This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
(Viết ngày 9-12-1993, có tin bão lớn từ Phi-luật-tân kéo qua)
Post by Sơn râu 21 Jul 2024
Photo edit by Sơn râu
Phần 48
Những Dấu Tích Cũ Ở Sài Gòn, Ngày Nay Đã Phá Mất Và Tiếc Đã Muộn
Hơi gió Tết đã thổi, trời sáng nầy âm u, nha khí-tượng báo tin phải đề phòng mà đề phòng cái gì chứ? Gió lớn sập nhà thì rán chịu, việc của ông trời, ổng làm là vì mình chọc cho ổng giận, và bão tố, động đất chỗ nầy, sóng thần chỗ kia, theo tôi đều là thiên tai, khi biết để tránh thì đã trễ.
Hiểu theo tôi, một cách ngu tối, tuy vậy mà sướng hơn.
Ngày xưa, khi có lũ lụt, mất mùa, ôn dịch hoành hành, thảy thảy đều qui cho vua thất đức. Nay vua đã không còn, qui tội cho ai? Mảng dựa theo khoa học, thiên lôi đánh, cắt nghĩa đó là điện khí chạm nhau. Dân mất lòng tin hóa ra ngỗ nghịch. Học trò hết sợ thầy giáo, vì cắt nghĩa thầy giáo vẫn có được trả lương, cha mẹ sanh thành, ơn đẻ đau dạy nhọc không lo trả, đành nào cắt nghĩa “mượn bụng mẹ nằm trong ấy chín tháng mười ngày?”, thôi, đừng tiếp nói như vậy nữa, đụng chạm mếch lòng người bề trên chăn dân giữ nước.
Ba ngày gần Tết, hãy nhớ tiếc vài chuyện cũ, nhắc lại để cắn hột dưa đỡ buồn, ít nói động và người trên ít giận.
1. Chuyện thứ nhứt
. Tại sao phá bỏ đường xe lửa nối liền Sài Gòn xuống Mỹ Tho. Mà Mỹ Tho đã mất, bây giờ là Tiền Giang kia mà? Chớ chi đừng phá, chẳng là có thể đi về xứ cây trái, rẻ tiền hơn ngày nay, xe ô-tô giành giựt!
2. Chuyện thứ nhì.
Lại đã phá đường xe điện chạy từ Cầu Ông Lãnh lên Lái Thiêu Thủ Dầu Một. Nếu còn, sầu riêng, măng cụt… đâu có cao giá như hiện nay, và nhà, vi-la của hãng ô-tô-ray của Tây ở Gò Vấp, khi Tây rút lui, bán giá rẻ rề mà bền chắc hết chỗ chê, thảy đều phá bỏ, hoặc đã đổi qua tay chủ khác, chẳng qua, và theo tôi hiểu, ấy là tội của kẻ đi sau. Tôi không kể tên ra. Chỉ nhớ mụ Nhu, hùn vốn, hoặc xuất tiền ăn cắp quĩ viện trợ Mỹ, lập hãng xe ô-tô-buýt và muốn được độc quyền vơ vét của dân đen, nên đã giết chết những xe nói trên đây.
Khi tôi mới chạy lên đất Sài Gòn nầy, từ 1919 đến 1923, tôi học trường Chasseloup-Laubat, buổi đó nơi đường Trần Quang Khải vẫn có một đường sắt nhỏ và có một xe lửa nhỏ, nối liền chợ Tân Định qua chợ Đakao. Ban đầu, xe chạy không lấy tiền, gọi là xe chạy thí, nhưng trẻ nít leo lên ngồi chật ních, đuổi không chịu xuống, Tây phải bày ra thâu tiền xe và thâu mỗi chuyến un sou (một đồng xu), như vậy mà mời được trẻ bớt đi. Và chánh phủ nào đã dẹp bỏ đường xe lửa cóc-keng nầy. Nếu còn có phải đỡ khổ cho dân lao động ngày nay chăng? Bệt xà lù!
Kể chơi ngày trước lên Lái Thiêu, đi bằng xe điện chỉ tốn vài cắc (vài mươi xu) và có lệ vào vườn măng 1, bỏ ra một đồng bạc (1$00) nhưng đồng bạc ngày trước ấy, giá trị ngày nay tôi tưởng hơn một trăm ngàn tiền giấy hiện thời (100.000 đồng), về chiều đếm đủ một trăm trái, xin chớ quên giá trả chỉ Nhứt ngươn (1$00) vì có lệ buổi đó, khi khách đến vườn măng, trả tiền xong, chủ vườn cho tha hồ ăn líp (libre) tại dưới gốc, bao nhiêu đều không kể, và măng cụt có hai thứ, thứ măng đúng lứa, ngọt thanh, và thứ măng non, hái xuống, bẻ vỏ ra, da màu ửng hồng, thịt trong ngần như da đứa gái cập-kê, cắn đụng răng, vừa dòn vừa ngọt vừa đầu lưỡi thanh-thanh, khỏi trả tiền, sướng quá, măng non tôi tưởng người nào từng nếm, trời đất cũng còn quên và ngày nay, xin hỏi măng cụt mỗi trái giá bao nhiêu, và tôi nào còn tuổi còn răng để biết! Ôi! Tuổi chẳng chờ ta! Và còn gì mà mến tiếc, muốn lột da sống đời?
Lái Thiêu buổi đó, có làng tên gọi Ba Ri Tân Qui. Làng nầy còn hay đã đổi tên khác rồi? Nơi làng ấy có chiếc cầu treo và có sầu riêng ngon có tiếng. Lại có bưởi nhỏ trái và ngọt. Người Ba Tàu lên mua đem về Sài Gòn lấy giấy bạch bao ngoài, lấy dây nhợ đỏ cột treo lủng lẳng vào dịp tết Trung Thu và bày đặt gọi bưởi ấy từ bên Tàu chở qua, bán giá cắt cổ (cắt cổ là giá bốn hay năm cắc bạc (0$40, 0$50) mỗi trái), trong khi bưởi đỏ bưởi lớn trái, giá chưa tới mười xu, thế mà đồng bào ta vẫn tin và vẫn mua rầm rầm, và nay tôi nhắc lại vào năm 1919 ấy có phong trào “tẩy chay si-noa”, tẩy chay vốn là tiếng Quảng, nói qua Hán tự là Để Chế, mà nói Để Chế, có ai hiểu nổi, họa chăng có ông trời của Tàu biết hay chăng. Tôi nói bắt quàng, và nhớ lại Lái Thiêu, nay gọi là Sông Bé, và bao nhiêu địa danh ở đây, nay đều đổi gọi theo tiếng mới, thiết tưởng đến đời mấy đứa cháu nội ngoại của tôi khi lớn lên và hiểu chút nào được thì tất cả tiếng nói giọng miền Nam nầy đã bị Bắc-hóa mất hết rồi, không khác bên Tây-địa tiếng Provencal, langue d’oc, langue d’oil gì gì đó thay thế nhau và thuở nào, cách nay chưa đầy nửa thế kỷ, có tên TÂN nào đó dựa hơi Tây khủng bố đồng bào Bắc ép nói Tân Sơn Nhứt, người nào nói “Nhất” thì bị “mò tôm” và hiện nay, phong trào ấy trở ngược dòng lại và mở đài hoặc báo lại nghe và đọc Tân Sơn Nhất và chữ “Nhứt” của tôi đã bị hạ bệ và hết xài rồi, buồn vậy thay và còn đâu tiếng địa phương. Bắc gọi “Mặt giăng” và Nam nói “Mặt trăng” và trong khi ấy trong các từ điển Bắc-Trung-Nam, chữ “trăng” mới là đúng chánh tả kia chớ? Tiếc vậy thay và xin hỏi vào trong nầy, ăn cơm trắng, uống nước Trị An, nước Đồng Nai hay nước Cửu Long, làm sao gọi nước Hồng Hà cho được và thử nghĩ núi Châu Thới ở Biên Hòa, ép gọi là Chu Thái–sơn mà dân ở đây biết núi đó ở nơi nào hay sao và thử đừng nói “xe ô-tô, xe hơi” và ra đường nói “mi gọi cho ta một “tự-động-xa”, rồi sẽ có xe ô-tô-mã-binh chạy lại rước hay chăng?
Tôi đây là một kẻ lẻ loi không biết nịnh bợ, tôi tiếc lấy tôi và cứ xin để cho tôi cứ tiếc, và tôi hiện đã tiếc. Ở đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và cùng khắp các tỉnh tôi biết được thì đều có nào đường Chi Lăng, nào đường Bạch Đằng, vân vân và vân vân và như vậy, chỗ nào là Chi Lăng và Bạch Đằng cổ-tích và thét rồi đều là Chi Lăng và Bạch Đằng hàm-bà-lằng tất cả hay sao, và đâu là thiệt và đâu là giả tạo?
Trở lại Sài Gòn cũ, tôi tiếc đường và xe điện của Tây cũ, chạy đường nay gọi là đường Trần Hưng Đạo, thì đời Tây gọi Boulevard Galliéni và xe điện đường đó nối liền Sài Gòn vô Chợ Lớn, chỗ ngồi có ba hạng, hạng nhứt, có lót nệm và trải dra trắng phếu, hạng nhì chỗ ngồi ván ép đánh vẹt-ni vàng vóng và hạng ba chở hàng hóa, hoa quả rất tiện, còn dọc theo mé sông có xe gọi đường Route Basse (đường thấp, đường dưới), xe điện nầy chạy từ ga Bình Tây ra ga Chợ Lớn và kéo dài ra chợ Bến Thành và nối liền chạy ngang sở Ba Son để chạy tuốt lên tận Gò Vấp, và khách lên xe xuống xe với giá rất rẻ mà muốn đi tới nơi nào cũng được và rất tiện, khỏi sắm xe đạp như nay chi cho bề bộn…, và tôi còn nhớ tích một ông thợ già nhà ở Gò Vấp, tuần lễ nào cũng y như tuần nấy, mỗi sáng và mỗi buổi chiều, ông đều nhờ xe điện mà đi đi về về và ông có tục mỗi lần lên xe hết thảy bộ hành đều thấy ông ngậm xi-gà và sau rốt mới rõ lại ông chỉ xài có một điếu xi-gà ấy trọn một tuần nhựt, mà không ai biết, vì cứ lên xe ông quẹt và châm và để cho thuốc xi-gà của ông tự nhiên tắt, và về sau khi rõ tự sự, ông mới được tặng là “ông Xi-gà-tuần”.
Khi xe điện của Tây không cho chạy nữa thì có xe ô-tô-buýt thay thế và đường xe lửa Mỹ Tho cũng dẹp mất, nhưng xe đò ban đầu thấy gọn và tiện, tỷ như mấy ông mấy thầy ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, vân vân, đều có thể mua giấy tháng và có xe đò đưa rước để sáng lên xe ra Sài Gòn chiều lên xe trở về nhà, buổi trưa nán lại ở sở đạm bạc một tô hủ-tíu đỡ lòng, như vậy có phải là rất tiện và rất đỡ túi cho dân hay chăng, và đến ngày nay, ban sơ cũng có xe mới xe đò rất đẹp và rất nhẹ giá thay thế nhưng lần hồi sanh tệ, trẻ mất dạy lên xe, móc xe nệm tả tơi và thét rồi sanh tệ thêm nữa, nạn móc túi, nạn xe buýt chạy bất kẻ giờ giấc và nếu không nói là coi rẻ khách bộ hành.
Lúc tôi làm nơi dinh thống đốc, người đầu phòng chủ của tôi là một quan đốc-phủ nhà ở Phú Lâm, ông rất trong sạch thanh liêm, ông sáng đón xe lửa từ Mỹ Tho chạy lên, ông lên xe ra tới ga Bến Thành, ông xuống xe thả bộ vào dinh, đến chiều ông thả bộ trở lại ga mua vé lên xe Mỹ Tho trở về Phú Lâm tới nhà, những cảnh gương mẫu ấy nay không còn, thật là đáng tiếc.
Nay còn lại những gì độc giả vẫn biết hơn tôi, nói chi cho tốn giấy. Cái tệ nạn ngày nay một phần theo tôi là vì người quá đông, xe quá nhiều, còn đường xá thì hóa ra quá hẹp, thêm nạn bít cổng, đào xẻ nát mặt đường và cứ đốn cây che mát và mở đường hai bên lề thêm rộng, khổ cho dân mà dân có miệng làm sao mở nên lời, ngoài ra học sanh, sanh viên, đông nghẹt và ít biết tránh khách già đi bộ và tội nghiệp thay cho người tàn tật xê dịch làm sao? Ngoài ra, còn vấn đề cầu-kỳ, cái thì quá cũ kỹ, có từ đời Tây nay đã mục chưn rệu mặt, cái tuy mới tuy xây dựng bằng xi măng cốt sắt nhưng làm sao chở nổi những xe xăng xe tải quá nặng nề, cầu xập, vân vân, tiền đâu cho kịp sửa chữa? Quả là nan giải và khó vậy thay cho người đứng đầu trong nước? Và giỏi gì cái viết nói vô can?
Nhớ Mẹ Và Nhớ Chùa Cơ-Me Watt Xà Lôn Ở Gần Làng Đại Tâm, Tỉnh Sốc Trăng
Tôi năng đọc tờ Sài Gòn Giải Phóng, và nay gặp trong số 151, tr.12, có bài của Nguyễn Hữu Hiệp, nói về “Đàn dơi ở Chùa Mã Tộc”. Lòng bỗng xúc động nhớ một cảnh chùa Thổ cũng ở tỉnh nhà Sốc Trăng, chùa nầy có phần cổ kính và phong phú không thua chùa Mã Tộc, vậy xin nhắc lại theo trí nhớ, vì sao biết dời, vật nay biến đổi không ngừng, cảnh tôi thấy năm trước, nay có còn chăng? Và đó là chùa Xà Lôn, trên con đại lộ quốc gia Thăng Long/ Minh Hải, chùa nầy cách làng Đại Tâm (Tài-Sum, Xoài-Cả-Nả) độ chừng hơn bốn kí-lô mét ngoài, và tôi kể mấy địa danh lạ tai nầy, mấy ông mới có biết đến chăng?
Trước tiên, xin mạn phép hỏi mấy nhà cầm quyền ở tỉnh nhau rún của tôi, và xin hỏi vì lẽ nào viết tên tỉnh, chữ Sốc, bỏ mất dấu và còn Sóc Trăng?
Tôi vả lại là người đã lỗi thời, quá già, nay 93 tuổi, chết nay chết mai chưa biết, nhưng vẫn biết hồi đời Tây còn ở đây, chúng viết Soc-trang, để gần như tiếng Pháp, còn dân chúng vẫn viết Sốc Trăng, chứ Sốc có dấu mũ, và đó là dựa theo tiếng Khmer Srock Khléang, người Tiều nói Khắc-làng và cổ nhơn ta âm ra Sốc Trăng, chữ Sốc, xưa nay đã nhìn nhận là “làng Cao Miên”, mấy người mới, lẽ đáng nên giữ y và viết theo như cũ, còn căn nguyên “đi đổi sốc” là đi trao đổi buôn bán với người Miên trong Sốc, cũng như “đi Buôn” là đi trao đổi mua bán với người đồng bào Thượng và Buôn là Làng Thượng (Buôn Mê Thuật), vân vân.
Viết Sóc Trăng, tôi hiểu Sóc là mồng một và làm sao mồng một có trăng?? Sửa đổi cho hay cho có lý thì cũng nên, chứ đổi mất dấu mũ, tôi ở xa không dám cải, nhưng tôi vẫn buồn. Chuyện cũ nhắc lại, tỷ như “cửa Trấn Di” tôi đã nói trong một bài báo nay không nhắc lại, Trấn Di đối với cửa Định An bên phía Trà Vinh, bên phía Sốc Trăng là cửa Trấn Di, mà nay cứ gọi là cửa Trần Đề, khiến trẻ em hậu sanh lâu ngày hiểu lầm hiểu sai, tôi cho là tại người cầm đầu trong tỉnh không tôn trọng địa-danh cũ, và vẫn toan đổi mới.
Tôi cũng không hơi đâu cãi vã làm chi, và viết bài nầy, chung qui chỉ vì nhớ mẹ, và nhớ chút chuyện xưa, kể lại đây, giúp vui độc giả và người bản xứ, và nghe hay không tôi cũng không ép. Và xin cáo lỗi đã quá lẩn thẩn dài dòng.
Mẹ tôi sanh năm Mậu Dần 1878, mất năm Quí Sửu 1913, cách nay đã tám chục năm, vong hồn ắt đã đi đầu thai lớp khác, và nơi mộ phần ở Sốc Trăng có lẽ quan tài đã mục, nắm xương đã hóa đất, nhưng con đây vẫn nhớ mẹ rành rạnh không quên, và tình mẫu tử, con còn tắc hơi thở nào, vẫn còn nhớ mẹ. Và quên làm sao được, trong khi mẹ nằm xuống, thì con đây vừa tuổi đếm mười một (11 niên), tấm thân cô quạnh, vừa biết ơn mẹ thì mẹ đã không còn.
Con nhớ lại, Ba của con, tánh nghiêm, con sợ lắm lét, mỗi việc con đều trông cậy và nhỏng nhẻo với mẹ, xin xu xin tiền ăn bánh cũng xin với mẹ, bị thầy giáo trong trường giọi u đầu, khi tắm mẹ hỏi, cũng thì học lại với mẹ, thằng cha thầy giáo dạy lớp Tư-nhì (cours préparatoire) tên Phan Thanh Viên, biết cha mẹ có tiền, nên giọi đầu con để ép Ba đứng ký tên bảo lãnh cho Viên vay bạc năm chục đồng (50$00) nơi tiệm chà chetty rồi cuối năm ấy, Viên xin đổi về tỉnh Bến Tre để số nợ lại cho cha tôi trả thế, Viên giữ về mô phạm mà đã lỗi với đạo làm thầy và phận sự làm người ngay thẳng, như vậy không trách nay con nhắc tên thầy Viên ra và đính chánh Viên nầy không phải thuộc dòng họ quan Phan Kinh-lược kia đâu, và nay con bồi hồi nhớ mẹ và thầm trách năm 1913, Sốc Trăng còn quá quê mùa, dân trong tỉnh không dám chụp hình thâu ảnh để lại vì vẫn cứ tin máy ảnh sẽ hớp hồn người đứng cho chụp hình, và thuốc men đời đó dở quá, mẹ nằm chỗ, rồi đau kiết, và thuở đó cứ nói “người nằm chỗ đau kiết, vô phương trị”, rồi cứ mới thầy Miên (Cơ-me) đến đọc thần chú và thầy nhậu nhẹt cho no nê rồi nhận tiền cúng trở về sốc về làng, tên thầy bùa thầy ngải đời đó, làm nghề ác ôn như vậy mà được nhiều tiền hơn các bác sĩ chuyên khoa ngày nay, và hồi đó dân tình còn quá dị đoan, mẹ tôi mất vào tuổi 33, lại biên trên giá triệu cước lên tuổi tam thập ngũ, để tránh tuổi Nhan Hồi, và tôi vừa mười một, mất mẹ, bơ vơ mà không biết kêu chít chít như gà và vẫn khóc thầm và phải tập bớt sợ và làm quen với người đào tạo ra mình, và từ đó, mẹ đã mất, chỉ còn nương dựa vào cha, và cha sanh mẹ đẻ, nay vẫn mừng cả hai làm tròn bổn phận duy Sển nầy thiếu sót chưa bồi bổ công sanh-thành, và nay làm được chút gì gọi hữu ích cho xã hội thì cả cha lẫn mẹ vẫn không còn, và câu “ơn cha như Thái-sơn, nghĩa mẹ như Đông-hải” quả là thấm thía.
Nhắc lại đã mồ côi mẹ rồi, mới học vào đời. Ba tôi rất tốt, nghiêm ít nói nhưng rất mực thương con. Duy tiền mua bánh tại trường, vẫn bị thằng bạn lớn tuổi và to con hơn ăn hiếp. Cái bánh xầy giá một xu (0$01) mua vào giờ ra chơi, nước mắm vừa chan, miếng ớt cay còn đó mà con tép ngon lành của cái bánh đã có thằng Chín con của thầy đội ma-tà ăn giùm, không cho nó cắn thì nó đón đường đánh đá, chi bằng thí một miếng tuy chưa học tới gương Hàn Tín lòn trôn…
Năm 1912, lên lớp Tư-nhứt (cours élémentaire) khỏi được tay thầy ác ôn Viên và may gặp thầy Dương, tánh hiền, về sau gặp tôi nơi Đại học Văn khoa Sài Gòn tôi chấm đậu một sinh viên tên Danh Sĩ họ Nguyễn, và đó là con thầy cũ tôi trả ơn muôn một. Kỳ bãi trường lớn, nghỉ học sáu chục ngày, bỗng cậu Hai tôi ở Xoài-Cả-Nả, ra nói với Ba tôi và lãnh tôi về làng quê mẹ, sắm sửa cạo đầu, cạo luôn cặp chang mày, để kịp ngày mai, ngày lành tháng hạp, lên chùa Xà Lôn, xuất gia đầu Phật, cậu tôi cắt nghĩa, nay tuổi đủ mười hai (thập-nhị tuế), phải tu tắt đủ một ngọ (hai mươi bốn giờ) gọi báo hiếu theo lễ tục đàn thổ, trả ơn cho mẹ, để hồn mẹ sớm được siêu thăng, hoặc đầu thai qua lớp khác. Tôi hỏi cậu, không thuộc kinh kệ làm sao tu, cậu trả lời: “Cứ quì trước bàn Phật có một ông sãi-cả người Miên quì kế bên, và đừng sợ, cứ sãi đọc chữ nào thì nhái y lại chữ ấy và đó là tu vậy”. Tôi hỏi vói, còn cạo chang mày là nghĩa gì, cậu tôi đáp: “Tục người tu theo Miên, chang mày là dấu ám hiệu cho việc tỏ tình với gái, nên phải cạo sạch hết cho khỏi bụng tà, còn tóc cạo trơn tru, nội hai tháng bãi trường đủ thì giờ cho tóc mọc”.
Nhờ vậy, tôi được biết cảnh u tịch thiêng liêng của chùa Xà Lôn nầy.
Năm trước đây, cách nay chừng bốn hay năm năm, tôi có dịp trở về Sốc Trăng, viếng chùa Xà Lôn thì đã đổi thay cảnh vật không như vào năm 1912 kia nữa. Chùa cũ có lẽ vì lâu niên nên hư tệ, và đáng trách người Miên không biết tồn cổ và đã ham theo mốt mới nên chùa Xà Lôn như tôi thấy lúc viếng, đã không còn cảnh trí như cảnh năm 1912. Năm 1912, tôi bị cạo trọc lóc vừa tóc vừa chang mày, lại bị trọn một ngày, hai mươi bốn giờ, cỗi bỏ áo quần và mặc vào mình một áo sãi-con màu vàng nghệ, không có áo lót, và dưới thân không mặc quần, lạnh buốt phát run trọn một đêm nằm trên vạc tre ọp ẹp của nhà sàn cao cẳng là nhà tiếp khách của chùa, nhưng cũng may, với tuổi thơ, cơn ngủ đến không kịp đỡ và đã ngủ thẳng ống đánh một giấc ngon lành quên cả trời đất, rạng ngày hiện ra một cảnh thần thông biến ảo, nửa tin rằng thật nửa ngờ chiêm bao. Viết đến đây bỗng có khách đến nhà, lại phải tiếp và khi khách về thì bao nhiêu hứng đã mất, nay viết nối, bời rời như cơm nếp mắc mua, – cảnh lạ lùng thấy có một lần đó (lúc 12 tuổi đầu) và nay thuật lại như trên phim hát bóng…
Viết tiếp ngày 7-12-93:
Sáng sớm ngày vào tu tắt “một ngọ”, tôi bị đánh thức lối trời chưa rạng, tôi nghe ồn ào như nhóm chợ, điếc tai tiếng chim kêu chát chúa trên đầu, tôi vừa còn say ke, con mắt nhắm con mắt mở, bước ra khỏi nóc nhà khách thì thấy trên cao ngoài sân chùa, không biết muôn-thiên chim diệc đứng trắng xóa trên một sàng lớn như sân phơi lúa cho nhánh và lá những cây cổ thụ diệp to (cây phượng vĩ của người Bắc), những nhánh và lá ấy chim diệc đã bẻ đã uốn lại từ hồi nào và làm nên sân phơi lúa như tôi nói đây, và trên sân ấy, chim nhỏ chim con vừa mới nở đã rộn rịp như buổi nhóm chợ đông, tôi đang bần thần say ngủ thì thoạt thấy một sãi nhỏ, mặc áo màu vàng nghệ như tôi, tay cầm một cây tre dài, đầu ngọn chẻ ra làm hai và sãi-con nầy vừa cầm cây tre lúc lắc, tiếng nghe lộp-cộp lạc-cạc vài tiếng như ra lịnh bắt im, và tức thì, tiếng ồn ào im bặt, cảnh trí lặng trang, và cậu tôi đã kéo tay tôi đưa vào quì gối trước bàn thờ Phật, và kế bên tôi có ông sãi-cả, trụ trì Watt Xà Lôn đang đọc kinh, và tôi đang nhái lại và nay tôi chỉ nhớ có hai tiếng “Na-mô” y như tiếng “Nam-mô” của mình, còn bao nhiêu tiếng kinh kia tôi đã quên mất tất cả, chỉ biết và xin cải chính, sãi Miên không dùng chuông mỏ và chỉ dùng tiếng trống ra hiệu lịnh trong chùa, (những gì các sách báo ta thuật rằng chùa Phụng Sơn-tự ở Phú Lâm, trước có đào gặp chuông đồng của Cơ-me, những tin như vậy là sai bét, và nên đừng dùng đừng tin theo nữa), ấy với tuổi 12, tôi nhại ông sãi chùa Watt Xà Lôn, là tôi đã thành tâm cầu nguyện cho vong hồn mẹ tôi sẽ được siêu thăng tịnh-độ và tôi đã trả được chút nào công mẹ tôi đã mang nặng đẻ đau. Ngày nầy, hôm nay, 7-12-93, tôi đinh ninh hồn mẹ đã khỏi vùng khổ-hải và chỉ duy còn một tôi, 93 tuổi, đang nhớ mẹ và mẹ đã không còn ngót tám chục năm rồi (1913-1993). Nói tắt lại, kinh trong chùa vừa tụng xong, một sãi-con khi nãy, vừa ló đầu ra khỏi chùa và bước ra sân thì tức nhiên trên sàng điệp cao, tiếng diệc ồn ào trở lại như cũ; như vậy xin hỏi có linh thính hay linh thiêng thật không và độc giả ngày nay, giàu duy-vật hơn duy-tâm, có tin lời tôi thuật đây cùng chẳng? Tôi kể tiếp, sãi Miên, khi tụng hay đọc kinh, vẫn có dùng một quạt tròn có cán để che trước mặt cốt để chú tâm vào kinh và không tà tâm ngó liếc những gái những phụ nữ Miên đang quì trước bàn đức Phật. Tôi thuật dài dòng vừa tới đây thì có khách Việt kiều đến nhà nữa, và cái số tôi khi viết phải viết đứt đoạn mà cũng may, với tuổi 93 nầy, trí còn đủ minh mẫn và viết cũng chưa lộn xộn gì lắm.
Viết tiếp ngày 8-12-93
Ở chùa Miên Watt Xà Lôn nầy năm 1912 hay 1913 chim diệc đến tụ tập và làm ổ thật nhiều, số trên muôn thiên nhưng làm sao thống kê gì được? Và thật kỳ diệu, chim diệc làm ổ trên cao, khi nào chim con rủi rớt xuống thì các sãi Miên sẽ lấy tre làm sàng nhỏ để chim con lên trên sàng ấy và đưa lên cao thì trên cao đã có chim lớn hay chim mẹ gắp để vào ổ như cũ, và đến đây tôi xin nói về tục người Miên tu nơi chùa, vẫn không trai lạt như sãi chùa Việt của ta và sãi Miên chỉ mỗi ngày thời một ngọ vào giờ trưa, và thức ăn là ăn của bố thí của người trong sốc trong xóm, sáng sớm mỗi sãi mặc áo màu vàng nghệ, rồi kéo nhau rồi chùa xuống xóm và đứng sắp hàng dài, trước bụng mỗi sãi vẫn thủ một “bình bát” (tiếng Miên tôi còn nhớ là “tâu bâng-bátt” (đi xin cơm của tín đồ bố thí” (khất thực như ta), nhưng khất thực Miên hết sức dễ dãi, là dân cho món gì thì nhận đem về và xơi luôn món nấy, cho món chay thì tốt, cho món mặn cũng thực luôn không chối từ, mặc dầu không sát sanh nhưng nếu người trong xóm lén lượm chim diệc rớt rơi của chùa, đem về xào-xáo rồi dâng cũng cho sãi đi bâng-bátt, thì sãi vẫn đưa bình bát ra nhận, – và như vậy sướng quá, xin cho tôi nói hỗn, nếu sãi có lòng bất chánh, cứ lựa nhà giàu đến xin cơm, thì tha hồ có rô-ti, bít-tết, chớ nào muối hột cá hôi…, và dầu có tội sát-sanh, thì đã có người dân cúng gánh chịu, sãi Miên tu như thế ấy và tôi chỉ tu có một ngày, chớ chi tu luôn cho đến ngày nay và vẫn còn sống như vầy có lẽ đã gần thành “chánh quả”! Nam mô! Vô lượng Phật!
Chim diệc ở tỉnh Sốc Trăng, tôi còn nhớ có một năm xưa nọ, vào thời chủ tỉnh Tây tên Esquivillon cai trị, nơi dinh quan-bố và cũng dinh tòa-bố (tòa hành chánh) vẫn có rất nhiều chim diệc đến ở, ban đầu Esquivillon rất thích vì có người nịnh quan là minh-chánh nên có chim đến chầu chực, duy về sau chim diệc sanh ra con mạt (mạt diệc) quá nhiều và bay xuống cắn ngứa, sanh ghẻ chốc, Esquivillon không chịu đựng nổi và phải bày ra đốt gỗ cho có khói, làm đống un nơi dinh và nơi tòa-bố thì mới bớt có mạt và đã đốn mé bớt nhánh đuổi diệc bay đi nơi khác, và thấy khi ấy, nơi Watt Xà Lôn, về sau, sãi ham tiền đã đốn bán các cổ thụ nơi chùa và cất chùa lại theo mốt mới, cột gỗ lớp xưa đã mục, sau thay thế bằng cột đúc xi măng, và cột gỗ xưa vẫn có lớp sơn mài khéo đẹp, nay lại thay lớp sơn (laque) bằng mảnh kiếng mảnh gương, chói sáng hoa-mỹ thật, đó là theo ý của sãi Miên tân thời, chớ lấy theo khoa tồn cổ và khảo-cổ-học, thì chùa Xà Lôn đã bớt cảnh phong quang cổ kính năm xưa, và đáng tiếc.
Chùa Xà Lôn khi tôi đến tu một ngày thời đó, trên cao có chim diệc làm ổ, còn dưới ao nước chung quanh chùa vẫn có rất nhiều cá, loại cá sống lâu năm không ai dám câu dám bắt nên thật lớn vóc, gọi cá “tổ nái”, nhiều con lớn to đến như cái gối ôm và mình dài gần một mét (un mètre), vì có lịnh trên của vua Miên gởi xuống, ra lịnh ngư điểu sinh trong vùng chùa, cấm sát. Có người câu trộm không dùng cần câu, và cột dây nhợ có tra lưỡi và cầm dây trong tay, nhiều khi cá cắn câu, giựt kéo quá mạnh, người câu lén té xuống nước, bị bắt thì bị đòn mà chẳng dám rên than.
Lúc tôi thơ ấu, và khi còn ở nhà Ba tôi ở thành phố Sốc Trăng, thì trong tỉnh còn nhiều chùa Miên kiên cố và có danh, như ở Phú Nổ có chùa gọi Chùa Bốn Mặt (Watt Prha Buông-Mútt) có một cổ-Phật thời Angkor-Watt, và nơi vùng Thạnh Thới An, có chùa gọi Watt Bâng-Sroc (địa danh nầy tôi viết chưa đúng), thuở ấy vị trụ trì sãi-cả, tuổi nghe như đến trăm (bá niên), vua Cao Miên ban sắc phong được mặc áo màu đỏ (luck Cà-hom), ngự võng điều, và dân Miên khi gặp ngài thì vẫn mọp lạy kính cẩn, thậm chí dường như vua Miên cũng có thể lạy chào sãi-vương, ý nghĩa không phải lạy người tu hành mà vẫn lạy sắc áo, là áo đức Phật.
Bài nầy đã khá dài, tôi không muốn lợi dụng lòng nhẫn nại của độc giả, và xin tóm tắt, báo Sài Gòn Giải Phóng số 151 (4-12-1993) vẫn viết Sóc Trăng, Sóc không dấu mũ, và trang 10 kể: “Mở hội cúng trăng”. Tôi tiếc tuổi già không về chung dự và đọc báo biết đồng bào người Cơ-me trong tỉnh và các tỉnh lân cận Kiên Giang, Cần Thơ đều đem ghe ngo đến tranh tài, và những lễ ấy tôi xin múa bút: đầu mùa mưa, người Cơ-me ở Sốc Trăng vẫn có lễ chòi Chòl Psa (vào mùa) là đua ghe rước nước để làm mùa (lễ nầy trùng hợp với lễ Cầu An (Kỳ Yên) của ta – và khi hết mùa, như hiện nay, Miên làm lễ Chênh Psa (ra mùa, đưa nước trở về nguồn) và ngắt lúa mới đâm chày đâm cối vui làm “cốm giẹp” và gọi lễ ấy là “Oec-om-bóc”. Đến đây tôi không dám nói nhiều, tôi chẳng qua là một đứa con của tỉnh Sốc Trăng, mà đã vong bản, nay phải lìa nơi nhau rún, và từ năm 1947, chạy lên Gia Định nầy và trụ nơi đây luôn, và đã quên lần tiếng Miên, là tiếng Mẹ Đẻ mà nay tôi không nói được nữa (duy còn hiểu sơ sơ tiếng mất tiếng còn, vì mảng đeo đuổi học tiếng Tây, nay tiếng Tây cũng thiên bất giáo, địa bất chí…, thiệt là uổng kiếp! (viết 3 ngày 6 trang – 6,7,8- décembre 1993).
Chênh-psa trùng với lễ chạp miễu của ta bắt vào mùa hạn chơi diều v.v… Tục ta với tục Miên miền Nam nào khác.
Tôi đã gác bút ngót tháng nay, vì tự xét mình viết không lại các cha mới, vừa trẻ, sung sức, mình viết theo lối xưa, đã cũ rồi, không ai thèm đọc của mình, vả lại khi trong túi có chút ít tờ dày dày, thà mua báo bạn trẻ viết, đọc sướng hơn… Vừa nghĩ như vậy bỗng có đứa cháu theo nghề viết lách, hỏi bài cho số Xuân báo Lao Động, dịp Tết Giáp Tuất 1994, hễ máu tham nghe có hơi đồng thì mê, tôi lại hứa sẽ viết, độ một tuần nhựt sẽ có bài. Đứa cháu ra về, nghĩ lại cười thầm. Ba tôi là ông nội của thằng cháu, vốn làm nghề thợ bạc, và Ba tôi rất ghét việc đàn bà trong tỉnh, các ỷ vợ Chệt và các cô thông thím ký, ngày thường, không đến đặt làm vòng vàng cho mình có đủ thì giờ làm đẹp và kỹ và nhè cứ chờ gần dịp đầu xuân, Tết tới bên đít, chừng ấy mới đến đặt và hối làm vòng, cà-rá, khâu vàng để đeo kịp Tết, và vì vậy đẻ ra danh từ: “Đồ chạm Tết” tức vòng bằng vàng đặt làm vào dịp Tết.
Mà cũng ngộ, mỗi đời mỗi khác, tỷ như Ba tôi chuyên làm kiềng cổ, neo đeo tay, các vật ấy vẫn làm bằng vàng, nhưng người thợ thuở đó lại gọi là “thợ bạc”, còn ngày nay, vàng đã quí hiếm và cao giá, vòng đeo tay ít có, chỉ có lặt vặt sợi dây chuyền hay chiếc nhẫn, vẫn làm bằng kim khí như bạc, thau, đồng,v.v… nhưng người thợ lại đổi gọi là “thợ kim hoàn” và các danh từ xưa xưa tỷ như “Sáu Giũa” (vì anh ta chuyên dùng một cây giũa thép và chuyên giũa chiếc cà rá để nhận hạt kim cương hoặc hạt xoàn mới (tức ngọc sản xuất ở Pai-linh trên đất Cờ-me đỏ (Khmer cahom) (đất Căm-bù-chia) vân vân, tiếng “Sáu Giũa” nay cũng ít nghe dùng vì nghề dũa nhẫn xoàn đã bị máy móc thay thế, trong lúc như vậy, thằng cháu lại đặt tôi viết bài cho kịp đăng báo xuân Giáp Tuất tới bên đít nầy.
Tôi đã cạn đề tài, bỗng nhớ lại, viết cho báo Lao Động, và hiện nay hãng Ba Son được đề cao, gương ông Tôn Đức Thắng là thợ đầu tiên của Ba Son, mỗi người cắt nghĩa theo một lối và phân phân bất nhứt, chi bằng vì vậy, mình thử đưa hai chữ Ba Son theo như mình hiểu riêng ra đây, thử cô bác bình luận và xin lấy công tâm xét xem từ Ba Son như viết dưới đây, có đứng vững được không.
Và theo như tôi biết, khi Tây qua đây, đường lộ có rất ít, chính tôi lên đất Sài Gòn vào năm 1919, thì năm ấy còn dùng xe bò kéo nước đi tưới đường cho bớt bụi, và còn nhiều nhà dân chưa có đèn điện và vẫn còn nhiều xóm thắp đèn dầu lửa.
Những bước đầu tiên ấy, kể tỷ như từ 1867, khi Tây chiếm ba tỉnh miền Tây dĩ chi những năm lối 1945, tôi biết có ba tiếng Tây ba rọi thông dụng là:
1. Je vais au Cap, nói nguyên câu là je vais au cap Saint-Jacques và đó là: Tôi đi ra Căp, tức đi cap Sain-Jacquesm và đó là đi Vũng Tàu.
Và muốn đi ra Vũng Tàu đời đó, xin nhớ là chưa có đường bộ, và phải đi đường thủy, có tàu đón ở bến Nguyễn Văn Kiệu, tàu chạy bằng hơi nước nấu bằng nồi súp-de, và chạy cà-rịch cà-tang ngót bốn giờ ngoài mới tới bến nơi bãi trước. Và đó là gọi tắt, đi tắm biển Vũng Tàu, đa số khách là Tây, và như vậy là đi Cắp.
2. Một thú tiêu khiển khác của ông Tây bà Đầm đời đó là đi câu cá, và cá ở đất Sài Gòn thuở đó thật là nhiều và vùng an ninh nhứt của họ là đi câu nơi gọi tắt là je vais aux mares (tôi đi nơi có vũng, ao (mares) nhiều, và đó là vùng thời Tây chí thời Diệm-Thiệu là vùng “Ô ma” trại lính tập (camp des tirailleurs) sau đổi làm vùng trường sư phạm, trại công an, và xưa kia là vùng có miếu Hiển Trung – từ đời Gia Long, có chùa Kim Chưởng (Kim Chung nói trại) và có miếu cô-hồn đời ông Trương Vĩnh Ký còn nhắc, khu “Ô Ma” nầy cũng gọi đường Nước Nhĩ đời Đàng Cựu, tức đường Cống Quỳnh. Khu nầy thuở đó đất thấp, ao vũng còn nhiều, đi câu thì có cá.
3. Và cái khu quan trọng nhất là khu Ba Son, nguyên chữ của Tây là je vais aux Mares à poisson (tôi đi câu nơi ao có cá (mares aux poisson, là Ba Son).
Ngày nay đề cao danh từ Ba Son, và đưa bao nhiêu công đào tạo người thợ lành nghề là “thợ Ba Son” nhưng đã quên phứt chỗ đào tạo ra người thợ lành nghề lao động ấy, không phải do hãng Ba Son đào tạo ra mà vốn thật là do nơi trường Máy gọi Ecole des mécaniciens asiatiques (trường dạy máy cho người Á Đông) nay là trường Huỳnh Thúc Kháng Trung học Cơ khí.
Người mở trường tên Emmanuel Rosel, nay bị lãng quên lu mờ, chớ đó là thầy dạy nghề cho Tôn Đức Thắng, và Rosel xuất thân là kỹ sư sở Ba Son, xin tách ra lập trường dạy về nghề coi máy tàu, lái xe ô-tô, vân vân.
Tôi cũng được đào tạo nơi trường nầy từ năm 1923 đến năm 1928, tôi còn nhớ buổi xin vào làm thơ ký nơi nầy, chơn ướt chơn ráo, ngày đầu, 27-août 1923 tôi được tuổi 19, nhờ thầy Thạnh, đầu sở, dắt vô chào ông Rosel, cho hay được bổ nhiệm làm thơ-ký tập-sự (secrétaire stagiaire) nơi trường, vừa thấy mặt tôi non nhớt, trong bộ y phục phẹt-mê (paletot fermé có sáu nút), vừa thấy mặt tôi, chưa hỏi tôi lời nào, ông Rosel vụt quây máy điện thoại và mắng vốn lên phòng Nhơn-ty (bureau du personnel) trên dinh Thống đốc Cognacq, rằng trường cần dùng một thơ ký thạo việc mà dinh Thông đốc gởi một bạch diện thơ sanh, còn trẻ hơn học trò của trường, và như vậy là tốn cơm trường vô ích. Cũng may trên dinh Thống đốc trả lời rằng thơ ký già thạo việc vẫn không có và hãy tạm dùng, tuy tôi tuổi thơ, nhưng đậu số 3, có thể dùng được và chưa có người theo ý ông Rosel muốn. Tôi buồn nghiến, vì đầu tiên bị chê bị đuổi, té ra tôi ở trường máy nầy ngót sáu năm mới rõ trường đã đào tạo bao nhiêu thợ lành nghề cho hãng Ba Son, và nơi trường vẫn nhắc tên mấy học trò cũ, trong số đó có tên Tôn Đức Thắng là đứng vào số học trò khóa mới lập. Và thợ máy về sau lãnh lương rất cao, là cũng nhờ công ông Rosel, bởi khi thống đốc hỏi ý kiến Rosel để định lương cho thợ máy, ông đề nghị lấy số lương của thơ ký soái-phủ (tức dinh Thống đốc) làm mẫu, rằng phải cho lương cao thì ông mới dụ và tuyển học trò trường các tỉnh chịu học về máy, vả lại nghề lành giỏi máy và không dịp ăn hối lộ là nên khuyến khích. Cố nhiên thống-đốc y lời ông Rosel, và những thợ dạy nghề của trường, Rosel đều cấp nhà để ở (dãy bọc theo đường Pasteur) và khi những thợ máy ấy về hưu, Rosel vẫn vận động cho làm sếp coi máy hoặc hãng lò đường Đức Hòa, hoặc coi máy tàu các tỉnh miền Tây, Cà Mau, Năm Căn, nhàn hạ. Tôi làm thơ ký nơi trường, dựa hơi Rosel làm chuồng nuôi gà giống cho thống đốc Cognacq nuôi gà giống, chuồng lợp bằng thiếc thì chính tôi đi mua và làm còm-măng (commande) mua sắt cọt-nhe, mua thiếc, tôi không đòi hối lộ và chủ tôi ông Rosel kể công làm cho tôi thăng cấp rất mau, các bạn tôi làm nơi chỗ có tiền phải hai hay ba năm mới thăng một cấp, còn tôi vẫn mười tám tháng vẫn được thăng, kỳ công chuồng gà mà ai nào biết.
Về sau, khi tôi rời trường máy đổi về tòa bố (hành chánh tỉnh Sa Đéc) thì ông Rosel cũng đến tuổi về hưu. Nhà nước Tây ghi công có đặt một tượng bán thân của Rosel nơi một căn phòng trên lầu của trường, văn phòng và nhà lầu nầy về sau bị thay bằng kiến trúc mới cho trường trung học Huỳnh Thúc Kháng ngày nay, tượng bán thân của ông Rosel còn hay mất, tôi không được biết, duy công của Rosel đối với nghề máy tàu, máy xe, tưởng không nên quên và lẽ đáng nên ghi cho ông ít nữa một bảng đồng tri ân hay một tượng đồng khiêm tốn hay một tên cho một vuông phòng của trường hiện thời mới phải.
Lão già đứng dậy, lẳng lặng vơ bộ quần áo nhầu cũ, hoen ố những vết bẩn lão vẫn cuộn lại làm gối, ném vào cái bị nhỏ. Lão ném cái ca men không nắp vào, vắt cái khăn mặt sờn rách lên vai, rồi đi ra khỏi buồng. Nội vụ của lão chỉ có thế.
Tới cửa xà-lim, lão nói lớn:
– Chào tất cả các bạn! Bạn nào được về, chuyển hộ lời “thăm hỏi ân cần” của tôi tới đồng bào cả nước!
Cả xà-lim cười ầm lên. Mắt tên quản giáo nẩy lửa:
– Chỉ được cái bố láo! Anh tưởng anh là lãnh tụ à?
Lão không thèm trả lời. Trong đời tù dằng dặc của lão, lão vẫn hay khôi hài, mỉa mai, đùa cợt bông lông như vậy. Bất cứ chuyện gì, lão cũng có thể biến thành chuyện cười. Lão sống được dai dẳng qua nhiều trại tù mà chưa chết, một phần cũng vì cái tính hài hước đó. Đến nỗi bọn quản giáo đã đặt cho lão một biệt danh là “Lão già quai guốc”.
Tên quản giáo đi trước, lão đi sau. Không ai nói với ai một câu. Ra tới sân trại, lão ngẩng đầu nhìn bầu trời xanh ngát, cao vút, hít mạnh không khí trong lành buổi sáng. Một nỗi bùi ngùi, nhẫn nhục, chợt tới với lão. Bầu trời xanh bất tận, bao la kia, không khí tươi mát này, hoàn toàn xa lạ, đâu phải của lão! Tất cả đã cách biệt từ lâu lắm! Ngày gặp gỡ lại với thiên nhiên coi như không còn.
Phải rời xà lim, lão thấy tiếc, như rời một nơi êm ấm! Lão biết rõ ra phòng chung ở với lưu manh, sẽ khổ gấp bội. Xà-lim trước kia, cách đây khoảng mươi năm thôi, còn là nơi chỉ giành để giam những tội phạm quan trọng, hoặc những phạm nhân vi phạm nội quy, mới bị tống vào kỷ luật cùm vài tuần. Hồi đó, tù nhân coi ở xà-lim là cực lắm, như ở trong một nấm mồ bằng bê-tông, mùa hè thời nóng bức, ngột ngạt như một lò hấp, mùa đông thời lạnh toát thấu xương. Ai cũng sợ. Bây giờ, lượng chứa của Hỏa-Lò vẫn y nguyên. Số người bị bắt cứ ùn ùn tăng lên gấp bội. Các buồng chung bị lèn như cá hộp. Ở xà-lim, được nằm một mình trên một bệ xi măng rộng những sáu mươi phân. Thật là thiên đường! Trừ những tội phạm bị đánh giá là cực kỳ nguy hại, tất cả ai muốn được ưu tiên nằm xà-lim đều phải quen biết với người của Bộ, của Sở. Và một điều không thể thiếu: phải có tiền! Còn muốn được làm ăng-ten cho Ban Chấp-Pháp thì bắt buộc phải là phạm nhân Đảng viên.
Loanh quanh rẽ phải, rẽ trái, vài phút, thì tới cửa phòng 14. Tên quản giáo dừng lại, bước vào một căn phòng nhỏ, phía trước trống toang, không tường, không cửa. Ở giữa trơ trọi một bàn mộc, một ghế mây. Đó là nơi làm việc của quản giáo phụ trách. Tù gọi là”quán gió”, vì chiếc quạt trần lúc nào cũng quay ào ào như giông bão. Hai tên quản giáo nói nhỏ với nhau một lúc, rồi tên quản giáo phụ trách xà-lim bỏ đi. Ba tên tù tự giác đương khám đồ tiếp tế của dăm người tù vừa được gia đình gửi vào. Chúng đổ các túi quà ra sân, soát từng món một. Bánh nếp, bánh tẻ, bánh giò, chúng giở tung ra, lấy dao cắt dọc, cắt ngang. Đường, muối vừng, thịt, cá, chúng đổ ra những bát men. Kẹo, chúng bóc ra từng cái. Khám xong, mấy người bê quà ra bên cạnh, ngồi phệt xuống đất, thành hàng ngang, mỗi người cách nhau một thước, theo đúng quy định.
Một tên tự giác ra lệnh:
– Cấm không được trao đổi, hoặc cho nhau. Vi phạm, tịch thu toàn bộ!
Mấy người tù chết đói dở, bắt đầu tấn công ăn. Họ vục mặt xuống, nhồm nhoàm, ngấu nghiến, quyết đánh tan cơn thèm khát. Họ tập trung toàn bộ tinh thần vào việc nhai nuốt. Mọi sự trên đời quên hết. Những bàn tay lở loét, sưng vù, bốc xôi, bốc thịt, bốc bánh, đưa lên mồm, tới tấp, liên tục.
Lão già đứng nhìn, lắc đầu. Tên quản giáo vẫn ngồi uống trà, phì phèo điếu thuốc trên miệng, chưa buồn ngó tới lão. Lão vất cái bị cói xuống thềm, uể oải ngồi xuống. Mấy tên tự giác đứng canh bọn tù ngồi ăn, đợi lệnh. Lão già chẳng bao giờ để ý tới bọn quản giáo. Nhiều năm ở tù rồi, lão thấy bọn chúng: dù trẻ, dù trung niên, dù già, dù gầy, dù béo, dù cao, dù thấp, dù da trắng, da ngăm ngăm, dù mắt lồi, mắt sâu, mắt sếch, mắt lươn, mắt lé… đa số đều có một điểm chung là nhìn bọn tù lừ lừ, khinh miệt, thù hận, mê muội…
– Thằng nào vừa gặp gia đình?
Tiếng tên quản giáo, hỗng hách, đầy quyền uy.
– Thưa ông, cháu.
Một tên đương ăn vội vã đứng lên, lụng bụng đáp lại. Tên quản giáo hất hàm cho mấy tên tự giác:
– Khám!
Hai tên tự giác xăm xăm tới:
– Cởi áo ra!
Hai bàn tay gã tù lở loét, bê bết xôi, nhầy nhụa mỡ thịt, loang hoay cởi khuy. Một tên tự giác sờ nắn, rũ rũ chiếc áo. Tên tự giác khác bắt gã tù giơ hai tay lên cao, quay trước, quay sau.
– Cởi quần ra!
Gã tù trút bỏ chiếc quần ni-lông ra. Lại sờ nắn, rũ rũ.
– Báo cáo ông, không có gì.
Tên quản giáo nhăn mặt, nhíu mũi khi nhìn thân hình ghẻ lở, loang lổ mủ máu. Thấy dáng điệu gã có vẻ hồi hộp, hắn quát:
– Cởi quần đùi ra!
Gã tù lom khom cởi nốt chiếc quần đùi, mặt tái nhợt, hai tay úp che hạ bộ.
– Bắt nó chổng mông lên! Nhìn lỗ đít nó xem có gì không!
Hai tên tự giác ấn gã tù chổng mông. Rồi một tên ngồi xuống, lấy hai tay vạch hậu môn, nhìn vào. Phát hiện thấy có vật gì trong đó, hắn quát:
– Rặn mạnh ra!
Loay hoay một lúc, hắn lôi ra một cục ni-lông tròn, dài.
– Báo cáo ông, thuốc lào!
Tên quản giáo đắc ý:
– Mày qua mắt ông nội mày thế nào được! Con muỗi bay qua, ông cũng phân biệt được con nào là con đực, con nào là con cái. Nhìn cái điệu của mày, ông đã biết thể nào cũng có vấn đề. Mày ở ngoài là nhà báo, mày không đọc được nội quy sao?
– Thưa ông, giải quyết thằng này thế nào?
Một tên tự giác khúm núm hỏi.
– Tịch thu toàn bộ quà. Bắt nó nuốt chỗ thuốc lào ấy! Mày nhét vào lỗ đít, tưởng qua mắt nổi ông. Bây giờ ông nhét vào lỗ mồm này!
Một tên tự giác nhanh như cắt, bưng ngay chỗ quà vào buồng. Gã tù hoảng sợ, van lạy:
– Xin ông tha cho lần này. Lâu lắm cháu mới được vợ gửi cho ít quà. Lần này cháu chót dại. Cháu xin thề không bao giờ dám vi phạm nữa. Ông phạt cháu nuốt chỗ thuốc lào. Cháu xin tuân lệnh nuốt ngay.
– Lệnh thu là thu. Nhét chỗ thuốc lào vào mõm nó!
Lão già đứng lên, ôn tồn:
– Báo cáo cán bộ, Nuốt hết chỗ thuốc lào ấy, anh ta có thể chết vì ngộ độc ni-cô-tin.
Tên quản giáo nhìn lão từ đầu tới chân, đằng đằng sát khí:
– Không phải việc của anh, im mồm! Phải xác định rõ vị trí của anh! Anh là một thằng tù!
-Tôi lúc nào cũng xác định ranh giới. Tôi là tù, ông là người coi tù. Chỉ vì tôi sợ ông gây ra án mạng nên mới nói.
– Chuyện gì vậy?
Một tên công an tuổi chạc ngũ tuần, đeo hàm thiếu tá, bộ quần áo ka ki vàng là thẳng nếp, giày đen bóng loáng, vừa bước tới, vừa hỏi.
Mấy tên tự giác cung kính:
– Chào Ban ạ, chào Ban ạ.
Tên quản giáo thay đổi hẳn nét mặt, lễ phép:
– Báo cáo thủ trưởng, tên phạm này ra gặp gia đình, lén lút mang thuốc lào vào…
– Cắt bốn tháng không cho nhận quà, gặp gia đình. Còn thuốc lào, ném xuống cống!
Tên chánh giám thị Hỏa-Lò bước vào phòng. Tên quản giáo nhanh nhẹn kéo ghế:
– Mời thủ trưởng ngồi.
Y không nói gì, ngồi xuống, nhìn về phía lão già:
– Anh kia vào đây!
Lão già lẳng lặng, xách bị bước vào, đứng cách tên chánh giám thị chừng ba thước, theo đúng quy định.
Tên chánh giám thị nhìn vào cái bị con của lão, hỏi:
– Đồ đạc của anh chỉ có thế?
Lão già mặt lạnh như tiền:
– Tôi là vô sản, vô sản quốc tế. Ngoài hai bộ đồ che thân, không có gì khác. Không vợ con. Không tiếp tế. Không ngày về. Ba không.
Tên chánh giám thị gật gù:
– Anh xác định thế là tốt. Anh có hiểu tại sao anh chuyển từ xà lim ra đây không?
– Đời tù, việc chuyển buồng, chuyển trại là chuyện bình thường. Tôi không tìm hiểu lý do.
– Tôi được báo cáo là anh thường xuyên kích động bọn tử tù hò reo, hoan hô Hoàng-văn-Hoan, hoan hô đại quân Trung-Quốc tiến sang giải phóng Việt-Nam. Anh có biết tội đó có thể đem truy tố?
– Hoàn toàn sai sự thật. Hoàng-văn-Hoan, ngay cả lúc nó còn là một tên đứng thứ năm trong Bộ Chính Trị, đầy quyền lực, tôi đã coi nó chẳng ra gì. Khi làm cách mạng, nó toàn sống ở Tầu, ở Thái-Lan, không hề bị Pháp bỏ tù ngày nào. Bây giờ phản cách mạng, cũng lại trốn sang Bắc-Kinh mới phản. Còn lũ Tầu, thời cả Tầu Tưởng tôi cũng không ưa. Tầu Mao thời tôi càng kinh tởm. Trước kia, tôi chưa bao giờ tặng hoa, ôm hôn thắm thiết chúng cả. Bây giờ, tại sao tôi lại phải kích động bọn tử tù hoan hô lũ đó? Hơn nữa, chúng hò reo, rung cùm ầm ầm, cả xà-lim mất ngủ. Mọi người, kể cả tôi, can ngăn nhiều lần không được. Ông có thể hỏi tất cả xà-lim, xem có đúng như tôi nói không.
Tên chánh giám thị có vẻ suy nghĩ. Một lúc, hắn nói:
– Các đồng chí trên Bộ đã cho tôi biết về anh. Tóm lại, tôi chỉ khuyên anh là đã vào đây thì đừng chống đối nữa. Như thế có lợi cho anh. Đừng để cho chúng tôi phải xuống tay. Các cán bộ báo cáo với tôi là anh bướng lắm. Anh phải biết rằng vào Hỏa-Lò này đến thép cũng chảy!
Lão già giọng dắn dỏi:
– Tôi chống đối là chống đối Chủ Nghĩa Mác-Lê, chống đối cái chế độ xây dựng trên chủ nghĩa ấy. Đó chỉ là một sự bất đồng về quan điểm chính trị. Ở một xã hội dân chủ bình thường, tôi không thể bị bắt giam. Mục tiêu của tôi là thế. Chứ không phải là vào cái Hỏa-Lò này để chống lại mấy ông quản lý trại giam. Tôi ở đây đã gần ba năm, chưa bao giờ vi phạm nội quy, chưa bao giờ có lời nói hoặc thái độ nào coi thường các cán bộ. Có thể chỉ vì tôi không xưng cháu với các ông ấy, nên bị coi là bướng bỉnh. Hôm nay, nhân gặp ông đây, tôi xin nói thẳng. Mục đích cải tạo là để tội phạm trở thành người tốt, có nhân cách. Phạm nhân luôn xưng cháu với các cán bộ có khi còn ít tuổi hơn họ nhiều, là họ đã tự bỏ mất nhân cách của họ. Cần phải cấm, không cho họ xưng hô quỵ lụy như thế. Nghĩa là bắt họ phải tự trọng, giữ lấy tư cách làm người. Sau đó mới cải tạo những thói hư, tật xấu của họ được.
– Chúng tôi không ai bắt họ phải xưng như thế cả. Trong nội quy cũng không có điều lệ này. Thôi được, dịp khác, tôi sẽ nói chuyện nhiều với anh.
Nói xong, tên chánh giám thị rời khỏi buồng.
Mấy tên tự giác xun xoe:
– Chào Ban ạ, chào Ban ạ.
Tên quản giáo, mặt hầm hầm, quát mấy tên tự giác:
– Khám đồ của nó, rồi tống vào phòng. Cho nó chung thân nằm “nhà mét” (nhà vệ sinh).
Dứt lời, hắn đùng đùng bỏ đi.
Khám xét xong, một tên tự giác dẫn lão già vào phòng. Vừa bước vào khỏi cửa, một tên tù đã ôm chầm lấy lão:
– Trời, Đại ca! Bảy năm rồi, bây giờ mới được gặp lại đại ca! Đại ca còn nhớ em không?
Lão già ngạc nhiên, vui mừng:
– Ủa, mày lại vào tù nữa! Đúng tù là nhà!
Gã tù nắm lấy hai vai lão, lắc lắc:
– Đại ca trông già đi nhiều, râu tóc bạc cả. Nhưng tác phong vẫn như xưa. Ung dung, đàng hoàng. Ăn nói đâu ra đó. Tên chánh giám thị cũng phải nể. Người khác thì đời đã ra nước với nó rồi!
Một tên tù đứng bên, trầm trồ:
– Cháu ở tù bao năm chưa thấy ai dám nói như ông chú cả. Chúng cháu trong này nghe sướng cả lỗ tai! Lão chánh giám thị khét tiếng là bạo chúa ở Hỏa-Lò này, ai cũng khiếp sợ. Thế mà ông chú xem khinh. Nể ông chú thật!
– Thôi, chúng mày lui ra hết, để đại ca tao nghỉ ngơi. Đại ca có muốn tắm không? Em bảo bọn tự giác xách vào một thùng nước.
Lão già lắc đầu:
– Hậu xét, hậu xét. Có thuốc lào không? Tao ghiền quá! Bao lâu nay không được “hơi” nào!
Gã đàn em quay sang bảo một tên tù khác đương đứng nhìn lão chăm chăm:
– Cuộn một vê thật to. Nhanh lên!
Tên tù vội vàng chạy vào nhà mét. Một lúc gã đem ra một điếu xâu kèn cuộn bằng giấy báo.
Gã tù đàn em trỏ một tên:
– Ra cửa ngó. Có gì báo động ngay. Còn đại ca theo em. Thuốc lào Vĩnh-Bảo chính hiệu đấy!
Gã đưa lão vào nhà mét. Đó là một khoảng rộng độ ba thước vuông. Có tường ngăn, không có cửa. Tuy vừa cọ rửa xong, nhưng vẫn nồng nặc một mùi tanh buồn nôn.
– Đại ca dựa vào tường. Lâu không hút, sẽ kềnh đấy!
Một tên tù khác đi vào, tay cầm một mẩu nhựa bẻ từ cán một bàn chải đánh răng, một mảnh giấy xi măng dùng làm đóm, một mẩu bông xé tơi. Hắn cúi xuống, lấy ở xó tường, một mảnh thủy tinh con. Hắn để miếng bông lên bệ cầu tiêu, dùng mảnh thủy tinh bật vào miếng nhựa có gắn một viên đá lửa. Tia lửa bật ra, bén vào miếng bông, bùng cháy. Nhanh như cắt, hắn châm mảnh giấy vào lửa, đưa lên miệng lão già. Lão hít một hơi dài, lảo đảo…
– Đại ca để em đỡ. Cứ đứng yên.
– Mắt lão nhắm lại. Người lão nhẹ lâng, bồng bềnh trên những đợt sóng không khí, rung rinh, tối xầm. Mồ hôi trên trán lấm tấm. Mắt lờ đờ, dại đi. Miệng lắp bắp: “Say… Say… Say… “
Hai gã tù cười thích thú:
– Đúng là “đưa hồn say về tận cuối trời quên!”
Vài phút sau, lão trở về với thực tại, lảo đảo bước ra khỏi nhà mét.
Trong phòng, vào giờ hành chính, mấy trăm tù ngồi bó gối, xếp hàng đầy cả hai bên sàn nằm. Tên đàn em mời lão ngồi cạnh gã. Tên trực trong to đùng như một con gấu, đi lại phía cửa, hùng dũng, oai vệ.
Lão già hỏi tên đàn em:
– Đứa nào là trưởng phòng?
Photo edit by Sơn râu
-Thằng khám đại ca, đưa đại ca vào là trưởng phòng đấy. Nhưng tất cả bọn tự giác đều là “nô lệ” của em. Em điều khiển tất cả. Chúng nó gọi em là “Tù Trưởng”.
– Phòng đông như thế này có bao nhiêu tự giác?
– Một trưởng phòng coi sóc chung. Một trực trong, giữ trật tự trong buồng. Ba trực ngoài để hầu hạ quản giáo, để khám xét tù đi cung về hoặc tù mới vào. Hai thằng nữa lo việc chia cơm, rửa bát. Tất cả bảy thằng. Chúng nó ở ngoài đều là cán bộ cả. Can tội tham ô, hối lộ, ăn cắp của công, thông dâm, hủ hóa, bị chộp vào đây.
– Đông khiếp thế này thì ăn nằm vào đâu?
Tù trưởng chửi:
– Đ… mẹ cái thằng Phạm-Hùng. Từ ngày nó thay thằng Trần-quốc-Hoàn, bị mất chức vì để xổng mất Hoàng-văn-Hoan, nó tuyên bố sẽ biến Hà-Nội với các thành phố khác trong như pha lê. Nó càn quét dữ dội, gom lại cho đi “tập bọp” hết. Nó nói là nó bắt không tính đến số lượng. Em cũng bị hốt vào đây trong dịp này đấy, dù em có phạm pháp gì đâu! Muốn sống lương thiện cũng không nổi, đại ca ạ!
– Chuẩn bị ra ăn! Lần lượt từng đứa một! Cởi hết quần áo, chỉ được mặc quần đùi!
Tên trực trong ra lệnh, tiếng oang oang như lệnh vỡ.
Mấy tên tù ngấp nghé nhìn ra đã biết sáng nay vừa có bánh mì, vừa có bo bo, thầm thì kháo nhau, thành cả phòng đều biết. Thằng nào ra trước sẽ vớ được bánh mì. Đám tù vội vã trút bỏ quần áo, đổ xô chen nhau ra. Tên trực trong đấm hộc máu mồm mấy đứa, chúng mới dừng lại. Nhưng vẫn chen lấn nhau để ngoi lên trước.
– Đại ca bỏ quần áo ra. Đây là lệnh ban giám thị, để đề phòng giấu gạch đá, mảnh chai, kim khí vào giết nhau. Nhưng chủ yếu là để bảo đảm an toàn cho bọn quản giáo.
Lão già, tù trưởng, cùng bốn đàn em của tù trưởng, đi tới đâu, bọn tù dạt ra tới đó. Sáu người ra sân đầu tiên. Mỗi người lấy một bánh mì con và một bát nước muối. Đám tù xếp thành hai hàng ngang một, ngồi đối diện nhau. Hàng chục hàng như vậy, ngồi đầy cả sân. Một đống túi ni-lông đựng thịt, cá, ruốc, muối vừng của những người có tiếp tế đã được đổ xuống sân từ một bao tải to. Một tên tự giác cầm từng túi một, đưa cao lên, hô:
– Của thằng nào?
Các túi đều có dấu riêng. Ai nhận ra của mình thì tay giơ cao, miệng nói lớn “Của em”. Tên tự giác ném vèo tới chỗ người đó. Đám tù ngồi ăn ngấu nghiến. Kẻ nhai bánh mì, kẻ múc bo bo bằng những thìa nhôm đã bẻ gẫy cán (cán thìa có thể mài nhọn thành vũ khí, chọc thủng mắt).
Đây đó, những tiếng xì xầm:
– Thịt mỡ hấp dẫn quá! Đưa đây vài miếng. Lần sau có “tắc” (tiếp tế), giả gấp hai!
– Đồ bọ! Một thìa muối vừng cũng kẹo!
– Lần trước bố cho mày. Lần này có, định “quên” hả?
– Muốn ăn, thì đưa một vê thuốc lào đây!
– Đưa ruốc đây, sẽ có một viên Tétra trị lở!
Đột nhiên, “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa”. Những thằng tù no tiếp tế gia đình, ngừng ăn, trố mắt. Một cô gái, tuổi chừng đôi mươi, đương đi tới. Theo sau độ mươi thước là một mụ quản giáo, dáng dấp như một tên du côn. Cô gái trông mảnh mai, nét mặt trái soan, xanh nhợt, ủ ê, nhưng khá đẹp. Một tên tự giác đứng canh đám tù ngồi ăn, khi cô gái đi tới gần, gã nhe răng, nhăn nhở:
– Em làm nghề “lấy lỗ làm lãi” phải không?
Một tên tù khác mắt hấp háy, toe toét:
-Trông thơm quá! Cho anh yêu một cái đi!
Cô gái đi ngang qua chỗ lão già ngồi ăn, làm lão ọe một cái, nôn ra một ít bánh mì. Một mùi tanh tưởi, tệ hơn mùi chuột chết, từ đũng quần cô gái, ập vào mũi lão.
Tên trực trong cười hềnh hệch:
– Loại “phò” này mà xốc nách nhấc bổng lên, lắc mạnh mấy cái, là rơi xuống đầy một sọt “gậy gộc”!
Cô gái lẳng lặng đi. Thoáng thấy mấy lá bánh chưng còn dính vài cục bánh con con, cô nhào tới rãnh nước, nhặt lên, đưa vào mồm, liếm lấy, liếm để.
Mụ quản giáo the thé:
– Con nhà thổ! Bà sẽ cùm mày lại!
Mụ chạy xốc tới, nắm mớ tóc bù xù của cô gái, giật mạnh, tát tới tấp. Cô gái lí nhí kêu lạy. Đám tù vô gia cư đói rạc, gầy giơ, từ nẫy vẫn gục mặt xuống ăn, không để ý gì tới xung quanh, nghe tiếng của mụ quản giáo, cũng phải ngẩng đầu lên, ngơ ngác nhìn.
Bữa ăn kéo dài độ mươi phút. Đám tù như một đàn lợn, được lùa vào chuồng. Không rửa mồm. Không uống nước. Tất cả lại ngồi nghiêm chỉnh trên hai sàn xi măng.
Suốt ngày, ba đợt tù từ các nhà giam ở các quận Hai-Bà, Đống-Đa, Hoàn-Kiếm, Ba-Đình, chuyển tới. Phải tới ba chục tên. Tên nào, tên nấy, mặt mũi sưng vù, thâm bầm, đi đứng xiêu vẹo. Chúng đã được ăn đòn nhừ tử ở các quận.
Tên trưởng phòng bối rối, báo cáo với tên quản giáo:
– Thưa ông, phòng đã chật cứng, phải nằm cả trong nhà mét. Làm sao chứa được từng này người nữa?
Tên quản giáo chặc lưỡi:
– Phòng nào cũng như thế cả. Cứ ấn chúng nó vào! Vài hôm nữa sẽ có đợt chuyển trại.
Cơm chiều xong, coi như hết ngày. Tù ngồi la liệt khắp phòng. Dưới nền nhà dùng làm lối đi, rộng độ ba thước, cũng chật ních. Tiếng rầm rì nói chuyện của mấy trăm con người hợp thành một thứ âm thanh ồn ào, hỗn tạp. Mùi mủ máu lan tỏa, lợm giọng. Mùi mồ hôi bốc lên chua nồng như mùi bánh bao thiu, khiến mấy gã tù chết đói nuốt nước bọt, hỏi nhau:
– Đ… mẹ nó, mùi bánh bao ở đâu ấy nhỉ?
Lũ tù tự giác, tù trưởng và lũ đàn em, trải chiếu ra ở đầu phòng. Mỗi người một chiếu rộng 70 phân, chiếm một khoảng dài. Chúng ngồi quây quần thành một nhóm riêng biệt. Ở giữa là một bi-đông lớn trà nóng.
Tù trưởng đặt tay lên đùi lão già:
– Sao chân trái đại ca đi tập tễnh thế?
– Tao bị cùm trong xà-lim 8 tháng liền. Làm sao mà đi ngay thẳng được?
– Sao đại ca không đổi chân. Mỗi ngày cùm một chân có đỡ không.
Lão già vỗ vào vai hắn:
– Chú mày lầm rồi. Cùm một chân liên tục, cổ chân sẽ nhỏ đi. Đỡ bị cùm nghiến chặt. Đỡ đau. Không lo, chỉ vài tháng là chân tao trở lại bình thường.
Tù trưởng rót trà ra một ca men:
– Đại ca uống thử xem. Trà móc câu Tân-Cương đấy!
Lão già nhấp một hớp:
– Trà ngon thật. Nhưng độ nóng hơi kém. Giảm bớt giá trị.
Tên trưởng phòng giải thích:
– Đun sôi nửa tiếng rồi. Ủ vào chăn cũng nguội đi phần nào.
Lần lượt, theo tôn ti trật tự, tù trưởng, trưởng phòng cầm ca uống. Rồi đến bọn đàn em, bọn tự giác. Một tên giở một gói tướng thuốc lào, cuốn một điếu vào giấy báo, to, dài như điếu xì-gà. Gã xé tơi ít bông, đánh lửa, châm đìếu thuốc cho cháy, rồi kính trọng đưa cho tù trưởng.
Tù trưởng tươi cười:
– Kính lão đắc thọ. Mời đại ca. Đại ca rít cho thoải mái.
Lão già hít một hơi dài. Đầu điếu thuốc đỏ rực, cháy lem lém. Lão từ từ nhả khói ra, hãm một hớp nước trà. Điếu thuốc cũng theo đúng tôn ti trật tự, chuyền tay từng gã một. Khói thơm ngào ngạt. Hơn hai trăm cặp mắt nhìn chầm chập vào điếu thuốc, hau háu. Mấy phong bánh đậu xanh được bóc ra, ăn cho ngọt giọng.
Lão già, vuốt chòm râu bạc:
-Trong xà-lim, thỉnh thoảng có người đi cung, nhặt giấu được vài đầu mẩu thuốc lá mang về hút. Chúng nó phải tiết kiệm, “bỏ tù khói”, không một sợi khói nào lọt ra khỏi mũi!
Tù trưởng cười:
– Đôi khi khan hiếm, chúng em cũng “bỏ tù khói” như vậy. Tối nay, mời đại ca dùng mì tôm với thịt gà luộc. Đại ca ở đây, bọn em sẽ bồi dưỡng cho lại sức, để đại ca còn “trường kỳ kháng chiến”!
Lão già hơi nhíu mày:
– Chắc mày cùng lũ “đầu gấu” đây lại đánh đập, trấn lột của những người khác phải không?
-Không đâu! Bọn em dùng phương pháp khác. Chúng nó tự nguyện đưa cho bọn em thôi.
– Tự nguyện theo kiểu tư sản “tự nguyện” hiến nhà, hiến của, nông dân “tự nguyện” vào hợp tác xã, thanh niên “tự nguyện” nhập ngũ?
Tù trưởng cười khoái chí:
– Bọn em không đểu thế đâu! Bọn em dùng phương pháp trao đổi, hai bên cùng có lợi. Hàng của bọn em là thuốc lào. Ở Hỏa-Lò này quý hơn máu khô đấy! Thằng nào muốn được ngày bốn hơi: sáng 1, sau mỗi bữa ăn 1, tối 1, thì phải đưa thịt, đưa đường, đưa mì tôm ra. Đại ca biết, cái giống thuốc lào này nó lạ lắm. Ngửi thấy mùi khói là bị vật rồi. Thịt mỡ nốc vào, kẹo bánh “bành” rồi, nó càng vật vã, không chịu nổi.Thằng nào cũng tới lạy bọn em, xin trao đổi. Bọn em đã thống kê. Cả phòng này, chỉ độ bốn mươi tên can tội kinh tế là “quả tắc dầm” (tiếp tế to). Mấy chục tên nữa thời làng nhàng. Còn lại toàn bọn rận rệp, vô gia cư, đói vêu mõm chó cả. Thằng nào muốn có chỗ nằm thở được một chút, muốn có nước lau mình hàng ngày, thì quả tắc phải chia cho bọn em một nửa. Chúng nó có của. Chúng lấy của che thân là đúng quá!
Lão già khen:
– Thủ đoạn tương đối nhân đạo. Không đến nỗi như các phòng khác. Vừa đánh, vừa cướp để ăn.
Tên trưởng phòng, ở ngoài nguyên là một cán bộ đảng viên, lễ phép:
– Nghe nói cuộc đời bác tù tội triền miên vì chống đối. Xin bác kể cho chúng em nghe về “đời hoạt động của bác”.
Tù trưởng gạt đi:
– Để hôm khác. Hôm nay đại ca còn mệt. Tao chỉ nói qua cho bọn bay biết, không phải vô cớ mà một thằng như tao, đứt giây trên trời rơi xuống, có sợ ai đâu, mà lại đi tôn bác là đại ca. Hồi ở trại Phố-Lu, Lào-Cai, đại ca tao bị khóa cánh tiên nhiều lần, cho tới ngất xỉu, mà không bao giờ nói một câu, kêu một tiếng! Trong khi các tay lưu manh sừng sỏ, các dũng sĩ diệt Mỹ ra thăm miền Bắc, ngang ngổ đánh nhau với công an, bị đi tù, khi nếm cánh tiên đều hoá điên, hoá rồ. Lúc thì quỳ xuống kêu lạy, xin tha. Lúc thì thét lên, chửi cả Bác lẫn Đảng. Tao phục đại ca tao từ đó. Đây, tao thử khóa cánh tiên cho bọn mày coi.
Tù trưởng bảo tên trực trong to lớn, lực lưỡng đứng dậy. Gã cầm hai cổ tay, theo tư thế hai bàn tay ngửa ra phía ngoài, rồi gã bẻ mạnh quặt ra sau lưng. Tên trực trong rú lên một tiếng, vùng khỏi.
Tù trưởng cười nắc nẻ:
– Bố mới bẻ nhẹ một cái mà mày đã rú lên thế rồi! Còn khóa cánh tiên thực ấy à, phải hai thằng tù tự giác mới bẻ được hai cổ tay sát vào nhau, thằng thứ ba đưa khóa số 8 khóa lại. Không phải khóa ở cổ tay mà khóa ở phía trên, độ mươi phân. Tao còn nhớ một lần, vào mùa đông, không độ. Đại ca bị lột trần, chịu khóa như vậy giữa sân trại. Hai ngón tay còn bị buộc dây đồng, treo ngược lên hàng rào thép gai. Mồ hôi đại ca chảy ròng ròng toàn thân. Râu tóc ướt cả. Ai trông thấy cũng phải khiếp.
Cả đám, vẻ kính phục, nhìn lão già mình trần, xương sườn đội da, nhô lên như sóng gợn, râu tóc bạc phơ, mặt vêu vao, khắc khổ.
Lão già nhấp một hớp trà, thở dài:
– Chuyện cũ cả. Chúng ta còn phải chuẩn bị tinh thần chịu đựng nhiều.
Photo edit by Sơn râu
Tên trưởng phòng lấy ở dưới chiếu ra một tờ giấy trắng, một phong bì, một bút bi, nói nhỏ với tên tù trưởng:
– Tên quản giáo cho thằng Việt kiều ở Pháp viết thư. Tí nữa nó tới lấy.
– Giải quyết nhanh gọn đi!
Trưởng phòng vẫy tay, gọi một gã đã đứng tuổi, tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm, đương ngồi gãi ghẻ cách đấy dăm thước:
– Ê, lại đây!
Gã Việt kiều cao lênh khênh đứng dậy, bước len qua đám tù đương ngồi lau mủ máu trên người bằng những miếng giẻ to bằng bao diêm, lại bên trưởng phòng, ngồi xổm xuống.
– Viết thư về gia đình. Nhớ một cân trà búp, một cân thuốc lào, hai tút Điện-Biên, một cân mì chính, ba trăm đồng tiền mặt. Bảo gia đình, đưa tất cả cho người mang thư tới. Chớ có bép xép với ai mà tan đời đấy!
Gã Việt-kiều buồn rầu:
– Tất cả là một năm lương của vợ em!
Tên trưởng phòng gằn giọng:
– Mày là được chiếu cố nhất đấy. Các bố đây còn hao tài tốn của gấp mấy! Tiếc, thì đưa lại giấy bút đây! Muốn làm tự giác, mà lại tiếc của!
– Em nói thế thôi. Đâu dám tiếc gì!
– Biết điều như thế thì được. Ngồi ngay ở đây viết. Ngắn gọn thôi!
Lão già thương hại, nói với trưởng phòng:
-Trông anh ta lờ đờ lắm. Cho anh ta uống một ngụm trà cho tỉnh táo, rồi hãy viết.
Trưởng phòng dốc một tí trà còn sót lại trong bi-đông ra:
– Uống đi!
Lão già ôn tồn nói:
– Anh cứ ngồi hẳn xuống. Anh ở Pháp về nước lâu chưa? Ở ngoài làm cơ quan nào? Sao bị đưa vào đây?
Chắc đây là lần đầu tiên được một người khác thăm hỏi tới số phận mình bằng một giọng tử tế, lại cho uống trà, ngồi bình đẳng ở chỗ mà không một tù nhân nào khác dám bén mảng tới, gã Việt-kiều sốt sắng trình bầy:
– Thưa bác, em là kỹ sư, làm việc ở Montpellier. Đất nước thống nhất được khoảng bốn năm thì vợ chồng em trở về. Em học và làm việc ở Pháp từ năm 1964. Em nghĩ về nước là để tái thiết tổ quốc sau bao năm chiến tranh. Em được xếp vào làm việc ở nhà máy Trần-Hưng-Đạo. Nhà em cũng được làm kế toán ở đó. Đồng lương tuy ít ỏi, thiếu thốn, nhưng vợ chồng em không phàn nàn gì. Em chỉ phê bình lãnh đạo nhà máy vài lần, góp ý với họ cải tiến lề lối làm việc. Họ không nghe, còn bắt em làm kiểm điểm, đưa em ra cuộc họp nhiều lần, phê phán em tiêm nhiễm nặng tư tưởng tư sản. Cô đầm ở sứ quán Pháp, quen vợ chồng em từ Pháp, thường tới nhà em chơi, đôi khi dẫn em vào sứ quán khiêu vũ. Họ kết tội em là tác phong đồi trụy, liên lạc với người nước ngoài. Em chán nản, bực bội, nhờ ông anh ruột em là một cán bộ đảng viên cao cấp, giúp vợ chồng em trở về Pháp. Ông ấy sửng cồ, mắng em là ngu như bò. Trước kia, ông ấy có viết thư cho em, dặn là nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định về nước. Em không hiểu ý, cứ về. Ông ấy nói với em là ông ấy không có quyền, muốn đi Pháp thì cứ làm đơn xin đi. Em làm đơn và bị bắt vào đây đã sáu tháng nay. Ông chấp pháp hỏi cung em, buộc cho em đủ các thứ tội. Nào cố tình phá hoại uy tín của lãnh đạo nhà máy. Nào kích động công nhân phản kháng. Nào làm gián điệp cho nước ngoài. Em trả lời là không hề có những chuyện đó. Ông ấy đập bàn bảo em ngoan cố và vặn em vì lý do gì đang sống ở Pháp sung sướng lại mò về? Em giải thích là vì lòng yêu nước, vì có nhiều cán bộ sang Pháp công tác, động viên em về xây dựng đất nước. Ông ấy chửi em là nói chó cũng không nghe được, là lý lẽ của em, trẻ con cũng không lừa được, mà định đem lừa cách mạng!
Nghe gã Việt-kiều kể lể, đám đầu gấu, đám tự giác ôm bụng cười lăn, cười bò ra, như được nghe một chuyện tiếu lâm lý thú.
– Sao ở đời có thằng ngu đến như vậy được!
– Đầu óc chứa toàn bã đậu. Chữ nghĩa nhét vào, uổng mẹ nó cả!
– Thật là cơm không ăn, ăn cứt!
Lão già đợi dứt trận cười, mới ái ngại nói:
– Chắc bây giờ anh đã hiểu thế nào là chủ nghĩa xã hội, là học thuyết cộng sản. Anh không phải là người đầu tiên. Mà cũng không phải là người cuối cùng.
Gã Việt-kiều ngước mắt nhìn, mặt trang trọng:
– Xã hội khủng khiếp này không phải là xã hội mà Các-Mác định kiến tạo. Mác-Lê đã bị phản bội! Nếu Hồ-chủ-Tịch còn sống, nhất định không có những chuyện như thế này!
Lại một trận cười thứ hai rộ lên. Lần này, lão già vốn chẳng bao giờ cười, cũng phải phì cười, lắc đầu:
– Thôi, anh viết thư đi. Hãy cố gắng kiên nhẫn chịu đựng. Không có cách nào khác.
Tù trưởng cầm miếng các-tông, quạt phành phạch:
– Cho loại này uống, phí cả trà. Viết nhanh, rồi biến đi!
Trưởng phòng lau mồ hôi nhễ nhại, nhìn chiếc quạt trần cao chót vót lừ đừ quay, như hết hơi:
– Treo cái quạt này làm đéo gì! Đ… mẹ chúng nó, chơi khăm thật! Cùng ở Hỏa-Lò cả, mà quạt ở các buồng quản giáo thì vù vù như vũ bão!
Tù trưởng cười khẩy:
– Muốn vù vù thì đợi tới mùa đông, sẽ được vù vù! Bỏ mẹ những thằng nằm dưới, chăn chiếu không có!
Vài phút sau, gã trí thức Việt-kiều viết xong thư, bỏ vào phong bì, đưa cho trưởng phòng.
Một lúc, có tiếng tên quản giáo ở cửa, hách dịch:
– Trưởng phòng đâu!
– Dạ, có cháu!
Tên trưởng phòng chạy ra cửa, đưa phong thư qua song sắt:
– Tất cả viết theo đúng yêu cầu của ông.
Tên quản giáo dúi cho gã một gói to thuốc lào:
– Nhớ tuyệt đối bí mật, tôi đi ngay.
– Cám ơn ông, ông yên tâm. Được ông giúp thế này là đại phúc cho nó lắm rồi!
Trong nhà mét, một gã đầu gấu đã nổi lửa đun một xoong lớn nước sôi. Nhiên liệu là những mảnh chăn rách quấn ni-lông. Mùi khét lẹt lan ra khắp phòng. “Cuộc chiến đấu” rất nhanh gọn. Chỉ mươi phút sau là hơn chục bát mì tôm đã hoàn tất. Toàn thể đám đầu gấu, tự giác ngồi thành một vòng tròn, xộp xoạp múc ăn. Một tên tù đứng canh ở cửa để báo động.
Tù trưởng gắp một đùi gà luộc, bỏ vào bát lão già:
– Tối nào cũng một bữa thế này, cộng với một ca nước chanh đường, là thừa ca lo để chiến đấu!
– Tao lâu lắm chỉ ăn tiêu chuẩn trại. Ăn thế này có khi lạ bụng, bị Tào-Tháo đuổi mất!
– Chúng em có thuốc. Đại ca không lo.
Trưởng phòng vui vẻ:
– Tối nay, thư tới nhà. Vài hôm nữa, chúng ta sẽ có một cân thuốc lào, tha hồ đổi chác! Lũ mới vào hôm nay, có mấy thằng có quần bò. Xếp dặn là phải lấy cho xếp. Một dúm thuốc lào là xong thôi.
Tù trưởng bực dọc:
– Tên quản giáo này thực tham lam tới mức chó má, lưu manh quá lưu manh. Bắt nó phải nhả ra mấy bao Điện-Biên!
– Thuốc lá đối với chúng ta nhạt phèo. Hút vào, chỉ chua miệng. Thích thì cũng có. Không hiểu tại sao điếu thuốc có gì là quan trọng mà phải cấm dữ đến thế. Cơn nghiện lên, bao vụ chọc mắt, cắt gân, giết nhau cũng chỉ vì tí khói!
Lão già trầm ngâm:
– Dễ hiểu thôi. Hỏa-Lò là nơi tạm giam để thẩm vấn. Khi chấp pháp gọi đi cung, cho hút một điếu, được coi như một sự đối xử tử tế, một ân huệ, ảnh hưởng tốt tới tâm lý phạm nhân. Như thế, thuận lợi cho việc cung kẹo hơn. Chính vì lẽ đó, chỉ riêng những trại tạm giam mới nghiêm cấm. Điếu thuốc trở thành một trong những biện pháp để khai thác cung.
Trưởng phòng “À” một tiếng:
– Bác giải thích, bọn em mới vỡ lẽ. Đòn hiểm thật!
Một tên tù ở nhà mét ra. Lừ đừ đi được dăm bước, tự nhiên ngã uỵch xuống, như một cây gỗ đổ, ngất xỉu. Những tiếng cười vang lên:
– Bị ma đói vật rồi!
– Con ma này thiêng thật! Ngày nào cũng vật vài thằng như thế.
Lão già đứng dậy:
– Để tao lại xem nó thế nào.
Tù trưởng gạt đi:
– Ở đây nhiều tên không tắc, tự nhiên lăn đùng ra như thế. Chỉ một lúc là nó tỉnh lại thôi. Mấy tháng đầu, đứa nào cũng bị. Sau dạ dầy teo lại, quen với cái đói, là hết. Đại ca không cần bận tâm.
– Cứ để tao xem nó thế nào. Tao không nỡ bỏ mặc nó như thế.
Lão già đi tới chỗ tên bị ngất, ngồi xuống cạnh hắn, cầm tay bắt mạch, rồi lay gọi. Một lúc, hắn mở mắt tỉnh lại. Lão đỡ hắn ngồi dậy:
– Anh thấy trong người thế nào?
Hắn thều thào:
– Cháu thường tự dưng tối xầm mặt mày, ngã ngất như thế này.
– Gia đình có tiếp tế cho anh không?
– Bố mẹ cháu đã chết. Cháu vào tù, vợ cháu phải nuôi hai con nhỏ. Không đi tiếp tế được.
– Mày nói đúng, nó chỉ có bệnh đói thôi! Tao muốn mày cho nó một ca nước đường.
– Vâng, chuyện ấy dễ thôi.
Lão lại chỗ gã tù đương ngồi dựa vào tường, mặt mày nhợt nhạt.
– Đứng dậy, tôi đỡ đi.
Hắn chống tay vào đầu gối, đứng lên. Lão dìu tới chỗ tù trưởng, để hắn ngồi xuống. Sau khi uống ừng ực hết ca nước đường, hắn tỉnh táo ra:
– Cháu thấy đỡ nhiều lắm.
Photo edit by Sơn râu
Lão già thương hại:
– Anh vào đây lâu chưa?
– Thưa bác, tám tháng rồi.
– Anh can tội gì?
Gã rơm rớm nước mắt, kể lể:
– Cháu có tội gì đâu. Cháu biết nghề sửa chữa đồng hồ. Nhưng không có cửa hiệu. Cháu phải dùng xe đạp mang đồ nghề theo, dạo quanh các phố rao mời. Cháu vẫn thường rao to “Đồng hồ nhanh, chậm, hỏng vỡ. Ai cần sửa chữa!” Một hôm, giời xui, đất khiến thế nào, cháu lại rao ngắn gọn lại “hồ hỏng, hồ vỡ, sửa chữa”. Đi rao thế được vài phố thì bị công an bắt vào đồn. Họ kết tội cháu dám xúc phạm tới Hồ-Chủ-Tịch. Sau đó họ giải cháu tới Hoả Lò này. Ông chấp pháp hỏi cung cháu, bắt cháu phải nhận có ý đồ phản động, xỏ xiên lãnh tụ, khi rao như vậy. Ông ấy bảo la ầm cả phố lên ” hồ hỏng, hồ vỡ, sửa chữa “, rõ rệt là có dụng ý xấu. Cháu thanh minh là cháu rao ngắn lại thế cho đỡ mệt, vì hôm ấy cháu bị ho, chứ trước đó, cháu có rao như thế bao giờ đâu. Cháu lạy van ông ấy là cháu chỉ vô tình thôi. Cháu còn 2 con nhỏ phải nuôi. Đâu dám làm chuyện tầy trời xúc phạm Hồ-Chủ-Tịch. Ông ấy bảo nếu nhận là cố ý, Đảng sẽ khoan hồng, cho về với vợ con. Cháu tin ông ấy, cháu nhận tội và ký vào biên bản. Không hiểu sao cháu vẫn cứ bị giam ở đây. Không biết vợ con cháu bây giờ ra sao.
Nói tới đấy, hắn khóc nấc lên.
Trưởng phòng chép miệng:
– Chẳng thà tù như bọn tao, tiêu tiền của nhà nước thoải mái. Vợ con cũng được nhờ. Đi tù cũng cam. Còn tù vớ vẩn như bọn mày thì thật chán mớ đời! Nhưng tại sao lại ngu đi ký vào biên bản, nhận cái tội chết người đó?
Lão già thở dài:
– Tội này, nhận hay không, cũng vậy. Nếu không xử thì cũng tập trung.
Lão quay sang gã “hồ hỏng, hồ vỡ”:
– Thế anh không quen biết ai ở phòng này à?
– Cháu chỉ quen có bác xích lô già nằm cạnh cháu. Mà vào đây mới quen. Cháu với bác ấy nằm cạnh nhau.
– Nằm ở chỗ nào?
– Nằm trong nhà mét đã ba hôm nay rồi.
Trưởng phòng mắng:
– Nói láo! Nhà mét chỉ những tên mới tới bị nằm, thay thế những đứa đã nằm. Chúng mày ở lâu rồi, sao lại phải nằm đó?
– Thưa anh, em không dám đặt điều. Chỗ của em và bác xích lô vốn ở xa nhà mét, gần giữa phòng. Nhưng cách đây ba hôm, có hai anh bắt phải vào nằm nhà mét thay họ. Họ dọa, nếu báo cáo với trưởng phòng, họ sẽ cho tan xương.
Trưởng phòng mặt đỏ bừng:
– Hai thằng nào, chỉ mặt cho tao biết. Chúng ăn gan hùm, mật gấu hay sao mà dám quậy như vậy! Không sợ, chỉ ngay!
Gã “hồ hỏng, hồ vỡ” dẫn trưởng phòng tới chỗ hai thanh niên mặc quần áo bộ đội, can tội đột nhập sứ quán Pháp “đánh quả” (ăn trộm). Chúng mới bị bắt mấy hôm, nên trông còn nhanh nhẹn, khỏe mạnh.
Trưởng phòng quát:
– Hai thằng theo tao!
Chúng lừ lừ đi theo, rồi ngồi bệt xuống lòng sàn.
Tù trưởng cười gằn:
– Chúng mày chiếm chỗ của thằng này với lão già xích lô phải không?
– Thưa anh, không. Thằng này nói bậy đấy ạ.
Trưởng phòng quát to:
– Lão già xích lô đâu, lại đây!
Từ dưới nhà mét, một ông già độ sáu mươi tuổi, râu tóc bờm xờm, mắt đầy nhử, miệng ho xù xụ, lờ đờ đi tới.
– Có phải hai thằng này bắt mày vào nằm nhà mét không?
Lão xích lô run run:
– Thưa các anh, đúng thế ạ.
Tù trưởng đứng phắt dậy, phóng một cú song phi vào mặt hai tên thanh niên. Cả hai ngã ngửa người, đập đầu xuống đất.
– Quỳ xuống!
Hai tên lóp ngóp bò dậy, quỳ gối xuống sàn nhà.
– Trực trong, cho mỗi thằng mười gót vào lưng!
Ra lệnh xong, tù trưởng trở lại ngồi cạnh đại ca của gã, mặt vẫn bừng bừng tức giận. Tên trực trong khệ nệ đứng dậy:
– Hai con úp mặt xuống đây, để bố cho thưởng thức món “chân giò”.
Hai gã lưỡng lự, rồi đành tuân lệnh.
Tên trực trong giơ bàn chân khổng lồ lên, giáng gót xuống lưng từng tên một. Cả phòng im phăng phắc, theo rõi cuộc trừng phạt. Những tiếng “ự, ự” vang lên. Hai cái lưng oằn lên, hạ xuống. Mỗi tên chịu độ ba gót, thì lão già ngăn lại:
– Thôi tha cho chúng.
Lão nói nhỏ với tù trưởng:
– Đánh nữa, nhỡ có thằng lăn ra chết, thì mày bị tử hình.
Tên trực trong ngừng lại, toe toét:
– Nhớ, còn bảy “chân giò” án treo!
Hai tên đứng dậy, mắt long lên những ánh căm hờn. Tù trưởng nhẩy vọt tới, nhanh như chầy máy, cho mỗi tên một đấm như trời giáng vào ngực. Cả hai ngã gục xuống.
– Chúng mày tỏ ra căm hờn à! Bố sẽ đánh cho chúng mày tiêu tan hết căm hờn, tiêu tan hết chí phục thù!
Hai tên lóp ngóp đứng dậy, cuống quýt:
– Chúng em có dám căm hờn đâu. Lạy anh, anh tha cho chúng em.
– Chúng mày phải nhớ rằng ở đây, thằng ngu ngơ, tao đánh cho thành thông minh. Thằng thông minh, tao đánh cho thành ngu ngơ. Thằng nhanh nhẩu, tao đánh cho thành lờ đờ. Thằng lờ đờ, tao đánh cho thành nhanh nhẩu.
– Chúng em biết uy của đàn anh rồi. Xin đàn anh tha cho.
Trưởng phòng ra lệnh:
– Phạt chúng mày nằm nhà mét một tuần! Biến cho khuất mắt!
Hai tên lủi thủi bước về phía nhà mét cuối phòng.
Lão già xích lô nhìn đại ca, ngập ngừng:
– Thưa bác, xin bác chỉ bảo cho cháu…
– Có điều gì, bác cứ nói. Bác nhiều tuổi rồi, cứ xưng tôi với tôi thôi.
– Vâng, thưa bác, tôi chỉ vì đạp xe trái luật, bị cảnh sát phạt hai chục đồng. Tôi không có đủ tiền nộp. Họ giữ xe tôi ở đồn mấy hôm. Vợ con tôi đói. Tôi lạy van, xin họ trả xe tôi, để tôi đi làm. Có tiền, tôi sẽ nộp phạt sau. Mấy ngày liền, tôi lên đồn cầu xin. Họ không chịu trả xe, còn xô đuổi tôi. Tôi uất quá, đứng trước cửa đồn kêu trời, kêu đất, kêu tên các ông Lê-Duẩn, Trường-Chinh, kể nỗi khổ của gia đình tôi. Thế là tôi bị giải vào đây. Đã mười bốn tháng rồi. Tôi không biết chữ, xin bác làm ơn, làm phúc viết giùm cái đơn xin nhà nước tha cho tôi.
– Cán bộ hỏi cung nói bác phạm tội gì? Bác có chửi bới gì không?
– Tôi đâu dám chửi bới! Tôi chỉ kêu trời, kêu đất, kêu tên các ông ấy thôi. Nhưng ông chấp pháp bảo là tôi đã lăng mạ các lãnh tụ. Tôi phải nói dối là lúc đó tôi say rượu, nên mới dại dột kêu la như thế. Ông chấp pháp mắng, bảo tôi say rượu, sao không lôi tên bố, tên mẹ ra mà kêu. Tôi khóc lóc, van xin ông ấy. Ông ấy bắt phải điểm chỉ vào biên bản nhận là đã lăng mạ lãnh tụ. Tôi không chịu. Đã tám tháng nay, tôi không bị đi cung nữa. Bác xem liệu tôi có được tha không?
– Bác trước có dính líu hoặc làm việc cho Pháp không?
– Không, tôi trước là cu li kéo xe đường Hà-Nội – Hà-Đông. Mấy chục năm nay thì đạp xích lô.
Lão già suy nghĩ:
– Tôi không chắc chắn. Nhưng may ra thì bác sẽ được tha. Còn việc làm đơn, thì bác phải xin phép quản giáo. Nếu được, tôi sẽ viết hộ bác. Gia đình có tiếp tế đều cho bác không?
– Vợ con tôi nghèo. Độ ba bốn tháng, mới có một lần.
– Thôi, bác đừng lo nghĩ quá. Cố kiên nhẫn chờ đợi. Có thể có hy vọng.
Ở ngoài sân, tiếng công an vũ trang quát lớn:
– 9 giờ rồi. Tất cả trật tự. Đi ngủ!
Tên trực trong đứng dậy, hô:
– Những thằng mới vào hôm nay, đứng ra góc kia! Còn tất cả nằm vào chỗ!
Ba chục tên mới vào trong ngày, chen chúc đứng ở một khoảng chỗ cửa ra vào, rộng độ 3 thước vuông. Đây là khoảng trống, không ai được phép nằm, ngồi, hoặc lảng vảng. Trừ trường hợp đi uống nước ở một thùng nước đặt phía ngoài song sắt.
Đám tù còn lại chen nhau nằm trên hai sàn, trên lối đi giữa phòng. Không một kẽ hở. Tất cả phải nằm úp thìa, chân co lại. Trong nhà mét, một chục tên nằm, ngồi, ngổn ngang.
Trực trong huấn thị:
– Những thằng mới vào nghe kỹ! Cấm khạc nhổ xuống sàn. Thằng nào vi phạm ăn năm chân giò vào ngực, bắt nuốt chỗ đờm nhổ ra, phạt nằm nhà mét một tuần. Thằng nào múc nước uống, lợi dụng nhúng tay ghẻ lở máu mủ vào thùng để rửa, hình phạt tương tự! Đây là giữ vệ sinh cho chúng mày. Chúng tao đã mang nước riêng vào để uống. Cấm ngặt đi tới chỗ tự giác nằm. Thằng nào vi phạm, một chục chân giò, nằm nhà mét một tháng! Trong bọn mày, những thằng tim la, nổ ống khói, sẽ xếp nằm vào một góc. Còn 36 điều nội quy, ngày mai chúng mày sẽ học. Hãy nhìn khẩu hiệu trên tường “Ba sạch: Ăn sạch. Ở sạch. Nội vụ sạch”. Phải chấp hành. Phòng 14 này là phòng tiên tiến của Hỏa-Lò.
Nói xong, trực trong bàn với trưởng phòng:
– Hơn ba chục tên, bây giờ nhét vào đâu?
– Đành phải lèn chúng nó vào bằng được!
Trực trong gọi từng tên một, chêm vào đống người:
– Dồn lại! Dồn lại!
Miệng hô, gót chân nện vào bụng, vào ngực những thằng đương nằm, cố có được một khoảng trống độ 15 phân để chêm được thêm một tên. Vất vả độ 15 phút, cũng chỉ thêm được 7 tên.
Trực trong lau mồ hôi, cười:
– Dùng phương pháp xếp chỗ bằng gót chân mà cũng chỉ được có thế. Số còn lại, bây giờ tính sao?
Trưởng phòng suy tính không ra, cuối cùng nói:
– Trước hết hãy tống mười thằng vào nhà mét, thay thế bọn đã nằm ở đó mấy đêm rồi.
Trực trong gọi bọn trong nhà mét ra, dẫn tám tên mới và hai tên bị ăn chân giò lúc nẫy vào. Trưởng phòng hội ý với bọn tự giác, bàn giải quyết hơn hai chục tên chưa có chỗ. Không ai tìm được “phương án” nào.
Tù trưởng vỗ trán nói:
– Tao có biện pháp! Cho chúng nó “tạc tượng”, nghĩa là đứng dựa lưng vào tường đêm nay. Đêm mai, sẽ thay lớp khác.
Cả bọn hớn hở, mặt mũi “tưng bừng ngày hội”.
– Một sáng kiến hay! Một sáng kiến vĩ đại!
Lập tức hơn hai chục “pho tượng” được đặt dọc theo hai bức tường, sau một đợt xê xích, co cụm của đống người.
Tù trưởng đắc ý nói với lão già:
– Thế là ổn! Tí nữa em buông màn, đại ca ngủ chung với em. Muỗi nhiều lắm. Lại rệp nữa. Nhưng từng này người, chúng đốt đến no thì cũng phải thôi!
– Thằng quản giáo bắt tao phải nằm nhà mét. Trái lệnh nó, anh em tự giác có bị lôi thôi không?
Trưởng phòng cười:
– Đêm nó còn ôm vợ nó. Làm sao nó biết được. Còn chuyện bẩm báo ngầm thì phòng này nghiêm lắm, không bao giờ xảy ra. Đối với bọn ăng-ten, chúng em rất Phát-xít. Hitler còn phải gọi bằng cụ tổ! Hơn nữa, nó đối với bọn em cũng cùng một phe. Dựa vào nhau mà sống cả.
Tên trực trong đứng dậy vươn vai:
– Thằng “chủ ngân hàng” đâu, đưa tao một ít đô la!
Một tên tự giác, đầu húi trọc, mắt ốc nhồi, lông mày chổi xể, đương nằm vỗ tay lên cái bụng phệ, ư ử nghêu ngao: “Tình bằng có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ, nó to… to ra…”. Nghe tiếng tên trực trong, hắn nặng nề nhỏm ngồi dậy, lấy ở đầu chiếu một tập, vừa giấy báo, vừa giấy xi-măng còn dính những hạt xôi khô cứng, hoặc loang lổ những vết dầu của muối vừng thấm vào.
Hắn đưa cho trực trong bốn mảnh giấy báo to bằng bàn tay, rồi nói lớn:
– Mười một giờ là ngân hàng đóng cửa. Quý vị nào cần ngoại tệ mạnh hãy lưu ý.
Tù trưởng cười:
– Đại ca có biết không, giấy chùi đít ở Hỏa-Lò còn quý hơn đô-la Mỹ. Để phòng việc thông cung, các loại giấy bị cấm ngặt. Mấy thằng trực ngoài lấy trộm những giấy gói đồ tiếp tế, mở ngân hàng kinh doanh. Đứa nào muốn dùng, phải có quà đấm mõm. Ngân hàng làm ăn khá phát đạt. Bọn vô gia cư thì coi khinh. Chúng lý luận là trâu bò có chùi đít đâu, mà vẫn sống nhăn răng, còn khỏe mạnh nữa. Khẩu hiệu của chúng là “ở bẩn, sống lâu”.
Lão già thở dài:
– Dân trí mình thấp quá nên mới tới nông nỗi này! Hết phong kiến đến thực dân, rồi bây giờ đến cộng sản! Không biết ngày nào mới thấy ánh sáng. Tao già rồi, nhiều lúc cũng nản lòng. Lớp trẻ lớn lên dưới chế độ phần đông tăm tối, hư hỏng…
– Cái gì cũng có thời của nó, đại ca ạ. Đêm mãi rồi cũng phải sáng. Chỉ cần một phần mười dân số như đại ca với em, thì độc tài phát-xít, độc tài cộng sản, chẳng thằng độc tài nào cai trị nổi! Cộng sản làm chủ đất nước, cũng như em đây làm chủ cái phòng này, là nhờ có bạo lực. Nhưng kinh nghiệm xương máu cho bọn đầu gấu chúng em biết cai trị bằng bạo lực chỉ hữu hiệu nhất thời, không bền. Ở các phòng khác, “đảo chính”, đâm chém xảy ra luôn. Em sở dĩ nắm chính quyền được ở đây đã bảy tháng nay, mà không xảy ra bạo loạn, là vì em rất giới hạn việc dùng bạo lực. Em không trấn lột ai, không lừa bịp ai, không đàn áp vô lý ai, xử phạt nghiêm minh. Nhiều khi còn che chở, giúp đỡ bọn rận rệp, tạo điều kiện cho tất cả được thoải mái đôi chút. Khi có nhiều thuốc lào, em vẫn phát cho cả phòng hút. Thằng nào ốm yếu, em miễn cho khỏi nằm nhà mét. Không để thằng nào bắt nạt thằng nào. Do đó, chúng sợ em mà không căm thù em. Em hơn cộng sản là ở chỗ đó! Cộng sản thì chỉ thuần túy dùng lừa bịp, áp chế, bạo lực. Chúng lừa bịp một cách trắng trợn, bạo lực một cách quá đáng. Chúng tồn tại không lâu nữa đâu. Đó là điều chắc chắn.
– Không ngờ đầu óc mày thông minh như vậy. Nhận định của mày đúng lắm. Nhưng cái “không lâu” của lịch sử nhiều khi cũng bằng cái “quá dài” của đời người. Hy vọng lớp tuổi mày sẽ thấy được ngày mai tươi đẹp. Lớp con cháu sẽ được cứu vớt.
– Cũng nhờ đại ca chỉ bảo trước kia. Bản chất em vốn không phải là thằng lưu manh. Em có bao giờ trộm cắp của tư nhân đâu. Em toàn đột các kho hàng của nhà nước. Chúng nó cướp của dân, em cướp lại của chúng nó một tí. Thấm thía gì! Nhưng từ khi gặp đại ca, em đã đi làm nghiêm chỉnh. Em tự kiểm điểm, em thấy em còn lương thiện gấp vạn lần bọn lãnh tụ Đảng!
Photo edit by Sơn râu
– Ở một xã hội bình thường, mày có thể trở thành một nhân tài, vì mày rất thông minh. Nhưng thực tế của xã hội này cũng dạy cho mày những kiến thức quý báu mà nhiều đại trí thức không có. Xét cho cùng, cuộc sống là một cuốn sách vĩ đại nhất. Tất cả các cuốn sách khác đều sao chép từ nó. Nhưng thôi, tao muốn bàn với mày một chuyện thực tế. Tao thấy phòng quá chật, mà bọn mày nằm mỗi người một chiếu quá rộng. Có thể hy sinh một chút, hai người nằm một chiếu, được không?
– Đại ca lúc nào cũng nghĩ đến người khác. Một người tốt như đại ca mà suốt đời đi tù, chứng tỏ cái xã hội này nó xấu xa tới đâu. Em hoàn toàn đồng tình với đại ca. Ngày mai, em sẽ bảo trưởng phòng sắp xếp lại. Muộn rồi, chúng ta làm một hơi rồi buông màn ngủ.
Tù trưởng ngồi dậy, ra lệnh:
– Chuẩn bị bắn phát cuối cùng!
Bọn tự giác, bọn đầu gấu, xúm lai, ngồi thành một vòng tròn. Tên chuyên phụ trách vấn đề “khói lửa” giở bao thuốc, cuộn một điếu thực to, rung đùi, hát tếu: “Rất dài và rất to là những ngày thương nhớ. Nơi cháy lên ngọn lửa là trái tim yêu thương… Là trái tim yêu thương… Em đang mùa hành kinh, pháo anh đành tắc tị” 1. Hắn xé tơi ít bông, lôi cái cán bàn chải có gắn đá lửa, chuẩn bị bật. Nhưng mảnh thủy tinh đã biến đâu mất. Lật tất cả các chiếu lên tìm, vẫn không thấy.
Trưởng phòng mắng:
– Không có nó lấy gì mà bật lửa. Làm ăn chẳng ra sao cả! Còn sáng mai nữa. Dậy không có một hơi, thì tỉnh thế đéo nào được!
Cả bọn nhìn tên phụ trách khói lửa, bực tức.
Tên này cằn nhằn:
– Đéo ai muốn thế! Rõ rệt là để dưới chiếu, chỗ này. Không hiểu sao nó bay đâu!
Lão già xua tay:
– Việc nhỏ, có cách giải quyết.
Dứt lời, lão lấy chiếc kính cận đập mạnh xuống sàn xi-măng. Mắt kính vỡ thành nhiều mảnh. Tù trưởng ngăn lại không kịp.
– Không có kính, đại ca lấy gì mà đọc.
Lão già điềm đạm:
– Có gì đâu mà đọc. Nhìn rõ, nhìn lờ mờ cũng vậy thôi. Cả ngày, cả đêm ở trong phòng này, cần gì đến kính.
Trưởng phòng mắt sáng lên, thán phục:
– Ngang tàng thật! Đúng là tác phong hiệp sĩ. Từ nay, xin bác cho chúng em được gọi bác là đại ca!
Cả bọn nhao nhao:
– Đúng, từ nay, chúng em gọi bác là đại ca!
Lão già xuề xòa:
– Bốn bể đều là anh em. Huống hồ chúng ta lại cùng chung hoạn nạn. Gặp gỡ ở đây cũng là một cái duyên.
– Đi đâu, về chỗ!
Tên trực trong quát bốn, năm gã đương lò rò, loay hoay bước giữa đống người.
– Chúng em đi uống nước.
– Làm gì còn nước mà uống, về chỗ!
Tù trưởng lắc đầu:
– Mùa đông thời đói rét. Mùa hè thời đói khát. Từ 5 giớ chiều tới 7 giờ sáng, chỉ có một thùng nước độ một trăm lít, cho 250 thằng tù. Trời thì nóng như nung, như hấp. Mồ hôi ròng ròng thế này. Nước muối, bo bo nốc vào, chúng nó phải khát cháy họng. Đi mẹ nó trại trung ương ngày nào sớm ngày ấy!
Lão già ngao ngán:
– Trại trung ương có cái khổ của trại trung ương. Đâu cũng cái đất nước Việt-Nam này cả. Ở ngoài xã hội cũng sung sướng gì! Chênh lệch nhau đôi chút!
Trưởng phòng buồn rầu:
– Dù sao ở Hỏa-Lò, gần gia đình, cũng vẫn hơn. Vợ em phải đút lót 8 cây vàng mới được ở lại đây. Mất thêm 3 cây nữa mới được làm tự giác. Cũng may là em khôn, không khai báo hết. Có nhiều ông to liên quan tới vụ em. Em chỉ là một mắt xích nhỏ. Chính nhờ mấy ông ấy cứu, nên em chỉ bị kết án có 4 năm tù. Nhưng nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Bốn năm cũng ê ẩm rồi!
Tù trưởng cười:
– Bốn năm, bóc bốn cái bánh chưng tết. So với đại ca đây, chỉ là một giấc ngủ trưa!
Lão già tính toán:
– Bốn năm, chưa được một nửa cái “ờ” của ông Tố-Hữu. “Ờ, đã chín năm rồi đấy nhỉ. Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ”.
Cả bọn cười sặc sụa:
– Bố già hóm hỉnh thật!
– Noi gương Tố-Hữu, chúng ta cứ “trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!”
Những tiếng chửi bới, những tiếng uỳnh uỵch từ chỗ gần nhà mét vọng lại.
Trực trong đứng dậy:
– Câm ngay! Đứa nào mất trật tự, gây gổ, ông cho ăn chân giò vỡ mõm!
Lập tức, im lặng trở lại.
Trưởng phòng nói với lão già:
– Phòng đông, lại nóng nực thế này. Không có kỷ luật thép thì chúng nó cắn xé nhau chết. Đêm nào cũng chí chóe nhau suốt. Đã chuyển bớt một số tù tới Xuân-Hòa, cách đây độ hai chục cây. Nghe đâu nhà nước có kế hoạch xây một nhà tù to lắm ở ngoại thành. Cái Hỏa-Lò này trở thành lạc hậu rồi!
Lão già giọng đăm chiêu:
– Tôi có ý kiến với các bạn thế này. Tù trưởng đã nghĩ ra cách tạc tượng rất hay. Những người bị tạc tượng ban đêm, sáng mai cho họ ngủ bù, không phải ngồi xếp hàng nữa. Còn trong nhà mét, không để ai nằm. Hai bên tường còn nhiều chỗ. Chúng ta ngồi tận đây, gần cửa, mà mùi khai thối còn khó chịu. Nằm trong nhà mét, kinh tởm quá. Họ cùng cảnh ngộ như chúng ta, phải thông cảm. Từng này con người mà chỉ có một cầu tiêu con!
Tù trưởng tán thành:
– Đại ca nói đúng. Nhưng bây giờ khuya rồi. Nhiều đứa đã mệt ngủ. Không nên phá giấc của chúng. Tối mai sẽ bố trí lại. Chứ để một chục thằng nằm nhà mét, mỗi khi đi tiểu rất phiền. Cũng may là bọn rận rệp chỉ ăn tiêu chuẩn trại, tí bo bo, tí nước muối, thiếu rau, táo bón, năm, sáu hôm, chúng mới đi một lần. Mồ hôi ra nhiều, nước không có uống, nên đi tiểu cũng ít. Nếu không, thì nhà mét đã ngập ngụa lên!
Trưởng phòng hơi lo ngại:
– Có điều là ban ngày, nội quy bắt trong giờ hành chính, tất cả phải ngồi xếp hàng ngay ngắn. Nếu cho những thằng tạc tượng nằm, tên quản giáo nó biết được thì…
Lão già gạt đi:
– Anh không ngại. Tên quản giáo phải sợ anh, chứ anh không phải sợ nó. Anh đã có đủ bằng cớ, cả nhân chứng lẫn vật chứng, để đưa nó vào đây nằm với anh đó! Nếu nó biết, anh giải thích, nó phải nghe, phải hiểu. Còn Ban Giám Thị có tình cờ vào đây, anh để tôi đối phó.
Trực trong chửi:
– Đ… mẹ chúng nó! Chúng nó sợ hôi thối, có bao giờ bước chân vào phòng đâu mà phải lo! Giờ đếm tù trong phòng, mất độ một phút, nó với thằng võ trang cũng phải đeo khẩu trang!
Tù trưởng thán phục:
– Đại ca lợi hại thật. Mình đã biết “tử huyệt” của nó. Phải bắt nó kiềng mình! Đến nỗi nào mà mang cái xoong, cái bát, cái thìa vào cũng sợ nó biết. Nó sắm được đồng hồ, xe đạp, đài đóm, cũng nhờ ở chúng mình. Nó chỉ quẳng cho ít thuốc lào. Bắt nó phải nhả ra nữa!
Trưởng phòng không tán thành:
– Nó cũng ngơ đi cho bọn mình nhiều đấy chứ. Nó quái lắm. Giấu thế nào được nó. Già néo đứt dây thì phiền.
Lão già đồng tình:
– Đúng, không nên cứng quá. Cần thiết, cảnh cáo nhẹ, là nó phải biết điều thôi. Sở dĩ ở Hỏa-Lò này, từ thằng đội trưởng quản giáo tới tên chánh giám thị đều không dám quá đáng với tao, cũng chỉ vì tao ở đây gần ba năm, tình cờ biết rõ một số vụ việc của chúng. Tao chỉ bóng gió cho chúng hiểu là tao nắm vững vấn đề. Người của Bộ lại hay gặp tao, chúng càng chờn. Cứ duy trì tình trạng đó, có lợi cho mình hơn.
Tù trưởng thắc mắc:
– Thế tại sao đại ca lại bị cùm ròng rã tám tháng?
– Hình phạt này là do lệnh của Bộ. Tao phải chuyển từ xà-lim ra đây, cũng là do lệnh của Bộ. Dụng ý của họ là muốn đày tao sống với tù hình sự, để bọn đầu trộm đuôi cướp trị tao, cho tao phải sống dở, chết dở. Không liên quan gì tới Ban Giám Thị Hỏa-Lò. Đối với tao sống chết không thành vấn đề. Nhưng còn sống ngày nào, là còn phải chiến đấu. Mà chiến đấu thời phải khôn ngoan, tỉnh táo, biết tính toán, cân nhắc.
Tù trưởng lắc đầu:
– Đại ca không giải thích thì làm sao em hiểu nổi! Lúc nào tiện, đại ca kể cho em nghe vụ việc của đại ca. Chắc phải ly kỳ lắm?
Lão già đứng dậy:
– Tất nhiên là tao sẽ kể cho mày nghe. Nhưng không có gì ly kỳ cả. Chuyện của tao đâu phải là truyện trinh thám, gián điệp. Tao đi tiểu một cái. Khuya rồi.
Trực trong sốt sắng:
– Em cũng đi một thể. Đại ca để em dẫn đi. Phải có võ hoặc diễn viên xiếc mới có thể đi mà không dẫm, không ngã lên đống người này!
Trực trong nắm tay lão già dẫn đi, kẻ trước, người sau. Trước khi bước, phải tìm kẽ hở nào đó giữa đám người nằm chen chúc, để đặt nổi năm đầu ngón chân xuống. Có những chỗ quá xa không bước nổi, phải nhảy tới, rồi đứng lò cò. Rất dễ đạp lên mặt, lên cổ, lên ngực, lên tay, lên chân những người nằm, rồi ngã đè lên họ. Lão già chịu. Không thể đi nổi! Trực trong buộc lòng phải dựng chúng ngồi dậy mới đưa lão già tới được cửa nhà mét.
Trong nhà mét, một tên ngồi xổm trên miệng hố xí, gục đầu xuống đùi gối. Một tên khác ngồi ở chỗ bực bước lên hố xí. Đó là hai tên bị ăn chân giò lúc tối. Chúng đã trấn được hai chỗ tốt nhất. Những tên khác, kẻ nằm co quắp ngay trên chổ tiểu tiện. Kẻ ngồi dựa vào tường. Chật kín. Trực trong lại phải dùng đến gót chân, bắt chúng đứng dậy, để có chỗ cho hắn và lão già đứng tiểu tiện. Hai người vừa ra khỏi, chúng lại nằm vật ngay xuống đó. Mùi khai thối khiến lão già thấy cay cả mắt, nhức cả mũi.
Khi về tới chỗ, lão già lắc đầu:
– Nhất thiết phải sắp xếp lại, cho có một lối đi giữa nhà, rộng độ mươi phân, đủ đặt bàn chân. Chỉ cần thêm năm, sáu đứa “tạc tượng” là có một lối đi như thế. Để thế này, mỗi khi đi vào nhà mét thế nào cũng dẫm, cũng ngã lên những đứa nằm!
Trực trong thừa nhận:
– Cứ như thế này, đến em đi cũng không nổi. Đêm nay, đến phiên em thức gác. Thằng chủ ngân hàng ngủ đi! Hai giờ rưỡi sáng đến lượt mày.
– Sao! Phải có người thay phiên thức gác suốt đêm à?
Tù trưởng đã nằm trong màn, vén màn lên, thò đầu ra:
– Đại ca vào màn ngủ đi. Em nói cho đại ca rõ. Phòng này tuy đa số là lưu manh, ăn cắp vặt để sống. Nhưng cũng có một số tên anh chị sừng sỏ, ở ngoài chuyên trấn lột. Có cả những tên đã gây án mạng. Chúng là những tay đao búa, hung hãn. Nhiều tên từng là đặc công. Đảo chính, cướp chính quyền là điều chúng rất muốn. Nhất là trong cảnh cùng cực thế này! Em đã dùng đủ biện pháp ngăn chặn, phân hóa, không cho chúng tụ thành một khối. Hơi có mầm mống biến động là bị tiêu diệt ngay. Em tuy được đa số tâm phục, khẩu phục. Nhưng vẫn phải đề phòng. Không có người gác, lúc ngủ, chúng đến tấn công thì nguy! Chỉ cần một cái kim, một cái đinh, cũng đủ chọc mắt, chọc tiết. Chúng cất giấu, làm sao mà kiểm tra xuể! Vớ được thằng nào yểm những thứ đó, thì nó phải ăn đòn thừa sống thiếu chết. Các phòng khác thường xảy ra các cuộc tập kích đêm. “Cảnh giác cách mạng” là tốt nhất. Bất cứ thằng nào ban đêm mà bén mảng quá cái vạch kia là bị đánh gục ngay. Trừng phạt thích đáng. Tên gác trong giờ gác cấm không được rời vị trí, kể cả đi tiểu. Bọn nằm quanh đây đều được tuyển chọn kỹ, là lâu la của em cả. Giữ vững chính quyền không phải dễ, đại ca ạ. Em còn thiết lập cả một hệ thống điệp viên ngầm, theo dõi tình hình, rồi mật báo cho em kịp thời. Em tổ chức như một nhà nước độc tài. Thú thực, em cũng học được ở bọn cộng sản nhiều.
– Miễn là mày không hiếp đáp những đứa hiền lành. Không đánh người vô cớ là được. Cuộc sống ghê tởm này đúng là một trường tranh đấu, giành giật. Biết làm thế nào khác được! Tao bị cùm, nằm nhiều, xương cốt, mình mẩy nhức mỏi quá!
– Để em gọi một đứa tẩm quất cho đại ca. Kiến hiệu lắm. Em bây giờ đâm nghiền. Tối nào cũng phải làm một quả. Mấy hôm nay, nóng nực quá, nên tạm ngừng. Thằng này tẩm quất chuyên nghiệp. Tay nó sờ vào đâu là kêu răng rắc tới đó. Mỗi lần em cho nó hai vê thuốc lào, gấp đôi những đứa khác. Để em gọi nó.
– Khuya rồi, để mai. Chúng ta ngủ đi. Tây có câu “Ngủ thay ăn”. Ngủ quên đói, quên buồn, quên giận, quên tất. Ngủ!
Nói thế, nhưng lão già có ngủ được đâu. Lão nhắm mắt, nằm im, thở nhè nhẹ, cố giải phóng đầu óc khỏi mọi ý nghĩ, mong chợp đi được vài tiếng. Nhưng đêm nào cũng vậy, như một ám ảnh, thường chập chờn tan, hiện trong mảnh hồn già nua của lão, bao hình ảnh tươi mát của một thời xa xưa lắm, thời lão còn là một chàng trai bừng bừng sức sống, hừng hực khát khao, cuộc đời như cuốn thần thoại thơm ngát, rộng mở những trang huy hoàng, tuyệt mỹ! Ôi, cái thủa ngất ngây, không rượu mà say đó, ánh mắt sáng trong, nỗi lòng sôi động, chân trời lồng lộng, ảo mộng lung linh, đã héo, đã hắt, đã tàn, đã tắt từ lâu dưới bao dập vùi đen tối, sao cứ lấp lánh hiện về! Trái tim bầm giập của lão không còn rớm máu trước mọi cảnh đời, dù là quá khứ, hiện tại, hay tương lai. Lão cố tôi luyện nó để bình thản đối phó với bao thảm cảnh đương diễn ra triền miên trong đời lão, trên quê hương, đất nước lão. Cuộc sống đầy hương sắc, tưng bừng như hoa, ngây ngất như rượu, đã trở thành xa lạ. Lão muốn cho chìm hẳn, không muốn nó lởn vởn trở về. Mấy chục năm giam cầm, lão đã hoà nhập được cả tâm hồn lẫn thể xác vào thế giới tù ngục, một thế giới không có thời gian, không có không gian: Một hốc đen thăm thẳm, hun hút, thảm khốc chất chồng!
Bên cạnh, tù trưởng đã ngủ. Bọn tự giác, bọn đầu gấu đã ngủ. Có lẽ tất cả đã ngủ. Phòng im phăng phắc. Nghe rõ cả tiếng đàn muỗi bay vo vo. Xa xa, tiếng giày của bọn công an võ trang đi tuần vọng lại, lộp bộp. Mình mẩy ê ẩm, biết không ngủ được, lão ngồi dậy, vén màn, lê ra mép sàn ngồi.
Tên trực trong đương ngồi xếp bằng tròn, hai bàn tay để ngửa lên đùi, mắt lim dim. Thấy lão, gã mở mắt:
– Nóng quá, đại ca không ngủ được phải không?
Lão già lấy tay vỗ vỗ vào lưng mình, nói:
– Tôi thường mất ngủ. Anh ngủ đi, tôi gác hộ cho.
Gã cười:
– Đại ca để mặc em. Em đang luyện yoga. Luyện xong, đặt mình xuống là ngủ.
– Vậy tiếp tục luyện đi.
Photo edit by Sơn râu
Lão già cũng ngồi xếp chân bằng tròn, thẳng người, dùng hai tay xoa đầu, xoa mặt, xoa ngực, theo phương pháp “Cốc Đại Phong” mà một bạn tù người Hoa đã dạy lão. Lão ngồi xoa đều đặn, đúng lớp lang. Máu huyết trong người như lưu thông tốt hơn. Ngực đỡ đau. Lưng đỡ mỏi. Tinh thần dần dần tỉnh táo. Lão cứ ngồi xoa nhịp nhàng như vậy. Không nghĩ ngợi gì. Đầu óc thư giãn, dịu lắng…
Đêm về khuya, Hỏa-Lò như một nấm mồ câm lặng. Xa xa, từ khu xà lim 3, một giọng nữ trầm bổng, ai oán, ngân nga một bài hát buồn. Ờ, bài hát này đã lâu lắm rồi, từ hồi còn rất trẻ, lão đã nghe, đã mê. Nhưng sao đêm nay, trong cái tịch mịch âm u của đêm tù, sau gần ba mươi năm trời mới được nghe lại, lão thấy xao động cả cõi lòng! Sao âm điệu nó não nề, thổn thức thế! Cô gái xà-lim hình như trút hết tâm tình, nỗi niềm vào lời ca. Tâm hồn lão như theo tiếng hát bay ngược giòng thời gian, trở lại thuở xa xưa, tình người thơm thảo, mầu đời xanh hồng, óng ả, trăng nước mơ màng, diễm ảo…
Đêm năm xưa, tương tư người hò khoan Âu yếm nâng tà quạt Hôn gió đưa về…
Tiếng hát theo gió, chơi vơi trên sông nước, mênh mang niềm tiếc hận khôn nguôi…
Rót nước vào, chợt thấy bóng Trương lang Quanh chén trà, thuyền trôi theo tiếng đàn Đã thấy tàn, đời không bóng Xuân về …
Lão già chợt thấy hiển hiện cả một chuỗi năm tháng đen xì, vùi dập cuộc đời lão. Lão ngồi thần người, tay nắm chòm râu bạc. Đúng, đúng là “đã thấy tàn, đời không bóng xuân về”. Cổ lão nghèn nghẹn, mắt lão cay cay… Lão rùng người. Không, không thể để cho sự ủy mị thâm nhập! Phải cứng rắn sống với thực tế! Lão vùng đứng thẳng dậy, mặt sa sầm, nhìn suốt phòng. Mấy trăm bộ xương da khẳng khiu, lở loét ngập tràn, nằm ôm cứng lấy nhau, la liệt phủ kín sàn nhà. Mùi tanh tưởi lộn mửa của máu mủ, của mồ hôi, quện với mùi nhà mét bốc lên lan tỏa…Một so sánh chợt tới với lão. Đúng, đúng là một nấm mồ tập thể lộ thiên, chưa lấp đất! Lão đứng dưới đáy huyệt khổng lổ đó, buông thõng hai tay, nhìn trừng trừng vào những xác chết, nhìn vào bóng bộ xương của lão in dài trên mấy bộ xương nằm dưới, nghĩ tới sức sống dai đẳng, bền bỉ phi thường của giống người. Người quả là một sinh vật thích ứng với mọi hoàn cảnh! Trâu, bò, gà, lợn mà cho chúng đói khát thế này, nhốt lèn chúng thế này, liệu chúng sống nổi không? Chắc chắn là không! Chúng sẽ giầy xéo nhau, cắn xé nhau mà chết. Giòi bọ mang tiếng là sống nhung nhúc, chúng cũng còn no đủ, còn có một khoảng không gian sinh tồn để bò ngang, bò dọc! Lão tưởng tưởng tới mười con người đương nằm ngồi ngổn ngang, ngủ vật, ngủ vờ trong một cầu tiêu rộng ba thước vuông, ngập ngụa phân, nước tiểu, khai thối tới ngạt thở! Lão thấy sống thế, thà chết luôn còn hơn! Mấy hôm trước, bọn quản giáo trầm trồ kháo nhau về thành tích của hai nhà du hành vũ trụ Xô-Viết đã sống và làm việc được hơn ba tháng trên con tầu vũ trụ bay quanh trái đất. Một kỷ lục thế giới! Lão cười nhạt, thầm hỏi liệu những anh hùng vũ trụ đó có sống nổi ba ngày trong căn nhà mét này? Nhất định là không! Họ làm sao có thể sánh nổi với mười nhà du hành vũ trụ Việt-Nam đương ngủ khò khò trong cầu tiêu – con tầu vũ trụ của nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam! Mười nhà du hành này mới thực xứng đáng mang danh hiệu Anh-Hùng Vũ-Trụ!
– Dậy, dậy, hai giờ rưỡi rồi. Đến lượt mày gác!
Tên trực trong vừa gọi, vừa lôi cẳng tên “chủ ngân hàng”. Tên này ngồi dậy, chui ra khỏi màn, hoác miệng ngáp một cái gần sái quai hàm, giọng còn ngái ngủ:
– Làm gì mà nhặng lên thế! Đưa đồng hồ đây, xem đúng giờ không.
Hắn nhìn chiếc đồng hồ quả quít cổ lỗ sĩ tên trực trong đưa cho hắn, miệng lầm bầm:
– Mới có 2 giờ 25. Có năm phút mà cũng phải gian lận.
– Đồng hồ này chậm năm phút. Gian lận cái gì?
Tên trực trong giật lại, rồi chui vào màn.
Lão già muốn đi tiểu, nhưng thấy không thể vượt qua đống người, đành cố nhịn, nhẹ nhàng chui vào màn. Tù trưởng vẫn ngủ mê mệt. Tuổi trẻ lợi hại thực! Lão nghĩ tới những năm tháng, những gian lao, đày ải lão đã chịu đựng. Nếu không có tuổi trẻ đầy sức sống, đầy ý chí, làm sao vượt qua nổi mấy chục năm kiếp người mà phải sống kiếp khỉ đó!
Bây giờ lão già rồi. Thể xác, tinh thần đều mòn mỏi, cùn nhụt, chùng nhão, mất hết sức bật. Chặng đường trước mắt nghĩ tới mà khủng khiếp! Biết sức tàn, từ mấy năm nay, lão sống bằng thiền. Mọi việc ngang trái, bất công bỏ ngoài tai. Trước những cảnh điêu trá, tàn bạo, hạ nhục con người, lão chỉ thở dài, không còn lên tiếng phản đối như trước. Lao động trí óc, lão cũng ngừng. Tử thần luôn vờn quanh, giơ lưỡi hái, dọa dẫm. Lão không sợ chết. Chết đối với lão là một sự giải thoát. Lòng đất nâu là chiếc giường muôn thủa. Hai tay buông xuôi, mắt nhắm, nằm đó, là tịch diệt mọi phiền não, khổ lụy cõi hồng trần. Nhưng lão muốn sống, dù sống dưới trăm cay, ngàn đắng, sống trong sự tra tấn từng phút, từng giờ của cơ hàn, tủi nhục, uất hận. Lão cố sống. Lão không được phép sợ sống! Công việc của lão còn dở dang. Lão phải sống. Sống để giương đôi mắt đỏ ngầu quan sát cuộc đời xám xịt trùng trùng vây bủa đất nước lão, đồng bào lão. Nhiều đợt suy kiệt quá, muốn đổ, lão phải mượn của Trời, Phật, chút sức mạnh để vững trụ. Qua nhiều lần thoát hiểm, lão đâm ra tin ở Trời, ở số mệnh. Niềm tin này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự trường tồn của lão. Suy nghĩ miên man, lão thiếp đi lúc nào không biết…
– Cho tôi cốc nước cam… Làm ơn, làm phúc cho tôi bát cháo… hừ hừ… cháo gà ấy… hừ… hừ…
Tiếng rên rỉ, tiếng kêu xin khắc khoải, mê loạn, lập đi, lập lại nhiều lần, làm lão già thức giấc.
– Sao em không tiếp tế cho anh… hừ hừ… nước chanh đá… cháo… hừ hừ…
Lão ngồi hẳn dậy, vén màn bò ra, nhìn về phía nhà mét.
Một tên tù gần đấy đứng dậy, lò rò đi tiểu. Tới gần nhà mét, hắn dừng lại, lấy chân đá mạnh vào một tên đương nằm:
– Đ… mẹ mày. Điên à, nước cam với cháo gà, kêu mãi làm bố mất ngủ. Không câm họng, bố đạp chết!
Lão già len qua dẫy màn, tìm can nước của tự giác. Lão nhấc chiếc can nhựa 20 lít lên, lắc lắc. Không còn một giọt.
– Đại ca uống nước à?
Tù trưởng vừa thức giấc, hỏi lão.
– Không, tao định xem còn nước không, để cho thằng đang rên uống một hớp. Nhưng hết nhẵn cả rồi.
– Đại ca ngủ đi. Mới khoảng 5 giờ sáng. Hai tiếng nữa, cửa mở ra rửa mặt, nó sẽ uống. Đêm nào chả có thằng ngủ mê kêu la.
Tiếng rên rỉ phía nhà mét lại vọng tới, yếu ớt:
– Ối mẹ ơi… cho con nước cam… xôi, chuối, thịt… hừ hừ… thịt mỡ luộc ấy… hừ hừ… mẹ ơi…ối…
Tù trưởng lắc đầu:
– Đói khát quá, mê sảng toàn mê ăn mê uống!
Trực trong quát lớn:
– Thằng nào còn lảm nhảm, bố cho năm chân giò bây giờ!
Tiếng rên tắt hẳn có lẽ vì sợ ăn “chân giò”.
Lão già lấy khăn lau mồ hôi:
– Mới hơn 5 giờ sáng mà đã nóng thế này. Ngày hôm nay xem ra còn nóng dữ hơn hôm qua. Nóng liền một tuần rồi. Thế nào cũng nổi giông bão. Mày thấy không ngủ được nữa, thì bỏ màn ra cho thoáng.
Tù trưởng đứng dậy tháo màn:
– Em ngủ đủ rồi. Buông màn thì đỡ khai thối một chút, nhưng nóng hơn. Em ở đây bó cẳng lắm. Chỉ mong được đi trại.
– Tao thấy nhiều thằng ở trại lại mong về Hỏa-Lò. Tâm lý con người vốn thích thay đổi. Mày cũng biết rồi đấy. Những quả đồi mênh mông, mả tù san sát như bát úp, đủ hiểu cuộc sống trên trại như thế nào. Phải an tâm mà sống. Đừng đứng núi này trông núi nọ. Số phận tới đâu hay đó.
– Nhưng sống mãi ở một nơi cũng chán. Gặp đại ca là em vui lắm. Đại ca này, không hiểu tù đế quốc có khá không?
Lão già trầm ngâm:
– Nhà tù thực dân, đế quốc, hiệu quả kém lắm. Bọn cộng sản không sợ. Chúng coi nhà tù là một trường học. Mà là trường học thật! Nhiều tên vào không biết tiếng Pháp. Ra tù, đã đọc được sách báo tiếng Pháp. Chúng còn có cả tổ chức đảng, kết nạp cả đảng viên trong tù. Chúng mở lớp huấn luyện chính trị, học tập văn hóa. Ăn uống đầy đủ, sách báo không thiếu. Mày cứ đọc những cuốn hồi ký của chính mấy lãnh tụ cộng sản kể lại sinh hoạt trong tù của họ thì rõ. Thời Nga Hoàng, Lê-Nin bị đi đầy ba năm ở Si-bê-ri. Y đọc sách, viết sách, câu cá, săn bắn, cưới cả vợ! Vì thế có ra tù, vào tù, chúng cũng không sợ. Lại nổi tiếng là anh hùng cách mạng! Rút kinh nghiệm đó, cộng sản xây dựng một hệ thống trại tù kinh hồn, táng đởm, tiêu diệt mọi sinh lực, tiêu diệt mọi ý chí. Thực chất là những trường bắn im lìm, không tiếng súng. Những lò thiêu không cần lửa điện. Thằng nào sống sót ra được, mười năm sau, ngủ ở nhà với vợ vẫn còn thấy ác mộng!
Tù trưởng trợn mắt:
– Phải công nhận chúng chơi độc! Nhưng nếu không đứng vững, xập tiệm thì bỏ mẹ. Dân sẽ băm nát chúng! Hút một điếu, chúc chúng mau xập tiệm! Thằng khói lửa đâu, chuẩn bị bắn một phát, khai mạc ngày mới!
Tất cả bọn tự giác, bọn đầu gấu, tháo màn, gấp lại. Sau khi bắn một hơi say sưa, trực trong ra lệnh:
– Tất cả dậy! Những thằng nhà mét ra ngoài!
Mười tên trong nhà mét lóp ngóp đi ra. Hàng chục tên xếp hàng đợi vào đại tiện, tiểu tiện.
Đột nhiên, một tiếng kêu hốt hoảng:
– Báo cáo trưởng phòng, có người chết!
– Thằng nằm cạnh em, nó chết rồi!
Những tiếng ồn ào nổi lên, nhộn nhạo.
Trưởng phòng đứng dậy, quát:
-Tất cả dẹp sang hai bên! Im lặng, giữ trật tự!
Trưởng phòng, trực trong, tù trưởng, lão già đi tới cửa nhà mét. Một thanh niên đầu trọc, cởi trần, mặc quần đùi, nằm ngoẹo đầu sang một bên, mắt trừng trừng.
Lão già ngồi xuống, để tay lên mũi hắn, rồi bò ra, áp tai vào ngực.
Lão đứng dậy nói với trưởng phòng:
– Thì ra lúc nó mê sảng, rên rỉ, là lúc nó đang hấp hối. Chúng ta hãy khiêng nó để nằm một nơi khác…
Hai tên tự giác khiêng xác để lên sàn, sát tường nhà mét.
Trực trong chạy ra cửa, kêu lớn:
– Báo cáo cán bộ! Phòng 14 có người chết!
Hắn kêu hàng chục lần. Không ai trả lời.
Phía cuối phòng xôn xao, bàn tán:
– Nó mới vào có hơn một tuần thôi.
– Quê nó ở Bất-Bạt, Sơn-Tây.
– Nó là bộ đội giải ngũ đấy.
– Nó nói nó chửi chủ nhiệm hợp tác tham ô, nên mới bị bắt.
– Nó vợ con gì chưa?
– Hôm kia nó khai ốm, xin thuốc, y sĩ còn tát nó, bảo nó ốm vờ.
Ngoài sân, một gã nhà bếp đi tới cửa phòng lấy thùng nước như thường lệ mỗi sáng. Trực trong chạy ra nhờ:
– Anh báo hộ với cán bộ là phòng 14 có người chết.
Tên nhà bếp bình thản:
– Chưa thấy bóng ông nào cả. Nếu thấy, tôi sẽ báo.
Nói xong, hắn lẳng lặng xách thùng, bỏ đi.
Từ nẫy, lão già vẫn ngồi lặng thinh. Như chợt nhớ ra điều gì, lão gọi trưởng phòng tới, bảo:
– Anh xem quần áo của nó đâu, cho người mặc vào cho nó.
Trưởng phòng đi về phía cuối phòng, hỏi:
– Quần áo của thằng chết đâu?
Một tên thọt chân, tập tễnh đứng dậy:
– Báo cáo anh, nó chỉ có cái áo. Quần nó đã xé ra chùi đít rồi. Còn có một mảnh này thôi.
Tên thọt giơ cái áo và cái quần dài chỉ còn một ống lên.
– Mặc áo cho nó.
Tên thọt tới bên xác chết, dựng ngồi dậy. Gã “hồ hỏng, hồ vỡ” sốt sắng tới giúp một tay.
– Em muốn mặc cho nó cái quần của em, có được không?
– Mày thừa quần? Mày quen nó ở ngoài à?
Tên thọt, mặt rầu rầu:
– Em không quen nó. Nhưng nó với em nằm cạnh nhau hơn một tuần rồi, cũng coi như bạn.
– Được, mặc nốt cho nó.
Có tiếng lọc xọc mở khoá.
Trưởng phòng vội chạy ra cửa:
– Báo cáo cán bộ, có một thằng chết.
Hai tên quản giáo đeo khẩu trang, bước vào phòng:
– Nó nằm đâu?
– Báo cáo cán bộ, ở góc kia.
Tất cả bọn tù đứng dạt ra, im phăng phắc. Một tên cán bộ lấy máy ảnh, chụp xác chết. Lách tách 3 cái liền.
– Khiêng nó để ra sân!
Hai tên tự giác, thằng cầm hai vai, thằng cầm hai chân, khiêng tên chết đi ra ngoài. Gã “hồ hỏng, hồ vỡ” vừa cởi áo, vừa chạy theo:
– Các anh lấy cái áo này phủ lên mặt nó!
Tù trưởng mắng:
– Có một cái áo độc nhất. Đi trại, mày cởi trần đi à? Đây, lấy cái màn này phủ cho nó.
Tù trưởng quẳng cái màn của mình cho một tên tự giác. Xác chết được đặt ở giữa sân. Chiếc màn mầu cháo lòng phủ kín toàn thân.
– Khẩn trương lên, vào!
Mấy tên tự giác hấp tấp chạy vào phòng, kéo cửa đóng lại. Một tên quản giáo bấm khóa. Rồi cả hai lột khẩu trang ra, bỏ đi.
Lão già nói với tù trưởng, vẻ xúc động:
– Cuộc đời cơ cực, tàn bạo này, tình người vẫn còn, chưa mất hẳn. Từ nay nên ưu tiên một chút cho tên “hồ hỏng, hồ vỡ” với tên thọt.
– Xin chấp hành lệnh của đại ca! Thằng “khói lửa” đâu, làm một phát xua tan cái tử khí ở phòng này đi!
Cả bọn lại quây thành hình vòng tròn. Nghi lễ khai hỏa long trọng tiến hành.
– Thằng thọt, thằng “hồ hỏng, hồ vỡ” lại đây!
Nghe tù trưởng quát gọi, hai tên lập cập tới, sợ hãi:
– Chúng em có vi phạm gì đâu!
– Ngồi xuống sàn. Hôm nay phải phạt chúng mày!
Hai gã run rẩy ngồi xuống lòng sàn, van xin:
– Chúng em có điều gì sai, anh tha cho!
Tù trưởng cười ha hả:
– Không tha được! Hôm nay phạt chúng mày, mỗi đứa phải kéo một hơi tới lăn đùng ra!
Tưởng là họa. Đột nhiên lại chuyển sang phúc. Hai gã mặt mày rạng rỡ:
– Cảm ơn anh, cảm ơn anh.
Tên “khói lửa” cắm vào mồm mỗi đứa một điếu sâu kèn, ra lệnh:
– Kéo cho hết!
Toàn phòng nhìn chằm chằm, không chớp mắt, vào hai điếu thuốc rực hồng, lem lém cháy. Hai gã kéo xong một hơi dài, lăn quay ra sàn, mắt lờ đờ, dớt dãi chảy ra mép. Thấy cả phòng ngồi nhìn, thèm khát cực độ. Tù trưởng tuyên bố:
– Tối nay, cho tất cả bọn bay mỗi đứa bắn một phát!
Tất cả ồ lên, nhao nhao:
– Hoan hô tù trưởng! Hoan hô tù trưởng!
Một tên khoái quá, la lớn:
– Tù trưởng muôn năm!
Tù trưởng mắng:
– Muôn năm ở đây để bỏ mẹ tao à! Chúc đéo gì lại chúc kiểu ấy!
Cả phòng cười ầm lên, vui vẻ.
Bẩy giờ sáng, cửa phòng mở. Lại bắt đầu một ngày như muôn ngày khác. Trực trong cho từng nhóm hai mươi tên ra rửa mặt ở bể nước con. Mỗi đứa được đúng hai bát men. Hai tên tự giác đi lấy một chiếc cáng, đặt xác chết lên khiêng ra ngoài. Qua phòng thường trực, tới dưới giàn nho, chúng đặt cáng xuống cạnh một xác chết khác. Trong Phòng-Thường-Trực, dưới chân dung Hồ-Chủ-Tịch, bốn chữ ” Trị Bệnh Cứu Người “, to tướng, đỏ sậm.
Một nữ y tá công an cười tình với tên công an trực ban:
– Chúng nó chết tự bao giờ thế anh?
– Chúng như bầy heo chồng chất lên nhau, chết lúc nào, ai mà biết được!
Hai gã tự giác được lệnh khiêng hai xác chết lên chiếc xe tù.
Tên chánh giám thị tươi tỉnh, trong chiếc sơ mi cộc tay màu xanh da trời, ném mẩu thuốc lá xuống sân gạch, hỏi tên y sĩ:
– Hôm kia, đồng chí đã đưa mấy thằng chết tới bệnh viện nào?
– Báo cáo thủ trưởng, tới bệnh viện Saint-Paul, bệnh viện 108.
– Hôm nay đưa tới bệnh viện Bạch-Mai, bệnh viện Việt-Đức. Nhớ đưa tản ra các bệnh viện ở Hà-Nội. Con số tử vong phải mật!
– Báo cáo thủ trưởng, tôi vẫn phân tán như vậy.
Nói xong, hắn leo lên xe, ngồi cạnh gã tài xế, để hai bìa hồ sơ lên đùi. Hai tên tự giác bị đuổi về phòng.
Chiếc xe từ từ lăn bánh, chở hai tên tù đã được “trị hết mọi thứ bệnh”, ra khỏi Hoả-Lò…
——————————–
1 Nguyên văn là “Rất dài và rất xa… Anh đang mùa hành quân pháo ngân dài chiến dịch.”
Sáng hôm ấy, Tư Cầu vừa đi thăm ruộng về tới đầu xóm thì thấy thiên hạ đâu đâu cũng có vẻ nhốn nháo khác thường. Anh ta chưa kịp hỏi han ai thì đã thấy Ba Kiên từ phía đằng nhà đi xâm xâm lại:
– Ê Tư, mầy dìa nhà mau đi! Trọn nhà đang mong mầy hết hơi hết sức đó!
Tư Cầu lo sợ hỏi liền lại:
– Ủa chuyện gì đó anh?
Ba Kiên trố mắt:
– Bộ mày hổng hay biết gì ráo?
Tư Cầu lắc đầu. Ba Kiên đưa hai tay lên cao ra vẻ chán ngán:
– Trời đất ơi, Thổ dậy lung tung và nghe nói tụi nó sắp tới đây nè mầy ơi!
– Rồi sao nữa anh?
Ba Kiên chặc lưỡi:
– Ờ coi, thằng nầy không biết đách gì hết: chớ mầy hổng nghe nói Thổ nó lấy phảng kéo ngay cán ra hết để đi “cáp duồng” (làm cỏ người Việt) đó sao?
Tư Cầu gục gặc đầu:
– Hèn chi tui thấy thiên hạ coi bộ có vẻ dớn dác hết… Mà bây giờ anh đi đâu nữa đây?
– Coi, thằng nầy hỏi mới lạ không! Tao phải kiếm chỗ dông trước chớ để ở đây… (nói đến đó, Ba Kiên lấy bàn tay bộ cưa ngang nơi cổ)
Tư Cầu gượng cười:
– Nói như anh vậy bà con cô bác ở đây ngủm cù đeo hết sao anh? Mình phải lo kiếm cách gì chống trả lại chớ!
Ba Kiên nhún vai:
– Thôi mầy giỏi thì mầy lo đi… Ờ tao nói ở nhà tía má đương đợi mầy lung lắm. Thì cũng chuyện đó đó, mầy có dịp lo sốt vó đa!
Tư Cầu nôn nao hỏi liền:
– Ý tôi quên nữa. Chuyện gì dữ vậy anh?
– Thì mầy dìa rồi sẽ biết… Thôi tao dông lên chợ đây!
Tư Cầu vừa bước vô khỏi cửa rào thì đã thấy tía má và thằng Năm từ trong nhà đổ xô ra. Tư Cầu còn đang ngơ ngác chưa kịp hỏi han gì thì bác Hai gái đã chạy đến bên anh ta thì thầm:
– Hổng êm rồi Tư à…
Nói đến đó bác đưa mắt nhìn bác Hai trai như để hỏi ý kiến. Bác Hai trai hất hàm như để ra hiệu:
– Thì bà nói đại cho nó hay chớ dấu khỉ gì nữa!
Như được trớn bác Hai gái nói một hơi:
– Tư à, mới đây có tin Thổ dậy…
– Cái đó thì con biết rồi nhưng sao nữa hả má!
– … Có người mới qua đây cho hay… hai anh chị ở bển và luôn cả nhà bên con vợ mày đều… hổng êm hết rồi Tư à!
Tư Cầu nóng một hỏi dồn:
– Hổng êm là sao hả má? Bộ “bị”… hết rồi sao?
Bác Hai gái buồn bã gật đầu.
– Còn con vợ con đâu má?
Bác Hai gái chỉ vào trong nhà:
– Nó ở trỏng chớ đâu… Được tin nầy, nó khóc bất kể và đòi dìa bển nằng nặc…
Bác Hai trai mới lên tiếng chen vào:
– Nhè lúc nầy mà nó đòi dìa bển đâu có được! Tao nói hết lời mà nó cũng hổng chịu nghe, vậy mầy vô khuyên bảo nó coi có ăn thua chút nào không?
Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng đi tuốt vào nhà.
.. Vừa thấy mặt chồng ló mặt vô, Thơm khóc rống lên. Tư Cầu vội chạy đến đứng bên cạnh vợ tìm lời an ủi:
– Thôi nín đi em à! Cái chuyện dĩ lỡ ra rồi, tai trời ách nước tùm lum lên hết chớ bộ có riêng nhà mình sao. Mà chuyện đó… có thiệt hông hay là em chỉ nghe thiên hạ đồn bá láp.
Thơm lấy vạt áo hỉ mũi rồi đáp:
– Đồn khỉ gì, người qua bên này cho hay là bà con lối xóm… người ta thấy tận con mắt và chạy thiếu điều hụt hơi mới thoát đó!
– Vậy hả! Mà em còn tính dìa bển làm chi nữa! Em láng cháng ở đó nó chặt luôn rồi sao?
Thơm đưa tay quẹt nước mắt:
– Thì em cũng phải qua bển để thăm nhà cửa còn hay bị đốt rụi hết… Và phải lo chôn cất ba má và thằng Ba nữa, chớ bộ để đó cho ruồi bu kiến đậu hay cho diều quạ kên kên rỉa tha đi sao!
Tư Cầu ấp úng nói:
– Thì phải rồi.. nhưng thời buổi này là thời buổi loạn lạc tứ giăng chớ đâu có như hồi đó, bởi vậy mình cũng nên châm chước… Anh chắc ba má và em Ba có khôn thiêng cũng không nỡ oán trách mình và cũng cho mình làm như vậy là phải… Đằng khác, em dìa bển chưa chắc lo được việc tống táng mà rủi bị “rẳng” luôn thì sao?
Thơm hăng hái đáp:
– Em đã nói với anh hôm trước rồi anh hổng còn nhớ hay sao? Em dìa bển thì đã có ông già bà già ruột của em trong sóc bảo lãnh!
Tư Cầu lo ngại bảo vợ:
– Thì đã đành như vậy rồi, nhưng nếu lộn xộn như vầy em dìa bển chắc kẹt luôn chớ không sao qua bên nầy lại được nữa đâu! Mà em nghĩ coi… biết chừng nào mới yên lại như cũ lại!
Thơm ngước mắt lên nhìn chồng:
– Em cũng đã nghĩ ở chỗ đó: em mà dìa chuyến này chưa chắc trở qua liền được, thế nào ông già bà già em trong sóc giữ riết không cho đi nữa đâu. Mà em tính như vậy cũng phải: theo cái điệu lộn xộn lung tung nầy ở bên này chưa chắc gì yên, bởi vậy em muốn anh theo em về bển luôn… anh vô ở trong sóc với em thì không ai động tới mình nữa đâu, chớ ở bên nầy mơi chiều gì đây họ tràn qua khổ hết cả đám!
Tư Cầu do dự đáp:
– Em nghĩ như vậy cũng phải, anh mà dìa bển thì yên thân rồi, nhưng còn nhà cửa ruộng nương, ba má anh em ở bên này rồi bỏ cho ai đây! Thôi thì ai sao mình cũng chịu vậy chớ anh đi một mình anh không đành tâm em à!
Thơm thở dài:
– Thôi được, nếu vậy để em dìa một mình chớ biết sao bây giờ…
– Hay là em để anh đưa em đi, chứ dọc đường dọc xá sợ có chuyện gì trắc trở gì chăng?
Thơm buồn bã lắc đầu:
– Thôi anh à, với cái chuyện lộn xộn nầy, nếu dọc đường có chuyện không hay thì dầu cho có anh theo cũng hổng ăn thua gì hết. Em còn rành tiếng Miên lắm, có bề gì em day trở cũng dễ. Với lại cái đám dậy giặc đó… chắc cũng là người trong mấy cái sóc ở miệt bển chớ đâu!
Tư Cầu nhìn vợ lo lắng:
– Như vậy em đã nhứt quyết dìa bển.. và dìa luôn không biết ngày nào qua phải không?
Thơm ái ngại nắm lấy tay chồng:
– Đáng lẽ ra em nói em chỉ đi một vài bữa, hồi nãy em đã nói với tía má như vậy đó, nhưng với anh em còn dấu làm gì! Em muốn nói thiệt với anh để kêu anh cùng đi… rồi khi nào yên yên mình trở qua đây…
Tư Cầu lắc đầu:
– Anh muốn cùng đi với em lắm, nhưng em nghĩ coi cửa nhà bên này đơn chiếc, vợ chồng anh Hai thì con cái đùm đề, anh Ba thì hễ có chuyện là ảnh dông biệt, thằng Năm thì còn nhỏ… cả nhà quanh đi quẩn lại chỉ còn có một mình anh thôi!
– Em cũng biết như vậy… em không dám nài ép anh nữa, ờ nếu hai vợ chồng mình còn có duyên nợ lâu dài nữa thì… vái trời cho mau yên yên. Thôi để em vô sửa soạn quần áo, em cũng nhờ anh liệu thưa lại với tía má sau khi em đi rồi…
Tư Cầu không biết nói sao nữa chỉ đứng lặng thinh ở đó, rồi lủi thủi đi theo Thơm vô buồng để đứng nhìn vợ gói ghém quần áo…
Khi Thơm ôm gói quần áo ra ngoài nhà thì gặp ngay bác Hai trai và gái đứng lóng ngóng ở đó và có vẻ chờ đợi.
Bác Hai gái liền te te đi lại ân cần hỏi con dâu:
– Sao con dìa bển liền bây giờ sao? (và day qua Tư Cầu) Còn thằng Tư mầy có đưa cỏn đi hông?
Tư Cầu còn đang ấp úng chưa biết trả lời sao cho xuôi thì Thơm đã lên tiếng:
– Con đi một mình cũng được má à! Có anh Tư theo rủi qua bển bị kẹt luôn dìa hổng được thì… khó lòng lắm!
– Vậy con dìa chừng nào qua?
Thơm đưa mắt nhìn Tư Cầu rồi cúi đầu đáp:
– Dạ… chắc con cũng phải ở lại năm mười bữa để lo xong việc nhà. Thời buổi lộn xộn nầy thiệt con không biết chắc trước được, vậy nếu con có bị kẹt qua trễ xin tía má… đừng mong và lo gì ráo, ở bển con quen mặt hết với dân trong sóc…
Đến đây, bác Hai trai mới nói chen vào:
– Thôi con dìa cũng nên ráng cẩn thận gìn giữ. Đáng lẽ gặp lúc hai anh chị ở bển bị nạn như vậy, tía và má của con bên này cũng phải qua bển vừa giúp thăm viếng thì mới trọn cái tình suôi gia. Nhưng con nghĩ coi: ở bên này ai ai cũng đều quýnh đít như ngồi trên dầu sôi lửa đỏ thì có rời đi đâu được!
Thơm vội đáp:
– Dạ điều đó xin tía má yên lòng. Con ở đây mà không rõ hay sao… Thôi con xin phép tía má cho con dìa.
Nói đến đó Thơm sụt sịt khóc làm bác Hai gái cũng kéo cái khăn điều vắt trên vai xuống để chậm nước mắt.
Tư Cầu vội níu nhẹ tay vợ dắt ra đằng trước:
– Thôi em đi cho sớm kẻo muộn… hổng tốt. (đoạn day qua nói với tía má anh ta) Tía má để con đưa vợ con đi một khoảng đường.
Bác Hai trai mau mắn nói thêm vào:
– Ờ mầy đưa con vợ mầy đi tới lộ xe đi Tư!
Tư Cầu lặng lẽ cùng vợ lầm lũi bước ra khỏi cửa rào. Thằng Năm te te chạy theo sau gọi Thơm nho nhỏ:
– Chị Tư, chị Tư!
Tư Cầu quay phắt lại:
– Gì nữa đó mậy?
– Cho em đi theo với… em đưa chị Tư với anh…
– Đừng lộn xộn mầy! Quay trở lại đi cho mau!
Thằng Năm tiu nghỉu đứng khựng lại, Thơm thấy vậy thương hại dừng bước, gượng cười an ủi nó:
– Thôi em vô đi em! Để anh Tư đi với chị cũng được rồi. Em ở lợi mạnh giỏi nghen!
Thằng Năm còn nói vói theo:
– Chị dìa bển rồi qua mau mau nghen chị Tư!
Thấy Thơm còn bịn rịn, Tư Cầu cũng xúc động và để tự trấn áp, anh vội lên tiếng bảo vợ:
– Thôi mình đi đi em!
… Tư Cầu và vợ lủi thủi bước đi không ai nói năng thêm một lời nào nữa. Qua khỏi xóm, con đường đất trong làng trở nên vắng tanh một cách quá thê lương, ruộng đồng trống lỗng không một bóng người, không một bóng trâu… Ai nấy đều lo rút về gom lại ở trong xóm để đề phòng nạn Thổ dậy.
Không khí chết chóc như đè nặng ở đâu đây… Thật giống y một cơn bão tố đang thấy chuyển vần vũ ở một góc trời, và ai ai cũng đoán chắc nó sẽ thổi tới nhưng không rõ là nó sẽ tới đúng vào lúc nào.
… Một con quạ cô độc đậu chênh vênh trên một nhánh gòn khô kêu lên những tiếng khàn khàn rời rạc.
Tư Cầu bỗng nhiên cảm thấy ớn xương sống và những bước chân của anh ta tiến đều trên đường đất kia, y như là để đi sâu vào một vùng tử địa nào đâu. Trong lúc đó, Thơm mím chặt môi xăng xái đi riết tới như nóng lòng muốn cho chóng đến nơi vậy.
… Ra tới lộ xe đi thẳng xuống La Ghì, Thơm đứng lại quay nhìn Tư Cầu và nắm chặt lấy tay chồng:
– Thôi anh đưa em tới đây cũng đủ rồi.
Tư Cầu rưng rưng nước mắt níu chặt bàn tay của vợ, thẫn thờ đáp:
– Ờ… thôi em đi đi kẻo muộn…
Thơm thở dài lắc đầu:
– Hổng biết em dìa chuyến này rồi còn có dịp trở lại gặp mặt anh nữa không!
Tư Cầu chết điếng trong lòng nhưng cũng ráng tìm lời an ủi vợ:
– Ối, sao lại không gặp! Đó với đây có mấy bước chớ có cách sông ngăn núi gì mà em lo quá vậy! Mà anh chắc sắp yên tới bây giờ chớ hổng có sao đâu em à…
Thơm gượng cười:
– Anh nói vậy chớ… còn lâu! (rồi cô buông tay Tư Cầu ra) Thôi anh dìa đi để em đi… chớ bộ cứ đứng hoài hủy ở đây được sao!
Tư Cầu thở dài não nuột:
– Ừ, thôi em đi đi.. nếu yên thì qua liền nghen em, hay là có cái gì thì nhắn tin qua cho anh hay biết kẻo bên này anh nóng ruột lắm nghen!
Thơm nhíu mày có vẻ suy nghĩ rồi đáp:
– Nếu yên em qua liền, anh biết em đi như vầy có vui sướng gì đâu, nhưng em không thể nào làm khác đi được… cha mẹ nuôi em thì như vậy, cha mẹ ruột em thì còn đó. Cái điệu này có ai qua lợi được đâu mà nhắn tin!
– Nếu vậy em đi chuyến nầy kể như… biệt luôn sao?
Thơm lặng thinh một hồi rồi ngập ngừng đáp:
– Để coi mòi có yên không chớ bây giờ em biết sao mà đoán chắc với anh được! (rồi cô liếc nhìn Tư Cầu gượng cười nói thêm) Ối anh lo gì, hổng có vợ nầy thì anh kiếm vợ khác… em nghe nói anh đắt mèo lắm mà!
Tư Cầu cằn nhằn:
– Ý trời ơi, giờ phút này mà em còn nói giỡn được chớ! Em làm ơn dẹp chuyện đó qua một bên đi!
Nhưng Thơm như sẵn trớn tiếp tục nói tới:
– Coi, giỡn khỉ gì, em nói đây kể cũng như… trối lại anh vậy.
Tư Cầu xô nhẹ vai vợ:
– Bậy nà! Em đừng nói vậy hổng nên… hai đứa mình đứa nào đứa nấy cũng xởn xơ như vầy chết chóc gì được mà trối với trăn hổng biết!
– Thời buổi lộn xộn này sống đó chết đó mấy hồi anh! Và em đi chuyến này kể cũng như… biệt luôn đa anh!
Tư Cầu chỉ biết lập lại hai tiếng “bậy nà” để trả lời vợ.
Thơm đổi tay ôm xốc gói quần áo lại:
– Thôi anh trở dìa mạnh giỏi và nhớ liệu lời nói lợi với tía má ở bển dùm em… Em gởi lời thăm thằng Năm nữa nghen!
– Ừa… em đi đi..
Thơm đi được mấy bước bỗng dừng lại, Tư Cầu vội chạy lên:
– Gì nữa đó em?
Thơm đặt gói quần áo xuống đất, đưa tay cởi chiếc vòng bạc chạm ra. Tư Cầu ngạc nhiên hỏi liền:
– Chi vậy em?
Thơm tuy cố gắng mỉm cười nhưng không dấu được giọng nói buồn thảm:
– Thì của anh em trả lại cho anh…
Tư Cầu chưng hửng:
– Coi, anh cho em luôn mà! Em làm gì… kỳ cục quá vậy!
Thơm cầm chiếc vòng nhét vào tay Tư Cầu:
– Anh cầm lấy đi! Hổng phải em chê gì nó nhưng… em muốn để lợi cho anh để sau nầy anh… có cưới vợ khác anh trao cho người ta.
Tư Cầu đẩy tay Thơm ra:
– Bữa nay sao em ăn nói kỳ đời quá! Bộ chuyến nầy em tính bỏ anh hả?
Thơm thở dài:
– Không phải bỏ, nhưng rủi có bề gì thì sao? Bởi vậy em mới muốn anh theo em dìa luôn ở bên nầy mà anh hổng chịu thì thôi. Phần em, dầu cho hổng có cái vụ này em cũng khó lòng mà ở bển luôn nữa được.
– Sao vậy?
Thơm ngập ngừng đôi giây, đoạn nói một hơi:
– Thì… anh nghĩ coi: ở bển, rồi đây bà Phấn bả kiếm cớ lên xuống hoài em chịu sao nổi!
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Trời ơi, xứ sở, nhà cửa, bà con của người ta thì em cũng phải cho người ta dìa thăm chớ bộ cấm cản được sao?
– Thì đó, bị không cấm cản được nên em biết thân em rút lui trước tốt hơn! Chớ để có ngày em… nhịn hết nổi thì sanh chuyện lớn, vừa làm phiền thiên hạ mà vừa khổ thân anh!
Tư Cầu cự nự:
– Cái gì mà có anh vô đó nữa! Ta đã nói… hổng có cái gì hết, hai đàng đã dứt dạt với nhau rồi mà! Bộ em hổng tin sao?
– Thì tin… Nhưng lâu ngày chầy tháng, nó gặp anh nó òn ỉ riết thế nào chẳng có lúc anh xiêu lòng! Em biết phận em lắm… người ta là tình xưa nghĩa cũ, lại sang trọng mướt rượt nè, ăn nói ngọt xớt nè. Em, em còn phải mê chớ đừng nói chi ai…
Tư Cầu lắc đầu chán ngán, rồi nhìn vợ hỏi:
– Chắc tại câu chuyện đó mà em kiếm cớ để dìa bển luôn đó phải không? Hèn chi nói hết lời hết sức em cũng trấm trơ trấm trất hổng chịu nghe.
– Thì cũng sẵn có chuyện kia nên em muốn tính luôn việc nọ cho rồi…
… Vừa lúc đó, có tiếng mõ hồi một và thùng thiếc nổi lên inh ỏi trong xóm kế cận bên lộ xe. Tiếp theo là từng đám khói đen bốc lên cuồn cuộn trên mấy ngọn tre..
Tư Cầu níu tay Thơm, hoảng hốt kêu lớn:
– Chết cha rồi! Chắc tụi nó tới trong xóm đó phải không em?
– Ừa… chắc là như vậy rồi! Thôi anh quay dìa đi… hay là anh muốn đi theo em thì đi luôn, có gặp họ em nói được hổng sao đâu! Bằng không… anh đứng lớ ngớ ở đây nguy đa!
Tư Cầu còn đang luýnh quýnh chưa biết tính sao thì đã thấy người trong xóm chạy túa ra, đàn bà trẻ con kêu khóc om sòm, rồi mạnh ai nấy lủi trốn trong mấy đám bụi kế cận… liền theo đó, năm sáu người Miên ở trần trùi trụi, kẻ xách phảng, người cầm mác xông ra đường. Họ dớn dác nhìn bốn phía và khi trông thấy Tư Cầu và Thơm đứng đó, cả bọn xâm xâm đi thẳng tới…
Tư Cầu khều vợ:
– Ê… coi bộ họ đi lại phía mình đa em!
– Thì đúng rồi! Thôi anh dông gấp đi, chứ anh cứ đứng xớ rớ ở đây để rồi họ tới em cản cũng hổng được đâu!
Tư Cầu xăng văng xéo véo nói:
– Ừ thôi em đi mạnh giỏi nghe em! Mà em liệu gặp họ có sao hông hả?
Thơm xô anh ta đi:
– Anh lo cho thân anh đi, còn em để thây kệ em hổng sao đâu… Đây nè, anh làm ơn cất chiếc vòng nầy cho mau đi!
Tư Cầu cự nự:
– Thì em cất luôn đi hổng được sao?
– Thôi đi, em mà đeo cái đó, rủi tụi nó trông thấy dám bẻ lọi tay để giựt lắm!
… Vừa nói Thơm vừa vạch túi Tư Cầu bỏ tuột chiếc vòng vô trong ấy rồi xô mạnh anh ta lùi ra sau:
– Thôi anh chạy rút đi, tụi nó tới nơi rồi kìa!
Đoạn Thơm quày quả rảo bước thẳng về phía mấy người Miên…
Tư Cầu kêu vói theo:
– Coi chừng nghen em!
Anh ta hồi hộp đứng nhìn theo Thơm trong một phút, rồi nhảy xuống lề đường lủi tuốt vô bụi rậm. Tư Cầu vừa dợm chạy đi thì nghe có tiếng Thơm la hét trên đường cái. Anh ta hoảng kinh núp xuống và bò lần lại một đám đế lớn mọc bên cạnh lộ, vạch lá nhìn ra nghe ngóng…
Thơm đang to tiếng cãi lộn với ba người Miên đang bao quanh cô, mấy người khác trong bọn có lẽ bận rượt theo đám người chạy lẩn trốn ban nãy. Tư Cầu chẳng biết Thơm nói những gì vì hai bên “châm” toàn là tiếng Miên. Ban đầu là tiếng của Thơm còn nhỏ nhẹ sau lại to lớn dần. Cô có vẻ bực tức điều gì ghê gớm lắm, vì Tư Cầu thấy vợ mình dậm chân múa tay liên hồi, còn ba tên Thổ kia ban đầu còn cười nói giỡn cợt sau đó mặt mày hầm hầm và quát tháo om sòm.
Tư Cầu lắc đầu lẩm bẩm: “Cha, chắc cái điệu này hổng êm rồi. Tại nó ỷ y quá mà!”… Vừa lúc ấy anh ta nhìn thấy một tên trong bọn Miên xông tới kéo kéo, một tay chỉ chỏ về phía mình và vợ đứng ban nãy.
Tư Cầu giựt mình khi nghe một tên khác cười rộ lên rồi nói bỡn cợt bằng tiếng Việt giọng lơ lớ:
– Cô Hai ơi, cô hông phải là người đằng tui, cô đi với thằng chồng An-nam… hai người…. tui thấy đứng đằng kia! Cô Hai ơi, cô lấy tui nghen!
Bỗng Thơm vùng một cái mạnh vọt chạy về phía trước. Tên Thổ đang nắm vặt áo cô ta hoảng hốt chụp níu chặt lại.
Tư Cầu nghe tiếng vải rách “toẹc”… một nửa chiếc áo túi dính tòn ten dưới bàn tay của tên Thổ.
Thơm vừa chạy vừa la thất thanh… đầu tóc của cô ta sổ ra bay tung về phía sau cùng một nửa manh áo còn lại lất phất theo trớn gió. Một tên Thổ nhào tới vồ lấy Thơm, Thơm vùng vẫy dùng hai cùi chỏ thúc mạnh, thúc lung tung và vuột sút ra rồi cắm đầu chạy nữa… Tên Thổ chỉ vớ được một nửa mảnh áo còn sót trên người Thơm. Anh ta vo tròn miếng vải tung cao lên trời, thích chí cười ha hả, rồi lại cùng với hai người kia xách mác, quơ phảng chạy đuổi theo Thơm.
Mấy lần Tư Cầu đứng trong đám đế, dợm chạy ra tiếp cứu Thơm, nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh ta đành nén lòng núp lại, và hồi hộp theo dõi cuộc đuổi bắt trên đường mà anh ta dự đoán trước được kết cục sẽ bi thảm không đâu mà lường được.
Thơm vừa chạy vừa ngó ngoái lại, nét mặt cô ta kinh hãi vô cùng. Gói quần áo đã rơi mất từ hồi nào và nửa thân người lộ trần của cô nhún nhẩy theo bước chân chạy gấp càng làm cho ba kẻ rượt theo sau kêu rít lên những tiếng sảng khoái một cách man rợ.
Tư Cầu ngồi trong đám đế nhìn ra… đổ mồ hôi hột.
Thơm chỉ chạy được thêm năm sáu bước nữa thì một tên Thổ xông tới trước nhào tới ôm cứng ngang eo ếch cô ta. Thơm vừa gào thét vừa chòi đạp, vừa thoi thụi véo ngắt, rồi cô cúi nhanh đầu xuống cắn mạnh vào cườm tay tên Thổ. Tên này kêu thét giựt tay ra, hắn ta gầm lên, rồi chạy rút tới nhanh như chớp vói tay chụp lấy mớ tóc bay xõa của Thơm cuộn lại một vòng trong bàn tay, giựt mạnh…
Thơm rú lên té bật ngửa ra sau.
Vừa lúc đó, hai tên kia chạy kịp đến, mỗi tên chụp lấy một cánh tay của Thơm kéo căng ra…
Tư Cầu nín thở, rồi máu anh ta như dồn căng lên thái dương… anh ta ngó quanh ngó quất tìm một khúc cây, một gốc tre, nhưng thất vọng và bực tức xiết bao khi chỉ thấy toàn là những cọng đế và những cọng đế. Anh ta nghiến răng nhìn hai ngọn mác và lưỡi phảng tóe lên trong tay của ba tên Thổ.
Mặc cho Thơm vùng vẫy, kêu gào, ba tên ấy vẫn giữ chặt, và như thích thú với sự chống chỏi đó, chúng vẫn ghì Thơm ở nguyên một chỗ để rồi vừa la hét vừa cười ha hả với nhau…
Một lúc sau, như chán chê với trò đùa ấy, chúng bèn xì xào bàn tán với nhau. Trong khi ấy, Thơm mệt lả, miệng há hốc để thở hào hển, mắt mở trừng trừng như chờ đợi một tai họa gớm ghê sắp đến, người xiên xẹo, đầu ngả gập qua một bên theo hướng tay của tên Thổ đang còn ghì chặt lấy đầu tóc của cô ta…
Bỗng một tên Thổ như có bàn tán nhau sẵn, nắm tay cô giựt mạnh và nhào vô ôm xốc cô lên vai, hai tên kia vẫn giữ chắc lấy đầu tóc và một cánh tay bên kia. Thơm lại vùng vẫy, hai chân cô chòi đạp lung tung. Nhưng tên Thổ vác cô vẫn bước đi tới…
Mắt Tư Cầu nổ đom đóm, tay anh ta níu chặt lấy một bụi đế và lá bén đã cưa bàn tay ấy rớm máu mà anh ta không hay biết gì ráo.
Ba tên Thổ vừa đi vừa bàn tán om xòm, rồi chúng hè nhau bê Thơm đi thẳng về hướng một gò mả bên cạnh đường, nơi có nhiều bóng còng rậm mát. Như đoán được ý định của bọn ấy, Thơm la hét một tràng tiếng Miên, có lẽ là những câu nguyền rủa, rồi như quá tuyệt vọng cô kêu lên thêm mấy tiếng nghe quá thảm não:
– Anh Tư ơi… anh Tư ơi…
Tư Cầu níu bụi đế nhổm hẳn người lên.
Anh ta muốn cất tiếng đáp để cho Thơm biết mình vẫn còn ở gần đó vì qua những tiếng gọi rên rỉ kia Tư Cầu chắc rằng Thơm đã tưởng anh ta đi về mất dạng rồi chớ đâu còn có mặt trong giờ này nữa.
– Anh Tư ơi… anh Tư ơi…
Những tiếng kêu não nuột như xói sâu vào tâm can Tư Cầu…
Ba tên Thổ bắt đầu bước xuống mương lộ để lội băng qua gò. Và vì triền lộ dốc ngược, lại thêm đầu tóc bị níu ghịt xuống nên một nửa thân mình của Thơm càng ưỡn quặt ra phía sau…
Ánh nắng dữ dội của buổi đứng trưa như tóe lên trên ngực, trên bụng lộ liễu ấy và trên cả ba thân hình kịch cợm đen bóng…
Ba tên Thổ đã mang Thơm đi khuất sau mấy lùm cây.
Tư Cầu bước hẳn ra ngoài mà vẫn không trông thấy bóng dạng của họ chút nào cả. Anh ta càng nóng ruột khi nghe vọng lại những tiếng cười sằng sặc của mấy tên Thổ… và cả tiếng của Thơm kêu thét lên từng chập rồi im bặt.
Tư Cầu đưa tay quẹt mồ hôi trán. Anh ta cảm thấy như muốn nghẹt thở vì sự im lặng bất thần ấy. Anh ta cố vểnh tai nghe ngóng, nhưng từ chỗ anh ta đứng tới cái gò cỏ đám còng mọc cách nhau quá xa.
Anh ta lần mò lên đường cái, băng qua mương lộ, dò dẫm bước tới… Khi đi luồn qua một bụi rậm, Tư Cầu đụng phải một gánh đồ đạc quần áo của người nào trong xóm đem dấu vội trong ấy trước khi chạy trốn cho xa hơn nữa. Không nghĩ ngợi gì thêm, anh ta với rút liền chiếc đòn gánh cầm lâm lẩm trong tay, rồi xăng xái đi bương tới về hướng gò mả.
Bỗng một tiếng kêu thất thanh của Thơm vang lên như xé không khí. Tư Cầu đứng sững lại trong một giây, rồi mím chặt môi, quơ đòn gánh chạy ào tới…
Cảnh tượng trước mặt làm cho Tư Cầu nghẹt thở và như chết trân tại chỗ. Anh ta đưa tay dụi mắt vì tự nãy giờ bị chói nắng bên ngoài và trong này thì bóng còng lại dầy bịt…
Chiếc quần lãnh đen của Thơm rách xả mấy đường nằm vướng trên mấy cán mác phẳng vất đống bên cạnh một cái mả lạng…và gần một đám cỏ cú dập nát.
Mắt Tư Cầu hoa lên, tai anh ta như bị ù mất.
Qua những tia nắng lốm đốm lọt qua cành lá còng rậm rạp, tất cả những hình ảnh trước mặt anh ta như quay cuồng với nhau, như in chồng lên nhau, như lộn ngược ngạo tất cả… như không có thật như thế được. Tai Tư Cầu như nổ lùng bùng vì những tiếng cười ghê rợn, những tiếng rít điên cuồng và nhứt là những tiếng kêu ú ớ…
Không nghĩ suy gì nữa, Tư Cầu nghiến răng nắm chặt lấy cây đòn gánh trong tay xông càng tới.
Chỉ có một tên Thổ nằm bên cạnh Thơm nghe động quay phắt đầu lại và từ từ rút bàn tay ra. Hắn vừa bò rột định ngồi dậy thì đã bị Tư Cầu nhẩy chồm tới, dơ thẳng tay đánh tạt ngang vào giữa khoảng cần cổ hắn ta một đòn gánh. Một tiếng “bốp” vang lên, tên Thổ chỉ kịp kêu lên “ứ” lên trong họng rồi té bật ngửa nằm dãy tê tê. Còn tên đang quắp người trên vai của Thơm mới vừa ngóc đầu lên thì đã bị Tư Cầu sẵn trớn vụt đòn gánh xuống đập mạnh trúng vào giữa bả vai. Hắn rú lên một tiếng rồi bò càng thẳng về phía trước chạy vuột đi được một khoảng rồi phát lên la bài hãi như để kêu cầu cứu mặc dầu toàn thân không có lấy một mảnh vải che.
Trong lúc ấy, tên còn lại đã vùng dậy chạy luồn ra phía sau…
Tư Cầu hoảng kinh quay phắt lại thì thấy hắn đã vồ lấy hai ngọn mác cầm lăm lăm trong hai tay. Hắn lừ lừ đi thẳng về phía Tư Cầu, mắt đỏ ngầu bọt mép sùi ra hai bên…
Tư Cầu bỗng để ý đến mấy hàng chữ bùa Miên xâm vằn vện trên suốt một khoảng ức nở nang của tên Thổ và tự nhiên anh ta thấy khớp. Anh ta vụng về quơ quơ cái đòn gánh trước mặt nửa như để đỡ, nửa như muốn xua đuổi kẻ thù…
Trong lúc đó, Thơm đã lồm cồm ngồi dậy một cách nặng nhọc, và định lén bỏ trốn đi vì đinh ninh rằng có một bọn nào khác đến giành giựt với ba tên Thổ ấy. Một tay chống xuống đất, một tay uể oải vẹt qua một bên mớ tóc xõa phủ trước mặt, Thơm liếc mắt nhìn lên. Cô ngạc nhiên xiết bao khi nhận ra Tư Cầu và kinh hoảng khi thấy Tư Cầu đang ở trong một tình thế vô cùng hiểm nghèo…
Cô vừa kêu lên hai tiếng “anh Tư!” vừa vùng đứng dậy chạy a lại phía Tư Cầu. Nhưng mới chạy được vài bước, cô bỗng ngồi thụp xuống nhoi người xuống lấy chiếc quần xà lỏn của tên Thổ chạy bỏ lại phủ vội lên một nửa thân người.
Cả Tư Cầu lẫn tên Thổ cùng quay đầu nhìn lại. Tên Thổ cất tiếng xổ một loạt tiếng Miên, giọng dữ dằn có lẽ là những lời hăm dọa Thơm
Thơm thản nhiên như không nghe thấy, co ro đi lần về phía Tư Cầu. Cô vừa mếu máo khóc vừa lên tiếng hỏi chồng:
– Trời ơi, anh Tư… sao anh hổng dìa đi mà còn ở đó… tụi nó giết anh cho mà coi.
Tên Thổ lại dậm chân, quơ mác la hét…
Tư Cầu nghẹn ngào trân trối nhìn vợ: mới có chia tay nhau một chút đó, mà bây giờ trông Thơm thiểu não vô cùng: mặt mày lấm lem, ngơ ngác, tóc tai rối nùi dính đầy đất cát lẫn với một mớ lá còng khô, môi dưới bị dập máu tươi còn rịn chảy… Tư Cầu xót xa khi trông thấy mấy vết cắn bầm tím trên vai, trên ngực của Thơm và anh ta không đành tâm nhìn lâu nữa..
Ngọn đòn gánh của Tư Cầu hạ xuống đất lúc nào mà anh ta chẳng hay biết. Và trong lúc ấy, tên Thổ nhón chân đi rón rén lại…
Vì đứng ở phía góc đối diện với tên Thổ nên Thơm kịp trông thấy ánh thép của ngọn mác lóe lên qua một tia nắng xuyên qua bóng rợp. Tên Thổ mím môi dơ thẳng tay nhắm về hướng Tư Cầu phóng mạnh tới…
Thơm kêu rú lên:
– Chết… anh Tư!
Và cô nhào đại tới định xô Tư Cầu giạt một bên. Tư Cầu hoảng kinh không biết ất giáp gì nên vội đưa tay đỡ vợ và ngó ngoái lại… để kịp thấy ngọn mác lao vụt tới. Anh ta vừa định kéo vợ né tránh qua thì lưỡi mác đã cấm phập vào khoảng dưới nách Thơm và lút sâu vô ngực.
Thơm chỉ kịp thét lên một tiếng rồi buông rời tay ra, thân người từ từ tuột xuống dọc theo mình Tư Cầu để ngã gục trên mặt đất.
Tư Cầu cũng không kịp vói tay níu xác vợ lại nữa. Anh ta gầm lên quơ đòn gánh đập mạnh tới cùng lúc tên Thổ cũng giơ cây mác còn lại chém xả vào người anh ta. Được lợi thế ở chỗ cây đòn gánh thì dài còn ngọn mác thì ngắn cán, nên Tư Cầu đánh tới đã trúng ngay lưỡi mác và làm cho bật văng ra khỏi tay tên Thổ rớt xuống đất cách đó mấy bước. Tư Cầu liền nhào tới lượm ngay ngọn mác lên cầm bên tay trái. Tên Thổ mất vía đứng luống cuống trong một vài giây, rồi như nhớ trực lại còn có lưỡi phảng để bên gò mả lạng nên hắn ta liền chạy a tới.
Thấy thế, Tư Cầu như điên lên, nhào theo chạy thẳng lại gò mả…
Tên Thổ vừa cúi mình xuống vói tay nắm cán phảng thì Tư Cầu cũng xông tới nơi, anh ta co chân nhảy phóng tới đạp đè lên bàn tay của tên Thổ xiết mạnh xuống. Tên này không chịu thua, hắn dùng tay kia quơ ôm ống chân của Tư Cầu định vật cho ngã lăn xuống, còn bàn tay bị Tư Cầu dậm lên thì hắn nghiến răng cố giựt mạnh với ý định vừa rút ra, vừa lật lưỡi phảng lên cho khứa luôn vào bàn chân của Tư Cầu.
Tư Cầu thấy thế nguy lại càng nổi dóa thêm. Anh ta nện mạnh bàn chân xuống thêm nữa và phát cười khan:
– Mầy muốn chết, tao cho mầy chết!
Tuy vậy anh ta cũng hơi lúng túng vì bị mất thăng bằng và loạng choạng muốn ngã. Cây đòn gánh quá dài nên trở thành vướng tay. Tư Cầu không nghĩ suy gì nữa, tiện tay trái đang cầm ngọn mác, anh ta bậm môi vớt ngược trở lên trúng đánh bốp vào hàm hạ tên Thổ. Mũi mác còn mạnh trớn đi xước lên rạch một lằn dài trên một bên má tên nầy.
Tên Thổ hét lên một tiếng và cũng ngay trong lúc ấy hắn đã rút được lưỡi phảng ra và một tay chống xuống đất để gượng lấy thế, một tay quơ cây phảng lên phát ngang vào ống quyển Tư Cầu.
Tư Cầu nhảy lùi một bước, lưỡi phảng chặt phập vào đất. Tên Thổ mất trớn nhủi về phía trước và khi hắn ta vừa nhốm vậy thì Tư Cầu dơ thẳng cánh thúc mạnh mũi mác vào ngực hắn. Hắn thở lên hồng hộc đưa hai bàn chụp lấy đầu cán mác như muốn đẩy trở ra, nhưng vô ích… Tư Cầu chịu chặt, hai chân bíu xuống đất ấn mạnh cán mác vô nữa…
Tên Thổ kêu ú ớ trong miệng, thở hắt ra, rồi buông xải hai tay…
Tư Cầu mới tỉnh trí trở lại. Anh ta há hốc miệng, nới mấy ngón tay ra và nhìn cái cán mác từ từ tuột khỏi bàn tay mình để dính ghim luôn trên ngực tên Thổ đang ngã ngửa ra sau.
Tư Cầu luống cuống, đưa tay quẹt mồ hôi trán và dụi mắt hai ba lần. Anh ta thẫn thờ bước lại gần bên xác tên Thổ.
Một tia nắng rọi dọc theo cán mác càng làm tăng thêm vẻ ghê rợn.
Tư Cầu cúi xuống nhìn lên vết thương trên ngực của tên Thổ; máu chảy đầm đìa khỏa lấp hết mấy hàng chữ bùa xâm. Mắt tên Thổ trắng dã mở trừng trừng nhìn lên mấy ngọn còng. Một vài con ruồi trâu đánh hơi thấy mùi máu tanh đã bắt đầu bay vo ve trên xác chết.
Tư Cầu bỗng nhớ trực đến vợ mình…
Anh ta bỏ xác tên Thổ chạy lại phía Thơm nằm phục xuống đất chết ban nãy. Anh ta quỳ xuống khẽ lật người Thơm lên. Tay chân Thơm đã bắt đầu sượng cứng. Máu từ chỗ vết đâm nơi nách chảy đọng xuống dưới cỏ đã khô đặc và đen kịt lại.
Tư Cầu đặt vợ nằm một nửa người lên trên hai đùi mình, nhăn mặt đưa tay nắm lấy cán mác còn cắm sâu bên hông Thơm… rồi cắn môi nhổ mạnh. Một ít máu lợt lạt lại ứa ra và nhỏ giọt xuống đất. Tư Cầu quăng cây mác qua một bên, đặt vợ nằm ngay ngắn lên trên mặt cỏ, vói tay lượm chiếc quần xà lỏn của tên Thổ bỏ lại mà Thơm đã lấy che thân ban nãy để… mặc đỡ cho xác vợ.
Anh ta không dám ngó lâu, không dám nhìn kỹ những dấu vết bạo hành của mấy tên Thổ để lại còn in rành rành trên người Thơm, và hối hả đỡ nhẹ chân Thơm lên, lập cập xỏ ống quần vào… Đoạn anh ta cởi phăng chiếc áo bà bà đen của mình ra, luồn tay nhấc cổ Thơm lên để mặc áo vào…
Đôi mắt Thơm vẫn mở trừng trừng như nhìn vào khoảng không, một dòng máu khô còn dính đọng từ trên khóe mép của cô ta cho tới cằm. Tư Cầu lúng túng đưa tay vuốt mắt Thơm, đoạn ôm xốc xác của vợ lên.
Anh ta đưa mắt nhìn một vòng gò mả, rùng mình khi ngó qua xác tên Thổ nằm ngửa với cái cán mác chênh vênh cắm lên ngực… Chiếc quần lãnh đen rách xả mấy đường của Thơm vẫn còn nằm vất vưởng ở đầu kia, và tự nhiên, Tư Cầu lại thấy nóng sùng sục trong lòng. Anh ta quay phắt lại có ý tìm tên Thổ mà lúc nãy anh ta thấy nằm ấp bên cạnh Thơm và đã bị anh đập chết giấc ngay từ phút đầu.
Ờ tên Thổ ấy đã biến đâu mất. Có lẽ hắn ta đã thừa lúc không ai để ý vội lẩn trốn luôn mặc cho tên còn lại đương đầu với Tư Cầu và cũng có thể hắn chạy đi để cầu cứu với đồng bọn đang phá phách trong xóm kế cận.
Nghĩ như thế, Tư Cầu vội khom xuống lượm cây mác lên. Chợt thấy máu đông quánh khắp đầy lưỡi mác, Tư Cầu như muốn bợn dạ. Anh ta liền chùi mạnh lên trên cỏ để tẩy bớt những vết gớm ghiếc ấy đi.
Đoạn anh ta xốc Thơm nằm lên vai, rảo bước đi ra khỏi gò mả để lên lộ.
… Khói đen của mấy đám cháy trong xóm đã hạ xuống. Có lẽ bọn người đi khủng bố đã rút về hết. Đó đây, bên ven lùm bụi đã thấy lố nhố bóng người ló ra nhóng về hướng trong xóm để xem chừng động tĩnh. Và khi coi mòi đã yên, họ lũ lượt kéo túa lên lộ, bươn bả đi về nhà để xem còn mất thế nào…
Tư Cầu lủi thủi vác xác vợ đi men theo lề đường về phía bờ mẫu băng qua ruộng để lội tắt về nhà.
Người trong xóm đi ngược trở lại và khi qua ngang Tư Cầu, họ chỉ đưa mắt nhìn sơ qua người đàn bà tóc tai rũ rượi trên vai anh ta, và cũng chẳng ai buồn hỏi thăm còn sống, đã chết hay bị thương nặng nhẹ ra sao…
Ai nấy đều hối hả đi về nhà, hình ảnh của Tư Cầu vác Thơm chỉ làm họ càng thêm không yên tâm.
… Nắng trưa gay gắt dội lên trên con đường đá cát thành một màu vàng sẫm vừa thê thảm vừa dữ tợn.
Tư Cầu một tay giữ chặt lấy lưng vợ trên vai, một tay dụi mắt… Chẳng biết vì mồ hôi trán chảy xuống hay vì nước mắt ứa trào mà anh ta thấy quá xốn xang.
… Khi đặt chân lên bờ mẫu Tư Cầu còn đứng lại quay nhìn lần cuối con lộ cái hướng đi về La Ghì, hướng chạy thẳng lên Trà Ôn..
Đúng là một con lộ của định mạng! Mấy năm về trước đây, đã có lần anh ta cùng Phấn lội băng qua đồng để lên con lộ này đón xe lên Trà Ôn trốn đi Sàigòn.
Và cách đây mấy tiếng đồng hồ anh ta đưa Thơm đến con lộ nầy để về thăm nhà…
Hai lần đặt chân lên con lộ với hai người đàn bà trong hai trường hợp khác nhau là hai lần Tư Cầu hứng chịu và chứng kiến biết bao chuyện quá não lòng, những chuyện in đậm và sâu khắc lên cuộc đời của anh ta mãi mãi…
Cuộc kháng chiến chống thực dân ở Nam bộ đã bắt đầu…
Tư Cầu cũng như bao nhiêu trai tráng khác trong làng đều hăng hái gia nhập vào hàng ngũ chiến đấu. Và nói là hàng ngũ chiến đấu cho oai chơi chớ thực ra cũng chẳng có gì khác hơn là vác tầm vông canh tuần trong làng, trèo lên mấy ngọn dừa sát bờ sông cái để canh chừng tàu tuần của tây xuống…
Tàu Tây có đi ngang đó mấy lần nhưng lần nào cũng đi tuốt, báo hại trong xóm đánh mõ hồi một, đánh ván ngựa, khua thùng thiếc vang rân… Và khi nào rảnh rang, mấy tay du kích trong làng đi lùng kiếm nhíp xe cũ để có thứ thép tốt mang về rèn kiếm, ba nha, phi tiêu…
Riêng Ba Kiên, anh của Tư Cầu thì có vẻ lăng xăng hơn hết, khi chạy theo Nhựt-bổn, lúc nhảy qua Thanh niên Tiền Phong, rồi nhào sang Việt Minh… vào lúc nào và dầu ở đâu, anh ta cũng làm coi xôm tụ hết.
Ngày nầy qua ngày khác, anh ta chạy lên chạy xuống Trà Ôn để lãnh… chỉ thị. (vì nhờ đi vận động trước trên quận nên anh ta đã chốp luôn chức vị “chỉ huy” đội du kích xã) Bên hông anh ta lúc nào cũng đeo lủng lẳng một cây dao găm thật đẹp và hai trái lựu đạn nội hóa mà anh ta đã xin được của mấy “anh lớn” trên quận.
… Tây chưa thấy đâu, nhưng suốt mấy hôm nay vài làng lân cận đã nhiều lần bị nạn Thổ dậy. Và kỳ dậy nầy rất khủng khiếp hơn trước nhiều, vì lẽ giản dị là ba ông đi “cáp duồng” có thêm thế dựa nơi mấy “quan lớn” đã bắt đầu tấn công trấn đóng ở một vài nơi trong tỉnh.
Dân trong làng nhốn nháo cả lên, và ai ai cũng nơm nớp lo sợ không biết bữa nào đây đến lượt làng mình bị đại nạn. Có người muốn tản cư nhưng rốt cuộc rồi cũng chẳng biết đi về đâu cho yên: miệt trên Tây đã tới đóng, còn miệt dưới toàn là những vùng có nhiều sóc ở rải rác khắp nơi.
Ban chỉ huy trên quận bị làng xã thúc hối phải giúp giải quyết về mối hăm dọa nặng nề ấy, bèn hạ lệnh cho các làng phải họp nhau lại để ngăn ngừa nạn Thổ dậy. Và cách ngăn ngừa hiệu quả nhứt là… kiếm ngay mấy cái sóc “đầu não” để tấn công trả đũa một vài lần cho “họ” tởn không dám lộng hành như trước nữa.
Thế là làng của Tư Cầu ở, và một vài làng nữa bên cạnh liên kết nhau lại để bàn cách ra tay. Mấy “anh lớn” cấp phát thêm cho một số lựu đạn nội hóa và một mớ súng hai lòng, súng hơi tịch thâu của những tay điền chủ trước đây.
Tất cả đều đồng ý sẽ “xuất quân” trong một buổi tối nọ có trăng non nhá nhem và cái sóc được chọn lựa lại là cái sóc bên miệt Thơm ở.
Vì vậy, Tư Cầu là một trong những người hăng hái nhứt, anh ta mong từng ngày, đếm từng giờ cho mau đến lúc ra tay. Anh ta hăng hái nhưng rất trầm tĩnh, một thứ trầm tĩnh gần như lạnh lùng, chứ không phải thứ hăng hái lao xao, bộp chộp của mấy chàng trai khác chưa gì đã muốn khoe rân đảm lược của mình.
Chiều tối hôm ấy, sau khi chuẩn bị đâu đó xong xuôi, cả bọn lối ba mươi mấy người lặng lẽ kéo nhau lên đường…
Họ lội băng qua đồng rồi lên con lộ đá dò dẫm đi xuống miệt La Ghì…
Tư Cầu đặt chân lên con lộ này như đặt chân lên một con đường báo oán chờ đợi từ mấy mươi đời. Anh ta mím môi nhìn về phía gò mả.
Dưới ánh trăng lu của đêm mồng sáu, hàng cây còng trên gò mả trước mắt Tư Cầu chỉ là một dẫy bóng đen kịt như những hồn ma bóng quế ôm lấy nhau trong ấy để nhìn ra đoàn người đi ngoài nầy… khoắc khoải chờ giờ siêu tán.
Tư Cầu nắm chặt lấy cái cán cây trường kiếm, và bàn tay trái của anh mân mê lên hai trái lựu đạn buộc bên hông. Vỏ gang lạnh của lựu đạn làm cho Tư Cầu có một khoái cảm gần như man rợ.
Đoàn người lặng lẽ tiến lần về phía sóc.
Tiếng chim cú kêu cách khoảng rời rạc trên chót vót cành cây bàng mọc sừng sững trước một ngôi miễu hoang phế như những tiếng điểm lần lần của giờ phút báo oán, và tiếng oang oác của mấy con chim heo kia mới thật đúng là tiếng báo tử của một thứ sứ giả thần chết !
Một phát súng nổ.
Một mồi lửa ném tung lên
Rồi những phát súng, những mồi lửa liên tiếp.
Bị tấn công bất ngờ dân trong sóc cứ túa ra chạy. Lửa cháy phừng phừng trên các mái nhà tranh, tiếng chó sủa vang rân, tiếng bò rống inh ỏi, tiếng đàn bà trẻ con kêu khóc om sòm, tiếng người rú kinh khủng… ánh lửa lóe ra nơi đầu súng, ánh thép ngời lên bên xác người…
Dân làng sau khi phóng hỏa sóc bèn bao vây xung quanh nấp vào trong bóng tối để chờ người ở trong chạy túa ra.
Tư Cầu núp sau một cái bồ đập lúa hươi kiếm liền tay và ánh lửa phừng phực cháy bên trong, tiếng ống tre nổ lốp bốp, tiếng súng đệm rầm rầm, tiếng người kêu thét lên từng chập càng làm cho anh ta như say máu.
Bỗng giữa khoảng khói tỏa mịt mù có một bóng đen thấp thoáng. Tư Cầu dơ cao tay kiếm lên và chỉ chờ cho người trong ấy dớn dác chạy ra là chém phập xuống.
Nhưng… Tư Cầu buông thõng tay xuống: từ trong đám khói quờ quạng đi ra, không phải là một người lớn mà là một đứa trẻ độ năm sáu tuổi trần truồng, vừa đưa tay dụi mắt lia lịa vừa mếu máu kêu khóc.
Tư Cầu đứng lặng người không nhúc nhích rồi như có cái gì nghẹn nơi ngực, anh ta đưa tay mở vội mấy nút cổ áo, và không nghĩ suy gì nữa, anh ta chạy ra níu tay đứa bé kéo tuột vào, ngó quanh ngó quẩn tìm một chỗ dấu nó cho chắc. Sau cùng như nhớ trực lại chiếc bồ đập lúa, Tư Cầu bèn ôm xốc đứa bé lên bỏ tuốt vô trong ấy dơ tay ấn mạnh đầu nó xuống. Thằng bé khiếp đảm ngồi co ro và nín khe.
Lửa vẫn phừng phừng bốc cháy trên dãy nhà, tiếng người khóc vẫn nổi lên từng chập. Tư Cầu như xây xẩm mặt mày và bỏ trốn ra ngoài bìa vườn.
Chạy ngang qua một căn nhà sàn mà lửa bắt đầu táp cháy một bên mái, Tư Cầu bỗng thấy Ba Kiên từ trên cầu thang hấp tấp bước xuống, hai tay ôm cứng một thiếu nữ Miên nằm rũ rượi như đã kiệt sức vì giẫy giụa la hét tự bao giờ…
Ánh lửa của đám hỏa hoạn ở hai bên rọi chờn vờn lên trên thân thể người thiếu nữ đang bị Ba Kiên ôm nâng lên cao để tiện bước mau xuống; tóc cô gái xõa xuống, ngực nàng trống trơn và ánh lửa phản chiếu như rọi lên một pho tượng bán thân bằng đồng đen tạc khéo nét, chiếc váy của nàng còn mắc một bên chân và kéo rũ lê thê trên mấy bực thang tre…
Một đội viên du kích nữa từ trên nhà sàn vác mã tấu chạy ùa xuống sau lưng Ba Kiên và giục anh ta:
– Anh bê nó lại phía cây rơm ở góc chuồng trâu kia kìa!
Ba Kiên không trả lời mà cứ hối hả bước xuống…
Tư Cầu chạy lên chực sẵn dưới chân cầu thang.
Ba Kiên ngẩng đầu lên hỏi:
– Ủa mầy đứng đây làm gì đó hả?
Tư Cầu chưa kịp trả lời thì anh ta cười và hất hàm hỏi thêm:
– Ê muốn theo ké với tao hông? Muốn thì đi. Ngon lành lắm nghen!
Vừa nói anh ta vừa lấn Tư Cầu qua một bên bước sấn tới.
Tư Cầu giơ tay cản lại:
– Khoan! Anh để tui nói cái nầy đã!
Ba Kiên sẵng giọng:
– Mầy có theo tao thì theo, chớ khoan cái gì nữa đó mậy?
Tư Cầu chỉ người thiếu nữ Miên nằm trên tay anh mình:
– Anh làm cái gì kỳ vậy…
Ba Kiên bực mình:
– Bộ mầy khùng hả?
Rồi anh ta thản nhiên ôm cô gái đi thẳng tới, tên bạn đồng đội hối hả bước sát sau lưng theo hộ tống.
Tư Cầu chạy vọt lên chận đường. Ba Kiên đứng phắt lại hỏi gằn:
– Mầy muốn cái gì thì nói phứt đi thằng ông nội! Hay có muốn hưởng trước tao thì cũng nói luôn đi!
Tư Cầu chậm rãi đáp:
– Anh đừng nói giỡn anh Ba! Anh thả người ta xuống chớ làm như vậy coi hổng có được đâu!
Ba Kiên ngó tên đồng đội cười rộ lên:
– Ê, nó nói vậy mà mầy nghe coi được không? (đoạn anh ta day qua Tư Cầu) Nè Tư, tao có lòng… tốt kêu mầy theo, mầy hổng chịu thì thôi, chớ đừng nhảy vô cản mũi cản lái tao hổng được đâu nghen em bậu!
Tư Cầu lạnh lùng nói:
– Mà tui kêu anh thả cô gái nầy ra!
Ba Kiên cười khan rồi kề vô sát mặt Tư Cầu hỏi:
– Bộ mầy chứng rồi sao hả Tư? Thôi dang ra cho tao đi… tao còn nghĩ tới tình nghĩa anh em lắm hông thôi nãy giờ mầy…. khổ rồi đa!
Tư Cầu nhìn thẳng vào mắt Ba Kiên và lập lại:
– Anh thả cô gái nầy ra đi! Anh đừng để tui nói nhiều!
Ba Kiên lại phá lên cười rồi hỏi gằn:
– Ê Tư, tao chỉ huy mầy hay mầy chỉ huy tao mà bây giờ mầy ra lịnh cho tao đó mậy!
Tư Cầu cười lạt:
– Thì ai dành cái chức chỉ huy của anh đâu, và cũng vì vậy nếu anh làng chàng hổng nghe theo tui, tui dìa báo cáo lên mấy anh lớn thì anh thắt họng.
– Tính “làm hộp” với tao hả mậy?
– Tui nói thiệt đa.
Ba Kiên dịu giọng:
– Ê Tư, bộ mầy đành tâm làm vậy hả?
– Tui hổng làm cũng có thằng khác báo cáo thì cũng vậy.
– Thấy khỉ gì được Tư! Tụi nó đang rần rần như vầy ai đâu hơi sức để ý đến ai mậy?
– Thì tui để ý vậy. Mà tui nói thêm anh nghe: anh làm bậy bạ như vậy tụi Thổ nó chạy ngang qua nó thấy được thì Bà cứu đa!
Tên đội viên đứng bên cạnh Ba Kiên nói chen vô:
– Có tui canh chừng chứ bộ không sao?
Tư Cầu cương quyết lắc đầu:
– Tui nói hổng được là hổng được! Nếu mấy anh làm tới tui phá đa!
… Cô gái Miên ở trên tay Ba Kiên ngơ ngác hết ngó Ba Kiên đến nhìn Tư Cầu, hai tay cô ôm chặt lấy ngực và mấy lần cô ta muốn vùng ra, rồi hất hất bàn chân để kéo cái váy lên nhưng đều vô ích… Ba Kiên càng ôm siết cứng thêm.
Anh ta chắc lưỡi rồi dịu giọng nói:
– Ê Tư, vậy tao hỏi mầy: tại sao mầy muốn làm kỳ đà cản mũi tao hoài hả? Vậy chớ hồi đó tụi nó hiếp, nó đâm con vợ của mầy đó thì được hén? Bộ mầy quên rồi sao hả?
Tên đội viên lại nói vuốt theo:
– Ừa, bộ anh hổng nhớ hai ba thằng Thổ nó đè vợ anh đó sao? Bây giờ tội gì mình tha con Thổ cái nầy…
Tư Cầu thở dài, lắc đầu rồi ấp úng nói:
– Tui quên sao được… nhưng…. (anh ta chỉ vào cô gái) đâu phải cô nầy làm như vậy đâu! Cô ta cũng chỉ là một cô gái, một người đàn bà… y như vợ tui vậy. Kẻ ăn mắm người khát nước, mình không nên làm như thế mấy anh à!
Ba Kiên “xì” một tiếng:
– Ý trời ơi, sao mầy hổng kiếm cái chùa nào, hay là chạy mẹ nó vô cái chùa Miên ngay trong sóc nầy mầy cạo đầu tu phứt cho rồi. Thời buổi cao trào “đấu tranh” lên ào ào như vầy mà mầy ăn nói sao tao nghe ẹ quá!
Tên đội viên chêm vào:
– Anh Tư ơi, bộ anh tưởng ba con nầy nó hiền lắm sao? Trời ơi, mỗi lần tụi đàn ông đi “cáp duồng”, thứ bọn này nó theo rần rần để “hôi” đồ đạc của bà con mình. Tui nói cho anh nghe: ổ gà nó cũng hốt, áo quần rách nó cũng không từ… nhiều khi tới mấy cái rế nó cũng xách luôn nữa!
Tư Cầu xua tay:
– Tui biết rồi, bộ người ta như vậy mình cũng… như vậy luôn sao! Thôi anh Ba, anh thả cho cổ đi cho rồi, anh là người lớn, anh làm chuyện đó mang tai tiếng lắm! Hay là tui chỉ anh món nầy: anh qua cái nhà sàn bên cạnh đây, tui coi bộ nhà giàu đa… anh qua đó kiếm quơ mớ bạc dìa mua bậy một con bò tơ khao thưởng anh em chơi, tui coi còn được hơn; mà nếu còn dư nữa thì mình… đóng vô quỹ kháng chiến để xây xài lần hồi…. bộ anh quên cái chuyện đó rồi sao!
Ba Kiên ngẫm nghĩ một vài giây, rồi buông tay quăng cô gái Miên ngã chúi về phía Tư Cầu. Tư Cầu vội đưa tay đỡ. Cô gái khiếp sợ vừa đưa tay kéo vội chiếc váy lên vừa ngước mắt nhìn anh ta… Tư Cầu xô nhẹ cô ta ra, cô gái chẳng nói chẳng rằng phát chạy mất vào bóng đêm.
– Như vậy mầy vừa lòng lắm hén! (rồi anh ta chắc lưỡi) Cha, con nhỏ thiệt ngon, chắc nịch! Đ.m. hổng có hưởng gì hết mà hồi nãy vô bắt nó bị mấy con mẹ già ở trỏng đập tao thiếu điều gần chết…
Nói xong anh ta quày quả bước lại lên cầu thang tre… Lửa đã bắt đầu cháy mạnh nơi mái nhà dưới, mấy người đàn bà, trẻ con còn bị kẹt trong ấy lấp ló ở ngưỡng cửa muốn chạy tông ra mà ngán sợ vì thấy có ba người võ trang còn đứng chận ở cầu thang.
Mấy người đàn bà thấy Ba Kiên hầm hừ xông lên, họ kêu rú lên rồi chạy tót vô trong nhà. Ba Kiên đứng lại ở lưng chừng cầu thang tre, lúi húi tháo trái lựu đạn buộc bên hông ra, mở chốt rồi dơ thẳng cánh tay định quăng vô phía trong cửa…
Thấy vậy, Tư Cầu vội chạy tuốt lên một mạch nắm bàn tay anh ta lại.
Ba Kiên quay phắt đầu nhìn xuống:
– Cũng mầy nữa hả? Sao cái gì mầy cũng cản tao hết vậy?
Tư Cầu níu hạ cánh tay Ba Kiên xuống và dịu giọng năn nỉ:
– Thôi mà anh Ba! Tụi này toàn là đàn bà con nít mình giết làm chi cho sanh tội…. Hơn nữa, nó uổng mất một trái lựu đạn đi, mình phải để dành để có việc xài lớn sau nầy chớ anh!
Ba Kiên chửi thề vang rân rồi chắc lưỡi nói:
– Ý trời ơi, thời buổi đánh giặc đánh giã lung tung mà mầy cứ sợ tội hoài thì còn làm ăn khỉ mốc gì được nữa! Và chuyến nầy tao xin mầy ”giải nghệ” luôn đi chớ đừng có theo tụi tao làm chi nữa nghen mậy!
– Thôi anh qua lục soát nhà bên cạnh coi có tiền nong gì không, như vậy còn có lợi hơn là đứng cà rà ở đây.
Ba Kiên vùng vằng nhét cây chốt vào khóa kíp lựu đạn lại rồi quát lên:
– Thôi mầy dang ra cho tao đi! Mà tao cấm mầy theo tao nữa đó nghen!
Tư Cầu đứng nép qua một bên nhường cho anh ta bước xuống rồi lủi thủi theo sau…
Tuy trời đã sáng bửng mà sương mù ngoài sông cái vẫn chưa tan. Hàng bần quen thuộc bên cồn vẫn chưa thấy ló dạng để khoe sắc xanh mướt dưới ánh sáng mai như mọi khi.
Tư Cầu dựng khẩu súng hai lòng tựa vào thân một cây dừa lão, rồi vừa quơ tay vung vai, vừa ngáp dài một cách khoái trá.
Phiên gác khuya của anh ta thế là xong. Cái khoảng gác gần sáng này vốn là một cái khoảng đáng ngại nhứt vì nếu có Tây đi ruồng bố thì họ cũng chọn giờ đó. Tư Cầu tháo chiếc khăn tắm quấn cổ xuống lau mặt rồi thung dung ngồi xuống dưới gốc dừa móc túi nhái ra vấn thuốc hút.
Bỗng có tiếng xình xịch nho nhỏ. Tư Cầu ngừng tay vấn thuốc ngó mông ra ngoài sông cái. Sương mù vẫn còn dầy đặc, anh ta bèn kê tai xuống sát mặt đất lắng nghe như một ông thầy thuốc áp tai nghe ngực một bịnh nhơn: nhờ nước nổi nên Tư Cầu nghe rõ mồn một tiếng xình xịch đều đều, mỗi lúc mỗi to dần…
Đúng là tiếng máy tàu, và đúng là tàu tuần của Tây.
Tư Cầu vội quăng thuốc, chụp lấy khẩu súng hai lòng, chạy thẳng lại một gốc bưởi rút cái mõ tre ra đánh liên hồi…
Một chiếc máy bay chuồn chuồn bay rè rè trên không; có lúc nó sà sát ngọn dừa, đảo tới đảo lui mấy vòng rồi bay đi mất.
Đồng bào trong xóm túa ra, mạnh ai nấy quơ những món đồ quý giá nhứt để mang theo chạy trốn, có người còn cẩn thận thả trâu, thả bò, đuổi heo cúi, gà vịt cho chạy tán loạn hết ra vườn. Mấy anh du kích xăng xái vác mấy khẩu súng săn, mấy cây lá lãi chạy đi tìm chỗ “kích”.
Tư Cầu cẩn thận chọn hai cái “túc” mới nhất tra vào lòng súng rồi nằm phục vị bên bờ mương vườn, mắt ngó lom lom ra ngoài sông cái. Tuy đinh ninh thế nào Tây cũng đến, mà khi thấy cái mũi tàu sắt đen xì lù lù hiện ra giữa khoảng sương mù gần kế sát bên bờ, Tư Cầu cũng đâm ra khớp.
Anh ta lập cập kêu anh bạn đồng đội nằm gần đó:
– Ê Tư, tụi nó tới rồi kìa!
Anh nầy nhốm người lên nhìn kỹ ra phía sông rồi vội đi tìm một chỗ trú ẩn khác vì có lẽ anh ta không tin tưởng mấy chỗ nấp cũ…
Bọn lính Tây lịch kịch đổ bộ dưới mé sông.
Tư Cầu tháo trái lựu đạn nội hóa buộc nơi lưng ra. Đó là trái lựu đạn duy nhứt của anh ta. Anh ta cẩn thận tháo cái chốt rồi cầm lâm lẩm nơi tay món khí giới mà thưở bấy giờ, anh ta cũng như bao chàng trai khác trong làng đều coi như là “ghê gớm” lắm.
Tư Cầu chờ cho địch đứng lại hơi đông đông để ra tay nhưng mấy lần họ vừa lên tới bờ là tản ra ngay. Cuối cùng không đợi được nữa, anh ta bèn bậm môi tung mạnh quả lựu đạn vào một nhóm năm sáu tên lính vừa mới đặt chân lên mí đất. Trái lựu đạn rớt bịch xuống một đám cỏ. Một tên lính Tây trông thấy la hoảng lên và cả bọn nhào nằm rạp xuống đất…
Tư Cầu nhướng mắt vảnh tai chờ đợi một ánh lửa lóe lên cùng một tiếng nổ vang trời đất.
Nhưng tất cả đều im bặt. Lúc nãy còn có mấy tên lính Tây xì xào thì bây giờ cũng nín thinh luôn.
Sự im lặng nặng nề làm Tư Cầu mướt mồ hôi trán.
Bỗng một tên lính Tây cười rộ lên rồi những tiếng xì xồ tiếp theo đó. Tư Cầu luống cuống chụp lấy khẩu súng hai lòng… Anh ta vừa mới dơ đầu súng lên thì hàng loạt súng máy ở dưới mé sông quạt lên tới tấp.
Tư Cầu bóp cò liền hai lần…
Tiếng nổ của khẩu súng hai lòng như bị những tiếng nổ dòn tan của súng máy địch… nuốt đâu mất, và cố nhiên là không ăn nhằm vào đâu cả.
Tư Cầu hốt hoảng moi hai bì đạn khác tra vào, bóp cò…. súng chỉ nổ có một phát, còn cái bì đạn sau lép luôn. Tư Cầu liếc nhìn sang mấy bạn đồng đội núp gần quanh đó thì thấy bốn bề… vắng tanh.
Khói thuốc súng khét nghẹt lan tràn lấn cả sương mù buổi sáng đã bắt đầu tan dần theo ánh mặt trời lên…
Có lẽ am hiểu tường tận về tình hình địa phương nên sau khi dè dặt ban đầu và nhận thấy không có phản ứng gì đáng kể, địch quân mỗi lúc mỗi túa ra thêm đông và tiến bừa tới như không ngán sợ gì nữa.
Tư Cầu vội nắm chặt khẩu súng nhảy xuống một xẻo nước gần đó, nương theo mấy dề lục binh để lần đi về phía trong ruộng. Nước dưới xẻo chỉ ngập đến ngực anh ta. Bỗng anh ta nhớ trực đến mấy bì súng còn trong túi con dắt ngang lưng và cố nhiên là bị ngâm sâu dưới nước. Nhận thấy không còn xài gì nữa được vì vỏ giấy của bì súng đã nở phồng ra, anh ta vội tháo cả túi đạn đem dấu luôn vào một bụi cốc kèn sát bên bờ, và nhét luôn cả khẩu súng vào trong ấy rồi lấy lục bình phủ lên.
Anh ta lội trở xuống dưới nước, lần mò đi được một đỗi rồi dừng lại nghe ngóng. Thấy bốn bề yên tĩnh, anh ta vội vói tay níu một cành cây de ra để trèo lên bờ.
Tư Cầu vừa nhoi đầu lên thì một mũi súng đen ngòm từ một góc cây trên bờ chỉa ra và chong ngay đầu anh ta. Tự nhiên Tư Cầu muốn phát chạy. Anh ta không biết rằng mũi súng kia có thể nhả đạn bất kỳ lúc nào.
Anh ta mới vừa quay lưng thì nghe một tiếng quát kinh hồn, rồi một bàn tay to lớn chụp lấy cổ mình quật ngã xuống…
Tên lính Tây quơ quơ họng súng trước mặt anh ta và hất hàm hỏi, tiếng lơ lớ:
– Việt Minh? Thanh Niên?
Tư Cầu lắc đầu lia lịa và ngó lom lom họng súng. Anh ta chắc thế nào rồi đây những tràng đạn sẽ đua nhau túa ra từ cái miệng đen ngòm ấy để ghim, để xoáy vào ngực, vào bụng mình.
Một viên thông ngôn tiến đến bên cạnh anh ta và lấy mũi giày khều khều vai anh ta:
– Ê tụi, súng ống đâu lấy mang ra không thôi ổng bắn nát óc đa!
Tư Cầu nhăn nhó đáp:
– Ý trời ông đừng nói vậy hổng nên! Tui dân mần ruộng mà súng ống đâu có! Ông làm ơn nói với Tây mau mau hông thôi ổng lẫy cò bậy chết tui!
Tư Cầu hơi ngạc nhiên vì nhận thấy sao mình… nói dối một cách lưu loát và y như thật vậy.
Tên thông ngôn ngắm nghía một hồi như muốn xem tướng, rồi hắn ta quay sang tên lính Tây nhún vai lắc đầu. Đoạn hắn hỏi thêm:
– Việt Minh ở đây có đông hông mầy? Tụi nó đâu mất hết rồi hả?
– Đông lắm ông ơi! Mà người ta đi hết rồi!
Tên thông ngôn day qua nói lại với người lính tây rồi ra hiệu cho Tư Cầu đứng dậy.
– Thôi, đờ-bu tụi! Ừ, đứng lên, quan lớn biết mầy là V.M. nhưng… tha cho mầy…
Tư Cầu giật mình đánh thót… rồi luýnh quýnh đứng dậy hỏi:
– Vậy… tui đi dìa nhà được hả ông?
Tên thông ngôn đưa tay níu áo anh ta lại:
– Khoan đã! Làm gì mà gấp dữ vậy! Đây nè, mầy lại chỗ gốc cây kia mang dùm cái túi chứa bình điện ra-dô của ông lớn. Đừng có chạy bất tử nghen mậy! Mầy chạy là tao “phơ” liền! Ráng đi về rồi ổng thưởng bánh mì đồ hộp cho mà ăn!
Tư Cầu nhăn nhó chỉ chỉ cái túi đựng vật liệu truyền tin:
– Trời ơi, tui mang cái nầy rủi mấy ông bên kia tưởng lầm tui là phe mấy ông rồi nổ bất tử làm sao đây!
Tên thông ngôn cười xòa:
– Nếu mầy cãi lý không đi thì tao… nổ mầy trước cũng vậy!
Tên lính Tây lại la lối như có vẻ hối lên đường cho mau.
Tư Cầu đành đi rề lại gốc cây mang túi dụng cụ lên vai và lủi thủi đi theo tốp lính lội băng qua đồng tiến về hướng Cầu Kè.
Tư Cầu thầm nghĩ: “Chắc Tây nó đổ bộ lên đây để đánh bọc hậu bên ấy! Không biết có ai chạy rút cho mấy chả hay hông?”
Và mỗi lần tốp lính nổ súng vu vơ, hoặc thận trọng dò bước là mỗi lần Tư Cầu lên ruột. Anh ta cứ thắc mắc nhứt về cái điểm “Rủi bị bên mình bắn lầm! Cha, ở bên Cầu Kè mấy chả có súng mút và lựu đạn Ăng-lê rủi mấy chả mần mình, chết dính chùm với mấy ông tây thì bậy quá! Chết như vậy chẳng mát ruột chút nào!”.
Tuy thế, Tư Cầu và cả bọn lính Tây đều được bình yên vô sự đi đến lộ cái.
Vừa trông thấy hàng còng xanh um chạy dài theo hai bên lề lộ Tư Cầu bỗng thấy như chồn chân.
Lại con lộ đã hướng lên Trà Ôn hướng xuống La Ghì, Cầu Kè. Tư Cầu vẫn giữ một ấn tượng nặng nề về con lộ Định Mạng ấy. Đó là một thứ ranh giới mà mỗi lần Tư Cầu đặt chân bước lên là mỗi lần cuộc đời anh ta phải hứng chịu bao sự đổi thay, bao chuyện thử thách.
… Mặt trời đã lên cao.
Tư Cầu khom lưng đeo túi vật liệu lủi thủi lê bước giữa hàng lính Tây, như đi sâu vào chỗ hẹn của Định Mạng…
Hai đơn vị của Pháp đã nối liền nhau tại quận Cầu Kè. Thế là quận này đã bị chiếm đóng.
Toán lính dẫn Tư Cầu đi (đó là một toán lê dương) túa ra đi tắm cho mát hoặc đi kiếm dừa uống cho đỡ khát, sau một lúc đi bộ vất vả. Tư Cầu có cảm tưởng như không ai thèm để ý đến mình hết. Anh ta ngồi cú rũ dưới gốc me bên cạnh mấy thùng đạn với một vài anh nông phu khác mà Tây cũng bắt khuân vác đồ đạc đi theo như trường hợp của mình vậy.
Tư Cầu bỗng nảy ra ý định trốn thoát. Anh ta lấm lét nhìn tới nhìn lui, rồi khều mấy người bạn cùng trong cảnh ngộ nói nhỏ:
– Ê, tui coi cái vèo nầy tụi mình có thể trốn được đa mấy anh! Có gì tui dông trước nghen!
Một bác nông phu đứng tuổi cự liền:
– Hổng được đâu! Mấy cha rục rịch tụi nó bắn gãy giò đa! Mà chú em xổng đi trước, tụi tui rủi kẹt ở lợi, Tây nó “mần” hết thì sao!
Trong lúc Tư Cầu và bác nông phu ấy cùng mấy người bạn đồng cảnh còn đang thì thầm bàn tán về vấn đề trốn đi thì đã thấy bọn lính nhốn nháo tập hợp lại.
Chỉ có một tốp còn ở lại chiếm đóng còn bọn lính lê dương đều lịch kịch mang đồ đạc lên xe và tất cả đều có vẻ hối hả lắm. Rồi năm sáu tên súng ống cầm tay tiến xâm xâm ngay lại chỗ bọn Tư Cầu đang ngồi, tên thông ngôn cũng xăng xái đi bên cạnh, nét mặt có vẻ nghiêm trọng. Đến nơi bọn lính dùng mũi súng hất hất ra hiệu cho cả bọn Tư Cầu đứng dậy và đi tới…
Tư Cầu lo lắng hỏi tên thông ngôn:
– Ông ơi, bây giờ mấy ổng dẫn bọn tui đi đâu đây? Ông làm ơn nói với mấy ổng thả tụi nầy dìa chớ đi hồi sáng sớm tới giờ chưa có hột cơm…
Tên thông ngôn hơi nhếch mép cười nhưng rồi nghiêm mặt ngắt ngang lời Tư Cầu:
– Thả mấy cha hả? Thả xuống chầu bà thủy thì có!
Câu nói đó như thắng đứng một lượt những bước chân của bọn Tư Cầu. Ai nấy đều há hốc miệng không nói nên được một lời nào để rồi cùng quay nhìn về phía trước: thì đúng rồi, lính lê dương đang dẫn họ đi về hướng cầu tàu ngoài bờ sông chợ…
Bọn lính lại quát tháo giục họ cất bước, một vài tên nóng nảy đã dùng mũi súng chĩa vào sau lưng đẩy tới hoặc lấy bá súng xua đuổi bắt họ phải tiếp tục đi.
Bác nông phu đứng tuổi xụt xịt khóc, kêu vợ kêu con, réo trời réo đất làm mấy tay thanh niên khác cũng đâm ra mủi lòng…
Vừa mới đặt chân lên thanh ván đầu tiên của cầu tàu, bác nông phu khóc rống lên và không chịu đi tới nữa. Hai tên lính quát tháo xô đẩy đánh đập thế nào bác ta cũng nhứt định ghì lại. Còn bọn Tư Cầu thì đã ra trước đứng xếp hàng một bên cầu, kẻ nhìn xuống dòng nước đang chảy xiết dưới dạ cầu, người ngẩng đầu nhìn lên một đám mây trắng đang hững hờ trôi chầm chậm trên nền trời xanh biếc, và cũng có người bạn đồng hành còn muốn trì hoãn cuộc… đăng trình kia.
Riêng phần Tư Cầu, anh ta đứng ngẩn ngơ một hồi, lòng vừa lo sợ vừa rối bời. Cuối cùng, như có một ánh sáng lóe lên trong trí não, anh ta vội nhìn xuống mặt nước, ước lượng từ chỗ mình đứng ra tới mép cầu, liếc mắt canh chừng mấy tên lính lê dương và định bụng sẽ phóng ra nhào đại xuống sông rồi muốn… còn mất gì đó thì phú cho sự rủi may.
Bỗng có tiếng bác nông phu la rống lên như một con heo sắp bị chọc huyết làm Tư Cầu quay lại nhìn. Hai tên lính nổi nóng nhảy vào ôm xốc nách bác ta lôi đi xềnh xệch ra phía cầu tàu. Gần tới nơi, họ xô bác ta ra trước. Bác thoáng nhìn xuống mé nước rồi chới với chạy ngược trở vô.
Hai tên lính như đã quen thuộc với cảnh đó, thản nhiên lên cò súng tiểu liên và không buồn nâng súng lên, họ cứ tiện tay ria liền hai loạt hơi đủ chéo vào nhau. Bác nông phu chỉ kịp rú lên một tiếng, hơi gập người ra đằng trước, loạng choạng trong một đôi giây rồi té lật nghiêng qua một bên, một tay bác còn quờ quạng như cố níu lấy thanh ván cầu nhưng rồi cả toàn thân lại rơi tõm xuống sông. Hai tên lính không bảo nhau mà cùng bước ra phía đầu cầu trông xuống.
Từng loạt súng nổ chát chúa, từng tiếng kêu thét vang lên… Tư Cầu nhăn mặt ngó đi chỗ khác… Anh ta cuống cuồng vừa khiếp sợ vừa lo lắng; người thứ ba, thứ tư, thứ năm… Thế là đến lượt anh ta. Không thể chần chờ gì nữa, anh ta nhốm chân định phóng đại xuống sông… nhưng một bàn tay lông lá vàng hoe, như chực sẵn từ bao giờ thộp ngay ngực anh ta lại. Tư Cầu đổ mồ hôi hột từ từ quay đầu nhìn: đúng là tên lính đã bắt anh ta lúc ban sáng, tên lính có hàm râu quai nón như râu bắp.
Anh ta thầm nghĩ: Chắc thằng này muốn dành phần “hạ” mình đây.
… Mà quả đúng như vậy, đến lượt Tư Cầu, kẻ cuối cùng bị đem đi bắn, có một tên lính khác nhảy xô lại kéo anh ta đi thì bị tên râu quai nón cự nự hất ra. Tên kia bực tức nói láp giáp một hồi rồi hầm hừ đứng chống nạnh một bên đó, vì tên râu quai nón là viên đội lê dương chỉ huy cả bọn của hắn ta.
Sợ Tư Cầu phát nhảy xuống sông nên tên đội xô mạnh anh ta vô phía trong cầu, rồi từ từ móc khẩu “côn” đeo xệ ở một bên đùi lên, mắt vẫn lom lom canh chừng anh ta.
Tiếng “rắc” lên cò súng của tên đội làm Tư Cầu giựt mình đánh thót và thấy cái gì như đau nhói trong lồng ngực. Qua một giây bối rối, anh ta bình tĩnh đi ra phía đầu cầu tàu như là sẵn sàng đi vào chỗ hẹn của tử thần.
Nhưng tên đội râu quai nón mỉm cười tinh nghịch nhìn anh ta rồi bước mau ra dơ tay chận anh ta lại, nói một câu gì đó, có lẽ là một câu chế giễu, rồi xô mạnh anh ta lùi về chỗ cũ.
Tư Cầu bỗng cảm thấy như trời đất tối sầm lại, anh ta định bước ra đầu cầu tàu như ngoan ngoãn chịu chết nhưng để rồi phóng đại xuống sông trước khi tên đội hạ thủ… nhưng tên đội ấy quá tinh khôn. Hắn bước lại gần Tư Cầu nắm lấy vai anh ta ấn mạnh bắt ngồi xuống rồi lạnh lùng dơ mũi cây “côn” lên ngang màng tang anh ta bóp cò…
Tư Cầu nhắm hít mắt lại… nhưng anh ta chỉ nghe có tiếng “cắc” trên đầu, rồi tiếng chửi thề om sòm của tên đội…
Tư Cầu mở mắt ra nhìn lên: đúng là khẩu súng không nổ vì đạn lép. Anh ta mừng quýnh, mừng đến chảy nước mắt nhưng bỗng anh ta há hốc miệng ra kêu lên một tiếng vừa ai oán vừa khiếp sợ…
Tên đội đang lấy viên đạn lép ra và lên cò đẩy một viên khác lên. Tên đội đưa mũi súng lên. Tư Cầu rất kinh hoảng nhưng cũng ngó lom lom vào miệng súng ác nghiệt kia.
Tên đội vẫn chưa bóp cò và vẫn ghìm khẩu súng ngay màng tang Tư Cầu. Hắn có vẻ suy nghĩ vì hắn vừa thoáng thấy vẻ mặt tuyệt vọng quá đỗi của con người trai trẻ vừa mới thoát khỏi một lần bàn tay của tử thần. Bỗng hắn hạ khẩu “côn” xuống, cười phá lên rồi đưa chân đá mạnh vào đít Tư Cầu làm anh ta té chúi nhủi đoạn khoát tay ra hiệu bảo đi.
Tư Cầu đứng dậy, ngơ ngác nhìn tên đội như có vẻ không hiểu. Hắn lại cười và vừa chỉ vào khẩu súng vừa hỏi bỡn cợt một câu. Tên thông ngôn liền chạy lại:
– Ông lớn tha cho mầy đó!
Tư Cầu chỉ vừa nghe kịp câu đó là co giò phát chạy ra phía đầu cầu để lên đường lộ. Nhưng cũng vừa lúc đó, tên lính giành phần “hạ” anh ta lúc nãy đã xách tiểu liên nhảy ra níu anh ta lại và xô anh ta ra phía đầu cầu tàu. Tên đội râu quai nón tức giận xông vào đứng chen vào giữa hai người, rồi hắn ta và tên lính định không buông tha Tư Cầu to tiếng với nhau một hồi…
Tư Cầu hồi hộp theo dõi cuộc cãi vã mà anh ta dư biết là một cuộc giằng co giữa cái Sống và cái Chết của mình.
Cuối cùng tên đội gạt tên lính kia qua một bên kêu tên thông ngôn lại truyền một lịnh gì đó. Tên thông ngôn vội chạy lại Tư Cầu:
– Ê tụi ổng tha mầy đó!
Tư Cầu mừng rỡ hỏi liền:
– Vậy tui dìa được chớ ông?
Tên thông ngôn lắc đầu:
– Khoan đã! Ổng tha là tha chết cho mầy chớ ổng phải giữ mầy lại giải lên trên Cần Thơ để ở trển người ta muốn làm thịt làm cá gì mầy đó thì làm!
Tư Cầu hấp tấp năn nỉ:
– Ý trời ơi, ông nói để ổng bỏ tù tui ở dưới nầy…
Tên thông ngôn lắc đầu:
– Đâu được mậy! Ở dưới nầy… mấy ổng mới xuống đây, nhà cửa ở đâu chứa mầy. Nếu mầy muốn ở lại thì mấy ổng có gởi mầy xuống ở dưới bà thủy thì ráng chịu nghen!
Tư Cầu van nài:
– Vậy ông nói với ổng tha tui làm phước!
Tên thông ngôn cười đáp:
– Ối phước đức gì mấy ổng mầy ơi! Bị thằng kia nó cản mũi cản lái không thôi ông xếp ổng tha mầy mất đất rồi! Thôi mầy chịu khó đi còn có đường hơn chớ ở đây, mai chiều gì đây mấy ổng buồn buồn xách đầu mầy ra cắc bùm thì mệt!
Tư Cầu cúi đầu thở dài.
Tên thông ngôn lại hối:
– Bây giờ đi theo tao tụi!
Đoạn hắn níu áo Tư Cầu kéo lôi đi về phía một chiếc xe vận tải đậu ở gần chợ. Đến nơi tên thông ngôn tìm khúc dây điện thoại nhà binh buộc hai cườm tay Tư Cầu lại, rồi đẩy anh ta leo lên xe.
Tư Cầu ngồi bệt xuống sàn xe tựa lưng vào những bao bị, thùng đạn chất ngổn ngang trên ấy. Ở hai hàng băng cây hai bên, bọn lính ngồi cầm súng thản nhiên như không, có tên đưa mắt nhìn anh ta một hồi rồi không thèm chú ý đến nữa. Có lẽ họ cho anh ta cũng giống như một bao đồ xếp đống dưới sàn xe kia, với lại tên nào tên nấy cũng có vẻ bơ phờ uể oải sau một cuộc hành quân tuy không có gì cam go nhưng mệt nhọc và tẻ ngắt.
Hơn nữa, trên đường chinh chiến của những binh sĩ lê dương ấy, từ Âu châu, Phi châu cho đến mảnh đất của Á châu nầy, một xác chết, một tù binh… đối với họ quen nhàm và không có nghĩa lý gì nữa hết.
… Sau khi tập hợp xong xuôi, đoàn xe tức tốc lên đường. Bọn lính tâu có vẻ vội vã lắm. Hình như bọn chúng bị gấp rút gọi về để đi tiếp viện ở một vùng nào đó.
Tư Cầu có lúc nghe thấy mấy tên lính xì xồ nói chuyện với nhau có vẻ cằn nhằn cử nhử lắm. Anh ta định hỏi tên thông ngôn ngồi gần đó nhưng phần tiếng xe chạy kêu rền, phần… ngán vì thấy tên nầy đang lim dim ngủ gà ngủ gật nên đành nín thinh luôn.
… Hàng xe nối đuôi nhau chạy nhanh như nuốt trọng con đường dài. Tư Cầu chỉ còn nghe tiếng gió vù vù, tiếng máy xe đều đều, và thỉnh thoảng tiếng đồ đạc xóc nghe ầm ầm trên khoảng đường nào quá xấu.
Mấy tên lính cũng lặng trang, có nhiều tên đã ngoẻo cổ ngủ một cách ngon lành.
Tư Cầu ngoái cổ ra nhìn hai bên đồng ruộng.
Đoàn xe đã chạy quá xa những nơi quen thuộc cũ, mé ruộng phía hướng đi về nhà anh ta đã khuất mất từ đời “cố lũy” nào.
Tư Cầu ngồi dưới sàn xe suy nghĩ, lo lắng đủ thứ chuyện: không biết ở nhà có sao không, có ai hay biết gì chuyện anh ta bị bắt chăng, và không chừng đến giờ phút này ở nhà tưởng anh ta đã chết rồi cũng nên !…
… Cảnh vật hai bên đường mỗi lúc mỗi đổi thay, mỗi thêm xa lạ, càng làm cho Tư Cầu thêm chết điếng trong lòng.
Đoàn xe vượt qua mấy cái ụ đất “chướng ngại vật” mà Tây đã san bằng, rồi lịch bịch “bò” qua một đoạn đường bị đào phá và được lấp sơ lại. Một vài câu khẩu hiệu nguệch ngoạc nằm bơ vơ trên tấm vách đất của một điểm canh trống rỗng bên vệ đường… Tất cả những thứ đó làm cho Tư Cầu thêm rầu lòng và có một cái gì bỗng nhiên làm cho anh ta nghẹn ngào rồi… như chán chường một cái gì ở đâu đâu…
Đoàn xe đến ngã ba, lối quẹo về Cần Thơ, lối thẳng lên Sàigòn, thì ngừng lại. Một vài tên lính nhảy xuống nói chuyện với tốp lính đóng bót ở đó… rồi lại leo lên và đoàn xe tiếp tục chạy thẳng về hướng Sàigòn chứ không qua Cần Thơ.
Tư Cầu lóng ngóng nhìn kỹ hai bên lộ một hồi rồi sanh nghi làm gan hỏi đại tên thông ngôn:
– Ông ơi, bộ xe hổng qua Cần Thơ sao ông?
Tên này lơ đãng lắc đầu.
Tư Cầu hốt hoảng hỏi dồn:
– Trời ơi, sao hồi sáng ông nói đưa tui lên Cần Thơ? Ông làm ơn nói lại với mấy ổng coi hay gởi tui lại ở cái bót nào gần đây cũng được…. Ông làm ơn giùm đi ông, ông kêu xe tốp lại…
– Mầy làng chàng mấy ổng “thẩy” mầy vài phát quăng xuống mương ruộng bây giờ! Xe người ta đang chạy rút về Sàigòn mà mầy biểu tốp chớ? Thôi chịu khó lên Sàigòn chơi đi tụi…. mấy thuở dân ở miệt vườn mà có dịp lên “Thầy Gòn” chơi đó mậy!
Tư Cầu nói gần như mếu:
– Thôi ông ơi, cái chuyện lên Sàigòn đó… tui tởn tới già rồi mà mấy ổng còn chở tui lên trển làm chi hổng biết!
– Thì đành vậy! Mấy cái bót dọc đường không có ai chịu lãnh mầy hết thì làm sao? Thôi mầy chịu khó lên trển một chuyến cho biết với người ta, ở tù thì… ở đâu mà chẳng được mậy! Bị xe của mấy ổng gấp về Sàigòn để đi “trăng pho” ở chỗ khác trên miền Đông gì đó…. nên không thể ghé qua Cần Thơ được.
Tư Cầu chán ngán ngả lưng vào bao đồ đưa mắt nhìn khoảng đường đá chạy như không bao giờ dứt ở phía sau, nhìn đầu xe sau lù lù xông tới như muốn xua đuổi anh ta đi sâu vào một tương lai vô định…
Một ngày Tháng Giêng Âm Lịch năm Đinh Tỵ 1977 đã đi qua …
Hôm nay tù cải tạo Đội 11 của Trại 4 được về sớm vì có buổi đọc báo sau bữa cơm chiều. Mỗi tuần có một buổi đọc báo, đôi khi kéo dài cả giờ. Chúng tôi ngồi nghe mà buồn ngủ muốn chết.
Cán bộ quản giáo Đội 11 là một trung úy Việt Cộng có tên Thu. Cán bộ Thu luôn luôn là người chủ trì các buổi đọc báo hằng tuần của lán chúng tôi. Cán bộ Thu bị sứt môi trên, nên chúng tôi lén gọi y bằng cái tên “Thu Sứt”. Thu Sứt ngồi giữa phòng, chúng tôi ngồi vây quanh … Cầm tờ báo Quân Đội Nhân Dân trên tay, với nét mặt thật trang nghiêm và trịnh trọng, Thu Sứt mở lời,
– Qua mục “Đọc báo để học tập” hôm nay, tôi sẽ thay mặt Đảng và Nhà Nước dạy các anh một bài học về vấn đề nhân quyền!
Tiếp đó Thu giơ tờ báo lên cao, chỉ ngón tay trỏ vào cái tiêu đề, lớn tiếng đọc từng chữ:
“Chuyện giết hai ông Mục sư da đen Ma Tinh Lu Tơ Kinh”
Y ngừng lại một giây, gật gù cái đầu, rồi tiếp tục giảng dạy,
– Học xong bài này, các anh sẽ hiểu lý do vì sao bọn đế quốc Mỹ tàn ác đã giết 2 ông mục sư da đen là Ma Tinh và Lu Tơ Kinh.
Xếp tờ báo lại, để trên đùi, Thu đảo mắt nhìn quanh,
– Trong số các anh, có ai biết 2 ông da đen này không? Các anh có biết vì sao mà 2 ông này bị chúng nó giết không?
Hơn 3 chục mạng cải tạo viên của Lán 11 đều ngồi ớ ra, chẳng ai hiểu gì.
Hầu hết các cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa tù cải tạo ở đây đều biết Mục Sư Martin Luther King là ai, vì lý do gì mà ông ta đã chết.
Nay bỗng dưng nghe cán bộ nói có tới 2 ông mục sư Mỹ đen bị sát hại, một ông tên là Ma Tinh, một ông tên là Lu Tơ Kinh thì ngạc nhiên lắm!
Chẳng lẽ chỉ qua chưa tới 2 năm bị giam cầm mà chúng tôi đã không hay biết gì về chuyện một ông mục sư da đen Martin Luther King nay đã biến thành 2 ông mục sư da đen Ma Tinh và Lu Tơ Kinh?
Tôi ngồi sát sau lưng cán bộ Thu nên nhìn rõ cái đề bài in rất đậm: “Chuyện giết hại ông Mục sư da đen Martin Luther King” nhưng chữ “hại” bị mất dấu nặng (.) thành ra chữ “hai” do đó mà cán bộ quản giáo của chúng tôi mới đọc là “2”… ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh!.
Biết thế, nhưng tôi cứ giơ tay lên rồi phát biểu ngay,
– Báo cáo cán bộ! Đế quốc đã giết 2 ông này vì 2 ông này là chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền!
Bình thường thì trong trại này người ta thấy tôi là một anh tù lờ ngờ, ngớ ngẩn, lù đù, chậm chạp trong mọi lãnh vực, từ học tập tới sinh hoạt hằng ngày.
Cán bộ Thu là người phụ trách Đội 11.
Ngày nào y ta cũng dẫn chúng tôi đi lao động.
Y ta ‘quản lý’ mọi hoạt động, mọi sinh hoạt của Đội 11, cả trong vòng rào và ngoài vòng rào.
Y biết kỹ tính nết và khả năng của từng tù cải tạo trong Đội 11.
Y ta đâu có lạ gì tôi?
Vì thế mà chẳng thèm trưng cầu ý kiến anh em trong Đội 11, y tự tiện đặt cho tôi cái tên “Anh Long Lù Đù”. Gặp tôi ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, cán bộ Thu cũng gọi tôi là, “Anh Long Lù Đù! Anh Long Lù Đù!”
Ấy vậy mà hôm nay trước mắt cán bộ quản giáo Thu thì tôi đã tỏ ra là một trại viên vô cùng tiến bộ.
Tên Thu gật đầu hài lòng,
– Đúng rồi! “Anh Long Lù Đù” hôm nay giỏi lắm! Anh Long trả lời rất là đúng! Tôi tuyên dương anh đấy! 2 ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh bị Mỹ giết chỉ vì 2 ông ấy đã là da đen mà còn dám đứng lên tranh đấu cho nhân quyền! Người ta chỉ tranh đấu đòi nhân quyền, mà nhân quyền thì có ăn được đâu? Có bán được đâu? Người ta đòi nhân quyền chứ có đòi cơm ăn, áo mặc, nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc gì đâu mà cũng giết người ta? Đấy! Các anh thấy chưa? Đế quốc Mỹ khát máu như thế đó! Các anh có thấy thương cho 2 ông này không?
Khi nói ra những lời này, nét mặt cán bộ quản giáo của chúng tôi trông thật là thảm thương. Đôi mắt cán bộ rươm rướm lệ.
Chắc cán bộ tiếc thương 2 ông mục sư lắm? Chắc cán bộ oán giận bọn đế quốc lắm?
Cán bộ Thu đưa tờ báo cho anh tù đội trưởng là cựu Đại úy Đặng Kim Bảng,
– “Anh Long Lù Đù” mà còn thấu triệt được ý nghĩa của bài báo, chắc các anh khác cũng thấu triệt rồi! Như thế là buổi đọc báo hôm nay đã đạt được mục tiêu. Tôi cho các anh nghỉ sớm. Anh Bảng giữ tờ báo này rồi cho anh em chuyền tay nhau mà đọc.
Tôi ngây người không cựa quậy nổi! Ai ngờ cái tên quản giáo này vừa ngu, lại vừa lười!
Tôi cứ tưởng, sau khi tôi có ý kiến thì y sẽ bắt ai đó đọc lại bài báo, sẽ thấy cái sai của y, và thấy ngay cái sai của tôi.
Nếu sự việc diễn ra như thế, thì trước mắt cán bộ Thu, tôi vẫn là một anh tù không những đã đần độn, ngớ ngẩn, ngu ngơ, khù khờ, mà còn có tính a dua, nhanh nhảu đoảng!
Chủ ý của tôi một đàng, chuyện xảy ra một nẻo!
Tôi nào có ngờ? Tên Thu này còn ngu hơn cả con bò!
Buổi đọc báo để học tập hôm đó đã kết thúc quá sớm.
Chờ cho tên cán bộ Việt-Cộng đi xa, ông tù cải tạo cựu Trung tá Nguyễn Công Luận mới đứng giữa buồng mở trang báo ra chỉ cho mấy người vây quanh,
– Mẹ nó! Rõ ràng cái tiêu đề của bài báo là, “Chuyện giết hại ông Mục sư da đen Martin Luther King” ấy vậy mà, khi in lên giấy chỉ thiếu một dấu nặng (.) dưới chữ “hại” thế là 1 ông Martin Luther King biến thành 2 ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh!
Anh Luận ngồi cạnh tôi, chắc cũng đọc được cái đề bài. Anh ấy cũng giơ tay xin phát biểu.
Có lẽ anh Luận định sửa sai tên Thu, không ngờ tôi nhanh nhảu quá, khiến cho anh ấy không kịp mở lời thì chúng tôi đã được nghỉ rồi!
Nghe anh Luận cặn kẽ giải thích, anh em mới vỡ lẽ vì sao cán bộ Thu cứ nằng nặc kết tội đế quốc Mỹ khát máu đã đang tay giết chết một lúc 2 nhân mạng can tội tranh đấu cho nhân quyền.
Hết giờ đọc báo, tôi vội kéo tay anh bạn tù Lê Thái Bình tức là Cựu Đại úy Đại Đức Thích Trí Thọ ra cửa để đi một vòng thăm hỏi bạn tù.
Tôi và Bình chui vào căn nhà đối diện Lán 11 là Lán 4 của Đội 4.
Lúc này, trong hiên sau Lán 4, cũng có cả chục ông tù đang ngồi tán gẫu.
Trong số các ông tù hiện diện, tôi cũng có mấy người quen,
1) Cải tạo viên Lê Phong Ba, vốn là Đại Đức Thích Giác An, cựu Đại úy Phó Giám Đốc Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn II.
2) Cải tạo viên Đức Già, tôi không nhớ họ của bác Đức. Bác Đức vốn là Thiếu tá Trưởng Ban Thăng Thưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Đoàn II.
3) Cải tạo viên Nguyễn Văn Triết, vốn là Thiếu tá Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh.
Từ thời còn ở Pleiku thì 2 ông Đức và Giác An biết tôi vì họ đã từng có mặt ở Sân Vận Động Pleiku ngày 15 tháng 9 năm 1974 để tham dự lễ khao quân và choàng vòng hoa chiến thắng cho chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi sau 33 ngày đêm tử thủ.
Bác Đức nhiều lần nhắc đi, nhắc lại chuyện một ngày giữa tháng 8 năm 1974 tôi đang bị Sư Đoàn 320A Cộng Sản vây hãm, bác ấy được lệnh ôm cái gối con có cặp lon trung tá mới toanh, theo chân ông Đại tá Phạm Duy Tất bay trực thăng vào Pleime để thả xuống cho tôi, nhưng máy bay vừa tới Hàm Rồng thì phải quay về, vì có lệnh của Sài-Gòn giữ cái lon đó lại.
Thầy Giác An thì cứ thắc mắc rằng sao tôi ngu quá? Gây thù chuốc oán với những vị quyền cao, chức trọng ở Sài-Gòn làm gì để bị đì tới nỗi không ngóc cổ lên được?
Còn ông Triết Xe Tank lại là bạn đồng hành của tôi từ khi ông ta còn là Trung úy Chi đoàn trưởng Chi Đoàn 1/3 Chiến Xa ở Pleiku.
Ngày mùng 1 Tết Mậu Thân 1968 tôi cùng Trung úy Triết, Chi đoàn trưởng 1/3 và Thiếu úy Tài, Chi đoàn trưởng 2/3 đều bị trọng thương và nằm trong Khu Ngoại Thương 2 của Bác Sĩ Thới, trong Quân Y Viện Pleiku. Tôi và ông Triết thương mến nhau từ đấy.
Bây giờ, qua ông Triết, tôi có thêm một ông bạn mới thuộc giới đánh nhau bằng bút, đó là cựu Thiếu Tá Chiến Tranh Tâm Lý Tô Thùy Yên.
Trước đây tôi không quen ông thi sĩ Tô Thùy Yên, nhưng vì ông này thân với ông Triết, nên có lúc kiếm được củ khoai, củ mài, con cá, mớ rau, tôi đều chia cho 2 vị này.
Không lâu sau, ông Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên cũng có cảm tình với tôi, coi tôi là bạn để ông ta tâm sự.
Cũng trong Lán 4 này, lâu lâu tôi gặp một cựu Thiếu tá Biệt Cách 81 là cải tạo viên Phạm Châu Tài.
Thiếu tá Phạm Châu Tài là đàn em của Đại tá Trần Phương Quế; ông Quế là chú tôi.
Anh Tài đồng trang lứa với tôi. Lúc nào anh ta cũng lạc quan, yêu đời.
Sau một hồi tán dóc với mấy ông bạn Lán 4 thì Thầy Bình quay qua nói chuyện riêng với Thầy Giác An, còn tôi cũng cáo từ để xuống bếp thăm thầy Thinh.
Thầy Thinh cũng là một Đại Đức Tuyên úy Phật Giáo.Tôi không nhớ họ của thầy Thinh, nhưng nhớ pháp danh của thầy là Thích Thiện Thanh.
Thầy Thinh giữ chân bổ củi và đốt lò cho nhà bếp.
Tối tối, tôi thường xuống cửa nhà bếp ngồi chơi với thầy Thinh, không phải để nghe ông ấy giảng giải đạo nghĩa tu hành hay đọc kinh Phật, mà để nghe ông ấy độc tấu những bài tình ca tân nhạc thật là mùi.
Có điều, cây đàn của thầy Thinh không phải là loại Tây Ban Cầm bình thường, mà là một cây guitar phím lõm, còn gọi là guitar vọng cổ.
Vì phím đàn bị khoét lõm, nên khi ngón tay nhạc sĩ nhấn trên phím thì âm thanh phát ra sẽ một nửa mang nét mạch lạc, dứt khoát của Tây Ban Cầm, còn nửa kia lại mang nét dập dìu, uyển chuyển của Hạ Uy Di Cầm.
Có phải vì lý do đó mà khi nghe tiếng guitar phím lõm sô lô, tôi cảm thấy lòng mình mềm yếu hơn nếu so sánh với lúc nghe tiếng guitar bình thường?
Hầu như ngày nào tôi cũng được thầy Thinh cho nghe một lần bài “Biệt Ly” của Doãn Mẫn.
Tôi không biết vì lý do gì mà thầy Thinh lại thích bản nhạc này.
Tôi cũng không tiện hỏi thầy rằng, trong đời, thầy đã trải qua một cuộc chia ly sầu thảm nào chưa?
Riêng tôi thì năm lên 4 tuổi, tôi đã biết thế nào là nỗi buồn đau của một lần biệt ly.
Vào một buổi tối năm 1946, bố tôi đã đưa tiễn Mẹ con tôi lên đường về quê nội Hải Dương.
Ngồi trên toa xe lửa khởi hành rời Hà Nội, tôi đã rơi nước mắt khi nghe tiếng còi tàu rúc lên từng hồi.
Đoàn tàu từ từ đi vào bóng đêm, cùng lúc dưới sân Ga Hàng Cỏ trong ánh đèn vàng của điện đường, hình bóng bố tôi đứng bên cái xe đạp cứ mờ dần, mờ dần …
Sau buổi biệt ly ngày ấy, tôi không còn dịp nào gặp lại bố tôi nữa.
Thế rồi, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu lần biệt ly nữa xảy ra trong đời.
Mỗi lần đối diện một cuộc chia tay, tôi đều hồi tưởng lại câu văn mà năm 1950 tôi đã học thuộc lòng,
“Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”
Câu văn này trích từ bài “Biệt Ly” trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư Lớp Ba.
Đã biết hình ảnh một cuộc chia ly sẽ là nỗi ám ảnh không thể quên cho một con người, vì thế mà ngày tôi đi nộp mình cho kẻ địch, tôi đã lẳng lặng lên đường, tôi đã không ôm hôn và đã không nói một lời từ biệt với vợ con tôi.
Thầy Thinh thuộc rất nhiều bài tình ca, bài nhạc nào thầy đàn cũng hay.
Ngón đàn của thầy Thinh quả là có một không hai! Tiếng đàn cứ như là “nước chảy, hoa trôi …”
Tôi là cựu binh Biệt Động Quân, là con trai, mà còn mê mệt tiếng đàn của thầy thì phải biết thầy đàn hay cỡ nào!
Chẳng biết ngày xưa, đã có bao nhiêu cô con gái, bao nhiêu cô nữ sinh, bao nhiêu cô nữ Phật Tử phải đánh rơi con tim vì tiếng đàn của thầy?
Rồi kẻng gióng lên “Keng! Keng!” báo hiệu tắt đèn; không còn ai được phép đi chơi trong sân hay la cà bên lán khác. Chỉ vài phút sau khi có tiếng kẻng, nhiều ông tù đã ngáy ầm ầm …
Chừng nửa đêm, tôi thức giấc buồn đi tiểu.
Vườn rau nằm sát Lán 4 là chỗ phóng uế ban đêm cho trại viên ở Lán 4, 10 và 11.
Dù trời khuya không có mây giăng và cũng không có sương mù, vậy mà vườn rau trước mặt tôi cũng chỉ là một vũng tối đen.
Gió Bấc từng cơn lùa về…
Trời lạnh quá!
Bên cạnh tôi là một bóng người. Anh ta cứ đứng co ro vừa run vừa càm ràm cái gì đó.
Tiểu tiện xong, tôi quay mình, tính đi vào lán, thì nghe anh ta la to,
– Mẹ ơi! Mẹ có biết rằng con đang đói rét lắm không?
Đúng là lá rụng về cội, vào những lúc đau khổ nhất, tuyệt vọng nhất, người mà ta muốn chia sẻ chính là người đã sinh ra ta.
Nghe tiếng anh bạn tù than van, bất giác tôi cũng chạnh lòng nhớ Mẹ tôi, rồi buột miệng,
-Mẹ ơi! Con nhớ Mẹ! Con thương Mẹ lắm! Mẹ ơi!
Đất nước tang thương, Mẹ mất con, chồng xa vợ, tan đàn xẻ nghé bởi vì đâu?
Đổ lỗi cho ai bây giờ?
Lỗi vì chính ta đã không chiến đấu hết mình, hết sức?
Lỗi tại đồng minh bội bạc?
Lỗi vì cấp chỉ huy bất tài?
Tôi chợt nhớ câu tuyên bố của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:
“Đất nước còn, còn tất cả! Đất nước mất, mất tất cả!”
Nếu chỉ xét về mặt tuyên truyền thì câu nói đó của ông Tổng Thống thật là hay, thật là hữu lý.
Còn xét về mặt thực tế, thì chúng ta nhận ra ngay, những người nhanh chân bỏ chạy, dù có mất nước, mất hết quyền lực, địa vị, nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn, họ vẫn còn vợ con, còn tiền gửi ở ngân hàng ngoại quốc
Điều quan trọng nhất là họ còn tự do, còn cơ hội xây dựng lại cuộc đời.
Họ có mất tất cả đâu?
Trái lạị, để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền Cộng Hòa, chúng tôi đã không trốn chạy, đã chiến đấu tới giờ phút chót, rồi chấp nhận đi tù, chúng tôi mới là những kẻ đã mất tất cả.
Ấy vậy mà, suy cho cùng thì chúng tôi cũng thấy mình còn chút gì đó để tự an ủi.
Chút gì đó chính là cái danh dự của một quân nhân!
Một ông binh nhì đã chiến đấu tới giờ phút chót thì suốt cuộc đời còn lại, vẫn có thể ngửng mặt tự hào.
Còn một ông đại tướng, khi quân thù còn ở cách Sài Gòn cả trăm cây số mà đã lo dắt díu vợ con giành giựt một chỗ ngồi trên boong tàu di tản, thì sau này có dám nhìn mặt ai hay không?
Lịch sử đã chứng minh rằng, đến khi đất nước lâm nguy mới lộ mặt những cấp chỉ huy tham nhũng, bất tài và hèn nhát.
Lịch sử sẽ lưu giữ tất cả.
Rồi đây mọi người sẽ biết ai là người tiếp tay với kẻ thù, giết chết hàng ngàn chiến hữu của tôi ở pháp trường cát Thuận An.
Rồi đây mọi người sẽ biết ai là tác giả cuộc hành quân tự sát trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 khiến cho hàng chục ngàn quân dân Vùng 2 phải bỏ mạng một cách oan uổng.
Ngay trước mắt tôi, cũng trong tháng 3 năm 1975, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi đã sớm hiện nguyên hình là thứ dòi bọ, tham sống sợ chết, mặt xanh như tàu lá, vội vội, vàng vàng leo lên trực thăng đào ngũ bỏ anh em.
Ấy vậy mà, trước tình hình dầu sôi, lửa bỏng nguy kịch đó, dưới quyền chỉ huy của tôi, Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân vẫn là một đơn vị có kỷ luật.
Là những chiến binh cuối cùng còn hiện diện trên Cao Nguyên Vùng 2, tới tháng 4 năm 1975, đồng ngũ Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân của tôi vẫn vững tay súng, bền gan, cam chịu đói khát, rét mướt, vừa đánh vừa lui, chết từng giờ, chết từng ngày, chết đâu, chôn đó, suốt con đường Liên Tỉnh Lộ 8B dặm dài đầy gian khổ.
Một nửa quân số của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã phơi thây trong cuộc rút lui này.
Nửa còn lại chưa kịp chấn chỉnh đội hình đã phải gồng mình, chen vai, góp sức với các bạn Sư Đoàn 18 Bộ Binh để tạo dựng chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa trong trận Long Khánh kéo dài 12 đêm ngày.
Cho tới trưa 30 tháng Tư năm 1975, cả giờ đồng hồ sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, sát nách Thủ Đô Sài Gòn, những người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân vẫn còn chiến đấu.
Những chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã ngã xuố ng bên nhau, linh hồn của họ bay lên trời, biến thành những vì sao …
Thế rồi, gần 2 năm sau ngày thua trận, tôi, con chim đầu đàn của Pleime Vùng 2 đang sống kiếp tù đày.
Đêm nay, một đêm Tháng Giêng Âm Lịch năm Đinh Tỵ 1977, tôi đang đứng giữa sân Trại giam số 4 Cẩm Nhân, Yên Bình, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, ngửng mặt ngắm trời mây.
Giòng sông chứa đầy sao chầm chậm tiến lại, mỗi lúc mỗi gần hơn, mỗi sáng hơn.
Tôi có cảm tưởng như là mình đang núp dưới bóng che của Ngân Hà.
Rồi vào phút giây nào đó, tôi biết chắc rằng những vì sao chói lóa trong dải Ngân Hà trên đầu tôi chính là các bạn tôi; các bạn tôi đang cúi xuống nhìn tôi …
Lấp lánh, lấp lánh, ánh mắt của họ thật là trìu mến và vô cùng ấm áp…
Con sông bạc cứ bồng bềnh …
Lòng tôi vui như mở hội.
Tôi dướn người lên bám lấy bờ sông.
Con sông chợt tròng trành chao đảo, khiến cho tôi trượt chân rơi vào khoảng không, mắt tôi bỗng tối sầm …
Một giây sau, tôi mở mắt ra, thì thấy mình đang nằm đè trên một luống rau dền …
Vậy là, khoảnh khắc trước đây tôi đã sống trong ảo giác!
Hai tù hình sự có nhiệm vụ khiêng Trọng sang bệnh xá, khi trở về đã kể rằng, Trọng nằm trên cáng, một nữ ý tá tới tiêm cho anh một mũi rồi đi ra cửa đứng chờ, tại đây cán bộ Ðản cũng đang đứng chờ.
Mấy phút sau họ nghe Ðản hỏi cô ý tá,
– Sao lâu thế? Sao nó chưa chết?
Người nữ y tá trả lời,
– Cũng phải chờ cho thuốc ngấm chứ! Mạch của anh ta yếu lắm! Thuốc không thể ngấm nhanh. Phải chờ! Chắc cũng không lâu lắm đâu!
Quả nhiên chỉ hai phút sau Trọng chết thật.
Trên tờ giấy chứng tử, cô y tá ký tên một bên, cán bộ Ðản ký tên một bên công nhận rằng bệnh nhân Nguyễn Văn Trọng đã chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng.
Không ai biết thật sự Trung tá Trọng đã chết vì bệnh kiết lỵ hay đã chết vì một mũi tiêm thuốc độc?
Thời gian sau Thầy Bình được chuyển sang nhốt chung buồng với cựu Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn.
Bình và Ðoàn tiếp tục bị bỏ đói, rồi ít bữa sau thấy Ðoàn nằm bất động, Lê Thái Bình lại bắc loa tay,
– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!
Cán bộ bước vào vạch mắt Ðoàn ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðoàn đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,
– Chết rồi! Ðem đi!
Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðoàn xuống nhà tẫn liệm.
Khác với những lần trước, vừa đặt cái cáng xuống đất thì hai anh hình sự nghe tiếng rên,
– Ðói! Ðói! Ðói!
Một anh hình sự vội cho Ðoàn húp bát cháo, Ðoàn sống lại!
Hóa ra anh tù Bùi Bằng Ðoàn chỉ bị đói quá mà ngất đi.
Sở dĩ có chuyện chết đi, sống lại này chỉ vì khi vào vạch mắt Ðoàn để kiểm tra, cán bộ thấy mắt Ðoàn đứng tròng, y tưởng Ðoàn chết rồi, nên mới cho người vào khiêng anh xuống nhà xác.
Không ngờ, Bùi Bằng Ðoàn bị chột, một mắt thật, một mắt giả, cán bộ đã vạch nhằm con mắt giả, thấy con mắt giả đứng tròng, y tưởng Ðoàn đã chết nên mới cho mang xác đi chôn.
Nếu nó vạch con mắt thật ra coi thì Ðoàn sẽ phải nằm đó chờ, chắc chắn sau đó không lâu sẽ chết thật.
Chính con mắt giả của Bùi Bằng Ðoàn đã cứu mạng anh ta.
Từ đó cứ nghe báo cáo có người chết thì cán bộ khám xét cẩn thận hơn bằng cách vạch cả hai mắt nạn nhân ra mà coi, nếu cả hai con ngươi đều bất động thì nạn nhân mới được khiêng đi, nếu một mắt còn động đậy thì cứ để nằm đó chờ chết.
Trong khi đó thì một trại viên khác chết rất âm thầm, anh ta chết đã hai hay ba ngày sau mới bị cán bộ phát giác vì không có ai chứng kiến, không có ai nhốt chung buồng.
Người chết là cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân tên là Sanh.
Anh Sanh là con trai của chủ nhân nhà hàng “Quán Biên Thùy” ở Nhà Bè.
Thế rồi, một đêm, Nguyễn Văn Hồng đã vĩnh viễn ra đi, tác giả “Ðôi giày dũng sĩ” không còn nữa! Con chim ái quốc ấy đã hoàn toàn kiệt sức, không thể cất nổi tiếng hót sau cùng.
Chỉ vì cuối năm 1978 sau khi bị cùm vì tội vượt ngục lần thứ nhì thất bại, tôi đã gặp lại Ðại Ðức Lê Thái Bình ở Trại Phú Sơn 4, Thầy Bình hỏi tôi bí quyết để sống còn khi bị kiên giam, thì tôi đã giải thích cặn kẽ cho Thầy Bình biết rằng,
“Người bị kiên giam vì đói quá, nên mỗi khi được phát cơm, ngô, khoai, sắn hay bo bo, ai cũng ăn thật nhanh cho hết bữa; còn tôi chỉ ăn nhín nửa phần, tới nửa ngày sau mới ăn phần còn lại. Cách ăn này giúp cho cái dạ dày lúc nào cũng đói, lúc nào cũng no. Nhờ vậy mà không bị chết đói!”
Nhớ tới kinh nghiệm “vượt đói” của tôi, Thầy Bình đã cố gắng đánh lừa dạ dày trong suốt thời gian hơn hai năm bị kiên giam ở Trại Mễ nên mới còn hiện diện trên cõi đời này!
Trong thời điểm đó thì ở Nam Hà A, mỗi khi có chuyện xáo trộn như chuyển trại, hoặc nhận thêm người thì cán bộ lại thi hành một đợt kiểm tra và “biên chế”.
Khi “biên chế” thì tù bị trộn lộn, từ đội này chuyển sang đội khác, từ buồng này dọn qua buồng khác.
Lợi dụng cơ hội này, ít lâu sau khi được chuyển đội, ông Trung tá Nguyễn Văn An bèn vượt ngục lần thứ hai.
Rồi ông An cũng bị bắt lại, lần này cai tù không đá đít ông rồi cho phép ông về lại Buồng 15 nữa.
Ông bị tống cổ vào nhà kỷ luật, chịu đủ loại cực hình, rồi bị đưa ra Trại Mễ.
Ít lâu sau thì ông An chết.
Chuyện Trung tá An vượt ngục, rồi chết, tôi đã nghe cựu Ðại tá Cao Văn Ủy tóm tắt lại như sau:
“Anh An vượt ngục một lần nữa để tìm về quê, nhưng chưa tới nhà đã bị bắt lại. Anh bị giam trong phòng kín, có khóa và có lính canh rất cẩn mật. Mỗi ngày anh đều bị dẫn lên văn phòng của Ban Xuyên tức là viên Trung tá Công An Việt-Cộng tên Xuyên, Trưởng Trại Nam Hà để khai báo và nhận cực hình. Tuần lễ đầu, Ban Xuyên, cho lũ chó bẹc giê cắn gãy hai chân anh. Tuần lễ thứ nhì, y cho chó cắn gãy hai tay anh. Tuần lễ thứ ba, y cho chó cắn nát hạ bộ của anh. Sau khi anh ngất đi, tên Xuyên mới gọi y tá đem anh xuống bệnh xá để băng bó tất cả các vết thương trên người. Ngày tiếp đó, anh An bị áp tải lên xe, chở ra bệnh xá ngoài Trại Mễ. Tại đây, anh tiếp tục bị bỏ đói cho tới chết. Anh Trung tá Biệt Ðộng Quân Nguyễn Văn An đã trút hơi thở sau cùng trên mảnh đất mà anh đã sinh ra là Phủ Lý.”
Xác Trung tá An được chôn ở bãi tha ma Trại Mễ. Nơi đây đã có ba sĩ quan Cảnh-Sát Quốc-Gia yên ngủ từ năm 1979, đó là Trung tá Lê Văn Thảo, Trung tá Ðoàn Ðình Từ và Trung tá Nguyễn Lê Tính. Ba sĩ quan Cảnh Sát này đã chết vì kiệt sức.
Cạnh mộ của Trung tá Nguyễn Văn An là mộ của Trung tá Nguyễn Văn Trọng, hoa tiêu trực thăng Biên-Hòa, kế đó là mộ của Ðại tá Nguyễn Phán, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Ðoàn II.
Ông Trung tá Trọng chết vì bị bỏ đói và bị chích một mũi thuốc độc (?) thay vì thuốc trị bệnh kiết lỵ, còn ông Ðại tá Phán qua đời vì bị điên, bị đói, và kiệt sức.
Nhân số Ðội 20 cứ hao hụt dần theo thời gian.
Lâu lâu cán bộ lại họp nhau bình xét, chấm điểm. Ai được điểm cao sẽ được cho về lại Nam-Hà A.
Tới năm 1984 thì tên Trung tá Xuyên về nghỉ hưu. Người thay thế tên Xuyên là một Trung tá Công An tên là Lưu Văn Hán.
Lưu Văn Hán đã từng nhiều năm phục vụ trong ngành Công An ở Miền Nam.
Y đã chứng kiến những điều hay, đẹp, văn minh, nhân đạo, và tiến bộ của xã hội Miền Nam.
Y đã mở tầm mắt để thấy rằng những con người mà y đang giam giữ kia chính là tinh hoa gạn lọc của cả một chế độ, của cả một Miền Nam tiên tiến, văn minh.
Y đã nhìn ra cái giá trị đích thực ẩn tàng trong những con người khốn khổ mà y đang cầm mạng sống.
Vì thế, ngay sau khi nhận chức ít lâu, Lưu Văn Hán đã cho những người còn sót lại của Ðội 20 được trở về Nam Hà A.
Những người bị biệt giam lâu nhất đã ở Trại Mễ đúng hai năm rưỡi.
Họ ra khỏi trại này mà chỉ còn có da bọc xương. Thượng Ðế đã không chấp thuận cho họ được chết, nên tên Xuyên đã về hưu.
Anh Mai Văn Tấn và anh Lê Thái Bình đã may mắn sống sót và được về Nam Hà A lao động trở lại.
Sau đợt chuyển tù vào Nam năm 1982 thì tất cả tù còn sót lại từ Hà-Tây, Phong-Quang, Tân-Lập, Vĩnh-Phú đều tập trung về Nam-Hà A.
Nhân số của trại vào lúc Mai Văn Tấn và Lê Thái Bình quay lại có khoảng trên dưới 300 người.
Anh Lê Thái Bình thường đi lấy củi trong khu nghĩa trang tù. Nghĩa trang tù của Trại Nam-Hà A lúc nào cũng vắng lặng vì ít khi có người vãng lai. Ở đây, ngôi mộ của Trần Hàn có lẽ là nơi buồn nhất, vì đó là một nấm đất cô đơn, nằm cách biệt với nghĩa địa gần trăm thước. Không biết tự bao giờ, ai đó đã trồng ba cây phượng vĩ trên đỉnh đồi này. Ðầu mùa Thu, chỉ cần một cơn gió nhẹ lướt qua, hoa phượng đã rơi lả tả. Thật là không còn gì buồn hơn cảnh tượng đường trơn mưa Ngâu tháng Bảy, âm thầm trên mộ hoa rơi. Lâu lâu Lê Thái Bình lại ghé chốn này, thắp một nén nhang cho Trần Hàn.
Vương Mộng Long và Lê Thái Bình 2016 TX-USA
Xương cốt về Nam…
Tới đầu Xuân 1988 là đợt phóng thích tù chính trị sau cùng, tôi cũng được thả về kỳ này.
Từ nay, trên toàn cõi Việt-Nam chỉ còn hơn một trăm tù nhân gốc Quân, Cán, Chính, Việt-Nam Cộng-Hòa mà thôi.
Số tù còn lại này, trong đó có Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Ðại tá Cao Văn Ủy được tập trung về Trại Z30D là nơi tôi vừa đi qua cổng với cái giấy ra trại.
Dù bận bịu vì sinh kế, nhưng Mai Văn Tấn, Lê Thái Bình và tôi cũng thường có dịp gặp mặt nhau.
Bình kể cho tôi nghe rằng qua sự giới thiệu của anh Phụ là một cựu sĩ quan Cảnh-Sát Ðặc-Biệt, bạn thân của anh Trần Hàn, gia đình anh Trần Hàn biết Ðại đức Lê Thái Bình là người biết rõ mộ phần của Trần Hàn nằm ở chỗ nào trong nghĩa trang, nên đã nhờ anh Lê Thái Bình đi ra Bắc bốc mộ cho anh Hàn.
Theo chương trình dự trù thì Lê Thái Bình sẽ tháp tùng hai người nhà của Trần Hàn lên xe lửa từ Ðà-Nẵng đi Hà-Nội, rồi thuê xe hơi để vào Nam-Hà.
Ðúng hẹn, sáng sớm ngày hôm trước, Lê Thái Bình từ Ðồng Tháp theo xe đò đi Ðà-Nẵng.
Xe vừa đổ Ðèo Cù Mông thì bị đứt thắng, xe lao nhanh xuống dốc.
Ai ngồi trên xe cũng tưởng phen này thế nào cũng chết.
May thay, trong giây phút thập tử nhất sinh ấy, thì phụ tài xế đã giựt được tay lái để xe tông vào vách đá.
Chiếc xe lộn một vòng rồi nằm im. Có hai hay ba người chết, số còn lại đều bị thương. May mắn thay, anh Bình chỉ bị thương nhẹ.
Bình tới Ðà-Nẵng đúng lúc người nhà của Trần Hàn sửa soạn lên xích lô để ra ga. Bình nhập đoàn với họ, mà không kịp có thời giờ rửa tay, và băng bó những vết sây sát trên người.
Ở ngoài Bắc, thời gian này Trại Nam-Hà đã hoàn toàn trở thành một trại tù hình sự.
Chỉ có những người đã chết thì vẫn còn nằm ở đây.
Năm này qua tháng nọ, có lẽ linh hồn các bạn đang yên ngủ ở đây vẫn mong chờ thân nhân tới bốc mộ, đem xương cốt họ về Nam?
Bình dẫn con của Trần Hàn tới một ngôi mộ cô đơn nằm cách nghĩa trang gần trăm mét.
Trong khi kiểm tra hàm răng của Trần Hàn, người con trai của anh Hàn đã thấy một cái răng vàng. Thời sinh tiền, hàm trên của Trần Hàn cũng có một chiếc răng vàng.
Vậy là đúng rồi! Chuyến đi hốt cốt này chắc chắn họ đã không đào nhầm mồ người khác.
Khi gom xương anh Hàn từ dưới mộ lên, anh Bình đã phát giác ra, xương cánh tay trái của Trần Hàn không nằm song song với người anh, mà nằm ở sau lưng anh. Chứng tích này có thể lý giải rằng tay trái của anh Hàn đã bị gãy vì tra tấn.
Xong việc cải táng, Lê Thái Bình giã từ gia đình Trần Hàn, giã từ Ðà Nẵng, lên tàu về Sài-Gòn.
Nhưng sau khi lên tàu hỏa được vài phút thì Bình sờ túi sau, cái bóp đã bị kẻ cắp chớp mất rồi! Vậy là Bình đành nhịn đói, chịu khát cho tới ngày về tới nhà tôi.
Thì ra, giờ đây, tay nghề của dân móc túi ga Ðà-Nẵng đã không thua kém gì tay nghề của kẻ cắp chợ Ðồng Xuân ngoài Bắc.
-oOo-
Dư âm xưa còn vang vọng…
Cuối năm 1988 chúng tôi bắt đầu nộp đơn để được xuất cảnh đi Hoa-Kỳ định cư theo chương trình H.O.
Những người có tên trên danh sách HO1, và gia đình của họ đã tới Mỹ từ tháng Giêng năm 1990, vậy mà tới tháng 5 năm 1992 Trại Z30D mới thực sự không còn ai là tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa nữa.
Bốn người tù sau cùng là Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai đã về tới nhà ngày 5 tháng 5 năm 1992.
Vì có thâm niên 13 năm tù, tôi có tên trên danh sách RD2 nên được ưu tiên xuất cảnh tiếp ngay sau cái đuôi của H15.
Tôi tới Mỹ tháng 4 năm 1993, và chưa một lần về thăm lại Việt-Nam.
Sáng nay tôi vừa nói chuyện với anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích, Bích hỏi tôi có nhớ chuyện cái radio ở Nam Hà A hay không, tôi trả lời rằng có nhớ. Thấy tôi chưa quên chuyện này, Bích bèn nói một hơi,
– Ông có nhớ cái đêm Thứ Bảy trời mưa, chiếc máy thu thanh cứ kêu “cà rẹc! cà rẹc!” khó nghe, tôi phải mở hết volume. Không ngờ âm thanh phát ra lớn quá làm cho thằng Tịnh chú ý, nó kiễng chân lên dòm chỗ tôi với ông nằm. Tôi sợ quá, báo cho ông biết. Vì thế sáng hôm sau ông đã chuyển cái radio qua Buồng 15. Nếu mình giữ nó thêm một ngày nữa thì ông và tôi dính cựa rồi!
Ghê quá! Ðến cái thùng chứa vôi bột trong cầu tiêu mà ông thường giấu chiếc radio cũng bị tụi nó lật úp để kiểm tra. Ghê quá!
Bạn Trần Tiến Bích nói đúng đó! Vì theo chu kỳ dự trù thì Buồng 16 sẽ giữ cái radio cho hết ngày Chủ Nhật, tới chiều Thứ Hai thì Tạ Văn Quang sẽ mang nó qua Buồng 15. Nhưng ngay lúc sáng tinh mơ Chủ Nhật, tôi đã mang nó sang Buồng 15 giao cho bạn Trần Tấn Hòa.
Tôi nghĩ rằng nếu tên Tịnh mà báo cáo cho cán bộ biết cái radio đang ở Buồng 16 thì chỉ có tôi và Trần Tiến Bích bị khám xét, không ngờ sáng Thứ Hai toàn trại bị thanh tra.
Nhắc tới Lê Văn Tịnh, tôi bèn hỏi Bích,
– Bích có biết giờ đây Lê Văn Tịnh còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì Tịnh đang ở đâu?
Bích cười,
– Muốn tìm cố nhân thì ông cứ lên Face Book mà nhắn tin.
Tôi biểu đồng tình,
– Ừ há! Ðể mình vào Face Book tìm xem có gặp được cố nhân không?
Bỗng dưng, danh từ “cố nhân” đã khiến Bích và tôi khao khát được nghe lại tiếng đàn của Lê Văn Chánh.
Vào những đêm mưa, Chánh thường ôm cây guitar hát đi, hát lại bài “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy.
“Ðêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai
Duyên kiếp trong cuộc đời
Ðem xuống nơi tuyền đài
Ðể thành ngọc đá mong chờ ai…”
Lạ một điều là những lúc thả hồn theo từng nốt nhạc thì Lê Văn Chánh chỉ lim dim đôi mắt mà không khóc.
Nhưng giữa đêm khuya, tiếng đàn của nó nghe thảm thiết vô cùng.
Tiếng đàn của nó có lẽ còn buồn hơn là tiếng mưa rơi trên mái nhà.
Tiếng đàn đó đã làm cho hai hàng lệ nóng tuôn trào trên những đôi má đã khô cằn của những người tù già như Dương Khắc Ðệ, Nguyễn Hữu Huyến, Nguyễn Khắc Tĩnh.
Thế rồi tôi liên tưởng tới chuyện thăm nuôi, tới cái chết vì đạn lạc của cháu bé từ Nam ra Bắc thăm bố đang bị tù, và nhớ chuyện “Anh chui qua rào…” của người phi công què ở Nam-Hà A, tôi thắc mắc,
– Bích có tin gì về anh bạn Thần Tượng cụt chân ở Trại 9 không?
Bích cười hô hố,
– Nó đi H.O rồi! Ðang ở Texas! Giờ đây nó có chân giả, đi đứng ngon lành, đẹp trai, đắt đào lắm!
Nghe Bích nói thế, tôi cũng cười hô hố,
– Vậy là hắn ta hết còn được phân công làm việc nhẹ! Nếu gặp hắn, Bích cho mình gửi lời thăm.
Hết tâm tình cùng Trần Tiến Bích, tôi chuyển sang gọi Mai Văn Tấn, Tấn đang chơi với cháu, nhưng nghe tiếng tôi thì bỏ cả cháu mà bàn chuyện Trại Mễ, chuyện Trung tá Nguyễn Văn An, chuyện Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn, chuyện bỏ đói, chuyện kiên giam…
Ðiện thoại của Mai Văn Tấn hết điện trì, tôi bèn bấm số Texas tìm Lê Thái Bình.
Thầy Bình đang làm công quả trong một ngôi chùa Việt-Nam ở Arlington.
Vậy là đôi bạn cố tri tranh nhau phát ngôn, nào là chuyện tôi và Bình đi hái trộm bắp của cán bộ cai tù để cứu đói cho bạn đồng cảnh ở Cẩm-Nhân, chuyện sau ngày ra tù hai đứa tôi chèo ghe vào mật khu Cờ Ðỏ, nghe thằng Việt-Cộng già, đảng viên Cộng-Sản thâm niên, chửi cha Cộng-Sản vì bị ngược đãi… vân vân.
Rồi tim tôi bỗng chùng xuống khi nghe thầy Bình nhắc tên những đồng ngũ vừa ra đi trong thời gian gần đây như Lê Minh Ðảo, Lê Văn Chánh, Trần Công Hạnh, Chu Trí Lệ, Tạ Văn Quang…
Thế hệ của chúng tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong khói lửa.
Chúng tôi đã đem hết khả năng và cả xương máu của mình để bảo vệ quê hương. Ðất nước mất, chúng tôi là những người chịu trách nhiệm.
Chúng tôi đã trải qua những tháng ngày dài sống trong cảnh đọa đày.
Bởi vậy, những kỷ niệm đau buồn sẽ mãi mãi đeo đẳng trong đầu, không thể nào quên.
Cho dù nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng dư âm của cuộc chiến Việt-Nam trong thế kỷ 20 vẫn chưa thể chấm dứt.
Người Việt Miền Nam vẫn còn âm ỉ mang trong lòng một nỗi đau.
Gần đây tôi nhận được một tin nhắn trên Face Book của một hậu duệ Việt-Nam Cộng-Hòa, nhờ các chú các bác có tin tức gì về bố của cháu thì cho cháu hay, vì sau ngày Miền Nam sụp đổ năm 1975, bố của cháu đã bị đưa ra Bắc để học tập cải tạo, tới nay, tháng 11 năm 2022 bố cháu vẫn chưa về.
Chiến tranh kết thúc đã 47 năm rồi, trại tù cũng đóng cửa lâu rồi, chắc không có ai ngờ rằng, giờ đây lâu lâu vẫn còn những chuyến tàu xuyên Việt chở theo xương cốt của cựu tù Việt-Nam Cộng-Hòa từ Bắc vào Nam… âm thầm.
Mấy chục năm qua, tôi đã có quá nhiều lần vẫy tay vĩnh biệt.
Mỗi khi bạn hữu hay người quen qua đời, tôi thường phân ưu hay chia buồn.
Nhưng có một ngày, tôi chợt nghĩ ra, đời mình đã quá buồn, quá khổ, nếu gánh thêm cái buồn, cái đau của người khác thì chỗ đâu mà chứa?
Thế là từ ấy, bạn bè hay người quen ra đi, tôi đều gửi cho thân nhân của họ lời nhắn sau đây:
“Chúc (anh, chị, ông, bà, bạn hiền, chiến hữu… vân vân) lên đường vui vẻ!”
Tôi đã nhìn đời với con mắt lạc quan hơn. Ðầu óc tôi cũng thanh thản hơn.
-oOo-
“U! U! Oa! Oa!”
Có tiếng loa vang vang, một con tàu sắp rời bến, nhường chỗ đậu cho một con tàu khác đang vào bờ…
“U! U! Oa! Oa!”
Tiếng loa nghe sao quá não lòng.
Phà cập bến, tôi không quen ai trong số những khách đang bước lên bờ.
Phà rời bờ, tôi cũng chẳng quen ai đang bước xuống phà.
Phà có hai trụ cờ, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía mũi, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía lái. Hai lá cờ bay phần phật trong gió.
Ðứng trên boong tàu có đôi người giơ tay vẫy về hướng bến từ giã.
Tôi cũng giơ tay đáp lại.
Tôi hy vọng rằng, nếu ngày nào đó tôi trở lại thăm chốn này, rồi tình cờ gặp lại người đứng trên boong tàu vẫy tay hôm nay, có lẽ người đó sẽ rất vui, và tôi cũng sẽ rất vui…
Hôm nay là một ngày cận kề lễ Thanksgiving 2022 ở Mỹ.
Trước mắt tôi là dòng nước đang trôi ra biển…
Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà qua sông Ðáy năm xưa.
Trên chuyến phà năm 1979 ấy có nhiều cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã qua sông nhưng không còn sống sót để trở về…
Thế rồi một hôm, xui xẻo làm sao, anh đã bị cán bộ bắt được khi vừa ôm mấy củ sắn chui trở vào trong vòng rào.
Tên Việt-Cộng hỏi,
– Anh làm cách nào mà có mớ sắn này? Khai ra mau!
Hòa thật thà thú tội,
– Trình cán bộ tôi chui ra vườn ngoài rào đào trộm.
Thằng bộ đội tỏ vẻ nghi ngờ,
– Tôi không tin! Rào tre kín thế thì anh làm cách gì mà chui qua? Ðâu? Anh chui như thế nào thì làm lại cho tôi xem!
Nghe thế, anh pilot Việt-Nam Cộng-Hòa ngây thơ vội nhanh nhẹn dẫn tên cán bộ Việt-Cộng ra vị trí mà anh đã vạch một lỗ xuyên qua hàng rào nứa.
Tiếp đó anh từ từ biểu diễn lại màn “Anh chui qua rào…” cho tên cán bộ xem.
Vào đúng lúc anh ở vị thế đầu ngoài rào, chân trong vườn, thì “Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!” ba viên đạn liên tiếp nổ giòn.
Tiếng súng chưa kịp dội trong vách núi đã có tiếng la thất thanh,
“Ối! Anh em ơi! Cứu tôi với!”
Cũng ngay sau đó là tiếng hô hoán đặc sệt giọng Nghệ -Tĩnh của thằng quản giáo,
“Trốn trại! Báo động! Có tù trốn trại!”
Lập tức, kẻng báo động “Keng! Keng! Keng!” khua vang, vệ binh chạy xuống ào ào. Trại 9 nhốn nháo, om sòm.
Ðêm hôm đó tất cả cải tạo viên trong Trại 9 đều biết tin anh cựu phi công Trần Văn Hoà vượt ngục, nhưng không may, vừa chui chưa khỏi rào đã bị cán bộ tuần tra bắt gặp rồi bắn cho gãy giò.
Trại 9 có cái bệnh xá của Liên Trại 4 nằm sát bên, nên anh Hòa đã được cứu chữa cấp kỳ, vết thương không kịp làm độc.
Y tá Việt Cộng đã cứu anh bằng cách nhanh tay cưa đứt ngoém một chân anh. Cưa sát tới đầu gối, cưa không thuốc tê, cưa không thuốc mê, và cưa bằng cưa thợ mộc!
Sau khi vết thương kéo da non, Hòa được ưu ái cho về đội đan lát làm công việc nhẹ. Tới khi chuyển trại về Nam-Hà A anh Hòa cũng được làm việc nhẹ.
Nghe Hòa kể lại chuyện chui rào, mà tôi thấy sởn da gà và dựng tóc gáy.
Tôi sởn da gà vì không thể tin rằng trên thế gian này lại có thứ người gian manh, quỷ quyệt, và khát máu như tên cán bộ Việt-Cộng kia.
Hình như cái ác, cái gian đã tiềm tàng trong huyết quản của thằng cán bộ này từ ngày nó mới sinh ra?
Thay vì chỉ phạt cùm, phạt nhốt bỏ đói anh Hòa vài ngày, nó đã nghĩ ngay ra phương cách hợp lý để lạnh lùng bắn nát một chân anh.
Tôi dựng tóc gáy vì thấy cung cách cứu thương của Việt-Cộng sao mà dã man và tàn độc quá.
Ngày còn bị giam ở Trại 3 tôi đã nghe anh cựu Ðại úy Trần Mộng Long kể lại rằng, anh ta bị đau ruột dư, được mang lên bệnh xá Liên Trại 4 chữa trị.
Anh được mổ bụng bằng con dao cạo của thợ hớt tóc, mổ không thuốc mê, mổ không thuốc tê.
Thấy thế đã sợ rồi.
Nay so với chuyện cưa xương ống chân của anh Trần Văn Hòa, cũng không thuốc tê, không thuốc mê, mà còn bị cưa bằng cưa của thợ mộc thì chuyện mổ ruột dư của anh Trần Mộng Long chỉ là chuyện tầm thường, không đáng kể.
Cuối năm 1980 Trại Nam-Hà A có một đợt phóng thích. Trong số những người được thả có thân phụ của chú Tạ Văn Quang là cựu Ðại tá Tạ Văn Kiệt.
Buồng 16 cũng có hai người được về nhân dịp này; người thứ nhất là cựu Ðại úy Trần Bá Huệ của Phủ Tổng Thống, anh Huệ được ông Dương Văn Minh bảo lãnh, người thứ nhì là cải tạo viên Lê Văn Tịnh, không biết ai đã bảo lãnh anh ta.
Cũng nhân dịp này, Buồng 16 có nhân viên đánh xe cải tiến đổ thùng mới là anh cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân Nguyễn Văn Thương.
Anh Thương đã tình nguyện thay chân anh Chánh, vì anh Chánh bị bệnh sốt rét, xơ gan phải đi nằm bệnh xá.
Ngày Lê Văn Chánh được đưa xuống bệnh xá, tôi những tưởng rằng sớm muộn gì bạn tôi sẽ qua đời. May thay anh em gom góp được gần chục vỉ thuốc trị sốt rét hiệu Fansidar cho Chánh uống, nên Chánh thoát chết. Vì thế mà từ đó, Lê Văn Chánh có biệt danh là “Chánh Phăng Si Ða”
Bệnh xá nằm ở góc cuối sân, cách Buồng 16 một bức tường cao.
Người cai quản bệnh xá là Bác sĩ Trần Văn Chơn, em ruột Bác sĩ Trần Lữ Y Tổng Trưởng Y Tế Việt-Nam Cộng-Hòa.
Phụ tá cho Bác sĩ Chơn là Bác sĩ Trương Như Quyến, em ruột của Luật sư Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của Chính Phủ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Trong thời gian Lê Văn Chánh đi nằm bệnh xá thì có một phái đoàn quan khách ngoại quốc tới thăm trại. Những người không có phận sự như tôi bị tập trung rồi bị dẫn vào trong trại chăn nuôi của hình sự ngồi chờ, khi nào phái đoàn đi khỏi, chúng tôi mới được về. Trại chăn nuôi nằm cách Trại A chừng một cây số về hướng núi. Xế chiều chúng tôi được dẫn về.
Tôi về tới trại thì Lê Văn Chánh đã đứng chờ trước sân.
Chánh đưa cho tôi một lon sữa bò còn hơn nửa,
– Long uống đi! Uống cho khoẻ.
Tôi hỏi,
– Của hiếm này ở đâu ra thế?
Chánh hối thúc,
– Uống đi! Uống hết đi rồi tui kể cho nghe.
Tôi há miệng hút hết nửa lon sữa đặc không pha. Chất ngọt của sữa làm cho tôi muốn cứng họng.
Thì ra hôm đó phái đoàn đã xuống quan sát tại chỗ tình trạng sức khoẻ và đời sống của các cải tạo viên đang nằm bệnh xá.
Họ trầm trồ khen ban chỉ huy trại đã đối xử với tù rất là nhân đạo khi thấy đầu giường mỗi bệnh nhân đều có một hộp bánh ngọt và một hộp sữa đặc có đường.
Trong khi phái đoàn đang nói chuyện với Bác sĩ Trương Như Quyến thì Bác sĩ Trần Văn Chơn ra dấu cho anh em bệnh nhân mở bánh ra ăn, mở sữa ra uống.
Phái đoàn thấy cảnh này thì có vẻ thích thú lắm, vài vị quan khách còn đem máy ảnh ra bấm lia lịa…
Anh Lê Văn Chánh sau khi xơi hết hộp bánh ngọt bèn làm một hơi nửa hộp sữa đặc có đường. Uống được nửa chừng thì Chánh nhớ tới tôi. Chánh để dành cho tôi nửa hộp.
Phái đoàn đi rồi, Bác sĩ Quyến mới giãy nảy lên,
– Anh Chơn! Anh cho tụi nó ăn hết đồ biểu diễn thì anh chịu trách nhiệm đó. Tui coi như không dính dáng gì tới vụ vi phạm này!
Bác sĩ Chơn đóng vai ngây thơ,
– Ủa! Không phải là mấy thứ đó trại đem xuống để bồi dưỡng cho người bịnh ư?
Bác sĩ Quyến trợn mắt,
– Bồi dưỡng cái con khỉ! Chỉ để biểu diễn thôi! Hết thăm viếng mình phải thu lại trả cho trại!
Hôm sau có lệnh của ban chỉ huy trại cho Bác sĩ Trương Như Quyến làm “Bác sĩ Trưởng” còn Bác sĩ Trần Văn Chơn tụt xuống làm nhân viên.
Cũng tự đó về sau, mỗi khi có phái đoàn tới thăm, tất cả bệnh nhân già, trẻ, què quặt, hay liệt chiếu, liệt giường đều bị điệu sang trại chăn nuôi từ sáng sớm.
Thay vào đó là những tù hình sự được nằm vào giường bệnh và được dặn dò cẩn thận rằng không được mở mấy gói bánh ngọt và sữa hộp ra ăn.
Những đồ ăn này chỉ để trang trí lòe mắt phái đoàn.
Phái đoàn đi rồi thì những thứ này phải đem trả lại cho căng tin của trại.
Ðầu năm 1981 có đợt chuyển trại quy mô đầu tiên. Một số tù được di chuyển từ Nam Hà để về Nam, tới các Trại Gia-Trung, Pleiku và Z30C, Z30D, Hàm-Tân, Thuận-Hải.
Những nhân vật ở Buồng 16 có liên quan trực tiếp tới cái radio và cái quan tài của Trần Hàn là Hồ Văn Hòa, Tạ Văn Quang, Trần Tiến Bích, Vương Mộng Long, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Ninh, đều được di chuyển vào Nam.
Riêng cải tạo viên Lê Văn Chánh vì mang bệnh sốt rét nặng nên còn nằm bệnh xá.
Tới đầu năm 1982 Chánh Phăng Si Ða cũng được chuyển trại.
Sau đợt giảm tù lần này Trại Nam-Hà A bắt đầu bị đưa vào chế độ cai quản khắc nghiệt hơn xưa.
Lò sát sinh Trại Mễ…
Tôi đã bị đưa vào Nam từ đầu năm 1981, những sự việc xảy ra từ 1982 tới 1988 mà tôi ghi lại tiếp theo đây là lời tường thuật của các anh cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, cựu Ðại úy Thủy Quân Lục Chiến Mai Văn Tấn và cựu Ðại úy Ðại Ðức Lê Thái Bình.
Một hôm, ông cựu Trung tá Nguyễn Huề lang thang sang buồng khác thăm bạn bị tên Chèo Lực bắt gặp. Lời qua tiếng lại vài ba câu chưa xong thì tên Chèo Lực đã ra tay đánh ông Huề.
Sáng hôm sau, giờ tập họp đi lao động anh em Ðội 20 đã reo hò “đả đảo!” để phản đối Chèo Lực.
Ða số cải tạo viên Ðội 20 là những người còn rất trẻ, là thành phần phản động và Phục Quốc.
Ðội trưởng Ðội 20 là cựu Trung úy Pháo Binh tên là Nguyễn Văn Hồng.
Hồng nhỏ con, trắng trẻo, mắt lồi, nhưng rất dễ mến.
Hồng là một nhạc sĩ tài tử, anh đã viết được vài bản nhạc mà bạn bè rất ưa thích. Trong đó nổi bật là hai bài “Như Mưa Cam Lồ” và “Ðôi Giày Dũng Sĩ.”
Nguyễn Văn Hồng là một con chiên Công Giáo, nhưng khi thai nghén tác phẩm “Như Mưa Cam Lồ” thì anh đã tham khảo ý kiến của cựu Ðại úy Ðại Ðức Tuyên úy Phật Giáo Lê Thái Bình, do đó lời của bài hát này đã giống như lời tiên tri của sự mất mát, của sự chia ly, và của sự siêu thoát.
Trong khi đó thì lời ca của bài “Ðôi Giày Dũng Sĩ” lại mang tính chất bùng nổ, tàn phá như tiếng súng thần công, tiếng đạn đại bác.
Bài hát mở đầu với câu, “Ðôi giày dũng sĩ đạp nát quân thù!”
Lời ca này đã thể hiện con người thật của Nguyễn Văn Hồng là một sĩ quan Pháo Binh.
Vì trình độ ký âm của Nguyễn Văn Hồng không khá cho lắm, nên mỗi khi viết xong một bài ca, Hồng đều nhờ nhạc sĩ cựu Ðại tá Lê Thọ Trung chỉnh sửa.
Hôm đó Ðội 20 đã châm ngòi một cuộc nổi dậy.
Trong sân trại, tiếng la ó dậy trời lan từ đội này tới đội khác.
“Ðả đảo Chèo Lực! Ðả đảo Cộng Sản!”
Thế là không khí bỗng chốc sục sôi như sắp có bạo loạn.
Ngay lập tức, vệ binh ào xuống đuổi tất cả trại viên về buồng.
Hôm sau Ðội 20 bị áp tải sang phân trại B.
Ðại đức Lê Thái Bình thuộc quân số của Ðội 20 nên bị đem đi đã đành, nhưng “Con nhạn là đà” Mũ Xanh Mai Văn Tấn ở Ðội 27 mà cũng bị còng tay thì thật là oan.
Ngày xảy ra chuyện lộn xộn, Mai Văn Tấn không những đã tích cực to tiếng “Ðả đảo Chèo Lực!” mà còn nhởn nhơ quơ chân, múa tay trước mắt cán bộ, nên cán bộ đã túm cổ, còng tay, tống vào trong hàng ngũ Ðội 20.
Vào Trại B các anh hùng trẻ tuổi của Ðội 20 vẫn tiếp tục các hành động chống đối và phá rối.
Ở đây cũng đã có những nhân vật cứng đầu, bất khuất sẵn sàng chung vai sát cánh với Ðội 20 như cựu Trung tá hoa tiêu Trực thăng Nguyễn Văn Trọng, cựu Ðại úy Ðơn vị 101 Nguyễn Tấn Mới.
Buổi sáng ngày mà Ðội 20 chuẩn bị rời Trại B thì tên trưởng trại cho lệnh tập họp tất cả tù đứng trước sân rồi lớn tiếng hỏi,
– Các anh thấy Ðội 20 phá phách, quấy rối như thế thì đúng hay sai?
Trong hàng ngũ tù có ai đó trả lời thật lớn,
– Ðúng! Ðội 20 phá phách là đúng!
Ngay lập tức, người vừa phát ngôn câu phát biểu trên đã bị tống vào hàng ngũ Ðội 20. Người trẻ tuổi này là một cải tạo viên diện Phục Quốc và phản động. Cậu ấy mới 15 tuổi, có tên là Tài. Anh em gọi cậu bé này là Tài Con.
Rồi Ðội 20 cùng các cảm tình viên của đội này là Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Tấn Mới, Tài Con bị trói tay đưa lên xe chở ra Trại Mễ.
Trại Mễ là tên của một trại tù xây dựng trong ngôi làng có tên là làng Mễ ở Phủ Lý. Nhân chuyến chuyển trại từ Thái Nguyên về Nam Hà đầu năm 1979 tôi đã có dịp ngủ qua một đêm ở trại này. Trại có hai hệ thống nhà giam, một ở dưới hầm và một ở trên mặt đất. Mỗi hầm có sức chứa khoảng bốn chục tù nhân nằm sát nhau. Ngày qua trại này, tôi bị nhốt trong hầm nên không rõ trên mặt đất có hình dáng thế nào.
Từ năm 1982 thì Trại Mễ trở thành một chi nhánh đặc biệt của Trại Nam Hà.
Trại này là nơi tập trung hai dạng tù.
Tù cứng đầu, và tù nhân bị bệnh nặng.
Người ta đặt tên cho Trại Mễ là “Ðoạn Ðầu Ðài” hay “Lò Sát Sinh” vì ai bị đưa tới đây chắc chắn sẽ không sống sót.
Tù cứng đầu bị tra tấn và bỏ đói cho tới chết. Tù bệnh nặng thì không cần chữa trị, cứ để nằm đó chờ bao giờ tắt thở thì đem chôn.
Khẩu phần lương thực của tù nhân ở đây bị cắt giảm 50 phần trăm, nghĩa là chỉ có nửa chén bo bo mỗi bữa, nước thì nửa lon Guizgo để uống, nửa lon Guizgo để làm vệ sinh một ngày.
Tù bình thường sẽ được tắm rửa mỗi tháng một lần, còn tù loại nguy hiểm thì sáu tháng mới được tắm gội một lần.
Ðội 20 tới Mễ không lâu thì một vụ giết người đã sớm xảy ra, kết thúc một mạng sống.
Khi biết tin anh cải tạo viên cựu Thiếu úy Cảnh Sát Vương Khai Quân, trong kỳ thăm nuôi vừa qua đã được người nhà dúi cho một cái nhẫn hai chỉ, thì cán bộ Ðản cai tù đã sai tên Trí, một tù hình sự siết cổ Quân để cướp vàng cho Ðản. Chuyện giết người cướp của vỡ lở, tên Trí bị còng tay đem đi, không rõ đi đâu. Xác của Vương Khai Quân thì ra nghĩa địa.
Ở Trại Mễ bỗng có bệnh kiết lỵ.
Bệnh này lây lan rất nhanh và giết người cũng rất nhanh.
Sau cái chết của Thiếu úy Vương Khai Quân là cái chết của cựu Trung sĩ Không Quân Nguyễn Văn Ðịnh.
Trung sĩ Ðịnh chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng, nghĩa là vừa bị đi cầu ra máu, vừa bị sốt cao.
Nguyễn Văn Ðịnh là người tù cùng buồng với Ðại Ðức Lê Thái Bình. Thấy Ðịnh nằm im không thở, Bình bèn bắc loa tay la lên,
– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!
Cán bộ bước vào vạch mắt Ðịnh ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðịnh đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,
– Chết rồi! Ðem đi!
Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðịnh xuống nhà tẫn liệm.
Tuần sau, cựu Trung tá Nguyễn Văn Trọng được đưa tới giam chung buồng với Lê Thái Bình. Anh Trọng cũng đang bị bệnh.
Trọng than thở rằng anh đói bụng lắm, Bình đã bóp bụng nhường cho bạn một nửa phần ăn, nhưng Trọng vẫn đói.
Sau đó, Nguyễn Văn Trọng được chuyển sang chung phòng với Nguyễn Tấn Mới.
Rồi một buổi tối Trọng được đưa qua bệnh xá chữa bệnh.
Nhưng y tá vừa chích cho Trọng một mũi thuốc thì chỉ vài phút sau Trọng đã tắt thở.
Monontelepre là một thị trấn gồm bảy ngàn dân nằm chìm sâu dưới đáy thung lũng của dãy núi Gammarata, cũng như chìm sâu trong nghèo đói. Ngày 2 tháng 10 năm 1943, dân thị trấn đang tưng bừng chuẩn bị lễ Kính Thánh Bổn Mạng (1) của thị trấn sẽ khởi đầu ngày hôm sau và kéo dài ba ngày. Lễ Kính Thánh Bổn Mạng là một biến cố lớn nhất trong năm của toàn thị trấn, lớn còn hơn cả lễ Phục Sinh hay lễ Giáng Sinh, lớn còn hơn cả ngày kỷ niệm kết thúc cuộc đại chiến hay kỷ niệm ngày sinh của một vị anh hùng dân tộc. Lễ Kính Thánh Bổn Mạng của mỗi vùng một khác, tuỳ vùng đó chọn vị thánh nào đỡ đầu cho mình. Đó là một trong những tập tục lâu đời và mạnh mẽ mà ngay cả chính quyền phát – xít cũng không dám đụng đến, chứ đừng nói gì đến cấm cản. Để tổ chức lễ Kính Thánh Bổn Mạng, mỗi năm người ta bầu ra một uỷ ban gồm ba vị thân hào danh sĩ có uy tín nhất trong thị trấn. Ba vị này sẽ chỉ định các uỷ viên lo quyên góp tiền bạc và hiện vật. Mỗi gia đình đóng góp tuỳ khả năng. Ngoài ra, còn có các uỷ viên đi quyên góp ngoài đường phố. Gần đến ngày trọng đại ấy, uỷ ban “tam vị” bắt đầu xuất chi cái quỹ còn tồn tại từ những năm về trước. Họ thuê một phường kèn, một anh hề, treo những giải thưởng lớn cho các cuộc đua ngựa đủ kiểu, diễn ra trong suốt ba ngày, mướn những chuyên viên trang trí nhà thờ và đường phố. Dưới bàn tay của những chuyên viên này, thị trấn Montelepre tồi tàn, nghèo nàn, u ám thoắt chốc biến thành một thành trì thời Trung cổ. Một đoàn múa rối cũng được gọi tới. Những người bán hàng quà rong dựng lều, dựng quán… tấp nập. Nhiều gia đình ở Montelepre có con gái đến tuổi cập kê cũng nhân ngày lễ này để kén rể hoặc cho làm lễ đính hôn. Quần áo mới, khăn choàng mới. Diêm dúa. Đám con gái điếm từ Palermo dựng lều ngay ngoài rìa thị trấn. Giấy phép hành nghề, chứng chỉ y khoa của đám con gái “Bạch Mi sư tổ” được treo ngoài vách lều bằng vải bố sọc trắng đỏ hoặc trắng xanh. Một vị thầy dòng nổi tiếng là thánh thiện cũng được mời tới để thuyết những bài giảng có tính cách lễ nghi chính thức. Sau cùng, vào ngày thứ ba cũng là ngày kết thúc dịp lễ, có cuộc rước kiệu di cốt của Thánh Bổn Mạng qua các thành phố. Toàn thể dân thị trấn – kể cả những người chỉ đến nhà thờ một lần duy nhất lúc mới lọt lòng được gia đình ẵm tới để làm phép rửa tội – đi theo hầu kiệu và dắt theo nào bò, nào ngựa, nào lừa, nào heo… để bán khoán cho thánh, đặng thánh ban phước cho ăn no chóng lớn, mạnh khoẻ dài dài để kéo xe, kéo cày cho khoẻ. Trên kiệu, chỗ để di cốt của Thánh, người ta tranh nhau chất lên đó nào là tiền, nào heo, nào bánh kẹo và cả những vò rượu nữa. Những ngày này là những ngày ăn chơi xả láng của toàn dân thị trấn, để rồi cả năm có phải đói dài dài cũng mặc kệ, để rồi ngày ngày có phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm hùng hục như lừa trên đất của các quận công, bá tước, đặng đổi lấy một vài đồng bạc cũng “chấp”. Chơi đã, mọi sự hậu xét. Ngày đầu tiên trong dịp lễ Kính Thánh Bổn Mạng của thị trấn Montelepre năm đó, Turi Guiliano được chỉ định tham gia nghi thức khai mạc: đó là cuộc “thả nọc” giữa con la “mầu nhiệm” của thị trấn Montelepre với một con lừa đực to nhất và khoẻ nhất của thị xã. Thật ra, rất hiếm khi – có thể nói là không bao giờ – một con la cái có thể thụ tinh. Giống la được liệt vào loài thú không có khả năng sinh sản. Nhưng ở Montelepre đã có một con la cái ngoại lệ và do đó “mầu nhiệm” vì nó đã đẻ con. Trước đó hai năm, nó đã đẻ ra một con lừa. Chủ nhân của con la ấy đồng ý – coi như phần đóng góp của gia đình cho buổi lễ – dâng con la ấy để làm nghi lễ khai mạc. Và nếu sự lạ xảy ra lần nữa, thì con của nó sẽ được dùng vào dịp lễ này năm sau. Trong nghi thức này có một sự chế nhạo thâm thuý, chua cay và độc địa. Vì nghi thức “thả nọc” chỉ biểu hiện cái ý thức, ý nghĩa mà nông dân Montelepre nói lên. Nông dân Sicilian cảm nhận sâu sắc sự tương đồng giữa mình và con la, con lừa. Hai con vật này luôn luôn phải làm lụng cực kỳ vất vả, mệt nhọc mà vẫn bị đánh đập tàn nhẫn và ăn uống thì đạm bạc mà vẫn thiếu thốn. Giống y như nông dân, hai con vật ấy có thể lầm lũi làm việc suốt mấy giờ đồng hồ mà vẫn dẻo dai. Thật khác với giống ngựa đỏm dáng, kênh kiệu nhưng mau xuống sức. Hai con vật ấy vững chân, có thể lẽo đẽo leo núi đá lởm chởm mà không bị té, bị gãy cẳng. Chẳng bù cho mấy con ngựa cái, chỉ được cái tốt mã, nhưng leo núi dở ẹc. Cũng vậy, nông dân giống lừa là ăn uống kham khổ, thiếu thốn mà vẫn sống, vẫn làm việc hùng hục, trong khi đó, loài vật khác và bọn nhà giầu mà như vậy thì chết nhăn răng từ lâu rồi. Nhưng sự tương đồng rõ nét nhất giữa nông dân Sicilian và con lừa, con la là: Phải đối đãi với nông dân, con lừa, con la một cách thân ái và trọng nể. Nếu không chúng sẽ trở thành nguy hiểm chết người, hay chí ít thì cũng lì ra, cứng đầu, bướng bỉnh. Tinh thần của các ngày lễ của đạo Thiên Chúa – ít ra là ở Sicilian – có nguồn gốc từ các lễ của đa thần giáo thời rất cổ xưa, nhằm cầu khẩn phép mầu nhiệm của các thần. Chính vào ngày lễ Kinh Thánh Bổn Mạng của mình, thị trấn Montelepre cũng đã xảy ra một phép mầu nhiệm làm thay đổi số phận của bảy ngàn cư dân thị trấn này. Dù mới hai mươi tuổi Turi Guiliano đã được coi như một người trưởng thành hay ít nhất cũng là một thanh niên đàng hoàng nhất, khoẻ mạnh nhất, chính trực nhất và được trọng nể nhất. Hắn là một người – dù mới hai mươi – nhưng rất trọng chữ tín. Nói tóm lại, đó là một người đối xử rất bặt thiệp với bạn bè, kính trên, nhường dưới. Nhưng không vì thế mà hắn chịu ngồi yên, chịu để cho người khác – dù quyền thế đến mức nào mặc kệ – nhục mạ. Vụ gặt năm rồi, hắn nổi tiếng vì đã từ chối không chịu làm mướn với tiền công rẻ mạt do một tên cặp -rằng ấn định. Hắn còn xúi các người khác đừng thèm làm để cho vụ mùa của các quận công, bá tước, đại điền chủ thối luôn cho bõ ghét. Cảnh sát đã bắt giam hắn theo lệnh khởi tố của ngài nam tước. Những người kia – vì sợ cũng có, vì đói cũng có – đã quay trở lại làm việc. Hắn chẳng trách gì mấy người kia và cũng chẳng trách gì cảnh sát vì theo ý hắn cảnh sát dù sao cũng chỉ là tay sai. Khi hắn được giáo sư Hector Adonis – bố đỡ đầu của hắn – can thiệp và được thả ra, hắn chẳng hận thù gì ai. Bản thân hắn kiên quyết tuân thủ nguyên tắc của hắn và cho rằng thế là đủ. Trong một dịp khác, hắn đã can ngăn được một cuộc “dao” chiến giữa Aspanu Pisciotta và một thanh niên khác chỉ bằng cách tay không đứng giữa hai con cọp đang nổi giận và bằng lời lẽ vừa hợp lý vừa khôi hài khiến cho cả hai dằn được cơn giận. Điều bất thường trong vụ này là không ai dám coi đó là dấu hiệu của trò lừa bịp hèn nhát, hoặc giả nhân, giả nghĩa vì ở Turi Guiliano có một cái gì đó khiến cho người ta không thể hiểu như vậy được. Ngày thứ hai trong ba ngày lễ Kính Thánh Bổn Mạng, Salvatore Guiliano – gia đình và bè bạn vẫn thân mật gọi tắt là Turi – đã phải nghiền ngẫm về cái mà đối với hắn – với tư cách là một thằng con trai – là một sự mất thể diện mất nhân cách. Nguyên nhân thì cũng nhỏ và thường thôi. Thị trấn Montelepre không có rạp chiếu phim, cũng không có rạp hát và các phương tiện giải trí khác. Chỉ có một quán cà – phê nhỏ có một bàn bi-a. Tối hôm trước, Turi cùng với thằng em họ là Gaspare “Aspanu” Pisciotta và vài thằng bạn khác chơi bi a trong quán. Lúc đó trong quán cũng có một vài người lớn vừa nhâm nhi ly rượu, vừa xem chúng chơi bi-a. Một người trong số đó tên là Quintana lúc đó đang hơi ngà ngà say. Đó là một tay anh chị cũng khá nổi tiếng. Gã bị Mussolini “cùm” một thời gian vì tình nghi là Mafia. Trong cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ lên đảo Sicily gã được thả ra với tư cách là nạn nhân của chế độ phát – xít. Và có tin đồn là gã sắp được bổ nhiệm làm thị trưởng Moneleprre. Khiếp thế đấy! Như bất cứ một người dân Sicily nào, Turi Guiliano còn lạ gì cái quyền lực đã thành thần thoại của Mafia. Vừa được tự do dưới sự cai trị của Mỹ, con rắn độc ấy – bị ngắc ngứ dưới chế độ phát – xít của Mussolini – bắt đầu ngo ngoe trên đảo như thể được chính quyền dân chủ kiểu Mỹ hà hơi tiếp sức cho. Đám chủ tiệm lớn, nhỏ trong thị xã được “người anh em” rỉ tai nhắc nhở đóng thuế. Dĩ nhiên, Turi biết chuyện đó, cũng như chuyện vô số nông dân bị cắt họng chỉ vì mỗi một tội là đã ráng đổ mồ hôi nước mắt trên ruộng đồng của các chủ đất và của các thân hào đầy thế lực để đổi lấy đồng lương chết đói, nên không có tiền đóng thuế “bảo vệ an ninh” cho “người anh em”, cũng như chuyện Mafia tha hồ tác oai tác quái trên đảo Sicily khốn khổ trước khi bị Mussolini – “mo – phú” luật pháp – siết họng hết ráo, như cái kiểu một con rắn cực độc cắn cổ một con rắn độc khác yếu thế hơn. Bởi vậy, Turi cũng như vô số người dân thị xã Montelepre cảm thấy sự đe doạ của “người anh em” cứ lởn vởn trên đỉnh đầu. Guido Quintana quay ra khinh khỉnh nhìn Guiliano và các bạn đang thụt bi-a. Có lẽ ma men đã làm cho gã ngứa ngáy. Gã cảm thấy đã đến lúc “phải bắt tay vào làm việc” sau khi bị chính quyền của Mussolini đày ra đảo hoang. Nay gã đã trở về quê nhà. Mục tiêu của gã trong mấy tháng gần đây là nhắc nhở cho bà con thị trấn nhớ gã là ai và thiên hạ phải nhìn gã bằng con mắt nể phục. Cũng có thể vì cái đẹp trai của Guiliano đã làm cho gã gai mắt. Vì mặt của Guido vốn cực kỳ xấu xí. Cái bề ngoài ma quái của gã không phải chỉ do bộ mặt quỉ dạ xoa tạo ra mà có lẽ còn do cái mặc cảm cứ phải cả đời chường cái mặt dễ sợ ấy cho thiên hạ quan chiêm. Cũng có thể đó là do sự tương phản tự nhiên giữa một thằng bẩm sinh đê tiện và một người bẩm sinh anh hùng. Dù gì đi nữa, gã cũng thình lình đứng lên, giả bộ đi qua phía bên kia bàn bi – a nhằm đúng lúc húc vào Guiliano một cái. Vốn lịch sự một cách tự nhiên đối với người lớn tuổi hơn, Turi lễ phép và thành thật xin lỗi Guido Quintana cố ý gây sự, đã khinh khỉnh nhìn Turi từ đầu đến chân, rồi nói, giọng cha chú: – Sao giờ này mà tụi bay không về nhà ngủ để mai chạy gạo. Đói dã họng ra không lo, mà cứ ham chơi. Mấy ông bạn tao chờ chơi bi – a cả tiếng đồng hồ rồi! Gã nói rồi giật lấy cây “cơ” (2) trong tay Guiliano và mỉm cười chế giễu, thách thức và ra lệnh cho Guiliano: – “Lui!”. Ai nấy đều nhìn sững, lối chơi trịnh thượng này xem ra cũng chưa đến nỗi nặng lắm vì dù sao y cũng lớn tuổi hơn. Nếu là một người nhỏ tuổi hơn hoặc lối sỉ nhục nặng nề hơn, thì có lẽ đã bắt buộc Turi phải ra tay đặng bảo vệ sĩ diện và nhân phẩm của mình. Lúc nào Aspanu Pisciotta cũng thủ sẵn con dao trong người. Thấy sự thể đó, y đã đứng sẵn vào vị trí thuận lợi để có thể ngăn chặn mấy ông bạn của Quitana có thể ra tay can thiệp, tiếp sức. Pisciotta không có thói quen kính nể người lớn tuổi hơn. Nhưng y cũng không muốn cánh bạn bè và thằng anh họ huyết chiến trong tình huống bất lợi này. Nhưng, đúng lúc đó, Guiliano cảm thấy trong cơ thể hắn một sự khó chịu lạ thường. Quintana nom hùng hổ và sẵn sàng gây hậu quả nghiêm trọng, nếu Guiliano cưỡng lại. Mấy ông bạn của gã ngồi gần đó – cũng là những người lớn tuổi – mỉm cười thích thú như thể họ biết chắc hậu quả. Một trong số những người ấy mặc đồ đi săn và có một khẩu súng, Guiliano tay không. Và, khốn nạn, chính trong lúc bị nhục ấy thì hắn lại cảm thấy sợ. Hắn không sợ bị thương, bị no đòn hoặc sợ vì thằng cha kia khoẻ bằng hai, mà hắn sợ vì mấy người kia biết họ sắp làm gì, vì họ nắm thế thượng phong, còn hắn thì không. Rằng một đêm tối trời nào đó, trong phố vắng trên đường trở về nhà, hắn có thể bị họ “đế” cho một phát, gục và ngày hôm sau, xác hắn nằm phơi bên đường như xác một thằng điên. Chính cái bản năng của một người bẩm sinh đã là bậc thầy của du kích chiến khiến cho hắn nuốt hận rút lui. Turi nắm cánh tay kéo ra ngoài quán cà – phê. Pisciotta cũng ra theo mà không gây gổ gì. Nó ngạc nhiên vì thằng anh họ nó hôm nay lại chịu lui một cách dễ dàng thế, chứ không ngờ rằng thằng anh nó sợ. Nó cho rằng Turi tốt bụng và không muốn gây gổ với mấy thằng cha kia vì cái chuyện vặt ấy. Khi đi ngược đường Via Bella để trở về nhà, chúng còn nghe thấy tiếng bi – a lách cách sau lưng. Suốt đêm đó, Turi Guiliano không sao nhắm mắt lại được. Có đúng là hắn sợ thằng cha có bộ mặt quái đản, xấu xí và cái thân xác bặm trợn hùng hổ, doạ nạt ấy không? Có phải hắn đã run không? Bọn kia có cười hắn không? Thằng bạn thân nhất và cũng là em họ hắn Aspanu – và những thằng bạn kia nghĩ sao về hắn. Hắn có phải là thằng “thỏ đế” không?
Photo edit by Sơn râu
Hắn, Turi Guiliano thủ lĩnh đám thanh niên ở Montelepre, được kính nể nhất, được tiếng là khoẻ nhất, không biết sợ hãi là gì… thế mà bây giờ vừa mới bị thằng cha kia “hù” cho có một tí mà đã “co vòi”. Nhưng rồi hắn lại tự nhủ: dại gì mà đi gây thù chuốc oán – có thể đưa đến cái chết vô nghĩa – chỉ vì cái chuyện vặt vãnh ấy? Đây khác với cuộc cãi cọ với bọn trẻ. Nếu là với bọn trẻ mà như vậy, thì có chuyện là cái chắc. Hắn biết thằng cha già đó – Quintana là “Người anh em” hay ít nhất cũng liên hệ chặt chẽ với cái tổ chức giết người đó. Hắn sợ là sợ cái đó. Guiliano cứ trằn trọc mãi và có lúc chợp mắt đi được thì cũng chỉ là ngủ chập chờn. Hắn thức dậy trong một trạng thái bần thần rất nguy hiểm đối với một thằng thanh niên. Hắn thấy mình kỳ cục. Cũng như hầu hết mọi chàng trai trẻ khác, lúc nào hắn cũng muốn làm anh hùng. Nếu sống ở một vùng khác trong nước Ý thì hắn đã đăng lính rồi. Nhưng không có một Sicilian “chính cống” nào lại tình nguyện vào lính bao giờ. Và, ông bố đỡ đầu của hắn, giáo sư Hector Adonis, đã thu xếp để hắn khỏi bị gọi đi lính. Sau cùng, mặc dù nước Ý bao gồm cả đảo Sicily, nhưng không một Sicilian chính cống nào lại cảm thấy mình là người Ý. Và, nếu đúng như người ta nói, chính quyền ở Rome cũng chẳng quan tâm đến việc gọi người Sicilian nhập ngũ, nhất là vào những năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lý do là thế này: Người dân Sicilian có nhiều bà con thân thuộc bên Mỹ (lúc đó thù nghịch với Mussolini), người Sicilian bẩm sinh đã là những tên trọng phạm, tráo trở, phản bội, người Sicilian quá ngu đần, có đem huấn luyện cũng phí công vì không thể huấn luyện họ để có thể dùng trong chiến tranh kiểu hiện đại được, người Sicilian ưa lộn xộn, đi đến đâu là gây rối đến đó. Ra ngoài đường, Turi Guiliano cảm thấy cái tâm trạng buồn rầu đã đè nặng trong lòng hắn suốt đêm qua, sáng nay cũng tan theo bóng đêm, khi mặt trời le lói xuất hiện. Ánh mặt trời rực rỡ. Không khí ngạt ngào mùi hương hoa chanh và ô – liu. Guiliano yêu thị trấn Montelepre với những đường phố quanh co, nhưng ngôi nhà có tường xây bằng đá, những ban – công rực rỡ dây hoa leo. Ở Sicily cằn cỗi này, mặc dù chẳng được chăm sóc, tưới bón, những dây hoa leo này vẫn cứ tươi tốt, vẫn cứ nở hoa rực rỡ. Guiliano yêu những mái ngói đỏ chạy dài tới cuối thị trấn chìm trong thung lũng là nơi mặt trời đang đổ ánh sáng, như đổ xuống một chất lòng bằng vàng xuống vậy. Những đồ trang trí tỉ mỉ và rực rỡ của ngày lễ Kính Thánh Bổn Mạng – phố xá treo đầy những bức ảnh tô màu sặc sỡ vẽ hình Thánh Bổn Mạng hom hem, hốc hác, xanh xao, xác xơ, những căn nhà trang trí bằng những bông hoa to tướng đan bằng tre – tất cả đều nhằm che giấu sự nghèo mạt cố hữu của một thị trấn điển hình trên đảo Sicily. Dù vắt vẻo sườn non hay co quắp ẩn mình trong khe núi hoặc lụp xụp trong thị trấn thì nhà nào cũng giống nhau ở chỗ rực rỡ dây hoa leo và chật ních những người. Vợ chồng cùng cả bầy con cái và gia súc chia nhau ba, bốn gian nhỏ xíu. Nhiều nhà không có tiện nghi vệ sinh, cho nên dù có tràn ngập hoa, ngào ngạt hương và không khí trong lành, mát mẻ của gió núi, thì cũng vẫn không đủ sức để át cái mùi hôi thối của phân, rác, nước đái của người và gia súc thi nhau bốc lên cùng với ánh mặt trời. Vào những ngày đẹp trời, thiên hạ kéo nhau ra ở ngoài trời. Đàn bà thì ngồi trên những chiếc ghế gỗ đặt trên sân lót đá sỏi để sửa soạn bữa ăn. Con nít tung tăng ngoài phố đuổi gà, lùa dê… Ở cuối đường Via Beclla, trước khi đổ vào quảng trường có một cái vòi nước hình mặt quỉ – do người Hy Lạp làm từ hơn hai ngàn năm trước – miệng đang đổ nước ra òng ọc. Bên sườn rặng núi bao quanh thị trấn, những mảnh vườn bậc thang xơ xác, tiêu điều. Trên đồng bằng nhỏ xíu dưới chân rặng núi ấy là các thị trấn Partinico, xây bằng đá đỏ nằm heo hút ở tít cuối chân trời. Từ phía cuối đường Via Beclla, phía cuối phố, chỗ đưa đến con đường đi Castellammare, Turi nhìn thấy Aspanu. Bạn hắn sẽ đối xử với hắn như thế nào sau lần bị sỉ nhục tối hôm trước? Thằng bạn được Guiliano để ý vì cái trí khôn sắc sảo của nó. Y có dấu hiệu khinh thường không? Guiliano bỗng cảm thấy giận sôi lên và thề sẽ không bao giờ để cho một sự thể như thế tái diễn nữa. Hắn có thể bất chấp hậu quả để chứng tỏ cho bè bạn thấy hắn không phải là thằng “thỏ đế”. Ở một xó xỉnh nào đó trong trí nhớ của hắn, hắn còn thấy rõ mồn một cái cảnh chiều tối hôm qua. Một trong số những ông bạn của Quitana ngồi uống rượu, ở đằng sau hắn có một khẩu súng. Bọn chúng là “Người anh em” và bọn chúng có thể trả thù tàn nhẫn. Guiliano không sợ chúng, mà chỉ sợ thua chúng. Và thua là cái chắc. Không phải chỉ vì chúng mạnh hơn mà chỉ vì chúng tàn bạo hơn. Thấy hắn, Pisciotta nhăn nhở cười: – Turi, – Pisciotta nói, – tự mình thấy, con lừa này không “mần” nổi con la đâu. Mình phải giúp nó một tay. Guiliano chẳng buồn trả lời. Hắn tin rằng thằng bạn và cũng là em họ nó đã quên chuyện nhục nhã đêm rồi. Điều làm cho hắn cảm động nhất là Pisciotta ăn nói “xóc óc” với ai kia, châm chọc chế nhạo những lỗi lầm của ai kia, chứ với hắn thì lúc nào Pisciotta cũng tỏ ra trọng nể, quí mến. Hai đứa dắt con lừa đi về phía quảng trường. Lũ con nít rần rần bu quanh, chạy theo. Đối với chúng, đây là một trò chơi thú vị nhất, một biến cố kích thích nhất sau những ngày hè tẻ ngắt. Ở quảng trường có một cái sân khấu lộ thiên xây bằng đá, cao khoảng 1,2m. Turi và Aspanu đẩy con lừa lên cái sân khấu đầy rác đó, rồi cột con lừa vào một thanh chấn song của sân khấu. Con lừa nằm xuống. Trên mí mắt và mõm của nó có miếng da màu trắng bịt kín khiến cho nó trông thật tức cười. Lũ trẻ bu quanh sân khấu, la hét, cười đùa chế nhạo. Turi Guiliano đâu biết rằng hôm nay là ngày cuối cùng, hắn được sống như một anh trai làng vô danh tiểu tốt. Tuy vậy, hắn đưa mắt nhìn quan sân khấu với sự mãn nguyện của một kẻ cảm thấy mình được đặt đúng địa vị mong muốn. Nơi hắn sinh ra và lớn lên chỉ là một điểm nhỏ xíu trên mặt địa cầu. Thế giới bên ngoài chẳng bao giờ làm hại hắn. Ngay cả cái cảm thức nhục nhã đêm rồi cũng đã tan biến. Hắn biết rõ rặng núi đá vôi ẩn hiện lờ mờ bao quanh thị trấn như một đứa trẻ biết rõ món đồ chơi trong túi của nó. Trên núi có những cái hang lớn đủ cho cả một đạo quân trú ẩn. Turi biết rõ từng căn nhà, từng trang trại, từng nông dân trên núi đó. Hắn cũng biết rõ cái pháo đài đổ nát xây từ thời người phương Bắc và người Maure (Bắc Phi) xâm lược xứ này cũng như ngôi đền hoang phế người Hy Lạp đã xây dựng trên núi đó cách nay hơn hai ngàn năm. Người nông dân chủ nhân con la “mầu nhiệm” xuất hiện từ một lối khác dẫn đến quảng trường. Đó là người đã mướn Guiliano và Pisciotta vào việc đó sáng nay. Lão tên là Papera, được dân trong thị trấn nể gờm, chỉ vì lão đã thành công trong việc đòi nợ máu một người lối xóm. Họ cãi nhau chỉ vì tranh giành cây ô – liu mọc ở chỗ giáp ranh hai mảnh đất của họ. Cuộc tranh giành cãi cọ kéo dài suốt mười năm trời – còn lâu hơn cả cuộc chiến tranh do Musolini gây ra trên đất Ý. Thế rồi, chỉ ít lâu sau ngày quân đội Mỹ chiếm được đảo Sicily từ tay quân phát – xít và thiết lập chính quyền “dân chủ” – một đêm kia, người ta thấy xác anh hàng xóm bị chặt làm hai khúc. Mã tấu và súng săn – rất phổ biến ở Sicily – thường được dùng vào việc này. Người ta lập tức nghi ngờ Papera. Nhưng lão ta chỉ cãi qua loa với cảnh sát, sau đó thản nhiên để cho bọn này bắt và chỉ phải qua một đêm bình an trong xà lim tử tội của nhà tù Bellampo Baruks. Có tiếng xì xầm đồn rằng đó là dấu hiệu sự hồi sinh của tổ chức Mafia, rằng Papera có liên hệ hôn phối với Guido Quintana – đã giành được sự hộ trợ của “Người anh em” trong việc giải quyết sự tranh chấp này. Khi Papera dắt con la đến trước sân khấu, lũ trẻ bu đen xung quanh, đến nỗi lão phải lấy roi quơ quơ trước mặt để lũ trẻ giạt ra lấy lối đi. Lũ trẻ dễ dàng nể cây roi của lão vừa cười vừa dứ dứ trên đầu chúng. Dù bị bịt mắt bịt mũi, nhưng thấy mùi con la cái phía dưới sân khấu, con lừa cố bứt sợi dây cột nó vào sân khấu. Turi và Aspanu nhấc bổng con lừa lên cho nó chồm qua hàng rào chấn song và lão Papera cho con la ghé đít vào mép sân khấu. Lũ trẻ cười ré lên, reo hò. Lúc đó, Frisella – thợ hớt tóc bước ra khỏi tiệm và đi đến chỗ sân khấu. Sau gã là Maressciallo, vẻ bộ khệnh khạng làm ra vẻ ta đây quan trọng, vừa đi vừa chà chà cái mặt nhẵn thín và đỏ ké vì mới cạo râu xong. Y là người độc nhất ở Montelepre này cạo râu hàng ngày. Đứng tít trên sân khấu mà Guiliano còn ngửi thấy mùi dầu thơm rẻ tiền toát ra từ thằng cha thợ cạo. Maressciallo Roccofino đưa con mắt “nghề nghiệp” nhìn đám đông đang tụ tập ở quảng trường. Với tư cách là chỉ huy trưởng tiểu đội cảnh sát quốc gia gồm mười hai tên “cớm tép”, y có trách nhiệm về luật pháp, an ninh, trật tự trong thị trấn. Thời gian lễ Kính Thánh Bổn Mạng luôn luôn là một thời gian có nhiều lộn xộn. Vì vậy, y đã ra lệnh cho một phân đội gồm bốn người đi tuần ở quảng trường. Nhưng bọn này vẫn chưa tới. Y nhìn lão Papera, người được coi là “ân nhân” của thị trấn, vì con la của lão được dùng làm lễ ngày hôm nay. Y cũng tin chắc là chính Papera đã hạ sát anh chàng hàng xóm. Mới được quân đội Mỹ “giải phóng” được ít này, bọn “dã thú” Sicilian đã vội vã lợi dụng tự do thiêng liêng của chúng. Maressciallo thầm nghĩ: Tất cả bọn dân đen Sicilian chắc là thương tiếc Mussolini lắm. Vì so với “Người anh em” thì nhà độc tài phát – xít chỉ là một người hiền lành, nhân hậu như thánh Phranxixco. Tên thợ cạo Frisella là người ưa nói bông phèng. Mấy anh thất nghiệp ưa la cà trong tiệm của gã đặng nghe những câu nói giễu cợt rẻ tiền, những chuyện tào lao, ba xạo hoặc tiếu lâm tục tĩu của gã. Về khoản này, gã là người thợ cạo phục vụ khách hàng tận tình. Gã có bộ ria mép tỉa rất kỹ, rất công phu và mái tóc bết bi – dăng – tin láng bóng. Nhưng cái mặt của gã như một thằng hề trình diễn múa rối. Cái mũi củ hành, miệng rộng toang hoác và cái hàng dưới ngắn đến nỗi tưởng đầu gã không có cằm. Gã la lớn lên: – Turi, dắt con lừa của mày vào tiệm, tao xức dầu thơm cho nó, đặng nó làm tình với bà quận chúa. Turin, làm thinh như không quen biết gã Frisella cắt tóc cho nó hồi nó còn nhỏ. Gã cắt tồi đến nỗi bà già nó phải dắt nó đi cắt tóc chỗ khác. Nhưng ông già của Guiliano vẫn tìm đến tiệm của gã đặng hóng chuyện và kể về cái “thời huy hoàng” của lão hồi còn ở bên Mỹ đặng loè mấy anh cù lần. Turi không ưa anh thợ cạo vì gã là một tên phát – xít thứ thiệt, đồng thời là một tay sai tâm phúc của đám “Người anh em”. Maressciallo đốt điếu thuốc là và khệnh khạng đi ngược đường Via Bella, không thèm nhìn Guiliano. Đó là một lỗi lầm mà vài tuần sau, y sẽ phải hối tiếc không biết bao nhiêu mà kể. Con lừa ráng nhảy qua khỏi hàng chấn song của sân khấu. Turi nới lỏng sợi dây cột nó, đặng kéo nó ra mé bìa sân khấu chỗ con la đang ghé đít vào đó. Đít con la nhô lên cao khỏi bìa sân khấu. Guiliano nới lỏng dây thêm chút nữa. Con la khịt khịt mấy cái. Lũ trẻ cười la, reo hò rầm rầm. Papera và Pisciotta cười bò ra trong khi Guiliano cố lôi con lừa xuống khỏi lưng con la. Papera ngừng cười và nói: – Ê bay, sống mà được như con lừa thì mới nên sống! Pisciotta nói đâm hông giọng xấc xược: – Ông Papera à, để tôi chất lên lưng ông hai cái giỏ chứa đầy trái ô – liu, rồi quất vào mông đít, bắt đi quanh co trên núi một ngày tám tiếng đồng hồ, thì lúc đó ông mới thấy sống như con lừa ấy “đã như thế nào”. Lão lườm nó và kìm lại, chứ nếu không thì Pisciotta đã vuốt mặt không kịp vì những tràng chửi thề của lão. Lão trả công hai đứa quá rẻ. Lão không ưa thằng Pisciotta. Và thực ra lão chỉ giao việc này cho Guiliano. Cả thị xã ai cũng khoái Guiliano. Nhưng rồi Pisciotta thì lại làm khác. Cái miệng tía lia, hễ động nói là nói độc, nói hỗn, nói đâm hông, nói xóc óc châm chọc… Trong khi đó thì dáng điệu lại lử đử lừ đừ, làm biếng. Cái bệnh phổi của y không đủ để bào chữa cho cái thói làm biếng ấy, y vẫn hút thuốc lá và chơi gái như ranh. Ăn mặc thì cứ như công tử bột. Lại còn để ria mép theo kiểu Pháp nữa chớ. Y sẽ chết vì ho và xuống địa ngục với cái bệnh phổi của y. Lão Papera nghĩ thế. Lão trả cho hai đứa có hai trăm bạc. Guiliano lịch sự cảm ơn. Và lão dắt con la về nhà lão. Hai đứa dắt con lừa về nhà Guiliano. Công việc thật sự của con lừa bây giờ mới bắt đầu. Và công việc ấy chẳng vui sướng thú vị gì. Bà mẹ của Guiliano làm cơm trưa sớm, đợi hai đứa. Hai chị gái của Turi: Mariannina và Giuseppina đang giúp mẹ nhồi bột cho bữa chiều. Trứng và bột trộn thành đống lù lù trên chiếc khay bằng gỗ lớn. Ông bố Guiliano đang làm việc ngoài đồng. Hôm nay ông chỉ làm việc buổi sáng để buổi chiều dự lễ. Hôm nay là ngày đính hôn cua Mariannina, cho nên, sẽ có một bữa tiệc đặc biệt tại nhà Guiliano. Turi luôn luôn là một đứa con cưng nhất của bà Maria Lombardo Guiliano. Hai chị hắn cứ nhớ hắn qua cái hình ảnh ngày hắn còn bé được mẹ tắm cho. Thùng nước nóng đặt cạnh lò được mẹ cẩn thận nhúng tay vào để thử. Xà bông thơm mua tại Palermo. Lúc đầu, các chị hắn còn ganh.
Photo edit by Sơn râu
Nhưng rồi thấy mê thích sự dịu dàng của bà mẹ tắm cho thằng bé đang trần truồng. Hắn không bao giờ khóc nhề nhệ như những đứa trẻ khác. Trái lại, hắn cười sằng sặc khi má kì cọ cho. Và thân thể hắn thật là tuyệt. Hắn nhỏ nhất trong gia đình nhưng lớn lên lại mạnh khỏe nhất. Đối với các chị hắn luôn luôn là một sự lạ lùng. Hắn đọc sách nhiều và khoái nói đến chính trị. Nhưng hắn vẫn được các chị quí yêu vì tính nết tốt và lòng vị tha của hắn. Sáng hôm đó, má và các chị bận tíu ít vì hắn. Và họ âu yếm nhìn hắn ăn bánh mỳ với phó – mát làm bằng sữa dê, nhấm nháp trái ô – liu, uống cà – phê… ăn trưa xong là hắn và Aspanu sẽ dắt lừa đi Corleone và buôn “chui” một ít pho – mát, ít thịt heo và dồi nướng. Hắn phải bỏ không tham gia một phần trò chơi trong ngày lễ để làm việc đó, đặng làm vui lòng bà mẹ và kiếm thêm chút đỉnh về làm bữa tiệc đính hôn của chị hắn ngày mai cho thêm phần long trọng, linh đình và vui vẻ. Ba người đàn bà – mẹ và hai chị – cùng âu yếm nhìn hai cậu con trai. Chúng là bạn với nhau từ khi còn nhỏ xíu. Mặc dù khác nhau đến thế nhưng hai đứa lại thân nhau còn hơn anh em ruột. Aspanu Pisciotta, nước da hơi xanh một chút, vẻ mặt hết sức láu lỉnh, hàng ria mép lưa thưa, đôi mắt sáng và những lọn tóc nâu đen loăn xoăn trên cái sọ nho nhỏ. Sự hóm hỉnh của y luôn làm cho các bà, các cô vui thích, cười rúc rích. Vậy mà tất cả những cái đó vẫn bị vẻ đẹp trầm lặng kiểu Hy Lạp của Guiliano đánh bạt đi. Guiliano cao lớn và đẹp như một bức tượng Hy Lạp dựng rải rác trên khắp các quảng trường trên đảo Sicily. Nước da của hắn hơi nâu, sáng, mái tóc hung hung đen. Hắn luôn có vẻ trầm tĩnh, nhưng cử chỉ, đi đứng linh hoạt, nhanh nhẹn. Nổi bật hơn hết vẫn là đôi mắt. Trong mắt nâu vàng. Khi đôi mắt ấy nhìn chỗ khác thì trông bình thường, nhưng nếu nhìn thẳng vào bạn thì đôi mắt ấy thường lim dim như đôi mắt của các bức tượng. Và lúc đó toàn thể khuôn mặt hắn toát ra vẻ trầm tĩnh bình thản và oai nghi. Trong khi Aspanu Pisciotta cố làm cho bà Maria Lombardo vui thì Guiliano chạy lên lầu sửa soạn chuyến đi mần ăn mà hắn thực hiện. Đặc biệt, hắn thủ theo khẩu súng lục. Nhớ tới sự sỉ nhục hôm trước, hắn quyết định phải võ trang khi đi làm công việc này. Hắn biết sử dụng võ khí vì khi đi săn, ông bố thường cho hắn đi theo. Trong bếp, bà mẹ đang đứng một mình đợi để giã từ hắn. Bà ôm hôn và cảm thấy khẩu súng lục hắn giắt ở lưng. Bà nói: – Turi, cẩn thận nghe con. Đừng có cãi mấy người cảnh sát. Nếu bị họ “chộp” con cứ để cho họ muốn lấy gì thì lấy. – Chúng có thể lấy hàng hoá – Turi trấn an bà – nhưng con sẽ không để cho chúng “uýnh” con hoặc tống con vô tù. Mẹ yên trí, đừng có lo. Bà thông cảm điều đó. Trong niềm kiêu hãnh của một người Sicilian chính cống, bà tự hào về hắn. Từ bao năm rồi, niềm kiêu hãnh của riêng bà, sự giận dữ vì cảnh túng thiếu, quẫn bách của bà đã khiến bà xúi chồng đi Mỹ làm ăn chuyến nữa. Là một người mơ mộng, bà tin vào sự công bằng và địa vị xã hội mà bà tin mình xứng đáng và có quyền được hưởng. Lúc ở bên Mỹ, bà dè sẻn chắt bóp tằn tiện. Chính niềm kiêu hãnh đó đã khiến cho bà quay trở về Sicily với hy vọng sẽ sống như một bà hoàng. Thế rồi mọi sự đã tan thành mây khói. Bà phó thác cho số mệnh. Nhưng bà vẫn hy vọng ở đám con của bà. Và bà sung sướng khi thấy Turi biểu hiện chính cái tinh thần bà đã có. Nhưng bà kinh sợ cho cái ngày mà hắn phải lao vào đấu tranh với cái thực tế tàn nhẫn phũ phàng của cuộc đời trên cái xứ Sicily khốn cùng và khô cằn này. Bà ngầm nhìn theo thằng con đang bước ra con đường Via Bella trải sỏi để đi với Aspanu Pisciotta đang chờ nó ở đó. Con trai bà có dáng đi của một con mèo khổng lồ. Ngực nở, tay chân rắn chắc, bắp thịt nở nang cuồn cuộn. Đứng bên hắn Aspanu trông càng thảm hại, chẳng khác gì một cọng cỏ. Aspanu có cái láu cá, quỷ quyệt mà con bà không có. Trong sự can đảm của Aspanu có sự liều lĩnh, độc ác, tàn bạo. Aspanu sẽ bảo vệ Turi chống lại cái thế giới lừa lọc, gian dối trong đó chúng phải sống. Bà cũng chuộng cái nước da màu vỏ trái ô – liu của Pisiciotta. Nhưng bà thấy Turi của bà đẹp trai hơn. Bà nhìn chúng đi ngược đường Via Bella để đến chỗ dẫn tới con đường đi Castellammare. Con trai bà – Turi cùng với đứa con trai của người em gái – Gasparre Pisciotta, cả hai đứa mới chỉ vừa đôi mươi và nom trẻ hơn so với tuổi của chúng. Bà yêu hết cả hai và lo sợ cho cả hai. Sau cùng, hai đứa cùng với con lừa đến cuối phố thì khuất đi, nhưng bà vẫn tiếp tục nhìn. Rồi chúng lại hiện ra trên dốc cao và đang đi vào rặng núi bao quanh thị trấn. Bà vẫn tiếp tục dõi con mắt nhìn theo chúng, như thể bà sẽ chẳng còn bao giờ gặp lại chúng nữa cho đến khi chúng biến mất trong đám sương mù buổi sáng vẫn còn đang phủ trên núi. Chúng đang tan biến vào đoạn mở đầu của những huyền thoại về chính chúng. ……… (1) Theo truyền thuyết Công giáo, mỗi người, mỗi ngành nghề, mỗi công đoàn nhận vị thánh đỡ đầu cho mình, cho công đoàn mình. (2) Cây gậy thụt bi-a
Tội Nghiệp Cho Phạm Đăng Hưng, Nhân Vật Lớn Đất Gò Công
Gọi ông bằng gì cũng khó. Ông là cực phẩm trọng thần đời vua Gia Long, nhưng nay mộ lăng không được ấm cúng, nên tôi hạ hai chữ tội-nghiệp. Đó là hỗn. Nhưng biết làm sao? Có người đã khuyên tôi sống dai biết khá, hãy kể nhơn vật xưa đất nầy nghe chơi. Tôi cũng muốn lắm. Nhưng bức mây động rừng. Có nhiều ông bự, trước làm nhiều việc không hay, tỷ như Trần Bá Lộc, nhưng nay kể việc ông làm, cũng không xong. Biết đâu chừng, dòng họ ông dầu nay thay danh đổi tánh, nhưng nay mình nói động, họ thù họ ghét, viết không ăn được mấy đồng, mà cái hại to lớn như bồ lúa. Một ngày nào mà họ quăng cho gãy giò, đáng kiếp tiền viết lách không đủ chạy thuốc. Bằng như viết để bêu thơm, cũng khó. Người đọc bài sẽ chê viết nịnh bợ!
Nói ba hoa rồi cũng phải viết, cho đỡ buồn. Lấy sự tích nầy làm gương.
Phạm Đăng Hưng.
Sanh tại giồng Sơn Qui (đất nổi cao như mu rùa) cũng gọi là giồng Khổng Tước, vì xưa có chim công đến làm tổ nơi đó. Lớn lên theo đánh giặc, người nào theo Tây Sơn thì nay được tôn, người như Hưng, theo Gia Long, khi về già, vua hấp hối, gọi lại và cho làm người tin cậy, giữ lời trối. Rốt lại, người nhận trối được dân tôn làm thần, và đó là đức Tả-quân (nơi Bà Chiểu), còn Hưng, về làng nhau rún, xây mộ, lại bị mấy lần phá phách: lần nhứt, bia đá có chữ của Phan Thanh Giản, khi bia chở về tới cửa biển trong nầy, gặp lúc Tây đánh, bên mình giết đại úy capitane Barbet của chúng, chúng đoạt thuyền cướp bia, lấy bia chạm lên ba chữ Tây “ci-git capitaine Barbet”, vân vân; rồi dựng bia nầy nơi mả Barbet ở nghĩa địa Sài Gòn, tôi từng thấy bia nầy tận mắt, rồi nghĩa địa Tây bị ta phá bình địa, tấm bia đá ấy xiêu lạc hà phang? Vua Tự Đức sai làm bia khác cho ông ngoại, bia đem về Gò Công và có được dựng lên hay không, tôi làm sao biết, duy mới rồi, mua tờ tuần báo Văn Nghệ số 110 (7/10-10-1993), nhìn kỹ nơi trang 8, thấy mập mờ lăng họ Phạm, nơi phía lưng có dạng cao cao và bị che khuất, có phải đó là bia thứ 2 của đời vua Tự Đức sót lại hay không? Trong bài ấy, tác giả, ông Nguyễn Hoài Nhơn thuật rằng lăng mộ nầy bị phá phách, mấy con sư tử đá rất khéo, di tích kỳ công thợ Huế thế kỷ XIX nay hư hao đã nhiều, hóa ra dân ta còn khờ quá, không có lòng tôn trọng mỹ thuật cổ, dầu của đời nào, đời Tây Sơn hay đời triều Nguyễn Phước cũng là cổ vật nên để dành, và tại sao làng xã Gò Công để cho chăn trâu chăn bò phá đi. Ai ghét cộng cho bằng dân Anh, nhưng họ đâu có dại và Ăng-lê vẫn tu bổ mộ phần của Karl Max để dụ ngoại dân đến làm giàu cho xứ sở, nhà ngủ có người nước lạ đến ngủ, quán cơm có người nước lạ đến xơi, gẫm lại, biết khôn thì nhờ, và quá ghét, chửi đổng mà có chết ai, và xài hoài chữ Việt-gian, phản quốc, v.v… mà ở đời ai biết ai dại ai khôn, ai phản ai trung xin hỏi…
Họ Phạm xưa có làm ác gì mà nay cháu con trả quả. Mộ bà Từ Dũ bị đào, bắt đứa đào mồ không rõ làm tội và xử phạt cách nào, chỉ xem trong báo cũ, mấy ông tòa xử nấu nữ trang chảy ra vàng chia chác, chia nhau được bao nhiêu mà hại cho văn hóa xiết bao. Tại sao không trưng bày nữ trang tuyệt tác mỹ phẩm đời XIX của Cung nội, người phương xa đến đây nhìn nữ trang ấy rồi bỏ của ra mua cơm mua chỗ ngủ, chẳng là lợi ích bội phần. Làm ông tòa ngồi xử mà nấu vàng vòng khéo léo làm vật khéo hóa ra vàng nguyên khối, ai lên án và xử mấy ông đây? Nói nữa vô ích.
Bây giờ có lệ chê là dị đoan, nhưng đọc báo thấy nói ở Hà Nội, người mua nhà đào nền nhà còn sót xương vụn của người kháng chiến chống giặc Tây những năm lối 1945-1946, đã không trình cho nhà nước lấy cốt chiến sĩ đưa về nghĩa địa anh hùng lại lấy xe chở cho khỏi nền nhà, rồi đốt ba cây nhang, như vậy xin hỏi có còn ảnh hưởng dị đoan hay không? Gẫm cho cùng, mộ bà Từ Dũ, ở Huế bị đào, nhà cửa họ Phạm ở Gò Công, bị họ Ngô Đình áp dụng trật lất luật ấp chiếc lược chiến mẹ gì đó, báo hại họ Phạm, có công lớn với triều Nguyễn Phước, mà cũng không giữ được tròn câu “uổng tác thiên niên kế, nan tải bá niên phần”, tôi học lỏm viết câu nầy mà tự thẹn và nhớ lại họ Ngô Đình, ông Khả là quan võ, sanh con, con tập ấm được đặc cách học nơi trường Giám, làm tuần-vũ, sức học không bằng ông Quỳnh, mắc cỡ, nhảy qua đất Mỹ, lấy danh theo Da-tô, xưng chí sĩ, nhờ Mỹ đưa lên làm tột bực cao, làm được chín năm, xách va-li kim cương, đô la, vàng cả mấy trăm kí, rồi va-li bị giựt, thân bị bắn, xác chôn nhiều lần, ở cạnh bộ tổng tham mưu, bị dời về nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi, rồi nay chạy lên nằm với mẹ, với em, xin ơn trên che chở cho được nằm yên, trong khi còn lại anh lớn, bị đày nơi tòa thánh La Mã, em dâu nay nghe như có chồng khác, một mụ nầy oai như cọp cái, coi thiên hạ như không, rốt lại Xuân đã hết xuân, bớ Trần Thị Xuân thị giả. Người cha, làm luật sư ở Sốc Trăng, làm đại sứ ở Londres, chạy qua Mỹ, nghe như chết bị đứa con sát, phải chăng luật quả báo, không tin, mà vẫn có.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.