vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 5-7-93)
Post by Sơn râu 11 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu
Phần 18
Học Sư Bất Như Học Hữu
Bài nầy nói rộng về phép chơi đồ cổ.
Không mấy thuở, nói chữ chơi cho đỡ buồn, và “Học sư bất như học hữu” là ý tôi muốn nói học với thầy trong nhà trường, vốn không bì học với bạn bè, tức học lóm nhiều khi bất ngờ, tỷ như vài việc kể sau đây:
Lúc tôi làm việc nơi toà bố Sa Đéc, lối 1928 đến 1932, không rõ ắt năm nào, chức của tôi là thơ ký hạng 4, xuất thân từ làm nơi Trường Máy của ông Rosel, nay đổi làm trường Trung học cơ khí Huỳnh Thúc Kháng, vô làm thí công (secrétaire stagiaire) rồi lên hạng 6 (thơ ký thiệt thọ) rồi lên hạng 5, trầy vi tróc vảy ngót sáu niên mới lên hạng 4 (hạng tư) nầy, tuy chức bé mọn nhưng được ông chủ tỉnh thương tình, ông nầy tên Esquivillon, nguyên là chánh tham biện hạng Nhứt, đáng làm đến thống đốc, nhưng vì có lỗi sơ sót về nghiệp ở tỉnh Cần Thơ, nên ông bị đổi về Sa Đéc đái công thục tội…
Ông người rất nghiêm, công chức trong tòa bố nếu lỗi lầm chút ít, tỷ như ngồi khoanh tay rế, không bận việc, không ở chỗ ngồi và thường đi bàn kế cận, chuyện trò, bê trễ phận sự, mỗi khi ông bắt gặp, ông đều bỏ qua, không quở, và Esqueivillon chỉ mỗi lần gặp như vậy, thì đi luân vào phóng giấy của quan phó, mắng vấn và trách quan phó phải đừng để công chức bê tha việc làm, rồi ông bỏ qua, không nhắc tới nữa.
Tôi nói dông dài nãy giờ là dọn đường để nay mới vào đề, là một hôm nọ, tôi ôm hồ sơ lên phòng của ông để trình bày giấy tờ và xin chữ ký, tôi thường như vậy, sau khi vào phòng, đến trước mặt ông, thì tôi cúi đầu chào, được ông bắt tay chào đáp lễ, rồi tôi kính cẩn để tập hồ sơ trên bàn, lật mỗi công văn, giải thích sự việc cho ông và xin ông ký tên…, ký xong, tôi xếp tập hồ sơ và kể là xong việc… Nhưng hôm đó, ông Esqueivillon vui tánh, ký xong giấy tờ rồi giữ tôi lại mà rằng:
– Anh (vous) làm việc đúng đắn, không có chỗ trách, nhưng tôi dạy ông đây là phép người tay dưới, như tùy phái viên (planton), muốn trao thơ từ, công văn cho tôi, thì phải trao giấy tờ ấy trên một mâm nhỏ, cái mâm ấy, ở bên Pháp vẫn làm bằng bạc, và gọi “plateau d’argent”, và ở bên ni, vẫn làm bằng danh mộc (trắc, cẩm lai, v.v…) bào chuốt trơn tru, khéo léo, và cũng vẫn goi là “plateau”, biết chưa?
Bài học ấy, tôi nằm lòng, và một khi khác, buổi sáng sớm, ông từ văn phòng bước xuống từng trệt tòa bố và đến phòng bút toán, để kiểm xét sổ sách, bạc tiền, do tôi chịu trách nhiệm. Cái nỗi ngộ nghĩnh của việc nầy, là tuy rằng “xét tra” nhưng ông đã viết giấy báo tin trước cho tôi hay, những giấy báo ấy nay tôi còn cất làm kỹ niệm mấy năm làm mọi cho Tây, và như vậy tôi mới đúng là nhà sưu tập, và nhắc lại, khi ông đến phòng làm việc của tôi, ông thấy một lao công (lúc đó là một người bị ở tù, án nhẹ, cho lên lau quét tòa bố), lao công ấy đang lấy lá cờ tam tài cũ rách, phế thải, làm giẻ lau, ông không nói gì, nhưng sau khi xét sổ sách và đếm tiền trong tủ sắt xong, ông bước lên lầu và mời tôi lên theo, và khi đến văn phòng, ông ngồi vào bàn giấy xong xả, ông vừa cười khoan dung vừa nói nhỏ nhẹ: “Mông xừ S., cờ tam tài là đại diện nước Pháp, tại sao ông lấy làm giẻ chùi? Xúc phạm đó. Ông phải dùng lửa để thủ tiêu nó mới là đúng lễ! Biết chưa?”
Lại một bài học khôn nữa, và vì vậy bài nầy, tôi viết: “Học sư bất như học hữu”, và cách mấy chục năm sau, tôi mới thấy chỗ dùng, tỷ như lúc làm dưới trào ông Diệm, ở Viện bảo tàng, đặt nơi Thảo cần viên, có lệ mua vải giẻ cũ để lau gạch hoa, thì hồ sơ giấy tờ gởi lên cấp trên thường bị làm khó dễ, bắt tì bắt ố, bỗng một buổi dạ tiệc, tôi gặp ông tổng giám đốc tổng ngân khố, tôi thừa dịp nói với ông Ngô Trọng Hiếu, tôi nhắc việc không nên lấy quốc kỳ làm giẻ lau, vân vân, ông Hiếu thông cảm và hồ sơ của tôi đều được trả mau và phê chuẩn ngay, tôi nghĩ nghề làm coi viện bảo tàng, có cần gì phải đi học nơi Tây u xa vời và nếu có chút trí khôn biết áp dụng đúng chỗ, thì một thơ ký quèn, tay ngang, không cấp bằng lớn, vẫn làm xong việc ngót mười bảy, mười tám năm làm quản thủ từ 1947 đến 1963 mới về hưu và vẫn xong việc và không tiếng tăm xấu nào, ấy tôi suýt nói lạc đề, nay nói tắt lại việc sau đây và xin chờ qua trang khác.
Nơi trang nầy, xin độc giả hoặc độc giả vốn là cháu con dòng họ trong nhà, xin hãy để cho tôi được tha cầu biệt xạ, nói dông dài cho hả hơi, và nhắc lại mấy gương dạy khôn của chánh chủ tỉnh Esqueivillon đã truyền cho tôi buổi tôi còn làm mọi cho Tây lúc ấu thời. Cho hay không thầy không bạn đố mày làm nên, và phải nhìn nhận Tây chủ càng khó tánh, thì tôi đây mới hôm nay được như vầy, vả lại không phải tôi dám phụ bạc chữ của thánh truyền Khổng-Mạnh, nhưng sự thật khó chạy chối là phàm mẹ chồng càng gắt gao thì nàng dâu mới mau học khôn học khéo, và xin cho tôi tạm nói chữ, có câu “nghệ năng sở sử”, tức nghề dạy nghề, chính cha tôi là một thợ bạc (nay gọi thợ kim hoàn) lành nghề, nên tôi học được tánh gia truyền kiệm cần ý chỉ, và sau đó nhờ tôi làm tôi mấy năm dài học lóm nơi các ông Tây trường Viễn Đông Bác Cổ, mà tôi có thêm tánh kỹ càng biết thì nói, không biết cứ chịu thiệt là không biết, nhờ vậy mà nay những gì tôi nói hoặc tôi viết, có thể tin và dùng được.
Cái gương “dâng món đồ, phải có mâm bạc lót tay”, nay theo tôi thấy, đã để lại tục người ngoài kia và luôn người đất thần kinh đế đô độ trước, là tục mỗi lần có vật biếu xén dâng cho người nào, vẫn đinh ninh nài cho được có một dĩa một mâm gì gì đó làm vậy chứa đựng món vật dâng kính thì mới là đúng lễ, tỷ như dâng một gói trà, một bánh ngọt, vân vân, nhưng cái tục cổ kính ấy, đối với người trong Nam nầy, đã phai lạt nhợt nhạt đi nhiều, nhứt là từ ngày lục tỉnh Nam kỳ bị Tây chiếm đóng, và gẫm lại tục bỏ cái mâm cái dĩa chứa đựng kia, xét cho kỹ, cũng có phần giản tiện và thiết thực, vì thử nghĩ, như một tá-điền, tức người tay trơn mướn đất của chủ-điền là người có ruộng đất khá nhiều, không làm xiết được và phải “tá canh” làm vậy, tôi nói quá dài và xin lỗi, người mướn ruộng ấy khi có cặp vịt đẻ hay một con gà thiến muốn đem cống nạp cho chủ ruộng để cầu thân, thì có cần gì phải có mâm có dĩa, và gọn nhứt, dễ chịu nhứt, là xách tay cặp vịt, con gà, vói đưa cho chủ là đã đủ lễ, và thậm chí, tỷ như lóng trước, thời Diệm-Nhu, một tổng trưởng dâng lên tổng thống, một ô tô cắt chỉ Hoa Kỳ, hoặc kềnh càng một tủ lạnh (frigidaire) và nhớ lại vụ hối lộ từng nghe và ghi để dạ, là thời ông Ngô Đình Nhu làm cố vấn, có một nhà thầu dâng một bánh Trung thu giá đến ba chục ngàn đồng vì cái bánh ngọt ấy bao trong gần gần một trăm càram vàng, (vì mặt bánh là một miếng vàng ròng ngót ba lạng, và vàng giá thời ấy là mười ngàn một lạng), hoặc một khi khác, cũng để tấn ơn (hối lộ), một thầu cái nọ dâng hai chậu lan quý, trị giá cũng lối ba chục ngàn hai chậu, thì hai chậu ấy và cái Trung thu Nguyệt bỉnh kia, ông cố vấn cóc cần mâm đựng hay dĩa chứa và bánh vẫn không ăn, lấy vàng là đủ, và lan nọ cũng không cần, “hãy cho tao bạc hiện-diện 30.000, như vậy mà gọn hơn!”
Mảng nói suýt lạc đề, trở lại cái gương “plateau d’argent” tôi vẫn giữ kín trong tâm trí chưa quên, nên một khi nọ, cách nay đã trên hai chục năm, nhơn ra giảng ở Huế-đô (môn Văn miền Nam), và nhơn đi dạo nơi hẻm nọ đường Phan Bội Châu cũ, tôi bỗng thấy nơi nhà Mụ Tám O, một cái hộp sơn son cũ kỹ, đã tách tanh-bành mếu-máu, tuy vậy trên nắp hộp may thời có bốn chữ phết vàng mờ mờ nhưng còn nhìn được và bốn chữ ấy tôi nhìn được một cữ quen quen là chữ “… sự … …”, tôi hỏi giá, mụ Tám O nói vỏn vẹn “bảy chục đồng” (bạc thời Diệm-Nhu), tôi sẵn có nặng nặng trong túi, nên trả tiền, lẹ, lật đật lấy hộp đem về làm chủ, định làm vật kỷ niệm một buổi viễn du đất Huế-đô Thần-kinh nầy, nào ngờ, khi trở về Sài Gòn lấy hộp giao cho thợ lành nghề o bế lại gắn sơn chắc chắn và nhờ người hay chữ đọc và dịch hộ bốn chữ kia, thì bốn chữ ấy phiên âm đủ là “Tấu sự khâm giám”, có nghĩ từng chữ là:
“Tấu”
(?), tiến lên; sự (?, sự việc); khâm (?), (Kình – Lời dùng để tôn xưng bậc trên mình, song từ đời Tần trở xuống, chỉ dùng để tôn xưng ông vua mà thôi) (theo Hán-Việt từ-điển Đào Duy Anh) và giám (?) (xem xét).
Nói tục mà nghe, và cũng xin đừng cười vội, có dè đâu một thơ ký quèn đời Tây sót lại, vốn liếng ba chữ Nho, chỉ cô hồn độ mạng, đọc được một chữ “sự” và chỉ có một cấp bằng Đít-lôm đít-lét, mà dám xứng tài ra Huế giảng về môn “văn học và tiếng nói miền Nam”, và tình cờ, (y như chó dắt, lại nói tục nữa) và có ngờ đâu, với bảy chục bạc, mà có được một cổ vật hy hữu.
Lòng mừng khấp khởi, lật đật lấy thước đo, cái hộp đúng là: ba phân tây (3cm) bề cao, hai mươi lẻ năm (25cm) bề ngang và bốn mươi phân (40cm) bề dài; cố nhiên đó là đo trên nắp hộp và phần dưới, tức cái hộp, vẫn kém thấp hơn đôi tí, và nhờ đọc sách khá nhiều, cầm cái hộp nầy trên tay, bỗng nhớ lại và quả nhiên trong một sách nọ, đã từng kể chuyện vào thời ly loạn, bất phân vua chúa khi vua Tự Đức thăng hà và đến lượt Kiến Phước se (đau) nằm trên long sàng chợt mở mắt nhìn thấy cảnh loạn luân, Nguyễn Văn Tường, đang cầm điếu thuốc Cẩm Lệ hút nửa chừng, dám cả gan chuyền thuốc điếu ấy qua tay bà Hậu (Học Phi) hút tiếp, Kiến Phước tức giận có lỡ lời thốt câu “Ta mà mạnh được thì chúng mi sẽ biết!!…”; và ngờ đâu tên gian thần nghe lọt câu ấy nên đã hạ tay trước, là đón chận ông thái giám đang đem một hộp như vậy, trong hộp có chứa một mật lịnh của Kiến Phước ra chỉ thị cho một tín thần ở ngoại cung vua, và có ngờ đâu, với một số tiền nhỏ nhen, bảy chục bạc (70 đg) mà bỗng vớ được một chứng cứ hiển nhiên giúp biết được một “thâm cung bí sử” và chớ chi thuở ấy đừng khệ nệ hộp “Tấu sự khâm giám” chi vô ích và tai hại, và chỉ gãy gọn bình thường ra lịnh miệng, khẩu truyền sai thái giám khỏi cầm hộp kềnh càng thì vua đã khỏi chết vì chén thuốc độc của tên quyền thần đại gian đại ác kia, và nay tôi đây cũng rõ lại bà Phi của vua Tự Đức về sau, cũng khỏi bị buộc tội thí vua, vì Học Phi ấy vốn là dưỡng mẫu của tân vương Kiến Phước, nên tội kia được che được giấu.
Than ôi! Sử của nước ta, việc không xưa lắm, như việc đầu độc thí vua nầy, đến nay vẫn còn mờ ám không minh bạch, trong khi ấy, lật xem bộ tự điển nhỏ của nước Pháp, Petit dictionnaire Larousse, vẫn còn đủ hình ảnh nhân vật và hình dạng cổ khí của họ, tỷ như cái bàn viết đời Louis XV, Louis XVI, cái gương, lưỡi gươm chém đầu vua Louis XVI vào thời Cách mạng 1789, v.v…, và trái lại, bao nhiêu vật cổ vật hiếm có của ta, chén bát thời Hậu Lê, mâm sứ Khánh Xuân thời chúa Trịnh, cái tô đi sứ mang về thời Gia Long, vẫn mai một, lưu vong ngoại quốc hay đã bị lấy đâm hành đâm ớt tiêu tàn mất hết, và tiếc thay, nhà nước cũng vô phương giữ gìn. Nói nữa là thừa.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.