This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi Biết Gì Về Hát Bội, Cải Lương Và Tuồng Phụng Nghi Đình
Ngày nay, với ti vi màu mè, ở nhà nằm coi sướng hơn đi mua vé đến rạp xem diễn, để cho bận về, ra cửa, bị chúng giựt bóp, giựt đồng hồ, có khi đâm đổ ruột lòi phèo, vì vậy cho nên hát bội cũng như cải lương bị ế giòng, cô Bạch Tuyết, Ngọc Giàu phải chịu nằm co, (nhại câu cũ và viết chọc chơi xin đừng giận: “Rạp vắng khách, đào kép kêu trời!”), và với tuổi 92 chờ ngày theo ông bà, và nói bá láp vẫn có độc giả rộng lượng dung thứ, thêm tật lớn “biết gì vẫn nói hết”, nay tôi xin kể lại ngững gì tôi biết và còn thương tiếc về hát xướng, kể từ năm 1915, tuổi 14 đã biết nghe hát, chí đến năm ni 1993, đã cúp hàm-thiếc không đi xem diễn và tiếc hùi hụi những đêm cụp-lạc cô Giàu mua thúng độn bụng làm Đổng Trác, vân vân, nhứt là tiếc những đêm ngâm thơ và đêm các trẻ thi nhau khoe giọng tốt hay vịt đực.
Năm 1915, tôi học lớp nhì trường tỉnh ở Sốc Trăng, (cỡ 10 hay 11 nay), hát bội đang thịnh hành, có đào Sáu Sển, người xứ Trà Vinh, thủ vai Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu thành, tối về tôi nằm mơ vẫn thấy…, một đêm nọ lối 1918, ông phó tham biện Nguyễn Phú Quí bắt ép hai gánh hát, gánh Lưu Thị Ngoạn (và Ba Ngoạn) có đào Năm Nhỏ, và gánh Sáu Sển nhập chung, diễn lấy tiền quyên cho nhà nước Tây thuộc địa buổi ấy gọi là giúp quốc-trái, diễn tuồng “Tây Hà ngộ thê”, lớp vợ Trần Nhựt Chánh (Năm Nhỏ) đối đáp với mẹ chồng (Sáu Sển), tôi còn nhớ rành rạnh cô Sáu (nếu còn sống tuổi hơn 100) làm mẹ, nhiếc và nói toàn chữ Hán, nhiếc cay nhiếc đắng, nàng dâu (Năm Nhỏ) không trả lời được và chỉ lấy nước mắt và khóc hai chữ “Mẹ ôi!” mà trừ… (không hát được câu nào để đối cho xứng, vì chưa già giặn và nghề non, thua…)
Thuở ấy quãng vài chục năm sau, kể về kép có hạng, tôi biết và từng xem diễn, có Sáu Ất, người ốm, thấp nhưng mắt thật lanh, cử chỉ vén khéo, thủ vai Quan Công, thì tôi chưa biết có ai hơn, còn vai Tư Đồ Vương Doãn thì có kép Tám Tri, vai Lữ Phụng Tiên có kép và bầu Hai Thắng, vai Châu Du có kép Mường Vàng (tuồng Phó hội Giang Đông), còn kép Chín Tài, thủ vai gần gần như Bầu Thắng, nhưng Chính Tài múa quều quào, nên tôi dám lén chê.
Kể về đào, các cô Cao Long Ngà, Năm Đồ, Ba Út, đều quá vãng nên xin miễn nghị, Ba Đắc còn sanh tiền, thủ vai Tôn phu nhơn đọc thơ của mẹ thì lâm li thống thiết, tuyệt, nhưng vợ của mình và đào nhà, Năm Sa Đéc, tôi được phép riêng khen và nhớ lại tình cũ nghĩa xưa và nhắc lại đây một chuyện nhỏ, tin hay không là quyền của độc giả, một buổi gần đây, tôi lấy hồ sơ để trên bàn định viết về “cái hay của hát bội” nhưng lạ quá, hồ sơ thất lạc, tìm mãi không thấy, đêm đó hay đêm kế, tôi nằm mơ thấy Năm Sa Đéc về khóc và nói: “Anh đừng viết, vì tôi muốn giấu nghề… lại nữa anh không thông Hán, và nhiều chữ nhiều câu bí ẩn, anh làm sao viết lại cho đúng…”, tôi mơ màng hứa không viết… và liền đó, tôi gặp lại hồ sơ Hát bội, vẫn nằm chình ình trên bàn, nhưng nằm dưới một lớp sách báo bừa bãi nên trước đó tôi không thấy. Ghê chưa? Dị đoan ư? Không! Có lẽ là cô hồn độ mạng, khiến tôi khỏi viết.
Tôi nói gà nhà, đào nhà, được phép khen, tôi muốn nhắc lại Năm Sa Đéc, khi ở gánh hát bội, vai nào cũng coi được, và tôi đã mê và chọn làm vợ, vì làm Lữ Phụng Tiên, răng đều và trắng quá, và khi có tuổi, làm Tống Thái tổ bị khốn nơi Thọ Châu thành, nhứt là làm Đổng Trác lúc cùng Điêu Thuyền lên xe về Mị Ô, thì xin lỗi độc giả, riêng tôi tôi nhận chưa ai diễn hơn… và khi chiều tà, qua Cải lương, cũng giúp tôi chạy gạo buổi ngặt nghèo, Năm ôi, S. nầy chưa quên và khi qua Thép Súng hoặc gần gần đây, Giải Phóng đã nhập thành, diễn vai nào, loạt điệu mới, đều có người nhắc, tiếc. Năm ôi!
Nói nhiều không phải là hay. Nay nói sơ qua tuồng Phụng Nghi Đình. Đó là tuồng thầy, và vẫn còn sống sót, mặc bội và lương đều về xế bóng. Hát bội, những câu, tôi kể lại đây để học thêm với người thức giả; kể sơ:
– rất thanh mà rất tục, nay có câu nào văn mới, dám bì lớp Địch Thanh bị Thoại Ba cầm giữ, không cho đi, Lưu Khánh khuyên nguyên soái: “đánh cho be bét, bỏ giận lăng nhăng mấy bữa…” (rất tục và thật gói ghém, tôi xin diễn cho bạn trẻ mau hiểu: “Đánh cho bả đi hết nổi thì bả buông tha chớ gì!…”
– “mưu ai khiến bà bẻ nhành suốt lá… ” (tôi cho thật mới, thật khéo), v.v.
– Tuồng Mạnh Lệ Quân, lớp giả trai cùng vua dạo ngự hoa viên, vua Thành Tôn (Tư Út) muốn thử thừa tướng là gái giả trai, nên trờ ngựa tới trước và lấy roi quất vào nhánh cây cho giọt mưa rơi xuống, Lịch thừa tướng (Phùng Há) cúi mặt không phấn và lấy mắt trách quân vương lỗi đạo, lớp nầy không đờn không trống, chỉ diễn câm, mà khéo tuyệt, còn như tuồng Phụng Nghi Đình buổi Tây rút lui, người lùn qua đây, Lữ Bố (P.H.) diễn quá bạo, đào Điêu (Bích Thuận) chơn đi giày trắng peau de daim, và hát xang-xừ-líu, tăng-gô-si-noa, (đít vêu-vêu, anh em cô bác nghĩ sao???), và gần đây, má Bảy đã tròm trèm hơn tám mươi còn diễn cho ông Lớn xem, ông Lớn khen “Lẳng lơ Lữ Bố hý Điêu Thuyền”, tôi tiếc già hết xài, không ai nhớ mời đi coi…
Và tôi chấm dứt bài nầy bằng chuyện cũ, năm kia, lối min-nớp-xăng-ca-răng, có một gánh hát Tàu qua đây, tôi xem diễn nơi một rạp ở Cầu Ông Lãnh, tuồng Phụng Nghi Đình, gánh đó diễn Điêu Thuyền là nước Tàu, Đổng Trác và Lữ Bố, Vương Doãn, vân vân và vân vân là nhơn vật thời nay của buổi Nhựt lấn đánh Trung Quốc, Đổng là thằng lùn, hay Bố cũng là thằng giặc gì gì đó, tôi không dám hiểu nhiều, duy nhớ trong lúc Tàu qua đây diễn lớp tuồng bị cướp đoạt nước ấy thì vẫn có một họa sĩ người Tàu đi theo sát gánh hát, mỗi ngày và đêm, ở Sài Gòn nầy, họa sĩ Tàu nầy vẫn treo một bức tranh cao độ hơn ba thước tây, bề ngang độ 1 mét 50, bốn chữ to tướng, cỡ bắp tay: “Hoàn… Ngã… Hà… San” (ẩn ý là “Hãy trả lại tôi sông núi của tôi”), bốn chữ nầy, thuở ấy thuộc địa Pháp vẫn cho treo, và sau đó, một thức giả (ông Huyện Của, cha tướng Xuân) đã xuất mười nghìn đồng bạc con cò (10.000 piastres indochinoises) mua lên, nay tranh ấy còn hay mất, tôi xin chừa một khi khác… và thật tôi chưa biết.
Bàn Góp Với Người Hiểu Việc Về Chuyện Dự Định Xây Cầu Mỹ Thuận
Tôi viết bài nầy và gửi cho Tuần báo Vũng Tàu Chủ Nhựt, tự xét là xía vào một việc không liên quan đến mình, gần như hà rứa, vì tôi chưa là kỹ-sư-cầu-cống mà dám bàn việc chuyên môn, cũng không phải ở trong nhà nước mà xen vào việc thuộc về chính trị, duy lấy theo tuổi già 92 có chút kinh nghiệm thừa, vả lại biết mà không nói cũng có tội với lương tâm, vậy tôi cứ nói, lời nói được dùng tôi cũng chưa mừng, bằng cho vào sọt rác, thì tôi lại ưng ý, vì tội già hàm không biết thân, còn gánh bàn độc mướn.
Tôi đã theo dõi tờ 16-6, (khen cho hai cô nhỏ hái dâu xanh có răng tuyệt đẹp) có bài “Lừa đảo trên các bến phà miền Tây”, và từ 20-6 (với số tiền mua 1.700 đg mà được ngắm nhìn vóc dáng màu da, nước xanh biển mát), trong tờ nầy, có bài nói về “Cầu Mỹ Thuận”.
Nhắc lại việc cũ ít người biết, tôi xin tóm tắt lại đây những gì tôi biết về cầu bắc qua sông lớn miền Nam để về miền Tây, thì có hai cầu: một là cầu Mỹ Thuận, hai là cầu Cái Vồn. Địa danh Mỹ Thuận, nghe được nên còn, trái lại hai chữ “Cái Vồn” nghe kì kì, nên đã xếp vào chuyện cũ. Tôi xin ngứa miệng cãi bướng: trước kia, dường như có “Ta Von”, hai chữ Ta Von, tôi chưa dám chắc là đúng, nhưng tôi hiểu theo tôi “Ta” là “Nắc-tà”, ông tà Á Rặc của người Thổ, và “Von” là tên tộc của Neak-ta ấy, và khi phiên âm ra làm “Cái Vồ”, vẫn không nghe tục vì quen miệng quen tai từ lâu… Nay bỏ việc từ ngữ, xin kể sơ, khi tôi còn làm thơ ký “đứng bàn ông chánh” tại Cần Thơ, tức làm viên thông ngôn cho quan tham biện chủ tỉnh tại tỉnh Cần Thơ ấy, khoảng những năm 1932 đến 1935, tôi có được dự nhiều kỳ hội nghị về việc xây cầu vĩnh viễn thay cho chiếc phà Cái Vồn, tôi nhớ có một hãng Pháp ở bên Tây, qua đây đề nghị xin cho hãng ấy bắc qua Cái Vồn một chiếc cầu nổi (pont flottant) ghép bằng nhiều chiếc tàu nối liền nhau và chở xe và bộ hành qua lại sông Hậu, khi có tàu thuyền xin đi, thì tháo ráp dễ dàng, vân vân, và giao kết hãng thâu tiền và sẽ giao chiếc cầu nổi ấy cho nhà nước 20 (hai chục) năm sau. Vấn đề “cầu nổi” bị nghị viện Pháp, tên Labaste, lấy danh là Hội-đồng-Quản-hạt (membre du Conseil Colonial) thẳng tay bác bỏ, viện cớ là hãng ấy chỉ “ư trung thủ lợi”, chớ hai chục năm sau, giao trả cho nhà nước thuộc địa, thì tàu bè đã hư nát vô dụng rồi.
Nay bàn về vấn đề xây cầu Mỹ Thuận, tôi nhớ người Mỹ đã có dự định và đã dọn đắp hai dốc đất sẵn sẽ xây cầu thật cao bằng bê-tông cốt sắt, nhưng vấn đề nầy bị trở ngại và bở dở, bất thành, uổng quá, vì có một nước lân bang làm khó, đòi phải xây cầu cao hơn nữa để cho tàu khói qua lại trên Sông Lớn khỏi chờ đợi mở cầu, vân vân và vân vân.
Tôi biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Riêng xét, và bàn thừa hai việc:
1) Xây cầu vĩnh viễn, cơm tiền bao nhiêu tỷ USA cho đủ. Nước nhà đang eo hẹp tài chính, cầu xây nếu bị một trái bom đủ cầu hóa ra hết xài, lại nữa Tiền Giang và Hậu Giang là hai con rồng, thường hay đổi giòng nước chảy, một khi đổi giòng là cầu nọ vô sử dụng, chi bằng thay vì xây cầu cho tốn kém, già nầy đề nghị nên “liệu cơm gắp mắm”, hãy tạm mở thêm nhiều bến bac (bến phà) vừa ở Mỹ Thuận, vừa ở Cái Vồn (Cần Thơ), xây thêm nhiều bến, càng nhiều càng hay, mặc cho xe và vận tải hạng nặng và bộ hành đi bộ qua lại hai sông dễ dàng, dẫu chờ đợi chút ít cũng chưa sao, nhà nước lợi là thâu tiền đò, người dân có lợi, nghèo như giàu đều cùng hưởng ít lợi chung, vả lại giữa lại các bến “bac” như cũ, thì dân bán quán có chỗ sanh nhai, chớ theo tôi, nếu xây được chiếc cầu vĩ đại Mỹ Thuận thì dân Hậu Giang, muốn về Cà Mau (Minh Hải), lại cũng còn một chiếc bác Cái Vồn (Cần Thơ). Còn như tôi là quê ở Sốc Trăng, tôi chỉ cần một phen nằm trong sáu miếng ván, có xe chở qua cầu qua “bac” một lần chót nữa thôi, tôi cóc cần cầu nầy cầu nọ.
2) Việc thứ hai, quả là dư thừa, khi cầu bê-tông xây xong, thì quán cơm, quá cà-phe-cà-pháp phải bơ mỏ, dẹp tiệm, và Sida si-điếc sẽ dời theo bến theo cảng xe đò xe đậu.
3) Một việc thứ ba viết thêm, hẳn là chọc giận không nhắm lối, nhưng vẫn cứ nói, là tiếng của chúng tôi xin để lại chúng tôi, Nhứt chứ không “Nhất” và “núi Châu Thới” chứ không phải Chu Thái sơn đâu?
Người lớn với nhau, chọc tức chơi cho đỡ buồn, và xin đừng giận.
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 16 – Kỳ cuối
Hình như số tôi không có diễm phúc được ở gần vợ tôi vào những ngày nàng sinh con để có thể vuốt ve an ủi nàng những lúc nàng thấy cần tôi nhất. Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhất thì tôi đang lặn lội trong rừng Plei Trap, Pleiku. Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhì thì tôi bận khai thông Quốc Lộ 14 nối Pleiku với Kon Tum. Ngày vợ tôi sinh em bé thứ ba cũng là ngày tôi suýt chết trong một trận đánh vô cùng ác liệt đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711. Trận chiến này đã cướp đi hàng trăm sinh mạng của cả hai bên tham chiến.
o O o
Vĩnh biệt
Cao Nguyên…
Sau khi Liên Tỉnh Lộ 8B được khai thông thì Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, nhường chức Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho Trung tá Hoàng Kim Thanh. Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân tiếp tục tăng phái cho Tiểu Khu Quảng-Ðức. Cuối năm 1974, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn ra đi, Quân Ðoàn II đặt dưới quyền của Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Giữa tháng Hai năm 1974 tôi có dịp ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Ông Trịnh Tiếu đã mang cấp bậc đại tá từ vài tháng trước, người phụ tá cho ông Tiếu là Thiếu tá Hồ cũng đã lên trung tá. Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II hiện thời là Ðại tá Lê Khắc Lý. Năm 1971 Ðại tá Lê Khắc Lý đã là Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, tôi là một sĩ quan tham mưu dưới quyền ông.
Tháng 8 năm 1971, trong buổi họp từ biệt Biệt Ðộng Quân Vùng 2 để theo học lớp Cao Ðẳng Quốc Phòng, trước mặt các sĩ quan tham mưu của Biệt Ðộng Quân Vùng 2, Ðại tá Lê Khắc Lý đã nhắn nhủ tôi một câu mà tôi cứ nhớ hoài:
“Trước khi từ biệt, tôi chỉ khuyên Ðại úy Long một điều là, trên đời này muốn thành công phải biết nhún nhường. Không phải cấp chỉ huy nào cũng thích cái tính khí nông nổi và cương trực của Long đâu!” Sau gần bốn năm cách xa, gặp lại người chỉ huy cũ tôi vui lắm. Tôi đã ngồi tâm sự với ông Lý gần nửa giờ rồi cáo lui. Trước lúc chia tay, Ðại tá Lý hỏi tôi,
– Sao Long không xin thuyên chuyển đi vùng khác? Cứ bám vào cái đất khỉ ho, cò gáy này mãi vậy?
Tôi trả lời,
– Tôi tính về Liên Ðoàn 6 với ông Tây, nhưng vì ông Tất cố tình lưu giữ nên tôi không đi nữa.
Ông Lý xua tay,
– Mình lo cái thân mình trước, đừng nể nang ai cả! Nếu có dịp đi khỏi Vùng 2 thì chớ bỏ qua! Ðừng lưu luyến cái xứ này! Tôi không rõ khi nói ra câu đó Ðại tá Lý có ý gì, nhưng tôi cũng thấy lo. Tôi đã phục vụ ở đơn vị tác chiến của Vùng 2 một thời gian gần mười năm. Vì thế, tôi có dư điều kiện để xin đổi về Vùng 3, về các quân trường, về Bộ Tổng Tham Mưu hay về canh gác các Phủ, các Bộ ở Sài-Gòn. Tôi cũng đã biết rõ, trong tương lai, tình hình Cao Nguyên sẽ càng ngày càng nguy kịch, nhưng tôi không nỡ bỏ Cao Nguyên mà đi. Thế rồi, chưa tới một tháng sau ngày tôi ghé thăm quân đoàn thì Việt-Cộng đánh chiếm Ban Mê Thuột. Trước khi Ban Mê Thuột bị tấn công, tôi đã xin đem quân về tử thủ thành phố này nhưng không được chấp thuận. Ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột bị tràn ngập, gia đình tôi và gia đình binh sĩ dưới quyền tôi rơi vào tay địch. Hôm sau tôi tình nguyện đem quân về tái chiếm thành phố này, nhưng lời cầu xin của tôi bị gác ngoài tai. Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo sự sụp đổ của Quân Ðoàn II, khiến cho hằng chục ngàn quân, dân của Cao Nguyên phải bỏ mạng một cách thật là oan uổng trên Liên Tỉnh Lộ 7B. Ngày 15 tháng 3 năm 1975 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã bỏ chạy tới Nha-Trang. Vậy mà gần nửa tháng sau tôi vẫn còn tả xung, hữu đột ở vùng biên giới Việt Miên, cách xa tỉnh lỵ Quảng-Ðức gần 30 cây số. Trong cơn hoảng loạn cùng cực của Vùng 2, ông trung tá liên đoàn trưởng bị thương vừa lên máy bay rời vùng ngày hôm trước, thì hôm sau ông trung tá liên đoàn phó cũng đào ngũ.
Cuối cùng, tôi là người phải đứng ra đảm nhận vai trò chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, đơn vị cuối cùng còn tồn tại của Cao Nguyên. Sau gần nửa tháng lui binh, vừa đói rét, vừa chiến đấu, ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi được Phi Ðoàn 237 Trực Thăng của Quân Khu 3 bốc về Long Khánh, đây cũng là ngày tôi vĩnh biệt Cao Nguyên. Chiếc trực thăng Chinook nặng nề cất mình lên cao, lượn một vòng, rồi bay thẳng về hướng biển. Ngồi trong lòng con tàu, tôi dõi mắt nhìn qua khung cửa mà thấy tim mình nhói đau. Dưới kia, Quốc Lộ 20 ngoằn ngoèo uốn khúc qua Ðèo Chuối… Ðèo Chuối nằm vắt ngang rặng núi cuối cùng của Cao Nguyên Trung Phần. Bên kia núi là lãnh thổ của Vùng 3 Chiến Thuật. Vậy là, chỉ hai năm sau ngày đình chiến, Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã không còn….
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 15
Phái đoàn gồm có một đại tá, một trung tá và bốn thiếu tá. Mặt người nào cũng đăm chiêu, đằng đằng sát khí. Tôi là thuyết trình viên, Trung úy Trần Dân Chủ, làm người chỉ bảng và cung cấp tang vật.Trong mười phút, tôi tóm lược tình hình bạn địch cho phái đoàn, rồi đi vào chi tiết diễn tiến trận đánh ác liệt kéo dài suốt hai ngày, một đêm cho phái đoàn nghe. Tôi cũng đưa cho phái đoàn xem bức ảnh do Trung úy Chủ chụp được là một núi súng đủ loại của Việt-Cộng đã bị tịch thu ngày 14 tháng 4. Sau đó tôi chỉ cho phái đoàn tận mắt quan sát một thủ pháo chứa hơi độc, một cái bao nhựa phòng hơi độc kèm theo hai ve thuốc giải độc mà địch đã bỏ lại trên trận địa. Ngoài một vài quân nhân của Ðại Ðội 2/82 và 3/82 đứng ra kể lại những gì họ tham dự và chứng kiến, tôi cho phái đoàn tiếp xúc trực tiếp với hai nhân chứng đặc biệt là vợ chồng người lao công đào binh đã bị Việt-Cộng bắt sau khi tràn ngập 711. Vợ chồng anh này đã bị Việt-Cộng trưng dụng để khiêng xác cán binh Cộng-Sản tử trận suốt một ngày một đêm.
Xác Việt-Cộng chết được đồng bọn kéo tới chân dốc Ðồi Tử Chiến, vợ chồng anh lao công này chỉ việc chất những cái xác đó lên xe. Ước tính họ đã chuyển vận trên 200 xác địch. Tới khi máy bay lên vùng bắn phá thì họ vội vàng dắt nhau chạy trốn vào rừng rồi tìm đường về Pleime. Hai ông đại tá và trung tá luân phiên đưa ra những thắc mắc và thẩm vấn nhân chứng, bốn ông thiếu tá thì chỉ ngồi ghi chép mà không có ý kiến gì. Sau thời gian gần một giờ tra vấn, hạch sách, chụp hình, chụp ảnh, phái đoàn đã đóng cửa phòng hội để họp kín. Chừng mười lăm phút sau, đoàn thanh tra mời chúng tôi vào phòng để thông báo kết quả thanh tra. Ông trung tá đứng giữa phòng thuyết trình lớn tiếng dõng dạc tuyên bố:
– Buổi thanh tra tới đây là chấm dứt. Chúng tôi đã có đủ bằng cớ để trình cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng về những gì đã xảy ra trong trận chiến ác liệt này. Xin cám ơn Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và toàn thể anh em đã có mặt ở đây ngày hôm nay.
Ông trung tá vừa dứt lời thì ông đại tá già, trưởng đoàn từ từ đứng dậy, hắng giọng một cái rồi chậm rãi từng tiếng một,
– Thực tình mà nói, giờ này quả là rất may mắn cho quân đội ta, khi trước mắt chúng ta còn có một vị tiểu đoàn trưởng xuất chúng là Thiếu tá Vương Mộng Long. Tôi xin hết lòng khen ngợi anh Long, đồng thời cũng khen ngợi lòng quyết chiến, quyết thắng của các anh em chiến sĩ trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Các anh đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng Quân Ðội Việt-Nam Cộng Hòa là một đạo quân vô cùng dũng cảm và thiện chiến. Về tới Sài-Gòn, tôi sẽ tường trình đầy đủ chi tiết trận đánh này cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, chắc chắn đại tướng sẽ gửi lời khen ngợi tới anh em.
Vài phút sau đó, tôi đích thân tiễn chân phái đoàn ra bãi trực thăng. Trước khi máy bay cất cánh, tôi đã nói với ông đại tá già một câu thật ngắn,
– Thưa Ðại tá, với tình hình hiện nay, tôi không biết có còn sống sót để có thể nhìn thấy quý vị lần nữa hay không. Tôi cám ơn phái đoàn thanh tra đã chịu khó lắng nghe và sáng suốt đánh giá những gì chúng tôi vừa trải qua. Chúc quý vị thượng lộ bình an.
Mười ngày sau tôi nhận được thông báo từ Thiếu tá Nguyễn Giáp Trưởng Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2: “Long ơi! Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Bộ Tổng Tham Mưu tuyên dương công trạng trước quân đội. Thiếu tá Vương Mộng Long và toàn thể quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 đều được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” Tôi còn nhận được tin báo rằng những quân nhân Thiết Giáp, Công Binh, Pháo Binh và những sĩ quan thực tập có mặt trong trận đánh này cũng được tưởng thưởng. Hoàn tất công việc đón tiếp phái đoàn thanh tra của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi bàn giao Căn Cứ Hỏa Lực 711 cho Trung Ðoàn 42 Bộ Binh rồi rút về Pleime. Tiểu Ðoàn 2/42 của Ðại úy Nguyễn Văn Chấn cũng di chuyển vào Pleime và tiếp tục tăng phái cho tôi. Sau khi rút về Pleime ít ngày thì Thiếu úy Phạm Văn Tô Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 đã đào ngũ trong dịp nghỉ phép thường niên.
Tôi nghe mấy anh lính có quê ở Long-An cũng được về phép thăm nhà, sau khi trở lại đơn vị đã báo cáo rằng ông Phạm Văn Tô hiện thời đã đổi họ tên và trở thành một người lính Ðịa Phương Quân gác cầu Bến Lức. Thời gian gần đây, chuyện lính đào ngũ từ đơn vị này rồi đầu quân vào đơn vị khác cũng không còn là lạ. Tôi không có ý chê trách sự lựa chọn của Thiếu úy Tô. Biết đâu đã có nguyên nhân sâu xa nào đó thúc đẩy Phạm Văn Tô chọn nhiệm vụ gác cầu của một binh nhì Ðịa Phương Quân, thay vì làm một thiếu úy đại đội trưởng tác chiến Biệt Ðộng Quân? Tôi chỉ biết rằng, trong thời gian phục vụ dưới quyền tôi, chú Tô đã thi hành tất cả những gì mà tôi yêu cầu chú ấy làm, vì thế, tôi không muốn tìm hiểu xem vì sao Biệt Ðộng Quân Phạm Văn Tô đã rời xa đồng ngũ mà không một lời từ biệt. Từ sau trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 tháng 4 năm 1974 thì Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản bắt đầu gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bằng cái tên “Thằng Hai Nâu”
Tin tức tình báo cũng cho tôi biết các đơn vị trực thuộc F320A Cộng-Sản đã được lệnh tránh đụng độ với “Thằng Hai Nâu” vì thế, lợi dụng thời gian tạm thời yên tĩnh này, tôi cấp tốc tái tổ chức lại đơn vị. Hai ông Chuẩn úy Trần Quảng và Trương Anh Kiệt được điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Chuẩn úy Trần Quảng trở thành Sĩ quan Phụ tá Ban 3 Liên Ðoàn 24. Chuẩn úy Trương Anh Kiệt theo học lớp quản trị nhân viên. Người mang máy truyền tin cho tôi giờ đây là Binh 2 Y Don Nier thay thế cho Hạ sĩ Ðiêu Lon.
Binh 2 Y Don Nier trước đây là hiệu thính viên của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm được thăng cấp thiếu úy và được đề cử theo học khóa đào tạo Sĩ Quan Truyền Tin Binh Ðoàn. Trung đội Trinh Sát 82 đã bị tôi giải tán. Trung đội Viễn Thám 82 được thành lập. Thiếu úy Trần Văn Phước, Sĩ quan Ban 2 của đơn vị, kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy Trung Ðội Viễn Thám 82 với quân số 18 viễn thám viên. Dàn đại đội trưởng 82 hiện nay gồm có:
Ðại đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ 82 là Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng.
Ðại đội trưởng 182 là Thiếu úy Lê Ðình Khay mới bổ sung.
Ðại đội trưởng 282 là Trung úy Nguyễn Hữu Anh từ Tiểu Ðoàn 11 chuyển sang.
Ðại đội trưởng 382 là Thiếu úy Phạm Ðại Việt.
Ðại đội trưởng 482 là Thiếu úy Phạm Văn Thủy.
Trong khi tôi bận bịu công tác huấn luyện đơn vị và thiết trí công sự phòng thủ thì những tin tức không vui tới tấp bay về. Tôi biết:
– Ngày 16 tháng 5 năm 1974 Chi Khu Dak Pek và Căn Cứ Biên Phòng Dak Pek rơi vào tay địch, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di đã tự sát ngay sau khi bị bắt.
– Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 năm 1974 Tiền Ðồn 5 trong vùng Kon Sơm Luk thất thủ. Ðại úy Dương Ðình Chính, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn 44 Bộ Binh bị chết mất xác.
Ðại úy Dương Ðình Chính là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi. Thời gian này, cứ cách vài ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại bay vào Pleime thăm tôi một lần. Tướng Niệm khuyến cáo tôi rằng, chắc chắn mục tiêu sắp tới của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản sẽ là Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Vì thế, tôi không dám rời xa đơn vị một ngày nào. Dù có việc bận phải đi Pleiku giải quyết, tôi cũng cố trở về trong ngày, không dám bỏ đồn, qua đêm. Tôi đã tự đặt mình trong tình trạng báo động một cách thường xuyên. Tình hình chợt xoay chuyển nhanh, mặt trận duyên hải trở nên sôi động; Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cấp tốc rời Pleiku để di chuyển xuống Bình Ðịnh; Căn Cứ Hỏa Lực 711 được giao lại cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân. Căn Cứ Hỏa Lực 711 mới này vừa được xây dựng trên cao điểm 601, nằm cách Plei Ngol Ho chừng bốn trăm mét về hướng Bắc. Căn Cứ 711 cũ và Căn Cứ Plei Ngol Ho đều bị san bằng, không còn dấu tích. Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đã thăng cấp đại tá, còn Trung tá Chính thì thuyên chuyển đi đơn vị khác. Người thay thế Trung tá Chính để giữ chức vụ Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Trung tá Hoàng Kim Thanh. Trung tá Hoàng Kim Thanh tốt nghiệp khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ngày tôi còn là một học sinh trung học thì anh Thanh đã là Ðại úy Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân đồn trú ngoài Ðà Nẵng. Rồi Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân nhanh chóng cải danh thành Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.
Tháng 2 năm 1966 tôi ra trường Võ Bị và học xong khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy, tới trình diện Tiểu Ðoàn 11 thì anh Thanh đã thuyên chuyển sang bộ binh, đảm nhận chức vụ Trung đoàn phó Trung Ðoàn 42 Biệt Lập của Biệt Khu 24 một thời gian rồi đi làm Quận trưởng Quận Lý Tín tỉnh Quảng-Tín. Trung tá Hoàng Kim Thanh vừa mới trở lại Biệt Ðộng Quân vài tháng gần đây thôi.
Như vậy, sau khi Trung Ðoàn 42 Bộ Binh về Bình Ðịnh thì lần đầu tiên toàn bộ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân quy tụ trong vùng Tây Nam Pleiku. Trong Pleime có Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, còn phía Bắc Pleime thì được Tiểu Ðoàn 63 và Tiểu Ðoàn 81 trấn giữ. Tiểu Ðoàn 63 nằm chung với Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 trong Căn Cứ Hỏa Lực 711. Thiếu tá Trần Ðình Ðàng khóa 15 Võ Bị đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân. Tiểu Ðoàn 81 nằm dưới chân Ðồi Tử Chiến hướng Nam của 711.
Người tạm thời giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân khóa 15 Thủ Ðức. Ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân chính là người mà tôi đã thay thế vài tháng trước đây. Tôi không rõ Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 đi đâu mà Thiếu tá Lân lại tạm thời đảm đương công tác chỉ huy đơn vị này. Ngày 27 tháng 7 năm 1974 Việt-Cộng bắt đầu khởi động chiến dịch xóa sổ Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Ngay ngày đầu trận chiến, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị đánh tan, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng bắt làm tù binh, các đơn vị tăng viện cho Pleime đều bị địch cầm chân hay bị đẩy lui. Thế là, chưa đầy bốn tháng sau ngày tử chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản lại gặp mặt nhau. Cũng vẫn tình trạng một chống với mười. Lần này trận thư hùng đã kéo dài tới 33 đêm ngày. Trong trận Pleime năm 1974 tôi đã chứng tỏ cho Ðại tá Kim Tuấn, Tư lệnh Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản thấy rằng: “Ở Tây Nguyên, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là vô địch!”
Diễn tiến của trận Pleime năm 1974 đã được tôi trình bày đầy đủ trong tác phẩm “Trận Pleime năm 1974” Trưa 15 tháng 9 năm 1974 tôi đã dẫn đầu đoàn quân hiên ngang tiến vào Sân Vận Ðộng Pleiku trong một rừng cờ hoa và biểu ngữ. Hôm đó toàn dân thành phố Pleiku đã đình công bãi thị để hân hoan chào đón Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa chiến thắng trở về. Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng là chiến thắng sau cùng của quân ta trên Cao Nguyên Vùng 2. Sau khi bàn giao Pleime cho một đơn vị bạn, tôi đem quân đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B cho tỉnh Quảng-Ðức.
Trên đường đi giải vây cho Quảng-Ðức, tôi đã dừng quân ở Ban Mê Thuột một đêm. Dịp này tôi đã được gặp mặt vợ con vài tiếng đồng hồ. Rồi tôi được nghe vợ tôi kể chuyện nàng sinh đứa con gái thứ ba vất vả như thế nào. Ở Ban Mê Thuột, từ sáng 15 tháng 4, vợ tôi đã chuyển bụng, nhưng mẹ vợ tôi đi vắng nên chần chờ mãi bố vợ tôi mới chở vợ tôi tới bảo sanh viện. Hai lần trước, vợ tôi sinh con rất nhanh, lần này lại quá khó khăn. Bà mụ tỏ ra rất lo lắng, vì đứa bé này thật là khó tính; nó cứ đòi ra bằng mông. Trong thời gian gần ba tiếng đồng hồ, bà mụ cứ cố gắng xoa xoa, nắn nắn cái bụng bầu để xoay cho cái thai đi theo chiều tự nhiên. Cuối cùng cháu bé cũng chịu nghe lời bà mụ, nó xoay mình trở lại, rồi ra đời, mẹ tròn con vuông. Vợ tôi sinh em bé xong rồi bà mẹ vợ tôi mới kịp về trông nom con gái.
Tới xế trưa, bố vợ tôi lại vào thăm cháu ngoại, rồi buột miệng nói rằng,
– Tao gọi điện thoại cho Biệt Ðộng Quân để báo cho thằng Long hay rằng vợ nó vừa đẻ con gái thì tụi Biệt Ðộng Quân trả lời rằng tiểu đoàn của thằng Long vừa bị Việt-Cộng tấn công tràn ngập, mất liên lạc rồi. Khi nào có tin tức mới thì chúng nó sẽ cho biết.
Vợ tôi nghe được câu này thì hai mắt tối sầm, không còn cảm biết gì nữa. Sau khi được cạo gió, xức dầu, tỉnh lại, nàng nghe tiếng bà mẹ trách ông bố,
– Cái ông này! Chuyện như thế mà ông lại nói cho nó biết, làm cho nó bị xỉu! Thôi! Nó đã tỉnh rồi, ông đừng nhắc tới chuyện đó nữa!
Nghe chuyện kể, tôi thấy, vào ngày đơn vị tôi bị địch tràn ngập, phải chăng, nhờ thần giao cách cảm mà con tôi đã biết bố nó đang lâm nguy nên nó không chịu yên tâm chào đời một cách bình thường?
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 14
Tới vị trí tiểu đoàn, tôi thở phào khi biết quân ta không có tổn thất nào. Thiếu úy Việt là người chỉ huy đợt 1 báo cáo rằng không rõ trong căn cứ có bao nhiêu tên địch, nhưng vì bị đánh bất ngờ, chúng không phản ứng kịp, đợi khi quân ta khuất dạng chúng mới bắn theo vài ba tràng tiểu liên.Thiếu úy Phước báo cáo rằng lúc quân ta xung phong đợt hai thì nghe có tiếng người rên la vì bị thương, nhưng chúng cũng không bắn lại, có lẽ vì trời tối, chúng sợ bắn lầm vào nhau?
Chiến thuật mà tôi vừa sử dụng để càn quét Plei Ngol Ho là do tôi học lóm được từ Trung Ðoàn E48 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.Mỗi khi cần thanh toán một mục tiêu dã ngoại hay cứ điểm không có hàng rào vững chắc thì E48 cho quân dàn hàng ngang, ném thủ pháo ào ào, rồi vừa chạy vừa bắn, không đứng lại thu chiến lợi phẩm hay chiếm giữ công sự, hầm hào.Sau khi lướt qua mục tiêu thì tất cả cán binh đồng loạt rẽ trái hay rẽ phải để về điểm tập họp đã định sẵn.Cứ thế, sau vài đợt xung phong bắn giết, họ mới cho quân vào lục soát mục tiêu, thu nhặt chiến lợi phẩm và bắt giữ tù binh.Chiến thuật này cũng rất hữu hiệu khi được sử dụng để triệt hạ những đơn vị mở đường và giữ đường. Tới 10 giờ đêm thì máy bay võ trang AC47 Hỏa Long lên bao vùng. Tôi nằm lăn trên poncho ngủ sau khi nhờ Hỏa Long liên tục tưới đạn trên Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.
Ngày 17 tháng 4 năm 1974
5 giờ sáng 17 tháng 4 tôi cho Ðại Ðội 1 men theo triền dốc hướng Tây tỉnh lộ rồi từ từ tiến về 711. Trước khi trời sáng thì quân ta đã âm thầm áp sát bờ đất hướng Bắc của căn cứ. Ðúng 6 giờ, Thiếu úy Tô báo cho tôi hay trong đồn 711 không còn tên địch nào cả. Từ trưa tới chiều ngày hôm đó tôi tiếp tục dùng pháo binh đánh phá Plei Ngol Ho và làng Siêu 1. Tối 17 tháng 4 Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy 12 anh Trinh Sát thực hiện một cuộc tấn kích nửa khuya, mục tiêu là làng Siêu 1. Cú đột kích sẽ không có pháo yểm. Toán quân này xuất phát từ Ðại Ðội 1, rồi len lách theo bìa rừng bên trái của tỉnh lộ, sau đó đổ dốc đánh địch từ phía sau lưng. Kết quả, một tiểu đội Việt-Cộng đóng chốt trong làng Siêu 1 đang giấc ngủ ngon bên bếp than hồng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
Ngày 18 tháng 4 năm 1974
Mờ sáng 18 tháng 4 năm 1974 Ðại Ðội 3 dàn hàng ngang vượt qua tường đất khu đóng quân cũ của Chi Ðoàn 3/19. Tôi và Ðại úy Nguyễn Xá ngồi trên M113 theo sau cánh quân này. Tới bìa làng, tôi nhảy xuống xe đi bộ. Hôm nay trời nắng ráo, hơi đất bốc lên mờ mờ, nồng nặc mùi tử thi đã sình trương. Phòng thuyết trình là nơi chứa thương binh thì đầy ruồi nhặng và ong đen từng bầy. Nóc hầm bị trũng xuống một lỗ to, vì đã bị một quả bom đánh trúng. Tôi chỉ đứng ngoài nhìn mà không chui vào hầm nhưng cũng thấy rõ, trong hầm, gần ba chục thương binh đều đã bị đâm chết bằng lưỡi lê.
Rời căn phòng thuyết trình chứa thương binh, tôi theo chân Hạ sĩ Ba tới căn hầm mà tôi dự trù sẽ làm văn phòng. Căn hầm này cũng vô cùng hôi thối và chứa đầy ruồi nhặng. Trên chiếc giường tre ở giữa hầm là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt-Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng. Trên nền đất, máu đọng thành vũng. Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân. Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực. Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày. Họ đã không kịp chạy khi Việt-Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974. Người đàn bà và đứa trẻ này là vợ và con của Trung sĩ Nguyễn Văn Tư, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn. Ðời tôi đã chứng kiến hàng ngàn cái chết do chiến tranh, quân ta chết, quân địch chết, dân thường chết, chết đủ kiểu, chết đủ cách, nhưng chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng ra cái cảnh mà địch thủ của tôi đã hành xử trong trận này. Hành động giết chết thương binh có thể bỏ qua, nếu như tình hình cấp bách quá; nhưng hành động đâm chết một hài nhi hai tuổi rồi giết chết mẹ nó, sau khi đã hãm hiếp mẹ nó thì quả là quá sức vô lương tâm.
Loan và con gái Vương Tiên Giao – 1974
Có lẽ những tên cán binh Cộng-Sản kia không phải là người? Những tên xâm lược khốn kiếp kia cũng không thể so sánh với những con thú; vì thú vật cũng không nỡ đối xử với nhau một cách tàn độc, và dã man như thế! Hình ảnh cái chết thảm khốc của vợ con Trung sĩ Nguyễn Văn Tư cứ ám ảnh tâm trí tôi một thời gian dài. Sau khi cho quân bố trí quanh vị trí và đặt ba tổ báo động xa, tôi cho lệnh kiểm soát toàn bộ diện tích cứ điểm để thâu thập tài liệu. Tất cả hầm hố, lô cốt, pháo đài trong khu vực Nam Plei Ngol Ho đều có dấu tích đã bị đánh phá bằng thủ pháo. Hai chiếc xe kéo đại bác đều bị cháy rụi chỉ còn khung sườn sắt. Một khẩu pháo 155ly ngả nghiêng đè lên dăm viên đạn đã lột vỏ. Chiếc xe ủi đất của Công-Binh hình như không hề hấn gì. Xác quân Cộng-Hòa chết ở đâu vẫn nằm tại đó. Trên Plei Ngol Ho chỉ có ba vị trí đóng quân cấp trung đội của Việt-Cộng mới được thiết lập. Ba vị trí này đã bị cày xới tan nát. Trên mặt đất và dưới khe suối có khoảng gần ba chục xác Cộng Quân mới bị giết.
Giấy tờ trên tử thi địch cho ta biết tất cả những cán binh này đều trực thuộc Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải. Ta chỉ tịch thu được 27 khẩu AK47 và 3 khẩu B40 của địch. Trưa 18 tháng 4 năm 1974, một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh và một chi đoàn chiến xa từ Ngã Ba Mỹ-Thạch tiến vào đã bắt tay được Tiểu Ðoàn 82. Kế đó những chiếc xe cứu nạn của Thiết Giáp được điều động vào để kéo xác những chiến xa bị bắn cháy. Chỉ có 11 chiếc M113 bị cháy được kéo về Pleiku, một xe M113, một khẩu đại bác 155ly cùng khẩu súng cối 4.2 đã bị Cộng-Quân đem đi mất từ đêm 15 tháng 4. Theo sau chiếc cứu nạn chiến xa của Thiết Giáp là chiếc GMC mười bánh dùng để chuyên chở thi hài những quân nhân tử trận. Trên chiếc xe GMC vừa trở đầu và đậu lại bên tỉnh lộ có một người đàn bà vào đây để tìm xác chồng. Người này là vợ của Trung úy Danh, sĩ quan Pháo Binh đã tăng phái cho tôi. Chị Danh đã gạt nước mắt mà kể cho tôi hay rằng, đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm 1974 chị đã nằm mơ thấy anh Danh mặt mày đầy máu bước vào nhà.
Chị đã hỏi anh vì sao anh ra nông nỗi này thì anh Danh chỉ lắc đầu không nói tiếng nào. Sau cơn ác mộng, chị Danh lo lắng quá, nên ngay sáng hôm sau chị đã cấp tốc theo chuyến xe đò sớm nhất lên Pleiku để hỏi thăm tin tức của Trung úy Danh. Chị được Bộ Tư Lệnh 22 trả lời rằng anh Danh đã bị thương và mất tích. Hai ngày sau, chị xin đi theo xe vào 711. Giấc mơ của vợ Trung úy Danh là một chuyện hoàn toàn khó tin, nhưng bắt buộc tôi phải tin. Tới trưa 18 tháng 4, trên chiếc GMC từ 711 về Pleiku có một người đàn bà ngồi trên sàn, bên cạnh cái poncho gói xác chồng. Ðối diện với người đàn bà, trên sàn xe, cũng có một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân ngồi cạnh hai cái poncho gói xác vợ và con. Ðồng hành với ba cái poncho đó, trên xe còn cả chục chiếc poncho khác chưa biết ai là thân nhân. Trong lúc quân nhân của đại đội chỉ huy lo chuyển vận xác những tử sĩ, tôi cũng đích thân đứng kiểm tra từng vật dụng mà địch đã bỏ lại trận địa.
Tôi không tả nổi nỗi mừng vui khi nhìn thấy 6 ống lựu đạn chày có đánh dấu, “Coi chừng hơi độc” cùng với 10 ve thuốc bằng thủy tinh to như những đầu đạn Garant cũng được sơn hàng chữ màu đỏ, “Thuốc giải hơi độc”.Ngoài ra ta còn nhặt được cả chục cái bao nylon trắng dùng để làm mặt nạ chống hơi cay. Nửa giờ sau, đích thân Ðại tá Phạm Duy Tất đã đáp xuống mặt Tỉnh Lộ 6C để nhận từ tay tôi một cái bao cát chứa 4 ống lựu đạn chày, 4 ve thuốc chống hơi ngạt và 4 cái mặt nạ. Ông Tất vỗ vai tôi rồi cười thật lớn, át cả tiếng máy bay,
– Tui sẽ đem mấy thứ này về trao cho quân đoàn ngay! Cậu giỏi lắm! Vậy là thoát nạn! Mừng cho cậu!
Ông chỉ huy của tôi vui một, tôi vui mười! Chợt nhớ ra ông Trung úy Chủ còn đeo cái máy chụp hình trước ngực, mà cuộn phim trong cái máy đó có chứng tích là hình ảnh một núi súng mà chúng tôi đã tịch thu được sáng 14 tháng 4. Tôi ra lệnh cho ông Chủ giao chiếc máy ảnh cho Ðại tá Tất rồi nói, – Ðại tá về rửa cuộn phim này ra rồi đưa hình cho ông Toàn coi. Hôm đó tụi tôi đã lấy được cả trăm khẩu súng, hạ được cả trăm thằng địch rồi mới bị đánh bằng hơi ngạt nên phải bỏ chạy. Có bằng chứng rõ ràng như thế chắc ông Toàn mới tin. Tôi đã biết chắc rằng, sau khi bị đánh bật ra khỏi 711 và Plei Ngol Ho nếu tôi kéo quân chạy thẳng ra Ngã Ba Mỹ-Thạch thì chắc chắn tôi đã bị Tướng Toàn lột lon. Mặt khác, chỉ với cái tội để tổn thất 12 chiếc M113, tôi đã đủ tư cách lãnh 40 Trọng Cấm từ tay ông Toàn rồi. Tôi đã thấy những cái gương mất đồn, xém chết mà còn bị “ký củ” với 40 Trọng Cấm của các ông chỉ huy Dak Seang, Ben Het, Ðức Cơ, là Ðại úy Nguyễn Hộ, Ðại úy Trần Văn Thanh, Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn. Các vị chỉ huy này sau khi mất đồn đã chạy thẳng một lèo không dám quay cổ nhìn lại. Còn tôi, ngay sau khi thoát chết, tôi đã quyết tâm phải lấy lại 711 cho bằng được. Rồi đúng ba ngày sau tôi đã đặt chân trở lại Cứ Ðiểm 711 và đã tái kiểm soát toàn bộ khu vực mà địch đã chiếm cứ.
Ðại tá Tất cho tôi hay, theo tin tức tình báo mới nhất thì, Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã chết vì trúng bom, đồng thời kế hoạch cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian ngắn để Trung Ðoàn 470 Vận Tải vận chuyển quân lương cho vùng duyên hải của Cộng-Sản cũng bị phá vỡ. Trận chiến đẫm máu để giành giựt Cứ Ðiểm 711 diễn ra chỉ vỏn vẹn có mấy ngày, nhưng đã có hàng trăm chiến sĩ từ hai bên tham chiến phải hy sinh. Nhìn những cái xác Việt-Cộng rải rác đó đây, rồi lại nhìn những chiếc poncho quấn xác đồng ngũ nằm trên lề cỏ chờ được di chuyển về nhà xác của quân y viện, tôi chỉ biết ngậm ngùi thở dài. Ðang trên đường bay về Pleiku, không rõ có suy nghĩ gì, Ðại tá Tất đã gọi cho tôi,
– Thái Sơn đây Trường An! Hôm nào yên, tui cho cậu vài ngày phép về thăm vợ và cô công chúa mới sinh!
Tôi cảm động, đáp lời người chỉ huy của mình,
– Cám ơn Trường An!
Nhưng chiến trận liên miên, tôi chờ hoài mà không thấy có “ngày nào yên…”Tôi ngồi xuống vệ cỏ bên đường. Trước mắt tôi là Tỉnh lộ 6C như con rắn đen đang vặn mình, uốn khúc chui vào rừng xanh. Xa xa, hướng Ngã Ba Mỹ Thạch, vọng lại tiếng đại bác “Ì! Ầm!” Trời đang trong sáng bỗng từ đâu, mây đen ùn ùn kéo tới nên trở thành âm u. Trong màn mưa mỏng, tôi thấy những đóa hoa vàng rung rinh trong gió…Giờ đây Pleime đang là lúc chuyển mùa, khắp núi rừng, muôn hoa khoe sắc màu… Cách nơi này đúng một trăm cây số đường chim bay, trong vườn nhà tôi cũng vừa nở một bông hoa… Con tôi chào đời đúng vào ngày pháo địch rơi như mưa trên đầu bố nó…
Mùa Mưa Hoa Nở
(Cho Em và bé Tiên Giao)
Lại một lần Pleime hoa nở
Tôi ra đi vào chiến trường…
Một năm sau ngày ngừng bắn
Một năm sau ngày trao đổi tù binh
Ðồi núi Pleime hoa vàng rực rỡ
Hoa rừng mùa nào cũng đẹp
Cao Nguyên mùa Hạ nào cũng mưa
và chiến trường nào cũng đầy thù hận
dù trước, dù sau ngày Hòa Bình!
Mở mắt chào đời, tôi đã thấy chiến tranh
mà bây giờ …
ngày em sinh đứa con thứ ba ở Ban Mê Thuột
cũng là ngày mưa pháo địch trên Tiền Ðồn 711
Mùa mưa năm nay…
như mùa mưa năm kia
như mùa mưa năm ngoái
có những người bạn ra đi không trở lại
có những người thù ra đi không trở lại
Trận chiến vừa tàn,
đi tìm xác nhau…
Tôi tìm thấy bên chùm hoa gạo
chiếc nón cối vỡ toang
của người quê miền Hải Hậu
tôi tìm thấy trên một đoạn giao thông hào
quyển nhật ký của người tuổi trẻ
từ Hưng Yên vừa xâm nhập được năm ngày…
Hỡi những người lặn lội dặm dài,
hận thù gì khi mới hai mươi tuổi?
…
Tôi đứng nhìn Tỉnh Lộ 6 C
tìm Hoà Bình tít chốn xa mờ
như không bao giờ thấy được
như không bao giờ với được
Nghĩ về đứa con vừa mới ra đời
biết đến bao giờ nó thấy đồng xanh quê nội?
Giữa mùa hoa…
Cao Nguyên vào Hạ
có màu xanh của áo
có màu đỏ của máu
có màu trắng của xương
của những người Bắc Hà, Hải Hậu, Hưng Yên…
Pleime vào Hạ…
đạn vẫn bay
mưa vẫn đổ
và hoa vẫn nở…
Vương Mộng Long
(Pleime tháng 4 năm 1974)
Bài thơ viết vội trên chiến địa này đã được tôi gửi về Sài-Gòn để in trên Nguyệt San Biệt Ðộng Quân và Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa. Vậy là đúng một tháng sau ngày tiền đồn Kon Sơm Luk bị tràn ngập, tiền đồn 711 cũng bị tràn ngập. Chỉ có một điều đáng ghi là Cứ Ðiểm 711 đã được Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tái chiếm chỉ sau ba ngày, còn Kon Sơm Luk thì vĩnh viễn nằm trong tay địch quân.
Trận ác chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku tháng 4 năm 1974 coi như kết thúc sau khi quân ta tái chiếm lại lãnh thổ đã mất. Ngày 20 tháng 4 năm 1975 tôi được lệnh chuẩn bị thuyết trình cho một phái đoàn thanh tra đặc biệt của Bộ Tổng Tham Mưu bay ra từ Sài-Gòn
Bản tự khai ngắn nhất của Lương Việt Cương. Sơ yếu lý lịch Họ và tên: Lương Việt Cương Sinh năm: 1945 Sinh quán: Miền Bắc Việt Nam Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Miền Nam Việt Nam Nghề nghiệp: Dạy học Bị bắt ngày: 6 – 11 – 1975 Can tội: Yêu tự do, dân chủ Từ năm 10 tuổi trở lại, tôi còn bé không biết gì cả. Từ 10 tuổi đến 18 tuổi, tôi vẫn chưa biết gì cả. Từ 18 tuổi trở lên tôi biết nhiều thứ và chống nhiều thứ. Tôi chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm; tôi chống bọn tướng lãnh quân phiệt; tôi chống chế độ độc tài Nguyễn văn Thiệu; tôi chống bất công, tham nhũng, áp bức, bóc lột và mọi cơ cấu bịp bợm của chính sách Mỹ và lũ tay sai. Tôi chống chiến tranh, bọn thụ hưởng chiến tranh và bọn làm giàu nhờ chiến tranh. Bây giờ, tôi chống Cộng Sản vì yêu tự do, dân chủ và vì tất cả những gì mà tôi đã chống trước đây. Đề lao Gia Định, 10 – 1 – 1976 Lương Việt Cương Người công an chấp pháp cầm bản tự khai của Lương Việt Cương nhét vào trong tờ bìa đỏ sau khi đọc xong. Ông ta nhìn tên phản động đối diện mình như muốn ăn tươi nuốt sống. Tên phản động tỉnh bơ vấn thuốc rê đốt, hít, nhả khói khét lẹt căn phòng làm việc nhỏ bé ở khu A. Hắn có khuôn mặt hao hao Nguyễn Khánh. Đương đầu với cán bộ chấp pháp, hắn vừa kiêu ngạo vừa xấc xược. Thái độ của hắn lộ rõ rệt và khiêu khích. Thái độ ấy bắt nguồn từ lòng khinh bỉ kẻ chiến thắng của dân Sài gòn. Trước ngày sang trang lịch sử phản phúc, người Mỹ đã đánh bóng Cộng Sản quá kỹ và dọa dân miền Nam quá nhiều. Rốt cuộc, nhìn rõ Cộng Sản, người ta thấy nó chẳng đáng gì. Và người ta khinh bỉ nó. Người ta khinh bỉ nó ngoài đời. Người ta còn khinh bỉ nó trong tù, khi nằm xó tối cachot, tay chân bị nó siết còng. Vung trái đấm đập bàn cho hả giận, người công an chấp pháp rít qua kẽ răng: – Anh ngồi làm việc cho nghiêm túc! Tên phản động liệng điếu thuốc, dùng chân di mạnh rồi ngẩng mặt nhìn thẳng vào quyền uy của chết độ: – Tôi đã báo cáo anh rồi, mông tôi đầy mụn ghẻ mủ, tôi không thể ngồi ngay ngắn được. – Ngồi ngay ngắn. Anh nhớ rằng anh đang làm việc với người đại diện của đảng, nhà nước và nhân dân. – Đồng ý. Nếu đảng của anh hẹp hòi với cả những mụn ghẻ mủ thì tôi ngồi ngay ngắn. Sự đau đớn ở hai cái mông tôi đánh giá lương tri của chủ nghĩa. – Tôi cấm anh nói cái giọng điệu đó, giọng điệu của bọn phản động cộng lưu manh. – Vậy tôi không làm việc với anh. – Anh tưởng anh ngoan cố nổi mãi à? – Không ngoan cố gì cả, tôi muốn làm việc với người có học, anh vô học, anh thù hận cả mụn ghẻ! Anh cứ yên tâm, chế độ của anh cho can phạm cái quyền khiếu nại. Điều này không có nghĩa là chế độ dân chủ đâu mà để kiểm soát xem anh có hối lộ can phạm không, có thi hành sai chính sách không. Tôi sẽ không khiếu nại mà chỉ hỏi cấp lãnh đạo của anh để biết mụn ghẻ mủ có phải là tù nhân tư tưởng, tù nhân chủ nghĩa, tù nhân giai cấp! Người công an chấp pháp bỏ ra khỏi phòng. Ông ta khép cửa sổ, cửa ra vào kín mít. Một mình Lương Việt Cương ngồi trên ghế gỗ bên trong. Tên phản động trán cao, mắt ốc nhồi thừa hiểu, bên ngoài, mấy thằng công an quản giáo 1 đang canh chừng mình. Đã có chủ ý, tên phản động không thèm đứng dậy, không thèm thay đổi tư thế ngồi liền liền như có mặt công an chấp pháp. Hắn ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc. Thoạt đầu, hai mông hắn đau buốt. Dần dần bớt đau vì những mụn ghẻ mủ đã vỡ. Mủ thấm ướt quần và dính lớp nhớp lên mặt ghế, lên bộ mặt của chủ nghĩa Cộng Sản. Tên phản động Lương Việt Cương đã chế ngự được nỗi đau tầm thường. Hắn cảm giác thoải mái và vấn thuốc hút lia lịa. Lần đầu tiên, từ ngày bị bắt, chấp pháp gọi hắn ra làm việc. Người ta nhốt hắn ở cachot số lẻ sở Công An thành phố đúng hai tháng. Hắn bị còng chân bằng còng số 8 nhãn hiệu USA. Nhờ bạn tù cachot “phổ biến” cách tự mở khóa, hắn đã dùng que diêm xin cai ngục mồi thuốc lá để nạy chốt an toàn và có những đêm ngủ chân không. Bạn bè cachot, đêm khuya, tỉ tê với hắn rằng, đã tới sở Công An là không lo bị tra tấn. “Nó chỉ tra tấn đầu óc mình thôi”. Ngày 6 tháng 1 năm 1976, hắn rời quán trọ sở Công An sang khách sạn Đề Lao Gia Định. Hắn chớm ghẻ ở sở Công An, qua đây ba ngày thì ghẻ mủ bộc phát nhanh chóng. Khắp mông, khắp đùi toàn những mụn vàng đầu đen. Hôm nay, hắn ra khỏi cachot khu A đi làm việc. Ở đề lao Gia Định, không một tù nhân nào bị tra tấn bằng đòn công an, cảnh sát cổ điển cả. Nhưng có những thứ còng siết vào cánh tay tính từng giây. Đến giây thứ 50 thì chết. Thường, tới giây thứ 20, can phạm đã gật đầu hứa khai hết sự thật. Đòn tra tấn này dành cho những can phạm lý lịch mơ hồ. Khách hàng của đòn này đa số là nhân viên tình báo không hề ký tên thật trong sổ lương của Tổng nha Cảnh sát, của Trung ương Tình báo và tàn quân bắt được trong rừng. Những kiểu còng treo người hàng tháng, ở đề lao Gia Định không hiếm. So với khám Chí Hòa, đề lao Gia Định “lý tưởng” gấp bội. Công an chấp pháp không đánh đập can phạm lúc hỏi cung. Can phạm có quyền khước từ khai báo và có quyền xin làm việc với chấp pháp khác. Đã không ai dám khước từ hoặc bướng bỉnh với chấp pháp, trừ những cô cậu sinh viên, học sinh của Sài gòn can tội phản động và trở thành khách hàng “đắt giá” của khách sạn Đề lao số 4 đường Phan Đăng Lưu, Gia Định. Tên phản động Lương Việt Cương không sợ bị tra tấn. Hắn đã nếm đòn của mật vụ Dương văn Hiếu, của cảnh sát Mai Hữu Xuân, của cảnh sát đặc biệt các triều đại Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã rắc cơ man là kỷ niệm trong các nhà tù Việt Nam qua các chế độ. Bây giờ, hắn ngồi đây, ngồi làm tan những mụn ghẻ mủ nhớp nhúa trên khuôn mặt của chủ nghĩa ưu việt nhất của loài người! Người công an chấp pháp đã trở lại. Cửa sổ mở tung. Ông ta nhìn tên phản động ngồi nghiêm túc, mỉm cười tự mãn: – Vậy là chúng ta làm việc được rồi. Tên phản động lắc đầu: – Không, tôi không thích làm việc với anh. – Tại sao? – Vì anh không đủ tư cách làm việc với tôi. – Anh biết chấp pháp là gì không? – Biết. Chấp pháp là “thần tượng” của tù nhân, tha hay nhốt là do chấp pháp. Ở tù lâu hay về sớm là do chấp pháp. Nhưng chấp pháp của ăn trộm, ăn cắp, lường gạt thôi. Đã không có chấp pháp của tôi. Tôi hả, người có thể tha tôi, có đủ tư cách tha tôi chỉ là sự giải thoát dân tộc toàn diện sắp bùng nổ. – Khi ấy anh ở đâu? – Ở nhà tôi với vợ tôi, với bạn bè tôi hoặc tôi ở dưới mộ. – Được, anh thích xuống mộ thì anh sẽ xuống mộ. Anh tạm về biệt giam suy nghĩ thêm. Lương Việt Cương từ từ đứng dậy. Hắn nghe rõ một thứ âm thanh như âm thanh băng keo Scotch lột ra khỏi thùng carton.
Photo edit by Sơn râu
Hắn nhìn người công an chấp pháp, chỉ tay vào mặt ghế: – Đó, cái đó cũng là một dấu ấn của thời đại mà con người thù hận cả mụn ghẻ. Lương Việt Cương theo tên công an quản giáo về cachot. Hắn được hưởng chế độ còng rất hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tên phản động nằm dài, hai chân luồn vào hai khoen còng có móc luồn ra ngoài tường cachot. Hai gót chân hắn chạm sát tường bên trong. Người ta khóa phía ngoài. Với kiểu còng Cộng Sản, tên phản động đành nằm trên bục xi măng suốt ngày đêm, không trở mình cũng không ngồi dậy được. Hai bữa cơm, người ta mở còng cho hắn ăn uống, đi ỉa, đi đái vào cái thùng đạn đại liên Mỹ khoảng mười lăm phút mỗi lần. Không có ống nước dẫn vào cachot loại nhốt thứ bất trị nên không có tắm rửa. Không có luôn thuốc ghẻ lở. Không có gì cả. Lương Việt Cương bị đầy đọa, bị hình phạt của thù hận của chủ nghĩa biến thành một con chó ghẻ lở nhầy nhụa máu mủ tanh tưởi trên bục xi măng nhà tù cách mạng, nơi mà không ai dám đòi “cải thiện chế độ lao tù”, không ai dám ví nó với chuồng cọp Côn Sơn. Nơi ấy, bút mực của bọn nhà báo Mỹ diễn tả như một lớp học phục hồi phẩm cách làm người. Nơi ấy, thiên kiến và sự khờ khạo của thế giới đã giết chết lương tri của họ. Nhưng, nơi ấy, một người Việt Nam vì chiến đấu cho quyền sống con người, cho tự do, dân chủ đang can đảm chịu đựng âm thầm và kiêu hãnh. Cái gì sẽ nở rộ từ máu mủ khô quánh đũng quần người tù nhân tư tưởng Việt Nam? Chưa ai biết. Chắc chắn, sự can đảm chịu đựng trong cô đơn của anh ta đã định nghĩa con người và phẩm cách của nó. Hai tuần lễ sau, người ta mở còng cho Lương Việt Cương, dẫn hắn đi tắm gội, liệng cho hắn cục xà phòng và bộ quần áo tù màu cháo lòng. Người ta đưa thuốc ghẻ cho hắn bôi, cho hắn uống. Rồi người ta làm việc với hắn bằng cung cách mới. Công an chấp pháp già dặn hơn, nhã nhặn hơn, nồng nhiệt hơn. – Anh bớt ghẻ chưa? Người chấp pháp ân cần hỏi. Ông ta đặt gói thuốc Phù Đổng và hộp diêm Thống Nhất trên bàn, khẽ đẩy sát phía Lương Việt Cương. – Anh hút thuốc đi. Tôi đã nhờ quản giáo pha cà phê mời anh. Ông ta cầm lại gói thuốc, tự tay bóc, chiêu đãi tên phản động: – Mời anh. Xin lỗi nhé, tôi không biết hút thuốc. Tôi nghĩ đến anh nên mua thuốc biếu anh. Tên quản giáo bưng hai ly cà phê vào: – Uống đi cho tỉnh táo, anh Cương. Lương Việt Cương nhìn người chấp pháp mới, mỉm cười: – Cám ơn anh. Rồi hắn thản nhiên nhấm nháp cà phê “cho tỉnh táo” và nhả khói thuốc thơm Phù Đổng. – Lát nữa, anh chuyển sang biệt giam Khu C1. Anh ghẻ lở, nên ở biệt giam cho mau khỏi. Tôi đã ra lệnh rồi, mai quản giáo dẫn anh đi cắt tóc, cạo râu. Anh được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng. Anh sẽ được viết thư, nhận thư và được thăm nuôi. Anh có gì cần hỏi không? – Không. – Vậy uống cà phê đi, rồi về chuyển phòng nghỉ ngơi. Người ta tặng Lương Việt Cương gói thuốc, hộp diêm, chuyển cachot và không còng tay chân hắn nữa. Cachot C1 rộng rãi, thoáng mát. Người ta đang lắp ống nước. Hiện thời, mỗi ngày, người ta đưa vòi nước qua ô cửa cachot hai lần để tù biệt giam tắm giặt, xối cầu tiêu. Khi Lương Việt Cương hết ghẻ lở, hắn đi làm việc liên miên, làm việc phờ phạc. Hoạt động của Cương, Cương khai hết, không thiếu sót một chi tiết nào. Bạn bè của Cương đã bị bắt trọn ổ, cần gì phải dấu diếm. Mà cũng khó dấu diếm. Vả nữa, chiến đấu cho tự do, dân chủ là việc làm quang minh chính đại, không cần dấu diếm. Vấn đề đặt ra cho Lương Việt Cương cũng như đặt ra cho tuổi trẻ Sài gòn lại không phải là sự khai báo thành thật mà ở sự thành thật nhận tội lỗi và hứa ăn năn sám hối tội lỗi. Với Cộng Sản, có lẽ, họ nghĩ rằng, những phong trào, những tổ chức chống đối họ không mấy quan trọng, không thể lay chuyển nổi chế độ của họ. Nhưng họ kiêu ngạo, họ muốn tận diệt lòng tự phụ của tuổi trẻ, họ muốn tuổi trẻ ăn năn sám hối và nhận từ họ sự khoan dung, độ lượng. Đã nhận sự tha thứ của kẻ thù thì hết tự phụ, thì chỉ còn là gục mặt cam đành mãn kiếp và hứng đủ sự khinh bỉ của kẻ thù. Do đó, sư tử lãng mạn chọn lựa con đường như họ đã chọn lựa. Biết chiến đấu là biết ngẩng mặt. – Anh nhất định không nhận tội? Người chấp pháp thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy … đều hỏi câu ấy. – Không, tôi không có tội gì cả. Lương Việt Cương trả lời. – Ai đã làm gì anh mà anh chống đối ? – Ai đã làm gì chủ tịch Hồ chí Minh ? – Thực dân, phát xít, đế quốc đã dầy xéo quê hương chúng ta. – Với chúng tôi, bây giờ, là Cộng Sản. – Câm cái miệng phản động hôi hám của anh lại. – Vậy anh đừng nên hỏi tôi nữa. Người ta không hỏi gì Lương Việt Cương nữa. Cộng Sản không dại gì ban phát cho kẻ thù tư tưởng một cái chết dễ dàng, êm ái. Họ để kẻ thù của họ sống mà đếm nỗi chết từng ngày. Họ bắt kẻ thù của họ thèm chết, khao khát nỗi chết. Lương Việt Cương bị nhốt vào phòng đặc biệt. Người ta buộc giây điện vào hai ngón tay cái của hắn, đẩy hắn úp mặt sát tường. Người ta bảo hắn kiễng hai chân lên. Người ta cột giây điện vô thanh sắt trần phòng. Lương Việt Cương đứng kiễng chân, hai tay dơ cao. Nếu hắn để gót chân chạm đất cho đỡ nhức nhối mười đầu ngón chân thì hai ngón tay cái của hắn đau buốt, chịu không thấu. Nếu hắn rướn người thêm một chút cho hai ngón tay đỡ nhức nhối thì mười đầu ngón chân của hắn đau buốt. Hắn đành bất động, tìm quên hình phạt thể xác bằng thiền đứng và ước mơ. Không ai chịu nổi hình phạt này quá một tuần lễ. Lương Việt Cương đã chịu nổi mười hai ngày đêm. Đừng hòng người Cộng Sản ưu việt và đầy nhân cách cởi giây cho anh ăn uống, ỉa đái. Một tù nhân khác cho anh ăn, uống. Miệng anh nốc nước, chân anh vẫn kiễng. Răng anh nhai cơm hẩm tay anh vẫn dơ cao. Anh đái, ỉa, ngủ, chiêm bao, sợ hãi, đau đớn trong hình phạt. Hãy nghỉ anh ỉa đái lên hình phạt. Và nếu hình phạt của thù hận oái oăm này là biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa Cộng Sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa thì anh đã ỉa đái lên nó. Anh ngờ vực hình phạt và sự chịu đựng hình phạt của con người? Cứ tự do ngờ vực như cái thế giới tự do của anh. Sắp đến lượt Cộng Sản nước anh treo anh như nó đã treo Lương Việt Cương. Anh cứ ngoảnh mặt đi. Có ngày anh sẽ tru tréo phân trần: Tôi chẳng có tội gì, tôi chỉ tranh đấu cho nhân quyền. Thưa anh, đòi hỏi quyền làm người, ở thế giới Cộng Sản, là tội lỗi phải trừng phạt bằng cách buộc giây điện và hai đầu ngón tay, kiễng lên với mười đầu ngón chân và treo cao tay lên! Người ta nghỉ chơi hình phạt này và cho Lương Việt Cương nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ít lâu. Rồi có trò chơi khác cho Lương Việt Cương. Khi các thứ trò chơi của chủ nghĩa không làm Cương nhận tội, ăn năn sám hối tội lỗi, người ta xếp Lương Việt Cương vào thành phần “không thể cải tạo”, người ta giả vờ quên Cương. Hai năm sau, người ta gọi Lương Việt Cương ra làm việc. Người ta hỏi Cương có muốn trở về xum họp gia đình không, Cương đáp không, không, không. – Tại sao? – Như tổ quốc tôi, thân thể tôi đầy sẹo Cộng Sản. Đó là lần làm việc cuối cùng của Lương Việt Cương, đại biểu của tuổi trẻ Việt nam có mặt trong mọi dấy động của đất nước. Những người viết lịch sử sau này sẽ quên tên Lương Việt Cương, thầy giáo dạy toán lý hóa. Điều đó chẳng sao và cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi vì sử gia của chúng ta đã chạy trốn hết. Và họ đang viết những trang sử ca ngợi sự nghiệp giải thoát dân tộc của các ông trùm công an, các ông cò đã đóng góp nhiều vào các cuộc đàn áp tuổi trẻ Việt nam. Hình như Lương Việt Cương chẳng thích ai biết về mình.
Khi chàng thức giấc, chàng nghe rõ những tiếng ồn ào phía dưới. Có lẽ, trời đã sáng. Có lẽ, chàng đã được đưa đến một nhà tù nào đó của thành phố Hồ chí Minh. Tiếng ồn ào không ngừng. Âm vang của nó nghe thật ma quái. Cánh cửa đã mở. Chàng nghe bước chân của công an. Người ta tháo miếng vải bịt mắt chàng ra. Chàng vừa hi hí mở mắt thì đèn pin đã rọi sát mắt chàng. Chàng vội khép mặt lại. Đau nhức. Người ta mở còng tay cho chàng. – Anh nói anh tự do chọn lựa sự đau đớn phải không? Người công an hỏi. – Phải. Chàng đáp. – Anh sẽ thỏa mãn sự lựa chọn của anh. Hôm nay anh có thể biết chỗ dành cho anh rồi đấy. Hỏi đi! – Tôi ở đâu? – Chí Hòa. Biệt giam khu FG Chí Hòa! Tụi phản động nó quen gọi là ca sô! Phòng của anh, những năm trước đã nhốt thằng Nguyễn Việt Hưng, trùm phản động vụ nhà thờ Vinh Sơn. Từ phòng này, chúng tôi lôi nó ra bắn chết như con chó ghẻ. Anh hỏi nữa đi! – Không có gì để hỏi nữa. – Vậy mở to mắt ra mà nhìn! Người công an hét lớn: – Mở mắt ra! Chàng nói: – Tôi không thể mở lớn được. – Tại sao? – Vì anh bịt quá chặt và quá lâu. Người công an cười gằn: – Hừ, tưởng anh ngoan cường tới mức nào chứ! Lãnh đạo không thèm chấp thứ anh, anh được đà phét lác. Vào tay tôi, anh tới số. Chàng nhỏ nhẹ: – Anh không dám làm gì tôi đâu. Anh nhỏ bé lắm, tôi rất thương hại anh. Anh đâu biết đảng và nhà nước của anh chờ đợi tôi có bốn tiếng… Chàng nhấn mạnh: – Bốn tiếng thôi nhé! Sám hối tội lỗi. Rồi chàng chậm rãi: – Tôi không sợ anh trả thù giùm lãnh đạo của anh đâu. Anh muốn tôi mở mắt, tôi mở thật lớn. Chàng mở căng mắt. Người công an rọi đèn pin vào thẳng mắt chàng. Không thèm chớp mắt, chàng chịu đựng một thứ hình phạt nghiệt ngã. Người công an tắt đèn. – Tôi tự do mở mắt đấy nhé! Tôi tự do lựa chọn đau đớn đấy nhé! Thứ anh, chắc chắn, không dám, kể cả lãnh đạo của anh. Người công an nín thinh. Y quét ánh sáng đèn pin chung quanh cachot. – Anh ỉa, đái vào cái xô kẽm góc phòng. Mỗi tuần, cho anh đi tắm một lần. Khi đi tắm, anh xách xô theo đổ phân và rửa xô. Mỗi ngày anh có hai ca nước, hai bữa cơm theo tiêu chuẩn phạm nhân vi phạm kỷ luật. Anh nhìn rõ chưa? – Rõ rồi. Tôi nhìn rõ cả chế độ cộng sản. – Anh liệu cái mồm anh. Người công an bước khỏi cachot, đóng cửa sắt, khóa kỹ. Cachot tối đen. Không có đèn ở cachot khu FG Chí Hòa. Ban ngày như ban đêm. Giữa trưa nắng chói ngoài trời, ở cachot FG, đưa bàn tay trước mặt mình cũng chẳng nhìn rõ. Cachot mà chàng nằm là cachot biệt lập nên không thể liên hệ với cachot bên cạnh hay cachot đối diện. Mỗi cánh cửa cachot có một ô cửa gió nhỏ. Muốn kiểm soát tù nhân sống, chết hoặc tự tử, công an rọi đèn pin qua ô cửa gió. Cơm nước đều được đưa qua ô cửa gió. Do vậy, ô cửa gió luôn luôn mở vừa tiện can phạm lao động đưa cơm nước vừa để tội nhân thở. Tội nhân như chàng, đích thân công an đưa cơm nước. Cánh cửa sắt chỉ mở mỗi tuần một lần cho tội nhân xách xô phân tiểu đi đổ và tắm rửa. Nếu, bất chợt, cánh cửa sắt mở thì hoặc chấp pháp gọi tội nhân ra làm việc, hoặc tội nhân chết bệnh, hoặc tội nhân đập đầu tự tử, hoặc tội nhân bị dẫn đi thủ tiêu. Chàng đã nhìn rõ cachot của chàng nhờ ánh sáng của ngọn đèn pin của người công an. Chàng biết chỗ cái xô phân tiểu ở góc phòng. Dù mắt rất nhức nhối, khó chịu, chàng vẫn dang thẳng hai tay, lê chân xích đi ngang. Chiều rộng của cachot quá dư soải tay chàng, khoảng 1 mét 20 phân gì đó. Chiều dài khỏi đo mất công. Chàng dơ tay lên cao, đụng trần cachot. Nền cachot nhớp nhúa, ẩm ướt. Hẳn nó đã đóng từng lớp phân tiểu của tù nhân nhiều chế độ. Chàng đã nghe kể về cái đỉnh cao tù ngục Chí Hòa. Bây giờ, chàng đã leo lên chót vót cái ngọn đỉnh ấy để đủ kiến thức thẩm định giá trị chịu đựng của những người trại viên học tập cải tạo và những người tù luân lạc khắp các đề lao thành phố. Nỗi khổ thường được nhân lên tùy cảm hứng khi người ta may mắn thoát ly nỗi khổ. Nỗi khổ thường cũng được thêu dệt, vẽ vời khi người ta may mắn giã từ nỗi khổ. Bởi thế, có anh tự ý dẫn xác đi trình diện học tập, ở trại cải tạo chỉ ngồi vẽ chân dung Hồ chí Minh, kẻ khẩu hiệu thi đua lao động, không hề cầm cái cuốc, không hề đào bom, khiêng bom, lấp hố bom mà qua Mỹ vẫn thích làm dáng đau khổ viết hồi ký, so sánh chỗ ngồi vẽ với đáy địa ngục! Bởi thế, có anh bị bắt oan, nằm tù vài tháng chuyên nghề phát thuốc ghẻ cho các tù nhân khác, nhởn nhơ ngoài hành lang suốt ngày, sang Pháp cũng viết về cái đề lao tép riu mà bảo đó là goulag Việt Nam! Thời đại của chúng ta, sau khi nhân danh tự do, dân chủ thì người ta nhân danh nỗi khổ. Kẻ nhân danh nỗi khổ để làm anh hùng tù ngục, để khỏa lấp sự đê tiện của chính y và để nhục mạ người khác. Kẻ nhân danh nỗi khổ để bước vào chính trường, để khua môi múa mỏ về lòng yêu nước và để tự mở đường làm tôi tớ cho ngoại nhân. Nỗi khổ không bao giờ là đồ trang sức tiến thân, không bao giờ là món hàng rêu rao gạ đổi danh vọng. Nỗi khổ giúp con người tự nhìn y một cách chính xác, giúp con người biết thông cảm với tha nhân, biết sống cao thượng, biết chiến đấu. Nói tóm lại, nỗi khổ giúp con người truy nã bản thân mình, cả cái xấu lẫn cái tốt. Và, sau cuộc truy nã, con người có thể tự hào mình xứng đáng con người nếu mình loại bỏ nổi những nhỏ mọn, ti tiện, đố kỵ, chụp mũ thường hằng. Những kẻ thích nhân danh nỗi khổ là những kẻ chưa bao giờ trực diện nỗi khổ vàng mười, hoặc là những kẻ rỗng tuếch không thể nhìn thấy niềm bí ẩn trong nỗi khổ. Cũng vậy, những kẻ thích nói xấu người khác, thích bôi bẩn người khác đều là những kẻ tồi tệ nhất, dơ bẩn nhất; những kẻ bệnh hoạn không một chút tài năng hoặc chỉ có một dúm tài mọn; những tên sa đích núp trong bóng tối rình mò làm việc tồi bậy. Cuối cùng, nỗi khổ giúp con người khôn lớn, trang trải, thừa thãi thương yêu và dư dả tha thứ. Đã có mấy ngày đâu tiên thử thách và chiến thắng nỗi khổ, chàng coi thường cachot FG Chí Hòa. Hạnh phúc cho chàng là các thứ lãnh đạo không còn quấy rầy chàng bằng những buổi mạn đàm tẻ nhạt. Ngày hai bữa, công an đưa cơm nước nuôi chàng qua ô cửa gió. Không có nước trà, thuốc lá, dĩ nhiên. Không có cả thịt cá, rau đậu nữa. Mỗi bữa, chàng được cấp một lưng ca cơm và lưng ca canh rau muống già nấu với muối. Người ta phát cho chàng ba cái ca nhựa, một cái muỗng nhựa. Ăn uống xong, chàng được phép giữ ca lại, chờ bữa sau có đồ nhận cơm, canh, nước. Ca, muỗng không có nước rửa, không có giấy lau. Tù nhân sống như thời ăn lông ở lỗ!
Photo edit by Sơn râu
Ca nước uống, chàng không dám uống hết, phải để dành cho việc rửa đít sau khi đi ỉa. Chàng đo thời gian bằng những tiếng kẻng tù. Một ngày, Chí Hòa đánh kẻng bốn lần. Lần thứ nhất: Báo thức sáng. Lần thứ hai: Báo ngủ trưa. Lần thứ ba: Báo thức trưa. Lần thứ tư: Báo ngủ tối. Hàng tuần, người ta dẫn chàng xuống phía sân khu FG đổ xô, rửa xô và tắm gội. Người ta dẫn chàng xuống vào nửa đêm khi tù nhân đã ngon giấc. Chàng mang chân vào xích xách xô phân tiểu lết xuống và leo lên bốn tầng lầu. Vẫn chân xích, chàng đổ xô phân, rửa xô rồi tắm gội, giặt giũ bộ quần áo không xà phòng. Chàng giặt quần áo, vắt hết nước rồi mặc vào mình. Đêm tắm là đêm chàng không ngủ. Chàng đứng cho quần áo khô và nghe tư trong hiu quạnh một nỗi niềm ray rứt khôn nguôi. Chàng không sợ chết nhưng chàng thèm sống, khao khát sống vô cùng. Chàng thèm sống và ao ước được trở lại Paris một lần, một lần thôi. Để chàng nói cho bằng hữu và người yêu nỗi niềm ray rứt khôn nguôi chàng đã nghe từ trong hiu quạnh của tù ngục quê hương. Nếu nỗi niềm ray rứt có được ở những đêm cachot không ngủ, không thể ngủ, đứng chờ quần áo khô mà mọi người cảm thấm, sự nghiệp giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị nghiệt ngã của cọng sản sẽ không còn là của người trong nước hay người ngoài nước, sẽ không còn của phe này, nhóm nọ, sẽ không còn là của ngoài Bắc trong Nam. Sẽ là của tất cả những người Việt Nam lương thiện từng ôm những mũi tên cộng sản rướm máu tim oan. Chàng khao khát sống, vì thế. Một người tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện rời bỏ cuộc sống phồn hoa đất khách, rời bỏ gia đình, bằng hữu, người yêu, rời bỏ tương lai tốt đẹp của mình để trở về quê mẹ vào tù, chân mang xích, đứng trong bóng tối mù mịt và cô đơn mênh mông không ngủ, mặc quần áo ướt, chia sẻ nỗi đau xót và niềm tủi nhục với dân tộc mình, người tuổi trẻ đó xứng đáng một biểu tượng gì nhỉ? Hãy hình tưởng chàng rồi có ví chàng với thánh nhân cam chịu khổ một mình cho hạnh phúc dân tộc sẽ chẳng ai nỡ kết tội lộng ngôn. Thời đại của chúng ta rặt những anh hùng, liệt sĩ bất xứng, những anh hùng, liệt sĩ làm sai lạc định nghĩa anh hùng, liệt sĩ, chàng mới rõ mặt anh hùng. Chàng là thần tượng của tuổi trẻ hôm nay. Chàng là bó đuốc dẫn lối. Chàng là ánh lửa nhận đường. Với dinh dưỡng đốn mạt, với đầy dọa tinh thần và thể xác cùng cực, chàng phờ phạc, rã rời. Cachot biệt lập FG Chí Hòa, quan tài xi măng cho người sống, đã làm hao mòn chàng. Đôi chân chàng mang xích lỏng leo. Xích đã hết nghiến cổ chân chàng rồi! Tóc chàng rậm bù. Râu ria chàng tua tủa. Mắt chàng suy yếu dần dần. Một tháng. Hai tháng. Năm tháng. Bảy tháng… Chàng quên đếm mấy trăm bữa cơm, mấy chục lần đổ xô phân tiểu, mấy chục bận tắm giặt và đứng thâu đêm chờ quần áo khô. Bỗng một đêm, đèn pin chiếu qua ô cửa gió rọi thẳng vào mắt chàng. Cánh cửa sắt mở rộng. Người ta bảo chàng đứng dậy. Mắt chàng lại bị bịt chặt. Tay chàng lại bị siết còng. Người ta điệu chàng đi nơi khác. Nơi khác chẳng mới lạ gì với chàng. Đó là căn phòng “đầy đủ tiện nghi” chàng đã ở, đã mạn đàm với các nhà lãnh đạo của chế độ. Người ta hớt tóc, cạo râu cho chàng. Người ta cấp xà phòng thơm tắm gội. Người ta phát quần áo mới. Người ta cho ăn cơm tiêu chuẩn cũ. Người ta tặng thuốc lá. Chàng đã mượn cái gương của người công an hớt tóc soi gương mặt mình. Mắt chàng trũng sâu, thâm quầng. Da chàng trắng bệch. Thịt chàng mềm nhũn. Chàng nhìn mọi vật lờ đờ. Cộng sản không tra tấn. Phải, cộng sản không tra tấn. Nếu không sống bằng ước mơ, chàng đã gục ngã trong quan tài xi măng. Lần này, người ta đưa cho chàng một tờ giấy và yêu cầu chàng thú nhận tội lỗi. “Yêu cầu thật đơn giản. Anh khai sơ yếu lý lịch rồi nhận tội lỗi và hứa ăn năn sám hối. Thế thôi”. Chàng chưa viết. Người ta không dục. Chàng ăn rồi ngủ. Ngủ rồi tắm. Rồi chàng bỗng tương tư cái quan tài xi măng FG Chí Hòa, chàng bỗng thèm đứng không ngủ thâu đêm chờ quần áo khô và nghe từ trong hiu quạnh cái nỗi niềm ray rứt. Nhờ hỏi ngày tháng người công an bảo vệ, chàng biết mình đã nằm trong quan tài xi măng 11 tháng. Mười một tháng chân mang xích, sống trong bóng tối cô quạnh, ăn ngủ chung với phân và nước đái, không nghe tiếng người nói, cười, khóc, chỉ nghe tiếng kẻng gầm gừ dọa nạt, chàng chưa điên là nhờ chàng biết ước mơ. Chàng vừa khám phá một niềm bí ẩn mới: Sức chịu đựng của con người đã chế ngự hình phạt của thù hận.
Chương 8 Chủ nhật đầu xuân trời đẹp quá, Octavia bèn ra lệnh tổng dọn dẹp trọn chung cư, chia việc cho bọn nhỏ làm. Hai anh em Vincenzo, Gino phải chia nhau lau chùi cầu thang, hàng ba và quét dọn luôn phía sân sau nhà. Thằng Sal, bé Lena cũng có công tác: mỗi đứa một nùi giẻ lau hết mọi bàn ghế. Có những cái bàn đồ sộ hai đứa chui vào núp trong gầm bàn cũng còn vừa. Chùi sạch bụi bặm còn phải xài dầu bóng đánh cho láng coóng để chị Octavia còn chùi khô và kiểm soát lại. Bao nhiêu hốc tủ được moi móc ra hết, mấy cái kệ đều được lót lại bằng lớp giấy nhật trình mới. Bao nhiêu bát đĩa cũng được dọn ra bàn bếp để thanh toán hết lớp bụi kinh niên. Cỡ một giờ sau hai đứa lớn đã về, xách theo lỉnh kỉnh đủ mọi “đồ nghề” và một xô nước xà bông ấm. Thằng Gino giao hẹn: – Tụi tôi làm xong rồi nghe? Bây giờ có quyền đi đánh bóng chơi. Nghe tiếng nó, Octavia đang chui đầu vào một hộc tủ lớn moi móc vội rụt ra. Ít lâu nay thằng Gino đâm cứng đầu, vô trách nhiệm đến kinh khủng! Nó chỉ chơi, đụng gì hư nấy và chưa làm đã mắt trước mắt sau trốn việc. Chừng nào bị canh gắt quá, khỏi lẻn đi đâu được nó mới làm. Nó đã làm là làm hăng lắm, hay lắm. Bây giờ nó đổ đốn, lúc nào cũng mặt lầm lầm lại sẵn sàng ai đụng đến là gây gổ. Octavia bực mình quá. Trước chỉ có nó bây giờ thêm thằng Vincenzo nữa. Nó cũng sắp bằng thằng em đến nơi! Nàng gắt gỏng mách mẹ: – Mẹ xem này! Hai thằng chùi rửa cả mấy dãy tầng mà chỉ có một xô nước xà bông cỡ này thì làm sao cho sạch nổi? Chút xíu nước mà bốn cái cầu thang, bốn dãy hàng ba, cả một cái nền nhà đá hoa rộng cỡ đó, mẹ thấy không? Octavia tuy gắt em nhưng vẫn quay mặt đi cười mủm mỉm. Nhè bà mẹ trong bếp lại phụ họa: – Ôi cha … thây kệ chúng nó! Miễn sao xem sạch sạch một chút là được rồi mà. – Sạch cái gì? Sạch sao nổi với một xô nước cỡ này? Hai mẹ con cùng cất tiếng cười. Sáng nay trời tốt quá, nắng chiếu vào xem nhà cửa rạng rỡ hẳn lên. Hai thằng đứng xớ rớ, nào chổi nào bàn chải, nùi giẻ, mặt mũi chúng méo xẹo xem thật là hài hước! Chúng chỉ muốn dông đi chơi gấp mà nãy giờ cứ phải công tác vệ sinh chán nản quá. Đã thế Octavia còn sắp cắt việc thêm nữa. – Được rồi, kể như xong! Bây giờ Vincenzo phụ tao moi móc các hộc, các kệ. Thằng Gino leo lên chùi cửa sổ, phần mày chùi phía trong. Phần ngoài để tao. Xong đâu đấy hai đứa lo dọn dẹp tất cả những thứ này xuống sân sau. Rồi đi chơi, không ai cấm! – Tôi khỏi làm. Cái thằng bướng quá. Octavia chưa buồn nhìn nó vội chỉ cất tiếng nạt sơ sơ “Đừng làm tàng mày!”. Vậy mà thằng Gino bất chấp. Nó ngạo nghễ: “Không làm tàng gì hết. Tôi đi chơi!”. Hai thằng Vincenzo, Sal giật mình nhìn nhau. Thằng Gino bữa nay gan cùng mình ta? Xưa nay trong nhà này có đứa nào dám cãi lại chị Octavia? Ngay thằng Larry cũng đâu dám, bảo gì cũng còn phải làm nữa kìa? Cãi lại một câu hay bảo không nghe còn bị Octavia túm tóc giập đầu cho một chầu tát tai sưng mặt! Có lần Larry còn bị giáng cả một chai sữa lên đầu mà? Đang mắc lúi húi moi hộc tủ Octavia không tiện ngừng tay bèn nói vọng ra: – Mày đừng làm tao nổi sùng nghe Gino? – Sùng kệ chị, tôi khỏi cần. Khỏi cửa sổ gì hết, đi đánh bóng đây. Lập tức Octavia nhảy xổ tới trừng trị thằng em. Một tay nắm tóc nó, một tay quạt hai cái tát qua lại đôm đốp. Gino vùng vẫy chống cự, nhưng bị xiết chặt quá, chạy đâu được? Octavia tát lia một hồi, miệng la chói lói: – Quân mất dạy! Mày nói gì? Mày nói lại thử xem. Nói lại là tao đập chết. Gino không nói một tiếng nhưng bất thần vùng mạnh một phát, Octavia giữ lại không nổi. Nó giương mắt nhìn con chị không sợ hãi, không thù hận. Chỉ ngây mặt sững sờ nhìn rõ ra một thằng quá uất ức vì bị đòn đau mà không làm gì được! Octavia ghét cái lối nhìn này lắm. Thằng Vincenzo nàng từng đánh nhiều lần đau hơn, chẳng bao giờ nàng có cảm giác phũ phàng, tàn nhẫn với nó. Dù có ghét mặt ông cha ghẻ thật nhưng có bao giờ Octavia xem chúng nhạt đâu? Hoàn toàn không khác những đứa em ruột cùng mẹ cùng cha. Thấy Gino bị đòn mụ Lucia Santa vội từ trong bếp chạy ra, lên tiếng can: – Thôi đánh em vậy đủ rồi con. Bây giờ thằng Gino đi chùi giùm mẹ hai cửa sổ xem! Hai cái thôi rồi cho mày tha hồ chơi! Thằng Gino nét mặt đã xương xương, bỗng tối sầm lại: – Khỏi chùi cửa sổ … đếch nào hết! Nó vênh vênh mặt sau khi đã văng tục làm như để xem thử có ai làm gì được không. Mụ Lucia vẫn cố nhịn lờ đi. Mụ chỉ trách nhẹ: – Ủa, sao bữa nay thằng nhỏ này ăn nói tục tĩu vậy kìa? Gino đột nhiên hét lớn: – Tục tĩu cái gì? Chị Octavia còn văng tục cỡ nào, tại sao mẹ không dám nói? Bề ngoài thì ra vẻ tử tế, tư cách ghê gớm lắm! Nó nói đúng nên mụ Lucia chỉ che miệng cười trong khi chính Octavia cũng phải quay mặt đi, không cho nó thấy nàng cười sằng sặc. Có ai dám tưởng tượng, một cô gái chưa chồng đàng hoàng cỡ Octavia có thể mở miệng chửi thề hay ăn nói tục tĩu, nhất là cậu con ông chủ lò bánh? Vì Octavia chỉ xài danh từ kém sạch sẽ khi không có người lạ, nghĩa là trong gia đình, với mẹ với em vậy thôi. Dĩ nhiên phải trừ những lúc “lên cơn” với ông cha ghẻ. Những lúc ấy Octavia đâu còn nhớ gì mà nóng giận quá chỉ cốt văng ra cho hả! Vì vậy có con bạn phải phê bình: “Sao mồm miệng mày dơ dáy quá vậy?” Mụ Lucia đứng ra hòa giải: – Thôi được. Tụi bây cố làm giùm tao đến bữa cơm đi. Ăn xong muốn đi chơi đâu thì đi. Cơm sắp xong rồi mà? Mụ nói vậy vì làm gì chẳng biết Octavia đâu chịu chấp nhận bọn con nít gây gổ láo, nhưng cùng lúc đó cũng muốn gia đình yên ổn chứ bộ. Lạ thay thằng Gino ngang bướng quá cỡ. Nó bảo: – Cơm thây kệ cơm! Tôi không đói. Tôi đi chơi liền bây giờ! Vừa nói nó vừa chạy tới góc nhà vác cây gậy đánh bóng tính chạy đi chơi. Tức quá mụ Lucia xông tới giáng một tát tai làm Gino tránh không kịp. Mụ gầm lên: – Đồ cứng đầu, quân súc vật. Mày hệt như thằng cha mày. Tao cấm không cho đi chơi, không được ra khỏi nhà trọn ngày nay.
Photo edit by Sơn râu
Thằng Gino đứng sững nhìn mẹ. Hai mẹ con nhìn nhau. Chao ôi, mới ngần ấy tuổi đầu mà mắt nó in hệt thằng cha! Nó đứng đâu đã cao bằng mụ? Nhưng nó vẫn trợn mắt nhìn mọi người, tay cầm cây gậy đánh bóng liệng một phát. Nó đã cố tình canh thật kỹ, nhưng liệng không trúng ai. Cây gậy đánh bóng bay vọt lên, lướt ngang mặt bàn và hất tất cả chén đĩa, ly tách rơi lảng cảng, rớt tan tành bao nhiêu mảnh vụn. Có điều không ai sao hết! Cả nhà giật mình im lặng đến sững sờ. Gino liếc mẹ, liếc chị rồi ù té chạy. Nó chạy vùn vụt dọc hành lang, chạy xuống thang gác, chạy vọt ra ngoài đường. Mụ Lucia tất tả chạy, theo, chửi với theo: – Đồ con nhà mất dạy! Đồ đĩ điếm. Đừng về ăn cơm trưa nay nghe mày, Gino? Nhưng xuống được dưới đường, sang được đường số 31 là Gino có quyền thảnh thơi. Mẹ nó, chị nó hay ai đi nữa đều có nghĩa gì? Nó chạy như bay song bỗng đâu có người cản lại. Tưởng ai hóa ra Vincenzo. Thằng Vincenzo nắm cứng lấy nó bảo: “Về nhà đi mày? Chị Octavia buộc tao phải đi kêu mày về đấy”. Nó vùng vẫy vuột khỏi tay Vincenzo, đẩy cho nó một phát kèm theo một lời hăm dọa: “Sao, thằng khốn? Mày muốn đánh nhau với tao hả?” Vincenzo vỗ về: “Thôi mày, đi về đi. Cửa sổ để tao chùi cho. Làm xong thì cả hai thằng mình cùng đi đánh bóng chơi, chịu không?” Gino vùng chạy. Chẳng ai đuổi theo. Thường lệ Vincenzo chạy nhanh hơn nó quá nhiều. Nếu định đuổi thì nó đã đuổi kịp từ lâu. Nó cảm thấy phơi phới tự do. Bất mãn lắm chứ, nhưng Gino đâu đã khùng? Nó chẳng muốn ai sai phái vậy thôi, dù người đó là anh Larry! Nếu nó chạy đi thì dĩ nhiên Larry sẽ là người đuổi theo. Chắc chắn vậy. Do đó phải chạy lẹ, lẹ nữa. Sang tới đại lộ số 9 tình cờ có chuyến xe lửa chạy ngang. Nó bèn nhảy ngay lên nhưng mới được vài dãy nhà thì thằng cưỡi ngựa đã phát giác, đưa roi quật vun vút. Gino đành phải xuống, lượm cục đá. Nó cứ nhằm toa xe thảy đại, khỏi nhắm gì hết, nhưng tình cờ lại trúng. Nghe trên toa xe có tiếng chửi ầm ĩ là nó mau chân tạt qua đại lộ số 8. Thấy chiếc taxi rề rề chạy ngang kiếm mối, Gino bèn nhảy lên, bám cứng phía sau xe. Thấy vậy gã tài xế bèn tống ga phóng vùn vụt cho nó muốn xuống cũng không thể nhảy xuống được. Cứ thế nó đành bám cứng sau xe, dông tuốt tới Central Park. Có bao giờ nó dám chạy chơi tới đây? Đành phải nhảy xuống vậy, thây kệ cho gã tài xế ngoáy mũi chọc quê. Khát nước quá Gino bèn xề tới máy nước vốc một ngụm uống đỡ. Một xu ăn càrem hay uống nước ngọt cũng không có. Nó chạy băng ngang Central Park, chạy tuốt sang phía bên kia công viên và chỉ dừng lại khi nó nhìn thấy dãy nhà trăng trắng cao vút, khu nhà của bọn có tiền! Nhưng có tiền hay không thây kệ bọn chúng. Có bao giờ Gino thèm nghĩ tới đồng tiền đâu? Nếu có tưởng tượng thì nó phải tưởng tượng mình là một người hùng, một chiến sĩ xông pha ngoài mặt trận. Hay một cao thủ đánh bóng ngoài sân cỏ. Gino lo chạy đi kiếm một chỗ cây cối um tùm như rừng để dựa lưng gốc cây nhìn mà mắt nó không chạm phải những dãy nhà sang trọng, hay một chuyến xe lửa băng ngang. Nó muốn vậy đó nhưng đâu được?
Photo edit by Sơn râu Vì dù đứng hay ngồi thì mỗi khi ngước mắt nhìn là mắt Gino vẫn chạm phải một vật đứng chắn đằng trước . Hai tai nó vẫn phải nghe. Nếu không phải tòa nhà lầu sừng sững thì một tấm bảng quảng cáo khổng lồ cũng như nếu không nghe thấy còi xe thì phải có vó ngựa gõ lộp cộp vậy. Gino thoáng bất chợt mùi hơi xăng trộn theo ngọn cỏ lá cây. Sau cùng mệt đứt hơi nó phải nằm lăn kềnh ra thảm cỏ bên cạnh cái hồ nhân tạo bờ xây xi măng. Nhưng một khi nó đã nằm xuống thì đương nhiên bao nhiêu tòa nhà vĩ đại cũng chỉ như treo trong không gian, nhẹ hều phơi phới như trong truyện thần tiên. Nhìn mãi cũng mỏi mắt. Gino tưởng như tháp cánh bay vụt ra khỏi công viên để xâm nhập vào thành phố. Vậy là nó thiếp đi trong giấc ngủ. Sự thực Gino chỉ ngây đi trong giấc ngủ chập chờn. Nó mơ màng thấy kẻ qua người lại dừng chân nhìn, một trái bóng rớt kế bên và hai thằng chạy tới nhặt lên. Thấy hết nhưng muốn mở mắt ra xem cho rõ không nổi. Lơ mơ thấy ấm nóng rồi ánh sáng nhạt dần dưới tàng cây râm mát. Trời đổ mưa lâm râm quần áo nó ướt sũng. Rõ ràng nó cảm thấy lành lạnh chừng có ánh nắng mặt trời rọi tới mới ấm áp trở lại song mệt quá hết dậy nổi. Đúng là nằm một buổi mà cảm nhận đủ thời tiết bốn mùa! Gino gối đầu cánh tay nằm co ro áp mặt xuống thảm cỏ xanh đánh một giấc đã đời. Tưởng đâu ngủ được đến một năm nhưng sực tỉnh mới hay trời vừa chạng vạng tối. Ngẩng mặt nhìn trời không thấy ánh nắng mà xanh ngắt hoàng hôn. Cây cối công viên giờ này xanh thẫm, rậm đen. Điệu này phải về nhà lẹ lẹ trước khi trời sập tối. Gino rời công viên ra đường số 72. Đường về nhà còn xa quá nó đâm lo: quen nhà, quen xóm rồi mà không thấy mặt mấy người thân trong nhà quả thật buồn. Có bao giờ nó đi một mình suốt ngày thế này? Cũng may lại có chiếc taxi trống rề rề chạy tới. Nó nhảy lên bám đằng sau và may nữa là ông tài xế cũng chạy về xóm nó. Qua đại lộ số 9, rẽ vào đường số 31 chiếc taxi vẫn vùn vụt phóng. Bắt buộc phải xuống Gino bèn phóng đại một phát. Chân vừa đụng đất là nó nhảy tung phát nữa để giữ thăng bằng. Làm sao té nổi? Hai chân nó nhảy như cheo. Đúng lúc đó có tiếng phanh nghiến ken két sau lưng. Đột nhiên Gino có cảm giác thân hình bay bổng. Nó bay thật, bay một quãng khá xa. Lúc hạ chân xuống thì đụng lề đường nhưng nó cho người tung lên thêm một phát. Khỏi bị thương, khỏi trầy trụa nhưng Gino hết hồn. Chút xíu nữa không nhảy kịp là nằm dưới gầm xe rồi!
Photo edit by Sơn râu Chừng nó hoàn hồn thì thấy một chiếc xe tổ bố nằm gác lề, hai bánh trên, hai bánh dưới. Một gã đàn ông cao lớn tông cửa vọt ra chạy tới Gino. Đầu hắn sói, cặp mắt xanh lơ láo và chính hắn cuống quít đến nỗi nó cảm thấy thương hại. Gino nói ngay: “Không sao đâu ông” nhưng người lái xe vẫn cứ đỡ lấy nó đưa tay sờ soạng khắp người ý hắn xem có chỗ nào gẫy xương không. Đâu có? Cả người nó nguyên vẹn, chỉ có chiếc quần cao bồi rách tét ống bên trái. Máu tươm ra nhỏ giọt. Người lái xe hối hả hỏi dồn: – Cháu … cháu có sao không? Cháu thấy trong người thế nào? Gino ấp úng: “In hình chỗ đầu gối bị …” . Hắn lẹ làng cúi xuống nhìn và tìm ngay ra một vết tét máu đang rỉ rả chảy. Thế là hắn ôm xốc nó lên như ẵm đứa trẻ thơ và cẩn thận đặt lên băng trước. Bà con xúm lại xem thì hắn gạt ra: – Cô bác cho nhờ chút xíu? Tôi chở thằng nhỏ đi nhà thương gấp. Xe ngừng trước nhà thương Pháp đường số 30. Hắn kiếm chỗ đậu xe, châm thuốc hút, mắt vẫn không rời Gino. – Bây giờ cháu nói thật đi, cháu có sao không? – Không sao. Miệng nói vậy nhưng bụng cũng hơi run! Suýt bị xe cán mà? “Để tôi xem kỹ thử”. Gino vén ống quần. Chỗ xây xát máu không chảy nữa, đóng cứng chỗ đầu gối. Nó hí hửng: “Cháu ít khi chảy máu lâu. Chút xíu là lành ngay”. – Thôi, dù sao cũng phải vào nhà thương xem qua đã … – Cháu chịu thôi … ở nhà thương họ bắt đợi lâu lắm, cháu phải về nhà ngay không mẹ cháu la chết. Cháu không sao đâu mà! Vả lại cũng tại cháu chạy bậy chứ đâu phải lỗi ông? Gino mở cửa xe bước xuống. Nó ăn nói chững chạc và ngang hàng cứ như người lớn, và nói là bỏ đi, bước thấp, bước cao. Người lái xe ló đầu ra kêu: – Ê, bé con! Nó ngừng lại nhìn. Hắn chìa ra một tờ năm đô la, vẫy vẫy nó tới. Gino lúng túng đáp: – Thôi ông. Cháu không lấy tiền đâu. Lỗi cháu mà? – Cầm lấy đi, đừng làm tàng! Bộ mày tính bắt bà già mi phải xuất tiền ra may đền mày chiếc quần mới hả? Thái độ và giọng nói ông ta nghe được. Xem bộ người đàng hoàng. Lúc Gino cầm tiền hắn hả hê nắm tay chặt, bắt xua một cái khen: “Đó, vậy có phải được không?” Có năm đô la trong tay, Gino hí hửng ra về. Bây giờ chỉ việc băng đại lộ số 9, đi dưới dạ cầu và dọc theo đường số 30 là tới đại lộ số 10 rồi. Rẽ cua là tới nhà. Kìa thằng Sal đang chạy chơi tung tăng dưới đường, mẹ nó đang ngồi ghế đẩu như thường lệ ngay trước lối vào chung cư. Cùng ngồi một chỗ còn có dì Louche và một bà nữa. Đi ngang lò bánh Gino thấy Octavia đang đứng bên quầy càrem nói chuyện với Guido. Hai chị em cùng thấy nhau nhưng cùng lờ đi. Nhưng muốn về nhà phải đi ngang chỗ mẹ nó ngồi. Mẹ nó kêu thì phải ngừng lại, bà ta không bực bội la lối như nó tưởng. – Mày đấy hả? Tưởng mày đi luôn chớ! Đồ ăn để trong bếp lò đó … Lucia Santa liếc nhìn chỗ khác, quay ra nói chuyện với Louche. Gino bước vào nhà dưới “Quái sao bà ấy không thấy mình chân đi khập khiễng kìa?”. Nhưng vậy mà lại đỡ. Nó từ từ lên thang. Chà, bây giờ mới thấy chỗ đầu gối đau ê ẩm. Miệng nó đắng nghét, nước bọt đi đâu hết? Mắt nó nhìn cũng thấy yếu mà chân bước run run thật. Thằng Vincenzo đang ngồi xem sách trong bếp. Thấy mặt Gino nó mau mắn mở cửa lò lấy ra mấy đĩa trứng, khoai tây đặt lên trên bàn. Nó còn chạy ra tủ lạnh xách vào chai sữa tươi. Gino bèn vồ lấy, tu ừng ực một hơi rồi mới ngồi ăn. Vincenzo hỏi: – Mày đi đâu mà đi biệt một ngày vậy? Ở nhà mẹ và chị Octavia lo quá. Còn anh Larry đi kiếm mày tùm lum… Gino chỉ “thế hả” cho có. Nhưng vậy là đỡ khổ rồi, có điều sao tối nay nó không ăn vào, chỉ được vài miếng . Để gác chân lên ghế thấy tê chồn bèn kéo quần lên xem. Ô hay sao lúc nãy không có gì mà bây giờ chỗ đầu gối loét ra lớn miệng thế này mà xung quanh sưng tím bầm? Vincenzo để ý thấy hấp tấp bảo: – Ủa, sao vậy mày? Lại đánh lộn? Phải rửa ráy rồi rắc thuốc gấp. Cả mặt mày, tay mày cũng xây xát kìa … – Đâu có đánh lộn? Đụng xe … Nói có vậy đó mà Gino thấy nghẹn ngào muốn khóc. Nó chạy tới lavabô rửa ráy, rồi ra ngoài phòng hạ giường xuống, cởi quần áo tính ngủ sớm. Người nó lạnh ngắt nhưng đắp mền lên là xong chứ gì? Tấm giấy năm đô la lấy ở túi quần ra nó vẫn giữ đây. Bỗng nhiên Gino thấy bụng cồn cào, mặt nóng bừng bừng. Nó nhớ lại giây phút chiếc xe lao tới đụng nó cái rầm bay lên trên lề. Thấy Vincenzo xề lại ngồi bên cạnh nó kể lể: – Tôi vừa bị xe đụng thật đó. Thằng cha lái xe kể cũng tử tế, nó cho năm đô la đây này, còn bắt vào nhà thương nhưng tôi đâu chịu. Mình có sau đâu nào? Huống hồ tại nhảy bậy nên bị xe đằng sau đâm phải. Tờ giấy năm đô la tôi còn giữ đây này … Gino chìa tấm giấy bạc ra khoe. Bằng ấy tiền đâu phải chuyện chơi? Vincenzo đã từng có năm đô la rồi chứ, bằng tiền vàng đàng hoàng của dì Louche cho buổi lễ Thêm sức, nhưng có mà đâu được xài? Nó hỏi thằng em: – Mày có tới năm đô la kìa? Mày dám xài, hay mày tính gửi mẹ? – Giỡn hoài! Biết đụng xe bà ấy còn đánh chết luôn! Tự nhiên nét mặt Gino nghiêm trọng hẳn. Nó nói rất đứng đắn: – À này, xưa nay tụi mình vẫn mơ ước có tí vốn riêng để mua lave về bán kiếm lời ngon lành, phải không? Bây giờ có năm đô la quá thừa rồi, tại sao ta không làm liền? Mình bán được mà, biết đâu chừng phát tài lớn? Gino gãi trúng chỗ ngứa của thằng anh. Có tới năm đô la mua lave về bán thì hách quá rồi. Vincenzo bèn chộp ngay: – Thật không? Nếu mày tính làm ăn thật thì để tiền tao giữ cho? Mẹ mà biết mày có tiền thì mẹ “giữ giùm” là mệt đấy! – Đâu được bạn? Tiền tôi thì tôi giữ chứ? Vincenzo sa sầm mặt. Vừa chạm tự ái vừa ngạc nhiên vì sao thằng này dám nghi ngờ bậy vậy? Xưa nay tiền nào Gino cũng đưa nó giữ hết mà, dù tiền bán nước đá hay tiền ăn bài cào. Bây giờ để nó giữ tiền đâu được? – Thôi mày để tao giữ, chứ tiền ở tay mày đến thua sạch … – Đâu được? Tiền này là tiền … đụng xe mà? Mày có đụng xe không … hay mày có đi cùng thằng bị đụng xe không? Mày đứng về phe Octavia mà? Cho mày “làm ăn” chung là tốt … còn đòi giữ tiền! Giọng Gino cay cú. Nó nằm bật ngửa ra gối xem kỳ quá! Không hiểu tại sao nó trở chứng vậy kìa? Thôi được, tiền nó cứ để nó giữ đi. Vincenzo thấy ghét quá, định bảo thẳng “tiền này … mày giữ đi! Tao không thèm”. Bề nào nó cũng là anh mà ý kiến “làm ăn” là của nó chứ bộ? Sau mấy phút suy nghĩ, Vincenzo đành nhượng bộ: – Thôi được. Mày muốn giữ lấy thì giữ. Nhưng chỗ đầu gối thế nào? Có cần phải băng sơ sơ không? – Khỏi cần! Mình bàn vụ làm ăn buôn bán đi? Mày nhớ đừng nói hở tiền đụng xe nghe? Cứ bảo là … trúng số đi. – Đợi chút, để tao lấy giấy bút tính toán đàng hoàng. Vincenzo hối hả đi lấy giấy bút. Tuy nhiên phải dọn dẹp chén đĩa, rửa ráy cho đàng hoàng đã chứ? Đây là công việc của Gino, mẹ đã giao rồi. Nhưng bây giờ phải làm giùm nó vậy. Lúc mang được giấy bút vào thì trời đã tối mò. Nhìn kỹ trong bóng tối lờ mờ thì thằng Gino đã nằm lăn ra ngủ hồi nào? Nó ngủ say như chết, tay thò ra khỏi mền và tấm giấy năm đô la nhầu nát đã nằm dưới sàn nhà! Nhưng không, sao vẫn có tiếng gì vậy? Tới sát bên xem kỹ mới hay thằng Gino tuy thiếp ngủ đi thật nhưng nó vẫn nức nở khóc, nước mắt dầm dề. Nó mê ngủ, hay nằm mơ thấy chuyện dữ? Tới lay người kêu tên nó mà Gino vẫn cứ ngáy đều đều. Không nức nở nhưng mặt mũi vẫn đầm đìa nước mắt. Vincenzo cầm tờ giấy bạc, đứng bên giường đợi một lát xem nó có dậy và đòi lại không. Nó vẫn ngủ. Vincenzo bèn nhét tấm giấy bạc vào một khe hở bí mật ở vách tường. Nó ra cửa sổ trèo lên ngồi nhìn xuống đường. Bây giờ đã mùa xuân thật nhưng trời còn lạnh, mấy bà hàng xóm đâu đã tụ họp nổi. Cả một khu phố yên tĩnh, ngay khu nhà ga xe lửa cũng lặng như tờ: khỏi có xe chạy, khỏi có tiếng sắt thép va chạm nhau. Vincenzo ngoái cổ nhìn vào xem thằng Gino có gì không. Nó vẫn ngủ yên. Bèn nhắm mắt suy tính xem “làm ăn” cái nghề lave này cần những gì, phải khởi sự làm sao. Thằng Gino bày đặt đòi giữ tiền nhưng Vincenzo thừa biết người điều khiển sẽ là nó, không nó còn ai?
Bác sĩ Silvio Barbato với dân xóm đại lộ số 10 đâu có xa lạ? Người là con ông chủ phố lớn có nhiều nhà cho mướn ở đây. Phải nói là ông chủ đã chịu đựng đủ điều chỉ cốt để cho con ăn học thành bác sĩ. Người làm ruộng hùng hục đổ mồ hôi hột, người bỏ quê hương sang Mỹ làm ăn, người cất nhà cho mướn và bóp họng dân ở thuê lòi từng xu một và chính người cũng ăn khổ, ăn sở một tuần lễ tới bốn ngày. Khổ sở như vậy đâu phải để có một ông con nhân đạo thương người? Thực tế là bác sĩ Barbato còn trẻ nhưng lời thề Hippocrate chẳng coi trọng bao nhiêu. Người vốn có hiếu với bố mà người cũng thừa thông minh, chẳng dại gì “có lòng nhân đạo” với đám dân Ý miền Nam ở chui rúc như chuột Tây Nữu Ước. Dù sao cũng phải công nhận Barbato mới đi chữa bệnh chưa thể mất hết lòng nhân. Làm gì bác sĩ Barbato chẳng biết Lucia Santa? Biết từ hồi còn đi học, ông bố còn nghèo cùng ở đại lộ số 10. Biết mà còn có ý kính trọng kìa! Phần vì mụ lớn tuổi hơn, phần vì mụ sống hách hơn chứ đâu có bần tiện một tuần lễ chỉ có quyền ăn thịt hai lần và thế nào cũng phải có một ngày ăn rau cho dễ tiêu? Vào nhà này chẳng thể lơ là cái điệu “khám bệnh cho toa ăn tiền” và có dịp thấy cảnh sống của họ càng phục ông bố biết sống. Ông bố quả thật khôn ngoan, nhất định cho con ăn học làm bác sĩ. Thiên hạ còn bệnh, xã hội còn nhà thương là còn kiếm ăn được. Vi trùng thì chỗ nào chẳng có. Có thoát được vài lần thì chính sự chết cũng vẫn cứ hiện diện dài dài. Còn sống và túi còn tiền thì đương nhiên thiên hạ còn phải chi tiền cho ông bác sĩ chắc. Được mời ngồi uống cà phê thì ông bác sĩ ngồi và uống vậy. Chê là khinh người, dám mất mối uổng, dù cái tủ lạnh để đầu hàng ba kia bên trong dám đầy nhóc gián. Con bé nhà này không nhớ tên gì nhưng trông lớn bộn, chắc phải có công ăn việc làm rồi và người ngợm nó thế kia không lo kiếm thằng nào gả đi dám sinh giặc nay mai. Mấy người này sao quê thế? Bao nhiêu cái miệng nhâu nhâu vào giới thiệu con bệnh, toàn những “cố vấn” hàng xóm láng giềng mà dễ sợ nhất là mấy mụ già. Khám bệnh tối kỵ vụ này. Sau cùng ông bác sĩ cũng được đưa vào xem bệnh. Ủa hắn có vẻ bệnh hoạn gì đâu? Bắt mạch, đo máu bỗng khám phá ra liền: lớp vỏ bình tĩnh, mà bệnh tật kia hiển nhiên là cả một cơ thể rã rời vì đầu óc căng thẳng gay cấn chịu không nổi. Biết bao nhiêu đồng nghiệp đàn anh từng gặp ca này: đang đói khổ mà làm ra tiền dễ dàng là nhiều tay gục. Chỉ đàn ông bị! Di dân gốc Ý nhiều ông tự nhiên phát cuồng phải tống vào nhà thương điên. Làm như rời khỏi mảnh đất quê hương họ như cây bị bứng nguyên rễ cái vậy. Trị bệnh này chẳng khó. Phải tống ngay vào bệnh viện cho nghỉ xả hơi một thời gian đời sống hết găng là hết cuồng. Kẹt ở điểm họ còn công việc làm, họ còn phải nuôi vợ con. Và còn phải chơi bời cờ bạc giải trí nữa chứ? Chừng lật mền ra xem, bác sĩ Barbato giật mình vì sao lại có thể có những bàn chân biến dạng kỳ cục vậy này? “Bệnh nhân” Frank Corbo rõ ràng sợ phát giác vụ chân hư này quá. Bác sĩ bèn dùng tiếng mẹ đẻ nói “Tại sao chân vậy?” và hỏi gằn giọng cái điệu không trả lời không xong. Bệnh nhân ngồi nhỏm dậy lấy tấm “ra” trùm kín hai bàn chân gấp. “Để ý đến bàn chân làm gì? Tôi chẳng thấy làm sao cả”. Giọng hắn hằn học, chẳng thân thiện tí nào! – Vậy anh đau đầu? – Đúng. – Lâu mau rồi? – Cho đến chết! Con bệnh đã cố tình như thế đó thì khám bệnh thế nào được? Bác sĩ Barbato bèn cho đại cái toa mua thuốc an thần, thứ nặng. Rồi người ngồi trơ ra đợi. Người còn chờ đợi cái gì, ngoài tiền? Bà chủ nhà hốt hoảng chạy đi kiếm xem giấu vào hốc kẹt nào quên khuất mất. Vụ này làm ông bác sĩ hơi ngượng chút, xưa nay người vẫn mong mỏi phải chi đám thân chủ chi tiền có mức sống đàng hoàng chút nữa, dư dả chút nữa. Xem, nhà này có tới radio thì họ đâu đến nỗi khổ sở? Vậy thì có bệnh cũng chẳng sao. Tuần sau Frank Corbo đi làm lại . Chứng bệnh cũng đỡ rồi. Lâu lâu mới có màn la lối, thở than nhưng cũng chỉ cỡ vài ba phút là cùng, và từ mười hai giờ khuya trở đi là ngủ ngon. Nhưng chưa được một tuần thì tự nhiên một buổi trưa hắn thình lình bỏ sở bò về, đứng khựng ở bậc cửa. Lucia Santa chưa hỏi hắn đã thở dài nói: – Ông chủ bảo về. Tại tôi mệt quá, làm hết nổi. Thế rồi Frank bưng mặt khóc. Mụ vợ giật mình chẳng hiểu sao bèn dìu hắn vào nhà ép ngồi xuống nghỉ đỡ và uống tách cà phê. Người hắn gầy rạc. Hắn ấp úng kể chuyện. Từ ngày lấy nhau bữa nay mới thấy Frank ngồi kể chuyện là một. Hắn hốt hoảng: – Này mình thấy tôi hồi này thế nào? Bộ đau nặng thật sao? Ông chủ bảo ở sở tôi đang làm cứ bỏ việc hoài và hay quên quá. Ông chủ bảo nghỉ ít lâu cho đỡ rồi tính. Nhưng thực ra tôi đâu có bệnh hoạn gì? Tôi vẫn đủ sáng suốt, tôi biết mình làm cái gì mà? – Ồ, nghỉ việc thì nghỉ có sao đâu? Lo dưỡng sức ít bữa là xong hết. Chiều nay mình ở nhà bồng bé Lena ra vườn hoa hai bố con chơi mát. Hắn cúi đầu không đáp. Chẳng biết hắn bệnh gì, nhẹ hay nặng! Đành phải chờ ít lâu xem. Lúc hai bố con đi chơi, mụ nhét vào túi cho hắn một đô la. Phải có tí tiền mua thuốc lá cho bố, mua kẹo cho con chứ? Xưa nay đi chơi Frank vẫn muốn có ít tiền lẻ trong túi, có chút đỉnh cũng yên trí hơn nhiều! Hai bố con đi trọn buổi chiều, nhà sắp ăn cơm tối mới về. Cả nhà quây quần bên bàn ăn. Lớn nhỏ đứa nào cũng biết bố vừa mất việc nên chẳng vui vẻ gì, nhưng thấy ông bố vẫn tự nhiên im lặng, như không hề có chuyện gì xảy ra. Lại còn có vẻ tỉnh táo. Làm như vụ mất việc đột ngột đã tống bớt những lẩm cẩm, dở người trong đầu óc ông ra vậy. Mọi người vừa ăn vừa nói cười vui vẻ. Thằng Larry phá hai em Gino và Sal ngồi kế bên. Khi không nó la “Ô hay mấy con gián làm gì trên vách tường kìa?”. Hai đứa quay nhìn lại lập tức bị thằng anh hốt trộm gần hết khoai tây trong đĩa. Octavia vẫn bồng đứa bé Lena thong thả đút cơm, riêng Vincenzo chỉ ngồi nhìn. Đời nào nó mắc lừa Larry. Bà mẹ vừa buông đĩa đồ ăn đi ngang là nó lẹ làng giật giật tay áo ra điều “mẹ xúc cho con trước”. Cơm nước xong mụ Lucia Santa hỏi chồng có đi nhà thờ không thì hắn nghiễm nhiên trả lời “Từ giờ khỏi cần cha Coluci nữa!”. Mụ vợ ngẩn người. Không lẽ một thằng xưa nay ù lì nhất nhà như hắn mà bây giờ cũng biết xài thủ đoạn? Chỉ lợi dụng vợ chồng Coluci để có việc làm mà xong xuôi là cắt? Nhưng nếu vậy thì đầu óc hắn đã tỉnh táo, đâu có phát cuồng mâu thuẫn vậy. Đêm hôm đó dù khuya rồi Lucia Santa vẫn để nguyên quần áo ngồi dưới bếp may vá. Mụ kinh nghiệm quá rồi, đợi cho Frank không “lên cơn” đã rồi mới lo cởi quần áo đi ngủ. Frank nhìn vợ hối: “Mình vào ngủ trước đi. Tôi ngồi chút xíu, lát nữa vào liền!”. Còn lạ gì cái “chút xíu” của hắn? Bây giờ gần mười một giờ con nít ngủ hết rồi, thằng Larry cũng đi làm rồi. Hắn nói “vào liền” nhưng ít ra cũng sau mười hai giờ khuya! Lucia Santa tự cho mụ đã nghĩ đúng, tính đúng. Hắn đỡ bệnh nhiều rồi. Đàn ông ai chẳng có lúc nóng giận, cuồng trí? Có điều đâu lại vào đấy ngay mà. Mụ nói “Để tôi làm xong cái này đã!”. Vợ cắm cúi khâu, chồng thư thả kéo khói xì gà. Hắn lẳng lặng rót cho mụ một ly rượu chát và tự rót một ly, chẳng thèm kể đến Corbo. Chừng vợ chồng đi ngủ thì Lucia Santa cẩn thận đặt bé Lena vào nằm giữa. Quá nửa đêm đèn đuốc tối thui tự nhiên Lucia thấy hắn ngồi bật dậy, cất tiếng hỏi vô cùng tỉnh táo: – Này, tại sao đặt con búp bê vào giữa giường thế này? Dẹp đi … không tôi liệng ra cửa sổ bây giờ? Lucia giật bắn mình. Còn ngái ngủ mụ cũng đưa tay ra giữ con bé lại và khẽ hỏi chồng: – Ô hay … mình làm sao đấy? Mình nói gì kỳ lạ vậy? – Tôi nói tại sao cho con búp bê nằm đây? Không dám nói lớn, mụ Lucia đành nhẹ nhàng: – Búp bê nào? Con Lena, con mình đấy mà? Mình tỉnh ngủ hẳn chưa? Frank làm thinh một lúc lâu. Mụ đâu dám ngủ, thình lình nghe giường chuyển động rồi ông chồng ngồi bật dậy. Hắn bật đèn lên soi rõ từng tí một, mặt đỏ tía tai nhưng quần áo chỉnh tề từ hồi nào! Hắn gầm thét lên: – Cút đi hết! Quân đĩ điếm … cả họ súc sinh. Tụi bây không cút khỏi nhà tao lập tức tao giết hết! Mụ Lucia còn mặc đồ ngủ đứng bật dậy, ôm cứng bé Lena. Mụ đi ra đánh thức và hối thúc mấy thằng con nhỏ: “Vincenzo, Gino hai đứa bây dắt em chạy sang nhà dì Louche ngay. Nhanh lên”. Frank vẫn la lối, chửi bới nhưng chợt thấy thằng Vincenzo hốt hoảng sửa soạn “tản cư” bèn hạ giọng nói: Riêng thằng Vincenzo khỏi cần đi đâu hết, nó là thằng được. Tuy nhiên cả ba đứa vẫn bị mẹ đẩy đi cấp tốc. Bây giờ chỉ còn hai vợ chồng đứng nhìn nhau. Cặp mắt Frank lạnh lùng, giọng nói chững chạc nhưng rõ ràng căm hận: – Bây giờ đến lượt mày xách con búp bê đi khỏi nhà tao ngay. Mụ Lucia đưa mắt nhìn cánh cửa phòng ngủ. Dĩ nhiên là phòng của Octavia vì cả nhà có phòng ngủ nào có cửa đâu? Frank Corbo biết vậy nên quắc mắt nạt: – Bộ mày tưởng tao không dám động cái cửa kia chắc? Tao khỏi cần. Bảo nó đi luôn. Người như nó phải ở vỉa hè mới thích hợp. Cánh cửa bỗng mở bật, Octavia đứng sững, quần áo chỉnh tề và tay thủ sẵn cây kéo thợ may. Thấy vậy mụ Lucia đâm hoảng: – Octavia lại đây với mẹ đi. Sự thực Octavia không ngán. Lo thủ cây kéo là đã quyết ý bảo vệ mẹ và các em rồi. Nhưng xem cặp mắt hắn đêm nay sao tự nhiên hung dữ lạ? Tự nhiên nàng đâm run, lần đầu tiên bỗng thấy sợ hắn! Bèn chạy tới bên mẹ, giật lấy bé Lena và tay bồng em, tay thủ cây kéo chạy xuống bếp. Ba thằng nhỏ chỉ kịp choàng đại chiếc áo lạnh đứng dựa vào nhau xớ rớ. Octavia bèn dắt chúng xuống thang, đi ra đường. Trên nhà vậy là chỉ còn hai vợ chồng kình nhau. Mụ Lucia khoác sơ cái áo ngoài. Lên tiếng hỏi hắn giọng mụ run run rõ: – Xem … khi không sao anh làm kỳ vậy? Ban ngày không sao mà nửa đêm sinh chuyện? Anh muốn gì đây? Cặp mắt xanh lơ lờ đờ, mặt tỉnh bơ nạt: – Đi ra, cút ra hết! Hắn bước lại gần vợ và đưa tay tính xô mụ ra phía cửa. Đúng lúc đó thằng Larry và lão chủ lò bánh ào vào can. Lập tức Frank sấn tới nắm đầu thằng Larry, đẩy bật nó dựa lưng vào vách tường, tay đấm thùm thụp, miệng hét lớn: – À, mày ỷ mày cấp cho tao mỗi ngày được một đô la nên mày dám xía vào chuyện của tao hả? Larry tỉnh táo và ôn tồn giải thích: – Bố à … Đừng nói lớn, đừng làm dữ! Tôi tới giúp bố mà? Lính tới kia kìa. Có tiếng còi xe cảnh sát ré lên. Frank Corbo chạy ra cửa sổ nhìn xuống. Xe cảnh sát ngừng, có mấy người lính nhảy xuống thật. Có bóng Octavia bồng đứa nhỏ, dắt mấy thằng em. Nó ngoắc tay chỉ trỏ lên lầu, và ít nhất cũng có hai người lính xông lên. Frank tất tả chạy vào, cất tiếng rầu rĩ: – Đúng, lính thật! Lính vác dùi cui lên thật. Thôi đành chịu vậy, sức mấy chống lại lính?
Photo edit by Sơn râu
Hắn ung dung ngồi xuống ghế. Vừa lúc đó hai gã cảnh sát đồ sộ, hùng hục chạy vào. Larry vội vàng đứng dậy, nói nhẹ trước trong khi Frank vẫn giương mắt nhìn. Rồi nó sáp tới gần ông cha ghẻ: – Này bố nghe tôi nói nghe. Bố đau, trước sau thì bố cũng sẽ vào nhà thương thì bây giờ dưới đó sẵn xe, bố chịu khó đi liền đi nghe. Bố vì mẹ và mấy đứa nhỏ thử đi đàng hoàng xem. Frank vừa gạt Larry ra thì hai gã lính đã sáp tới. Họ chưa kịp làm gì thì Lucia đã chạy ra ngăn: – Mấy ông để tôi nói cho. Này, mình ráng đi nhà thương chữa bệnh cho khỏi chứ có gì đâu mà lọ Bây giờ mình nhất định không chịu đi thì thế nào cảnh sát cũng làm dữ. Để họ đánh đập mình trước mặt bọn nhỏ đâu được? Mình vào nhà thương nằm thì ngày mai tôi sẽ vào thăm mình, tôi hứa chắc như vậy đó. Cỡ một hay hai tuần lễ mình khỏi liền chứ gì. Frank đứng dậy. Lần này có thêm hai ông y tá áo choàng trắng đàng hoàng bước vào. Thấy họ hắn thủng thỉnh tới bên cạnh bàn, đứng ngơ ngẩn như mắc suy nghĩ điều gì. Tự nhiên Frank thốt: “Bà con hãy uống cà phê đã nào. Tôi tự tay mời mà?” Cũng như mấy người lính vào trước, hai ông người nhà thương nhìn Frank sừng sững. Họ tính xông tới thì mụ Lucia vội đứng chặn đầu, quay mặt đi nói khe khẽ: “Nhà tôi tính kỳ khôi lắm. Mấy ông cứ dùng lời lẽ o bế thì hắn sẽ thong thả đi ngay. Dùng biện pháp mạnh không được đâu. Hắn sẽ nổi hung trở thành một con thú đấy”. Cà phê đang nấu thì Frank thong thả ra lavabô soi gương cạo râu đàng hoàng. Hai ông y tá đứng hờm sẵn cũng như mấy ông lính ghìm chắc cây dùi cui. Cạo râu xong hắn mới tự tay dọn mấy ly cà phê ra bàn, thây kệ mấy chị em Octavia đứng bên bàn nhìn. Frank từ tốn mời mấy người nhà nước uống cà phê. Không thể từ chối họ cũng nhấm nháp. Trong khi đó hắn tỉnh táo sai mụ vợ đi lấy một chiếc sơ mi sạch. Rồi nhìn cử tọa, Frank thong thả gằn từng tiếng: – Mấy người nghe tôi nói đây, mấy người là quân súc sinh, nhớ như vậy! Quý vị “làm ăn” đắc lực quá nhỉ! Còn ông bạn chủ lò thân mến, ông nấu uýt ky lậu ở nhà sau chứ gì! Đêm nào ông bạn không làm ăn, ông bạn cứ tưởng thiên hạ ngon giấc hết, chẳng ai biết được! Nhưng tôi, tôi thấy hết. Tôi không lạ gì công việc phi pháp của ông bạn cũng như mọi thứ xấu xa, tội lỗi trên cõi đời này! Vậy mà thiên hạ cứ đòi qua mặt tôi mới lạ! Đồ ăn cướp, đồ giết người, quân điếm đàng khốn nạn cả lũ! Càng chửi bới Frank càng hăng. Nói thì lắp bắp nhưng bất thần hắn đập một cú trên mặt bàn, bao nhiêu tách cà phê đổ hết. Không những đã quát to, dường như hắn còn kiễng chân lên cho cao thêm, cho hách nữa kìa. Hai mẹ con Larry vội lảng đi. Lập tức hai ông y tá và hai thầy chú giàn hàng ngang tiến tới. Đang đứng đối diện bọn nhỏ, nghĩa là quay lưng lại đám người nhà nước Frank chợt bắt gặp bên kia bàn bộ mặt trắng nhợt kinh hoàng của thằng Gino. Cặp mắt nó như thất thần, chỉ thấy lòng trắng không. Thấy vậy Frank Corbo đưa mắt nháy con, nháy một mắt thôi. Rõ ràng hắn thấy thằng nhỏ hoàn hồn. Nó hết sợ lập tức nhưng ngơ ngẩn chẳng hiểu tại sao. Khi người nhà nước sắp tới gần nhưng chưa đụng đến người hắn thì Frank điềm nhiên đưa hai tay ra xua, có ý bảo giang xa ra nghe hắn nói một điều gì tối quan trọng. Tưởng gì, hắn thọc tay vào túi lấy xâu chìa khóa đưa cho vợ và cả cái ví nữa. Mụ Lucia vội nắm lấy tay chồng, thong thả dìu hắn ra khỏi phòng đi xuống thang. Thằng Larry vội chạy tới xốc bên kia. Mấy ông lính, y tá đi theo bén gót. Đại lộ số 10 lạnh lẽo không một bóng người, gió đêm thổi ào ào. Ngay cửa chung cư, có chiếc xe tuần tiểu và chiếc xe hồng thập tự. Đột nhiên Frank Corbo quay sang phía vợ năn nỉ khẽ: – Lucia Santa, mình cho tôi về nhà. Đừng để chúng lôi tôi đi. Tôi khó sống với chúng. Tôi xin mình. Có tiếng còi xe lửa vang lên . Mụ Lucia cúi đầu, buông tay hắn ra lùi lại mấy bước. Hai người y tá bèn xông lên nắm cứng lấy tay Frank, quàng cái gì vào tay hắn rồi mỗi người một bên xách hắn thẩy lên xe hồng thập tự. Hắn không la lối chống cự mà thấy những cánh tay giơ lên hạ xuống, cử động thật nhặm lẹ. Thế là xong. Mụ Lucia đưa tay bụm miệng và Larry thì đứng sững sờ nhìn theo chiếc xe nhà thương lăn bánh. Mấy người cảnh sát bước tới. Trời sắp sáng đến nơi nhưng sương mù bàng bạc che lấp hết. Mụ Lucia khóc nức nở ngay ngoài đường trong khi Larry phải làm bổn phận khai báo nội vụ xảy ra như thế nào, “đương sự” tên gì, những ai có mặt ở nhà lúc bấy giờ đều phải cho tên tuổi hết. Phải đến chủ nhật sau người nhà mới được phép vào thăm Frank Corbo. Cơm nước xong mụ Lucia hỏi con gái: – Thế nào, mi nghĩ có thể hắn về đây được không? Có gì phiền phức không? Octavia nhún vai làm thinh. Nàng không dám “có sao nói vậy” và ngạc nhiên thấy bà mẹ chẳng bi quan chút nào. Người lên tiếng là Larry, nhân danh “người đàn ông lớn nhất nhà” và nó đứng hẳn về phe đàn ông để bênh: – Mẹ nói vậy tính để bố chết rục ở nhà thương Bellevue sao? Phát cuồng một đêm có quan trọng gì! Phải đưa ông ấy về ngay chứ? Không có chuyện lộn xộn đâu, đừng lo … Octavia mỉa mai: – Mày nói nghe nhân đạo, tử tế quá nhỉ? Mày nói dễ vì mày có bao giờ ở nhà? Mày chỉ lo tối ngày cua gái, mày đâu thèm nghĩ là lúc mày đang du dương thì có thể ở nhà, mẹ và tao cùng mấy đứa nhỏ bị cắt cổ lúc nào không biết? Chừng mày về tới thì chỉ có nước khóc! Nhưng khóc đâu có làm sống lại người? Mày ngu vừa vừa chớ … – Chị thì chỉ được cái quan trọng hóa, lâm ly hóa là không ai bằng! Tôi biết vào trong Bellevue ít bữa là ông ấy sẽ nếm mùi đời ngay và cam đoan không bao giờ dám nổi khùng nữa. Vấn đề là xưa nay chị đâu có muốn cho ông ấy ở trong nhà này? Chị ghét ông ấy từ hồi nào tới giờ! – Ô hay, không ghét sao được kìa? Hắn có làm được cái gì cho thằng Vincenzo? Ngay con đẻ của hắn cũng hết nhờ! Hắn còn đánh đập mẹ nhiều lần chứ? Có lần mẹ đang có bầu hắn cũng thẳng tay. Tao không thể quên … Nghe hai đứa con lớn nói lại, mụ Lucia rầu rĩ nhăn mặt. Tụi nó lớn đầu mà vẫn còn con nít đã biết gì, nói được là nói ào ào . Chứ tư cách thì đâu chúng đã đủ? Xưa nay Lucia Santa dù thất học ngu dốt cũng đã từng chèo chống một gia đình. Những cảnh người một nhà chống đối nhau, phản đối nhau mụ vẫn thấy thường quá … nên đâu có nói chuyện tình cảm khơi khơi? Tình yêu hay lòng thương xót cũng có giá trị nhưng chỉ phần nào thôi. Phải nói rằng Frank Corbo từng làm chồng mụ, từng gỡ giùm mụ khỏi thế kẹt “mẹ góa con côi”, từng đem lại cho mụ hạnh phúc gối chăn … nhưng giờ đây đối với mụ có còn giá trị gì nữa? Có hắn còn tai họa cho gia đình. Con Octavia chắc chắn sẽ bỏ nhà ra đi, nó sẽ vớ ngay một thằng nào đó làm chồng, chỉ cốt để khỏi phải thấy mặt ông cha ghẻ? Vậy thì giữa hạnh phúc của đám nhỏ mấy đứa và hạnh phúc của riêng mình, Lucia Santa không thể lựa chọn Frank. Kẹt cái ngoài hạnh phúc chồng vợcòn có vấn đề danh dự, còn có bổn phận, còn có sự kết hợp chung để đối phó với cuộc đời. Frank Corbo đâu đã phản bội danh dự, dù hắn không đủ tư cách làm tròn bổn phận? Bề nào ba đứa con nhỏ vẫn là máu huyết của hắn, chúng lớn lên mụ còn phải nương dựa vào, và dĩ nhiên chúng khó quên vì ai mới có chúng. Vợ chồng già thì còn trông cậy vào ai, ngoài mấy đứa con? Phải nhờ chúng cũng như hồi nào từng chăm nuôi chúng chứ sao khỏi? Giữa lúc mẹ ngồi trầm ngâm, anh chị lớn gây gổ thì Gino cứ giỡn chơi, cãi cọ với Vincenzo và Sal. Ai nói gì thây kệ, nó nghe làm chi? Đột nhiên tiết lộ: – Mẹ đâu biết, tối hôm ba đi ba còn nháy nhó con đó! Nó nói vậy là phải có, nhưng “nháy nhó” là gì kìa? Octavia phải cắt nghĩa rõ cho mẹ. Lúc bấy giờ Lucia Santa mới khoái chí, lớn tiếng phân bua: – Đó, tụi bây thấy chưa? Tao biết ngay hắn chẳng phải tay vừa! Hắn cố tình làm, hắn chờ đợi cái vụ đó, chứ đâu phải hắn không biết. Hắn biết hết nhưng không nói ra vậy thôi. Larry nhất định cãi: – Đâu phải vậy, mẹ? Chắc ông ấy thấy thằng Gino run sợ quá nên làm vậy thôi, chứ có gì quan trọng dữ vậy? Con nói rồi mà, ông ấy bệnh hoạn một chút, có vậy thôi. Phải để ông ấy về chứ? Vậy là được. Mụ Lucia có chủ ý rồi nhưng vẫn muốn “lấy ý kiến chung” cho cửa nhà vui vẻ. Mụ nhìn Octavia nhưng nó còn mải nhìn Gino trong khi thằng nhỏ nhìn lảng chỗ khác. – Còn mày, mày tính sao Octavia. – Mẹ tính sao cũng được. Cố chịu đựng là xong hết. Cả nhà xúm vào phụ giúp mẹ sửa soạn đồ tiếp tế cho ông cha ghẻ. Thứ gì cũng có một chút, từ gói spaghetti đến trái cây, nửa ổ bánh mì thứ thật. Biết đâu chừng bữa nay chưa được thì sao? Mẹ con vừa làm vừa nói vui vẻ. Lucia còn vui miệng nhắc tới “tai nạn” đêm hôm ấy. Mụ nói: – Đúng là thằng cha tụi bây khùng thật. Thằng Vincenzo mà nhè nói nó “được” thì tao chẳng hiểu sao! Nó mà “được”! Chuẩn bị xong mụ xách túi thức ăn lên đường. Trước khi đi thằng Gino nhè hỏi: “Liệu bữa nay bố có về không mẹ?”. Lucia Santa nhìn sâu vào mắt con, bắt gặp một sự kinh hoàng khó tả. – Không bữa nay thì ngày mai, ngày mốt lo gì! Mụ nói khơi khơi vậy mà tự nhiên Gino hết sợ. Mặt nó tươi hẳn. Mẹ đã nói thì có bao giờ trật đâu mà lo? Tự nhiên Vincenzo vỗ tay phụ họa “Nếu vậy hay. Hoan hô”. Dường như Octavia cũng vui lây với lũ em, nên tươi cười nói với mẹ: “Để con lo tắm rửa cho mấy đứa nhỏ đàng hoàng chút”. Larry lẽ dĩ nhiên phải đi theo mẹ. Mụ Lucia ngoái cổ lại dặn phòng hờ: – Tụi bây nghe tao dặn. Nếu ông ấy về bữa nay nhớ đừng đứa nào làm rộn. Để ông ấy nghỉ ngơi, bảo gì cũng gật đầu hết, nhớ chưa? Lucia Santa dặn dò kỹ vì thực sự mụ thấy lên tinh thần. Vụ này có kể như “tiền hung hậu kiết”, chứng điên khùng của Frank đâu đến nỗi gì mà lo? Phải nói là nhà nay ai cũng thần kinh căng thẳng hết. Hắn mới bực bội, la hét chút xíu thì đâu cần phải điện thoại cho cảnh sát, kêu xe hồng thập tự tới làm chi? Cái đó quá đáng. Nhưng không biết chừng làm như vậy lại có lợi cho chính hắn! Dù có nằm nhà thương điên một thời gian mà khi trở về khỏe mạnh, có công ăn việc làm, nhà cửa yên lành thì còn mong muốn gì hơn? Lucia Santa khoác bộ đồ đen, tự tay xách túi đồ sang đường số 23 đón xe điện tới bệnh viện Bellevue. Thằng Larry đi theo mẹ, đưa tay cho mẹ khoác đàng hoàng như một thằng hiếu thảo nhất. Phòng đợi bệnh viện sao đông vậy? Hai mẹ con chờ mãi mới có người cho hay bệnh nhân Frank Corbo phải đợi y sĩ điều trị có cho phép mới được vào thăm. Quanh quẩn một lát mới tìm ra văn phòng ông bác sĩ để vào xin phép. Nghe nói bệnh viện Bellevue thuộc vào hạng lớn nhất, y sĩ chuyên môn cừ nhất, y tá ở đây cũng săn sóc tận tình nhất, có lương tâm nhất. Mấy con bệnh lao ngồi phơi nắng ngoài ban công trơ trụi, buồng phổi tha hồ thở hít bụi bặm tro than của cả một thành phố Nữu Ước nhả ra. Những con bệnh già nằm trơ ra chẳng ai chăm sóc, trừ đám bà con lâu lâu vào cho quà và cho thêm một tia hy vọng. Lại có khu của những kẻ chán đời, liều lĩnh tìm đủ mọi cách tự hủy thật là ghê rợn nhưng rốt cuộc đâu đã được chết cho? Bây giờ thì chính họ nằm quằn quại trông cực kỳ đau khổ để may ra bấu víu được chút hy vọng sống sót chăng. Dĩ nhiên cũng có khu thần kinh, khu của những kẻ điên cuồng vùng bỏ cuộc đời nhảy vào tăm tối. Có những giường mà bệnh nhân nằm đau khổ, vật vã thực sự: đó là những “cần câu cơm” ngoài vụ đau bệnh sợ chết còn kinh hoàng vì viễn ảnh thê thảm chết đi là vợ con đói rách. Lúc hai mẹ con Lucia Santa đặt chân vào phòng của bác sĩ, mụ không thể ngờ vận mạng của ông chồng lại nằm trong tay một ông mặt non choẹt mặc chiếc áo trắng thùng thình. Vừa ngồi xuống hắn đã bảo bữa nay không được phép thăm nuôi và phải ký một mớ giấy tờ gì đó. Mụ dùng tiếng mẹ đẻ thì thào với Larry “Mi nói cái vụ nháy mắt đi” thì ông bác sĩ cũng bật tiếng Ý ra: “Khỏi, người nói là bà kia”! Xem hắn Mỹ rặt, không ngờ người cùng xứ sở. Có điều hắn nói thứ tiếng Ý nhà giàu và hỏi han rất lịch sự. Mụ Lucia kể rành rẽ sự tích cái nháy mắt khó hiểu của chồng khuya hôm đó. Không hiểu sao đã cuồng trí đến cùng độ mà hắn lại nhìn thằng con lớn của hắn nháy mắt với nó một phát? Để nó khỏi sợ hay hắn muốn chứng minh hắn chẳng khùng chút nào? Hắn cố ý cho tuôn ra, bật ra cả một sự uất ức vì chịu không nổi cảnh gia đình ngột ngạt, đời sống quá chán chường? Hay là vì quá nghèo, sức quá yếu lo kiếm cơm không nổi? Đôi khi người đàn ông phát cuồng vì vậy. Mà có thể vì cái đầu của hắn mà ra. Suốt mùa đông đi đâu Frank cũng chỉ đầu trần. Mũ đâu mà đội, trời gió lạnh thế này dám buốt óc lắm chứ? Lại còn tai nạn sập hầm hồi làm phu đào đường hầm xe điện bên đại lộ số 8. Hắn đã bị đập đầu và tưởng đâu bị chôn sống tới mấy phút nên bộ óc dám hư hại như không. Theo mụ thì chứng bệnh thần kinh của Frank nhất định do nguyên nhân từ ngoài đưa tới, chẳng có gì phức tạp. Nhưng tại sao hắn lại nháy mắt? Quả thật đêm đó người nào cũng bị Frank “nổi cơn” chửi lên đầu tuốt luốt. Cả hai ông y tá hắn cũng đâu có tha? Nghe Lucia Santa kể lể, ông bác sĩ có vẻ chăm chú lắm, luôn luôn gật đầu như khuyến khích mụ kể nữa đi . Đúng cái nháy mắt trong hoàn cảnh đó thì khó hiểu thật. Chứng buốt óc, tai nạn sập hầm cũng dám làm con người ta phát cuồng lắm chứ? Mụ tưởng đâu ông bác sĩ gợi chuyện là vì lịch sự chứ đâu ngờ ông ta thương hại, chưa nỡ nói ra. Sự thực đau khổ được phanh phui khéo lắm: – Xin bà đừng buồn, bệnh chứng của ông nhà như vậy là nặng lắm. Bệnh viện này không đủ điều kiện chữa trị. Dĩ nhiên để ở nhà không được. Phải gửi tới một trung tâm chuyên khoa. Cỡ một năm, hai năm có thể khỏi hẳn nhưng nói chắc chắn thì chẳng ai dám chắc chắn. Não bộ con người cho đến bây giờ vẫn còn là một bí ẩn. Mụ Lucia ấp úng: – Tôi chỉ muốn thấy mặt nhà tôi. Ký giấy thì tôi không ký. Không ký kết gì hết! Bác sĩ nhìn Larry lắc đầu. Nó bảo mẹ: – Mẹ à, mai con lại dẫn mẹ tới, có thể họ sẽ cho vào thăm. Lucia Santa ngồi rầu rĩ, ngơ ngẩn nghe ông bác sĩ dịu dàng giải thích: – Nếu ông nhà cảm cúm thì bà đâu nỡ bắt đi làm để hành hạ xác thân cho cực nhọc thêm phải không. Chân gẫy bắt đi bộ sao nổi, nên bộ óc hư hại như thế mà tiếp tục làm việc thì quả là đau khổ cực kỳ. Bà nên hiểu chứng bệnh phát ra có thể xem như một báo hiệu. Không dừng lại là đi vào cõi chết. Nếu bà thương ông nhà thì nghe tôi ký mấy cái giấy này đi. Ông bác sĩ gõ gõ một phong bì hồ sơ màu nâu trên bàn. Mụ ngửng đầu lên nhìn trừng trừng trả lời cả quyết: – Tôi không ký! Không bao giờ. Câu trả lời cộc lốc làm ông bác sĩ đỏ mặt. Nhưng ông ta đành nhượng bộ. – In hình bà tính gửi cho ông nhà gói đồ? Nếu vậy được. Bà có thể vào thăm và nói ít câu rồi ra ngay nghe. Ở lâu không được. Lucia Santa gật đầu cảm ơn. Sau khi nhấc phôn gọi, bác sĩ đứng lên ra hiệu “bà đi theo tôi”. Larry cũng đứng dậy dợm bước theo thì bị từ chối: “Cậu nên đợi mẹ ở đây thì hơn”. Mụ theo chân ông bác sĩ đi dọc cả dãy hành lang tối thui như nhà tù, hết đi lên mấy bậc lại đi xuống. Đi một hồi mới tới một cánh cửa bên trong là một phòng rất rộng lát gạch bông kê la liệt những bồn tắm vài cái có màn che. Ông bác sĩ đi tuốt vào góc phòng mở một cánh cửa nữa. Sau đó hai người dừng lối trước một bồn tắm có màn che. Tự nhiên ông bác sĩ đưa tay phải đỡ Lucia, nắm lấy mụ như sợ có thể trượt chân ngã vậy. Tay trái kéo vẹt tấm màn che ra. Kìa, giữa bồn tắm đầy nước ngồi sừng sững một gã đàn ông trần truồng, hai tay trói ké! Lucia Santa thét lên: “Frank. Trời ơi, mình!” Cái sọ khỉ gầy đét quay lại, khuôn mặt choắt chảy dài lại nhăn nhó, nhe răng kinh hãi, vẻ kinh hãi của một con thú bị sa bẫy. Cặp mắt xanh lơ trơ ra như mắt sứ, ánh lên một niềm căm phẫn ghê gớm. Khuôn mặt ngước lên nhưng cặp mắt đâu có nhìn ai mà lơ láo nhìn trời đâu đó … Chợt nhìn thoáng qua cũng biết khuôn mặt ngây khờ hết chữa. Ông bác sĩ vội buông tấm màn xuống sau tiếng thét kinh hoàng của Lucia Santa. Mấy người y công đổ xô lại. Gói đồ ăn rơi bịch xuống đất, bắn tung tóe lên giày, lên tất của mụ. Trở lại văn phòng, Lucia Santa ngồi sững, nức nở khóc. Larry chạy tới dỗ dành mẹ. Mụ ấm ức khóc thương cho thân phận lại thêm một lần góa bụa, lại đêm đêm ngủ một mình. Xót xa cho mấy đứa con nhỏ kể như mồ côi bố, từ nay cũng mồ côi bố như mấy đứa lớn. Thế thì đành chịu bó tay đầu hàng số mệnh khắt khe. Mụ khóc vì bao nhiêu năm nay chưa thấy một cảnh tượng nào rùng rợn bằng. Chao ôi người đàn ông mụ lấy làm chồng, ăn ở mấy mặt con với nhau! Giờ đây mụ thấy tận mắt: hắn tuy sống nhưng thực mất hồn. Hắn không còn nữa. Sau đó thì giấy tờ gì Lucia Santa cũng ký hết, mụ còn ngỏ lời cảm ơn bác sĩ. Larry gọi taxi đưa mẹ về và lấy làm lo ngại quá. Vậy mà xe vừa tới đại lộ số 10 đặt bước xuống đường là mụ lại tỉnh táo như thường. Mụ lên thang một mình khỏi cần nó đỡ. Lúc nãy đâu có nhìn thấy ba anh em Vincenzo, Gino và bé Sal đứng chờ mẹ về ở góc đường.
Hôm nay, 28-5-93, đang ăn điểm tâm sáng, bỗng có người đến cho hay tin đáng buồn, đáng thương: một nhà sưu tập và buôn cổ ngoạn, đã bị câu lưu rồi thả ra vài tháng nay, và nay tin cho hay đã bị bắt và giam trở lại, chưa biết rõ duyên cớ nhưng tạm thấy nghề buôn nguy hiểm và muốn giữ được khỏi phiền toái và hao hớt tinh thần lẫn vật chất, thì tốt hơn không nên chọn nghề buôn vật cổ, sách cũ và đồ vật xưa, khi đã được nhận là hiếm quí, thì tai họa lưu trữ cũng tùy và chưa biết trước được. Cao kế là đừng ham, đừng có muốn sanh lợi là tốt nhứt.
Sưu tập nhiều năm, tốn hao không ít, đi đây đi đó mua về, mừng chưa kịp no, bỗng thinh khồng thinh không sạch sành sanh, không còn món nào, thân lại bị tù tội, nhà như có tang, vợ kinh hoàng chạy đôn chạy đáo, con bị bỏ học, người ngoại cuộc hay tin, thỏ thác cáo sầu, nỗi thương tâm không bì nổi tai họa đất bằng sóng dậy, nhưng nghĩ cho cùng, phải có lửa cháy, mới có khói bay ra…
Khách báo tin ra về, đóng cửa lấy bộ Hồng Lâu Mộng ra đọc, giải buồn. Nhà có đến hai bộ:
• Một bộ do Văn Hóa Hà Nội xuất bản năm 1962, dịch lại những thơ chữ Hán, nhưng rất tiếc là không kèm thêm bản phiên âm Hán-tự ra Quốc ngữ, để giúp người dốt hiểu thêm ý nghĩa cổ nhân.
• Bộ thứ 2 là bộ của nhà xuất bản “Chiêu Dương” Sài Gòn, in năm 1969, bộ nầy, chẳng qua là của một người, theo tôi, dựa theo bản đã in rồi trên kia và viết lại đổi lại vài từ ngữ, vân vân, nhiều chỗ, tỷ như thi Hán, bản phiên âm thay vì dịch nghĩa, chung qui, ngày nhàn, giờ rỗi, nay đọc lại, mới hiểu thêm một đôi chỗ, giúp cho người dốt đặc như tôi vẫn mò va hiểu được chút ít về khoa chơi đồ cổ.
So sánh lại, và xin miễn nói chuyện bây giờ, chỉ bàn chuyện đã qua: tỷ như thời Tây u, thời Diệm như thời Thiệu, v.v.., vẫn có tục “nhà nước mua sắm, vẫn thông qua nhà thầu, nhà buôn có môn-bài, và giấy tờ luộm thuộm, facture, mandat de paiement, giấy giao hàng, ngân phiếu, v.v… chung qui, vẫn y cựu lệ, đời Mãn Thanh, thời Ung Chánh, Kiền Long, thạnh thời nhứt buổi ấy, cũng vẫn nhà nước mua sắm chuyển qua tay các chức viên Thanh triều dưới danh từ y hệt “bình cũ rượu mới”, hoặc “bình mới rượu cũ”, và nói tắt cho mau hiểu, đời Tây đã có compradone, ta dịch Hán văn là “mại bản”, nôm na theo Ba Tàu là “mái chính”, nói thông thường tiếng Việt là “nhà thầu”, “thầu khoán”, “người lãnh việc”, hoặc người bao mối mua lên và bán lại cho nhà nước để nhận tiền còm (vì vậy mà sau ngày Giải phóng 30-4-1975, các tay buôn dưới danh từ ấy đã bị hốt và quét gần như tiệt giống), và để hiểu về đồ cổ, sách vở v.v… thì đến đây, xin độc giả cho tôi dài dòng tâm sự cùng tìm hiểu như sau:
Đồ cổ là gì?
Xin thưa: trước khi thành cổ, đồ ấy vẫn là nay. Tỷ dụ một món gọi là Đại Thanh Khang Hy niên chế, thì dưới đời của vua Khang Hy, (1666, K.H đệ nhứt niên đến 1722 K.H. đệ lục thập nhứt niên), món ấy vẫn là “nay” (tân, mới), nhưng bắt đầu từ 1723 (Ung Chánh đệ nhứt niên) thì món ấy đã trở nên cũ, lỗi thời, và đã qua đời khác rồi, và sở dĩ, theo Trung Hoa và theo người Việt ta, căn cứ theo nguyên tắc thay vua thì phải thay tất cả những gì thuộc ông vua ấy, cho là “quá thời” và phải thay thế bằng vật đổi mới và lấy niên hiệu vua kế nghiệp làm đầu mối lại mới, để tránh sự loạn trong giống dòng, trong cung nội (thay thế cung phi của vua đã qua đời, và lựa chọn, chế tạo lại dụng cụ theo thể thức mới của ông vua nối ngôi kế tiếp).
Tôi nói tuy lòng vòng, nhưng sự thật tóm tắt lại do là để giữ mối giềng cho tinh khiết, và cũng vì vậy mà, nói xuyên qua sự nối dòng, lỗi người nữ ngoại tình, hiểu theo Khổng Mạnh thì tội rất nặng, vì nữ ấy đã đem máu khác diệt máu của chồng và của bao nhiêu tổ tiên của chồng, trong khi và trái lại, hiểu theo đạo Da-tô và theo luật người phương Tây, người nữ phạm tội ngoại tình, vẫn có chỗ tha thứ và nhẹ tội, vì cho rằng người đàn ông tuy cương quyết nhưng vẫn lầm lỗi, thì tức nhiên người đàn bà, trí óc kém người đàn ông, tức phải dễ lầm lạc và rất nên tha thứ, thứ nhứt là bên phương Tây, không có tục “nối dòng thờ phụng tổ tiên”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.