vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 1 th. 7-1993)
Post by Sơn râu 10 Jul 2024

Google photo
Phần15.
Ăn Năn Và Sám Hối
Ngày nay, với tuổi gần xuống lỗ, đã 92 rồi, buổi theo ông theo bà đã hầu kề, mai chết hay nay chết đều được, và như vậy mà xong, hơn sống như nay, thân yếu đuối, cẳng chưn không chở nổi thân xác, đi thì muốn té, đứng thì không vững, may thời còn cặp mắt còn ngó và thấy người đẹp, nhưng thấy rồi thôi, chớ đâu còn sức bày binh bố trận, tôi nói ba hoa chích chòe làm vầy để che giấu mình bất luận, nay vào để xin thú thật, lúc còn xuân xanh thuở trước đây, tôi có tính ngạo và khinh người, tôi ghét nhất là “lính mã-tà”, ngày nay, tuổi chết hầu kề, tôi ăn năn thì đã muộn.
Xét lại, “mã-tà” hay “ma-tà”, chỉ là danh từ buổi xưa để gọi theo tiếng Mã Lai “ma-ta-ma-ta” của họ là lính, và bắt qua của mình, “mã-tà” tức là lính, mà trong Nam nầy gọi theo Tây là “agent de la Garde Civile Locale” để đối chiếu với tiếng Pháp “tirailleur” ta gọi “lính tập” tức là lính tùng ngũ theo chế độ Pháp, ở Huế là “garde indigène”, ở ngoài kia, cũng đồng gọi một thể ấy, và nay tôi hiểu rộng và không khinh nữa, thì chữ “indigène” cũng không có chi là nhục, đến có lúc bỏ quách không đúng nữa, và nay ngày tàn bóng xế, tôi hiểu rộng rãi, thì “indigène” chỉ là “người bản xứ” và theo tôi, nói tiếng Tây chút chơi, và tỉ dụ: “le Parisien est un indigène de Paris”, nào có nhục gì đâu?
Tôi nay còn phân vân chưa hiểu, tại sao chức “caporal”, ta dịch “anh bếp, anh cai”, còn “sergent”, ta dịch “thày đội”? Và theo tôi hiểu như nay, thì chức “bếp” phải hiểu “người coi về bếp”, và đời xưa, một bếp là thủ một tốp 5 lính, có lẽ một cai thì thủ số lính trọng hơn, và tôi tạm hiểu tỉ như “một đội” gồm 10 cai hay 10 bếp, nên dịch theo tôi “đội” là “capitaine” hoặc một “lieutenant”… còn chức quản là chức trị được 10 đội (“commandant”), và “vệ” là “général”, vì tôi từng nghe một tiền bối dạy tôi:
“Chánh vệ” là từ riêng để gọi Lê Văn Duyệt khi chưa là Tổng trấn, Tả quân; và “Phó vệ” là từ riêng của Lê Văn Khôi xưng trong tuồng San Hậu và nay tôi tiếp theo kể cho đủ chuyện, tỷ như Dương Quí phi của vua Đường Huyền Tông, trước là dâu, sau là phi tử, lấy con rồi ngủ với cha chồng, Huyền Tông chiều chuộng nhưng tuổi già cung cấp không phỉ gái đương độ xuân thời, quá hăng lửa tình, tắm nước cho An Lộc Sơn là một phiên nô có dòng máu Thổ Nhĩ (Turc) để nơi trận Ma Sơn, Quí phi bị binh Đường sát hại đền tội dâm lộng, tuy vậy theo tôi, phương Đông vẫn có hạnh và giữ hạnh chín chắn, không như bà George Sand, lăng loàn không biết mấy đời chồng, ham trai tơ; George Sand, từ nhà tu ra, lấy chồng là một võ phu, chỉ ham đi săn thú hơn là vui đêm với vợ đẹp, đã thất bại về hôn lễ chánh thức lại vấp đường tình kế tiếp tám chín năm với thi sĩ Musset, chín mười năm với nhạc sĩ đa tài nhưng thiếu lực khỏe Chopin, đến khi tuổi xuân đã qua và tới chiều đông tàn, George Sand, ăn mặc theo trai, bỏ xiêm y nhảy qua làm và binh vực cách mạng, gái Tây phương dường ấy, và kể lại trai phương Tây, đại kỳ tài như Victor Hugo, để vợ chung chạ với Sainte Beuve, v.v… và mặc cho bà ăn nem, Hugo vẫn ăn chả, con đòi Blanche, nàng ái thiếp Juliette Drouhet, và xiết bao mèo vụn khác, lạ nhứt là Hugo nhắm mắt để vợ kéo cột – Adèle tò tí với bạn là Sainte Beuve, Hugo rõ tận mà làm thinh, để cho Juliette tận tụy và tận tình sao chép bản thảo những kiệt tác “Les Misésables”, vân vân, Adèle khi từ trần, Hugo khắc bia trên mộ vỏn vẹn hai hàng:
“Adèle
Vợ của Victor Hugo”
Hugo đã không giận Adèle ngoại tình trước và Siante Beuve, sau thời Théophile Gautier và trong lúc ấy chàng ta, Hugo kỳ tài nhưng quá dâm, làm sao kể xiết sự lắn-nhằn để ba lăng nhăng… và tôi chỉ nhớ trong quyển “Các cuộc đời ngoại hạng” của Lộc Đình có câu nơi trang 27, nguyên văn: “… Hugo chịu khó đi thăm tất cả các cổ tích của Paris, đặc biệt là giáo đường Notre Dame de Paris, mà ông biết rõ từng phiến đá, từng tấm kính, từng bực thang, cho nên viết phần lịch sử trong truyện rất đúng, từ cảnh tới nhân vật, và ngôn ngữ, không khí. Bình dân Pháp sở dĩ biết Paris thời cổ, yêu nó, phần lớn là nhờ đọc Notre Dame de Paris, cũng như chúng ta biết được chút ít về Thăng Long thời vua Lê chúa Trịnh là nhờ đọc “Ngược đường trường thi”, “Bốn con yêu và ba ông đồ” của Nguyễn Triệu Luật, dĩ nhiên tài năng và công phu của Nguyễn không thể so sánh với Hugo được”.
Viết thêm trang nầy và bàn rộng chút chơi, mình nói cho trong nhà đủ nghe, có sợ gì dư luận. Có câu, nhớ mãi: “Đức thắng tài, giả vi quân tử” và đối lại “Tài thắng đức, quân tử giả vi” như thường, chưa ắt là tiểu nhơn.
Alexandre Dumas cha, để lại tiểu thuyết “Les Trois Mousquetaires” soạn hình như vào năm 1844, mà nay còn người đọc và say mê dịch ra khắp nước. Người con là Alxeander fils, để lại tập lãng mạn “La Dame aux camélias” (Nguyễn Văn Vĩnh dịch là “Trà hoa nữ” đã làm cho phụ nữ khóc hết nước mắt).
Ngày nay chúng ta học và đọc các tập ấy, ít phê bình về hạnh kiểm hai vị nầy và các George Sand, Victor Hugo, luôn lão thầy tu hoàn tục Talleyrand, phản vua, phế vua, nhưng có công với nước Pháp; chúng ta bo bo chỉ lo phê bình, chỉ trích những Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường,… Tuy vậy Phan Thanh Giản đã có người Nga khen “khéo về chính trị”, Trương Vĩnh Ký nay có người quan trọng trong đảng, viết sách kể công; tôi cho sau nầy sẽ có người viết lại về Tôn Thọ Tường, nay chỉ còn danh ở Chợ Lớn, quán bán vịt quay ngon. Và nếu Tôn Thọ Tường có nhơ, tại sao tôi không thấy Đồ Chiểu chê bai, và đặc biệt bởi Tường không nhơ, nên quan Phan vẫn hòa thi trên dường sang Pháp địa. Tôi không dám viết dài, chỉ dặn cháu con: “Rủi sanh lỡ làm người, thì cứ cơm tẻ ngày hai, lựa nghề thủ công kiếm cơm độ nhựt, nhứt là đừng theo gương tôi “Hơn nửa đời Hư”, viết không hay và bị in bỏ bớt khá nhiều, lại nữa tiền công viết, viết 2 năm, lãnh không đủ xài nhứt ngoạt, có ích gì mà ham viết lách.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.