Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(Viết ngày 9-12-1993, có tin bão lớn từ Phi-luật-tân kéo qua)

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 48

Những Dấu Tích Cũ Ở Sài Gòn, Ngày Nay Đã Phá Mất Và Tiếc Đã Muộn

Hơi gió Tết đã thổi, trời sáng nầy âm u, nha khí-tượng báo tin phải đề phòng mà đề phòng cái gì chứ? Gió lớn sập nhà thì rán chịu, việc của ông trời, ổng làm là vì mình chọc cho ổng giận, và bão tố, động đất chỗ nầy, sóng thần chỗ kia, theo tôi đều là thiên tai, khi biết để tránh thì đã trễ.

Hiểu theo tôi, một cách ngu tối, tuy vậy mà sướng hơn.

Ngày xưa, khi có lũ lụt, mất mùa, ôn dịch hoành hành, thảy thảy đều qui cho vua thất đức. Nay vua đã không còn, qui tội cho ai? Mảng dựa theo khoa học, thiên lôi đánh, cắt nghĩa đó là điện khí chạm nhau. Dân mất lòng tin hóa ra ngỗ nghịch. Học trò hết sợ thầy giáo, vì cắt nghĩa thầy giáo vẫn có được trả lương, cha mẹ sanh thành, ơn đẻ đau dạy nhọc không lo trả, đành nào cắt nghĩa “mượn bụng mẹ nằm trong ấy chín tháng mười ngày?”, thôi, đừng tiếp nói như vậy nữa, đụng chạm mếch lòng người bề trên chăn dân giữ nước.

Ba ngày gần Tết, hãy nhớ tiếc vài chuyện cũ, nhắc lại để cắn hột dưa đỡ buồn, ít nói động và người trên ít giận.

1. Chuyện thứ nhứt

. Tại sao phá bỏ đường xe lửa nối liền Sài Gòn xuống Mỹ Tho. Mà Mỹ Tho đã mất, bây giờ là Tiền Giang kia mà? Chớ chi đừng phá, chẳng là có thể đi về xứ cây trái, rẻ tiền hơn ngày nay, xe ô-tô giành giựt!

2. Chuyện thứ nhì.

Lại đã phá đường xe điện chạy từ Cầu Ông Lãnh lên Lái Thiêu Thủ Dầu Một. Nếu còn, sầu riêng, măng cụt… đâu có cao giá như hiện nay, và nhà, vi-la của hãng ô-tô-ray của Tây ở Gò Vấp, khi Tây rút lui, bán giá rẻ rề mà bền chắc hết chỗ chê, thảy đều phá bỏ, hoặc đã đổi qua tay chủ khác, chẳng qua, và theo tôi hiểu, ấy là tội của kẻ đi sau. Tôi không kể tên ra. Chỉ nhớ mụ Nhu, hùn vốn, hoặc xuất tiền ăn cắp quĩ viện trợ Mỹ, lập hãng xe ô-tô-buýt và muốn được độc quyền vơ vét của dân đen, nên đã giết chết những xe nói trên đây.

Khi tôi mới chạy lên đất Sài Gòn nầy, từ 1919 đến 1923, tôi học trường Chasseloup-Laubat, buổi đó nơi đường Trần Quang Khải vẫn có một đường sắt nhỏ và có một xe lửa nhỏ, nối liền chợ Tân Định qua chợ Đakao. Ban đầu, xe chạy không lấy tiền, gọi là xe chạy thí, nhưng trẻ nít leo lên ngồi chật ních, đuổi không chịu xuống, Tây phải bày ra thâu tiền xe và thâu mỗi chuyến un sou (một đồng xu), như vậy mà mời được trẻ bớt đi. Và chánh phủ nào đã dẹp bỏ đường xe lửa cóc-keng nầy. Nếu còn có phải đỡ khổ cho dân lao động ngày nay chăng? Bệt xà lù!

Kể chơi ngày trước lên Lái Thiêu, đi bằng xe điện chỉ tốn vài cắc (vài mươi xu) và có lệ vào vườn măng 1, bỏ ra một đồng bạc (1$00) nhưng đồng bạc ngày trước ấy, giá trị ngày nay tôi tưởng hơn một trăm ngàn tiền giấy hiện thời (100.000 đồng), về chiều đếm đủ một trăm trái, xin chớ quên giá trả chỉ Nhứt ngươn (1$00) vì có lệ buổi đó, khi khách đến vườn măng, trả tiền xong, chủ vườn cho tha hồ ăn líp (libre) tại dưới gốc, bao nhiêu đều không kể, và măng cụt có hai thứ, thứ măng đúng lứa, ngọt thanh, và thứ măng non, hái xuống, bẻ vỏ ra, da màu ửng hồng, thịt trong ngần như da đứa gái cập-kê, cắn đụng răng, vừa dòn vừa ngọt vừa đầu lưỡi thanh-thanh, khỏi trả tiền, sướng quá, măng non tôi tưởng người nào từng nếm, trời đất cũng còn quên và ngày nay, xin hỏi măng cụt mỗi trái giá bao nhiêu, và tôi nào còn tuổi còn răng để biết! Ôi! Tuổi chẳng chờ ta! Và còn gì mà mến tiếc, muốn lột da sống đời?

Lái Thiêu buổi đó, có làng tên gọi Ba Ri Tân Qui. Làng nầy còn hay đã đổi tên khác rồi? Nơi làng ấy có chiếc cầu treo và có sầu riêng ngon có tiếng. Lại có bưởi nhỏ trái và ngọt. Người Ba Tàu lên mua đem về Sài Gòn lấy giấy bạch bao ngoài, lấy dây nhợ đỏ cột treo lủng lẳng vào dịp tết Trung Thu và bày đặt gọi bưởi ấy từ bên Tàu chở qua, bán giá cắt cổ (cắt cổ là giá bốn hay năm cắc bạc (0$40, 0$50) mỗi trái), trong khi bưởi đỏ bưởi lớn trái, giá chưa tới mười xu, thế mà đồng bào ta vẫn tin và vẫn mua rầm rầm, và nay tôi nhắc lại vào năm 1919 ấy có phong trào “tẩy chay si-noa”, tẩy chay vốn là tiếng Quảng, nói qua Hán tự là Để Chế, mà nói Để Chế, có ai hiểu nổi, họa chăng có ông trời của Tàu biết hay chăng. Tôi nói bắt quàng, và nhớ lại Lái Thiêu, nay gọi là Sông Bé, và bao nhiêu địa danh ở đây, nay đều đổi gọi theo tiếng mới, thiết tưởng đến đời mấy đứa cháu nội ngoại của tôi khi lớn lên và hiểu chút nào được thì tất cả tiếng nói giọng miền Nam nầy đã bị Bắc-hóa mất hết rồi, không khác bên Tây-địa tiếng Provencal, langue d’oc, langue d’oil gì gì đó thay thế nhau và thuở nào, cách nay chưa đầy nửa thế kỷ, có tên TÂN nào đó dựa hơi Tây khủng bố đồng bào Bắc ép nói Tân Sơn Nhứt, người nào nói “Nhất” thì bị “mò tôm” và hiện nay, phong trào ấy trở ngược dòng lại và mở đài hoặc báo lại nghe và đọc Tân Sơn Nhất và chữ “Nhứt” của tôi đã bị hạ bệ và hết xài rồi, buồn vậy thay và còn đâu tiếng địa phương. Bắc gọi “Mặt giăng” và Nam nói “Mặt trăng” và trong khi ấy trong các từ điển Bắc-Trung-Nam, chữ “trăng” mới là đúng chánh tả kia chớ? Tiếc vậy thay và xin hỏi vào trong nầy, ăn cơm trắng, uống nước Trị An, nước Đồng Nai hay nước Cửu Long, làm sao gọi nước Hồng Hà cho được và thử nghĩ núi Châu Thới ở Biên Hòa, ép gọi là Chu Thái–sơn mà dân ở đây biết núi đó ở nơi nào hay sao và thử đừng nói “xe ô-tô, xe hơi” và ra đường nói “mi gọi cho ta một “tự-động-xa”, rồi sẽ có xe ô-tô-mã-binh chạy lại rước hay chăng?

Tôi đây là một kẻ lẻ loi không biết nịnh bợ, tôi tiếc lấy tôi và cứ xin để cho tôi cứ tiếc, và tôi hiện đã tiếc. Ở đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và cùng khắp các tỉnh tôi biết được thì đều có nào đường Chi Lăng, nào đường Bạch Đằng, vân vân và vân vân và như vậy, chỗ nào là Chi Lăng và Bạch Đằng cổ-tích và thét rồi đều là Chi Lăng và Bạch Đằng hàm-bà-lằng tất cả hay sao, và đâu là thiệt và đâu là giả tạo?

Trở lại Sài Gòn cũ, tôi tiếc đường và xe điện của Tây cũ, chạy đường nay gọi là đường Trần Hưng Đạo, thì đời Tây gọi Boulevard Galliéni và xe điện đường đó nối liền Sài Gòn vô Chợ Lớn, chỗ ngồi có ba hạng, hạng nhứt, có lót nệm và trải dra trắng phếu, hạng nhì chỗ ngồi ván ép đánh vẹt-ni vàng vóng và hạng ba chở hàng hóa, hoa quả rất tiện, còn dọc theo mé sông có xe gọi đường Route Basse (đường thấp, đường dưới), xe điện nầy chạy từ ga Bình Tây ra ga Chợ Lớn và kéo dài ra chợ Bến Thành và nối liền chạy ngang sở Ba Son để chạy tuốt lên tận Gò Vấp, và khách lên xe xuống xe với giá rất rẻ mà muốn đi tới nơi nào cũng được và rất tiện, khỏi sắm xe đạp như nay chi cho bề bộn…, và tôi còn nhớ tích một ông thợ già nhà ở Gò Vấp, tuần lễ nào cũng y như tuần nấy, mỗi sáng và mỗi buổi chiều, ông đều nhờ xe điện mà đi đi về về và ông có tục mỗi lần lên xe hết thảy bộ hành đều thấy ông ngậm xi-gà và sau rốt mới rõ lại ông chỉ xài có một điếu xi-gà ấy trọn một tuần nhựt, mà không ai biết, vì cứ lên xe ông quẹt và châm và để cho thuốc xi-gà của ông tự nhiên tắt, và về sau khi rõ tự sự, ông mới được tặng là “ông Xi-gà-tuần”.

Khi xe điện của Tây không cho chạy nữa thì có xe ô-tô-buýt thay thế và đường xe lửa Mỹ Tho cũng dẹp mất, nhưng xe đò ban đầu thấy gọn và tiện, tỷ như mấy ông mấy thầy ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, vân vân, đều có thể mua giấy tháng và có xe đò đưa rước để sáng lên xe ra Sài Gòn chiều lên xe trở về nhà, buổi trưa nán lại ở sở đạm bạc một tô hủ-tíu đỡ lòng, như vậy có phải là rất tiện và rất đỡ túi cho dân hay chăng, và đến ngày nay, ban sơ cũng có xe mới xe đò rất đẹp và rất nhẹ giá thay thế nhưng lần hồi sanh tệ, trẻ mất dạy lên xe, móc xe nệm tả tơi và thét rồi sanh tệ thêm nữa, nạn móc túi, nạn xe buýt chạy bất kẻ giờ giấc và nếu không nói là coi rẻ khách bộ hành.

Lúc tôi làm nơi dinh thống đốc, người đầu phòng chủ của tôi là một quan đốc-phủ nhà ở Phú Lâm, ông rất trong sạch thanh liêm, ông sáng đón xe lửa từ Mỹ Tho chạy lên, ông lên xe ra tới ga Bến Thành, ông xuống xe thả bộ vào dinh, đến chiều ông thả bộ trở lại ga mua vé lên xe Mỹ Tho trở về Phú Lâm tới nhà, những cảnh gương mẫu ấy nay không còn, thật là đáng tiếc.

Nay còn lại những gì độc giả vẫn biết hơn tôi, nói chi cho tốn giấy. Cái tệ nạn ngày nay một phần theo tôi là vì người quá đông, xe quá nhiều, còn đường xá thì hóa ra quá hẹp, thêm nạn bít cổng, đào xẻ nát mặt đường và cứ đốn cây che mát và mở đường hai bên lề thêm rộng, khổ cho dân mà dân có miệng làm sao mở nên lời, ngoài ra học sanh, sanh viên, đông nghẹt và ít biết tránh khách già đi bộ và tội nghiệp thay cho người tàn tật xê dịch làm sao? Ngoài ra, còn vấn đề cầu-kỳ, cái thì quá cũ kỹ, có từ đời Tây nay đã mục chưn rệu mặt, cái tuy mới tuy xây dựng bằng xi măng cốt sắt nhưng làm sao chở nổi những xe xăng xe tải quá nặng nề, cầu xập, vân vân, tiền đâu cho kịp sửa chữa? Quả là nan giải và khó vậy thay cho người đứng đầu trong nước? Và giỏi gì cái viết nói vô can?

——————————–

1Măng đây là măng cụt, tiếng Pháp là mangoustan, tôi tìm ra mangoustan, phải chăng là mangue d‘Indoustan, nói ríu lại (VHS).

Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply