This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Năm Sa Đéc là nghệ danh của bà Nguyễn Kim Chung (1907-1988), nghệ sĩ nổi tiếng trong nhiều lãnh vực nghệ thuật, từ hát bội cho đến cải lương, thoại kịch và điện ảnh. Bà là vợ của cây bút sưu khảo nổi tiếng và sưu tầm đồ cổ Vương Hồng Sển (1904-1996).
Chân dung cô Năm Sa-Đéc
Cô Năm Sa-Đéc
Vì say mê hát bội, ông Hương Cả Nguyễn Duy Tam ở Sa-Đéc lập gánh “Thiện Tiền Ban” và đặt tên cho cô con gái út là Kim Chung để nhớ đến tên tuổi cô đào hát bội Năm Chung nổi tiếng ở Mỹ-Tho. Với lòng đam mê ca hát cộng với khả năng thiên phú và sẵn có gánh hát nhà, cô Năm đã không phụ lòng thân phụ, từng bước đi lên và vững chắc trên bước đường nghệ thuật với nghệ danh Năm Nhỏ.
Cái tên Năm Nhỏ (để phân biệt với cô Năm Chung) không còn xa lạ với khán giả say mê hát bội. Nhắc đến cô, khán giả nhớ đến những vai tuồng vang bóng một thời như Đào Tam Xuân (tuồng Đào Tam Xuân), Lữ Phụng Tiên (trong tuồng Phụng Nghi Đình), Hồ Nguyệt Cô (tuồng Tiết Giao đoạt ngọc), Tô Ánh Tuyết (tuồng Mạnh Lệ Quân) v.v.
Chia tay với sân khấu hát bội, cô Năm chuyển qua cải lương vào năm 1934. Ở lãnh vực mới và với nghệ danh mới, cô Năm Sa-Đéc (giống như các bạn đồng nghiệp đã ghép tên quê hương xứ sở của mình vào nghệ danh như cô Ba Trà-Vinh, cô Ba Bến-Tre, cô Năm Cần-Thơ, cậu Mười Út Trà-Ôn) nhanh chóng gặt hái thành tựu mới ở các gánh hát đại ban như Huỳnh Kỳ, Trần Đắc, Song Phụng, Phụng Hảo, Thanh Minh Thanh Nga … Dù là tuồng tích cổ xưa, màu sắc hay tình cảm xã hội, cô Năm đều ca diễn xuất sắc. Những vai tuồng như Địch Thanh, Đổng Trác không thể “làm khó” được cô và đặc biệt vai bà Phán Lợi trong vở hát “Đoạn tuyệt” trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga được xem là vai diễn mẫu mực “thật và đẹp” cho các thế hệ nghệ sĩ sau này. Ở sân khấu thoại kịch và điện ảnh, cô Năm gặt hái được nhiều thành công khiến cho báo chí và khán giả khen tặng là “tài danh thinh sắc lưỡng toàn”.
Cô Năm Sa-Đéc và ông Vương Hồng Sển
Trái với con đường nghệ thuật thành công rạng rỡ, cô Năm đã trải qua đời sống tình cảm lận đận, chìm nổi. Sau vài mối tình trong cuộc đời nghệ sĩ rày đây mai đó, cô sống với ông Đặng Ngọc Chấn, từng là Đốc phủ sứ. Quan niệm “xướng ca vô loại” đã khiến cho cuộc tình này lâm vào ngõ cụt dù 2 người đã có với nhau một trai là Nguyễn Ngọc Đặng (1939-2005). Sau lần gãy đổ, cô Năm đưa con lên Sài-Gòn và đi thêm bước nữa với ông Vương Hồng Sển vào năm 1947. Con trai Vương Hồng Bảo (1950-1998) là kết quả của mối tình nghệ sĩ đẹp đẽ này. Dù đã bước qua 2 lần đò nhưng cô Năm chưa từng được mặc áo cô dâu.
Đầu thập niên 70, quán bánh bao và hủ tiếu «Ông Cả Cần» ở góc đường Nguyễn Tri Phương trương bảng hiệu với bức chân dung khổ lớn của cô Năm Sa-Đéc. Hỏi ra mới biết, con trai của người yêu cũ thời son trẻ của cô Năm là chủ nhân của quán ăn này. Do hiểu biết, quý trọng tâm tình của cha mình và cũng xuất phát từ tấm lòng ái mộ tài năng nghệ thuật của cô Năm nên ông xin được làm con nuôi và xin luôn cái tên nghệ sĩ của cô làm thương hiệu để quán ăn được quảng bá rộng rãi hơn.
Vì tham gia vào chương trình “Thép Súng” của đài truyền hình số 9 nên sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, cô Năm bị cấm hát. Mãi đến khi văn nghệ miền Nam được “cởi trói”, cô Năm mới được mời góp mặt trong vài bộ phim điện ảnh. Cũng nhờ cơ hội này mà cô được theo chân đoàn làm phim về thăm xứ sở quê nhà ở Nha-Mân, Sa-Đéc. Cuốn phim sau cùng được quay ở Đồng-Tháp-Mười đầy nắng lửa và muỗi mòng đã vắt kiệt sức của người nghệ sĩ lão thành. 2 ngày sau đó, cô trở về Sài-Gòn và qua đời vào ngày 26.01.1988. Đám tang cô Năm được tổ chức đơn sơ, chỉ có hàng xóm và các đồng nghiệp bên điện ảnh đến tiễn đưa lần cuối. Vì không được quàn ở Hội Nghệ Sĩ trên đường Cô Bắc và không được chôn cất nơi nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò-Vấp nên ông Vương Hồng Sển đưa cô về an táng nơi quê nhà Nha-Mân với mấy dòng thơ khóc biệt:
Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Chén cơm Bà-Chiểu, con đò Sóc-Sa
(Sóc là Sóc-Trăng, Sa là Sa-Đéc).
Một cảnh trong vở tuồng “Đoạn tuyệt” trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga
“Đập nát các bức tượng của tôi trong sân nhà, sự trả thù này còn ác hơn nhục hình mà tôi phải chịu đựng suốt 8 năm trời trong ngục tối”
Phác thảo trên giấy tượng “Thương tiếc”
Ðiêu khắc gia, đại úy Nguyễn Thanh Thu (sinh năm 1934) là tác giả bức tượng «Trung liệt» đặt tại Nghĩa trang Quân đội Gò-Vấp. Ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu giao cho nhiệm vụ tạc bức tượng «Thương tiếc» ở Nghĩa trang Quân đội Biên-Hòa vào năm 1966 nhằm “nhắc nhở và giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ QLVNCH”. Ngoài ra, ông Thu cũng là tác giả của bức tượng «Ngày về», được giải thưởng văn học nghệ thuật của chính phủ Ngô Đình Diệm vào năm 1963, tượng «Trần Nguyên Hãn» ở bùng binh chợ Bến-Thành, tượng «An Dương Vương» ở ngã sáu Chợ Lớn, tượng «Võ Trường Toản» đặt trong khuôn viên nhà trường và nhiều tác phẩm điêu khắc khác. Bức tượng «Quyết thắng» là tác phẩm sau cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông được triển lãm tại công viên Đống-Đa, trước Tòa Đô Chánh vào năm 1969.
Đại tá William P. Jones – Chủ tịch Ủy ban Đài tưởng niệm chiến tranh Hoa-Kỳ hết lời ca ngợi ông Thu và các tác phẩm về đề tài chiến tranh như sau: «Xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng “Thương tiếc” và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng “Raising The Flag on Iwo Jima› ở Arlington”. Ông cũng tiến cử ông Thu với Ủy ban để thực hiện việc dựng tượng ở Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh trong các dự án tương lai. Nhưng tiếc thay, miền Nam Việt-Nam bị bắc phương cưỡng chiếm vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, bức tượng “Thương tiếc” bị phá bỏ, những bức tượng trong sân nhà của ông cũng bị đập nát và thân phận của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu phải lâm vào cảnh tội tù.
Tượng “Thương tiếc” (nhìn từ xa)
Tượng “Thương tiếc” được đặt trước cổng vào Nghĩa trang Quân đội ở Biên-Hòa, cách trung tâm Sài-Gòn khoảng 30 km. Bức tượng khắc họa hình ảnh người lính với gương mặt thẫn thờ ngồi trên tảng đá, quân phục và ba-lô trên người còn bám bụi sa trường, súng gác trên đùi, dây quai nón sắt buông thõng và đôi mắt buồn bã đăm chiêu, như tiếc thương người bạn vừa nằm xuống nơi chiến trường xa. Ý tưởng này chợt đến khi ông Thu tình cờ nhìn thấy được trong một quán nước bên đường. Người lính thuộc binh chủng Nhảy dù, hạ sĩ Võ Văn Hai, rưng rưng ngấn lệ đang độc ẩm và tâm tình với người bạn đồng đội đã khuất. Hai ly bia trước mặt, “ly kia cho mày, ly này của tao”, hết vơi rồi lại đầy như tình chiến hữu không bao giờ phai lạt.
Bức tượng bị phá hủy sau ngày việt cộng cưỡng chiếm miền Nam Việt-Nam và điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu phải chịu đựng 8 năm giam cầm. Ông bị bỏ đói, đánh đập, hành hạ khiến cho hai tai bị điếc, chân đi không vững và tánh mạng gần như bị kiệt quệ.
Tượng “Thương tiếc” bị phá hủy sau ngày 30.4.1975
Ra khỏi nhà tù, ông đến và được định cư ở Hoa-Kỳ vào năm 1988. Trên vùng đất mới, ông hoài mong được dựng lại bức tượng “Thương tiếc”, nhưng niềm hy vọng, nỗi chờ mong chỉ dừng lại trong tâm trí và như “confetti nằm vương vãi trên sàn nhà”, theo như lời kể của ông Thu. Vì không sống được bằng nghề điêu khắc, cộng thêm sự cô đơn khắc khoải nơi xứ người, cuộc sống ông Thu bị lâm vào ngõ hẹp. Ông trở thành kẻ độc hành với bao niềm tâm sự và quyết định trở về nguyên quán sống với con cái sau hơn 10 năm xa xứ. Nơi chốn cũ, ông tiếp tục tạc tượng (khổ nhỏ) với những chủ đề xưa cũ «Thôn nữ», «Được mùa», «Thương tiếc» v.v. như để thỏa mãn lòng đam mê và nỗi khát khao nhớ nghề. Ngày tháng cứ âm thầm trôi trên một quê hương đã mất. Tuổi hạc chồng chất, giấc mơ điêu khắc đã chết từ mùa Xuân lâm lụy, thuở binh lính tan hàng và bỏ lại áo trận, giày sô.
Mỗi năm, tháng Tư lại về và gợi lên những nỗi niềm tiếc nhớ xa xôi, quê hương đã ngàn trùng cũng như xót thương vô vàn những người thua cuộc, tài bất phùng thời, trong đó có điêu khắc gia, đại úy Nguyễn Thanh Thu. Những ngày cuối đời, xin cầu mong cho ông được bình yên giữa cuộc đời nhiều giông bão.
Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.
Mười phút sau khi 821 và 824 xuất phát, trong máy PRC 25 của tôi có 2 tiếng “Xẹc! Xẹc!” đó là dấu hiệu quân trinh sát của tôi đã tới sát bìa rừng. Cũng mười phút sau nữa, tôi nghe tiếp 3 tiếng “Xẹc! Xẹc! Xẹc” đó là dấu hiệu báo rằng 824 ngừng lại vì thấy địch, còn 821 vẫn tiếp tục tiến lên. Bẵng đi hai mươi phút sau, tôi mới nghe được 4 tiếng “Xẹc!Xẹc!Xẹc!Xẹc!” đó là tín hiệu của Mom Sol báo rằng 821 đã đi qua hết tuyến dàn quân của địch. Tôi với tay cầm ống liên hợp, bóp ba cái, “Xẹc!Xẹc!Xẹc!” sau đó ba giây đồng hồ, tôi lại bóp tiếp ba tiếng nữa, “Xẹc!Xẹc!Xẹc!”
Tín hiệu này là lệnh rút lui ban ra cho 821 và 824.
Sau đó, tôi bò lên dốc, đưa tay vỗ nhẹ một cái lên vai chú Phước, Phước tiếp tục vỗ lên lưng người bên cạnh, cứ thế người được báo tin cuối cùng là Trung sĩ Thon. Như vậy, tất cả anh em trong tiểu đội cận vệ đều đã được thông báo tránh ngộ nhận. Chúng tôi chuẩn bị đón quân bạn tụt xuống đồi bất cứ lúc nào.
Tôi hồi hộp, bồn chồn.
Từng giây đi qua, từng phút trôi qua, trăng lên đã cao, dưới thung lũng vẫn chỉ có tiếng dế kêu, xen lẫn tiếng gió lùa.
Rồi từ hướng Nam của con thông thủy vọng lại tiếng “Xoẹt! Xoẹt! Xoẹt!”
Ðó là âm thanh tạo thành bởi những vật nặng vừa lao từ trên đồi xuống, chạm phải bụi cỏ lau dưới thung lũng. Toán 824 của Binh 1 Yang đã về! Ba ông Viễn Thám này xuống đồi bằng cách nằm ngửa, chong súng lên trời, xuống đồi bằng lưng! Xuống dốc bằng lưng nhanh gấp mười lần xuống dốc bằng bụng! Ngày xưa, tôi học được kỹ thuật này của Việt-Cộng! Trong một lần tiếp viện cho quân bạn, tôi đứng bên này suối, thấy Việt-Cộng “chém vè” bằng cách nằm ngửa, ôm súng tụt xuống dốc, vừa nhanh lại vừa an toàn.
Về hậu cứ, tôi đem quân ra Biển Hồ tập thử, thì thấy cách xuống núi này quả thực là hay, nhất là cho các ông Viễn Thám. Ông lính Viễn Thám nào dưới quyền tôi cũng rành cách xuống núi thoát hiểm này.
Gần 2 giờ sáng ngày 29 tháng 9 tôi mới có tin tức của 821. Khi bóng trăng đã xế, toán 821 của Hạ sĩ 1 Mom Sol mới về tới ngã ba thông thủy, đầu nguồn suối Dak Boun Bring.
Tôi ra lệnh đạp lau sậy xuống để đánh dấu điểm chạm suối của Binh 1 Yang và điểm chạm suối của Hạ sĩ 1 Mom Sol.
Khoảng cách của hai dấu mốc này sẽ là tuyến dàn quân của tôi ngày tiến công.
Tình hình địch trên Mục Tiêu 1 đã được Mom Sol mô tả một cách thật chính xác như sau:
Sau khi rời vị trí của toán 824, thì 821 tiếp tục men theo bìa rừng, đi về hướng Ðông Nam.
Ðịch rải quân thành một tuyến dài, trong bụi, đằng sau lề đường.
Tuyến dàn quân này dài khoảng gần hai trăm thước. Mom Sol không biết chiều sâu của trận địa ra sao. Nhưng điều chắc chắn là trên đỉnh đồi không có địch.
Ðịch canh gác rất ơ hờ, có nhiều tên còn đốt lửa sưởi ấm và cất tiếng ca hát giữa đêm khuya.
Mom Sol cũng ngửi được cả mùi khói bùi nhùi bay ra từ các hố cá nhân. Ðịch đốt bùi nhùi để chống muỗi rừng.
Sáng sớm ngày 29 tháng 9 tôi cùng tiểu đội cận vệ đi cùng Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Ðặng Thành Học, len lỏi trong rừng theo bờ Ðông của con thông thủy lên chiếm ngọn đồi có hình hạt đậu hướng Nam.
Ngọn đồi này nằm bên bờ Ðông con suối, đối diện với đồi 898 và cách Mục Tiêu 2 chừng tám trăm mét.
Ðồi này có nhiều cây thân mộc, khá cao, từ đây với cái ống nhòm, tôi nhìn rõ mồn một từng hố cá nhân, từng tấm vải nhựa che mưa của địch trên Mục Tiêu 2.
Tôi đưa cái ống nhòm cho Học,
– Chú nhìn cho rõ nhé! Theo anh thì chỉ cần một trung đội hàng ngang tiến thật nhanh rồi đánh bằng lựu đạn là tụi nó chạy có cờ!
Trưa ngày 29 tháng 9 tôi đã có trong tay bản ghi chép chi tiết tình hình địch và kế hoạch tiến quân.
Chiều 29 tháng 9 tôi đang ngủ say trên võng thì Ðại tá Vấn tới lều, dựng tôi dậy.
Giọng nói của ông liên đoàn trưởng rất nhẹ nhàng, nhưng có vẻ không vui,
– Sắp hết thời hạn rồi mà sao anh không thấy chú có động tĩnh gì cả? Chú bị bịnh hay sao mà ngủ giữa ban ngày?
Tôi ngáp một cái rồi dụi mắt,
– Niên trưởng để tôi ngủ chút đi! Còn tới bốn ngày nữa mới hết kỳ hạn, tôi đã hứa là tôi sẽ hoàn thành công tác trước 7 ngày, hôm nay mới là ngày thứ ba.
Nói xong, tôi nằm xuống võng ngủ tiếp.
Ðại tá Vấn ra chiều thất vọng. Tôi nghe ông thở dài, rồi chui ra khỏi lều, lững thững xuống đồi.
Kế đó tôi nghe dưới đường có tiếng léo nhéo,
– Hai ngày nay tôi thấy thằng Thái Sơn cứ ngủ li bì. Chắc nó sợ không dám đánh rồi! Hay mình cho thằng Chí Tôn vào trận đi!
Người vừa nói là Ðại tá Vấn.
(Chí Tôn: là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân)
– Thì cứ chờ xem! Tôi biết tính thằng Long, nó đã hứa thì thế nào nó cũng giữ lời!
Ðó là tiếng Trung tá Hoàng Kim Thanh.
Ngủ dậy, đánh răng, rửa mặt xong, tôi ôm tấm bản đồ đi sang khu pháo binh để gặp mặt Ðại tá Vấn.
Tôi cho ông đại tá hay rằng đêm mai, 30 tháng 9 tôi sẽ bắt đầu khai hỏa.
Tôi hứa rằng sau hai ngày, tôi sẽ hoàn tất nhiệm vụ.
Tôi nhờ ông liên đoàn trưởng, trong ngày 30 tháng 9 gắng xin cho tôi hai phi tuần tiền oanh kích; sau đó là 100 viên đại bác 105 ly trực xạ từ Ðạo-Trung đánh trên Mục Tiêu 1.
Ông đại tá vui mừng ra mặt, chấp thuận tất cả những gì mà tôi yêu cầu.
Trước khi về lều, tôi khẩn khoản đề nghị với Ðại tá Vấn rằng xin ông giữ kín kế hoạch điều binh của tôi, đừng cho thượng cấp biết vội, vì tôi e rằng hệ thống truyền tin mà bị tiết lộ thì quân của tôi sẽ bị nguy to.
Tiến chiếm mục tiêu
Về tới lều, tôi gọi ông Ðại úy Tiểu đoàn phó cùng ba ông Ðại đội trưởng 2, 3, và 4/82 tới họp bàn.
Kế hoạch hành quân đề ra là:
Chiều 30 tháng 9 tôi sẽ xin không quân tiền oanh kích Mục Tiêu 1, tiếp theo là 100 trái đại bác 105 ly sẽ dội trên bìa rừng của đồi 898.
Cùng giờ đó, Ðại úy Tiểu đoàn phó sẽ dẫn hai Ðại Ðội 2 /82 và 4/82 len lỏi trong rừng, tới ém quân trong vùng hai cây số hướng chính Tây vị trí hiện tại của các đơn vị này.
Chờ đêm xuống, hai đại đội này sẽ leo lên trải quân án ngữ con đường xe be, cũng là đường rút của địch.
Chắc chắn những tên Việt-Cộng đang chạy về khu hướng Tây sẽ bị cánh quân của ông tiểu đoàn phó tóm hết.
Sau trận Pleime thì hai Ðại Ðội 1/82 và 4/82 chịu ít tổn thất hơn hai đại đội còn lại.
Kỳ này Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Học được tôi cho đi đơn độc.
Còn Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Thủy sẽ đi kèm Ðại Ðội 2/82 của Trung úy Danh.
Tôi dặn dò ông tiểu đoàn phó phải ưu tiên cho Ðại Ðội 2/82 đi phía sau. Ðại Ðội 3/ 82 có một nửa quân số là tân binh, nên tôi sẽ cho đơn vị này nằm dưới quyền trực tiếp chỉ huy của tôi. Ðúng tám giờ tối ngày mai tôi sẽ dẫn quân xuống núi. Trong thời gian tôi dàn quân ở chạm tuyến, thì khẩu cối 81 ly của Thượng sĩ Năng và Trung sĩ Minh sẽ liên tục bắn 100 trái trên Mục Tiêu 1.
Sơ đồ tiến quân đêm 30/9/1974 của TĐ 82 BĐQ tại Đạo Trung, Quảng Đức.
Ngày 30 tháng 9 năm 1974 trời nắng ráo. Mười giờ sáng, tôi đang ngồi uống cà phê thì từ hướng Tây có tiếng “ì ầm!” của đại bác bắn đi. Vài giây sau thì “Vèo! Vèo! Xè! Xè! Oành! Oành!” những viên trái phá 105 ly theo nhau bay qua đầu tôi, rơi trên mặt Liên Tỉnh Lộ 8B và khu rừng thưa bên kia đường. Bụi khói bắt đầu bốc cao. Không ai bảo ai, mọi người đều lao xuống hố cá nhân.
Tôi còn đứng trên đồi, miệng tôi la lớn,
– Anh em Ðại Ðội 3 và Viễn Thám nhớ mở mắt cho to, thấy thằng Việt-Cộng nào xung phong thì phải bắn ngay!
Nhìn qua căn cứ hỏa lực, tôi không thấy bóng dáng ông lính nào trên mặt đất, không thấy ai chuẩn bị phản pháo cả.
Hai phút sau khi pháo địch ngừng, tôi nghe ông Ðại tá Vấn gọi,
– Thái Sơn đây Hai Lẻ Chín! Vừa rồi tụi nó chọi đá có trúng đầu con cái của Thái Sơn không? Chú có bị thiệt hại gì không?
Tôi ra dấu cho anh hiệu thính viên không trả lời Ðại tá Vấn. Vì nếu tôi trả lời thì địch sẽ nghe được, và sẽ truy ra vị trí đóng quân của tôi; trong tương lai chúng sẽ không còn bắn trật nữa.
Tôi cất bước đi quanh ngọn đồi, những anh lính cũ thấy tôi thì toét miệng ra cười, những anh lính mới thấy thế cũng nhe răng cười theo. Tôi hỏi một tân binh,
– Chú em có sợ không!
– Dạ! Lúc đầu em cũng run, nhưng thấy Thiếu tá còn đứng trên đồi, kêu tụi em coi chừng địch xung phong thì bắn ngay, em không còn sợ nữa!
Sau cơn mưa pháo chừng mười phút, cây đàn guitar Vọng Cổ của anh nhạc sĩ cận thị Lao Công Ðào Binh tên là Phan Thành Hoàng đã bắt đầu “Tửng! Từng! Tưng!” trở lại. Ði hành quân, các ông Lao Công Ðào Binh là sướng nhất, không canh gác, không xung phong, không súng ống, chỉ loanh quanh bên hầm khẩu 81 ly, nằm giữa bộ chỉ huy tiểu đoàn.
Hai giờ chiều 30 tháng 9 trên trời có chiếc thám thính cơ L19.
Tôi vào tần số Không Lục, có tiếng ông Thiếu úy Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu đang bay trên trời,
– Thái Sơn cho tọa độ, chúng tôi đánh ngay!
Lúc này tôi và Ðại tá Vấn đang đứng bên ụ súng 105 ly; ông Ðại tá vội cầm máy,
-Yêu cầu chú đánh ngay trái khói của pháo binh. Ðánh cho ngọn đồi đó tan hoang thành bình địa cho tôi!
Tôi liền ghé tai ông Vấn,
– Ðánh sát các bìa rừng, không đánh trên đỉnh. Ðịch không đóng trên đỉnh!
Ông Ðại tá vội lớn tiếng,
– Ðiều chỉnh lại, yêu cầu đánh sát bìa rừng, không đánh trên đỉnh! Nghe rõ không trả lời!
Một trái khói từ khẩu 105 được bắn đi. Ðạn nổ vừa xong, chiếc L19 cũng chúc xuống bắn thêm một trái khói nữa.
Phút sau, hai chiếc A 37 sà xuống trút bom. Hôm đó tôi không nghe tiếng phòng không của địch.
Hai chiếc A 37 thả bom thật là chậm rãi, từng trái một, nhìn như đang thực tập.
Cây cối gãy đổ, cành lá đua nhau bay lên trời, đồng cỏ tranh bắt đầu bốc cháy.
Cạn bom rồi, hai con tàu còn bay vần vũ trên trời một hồi lâu, rồi mới bay đi.
Ông Ðại tá quay qua tôi,
– Hết không yểm rồi! Mình xin hai phi tuần, bốn phi xuất, nhưng họ chỉ cho một phi tuần thôi!
Vị sĩ quan pháo đội trưởng chui ra khỏi lều hỏi tôi,
– Tới giờ mình “chơi” chưa Thiếu tá?
Tôi nói,
– Mình chờ chừng năm phút nữa, đợi tụi nó chui ra khỏi hầm mình đánh tiếp.
Năm phút sau, bốn khẩu 105 ly đua nhau giựt cò, cứ một viên chạm nổ, tiếp theo là một viên nổ cao, đồi 898 hóa thành một cột bụi ngùn ngụt dâng cao.
Trời nóng quá, tôi cởi cái áo ngoài ra vắt trên nóc hầm. Thấy thế, Ðại tá Vấn cũng theo tôi, cởi áo ngoài, vắt trên nóc hầm.
Lúc này một ông Thiếu tá và một ông Ðại tá mặc áo thun trắng, mặt mũi nhễ nhại mồ hôi, cứ chạy đi, chạy lại, giúp các ông xạ thủ vác đạn, giựt cò.
Dưới giao thông hào, ông liên đoàn phó giơ máy ảnh lên chụp lia chụp lịa. Năm 2009 ở Mỹ, ông cựu liên đoàn phó có cho tôi biết rằng ông ấy mới tìm ra cuộn phim có cái ảnh ngày đó tôi và ông Vấn mặc áo may-ô trắng, đứng trong đám khói bụi mịt mù giữa bốn khẩu pháo. Ông nói sẽ sang tấm ảnh kỷ niệm ấy ra, rồi gửi cho tôi, nhưng tôi chờ hoài mà không thấy thư của ông.
Trong lúc pháo binh đang bắn thì Ðại úy Nguyễn Hữu Tài báo cáo rằng cánh quân chặn địch của ông ta đã bắt đầu di chuyển. Từ đó qua đêm, tới sáng 1 tháng 10 tôi không nghe được đài nào của cánh quân này.
Nhá nhem tối 30 tháng 9 tôi cho lệnh xuống đồi, Viễn Thám 821 dẫn đường, rồi tới Ðại Ðội 3/ 82.
Tới chân dốc tôi ngạc nhiên ngừng lại, vì thấy Thiếu úy Hổ đang bạt tai một tân binh, miệng la,
– Ðù mạ! Mi định trốn hả! Ði lên! Mau lên!
Tôi hỏi,
– Gì đó Hổ?
– Dạ! Trình Thiếu tá! Thằng này cứ lủi lủi lại đàng sau tính trốn!
Tôi vỗ vai Hổ,
– Chú cứ đi lên chỉ huy đại đội. Ðể thằng này lại cho anh.
Trước mắt tôi giờ đó, không phải là một anh lính Biệt Ðộng Quân kiêu hùng, mà là một cậu bé rất đáng thương. Thằng bé rõ ràng đang sợ hãi lắm! Hai vai nó run run như đang lên cơn sốt rét.
Tôi ra lệnh,
– Thiếu úy Phước đem nó về bộ chỉ huy, giao cho Thượng sĩ Năng!
Chúng tôi an toàn tiến sát tới cọc mốc xa nhứt mà 821 đã đánh dấu đêm hôm trước.
Thật nhanh chóng, 18 Viễn Thám viên và tiểu đội cận vệ vào đội hình hàng ngang.
Trong lúc tôi và Thiếu úy Hổ lo trải quân cho Ðại Ðội 3 /82 thì Thiếu úy Trần Văn Phước quay trở lại, sau lưng Phước là anh chàng Trung sĩ Nguyễn Minh của khẩu đội 81 ly.
Tới sát bên tôi, Phước nói nhỏ,
– Em giao thằng lính chết nhát cho ông Năng rồi, còn ông Minh này cứ kèo nài xin đi theo Thiếu tá.
Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp
Kỳ 5
Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.
Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.
Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.
Nghe ông liên đoàn phó phân tích sự việc, tôi cũng phát lo. Tiểu đoàn tôi giờ đây chỉ còn một mình Thiếu úy Phạm Văn Thủy là đại đội trưởng cũ, hai ông Thiếu úy Ðặng Thành Học và Trung úy Võ Hữu Danh vừa từ nơi khác tới, ông Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ cũng mới lên chỉ huy đại đội chưa đầy hai tháng, kinh nghiệm chẳng nhiều. Thêm vào đấy, một phần ba quân số của tôi cũng là tân binh, nếu phải đi tiếp viện cho đơn vị khác, thấy người ta chạy, chắc chắn các ông tân binh của tôi cũng chạy theo mất thôi!
Tôi ôm đầu suy nghĩ một lúc rồi nói,
– Trung tá về nghỉ đi! Mai tôi trả lời.
Anh Thanh giơ tay, bắt tay tôi nhưng miệng anh vẫn khẩn khoản,
– Chú suy nghĩ lại, rồi cho anh biết ý kiến càng sớm càng tốt!
Yếu tố tinh thần trong chiến trận
Ðêm 27 tháng 9 năm 1974 tôi trằn trọc, suy nghĩ liên miên.
Tôi thấy hai ông chỉ huy của tôi là Ðại tá Từ Vấn và Trung tá Hoàng Kim Thanh rất có lý khi phân tích tình trạng tâm lý các quân nhân dưới quyền.
Tôi có người bạn cùng khóa Võ Bị là Ðại úy Lê Thanh Phong. Mùa Hè năm 1972 Ðại úy Lê Thanh Phong chỉ huy Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân và đã ghi được nhiều chiến công trong chiến dịch giải vây Kontum.
Vậy mà chỉ ít lâu sau, đầu tháng 12 năm 1972, anh Phong đã bị Cộng-Quân bắt tại trận ở Ðức-Cơ.
Trước đó, tháng 8 năm 1972 Ðức-Cơ đã bị bao vây, tôi được lệnh xuống chỉ huy căn cứ này.
Tôi đã giải tỏa xong áp lực địch chỉ với một Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.
Tháng 10 năm 1972, tình hình yên tĩnh trở lại, tôi đã bàn giao Ðức-Cơ cho ông Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.
Tôi đi khỏi Ðức-Cơ thì trại này được tăng cường thêm hai tiểu đoàn nữa để phòng thủ, đó là Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân của Ðại úy Lê Thanh Phong và Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Nguyễn Công Thông.
Người chỉ huy ba tiểu đoàn này là Trung tá Lê Chữ. Ông Chữ vốn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân, mới được thăng cấp trung tá sau lần tử thủ, giữ được Căn cứ Biên Phòng Bạch-Hổ (Ben Het).
Ngày đó yểm trợ cho Ðức-Cơ, chúng ta có hàng chục khẩu pháo 105 ly và 155 ly sẵn sàng từ Thanh-An và Thanh-Giáo; ta còn hàng chục máy bay oanh tạc chất đầy bom đạn nằm chờ ở phi trường Cù Hanh, Pleiku, chưa kể tới những pháo đài bay B 52 sẽ có mặt trên vùng chỉ sau vài giờ chờ đợi.
Với ba tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân phòng thủ, và được yểm trợ mạnh như vậy mà Ðức-Cơ vẫn mất, mất là vì sao?
Cựu Th/tá Vương Mộng Long, cựu Đ/úy Lê Thanh Phong, cựu Th/tá Phan Văn Hải (ngồi)
Mãi tới tháng 7 năm 1974 gặp lại anh bạn Lê Thanh Phong sau khi bạn tôi được trao đổi tù binh, tôi mới nhận được câu trả lời thích đáng.
Bạn Phong ấm ức phân trần với tôi:
“Mẹ nó! Ngày đó ở Ðức-Cơ không có tiếng súng nào! Vậy mà cha Mẫn và cha Chữ cứ cắm đầu chạy! Vạ lây cho tui! Người ta chạy, làm cho lính dưới quyền tui cũng chạy theo! Chuyện thực khôi hài, nhưng tức muốn chết!”
Thì ra, qua một đêm chịu pháo, 5 giờ sáng ngày 4 tháng 12 năm 1972, các ông chỉ huy căn cứ Ðức-Cơ là Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn đã bỏ đồn, hớt hải chạy ra cổng, tới tá túc với đơn vị của Ðại úy Lê Thanh Phong nơi đầu phi trường.
Theo chân hai ông chỉ huy là một tốp lính của Tiểu Ðoàn 81, sau lưng toán lính này là một toán Việt-Cộng hò reo đuổi theo. Không có tiếng súng nào, chỉ có tiếng la “Hàng sống! Chống chết!”
Ðịch không bắn, có thể là vì trời còn tối, chúng không nhìn thấy quân ta, cũng có thể là chúng sợ quân ta đông hơn nên không dám bắn.
Ðâu ngờ những tiếng hô “Hàng sống! Chống chết!” đã khiến hai ông Mẫn và Chữ hoảng hồn dẫn quân đạp lên lều võng của Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân rồi bỏ phi trường phóng đi luôn.
Bộ chỉ huy của Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân đóng gần đó, nên nhìn thấy ông Trung tá Lê Chữ đang vắt giò lên cổ, ông Thiếu tá Nguyễn Công Thông chẳng biết ất giáp gì, cũng lao theo chân ông Lê Chữ!
Thấy quan và quân của đơn vị bạn chạy tán loạn, những người lính nhát gan của Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân cũng ùn ùn chạy theo.
Phút chốc, trên sân bay chỉ còn lại ông Ðại úy Lê Thanh Phong, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân và vài chục anh lính. Ba ngày sau, Ðại úy Lê Thanh Phong bị địch bắt sống ở trong rừng.
Trước Hòa Ðàm Paris mà đã có những chuyện chưa đánh đã chạy như thế, thì sau Hòa Ðàm Paris phải chiến đấu trong tình trạng thắt lưng buộc bụng, thiếu thốn trăm bề, chắc chắn tinh thần chiến đấu của quân ta cũng bị suy sụp đi nhiều. Chưa nghe anh Phong tâm sự, tôi đã biết, yếu tố tinh thần là vô cùng quan trọng, nó quyết định vận mạng của cả một chiến trường. Bằng cớ là, nếu không có cái quyết tâm thà chết không đầu hàng, không bỏ chạy của những chiến sĩ trong Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân dưới quyền tôi, thì tôi đã bị địch bắt sống hay giết chết trong trận Pleime 1974 rồi.
Tôi nghĩ rằng, nếu đánh nhau với địch, địch mạnh hơn mình, mình yếu thế hơn phải rút lui thì không nói làm gì. Chứ mình đi sau người ta, chưa đánh nhau mà người ta đã chạy, làm cho lính của mình thấy thế cũng hoảng sợ, rồi rủ nhau cắm đầu, cắm cổ chạy theo người ta, bỏ mình ở lại, thì mình chỉ còn cách tự đấm ngực mà chết mất thôi!
Lại nữa, tôi thấy đơn vị nào đã thua một trận, sẽ mắc cái “huông” rồi cứ thế được trớn, thua luôn! Trở thành lỳ đòn, trơ mặt, không biết xấu hổ là gì!
Dưới quyền Thái Sơn Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là một đơn vị chưa hề chiến bại.
Giữa đêm khuya, tôi chợt buột miệng hét to:
“Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ không bao giờ chiến bại!”
Hai anh lính Viễn Thám gác đôi gần đó, nghe tiếng tôi la, bèn chạy vội vào cửa lều, lớn tiếng hỏi,
– Thái Sơn gọi tụi em hả!
Tôi bật cười,
– Ừ! Mai thầy trò mình đi nhảy toán!
Tôi cầm cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi cho Trung tá Hoàng Kim Thanh,
– Okay! Tôi sẽ hoàn thành sứ mệnh trước thời hạn 7 ngày!
Cựu Th/tá Vương Mộng Long & cựu Th/úy Lý Ngọc Châu – USA 2007
Trinh sát dạ hành…
Suốt ngày 28 tháng 9 với cái ống nhòm và tấm bản đồ trên tay, tôi kín đáo núp sau những gốc cây bên sườn đồi, quan sát cái thung lũng dưới chân tôi và ngọn đồi sừng sững hướng Tây.
Từ những năm 1968, 1969 khi còn giữ chức đại đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, tôi đã nhiều lần nhận nhiệm vụ mở đường và giữ đường từ Ðức-Lập tới Nghi-Xuân, do đó địa thế vùng này không phải là xa lạ đối với tôi.
Khắp khu vực Nam Ðức-Lập và Bắc Gia-Nghĩa toàn là đồi có cao độ từ 800 tới 900 mét sàn sàn nhau.
Nếu nhìn trên bản đồ, ta chỉ thấy những vùng loang lổ mầu trắng xen với màu xanh lá cây. Màu trắng là khu vực cỏ tranh cao cỡ đầu gối, màu xanh lá cây là những cụm rừng số 3, cây không cao lắm.
Vùng này suối không sâu và cạn kiệt vào mùa khô. Thời gian này đang là mùa khô.
Thiếu tá Bùi Ngọc Long đã chỉ cho tôi biết vị trí những cây súng cộng đồng của địch đều tập trung dọc theo con đường xe be cắt ngang đỉnh ngọn đồi có cao độ 898 mét. Chắc chắn hiện thời địch đang có mặt trên đồi này, chúng ngang nhiên đốt lửa giữa ban ngày, nơi bìa rừng từng lọn khói đen cứ lừng lững vươn lên cao rồi tan đi thật bình yên vô tư.
Ngọn đồi này nằm cách chỗ tôi đóng quân đúng 2 cây số về hướng Tây Nam. Xe cộ đi ngang qua đoạn đường yên ngựa hướng chính Nam của Căn cứ Ðạo-Trung thường là mục tiêu cho các loại súng cộng đồng đặt trên đồi 898 nhắm bắn. Ðiểm chiến thuật thứ hai là ngọn đồi có cao độ 880 mét nằm ngay trên Liên Tỉnh Lộ 8 B, cách lều của tôi đúng một cây số rưỡi. Nếu địch gài được một cái chốt cấp đại đội trên đỉnh đồi này thì cái cua chữ “C” hướng Nam Căn cứ Ðạo-Trung biến thành tử địa.
Cũng từ ngọn đồi này, hằng ngày các tay bắn tỉa của Việt-Cộng liên tục nã súng vào các pháo thủ đóng trong căn cứ.
Muốn giải tỏa áp lực địch trên Liên Tỉnh Lộ 8 B bắt buộc phải chiếm cho kỳ được đồi 898 và đồi 880.
Ðồi 898 sẽ là Mục Tiêu 1, đồi 880 sẽ là Mục Tiêu 2.
Tôi dự trù sẽ bứng Mục Tiêu 1 trước, kế đó mới là Mục Tiêu 2.
Thoạt nhìn vào bản đồ thì bất cứ cấp chỉ huy nào cũng chọn con đường xe be từ Liên Tỉnh Lộ 8B rồi theo hướng Tây Nam để làm trục tiến tới Mục Tiêu 1.
Nếu có chiến xa tăng phái, chắc chắn tôi sẽ dùng trục lộ này. Nhưng ngặt nghèo là thời gian này các đơn vị thiết giáp của ta còn kẹt ở mặt trận Pleiku, có làm đơn xin cũng còn lâu mới được thỏa mãn.
Tôi đã được Thiếu tá Bùi Ngọc Long kể lại, trước khi chúng tôi được lệnh vào vùng thì một đơn vị bộ binh đã dùng trục tiến này để đánh địch nhưng thất bại. Quân bạn đã phải bỏ xác người chết trên đường lui vì không kéo ra được.
Tôi thấy lý do thất bại của đơn vị bạn rất dễ nhìn ra. Chỉ vì đoạn đường từ khu tập trung tới mục tiêu quá xa, nếu ta dùng đội hình hàng dọc thì không đủ quân xung phong ở chạm tuyến; nếu sử dụng đội hình hàng ngang thì quân ta sẽ chết rất nhiều trước khi tới tuyến xung phong. Vậy là trục tiến này không thể dùng được, tôi phải bày kế khác.
Tôi cũng nghĩ tới kế sách tiếp theo là liều mạng dàn quân hàng ngang dưới suối, rồi leo nhanh lên dốc, tấn công trực diện, nhưng cách đánh này đòi hỏi một hỏa lực yểm trợ tiếp cận thật mạnh, giống như hỏa lực của trực thăng vũ trang Hoa-Kỳ thời 1966-1972.
Nhưng sau Hòa Ðàm Paris mà đánh nhau kiểu này thì không khác gì tự sát dưới hỏa lực hùng hậu của địch.
Suy đi, tính lại mãi, cuối cùng, tôi quyết định sẽ áp dụng chiến thuật đánh đêm.
Dạ chiến có lợi thế bất ngờ, vì trong bóng đêm, ta có thể bí mật áp sát mục tiêu, tới sát bên địch rồi, ta mới khai hỏa.
Muốn thực hiện điều này phải có những tay súng tinh nhuệ và gan lỳ.
Trận này bắt buộc tôi phải dùng tới 18 Viễn Thám viên và 12 anh lính cận vệ. Thời gian này Thiếu úy Trần Văn Phước kiêm nhiệm chỉ huy 12 anh cận vệ, vì Thiếu úy Lý Ngọc Châu còn đang theo học khóa Chiến Tranh Chính Trị trên Ðà-Lạt.
Với quân số này, tôi có thể chiếm lĩnh một tuyến có chiều dài trên dưới một trăm thước để làm đầu cầu cho Ðại Ðội 3/82 phía sau bò lên theo.
Nhưng trước khi ra quân, ta phải biết:
“Lực lượng địch cỡ nào? Ðịch dàn quân ra làm sao? Nơi nào nên đánh? Ðánh như thế nào?”
Muốn trả lời những câu hỏi ở trên thì cấp chỉ huy phải đích thân thám sát địa thế, tìm hiểu địch tình.
Tôi đã biết, mỗi khi thực hành một trận đánh, các cấp chỉ huy Việt-Cộng đều đích thân đi thám sát trận địa để nắm vững chính xác tình hình của quân ta. Trong khi đó thì đa số chỉ huy của ta lại cứ đòi phải có trực thăng hay L 19 mới chịu bay quan sát.
Tôi xuất thân là đầu lãnh của những toán Viễn Thám Biệt Ðộng Quân một thời ngang dọc Vùng 2, chẳng lẽ lại thua gan mấy tay chỉ huy Việt-Cộng?
Thế là ngay tối 28 tháng 9 tôi đã đích thân chỉ huy tiểu đội cận vệ cùng hai toán Viễn Thám 821 và 824 xuống núi thi hành một cuộc hành quân xâm nhập.
Ðêm 28 tháng 9 trên trời có trăng nhưng dưới thung lũng thì sương mù trắng xóa.
Toán 821 do Hạ sĩ 1 Mom Sol dẫn đầu, tiếp đó là 824 do Binh 1 Yang chỉ huy, tôi là người đi kế tiếp, theo tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước, người đoạn hậu tiểu đội cận vệ là Trung sĩ Y Thon Nier với khẩu M79 bắn đạn chài. Chúng tôi tiến thật êm trên thảm cỏ tranh nằm giữa hàng cây xanh sát bờ suối và đỉnh ngọn đồi trọc bên hướng Tây. Tới khu đồng cỏ hướng Ðông của đồi 898 tôi cho quân dừng lại. Tiểu đội cận vệ dưới quyền Thiếu úy Phước trải thành một hàng ngang, vừa bảo vệ cho tôi, vừa sẵn sàng tiếp cứu hai toán Viễn Thám.
Viễn Thám 821 dẫn đầu, 824 theo sau, hàng một leo lên dốc. Ðêm lạnh, chỉ có tiếng gió lay cành lá hòa với tiếng ếch nhái dưới thung lũng nghe thật là ảm đạm, thê lương. Thời gian hai toán Viễn Thám vượt khoảng đất trống từ triền Ðông của đồi 898 tới mặt đường xe be là thời gian nín thở của những người ngồi dưới khe. Tôi đã từng nhiều lần đi toán, vậy mà kỳ đi thám sát này tôi cũng thấy lòng hồi hộp không yên.
Bữa nhận được lá thư của dưỡng trí viện Raveswood gửi tới, Octavia phải đợi con nít đi ngủ hết mới dám đọc cho mẹ nghe . Đại khái chỉ là một công văn thông báo vắn tắt cho hay người bệnh Frank Corbo sau một cuộc trắc nghiệm thần kinh có thể được gia đình lãnh về nếu bà vợ chịu ký giấy cam kết trông nom, săn sóc đúng mức. Thư thì ngắn nhưng kèm theo còn có một tờ khai để điền vào gửi trả lại nhà thương. Phải khai rõ tên tuổi mấy đứa con, mức lợi tức của toàn gia đình nói chung và của từng người nói riêng. Đọc xong công văn thì phải hiểu là người bệnh có thể được xuất viện nhưng về nhà vẫn còn phải là người bệnh phải nuôi như thường. Vừa uống cà phê, Lucia Santa vừa bồn chồn ngỏ ý: – Tao chắc chắn hắn chưa khỏi lắm. Điệu này người ta muốn cho về để thử thách xem sao đây … Octavia nói ngay: – Đâu phải, hắn có thể hết bệnh … song chưa đủ sức làm việc. Đại khái như một người bệnh thông thường còn phải chăm sóc vậy mà. Ít lâu sau may ra đi làm trở lại được. Nhưng con hỏi thực … mẹ có muốn cho ông ấy về đây không? Tuy hỏi thẳng mẹ như vậy tự nhiên Octavia mắc cỡ nóng bừng mặt. Nàng bèn cúi xuống che giấu những tư tưởng không mấy lành mạnh, cao đẹp vừa chợt đến về ý muốn của bà mẹ. Kỳ cục thật! Thấy con làm bộ e thẹn, Lucia Santa đáp ngay boong: – Ô hay, cái đó sao mi còn phải hỏi tao? Ít nhất hắn cũng là cha ba đứa nhỏ, cũng từng kiếm cơm mang về nhà này mười năm nay. Có là trâu, là ngựa thì làm lúc mạnh, lúc đau yếu già nua mình cũng còn phải chăm nom tử tế … huống hồ lại là con người! Hắn là chồng tao mà mi nhè hỏi “có muốn cho về đây không!”. – Nếu vậy mẹ khỏi lo về phần con. – Đồng ý, nhưng tao vẫn phải lo phần tao chứ? Lỡ hắn lên cơn bậy làm gì nguy hiểm đến bọn con nít thì sao ? Mình đã chịu nhiều đau khổ. Vậy có phải chịu đựng thêm ít nhiều đau khổ nữa cũng phải cứ ráng, chứ bỏ hắn đâu được phải không? Có điều ráng không nổi, khó quá đấy! Octavia lặng thinh. Hai mẹ con im lặng ngồi cả mấy tiếng đồng hồ liền. Nàng sẵn sàng lấy bút ra đợi mẹ sai viết thư trả lời Dưỡng trí viện. Lucia Santa suy nghĩ dữ. Mụ hồi nhớ lại xã hội này thiếu gì những vụ án mạng xảy ra chỉ vì Dưỡng trí viện ra, người bệnh đâu còn nhớ vợ, nhớ con là ai và sẵn sàng chém giết như điên. Bây giờ để hắn về nhà ở lỡ ra con Octavia có chuyện đụng chạm bỏ nhà ra đi … hay lấy bừa một thằng chồng để có cớ đi cho rảnh nợ thì sao đây? Trong óc Lucia Santa nổi bật hình ảnh một con thú dữ nhốt trong cũi sắt, đã nhốt là phải nhốt vô thời hạn. Để hắn về mà chứng cuồng trí chưa dứt thế nào chẳng có chuyện? Không thể liều lĩnh như vậy được. Thôi thì cứ để hắn y chỗ. Dù hắn là cha bọn nhỏ, là người chồng đầu gối tay ấp, người từng một lần gặp gỡ đã mang lại cho sự hứng thú đến bây giờ vẫn chưa quên … cũng không thể chấp nhận để hắn trở về. Đành phải vậy. Mụ lắc đầu bảo con: – Thôi, tao không ký. Cứ để hắn yên chỗ trong đó là hơn. Octavia giật mình sững sờ. Nàng không thể ngờ mẹ quyết liệt vậy. Tự nhiên nàng hồi tưởng lại ngày xưa, cha nàng tử nạn tuy còn nhỏ xíu nàng đã đau đớn như thế nào. Cảm giác đau khổ năm đo ”chợt sống dậy y nguyên. Chết là hết, làm sống lại con người sao được nhưng giờ đây ông cha ghẻ có thể được trả về với gia đình, vợ con lành lặn lắm chứ? Nếu có thể “cứu sống” được hắn mà từ chối thì nàng mặt mũi nào nhìn thấy mấy đứa nhỏ Gino, Sal và bé Aileen? Nàng đâu thể bắt buộc chúng cũng mất cha? Octavia thong thả khuyên mẹ: – Mẹ à … cái vụ này thử hỏi mấy đứa nhỏ xem? Bề nào ông ấy cũng là cha chúng. Để xem chúng nghĩ sao … và sau đó rất có thể mẹ nhận cho ông ấy về chứ? Lucia Santa đưa mắt nhìn con. Cặp mắt dò hỏi, cặp mắt giục giã nhưng ôi chao, nhìn sâu vào chúng Octavia vẫn thấy xao xuyến khó tả. Tự nhiên cặp mắt mẹ nàng có vẻ xa vắng lạc lõng như mất hồn. Bà mẹ dằn từng tiếng: – Bọn con nít mà biết gì mà nói với chúng? Cứ để tụi nó riêng ra … vì đời chúng sau này còn nhiều cay đắng, còn kẹt, còn lo nhiều. Bây giờ tao cho mi hay là cha chúng không lãnh về nhà ở được! – Sao mẹ cả quyết vậy, sao mẹ không thử xem? Chứ để ông ấy biệt trong đó tụi nhỏ cũng nhớ chứ bộ? Lucia Santa lắc đầu quầy quậy: – Không, không phải vậy! Mày nghĩ vậy là sai. Mày muốn tao lãnh hắn về để ra bộ tử tế, tốt bụng chứ gì? Tốt lắm, dễ lắm! Chừng nào vì chính sự tử tế của mày mà mày kẹt lớn thì mày sẽ hối hận vì trót lỡ tử tế … nhưng mày sẽ kẹt gỡ không ra. Mày sẽ la trời chỉ vì tử tế mà kẹt! Chắc chắn vậy vì chính đời tao kẹt cũng đã quá nhiều cho mày hay có người nào tốt bụng với mình, mày cũng phải để ý coi chừng vì chưa chắc họ đã biết hậu quả lòng tốt của họ. Lúc này trông chờ sự tử tế của họ thì chính họ … họ sẽ cho mình rơi. Mày biết không … hồi cha mày tử nạn, hàng xóm láng giềng đổ xô lại giúp. Họ tử tế quá làm tao phát khóc kia mà? Hỡi ơi trên đời có mấy ai tử tế mãi, tốt bụng mãi được … nhất là những đứa nghèo như mẹ con mình? Kể cả bà chị họ tao là dì mày nữa. Bà ấy đâu có nghèo? Biểu diễn lòng tử tế trong thời gian nào thì được chứ? Đẹp lắm! Kéo dài ra thì không xong chỉ vì nó đi ngược lại căn bản của đời sống, của loài người. Chẳng hạn như lòng tử tế của mày muốn để cha chúng nó trở về cho vui cửa vui nhà. Được chứ! Nhưng mày đã tiên liệu được là chỉ ít lâu sau sẽ có biết bao nhiêu phiền phức, lộn xộn, cãi cọ, chửi bới? Bao nhiêu thứ đó sẽ làm mày điên đầu chứ? Chịu hết nổi mày sẽ tung hê hết, bỏ nhà ra đi bất cứ lúc nào, miễn là ra thoát. Lúc bấy giờ mày không đau khổ lắm đâu. Người đau khổ vì lòng tử tế của mày lại là tao! Biết vậy thì cứ để hắn y chỗ đi … Vậy là mẹ nàng có quyết định rồi. Như vậy là Frank Corbo chẳng bao giờ có dịp “sống lại” trong nhà này. Quyết định xong là hai mẹ con lo rửa chén bát, dọn dẹp. Một mình Octavia trở vào buồng nằm suy nghĩ mông lung . Ngày mai đây phải giải thích cho mấy đứa nhỏ như thế nào. Ít ra cũng cho chúng hiểu là mình không ghét bỏ cha chúng, mình không có lỗi đối với chúng. Nàng suy nghĩ mãi không hiểu tại sao mẹ dám quyết định cứng rắn như vậy. Khó hiểu! Chợt nhớ còn để quên văn thư của Dưỡng trí viện trên bàn nhà bếp. Octavia cứ để nguyên quần áo ngủ mò xuống lấy. Quái, sao giờ này ai còn để đèn nhà bếp kia? Ra bà mẹ còn ngồi ở bàn, trước mặt la liệt những túi, gói, hộp … để thong thả đổ vào hũ đường, chậu muối, thùng bột mì. Lá thư của Dưỡng trí viện cũng nằm sờ sờ con dấu nhà nước tổ bố màu đen, bên cạnh là phong bì có dấu hiệu nhà nước. Bà chăm chú nhìn từng chữ, từng hàng một, xem thư nói cái gì dù mù chữ hoàn toàn và ngước lên bảo Octavia: – Mi để tao giữ lá thư này đi. Sáng mai hãy trả lời … Trong khi đó ngoài nhà, thằng Gino đâu đã ngủ. Nằm cạnh thằng Sal đang ngáy khò khò nó lắng nghe không sót một tiếng những gì mẹ bàn với chị nhờ cánh cửa sổ ăn thông nhà bếp. Thấy mẹ quyết định vậy nó không dám giận mẹ, không tức tối. Chỉ thấy nhói đau một phát như người bệnh bao tử. Lát sau thấy đèn bếp tắt, bóng mẹ nó lò dò đi ngang rồi Gino thiếp ngủ lúc nào không biết.
Photo edit by Sơn râu
Lucia Santa không sao ngủ được, mụ sờ soạng thấy con bé Aileen đang nằm sát vách. Vách lạnh lạnh nhưng da thịt nó mềm mại, ấm nóng. Chỉ cần sờ vào núm thịt da thân yêu đó là mụ như được truyền thêm sức. Cơ thể nhỏ nhoi đó là của mụ, mụ có bổn phận bảo vệ, nuôi nấng nó … cùng với mấy thằng anh nó. Vận mạng chúng hiển nhiên đang nằm trong tay mụ, tốt xấu hay dở cũng hoàn toàn do mụ … Chính vì chúng nó mà mụ phải quyết định cay nghiệt với chồng. Hơn thế nữa Lucia Santa chưa quên nổi những lần chính mụ bị hắn thẳng tay đánh đập, mấy đứa con riêng bị hắn chửi mắng tàn nhẫn và mới đây nửa đêm hắn lên cơn la hét dữ dội chính mấy đứa con đẻ của hắn khiếp sợ tới cực độ mà hắn đâu có tha! Đầu óc hắn thế nào mà công việc bỏ bê … có hồi lại nhắm mắt chạy theo tôn giáo một cách ngu muội mới là kỳ cục! Trách móc hắn như vậy đó nhưng chỉ cần một tiếng kêu lên thảng thốt là Lucia Santa sẵn sàng bỏ hết để thương hại cho tình cảnh hắn. “Frank, tại sao mình không biết tự lo lấy thân mình, suy nghĩ gì đâu cho ra nông nỗi?”. Tự nhiên mụ nhớ lại ngày nào mới quen biết, hắn đã tới nhà với những cảm tình tốt đẹp, hắn từng giúp đỡ đàng hoàng, nhất là hôm đưa tiền mụ không lấy, hắn đã cầm lấy toan xé bỏ, trông hắn đau khổ thật tình quá mà! Nhưng rồi cũng đành, đành phải chấp nhận sự thực đau khổ là chỉ vì nghèo quá đỗi nên có muốn thử thương hại, thử cứu vớt một người mình từng yêu thương mụ cũng không dám. Khỏi thương hại ai, không thể thương hại ai nữa hết! Một lần nữa, Lucia Santa lại đưa tay sờ soạng đứa con nít đang bình thản ngủ kế bên. Mụ khoanh tay nhìn ngược lên khoảng không đen ngòm, kiên nhẫn chờ đợi giấc ngủ. Vậy là mụ vừa thẳng tay chối bỏ, không cho Frank Corbo được phép sống lại thử để nhìn đám con hắn lớn lên, để chia sẻ cái giường này và một ngày kia được hân hạnh làm ông nội. Mụ khe khẽ rên lên bằng tiếng mẹ đẻ “Trời ơi … xin chứng giám cho lòng con” làm như rồi đây mụ cũng sẽ không được hưởng lòng thương hại mà chính mụ vừa từ chối với người bạn đầu gối tay ấp. Đêm hôm sau, cơm nước xong, Octavia ra phòng khách kêu Gino và Sal tới bảo . Nàng nói thật ôn tồn, dịu dàng đặc biệt như cô giáo giảng bài làm gì chúng không hiểu? Thằng Gino biết ngay vụ nó nghe lóng khuya hôm trước quả có đúng. Chừng Octavia giải thích tại sao không thể lãnh ông cha dượng về nhà được, tự nhiên Gino nhớ lại những lần được cha dẫn đi hớt tóc. Hai cha con ngồi đâu lưng lại nhau, cha bên dãy kia, con bên này nhưng nhìn trong gương là thấy hết, không sót một cử chỉ, một bộ dạng nào. Tha hồ mà ngắm qua mấy lần gương phản chiếu, khỏi có ngượng ngùng như những lần nhìn thẳng tận mặt … nhờ đó cha con có thể nhìn nhau thật lâu để cảm thấy cùng một huyết thống, chung một thứ tình thiêng liêng máu mủ. Gino không sao quên nổi cảm giác thú vị khi ông thợ già ria mép bạc trắng vừa chuyện trò với cha nó bằng tiếng quê hương xứ sở vừa gạt những cụm tóc cho rớt trên chiếc khăn rằn ri, rồi bay nhẹ nhàng xuống nằm trên nền gạch bông trắng bóng. Nó khoan khoái nghe tiếng kéo lách tách, nhìn ngược, nhìn xuôi bốn bề toàn gương nên chỗ nào cũng thấy một chiếc quầy cao đá trắng bên trên bày lủ khủ những chai nước bông lớn nhỏ, màu xanh, màu vàng. Gino nhớ lại nhiều lúc nó thấy ngơ ngác cha nó nở nụ cười và muốn chọc cho nó cười luôn nhưng nó vẫn ngồi nghiêm trang, chững chạc. In hình chưa bao giờ và chẳng ở đâu cha nó cười lâu, cười tươi như vậy. Khi chị Octavia giảng giải cho chúng nghe xong là cả hai thằng lại nhấp nhổm tính vọt xuống dưới đường chơi. Ở vào tuổi chúng thì lo nghĩ gì – cha tụi nó đau nằm nhà thương thì khỏi bệnh lại về, sớm muộn cũng vậy thôi! Octavia thử quan sát kỹ xem có đứa nào rầu rĩ không và còn lên tiếng hỏi: “Tụi bây có muốn cha về ngay bây giờ, liền tức thời không?” Thằng Sal trả lời gần như mếu: – Không đâu, chị ơi! Bố về em sợ quá, em chịu thôi! Câu trả lời bất ngờ, phũ phàng làm Octavia và Gino giật mình. Xưa nay trong mấy đứa nhỏ chỉ có Sal là thương cha nhất mà! Gino cảm thấy lúng túng khó chịu vì xưa nay mỗi lần nó làm biếng hay trốn việc, bướng bỉnh là y như rằng bị mẹ la “Sao mày giống thằng cha mày thế? Rồi lại đến như thằng cha mày mất thôi?”. Nếu thật vậy thì bao nhiêu chuyện rắc rối trong nhà này thủ phạm là cha nó và nó luôn chắc? Thôi cũng được đi, Gino chấp nhận. Cho nên nghe chị hỏi, nó trả lời “lí nhí”: – Ở nhà thì mẹ muốn làm gì cũng OK hết! Em không biết … mà em khỏi cần. Chúng nó chạy khuất là Octavia ra cửa sổ nhìn xuống. Hai đứa hối hả chạy ào ra đường. Chưa bao giờ nàng thấy buồn bã chán chường như thế này. Một nỗi buồn không rõ rệt mà chỉ vẩn vơ thôi. In hình nỗi khổ của ông cha ghẻ cũng là nỗi khổ chung của cả loài người. Trong đó có nàng, dĩ nhiên nàng cũng chẳng thoát nào. Chưa đến lúc đó thôi.
Suốt sáu tháng Octavia nằm viện bài lao, Lucia Santa không đi thăm được đến một lần. Đường sá xa xôi, công việc nhà bù đầu mà đi cái xe hơi cà khổ của Larry ngán quá. Mà đời nào mụ dám để bọn con nít ở nhà một mình! Bữa Octavia xuất viện và Larry và Vincenzo ra ga đón chị, cả nhà nôn nao chờ. Mụ Lucia mặc bộ đồ đen sang nhất, bọn con nít diện quần áo mới như đi chơi chủ nhật. Dì Louche cũng chạy sang chơi, chạy lăng xăng trong bếp hết châm thêm nước sôi đến đánh sốt cà chua. Gino đứng ở cửa sổ đằng trước canh. Nó chạy ào vào bếp la: “Họ về kìa … mẹ ơi!”. Lucia Santa mừng rớt nước mắt vội lau cho khô. Dì Louche cuống quít nhúng mì vào nước sôi cho mau chín. Bọn con nít mở bật cửa phòng chạy ra đầu cầu thang bám chỗ tay vịn thò đầu xuống nhìn. Chúng lắng nghe từ bước chân lên thang. Lúc Octavia bước chân về nhà đâu có nhận ra? Cứ tưởng đâu con nhỏ sẽ xanh mét, bệnh hoạn cái điệu người vừa ốm nặng dậy, cả nhà sẽ phải o bế, săn sóc. Chao ôi, nó lớn bổng hẳn lên, trông rõ ràng gái Mỹ! Nước da hết mai mái, hai má đỏ hồng hồng và mái tóc uốn từng lọn như Mỹ vậy. Octavia mặc váy ngắn áo thun. Có chiếc áo vét phủ ngoài và mang thắt lưng đàng hoàng. Bằng ấy thứ chưa lạ! Lạ nhất là giọng nói, điệu bộ của Octavia. Chẳng ai nhận ra. Nụ cười duyên dáng, đôi môi khẽ mím lại … Octavia reo lên sung sướng nhưng không quá trớn. Nàng ôm chầm lấy hai đứa bé nhất la “Tao nhớ tụi bây quá xá!”. Rồi chạy lại chỗ mẹ ôm hôn nhưng không hôn môi mà chỉ khẽ hôn lên má: “Về nhà mừng quá mẹ ơi!”. Lát sau hai anh em Larry mới vác va ly bước vào, xem bộ lúng ta lúng túng. Octavia vuốt má Gino: “Thằng này mau lớn quá, xem đẹp trai ghê”. Nó vội rụt ra. Cả nhà cứ nhìn Octavia. Chỉ có hai đứa nhỏ chịu chị Octavia. Thằng Sal và con Aileen cứ đeo bám theo, nhìn bằng mắt nghe bằng tai chưa đủ chúng còn lấy tay sờ mó cho đã và được chị ôm lấy vuốt tóc là sướng lắm. Octavia cứ luôn miệng: “Chao ôi, hai đứa này mau lớn quá!”. Trong khi đó Lucia Santa không buồn để ý những thay đổi của Octavia mà chỉ buộc phải ngồi xuống nghỉ mệt đã. Leo bốn thang gác một lúc mệt lắm chứ? Mụ Louche vừa bưng thức ăn vào dọn cơm vừa liếc nhìn Octavia: “À, tạ ơn trời cháu về mạnh giỏi? Thiếu cháu mẹ cháu mệt quá đi!”. Trước khi nàng kịp trả lời mụ đã lật đật quay trở lại lo cho xong mấy món ăn. Bữa cơm trùng phùng của gia đình Lucia Santa cũng bằng ấy đứa con song tẻ nhạt lạ kỳ, có chuyện trò cũng nhạt nhẽo như có khách lạ vậy. Hai thằng Vincenzo, Gino không dám ngắt véo nhau đã đành mà hai đứa nhỏ Sal, Aileen cũng không ganh nhau miếng thịt to miếng thịt nhỏ! Lúc Lousia bồng con lên gặp chị Octavia nó cũng tới hôn mừng nhưng cẩn thận đứng đằng sau lưng hôn khẽ ở vành tai. Ra điều hôn người lao dám lây bệnh như không! Nó ngồi bên cạnh chồng cố bồng con cho xa bà chị nên Octavia cũng biết ý chỉ ngồi một chỗ âu yếm hỏi đứa nhỏ chứ không sờ tới người nó. Trong khi đó Larry ăn ào ào cho chóng xong bữa, xin lỗi cả nhà vì còn phải đi làm ca chiều từ bốn giờ tới nửa khuya. Vừa xong bữa cơm, Octavia dợm đứng dậy để thu dọn bát đĩa thì bị cả nhà ngăn lại. Ngay thằng Gino cũng vùng dậy, giằng mấy món đồ dơ lại, không cho chị rửa, còn mụ Lucia Santa thì hét lên: “Mày tính làm gì đó? Mày điên hả, muốn đau trở lại hả?” Octavia đành ngồi chơi với hai đứa nhỏ ngắm đôi mắt chúng nhìn nàng vô cùng trìu mến. Nàng cười nói vui vẻ lắm chứ nhưng bà mẹ cảm thấy nỗi buồn chất chứa bên trong. Nhìn nhà cửa đồ đạc bày la liệt và ngăn tủ cũng ngập ngụa, bừa bãi quần áo của mấy đứa nhỏ, Octavia không khỏi chán ngán. Từ chiều đến chập tối nàng ngồi một chỗ nhìn mẹ lần lượt hì hục một mình thanh toán biết bao nhiêu việc vặt: nào rửa chén đĩa, ủi đồ, chụm than đốt lò sưởi và thắp đèn măng xông, sửa soạn cho tụi nhỏ đi ngủ mới tạm xong. Giờ này nếu còn ở viện bài lao thì Octavia đang làm gì nhỉ? Chao ôi, nhàn nhã sung sướng quá: Chập tối khoác tay con bạn đi dạo khắp vườn … rồi tới giờ vào phòng ăn đợi cơm, nói tào lao đủ thứ chuyện. Ăn cơm xong xuống phòng lo chơi bài đến khuya. Tự nhiên nàng đâm nhớ những ngày trong viện: đời Octavia chưa bao giờ được chiều đãi, săn sóc thế này. Cái gì cũng có người lo cho hết, khỏi lo ngại, khỏi trách nhiệm. Bây giờ về nhà tự nhiên thấy lạc lõng thế nào ấy. Cứ mải ngồi suy nghĩ mông lung, Octavia đâu có nhận ra bà mẹ đi lại dọn dẹp trong nhà mà tay chân vô cùng ngượng ngập, dáng đi cứng nhắc. Lúc hạ giường sửa soạn đi ngủ, hai đứa lớn thì thào nói chuyện. Thằng Gino ghé tai Vincenzo: – Thấy không … từ hồi về đến giờ không nghe thấy chị Octavia chửi thề, văng tục lần nào ta? – Tao chắc ở nhà thương họ cấm cái vụ đó nên lâu ngày chị ấy quên luôn chứ gì? – Nếu vậy tốt quá. Con gái lớn mà ăn nói tục tĩu quá đi, thấy không? Đêm về chỉ còn hai mẹ con ngồi dưới bếp, trước cái bàn tròn khăn vàng, mấy ly cà phê nằm đợi sẵn. Đồ ủi cũng nằm cả đống ở góc nhà. Không khí yên lặng như tờ nghe rõ tiếng hơi nước sôi phì phì, tiếng mấy đứa nhỏ ngủ ngáy khò khò ở phòng ngoài. Dưới ánh đèn mờ nhạt, Lucia Santa thong thả kể cho con nghe những biến cố trong nhà sáu tháng vừa qua. Chao ôi nhà nhiều chuyện. Bọn con nít đâm cứng đầu hết, chẳng phải riêng thằng mất dạy Gino! Vợ chồng thằng Larry đáng lẽ phải tháng tháng gửi tiền giúp đỡ mẹ nhưng thực tế có được bao nhiêu đâu. Rồi chính mụ cũng ốm đau, bết bát quá đâu dám viết thư cho Octavia hay, sợ lo nghĩ bệnh nặng thêm thì khổ cả! Đó là một màn độc thoại dài dài. Mỗi lần Octavia ngắt lời: “Vậy mà sao mẹ không cho con hay ngay?” là một lần mụ Lucia than thở: “Tại tao muốn mi chóng khỏi”. Lát sau dù bà mẹ không biểu lộ chút tình cảm nào, Octavia cũng lo trấn an: – Thôi mẹ đừng lo … Tuần sau con lại đi làm chứ gì? Còn mấy đứa nhỏ thì cứ để đấy. Có con ở nhà tụi nó đâu dám lười học, bỏ bê công chuyện nhà? Dường như Octavia thấy lên tinh thần, khỏe mạnh hẳn vì cảm thấy vai trò cần thiết của nàng trong gia đình này. Bao nhiêu ý nghĩ xa lạ lúc nãy biến mất hết. Dù sao đây cũng là nhà mình, là tổ ấm. Đợi lúc mẹ ủi đồ nàng vào trong phòng lấy ra cuốn sách vừa đọc vừa nói chuyện với mẹ cho vui. Octavia về nhà được một tuần mới có dịp gặp ông điều tra viên Fortezza. Dĩ nhiên nàng phải tươi tỉnh, duyên dáng, ăn nói cũng ráng dịu dàng, từ tốn chứ đâu dám … hét lên như thường lệ? Bữa đó cỡ năm giờ chiều, Octavia thình lình ở phòng ngủ bước sang phòng khách thì bắt gặp ngay ông điều tra viên đang thản nhiên ngồi ruỗi dài, chân gác lên ghế nhâm nhi ly cà phê đớp xăng uých dăm bông. Đang thưởng thức mấy món ruột, ông Fortezza giật mình ngước nhìn khuôn mặt bầu bầu xinh xắn của cô con bà chủ nhà. Bèn vội vàng đứng dậy rất lịch sự để nghe Lucia Santa giới thiệu: – Đây là Octavia … con gái lớn nhất của bác.
Photo edit by Sơn râu
Fortezza vứt gấp cái vỏ Ý để vào đề thẳng băng, thân tình như Mỹ! Hắn nói ngay: – À, Octavia! Tôi nghe nói về cô bây giờ mới được gặp. Ít lâu nay tôi lại thăm bác gái và đi lại thân tình … Octavia gật đầu một cách lạnh nhạt, cặp mắt nhìn ông khách tuyệt nhiên không chút tình cảm. Lucia Santa e ngại nhất là mất lòng khách quý, bèn giả lơ nói: – Con ra tiếp chuyện cậu Fortezza đi … Xem cả nhà tôi chỉ có con nhỏ này chịu học hơn cả. Đọc sách tối ngày … – Thế ạ, Octavia ngồi uống cà phê đi. Tôi vẫn muốn có dịp nói chuyện với Octavia … Đến ghét cái thằng cha này! Nếu không kịp dằn có lẽ Octavia đã buột miệng rủa một phát. Ai cho phép hắn gọi tên con gái của người ta … lại làm ra vẻ thân tình lắm vậy. Bực quá không biết làm gì hơn nàng bèn nhổ một phát … vào chiếc khăn tay. Có biết cũng chẳng làm gì được vì mới ở viện bài lao ra mà. Cả mẹ nàng và Fortezza cùng nhìn Octavia đăm đăm xem bộ “như thông cảm hoàn cảnh” lắm. Nàng bèn cứ ngồi ỳ ra nghe hai người ngồi chuyện trò với nhau. Theo ý Fortezza và … như trong những tiểu thuyết hắn đã có dịp đọc thì có ra gì thân phận một đứa con gái nhà nghèo? Được một cậu công tử ngon lành ở giai cấp trên chiếu cố nhìn xuống thì chỉ cần cười duyên một cái là em sẽ xiêu lòng cấp kỳ và ngả vào vòng tay vô điều kiện. Dĩ nhiên nàng si mê chẳng phải vì tiền … nhưng giai cấp trí thức không thừa đủ sao? Có điều Fortezza nhìn nhận là mình yếu hơn mấy thằng Mỹ ở chỗ vui vẻ, trẻ trung, nhộn nhạo mà các em rất chịu. Cũng như lấy đâu ra bạc triệu như thằng triệu phú Mỹ? Nhưng với người tử tế đàng hoàng thì tiền bạc có ra gì! Vì đã có quan điểm gái nghèo như vậy, nên Fortezza có dịp trổ tài ăn nói, giở hết duyên dáng, linh động của miệng, của mắt … nhưng không nhận ra là Octavia càng ngày càng lạnh nhạt, hờ hững. Hai thằng Vincenzo, Gino vừa về nhà thấy nét mặt bà chị như nước đá bèn bảo nhau đứng quanh đó để xem sắp có chuyện lạ xảy ra. Trong khi đó, Fortezza hào hứng chuyển sang chuyện văn chương, tiểu thuyết. “… A, văn sĩ thì kể nhất Zola! Viết về đời sống của dân nghèo như Zola thì tuyệt. Phải công nhận là đại văn hào người Pháp. Cô đọc Zola chưa?”. Octavia chỉ vắn tắt: “Có chứ!”. Ông điều tra viên bèn bắt vào: “Phải chi ngày giờ này và ởđây chúng ta có một Zola, để viết về những cảnh nghèo thì tuyệt tác! Những gia đình tháng tháng lãnh ít tiền còm trợ cấp xã hội đó? Phải biết là giễu! Bác nên nhớ là chuyện của Zola đọc bổ ích lắm, có thể nói là học hỏi được rất nhiều. Octavia biết không, đọc Zola là tìm hiểu chính mình và môi trường sống chung quanh mình …” Octavia nín lặng gật đầu. Nàng thấy ngứa ngáy, muốn nhổ vào cặp mắt tròn xoe như mắt cú kia quá! Cho đến lúc bấy giờ Fortezza và mẹ nàng cũng còn tưởng bở. Hắn giương cặp mắt lên và đưa đề nghị rất trang trọng: – Nếu thích văn chương sách vở vậy thì bữa nào tôi mời Octavia đi xem kịch đi. Tôi mời Octavia tử tế, đàng hoàng … với tất cả lòng quý mến và trước mặt bác gái đây. Bác gái hiểu tôi nhiều, biết tôi là người như thế nào mà … phải không ạ? Làm gì một bà mẹ tinh khôn như Lucia Santa không biết? Mụ tươi cười gật đầu liên tiếp: “Biết chứ! Tôi biết cậu người đàng hoàng, tử tế quá mà”. Trong đầu óc mụ Lucia Santa đã vẽ ra một nguyện vọng: “Ước gì con Octavia nhà mình có được thằng chồng luật sư như thế này thì đỡ khổ!”. Mụ là mẹ, là chủ gia đình nên vô cùng thực tế chứ đâu có mơ mộng viển vông như trong tiểu thuyết. Lucia Santa bèn bốc luôn: “Tôi còn biết cậu gia thế đàng hoàng, nhà hơi cổ một chút kìa”. – Đúng vậy! Vậy là bác hiểu cháu quá rồi. Chẳng gì cũng chuyện trò bao nhiêu lần rồi. Vậy cháu mời Octavia lâu lâu đi xem kịch chơi đâu có sao phải vậy không ạ? Xem kịch khoái hơn xi nê nhiều lắm, Octavia! Huống hồ tôi công chức thị xã đi xem kịch là có quyền mua giấy giá rẻ rất nhiều … Đi xem kịch thì Octavia đã đi bao nhiêu lần với bọn bạn gái chứ có xa lạ quái gì? Mà mua giấy giá rẻ thì mấy tiệm may cũng mua được, hà tất phải công chức thị xã? Cũng nhờ đọc tiểu thuyết, nàng có xa lạ gì với những hoàn cảnh đau khổ của con gái nhà nghèo ngây thơ đâu có biết gì, bị những quân nhà giàu lợi dụng làm ô danh, những quân cậy có của thả ra mồi chài gái. Nàng cũng chẳng lạ gì ý định hắc ám của thằng cha điều tra viên hạng bét này, tưởng đâu gạ gẫm nàng quá dễ chắc. Octavia tức nổ đom đóm mắt, tức rung người bèn quắc mắt nạt thẳng cánh: – Xem kịch đâu có sao hả? Tôi đâu thèm đi chơi với những quân bần tiện bẩn thỉu! Đứng ở góc nhà, thằng Gino ghé tai Vincenzo: “Thấy không? Tao nói thế nào cũng có vụ nổ mà!”. Tội nghiệp cho Lucia Santa hốt hoảng không biết ăn nói làm sao! Mụ như người tình cờ ngồi trên thùng thuốc súng mắt thấy ngòi dẫn hỏa đang xèo xèo cháy đến gần cuống cuồng tìm chỗ nhảy thoát thân vậy. Ông Fortezza ngồi chết trân, ngồi lặng người như vừa bị sét đánh. Toàn thân như bốc lửa, cặp mắt cú tròn xoe đỏ sọng hẳn. Trên đời này còn gì dữ dằn bằng cơn bốc đồng của một đứa con gái Ý? Không ngờ Octavia làm dữ vậy! Nàng hét lớn, giọng lanh lảnh sang sảng … rõ ràng không xem ai ra gì: – Anh nghe đây … anh là một thằng bần tiện, bẩn thỉu và ăn cắp. Anh nghiễm nhiên ăn chặn mỗi tháng tám đôla của mẹ tôi, anh cướp cơm chim của bốn đứa nhỏ và của một đứa bệnh hoạn là tôi đây này. Anh dư biết gia đình này bao nhiêu hoạn nạn đau khổ mà anh đâu có tha? Anh rút rỉa như thường và anh còn đủ can đảm để mời tôi đi xem kịch nữa hả? Có người nào khốn nạn, chó đẻ như vậy không? Anh mà đứng đắn đàng hoàng? Anh lầm rồi, con này đâu phải nhà quê để cho anh gạ gẫm rẻ tiền thế? Ít ra nó cũng học xong trung học, cũng từng đọc Zola và kịch thì xem quá nhiều rồi! Anh nên đi kiếm con nào, một con chết đói mới ở tàu bước lên mới tán tỉnh, gạ gẫm cái kiểu đó được. Còn tôi thì xin lỗi, tôi biết quá mà! Anh là một thằng điếm, một thằng bịp hạng bét! Octavia giận sùi bọt mép, xài toàn những danh từ đáo để chua ngoa. Mụ Lucia Santa muốn bịt mồm nó cũng chẳng kịp nên cứ hét lên: “Octavia … Octavia, ta bảo im ngay!”. Quay sang ông điều tra viên, mụ quát: “Fortezza … cậu đừng buồn. Con nhỏ khi không bị sảng rồi!” . Lucia Santa không kịp giư lại thì Fortezza đã vọt thẳng một mạch khỏi nhà, không thèm quay cổ lại. Gói quà biếu thường lệ cũng để quên ở mặt bàn, khỏi xách theo. Mặt hắn hầm hầm giận dữ nhưng vẫn không dằn nổi sự mắc cỡ của một thằng móc túi bị bắt quả tang, hết đường chối cãi. Dĩ nhiên từ đó trở đi là hết thấy mặt hắn ở nhà này luôn! Nhưng tai hại cho Lucia Santa là đúng hai tuần lễ sau ông điều tra viên cứu tế xã hội vẫn đến. Có điều một ông khác, một ông lạ mặt người Mỹ đứng tuổi. Ông ta đến để cho hay từ nay tiền cứu trợ của gia đình này cắt luôn dù vẫn xác nhận là số tiền tử tuất của mấy đứa trẻ không bị xem như “vốn liếng” của gia đình xét vì tòa chỉ có quyền cho phép trích ra trong trường hợp một đứa nhỏ phải cần đến … chứ mẹ chúng hay anh chị chúng dĩ nhiên không được phép đụng tới. Dù ông điều tra viên Fortezza chạy mặt luôn, không dám trở lại tới một lần hai, thằng Gino, Vincenzo vẫn nhớ như in cơn thịnh nộ quá bất ngờ và ghê gớm của bà chị Octavia. Chúng nó thấy vậy cũng hết hồn, “chạy mặt” luôn … cho ăn kẹo cũng chẳng dám rước về một bà chị dữ dằn cỡ đó! Sau vụ làm giặc với Fortezza thì cả nhà đâu còn xem Octavia như một đứa ốm dậy phải gượng nhẹ, nhường nhịn nữa? Nghiễm nhiên nàng lại trở về địa vị của Octavia ngày xưa, giúp mẹ cai quản gia dình chặt chẽ. Lại mạnh khỏe như cũ. Ngay Lucia Santa cũng chẳng thể buồn mãi cô con gái về vụ nổi giận bậy bạ nhưng mụ vẫn không hiểu nổi tại sao nó dám chửi tận mặt ông điều tra viên Fortezza tàn nhẫn như vậy. Muốn sống ai mà chẳng phải làm ăn.
Một bạn trẻ đã có lòng tốt, cho tôi đọc quyển Pháp văn De cape et de plume tác giả Guy des Cars viết và nhà xuất bản Flammarion in năm 1965. Đọc rất hấp dẫn, khởi đầu phê bình các soạn giả trước, tỷ như Roland Dorgelès, viết hay về les croix de bois, nhưng đã quá nhây đến chán, khi viết mãi về nhà binh…, còn nơi đoạn sau, Guy des Cars nói về Đại Thế giới năm xưa tại đất Sài Gòn Chợ Lớn, tôi lấy làm ngờ, không biết tác giả đã từng đặt chưn tại đây hoặc đã do theo lời một thám tử Tây giấu tên thuật và kể khá tường tận buổi phong ba vô chánh phủ thời Bảy Viễn hoành hành, tự phong làm tướng, bá chủ sòng bài, nhưng kỳ thật Viễn vẫn là một tù phạm vượt hải đảo, và khi gặp tướng Pháp thì tướng De La Tour không khứng bắt tay, và Viễn tung hoành nổ như pháo bản xứ rồi tịt ngòi và chết vô danh nơi hải ngoại.
“De cape” là “từ mũi kiếm” và “de plume” là “từ ngọn bút”, nếu dịch sát chữ là “…kiếm, qua… bút” thì khó nghe, đọc thấy tức hông, và theo tôi, muốn cho êm tai và thuận giọng, tưởng nên pha phách và dịch “Thơ kiếm” và “Bút nghiên” thì mới chèo xuôi mát mái, v.v…
Vừa rồi tôi viết cuốn Sài Gòn tạp-pín-lù. Sách được in nhưng đã bị cắt xén, thiến, bỏ bớt những đoạn tôi viết để nhớ thương cha mẹ cho tiền ăn học, nhớ ơn thầy dạy dỗ, chuyện tôi tỷ-tê nhớ chiếc xe đạp đầu tiên ở thành phố nhỏ Sốc Trăng, Ba tôi đầu thế kỷ 20 mua được của Tây Trường-tiền, lão nhơ nghỉ công-cán được về Pháp nên bán chiếc xe đạp “bánh-bôm-hơi” ấy…, và ba tôi thời mua được, tưởng rằng sắm được một thú vui mới lạ, vì bao nhiêu, mấy ông mấy thầy thông, thầy ký, thầy phán, ông huyện nơi tòa bố, nơi tòa án, đều sắm xe-bánh-cao-su-đặc, chạy đau đít tức cu,… cho nên chủ nhựt, ngày lễ, mấy thầy quen với ba tôi, đều thường đến nhà, mượn thử chiếc xe bánh bộng để đi thử cho biết và để hưởng thử thế nào là xe êm, xe chạy không tức dái, vân vân và vân vân… Tôi gò bó viết được mấy trang công phu, tưởng rằng nhờ vậy tỏ được chút nào nhớ thương công sanh thành dưỡng dục của đấng phụ thân đã quá vãn, cũng như những hàng kỹ lưỡng đắc ý nhắc lại danh tánh mấy thầy đã dạy nơi trường tỉnh nhỏ hạt Sốc Trăng nhau rún, nhưng những trang hàng gởi gắm ấy, thầy cò, thầy thợ ấn công sắp chữ nơi nhà in, đã bôi bỏ thành đoạn, mượn cớ rằng không dính dấp vào đề tài chánh là chuyện rặt ròng về tác-giả, tức kẻ hèn nầy. Tiếp theo đó, khi tôi được cho xuất bản quyển Hơn nửa đời Hư thì sách in ra vẫn bị thâu gọn lại, dồn lại còn một cuốn cũng chỉ độ 600 trang chữ in, nhưng khi in không cho tôi xem trước, lỗi chánh tả đã nhiều, mà tệ hại hơn nữa, là đã sơ sót nhiều chỗ, tỷ như đâu trong bản thảo “vàng muốn cho đỡ móp thì vòng vàng mỏng thường đổ đé trong lòng”, thợ nhà in đã tự sửa lại “đổ đá” thay vì “đổ đé”; một câu khác, tôi viết: “người giữ đạo Hồi(musulman, mahométan), thường ăn uống, giữ không cho đụng môi”, thì sách in ra, lại thấy thêm “…không cho đụng môi như heo” và cố nhiên khi tôi duyệt lại thì bản thảo của tôi vẫn không có chữ in thêm “như heo” nầy, tôi tức tối mà không phân trần được vì sách đã in lỡ rồi.
Ngày 3/10 vừa rồi là một ngày vui lớn của tôi. Tôi biết làm sao nói ra được những vui nầy. Trời trọn ngày vần vũ. 2 giờ trưa xáng xuống một đám mưa như nước trút. Bụng đang lo, khách hẹn 4 giờ đến, mà ông trời chơi khăm kiểu nầy! Mặc dầu bụng lo như vậy, không lo làm sao được, chiều tàn bóng xế, tuổi đã 92, lo thì vẫn lo, nhưng chưa là 3 giờ mà đã thay đồ, mà đồ gì chứ?
18 năm, suýt 19 năm, chưa có một bộ đồ mặc mới. Vẫn ngày ngày quần tà lỏn (pantalon), áo ba lỗ (tricot), nay sắp có khách viếng, mở tủ ra soạn… rồi cũng thì áo vải thâm rách khờn, quần đen dài may từ trước khi Giải Phóng vô đây,… cha đời bộ đồ nầy, mất chúng mất bạn cũng vì mầy, áo ơi!
Suy nghĩ xấu như vậy, nhưng cũng ra nằm nơi võng để chờ khách đến. Và hôm nay là ngày gì mà “có hai khôi tinh chiếu mạng”…
4 giờ đúng hẹn khách là một nữ họa sĩ chủ hiệu buôn tranh ở Singapore, một nhà khác ở Hà Nội và một nhà khác khác nữa ở chính TP.HCM nầy.
Khách ở chơi độ một tiếng đồng hồ, nói ba điều bốn chuyện, vui quá… rồi khách ra về…
Đưa khách, tiễn khách ra cửa, thấy lù lù một bóng ngồi nơi ghế xích đu. Thì đó là một nường “khôi tinh” khác, cựu xướng ngôn hoa khôi Huế-đô, nay có chồng trẻ, và chồng đang mắc vòng li-tiết, không biết mắc tội gì, bị cầm mấy tháng rồi thả, rồi bắt lại và nay còn chưa được ra về. Nường thỉnh thoảng lại nhà để nhờ mình cho ý kiến, và hôm nay đến, lại rủi nhà có khách, nên phải ngồi chờ. Mà cơ khổ, chủ nhà đã qua một buổi tiếp quá vui,… chủ tiếp nường… và khi nường từ giã, lên honda phóng đi, bóng hồng khuất dạng, bốn cái bánh “Trung thu hậu tam nhựt” nằm chình-ình trên bàn, hối quá, hối không kịp, chẳng biết làm sao chuộc hối, đành ngâm câu sáo:
“Mạc phóng xuân thu giai nhựt khứ!
Tối nan phong vũ mỹ nhân lai.”
Hai câu nầy, ăn cắp trong một cặp liễn khúc treo tại nhà, đã hỗn đổi “cố nhân” thành “mỹ nhân”.
(viết 9 giờ 4-10, có tặng bộ HCĐS và viết “mến mộ tặng…”,
khách ra về, quên chớ chi viết: “Biển bao nhiêu nước cho vừa?
“Mồng Chín vía trời, mồng Mười vía đất”. Nếu người dân trong nước có tập tục lễ vía Ngọc Hoàng và Thần Tài, cúng trời cúng đất rồi đến lễ Thượng Nguyên rằm tháng Giêng ngày càng phổ biến hơn thì tại hải ngoại, những ngày sau Tết là những dịp họp mặt đồng hương, gặp gỡ hàn huyên và nhắc nhớ một vùng đất lịch sử mình đã sinh ra, vui hội ngộ tình đồng hương trong những ngày năm mới.
Thế hệ Tam Kỳ thứ hai trình diễn vũ khúc Trống cơm – photo Đinh Yên Thảo/trẻ
Hai ngày cuối tuần liên tiếp, đến dự họp mặt đồng hương Bình Định ngày thứ Bảy rồi Tam Kỳ trong ngày Chủ Nhật, tôi cảm nhận niềm vui Xuân như được kéo thêm dài. Nghe bảo một số hội đồng hương khác tại địa phương cũng sẽ tổ chức các cuộc họp mặt trong một đôi tuần tới. “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” mà.
Văn hóa cộng cư không chỉ thấm trong cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung mà còn xuống đến từng vùng miền khác nhau tại các thành phố, tiểu bang có nhiều người gốc Việt cư ngụ. Nên tính địa phương hiện rõ ở những cuộc họp mặt này khi ban tổ chức, những người dẫn chương trình hầu như nhắc nhở về những anh hùng hào kiệt xứ mình, trích dẫn những thi ca thắm đậm tình quê về vùng đất của mình. Mà đất nào ít hay nhiều chẳng có những danh nhân hay tao nhân mặc khách để tôn vinh.
Hội Bình Định theo thông lệ họp mặt hàng năm là lễ tế Vua Quang Trung, vị anh hùng áo vải cờ đào. Nghe nhà báo Thái Hoá Lộc sơ lược về Vua Quang Trung và chiến thắng Đống Đa mới nhận ra Chiến Thắng Kỷ Dậu, vua Quang Trung đại thắng quân Thanh thì năm nay là tròn 235 năm (1789-2024). Tiền nhân đã có những trang sử giữ nước hào hùng.
Lễ tế Vua Quang Trung tại họp mặt Bình Định – photo Đinh Yên Thảo/trẻ
Tôi tìm đọc lại dăm trang viết trong cuốn “Mơ thành người Quang Trung” của nhà văn Duyên Anh mà tôi từng say mê thuở thiếu thời. Đó là những bài học lịch sử gần gũi và dễ nhớ với tuổi mới lớn.
(trích) “Chương còm yêu những giờ học sử Việt. Thầy nó giảng sử say mê hơn các môn học khác. Thầy nó thường dặn:
– Các con ơi, các con hãy yêu lịch sử nước ta. Trang sử nào của nước ta cũng đẹp cả. Tổ tiên ta đã dùng mồ hôi, nước mắt, xương trắng máu đào viết lên sử của nòi Hồng Lạc. Các con yêu lịch sử là các con yêu tổ quốc, quê hương. Và, mai sau, các con sẽ viết thêm sử sách những trang hào hùng hơn. Nếu các con yêu sử nước nhà, không bao giờ các con để mất quê hương, không bao giờ các con nỡ để tổ quốc điêu đứng.
Rực rỡ tà áo Xuân – photo Đinh Yên Thảo/trẻ
…
Các con lắng tai nghe đây! Ta tả cho các con nghe một vị anh hùng bách chiến bách thắng trong lịch sử nhân loại. Vị anh hùng đó là Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ. Nước ta, thuở ấy, loạn ly đau khổ. Dân tộc ta bị phân cách bởi dòng sông Gianh. Ngoài Bắc, chúa Trịnh lấn áp vua Lê, chuyên quyền đàn áp dân hiền. Quan liêu hống hách, thẳng tay vơ vét tài sản mồ hôi, xương máu của dân. Hết loạn này đến loạn khác. Thanh niên bị bắt đi lính không phải để diệt Chiêm Thành hay chống quân Tầu mà để vào Nam đánh giết đồng bào mình. Trong Nam, chúa Nguyễn nhu nhược, quyền bính lọt vào tay tên độc tài Trương Phúc Loan. Bao nhiêu trung thần bị họ Trương hãm hại. Trương Phúc Loan vơ vét, tham ô không kém gì bọn quan liêu ngoài Bắc. Giặc giã nổi lên tứ tung. Dân tình đói khổ. Ấy thế mà vẫn phải đánh nhau với quân chúa Trịnh. Cuộc chiến tranh huynh đệ kéo dài ròng rã một trăm năm chưa chịu chấm dứt.
Bấy giờ, ở đất Tây Sơn, nẩy sinh một vị cứu tinh dân tộc. Vị cứu tinh xuất hiện sừng sững như một trái núi khổng lồ mọc trên đất Bình Ðịnh. Vị cứu tinh là Nguyễn Huệ đó, các con ạ! Nguyễn Huệ dựa lưng vào Ai Lao, Cao Mên, quay mặt ra Nam Hải. Ngài vươn tay trái, ngai vàng của chúa Trịnh miền Bắc sụp đổ. Ngài vươn tay phải, ngai vàng của chúa Nguyễn miền Nam tan rã. Bọn quan liêu tham nhũng, chuyên quyền chết như sâu bọ. Ngài đạp chân phải, 2 vạn quân Xiêm La chết khốn nạn ở miền Nam. Ngài đạp chân trái, 20 vạn quân Thanh chết nhục nhã ở miền Bắc. Ngài vươn mình, Việt Nam lớn lên, hãnh diện vẻ vang và dòng sông Gianh không còn ngăn cách tình người Việt Nam nữa.
Ban Tổ Chức và thân hữu dự tiệc Tam Kỳ – photo Đinh Yên Thảo/trẻ
Các con ơi,
Các con yêu dấu của ta ơi.
Nay đã già nua mà mỗi lần đọc sử tranh đấu, ta vẫn mơ được làm tên lính quèn dưới cờ vua Quang Trung. Ta mơ được quỳ dưới chân Nguyễn Huệ, nâng áo bào khét lẹt mùi thuốc súng của Ngài mà hít hà lần Ngài ra Thăng Long đuổi loài rợ Mãn Thanh. Các con, các con phải biết mơ thành người Quang Trung các con nhé!…” (Mơ thành người Quang Trung – Duyên Anh).
Đọc lại lời văn mộc mạc, gần gũi mà hào khí ngút trời của Duyên Anh đã đi theo cùng năm tháng với không ít người.
“Hỏi rằng: người ở quê đâu?
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà…”
Đoàn lân biểu diễn và nhận lì-xì từ ban tổ chức- photo Đinh Yên Thảo/trẻ
Bùi Giáng
Với đôi thế hệ người Việt đầu tiên, quê nhà vẫn còn đậm trong tâm trí rất nhiều người. Những dịp họp mặt đồng hương thế này không chỉ những tà áo Xuân rực rỡ, những món ăn dân dã tiêu biểu vùng miền, những nụ cười và lời chúc đầu năm, những tiếng trống lân hay màn hô lô-tô vui nhộn với dăm món quà nho nhỏ đầu Xuân, mà còn là những dịp để nhắc về những trang sử dân tộc, những thi văn ý nhị của những vùng đất quê hương. Về để giữ cái hồn quê xưa và văn hóa ngàn đời luôn luân chuyển nơi xứ người.
Đầu năm Giáp Thìn 2024
Hoạt cảnh Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh tại họp mặt Bình Định – photo Đinh Yên Thảo/trẻ
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.