về gia đình chú ấy.

– Thế nào? Cô vợ 16 tuổi người Blao của chú bây giờ ra sao?

Bất ngờ bị tôi nói trúng tim đen, Phan Thành trố mắt,

– Ít ai biết vợ em lấy em khi mới 16 tuổi. Làm sao Thái Sơn lại biết chuyện này?

– Năm 1968 ở Blao, trên cái giấy cho phép con gái vị thành niên lấy chồng của ông bố vợ chú có chữ ký của người làm chứng là Trung úy Vương Mộng Long! Bố vợ chú là bác Phát làm nghề hái trà ở Tân-Hóa. Vợ chú là bạn thân của cô Sen, con gái bác Tần!

Nghe tôi trả lời, Thành ngẩn người ra một phút rồi cầm tay tôi lắc lắc mấy cái,

– Vậy mà em không biết chuyện này! Phải công nhận rằng không có việc gì xảy ra ở Tiểu Ðoàn 11 mà qua được đôi mắt của Thái Sơn.

Một phút sau, Thành cúi mặt, rầu rầu,

– Tụi em đã có hai đứa con, một trai, một gái. Cháu lớn lên ba, cháu nhỏ mới thôi nôi. Ông cụ thân sinh của vợ em vừa qua đời năm ngoái.

Nghe Thành nói, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ tới ông bạn già làm nghề hái trà ở Tân-Hóa. Mỗi lần tôi đi qua trước cửa, ông đều niềm nở mời tôi vào nhà uống trà và nói chuyện thời sự cho vui. Ông già goá vợ, có ba cô con gái, không có con trai. Vợ của chú Thành là người con lớn nhất.

Trước giờ toán Viễn Thám 822 và trung đội của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân xuất phát, tôi cho lệnh Ðại Ðội 3/82 của Thiếu úy Hổ xuống núi, đóng quân trong vòng rào kẽm gai của Liên Ðoàn 23. Nếu tình hình biến chuyển không êm xuôi, quân tiền phương chạm địch nặng, thì tôi sẽ cùng Ðại Ðội 3/82 và chi đội chiến xa M41 lên tiếp cứu.

Tối đó tôi và Trung tá Nhu ngồi hút thuốc chờ tin bên hai cái máy vô tuyến trong hầm trú riêng của ông.

Khoảng chín giờ đêm có tiếng ì ầm của lựu đạn nổ từ hướng đồi 631. Hai phút sau, một hỏa châu cầm tay được phóng lên trời, đây là dấu hiệu của 822 báo đã chiếm xong mục tiêu.

Suốt đêm, Toán 822 đã tắt máy để tránh bị lộ, nhưng tôi yên chí rằng toán này không bị thiệt hại gì.

6 giờ sáng ngày 20 tháng 9 tất cả các đài vô tuyến của các đơn vị tham chiến đều lên máy. Một giờ sau thì trung đội của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân hoàn tất công tác trải quân phòng thủ Tiền đồn 631.

Chưa tới 8 giờ sáng ngày 20 tháng 9, Toán 822 về tới chân núi Chi Kara, tôi và Ðại Ðội 3/ 82 đang chờ ở đây.

Trưa 20 tháng 9 Trung tá Hoàng Thọ Nhu gọi máy cho tôi để thông báo rằng ông sẽ gửi cho Hạ sĩ Nguyễn Ba và hai anh Viễn Thám viên của Toán 822 mỗi người 5 nghìn đồng và một Bằng Tưởng Lục Cấp Trung Ðoàn.

Ngày hôm đó Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II được tin báo rằng trong đêm 19 tháng 9 Tiền đồn 631 đã bị một đại đội địch tấn công, quân trú phòng đã anh dũng đẩy lui quân địch, địch phải rút lui và để lại…nhiều vũng máu.

Chiều hôm đó tôi xuống núi, ghé thăm Trung tá Nhu. Ông Nhu úp mở,

– Anh có lệnh trả chú lại cho ông Vấn. Hình như chú sắp nhận lệnh đi xa. Chắc đi khỏi đây rồi, chú sẽ nhớ Pleiku lắm nhỉ?

Nói xong câu này ông Nhu nhìn tôi, cười hóm hỉnh. Tôi không rõ ông niên trưởng này có ý gì, nên uống hết ly trà, tôi đứng lên cáo từ. Ðêm 20 tháng 9 năm 1974, khuya lắm rồi, mà tôi vẫn còn ngồi trên mỏm đá cao, bên sườn núi Chi Kara nhìn về Pleiku. Ðèn Pleiku rực sáng một vùng trời. Tôi đã là cư dân của Pleiku một thời gian gần mười năm dài. Tôi đâu biết rằng hai ngày nữa tôi sẽ phải đem quân xa rời nơi ấy. Tôi cũng không ngờ, xa Pleiku lần này, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ chẳng bao giờ quay trở lại…

Vợ chồng cựu Th/tá Vương Mộng Long và vợ chồng cựu Đ/tá Từ Vấn

o O o

Chiến trường réo gọi…

Chiều 21 tháng 9 tôi được lệnh rút về Pleiku. Hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân cũng vừa được triệu tập về đây một ngày trước đó.

Tối 21 tháng 9 Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân gọi điện thoại báo cho tôi biết có lệnh cho liên đoàn chuẩn bị đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B để giải tỏa áp lực địch trên đoạn đường từ Ðức-Lập tới Gia-Nghĩa.

Chúng tôi có trọn ngày 22 tháng 9 để tái trang bị và tiếp tế, sáng 23 tháng 9 năm 1974 chúng tôi lên đường.

Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đi trên những chiếc xe dẫn đầu của đoàn công voa.

Vì Quốc Lộ 14 bị Việt-Cộng quấy rối vùng Bắc Ðèo Tử Sĩ nên chúng tôi phải rẽ vào Liên Tỉnh Lộ 7 B rồi quẹo phải, đi qua Thuần-Mẫn, tiến tới Buôn Blech rồi nhập vào Quốc Lộ 14. Vì thế, chúng tôi tốn nhiều thời gian hơn là đi thẳng từ Phú-Nhơn.

Chiều ngày 23 tháng 9 năm 1974 chiếc xe cuối cùng của chúng tôi có mặt ở Ban Mê Thuột. Toàn thể quân nhân của liên đoàn và đoàn xe chuyên chở chúng tôi đều tập trung trong khuôn viên doanh trại của Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.

Sau khi sắp xếp nơi ăn ngủ cho anh em, tôi lên xe về nhà. Nhà tôi nằm trên đường Hàm Nghi, cách hậu cứ Liên Ðoàn 21 chừng một cây số.

Trời sắp tối xe của tôi mới ngừng trước cổng.

Vợ tôi ít khi đi ra ngoài, nên nàng không biết Liên Ðoàn 24 đã vào thành phố từ lúc ban trưa.

Từ tháng 4 tới nay, đã gần nửa năm, sau khi tham dự hai trận đánh ác liệt nhất năm 1974 của Vùng 2, tôi mới có dịp ghé thăm nhà.

Cũng như bao lần trước, mỗi khi tôi từ mặt trận trở về, vợ tôi đều vòng tay ôm tôi, mặt nàng úp vào ngực tôi, những ngón tay nàng liên tục nhịp nhịp nhè nhẹ sau lưng tôi, miệng nàng không ngừng thì thầm, “Mình ơi! Mình ơi! Mình ơi!”  

Ôm hôn vợ xong, tôi quay sang bồng đứa con gái nhỏ nhất. Bé Tiên Giao của tôi sinh ra đúng ngày Căn cứ 711 do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19 trấn giữ đã bị Sư Ðoàn 320A của Cộng-Sản tấn công và tràn ngập.

Hôm đó tôi đã trải qua một trận đánh xáp lá cà. Vừa thoát ra khỏi vòng vây, tôi được Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đang bay trên trời thông báo rằng:

“Ông già vợ của chú vừa báo cho ta hay, vợ chú vừa đẻ đứa con gái thứ ba!”

Tiếp đó là trận Pleime 33 ngày đêm dầm mưa, đội pháo.

Mãi tới giờ này, tôi mới có dịp ôm trong tay đứa con bé bỏng của tôi.

Vợ tôi ôm vai tôi, rồi đưa tay vỗ nhè nhẹ vào mông em bé,

– Bé Tiên Giao hay khóc giữa đêm, em phải lấy cái áo mayor của mình đắp cho con, con hết khóc.

Vợ tôi thường nghe các cụ nói rằng, khi em bé đi ngủ, thì lấy áo của bố nó đắp cho nó, nó sẽ ngủ yên.

Tin lời các cụ, nên vợ tôi vẫn làm như thế…

Võng đong đưa, sợ con trẻ giựt mình,

Em ủ cho con hơi ấm áo anh…

(Thơ Vương M Long)

Không biết có phải cái tình phụ tử vô hình đã báo cho con tôi biết rằng bố nó đang ôm nó hay không, mà con bé cứ quơ quơ hai bàn tay tí hon, mũm mĩm của nó sờ sờ, vuốt vuốt, mặt bố nó.

Ðôi mắt con bé tròn xoe, mở lớn, miệng nó cứ, “bi bô, bi bô”, ra chiều đang vui thích lắm.

Hai đứa chị nó, một đứa ba tuổi, một đứa lên hai, cũng cố lấn vào ôm chân bố, chờ bố chúng nó cúi xuống vỗ về…

Tính nhẩm lại, tôi được gần vợ, gần con chỉ vài giờ đồng hồ, vì chưa tới 4 giờ sáng hôm sau tôi đã phải thức dậy, thay quần áo rồi vào trại kiểm quân, chuẩn bị lên đường.

Tôi lên xe, các con tôi còn say ngủ. Sau lưng tôi, chỉ có đôi mắt của người vợ trẻ dõi trông theo…

Ðời chiến binh, hạnh phúc gia đình của chúng tôi được tính từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây…

Ðêm hôm đó, trên trời Ban Mê Thuột, sương mù đã che khuất mảnh trăng non.

Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã,

Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ,

Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời.

Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội.

Ta chỉ biết nói lời xin lỗi!

Ðã để cho Em một mình đi biển mồ côi…

Ta ôm con vào lòng, bé bỏng con tôi!

Ta chỉ bên Em, bên con, vài giờ ngắn ngủi.

Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi…

Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường,

Ðể lại Bé, để lại Em và thành phố sau lưng…

Tuổi trẻ, một thời để yêu

Tuổi trẻ, một thời để chết

Mùa Xuân ra đi biền biệt…

Ngày xanh, tuổi trẻ của ta…

Ta đã cho quê hương tất cả!

(Thơ Vương M Long)

8 giờ sáng ngày 24 tháng 9 năm 1974, đoàn công voa chuyển quân khởi hành, dẫn đường là hai chiếc xe V100 của Tiểu Khu Darlac (Darlac là tên trước 1975, sau 1975 là Dak Lak) kế đó là chiếc Jeep của tôi.

Thời gian này gia đình binh sĩ của Liên Ðoàn 24 còn ở Pleiku, nên hai bên đường chúng tôi đi qua, không có ai vẫy tay chào tạm biệt.

oOo

Vào vùng…

Trưa 24 tháng 9 đoàn xe chuyển quân tạm dừng trước cổng Chi Khu Ðức- Lập vài chục phút đồng hồ để các sĩ quan chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân vào quận đường nhận lệnh hành quân từ ông Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng, kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Trong thời gian chúng tôi họp ở hội trường của Quận Lỵ Ðức-Lập thì anh em binh sĩ tản vào các quán xá hai bên đường nghỉ mệt.

“Tổng thống ra lệnh, trong vòng hai tuần lễ, chúng ta phải khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B để tiếp tế cho Quảng-Ðức và Phước -Long. Tôi cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thời gian ba ngày để chuẩn bị, sau đó phải hoàn tất công tác này trong mười ngày!”

Sau khi lớn tiếng kết thúc buổi họp hành quân, ông tỉnh trưởng vội vã cất bước ra đi, mà chẳng thèm bắt tay giã từ ai.

Ngay sau đó, Ðại tá Từ Vấn đứng dậy giơ hai tay lên trời,

– Ông liên đoàn phó và ba ông tiểu đoàn trưởng ngồi lại đây bàn chuyện, các sĩ quan khác giải tán.

Hai phút sau khi ông Ðại tá Nghìn khuất dạng, trong hội trường chỉ còn lại năm sĩ quan của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn phó, Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân, và tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống ghế thì Ðại tá Vấn đã lớn tiếng phân công,

– Kỳ này Tiểu Ðoàn 63 sẽ đảm nhận vai trò nỗ lực chính, dồn sức bứng các chốt chặn hướng Tây tỉnh lộ; Tiểu Ðoàn 81 có nhiệm vụ thám sát mặt lộ, rà mìn và đặt các trạm an ninh; Tiểu Ðoàn 82 vừa đánh Pleime xong, có nhiều tân binh mới được bổ sung, chưa quen chiến trận, sẽ đi sau bộ chỉ huy liên đoàn và là thành phần trừ bị.

Lệnh hành quân sẽ được đánh máy và gửi cho các đơn vị ngay chiều nay.

Sau đây, tôi nhờ trung tá liên đoàn phó trông coi liên đoàn giùm tôi, tôi có việc phải bay về Sài-Gòn, ba ngày nữa tôi sẽ ra chỉ huy. Thôi! Giải tán!

Sau đó bộ chỉ huy liên đoàn và hai tiểu đoàn bạn xuống xe, tạm trú trong vòng đai Quận Ðức-Lập.

Riêng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, vì là thành phần trừ bị, nên tiếp tục hành trình, để chiếm lĩnh đầu cầu, đồng thời cũng là tuyến xuất phát.

Ðiểm tới của đơn vị tôi sẽ là Căn cứ Hỏa lực Ðạo-Trung

Tới ngã ba Dak Son tôi dừng xe để hỏi thăm tin tức của đơn vị giữ đường.

Ông chỉ huy đơn vị khai lộ đang nằm trên cái võng tòn ten dưới bóng cây, nghe biết tôi đang tìm ông ta thì ông ta vội vã chạy ra đường,

– Chào niên trưởng, niên trưởng có khỏe không?

Thì ra đơn vị giữ đường ngày hôm đó là Tiểu Ðoàn 3/53 Bộ Binh của Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn, Nhẫn là Võ-Bị Khóa 21, đàn em của tôi.

– Ðường từ đây vào Ðạo-Trung có yên không chú? Tôi hỏi Nhẫn.

– Bảo đảm trăm phần trăm! Em giữ đường! Niên trưởng yên chí!  Thiếu tá Nhẫn nhìn tôi, rồi vừa cười vừa nói.

Trong trận Pleime 33 ngày đêm hồi tháng 7 và 8 vừa qua, đơn vị của chú Nhẫn là một trong hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh vào giải vây cho tôi.

Tiểu Ðoàn 1/53 bị thiệt hại nặng, Tiểu đoàn trưởng là Ðại úy Nguyễn Dương Lâm, Khóa 19 Võ-Bị tử trận.

Tiểu Ðoàn 3/53 của Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn cũng phải bỏ chạy cùng với Bộ Chỉ Huy Nhẹ của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh do Trung tá Trần Nguyên Khoa, Khóa 18 Võ-Bị chỉ huy.

Ngồi chơi với chú Nhẫn vài phút, tôi cho lệnh tiếp tục.

Còn cách Căn cứ Ðạo-Trung gần một cây số tôi cho xe ngừng lại, mọi người xuống đi bộ; đoàn xe trống trở đầu, quay về Ðức-Lập,

Căn cứ Hỏa lực Ðạo-Trung nằm trên một ngọn đồi trọc, ngay một khúc quanh của Liên Tỉnh Lộ 8 B.

Hiện thời căn cứ này có 4 khẩu 105 ly và do một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân giữ an ninh. Vị tiểu đoàn trưởng Ðịa Phương Quân này là Thiếu tá Bùi Ngọc Long chuyển ngành từ Lực Lượng Ðặc Biệt. Tôi chỉ nhớ mang máng rằng ông thiếu tá này tốt nghiệp Khóa 5 hay Khóa 6 Thủ-Ðức.

Thiếu tá Bùi Ngọc Long cũng là dân Bắc Di Cư, lớn hơn tôi cả chục tuổi. Ông khuyên tôi nên cẩn thận khi di chuyển hay đứng trên các mô đất cao, vì ở đây ngày nào cũng bị địch bắn tỉa.

Ðịch ở cách ta chỉ một con suối và một cái thung lũng cạn. Bên kia thung lũng trên mặt đường xe be, sát bìa rừng còn vài cái xác của chiến sĩ bộ binh bị bỏ lại, trong đó có một chuẩn úy.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 27 th.10-1993. 13 th.9 Quí Dậu)

Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 20

Ngày Giỗ Tổ Đã Qua, Nhớ, Tiếc Và Thương Muộn Hai Nữ Nghệ Nhân Xấu Số

Kính gởi Nguyễn Ngọc Linh

Phó tổng biên tập báo Sân Khấu,

5B Võ Văn Tần, TP. HCM

(để tùy nghi đăng nếu được nơi số Xuân 1994 càng quí.

Thân và xin đa tạ. Sển)

Ngày giỗ Tổ năm Quí Dậu đã qua và tiếc không được dự, muốn dự cũng thật khó, vì diễn hai chỗ, lại bữa nay chỉ còn quen biết và thân có ba người, một bà Bảy 1 (bà P.H), tôi kính trọng, một Thành Tôn và một Đinh Bằng Phi, còn lại số ngàn, đều xinh đều hay, thân già quá mùa, đến cúng thì đã qua ngày, Tổ dự nơi nao?

1) Nay nhớ một người xuân sắc đang thời, nhưng tại sao quá xấu số? Thanh Nga.

Sơ khởi, tôi đụng đầu một luật sư người Bắc, trẻ trung, gặp nơi tòa soạn báo Bách Khoa đường Nguyễn Đình Chiểu, ông bắt tay, nói tiếng Pháp:

– Nous sommes cousin.

Tôi cự nự, đáp gọn:

– Depuis quand? (Từ lúc nào?)

Luật sư nói gọn:

-Thì ông có bà Năm Sa Đéc, tôi có Thanh Nga, cả hai đào hát thì ông và tôi, cột chèo, lái trước lái sau, anh em không thúc-bá thì cô-cửu, được lắm chứ!

Tôi vội bắt tay, gọn lại:

– D’accord: Xin đồng ý. Rờ bủa-xua, Re bonjour lần nữa.

Rồi một phen là giỗ Tổ năm 1969, một phen khác nữa, vào dịp mừng gánh Thanh Minh-Thanh Nga, được bà Thơ ký giấy mời và được Thanh Nga gọi Papa ngọt xớt và được tặng cuốn sổ Kỷ niệm mười lăm năm “sống mạnh”, cuốn sổ nầy tôi cho là “vô giá, có một không hai” vì có mang chữ ký đủ mặt khách dự, nhưng than ôi, nay chữ ký còn đó mà người ký như sao rụng trên nền trời buổi bình minh còn lại không mấy ngoe, và chỉ thẹn cho mình sống dai làm chi với cái tài “giỏi ăn cơm chực”… Rồi một phen khác nữa là ngày anh em lương hữu, thỉnh lời anh Khai Trí, đi chúc Thọ dịp Tết cho Nguyễn Thành Châu và vì khách dự đến chưa đủ mặt nên tạm cùng nhau lấy nhà của Phạm Duy dừng chơn, anh em có mặt yêu cầu Thanh Nga cho nghe giọng oanh vàng, T.N. làm nũng, than không thuộc và bắt chồng chạy về nhà lấy cuốn sổ tay,… nhưng kể đến đây cũng khá vừa, đủ thấy tuy tuổi già nhưng trí nhỡ có thừa… Bỗng một buổi sáng sớm có tin đến nhà: cô Thanh Nga đi hát, bận trở về nhà đã bị một thất phu thiếu giáo hóa bắn tử thương, chở đến nhà thương cứu cấp không kịp lẹ và có lẽ đã không tiếp máu kịp thời, sáng hôm sau tin dữ đế n nhà, Năm Sa Đéc đi xe xích-lô đến nơi chia buồn cùng bà Thơ, chuyến về nhà, tôi còn nhớ mấy câu gọn-lỏn:

– Tội nghiệp và thảm thương quá: nó nằm phê phê như ngủ, mặt chưa rửa, phấn son đẹp tươi như tiên nga, áo quần chưa thay… nếu cứu tiếp kịp thì… thật là đáng tiếc và tội nghiệp!

Mấy lời cục mịch của Năm Sa Đéc mà tôi cho là thành thật, tự đáy lòng, đã cùng đứng chung với nhau hôm nào trên sân khấu, cần gì lựa chọn và xếp đặt?

Trưa hôm đám tang đưa đến nhà hội của nghệ sĩ đặt tại đường Trương Minh GIảng cũ (nay là đường Lê Văn Sỹ), tôi có việc gấp vô nhà anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, bận đi xe lam từ bến Dương Công Trừng chạy hướng về Gia Định (Bà Chiểu), xe đến ngã Tư thì kẹt đường, thiên hạ, người hiếu kỳ cùng với kẻ chơn thành đưa đám, chật nghẹt như nêm, lúc ấy binh Giải phóng vào đây chưa lâu, lòng dân xao xuyến chưa biết muốn gì, trật tự không giữ xuể, xe ngừng bánh gần đôi giờ mới bắt đầu nối tiếp chạy và về vừa tới cầu Đakao thì có một nữ bộ hành xin xuống. Lúc ngồi trên xe, tôi có nghe lóng cô nầy phê bình, tôi nghe ba tiếng “…Chỉ quá chời” tôi phân vân không nhịn được và xin cô dừng lại cắt nghĩa cho nghe hai chữ “quá chời…”, cô nầy ngồi bệt xuống sàn xe, hối hả nói: “Thôi bác ơi, xin để cho tôi xuống cho kịp xe chạy, … chị Thanh Nga một tuổi với tôi, ông Úy chỉ cũng bắt, ông Tá chỉ cũng nuốt, ông Tướng chỉ cũng không chừa, chỉ lấy chồng luộc sạp, không chừa mặt nào, tôi nói “quá chời” hiểu là “quá Trời”, chào bác xin cho tôi xuống, không khéo tôi tưới ướt sàn xe bây giờ!”

Lại một câu nói trổng, không xúc phạm vong linh người đã mất đâu, và tôi đã hiểu nghĩa Thanh Nga như xiết bao hồng nhan bạc phận khác, không khác bông tươi hoa đẹp làm mồi cho quân tướng sai giữ nhà giữ nước mà chỉ biết ăn cắp của công lấy tiền nuôi gái, đứa làm bến cảng Nhà Rồng, lấy tiền thuế bỏ túi cho em, đứa khác trộm xi măng rồi cho tàu xà lan chìm, đứa lấy sắt đúc nhà để nay nhà về tay khác ở, và nay tôi rõ ra rồi, trời hỡi trời, trăm ban vạn sự chỉ có ông là gánh nổi, khá khen ông mạnh chở, và xin chở giùm chúng tôi buổi nầy, làm giàu mau là làm giàu quá trời, ngủ quá trời là ngủ không bao giờ thức, mau quá trời, dữ quá trời, và tóm lại ngu như tôi có quá trời hay không, hèn chi thuở trước Tôn Thọ Tường làm thơ tự thuật ông cũng viết hai câu chót vĩ thân mình như thân Kiều: “Chẳng trách chi Kiều, trách Hóa-công”, mà thiệt mà, trách Kiều ắt có người bênh, chỉ trách Hóa-công, và Hóa-công, tức ông Trời, một lần nữa, “Trời hỡi trời, xin Trời cứu khổ cho chúng tôi với!”

Tôi cà-kê vì tôi chỉ biết lượt-bượt đã quen, và một lần nữa, nếu có mấy lời xúc phạm danh tiếng Thanh Nga, tôi không ý xấu và chỉ muốn nhấn mạnh người nhà binh Mỹ-Ngụy không làm tròn phận sự, để khó để nghèo cho chúng tôi.

2) Một nữ tài hoa khác, nay nhắc lại đây mà ứa nước mắt, người có biết cho tôi đây chăng? Tôi đã viết nhiều trong tập Hồi ký 50 năm mê hát, (Nhà Phạm Quang Khải xuất bản năm 1968), Giải phóng vô năm 1975, sách bán không chạy, đem đón các rạp Sài Gòn Bà Chiểu,rao giá một đồng (1$00) sách không người mua, để chật nhà, sợ mối gặm, tôi phải cho phải ép chúng bạn lấy bớt nay không còn một cuốn sách rách để tặng anh em, và tôi xin trích vài đoạn về nường, hồn có linh xin chứng!

Nường hay nàng, có học trường Áo Tím (nữ trung học Gia Long), học chưa thành tài đã bị đuổi học, cha mẹ từ bỏ, nàng lãng mạn thả cầm-thơ, cậy sắc cậy tài, đã có lúc nổi danh một thời, đóng vai chánh trong tuồng “Tối độc phụ nhơn tâm” do giáo viên Phạm Công Bình, (ông Bình nầy lúc thi đậu bằng thành-chung, có một nữ con nhà giàu hứa kết hôn rồi phụ tình, ông Bình ra Hà Nội học ba năm trường Cao đẳng Sư phạm, thi đậu về làm giáo sư dạy môn Pháp văn nơi trường Trung học Chasseloup-Laubat), nhớ lại chuyện cũ, viết tuồng cho học trò trường Huỳnh Công Phát ở Cầu Muối học tập để diễn dịp bãi trường, nàng được mời thủ vai đào chánh, rồi bèo nước nàng chuyền qua tay nhiều học sanh Trung học thuở ấy, nhưng người nàng quen, họ Mã và Thúc Sanh thì nhiều và nàng không gặp một ông Từ Hải nào, một anh sau làm thơ ký tư cho ông Thơ, phó tổng thống của ông Diệm rồi cũng phang tay, lúc tôi còn độc thân, lối năm 1926, nói ra đây không có ý khoe, tôi có làm gan hỏi nàng có ưng làm bạn kết tóc, nhưng nào quá cao thượng, thú thật: “Em đã không còn xứng đáng và em không muốn làm hư đời cho một người như anh!”. Nhưng than ôi! Nếu em còn em sẽ thấy anh đây vẫn Hư và Hư thật quá nhiều,… còn em, em không muốn làm cho đây hư để em nay là gái không chồng, xác nằm nơi đâu, và vẫn nằm trong đất lạnh! Tỷ tê làm gì cho chán mắt người đọc. Và xin tóm tắt đời nàng:

Một hôm nơi căn phố nhỏ trong kẹt xóm trệt sau Nhà thương Cứu cấp đường Bonard (nay là đường Lê Lợi), lúc ấy tôi ở trọ ăn cơm tháng nhà anh bạn chí thân, đồng hương Nguyễn Văn Công, bút toán hãng Denis Frères, tôi muốn khoe biết làm thơ luật Đường, tôi chìa tập thơ ruột có bài tứ tuyệt:

“Nguyệt khuyết rồi ra có thuở tròn,

“Giang hộ cốt cách cách phận con con,

“Vương hầu mặc kẻ say mùi tục,

“Hồng tía trăm hoa chuộng sắc son.

(V.H.S)

Xin cạn kẽ đôi điều, bốn chữ đầu là tên địa danh tỉnh nhau rún, Sốc Trăng, vua Minh Mạng chê là nửa nạc nửa mỡ (ngày nay ở đây lại viết Sóc không chấm có dấu mũ, tiện đây xin hỏi “đã là ngày sóc, vì sao có trăng?” nên vua đổi làm “sông trăng” (nguyệt giang), còn Vương Hồng, vốn là tên của một đứa đểu cáng muốn làm tàng, nàng khôn cần suy nghĩ, chụp cây viết trên bàn, họa tức khắc:

“Nguyệt áng mây che ẩn bóng hình,

“Giang hồ đau đớn lúc linh đinh,

“Vương sâu xiết kể lòng ta thán,

“Hồng phấn phiêu lưu ngán nỗi tình!

(T.Q.A)

Rõ là khẩu khí của một người sẽ chịu nhiều u ẩn sau nầy, hay hơn của tôi nhiều và chớ chi bớt giọng đoạn trường họa may sống được đến bây giờ và cũng xấp xỉ tuổi nữ nghệ sĩ nhân dân Bảy P.H.

Nhưng bọn cạo giấy làm mọi cho tây bỏ qua một bên, cô nàng có một người tình, thơ Đường, thơ Hán thơ Nôm đều bóng mướt tình tứ, tôi xin chép lại đây làm dấu tích:

“Nhứt điểm tàn đăng, nhứt phiếm tình,

“Cô phòng đối ảnh bạn thâm canh;

“Phù trầm lân tự chung kình hưởng,

“Ai oán đông tường độc điểu thinh.

“Nguyệt chiếu mãn song vân tán loạn,

“Nhơn sầu bán chẩm lệ lưu thanh.

“Tâm tư vô hạng tùy nhơn thức,

“Dạ “Vĩnh” bồi hồi ức Quế Anh.

Câu 8, chữ thứ 2 có dấu ” “, và tiếp theo tác giả nguồn hứng dồi dào tự dịch ra nôm, thơ sắc sảo ngọt lịm như mật ong đường phổi:

“Một bóng đèn khuya một tấm tình,

“Ngồi than với bóng suốt năm canh.

“Bên chùa vắng tiếng chuông kình động,

“Ngoài cửa kêu sầu giọng điểu oanh.

“Trăng giọi đầy sân mây kéo gượng,

“Người buồn nửa gối lụy tròng đoanh;

“Nỗi niềm biết kể cùng ai nhỉ,

“Ngơ ngẩn canh dài vắng Quế Anh!

Hai chữ “đa tình” là ngón đặc sắc của một Chu Mệnh Trinh, và hai chữ “ngơ ngẩn” nơi bài nôm trên đã làm cho ông Vĩnh Miền Nam, tứ thơ chưa cạn, làm thêm hai bài nữa để nhớ Sáu Ênh (Quế Anh):

Đề tài. “Kìa lau ngọn gió thổi hiu, Biết đâu mưa sớm nắng chiều là đâu?”

Thơ rằng. 

Bài 1:

“Hẹn gió thề trăng bẻ chữ đồng,

“Một ngờ, hai giận, bốn ba trông!

“Mấy năm tình tự dồn dài-dặc,

“Nửa gánh tương-tư quảy nặng gồng!

“Thương cũng ơn lòng, thôi cũng đội,

“Oan thì chịu tiếng, miếng thì không.

“Mưa du giọt lệ tràn lai láng,

“Biển lấp sầu un, núi chập chồng!

Bài 2:

“Nhứt dạ tri tình, hỡi Quế Anh,

“Bỗng lòng ái truất lảng không đành.

“Xót phần bồ liễu phần nên bạc,

“Tủi kiếp phù hoa kiếp rất mành.

“Tài sắc mà chi trời ghét bỏ,

Photo edit by Sơn râu

“Gió trăng cho phải nhụy tan tành.

“Trăm năm sạch ắt là xương trắng

“E nỗi không người phát cỏ xanh!

Nay tôi làm thầy mù, bói muộn, làm trai muốn hát bài “tẩu mã” đã mở hơi rõ ràng, “e nỗi không người phát cỏ xanh”, nhưng người nữ đa tình, ỷ tài ỷ tận, đến khi mưa sớm nắng chiều, thì trở tay không kịp…

Tôi chép thêm lại đây ba bài luật Đường của người thừa tài mà mỏng mạng, và nếu như tin nghe có thật, thì nàng vè sau, bịnh hoạn, thuốc thang thiếu hụt, không người tế độ đúng lúc, nàng đã bỏ mình theo một gánh hát nhỏ vô danh và đã bỏ thây nơi đất khách miền Trung, núm mồ nếu còn cũng đã san bằng dưới chưn trâu bò vô tri. Tôi mạn phép chép thêm để điếu hai người, câu sáo: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”. Và dưới đâu là ba bài của Trần Quế Anh, còn lại:

Tự thán

“Một bóng đèn khuya khắc lụng vơi

“Tàn canh say tỉnh giận thay đời;

“Bụi hồng lắm lúc cơn mưa nắng,

“Má phấn nhiều phen chịu lấp vùi;

“Cầm sắt những ngờ xuôi lá thắm,

“Tang thương âu hẳn phận bèo trôi;

“Nào người chung đội trong trời đất,

“Gang tấc nầy xin nhắn một lời.

(10 août 27, Trần Quế Anh)

Dưới bài “Tự thán” nầy rõ ràng là nàng đã xưng tên và ký “Trần Quế Anh 10 août 27”. Bài số 2 dưới đây viết trên một mảnh giấy nhỏ 7 x 8 cm, không đề và đọc:

“Thơ thẩn vào ra cũng một mình,

“Mơ màng nét ngọc vẽ trăng thinh,

“Lầu son lén lút chong dầu đợi,

“Gác tía đòi cơn ngóng mặt nhìn;

“Nhớ thuở chia vui lời hải thệ,

“Tưởng hồi vầy cuộc khúc sơn minh;

“Hờn duyên tủi phận năm canh lụng

“Nhán hỏi kìa ai có thấu tình?

Bài số 3 khóa sổ.

“Đen bạc xưa nay cái thế tình,

“Nghĩ càng ngán ngẩm một đời mình;

“Tài hoa chưa có người vun bén,

“Bạc mạng đành không kẻ giữ gìn;

“Chín suối đã cam phai tuyết giá,

“Trên mồ còn lạnh đám rêu xanh;

“Trăm năm đâu rõ tình ngang trái,

“Rõ đấng hồng nhan vắng tể khanh!

Đúng là thơ tuyệt mạng, đúng là bài “tuyệt bút”.

Lời viết thêm mà tôi cho là thừa: Có người cho tôi biết ông giỏi vừa Hán vừa Nôm là bác sĩ họ lâm tên Vĩnh, không làm trong bộ y tế và chuyên trị bịnh cho phu cạo mủ cao su một đồn điền Pháp vùng Biên Hòa Đồng Nai, mối tình khá lâu, nhưng “chị cả hay ghen” và ông cũng không muốn “chơi đèn hai tim” và câu “mỹ nhân tự cổ…” kết thúc bài nầy cũng vừa. S.

Ngoài Bắc, thơ để đời như bài T.T.Kh. vẫn có, trong Nam người trong giới cầm ca, xuân sắc trên báo Sân Khấu vẫn nhiều, tôi chưa thấy như Quế Anh,… một người nữa tên Chín Ênh, Ngọc Anh, sắc không thua cô Ba Trà, nhưng vì thiếu đồ bắt kế nên đành mai một.

——————————–

1Bà Phùng Há (bt)

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 25 th. 10, 1993)

Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 19

Nghe Lén Buổi Nói Chuyện Bàn Giao Giữa Hai Ông Cũ, Mới Trên Tran Tại Nhà

Nhà tôi có một tran thờ Táo-quân kính cẩn, dưới tran có đặt một võng ngáng bằng ngà, một bữa nọ tôi đang nằm thả hồ tơ-lơ-mơ, bỗng nghe tiếng the thé thì thầm trên tran, tôi lóng nghe tiếng mất tiếng còn, không dám lấy làm chắc, nhưng cứ ghi chép lại, tin hay không, tôi không dám ép.

– Nghĩ mà tức cười. Tôi xa cách nhà nầy không mấy lâu, nay về thấy lạ lạ. Chính anh tôi thấy hơi gầy, còn nhà tuy y nguyên không đổi nhưng cặp liễn Hán dẹp đâu, còn liễn mới nầy, chữ quốc ngữ đọc được nhưng viết ngoằn ngoèo kiểu lá tre lá liễu, đâu anh giải nghĩa cho nghe thử!

– Ối, thì cũng bổn cũ soạn lại, nghe đâu đó là chữ của ông Trạng, hình như của Nguyễn Khuyến viết cho một tên dốt đặc cán mai mà tánh ưa làm tàng. Đọc là:

CHUNG TAM HO

THIÊN THƯỜNG LƯU

Và nghĩa là:

ĐÔNG BA ÔI

NGÀN TRÊN TRÔI

Phiên âm sạch-sẽ lại là:

ĐÔI BA ÔNG

NGỒI TRÊN TRAN

Như vậy là họ nó xâm, kiêu ngạo mình đây. Duy mình miễn chấp, Bộ Ba “hai ông một bà” nhưng nay với tuổi nầy đâu cần dùng nữa. Nhức xương thì rán chịu cho xong.

– Nghe cũng khá thông và xin cho qua phứt. Đời Mới, cái gì cũng mới, Phải biết theo cho kịp thời mới là thức thời vụ. Mà nầy anh, ở nhà bên xóm, khít vách, tôi thấy cặp vợ chồng, đồng quì và anh cho rằng lạy, còn kia kìa, đứa nằm sải tô-hô, đứa lom xom nửa quì nửa ạch-đụi, kì cục vậy?

– Đừng hỏi lớn. Chúng nó đúc con.

– Đúc con là cái làm sao? Đúc bao lâu mới được một con?

– Chín tháng mười ngày!

– Anh nói sao, nói lại nghe coi. Anh nói chơi hay anh nói thiệt. Cứ cái mửng nầy, phải chín tháng e lâu quá. Loi choi, xăng-cà-đung, băng xăng làm vầy, lật đật, lụi đụi, tỷ chư phe anh thì như gà mắc đẻ, con cháu tôi thì chư chó tháng bảy, một chốc một lát có cả chục, rồi cơm gạo đâu đủ, nhà cửa đâu chứa, mới làm sao đây?

– Làm sao cũng chẳng làm sao. Anh khéo lo việc bao đồng. Anh hãy lo thế chỗ tôi coi chừng rau muống ăn nhiều chật bụng, còn tôi nghe đâu sai cắt qua tỉnh có người da đen xài cà-ràng, e ngủ đất không tran, còn bọn chúng nó, điện cúp hoài hoài, không lý tập võ, múa Thái-cực mãi, và phải cho chúng để giết thì giờ, đại chiến “a-lô-măng, bà-lang-xê” (allemand francais) cho đỡ buồn vậy mà!

Nghe đến đây, bỗng có tiếng gà gáy chó cắn, buổi bàn giao khởi sự, uổng quá, không biết năm mới năm mủng ra thế nào, hồi sau phân giải.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 5-7-93)
Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 18

Học Sư Bất Như Học Hữu

Bài nầy nói rộng về phép chơi đồ cổ.

Không mấy thuở, nói chữ chơi cho đỡ buồn, và “Học sư bất như học hữu” là ý tôi muốn nói học với thầy trong nhà trường, vốn không bì học với bạn bè, tức học lóm nhiều khi bất ngờ, tỷ như vài việc kể sau đây:

Lúc tôi làm việc nơi toà bố Sa Đéc, lối 1928 đến 1932, không rõ ắt năm nào, chức của tôi là thơ ký hạng 4, xuất thân từ làm nơi Trường Máy của ông Rosel, nay đổi làm trường Trung học cơ khí Huỳnh Thúc Kháng, vô làm thí công (secrétaire stagiaire) rồi lên hạng 6 (thơ ký thiệt thọ) rồi lên hạng 5, trầy vi tróc vảy ngót sáu niên mới lên hạng 4 (hạng tư) nầy, tuy chức bé mọn nhưng được ông chủ tỉnh thương tình, ông nầy tên Esquivillon, nguyên là chánh tham biện hạng Nhứt, đáng làm đến thống đốc, nhưng vì có lỗi sơ sót về nghiệp ở tỉnh Cần Thơ, nên ông bị đổi về Sa Đéc đái công thục tội…

Ông người rất nghiêm, công chức trong tòa bố nếu lỗi lầm chút ít, tỷ như ngồi khoanh tay rế, không bận việc, không ở chỗ ngồi và thường đi bàn kế cận, chuyện trò, bê trễ phận sự, mỗi khi ông bắt gặp, ông đều bỏ qua, không quở, và Esqueivillon chỉ mỗi lần gặp như vậy, thì đi luân vào phóng giấy của quan phó, mắng vấn và trách quan phó phải đừng để công chức bê tha việc làm, rồi ông bỏ qua, không nhắc tới nữa.

Tôi nói dông dài nãy giờ là dọn đường để nay mới vào đề, là một hôm nọ, tôi ôm hồ sơ lên phòng của ông để trình bày giấy tờ và xin chữ ký, tôi thường như vậy, sau khi vào phòng, đến trước mặt ông, thì tôi cúi đầu chào, được ông bắt tay chào đáp lễ, rồi tôi kính cẩn để tập hồ sơ trên bàn, lật mỗi công văn, giải thích sự việc cho ông và xin ông ký tên…, ký xong, tôi xếp tập hồ sơ và kể là xong việc… Nhưng hôm đó, ông Esqueivillon vui tánh, ký xong giấy tờ rồi giữ tôi lại mà rằng:

– Anh (vous) làm việc đúng đắn, không có chỗ trách, nhưng tôi dạy ông đây là phép người tay dưới, như tùy phái viên (planton), muốn trao thơ từ, công văn cho tôi, thì phải trao giấy tờ ấy trên một mâm nhỏ, cái mâm ấy, ở bên Pháp vẫn làm bằng bạc, và gọi “plateau d’argent”, và ở bên ni, vẫn làm bằng danh mộc (trắc, cẩm lai, v.v…) bào chuốt trơn tru, khéo léo, và cũng vẫn goi là “plateau”, biết chưa?

Bài học ấy, tôi nằm lòng, và một khi khác, buổi sáng sớm, ông từ văn phòng bước xuống từng trệt tòa bố và đến phòng bút toán, để kiểm xét sổ sách, bạc tiền, do tôi chịu trách nhiệm. Cái nỗi ngộ nghĩnh của việc nầy, là tuy rằng “xét tra” nhưng ông đã viết giấy báo tin trước cho tôi hay, những giấy báo ấy nay tôi còn cất làm kỹ niệm mấy năm làm mọi cho Tây, và như vậy tôi mới đúng là nhà sưu tập, và nhắc lại, khi ông đến phòng làm việc của tôi, ông thấy một lao công (lúc đó là một người bị ở tù, án nhẹ, cho lên lau quét tòa bố), lao công ấy đang lấy lá cờ tam tài cũ rách, phế thải, làm giẻ lau, ông không nói gì, nhưng sau khi xét sổ sách và đếm tiền trong tủ sắt xong, ông bước lên lầu và mời tôi lên theo, và khi đến văn phòng, ông ngồi vào bàn giấy xong xả, ông vừa cười khoan dung vừa nói nhỏ nhẹ: “Mông xừ S., cờ tam tài là đại diện nước Pháp, tại sao ông lấy làm giẻ chùi? Xúc phạm đó. Ông phải dùng lửa để thủ tiêu nó mới là đúng lễ! Biết chưa?”

Lại một bài học khôn nữa, và vì vậy bài nầy, tôi viết: “Học sư bất như học hữu”, và cách mấy chục năm sau, tôi mới thấy chỗ dùng, tỷ như lúc làm dưới trào ông Diệm, ở Viện bảo tàng, đặt nơi Thảo cần viên, có lệ mua vải giẻ cũ để lau gạch hoa, thì hồ sơ giấy tờ gởi lên cấp trên thường bị làm khó dễ, bắt tì bắt ố, bỗng một buổi dạ tiệc, tôi gặp ông tổng giám đốc tổng ngân khố, tôi thừa dịp nói với ông Ngô Trọng Hiếu, tôi nhắc việc không nên lấy quốc kỳ làm giẻ lau, vân vân, ông Hiếu thông cảm và hồ sơ của tôi đều được trả mau và phê chuẩn ngay, tôi nghĩ nghề làm coi viện bảo tàng, có cần gì phải đi học nơi Tây u xa vời và nếu có chút trí khôn biết áp dụng đúng chỗ, thì một thơ ký quèn, tay ngang, không cấp bằng lớn, vẫn làm xong việc ngót mười bảy, mười tám năm làm quản thủ từ 1947 đến 1963 mới về hưu và vẫn xong việc và không tiếng tăm xấu nào, ấy tôi suýt nói lạc đề, nay nói tắt lại việc sau đây và xin chờ qua trang khác.

Nơi trang nầy, xin độc giả hoặc độc giả vốn là cháu con dòng họ trong nhà, xin hãy để cho tôi được tha cầu biệt xạ, nói dông dài cho hả hơi, và nhắc lại mấy gương dạy khôn của chánh chủ tỉnh Esqueivillon đã truyền cho tôi buổi tôi còn làm mọi cho Tây lúc ấu thời. Cho hay không thầy không bạn đố mày làm nên, và phải nhìn nhận Tây chủ càng khó tánh, thì tôi đây mới hôm nay được như vầy, vả lại không phải tôi dám phụ bạc chữ của thánh truyền Khổng-Mạnh, nhưng sự thật khó chạy chối là phàm mẹ chồng càng gắt gao thì nàng dâu mới mau học khôn học khéo, và xin cho tôi tạm nói chữ, có câu “nghệ năng sở sử”, tức nghề dạy nghề, chính cha tôi là một thợ bạc (nay gọi thợ kim hoàn) lành nghề, nên tôi học được tánh gia truyền kiệm cần ý chỉ, và sau đó nhờ tôi làm tôi mấy năm dài học lóm nơi các ông Tây trường Viễn Đông Bác Cổ, mà tôi có thêm tánh kỹ càng biết thì nói, không biết cứ chịu thiệt là không biết, nhờ vậy mà nay những gì tôi nói hoặc tôi viết, có thể tin và dùng được.

Cái gương “dâng món đồ, phải có mâm bạc lót tay”, nay theo tôi thấy, đã để lại tục người ngoài kia và luôn người đất thần kinh đế đô độ trước, là tục mỗi lần có vật biếu xén dâng cho người nào, vẫn đinh ninh nài cho được có một dĩa một mâm gì gì đó làm vậy chứa đựng món vật dâng kính thì mới là đúng lễ, tỷ như dâng một gói trà, một bánh ngọt, vân vân, nhưng cái tục cổ kính ấy, đối với người trong Nam nầy, đã phai lạt nhợt nhạt đi nhiều, nhứt là từ ngày lục tỉnh Nam kỳ bị Tây chiếm đóng, và gẫm lại tục bỏ cái mâm cái dĩa chứa đựng kia, xét cho kỹ, cũng có phần giản tiện và thiết thực, vì thử nghĩ, như một tá-điền, tức người tay trơn mướn đất của chủ-điền là người có ruộng đất khá nhiều, không làm xiết được và phải “tá canh” làm vậy, tôi nói quá dài và xin lỗi, người mướn ruộng ấy khi có cặp vịt đẻ hay một con gà thiến muốn đem cống nạp cho chủ ruộng để cầu thân, thì có cần gì phải có mâm có dĩa, và gọn nhứt, dễ chịu nhứt, là xách tay cặp vịt, con gà, vói đưa cho chủ là đã đủ lễ, và thậm chí, tỷ như lóng trước, thời Diệm-Nhu, một tổng trưởng dâng lên tổng thống, một ô tô cắt chỉ Hoa Kỳ, hoặc kềnh càng một tủ lạnh (frigidaire) và nhớ lại vụ hối lộ từng nghe và ghi để dạ, là thời ông Ngô Đình Nhu làm cố vấn, có một nhà thầu dâng một bánh Trung thu giá đến ba chục ngàn đồng vì cái bánh ngọt ấy bao trong gần gần một trăm càram vàng, (vì mặt bánh là một miếng vàng ròng ngót ba lạng, và vàng giá thời ấy là mười ngàn một lạng), hoặc một khi khác, cũng để tấn ơn (hối lộ), một thầu cái nọ dâng hai chậu lan quý, trị giá cũng lối ba chục ngàn hai chậu, thì hai chậu ấy và cái Trung thu Nguyệt bỉnh kia, ông cố vấn cóc cần mâm đựng hay dĩa chứa và bánh vẫn không ăn, lấy vàng là đủ, và lan nọ cũng không cần, “hãy cho tao bạc hiện-diện 30.000, như vậy mà gọn hơn!”

Mảng nói suýt lạc đề, trở lại cái gương “plateau d’argent” tôi vẫn giữ kín trong tâm trí chưa quên, nên một khi nọ, cách nay đã trên hai chục năm, nhơn ra giảng ở Huế-đô (môn Văn miền Nam), và nhơn đi dạo nơi hẻm nọ đường Phan Bội Châu cũ, tôi bỗng thấy nơi nhà Mụ Tám O, một cái hộp sơn son cũ kỹ, đã tách tanh-bành mếu-máu, tuy vậy trên nắp hộp may thời có bốn chữ phết vàng mờ mờ nhưng còn nhìn được và bốn chữ ấy tôi nhìn được một cữ quen quen là chữ “… sự … …”, tôi hỏi giá, mụ Tám O nói vỏn vẹn “bảy chục đồng” (bạc thời Diệm-Nhu), tôi sẵn có nặng nặng trong túi, nên trả tiền, lẹ, lật đật lấy hộp đem về làm chủ, định làm vật kỷ niệm một buổi viễn du đất Huế-đô Thần-kinh nầy, nào ngờ, khi trở về Sài Gòn lấy hộp giao cho thợ lành nghề o bế lại gắn sơn chắc chắn và nhờ người hay chữ đọc và dịch hộ bốn chữ kia, thì bốn chữ ấy phiên âm đủ là “Tấu sự khâm giám”, có nghĩ từng chữ là:

“Tấu”

(?), tiến lên; sự (?, sự việc); khâm (?), (Kình – Lời dùng để tôn xưng bậc trên mình, song từ đời Tần trở xuống, chỉ dùng để tôn xưng ông vua mà thôi) (theo Hán-Việt từ-điển Đào Duy Anh) và giám (?) (xem xét).

Nói tục mà nghe, và cũng xin đừng cười vội, có dè đâu một thơ ký quèn đời Tây sót lại, vốn liếng ba chữ Nho, chỉ cô hồn độ mạng, đọc được một chữ “sự” và chỉ có một cấp bằng Đít-lôm đít-lét, mà dám xứng tài ra Huế giảng về môn “văn học và tiếng nói miền Nam”, và tình cờ, (y như chó dắt, lại nói tục nữa) và có ngờ đâu, với bảy chục bạc, mà có được một cổ vật hy hữu.

Lòng mừng khấp khởi, lật đật lấy thước đo, cái hộp đúng là: ba phân tây (3cm) bề cao, hai mươi lẻ năm (25cm) bề ngang và bốn mươi phân (40cm) bề dài; cố nhiên đó là đo trên nắp hộp và phần dưới, tức cái hộp, vẫn kém thấp hơn đôi tí, và nhờ đọc sách khá nhiều, cầm cái hộp nầy trên tay, bỗng nhớ lại và quả nhiên trong một sách nọ, đã từng kể chuyện vào thời ly loạn, bất phân vua chúa khi vua Tự Đức thăng hà và đến lượt Kiến Phước se (đau) nằm trên long sàng chợt mở mắt nhìn thấy cảnh loạn luân, Nguyễn Văn Tường, đang cầm điếu thuốc Cẩm Lệ hút nửa chừng, dám cả gan chuyền thuốc điếu ấy qua tay bà Hậu (Học Phi) hút tiếp, Kiến Phước tức giận có lỡ lời thốt câu “Ta mà mạnh được thì chúng mi sẽ biết!!…”; và ngờ đâu tên gian thần nghe lọt câu ấy nên đã hạ tay trước, là đón chận ông thái giám đang đem một hộp như vậy, trong hộp có chứa một mật lịnh của Kiến Phước ra chỉ thị cho một tín thần ở ngoại cung vua, và có ngờ đâu, với một số tiền nhỏ nhen, bảy chục bạc (70 đg) mà bỗng vớ được một chứng cứ hiển nhiên giúp biết được một “thâm cung bí sử” và chớ chi thuở ấy đừng khệ nệ hộp “Tấu sự khâm giám” chi vô ích và tai hại, và chỉ gãy gọn bình thường ra lịnh miệng, khẩu truyền sai thái giám khỏi cầm hộp kềnh càng thì vua đã khỏi chết vì chén thuốc độc của tên quyền thần đại gian đại ác kia, và nay tôi đây cũng rõ lại bà Phi của vua Tự Đức về sau, cũng khỏi bị buộc tội thí vua, vì Học Phi ấy vốn là dưỡng mẫu của tân vương Kiến Phước, nên tội kia được che được giấu.

Than ôi! Sử của nước ta, việc không xưa lắm, như việc đầu độc thí vua nầy, đến nay vẫn còn mờ ám không minh bạch, trong khi ấy, lật xem bộ tự điển nhỏ của nước Pháp, Petit dictionnaire Larousse, vẫn còn đủ hình ảnh nhân vật và hình dạng cổ khí của họ, tỷ như cái bàn viết đời Louis XV, Louis XVI, cái gương, lưỡi gươm chém đầu vua Louis XVI vào thời Cách mạng 1789, v.v…, và trái lại, bao nhiêu vật cổ vật hiếm có của ta, chén bát thời Hậu Lê, mâm sứ Khánh Xuân thời chúa Trịnh, cái tô đi sứ mang về thời Gia Long, vẫn mai một, lưu vong ngoại quốc hay đã bị lấy đâm hành đâm ớt tiêu tàn mất hết, và tiếc thay, nhà nước cũng vô phương giữ gìn. Nói nữa là thừa.

Phùng Khánh Phùng Thăng những dịch giả một thời

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on January 19th, 2024
Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Lời tác giả:

Sau sự ra đi của thầy Tuệ Sỹ, tôi dành thời gian tìm đọc lại một số tác phẩm của vài bậc cao tăng và giáo sư tại Viện đại học Vạn Hạnh, nơi tập trung những trí thức lỗi lạc của miền Nam trước năm 1975, từ các bậc tu sĩ, giáo sư cho đến những sinh viên từng thụ huấn. Trong số các vị này là hai chị em dịch giả Phùng Khánh và Phùng Thăng với một vài dịch phẩm mà tôi đã từng đọc qua trước đây nhưng chưa biết nhiều về thân thế. Vậy là cất công quay ngược lại thời gian để tìm hiểu thân thế hai nữ lưu trí thức và tài ba này. Các tài liệu tham khảo cho bài viết này đã sử dụng ấn bản đặc biệt về Phùng Thăng trên Thư Quán Bản Thảo (số 59, tháng 3-2014) do nhà văn Trần Hoài Thư chủ trương và vài nguồn khác nhau

Trong dịch phẩm “Kẻ lạ ở thiên đường” (nguyên tác Attente de Dieu hay Waiting for God) của nữ triết gia người Pháp gốc Do Thái Simone Weil, dịch giả nhận xét trong lời giới thiệu rằng:

“Kẻ lạ ở thiên đường” được chọn làm tên chung cho bản dịch 6 bức thư gởi cho linh mục Perrin và 5 bài trần thuyết về 5 đề tài tôn giáo. Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Weil đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá xót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế. Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị Bồ tát Phật giáo từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được chọn, Simone Weil sẽ vẫn mãi mãi là một kẻ xa lạ lạc loài, vì nàng không ước muốn. Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê Hương tâm linh bình đẳng cho tất cả Loài Người.”.

Đọc lời giới thiệu trên, có thể hiểu đó là sự thấu cảm của dịch giả về tác phẩm và tác giả mà cũng có thể, văn phong và tư tưởng đó xuất phát từ chính dịch giả, một nữ lưu rất trẻ, chỉ quá giữa tuổi đôi mươi mà tài năng và sự suy tưởng đã uyên sâu và đầy hạnh nguyện để cảm nhận và giới thiệu về một tác phẩm mang đầy tính tôn giáo và triết học như vậy.

Nữ dịch giả đó là Phùng Thăng, em ruột của Phùng Khánh, tức Ni trưởng Thích nữ Trí Hải, một vị danh ni thông tuệ của Phật giáo Việt Nam trong nhóm đại học Vạn Hạnh và cũng là một dịch giả riêng hay chung với em gái trong một vài tác phẩm vang tiếng một thời, có thể kể như Câu chuyện dòng sông, Bắt trẻ đồng xanh, Sói đồng hoang, Ngư ông và biển cả, Câu chuyện triết học …

Phùng Khánh (trái) (ni sư Trí Hải) và gia đình. Phùng Thăng, thứ 3 từ trái sang

Ni sư Thích nữ Trí Hải, Pháp danh Tâm Hỷ và thế danh Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh sinh năm 1938 tại làng Vỹ Dạ và em gái Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng sinh năm 1943 trong một gia đình dòng dõi hoàng tộc thâm tín Phật giáo tại Huế. Cả hai bà được kể lại là có tư chất thông tuệ và phẩm cách thanh cao, có ý hướng phát nguyện và dấn thân vào Phật giáo từ rất trẻ.

Ngay thời còn đi học, cả hai bà đã am hiểu triết học Đông phương sâu sắc, giỏi tiếng Anh và tiếng Đức. Nói thêm là, tiếng Đức vốn được xem là ngôn ngữ của triết học và có nhiều triết gia hậu cổ điển lừng danh như Kant, Hegel, Marx, Nietzsche, Heidegger… tất nhiên cả văn hào Hermann Hesse nên có một giới trí thức rành tiếng Đức để đọc hay Việt dịch các tác phẩm tiếng Đức. Riêng bà Phùng Khánh còn thông thạo cả tiếng Hán lẫn tiếng Pháp, khi đọc lại lời giới thiệu cuốn sách Nhập Bồ Tát Hạnh, được Ni sư Trí Hải cho biết bà đã dịch từ Hán ngữ và tham khảo thêm từ cả hai ấn bản tiếng Pháp và tiếng Anh.

Cách nhau 5 tuổi, hai bà cùng tốt nghiệp Viện đại học Huế với Phùng Khánh lấy cử nhân Anh văn và Phùng Thăng là cử nhân Triết. Ra trường, hai bà trở thành các giáo sư tại các trung học nổi tiếng tại Quảng Nam. Phùng Khánh dạy tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng và Phùng Thăng dạy tại trường Trần Quý Cáp, Hội An.

Năm 1960, Phùng Khánh sang Mỹ du học. Sau khi tốt nghiệp Cao học ngành thư viện và văn chương tại Princeton, bà tiếp tục làm luận án tiến sĩ nhưng bỏ dở để về nước lo Phật sự đang rất cần hiền tài lúc bấy giờ. Hạnh nguyện thọ giới Sa di từ trẻ chưa đạt nên năm 1964 bà quyết dứt bỏ thế tục, xuống tóc quy y, được Giáo hội cử làm thư ký cho Thượng Tọa Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Thích Minh Châu. Bà là giáo sư Anh ngữ rồi được cử làm Thư viện trưởng và Giám đốc trung tâm an sinh xã hội của viện.

Sau 1975, Ni sư tiếp tục Phật sự và hoằng pháp. Bà nghiên cứu, giảng dạy và biên dịch, trở thành nữ giảng sư đầu tiên của Viện Cao cấp Phật học Việt Nam. Năm 1984, bà bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt giam vì bị xem có liên đới với hai vị Thượng Toạ Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu, đến năm 1988 mới được trả tự do sau hơn 4 năm tù. Là Viện chủ các Tu viện Lộc Uyển, Liên Hoa và Diệu Không, Ni trưởng Trí Hải cũng hoạt động tích cực trong các cuộc lạc quyên và ủy lạo các nạn nhân thiên tai bão lụt.

Phùng Thăng (X) Lớp Đệ Nhị C – Đồng Khánh Niên khóa 1958 – 1959

Cuối năm 2003, với tài đức và đạo hạnh của một vị Ni trưởng từ bi và thông tuệ, bà được cử làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Nhưng đáng buồn là chỉ vài ngày sau, giới Ni Tăng cùng Phật tử, trí thức Việt Nam bỗng bàng hoàng nhận hung tin là Ni trưởng Thích nữ Trí Hải đã tử nạn cùng vài đệ tử tháp tùng trong một tai nạn giao thông, khi bà đang trên đường về sau một cuộc cứu trợ. Bà thọ 66 tuổi thế và chúng sanh mất đi một biển sở học và trí tuệ, theo như pháp hiệu Trí Hải của bà. Tính đến cuối năm qua là Ni sư Trí Hải đã viên tịch tròn 20 năm.

Với Phùng Thăng là một câu chuyện buồn khác khi bà bị thảm tử lúc còn khá trẻ. Các tài liệu cho biết, sau biến cố 1975, bà dắt con gái xuống miền Tây tìm đường vượt biên, nhưng đã bị quân Pol Pot bắt và hạ sát cùng với hàng trăm người Việt khác, vào thời điểm mà Khmer Ðỏ tái phát động phong trào “cáp duồn”, hạ sát người Việt sát máu hơn ngay sau 1975. Câu chuyện buồn nên có lẽ không cần đi sâu hơn, chỉ biết rằng dịch giả Phùng Thăng như vậy đã qua đời khi mới ngoài 30 tuổi.

Hai chị em, hai nữ lưu xuất chúng, không dễ xuất hiện được mấy người trong cả một thế hệ, đã mang tài trí phụng vụ đạo pháp và trí tuệ cho hàng triệu người Việt Nam. Giới trí thức cùng những cựu sinh viên học sinh đồng thời với hai bà trong các  bài viết đều cho biết rằng, họ đã học hỏi và khai mở trí tuệ và tâm thức rất nhiều qua những tác phẩm đầy ảnh hưởng của hai bà.

Hãy cùng đọc lại một đoạn văn mà cả hai bà đã viết và dịch chung qua Lời ngỏ tiểu thuyết Câu chuyện dòng sông mà có người từng nhận xét, qua sự Việt hóa của những dịch giả, ngỡ đâu Hermann Hesse đã viết riêng tác phẩm này cho người Việt.

(Trích) “Quyển “Câu chuyện dòng sông” dịch từ chuyện “Siddhartha” trong tập “Weg nach Innen” (Đường về nội tâm) của Herman Hesse. Hermann Hesse là một văn hào của văn học Đức ở thế kỷ XX, sống cùng một thế hệ với Thomas Mann, Werfel, Wassermann và E.Vl Salomon.

Hesse sinh năm 1877, được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904), Demian (1919), Der Steppenwolf (1927), Narziss und Goldmund (1930), Das Glasperlenspiel (1943).

Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho đời mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt:

“Dù bị đau đớn quằn quại,

tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”.

Und allem Weh zum Trotze bleib ich.

Verliebt in die verruckt Welt

Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển”Câu chuyện dòng sông”.

Đọc “Câu chuyện dòng sông” chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. “Câu chuyện dòng sông” là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta; đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt” (Phùng Khánh-Phùng Thăng). (hết trích)

Khi chọn lọc dịch thuật các tác phẩm rất nổi tiếng của thế giới bằng một ngôn ngữ và tâm đạo cao đẹp, chứa đầy chánh niệm và từ bi như vậy, hai bà đã mang tâm huyết cùng công sức để góp phần soi sáng trí huệ lẫn tư tưởng của cả một thế hệ độc giả.

Chưa kể đến những bộ sách, kinh kệ Phật Pháp được Ni sư Trí Hải viết hay dịch, hàng chục dịch phẩm văn chương và triết học quen thuộc được Phùng Khánh hay Phùng Thăng, hoặc từ cả hai chị em bà cùng chung sức Việt dịch, đã là một gia sản văn chương và tư tưởng không nhỏ mà cả hai bà đã giới thiệu và mang đến cho Việt Nam.

DYT

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 10 Vào một buổi chiều chủ nhật cuối tháng ba, Octavia đứng trong nhà bếp nhìn xuống sân sau. Đúng hơn là sân trong vì dãy nhà cho mướn ở đại lộ số 10 căn nào cũng xây ba mặt quây lấy một mảnh sân lộ thiên ở giữa. Sân còn chia ra nhiều khoảng có rào gỗ phân biệt. 
Nhà thành phố dĩ nhiên phải là sân xi măng. Có lẽ ông bà nào nhớ gốc nông dân nên xây cái chậu nhỏ đổ đất vào để trồng cây chơi. Có một nhánh cây mọc lên nhưng thân khẳng khiu, gân guốc đâm ra mấy nhánh cũng có ít chiếc lá song vàng úa hết. Ánh sáng bàng bạc soi rõ một chậu hoa bỏ không sơn đỏ nổi bật trên nền xi măng! Từ trên nhìn xuống muốn hoa mắt vì một rừng dây phơi đồ chăng tứ tung trong một đầu buộc vào cửa sổ còn đầu kia đã có cột đỡ.
Octavia mệt mỏi kinh khủng. Có lẽ vì trời lạnh u ám quá, ít thấy mặt trời và làm việc quá nhiều. Gặp kinh tế khủng hoảng mức lương cứ xuống dần. Làm nhiều thêm mà tiền ít đi. Đêm nào mẹ chẳng thức khuya để lãnh đơm những khuy áo vào vỉ giấy cứng kiếm thêm ít tiền? Bọn con nít thỉnh thoảng cũng xúm vào làm đỡ nhưng chúng chê trả rẻ quá: Có một xu tiền công một vỉ thì thèm vào làm; Octavia chỉ cười: bọn chúng có quyền chê nhưng người lớn thì chẳng dám. 
Nàng thấy tức ngực, đầu nhức mắt hoa và toàn thân nóng hâm hấp. Đầu óc lúc nào cũng vương vấn mối lo: Tiền lương Larry không có nữa thì làm sao nuôi nổi bốn đứa nhỏ? Hồi này tuần nào chẳng phải ra bưu điện rút tiền tiết kiệm phụ vào mới đủ xài . Đã không gửi.
Nàng thấy tức ngực, đầu nhức mắt hoa và toàn thân nóng hâm hấp. Đầu óc lúc nào cũng vương vấn mối lo: Tiền lương Larry không có nữa thì làm sao nuôi nổi bốn đứa nhỏ? Hồi này tuần nào chẳng phải ra bưu điện rút tiền tiết kiệm phụ vào mới đủ xài. Đã không gửi thêm vào được lại rút tiền ra hoài thì biết bao nhiêu năm nữa mới tậu nổi nhà?
Quang cảnh chung quanh buồn bã quá. Thấy một con mèo mon men đi trên hàng rào nàng chợt nghĩ đến thằng Gino, thằng Sal … Không lẽ đời chúng sau này vẫn lại cứ phu phen ngu ngốc, bần tiện suốt đời chui rúc nhà ổ chuột và con cái cũng nghèo mạt rệp? Nàng rùng mình sợ hãi, kinh tởm. Chúng lại sống bám, lại van xin lòng từ thiện của xã hội, hệt như bố mẹ ngày trước … miễn sao cho sống được thì thôi ? 
Còn thằng Vincenzo? Octavia bàng hoàng, đau khổ vì điệu này đời nó làm sao khá nổi? Kể như chết tương lai vì nó sắp phải bỏ học đi kiếm tiền phụ với mẹ nuôi các em . Còn cách nào khác? 
Thằng khốn nạn Larry thì kể làm gì . Nó chọn đúng lúc cần sự đóng góp của nó nhất để thình lình bỏ đi ở riêng. Vậy mà còn hèn hạ vác mặt từ tầng hai lên nhà mẹ ăn cơm được! Nhưng xét ra đàn ông bần tiện như vậy hết ! Tự nhiên nàng tưởng tượng ra hình ảnh bọn đàn ông: người ngợm thô lỗ, lông lá dễ sợ … như nhau hết . Đúng là … đực rựa! Ý nghĩ đó làm nàng thẹn đỏ mặt và người thì mệt rã rời đúng không nổi. 
Vào nhà bếp ngồi, Octavia thấy đau nhói ở giữa ngực . Đau chịu không thấu. Vậy là ốm nặng rồi sao? Nguy quá đi! 
Thằng Gino là người đầu tiên vào trong bếp và thấy chị Octavia nằm gục đầu mép bàn khóc nức nở vì đau ốm, vì kinh sợ. Nàng lại khạc những bãi máu nho nhỏ làm đỏ hết chiếc khăn bàn trắng sọc sanh. Nàng thì thào: “Sang kêu mẹ đằng nhà dì Louche”. 
Gino hoảng quá, không nán lại một giây mà quay ngoắt đi vùn vụt chạy. Lúc mụ Lucia về thì Octavia đã gắng gượng ngồi dậy được nhưng mấy vết máu trên mặt bàn vẫn để nằm nguyên chỗ. Nàng đã định lau đi, nhưng lại thôi. Phải để đó cho bà mẹ thấy tận mắt, ít nhất nếu không thương hại thì cũng không nghi ngờ là trốn việc, trốn trách nhiệm ! Dĩ nhiên bà mẹ phải hốt hoảng. 
Quả nhiên lúc chạy theo Gino về nhà, thấy Octavia ngồi ngơ ngẩn ở bàn nhà bếp và mấy dấu máu văng tùm lum, mụ Lucia hốt hoảng la “Trời đất ơi … con tôi” rồi cuống quýt khóc òa lên. Thấy mẹ làm dữ quá Octavia đâm bực bội và thằng Gino cũng nín thinh. 
Mụ cuống cuồng: “Con … con làm sao đấy? Trời ơi!” nhưng chỉ một lát thôi. Ngay sau đó mụ lấy lại bình tĩnh và biết ngay phải làm gì … bèn dắt Octavia vào phòng ngủ, bắt nằm xuống đàng hoàng miệng la Gino chói lói: “Mau lên … ba chân bốn cẳng chạy đi mời bác sĩ Barbato mau lên!”.
Nhà có chuyện và được mẹ giao phó trách nhiệm quan trọng như vậy, dĩ nhiên Gino hào hứng để đâu cho hết? Nó chạy như bay. 
Đặt Octavia lên giường trong khi chờ đợi bác sĩ tới, Lucia Santa đâu biết làm gì ngoài việc ngồi canh chừng con và lấy chai cồn đỏ ra xoa tay xoa trán, xoa mặt cho đỡ nóng? Sau khi cố trấn tĩnh, Octavia ngước mắt lên nhìn rõ ràng bắt gặp một nét đau khổ, lo lắng cực kỳ trên khuôn mặt nhìn đăm đăm của mẹ. Nàng phải gắng gượng nói đùa một câu cho mẹ yên trí đỡ sốt ruột: 
– Mẹ làm gì mà bấn lên vậy? Con có làm sae đâu nào? Ít ra cũng không đến nỗi … không chồng mà chửa? Đâu đến nỗi … 
Octavia tính lầm. Mụ Lucia đâu thể cười nổi trong hoàn cảnh này? Thấy tình trạng xem bộ nguy hiểm mụ biết ngay chứ? Kinh nghiệm quá mà? Lẽ ra nó có mệnh hệ nào … 
Mặt âu sầu buồn bã, mụ Lucia ngồi ghé xuống giường con. Mụ cố đoán bệnh trạng và ước lượng tầm quan trọng của chứng bệnh ghê gớm này. Số mạng sao quá khắt khe, dồn dập toàn những tai họa? Nào ông chồng nằm nhà thương điên, nào thằng Larry lấy con vợ con nít, nào kinh tế khủng hoảng tiền kiếm không ra và bây giờ đến lượt đứa con gái cưng cần câu cơm của cả nhà nằm lăn ra ốm! 
Lucia Santa thẫn thờ suy nghĩ. Octavia bây giờ nằm bệnh đâu phải cá nhân nó nguy? Nó bệnh là cả nhà bệnh hết! Bệnh của nó là mối lo chung của cả gia đình. Nó có bề nào thì cả nhà này không chết đói cũng cất đầu không nổi . Bởi vậy mụ không cuống cuồng sao được? 
Này đây thằng Gino đã đưa bác sĩ Barbato tới. Kẻ trước người sau đã đi thẳng đến bên giường bệnh . Chiều nay sao ông bác sĩ ăn diện thế này, hàng ria con kiến o bế đàng hoàn. 
Trong túi đã có giấy đi xem đại nhạc hội ở viện Brooklyn, ông bác sĩ nôn nóng quá … đã định từ chối, bảo thằng nhỏ về nói người nhà đưa người bệnh tới nhà thương Bellevue. 
Vừa thấy mặt con bệnh Octavia, bác sĩ Barbato bèn nhăn nhó. Bệnh này thì không đi nhà thương mời bác sĩ tới chữa ở nhà sao nổi? Biết thế này thì sửa soạn ở nhà đi xem hát sướng hơn! 
Tuy nhiên đã lỡ đến thì phải xem bệnh. Bác sĩ Barbato ngồi ghé mép giường . Octavia xem bộ ngượng ngùng vì sắp bị ông bác sĩ quá trẻ khám người, dù bà mẹ vẫn xớ rớ đứng một bên canh chừng. Hắn nghĩ thầm: “Đến ghét mấy thứ dân ngu này! Tụi nó làm như mình sắp đè bệnh nhân ra quất đến nơi chắc”. Tuy nhiên hắn kéo tấm ri đô rồi cố ôn tồn bảo bà mẹ: 
– Cô con bà cần phải khám cẩn thận cả người. Bà bảo thằng nhỏ đi chỗ khác chơi. 
Quay lại thấy Gino nãy giờ cứ đứng sững giương mắt nhìn, Lucia Santa bực quá bèn dộng cho nó một tát tai nên thân . “Cút ngay … Tao cho đi chơi đấy!”. Bị cái tát tai đau điếng Gino lủi ra ngoài nhà bếp. 
Xem bệnh xong bác sĩ Barbato kéo mền đắp lại cho Octavia. Hắn bảo: “Bệnh cô không đáng ngại đâu … Đừng sợ …”. Hắn đứng lên định vẫy bà mẹ qua phòng bên thì Octavia đột ngột cất lời: 
– Nếu bác sĩ có nói gì với mẹ tôi thì cứ việc nói ở đây đi. Đàng nào mẹ tôi cũng phải cho tôi biết mà? Mẹ tôi đâu biết gì … 
Bác sĩ Barbato khựng lại chút xíu nhưng hiểu ngay. Đối với những típ người thực tế, nhà quê này khỏi cần tế nhị, khỏi cần “bí mật” nghề nghiệp! Do đó hắn phải cho hay: 
– Bệnh của cô sưng màng phổi, không có gì đáng ngại, nhưng phải nằm bệnh viện để rọi kiếng và dưỡng sức . Ho ra máu như vậy là phải để ý. Có thể đau phổi. 
Có lẽ ý nghĩ đau phổi, lao phổi khiến ông bác sĩ sực nhớ lại vở ca kịch sắp đi xem  Vở kịch lâm ly, vai đào chánh cũng vướng chứng ho lao trầm trọng nhưng đau khổ vì tình phụ nên nhất định lên sân khấu trình diễn đến hơi thở cuối cùng. Một cái chết ghê gớm quá, bác sĩ Barbato bèn nói thực: 
– Mấy người đừng hốt hoảng, đừng sợ vô lý! Cho dù có đau phổi thực, đau phổi nặng cũng điều trị dễ mà. Phiền phức nhất là chỉ phải nghỉ làm ít lâu, chứ bệnh có gì đâu mà lo? Mai bà đưa cô ấy tới Bellevue đi. Còn tối nay tôi sẽ cho ít thuốc xài đỡ. 
Bác sĩ Barbato lấy ra một vỉ thuốc của mấy dược phòng biếu làm mẫu đưa cho bà mẹ và dặn dò lần chót: 
– Nội ngày mai bắt buộc phải đưa cô ấy tới Bellevue. Nhà này sưởi không đủ ấm, con nít phá suốt ngày mà cô ấy lại cần nhất nghỉ ngơi . Còn phải chiếu điện nữa . Bà đừng sợ … nhưng đừng quên nghe? 
Bác sĩ Barbato hối hả ra về . Không biết hắn ghê tởm hay hài lòng nữa! Thay vì lấy tiền khám bệnh hai đôla quèn … có thể đập mười lăm đôla như chơi chứ? Chỉ cần bảo tới phòng mạch, để rọi kiếng và điều trị cỡ một tuần là ăn chắc.
Có điều gia đình nhà Lucia Santa này xem bộ nghèo . Đập nhiều không nỡ mà ít thì lại tiếc cho công khó bao nhiêu năm ăn học tốn kém. Bác sĩ chữa bệnh mà chịu “ăn rẻ” thế sao? Ông b đã chịu bao nhiêu nỗi cực nhọc cho con ăn học thành tài chỉ để mong hốt bạc sau này mà lại hốt ít thế, hốt có hai đôla thay vì mười lăm đôla sao? 
Đột nhiên bác sĩ Barbato có cảm giác có quyền xử dụng máy chém mà không nỡ xuống tay. Hắn muốn “chém” bao nhiêu mà chẳng được ? Giả thử Octavia là con cưng của lão chủ lò bánh mì xem? Hắn sẽ đập thẳng tay, đập bằng thích . Đập cho lão xính vính, bắt buộc lão phải nhả ra tới đồng bạc cuối cùng mà vẫn là chính đáng, lão có muốn kêu ca cũng không thể kêu ca vào đâu được kìa! 
Thôi biết vậy. Nếu để ý tìm thì ít lâu nữa thế nào chẳng mở được phòng mạch ở một khu béo bở nhất, tha hồ chém bệnh nhân mà không hề thắc mắc, ngần ngại. Bác sĩ Barbato đâu phải thầy thuốc của nhà nghèo ? Thấy cảnh nghèo nào khổ sở, đánh hơi thấy sự không tiền … là khỏi chịu nổi. Xưa nay hắn vẫn vậy nên lâu lâu lỡ bị tình cảm lấn át một lần là hắn dám buồn tới mấy ngày sau! Theo Barbato thì tình cảm hay tử tế chỉ có hại không thể tốt đẹp. 
Trong bếp nãy giờ hai anh em Vincenzo, Sal đi xem xi- nê suốt chiều chủ nhật về đang ngồi ăn đỡ mấy miếng bánh mì đổ dầu giấm. Gino ngồi một góc bàn lo làm bài trường. 
Lucia Santa bước vào nhìn quanh một lát rồi bảo: 
– Cho mày một cắc đây … mở ví tao mà lấy. Rồi chạy xuống kêu Lorenzo lên mẹ bảo. Đi liền đi, Gino! 
Thằng nhỏ đứng phắt dậy làm đúng như lời mẹ bảo. Lucia Santa thấy thương nó vô cùng. Có nó cũng đỡ mà vừa rồi khi không bị một tát tai oan uổng, nó cũng không dám cưỡng lại lời mẹ một giây. 
Sáng sớm hôm sau Lucia Santa có một quyết định quan trọng nhưng ngược đời làm bà con chòm xóm buồn kinh khủng, dù chẳng ai thương hại hoàn cảnh mẹ con mụ. Bồ bịch như dì Louche cũng bất mãn mà đến ông bác sĩ Barbato cũng phải chửi thề một phát. 
Từ ngày vào học trường thuốc có bao giờ Barbato dùng tiếng mẹ đẻ chửi thề bao giờ? Vì Lucia Santa làm vậy là ngược ngạo quá, dù có thương con cách mấy cũng quá lố, chướng đời không chịu nổi. 
Xưa nay dân xóm này đau yếu nặng là chỉ có nhà thương thí Bellevue. Bây giờ Lucia Santa là cỡ gì mà dám bày đặt sai thằng Larry đánh xe đưa Octavia lên tận bệnh viện tư của Pháp ở mãi đường 30 kìa ? Vừa xa xôi, vừa tốn tiền quá lắm! 
Nằm nhà thương tư là phải mất tiền, tốn kém kinh khủng … dù chỗ nằm có sạch sẽ, bác sĩ có tận tâm và y tá thì săn sóc rất đúng mức . Ngay mấy người nhận bệnh cũng lịch sự, đàng hoàng chứ đâu có lối bắt người bệnh gần chết nằm chờ cả giờ đồng hồ mới cho một chỗ nằm? Biết là tốn tiền chứ … nhưng Lucia Santa vẫn nhất định cho con nằm bệnh viện Pháp. 
Phải nói đây là một quyết định liều lĩnh, gần như muốn thách thức số mạng! Tiền dành dụm được bao lâu nay Octavia nằm bệnh không đi làm được đã hao hụt quá nhiều, hồi này kiếm tiền quá khó thì nằm nhà thương tư khác nào đốt bạc? 

Photo edit by Sơn râu

Lucia Santa biết cả. Đau xót và lo sợ lắm nhưng để nó nằm nhà thương thí thì không nỡ. Suốt đêm mụ không chợp mắt nổi, mơ mơ màng màng toàn ác mộng. Một đứa con nhỏ như Octavia nỡ lòng nào để nó đã đau ốm còn bị hành hạ trong cái địa ngục Bellevue, vào thăm muốn tìm cũng khó quá và ai muốn chửi lên đầu cũng đành ráng chịu. Một đứa con ngoan dễ thương, xinh tươi như nó … mà đau ốm bắt vô nhà thương thí sao? 
Vả lại Lucia Santa còn mê tín dị đoan. Chồng mụ đó, vào nằm Bellevue đã thấy ra đâu? Mà chính mắt mụ thấy rồi, vào đấy khác nào chui vào lò sát sinh! Chết chắc. Mà chết rồi thân xác nào đã được yên? Họ mổ xẻ, họ cưa ra từng mảnh … dám Octavia sẽ biến thành những bộ phận ngâm trong các bồn, các hũ ở phòng thí nghiệm lắm! 
Vậy thì thây kệ thiên hạ chê cười, bà con thân thích dèm pha cũng được! Mình thấy phải làm thì cứ việc làm . Họ dâu biết mụ đã ngồi âm thầm khóc bên cạnh giường con, khóc ngấm ngầm một mình vì biết trông cậy vào ai, có còn ai đâu để mà trông cậy? Mụ đâu thể để người ngoài nhìn thấy … đành chịu khổ một mình, chẳng cầu mong ai bố thí tình cảm. 
Suốt đêm Lucia Santa đã đau khổ với tâm trạng trên. Sáng dậy thì chẳng còn gì thắc mắc. Mụ đã quyết định rồi vàvô cùng tự tin, chẳng cần ý kiến ai hết. 
Đợi bọn con nít đi học hết, Lucia Santa kêu Larry lên. Octavia đã được bận đồ ấm rồi nhưng hai mẹ con vẫn trùm mền kín mít, đỡ xuống thang gác ra xe của thằng Larry. Nó leo lên cầm tay lái thì mụ thản nhiên bảo: “Mày cho tao lên nhà thương Pháp”. Lập tức Octavia ngóc cổ dậy phản đối “Đừng … đừng mẹ”. Mụ nạt lớn: “Im cái mồm! Khỏi có cãi tao. Đi lên nhà thương Pháp”. 
Dĩ nhiên thể thức nhập viện mau cấp kỳ. Octavia được đưa ngay vào một căn phòng yên tĩnh, sạch sẽ, duyên dáng. Một cô gái nhỏ nằm chung phòng, trên vách phòng còn treo hình. 
Trên đường về nhà Larry xưa nay vẫn có ý nghĩ ganh với chị mà cũng phải hứa mỗi tuần sẽ đưa cho mẹ năm đôla đến khi Octavia khỏi bệnh đi làm trở lại. Mẹ nó đưa tay lên nắm vai nó khen một câu bằng tiếng Ý: 
– Vậy mày mới là đứa con ngoan, Lorenzo. 
Mẹ nói vậy nhưng Larry thấy ngay là nó chẳng được tin cậy, vị nể, trọng vọng chút nào trong cảnh “gia đình khủng hoảng” này. Nó không thể xem được bằng Octavia. Có điều nếu được ở địa vị của chị thì chắc chắn nó không chịu ngã bệnh rồi.