This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi có duyên nợ với Thái Bạch. Vừa rồi ảnh viết về bác sĩ Ngỡi ở Sa Đéc, tôi vuốt theo được số tiền khá khủm, nay gặp bài nói trên đây về Cua đinh, ngoài Bắc gọi con ba-ba, anh T.B. không giải nghĩa cua đinh khác con cua đơ là thế nào, sánh lại T.B. biết nhiều hơn tôi, và có lẽ chưa chịu cạn lời, trái lại tôi xin thanh minh lần nữa, tôi không giỏi gì hơn ai, duy được có phần còn lưu trữ nhiều sách cũ ít ai có. Gần đây có Trấn Chợ-đệm viết bài đề cao công lớn Trương Vĩnh Ký và bồi thêm ông Trần Bạch Đằng đề nghị trả tên Trương Vĩnh Ký lại cho trường trung học… Riêng tôi năm xưa lúc còn học nơi trường Chasseloup-Laubat, ngày 5-5-1921, nhơn được cho ra trường tôi đến nhà bán sách Huỳnh Kim Danh, đường Hai Bà Trưng ngày nay, tôi thời may mua được một bộ Thông toại khóa trình, cũng gọi Sự loại thông khảo, chỉ tốn có 2$50, sách đóng bìa sẵn trọn từ số 1 bắt đầu năm 1888 đến số cuối sách ngưng bản, năm 1889, nay đáng hơn bạc triệu, và nơi số 1, trang 9, có đăng bài tôi chép y nguyên văn như dưới đây:
Ca kiêng giốngđộc
“Rượu để bình đồng, ấm thiếc lâu,
“Gan bò một lá, với gan trâu,
“Giải ba chưn, cá lân không vảy,
“Dê một sừng, tôm chẳng có râu,
“Chó bốn đề, lươn vàng cất cổ,
“Gà năm sắc, ngựa trắng đen đầu,
“Cua sinh một mắt, lệch sao điếm,
“Vật ấy đừng dùng, kẻo lệ âu.
(khuyết danh tác giả)
Tôi xin dẫn giải và bàn rộng thêm:
Người xưa ham viết lối thi ca, vắn tắt nên tối nghĩa.
Theo như tôi hiểu, những loài thú, cầm, điểu, ngư nếu có vẻ lạ mắt, khi muốn làm món nhậu, phải đề phòng, tỷ như:
• Con cua đinh, ngoài ấy gọi con ba-ba, móng nó đếm bốn, phân minh, mới thật ba-ba. Con nào chỉ có ba chơn, hoặc chơn chỉ có ba móng, đó là con gọi “cua đơ” và tốt hơn tránh dùng thịt cua đơ, và tôi định chừng có lẽ nó lai hay lây có nọc như rắn.
• Câu 1, “rượu để bình đồng, ấm thiếc lâu” có nghĩa đồng (bronze), thiếc (fer), gặp chất alcool rượu, lâu ngày sanh ten, sét, rét, có chất độc giết người…
• Câu 2, con bò, con trâu mổ ra thấy chỉ có một lá gan, đó là bò bệnh, trâu độc.
• Con cá lân thường có vảy, khi cá lân không vảy, thì không nên dùng thịt nó.
• Dê có hai sừng, tôm luôn có râu, khi gặp dê một sừng và tôm không râu, nên chừa.
• Con chó có bốn đề nơi chưn, không nên dùng thịt. Con lươn vàng biết cất cổ lên cũng thuộc loại dị chủng, tôi xin thêm con cá nóc, con cóc, khi mổ làm giập mật và mật chảy ra thấm thịt cá nóc và thấm thịt cóc, thì nên bỏ hết đừng dùng.
• Câu thứ 6 nói vế con gà năm sắc, tôi không dám giải thích, và xin bắt quàng trớ qua con công, lông đuôi ngũ sắc, thì có câu cổ nhơn dạy lại khô lân chả phụng và khô công, làm gì có, nhưng mật con công nếu rủi làm giập chảy ra người, thì thịt không nên dùng… Con ngựa lông bạch đầu lông đen, thịt không nên dùng.
• Con cua vẫn có hai mắt, còn con lệch, một loại với lươn, nhưng nếu mình lệch lốm đốm có điểm chấm tròn như sao, có lẽ nó có nọc độc như rắn???
Các loại kê trên đây, khi đã biến tướng, thì đều là loại có nọc độc, tốt hơn nên chừa, đừng ăn.
Chúng ta sanh nơi đất nầy, ban đầu vẫn chê nhưng sau rốt ăn không chừa con sâu con bọ nào. Con đuông sống bằng chất non cổ hũ dừa, con nhộng tằm, con ve ve, con cà cuống (chữ gọi quê-đố) đều là quí phẩm xưa dâng vua ngự, nhưng ngày nay bao la thế giới, lên Lào ăn luôn con gián đất gián hôi, và bất kể con gì bắt được và cho vào hũ mắm, qua đất Miên ăn bò hóc nhớ đời đời, đất Việt là đất thiên đàng, dân Việt là dân trời sanh, không kiêng không cữ chi chi tất cả, không như người đạo Hồi, ăn con vật tự mình cắt cổ, và như vậy đâu còn thú vui thưởng thức tứ hải giai huynh-đệ, sang Tàu, xực mì, sang đất Chà hít hà cà-ri, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, mà phen sau, vẫn nài không ớt mất ngon, và tôi chưa lên buôn và vẫn biết da trâu phơi khô, để móc meo mặc kệ, khi uống rượu cần nhai khô trâu từ trong lửa đốt sạch lông, không cần biết dơ sạch, vẫn về đất kinh còn nhớ.
Thái Bạch nhơn huynh khỏe chứ? Còn nhớ chăng? Năm nào hai đứa mình, cặp bù kè, đi tìm thú đi mây về gió, tới một cao-trang nọ, anh bắt tôi lột giày xách tay leo lên chiếc thang tre, thang ọp ẹp nhún lên nhún xuống, tôi tức cảnh ngâm nho nhỏ: “Chích lý yên hà ngoại, ân cần cố quốc tâm”, Thái Bạch nhơn huynh hỏi tôi điển nào, tôi cười mà vẫn không đáp, kéo ba sợi đến nay còn khoái, chỗ ấy là chỗ nào, bây giờ anh chỉ cho tôi đi. Sao anh không nói trong bài món cà-ri cua đinh sở trường của ngự thiện đất Vĩnh Long, tôi thưởng thức một lần nhà cố phó t.t. Hương nay còn chưa quên.
Sển, 28-11-1993
Tái bút.
Tôi nói ra đây không sợ người nước Nhựt giận, vì đó là sự thật. Người Nhựt thua to, bị một trái bom nguyên tử bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện, nhưng họ sớm sáng mắt ra và họ chuyển bại thành thắng, mà cốt yếu là thay vì phát minh, họ chỉ ăn cắp nghề rồi làm giàu. Nay họ có xe hơi mau lẹ và rẻ hơn xe Mỹ lại ít hao xăng. Họ có máy ảnh hơn máy Thụy Sĩ, có máy nghe hơn của Marconi, họ đã từng cho đàn bà đi khắp thế giới nhưng khi nước khá có tiền, những phụ nữ ấy rút lui về nước và họ tự phụ không cho kẻ ngoại bang lấy gái của họ mà không có hôn lễ chánh thức. Honda nay chạy khắp vòng trái đất, và nước Nhựt nay kềnh với Mỹ và đã qua mặt Ăng-lê lâu rồi. Trong khi ấy, nước ta thắng ông thầy Tây, đánh trầy trật ông tỷ phú Hiệp-chủng-quốc, nhưng dân ở đây, xin lấy tôi làm mẫu, vẫn sớm mắm chiếu cá ngâm nước muối, nói lái cho dễ thèm, sớm muối đâm chiếu mắm đuôi, chẳng qua vì ta giỏi đánh giặc mà kém (không học nơi trường) về kinh tế, vân vân, một ông học luật thắng mấy ông xuất thân các trường đại danh Saint Cyr, Politechnique, nhưng nay trồng đay mà thiếu chỗ tiêu thụ, và tràn đồng buôn lậu, chợ đen chợ đỏ, giỏi gì cái la làng của mấy ông viết báo?
Không dám nhắc chuyện của mình, nhưng tôi đã từng thấy ở Nhựt, những vách sơn mài chùa chiền, xưa cổ mấy trăm năm không một lằn trầy, ở Thổ Nhĩ Kỳ, nơi điện Istanbul, và ở đền đài cổ nước Pháp, không có hủy hoại như ở xứ mình, ở chùa Thiên Mụ, cái đầu con rùa tốt lành, bị chạm lén tên thằng lính Sài Gòn đứng cặp với tên tình nhân và đáng tiếc cho một mỹ-thuật bị làm cho hư, tôi chưa từng ra đất ngàn năm văn vật nhưng đọc báo thấy nói phố cổ “36 phố phường” nay đang lên chưn biến thành lầu cao, cửa rộng để chứa hàng và không tiếc cảnh “hàng đường hàng mật trắng tinh…”.
Tôi xin ngừng và có một lời nhắn nhỏ các bạn thầy giáo nên khuyên trẻ em bỏ tật khắc tên vào bàn và bỏ thói xấu xé nệm xe buýt. Hãy thương tiếc của của người như của của mình. Con trẻ đời nay, theo tôi thấy, thảy thảy đều đại đa số bắt chước cha, cha đánh bài, con bắt chước, chị làm đ. em xỏ tiền, và cha đi đánh giặc thắng trận đem súng về, đứa con xách súng của cha, bắt chước kẻ mất dạy trong phim, xách súng bắn bùm bùm vào bót lính, và chờ trời tối giựt dây vàng, hiếp người đi lẻ loi, cũng vì không còn giặc nhưng còn tật bắt chước làm theo người lớn, và cha mẹ làm chợ đen, thảo nào con sanh ra bất phục, vị thành niên giết người, tòa hỏi, trả lời muốn có tiền ra Vũng Tàu tắm mát.
Báo Công an số 341 ngày 3-2-1993 vừa rồi có đăng tin nơi trang 7 rằng hai bạn nhỏ Quang Hùng và Trần Tử Văn vốn cùng tôi từng viết bài cho báo nầy, đang phát hành một cuốn nhan là Tọa độ X, tôi không đến được nơi buôn sách để xin chữ ký, nhưng hôm nay 6-2, nhờ bạn tốt mua hộ, tôi đã có cuốn Tọa độ X nầy và khi nhạn sơ vài trang đầu, đã có cảm giác phải viết chút ít về “Thú chơi sách” và nay tôi lựa và sẽ viết về “Cuốn sách và tôi”.
Trước tiên, xin hỏi tại sao từ sau ngày Giải phóng 30-4 qua 1-5-1975, nhiều người đua nhau mua sắm và chơi đồ cổ giành giựt nhau để mua, và với giá nào cũng mua, để rồi bán ra thủ lợi mà quên rằng cổ ngoạn hiện tại vẫn thuộc về loại cấm kỵ, khi bán lãi đâu chưa thấy mà đã thấy mất tự do, có người thì bị đòi hỏi, giam cầm, và như vậy ích gì, vì sau khi được lấy lại tự do, thì tốn hao đã bộn, có thể gặp cảnh vợ chồng xa cách, (thà tử-biệt hơn là sanh-ly) và khi sum-hiệp lại nhau thì bao nhiêu số lãi kia đã không còn là mấy.
Trong lúc tôi liếc sơ cuốn Tọa độ X, chưa kịp đọc trọn mà đã vội viết như vậy quả là hấp tấp, nhưng xin cho tôi vội hỏi: Tại sao chúng ta không tìm một thú chơi khác lành mạnh và vô hại hơn, tỷ như “Thú chơi sách” là một?
Nói ra thì mang tội giành công cho mình, nhưng theo tôi riêng biết, có lẽ trước năm 1945, ba chữ “Thú chơi sách” chưa ai từng dùng. Năm 1945 ấy, tôi đang làm thơ ký nơi Tòa bố tỉnh Sốc Trăng, một bạn thân mời tôi viết bài và đăng đàn diễn thuyết nơi hội Khuyến học của tỉnh lỵ quê nhà. Tôi hăng hái và chọn đề tài là “Thú chơi sách”, bạn tôi sửa lại là “Thú coi…” hoặc “Thú đọc…”, tôi kính cẩn thưa hai chữ ấy đề tục, không nên lái lại, bạn tôi cười và tha thứ cho tôi và nhờ vậy mà có hai bản nhỏ nay đã bán hết: “Thú xem truyện Tàu” và “Thú chơi sách”.
Chơi sách ít vốn hơn chơi cổ ngoạn, và theo tôi biết, chưa ai ngồi tù vì tội mua đi bán lại sách cũ, sách hiếm. Ngày nay mãi dâm là có tội, nhưng tôi tuổi 92 không còn ở đây bao lâu, xin cho tôi cho ý kiến riêng, vì túng bấn và nếu phải bán trôn nuôi cả gia đình mẹ đau em không tiền đi học, thì tội nào bằng bà mạng-phụ vợ ông nầy ông kia no cơm ấm áo khiến thèm món lạ và đã làm y như con chó berger cái, phè phỡn đứng sát rào đưa đít ra ngoài cho xi đực nhảy.
Tôi đây vẫn không chịu nhận chức quá tầm là học giả và nói tục đã quen, tôi nhìn nhận nước bị Tây chiếm là một tai hại lớn nhưng bù lại có bị chiếm mà học được như vầy mới được không khác như chị gánh nước trong làng, khư khư giữ trinh sạch… bất quá sau làm vợ làm mẹ sanh con lủ khủ, lên bà cai bà tổng là cùng, theo tôi thà như trong tập “Tạp-pín-lù” làm bà V.A. trải thân giang hồ, nay sống an nhàn với mấy chữ “xít-xác” trong câu báo Nam Phong “Rừng thiền xít-xác án ngoài tào”, rồi nào “sít sát” trong bài “Văn học Hà Tiên Đông Hồ”: “Trừng thiền sít sát án ngoài tào”, trong khi quyển “Quấc âm thi hiệp tuyển 1904”, Lê Quang Chiểu lại viết “Rừng thoàn xích mích ánh ngoài tào”, và cũng thì câu ấy trong bài nôm “Tiêu tự thần chung” của Mạc Thiên Tứ do ông thơ ký Nguyễn Phương Chánh đã sao lục lại chữ quốc-ngữ và đăng lại trong tờ “Nông-cổ mín-đàm” số 159 ngày 29 septembre 1904 lại viết: “Rừng thiêng xích xác án ngoài tào” và rốt lại nhờ tôi tốt phước còn giữ được bao nhiêu sách báo kể đây, nên mới dám sính tài viết về “Thú chơi sách”. Tiện đây tôi xin nói nội một tiếng nói hay là một thành ngữ trong Nam nầy, “sít sát”, “xích xác”, “xịt xoạt”, v.v… cũng đủ điên đầu, và theo tôi hiểu riêng, tỷ dụ: “Bà V.A tuổi xít soát đồng chạn với tuổi của tôi”, và “nhà nầy xịt xạt hư nhiều”, người Việt ngày nay khó phân biệt rành, và than ôi, biết ngày nào đây mới nhứt định và phân biệt được, và để nói bắt quàng cho cạn tào ráo máng hai chữ “nhứt” (Nam) và “nhất” (Bắc) vẫn chưa ngả ngũ, Tân-sơn-nhứt đã nói trong nầy từ xa xưa ông nhạc ỉa cứt su, nay đổi và bắt viết cũng như nói: “Tân-sơn-nhất” và bắt nhớ buổi nào, nội ba chữ T.S.N ấy mà đồng bào làm khổ cho nhau và khi thời kỳ ấy đã qua, nay lại hiện thấy thời đổi mới “ô-tô”, “xe hơi”, “núi Chu-Thái” hay “núi Châu-Thới”, vân vân, và như các địa danh khi dùng Pháp ngữ, khi dùng Nga ngữ, khi ép và buộc dùng toàn tiếng ta tiếng giọng Bắc, khiến cho một người phương nầy với người phương kia, vẫn đồng máu mủ, nhưng dị biệt phát âm, khiến cho người nước ngoài khó lòng phân biệt nổi! Và xin thử hỏi, có nước nào Pháp, Mỹ có khổ tâm như thế không?
Đọc quyển sách chú cho mượn, nói về trại tù Đức-Quốc-Xã, cháu nhớ lại hồi cháu ốm, nằm bệnh xá Hỏa-lò. Gọi là bệnh xá, thật ra chỉ là căn phòng dài khoảng 5 thước, rộng khoảng ba thước. Không cửa sổ. Kín mít. Cửa ra vào trông ra sân chỉ mở trong giờ hành chính. Bệnh nhân cấm ngặt, không được ngó ra ngoài. Nền nhà đổ xi-măng nham nhở, lúc nào cũng toát ra một mùi tanh muốn oẹ. Y sĩ, y tá chẳng bao giờ bước vào. Hồi cháu nằm, bệnh xá có 6 giường cá nhân. Mỗi giường hai người nằm. Ba thằng ho lao chúng cháu và một thằng đau tim, nằm ở hai giường cuối phòng. Trời mùa đông u ám. Ban ngày không thắp điện. Bệnh xá ẩm tối, lạnh lẽo. Chúng cháu cảm giác như đương nằm trong nấm mồ tạm thời. Đợi được đưa đi chôn cất vĩnh viễn. Một buổi sáng, khoảng 8 giờ, cháu nhớ như in. Trời đất cũng tái nhợt như da thịt chúng cháu. Rét căm căm. Nền nhà, mái nhà, tường, giường, tất cả đều phả hơi lạnh. Mười hai bệnh nhân chúng cháu, toàn loại lưu manh, ăn cắp vặt. Không tiếp tế. Không ai có áo ấm. Thằng nào thằng ấy quàng chiếc chăn mỏng, co ro, run bần bật. Tên tự giác phụ trách bệnh xá gọi ra lĩnh thuốc. Chúng cháu, thằng nọ dìu thằng kia, lập cập đi ra. Ông y sĩ đương ngồi bên chậu than hồng, hút thuốc, uống trà, chuyện trò với cô y tá trẻ. Thấy lũ cháu, cô y tá cười, nói với ông y sĩ:
– Anh nhìn bọn chúng kìa. Thằng sắp chết đỡ thằng hết hơi!
Như thường lệ, gã đau tim được tiêm một mũi u-a-ba-in. Mấy đứa kiết lỵ được tiêm mỗi đứa một mũi ê-mi-tin. Mấy đứa ho lao chúng cháu được uống tại chỗ, mỗi đứa 5 viên INH. Nước lã uống tới đâu, lạnh buốt tới đó. Lũ bệnh nhân nhìn chậu than hồng dưới chân ông y sĩ, thèm thuồng. Thú thực với chú, lúc đó, cháu nghĩ nếu chậu than là cái lò lửa, cháu sẵn lòng nhảy vào tự thiêu. Thiêu luôn cả cái đói, cái rét, cái bệnh, cái tù. Hết khổ. Hết mọi chuyện. Trong đám bệnh nhân có một thằng tháo tỏng nặng. Quần bê bết nước phân. Nó yếu lắm rồi. Mắt đã lờ đờ dại. Nó ngồi phệt xuống sân, gục đầu lên đùi gối. Khi cháu đỡ nó đứng dậy vào phòng uống thuốc, mùi thối xông lên, kinh tởm. Ông y sĩ nheo mũi, bảo tên tự giác:
– Đưa nó đi rửa ráy, giặt giũ.
Cháu giúp tên tự giác, dìu nó ra bể tròn. Cháu cởi quần cho nó. Tên tự giác nhúng cái quần vào trong bể nước, rũ rũ một lúc, vất cho cháu vắt. Hắn múc nước vào sô, dội ào ào vào bụng, vào đít nó bốn, năm sô, ướt cả áo. Mỗi sô dội vào, nó lại rên ư ử, co giật toàn thân. Cháu mặc quần cho nó. Rồi đưa nó về uống một liều 3 viên ga-ni-đăng. Trở lại bệnh xá, nó nằm vật xuống giường. Thằng nằm cùng giường lấy chăn đắp cho nó. Chúng cháu rét quá, ngồi trùm chăn, ôm chặt lấy nhau từng cặp. Chừng 10 giờ, nhà bếp mang xoong cơm, xoong nước muối tới. Chúng cháu mang bát ra đặt. Tên tự giác phụ trách bệnh xá chia. Đếm bát, mới có mười một. Còn thiếu một suất. Cháu lay gọi thằng tháo tỏng nằm trùm chăn trên giường dậy đặt bát. Lay mấy cái, vẫn bất động. Cháu hất chăn ra. Nó đã chết cứng tự lúc nào! Tên tự giác đi báo cáo y sĩ. Suất cơm của nó, cháu chia đều cho mười một người. Một lúc, ông y sĩ và hai tên tù tự giác mang cáng vào, khiêng nó đi. Có điều ông chú không thể ngờ được. Ốm đau thập tử nhất sinh như thế, mà bọn cháu vẫn đói như điên. Lưng bát con cơm, nhai vèo một cái đã sạch. Không thằng nào dám khai cháo. Ăn cháo, đái mấy bãi là hết. Mấy hôm sau, ba tên kiết lỵ toi mạng. Ông chú có thể tưởng tượng ảnh hưởng tâm lý nó ghê gớm thế nào không? Chiều hôm đó, khi một tên kiết lỵ thở hắt ra chết, năm tên đồng bệnh đương ngồi, sợ quá, nằm thẳng cẳng. Không nói được nữa. Vài tiếng đồng hồ sau, hai tên lần lượt chết theo. Ba tên sống sót được chúng cháu mang số mệnh ra động viên, an ủi. Nhưng tinh thần chúng suy sụp hẳn. Tới mấy ngày, mới trở lại bình tĩnh đôi chút. Cháu nằm bệnh xá có gần một tháng, mà kẻ chết, người vào, liên tục. Toàn kiết lỵ, tiêu chảy. Có một thằng giang mai. Tóc đã rụng gần trụi. Thằng này nhà quê. Đói quá, mò ra tỉnh. Chưa đủ kỹ thuật trộm cắp, nó lê la vét đĩa ở các mậu dịch. Thật ra, đĩa cũng chẳng còn gì mà vét. Chỉ húp được tị nước thừa trong các bát phở, bát bún. Họa hoằn có người thương hại, cố ý để thừa lại, mới có mà vét. Nó kể hôm đầu tiên nó ra Hà-Nội, buổi tối, ngồi đói ở vườn Bách-Thảo. Một cô gái tới ngồi cạnh nó, tỏ ra thương nó. Đó là lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất, nó biết mùi đàn bà. Và mắc bệnh. Nó bị bắt vào Hỏa-Lò trong một đợt càn quét những kẻ lang thang, không giấy tờ. Chưa kịp đi tập trung trên trại, thì nó đã chết queo. Cái đêm nó hấp hối, ai cũng thương hại. Nó nằm thều thào, rên rỉ mấy câu hát mẹ nó ngày xưa vẫn hát ru nó: “Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ giòng sông. Cô lái đò kia đi lấy chồng. ” Chắc ông chú nghĩ nó chết vì bệnh giang mai? Không! Nó chết vì kiết lỵ. Nó bị lây. Cầu tiêu ở tận cuối phòng. Chỗ mấy thằng ho lao chúng cháu nằm. Bọn kiết lỵ, bọn tháo tỏng đi ngoài xoành xoạch, thường đi ra quần, không kịp chờ nhau. Lũ chúng xin bô. Ông y sĩ bảo không có bô. Ngay xà-lim hai người một buồng, cũng chỉ có một bô sắt tráng men. Hoặc một bô cao-su đen. Mãi sau, tên tù tự giác có sáng kiến, kiếm một thùng tôn đem vào, để đỡ tình trạng đi vung vãi khắp phòng, nó phải lau dọn. Nhìn cảnh ba, bốn tên tranh nhau chĩa những cái đít nhọn hoắt, giơ xương vào thùng, chúng cháu đều phải lắc đầu. Kể ra mùa đông năm ấy cũng không lấy gì làm rét lắm. Hôm lạnh nhất cũng chỉ độ mười một, mười hai độ. Nhưng chúng cháu thì rét kinh khủng. Những sáng đi lĩnh thuốc, nhìn mặt trời yếu ớt chiếu xuống cây bàng, cành lá nham nhở mầu gỉ sắt, cháu nghĩ cơ thể lũ cháu cũng tàn úa, han gỉ như những chiếc lá bàng đó. Có thể lìa cành bất cứ lúc nào!
Một tối thứ bẩy, gã đau tim nằm gần chỗ cháu, tâm sự về tội trạng. Gã nghẹn ngào nói, nước mắt rơi lã chã. Cháu tin là gã oan ức thực. Mọi người gọi gã là thằng trẻ không tha, già không thương, hiếp dâm cả bà già. Gã bảo điều đó hoàn toàn không đúng. Gã là giáo viên lịch sử ở một trường phổ thông cấp hai, không vợ con. Bố mẹ gã làm việc ở mỏ than Hòn-Gai. Cả hai đều là đảng viên. Hiệu trưởng, kiêm bí thư chi bộ trường gã là một bà ngoài năm mươi tuổi, tóc đã hoa râm, thấp lùn, béo lẳn. Chồng là một đại tá quân đội đi làm nghĩa vụ quốc tế ở Căm-pu-chia. Gã nói chính mụ ta mới là chính phạm. Mụ thường cho gã thuốc lá, trà, bột ngọt. Đôi khi còn cho cả phiếu đường, phiếu thịt. Mụ nói mụ coi gã như em út. Mụ tốt với gã. Gã cũng quý mụ. Sáng đó, các giáo viên dẫn học sinh đi thăm lăng Bác. Mụ bảo gã ở lại trường để bàn việc kết nạp Đảng. Được vào Đảng là một ước mơ gã vẫn háo hức từ lâu. Gã mừng lắm. Mụ dẫn gã vào phòng làm việc của mụ. Cài chốt cẩn thận. Mụ pha trà, lấy kẹo bánh ra mời. Gã đương uống, thì mụ vòng ra sau lưng gã, quàng tay ôm đầu gã vào ngực, cúi xuống hôn gã tới tấp. Gã hoảng sợ, xin mụ đừng làm thế. Mụ là bí thư, phải gương mẫu. Nhỡ người ta bắt được thì khốn. Mụ cười cùng cục, mắng yêu gã là dở hơi. Gương mẫu cái con tiều! Đến Lê-Duẩn, Võ-nguyên-Giáp, Nguyễn-thị-Bình, Nguyễn-thị-Định cũng lang chạ bậy bạ cả. Người cách mạng cũng là con người. Cuối cùng, gã không kiềm được, chiều theo. Từ đó, mụ chăm sóc gã lắm. Cho cả tiền mua xe đạp, mua đồng hồ. Thế rồi, một buổi trưa, hai người đương yêu nhau, thì bọn học sinh làm vệ sinh trường, bắc thang quét vôi tường, nhìn qua cửa sổ, bắt được quả tang. Mụ sợ quá, van xin gã hãy nhận là cưỡng hiếp mụ. Nếu không, chồng mụ sẽ bắn chết gã, bắn chết mụ. Lại còn các con mụ nữa. Chúng đều là cán bộ. Không thể để mất danh dự cả gia đình. Gã có một mình, hãy thương mụ, nhận là cưỡng hiếp, nhưng chưa làm được gì. Tội cũng không nặng. Mụ đẩy gã ra ngoài buồng, la gọi ầm ĩ. Các giáo viên chạy tới. Mụ kết tội gã định cưỡng hiếp mụ. Nghĩ tới lòng tốt của mụ đối với mình, gã ấp úng nhận tội. Và bị đưa vào Hỏa-Lò. Gã bảo tội gã chỉ là thông dâm. Không phải hiếp dâm. Gã lại hoàn toàn bị động. Gã than thở từ ngày vào tù, bố mẹ gã đã từ gã. Mụ cũng không tiếp tế cho gã. Chúng cháu tù nhiều, kinh nghiệm, giải thích cho gã hiểu là mụ không phải họ hàng gia đình, không thể tiếp tế cho gã. Chẳng nhẽ lấy danh nghĩa người bị hiếp, tiếp tế, nuôi kẻ hiếp mình? Hơn nữa, dù là tội thông dâm, vẫn bị tù như thường. Hỏa-Lò thiếu gì những trường hợp đó. Gã nhận cưỡng hiếp là đúng. Lôi thêm mụ vào chẳng có lợi gì cho gã, mà lại hại cả mụ, người thực lòng thương gã. Nghe chúng cháu nói, gã hiểu. Nhưng vẫn nằm úp mặt xuống chiếu, nức nở. Ba thằng ho lao chúng cháu ngồi chùm chăn, ôm lưng nhau. Cả bệnh xá ngồi như vậy. Trừ gã đau tim và vài gã quá yếu. Tất cả chúng cháu đều run lẩy bẩy. Chẳng khác gì đang lên cơn sốt rét. Những cái chăn đủ các con bệnh đã đắp qua, thối khẳn, hàng năm mới được nhúng nước qua loa, gọi là giặt. Chúng cháu vẫn phải chùm kín mặt, kín đầu. Rét từ trong xương, trong tủy rét ra. Rét như kim đâm vào da thịt nứt nẻ, ghẻ lở. Giá có vài thanh củi đốt lên sẽ xua tan cả lãnh khí, lẫn tử khí. Sinh khí sẽ được duy trì, sưởi ấm. Ao ước thế, giống như giữa mùa đông mà ao ước mùa hè, giữa đêm đen mà ngưỡng vọng mặt trời! Nửa đêm, thằng ôm lưng cháu tự nhiên nấc mấy cái, thổ máu ra vai áo cháu. Chúng cháu tung chăn, dìu nó ra thùng phân. Nó ộc ra tới nửa lít máu. Máu đỏ tươi, vón lại từng cục, như những miếng phổi tung tóe. Chúng cháu kêu cấp cứu. Một lúc lâu, tên tự giác phụ trách bệnh xá mới tới. Hắn đứng ngoài cửa cằn nhằn, bảo thuốc Vi-ta-min K cầm máu đã hết. Cố đợi thứ hai, sẽ báo cáo với ông y sĩ. Chúng cháu đành đưa nó về giường. Cháu ngồi dựa vào tường. Nó dựa vào ngực cháu, hai tay ôm chặt lấy thằng ngồi trước. Nó sốt cao. Người nóng rực. Thành thử chúng cháu đỡ lạnh. Cứ ngồi như vậy suốt đêm. May mắn thì chợp đi một chút. Những thằng kiết lỵ, tháo tỏng, chốc chốc lại lồm cồm dậy, đi ngoài vào cái thùng tôn. Mùi phân tanh thối nồng nặc khắp phòng. Có thằng loạng quạng ngồi phải chỗ dát giường gẫy, ngã chỏng gọng, kêu oai oái. Bọn công an võ trang đi tuần không bao giờ buồn ngó vào bệnh xá. Họ hiểu bọn bệnh tật gần đất, xa trời làm gì còn sức, mà trèo lên đục trần, dỡ ngói, trốn. Chúng cháu thỉnh thoảng lại hỏi nhau sắp sáng chưa. Tâm lý thằng nào cũng mong sáng. May ra có tí mặt trời ấm hơn. Lại có bát cơm. Nghĩ tới cơm, dạ dầy lại cồn cào. Mồm lại thèm. Thực ra, nuốt bát cơm nguội tanh, nguội ngòm vào, lại run rẩy hơn, cái rét như tăng hơn. Cái dạ dầy bị kích thích, càng đòi hỏi dữ dội. Cái mồm càng thèm thuồng. Bị hành hạ hơn. Khốn khổ hơn. Mùa đông, thoát khỏi nạn rệp, thì lại chịu cái họa rận chấy. Chúng cắn. Ngứa. Gãi như điên. Những mụn lở bật ra. Móng tay đầy máu. Sáng hôm sau là ngày chủ nhật. Không đi lĩnh thuốc. Cháu để tên ho ra máu dựa vào tường. Cháu đi ngoài. Ăn uống chẳng có gì, một tuần cháu mới đi một lần. Sau đó, cháu tới giường thằng đau tim. Định khuyên nó viết thư về nhờ bố mẹ bán cái xe đạp của nó đi, tiếp tế cho nó. Nó có cái đồng hồ, cái bút máy lúc nhập trại phải gửi quản giáo. Coi như mất. Có ai lúc vội vã đi trại, đòi lại được những vật gửi! Nó nằm chùm chăn kín đầu. Cháu mở chăn ra. Nó đã chết. Mắt trợn trừng, trắng dã. Mồm méo sệch. Cháu toan gọi báo. Thằng bạn ho lao đã dậy, ngăn lại, thì thầm:
– Báo bây giờ, nhà bếp cắt cơm nó. Để chia cơm xong, hãy báo.
Cháu tán thành ý kiến của nó. Bọn kiết lỵ, tháo tỏng vẫn ngồi chùm chăn, ôm nhau, chưa biết gì. Như vậy, ba thằng ho lao chúng cháu sẽ được ăn bốn suất. Báo chậm mấy tiếng, có hề hấn gì. Để bọn bệnh nhân khác khỏi nghi ngờ, thỉnh thoảng, thằng bạn ho lao lại tới ngồi bên xác chết, vờ vẫn động viên:
– Mệt lắm hả? Cố ngủ đi. Sáng mai, sẽ có thuốc. Đừng buồn nữa.
Khi nhà bếp mang cơm tới, hắn lấy bát tên chết ra đặt, nói:
– Cứ nằm nghỉ, tao đặt bát hộ cho.
Photo by Sơn râu Ngoài hai thằng ho lao chúng cháu, không ai biết là hắn nói với một thây ma. Cơm chia xong, tên tự giác phụ trách bệnh xá khóa cửa lại. Bọn kiết lỵ, tháo tỏng ăn loáng một cái đã hết, uống mỗi thằng một ca nước cho đầy dạ dầy. Đó là phương pháp chống đói của chúng cháu. Nước lạnh ngắt. Chúng rét run lên, ngồi ôm lưng nhau chùm chăn, đợi bữa chiều. Ba thằng ho lao chúng cháu ngồi quây lấy xác chết. Bốn suất cơm để trước mặt. Cháu vốn tin là con người có linh hồn, nên lầm rầm khấn, mời linh hồn tên chết về dùng cơm, và tha tội cho chúng cháu. Suất cơm gian lận được chia đều. Ấm bụng hơn một chút. Ông chú chưa bị đói triền miên bao giờ, nên không thể hiểu nổi tầm quan trọng của thìa cơm trong cảnh tù tội. Phạng nhau vỡ sọ cũng vì nó. Đến trưa, cháu muốn gọi báo việc gã đau tim chết. Thằng bạn ho lao tham lam, muốn tối mới báo. Làm thêm một suất chiều nữa. Cháu cương quyết không nghe. Cháu sợ nhỡ bị phát hiện, quản giáo sẽ mang cùm vào, cùm chân lại. Ở bệnh-xá, mọi vi phạm nội quy, như hút thuốc lào chẳng hạn, đều bị cùm hàng tuần, kể cả đang ốm nặng. Có thằng đã chết trong cùm. Cháu làm vẻ hốt hoảng, ra cửa kêu lớn. Tên tự giác phụ trách bệnh xá đi báo ông y sĩ. Một tiếng sau, ông quản giáo trực ban dẫn hai tên tù tự giác mang cáng vào, khiêng gã đau tim đi. Không thấy y sĩ, y tá đâu. Thằng bạn ho lao giận cháu lắm. Mặt nó hầm hầm. Nhưng nó không dám to tiếng, vì sợ lộ chuyện gian dối. Đối với cháu, thế là đã thành công. Cháu tin là con người có số phận, ông chú ạ. Nếu cháu nằm bệnh xá lâu nữa, chắc chắn sẽ chết. Không chết vì ho lao thổ huyết, thì cũng chết vì lây kiết lỵ, tháo tỏng. Sớm tinh mơ ngày hôm sau, cháu và tên ho ra máu chuyển trại. Hai chúng cháu khóa cùng một cặp. Chiếc xe tải lèn chặt tù rời khỏi Hà-Nội, chạy về hướng Nam. Tới Phủ-Lý, thằng bạn cháu hộc ra hàng lít máu. Và chết ngay trên xe. Có lẽ vì xe rung xóc quá. Các ông công an võ trang vẫn không mở khóa. Xác nó cứ ngồi kẹp giữa đống người suốt ba tiếng. Tới trại Thanh-Phong mới được mở khóa, khiêng đi. Ở trại Thanh-Phong, cháu được các chú ngụy quân bị giam ở đó cưu mang, cho thuốc, cho ăn. Các chú đó, gia đình tiếp tế nhiều. Có chú, vì quẳng cho cháu chút bo bo, mà bị cùm kẹp. Cháu sống sót cũng là nhờ tình thương của các chú đó. Bốn năm sau, cháu được tha. Ông chú thấy, bây giờ cháu vợ con đàng hoàng. Tuy nghèo khổ, cháu không bao giờ phàn nàn, gắt gỏng. Cháu tù hai lần. Tổng cộng là mười năm. Nhà tù đã dạy cháu chịu đựng, kiên nhẫn. Cháu rất quý cuộc sống. Xét cho cùng, sống vẫn hơn chết. Nhưng phải thành thực nói với ông chú, nếu bây giờ bảo cháu phải chịu mười năm tù ngục đằng đẵng, khổ nhục hơn con bò, con lợn, cháu cương quyết chọn cái chết.
Một bữa trưa nọ Ba Kiên (anh thứ ba của Tư Cầu) đi chợ Trà Ôn về chạy kiếm anh ta tở mở. Và khi thấy mặt Tư Cầu anh ta vội la lớn lên:
– Ê Tư, mầy có hay gì không?
Tư Cầu lắc đầu nhưng rồi hỏi lại:
– Bộ anh mới… trúng cờ bạc hả?
Ba Kiên cười xòa rồi nói gạt ngang:
– Bậy nà! Người ta “độc lập” rần rần tao chạy dìa cho mầy hay… chớ có trúng me, dì dách khỉ gì đâu mà mầy nói như vậy! Ê, quân đội Nhựt-bổn đảo chánh Tây rồi… chuyến này ngon lành lắm nghen mậy!
– Tưởng chuyện gì chớ chuyện đó tui cũng… hay lâu rồi…
Ba Kiên trợn mắt:
– Thiệt hay chơi mày? Chuyện động thiên động địa bất ngờ như vậy, đến Tây nó còn chạy ra khói, chớ đừng nói gì thứ mầy thì biết đách gì mà “hay lâu, hay mau”.
Tư Cầu mỉm cười khiêm tốn:
– Hồi tui ở trên Nam Vang tui đã thấy màng màng chuyện đó rồi… và thiên hạ ai ai cũng đoán biết được rằng sẽ có ngày nay như vậy. Với lại hồi chiều hôm qua có chiếc tàu Tây lính tráng rần rần cập bến ngoài sông cái, dường như tụi nó có ý đợi ai, chắc chờ tốp đi theo sau gì đó…
– Tụi nó đi chưa mầy?
– Đi mất rồi, mà anh hỏi để chi vậy?
Ba Kiên hùng hổ:
– Để bắt nó chớ để chi mậy?
Tư Cầu cười rộ:
– Anh mà xớ rớ lại gần tụi nó bắn anh bể hàm hạ!
Ba Kiên xẻn lẻn nói trớ:
– Thì để tao mạch cho Nhựt bắt nó chớ… Mà thôi, tao nôn nả dìa đây để bàn với mầy một việc nầy…
Tư Cầu ngạc nhiên vì thái độ của anh mình: từ trước tới nay, có bao giờ Ba Kiên thèm “bàn tán” với anh ta cái gì đâu.
Ba Kiên hạ thấp giọng xuống:
– Ê việc này kín lắm nghen… tao mới vừa đi Trà Ôn dìa đây, và thời may tao có gặp mấy thằng bạn cũ trên chợ Cần Thơ… ý trời ơi, bây giờ tụi nó bảnh lắm, hét ra lửa, khạc ra khói lận mầy à!
– Gì mà dữ vậy anh?
– Ậy, mầy để yên tao nói: tụi nó ở trong Nghĩa Sĩ đảng (một đảng thân Nhựt ở miền Tây) của ông Huỳnh Khai, tụi nó mới vừa xuống chợ Trà Ôn để… tịch thâu tiệm cầm đồ nhà nước… Tao nói như vậy mầy… dư hiểu rồi.
Tư Cầu trầm ngâm:
– Hiểu… hơi hơi vậy thôi.
Ba Kiên ngó quanh ngó quất không thấy ai, bèn móc trong túi ra một lá cờ dán bằng giấy: nền màu vàng, ở giữa có hình con ó xanh:
– Đây nè, cờ của Nghĩa Sĩ đảng, tụi nó cho tao đây… Và tao tính bàn với mầy: tụi mình vô cái đảng đó thì… ăn chắc đa mầy! Sở dĩ tao còn giữ “bí mật” là vì tao sợ ba thằng cắc ké ở đây hay được nó… đi trước mình thì uổng lắm!
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi:
– Gì mà uổng?
– Cái thằng này kém chánh trị quá! Mầy hổng thấy cái vụ tịch thâu tiệm cầm đồ nhà nước trên chợ Trà Ôn đó sao!… Vàng, hột xoàn hằng hà sa số! Mấy chỗ đó làm ăn thì mình phải nhào vô trước!
– Việc đó thì ăn nhập gì ở đây?
– Sao lại không! Tao đã hẹn với mấy thằng trên Cần Thơ rồi, bữa nào tao dẫn đường cho tụi nó dìa đây… tịch thâu nhà mấy ông điền chủ.
Tư Cầu vội kêu lên:
– Ý hổng được đâu, anh làm ẩu như vậy… ở tù chết?
Ba Kiên vỗ mạnh vào vai Tư Cầu, cười nói:
– Mầy sao nhát như thỏ đế! Tao hỏi mầy: ai vô đây bắt mà ở tù?
Tư Cầu nhăn nhó:
– Thì đã đành như thế rồi, nhưng mình làm như vậy… ai coi mình ra khỉ gì nữa! Bộ anh nói độc lập rồi muốn làm ông hoành ông trấn gì thì làm sao?
Ba Kiên cau có nhìn em:
– Như vậy mầy hổng chịu theo tao phải không?
Tư Cầu cúi đầu đáp:
– Theo chớ sao không… nhưng phải thì theo, còn bậy thì…
Ba Kiên tức tối dậm chân:
– Tao biết trước mà! Thiệt hổng có nhờ cậy gì mầy được hết! Sao mầy ngu quá vậy Tư, thứ người ta đem dưng tới họng mà cũng hổng chịu nữa là nghĩa lý gì chớ?
Thấy Tư Cầu làm thinh, Ba Kiên vùng vằng quay lưng bỏ đi và chửi thề ỏm tỏi. Đi được vài bước anh ta còn ráng đứng lại để nhiếc móc thêm một câu nữa:
– Phải mà, bị mầy mắc lo ở nhà ôm… vợ chớ gì!
Tư Cầu nhún vai không nói năng gì…
Thấy Tư Cầu không tán thành dự định của mình, Ba Kiên bèn đi rủ rê mấy người bạn “du thủ du thực” của anh ta, nhưng các tay nầy cũng đều dang ra hết, có lẽ vì việc “làm ăn” theo kiểu anh ta nói đó quá… mới mẻ đối với họ.
Ăn trộm, ăn cướp thường thì các tay ấy có thể làm được, chớ còn ăn trộm, ăn cướp mà lại kèm theo một “danh nghĩa” nữa, thì quả tình họ chưa có… quen như vậy bao giờ.
Ba Kiên… thất chí bỏ lên Cần Thơ, một thứ “thủ đô” của Nghĩa Sĩ Đảng lúc bấy giờ… Nhưng một tuần lễ sau anh ta lại bỏ về nhà vì chuyến đi nầy của anh ta không đưa đến đâu hết.
… Một bữa trưa nọ trong lúc Tư Cầu và Ba Kiên đang ngồi ăn khoai lang luộc chấm nước cốt dừa chơi thì thằng Năm hớt hơ hớt hải chạy về:
– Ê anh Ba, anh Tư ơi! Có Tây tới ngoài kia kìa!
Ba Kiên quăng củ khoai đang ăn dở xuống rổ, đứng phắt dậy;
– Tới đâu mậy? Có đông hông hả?
– Có hai thằng hè! Tụi nó ở gần ngoài vàm đó!
Ba Kiên nắm tay Tư Cầu lôi đi:
– Ê Tư, tao với mầy đi ra ngoải coi Tư!
– Coi làm khỉ gì… Có hai thằng thì chắc là tụi nó bị Nhựt-bổn rượt chạy lạc đó chứ gì.
– Tao cũng đoán như vậy. Đi mầy, ra coi cho biết!
– Ối, Tây Tàu gì thây kệ mẹ nó! Thứ đó hồi ở trên Nam Vang tui quen quá rồi…
Tuy nói thế, Tư Cầu cũng lết bết đi theo anh mình ra phía ngoài vàm sông cái.
… Thấy hai anh em Ba Kiên ra tới nơi, đám người hiếu kỳ đang bu chung quanh hai người lính Pháp vội giãn ra để nhường chỗ cho hai người. Thật ra, những người trong làng từ các ông hương chức cũ cho đến các bà con chòm xóm láng giềng đều có ý ngán Ba Kiên vì nghe đồn anh ta là người của Nghĩa Sĩ đảng trên Cần Thơ.
Ông thầy giáo làng vội đứng ra đón anh em Ba Kiên:
– Chào chú Ba… chú Tư.
Tư Cầu cung kính cúi đầu sát rạt chào lại thầy giáo vì đó là ông thầy dạy học cũ của mình, một ông thầy mà anh ta ngán… như cơm nếp lúc còn ngồi ở băng nhà trường. Còn Ba Kiên chỉ hơi gật đầu và nghiêm mặt hỏi liền:
– Hai thằng Tây nầy… làm sao đó thầy giáo?
Hai người lính Pháp quần áo dính đầy bùn đất, mặt mày hốc hác, râu mọc rậm rì đang cầm khoai ăn nhồm nhoàm thấy vậy có vẻ sợ sệt. Họ hết lấm lét nhìn Ba Kiên đến đưa mắt như cầu cứu với thầy giáo.
Thầy giáo nghe Ba Kiên hỏi đến sốt sắng đáp:
– À, đây là hai người lính Tây, toán quân của họ đi trên một chiếc đò máy bị Nhựt bắn chìm nên họ lặn lội trốn tới nơi đây để xin ăn… Họ có hỏi tôi chỉ dùm đường xá hay giúp ghe cộ gì cho họ, để họ đi xuống Cà Mau nhập bọn với toán lính đóng ở dưới…
– Vậy thầy có chỉ đường cho hai thằng này không?
Thầy giáo nghe hỏi gằn như vậy đâm ra luống cuống:
– Tôi… nói dưới Cà Mau xa lắm. À chú Ba, tôi có trình lại với thầy Hương Quản không rành tiếng Tây…
Viên Hương Quản vội đứng ra nói:
– Phải đa Ba, thầy giáo đây có nói với tao…
Ba Kiên gạt ngang:
– Thầy Hương Quản làm làng làm xóm mà hổng biết gì ráo! Mấy người làm như vậy, Nhựt nó nghe nó chặt bay đầu hết cả lũ đó nghen!
Ông thầy giáo tự nãy giờ là người nói chuyện với hai anh lính Pháp nhiều hơn hết (và nói “tiếng tây tiếng u” nữa, thì những người chung quanh có ai biết thầy nói cái gì đâu để… chứng dám dùm khi cần!) lo ngại phân trần với Ba Kiên:
– Chú Ba à, bà con ở đây không ai rành tiếng Lang-sa hết nên tôi nhảy ra làm… thông ngôn vậy thôi… Với lại bà con thấy tình cảnh cù bơ cù bất, đói khát, sợ sệt của hai chú lính ấy cũng động lòng trắc ẩn… Đó chú Ba coi, hồi nào tới giờ họ có quen ăn thứ khoai mì đó đâu mà bây giờ cũng phải… nuốt hết!
Tư Cầu nãy giờ đứng yên bèn nói chen vô:
– Phải đó anh Ba à! Thấy tụi nó như vậy mình cũng tội nghiệp…
– Mầy thì cái gì cũng “tội nghiệp” hết (rồi anh ta day qua nói với ông Hương Quản như… là hạ lịnh vậy)… Còn thầy Hương Quản, tui nhờ thầy đóng trăn hai thằng đó lại cho tui!
Ông Hương Quản nhăn nhó:
– Ý trời, tao bắt ăn trộm ăn cướp thì được… chớ mầy biểu tao bắt hai thằng nầy coi bộ hổng… nổi đâu Ba!
Ông Hương Quản vừa nói vừa liếc nhìn về phía hai khẩu súng trường của hai anh lính Pháp gác trên đùi…
Phần hai anh lính, người nào cũng có vẻ lo âu hiện ra mặt vì tuy không hiểu những lời qua tiếng lại giữa Ba Kiên và ông Hương Quản, nhưng họ cũng đoán được một phần nào ý nghĩa qua những cử chỉ và giọng nói của hai người ấy. Họ đưa mắt nhìn nhau, rồi không ai bảo ai họ nắm chặt lấy khẩu súng đứng dậy chờ đợi…
Tư Cầu thấy vậy khều Ba Kiên nói nhỏ:
– Thôi anh Ba à, để hai thằng lính đó nó muốn đi đâu thây kệ nó, ví dầu anh muốn bắt nó thì cũng còn… khó!
Ba Kiên nhìn kỹ lại hai anh lính Pháp và bớt vẻ hùng hổ lúc ban đầu:
– Tao nghĩ ra cách khác rồi Tư! Mầy lại nói với thầy giáo kiếm chuyện giữ hai thằng đó lại để tao rột lên Trà Ôn báo cho người ta xuống bắt tụi nó…
Ông Hương Quản đứng kề bên nghe lỏm được bèn nói chen vô:
– Ê hổng được đâu Ba! Làng lính ở trển xuống tới dưới nầy thì thằng nầy dông mất đất rồi. Mầy tưởng tụi nó ngu lắm hả? Tao coi bộ hai thằng đó cũng sanh nghi dữ lắm nghen Ba. Mầy mà không khéo, cứ láng cháng thụt tới thụt lui, xầm xì xậm xịt hoài, tụi nó hoảng kinh lên bắn bậy vài phát thì… nguy cho bà con ở đây lắm nghen!
Tư Cầu thấy anh mình có vẻ suy nghĩ nên nói thêm vào:
– Thôi đi anh Ba! Thầy Hương Quản lo xa như vậy là đúng lắm đó anh! Tui đã nói với anh hồi nãy rồi mà anh hổng chịu nghe…
Ba Kiên thấy dự định của mình hư hết đâm ra bực mình:
– Nghe, nghe… cái gì cũng nghe theo mầy hết thì mần ăn đách gì được. Chuyện gì mà đem ra bàn với mầy là mười lần như một đều ăn trét hết!
Tư Cầu cũng cự lại:
– Thì đó, anh giỏi cái gì được anh làm cho tui coi!
– Để động ổ hết rồi còn làm mẹ gì nữa!
Tư Cầu bắt tức cười và dịu giọng lại:
– Thôi mà anh! Anh hổng thấy tội nghiệp tụi nó sao?
Ba Kiên trợn mắt:
– Thằng này ăn nói mới lạ chớ! Vậy mầy hổng nghe người ta lên án tụi nó là thực dân đó sao? Tao hỏi mầy: hồi trước tụi nó có “tội nghiệp” dân mình hông mà bây giờ mình phải “tội nghiệp” lại tụi nó?
Tư Cầu lúng túng đáp:
– Hồi nào thì… hồi chớ bây giờ người ta… thất thế, hết thời… ”xò” như vậy mà mình… làm quá coi cũng kỳ. Anh hổng thấy bà con cô bác ở đây ai nấy có vẻ tội nghiệp cho hai thằng đó hết sao?
Ba Kiên đưa mắt ngó qua một vòng rồi trề môi:
– Hừ, hồi trước nấu rượu lậu bị tây “tào cáo” nó rượt chạy thấy bà mà bây giờ cũng bày đặt “tội nghiệp!”
Nói xong anh ta ngoe nguẩy bỏ đi.
Tư Cầu thấy vậy vội rảo bước theo sau:
– Anh Ba, anh đi đâu nữa đó?
– Đi dìa chớ đi đâu nữa mậy!
– Ủa, bộ anh… để cho hai thằng Tây nầy đi sao?
Ba Kiên cau có:
– Thì nó muốn đi đâu thì đi khuất mắt cho rồi! Còn mầy, cái gì ló ra thì mầy cũng cản mũi cản lái hết à! Thứ của mầy, không có làm gì cho lớn chuyện được hết!
Tư Cầu không trả lời mà chỉ mỉm cười…
… Bác Hai gái đứng bên chái nhà dưới đưa tay ngoắc Tư Cầu xuống:
– Nè Tư, mầy lại đây tao nói cái nầy nghe!
Thấy vẻ mặt lấm la lấm lét của má mình, Tư Cầu lấy làm lạ hỏi lại:
– Cái gì vậy má? Bộ có ai tới… đòi tiền đòi nong gì nữa hả má?
Bác Hai gái lắc đầu lia lịa:
– Tao nói hổng phải đâu! Có chuyện khác mà!
Tư Cầu thủng thỉnh đi lại…
Bác Hai gái kéo nó nhích lại gần:
– Mầy có hay gì hông Tư?
Tư Cầu nhướng mắt lên hỏi:
– Hay cái gì mới được chớ má?
– Thiệt mày… không ngơ, không biết gì ráo sao?
Tư Cầu nhăn mặt:
– Cái gì thì má nói phứt đi, chớ má hỏi điệu đó con biết đâu mà rờ!
Bác Hai gái liếc mắt ngó quanh, im lặng một vài giây như để… lấy hơi rồi kề tai Tư Cầu nói mau:
– Con Phấn nó dìa đây rồi đó!
Tư Cầu chụp lấy hai tay mẹ mình, lấp bấp hỏi lại:
– Má nói sao? Con… con Phấn dìa… đây? Dìa hồi nào?… Sao con không hay cà?… Mà nó có dìa… thiệt hả má?
Bác Hai gái gật đầu:
– Bộ tao nói giỡn với mầy sao chớ! Nó mới dìa ràng ràng đây làm sao mầy hay được!
Tư Cầu buông thõng hai tay xuống đứng ngẩn người ra một hồi rồi vừa nhăn mặt vừa chắc lưỡi:
– Mà nó còn vác thân xác dìa đây làm chi nữa cho thêm rắc rối hổng biết! Người ta yên phận đâu đó hết rồi!
– Coi, sao mầy ăn nói lạ vậy! Nhà cửa, chú bác, anh em của nó còn đăng đăng đê đê ở đây thì nó dìa thăm, bộ mầy cấm cản được hả?
Tư Cầu nín thinh, nhưng vẫn còn có vẻ bực dọc lắm.
Bác Hai gái thấy vậy nhỏ nhẹ nói thêm:
– Mầy sao lạ quá! Bây giờ nó đã có chồng còn mầy thì có vợ… đàng nào đàng nấy cũng yên phận hết ráo thì việc gì mầy phải tức mình tức mẩy hổng biết…
Tư Cầu hỏi chận ngang:
– Vậy chớ má cho con hay làm chi vậy?
– Thì mầy để tao nói hết coi!… Tao muốn cho mầy hay để mầy… phòng trước, đừng có để chuyện gì lụi đụi xẩy ra nữa. Mầy nên nhớ: nó bây giờ không phải… giống như hồi nẳm nữa nghen! Mà mầy cũng vậy! May mà tao biết ý cho mầy hay trước, mà mầy còn làm rầm rầm lên thay!
Tư Cầu xẻn lẻn đáp:
– Má nói sao… quá lố! Con nghe tin nó dìa, con… hỏi vài câu cho biết vậy thôi chớ có gì đâu mà kêu là làm rầm rầm!
– Ừ thì mầy giỏi…
Tư Cầu thấm ý mỉm cười và tìm cách hỏi lảng ra:
– Nè má, má có nghe nó dìa đây thăm nhà hay có việc chi khác hông má?
Bác Hai gái nhìn con trai như để dò xét rồi thản nhiên đáp:
– Thì cũng có thăm nhà mà cũng có chút việc khác…
Tư Cầu tò mò hỏi liền:
– Việc gì vậy má?
– Tao cũng mới biết sơ sơ: nghe nói lúc nầy trên trển… nước gì đó qua liệng bom hoài hè, nên nó dìa nhắm coi có ở đỡ dưới nầy được hông, chớ ở trển người có của người ta dông về miệt vườn tránh bom tránh đạn hết…
Tư Cầu gật gù:
– Phải rồi, con cũng nghe nói lóng rày máy bay của Đồng Minh qua… oanh tạc Nhựt-bổn dữ lắm. Hôm trước con đi chợ Trà Ôn có nghe mấy người ngồi trong tiệm nước nói rằng: mỗi lần Đồng Minh qua thả bom, máy bay hay… pháo đài bay gì của họ bay rợp trời rợp đất, nhiều khi nó bay sà tróc ngói nhà cửa nữa là khác; còn nó mà liệng bom xuống thì thôi… tan tành nhà cửa, kẻ đứt đầu, người cụt tay, có khi thân thể nát nhừ ra như… thịt bầm vậy!
– Hèn chi, mẹ con nó lo bồng bế nhau dìa dưới nầy cũng phải…
Tư Cầu nghe má nói vậy hỏi dồn tới:
– Ủa, bộ có… con của nó dìa nữa sao má! Nó có… thêm một đứa nào nữa hông má?
– Thì mới có một đứa đó thôi, để bữa nào nó dẫn qua đây thăm, mầy nhìn kỹ coi…
Tư Cầu dẫy nẩy:
– Thôi đi, khi nào nó qua, con dông trước! Mà nó qua đây làm chi vậy?
– Coi, lâu lâu nó dìa xứ một lần, thì nó cũng phải đi chào hỏi thăm viếng bà con lối xóm một chút chớ!… Mà việc gì mầy phải lánh mặt như vậy để cho người ta… sanh nghi thêm nữa phải hông?
Tư Cầu cằn nhằn:
– Nghi cái gì mà nghi… con hổng muốn giáp mặt với nó… chỉ có vậy thôi!
– Đọ, tao nói có sai đâu! May mà tao cho mầy hay biết trước để mầy liệu sao cho nó… đàng hoàng. Thằng nầy thiệt kỳ, mầy cứ… tự nhiên hổng được sao? Nó dìa thây kệ nó, mình cứ làm tỉnh như thường, chớ mầy… chộn rộn lên như vậy, một là thiên hạ họ xầm xì thêm, hai là… con vợ của mầy nó… rắc rối lên thì phiền phức lắm đa nghen! Cái gì tao cũng dặn trước hết bây giờ mầy có thân thì lo. Mà tao nghĩ: mầy cũng lớn xộn rồi chớ hổng còn nhỏ nhít gì nữa mà phải để tao nói nhiều. Thôi tao vô trong bếp đây!
Bác Hai gái đi rồi mà Tư Cầu còn đứng nói lẩm bẩm:
– Dìa làm chi cho lộn xộn hổng biết!…
… Tư Cầu đang cuốc giồng khoai mỡ sau hè nhà thì thằng Năm chạy vô réo nó giựt ngược:
– Anh Tư ơi, qua rồi kìa!
Tư Cầu nghi là con Phấn sang thăm nhưng cũng làm tỉnh hỏi lại:
– Cái gì mà mầy nói “qua rồi”? Ai qua?
Thằng Năm chắc lưỡi:
– Thì chị Phấn chớ còn ai nữa!
– Vậy hả? Mà nó qua thì thây kệ nó chớ mầy chạy ra cho tao hay có ích lợi gì hông?
Thằng Năm… cụt hứng đứng khựng lại:
– Coi, tui thấy chỉ qua, tui chạy vô cho anh hay mệt thấy mồ mà còn… cự nự nữa chớ! (rồi nó lên giọng nói tiếp) Mà má biểu tui ra kêu anh vô đó!
Tư Cầu cằn nhằn:
– Bà già sao rắc rối quá! Tao đã nói trước là tao hổng vô, tao hổng muốn giáp mặt ai hết mà!
Thằng Năm xịu mặt bỏ vô nhà:
– Thì anh muốn làm gì đó thì làm, má kêu tui ra cho anh hay… tui chỉ biết có vậy thôi!
Tư Cầu bực mình thẳng cánh cuốc mạnh một cái cho lưỡi cuốc cắm phập sâu vào liếp đất rồi phủi tay bỏ đi ra phía sau vườn. Nhưng mới bước được vài bước, không biết nghĩ sao anh ta quay trở lại và rón rén đi bọc về hướng nhà bếp…
Tư Cầu bước vô bếp và ngừng lại ở ngưỡng cửa đi lên nhà trên. Anh ta lấy chân đá nhẹ cánh cửa để đóng he hé lại và như vậy anh ta vừa có thể nhìn xéo lên nhà trên vừa núp không cho người ở trên ấy trông xuống thấy mình được…
Tư Cầu nghe tiếng chào hỏi lăng xăng trên nhà mà không thấy mặt mũi Phấn đâu hết, tuy vậy anh ta thấy hồi hộp lạ thường. Mấy năm qua rồi bao nhiêu xa cách bao nhiêu đổi thay, anh ta mới nghe lại giọng nói quen thuộc ấy.
Tư Cầu ráng ngóng cổ nhìn lên nhà trên nhưng vẫn không thấy Phấn đứng hay ngồi đâu hết. Anh ta muốn làm tỉnh đi thẳng lên nhưng rồi lại đứng nguyên một chỗ để hết nhón chân đến ló đầu qua cánh cửa hé mở…
Bỗng Tư Cầu kê mặt sát vào kẽ hở của tấm ván cửa nhìn trân trối đứa bé. Anh ta vừa xúc động vừa ngạc nhiên vì không dè mình có một đứa con như thế đó. Tư Cầu để ý xem kỹ từng nét mặt của đứa nhỏ và tự hỏi không biết nó có giống mình nhiều lắm không! Nhưng, hẳn nhiên là phải có chỗ giống… Tư Cầu sờ lấy cái trán của mình và tự nghĩ: “Chắc nó giống nhiều nhứt ở chỗ cái trán vồ nầy!”.
Tư Cầu trìu mến nhìn đứa bé chập chững đi loanh quanh trong nhà. Anh ta muốn xông đại ra ôm vồ lấy đứa bé hôn hít nựng nịu nhưng… dư biết không thể nào làm như vậy được. Tự nhiên anh ta rưng rưng nước mắt và có cảm tưởng như là tấm ván cửa kia đã ngăn cách cả một thế giới riêng biệt bên ngoài, mà mình không thể nào sờ mó tới được.
Tiếng Phấn cười dòn tan làm Tư Cầu nhớ trực lại… còn có mẹ của đứa bé ấy nữa. Đó là một người mà nó vừa muốn không trông thấy mặt nữa, nhưng cũng vừa muốn… nhìn qua cho biết “con ấy” đã biến đổi như thế nào rồi?
Tư Cầu không lấy gì làm lạ cho lắm khi nhận thấy Phấn trắng trẻo và mập no tròn hơn trước nhiều. Anh ta không ngạc nhiên nhưng cảm thấy như bực tức một cái gì.
Phấn cười nói huyên thiên với bác Hai gái như là một người mãn nguyện với cuộc đời lắm vậy. Còn con Thơm thì ngồi riêng biệt ở góc bộ ván, cố làm ra vẻ thản nhiên, nhưng Tư Cầu để ý nhìn kỹ vẫn thấy thỉnh thoảng vợ mình hơi cau mày liếc xéo Phấn, hoặc cười “nhích mép” mỗi khi bắt buộc phải trả lời một câu gì của cô này. Thấy cảnh đó, Tư Cầu mỉm cười…
… Bỗng Tư Cầu để ý lắng tai nghe: Phấn làm ra vẻ hết sức thản nhiên hỏi con Thơm:
– Ủa, anh Tư đâu hả chị Tư? (rồi nó cười giả lả như để tạ lỗi) Tự nãy giờ mắc mải mê nói hết chuyện nầy tới chuyện kia nên… quên phứt ảnh đi mất! Bộ ảnh hổng có ở nhà sao chị Tư?
Con Thơm mím môi trong một giây rồi đáp:
– Dạ ảnh ở đằng sau chớ có đi đâu. (đoạn nó cười nói tiếp) Tánh của ảnh hay… lúc thúc một mình như vậy, nên cũng không cần để ý tới ai nữa hết!
Phấn gật đầu rồi cười nói vuốt theo:
– Mà hễ để ý tới thì mê luôn! Nói vậy chớ bây giờ có chị đây rồi, ảnh còn… mê ai nữa phải hông chị!
Con Thơm vênh mặt lên:
– Dạ, cái chuyện mê hay không thì chưa biết được, nhưng có điều chắc là bây giờ “thằng chả” tởn tới già mấy cái thứ õng ẹo, nập nợn đó rồi!
Phấn tái mặt cầm chiếc khăn mùi xoa vặn chặt mấy vòng trong bàn tay. Cô định nghĩ cách trả đũa lại Thơm nhưng bác Hai gái, tự nãy giờ cứ tưởng hai đứa nó nói chuyện tầm khào chớ không dè lại châm chích nhau như vậy, bèn vội nói chen vô để… đánh trống lảng:
– À Phấn, mầy dìa chuyến nầy tính ở lâu mau đây?
Phấn chưa kịp trả lời thì con Thơm đã gọi giựt ngược thằng Năm:
– Nè Năm, sao em hổng đi kêu anh Tư hả! Nói với ảnh vô mau… có khách trên Sàigòn tới thăm!
Thằng Năm đứng lựng khựng ở đó, vừa nhìn bác Hai gái như để cầu cứu, vừa ấp úng đáp:
– Tôi có chạy kêu rồi…
Bác Hai gái vội đỡ lời:
– Ối, thằng Tư nó đi biệt tuốt phía sau ruộng thăm câu, thăm bẫy gì đó, mầy dễ gì kiếm nó được!
Thằng Năm gật đầu lia lịa:
– Phải… phải à má, ảnh… đi đâu mất tiêu…
Nó vừa nói vừa lấm lét nhìn về phía chị dâu.
Phấn lại tiếp tục cười nói thản nhiên hỏi thăm hỏi nom bác Hai gái về chuyện nhà cửa, chuyện lối xóm làng giềng, tuy trong lòng vẫn còn ức vì câu nói “đánh đầu” của con Thơm lúc nãy.
Đang nói chuyện với bác Hai gái nửa chừng, cô quay sang nhìn châm bẩm vào người con Thơm rồi ra vẻ ngạc nhiên hỏi:
– Ủa, bộ chị Tư… có bầu rồi hả? Mấy tháng đó chị?
Nghe câu hỏi bất ngờ ấy, tự nhiên con Thơm vội lấy tay che lên trước bụng:
– Thưa… tui chưa có gì ráo! (rồi như lấy lại được sự bình tĩnh, nó cười nói tiếp) Tui đâu có…. mau quá như người ta vậy!
Trong nầy, Tư Cầu giựt mình, nhưng rồi lại yên tâm. Có lẽ con Thơm nói “phóng mạng” như vậy, chớ nếu nó biết rõ là Phấn có con riêng với Tư Cầu thì dễ gì chịu được với nó.
Phần Phấn, khi nghe câu châm chích ấy của con Thơm cô hơi sượng lại trong một vài giây, nhưng rồi lại làm tỉnh, tươi cười nói:
– Chị cũng phải… hối anh nôn lên để bác đây mau có cháu bồng chớ!
Con Thơm cười lạt:
– Dạ tui… dốt về cái chuyện ấy lắm…
Bác Hai gái lại chen vào:
– Ối, tao cháu trai, cháu gái thiếu gì! Nội mấy đứa nhỏ con của thằng Hai đó cũng đủ rồi!
Phấn không biết nghĩ sao, đưa tay ngoắc con:
– Bé Hai! Mầy phá cái gì đó? Ý trời ơi nó lục phá giỏ trầu của bà chớ! Lại đây con! Lại đây khoanh tay xin lỗi bà đi con! Giỏi!
Con Thơm liếc nửa mắt nhìn hai mẹ con Phấn, nét mặt hơi khinh khỉnh…
… Thằng bé Hai nghe má nó gọi vội buông giỏ trầu xuống rồi lẩm đẩm chạy lại nhưng mới được vài bước nó vấp chân té ập xuống và khóc rống lên… Suýt chút nữa Tư Cầu đã xô cánh cửa để chạy ra đỡ thằng nhỏ, và anh ta bồn chồn tự hỏi không biết bé Hai có xể mặt xể mày gì không.
Thằng Năm đã vội nâng thằng nhỏ dậy. Phấn cũng bước xuống khỏi bộ ván:
– Bé Hai, nín đi con! (và nó lên giọng đã đớt vừa làm bộ rầy la vừa nựng nịu con) Thằng tía mầy, ai biểu mày đi lục phá giỏ trầu của bà chi! Ý cha, vập mặt thằng con trai cưng của tôi rồi… Thôi lại đây chào bà rồi đi về con!
Trước khi bước ra khỏi cửa, Phấn còn ráng đứng lại quay về phía con Thơm:
– Thôi tôi đi về nghen chị Tư! À, chừng nào ảnh vô chị nhớ nói lại dùm: có tôi qua đây thăm, và nếu ảnh có rảnh, mời ảnh qua bển chơi… bác Năm tôi nhắc nhở ảnh hoài…
Nói xong, cô hớn hở dắt con đi về.
Đợi cho Phấn đi khuất, con Thơm vùng vằng đứng dậy lấy cây chổi quét lia quét lịa bộ mặt ván nhứt là ở chỗ… Phấn ngồi ban nãy.
Bác Hai gái ái ngại đứng nhìn. Bác muốn nói một câu gì để làm mát lòng vừa ý con dâu mà bác rất thông cảm nỗi bực tức. Nhưng vừa lúc ấy, con Thơm, như đè nén hết nổi sự ấm ức từ khi… đương đầu với Phấn, lẩm bẩm nói:
– Cái thứ đàn bà gì mà hễ mở miệng ra là nói như bà nội người ta! Bỏ làng bỏ xứ đi đã rồi ỷ có ba đồng tiền lẻng xẻng trong túi dìa đây lên mặt thấy phát ghét!
Bác Hai gái tằng hắng rồi nói chen vào:
– Ối, hơi sức đâu mầy để ý tới mấy chuyện đó hổng biết! Cái tánh của con đó thì từ hồi nào tới bây giờ cũng vẫn vậy…
Con Thơm còn ráng tiếp thêm một câu:
– Thời buổi lộn xộn nầy, nó tính vác cái mặt dìa đây ở rồi được yên chắc! Thứ nó biết mần ăn cái gì cho động tới móng tay, nó ở đây xài hết ba đồng tiền ấy rồi chỉ có cách là cạp đất mà ăn! Hay là với cái bộ điệu khoe khoang của nó, có ngày nó bị thiên hạ đè đầu cắt cổ cũng hổng chừng!
Bác Hai gái nghe con dâu nói một thôi như vậy, lắc đầu và tìm cách hỏi lảng ra:
– À nầy Tư, tao nghe nói mấy bữa rày bên phía bên anh chị ở bển lộn xộn lắm phải hông Tư? Nghe nói Thổ dậy lung tung mà hổng biết có hông hay là thiên hạ họ đồn bậy.
Con Thơm bỗng xịu mặt xuống:
– Con cũng nghe nói y như vậy… Chắc là có thiệt má à!
– Sau mầy biết “thiệt”?
Con Thơm thở dài đáp:
– Hôm trước con dìa bển con có vô thăm tía má ruột con ở trong sóc, ông già ổng có xầm xì về việc này dữ lắm… Và mới đây ổng có nhắn người quen qua biểu con nên trở dìa ở với ổng gấp, hông thôi có chuyện lộn xộn nguy lắm!
Bác Hai gái cau mày:
– Sao tự hỗm nay mầy hổng cho tao hay liền?
– Con thấy… êm êm nên không thưa lại với má làm chi, rồi kế có công việc kia việc nọ làm con quên luôn.
Bác Hai gái chép miệng:
– Cha, lộn xộn cái điệu đó hổng biết anh chị Bộ ở bển có sao hông? Thiệt tao lo quá Tư à!… Vậy mai mốt gì đây mầy thử lội dìa bển thăm nom coi thể nào…
Con Thơm rầu rầu đáp:
– Dạ con cũng tính để bữa nào hưởn hưởn xin phép với má cho con dìa bển…
– Được rồi, hay là mai mầy đi liền đi cũng được đó Tư!
– Dà…
Nhưng rồi, như nhớ trực lại điều gì, nó vội nói tiếp:
– … Để bữa nào khác cũng được má à!
Bác Hai gái ngạc nhiên:
– Coi, sao lại để bữa khác? Bộ mầy hổng nóng ruột dìa bển thăm ảnh chỉ sao cà?
Con Thơm lúng túng đáp:
– Đâu… phải vậy má! Con cũng muốn dìa gấp lắm nhưng…. nhưng bây giờ thì…. dạ, bị có chuyện riêng nên con muốn ở nán bên nầy một vài bữa nữa.
– Chuyện riêng gì hả…. Con nầy sao bữa nay nó ăn nói cái gì mà mù mù mờ mờ tao chẳng biết đâu mà rờ!
Con Thơm vội nói thêm:
– Chuyện riêng của con… chắc má cũng hiểu rồi.
Bác Hai gái bực mình ngắt ngang:
– Bà nội tao bây giờ cũng hổng biết nữa chớ đừng nói tới tao!
Thấy mẹ chồng có vẻ giận đỗi, con Thơm đành thú thật:
– Dạ… chị Phấn mới dìa đây… con đi khỏi cũng có điều hổng tiện.
Bác Hai gái thở hắt ra một hơi dài:
– Hèn chi!… Thôi mầy khỏi nói thêm nữa, tao dư hiểu rồi! (rồi bác dịu giọng như để an ủi con dâu) Con lo như vậy cũng phải nhưng chắc không có chuyện gì quá đỗi đâu con à! Bề gì bây giờ con Phấn nó có chồng con rồi mà chồng con đàng hoàng rạng mày nở mặt nữa, thì má cũng tưởng nó đâu có dại gì để mang tiếng cho nó!
Con Thơm trề môi:
– Má nói như vậy cũng phải… nhưng cái thứ con nầy không giống như người ta vậy. Con nhìn sơ sơ qua bộ dạng nó con biết liền. Nó dìa đây như… sút chuồng vậy mà. Cái thứ đó nó có chừa ai! Để con nói rồi má nghiệm xem: cái tướng nó là cái tướng con đờn bà… đi phá gia cang của người khác!
Bác Hai gái mỉm cười:
– Cha, cái gì mà mầy nói dữ vậy! Dầu sao, tao cũng đã có dặn kỹ thằng chồng của mầy rồi, với lại tao coi bộ thằng Tư nó cũng… ghét mặt con đó nữa; như vậy mầy khỏi lo làm gì cho lắm và cũng đừng nghĩ bậy nghĩ bạ nọ kia rồi nó sanh ra phiền phức thêm đó Tư à! Tao có trải qua cảnh đó rồi tao biết…
Con Thơm hăng hái nói một hơi:
– Má nói vậy chớ con nầy cái gì nó cũng dám làm hết! Ví dầu má có đem… nhốt anh Tư trong lu trong khạp gì nữa, nó cũng tới cạy nắp lên. (rồi nó chép miệng nói tiếp) Còn phần anh Tư… tuy ảnh ngán hổng muốn gặp mặt nó nữa, nhưng chuyện đời hổng biết đâu được má à!
Bác Hai gái nhíu mày:
– Coi sao kỳ vậy? Chắc mầy cũng dư biết hồi nãy con Phấn nó qua đây thăm, thằng Tư nó muốn lánh mặt chớ phải thiệt là nó đi ra ruộng ra đồng gì đâu! Đây nè, lúc mới được tin con Phán dìa tới là nó đã kêu trời kêu đất với tao rồi.
Con Thơm lắc đầu nhè nhẹ;
– Cái đó thì con… không cãi, nhưng sở dĩ anh Tư ảnh muốn lánh mặt con kia không phải vì ghét suông thôi, mà chắc cũng vì còn ức trong lòng…. hổng chừng còn ức… nhiều lắm nữa là đằng khác má à!
Bác Hai nghe con dâu nói… cũng có lý nên chỉ chống chế cầm chừng:
– Mầy nghĩ vậy chớ đâu chắc gì có thiệt…
Con Thơm nói tiếp:
– Con lo là lo ở chỗ đó. Má hổng biết chớ tánh mấy người lù khù như anh Tư thường hay… si mê bất tử lắm! Mà hễ mê ai thì… trời gầm hổng nhả…
Bác Hai chận ngang:
– Ối, mầy đừng nghĩ bậy nghĩ bạ rồi đố khỏi sanh ra rắc rối cho mà coi! Đàn bà ai lại hổng ghen tương nhưng mình hổng nên ghen bóng ghen gió Tư à! Nhiều khi chuyện chỉ có chút xíu mà vô tình làm cho tầy quầy ra thêm để tan nhà nát cửa hết đó Tư!
– Con cũng biết vậy nhưng…
Bác Hai gái thương hại nhìn con dâu:
– Được rồi, con để má… canh chừng cái vụ nầy cho! Bề gì con cũng là vợ của thằng Tư do tía má bên nầy cưới hỏi hẳn hòi… Thôi con đi xuống lo cơm nước đi chớ tự nãy giờ bị khách khứa nên cũng có hơi trễ đa Tư!
Con Thơm thở dài lủi thủi xuống dưới nhà bếp…Vừa lúc đó Tư Cầu cũng vội làm tỉnh tằng hắng lên tiếng rồi cố giữ vẻ thản nhiên bước lên phía nhà trên. Con Thơm đi trờ tới và đứng khựng lại nhìn Tư Cầu bằng đôi mắt nửa như căm hờn, nửa như oán trách. Tư Cầu vội quay mặt bước đi thẳng nhưng con Thơm lên tiếng:
– Nè anh Tư có “người ta” lại kiếm thăm anh đó!
Tư Cầu cau mặt:
– Người ta nào?
Con Thơm cười lạt:
– Hứ còn làm bộ… bà Phấn chớ còn ai nữa!
Tư Cầu không biết nói sao nên đành buông ra hai tiếng “vậy hả” một cách xụi lơ rồi rảo bước đi thẳng lên nhà trên như chạy trốn.
– Thiệt đúng bon! Còn mê con ngựa đó lắm mà!
Tư Cầu vừa lên tới là bác Hai gái liền kêu anh ta lại hỏi nhỏ:
– Nè Tư, con vợ mầy có nói gì không?
Tư Cầu lắc đầu.
– Mầy liệu đa nghen, chuyến nầy mà mầy còn làng chàng với con Phấn nữa là mầy chết!
Sáng hôm sau, trong lúc Tư Cầu đang nằm trên chiếc võng treo ngoài hàng ba phì phào điếu thuốc vấn, thì thấy thằng Năm lấm la lấm lét từ ngoài cửa rào đi vào. Tư Cầu đoán chừng nó lẻn về nhà để “tha” món gì đem qua bên đám trẻ con hàng xóm chơi nên mới có vẻ ké né như vậy. Nhưng không, thằng Năm đứng sững lại, ngó quanh ngó quẩn bốn bề như để canh chừng coi có ai khác không, rồi đi thẳng về phía anh ta.
Tư Cầu nghển cổ lên hỏi:
– Gì đó mậy?
Thằng Năm không trả lời mà còn đưa mắt nhìn láo liên vô phía trong nhà và một bàn tay của nó thọc sâu vô túi áo như để giữ chắc cứng một vật gì trong ấy vậy.
Tư Cầu lấy làm lạ quát hỏi thêm:
– Ê Năm, mầy làm cái gì lạ đời vậy? Mầy ăn cắp món gì giấu trong túi đó hả thằng ôn hoàng dịch lệ?
Thằng Năm chắc lưỡi:
– Trời đất ơi, anh làm ơn nói nho nhỏ một chút hổng được sao!
Tư Cầu liệng mạnh tàn thuốc ra trước sân:
– Ý, bộ mầy nói giả ngộ sao Năm? Cái gì mà khi không mầy cấm hổng cho tao nói lớn hả?
Thằng Năm móc “rẹt” trong túi ra một tờ giấy trắng gấp làm tư nhét vào tay anh nó:
– “Ta” nói chị Phấn gởi thơ cho anh đây nè! Vậy mà cứ la la hoài!
Tư Cầu vừa hất tay nó ra vừa bò rột ngồi dậy quắc mắt nhìn nó:
– Ai biểu mầy làm tài khôn đưa thơ đưa từ đó hả?
Thằng Năm nhăn nhó:
– Chị Phấn chớ còn ai nữa! Thôi đây nè, anh cầm lấy cho mau dùm tôi để rủi có ai trông thấy thì chết cha…
Tư Cầu nạt nó:
– Tao hổng lấy đách gì hết!
Thằng Năm vừa ngó chừng phía trong nhà, vừa đưa tờ giấy ra nhét đại vào tay Tư Cầu:
– Thôi mà anh… lỡ rồi, anh chịu khó lấy dùm rồi muốn đọc hay xé liệng gì đó thì làm, chớ để cù cưa cù nhầy như vầy hoài rủi má hay chị Tư ra thấy bất tử thì Bà hú tui đó anh Tư ơi!
Tư Cầu dậm chân mạnh xuống đất:
– Tao nói tao không rớ tới bức thơ đó mầy có nghe chưa! Mầy giỏi lãnh dìa đây thì mầy ăn dộng gì đi, hay là nếu sợ thì đem trả gấp cho nó có được hông!
Thằng Năm một tay nắm kín lấy tờ giấy, một tay gãi đầu lia lịa:
– Trời ơi, trả gì được mà trả!
– Sao vậy thằng ông nội?
Thằng Năm ấp úng đáp:
– Chị Phấn chỉ cho tui năm cắc…
– Thì mầy đem năm cắc và lá thư nầy liệng trả lại cho nó!
Thằng Năm nói như mếu:
– Nhưng mà tui nói… hổng được…
– Sao vậy?
– Năm cắc… tui mua kẹo gừng ăn hết rồi còn khỉ khô gì đâu mà trả lại cho chỉ!
Tư Cầu thở khì ra:
– Thiệt mầy hết cỡ! Tao cũng hay ẩu mà mầy còn ẩu quá cố nội tao nữa! Nhưng, thôi mầy ăn thì mầy ráng chịu chớ tao hổng biết có thơ từ gì của ai hết! Đem nó đi cho khuất con mắt tao mầy!
Vừa lúc ấy, có tiếng chân người bước lên nhà trên, thằng Năm quýnh quá liệng đại lá thư vào lòng Tư Cầu, rồi co chân chạy tuốt ra phía cửa rào. Tư Cầu nổi dóa hất lá thơ rơi xuống đất… Nhưng rồi anh ta cuống cuồng hết ngoái cổ nhìn vô trong nhà tới liếc mắt trông chừng tờ giấy trắng gấp làm tư nằm phơi dưới đất gần bàn chân của mình. Nghe có tiếng đụng chạm bàn ghế gần sát bên cửa cái, Tư Cầu hoảng kinh vội lấy bàn chân đè lên mảnh giấy rồi cố hết sức làm ra vẻ thản nhiên móc túi nhái ra, banh để trên bắp đùi, moi giấy thuốc ra vấn…
Đúng vào lúc ấy, con Thơm ló đầu ra khỏi cửa cái, liếc nhìn nhanh về phía anh ta rồi bỏ đi vào lại trong nhà.
Khi thấy vợ ra, Tư Cầu lập cập mở nắp hộp quẹt máy quẹt liền năm bảy cái mà chẳng thấy bốc lửa. Thời may, con Thơm cũng quay lưng đi vào và Tư Cầu vội đậy nắp hộp quẹt lại, vụt luôn điếu thuốc chưa đốt rồi nhanh nhẹn cúi xuống lượm lá thơ lên bỏ tuốt vô túi. Sau khi đảo mắt nhìn qua một lượt xem có bóng dạng ai không, Tư Cầu bèn rút lá thư ra để sụt xuống dưới bụng rồi mở he hé tờ giấy đủ để đọc mấy dòng chữ viết xiên xẹo bằng bút chì.
Bỗng một chiếc tàu cau rớt nghe cái “xạc” ngoài sân làm Tư Cầu giựt mình, hoảng kinh nhét luôn lá thơ vô túi lại, ngửng đầu nhìn ra. Thấy không có ai, Tư Cầu định moi tờ giấy ra đọc, nhưng rồi anh ta lại đứng phắt lên đi tuốt ra phía sau vườn lựa một góc khuất mắt nhứt và tìm được một chỗ thật kín đáo: đó là một cái kẹt nhỏ nằm giữa hàng rào tre có dây nhãn lồng bò dầy mịch và một cây sa-bô-chê thấp lùn cành lá xum xuê. Tư Cầu ngồi phịch xuống cỏ, chậm rãi rút tờ giấy mở banh ra và nhíu mày đọc lẩm bẩm:
“Anh Tư.
Em gởi vài hàng lại cho anh được rõ: em muốn gặp mặt anh để nói một việc này cần lắm.
Vậy trưa nay, lối mười hai giờ em chờ anh ở trong giồng chỗ phía sau miễu ông Tà. Nếu anh không chịu vô, em sẽ qua nhà kiếm anh hoài cho tới chừng nào gặp tận mặt anh em mới nghe”
Vắn tắt vài lời chắc anh Tư hiểu.
Em: PHẤN”
… Tư Cầu nhăn nhó đọc bức thư đến ba lượt, rồi bực tức vò tròn tờ giấy lại liệng mạnh xuống dưới đất, đoạn đứng dậy phủi quần đi vô nhà. Nhưng vừa mới bước được một bước, không biết nghĩ sao, anh ta quay lại cúi xuống lượm viên giấy lên cầm ra phía bờ mương vườn ném xuống mặt nước. Thấy miếng giấy còn nổi lềnh bềnh, Tư Cầu chạy đi bẻ một cành tre khô đem nhận cho miếng giấy ấy thấm nước chìm mất mới chịu bỏ đi vào nhà…
Sau khi ăn cơm trưa xong xuôi, Tư Cầu ra ngoài võng nằm, lấy chăn tắm phủ lên mặt định bụng sẽ đánh luôn một giấc chớ không thèm đi đâu hết. Tuy nghĩ như vậy nhưng Tư Cầu không tài nào ngủ được, và lẩn thẩn tự hỏi: không biết giờ này Phấn đã ra ngoài chưa, không biết Phấn sẽ tính sao khi đợi mãi chẳng thấy nó ló mặt ra, không biết Phấn hẹn mình ra ngoãi để nói việc cần gì?… Và bao nhiêu cái “không biết” khác nữa…
Tư Cầu bực dọc lăn qua trở lại… chiếc võng kêu kẽo kẹt càng làm cho anh phát tức thêm, và cuối cùng anh ta tự nhủ: “Ối, chắc con đó nó thấy mình lánh mặt nên làm bộ kiếm chuyện để cho mình ra chớ gì!”. Nghĩ vậy, anh ta nhắm nghiền mắt lại cố dỗ giấc ngủ, nhưng rồi lại mở choàng mắt ra như nhớ trực lại điều gì. Anh ta vừa gãi đầu vừa chắc lưỡi: “Mình hổng ra đây rồi nó qua bên này lằng nhằng hoài thì… cũng mệt chớ phải chơi sao!”.
… Đồng hồ trong nhà chậm rãi gõ mười một tiếng. Tư Cầu lẩm nhẩm đếm đủ mười một tiếng keng keng đó mà thêm sốt ruột.
Vừa lúc đó có tiếng ai tằng hắng nghe quen quen ở phía ngoài hàng rào me keo. Tư Cầu vội ngửng đầu ngó ngoái ra. Một bóng người đàn bà mặc quần đen áo túi hường thấp thoáng qua kẽ hở của cành lá. Và khi trông thấy người đàn bà ấy cà rà đi sát ngang qua cửa hàng rào. Tư Cầu vội hụp đầu núp xuống dưới mép võng. Trống ngực của anh ta đập thình thình: mới có giờ nầy mà Phấn đã dám bẹo hình trước nhà để nom chừng anh ta rồi chớ.
Tư Cầu hé mắt nhìn qua mấy lỗ trống của chiếc võng thấy Phấn tiếp tục rảo qua rảo lại trước cửa rào và thỉnh thoảng lại còn tằng hắng lớn lên một tiếng nữa như để nhắc chừng anh ta vậy. Gió thổi hiu hiu mà Tư Cầu thấy đổ mồ hôi hột và cũng may giờ giấc nầy không có ai khác lảng vảng ở trước nhà hết.
Tư Cầu định ngồi dậy dơ tay khoát ra hiệu bảo Phấn đi cho khuất rồi vòng vô buồng ngủ cho êm chuyện nhưng vừa lúc ấy con Thơm ở nhà sau đi trờ tới tay bưng một thau quần áo bước thẳng ra chỗ hàng dây kẽm căng ở góc sân để phơi đồ…
Tư Cầu hồi hộp liếc mắt theo dõi hai người đàn bà, và đinh ninh rằng thế nào cũng có… chuyện lớn.
Thơm vừa thấy Phấn lấp ló ngoài hàng rào là quay phắt đầu lại trông về phía chiếc võng. Khi thấy Tư Cầu… ngủ yên cô mới nhìn trở ra, tay vẫn bưng thau quần áo và đứng sừng sững giữa trời nắng chang chang. Còn Phấn khi thấy Thơm đi trờ tới liền rảo bước lại cửa rào, đi thẳng vô sân và dòn dã lên tiếng:
– Cha sao bữa nay giặt đồ trễ quá chị Tư!
Thấy Thơm vẫn làm thinh đứng như trời trồng giữa sân, Phấn lại nói tiếp:
– Chị đi phơi đồ đi chớ hơi sức nào đứng đó! Chị để thây kệ tôi, tôi cũng như bà con trong nhà chớ phải khách khứa gì đâu mà chị ngại hổng biết nữa!
Thơm như lấy lại sự bình tĩnh, cười lạt hỏi:
– Sao giờ nầy cô… chịu khó đi chơi quá vậy! Bộ cô không nghỉ trưa hay sao?
Phấn đứng núp vào một bóng mát gần đó và lấy nón lá phe phẩy quạt:
– Có chớ sao không! Nhưng trưa hôm nay trời hầm quá tôi thả rểu qua lối xóm chơi và tiện đi ngang qua đây nên… ghé vào thăm anh chị một chút vậy mà!
– Cô rảnh rang, thong dong quá há!
Phấn ngọt ngào đáp:
– Thì chị nghĩ coi: lúc nào… thong dong được thì cho nó thong dong chớ biết sao! Mà chị nói tôi như vậy, chớ tôi coi bộ chị cũng dễ chịu lắm! Làm dâu ở đây sướng gần chết, anh Tư lại là người… biết cưng vợ ghê lắm nữa…
Thơm liếc xéo cô ta và hỏi gằn:
– Chị muốn đổi hông tui đổi cho?
Phấn cười rộ lên, rồi ra vẻ thân mật bảo:
– Chị đừng hỏi cắc cớ như vậy chớ chị Tư! Rủi tôi… bằng lòng bất tử thì sao hả! (rồi nó hỏi tiếp) Anh Tư đâu chị?
Thơm hất hàm chỉ về phía chiếc võng:
– Đó nằm chình ình ngủ trên võng chớ đâu!
Phấn nghển cổ nói to lên:
– Cha, sướng quá hén! Giờ nầy mà đã ăn no ngủ kỹ rồi há!
– Cô để tui kêu ảnh dậy…
Phấn gạt ngang:
– Khỏi chị Tư! Để cho ảnh ngủ… Thiếu gì dịp khác… Tôi sẽ qua bên nầy hoài hoài mà!
… Tư Cầu giả bộ ngủ không dám nhúc nhích cục cựa gì hết mặc dầu có mấy con ruồi cứ lẩn quẩn bay lên đậu xuống rồi bò lần dưới hai bàn chân làm cho anh ta rất khó chịu. Thêm vào đó, anh ta còn bồn chồn lắng nghe những lời nói xiên nói xéo của Phấn và tự hỏi: “Chẳng biết con nầy còn tính dở ngón gì ra nữa đây!”
Vừa lúc đó Phấn đội nón lên rồi nói:
– Thôi phơi quần áo đi chị Tư, tôi rút lui đây…
– Ở lợi chơi một chút cô! Có chuyện gì hông mà coi bộ cô gấp quá vậy?
Phấn vừa ngó về phía Tư Cầu nằm, vừa lớn giọng đáp:
– Thiệt ra thì cũng có chuyện cần lắm chị Tư à. Tôi có hẹn gặp một người quen trưa nay nên tôi mới chịu dang nắng mà đi như vầy… Bởi vậy nếu họ cho tôi… hư việc hết, tôi sẽ làm cho họ nhắm mắt không yên.
– Cha, cái gì mà nghe cô nói… dữ dằn quá vậy?
– Thiệt đúng như thế đó chớ không phải giỡn đâu chị Tư! Thôi tôi đi nghen chị!
Nói xong Phấn ngoe nguẩy bỏ đi ra một nước ngoài phía cửa rào.
Thơm bưng thau quần áo lại hàng dây kẽm để phơi nhưng mới vừa lấy một cái áo ra giũ, không biết nghĩ sao cô vội vắt đại chiếc áo ấy lên dây, rồi tất cả chạy ra cửa rào ngóng về hướng Phấn mới đi. Cô thấy Phấn bước thẳng lại bờ rạch xuống xuồng, đoạn bơi tuốt vô phía trong ngọn.
Thơm lại hối hả quay trở vào trong sân, nhíu mày đứng nhìn về phía chiếc võng mà Tư Cầu đang nằm ngủ và có vẻ như suy nghĩ điều gì lung lắm vậy. Đoạn cô thở dài quay ra phơi hết thau quần áo.
… Đồng hồ trên nhà lại gõ thêm một tiếng. Tư Cầu lẩm bẩm: “Mới đây mà đã mười một giờ rưỡi rồi!”. Anh ta hé mắt nhìn ra sân vắng tanh, lắng tai nghe ngóng trong nhà im lặng.
Thỉnh thoảng con gà trống ở góc hè đập cánh bành bạch cất tiếng gáy trưa.
Tư Cầu thấy êm nên lồm cồm ngồi dậy đi vào trong buồng lấy áo mặc vô, rồi xách cái nón lá ra đi. Anh ta mới bước ra khỏi cửa buồng thì đụng đầu với Thơm đã chực sẵn ở đó từ hồi nào.
Thơm ngó anh ta châm bẩm và lên tiếng hỏi:
– Chừng này mà anh còn xách nón đi đâu đó?
Tư Cầu cố làm ra vẻ thản nhiên đáp:
– À, tui đi lên trên xóm ngoài vàm có chuyện một chút, em ở nhà coi chừng nhà nghen!
Thơm vẫn không rời mắt nhìn anh ta:
– Anh để xế chiều mát mát một chút đi hổng được sao? Trời nắng chang chang mà anh cũng… chịu khó lội quá há! Mọi khi giát nầy trời xeo anh cũng hổng chịu nhúc nhích nữa mà!
Tư Cầu gượng cười:
– Ờ, bị bữa nay có chuyện cần quá lỡ hẹn trước với người ta rồi.
Thơm mím môi có vẻ suy nghĩ rồi cười gằn:
– À cái này cũng lạ đa!
Nói xong cô quay lưng bỏ đi xuống dưới nhà bếp.
Nghe Thơm buông thõng một câu… lơ lửng như vậy Tư Cầu đâm ra do dự. Anh ta bồn chồn đi tới đi lui trước hàng ba nhà, lâu lâu đứng lại móc túi thuốc ra vấn hút, bập bập rít một vài hơi… rồi lại bực dọc liệng phăng đi điếu thuốc đang cháy nửa chừng.
Một lát sau, Tư Cầu nhìn ra ngoài sân để ý thấy dưới chân bàn thờ ông Thiên đã đứng bóng tự bao giờ. Chiếc đồng hồ treo trên vách uể oải gõ mười hai tiếng khàn khàn.
Tư Cầu nóng nảy xách nón lá lên đi vòng xuống nhà bếp để tìm vợ. Thơm đang sàng gạo nghe có tiếng động vội ngửng đầu lên:
– Ủa, bộ anh đi thiệt hả?
Tư Cầu làm tỉnh:
– Coi, tui đã nói hồi nãy rồi mà! Thôi em coi chừng nhà để tui đi kẻo trễ nghen!
– Thì ai có chưn có cẳng muốn đi đâu đó thì đi chớ vô đây nói với tui làm gì!
Tư Cầu toan mở miệng để nói lại, nhưng rồi anh ta lại nhún vai quay lưng hấp tấp đi thẳng xuống mé rạch, nhảy xuống xuồng bơi rút vô phía trong ngọn.
Tư Cầu chống xuồng vô gần tới trong giồng thì đã thấy Phấn đứng bên một gốc cây chưn bầu già, tay vịn vào thân cây tay đưa ra che trước vì sợ mắt chói nắng, nhón chân cao lên có vẻ như trông ngóng lắm vậy.
Tư Cầu nhảy phóc lên mé giồng rồi kéo mũi xuồng cho rướn lên cỏ, đoạn phủi tay và bước liền về phía Phấn đứng.
Phấn mặt mày chù ụ, khi thấy Tư Cầu đi đến liền hỏi lẫy:
– Dữ hông, sao đến chừng nầy anh mới ra tới hả? Tôi tưởng anh có gan ở trỏng luôn rồi chớ!
Tư Cầu như không để ý đến những lời chanh chua ấy, thản nhiên hất hàm hỏi lại:
– Sao, bây giờ tui vô tới đây nè… có chuyện gì cần thì nói phứt đi rồi tui dìa, chớ hổng ai rảnh đâu mà lội vô đây để nói chuyện cà kê dê ngỗng đó nghen!
Phấn liếc xéo nó:
– Cha, nói nghe bảnh quá há! À, nếu anh sợ bị chỉ rầy thì tốt hơn hết anh về liền đi, tôi cũng không nài ép làm gì.
Tư Cầu dậm chân mạnh xuống đất:
– Vậy chớ… cô bày đặt viết thơ viết từ nói là vô đây có chuyện cần. Vậy chuyện gì hả?
Phấn ngảnh mặt ngó mông ra phía đồng trống:
– Được rồi! Nếu anh nói với cái giọng đó thì bây giờ… không có chuyện gì hết. Thôi anh xuống xuồng đi về đi cho sớm.
Tư Cầu nghiến răng:
– Bộ cô nói giỡn sao chớ! Cô nhìn kỹ lại cái mặt thằng này coi: nó không còn Tư ngốc như trước đâu nghen cô! Tui… dại một lần thôi chớ bộ dại hoài sao cô!
Phấn quay mặt lại mỉm cười một cách rất thản nhiên:
– Coi, ai nói anh khôn anh dại gì đâu mà anh nổi cộc như vậy!
Tư Cầu định cự nự nữa, nhưng rồi lại buông thõng hai tay thở dài não nuột:
– Thôi tui chịu thua cô rồi, vậy cô làm ơn làm phước có chuyện gì cần mà cô muốn nói, thì nói thẳng hết ra cho tui nghe. Chắc cô dư biết: tui đi vô đây như vầy.. cũng kẹt lắm chớ phải chơi đâu.
Phấn tươi cười đáp liền:
– Dữ hông! Sao hổng giỏi làm ầm ầm nữa đi! (rồi tha thiết nói tiếp) Anh Tư ơi, qua bao nhiêu năm trời xa cách, mới gặp mặt lại nhau, anh chẳng mừng rỡ thì thôi, chớ chưa gì anh đã cự nự rồi! Thiệt anh… giống y hồi đó, chứng nào vẫn tật nấy!
Tư Cầu chớp mắt liền mấy cái như để ngăn chận lại sự xúc động bỗng nhiên trào dâng trong lòng, đoạn cúi đầu lấy ngón chân khều khều đám lá cây mắc cở mọc gần đó và ấp úng nói:
– Tui xin lỗi… cô Ba… tui cũng biết như vậy là không phải, nhưng dầu cho có thế nào đi nữa… mình cũng phải ráng…. để bụng. Bây giờ cô Ba đã có chồng có con, còn tui cũng có vợ.. phận ai người nấy lo.
Phấn vội chen vào:
– Thì… “em” có nói gì khác đâu anh Tư! Nhưng dầu cho anh không nói ra, em cũng đoán được rằng: chắc anh không coi cái chuyện… giữa hai đứa mình trước đây là một chuyện… qua đường, và hễ nó đi qua rồi là… mất biệt. Đây nè, anh coi đây anh Tư: da gốc cây chưn bầu già nầy, không biết ai chém ai chặt nó hồi đời nào, mà bây giờ đây nó vẫn còn mang sâu dấu vết… Cái chuyện giữa hai đứa mình đây cũng na ná như vậy. Người ta chớ phải cục đá, viên gạch gì mà không hay không biết, không luyến không tiếc được hả anh Tư!
Không nghe Tư Cầu nói gì hết, Phấn hăng hái tiếp lời:
– Sẵn đây em cũng nói hết ra cho anh rõ chớ không muốn giấu giếm làm gì nữa… anh chớ bộ ai sao mà em sợ bị cười chê.
Tư Cầu ngước mắt lên tò mò hỏi liền:
– Phải cô muốn nói tới cái việc cần đó hông cô?
Phấn vói tay đánh phớt nhẹ vào vai Tư Cầu:
– Anh nầy kỳ quá! Cái gì mà “cô, cô” hoài… bộ anh kêu em bằng em như hồi đó hổng được sao!
Tư Cầu mỉm cười đáp:
– Hồi đó khác, bây giờ khác… Tiếng “cô” nghe nó… tiện hơn!
– Thì đã đành như vậy rồi! Nhưng ngay trong lúc nầy, và tại chỗ này đây, anh không thể nào… châm chước đi một chút để kêu em bằng em trong một giây lát hay sao! Anh ra đây còn được thay, huống hồ gì nói một tiếng “em” dễ ợt đó!
Tư Cầu thở dài nhưng còn ráng chống chế:
– Tui ra đây là vì cô Ba nói có việc cần, cô Ba quên rồi sao?
– Ai mà quên đâu! Nhưng việc cần này… khác, chớ nếu chỉ có việc cần thường thôi thì em đi thẳng qua nhà gặp mặt anh hổng được sao và cần gì phải hẹn tuốt ra ở trong nầy?
Tư Cầu ngó mông ra ngoài đồng trống rồi nhăn nhó hối Phấn:
– Thôi được rồi, việc cần thường hay việc cần khác gì cô làm ơn nói phứt mau mau ra để tui còn dìa…
Phấn cười rộ lên:
– Có phải sợ chỉ rình đi theo hông thì nói?
Tư Cầu cười gượng:
– Cô nên nghĩ dùm cho hoàn cảnh của tui bây giờ… cô cũng vậy, cô phải nghĩ đến… gia đình cô một chút nữa mới phải…
Phấn gạt ngang:
– Em không khiến anh làm thầy đời đó nghen!
Tư Cầu ấp úng:
– Thì tui…
Phấn lớn giọng chận liền:
– Thì “anh”!
Tư Cầu ngao ngán nói sửa lại:
– Thì anh nói phòng xa để cô Ba…
Phấn lại ngắt ngang:
– Để “em”!
Tư Cầu nổi dóùa nói một hơi:
– Thì để em! Để em! Vậy “em” có chuyện gì thì nói mau đi chớ không phải ở miết trong nầy được đâu nghen!
Phấn chấp tay sau lưng ngoảnh mặt đi:
– A nếu anh nói như vậy thì thôi… Vậy xin mời anh về… Không có chuyện gì ráo!
Tư Cầu buông xụi hai tay thở dài rồi dịu giọng nói:
– Thiệt em chứng nào vẫn tật nấy, hồi đó rắc rối làm sao thì bây giờ cũng giống y như vậy!
Phấn quay lại nắm lấy tay anh ta và âu yếm hỏi lại:
– Còn anh, anh có khác không mà anh nói người ta!
Tư Cầu gỡ nhẹ tay cô ra:
– Em thiệt hết sức! Sao chuyện gì đó em, nói anh nghe cho rồi đi.
Phấn nhìn lại anh ta bằng đôi mắt thật nồng nàn:
– Dữ hông! Nói như vậy có phải nghe… bùi tai hơn không! (rồi sốt sắng nói tiếp) À, em nghĩ ra rồi, để em lội xuống dắt hai chiếc xuồng của tụi mình dấu trong đám sậy mọc khuất sau giồng, như vậy tiện hơn… rủi có ai cũng khó thấy đâu là đâu được!
Tư Cầu băn khoăn hỏi:
– Coi, em làm chi vậy? Tụi mình nói chuyện… đàng hoàng với nhau, chớ có gì khác đâu mà em phải phòng xa kỹ lưỡng như vậy?
Phấn cười hỏi ngược trở lại:
– Bây giờ thử bỏ cái chuyện…. đàng hoàng hay không đàng hoàng gì đó qua một bên đi. Em xin hỏi anh: rủi chị Tư sanh nghi theo ra đây, chỉ nhìn thấy hai chiếc xuồng của hai đứa mình nằm kè kè ở đó, thì trời cản chỉ cũng tấp vô nhào lên. Chừng đó anh trả lời làm sao cho suông đây nè!
Tư Cầu đành nói xuôi theo:
– Thì thôi, em tính…. phòng xa như vậy cũng được.
Phấn xăng xái vo hai ống quần cao lên và bảo thêm Tư Cầu:
– Còn anh, anh vô chỗ râm mát phía sau miễu ông Tà đi, chỗ mà hồi trước tụi, mình hay… ngồi chơi đó mà!
Tư Cầu cau mày hỏi lại:
– Coi, vô trong đó làm chi? Bộ đứng nói chuyện một chút ở ngoài nầy hổng được sao em?
Phấn vói tay xô nó đi:
– Em hỏi anh: nếu tụi mình đứng ngờ ngờ ở đây nói chuyện, thì đem dấu cho khuất hai chiếc xuồng kia làm chi hả? Có một chút xíu như vậy mà cũng hỏi tới hỏi lui hoài.
Tư Cầu đáp xuôi xị:
– Ừ thôi em đi… cất hai chiếc xuồng mau mau đi. Anh đợi sẵn ở chỗ đó nghen! Làm rút rút đi em!
Đoạn anh ta lủi thủi đi về hướng sau miễu.
Phấn mỉm cười lắc đầu:
– Thiệt anh hết nói…
Và cô ta đứng nhìn theo Tư Cầu một cách nửa như trìu mến, nửa như thương hại.
Nghe tiếng Phấn đi sột soạt từ dưới mé nước lên, Tư Cầu vội đứng dậy hỏi:
– Ừa, em để hai chiếc xuồng ở đâu mà phải lội nước vậy?
Phấn hai tay níu giữ hai ống quần đã vo sát lên cao, tươi cười đáp:
– Để ở gần đây nè nhưng bị nước cạn quá bơi chống gì cũng hổng được hết nên em mới lội xuống lôi nó đi đó!
Khi đến gần bên Tư Cầu, Phấn thản nhiên đưa hai bàn chân chùi qua chùi lại trên đám cỏ lông gà để chà sạch bớt lớp bùn dính. Màu bùn xám xậm ấy càng làm nổi bật lên sắc da của đôi bắp chuối chân, ngày nào đen dòn mà bây giờ đây lại trắng nõn… Tư Cầu vội ngó lơ chỗ khác chớ không dám nhìn thêm lên nữa.
Phấn đưa tay níu Tư Cầu kéo xuống:
– Ngồi đi anh, hơi sức đâu anh đứng. Câu chuyện của em cũng… hơi dài mà!
Tư Cầu lặng thinh ngồi xuống bên cạnh Phấn.
– Coi, anh quay mặt vô đây chớ làm gì ngồi ngó gốc cây như giận lẫy ai từ hồi đời nào vậy!
Tư Cầu quay lại mặt trở vào một cách rất… cam phận. Phấn đưa mắt nhìn một vòng cảnh vật chung quanh rồi vui vẻ hỏi tiếp:
– Nè anh Tư, anh có nhớ chỗ nầy hông hả anh?
– Ờ… chỗ phía sau miễu trên giồng ai hổng biết, và có gì lạ đâu mà nhớ hay quên!
– Hứ, người ta hỏi như vậy mà anh trả lời lãng xẹt!
Tư Cầu có vẻ nóng ruột nên nhắc Phấn:
– Thôi, bây giờ em nói công việc cần của em đi.
Phấn, như không để ý đến câu thúc giục đó, cúi đầu vừa với tay mân mê một lá cỏ non, vừa ngập ngừng hỏi lại Tư Cầu:
– Anh Tư, em hỏi câu nầy anh nói thiệt nghen… Vì sao anh… chịu ra ngoài nầy để gặp mặt em như vầy hả anh?
– Có như vậy mà hổng biết hả?
Phấn ngước mắt lên:
– Vì sao anh?
Tư Cầu cười mũi:
– Hổng ra đây để em qua bên nhà kiếm hoài cho chết người ta một cửa tứ hả?
Phấn cười xòa:
– Coi vậy mà cũng biết sợ chớ!
Nhưng rồi cô nghiêm mặt hỏi tiếp:
– Nè anh, ngoài cái chuyện… ngán đó ra, chắc cũng có… cái gì khác nữa nên anh mới lội ra đây chớ? Em biết anh gan lì lắm mà!
Tư Cầu lặng thinh không đáp, nhưng rồi chợt nghĩ ra một cách trả lời khôn khéo hơn:
– Coi, có cái gì khác nữa chớ! Chính em viết thơ biểu anh ra đây có việc cần. Mà việc cần gì hỏi em năm lần bảy lượt em hổng chịu nói, bây giờ em trở lại hỏi anh: tại sao anh lội ra đây thì… thiệt hết chỗ chê rồi!
Phấn cười tủm tỉm:
– Thôi đi anh, làm bộ ngơ ngơ ngáo ngáo hoài! Đây nè anh đừng chối: anh cũng nóng lòng muốn gặp lại mặt em để… chửi em một trận về cái chuyện năm xưa đó vì thật ra anh vẫn còn tức em, nghĩa là anh vẫn còn nhớ em, thương em…
Tư Cầu dẫy nẩy:
– Đừng nói bậy nà! Cha, làm như… quý lắm vậy!
– Hổng quý khỉ gì hết, nhưng còn có người nhớ thương tới thôi!
Tư Cầu cự nự… cầm chừng:
– Ai đó chớ hổng phải thằng này đâu! Thiệt anh không dè em lên Sàigòn còn học được thêm cái nghề thầy bói nữa nên mới dám đề quyết lòng dạ người ta như vậy!
– Bói ai em không dám, chớ bói cho anh thì em nói trúng y bon. Anh đừng có chối: em nhìn sắc mặt, ánh mắt cùng điệu bộ của anh, em biết liền và biết đúng là anh vẫn còn thương yêu em ghê lắm!
Tư Cầu cố nén sự luống cuống của mình và tìm cách nói lảng đi:
– Cha, người ta bây giờ là dân ở thành ở thị nên ăn nói nghe trơn lu! Chắc em ở trển ăn no rồi chỉ có việc nằm suốt ngày ngốn ba cái tiểu thuyết?
Phấn cười híp mắt:
– Đến lượt anh làm thầy bói đó hén! (rồi lại nhìn Tư Cầu tò mò hỏi thêm) Nè anh, anh coi em có cái gì khác lạ nữa không?
Tư Cầu tự nãy giờ không dám nhìn thẳng và nhìn lâu Phấn, nên khi nghe Phấn hỏi câu đó, anh ta đánh bạo ngước mắt lên ngó kỹ cô ta từ đầu đến chân… Phấn ngày nay khác xa hơn trước nhiều: Tư Cầu để ý đến mớ tóc chải vén khéo và mướt rượt, đến đôi chân mày nhổ cong vòng nguyệt, đôi cánh tay trắng tròn, đến chiếc áo túi màu hường cụt tay, cổ trái tim…
– Sao anh Tư? Em có cái gì khác lạ nữa không hả?
Tư Cầu giật mình vội đáp:
– Khác chớ! Em hổng giống chút xíu nào hồi em còn đi chăn vịt ở trong đồng. Em lịch sự và sang trọng hơn nhiều!
Phấn cảm động nắm lấy tay anh ta:
– Anh nói phải, cái gì em cũng khác xưa hết, nhưng có một cái mà em ”giống” y nguyên như cũ, cái đó là em vẫn yêu thương anh! Và em chắc phần anh cũng như vậy!
Tư Cầu gỡ nhẹ bàn tay của Phấn ra và ngồi nhích xa một chút:
– Thôi em ơi, chuyện cũ xì mà em nhắc làm chi! Bây giờ em nói chuyện ”mới” của em đi để rồi anh còn…
Phấn chận ngang:
– … Còn về nhà phải không?
Và cô ta vừa nói vừa nhốm mình lên áp ngực vào sát một bên vai của Tư Cầu và quàng hai tay cặp chặt cứng lấy cổ của anh ta… Tư Cầu cuống quít gỡ mạnh hai cánh tay của Phấn ra:
– Ý trời, em làm như vậy rủi có ai trông thấy thì sao!
Phấn cười ngặt nghẽo:
– Bộ anh sợ chỉ ra bắt gặp tại trận hả? Em nói thiệt cho anh biết: hễ em thấy chị Tư ló mặt ra đây, em sẽ nhảy lại ôm anh chặt cứng cho mà coi. (rồi nó làm bộ hăm he) Em nói thiệt chớ hổng phải giỡn đâu… để cho anh hết làm bộ làm tịch thấy mà phát ghét!
Tư Cầu nhăn nhó:
– Em làm như vậy rồi sanh giặc chớ chẳng phải chơi đâu! Bây giờ mình cũng nên ráng… đàng hoàng một chút chớ em!
Phấn cự lại:
– Em hỏi anh: nếu chị Tư chỉ có ra, ví dầu hai đứa mình có… đàng hoàng thế mấy đi nữa, chỉ cũng… tin không nổi! Ai vô đây mà… chứng giám cho anh hả? Bởi vậy em nhứt định sẽ níu anh chặt cứng nếu chị Tư ló ra bất tử… để cho anh giỏi ké né hoài đi!
Tư Cầu đành xuống nước năn nỉ:
– Không phải là anh muốn làm bộ làm tịch gì đâu em ơi, nhưng…
Phấn gạt ngang:
– Hổng có nhưng nhị gì ráo! Anh làm như anh còn con trai tân vậy! Mà hồi đó, cũng tại chỗ nầy đây, anh nhát như thỏ đế nhưng anh… có chê em đâu!
Tư Cầu lặng thinh ngồi nghe giọng nói hấp tấp nhưng đứt khoảng ấy, anh ta hồi hộp nhìn vào đôi mắt của Phấn, đôi mắt bỗng nhiên trở nên sáng rỡ một cách quá nồng nàn với hàng mi chớp chớp lia, và đôi gò má bỗng nhiên ửng hồng như rám nắng trưa…Và qua cổ áo trái tim của Phấn, Tư Cầu chú ý đến chỗ yết hầu đập rộn ràng như đang nôn rút tới…
Tư Cầu không dám nhìn thêm nữa. Anh ta ngước mắt lên trời như để hít thêm không khí, đưa lưỡi liếm môi vì bỗng nhiên cảm thấy cuống họng quánh khô. Anh ta vội cởi nút áo cổ ra, rồi chụp lấy chiếc nón lá quạt lia quạt lịa…
Phấn níu lấy vai anh ta xoay mạnh để bắt anh ta phải nhìn trở lại, rồi lả lơi hỏi:
– Bộ anh… chê gái một con nầy hay sao hả?
Tư Cầu phì cười và lắc đầu đáp:
– Hổng phải chê, nhưng… ngán lắm!
Phấn chồm lên quỳ hai gối xuống đất vòng tay ôm trọn lấy cổ Tư Cầu và ngoặc mấy đầu ngón tay mân mê lên cổ, lên má anh ta… Tư Cầu xúc động và ngây ngất khi nhận thấy lại một mùi hương quen thuộc cũ, mà anh ta không thể nào lầm lẫn với một người đàn bà nào khác được.
… Nghe Tư Cầu nói như vậy, Phấn hỏi lại liền:
– Vậy thì để tối em qua hén?
– Ý hổng được đâu!
Phấn cau mày:
– Vậy chớ chừng nào?
Tư Cầu đặt nhẹ một bàn tay ra sau lưng Phấn như để… vuốt ve cô ta một chút:
– Hổng có… chừng nào hết em à… Cái chuyện đó, bây giờ mình không nên…
– Anh thiệt hổng có làm đách gì được hết! Cái gì cũng hổng nên, hổng nên… Bởi vậy anh lẹt đẹt hoài cũng phải! (rồi cô chụp lấy cái nón lá đứng phắt dậy) Thôi bây giờ mạnh ai nấy về… anh coi như là hổng có chuyện gì ráo!
Tư Cầu đưa tay ra định níu Phấn ngồi xuống lại nhưng bị cô ta hất ra:
– Coi, thì em để cho anh nói cạn lời cái đã…
Phấn cười lạt:
– Thôi thôi, em không muốn nghe khỉ gì nữa hết! Và anh làm ơn nhớ dùm: lần nào thì cũng tại anh hết nghen! Bởi vậy hai đứa mình không sống đời với nhau cũng phải lắm!
Nói xong cô ta ngoe nguẩy bỏ đi. Tư Cầu vội chạy theo nắm tay cô ta giữ lại:
– Cái gì mà em nói tại anh? Em cũng nên nghĩ lại: Bây giờ đâu phải chỉ có gọn lỏn hai đứa mình thôi, mà còn có nhiều người khác nữa, bên em cũng như bên anh…. Hơn nữa, bây giờ anh với em, ai ai cũng đã lớn tuổi hết rồi chớ đâu phải còn… bộp chộp như hồi đó.
– Anh nói điệu như ông già bảy mươi! Chắc anh hối tiếc cái việc khi xưa lắm hén? Bây giờ em mới rõ lòng dạ của anh… (và Phấn mếu máo nói tiếp) Rốt cuộc chỉ có con nầy là ngu thôi hè!
Tư Cầu nắm lấy tay cô ta, phân trần:
– Em đừng nói vậy tội nghiệp anh! Nói thiệt với em: sở dĩ anh chịu ra đây, một phần lớn cũng là nóng lòng muốn gặp mặt em. Em nghĩ coi, đối với một người quen biết thường thôi mà mình còn vui mừng gặp lại nhau thay, huống chi anh với em. Hai đứa mình, nói cho cùng mà nghe, tuy không ăn đời ở kiếp với nhau được nhưng cũng nặng tình nhiều nghĩa dễ gì quên nhau ngay được.
Phấn nghe Tư Cầu ỉ ôi một thôi một hồi như vậy cũng thấy mát lòng hả dạ phần nào, nhưng còn làm bộ nói lẫy nói đươn:
– Cha, bây giờ anh bắt chước ai mà cũng bầy đặt nói leo lẻo cái miệng. Hồi đó đâu có như vậy!
Tư Cầu dìu Phấn ngồi xuống cỏ:
– Thiệt khó quá! Nói có cũng không xong, mà nói không cũng không được!
Phấn cười lỏn lẻn rồi nắm chặt lấy tay Tư Cầu:
– Thôi đừng cà rỡn hoài! Nè em hỏi thiệt đúng là anh còn nhớ tưởng tới em phải không?
Bị Phấn dồn vào chỗ phải trả lời dứt khoát Tư Cầu ấp úng nói:
– Việc đó có đúng hay sai thì bây giờ… có ăn thua gì nữa hả em!
Phấn hăng hái đáp:
– Sao lại không ăn thua! Anh không biết chớ chính vì chỗ đó mà em nhắn anh ra đây đó!
Tư Cầu ỡm ờ hỏi lại:
– Rồi sao nữa?
Phấn nhào tới ôm ghịt lấy cổ Tư Cầu và hôn mạnh lên má anh ta:
– Rồi như vầy nè?
Tư Cầu luống cuống vừa nhoi đầu tránh vừa gỡ tay Phấn ra… và cũng vì thế mà anh ta mất thăng bằng té ngửa ra trên mặt cỏ trong lúc Phấn vẫn đè mạnh và bám chặt trên người anh ta.
Tư Cầu ú ớ kêu lên:
– Ý đừng làm vậy hổng nên em! Đừng… đừng…
Phấn ngước mặt lên nheo mắt hỏi:
– Bộ… hết mê nữa rồi hén?
Tư Cầu lặng thinh ngắm nhìn cần cổ trắng phau, đôi vai tròn lẳn của người yêu cũ… Tất cả đã có một thời quá quen thuộc đối với anh ta, và bây giờ cũng làn da ấy, vóc mình ấy nhưng quyến rũ hơn làm sao. Tư Cầu từng có ở một đô thị lớn như Nam Vang nên dư biết thưởng thức, dư biết trầm trồ một người đàn bà trau chuốt láng lẩy như người đàn bà đang lờ đờ trước trước mắt mình đây.
Một mùi dầu thơm gây gây xông ra làm Tư Cầu thêm ngây ngất. Trong một khoảnh khắc, tứ chi của anh ta làm như tê liệt, như dính cứng xuống đất. Và cái sức nặng quá… êm ái đè mạnh lên ngực Tư Cầu làm cho anh ta gần như là nghẹt thở…
Tư Cầu vùng đưa tay ôm rị lấy lưng Phấn, và lật mạnh người qua, Phấn có vẻ ngạc nhiên mở to mắt nhìn sững anh ta trong một giây, rồi sẽ gật đầu mỉm cười, nhắm nghiền mắt lại, ruỗi thẳng hai tay ra trong một dáng điệu chờ đợi… Nhưng Tư Cầu vẫn chưa nhúc nhích. Anh ta chống hai tay xuống đất há miệng thở như một con cá bị ngộp nước. Mắt anh ta long lên như đang phải quyết định mau một việc gì ghê gớm lắm mà lại rất… phân vân.
Bỗng anh ta cúi nhanh đầu xuống, cắn mạnh vào vai Phấn làm cô ta rên rỉ lên “ái da!”, một thứ tiếng kêu đau không có vẻ gì là… phật ý cả.
Vừa kêu Phấn vừa mở choàng mắt ra nhìn Tư Cầu, lả lơi mỉm cười đoạn nhắm mắt lại và ngoan ngoãn ngả đầu một bên… Nhưng rồi Tư Cầu bỗng nhiên rút phắt tay lên, hấp tấp hất hai vạt áo túi màu hường phủ y lại, bò rột dậy rồi hối hả bỏ đi như muốn chạy trốn…
Phấn mở choàng mắt ra vói tay chụp lấy Tư Cầu nhưng hụt trớt. Cô ta bực tức lăn mình nằm sấp lại ngẩng đầu lên ngơ ngác đưa mắt tìm Tư Cầu. Và trông thấy Tư Cầu đứng đưa lưng lại bên cạnh một đám chuối cách đó năm sáu bước, cô ta cất tiếng réo giựt ngược:
– Anh Tư! Anh Tư! Khi không anh làm cái gì mà chướng vậy? Cái gì bắt anh hay sao mà chạy trốn hả?
Tư Cầu vói tay tước một miếng lá chuối rồi lủi thủi đi trở lại.
Phấn đã ngồi hẳn lên và đang bới lại tóc:
– Bộ có ai vô tới sao anh?
Tư Cầu lắc đầu. Phấn chưng hửng hỏi thêm;
– Ủa chớ cái gì vậy làm ơn nói mau coi! Người ta sợ hết vía đây nè!
Tư Cầu tẩn mẩn tước miếng lá chuối ra từng sợi nhỏ và trả lời ú ớ trong miệng:
– Hổng có cái gì hết em à…
Phấn đập mạnh tay xuống đất:
– Không có cái gì hết mà vậy hả? (nhưng rồi cô lại lắc đầu thở dài và ngao ngán nói tiếp) Anh Tư, thiệt em chịu thua không làm sao hiểu anh nổi!
Tư Cầu lủi thủi bước lại gần Phấn và cất giọng van lơn:
– Tội nghiệp anh mà em! Có cái gì đâu mà em hiểu anh không nổi. Anh đã có nói với em mấy lần là bây giờ tình cảnh của mình đâu còn giống như xưa nữa.
Phấn chụp hỏi lại liền:
– Ừ thì trong nhà trong cửa, giữa xóm giữa giềng không còn giống, nhưng tại chỗ đây giữa anh với em có khác chỗ nào hả? Bao nhiêu năm biệt tin biệt tức, bây giờ gặp mặt lại em tưởng anh vồn vập lắm mới phải, chớ có dè đâu anh còn… tệ lậu hơn trước nữa kia!
Tư Cầu nhăn nhó phân trần:
– Cha, em nghĩ như vậy là sai cả chục cây số ngàn rồi! Anh có phải cục sắt, khúc cây gì đâu mà… hổng muốn như vậy. Nói thiệt với em, từ bữa được tin em dìa tới nay anh như ngồi trên đống lửa chớ phải vừa sao! Nhưng như anh đã nói với em hoài hủy, mình đâu phải là thứ chơi qua đường…
Phấn khen lẫy:
– Anh cái gì cũng tốt quá hà!
Tư Cầu quả quyết đáp:
– Hổng phải tốt xấu gì nhưng anh nói đây có thiên địa quỷ thần hai vai làm chứng: em là người mà anh trọng nhứt đời.
– Hứ, trọng mà bỏ… như bún thiu vầy!
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Em sao cứ nói trặc trẹo hoài! Em phải biết phải ai khác lọt vô đây thì trời cản cũng hổng khỏi tay anh, nhưng với em… anh không đành tâm làm như vậy. Dầu trước kia em có xử… ngặt với anh như thế nào đi nữa, anh cũng chẳng có thể coi em như mọi người đàn bà khác được!
Phấn hơi nguôi ngoai cơn bực tức lúc ban nãy và tò mò hỏi lại Tư Cầu:
– Anh nói như vậy là nghĩa làm sao?
Tư Cầu liếc nhìn sơ qua vẻ mặt của cô ta và mỉm cười nói:
– Mọi khi em khôn ngoan lanh lợi tổ trời kia mà! Em cần gì phải hỏi anh câu đó!
Phấn háy anh ta:
– Hứ, khôn gì thì khôn chứ bà nội ai cũng không đoán được bụng dạ của anh ra sao hết! Anh cái gì cũng mập mập mờ mờ, u u minh minh. Em nói anh đừng phiền, chớ khi gặp mặt anh lại mà thấy anh như vậy em nản lòng thối chí hết sức!
Tư Cầu chăm bẳm hỏi lại:
– Sao vậy?
– Vì nó vô cùng quan hệ đến cái chuyện cần mà em muốn đem ra bàn với anh tại đây nè!
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi:
– Ủa, vậy ra có việc cần thiệt hả? Vậy mà anh cứ tưởng em làm bộ xí gạt anh ra đây để…
Phấn ngắt ngang:
– Để làm gì hả?
Tư Cầu lúng túng đáp:
– Thì để… vậy vậy đó mà!
Thấy vẻ mặt Tư Cầu, Phấn cũng phải phì cười:
– Hứ anh ăn nói lãng òm! Bộ người ta ham lắm chắc!
Tư Cầu sốt ruột nhắc Phấn:
– Thì em làm ơn nói rõ câu chuyện cần đó cho anh nghe đi!
Phấn trề môi:
– Bây giờ dù có nói ra em thấy cũng không ăn thua gì hết!
Tư Cầu gắt gỏng:
– Thì câu chuyện đầu đuôi ra sao mới được chớ? Em cứ nói mờ ớ như vậy hoài…
Phấn như không để ý đến sự nóng nảy của anh ta và thản nhiên hỏi lại:
– Bộ anh nói em về dưới này cốt để tránh bom tránh đạn trên Sàigòn không sao hả?
Tư Cầu vò đầu bứt tóc:
– Trời ơi, thì chính em mở miệng nói với bà con cô bác dưới này như thế, bây giờ em lại hỏi vặn ngược lại như vậy thì bà nội anh đội mồ sống dậy cũng chịu thua luôn!
Phấn cũng cự nự lại:
– Vậy chớ anh biểu em la làng lên cho mọi người hay hết hả? Bộ anh muốn cho em đội quần với thiên hạ một lần nữa sao?
Tư Cầu cũng cười xòa:
– Em thiệt, nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng xong! Theo cái điệu em nói tự nãy giờ thì chắc phải “đội” khá bộn nữa rồi!
Phấn cũng bắt cười theo:
– Đồ quỷ nà! Anh mở miệng ra là nói tầm xàm không hè! (nhưng rồi cô nghiêm mặt nhìn thẳng Tư Cầu nói tiếp) Nói anh Tư, hỏi thiệt anh câu này, anh suy nghĩ kỹ đi rồi trả lời cho em rõ; anh còn thương yêu em nữa không vậy anh?
Tư Cầu mím môi lại rồi ấp úng đáp:
– Cái việc đó anh tưởng em khỏi hỏi anh làm gì. Anh chắc em cũng… dư biết lòng dạ của anh ra sao rồi…
Phấn cau mày chận ngang:
– Có hay không thì nói phứt một tiếng để em còn liệu! Em hỏi anh một câu dễ ợt mà anh trả lời cà-lòng-dòng, rốt cuộc cũng không có gì ráo! Bộ em làm thầy bói sao chớ?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Mà bây giờ có hay không thì ăn nhập gì chớ?
– Ăn nhập hay không thì để nữa rồi biết, bây giờ anh làm ơn trả lời rành rẽ coi có được hông?
Tư Cầu suy nghĩ một hồi rồi ngập ngừng nói:
– Giả tỷ như… có rồi sao hả em?
Phấn nạt liền:
– Hổng giả tỷ đách gì hết! Có hay không?
Tư Cầu thở dài:
– Thì em cho là… có cũng được!
– Sao lại “em cho”? Cái chuyện dễ quá mà anh cũng còn ú ớ như vậy thì đủ biết!
Tư Cầu đành chịu phép:
– Thôi thì anh có thương em!
Phấn vẫn chưa chịu:
– Nói vậy cũng không được! Có là có hồi năm xửa năm xưa đó hả? “Có thương” nhưng bây giờ “còn thương hông?”.
– Thì “có” rồi “còn” luôn mấy hồi!
Phấn nghe Tư Cầu nói như vậy, cũng cười mủm mỉm:
– Vậy là anh còn thương em hén!
– Ừa… rồi sao hả em?
Phấn nhìn thẳng vào mặt anh ta và chậm rãi nói:
– Chẳng có sao hết… em muốn hỏi thêm anh câu này nữa…
– Ý trời ơi, hỏi gì mà hỏi hoài hủy vậy bà nội?
– Em hỏi anh: anh có còn muốn sống chung với em không, và chuyến nầy hai đứa mình sống đời ở kiếp với nhau chớ không phải… lộn xộn như hồi đó đâu!
Tư Cầu hoảng kinh nhảy lui một bước rồi lắp bắp hỏi:
– Ý trời, em nói thiệt… hay nói giỡn đó?
Phấn thản nhiên đáp:
– Nói thiệt!
Tư Cầu như có vẻ chưa tin nên còn ráng hỏi thêm cho rõ:
– Em nói như vậy là để… thử cho biết bụng anh chơi chứ gì?
Phấn cau mày:
– Thử tế mồ tổ gì mà thử! Em hỏi anh có muốn về sống với em không, là hỏi thiệt tình. Hỏi để tính chuyện tới nữa chứ không phải chơi đâu! Bây giờ anh nghĩ sao đây?
Tư Cầu đáp liền:
– Bộ em điên sao chớ! Em đã có chồng có con đùm đề, còn anh có vợ nằm ở nhà một đống kia kìa, bây giờ em biểu bỏ hết đi để hai đứa mình lấy nhau thì… kỳ quá! Nói thiệt với em, chuyện đó anh hổng dám làm đâu!
Phấn níu lấy vai Tư Cầu:
– Vậy mà anh nói leo lẻo cái miệng là còn thương! Có chó nó tin anh chớ ai tin anh được!
– Coi, thương em thì… để đó, chớ bộ bắt buộc đứa phải bỏ vợ, người thì bỏ chồng sao? Thương cái điệu… phá gia cang đó tổn đức lắm em à!
– Thôi, không ai biểu anh làm thầy đời đó nghen! (nhưng rồi cô dịu giọng van lơn Tư Cầu) Anh à, bộ anh không nghĩ đến mối tình hồi nào tới giờ của hai đứa mình hay sao?
Tư Cầu nắm nhẹ lấy một bàn tay của Phấn:
– Anh nghĩ tới mối tình ấy nhiều lắm, và cũng vì vậy mà anh hết sức ráng giữ làm sao đừng để xảy ra chuyện gì tai tiếng cho em. Em nên nhớ rằng đời sống của em bây giờ có thể nói là không ai mong ước gì hơn được nữa.
Phấn gạt ngang:
– Em không sợ tai tiếng khỉ gì hết! Còn đời sống của em hiện giờ… em nói thiệt với anh, dầu cho hơn năm bảy lần như thế đó nữa, em cũng sẵn sàng đạp đổ cái rụp chớ không do dự một chút xíu nào hết!
Tư Cầu mỉm cười:
– Em ăn nói liều mạng quá! Em nên nghĩ kỹ lại đi em! Hồi đó, hai đứa mình mới lớn lên, nên đứa nào đứa nấy cũng bộp chộp hết… hễ khoái chí là ngoéo tay nhau đi liền, chớ bây giờ mình lớn tuổi biết nghĩ hơn thiệt rồi, đâu có… làm ẩu như trước được!
Phấn cự nự:
– Cái gì mà làm ẩu? Em đã tính đâu đó kỹ càng hết rồi em mới về đây để rủ anh đi. Anh để em nói hết cho anh nghe: hồi trước mình đi là đi càn mạng nên mới… thất bại như vậy.
Tư Cầu nói chen vô:
– Đâu anh phải sợ thứ chuyện.. thất bại đó, nhưng anh nghĩ tới gia đình hai bên nhiều hơn em à!
Phấn như không để ý đến lời phân trần của Tư Cầu, nói tiếp một cách hăng hái:
– … Nói thiệt với anh: trước khi về dưới này, em đã cụ bị đâu đó sẵn sàng và tính toán đâu đó kỹ lưỡng hết rồi: tiền bạc nữ trang, em đã lén mang theo một mớ khá bộn đủ cho hai đứa mình sống thung dung ít lắm là năm sáu năm, đó là em nói hai đứa mình cứ ngồi ăn xài chứ không làm sanh lợi ra nữa đó!
Tư Cầu lại than thở:
– Cha, em đem tiền bạc theo nhiều như vậy còn kẹt thêm nữa! Phải chi em vác cái mình trơn dìa đây mà anh còn dám đi hơn!
Phấn ngó xéo anh ta:
– Hứ, anh kiếm cách nói cho tréo ngoe chơi vậy phải không? (Nhưng khi thấy vẻ mặt thật thà của Tư Cầu, cô dịu giọng nói tiếp) Phải có sẵn một số tiền để một bên mới được anh à… Anh không thấy hồi đó cũng tại một phần lớn vì chuyện tiền bạc mà sanh ra dở dang đó sao?
Tư Cầu cười chua chát:
– Nếu “tại” cái điệu đó thì càng… hổng nên nữa! Thì lần trước, anh nhớ em cũng có cụ bị sẵn tiền chớ phải không sao!
Phấn ấp úng đáp:
– Thì có nhưng anh nghĩ lại coi như vậy thấm tháp gì! Hồi đó em vụng tính chớ bây giờ em lo trước tới năm bảy năm lận.
Tư Cầu nhún vai:
– Chắc em dư biết anh ngán cái gì khác chớ đâu có ngán chuyện đó!
Phấn tìm cách nói lảng ra:
– Anh không biết chớ em đem thằng bé Hai về đây cũng cốt ý là để cho anh với nó, hai cha con xum hiệp lại với nhau… (liếc nhìn thấy Tư Cầu chớp mắt lia lịa Phấn lấy giọng tha thiết nói tiếp) Từ hồi sanh ra bé Hai tới bây giờ, mỗi lần nựng nịu nó, thiệt em muốn sa nước mắt, nhứt là mỗi khi nó bập bẹ kêu người chồng của em ở trển là “ba ba” em như thấy kim chích trong ruột gan gì vậy.
Tư Cầu thở dài:
– Thôi việc đó… dĩ lỡ ra rồi em còn nhắc lại làm gì!
Phấn rơm rớm nước mắt nói tiếp:
– Anh thì không sao chớ phần em thì khổ lắm anh làm sao biết được! Càng tội nghiệp cho bé Hai bao nhiêu thì em càng giận em, oán em bấy nhiêu… Cũng tại em hết mà thằng nhỏ không biết tới đời nào mới rõ cha đẻ nó ra là ai…
Nói đến đó, Phấn bỗng khóc tức tưởi như không đè nén nổi sự xúc động tràn ngập trong lòng.
Tư Cầu vội đưa tay vỗ nhè nhẹ lên vai Phấn như để an ủi:
– Thôi mà em… nín đi em! Em còn nhắc cái chuyện đó làm gì… Dầu sao thằng nhỏ nó cũng có em bên cạnh là được lắm rồi.
Phấn khóc bù lu bù loa lên:
– Bộ anh không nhận nó hả? Em biết mà, anh chỉ muốn sung sướng cái thân anh thôi chớ không chịu ngó ngàng gì tới hòn máu của anh do em mang nặng đẻ đau hết! Thứ đàn ông ích kỷ! Chà, vậy mà hễ động tới thì cái miệng nói ngọt xớt là “không phải chơi qua đường”, là “quý trọng em”, là “em không phải như mấy người đàn bà khác”… Hứ!
Tư Cầu nhăn nhó chắc lưỡi:
– Ý trời ơi, đâu có phải vậy! Anh nhớ thương thằng nhỏ gần chết chớ phải không sao? Nói thiệt với em, anh nóng lòng muốn biết mặt thằng bé Hai còn hơn là muốn gặp em nữa. Và thử thời mười thằng bé Hai nữa anh cũng dám nuôi chớ đừng nói một.
Phấn vừa lấy khăn tay chậm nước mắt, vừa hỏi lại:
– Mười đứa như thằng bé Hai thì anh dám rước về nuôi, còn một “đứa” mẹ thằng bé Hai thì anh làm lơ đi phải không? Anh tốt quá há! (rồi cô cười lạt) Bị anh ở với chỉ bây giờ không con cái gì hết nên muốn kiếm một vài đứa về nuôi chớ gì! Cha như vậy… tiện và êm quá ha!
– Em sao cứ ăn nói đánh đầu người ta hoài! Hổng thương tưởng thằng nhỏ thì em cũng trách, mà thương tưởng tới nó thì em cũng nói được, thiệt anh phục em sát đất!
– Thì cũng tại cái miệng của anh! Anh thương khỉ gì mà hễ em muốn bàn với anh để cho hai cha con xum hiệp với nhau thì anh lại kiếm cách nói ăn trớt ra hết!
Tư Cầu nhìn thẳng vào mắt Phấn và phân trần:
– Coi, bộ em nói anh muốn xum hiệp với thằng bé Hai lúc nào cũng được hết sao? Nó là con của anh thì chỉ có hai đứa mình biết thôi, nhưng đối với họ hàng làng xóm thì nó là con đàng hoàng của chú Ba ở trển. Hồi người ta cưới em, hồi em đẻ nó, anh chẳng biết đâu là đâu hết, mà bây giờ khi không anh nhảy ra đòi con như vậy, họ kiện ngược trở lại ở tù thắt họng chớ phải chơi sao!
Phấn mau mắn đáp:
– Thì bởi vậy nên mới về đây và đem nó theo để rủ anh… đi kiếm chỗ khác ở với nhau. Cái gì em cũng tính hết chớ bộ làm càng làm đại được sao!
Tư Cầu lắc đầu lia lịa:
– Hổng được… Hổng được đâu em ơi! Hồi đó có hai đứa mình thôi, với lại ở dưới này họ bê bối nên họ kiếm không ra tụi mình, chớ bây giờ, anh, em và thằng bé Hai dắt nhau đi đùm đề như vậy, trễ lắm là trong tuần sau chú Ba ở trển chú rượt theo thộp óc lại liền. Ý trời, chú Ba chú khôn ngoan tổ trời, tiền bạc chú có sẵn trong tay nữa, và nội đất đai trong xứ nầy có chỗ ngách ngõ nào mà chú hổng lội tới, hổng biết tới!
Phấn thản nhiên đáp:
– Bộ anh nói em ngu lắm sao mà hổng biết mấy chuyện đó! Anh Ba ở trển ảnh là chồng của em mà em hổng rành về ảnh hơn anh sao hả?
Tư Cầu trề môi:
– Ừ thì cái chuyện đó… đúng y bon là em phải rành hơn anh rồi!
Phấn xô nhẹ vai anh ta:
– Nghỉ anh đi! Người ta nói chuyện đàng hoàng mà lại cứ đâm ngang thọc bậy vô hoài hè! Anh đừng ngại ở chỗ đó, em đã nói với anh là em đã suy tính, sắp đặt đâu đó hẳn hòi rồi mới dám rủ anh chớ! Anh nghĩ lại coi: thời buổi bây giờ hai đứa mình và thằng bé Hai có ra đi rồi dễ gì kiếm, mà có thưa gởi đi nữa cũng chẳng ăn thua gì… làng lính lúc này ai hơi sức đâu để ý đến mấy chuyện kiện vợ thưa chồng lăng nhăng đó phải không anh?
Tư Cầu trầm ngâm một hồi rồi nói:
– Kể ra em nói cũng có lý, nhưng nghĩ kỹ lại thì bề nào mình cũng hổng nên làm như vậy.
Phấn bực mình càu nhàu:
– Hổng nên, hổng nên hoài hè! “Hổng nên” là… tên của ông già bà già em đó, anh làm ơn tránh mấy cái tiếng ấy dùm em một chút!
Tư Cầu ngập ngừng hỏi lại:
– Nhưng còn… chú Ba ở trển thì em tính làm sao?
Phấn thở ra như chán ngán lắm:
– Xời ơi, anh hỏi một câu trớ trêu quá! Mình đã bỏ đi thẳng cẳng mà còn… tính cái khỉ gì nữa!
– Em nói vậy sao được… đôi ba ngày cũng là tình nghĩa vợ chồng…
Phấn chận ngang:
– Ối, anh có thân thì anh lo cho anh đi, chớ còn ảnh ở trển anh khỏi lo. Không có vợ nầy thì ảnh kiếm vợ khác mấy hồi! Em mà xểnh ra thì thiếu gì con khác nhảy vào.
Tư Cầu nhăn nhó nói:
– Đã đành như vậy rồi, nhưng anh nói là nói cái chuyện… tình nghĩa. Anh nhắc lại đây hổng phải để… oán trách gì về một chuyện năm xửa năm xưa, nhưng bề nào đi nữa thì chú Ba chú cũng đã có lòng… vớt em lên trong lúc em còn… bơ vơ nơi chỗ lạ. Nội bấy nhiêu đó cũng đủ ”ơn đền” rồi chớ đâu có lý gì em lại “oán trả” như vậy! Tổn âm đức lắm em à!
– Ý thôi đi tía nội! Hổng biết sao bây giờ tía lại ham nói chuyện dạy đời quá vậy? (rồi cô lên giọng cương quyết) Anh Tư à, theo em nghĩ thì giữa em và anh Ba ở trển kể như… xong nợ với nhau hết rồi…
Tư Cầu nhướng mắt lên như có ý hỏi tại sao. Phấn thản nhiên nói tiếp:
– Nhứt là nếu ảnh có biết em đi với anh thì em chắc ảnh cũng… hổng lấy gì làm ức đâu!
– Em chơi cái điệu đó… tức bể phổi chớ còn nói hổng ức nữa!
Phấn cười mủm mỉm:
– … Thì như vậy cũng vừa! Kể ra thì như là… hai đàng… huề với nhau vậy!
Tư Cầu nghiêm mặt cự nự:
– Em sao kỳ quá! Cái chuyện làm cho người ta chết lên chết xuống mà em nói coi bộ như không vậy?
Phấn cũng làm mặt nghiêm hỏi Tư Cầu:
– Mà bây giờ anh tính sao đây? Em đã cặn kẽ nói hết lời với anh rồi đó! Anh có muốn sống đời đời với hai mẹ con em không thì anh tính phứt đi, chớ bây giờ khỏi phải hỏi tới hỏi lui, nói cong nói quẹo gì nữa hết! Anh nghĩ sao hả anh Tư?
Tư Cầu thở dài với tay bứt liệng mấy cọng cỏ liền, rồi ấp úng đáp:
– Thì em nghĩ coi… anh biết tính làm sao nữa bây giờ! Theo như người ta mà nghe em nói như vậy là phải thuận liền… Nhưng anh đã nghĩ kỹ rồi em à!
Phấn chăm bẳm hỏi nó:
– Nghĩ kỹ… ăn trớt phải hông?
– Thì em hãy để anh nói hết cái đã! Em nên bình tĩnh nghĩ lại coi: bây giờ đây, bên anh cũng như bên em mọi việc đều có… ngăn nắp hết, và kể ra thì cũng đã êm thấm cả đôi đàng… Rồi khi không em muốn phá ra hết làm lại: theo anh nghĩ: có lợi có sướng đâu chưa rõ, chớ đã thấy gãy đổ hết ráo trọi!
Phấn quay mặt ra chỗ khác, nói lẫy:
– Em biết lắm mà! Dầu có nói tới khan cổ họng anh cũng trấm trơ trấm trất chớ ăn thua gì!
Tư Cầu xuống giọng năn nỉ:
– Em à, bây giờ bề gì hai đứa mình cũng nên vóc nên người hết rồi. Hồi đó mình dại nên mới dám làm ẩu tả như vậy, và em không nhớ sao: thiếu chút nữa thì cuộc đời của hai đứa mình không biết phải chịu đưa đẩy đến đâu nữa…. Giả tỷ như em không gặp được một người tử tế như chú Ba, mà vớ phải một cha căng chú kiết nào khác, còn nếu anh không có người giúp đỡ có công ăn việc làm đàng hoàng thì có phải xấc bấc xang bang hết không!
Phấn lớn tiếng cãi lại:
– Giả tỷ khỉ gì vậy mà giả tỷ! Hồi đó em đi theo người ta lạ hoắc mà em còn hổng sao, huống hồ gì bây giờ đi với anh thì chắc quá chớ còn sợ gì nữa!
Nhưng rồi cô lại dịu giọng nói tiếp, nửa như lẫy đuơn, nửa như buồn tiếc:
– Mà thôi, dầu cho em có nói đến thế mấy đi nữa cũng không lay chuyển nổi anh đâu! Cái chuyện người ta dưng tới họng và không chịu nuốt…. mấy lần anh như vậy đó! Nói thiệt với anh: trước khi em về đây để bàn với anh việc nầy, em cũng đã có nghĩ trước rằng thế nào cũng ăn trớt nữa…
– Em biết vậy sao còn rủ rê anh làm chi cho… mất vui khi hai đứa mình gặp mặt trở lại hả?
– Xí! Anh coi nhẹ cái tình của hai đứa mình chớ phần em, em muốn ở hết lòng hết dạ với anh, rồi để anh xử sao đó thì xử!
Tư Cầu với tay đập nhè nhẹ lên vai Phấn:
– Em nói bấy nhiêu đó, anh cũng đủ rõ bụng em rồi. Không phải anh điên khùng gì mà chẳng muốn ở liền bên cạnh hai mẹ con em, nhưng làm như vậy, anh với em chưa chắc gì trọn vui vì mình đã để khổ sầu cho bao người khác: chú Ba ở trển nè, vợ anh dưới này nè, rồi còn họ hàng hai bên nữa! Và thằng bé Hai, chưa chắc gì nó theo anh mà nó được sung sướng hơn ở với chú Ba.
– Thì xong cái chuyện cần mà em đã đem ra bàn với anh tự nãy giờ, và lần này thì em chịu thua rồi. Em đã cạn lời mà nếu anh muốn vậy thì thôi… đường ai mạnh người nấy đi!
Tư Cầu hấp tấp đứng dậy theo Phấn:
– Không phải anh muốn vậy đâu em, em đừng để bụng oán anh tội nghiệp! Không biết em ra sao chớ phần anh, anh thấy hai đứa mình còn nhớ tưởng với nhau như vầy kể cũng là… quý lắm rồi…Thiệt anh không mong ước gì hơn nữa!
Phấn ngó ngoái lại nhìn anh ta và mỉm cười độ lượng:
– Bị anh cứ ưng chịu chuyện ít ỏi như vậy mà anh lẹt đẹt theo sau thiên hạ hoài! (rồi cô nắm lấy tay Tư Cầu thở dài nói tiếp) Thôi sẵn dịp đây em cũng nói luôn cho rồi: sáng mai sớm, em ra ngoài vàm đón tàu lên Trà Ôn để cho kịp chuyến xe đi luôn lên Sàigòn…
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi lại:
– Ủa, sao em nói dìa dưới này ở để tránh nạn bỏ bom trên Sàigòn?
Phấn buồn bã lắc đầu:
– Anh sao thiệt thà quá! Thì em cũng phải kiếm cớ để dông về dưới này chớ!
Tư Cầu lo lắng hỏi tiếp:
– Nhưng em dìa trển không sợ cái nạn bỏ bom lung tung đó sao?
Phấn gượng cười đáp:
– Anh nghĩ coi: Bây giờ em còn sợ gì bom đạn nữa! Em chỉ sợ nhứt có một điều là anh không còn nhớ tưởng tới em nữa hay là anh còn oán hận em. Nhưng sau buổi gặp gỡ hôm nay, dầu cho cái chuyện em mưu tính không thành đi nữa, em vẫn thấy rõ là: trước hay sau gì cũng vậy, anh vẫn còn thương tưởng tới em. Nội bao nhiêu đó cũng… quá đủ cho em rồi.
Tư Cầu ái ngại lên tiếng:
– Anh cũng biết là anh đã làm cho em… mất công mất linh rất nhiều mà rốt cuộc đều ăn trét hết! Anh đâu có vui sướng gì đó em! Nè em, hay là em ở nán dưới này năm mười bữa, nửa tháng gì đó để nhóng coi ở trển có yên yên không, rồi em hãy trở lên.
– Cám ơn anh có lòng lo lắng cho em, nhưng như em đã nói, em không sợ bom đạn chút xíu nào hết, mà em chỉ sợ… mất anh thôi! Cũng may, mặc dầu dự tính của em không thành, nhưng không phải vì vậy mà em mất anh luôn… có phải vậy không hả anh?
Vừa nói Phấn vừa ngước mắt lên nhìn Tư Cầu… một cái nhìn ai oán làm sao.
Giá Phấn cự nự, nhiếc móc Tư Cầu trước khi chia tay, có lẽ anh ta thấy dễ chịu hơn… và anh ta luống cuống đáp:
– Lòng anh như thế nào em dư rõ… Em nên biết anh cũng khổ tâm lắm chớ phải chơi sao?
Và tự nhiên nước mắt của anh ta ràn rụa. Phấn gượng cười gật đầu và rút chiếc khăn tay ra âu yếm chậm nhè nhẹ trên khóe mắt của Tư Cầu. Tư Cầu vội níu chặt lấy hai vai Phấn như để cho khỏi lảo đảo… vào suýt chút nữa – phải, chỉ thiếu một chút xíu nữa thôi – là anh ta đã ôm choàng lấy Phấn, sẵn sàng đạp bỏ tất cả để rồi muốn tới đâu thì tới…
– Con đĩ chó! Mầy rủ rê chồng tao cái gì đó hả?
Tiếng quát bất thình lình ấy ở phía sau lưng làm cho cả Phấn lẫn Tư Cầu hoảng vía bước dang ra liền và cùng quay lại: Thơm, không biết lần mò đến từ bao giờ và đang hầm hầm vạch sậy đi rút lại. Tay cô ta cầm một cây chỉa dài: đó là cây chỉa mà Tư Cầu dùng để đâm chuột, đâm rắn mà anh ta vừa mới làm lưỡi lại bén ngót…
Tư Cầu dơ tay khoát khoát như để cản lại và miệng thì kêu ú ớ:
– Coi, khoan đã em… ! Hổng có gì hết trơn mà!
Thơm vẫn bước nhanh lại và cây chỉa nhọn lều có ngạnh sáng dới run run trong bàn tay cô ta như là sắp sửa lao tới. Tư Cầu vừa liếc mắt trông chừng bàn tay của vợ vừa lắp bắp hỏi:
– Mà em đem… cái thứ ấy làm chi vậy? Để chống xuồng hả?
Thơm không thèm trả lời mà cứ đi phăng lại… Tư Cầu luýnh quýnh nửa muốn chạy tới cản Thơm, nửa muốn ở lại che cho Phấn. Thơm đi tới nơi, đứng lại một tay thận trọng cầm cây chỉa đưa dang ra xa để không ai với tới được, một tay xô Tư Cầu dạt qua một bên:
– Anh đừng có chàng ràng vô hổng được đâu nghen! Để tui nói chuyện với con nầy trước cái đã, rồi tới phiên anh!
Tư Cầu lựng khựng gượng lại và xuống giọng năn nỉ:
– Thôi mà em! Em dằn bớt nóng để rồi anh nói rõ lại đầu đuôi cho em nghe, hổng có cái gì ráo trọi mà!
Thơm xô anh ta ra thêm một lần nữa và hỏi gằn:
– Bộ anh tính binh bà nội anh đó hả?
Rồi cô quay sang nhìn thẳng vào mặt Phấn cười mũi:
– Cha, tưởng tốt lành lắm! Thứ đồ đội quần thiên hạ mà hổng biết mắc cỡ!
Phấn lắc đầu có vẻ chán ngán rồi ôn tồn đáp:
– Chị Tư, chị muốn xài xể hay mắng chửi tôi gì đó thì chị cứ việc… Tôi không dám phiền trách tới nửa lời. Nhưng xin chị vuốt giận để tôi nói cho chị rõ: anh Tư đây thiệt là một người tốt, ảnh thương chị lắm mà chị hổng biết… thôi chị dắt ảnh về trỏng đi!
Thơm nghiến răng nói:
– Hứ, tao tưởng mầy độn thổ trốn cho khuất mặt tao mới phải! Ai dè mầy còn dám lên giọng thầy đời nữa chớ! Sao mầy hổng biểu tao để ảnh lợi ngoài nầy cho mầy ăn mầy dọng!
Tư Cầu nhăn nhó nói chen vô:
– Thôi mà em! Người ta ăn nói nhỏ nhẹ với mình như vậy thì em cũng nên… biết điều một chút chớ! Đó em hổng nghe… cô Ba nói là: hổng có gì hết đó sao?
Thơm lừ lừ quay mặt lại:
– Anh tính binh nó nữa phải hông? Cha hai người nói ăn rập với nhau quá há! Bộ anh nói con nầy lọt tròng té nổ gì sao nên không thấy: mới ôm xà nẹo với nhau ràng ràng đây mà dám chối leo lẻo chớ! Nè anh Tư, anh vảnh lỗ tai lên nghe tui hỏi kỹ: cái con đó nó già hàm lẻo mép thì đã đành đi, còn anh, bộ anh bị nó nhét bùa mê thuốc lú gì hay sao nên anh cũng nói theo đuôi nó chớ? Mà anh nói như vậy, có chó nó tin chớ con nầy khỏi đi!
Tư Cầu chưa kịp trả lời thì Phấn đã lên tiếng:
– Nè chị Tư, chị không nên ăn nói hàm hồ như vậy mà sanh ra chuyện rắc rối thêm hổng tốt. Tôi đã nói với chị đàng hoàng quá mà!
Thơm rấn tới:
– Bây giờ tính sao đây? Bộ mầy biểu tao phải lạy mầy rồi dưng chồng tao cho mầy nữa hả! Thứ đồ con gái gì mới mười lăm mười sáu tuổi đã biết đứng đường, cuốn gói theo trai đã rồi còn vác mặt dìa đây làm bà nội người ta nữa chớ!
Tư Cầu rụt rè khều áo vợ:
– Thôi mà em…
Thơm hất tay anh ta ra và tiếp tục nói lấn tới:
-… Phải mà, dìa đây thèm khát quá mà! Tao tưởng mày bẹo hình bẹo xác trước mắt ảnh thôi chớ không dè mầy còn dám rủ rê hẹn hò ảnh ra đây nữa. Mà sao mầy nập nợn quá vậy! Sao hổng đợi tối trời một chút hay chun trong lùm trong buội nào đó chớ làm gì mà ban ngày ban mặt, giữa trưa đứng ngọ như vầy hả cái con mặt mo kia?
Tư Cầu bực mình quá, níu vai vợ xô lùi lại, Phấn thấy vậy mỉm cười nói:
– Được mà anh Tư! Anh cứ để yên đó, cho chỉ muốn nói tới đâu cho hả thì cứ nói thả cửa! Mình người ngay thì sợ khỉ gì… hén anh!
Nghe Phấn nói như thế, Thơm càng lồng lộn lên. Mặc cho Tư Cầu níu giữ, cô vẫn vùng vằng xông tới và trong khi giằng co đầu tóc cô xổ tung ra.
Thấy vậy Tư Cầu quay lại hối thúc Phấn:
– Thôi cô Ba dìa trỏng đi!
Phấn mỉm cười đứng xê ra một chút và không có vẻ gì sợ hãi cả, trong lúc đó Thơm rít lên:
– Anh tính cản tui cho nó chạy trốn hả? Tui đố nó thoát khỏi tay tui!
Vừa nói Thơm vừa vung mạnh, Tư Cầu hoảng kinh vói tay chụp lấy cây chỉa, nhưng Thơm tinh mắt vội né tránh và sẵn trớn cô nghiến răng lấy đà để phóng mạnh cây chỉa về phía Phấn đang đứng…
Tư Cầu chỉ kịp la lên hai tiếng “trời ơi!” rồi nhào tới quơ chụp lấy tay vợ… Nhưng mũi chỉa đã rời khỏi tay Thơm vùn vụt lao tới…
Ở đầu nầy, Phấn hết hồn nhảy rột tránh qua một bên… vừa đúng cái lúc ngọn chỉa bay xẹt khít qua bên hông và cắm phập vào thân một cây chuối hột kế sát sau lưng.
Tư Cầu đứng há hốc nhìn sững vào cái cán chỉa đang còn mạnh trớn rung rinh trên không. Nhưng rồi sợ Thơm nhào tới nữa anh ta vội chạy lên nhổ cây chỉa ra, đoạn hầm hầm bước ra mé giồng phóng mạnh ngọn chỉa cắm lút xuống giữa khoảng ruộng nước.
Thơm chạy lại níu áo anh ta giựt mạnh:
– Ai biểu anh làm tài khôn tài khéo hả? Anh giỏi anh để nguyên coi tui dám đâm nó đổ ruột hông?
Tư Cầu nạt lại:
– Thôi, bây nhiêu đó đủ rồi! Bộ em muốn thành án mạng ở đây hả? Ta đã nói chuyện hổng có gì hết mà cứ làm tới hoài…
Thơm buông tay ra đứng chống nạnh hỏi lại anh ta:
– Nè anh Tư, tui hỏi anh: tui là vợ của anh hay con lũng kia hả? Anh giỏi anh trả lời cho tui nghe thử cái coi!
Tư Cầu nhăn nhó:
– Thì em là vợ chớ ai vô đó nữa! Nhưng em cũng để cho người ta nói phải quấy sơ qua cái đã rồi muốn làm gì thì làm, chớ chưa gì em lồng lên như con ngựa bà trời thì ai mà chịu được! Anh đã nói là… hổng có chuyện gì hết ráo kia mà!
Thơm cười lạt:
– Anh nói như vậy là nói “phải quấy” đó phải hông?
– Thì em cũng phải chịu khó nghe người ta nói hết chớ! Cô Ba đây cổ cũng hiểu rõ cái hoàn cảnh của tui với em lắm, và cổ biết điều lắm chớ hổng phải… bậy bạ như em nghĩ sai đâu! Đây nè, ngày mơi đây cổ dìa tuốt ở trên Sàigòn chớ bộ cổ ham gì dưới này sao mà em… nghi nầy nọ cho cổ! Em hổng tin, em hỏi thử thì rõ!
Thơm trề môi:
– Hứ, hỏi nó để hỏi… đầu gối còn hay hơn!
– Em sao cứ cái thói đó hoài! Người ta nhịn mình rồi thì em cũng nên để yên cho người ta nhịn luôn chớ! Anh biết cô Ba đây nhiều lắm, cổ hổng phải hiền gì đâu nghen! Tự nãy giờ cổ nín thinh như vậy là quá sức rồi đa!
– Anh biết nó nhiều hả?… Cái chuyện đó anh khỏi khoe nữa! Còn nó hổng nhịn thì nó làm gì tui chớ hả? Cạp quần tui được hông?
Phấn nghe nói vậy cất tiếng cười dòn:
– Nè chị Tư, tôi tính mai này đi về trển là vì tôi tội nghiệp cho anh Tư, tôi thấy ảnh là người tốt nên tôi không đành tâm phiền rộn thêm ảnh nữa… chớ hổng phải tôi sợ, tôi ngán ai đâu nghen! Tôi nói thiệt, phải ai khác dầu cho có ba đầu sáu tay tôi cũng bẻ lọi cho hết chớ đừng có nói thứ cỡ chị!
Thơm vừa bới lại tóc vừa xông tới nữa:
– Mầy đừng nói giọng bà nội nữa nghen! Cha, mầy bảnh lắm mà! Bảnh gì thì bảnh chớ mầy sánh cũng không bằng cái móng chưn của chồng tao!
Phấn cười xòa:
– Thì đúng rồi! Bởi vậy cho nên mai nầy tôi mới rút đi để nhường lại cho chị… Chị làm ơn coi kỹ lại ảnh xem tự nãy giờ tôi có làm sứt mẻ hao mòn gì không.
Tư Cầu chen vô đứng giữa hai người:
– Trời đất quỷ thần ơi… tui lạy hai bà! Hai bà làm ơn làm phước nhịn nhau một chút, chớ cứ rùm beng lên như vậy, xóm giềng họ hay được thì có môn vác mặt mo cả đám! (rồi nó day qua Phấn) Thôi cô Ba ơi tui cũng lạy cô xin cô dìa trỏng phứt cho rồi đi! Nội bấy nhiêu đó cũng đủ rồi, cô còn tính ăn thua nữa mà làm gì hổng biết!
Phấn lấy nón lá đội lên đầu và nói trống không:
– Nếu anh Tư nói như vậy thì tôi sẵn lòng đi về liền! (rồi nhìn thẳng vào mắt Tư Cầu hạ giọng nói tiếp) Anh biểu nửa tiếng em cũng nghe theo liền phải hông anh! Thôi em về luôn nghe anh… chuyến này… chắc còn lâu lắm hay là không bao giờ em còn có dịp gặp mặt anh lại nữa…
Tư Cầu đứng chết điếng trong lòng và chỉ biết lấy mắt nhìn trân trối người yêu cũ, một người đàn bà mà cho đến ngày hôm nay anh ta mới rõ là không thể nào quên đi một cách dễ dàng được.
… Sự lặng thinh bất ngờ của Phấn và Tư Cầu làm cho Thơm cũng phải e dè. Cô đứng sững nhìn hết người này đến người kia một hồi rồi bước lại khều nhẹ Tư Cầu và hỏi nhỏ:
– Bộ nó đi thiệt sao anh?
Bực mình Tư Cầu hỏi sẵng lại:
– Bây giờ em hổng bằng lòng hay sao đây? (và lớn tiếng cự nự luôn) Hồi nãy người ta đã nói năm lần bảy lượt rằng người ta hổng ở dưới này nữa, mơi nầy người ta đi luôn dìa Sàigòn, mà em khăng khăng một mực hổng chịu tin và cứ làm tới hoài…
Thơm cười lạt:
– Bà nội tui tin cũng hổng nổi mấy người!
– … May mà cô Ba đây là người biết điều, cổ ráng nhịn cho qua đi, chớ nếu không thì tui đố khỏi sanh giặc chòm!
– Tui hỏi anh: hổng nhịn rồi làm cái gì bây giờ? Chắc biểu tui nhường anh cho nó hén?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Em sao cứ nói bậy hoài…
Rồi như sợ sanh chuyện lôi thôi nữa, Tư Cầu quay qua hối Phấn:
– Thôi cô Ba dìa trước đi… Ờ, hay cô để tôi đi dắt xuồng vô cho. Mà hồi nãy cô… để nó ở đâu hả?
Phấn cười mủm mỉm liếc mắt nhìn Thơm rồi đáp:
– Thôi anh để tôi lội đi lấy cũng được. Làm rộn anh và… phiền chị Tư như vầy thì kể ra cũng là quá quắt lắm rồi… chị Tư, chị đừng chấp nhứt nữa nghen chị!
Thơm đỏng đa đỏng đảnh trả lời:
– Ý trời ơi, tui làm cái gì mà dám động tới ai! Ai muốn làm gì được đó thì làm, tui có quyền gì mà dám xía vô chuyện của người ta…
Tư Cầu nạt lớn:
– Tui nói thôi nghen!
Thấy vẻ mặt của chồng quá hung dữ, Thơm hứ một cái rồi nín thinh. Tư Cầu day qua Phấn hỏi lại:
– Sao cô Ba, cô để chiếc xuồng ở chỗ nào chỉ tui lấy cho mà!
Phấn chỉ về phía đám sậy cuối giồng:
– Ờ… sẵn anh đi lấy xuồng của anh, tôi nhờ anh lôi luôn chiếc xuồng của tôi vô đây dùm.
Tư Cầu xăng xái vo quần lên lội xuống ruộng… Chỉ một lát sau anh ta đem hai chiếc xuồng tới và đứng luôn dưới mé ruộng gọi vọng lên:
– Cô Ba ơi, có xuồng của cô rồi đây nè!
Phấn nghe tiếng Tư Cầu kêu bèn quay qua ân cần nói với Thơm:
– Tôi vô trước nghen chị Tư! Mai nầy tôi đi về trển luôn… chớ không có chi đâu mà chị ngại! Dầu sao chị cũng là vợ của anh Tư, và tôi có trọng ảnh thì tôi cũng phải… nể luôn chị chớ!
Thơm tuy hả giận nhưng vẫn còn nghi ngờ:
– Cô… nói thiệt hay chơi! Hay là mấy người lập mưu mẹo với nhau rồi kẻ rút trước, người lỏn theo sau đó! Ông nội Tư ổng cũng dám làm những chuyện bất tử lắm, tui biết tánh ổng mà!
Phấn cười đáp:
– Tôi nói thiệt mà! Tôi xí gạt chị thì có lợi ích gì đâu. Mà ví dầu tôi có muốn tính kia nọ với anh Tư, chị có muốn cản, cũng cản không nổi. Chị vuốt giận đi rồi tôi nói hết cho chị nghe: cùng là chị em bạn gái với nhau, tôi không hiểu rõ bụng chị hay sao! Đó chị coi, bởi vậy thấy chị làm hùm làm hổ, tôi cũng phải… xếp ve luôn chớ nào dám hó hé gì đâu!
Thơm tuy nhận lời nói của Phấn là phải nhưng cũng ráng vớt một câu:
– Cha, cô hiền quá há!
Phấn cười xòa:
– Thôi mà chị. Tôi đã nói tôi chịu thua rồi mà!
… Tự nãy giờ Tư Cầu đứng dưới mé giồng nhìn lên, nghe vợ và Phấn lời qua tiếng lại có vẻ êm thấm chớ không có điều gì đáng… ngại cho lắm, nên cũng yên tâm một phần nào. Tuy nhiên, anh ta cũng lên tiếng réo giựt ngược Phấn:
– Cô Ba ơi, xuồng bộng gì có sẵn đây nè! Cô liệu mà dìa cho sớm…
Nghe Tư Cầu hối, Phấn vội quay sang Thơm mỉm cười rồi nói một cách nửa ngọt ngào, nửa bỡn cợt:
– Thôi đến đây tôi xin kiếu chị Tư! Và kiếu biệt luôn… mất hình mất dạng nghen chị! Tôi giao ảnh lại cho chị đó, chị liệu mà giữ! Tôi mà như người khác thì… tới ba bốn Tư cũng mất tiêu luôn chớ đừng nói một!
Nói xong, cô cười rộ lên rồi chạy nhanh xuống mé giồng, nhảy phóc lên xuồng, quay lại nhìn Tư Cầu trong một giây rồi nói nhỏ:
– Anh ở lại mạnh giỏi nghen anh Tư! Ý chút xíu nữa em quên cho anh biết: em đặt tên thằng bé Hai là thằng Kỳ đó! Cầu Kỳ… rắc rối như anh vậy đó mà!
Và không đợi Tư Cầu trả lời, cô vội vã chống xuồng đi ào ào như là muốn chạy trốn…
Thơm rề xuống đứng bên cạnh chồng lúc nào mà Tư Cầu cũng chẳng hay. Một hồi lâu sau, cô rụt rè lên tiếng:
– Mình đi dìa chớ anh Tư!
Tư Cầu quay phắt đầu lại và có cảm giác bực mình khi va chạm lại với… thực tế:
– Thì em dìa trước đi hổng được sao? Em để kệ tui…
Thơm, tuy trong lòng ức lắm nhưng dư biết dầu có cự lại chồng ngay lúc này cũng chẳng ăn thua gì, nên lặng thinh cắn răng đi một nước xuống mé giồng lấy xuồng về.
Bỗng Tư Cầu réo giựt ngược cô lại:
– Nè, có dìa làm ơn bơi ra nhổ cây chỉa ngoài đó đem vô trỏng trả lại cho người ta!
Sau Tết Mậu-Thân hai tháng, tôi đã lành vết thương, xuất viện trở về đơn vị. Trung úy Phạm văn Lương (k20VB) trả lại Đại đội 1/TĐ11/BĐQ cho tôi. Anh Lương quay về đảm đương cái nghề cũ của anh là ban 3 tiểu đoàn. Đại úy Hồ khắc Đàm (k16 VB) đã thay thế Thiếu tá Nguyễn văn Huân (bị thương) giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng TĐ11 BĐQ. Trong thời gian hơn nửa năm, chúng tôi đã tham gia hầu hết những chiến dịch lớn nhỏ của Task Force South quanh Đà-Lạt, Bảo-Lộc, đặc biệt là những vùng núi non giáp ranh với Quảng-Đức và Bình-Thuận. Cuối năm Mậu-Thân, Tiểu đoàn 11/BĐQ được chuyển về Pleiku, hành quân phối hợp với Không-Kỵ Hoa-Kỳ. Một ngày đầu năm 1969 chúng tôi có lệnh lên đường tham gia chiến dịch Bình-Tây 49.
Sáng sớm ngày N, xe quân vận đưa chúng tôi từ Biển-Hồ (Pleiku) vào sân bay của trại Lực Lượng Đặc-Biệt Lý thái Lợi, Plei M’rong. Trưởng trại LLĐB Lý thái Lợi cũng là một sĩ quan Võ-Bị, Đại-úy Huỳnh Châu Báo (k17). Niên trưởng Báo đã tiếp đãi chúng tôi rất ân cần trong khi chúng tôi đợi chờ trực thăng Mỹ tới bốc vào vùng. Cuộc hành quân hôm ấy nhằm mục đích săn diệt Trung đoàn E 24 Mặt trận B3 CSBV trong vùng núi Chư Pa giáp ranh sông Pơ-Kô. Hôm đó là một ngày mùa khô cao nguyên. Mùa khô ở đây bầu trời mịt mù bụi khói đốt nương, đốt rẫy. Ngày N, lành lạnh, cuối đông. Từ bãi bốc Plei M’rong chúng tôi thấy gunships Hoa-Kỳ dọn bãi ngay trước mặt, trên triền đồi tranh hướng tây suối Ru Ninh. Bãi thả chỉ cách sân bay Plei M’rong chừng năm cây số. Như thường lệ, mỗi khi tới một vùng hành quân lạ, đại đội tôi vẫn là đơn vị “tiên phuông” và theo chân Đại đội 1/11 BĐQ của tôi vẫn là Đại đội 3/11 BĐQ. Dưới triều đại Hoàng Mai (Hồ khắc Đàm) đoàn hùng binh TĐ11/BĐQ luôn luôn được chia làm hai cánh. Cánh A là liên đội 1&3 do tôi (Trung úy Vương mộng Long) chỉ huy, cánh B là liên đội 2&4 do Trung úy Nguyễn Lạn chỉ huy. Trái rocket sau cùng vừa nổ, tàu tôi đã “hover” trên ngọn tranh. Miệng hô “go! go!” chúng tôi nhảy đại xuống triền đồi. Cỏ cao quá đầu người. Chúng tôi nhắm mắt lao xuống. Vì phải nhảy từ trên quá cao, chúng tôi mất đà, nện đít xuống đất, thốn lưng, đau muốn chết. Những trái rocket làm rừng cỏ tranh bốc cháy. Nấn ná ở chỗ này lâu chắc chắn thành bê thui! Thế là miệng hô, “Nhào lên! Bà con ơi!” chân bước tới, chúng tôi cố gắng xung phong lên bìa rừng xanh trên cao. Vào tới bìa rừng, tóc gáy tôi bỗng dựng ngược: Rừng già toàn cây cổ thụ; thân cây nào cũng cỡ hai ba người ôm; chân rừng trống trơn, thênh thang, toàn đá đen, lạnh lẽo, trơn trượt.
Nếu có vài cây AK Việt-Cộng trụ sau những gốc cây “bành ky” này thì đoàn quân dưới kia chỉ là những cái bia sống ngon lành. Khi tôi lên tới đỉnh đồi thì Đại đội 3/11 của Trung úy Phan ngọc Quí còn ngồi trên HU1D. Lửa bắt đầu lan rộng về hướng triền dốc, bãi đáp đang cháy lớn. Trên đỉnh đồi cũng có một bãi cỏ tranh khá rộng. An ninh xong ngọn đồi mới chiếm cứ, tôi gọi đại úy tiểu đoàn trưởng và đề nghị ông chuyển bãi thả lên đỉnh đồi để cho ĐĐ3/11/BĐQ xuống chỗ tôi cho tiện. Hoàng Mai đồng ý ngay. Sau đó bộ chỉ huy tiểu đoàn và liên đội B cũng theo chân Đại đội 3/11 xuống bãi này. Cuộc đổ bộ tuy ồn ào nhưng trót lọt, an toàn.
Có tiếng Hoàng-Mai gọi, “Thái-Sơn đây Hoàng Mai! Sẵn sàng chưa?” Thái Sơn là danh hiệu truyền tin của tôi. Tôi trả lời, “Sẵn sàng trăm phần trăm. Đợi!” “Target số một! Zu lu!” “Nhận Hoàng Mai 5!” Chiều rồi, trong rừng bắt đầu âm u, nhưng lệnh lên đường vẫn ra; người nhận được lệnh vẫn thi hành nghiêm chỉnh. Tôi gọi cho Trung úy Quí (ĐĐT 3/11), báo cho anh nhổ neo theo tôi. Tôi dặn anh nhớ bám sát. Mặt trời đang lặn, đi trong rừng rất dễ mất dấu người đi trước. Tiến theo hướng bắc chừng hai trăm mét, chúng tôi gặp đường voi thồ thênh thang theo hướng tây đông. Chúng tôi bắt đầu quẹo trái để vào mục tiêu 1. Từ cao độ trên một ngàn thước đoàn quân lần lần thả dốc về tây.
Chúng tôi đang đi với đội hình một hàng dọc. Chợt bên tai tôi có tiếng người hò la trong rừng cùng tiếng chặt cây đốn gỗ. Một toán dò tin tức được gởi đi. Toán trở về báo cáo có một số dân Thượng đang phá rừng làm nương. Tôi cho qua chuyện này. Đêm buông màn, nhưng đoàn quân vẫn tiếp tục theo lối mòn đổ dốc. Mỗi người phải giắt sau ba lô một khúc cây rừng mục. Cây rừng mục có lân tinh lấp lánh, làm dấu cho người sau đi theo không bị lạc. Chúng tôi bước trên đường mà cảm như đang bước chân trên thảm nhung. Lá rừng mục bao đời, lớp này phủ lên lớp khác dày cả gang. Cũng may, rừng vùng này không thấy vắt. Đi trên cao, bên tai gió ào ào, không nghe tiếng muỗi kêu. Đi được khoảng nửa cây số chúng tôi lại nghe tiếng nói chuyện ngay sát bên tai. Tiếng người lần này giọng Bắc. Trung đội đi đầu của Thiếu úy Đinh quang Biện vừa bố trí xong là nổ súng ngay. Thì ra song song với trục đường chúng tôi đang đi, còn nhiều đường voi di chuyển khác. Cả một hệ thống đường thồ trong rừng, che dấu bởi tàn cây cao, phi cơ chụp không ảnh không phát hiện, không có trên bản đồ. Hai khẩu AK báng xếp cùng hai chiếc nón cối và hai cái balô được đem lên cho tôi khám nghiệm. Hai cán binh vừa bị hạ thuộc C 17 Trinh sát của E 24 Mặt Trận B3 (Danh từ Việt-Cộng quy định A là tiểu đội; B là trung đội; C là đại đội; D, H, K là tiểu đoàn; E là trung đoàn; F là sư đoàn).
Sáng N+1, chúng tôi tiếp tục đổ dốc. Vẫn rừng già, trống chân, vẫn dấu chân voi, vẫn những con đường song song theo hướng tây đông, vẫn những đống phân voi to như những cái thúng rải rác dọc đường thồ. Rừng nín thinh, nặng nề, đe dọa. Mỗi lùm cây, tảng đá đều có thể là nơi che dấu sự chết chóc. Đại đội 1/11 đội hình nấc thang, từng bước, thận trọng, xuống đồi. Đường bắt đầu ẩm ướt. Cái yên ngựa, trên bản đồ không ghi có nước. Vậy mà nước rì rào, róc rách. Nơi nào có nước, nơi đó có kẻ thù. Một lối mòn vắt ngang đường voi đi. Lối mòn chạy song song với con thông thủy. Lối mòn cũng theo hướng bắc nam. Trên lối mòn, vết dép Trường-Sơn còn mới. Thiếu úy Biện vừa báo cáo đặt xong hai nút chặn hai đầu vết mòn thì quân của Chuẩn úy Nguyễn văn Danh đã kịp thời vượt lên thay vai trò tiên phong. Trung đội 2 của anh chuẩn úy lính mới tò te lần đầu vào trận vừa qua khỏi ban chỉ huy đại đội, thì điểm chận lối mòn bên trái của Thiếu úy Biện đã có tiếng réo vang của một băng M16. Kế đó, Trung đội 3 của Biện hàng ngang xung phong bên trái nhanh như máy. Lại một khẩu AK 47 báng xếp, một cái nón cối, một balô của C17 Trinh sát E 24/B3. Trong balô có vài lá thư viết bằng mực xanh trên giấy học trò có kẻ ô, cùng một quyển album cỡ một bàn tay, trong đó chứa những tấm ảnh đen trắng nho nhỏ có cạnh cắt răng cưa. Ảnh chụp từ nơi nào đó xa xôi ngoài Bắc: một cô gái quê, một bà mẹ quê, một mái rạ. Thư có những lời thương nhớ người đi B, những lời cầu Trời Phật phù hộ cho người ra trận được bình yên. Nước ảnh còn sáng. Màu giấy thư chưa vàng. Người bộ đội Cộng-Sản mới xâm nhập đã không bao giờ trở về miền Bắc nữa.
Chúng tôi tiến rất chậm. Tất cả những lối mòn cắt ngang trục tiến quân đều phải đặt nút chặn. Tất cả các nút chặn đều phải được bàn giao kỹ càng cho đơn vị theo sau. Kinh nghiệm cách đây khá lâu, một lần hành quân vùng đông Lệ-Chí đã cho thấy sự lợi hại của tao ngộ chiến. Hôm đó, trục tiến quân băng rừng của Tiểu đoàn 11/BĐQ cũng có con lộ cắt ngang. Một cán binh VC đã đụng đầu Hoàng Mai trên mặt lộ khi ông vừa chui ra khỏi rừng cỏ hôi. Cả ông tiểu đoàn trưởng BĐQ và tên VC đều giật mình phát hoảng. Cả hai người đều đứng khựng lại trố mắt nhìn nhau. Ông tiểu đoàn trưởng BĐQ không mang súng dài. Trên tay ông chỉ có cây gậy tre để đi rừng. Khẩu súng nòng 6.35 ly tí teo, nhỏ như cái hộp quẹt (đeo làm kiểu) của ông còn ở trong bao. Trong lúc quýnh quáng, ông tiểu đoàn trưởng BĐQ vụt vụt loạn xạ cây gậy tre trước mặt thằng VC. Miệng ông hét lớn, “Á!…Á!…Á!…” Bất ngờ đụng đầu một bộ rằn ri giữa rừng, thằng VC đã trở bộ muốn bỏ chạy thoát thân. Không ngờ tiếng thét của ông làm cho nó nhận ra ông là một kẻ thù không võ trang. Nó hoàn hồn, chĩa khẩu AK 47 ngay ngực ông đại úy. Tay trái nó run run nhích cao họng súng đen ngòm lên ngang trán ông. Nó tính bắn vào đầu ông! Tay chân ông bỗng cứng đơ. Hai mắt ông ngó trân trân vào mặt thằng VC. Mắt nó liếc tránh ra hướng khác. Ông thấy ngón tay trỏ, bàn tay phải của nó đang nằm trước cò súng. Rồi ngón tay đó siết vào cò. Ông hoa hai mắt. “Choác! Choác! Choác!” Ông ù hai tai. Đạn tém sát thái dương ông đại úy. Đạn làm bay cái mũ đi rừng bằng vải đen rộng vành ông đang đội trên đầu. Có lẽ thằng VC run tay, nên ba mươi viên AK đều bay cao, sượt da đầu ông đại úy.
Bắn hết băng đạn mà thấy địch thủ còn đứng trơ trơ, thằng VC quay đầu chạy bán sống bán chết. Vài giây sau, ông đại úy hoàn hồn. Ông rút được khẩu 6.35 ly ra khỏi bao thì thằng VC đã khuất dạng. Lúc đó những BĐQ cận vệ của ông tiểu đoàn trưởng mới chui ra khỏi rừng, tới đường. Họ ngơ ngác không hiểu tại sao Hoàng Mai tay cầm khẩu 6.35 ly mà tai họ nghe “choác! choác!” tiếng AK liên thanh? Ông đại úy tiểu đoàn trưởng đứng giữa đường quơ quơ cây gậy về hướng địch, “Nó chạy hướng này! Nó chạy hướng này!” Lúc đó toán hộ tống mới vỡ lẽ: chỉ chút téo nữa là xếp của họ đã đi đoong! Gỡ sĩ diện, họ reo hò, “Biệt Động! Sát!” “Biệt Động! Sát! Tiến lên!” Lau lách hai bên đường mòn bị một phen bở vía. Đạn M16 ròn rã đốn hoa, lá, cành, tre, nứa, ngã rạp tơi bời. Nhưng tên VC đã “chạy mẹ nó mất rồi!”
Hôm đó tôi đi đoạn hậu, chỉ nghe văng vẳng tiếng súng đàng trước. Mãi tới khi tôi chuyển quân hoán đổi nhiệm vụ cho liên đội B gặp anh Đàm, tôi mới được anh chiếu lại chi tiết diễn tiến khúc phim tao ngộ chiến. Đoạn phim diễn tả cảnh cái họng đen ngòm của khẩu AK47 đang nhắm ngay trán anh, làm tôi ớn lạnh xương sống. Sau khi quay xong đoạn phim đứng tim trên cho tôi nghe, anh Đàm cười hí hí, “Hôm nay ta hơi quýnh một chút. Chứ đúng lý ra, ta đã bắt sống thằng VC này rồi đó! Nó gầy tong teo à!” Tôi cũng phụ hoạ theo, “Đúng là thằng VC này còn hên! Lần sau vô phúc gặp anh, nó tới số!” Từ đó, mỗi lúc ra quân, Hoàng Mai luôn luôn nhắc nhở đàn em việc chặn nút khi gặp lối mòn. Từ đó, cũng đã có vài lần tao ngộ, phần thua lúc nào cũng về phía bên kia. “Cậu thấy chưa? Cứ gặp đường mòn mà chặn nút là có ăn! Ta nói có sai đâu?” Lần nào cũng thế, “có ăn” là anh Đàm lại dài dòng kể lể công lao “phát minh” ra chiến thuật “chặn nút”. Hôm nay nút chặn của tôi “có ăn” thế nào anh Đàm cũng vui lắm. Chắc chắn Thiếu úy Trần Lũy, đại đội trưởng đi bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn sẽ tha hồ mà nghe anh Đàm thuyết giảng chiến thuật.
Xuống bình nguyên là nghe gió ngàn phần phật. Đất giàu màu mỡ làm lau sậy mọc tràn lan. Toán tiền thám phải dọ dẫm từng bước. Những con lộ chính trong vùng địch kiểm soát chắc chắn không có mìn. Nhưng tình hình an ninh không cho phép ta chỉ đi trên lộ chính. Cái đáy trước của nấc thang phải bao gồm cả hai bên đường, lộ chính và lộ phụ. Đặc biệt là di chuyển trên lối phụ dưới thung lũng rất dễ vướng bẫy thú của Thượng Cộng. Chỉ cần ta ơ hờ một chút, cái bẫy đã túm ngay một cẳng ta, treo ta lên cây. Đã có lần tôi chứng kiến một chú heo rừng bị treo lơ lửng giữa không trung. Chú heo rừng nặng cả trăm ký tòn ten đung đưa giữa trời, miệng sùi bọt trắng. Nơi chúng tôi đang đi qua, nhiều bãi sình có dấu heo ủi, cả đàn. Nơi nào có heo rừng, có Thượng Cộng, thế nào cũng có bẫy.
Đường bắt đầu đi lên. Bi đông chàng nào cũng đầy nước. Núi trước mặt cao cỡ ngàn mốt, ngàn hai. Hai bên yên ngựa là vực sâu. Gió hú ù ù. Trời lạnh lắm. Càng lên cao càng lạnh. Mục tiêu 1 ở trên kia. Trên bản đồ hình thù của nó chỉ như hạt đậu. Thực tế đó là một ngọn đồi, một ngọn đồi có đủ cả các thành phần, chân, triền và đỉnh. Anh Đàm có lẽ đã tới con thông thủy. Tôi nghe anh ra lệnh, “Thái Sơn cho lều võng, khói lửa được rồi! Nhớ nhấn tới trước vài vòng (cao độ) cho chắc ăn nghe chưa?” “Nhận 5!” Tôi tự nhủ: “Hoàng Mai khôn cách chi! Ổng thì ngủ dưới con thông thủy, vừa ấm áp vừa có nước. Ổng chơi ác! Bắt mình nằm chênh vênh giữa trời, chắc mình biến thành cục nước đá đêm nay mất thôi!”
Đêm đó hai Đại đội 1&3 quây tròn trên mục tiêu 1. Tôi và anh Quí ngồi tâm sự tới khuya mới chia tay về lều. Quí là sĩ quan khóa đặc biệt. Anh về phục vụ tiểu đoàn này đã hơn hai năm. Anh ta gốc AET (Thiếu Sinh Quân) nên căn bản quân sự rất vững. Hai đứa tôi khá thân. Đêm đó Quí thổ lộ với tôi rằng, sau Tết Âm-Lịch anh ta sẽ cưới vợ. Vị hôn thê của Quí đang học Đệ Nhị Trung học Bồ-Đề, Pleiku. Anh say sưa nói về ngày mai, về giấc mộng con con, bình thường. Tôi cảm thấy vui lây cái vui của bạn. Tôi nghe đâu Thiếu úy Trần Lũy (ĐĐT 2/11) sắp cưới con gái ông Thượng sĩ Thường-Vụ của Tiểu đoàn 22/BĐQ. Còn anh đại đội trưởng Đại đội 4/11 Nguyễn-Lạn thì chuẩn bị neo thuyền trên bến Đà-Lạt. Sắp Tết rồi! Đám cưới! Vui quá đi thôi! Tha hồ mà nhậu! Thời buổi được mùa! Dưới trướng Hoàng Mai, sĩ quan chỉ huy của Tiểu đoàn 11/BĐQ đắt đào ghê! Ông tiểu đoàn trưởng Hoàng Mai mới không vận được một cô sinh viên từ trường Chính-Trị Kinh-Doanh, Đà-Lạt về cư xá sĩ quan TĐ11/BĐQ làm áp trại phu nhân. Nay đến phiên ba ông đại đội trưởng, Kỳ-Sơn (ĐĐT2/11), Trường -Sơn (ĐĐT3/11) và Lam-Sơn (ĐĐT4/11) sắp giã từ kiếp sống sê-li-bạt (célibataire). Như vậy là sau Tết này, trong số tứ sơn (Thái Sơn, Kỳ Sơn, Trường Sơn, Lam Sơn) chỉ mình tôi (Thái Sơn) còn lênh đênh như con thuyền vô duyên của nhạc sĩ Đặng thế Phong. Quả thiệt, về cái chuyện “nớ” thì tôi chậm lụt hơn chúng bạn nhiều. Thấy tôi có vẻ mắc cỡ, anh Quí an ủi, “Tại mày nhát gan, thấy gái là đỏ mặt, cấm khẩu. Chứ tao thấy mày can đảm chút nữa thì thiếu gì đào!” Nói đúng ra, trong thời gian qua, tôi cũng có nhiều dịp lọt vào “thị trường” của vài cặp mắt xanh ở thành phố Pleiku này. Nhưng mỗi khi chạm mặt “đối phương tóc dài” thì tôi lại lờ quờ. Đôi khi tôi tự an ủi rằng nguyên nhân của sự chậm lụt này cũng do “thời thế” mà ra.
Số là, đầu năm 1966, khi tôi làm đại đội trưởng Đại đội 3/TĐ11/ BĐQ ở Đà-Nẵng; vài bà bạn Bắc- Kỳ di cư của mẹ tôi ở Hội-An, đang cố gắng “siết chặt dây thân ái” (VB Hành Khúc) với mẹ tôi, hi vọng sẽ có ngày thành sui gia; thì đùng một cái, ông Đại úy Nguyễn thừa Dzu, tiểu đoàn trưởng, dẫn quân theo ông Nguyễn chánh Thi, đảo chánh ông Nguyễn cao Kỳ. Thời gian này Tiểu đoàn 11/BĐQ chỉ có ba đại đội 1, 3, 4 đóng quân tại sân vận động Chi-Lăng (Đà-Nẵng), riêng Đại đội 2/11 của Trung úy Tôn thất Trực đang biệt phái cho quận Quế-Sơn. Đảo chánh hụt, ông Thi lên máy bay chạy tuốt. Ông Dzu trở cờ, chui vào phi trường theo ông Kỳ. Ông Kỳ cho ông Dzu lên thiếu tá, làm Cò Cảnh-Sát. Sau khi ông Dzu đi mất, tôi đã chỉ huy tiểu đoàn này tiếp tục chống ông Kỳ. Kết cuộc, Tiểu đoàn 11/BĐQ bị đổi vào Pleiku; Tiểu đoàn 21/BĐQ từ Pleiku, được chuyển ra Đà-Nẵng. Tôi bị quất tổng cộng chín chục củ: Ông Lãm (Tư Lệnh Vùng 1) phạt tôi 30 Trọng Cấm; ông Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng) phạt thêm 60 Trọng Cấm. Tôi còn bị đưa ra hội đồng kỷ luật Nha-Trang; bị giáng cấp; bị treo lon. Đời tôi đi vào khúc quanh “lắc lư con tầu đi”. Thời gian này mẹ tôi buồn lắm. Những bà bạn của mẹ tôi, thì không ngần ngại cắt đứt ngay sợi “dây thân ái” với mẹ tôi.
Ở Liên đoàn 2 Biệt Động Quân (Pleiku) tôi gặp Trung tá Nguyễn đức Ninh liên đoàn trưởng, Thiếu tá Phạm văn Toán liên đoàn phó, Đại úy Nguyễn văn Huân ban 3 và Trung úy Hồ khắc Đàm ban 2. Những vị này đã bao bọc tôi sống lất lây cho qua thời mạt rệp. Anh Huân dạy tôi nhiều thứ lắm, trong đó có món “kén vợ”. Anh Huân giảng giải, “Con gái nó ghê lắm! Chú mày lớ ngớ không điều tra kỹ, cứ tin cái miệng ngọt xớt của chúng nó là chú mày chết! Chưa tìm hiểu kỹ càng tông đường nhà nó, rước nó về. Vài năm sau nó cưỡi lên cổ chú nó ‘nhong! nhong!’ Rồi nó đẻ cho chú một bầy con. Nó đánh mắng con chú. Đến lúc chú có cháu, nó đánh cháu chú. Ba đời nhà chú nằm trong tay nó. Hết đường cục cựa!” Vì ảnh hưởng lời khuyên của huấn luyện viên Nguyễn văn Huân, gặp cô nào tôi cũng thủ thế, điều tra từ từ. Gặp nhau, tôi cứ quan sát địch thủ mà không ra chiêu nào, thủ khẩu như bình. Các cô thấy tôi ngồi nín khe lắng nghe, các cô cứ líu lo như chim vành khuyên. Các cô phát thanh chán chê rồi ngồi chờ tôi nói. Tôi chỉ toét miệng cười. Gặp nhau vài lần, câu chuyện đổi trao vẫn loanh quanh nắng mưa, mưa nắng. Hình như các cô chỉ chờ tôi nói nhỏ “Je t’aime” là các cô xỏ mũi tôi, lôi ra xe Jeep chở đi học để trình diện với bạn bè. Các cô chờ tôi. Tôi cứ đánh trống lảng. Hai nhân vật ngồi nhìn nhau. Nhìn nhau mãi bắt chán! Thời gian qua đi vèo vèo. Vì thế, tôi ở Pleiku đã ba năm rồi “mà lòng thì chưa hề yêu ai” (T.T.Thanh) Trong lều, đôi bạn tâm sự. Ngoài kia, gió rừng rít từng cơn. Đêm đông, trong núi, lạnh kinh hồn. Sáng N+2, sau khi làm chủ ngọn núi cao trên 1200 mét, tôi bố quân chờ bộ chỉ huy tiểu đoàn. Mãi gần trưa liên đội B mới hoàn tất việc thay thế vị trí của liên đội A. Đường tiến sang mục tiêu 2 không có gì khó đi. Nhưng dấu vết địch dẫy đầy, toàn dấu mới. Vừa đổ dốc được vài phút, Trung đội 3 đã chạm địch. Địch bắn trước, nhưng may mắn quân bạn không ai trúng đạn. Nửa trung đội đi bên trái lại vớt được một tên VC, tịch thu một AK báng xếp. Trung đội 3 của Thiếu úy Biện lại lập chiến công lần nữa! Từ khi Thiếu úy Đặng hữu Duyên, trung đội trưởng Trung đội 1 thuyên chuyển khỏi đại đội này cách đây vài tháng, thì anh thiếu úy trẻ tuổi, đẹp trai, con nhà giàu Đinh quang Biện (khóa 25 TĐ) trở thành sĩ quan trung đội trưởng thâm niên nhất của đại đội tôi. Thiếu úy Biện là trung đội trưởng duy nhất mà tôi dám cho đi “sô lô” một cánh riêng, xa hẳn ban chỉ huy đại đội trong những lần hành quân diều hâu quanh Pleiku. Anh Biện là một sĩ quan rất can trường và bén nhạy lúc chạm trận. Thêm vào đó, anh là người chỉ huy rất mát tay. Mặc dù mỗi khi hành quân, Trung đội 3 thường chạm địch nhiều hơn các trung đội khác, nhưng cả năm nay chưa có người lính nào dưới quyền anh tử trận. Kỳ này vào trận mới ba ngày, mà Trung đội 3 đã chạm địch ba lần. Trên ve áo tên cán binh Việt Cộng mới bị giết có cái quân hàm bằng nỉ màu đỏ, hai sao vàng trên một gạch vàng.
Tên VC này là trung úy thủ trưởng của C17 Trinh Sát/E 24. Tôi báo cáo tin này cho Hoàng Mai rồi chuyển gấp lên cho ông quyển sổ ghi danh sách toàn bộ Đại đội C17 Trinh Sát/ E 24 để phòng 2 quân đoàn cho người xuống lấy. Tới tối, Hoàng Mai cho tôi biết kết quả khai thác tài liệu tịch thu được trưa nay xác nhận rằng, từ ngày vào vùng tới giờ đã có trên mười tên VC bị Đại đội 1/11 BĐQ loại ra ngoài vòng chiến. Tiếc rằng sau mỗi lần chạm địch, tôi đã không chịu khó mở rộng vòng kiểm soát kết quả; vì vậy tôi tưởng chỉ có bốn tên địch bị giết trong ba lần chạm súng.
Ngày N+3, tôi được lệnh tiến chiếm mục tiêu 3. Mục tiêu 3 nằm về hướng bắc của chúng tôi. Mục tiêu là cái khoanh tròn bao trùm một đỉnh núi có cao độ 1485 mét. Tên ngọn núi này là Chư Pa. Vì không rõ trên núi có nước hay không, cho chắc ăn, tôi ra lệnh mỗi người đem trên vai hai ngày cơm vắt cùng một bi đông nước dự trữ. Quân tôi lên đường từ khi trời còn mờ sương. Qua một cái thung lũng rất sâu chúng tôi bắt đầu leo. Đường dốc đứng, đá xanh, cạnh sắc như dao. Mỗi khi bản đồ ghi một vòng cao độ phình ra thì đó là một ngọn đồi. Ngọn đồi nào cũng vĩ đại. Cây rừng cao lắm, mà tàn lá thì đan nhau che kín ánh nắng mặt trời. Địa thế hoàn toàn không đúng với bản đồ. Địa thế khác hẳn những chi tiết ghi trên bản đồ. Khi băng ngang những dãy đồi kế tiếp nhau trên cao độ 1200 mét tôi cứ nơm nớp lo sợ bị tập kích bất ngờ. Lối mòn chằng chịt, đầy dấu xe thồ, dấu giầy vải, dấu dép râu. Đại đội tôi đi đơn độc. Đại đội 3/11 còn nằm lại với bộ chỉ huy tiểu đoàn nơi chúng tôi đóng quân đêm trước. Cánh B đã vào vùng hoạt động riêng của họ hướng tây nam. Tôi báo mọi tin tức thu lượm được về tiểu đoàn. Tôi xin anh Đàm cho pháo binh Mỹ đánh tập trung trên những hỏa tập dự phòng hướng tây. Tới trưa thì chúng tôi vượt qua khu nguy hiểm. Chúng tôi lên tới những vòng cao 1300. Lan rừng quệt trên nón sắt. Không thể ngờ rằng trên cao như thế mà trong rừng đầy khe, đầy suối. Ban ngày mà răng chúng tôi đánh bò cạp, lạnh run. Phía trước có ánh sáng trên cao. Sắp tới đỉnh núi! Một mảnh trời xanh xuất hiện từ từ.
Chúng tôi chui khỏi rừng già, ra tới một vạt cỏ tranh. Cỏ tranh vây quanh chân một tảng đá xanh. Tảng đá xanh trước mặt tôi là đỉnh Chư Pa cao 1485 mét. Tôi leo lên tảng đá để dễ bề quan sát địa thế. Bố quân xong, tôi dùng cái lưỡi lê M16 của Binh nhất Phạm công Cường khắc lên mặt đá những dòng chữ sau đây: TA LÀ VUA (dòng đầu), Trung Úy VƯƠNG MỘNG LONG (dòng thứ nhì), ĐĐT/ĐĐ1/TĐ11/BĐQ (dòng chót). Thời 1966 mới tới Pleiku, tôi hay lang thang ở sân nhà thờ “nhìn” những con chiên dễ thương của Chúa đi dự lễ sáng Chủ Nhật. Trong sân nhà thờ có bức tượng Chúa Kitô với dòng chữ “TA LÀ VUA” dưới chân ông. Tôi mê dòng chữ đó quá. Từ đấy, trên những cái hộp quẹt ZIPPO của tôi, tôi đều thuê thợ khắc “TA LÀ VUA” ở một mặt. Mặt kia khắc cái đầu cọp và ba chữ tên tôi “VƯƠNG MỘNG LONG”. Nay có dịp khắc tên mình lên đá, tôi cũng lặp lại những dòng chữ trên. Cái đỉnh núi này chưa có ai đặt chân tới, tôi chinh phục được nó, tôi xác nhận chủ quyền của tôi đối với nó thì cũng là chuyện hợp lý thôi! Những năm sau, tôi đã nhiều lần bay ngang qua đây, nhiều lần đóng quân trên đỉnh ngọn núi này. Đầu năm 1971 tôi đã đổ bộ TĐ 4 Mike-Force của tôi xuống đỉnh Chư-Pa. Chúng tôi xuống dốc, lục soát men theo bờ đông sông Pơ-Kô tới thác Yaly rồi tiến về trại Lệ-Khánh (Pơlei Kleng). Lần chót, vào tháng 6/1973 tôi nằm năm ngày trên vị trí này để dễ liên lạc truyền tin với toán viễn thám của binh nhất Mok (Viễn Thám/ Phòng 2/BCH/BĐQ/ QK2). Những dòng chữ tôi khắc trên đá vẫn còn đó.
Chư Pa là một ngọn núi cao sừng sững án ngữ một vùng trời miền tây bắc Pleiku. Trên bản đồ tỷ lệ 1 trên 50 nghìn thì Chư Pa nằm cách Plei M’rong hơn một gang tay về bên trái. Đỉnh núi là một tảng đá hình khối chữ nhật, cao cỡ mười mét, dài và rộng cỡ hai chục mét. Đứng trên tảng đá đó, tôi có thể húp từng ngụm mây vào đầy phổi; giơ tay tóm, vén từng sợi mây đang dập dềnh trước mặt; rồi có cảm tưởng mình gần với trời hơn là với đất. Dưới chân tôi, hướng đông bắc là thác Yaly, chính đông là hồ Ia-Lou và trại LLĐB Lý thái Lợi (Plei M’rong), xa hơn là Quốc lộ 14 vòng vèo quanh chân núi. Trong tầm nhìn của tôi, đầu bắc Quốc lộ 14 là đồi Chư Pao. Bên trái và xa hơn Chư-Pao là thành phố Kontum. Cuối nam Quốc lộ 14 là đỉnh Dang Rơia (1478 mét). Bên phải rặng núi này là Biển-Hồ (Pleiku), hậu cứ của Liên đoàn 2/BĐQ. Hướng tây Chư Pa là dòng Sé-San. Giữa dòng Sé-San có một cồn cát và đá, cây cối xanh rì. Bên kia sông, hướng tây-tây-bắc là hai đỉnh Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi. Đàng sau những rặng núi trùng điệp đó là biên giới tỉnh Ratanakiri, Cambot.
Chính hai ngọn Chư Pa (1485 mét) và Cư Ki Tem Da (1528 mét) cao vòi vọi đã ép dòng sông Pơ-Kô vào giữa khiến nó dồn dòng chảy qua một khúc quẹo ngặt nghèo, rồi đổ xuống cái thung lũng xanh tươi vùng tây Plei Djereng. Từ đây con sông Pơ-Kô mang tên mới là sông Sé-San thênh thang. Sé-San là đầu nguồn của sông Bé. Mùa đông, hai ngọn núi Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi mây xây thành trắng xóa. Đỉnh của hai ngọn núi này đoi, chỉ có cỏ tranh, không có cây xanh. Buổi chiều, nắng chiếu ngược từ hướng tây, tạo nên một cái nền đỏ rực sau lưng hai ngọn núi, cho ta cái cảm tưởng hai đỉnh núi là hai cục than hồng, hừng hực cháy giữa không trung. Mặt trời trên đường về quê hương Angkor đã để lại sau lưng nó những tia vàng lóng lánh. Mùa khô Tây Nguyên, đứng trên đỉnh Chư Pa vào lúc chớm đêm, thật là khó phân biệt được đâu là trời, đâu là đất. Ánh sáng lấp lánh, lập lòe trước mặt ta có thể là ánh sao trời, nhưng cũng có thể là ánh lửa từ nương rẫy đang cháy. Đêm không trăng, trước mắt tôi là một không gian bồng bềnh. Tôi lâng lâng trong ảo giác vertigo (chóng mặt). Gió đuổi nhau từng cơn. Trong gió thoang thoảng hương lan rừng. Tiếng thác rì rào có lúc nghe thật gần, có lúc nghe rất xa. Thời gian qua chầm chậm, Chư Pa chìm từ từ xuống biển sương mông mênh.
Sáng N+4 đại đội tôi xuống núi từ khi trời còn tối. Chúng tôi về tới triền nam của Chư Pa vào lúc ban trưa. Tôi dừng quân trên đoạn yên ngựa án ngữ con đường thồ độc đạo ngay đỉnh một cái dốc của vòng cao 900 mét. Sau khi Hoàng Mai rời Đại đội 3/11 để theo cánh B thì Đại đội 3/11 nhổ neo đến với tôi. Tới chiều N+4 thì Đại đội 3/11 bắt tay được Đại đội 1/11. Từ ngày mai, Đại đội 3/11 của Trung úy Quí sẽ giữ nhiệm vụ đi đầu. Tôi báo cho Quí biết sự sai lệch giữa thực địa và bản đồ. Để chắc ăn, Quí cho một trung đội của Đại đội 3/11 vượt qua Đại đội 1/11 đóng chốt cách tôi khoảng hai trăm mét về hướng tây. Sáng mai, từ tiền đồn này, quân của Quí tiến vào mục tiêu 4. Mục tiêu 4 nằm dưới vòng cao 500 mét. Theo dự trù, thì những ngày kế tiếp, cánh A sẽ đổ dốc, vòng qua mục tiêu 4 và 5 cho tới sát bờ Pơ-Kô thì quẹo trái để gặp cánh B nơi bờ sông có cái cồn cát lớn giữa dòng.
Buổi tối N+4, sau khi bố quân, mấy anh trung đội trưởng đã cạn thuốc lá, mon men tới lều tôi vòi tí khói. Lúc nào trong balô của Binh nhất Trung cũng sẵn hai cây Lucky dự trữ. Tôi lấy thuốc lá ra phân phát cho mỗi chàng trung đội trưởng một bao. Tôi đang chuẩn bị ăn cơm tối, nên tôi mời ba anh trung đội trưởng ăn cơm chung. Sau hai ngày leo dốc cật lực, không khói lửa, chỉ ăn cơm vắt, bốn anh em tôi quất hết một nồi cơm và một chén thịt heo kho mắm ruốc. Đêm nay ỷ vào vị trí đóng quân cheo leo, đàng sau có Đại đội 3/11 án ngữ, ba hướng khác đều có tiền đồn, anh em sĩ quan đại đội tôi mới dám tụ họp cùng nhau hơi lâu. Từ sau Mậu-Thân, chiến trường càng ngày càng khốc liệt; những sĩ quan lớn tuổi đã theo nhau rời khỏi đơn vị tác chiến. Hiện thời, chúng tôi là lớp sĩ quan trẻ nhất trong các thế hệ đã đi qua Tiểu đoàn 11/BĐQ này. Cùng trang lứa, chúng tôi dễ hoà hợp và thông cảm nhau. Chín mươi phần trăm sĩ quan của tiểu đoàn hiện nay còn độc thân. Trong rừng, chúng tôi chiến đấu bên nhau. Về hậu cứ, chúng tôi cũng không rời nhau. Giàn sĩ quan trung đội trưởng của tiểu đoàn, dẫn đầu là những kiện tướng, trưởng thành từ khói lửa Mậu-Thân như Thiếu úy Đinh quang Biện (ĐĐ1/11), Thiếu úy Phan văn Hải (ĐĐ2/11), Thiếu úy Trần Cao Chánh (ĐĐ3/11) và Thiếu úy Trần ích Châu (ĐĐ4/11) là những mũi tên đột phá trong thế công, thành đồng trong thế thủ của chúng tôi thời gian này. Trong rừng, chúng tôi là nỗi kinh hoàng của giặc Cộng, nhưng trong thành phố, chúng tôi thường xuyên là người thua trận, mỗi khi “đụng đầu” mấy ông già Napoléon, Hennessy, Martell, hay Johnny Đi Bộ (Walker). Chuyện chúng tôi ngất ngưởng coi trời bằng vung, chuyện Biệt Động Quân say, tỉnh, tỉnh, say, chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện”, không có gì là lạ. Vì những ai đã từng vỗ ngực tự xưng “Ta là Biệt Động Quân” mà đời chưa từng kinh qua một lần “túy lúy càn khôn” thì đâu xứng danh là Biệt Động?(!) Ở Pleiku, có những cái tên đã thành thân quen đối với chúng tôi như “Quán Nhớ”, “Quán Sương”, “Quán Thu Hà”, “Quán Kim Liên”, “Quán Tuyết Trắng”…
Sau năm ngày đi đầu vất vả, ngày N+5 tôi cho thuộc cấp thoải mái, chuẩn bị cơm nước, hong giầy, hong vớ. Đợi Đại đội 3/11 chiếm xong mục tiêu, tôi sẽ cho đơn vị từ từ di chuyển lên sau. Anh em đơn vị tôi đang phì phà khói thuốc, nhấm nháp cà phê thì nghe tiếng AK nổ hướng tiến quân của đại đội bạn, phía cuối dốc. Tôi không nghe tiếng Quí trả lời tôi trên máy tiểu đoàn. Tôi và Thiếu úy Biện dẫn theo hai cái máy truyền tin đi về hướng đuôi Đại đội 3/11. Tôi gặp Thiếu úy Thung, trung đội trưởng đoạn hậu của Đại đội 3/11. Thiếu úy Thung mặt thất sắc, lắp bắp báo cho tôi một tin sét đánh, “Trung úy đại đội trưởng và Thiếu úy đại đội phó chết rồi! Đại ca ơi!” Tôi gạt Thung qua một bên. Bốn thày trò tôi chạy thẳng xuống cuối dốc. Tôi tới ban chỉ huy Đại đội 3/11 đúng vào lúc toán tản thương đang dìu một người máu me đầy mình đi tới. Vừa thấy tôi, người bị thương đã khóc rống lên, “Thái Sơn ơi! Thầy Quí, thầy Tâm chết rồi!” Người đó là Hạ sĩ nhất Trần Quy. Hạ sĩ Quy là thuộc cấp cũ của tôi ở Đại đội 3/TĐ11/BĐQ khi tiểu đoàn còn ở Đà-Nẵng, ngày tôi mới ra trường. Những đồ đệ cũ của tôi ở Đại đội 3/11 đều được Trung úy Quí tin dùng. Hạ sĩ Quy kể lại rằng, sáng nay trước khi lên đường, Trung úy Phan ngọc Quí đại đội trưởng và Thiếu úy Nguyễn hữu Tâm đại đội phó đã ra trước tiền đồn khoảng vài chục thước để quan sát hướng đi và so sánh sự khác biệt giữa bản đồ và thực địa. Trinh sát VC đã nằm chờ sẵn nơi cuối dốc. Cả hai sĩ quan và anh lính truyền tin đều bị bắn trúng sọ và ngực ngã xuống. Riêng Hạ sĩ Quy, cận vệ của Trung úy Quí bị bắn gãy tay trái và một viên đạn vào ngực Quy chạy trối chết về tiền đồn kêu cứu. Khi toán cứu viện ra tới nơi thì hai ông sĩ quan và anh hiệu thính viên đã chết. Cái bản đồ hành quân, cặp lon trung úy của Quí và cái máy truyền tin đã bị địch cướp đi. Tôi ra lệnh cho Thiếu úy Thung bố trí Đại đội 3/11 tại chỗ chờ lệnh. Được tin báo của tôi, Hoàng Mai ngỡ ngàng, thở dài thườn thượt. Sau khi trực thăng tải xác, tải thương cất cánh, tôi được lệnh hủy bỏ hai mục tiêu còn lại. Liên đội A quay ngược trở về dốc 900. Đại đội 1/11 nằm lại tại dốc này qua đêm; riêng Đại đội 3/11 được lệnh di chuyển sang phòng thủ ngọn đồi nhỏ hướng tây nam, dưới chân dốc 900 để chuẩn bị bãi đáp cho bộ chỉ huy liên đoàn vào vùng.
Sáng N+6 Trung tá (k11VB) Trịnh văn Bé liên đoàn phó và ban truyền tin liên đoàn xuống bãi thả trên đỉnh ngọn đồi cao 740 mét, dưới chân tôi. Trung tá Bé thiết lập bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn ngay trên bãi đáp này. Chiều đó, chúng tôi được tái tiếp tế. Đêm N+6, Trung đội 2 của Chuẩn úy Danh trấn giữ tiền đồn dốc 900 trên cao. Đại đội 3/11 và Đại đội 1/11 trừ (-) của tôi có nhiệm vụ bảo vệ bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn. Tôi không rõ cánh quân B đang ở nơi nào.
Khoảng 7 giờ sáng N+7 tiền đồn trên đỉnh 900 bị địch tấn công. Địch nổ súng sau khi quân bạn đã tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ. Từ dưới chân đồi, chúng tôi thấy rất rõ khói B40 không ngừng bốc lên từng cụm sau những tiếng nổ “oành! oành!” liên tiếp nhau. Tôi và hai Trung đội 1 và 3 chạy vội lên đồi để tiếp cứu cho đứa con đang bị đánh. Thiếu úy Biện (Trung đội 3) đánh bọc bên trái, tôi và Thiếu úy Vi (Trung đội 1) đánh bọc bên phải. Vừa ngóc đầu lên khỏi dốc, tiền quân của Vi đã bị thủ pháo VC chào đón nồng nhiệt. Khói và bụi làm cho cặp kiếng cận của ông trung đội trưởng mờ mịt. Trên đường, Vi phải ngừng chân lau kiếng nhiều lần. Thủ pháo của VC tới tấp chọi vào khu những mô đá nhô ra bên hướng đông. Thiếu úy Vi cho đàn em trả đũa bằng những quả M26. Lợi dụng gió đang thổi theo chiều tây-đông, Vi “chơi” luôn hai trái lựu đạn khói cay bên hông phải ngọn đồi. Cơn mưa thủ pháo chợt ngừng. Trong lúc tôi và Trung đội 1 của Thiếu úy Vi đang cố vượt đoạn đường đầy gai mắc cỡ thì đạn B40 liên tục “xè! xè!” từ triền bắc, bay qua đầu chúng tôi, rơi xuống triền nam, nổ dưới thung lũng. Quân của Chuẩn úy Danh đang reo hò “Sát! Sát!” trên cao. Tôi bắt tay được với Trung sĩ nhất Khôi trung đội phó Trung đội 2 nơi đầu dốc. Khẩu M60 của Binh nhất Trần Đợi đã ròn rã nổ, kiểm soát con đường voi thồ hướng bắc, dưới chân dốc.
Trong lúc tôi bận tiếp tay một tân binh chuyền thùng đạn đại liên cho xạ thủ thì một quả B40 bay sượt đầu thằng Đợi, trúng tảng đá trên đỉnh. Trái đạn nổ gây một đợt mưa đá bụi trên đầu những người núp quanh chân tảng đá. Phút sau, bên trái tôi có tiếng khóc thút thít, “Trung úy ơi! Em bị thương!” Một Biệt Động Quân đang ôm mông, nằm nghiêng sau bụi dương xỉ, mặt người đó tái mét. Người lính quay về phía tôi chờ đợi. Uả! Ai mà giống như thằng Hồng, một tân binh? Tôi trườn nhanh tới bên người lính. Đúng nó rồi! Binh nhì Lê văn Hồng, mười tám tuổi. Thằng Hồng là em của cô Lê kim Cương ở Chợ Mới, Pleiku. Cô Lê kim Cương, nữ sinh trung học Minh-Đức là bồ của một thằng bạn tôi ở bộ chỉ huy Liên đoàn 2/BĐQ. Tôi nghĩ có lẽ thằng Hồng bị thương nặng. Phải mất nhiều máu lắm mặt nó mới xanh như vậy. Tội nghiệp thằng bé, mới ra trận lần đầu! “Đạn trúng chỗ nào đâu? Đưa anh coi! Anh băng bó cho chú!” Thằng Hồng vừa sụt sịt vừa ôm mông, “Chỗ này! Máu ra ướt đẫm cả quần em! Trung úy ơi! Trung úy cứu em!” Tôi lật mông nó ra coi. Trời ơi! Mông nó ướt đẫm! Nhưng không phải ướt vì máu! Nước chảy từ cái bi đông bị đạn làm cả nửa người bên trái thằng Hồng ướt đẫm! Tôi mừng quá, đẩy nó sang một bên, “Ê! Cái đồ chết nhát! Cái bi đông bị thương chứ nhỏ có bị thương đâu! Mắc cỡ! Đừng nằm vạ nữa! Nhào lên đi!” Thằng Hồng đỏ mặt lồm cồm bò dậy, lủi lên hướng ông Trung sĩ Khôi trung đội phó. Hướng Trung đội 3 đang tiến, đạn nổ rền trời. Giữa ba tảng đá nơi đỉnh đồi là cái lều của trung đội trưởng. Ông trung đội trưởng bị thương nằm một mình trong lều rên hừ hừ. Anh y tá của trung đội còn đang bận bóp cò M16 chống giặc ngoài hố cá nhân. Tôi thấy Chuẩn úy Danh đang tay trái ôm hạ bộ, tay phải ôm vai trái, mặt mày nhăn nhó vì đau. Áo quần của người sĩ quan trẻ đầy vết máu.
Tôi ra dấu cho Trung sĩ Đức, y tá đại đội vào lều chăm sóc cho Danh. Tôi nhảy ba bước tới triền đồi hướng bắc. Trên mặt đất đầy những lỗ lõm như bàn tay, cỏ cháy nám đen, đó là dấu thủ pháo vừa để lại sau khi nổ. Trung đội 3 của Thiếu úy Biện đã lập xong tuyến phòng ngự bên trái. Những cái hố cá nhân đang hình thành. “Vừa đánh vừa đào” là phương châm của đại đội tôi. Những trái lựu đạn M26 được thả theo đuôi nhau lăn từ trên dốc xuống triền núi. “Ùm! Ùm!” khói đen cuồn cuộn. Chợt dưới chân dốc, hai ba hỏa châu phụt lên trời, đấy là những hỏa châu đỏ giựt bằng tay của VC. Rồi tiếng súng của địch thưa dần, xa dần về hướng tây bắc. Tôi nhận biết ngay rằng hỏa châu đỏ là hiệu lệnh rút lui của chúng! Sau đó, tiếng súng của ta cũng im theo.
Trận đánh nhanh như chớp. Đây là một cú đột kích rồi rút chạy của địch. Tôi không xin pháo binh. Rừng núi bao la, biết chúng nó rút đi đâu mà gọi pháo binh? Tôi cũng chẳng thèm ra lệnh truy kích. Nếu tôi dẫn quân đi mà để trống cái tiền đồn này thì nguy hiểm lắm. Chỉ cỡ hai đại đội địch chiếm được cao điểm này thì dưới kia, bộ chỉ huy liên đoàn chết tươi. Trung đội 1 lục soát xa dưới triền dốc chỉ tìm được một khẩu B40 và một số thủ pháo. Vết máu rơi rớt đầy mặt đất nhưng không có xác thằng VC nào bị bỏ lại. Tôi chui vào lều thăm Chuẩn úy Danh. Tôi hỏi nhỏ Trung sĩ Đức, “Nặng không?” Người y tá đại đội nhanh miệng, “Trình trung úy, máu me tùm lum nhưng vết thương không nặng lắm đâu! Toàn miểng B 40 không à!” Thấy Danh đang ôm hạ bộ nhăn nhó, tôi hỏi Đức, “Thế cái ‘của qúy’ của chú ấy có còn không?” “Dạ còn! Chuẩn úy cứ sợ đạn hớt cái đó mất tiêu nên ổng bắt em khám cái đó trước tiên. Khi nhìn thấy của quý còn nguyên vẹn ổng mới yên tâm cho em băng bó chỗ khác.” Tôi mồi cho Danh điếu Lucky và dúi vào tay người đàn em tờ giấy năm trăm, “Cái này là của anh cho, để cầm hơi khi xa đơn vị. Khi tiêu hết tiền thì nói ông Trung sĩ Em (tiếp liệu) ứng trước cho, cuối tháng trừ vào lương” Danh cầm tay tôi bịn rịn rồi chào tôi, lên cáng xuống bãi tản thương.
Tôi đi quanh vị trí đóng quân của Trung đội 2, kiểm lại số chiến lợi phẩm khiêm nhường mới thu được. Trung tá Bé đã vào máy theo dõi diễn tiến trận đánh từ phút khởi đầu. Ông liên đoàn phó cho lệnh tôi giữ nguyên Đại đội 1/11/BĐQ trấn giữ cao điểm này. Ông căn dặn tôi giăng mìn bẫy phòng thủ cẩn thận vì tin A 2 cho biết địch đang chuẩn bị đánh lớn tối nay. Mờ sáng N+8 Trung tá liên đoàn phó cho lệnh tôi không cần tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ nhưng rút quân thật nhanh xuống với bộ chỉ huy liên đoàn. Trung tá Bé gọi tôi vào lều của bộ chỉ huy liên đoàn để gặp riêng. Ông nói nhỏ, “Đúng 8 giờ 6 phút 12 giây, B 52 sẽ đánh rất gần đây. Cỡ 8 giờ chú cho anh em ngồi trên miệng hố, xoay lưng về hướng đông. Bom nổ, chấn động sẽ tới từ sau lưng. Tránh núp dưới hầm hố. Khi bom nổ áp suất không khí dưới hố sẽ tăng cao, nguy hiểm.” Tôi nghe lệnh và thi hành thật nghiêm chỉnh. Khoảng hơn 8 giờ sáng hôm đó tôi nghe từ trên trời cao những tiếng chim lạ gọi nhau “ủn! ủn!…ủn! ủn!” âm thanh lạ xé gió dội tới từng đợt nối tiếp. Sau đó là tiếng “bùng! bùng!… bùng! bùng!” ba đợt nổ rền, mỗi đợt cách nhau chừng vài chục giây đồng hồ. Tai tôi bị sức ép không khí làm căng màng nhĩ. Mạch máu đầu tôi như căng lên. Ngực tôi bị ép hơi nghẹt thở. Những cái poncho rung phần phật. Một vài cái lều bị đứt giây. Mấy cái võng không người nằm bị sức bom đẩy chao qua chao lại. Ít phút sau tình hình trở lại bình thường. Trên trời có 3 vệt khói phản lực trắng xóa, 3 cánh B52 sáng như bạc đang quẹo chữ “U” về đông.
B52 vừa đánh xong, chúng tôi lại được lệnh chạy ngược lên ngọn tiền đồn. Dưới thung lũng hướng đông bắc, khói và bụi đỏ bốc cao. Bụi lùa trong rừng cây. Mưa bụi đỏ phủ trùm một vùng rừng bát ngát. Lều bạt, đá núi, mặt đường đều được phun lên trên một lớp bụi đỏ dầy. Mặt mũi, áo quần chúng tôi cũng đầy bụi đất. Box B52 nằm ngay dưới chân Chư Pa nhưng tôi chờ hoài không thấy lệnh đi lục soát. Chúng tôi ôm súng ngồi bên hố cá nhân. Người này ngó người kia. Chúng tôi hút thuốc đốt thời giờ. Thời gian qua thật chậm. Chúng tôi ngồi im lặng nghe ngóng. Chỉ có tiếng gió lùa, tiếng cây cọ vào nhau kẽo kẹt. Không có lệnh gì cả. Suốt ngày hôm đó không có lệnh gì cả. Bên cánh B, liên lạc truyền tin cũng im lặng như tờ. Nửa đêm, Trung tá Bé cho tôi biết sáng hôm sau bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn sẽ di chuyển, đại đội tôi được trả lại cho tiểu đoàn.
Trời vừa tan sương mù, ngày N+9 chiếc HU1D Hoa Kỳ đầu tiên đã loạng quạng chặt vào cây lúc hạ cánh. Chiếc tàu bổ nhào xuống bãi. May mắn tàu không bốc cháy. Phi hành đoàn vô sự. Chiếc tàu thứ nhì được gởi xuống để rescue phi hành đoàn của chiếc tàu vừa rơi đã không xuống được. Nó đang bay vòng vòng chờ trên trời. Ghunships hộ tống rà sát ngọn cây. Những xạ thủ trực thăng võ trang đã nhận ra chúng tôi đang nằm trên núi, họ quơ tay vẫy. Trung tá Bé cho lệnh một trung đội của Đại đội 3/11 hè nhau đẩy chiếc HU1D hư xuống triền đồi để dọn bãi trống cho những chiếc khác xuống bốc quân. Đến gần hai giờ chiều thì bộ chỉ huy liên đoàn ra khỏi vùng. Liên đội A được lệnh di chuyển theo hướng tây về phía bờ sông. Tôi cho Đại đội 3/11 đi trước, Đại đội 1/11 giữ nhiệm vụ đoạn hậu. Chúng tôi đốt chiếc trực thăng hư lúc trung đội chót rời bãi đáp. Khi chúng tôi còn cách bộ chỉ huy tiểu đoàn chừng hơn một cây số thì Đại đội 3/11 được lệnh tách ra, nhập với một cánh quân của liên đội B để bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn. Chiều đó đại đội tôi dừng quân trên một bình nguyên thoai thoải, cách bờ Pơ-Kô chừng bốn cây số. Cánh B nằm về hướng tây bắc của tôi, bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại đội 3/11/BĐQ nằm về hướng tây của tôi. Đêm trôi qua một cách thật yên tĩnh, không có pháo quấy rối, không có hỏa châu, hoả long.
Sáng N+10, vừng dương vừa lên, hướng bờ sông có tiếng súng nổ. Tiếng mìn, lựu đạn, đại liên, trung liên, súng tay, súng cối, âm vang vách núi dội ra ầm ầm hỗn độn. Đại bác Hoa- Kỳ từ hướng đông và nam không ngừng bắn yểm trợ cho quân ta. Hai Đại đội 2&4 đang bị địch tấn công ác liệt. Bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại đội 3/11 nằm trên một ngọn đồi nhỏ, chừng hai trăm mét về hướng nam liên đội B nhưng vẫn còn bình yên. Hiện thời toàn bộ Tiểu đoàn 11/BĐQ có mặt trong vùng này. Đại đội tôi ở xa nhất cũng chỉ cách liên đội B chưa tới hai cây số. Hoàng Mai đang liên lạc với L19. Máy bay Hoa-Kỳ đã có trên vùng và bắt đầu đánh bom trên con suối hướng bắc cánh B. Tôi cho đơn vị cuốn lều, gọn ghẽ, chuẩn bị chờ lệnh tiểu đoàn trưởng. Tôi chợt nghe người hiệu thính của Đại đội 4/11 kêu cứu, “Tụi nó (VC) đang lên ào ào. Thẩm quyền Kỳ Sơn bị thương rồi. Thẩm quyền Lam Sơn nói nếu không có cứu viện thì ổng tự tử!” Kỳ Sơn là Thiếu úy Lũy (ĐĐT2/11), Lam Sơn là Trung úy Lạn (ĐĐT4/11) Tôi bàng hoàng, “Như vậy là liên đội B bể tới nơi rồi! Họ đang chờ cứu viện.”
Không đợi lệnh của tiểu đoàn trưởng, tôi cho đại đội cấp tốc lên đường. Trung úy Nguyễn Lạn là bạn cùng khóa 20 VB với tôi. Tôi nghĩ thầm, nếu chậm chân, có thể tôi sẽ không bao giờ còn trông thấy người bạn thân của mình nữa. Quá nóng lòng vì bạn, tôi cho đại đội hàng một, cắm đầu chạy về hướng súng nổ, bất kể chiến thuật chiến lược gì ráo trọi. Để trấn an quân bạn, tôi chụp cái ống nghe, phát thanh bổng, “Cố lên chút xíu! Có Thái Sơn tới cứu!” Nghe được tiếng tôi trên máy, người hiệu thính của Đại đội 4/11 mừng rỡ gọi, “Thái Sơn lên mau đi! Cứu tụi em với!” Tôi vội trả lời, “Thái Sơn tới ngay! Sắp tới rồi!” Tôi ra lệnh cho Binh nhì Nguyễn Nhường, hiệu thính viên truyền tin của tôi cứ lặp đi, lặp lại câu, “Đại đội 1 đây! Đại đội 1 đây!” suốt thời gian chúng tôi trên đường tìm tới vùng có giao tranh.
Xuống khỏi ngọn đồi đóng quân đêm, chúng tôi vừa chạy, vừa tác xạ hai bên con đường thồ dẫn về hướng liên đội B. Cũng may, trên đường tiến, chúng tôi không gặp lực lượng chặn viện nào của VC. Không bao lâu sau, tiền quân của tôi đã tới chân ngọn đồi đóng quân của bộ chỉ huy tiểu đoàn. Từ đây tôi có thể quan sát rõ ràng địa thế chiến trường trước mặt. Ngọn đồi mà liên đội B đang cố thủ rất rậm rạp, nhưng xung quanh nó lại rất trống trải. Từ xa, tôi có thể nhìn thấy cái chỏm xanh của ngọn đồi tre nứa đó nổi bật giữa vùng đá đen xen kẽ cỏ tranh và cỏ hôi. Giờ này từ cái chỏm xanh đó đang bốc lên từng cột bụi, khói mịt mù. Những trái đạn cối toé lửa khi nổ trên nhánh cây, những cánh B40 phụt khói khi chạm đất. Đạn lửa của địch từ ba hướng, bắc, đông bắc, và tây bắc đồng quy trên chòm cây xanh đó. Vũ khí bắn thẳng của địch đa phần là thượng liên nồi RPD. Tôi không nghe tiếng 12,7 ly và đại bác 57 ly; trong khi tiếng đạn cối thì nổ “ùm! ùm!” liên lục không ngừng.
Tôi quyết định không vội bắt tay với cánh B. Tôi sẽ mở một mũi tấn công giải tỏa áp lực địch từ bên trái. Chúng tôi dàn hai hàng ngang tiến sát chân đồi. Miệng la, “Đại đội 1 đây!” “Biệt động! Sát!” “Đại đội 1 đây!” “Biệt động! Sát!” chúng tôi vừa bắn vừa tiến lên triền núi bên trái khu rừng nứa. Trung đội 3 tiến như vũ bão lên đỉnh trọc bên trái khu giao tranh để lập đầu cầu. Khẩu M60 tăng cường cho Trung đội 3 bắt đầu khạc đạn. Tất cả các loại súng bắn thẳng đều tác xạ về hướng 45 độ để cản đường tiến của địch. Việt-Cộng biết viện binh của BĐQ đã tới, nên chúng gia tăng cường độ tấn công, mong sớm dứt điểm hai đơn vị BĐQ đã bị thiệt hại nặng. Những khẩu cối của địch bắt đầu chuyển hướng, nhắm vào tuyến dàn quân của đại đội tôi. Chúng tôi lại tiếp tục câu châm ngôn “vừa đánh vừa đào”. Tôi không dám cho quân vượt qua đỉnh đồi. Vì nếu liên đội B bị tràn ngập thì tôi hết đường lui. Tôi cho Trung đội 1 an ninh mặt sau, phòng hờ trường hợp địch vận động đánh bọc hậu. Tôi ra lệnh cho Trung sĩ Tánh, trung đội trưởng súng nặng xoay khẩu cối 60 ly của Binh nhì Ngẫu bắn cận phòng một vòng cung ngay chân đồi, hướng trước mặt. Đạn cối 60 ly nổ “ùm! ùm!” ngay dưới dốc. Địch đang xung phong lên tuyến phòng ngự của liên đội B. Những tiếng thét man rợ “Xung phong! Xung phong!” dội vào vách núi, vang vang.
Từ trên đỉnh ngọn đồi trống, tôi có thể quan sát bao quát hết khu thung lũng hướng bắc cánh B. Tôi thấy rõ từng đợt người từ thung lũng chạy lên dốc; những thân hình tưng lên, rũ xuống vì trúng đạn. Tôi xin anh Đàm dồn hết hỏa lực không quân yểm trợ tiếp cận vào khu lòng chảo nằm giữa dãy đồi móng ngựa. Tôi điều chỉnh Cobra đánh sát triền núi hướng bắc để giải tỏa áp lực của VC. Những tràng đạn 40 ly từ Cobra trải xuống như pháo dây đã chặn đứng đợt biển người sau cùng của địch quân. Hơn nửa giờ sau tôi kiểm soát được phần tây bắc của ngọn đồi. Việt-Cộng đã tổn thất rất nặng. Nơi triền dốc trước mặt tôi, máu địch ngập mặt đất, đọng thành vũng. Băng cứu thương bay phất phới, vướng vào những bụi nứa và dương xỉ như những dải lụa trắng, lụa đỏ. Dưới thung lũng có ít nhất ba vị trí súng cối 61 ly đặt cách nhau chỉ vài mét. (Súng cối của ta nòng 60 ly, lá thuốc bồi hình vuông; súng cối của địch nòng 61 ly, lá thuốc bồi hình vành khăn hở).
Trong trận này, VC đã bắn cối 61 ly không cần thuốc bồi (bồi 0) vì khoảng cách từ súng tới liên đội B chưa đầy hai trăm thước. Những khoanh thuốc bồi cối 61 không dùng tới bị vứt đầy mặt đất. Hai khẩu RPD bị bắn gãy nát nằm cạnh một bàn tiếp hậu cối 61 cong queo vì trúng rocket của trực thăng võ trang. Gần chục khẩu súng cá nhân của VC bị bỏ lại trên trận địa, khẩu nào cũng bị gãy vì trúng đủ loại đạn. Rải rác trên mặt đất, cả chục xác địch chưa kịp đem đi. Trên cổ vài tử thi VC có cột một sợi dây dù dài. Đây cũng là cách chúng di chuyển xác trong trường hợp khẩn cấp. Tuyến xung phong của VC trải rộng từ triền đông sang triền tây của ngọn đồi cỏ hôi, nứa tép. Chiều dài này đòi hỏi lực lượng tham gia tấn kích phải có quân số trên dưới một tiểu đoàn. Như vậy chúng phải có ít nhất một tiểu đoàn trừ bị đàng sau. Khi áp lực địch hướng tây bắc được giải tỏa, thì Trung úy Nguyễn Lạn bình tĩnh trở lại. Anh xin tôi bung xa vòng kiểm soát về bắc để anh an tâm chấn chỉnh lại quân số. Tôi cho Trung đội 2 bung rộng về bên phải bắt tay với cánh trái của Đại đội 2/11. Thiếu úy Trần Lũy ra tới bìa rừng để gặp tôi. Anh Lũy bị thương tay trái. Anh Lũy báo cho tôi biết rằng liên đội B bị thiệt hại khá nặng. Số tử thương không bao nhiêu, nhưng bị thương thì nhiều lắm.
Bom Mỹ đánh sát bìa suối hướng bắc và chuyển ra xa dần. Cobra đang vần vũ trên cao. Đại úy Đàm ra lệnh cho tôi tiến theo từng đợt bắn của Cobra để truy kích địch. Đội hình một hàng ngang, đại đội tôi tiến rất thận trọng. Thấy tôi không đủ quân để kiểm soát một vùng rộng lớn, đại úy tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Lạn phải tiến lên truy kích địch phụ với tôi. Vì Đại đội 4/11 đã thiệt hại nhiều, nên tôi cáng đáng phần nặng đi đầu. Tôi cho quân của anh Lạn theo sau. Đại đội 4/11 của Trung úy Lạn quân số còn quá ít, coi như bất khiển dụng rồi. Quay đầu nhìn lại, tôi thấy anh bạn cùng khóa của tôi đi thất thểu như người mất hồn. Truy kích địch trong tình trạng này quả là một sự mạo hiểm. Chúng tôi bị lọt thỏm trong một thung lũng lác đác nứa tép xen với những cây cọ non. Không có gì để che dấu, ẩn nấp. Hai bên trục tiến của chúng tôi là đồi cao. Hông trái, hông phải của chúng tôi bỏ trống. Tôi có cảm tưởng như mình có thể bị lãnh đạn, chết bất cứ lúc nào. Trong khi đó, dưới chân tôi, đầy rêu trơn trượt; chúng tôi bị té oành oạch mỗi khi chạy nhanh quá đà. Tiến nhanh thì vướng rêu trơn té ngã. Tiến chậm thì làm mục tiêu cho địch bắn. Hỏa lực trì hoãn chiến của VC rất ác liệt. Cộng quân bố trí thượng liên RPD xen kẽ B41 dưới khe, từng cụm, cách nhau vài chục mét. Chúng chỉ khai hỏa khi ta lọt vào xạ trường mà chúng đã dự trù. Cung cách tác chiến của địch cho ta thấy đây là một đơn vị rất thiện chiến. Đạn RPD không đan nhau mà quét đều như vãi lúa trước mặt đoàn quân đang tiến tới. Mí mắt tôi chợt giựt lia lịa, linh tính nhạy bén của tôi đang cảnh báo cho tôi một tai biến đang chờ. Rất có thể địch đang nhử đơn vị tôi đi sâu vào khu lòng chảo trước mặt để chúng vận động đánh úp.
Tôi quyết định cho đơn vị tạm dừng. Tôi xin đại úy tiểu đoàn trưởng cho Đại đội 3/11 xuống tiếp tay, để tôi rảnh rang đánh bọc hông bên trái. Ngọn đồi đá đen bên trái trục tiến quân là mối đe dọa lớn cho đoàn quân đang di chuyển trong cái thung lũng trống trải dưới này. Vài phút sau, tôi nghe tiếng Trung úy Hồ Bé (ban 3) báo cho tôi biết rằng anh và Đại đội 3/11 đang xuống đồi. Trung úy Hồ Bé (k18 Thủ Đức) nguyên là đại đội trưởng 2/11. Anh vừa bàn giao đại đội cho Thiếu úy Lũy để về bộ chỉ huy làm ban 3 thay Trung úy Phạm văn Lương đã thuyên chuyển. Tôi không rõ đại úy tiểu đoàn phó Lê văn Để (k16 Thủ Đức) có đi hành quân kỳ này hay không mà từ ngày đầu cho tới giờ, tôi không nghe Hoàng Yến lên máy (Hoàng Yến là danh xưng truyền tin của Đại úy Lê văn Để) Như vậy là bốn đại đội tác chiến đều lên tuyến đầu, nhưng bộ chỉ huy tiểu đoàn vẫn ở lại ngọn đồi cũ. Liên đoàn đã cho Đại đội 3/TĐ 22/ BĐQ của Trung úy Quách hồng Quang đang hoạt động vùng hướng nam, tới bảo vệ bộ chỉ huy TĐ11/BĐQ để Đại úy Đàm và cố vấn Mỹ có thể bình tâm điều chỉnh máy bay yểm trợ cho chúng tôi.
Trong lúc máy bay bắn phá thì Đại đội 3/11 di chuyển lên thay thế Đại đội 4/11. Quân số của Đại đội 3/11 vẫn còn đầy đủ. Tôi nhờ Trung úy Bé cho đơn vị chiếm dãy đồi cao bên phải trục tiến quân, rồi cho đơn vị bắn liên tục về phía trước để thu hút sự chú ý của địch quân. Yên trí có quân bạn bảo vệ cạnh sườn, tôi cho Đại đội 1/11 xung phong lên khu đất cao bên hướng tây. Một đơn vị địch đang án binh chờ chúng tôi trên rặng đồi đá đen này. Khi đại đội tôi vừa áp sát bìa rừng thì vấp phải một hàng rào lửa AK và B40 dày dặc. Giờ đây muốn sống còn, chúng tôi chỉ có một con đường độc nhất là ào lên chiếm cho được cái đỉnh móng ngựa này. Dưới chân tôi toàn là đá cuội lởm chởm, vô phương moi hầm hố để bám đất. Chúng tôi đành nương núp sau những gốc cọ, quần thảo với kẻ thù. Sau mỗi mô mối là một tổ đề kháng của VC, với hai AK và một B40. “Xẹt!” “Xẹt!” “Oành!” “Oành!” Quanh tôi, lửa chóa liên tục. Hai cái cần ăng ten máy truyền tin của tôi là mục tiêu thu hút những cánh đạn B40, B41. Tôi và hai anh hiệu thính viên phải thay đổi vị trí liền liền. Không ai dám bám trụ một chỗ trong thời gian lâu quá vài phút. Trong rừng, bóng người di chuyển, thoáng ẩn, thoáng hiện, như bóng ma. Đại đội 1/11BĐQ đang ăn thua đủ với một địch thủ “ngang cơ” trong một địa thế lạ. Không quân Mỹ bó tay, súng cối của Việt Cộng cũng bó tay, vì lúc này bạn và địch đang xen kẽ nhau trong rừng rậm. Trận đấu trở nên quyết liệt. M16 chọi với AK 47, AK 66. Lựu đạn M26 chọi với thủ pháo. M26 công phá mạnh hơn thủ pháo, nhưng bù lại, Việt Cộng có B40, B41.
Trong rừng cọ, Biệt Động Quân và Việt Cộng đã say khói súng, đánh vùi. Cây, cỏ, đá, gò làm giảm phần hữu hiệu của vũ khí bắn thẳng. Trong cuộc đọ sức giành giựt ngọn đồi này, lựu đạn M26 trở thành đáng sợ nhất. Khéo léo thảy một trái M26, làm sao cho nó nổ ngay khi rơi sau một mô mối là ta chắc chắn loại được một mắt lưới chính của hệ thống phối hợp hỏa lực của địch quân. Chúng tôi liên tục chuyển đổi vị trí ẩn nấp tác chiến, rồi thận trọng tiến lên. Đây là một cuộc so tài đòi hỏi đấu thủ phải có đủ những đức tính kiên trì, bén nhạy và lanh lẹ. Dần dà, trên đấu trường, lựu đạn M26 và M16 đã chiếm ưu thế, lấn lướt, dồn AK và B40 lui dần về hướng bờ suối. Tôi cho Trung đội 1 lên thay cho Trung đội 3, tiếp tục dồn ép Cộng quân xuống khe. Trung đội 2 được lệnh nép sát bìa rừng rồi đánh bọc ngang hông phải của địch. Giờ này khu cuối đồi, đạn nổ ầm ầm và khói bay khét lẹt. Cái đuôi ngọn đồi đá đen quả là khúc xương khó nuốt. Một cái hầm hàm ếch đã được địch moi giữa mô mối và hai gốc cọ. Tổ kháng cự của VC trụ ở đây đánh dai như đỉa đói. Ẩn mình sau một gốc cọ sát bìa rừng, ông Hạ sĩ nhất Mãng đang chuẩn bị 10 quả M79 đạn nổ. Xạ trường trước mặt ông hoàn toàn trống trải. Ông Mãng tì súng lên vai. Ông nhắm bắn từng quả đạn vào thân hai cây cọ. Ông hạ sĩ người Nùng (Voòng A Mãng) của Trung đội 2 không hổ danh là một xạ thủ M79 “thần sầu”. Mười quả đạn nổ của ông không nhắm vào thằng VC nào, nhưng khi đạn trúng thân cọ, đạn nổ, mảnh đạn đã chụp xuống cái cửa hầm hàm ếch, người ngồi trong hầm hết ngáp! Khi biết chắc chắn bọn cảm tử VC cản đường đã chết, Trung đội 2 mới dám chui ra chiếm giữ bãi cỏ cuối đồi. Nơi đây máu tươi loang từng cụm và ướt đẫm từng vạt tranh.
Sau khi tôi chiếm được khu rừng lá cọ hướng tây thì cường độ hỏa lực của địch giảm thấy rõ. Bên kia thung lũng, quân của Trung úy Hồ Bé cũng đang tiến lên cái dốc đông của dãy đồi móng ngựa. Chúng tôi vừa tác xạ vừa lấn xuống triền bắc của ngọn đồi. Tới khu cỏ lau trên bờ nam của con suối, tôi báo cho đại úy tiểu đoàn trưởng biết rằng trước mắt tôi, bên kia suối là rừng già, vào đó không có lợi và rất nguy hiểm. Từ hướng rừng rậm trước mặt, bên bờ bắc, có tiếng “lép! bép!” do lửa cháy, xen lẫn tiếng nổ “bùng! bùng!” từng chặp. Máy bay L19 báo cáo rằng kho đạn VC đang nổ. Tiếng Hoàng Mai trong máy ra lệnh, “Thái Sơn cho kiểm chứng vụ kho đạn địch nổ xem sao!” Tôi chưa kịp trả lời thì Binh nhì Nguyễn Nhường truyền tin đã xô tôi một cái thật bất ngờ.
Tôi té ngã nghiêng trên mặt đất. Một tràng RPD xé màng tai. Đạn bay chiu chíu sát trên mình tôi. Tiếp theo là tiếng B40 và AK nổ ầm ầm ngay bờ suối. Tôi nằm chịu trận sau một mô đá. Bên cạnh tôi, Binh nhì Nguyễn Nhường đang ngáp ngáp. Tôi hét lớn, “M79 đạn chài! M79 đạn chài!” Những xạ thủ M79 phản ứng rất nhanh. Sau một loạt, “Pinh! Pinh! Pinh!” tiếng súng bên kia suối của VC im hơi. Tôi nhỏm dậy phất tay cho trung đội của Thiếu úy Vi hàng ngang qua suối chiếm đầu cầu. Tôi cúi xuống đỡ thằng Nhường ngồi dậy. Ngực nó đầy máu. Nó thều thào, ngắt quãng, “Trung…úy! Trung..úy! …Nhắn…với…Quyên và…con em…rằng…em không về! …Nói…với…Quyên và …con em…rằng …em thương…em thương…Quyên và con lắm!… Thôi!… Em… đi!…” Rồi nó nấc lên, mắt nó trợn trắng, đứng tròng. Người hiệu thính truyền tin đại đội của tôi đã chết. Tôi đặt thằng Nhường xuống đất. Vuốt mắt cho người đồ đệ xong, tôi cùng Trung đội 3 của Thiếu úy Biện tiếp tục theo chân Trung đội 1.
Trên bờ suối bên kia chỉ còn 2 khẩu AK47 vấy máu cùng vài cái hoa chuối B41 chưa kịp bắn nằm dưới chân một tảng đá. Máu me trải dài trên lối mòn lên dốc. Vừa lúc đó đại úy tiểu đoàn trưởng cho lệnh tôi lui về ngọn đồi mà liên đội B đã đóng ngày hôm trước để dọn bãi cho trực thăng tới tải thương. Tôi nhờ Đại đội 3/11 giữ an ninh xa. Đại đội 2/11 tải thương xong thì hết sĩ quan, vì Thiếu úy Trần Lũy bị thương; Thiếu úy Phan văn Hải, trung đội trưởng kiêm đại đội phó 2/11 bị sốt rét cũng đã rời vùng. Tải thương xong, đại úy tiểu đoàn trưởng cho liên đội B lui về đóng quân với bộ chỉ huy tiểu đoàn; liên đội A nằm lại trên chiến địa. Buổi chiều, tôi phải tự làm lều, căng võng cho mình. Người mang đồ ngủ cho tôi, Binh nhất Trung, bị thương bể xương hông, đã lên trực thăng. Đêm đông lạnh, nơi đầu võng của tôi chỉ còn hình dáng tròn ủng của Binh nhất Trần Ty, ngồi trực máy truyền tin. Chỗ ấy xưa nay, bên “Trái Banh” Trần Ty, còn có “Cây Tre Miễu” Nguyễn Nhường. Người đồ đệ của tôi đã cứu được ông thày của nó, nhưng nó đã chết thay thày nó! Đêm về, trời Chư Pa sáng chói hỏa châu và hỏa long thì gầm gừ “ù! ù!…ồ! ồ!…” tới sáng.
Ngày N+11 tôi làm lực lượng đoạn hậu cho tiểu đoàn rút về hướng bộ chỉ huy liên đoàn. Liên đoàn hạ trại cách chúng tôi chừng ba cây số về hướng nam. Đại úy Trần ngọc Di, ban 3 liên đoàn đang chỉ huy một toán BĐQ cưa cây phá bãi cho Chinook Hoa-Kỳ đáp. Cuộc hành quân của chúng tôi chấm dứt. Tiểu đoàn 22/BĐQ được giao trách nhiệm thay thế chúng tôi, tiếp tục tảo thanh vùng tây Chư Pa. Trưa đó, Chinook chở chúng tôi về trả tận sân sau của Tiểu đoàn 11/BĐQ ở Biển-Hồ. Chúng tôi được nghỉ dưỡng quân vài ngày để tái trang bị và bổ sung. Chừng một tuần lễ sau, tôi sững sờ nghe tin Thiếu úy Trần Lũy đã chết trong quân y viện Pleiku sau ca mổ lấy mảnh đạn từ cánh tay anh. Trước cửa văn phòng tiểu đoàn có bụi tre đực trồng làm kiểng. Bụi tre vàng vọt quanh năm, không lúc nào xanh tươi. Trước ngày chúng tôi lên đường vào Chư Pa có ai đó nói rằng, những lúc tiểu đoàn đi hành quân, đêm thanh vắng, hồn ma về tụ tập quanh bụi tre đánh xóc dĩa, cãi cọ nhau om xòm. Những người tin dị đoan trong tiểu đoàn xì xầm rằng bụi tre kiểng trước văn phòng đã đem đến những rủi ro cho đơn vị. Sau cái chết của hai ông đại đội trưởng thì bụi tre đực đó đã bị anh Đàm cho người đánh gốc vứt đi. Ngày cuối năm Âm-Lịch, một nữ sinh lớp đệ nhị trung học Bồ-Đề, Pleiku đến trường với cái băng đen trên ve áo dài. Cũng từ đó, trại gia binh Tiểu đoàn 22/Biệt Động Quân vắng bóng người con gái đẹp thướt tha, ái nữ của ông thượng sĩ thường vụ. Nàng đã về quê đâu đó miền xuôi, để tìm quên một mối tình đầu chưa kịp may áo cưới. Bên bờ Biển-Hồ, chiều chiều có một chị vợ lính bế đứa con trai nhỏ đứng nhìn về phương tây, nơi những ngọn núi xanh sừng sững án ngữ một miền trời ngăn cách hai nước Việt và Miên. Người đàn bà vợ lính nhỏ nhắn đó tên Quyên. Đứa bé trai cũng ngăm ngăm đen và dài ngoằng như bố nó. Những giọt nước mắt chầm chậm lăn trên má người góa phụ. Nước Biển-Hồ trong xanh. Trong lòng hồ, bóng núi lung linh.
Tết Nguyên-Đán năm Kỷ-Dậu không vui. Ít lâu sau Tết, một cái bảng nền nâu, chữ vàng, có ba hàng chữ: “TRẠI ” (hàng đầu), “PHAN- NGỌC- QUÍ” (hàng thứ nhì), “BỘ- CHỈ- HUY TIỂU – ĐOÀN 11 BIỆT- ĐỘNG- QUÂN” (hàng chót), được dựng trên cổng ra vào của một doanh trại Biệt động Quân ở Biển-Hồ (Pleiku). Anh Lạn cùng hai anh đại đội trưởng vừa thay thế anh Quí và anh Lũy đã chọn danh hiệu truyền tin mới cho riêng họ. Từ đó, trên làn sóng vô tuyến điện đàm của Liên Đoàn 2/Biệt Động Quân, những danh xưng Kỳ Sơn, Trường Sơn và Lam Sơn thành quá khứ, không ai nhắc tới nữa. Chỉ còn mình tôi, dù đã đổi qua nhiều đơn vị, vẫn giữ cái tên Thái Sơn cho tới ngày tàn chiến tranh. Tôi là một Biệt Động Quân yêu núi rừng vùng 2 say đắm. Mười năm lặn lội trong rừng, tôi đã chinh phục nhiều đỉnh núi cao, hùng vĩ hơn Chư Pa. Nhưng trong lòng tôi, cái tên Chư Pa mãi mãi không quên được.
Giết người xong, cai tù treo cổ anh lên rồi kết tội rằng anh ấy đã tự tử.
Tôi nghĩ thầm trong bụng, ở đâu bọn sát nhân này cũng áp dụng một phương cách giết người giống nhau.
Năm 1976 tôi đã chứng kiến vở kịch “tự tử” của nhân vật cựu Thiếu tá Nguyễn Hữu Ðông ở Trại 4 Liên Trại 4 Hoàng Liên Sơn.
Ông Ðông can tội trốn trại, bị cùm chân, còng tay, vậy mà cai tù đã nói rằng ông Ðông chết vì treo cổ tự tử.
Nay nhân vật Trần Hàn của Trại Nam Hà A cũng bị cùm chân, còng tay, cũng chết vì treo cổ tự tử.
Năm 1976, sau khi trốn trại lần thứ nhứt thất bại, tôi đã bị đưa về Trại 4 Hoàng Liên Sơn, bị nhốt trong cái buồng giam mà anh Ðông đã bị nhốt trước đó vài ngày.
Tôi đã bị cùm chân và còng tay, nằm ngay trên cái sàn gỗ mà anh Ðông đã nằm.
Trong phòng giam này, cái xà ngang cao lắm! Muốn treo cổ lên xà phải đứng trên ghế! Tìm đâu ra cái ghế? Tìm đâu ra sợi dây dù để làm thòng lọng?
Ngày được thả ra khỏi phòng kiên giam để về đội lao động ở Trại 4 năm 1976, bạn bè tôi đã kể cho tôi nghe rằng, cái đêm mà Thiếu tá Ðông bị treo cổ thì quạ ở đâu bay về đậu kín mái buồng giam.
Rồi cứ “Quang quác! Quang quác!” lũ quạ tranh nhau kêu om sòm cho tới sáng.
Có phải đêm qua vì anh Hàn bị cai tù giết chết mà giữa khuya tôi đã mơ hồ nghe văng vẳng, xa xa tiếng quạ gọi nhau?
Vụ án Trần Hàn là một vụ án hoàn toàn không có tang chứng, không có vật chứng và không có nhân chứng.
Anh Hàn không bị bắt quả tang khi đang tàng trữ chiếc radio.
Anh Hàn bị bắt với hai tay không; cán bộ đã không tìm thấy cái máy thu thanh nào.
Không có ai làm chứng hành động phạm tội của cải tạo viên Trần Hàn.
Trong Buồng 3 có cả trăm tù nhân bị nhốt chung với anh Hàn, nhưng không có tòng phạm nào bị bắt cả.
Trong khi đó, tên Công An quản giáo Ðội 32 đã tiết lộ nguyên nhân vì sao anh Hàn đã chết là:
“Ðêm qua cán bộ đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt các cải tạo viên khác.”
Như vậy, đây là một vụ giết người có chủ đích của bọn cai tù.
Chuyện Thiếu tá Trần Hàn treo cổ tự tử chỉ là một màn kịch được dàn cảnh để bọn sát nhân hợp thức hóa cái chết của Thiếu tá Trần Hàn mà thôi.
Từ ngày không còn tin tức do nghe radio nữa, quân ta đành truyền tai cho nhau tin tức thế giới đã nghe được qua những lần thăm nuôi của gia đình. Mất hy vọng này, ta nuôi hy vọng khác.
Tin tức từ thân nhân qua thăm nuôi cũng có tin vui, tin buồn, tin thật và tin giả.
Có một tin vui rộ lên rằng, hiện nay trong rừng núi Bạch-Mã ở Miền Trung có một trung đoàn Việt-Nam Cộng-Hòa đang ẩn náu và chiến đấu, người chỉ huy trung đoàn này là Trung tá Hoàng Mão, một anh hùng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.
Tin vui này vừa qua cổng đã được rỉ tai lan truyền rộng rãi, và đã làm cho một số tù ù ù, cạc cạc vui mừng. Những người biết chuyện nghe tin, lại ôm bụng mà cười.
Người ta cười vì thực ra, thời gian này cựu Trung tá Hoàng Mão cũng là một cải tạo viên đang bị nhốt ở Buồng 15. Hoàng Mão là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.
Vào một ngày trời mưa, ông Hoàng Xuân Tửu vào gọi tôi ra nhà văn hóa để gặp người nữ cán bộ Công An phụ trách thăm nuôi.
Viên nữ cán bộ hỏi tôi,
– Anh có quen ai tên là Bùi Tiến Tỉnh không?
Tôi lắc đầu,
– Không!
– Vậy Bùi Tiến Tỉnh không phải là anh của anh sao?
Tôi khẳng định,
– Không!
Người nữ Công An lườm tôi một cái rồi lắc đầu,
– Mới ăn cơm tù có mấy năm mà anh đã lú đã lẫn rồi! Ðến anh của mình mà cũng nói là không quen!
Tôi nhíu mày,
– Tôi không có anh có chị thì nói là không có anh có chị, chứ lú với lẫn cái gì?
Nghe thế, người nữ Công An lại hỏi,
– Có phải anh là người quê Hải Hưng không? Anh Bùi Tiến Tỉnh ở Hải Hưng tự xưng là anh của anh đấy!
Tới lúc này tôi mới vỡ lẽ, chợt nhớ ra, người có tên là Bùi Tiến Tỉnh chắc là ông anh con cô con cậu của tôi ở Hải-Dương. Ngày xưa, khi tôi di cư vào Nam thì anh ấy còn bé lắm.
Tôi gật gù,
– À! Chắc anh Tỉnh là con bác tôi. Tôi ở trong Nam, anh ấy ở ngoài Bắc chưa thấy nhau bao giờ, nên không nhớ ra, cán bộ cho tôi ra gặp anh ấy đi!
Người nữ Công An nhìn tôi rồi lắc đầu,
– Người ngoài Bắc nhỏ tuổi hơn thì nhớ họ, nhớ hàng, người trong Nam lớn tuổi hơn lại chẳng thèm nhớ ai!
Tôi buột miệng nói cho qua,
– Ðúng rồi! Người trong Nam lớn tuổi hơn nên lẩm cẩm!
Quả thực tôi lớn lên ở trong Nam, đến người cùng quê còn không thấy, huống chi họ hàng thân quyến còn ở ngoài Bắc. Anh Bùi Tiến Tỉnh là con ông Bùi Văn Ðệ, anh ruột mẹ tôi. Người Nam gọi anh của mẹ là cậu, còn ở ngoài Bắc lại gọi là bác. Bác Ðệ có hai vợ, người con gái lớn của bác cùng tuổi với tôi, còn anh Tỉnh là người con thứ nhì. Anh Tỉnh nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Ngày tôi di cư vào Nam thì anh Tỉnh mới lên sáu.
Anh Tỉnh sinh ra và lớn lên trong thành phố Hải Dương nên không bị nói ngọng, nhưng giọng anh vẫn cưng cứng, tôi nghe không quen.
Anh Tỉnh thân hình vạm vỡ và cao hơn tôi một cái đầu.
Anh tôi ôm tôi, rồi khóc như mưa,
– Ngày chú ra đi thì anh còn bé tí đâu biết gì? Nếu đất nước cứ chia đôi thì suốt đời anh em không thấy nhau. Vậy mà giờ đây anh được gặp em. Anh mừng quá sức. Ðúng là ông giời có mắt!
Anh tôi đúng là hiện thân của một công nhân chân chất thật thà.
Cổ nhân có câu “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã!” quả là không sai.
Tôi là người không có anh chị, bố tôi lại mất sớm, nên vòng tay siết chặt của anh Tỉnh đã cho tôi cái cảm giác thật là ấm áp khi lần đầu được một người anh ôm ấp, vỗ về.
Anh tôi kể hết chuyện này sang chuyện nọ, nào là ông nội, bà nội của anh, tức là ông ngoại, bà ngoại của tôi thương nhớ mẹ con tôi ra sao, rồi ông bà tôi chết năm nào. Hết chuyện canh tác ruộng đất, anh nói qua chuyện xây nhà xây cửa, chuyện lụt lội hàng năm, rồi tới chuyện anh cưới vợ sinh con.
Tôi cứ ngồi yên mà nghe anh tôi tâm sự, cho tới lúc anh tôi cầm tay tôi rồi nhỏ giọng,
– Chiến tranh quả là quá tàn khốc! Anh rất muốn em trả lời anh một thắc mắc, em có vui lòng không?
– Anh cứ hỏi.
– Em là người suốt đời đánh trận. Vậy em có bao giờ chôn một bộ đội Miền Bắc xâm nhập tên là Hải không?
Tôi phì cười vì câu hỏi quá ngây thơ,
– Sau một trận đánh thì số người chết có khi cả chục, có khi cả trăm, ai công đâu mà lục xác, tìm tên tuổi từng người. Ủa! Mà Hải là ai vậy anh?
– Em Hải là con dì Muối, Long quên rồi à?
Tôi chỉ nhớ mang máng, bà Muối là vợ hai của bác Ðệ nhưng không biết bà Muối có người con là anh Hải, tôi hỏi anh Tỉnh,
– Vậy anh Hải là em khác mẹ với anh? Anh Hải chết ở trong Nam à?
– Em Hải nhỏ hơn anh hai tuổi. Hải bị gọi đi nghĩa vụ. Nó đi B và đã hi sinh trong trận Pơ lây me năm 1974. Em có biết Pơ lây me ở đâu không?
Tôi chột dạ khi nghe tin một người anh con cô con cậu của tôi đã chết trên chiến trường mà tôi đã tung hoành trong nhiều năm.
Tôi cầm tay anh Tỉnh,
– Biết! Tôi biết Pleime ở Pleiku, Pleiku ở Cao Nguyên Trung Phần Việt-Nam Cộng-Hòa.
Anh tôi chợt ngước mắt lên trời, rồi gật gù,
– Cốt nhục tương tàn! Chắc ngày đó em không biết rằng trong đoàn quân vào Nam để đánh nhau với em lại có người anh con cô con cậu của em! Ðiều đáng buồn là em Hải đã chết. Nhưng điều đáng vui là sau chiến tranh em Long vẫn còn sống.
Tôi chẳng biết phải nói gì khi nghe câu bình luận có vẻ “hòa tiền” của anh tôi.
Cứ thấy người chết thì buồn, cứ thấy người sống thì vui!
Cách suy nghĩ cũng như cách giải thích của anh tôi sao mà giản dị quá vậy?
Quà mà anh Tỉnh mang lên thăm nuôi tôi là một bao cát chứa 10 ký lô gạo ruộng mới xay cùng cái bao giấy xi măng bọc kỹ 20 con cá mối phơi khô.
Tôi lấy làm lạ khi thấy những người tù được thăm nuôi và thân nhân của họ còn đang quây quần bên nhau chuyện trò, ăn uống, thì anh Tỉnh đã ôm tôi rồi nói câu từ biệt,
– Thôi! Anh phải về. Sợ nhỡ chuyến tàu hỏa Phủ- Lý, Hà- Nội tối nay. Lại còn phải lo chuyện đi nhờ xe vận tải xuôi Hải-Dương nữa chứ!
Trước lúc bước đi, anh lại cầm tay tôi lần nữa,
– Của ít, lòng nhiều. Trong khả năng của anh, anh chỉ có chút quà này đem cho em, mong em đừng chê.
Trong màn mưa mỏng giữa trưa, hình bóng anh tôi mờ dần, mờ dần, rồi biến mất sau con dốc dẫn xuống phân trại C.
Thì ra, để có thời gian chừng nửa giờ để thăm đứa em con bà cô đang bị giam giữ ở Nam-Hà A, người công nhân Bùi Tiến Tỉnh đã phải rời Ngã Sáu Hải Dương từ nửa đêm qua. Sau khi quá giang theo một chiếc xe vận tải để tới Hà Nội, anh liền nhảy tàu hỏa nhưng không mua vé để về Ga Phủ-Lý. Ở bến đò Phủ-Lý, anh năn nỉ người kiểm soát vé phà để được miễn trả tiền qua Hát Giang.
Rồi vác 10 ký lô gạo trên vai, tay xách 20 con cá khô, anh cuốc bộ một hơi từ bến phà sông Ðáy tới Nam Hà.
Thăm em chưa được nửa giờ anh đã phải về. Trên con đường ngược chiều ấy, anh sẽ cuốc bộ, sẽ qua phà, sẽ nhảy tàu, sẽ quá giang xe tải xuôi về quê tôi, Hải-Dương.
Con đường trở về của anh có lẽ không còn vất vả như lúc anh đi. Trên vai anh nhẹ tênh, không còn gạo, không còn cá.
Tôi nghĩ rằng, chắc chắn trên đời này hiếm có người anh con cô con cậu nào tốt bụng như ông anh của tôi. Tội nghiệp anh tôi!
Nhìn màn mưa đang giăng trên những đỉnh núi đá vôi, rồi mường tượng ra đoạn đường gập ghềnh lầy lội từ đây ra Phủ-Lý, tôi bỗng thấy thương anh tôi quá.
Tới chiều, tù được thăm nuôi xếp hàng đi về trại.
Ai cũng gánh nặng, gánh nhẹ, riêng tôi chỉ cần một tay xách, một tay ôm.
Không biết các bạn được thăm nuôi cùng ngày với tôi có được thân nhân thông báo cho chút tin tức quốc nội, quốc ngoại gì không, chứ tôi thì chẳng có chuyện gì vui lạ để mà kể lại cả.
Lần thăm nuôi trước cách nay hơn nửa năm, mẹ tôi và vợ tôi từ Nam ra, tôi đã chia sẻ đồ ăn cho một số bạn thân.
Kỳ này vì “Của ít, lòng nhiều” nên tôi chỉ mời một người bạn là Lê Văn Chánh. Từ ngày đi tù tới giờ này, chưa có ai ra thăm Chánh.
Hoàng Trai, Lê Văn Chánh, Vương Mộng Long – USA 2007
Nghe tôi mô tả chặng đường mà bao gạo 10 ký lô đã đi để tới Nam Hà, bạn tôi đã đưa tay chùi nước mắt,
– Tội nghiệp ông anh của Long!
Lê Văn Chánh là một nghệ sĩ, nó mau nước mắt lắm!
Nghe một câu chuyện thương tâm là nó khóc, thấy một chuyện thương tâm là nó khóc.
Bưng bát cơm, nghe kể nguồn cơn đường đi, nước bước của bát cơm, nó cũng khóc.
Rồi nó tiếp tục vừa khóc tỉ tê, vừa kể cho tôi nghe một chuyện thăm nuôi, cũng rất buồn ở phân trại B.
Nó nghe được chuyện này khi đi đổ thùng sáng nay.
Mới cách đây hai hôm, có một bà vợ ông cựu đại úy dẫn một đứa con gái từ trong Nam ra thăm chồng.
Cháu bé mừng vui vô cùng vì sau bao tháng ngày nhung nhớ, cháu đã được gặp mặt bố cháu. Trên đường về, cháu vui, cháu nhảy chân chim…
Đại úy Trần Đức Lợi, Đại úy Đỗ Dũng, Đại úy Nguyễn Phương Đức, Đại úy Trần Tiến Bích – Houston USA (nguồn Đỗ Dũng)
Nhưng ông cựu đại úy vừa về tới buồng giam thì đã có tin con gái ông mới bị bắn chết!
Cháu chết ở chân dốc Ba Sao, nơi đây Trại Nam Hà C và Trại Tâm Thần ở sát nhau.
Ðã xảy ra ẩu đả giữa nhân viên giữ tù tâm thần và cai tù Trại C.
Sau khi đánh nhau bằng tay, chúng nó đã bắn nhau bằng súng.
Một viên đạn lạc đã cướp đi sinh mạng đứa bé gái vừa vượt cả ngàn cây số đường dài từ Nam ra Bắc để thăm bố.
Cháu bé đã được chôn bên cạnh mộ những người bạn tù của bố nó trong nghĩa địa tù Trại C.
Hai ngày sau khi tôi được thăm thì anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích nằm sát bên tôi cũng được thăm. Khách mời của Bích chiều hôm đó là một thương binh cụt một chân tên là Trần Văn Hòa.
Cựu Ðại úy Trần Văn Hòa là phi công của Phi Ðoàn 215 Thần Tượng, đồn trú ở Nha Trang. Thời 1968 tôi thường được phi cơ của đơn vị này chuyển vận trong các cuộc hành quân ở Cao Nguyên Vùng 2.
Thấy anh Hòa bị què một chân, tôi thắc mắc,
– Ủa! Anh là thương binh mà cũng bị bắt đi cải tạo ư?
Anh Hòa lắc đầu,
– Tôi không phải là thương phế binh. Tôi mới bị cưa chân đó!
Rồi Hòa từ từ tường thuật cho tôi nghe nguyên do vì sao anh đã bị què…
Thời gian mà tôi còn bị giam ở Trại 4 Liên Trại 4 thì Hòa bị giam ở Trại 9.
Ðói quá, nên hàng đêm Hòa thường chui rào ra vườn sắn moi mấy củ sắn vào nấu, nướng để ăn cho đỡ lòng.
Một mất, mười ngờ, sau vụ cái radio thì trong trại đã xảy ra nhiều vụ đánh ăng ten, đánh cò mồi. Ăng ten thứ thiệt bị đánh đã đành, ăng ten tình nghi cũng bị ăn đòn. Ở Buồng 9 cải tạo viên Phú Dù, bị cải tạo viên Hùng Biệt Cách đánh sưng mỏ.
Trong Buồng 16 người đáng nghi nhất là cải tạo viên Lê Văn Tịnh.
Tôi không biết Lê Văn Tịnh mang cấp bậc gì và ở đơn vị nào.
Lê Văn Tịnh là nhân viên của phòng văn hóa.
Ai cũng nhìn anh ta với con mắt khinh khi và thù ghét.
Chỉ có một va chạm nhẹ khi lên thang, xuống thang trong phòng ngủ, Nguyễn Văn Ninh đã giáng cho Lê Văn Tịnh một trận đòn đau.
Bị hành hung, Lê Văn Tịnh chỉ ôm mặt sụt sịt chứ không chạy lên văn phòng để mách cán bộ trực trại.
Mỗi tối, anh em trong nhà đều tập trung nồi niêu giữa đường đi, sáng hôm sau thì của ai nấy cất.
Tới khi Lê Văn Tịnh cầm nồi cá kho của mình lên thì,
– Ui cha ơi! Anh nào ác quá vậy? Tội nghiệp tui!
Trong cầu tiêu có một thùng vôi bột để rắc trên cứt cho đỡ thối, vậy mà ai đó đã lấy vôi bột đổ đầy nồi cá kho của Lê Văn Tịnh.
Rồi cũng vào buổi sáng một ngày khác, vừa thức dậy, anh cựu Ðại úy Trần Văn Viên nằm cạnh Lê Văn Tịnh la toáng lên,
-Bà con nào xỏ nhầm dép của tôi thì cho tôi xin lại! Ði lao động mà không có dép thì sưng chân, sưng cẳng, làm sao tôi chịu nổi?
Chẳng có ai nhận đã xỏ nhầm dép của Viên, nên ngày đó Trần Văn Viên đi lao động mà không có dép, lúc về thì hai bàn chân sưng lên, anh chàng cứ bước chấm phết như một người bị thọt.
Sáng hôm sau anh Viên thấy đôi dép của mình trở về nằm chỗ cũ, nhưng Lê Văn Tịnh lại la lên,
– Bà con nào đi nhầm dép của tui thì cho tui xin lại!
Hóa ra đêm trước có người tưởng lầm đôi dép của Viên là của Tịnh nên đã lấy nó đi. Ðêm qua người đó đã điều chỉnh lỗi lầm, trả lại dép cho Viên rồi đem dép của Tịnh đi!
Giờ lao động, khi đi đổ thùng, Lê Văn Chánh phát giác ra trong thùng cứt trên xe có đôi dép của Tịnh. Nhưng Chánh cũng chẳng ngu mà bỏ công moi nó ra làm gì.
Hơn bốn mươi năm sau, nhân lúc chuyện trò, nhắc lại kỷ niệm xưa ở trại cải tạo Nam Hà A. Nguyễn Văn Ninh hỏi tôi,
– Ông có nhớ thằng Tịnh ở Buồng 16 không nhỉ?
Tôi trả lời,
-Nhớ! Ngày đó tụi mình cứ nghi nó là ăng ten, mà không biết nó có phải ăng ten không?
Nghe tôi nói vậy thì Nguyễn Văn Ninh có vẻ ngậm ngùi,
– Lúc ấy mình nghi nó, nên tìm cớ gây chuyện đánh nó! Chứ thực tình mình không khẳng định rằng nó có là thằng xấu hay không? À! Mà ông có biết ai đã đổ vôi bột vào nồi cá của nó và ai đã ăn cắp đôi dép của nó không?
Ông bà cựu Đại tá Nguyễn Thành Trí và Ông bà cựu Thiếu tá Vương Mộng Long, USA 2016
Tôi cười,
– Thì tôi đây chứ ai! Tôi đổ một lon vôi vào nồi cá của nó, cứ tưởng nó sẽ đổ cá đi, nhưng nó đã đem nồi cá ra giếng rửa cho sạch vôi, rồi đem đun lại. Nó thêm đường, thêm mắm, thêm dầu mỡ thơm lừng. Nó còn mời tôi ăn, nhưng tôi đâu dám ăn?
Ðêm trước vì có hai đôi dép giống nhau, nằm cạnh nhau, tôi đã lấy nhầm đôi dép của ông Viên. Hôm sau chỉ còn một đôi dép của nó nên không thể nhầm. Tôi đem dép của nó nhét
xuống cầu tiêu ngay. Không ngờ từ đó nó lại đi đôi dép râu Trường Sơn, nhìn nó càng có vẻ giống Việt-Cộng!
Rồi thời gian cứ thế trôi, chúng tôi ngỡ rằng chuyện chiếc radio đã chìm xuồng. Nào ai có hay, địch vẫn âm thầm theo dõi, rồi bất ngờ ra tay.
Một hôm, tay xách gàu nước từ giếng trở về tôi thấy gần chục Công An áo vàng súng ngắn của Bộ Nội Vụ đột ngột xuất hiện trước sân trại và ra lệnh cho vệ binh bao vây Buồng số 3.
Có người bị bắt! Người bị còng tay dẫn đi là cải tạo viên Trần Hàn.
Trần Hàn ở Buồng 3, đa số là dân Cảnh Sát Quốc-Gia.
Trần Hàn là cựu thiếu tá Trưởng ty Cảnh Sát Tỉnh Quảng-Tín.
Nghe đâu anh Hàn bị bắt vì đang giữ một chiếc máy thu thanh.
Tôi nghe tin mà lấy làm lạ. Tôi biết rõ ràng, từ sau ngày kiểm tra toàn trại thì không còn nghe ai nói tới cái “đài” này nữa.
Vậy chiếc radio mà anh Hàn cất giữ từ đâu mà có? Nếu đó là chiếc radio mà tôi đã từng cất giấu ở Buồng 16 thì người ưu tiên bị bắt phải là anh Nguyễn Hữu May, vậy mà anh May vẫn bình yên.
Với tôi, sự việc anh Trần Hàn bị bắt là cả một bất ngờ!
Từ đó, cả trại xôn xao bàn tán sau cú bố ráp này.
Vào buổi sớm tinh mơ hai ngày sau khi cải tạo viên Trần Hàn bị bắt lên ban chỉ huy trại đã có một người tất tả đi vào sân Buồng 16.
Người vừa xuất hiện là cán bộ Hồng.
Cán bộ Hồng gõ “Cộc! Cộc!” vào một cánh cửa sổ,
– Anh Tuy dậy đi! Tôi có việc cần! Mau lên!
Anh Tuy nằm ngay sau cửa, ngồi bật dậy,
– Dạ! Có chuyện gì vậy cán bộ?
– Anh cử một người kéo cái xe cải tiến ra phòng trực ngoài cổng chính gặp tôi!
– Vâng! Tôi làm ngay!
Anh Tuy sắp quay lưng thì cán bộ Hồng gọi giựt lại,
– Hai người! Hai người thật khỏe mạnh!
Anh Tuy hướng về phía cuối buồng, gọi lớn,
– Anh Chánh chuẩn bị cái xe cải tiến! Anh Long đi theo anh Chánh làm công tác với cán bộ Hồng!
(Chánh là cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh – Long là tôi, cựu Thiếu tá Vương Mộng Long.)
Lê Văn Chánh mắt nhắm, mắt mở, kiễng chân lên giựt chiếu của tôi, tôi nằm trên tầng hai,
– Long ơi! Long đừng ngủ nữa! Long dậy đi công tác với mình!
Tôi bị Tào Tháo đuổi suốt đêm qua nên thoái thác,
– Chánh tìm người khác, mình đang bị đau bụng.
Nghe biết tôi bị bịnh, anh Tuy nói với Chánh,
– Ông Chánh! Ông chọn ai đi với ông thì chọn. Tôi không ý kiến nữa.
Chánh lại kiễng chân giựt chiếu một người khác cũng nằm trên tầng hai,
– Hòa Voi! Hòa Voi dậy mau! Dậy đi công tác với mình! Nhanh lên!
Người bị Chánh đem theo phụ việc là Hòa Voi, tức là cựu Thiếu tá Hồ Văn Hòa, cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 35 Biệt Ðộng Quân.
Tôi, Hòa và Chánh là bạn quen. Giúp đỡ nhau là chuyện vụn vặt thường ngày.
Mấy giờ sau thì Hòa và Chánh trở về. Chánh lo rửa xe, còn Hòa thì ngồi kể cho tôi nghe chuyện công tác ngày hôm đó diễn tiến như thế này…
Cánh cửa chính Buồng 16 được mở vừa đủ hẹp cho hai người nghiêng mình theo nhau len qua rồi đóng lại, khóa lại.
– Hai anh đi lấy xe! Tôi chờ ngoài cổng.
Cán bộ Hồng vừa ra lệnh cho Chánh và Hòa xong, liền quay gót.
Chánh nói,
– Hòa chờ mình chút!
Hòa lững thững cất bước lên con dốc để ra sân trại.
Chánh đi vòng ra sau cầu tiêu lấy cái xe cải tiến thường ngày dùng để chở phân.
Chánh chính là anh trại viên phụ trách công tác đổ thùng của Buồng 16 này.
Hôm nay là Chủ Nhật, không lao động, nên các buồng, các lán còn ngủ yên.
Chừng hai phút sau Chánh kéo xe tới gặp Hòa,
– Mẹ nó! Chẳng biết có chuyện gì, ngày nghỉ mà nó bắt mình đi sớm thế?
Hòa gật gù đoán mò,
– Chắc đi phụ nhà bếp chở gạo, củi, mắm muối, chứ gì?
– Mình nghĩ không phải đi chở đồ cho nhà bếp! Sức mấy mà cán bộ hậu cần chịu xuất kho vào ngày nghỉ! Chắc cha Hồng trưng dụng tụi mình đi chở cát, chở sạn cho ai đó ngoài Ba Sao để lấy tiền đút túi tiêu riêng…
Chiếc xe cải tiến lộc cộc bò tới cổng. Cán bộ Hồng mở một cánh cửa bên trái cho xe đi qua, rồi khóa lại. Hồng búng tay,
– Hai anh theo tôi!
Chánh kéo xe, Hòa đẩy phụ bằng một khúc tre dùng làm đòn.
Xe quẹo phải đi về hướng phân trại B. Qua một con dốc thì tới khu cách ly, nơi đây có cái nhà kỷ luật. Nếu đi sâu thêm vào trong núi thì tới một khu hang đá có cửa sắt và gông cùm bằng sắt. Nơi đây, ngày xưa dùng để giam giữ tù binh Mỹ.
Hồng chỉ tay vào vật gì đó để bên hiên nhà kỷ luật,
– Hai anh khiêng cái áo quan kia lên xe rồi đi theo tôi!
Hồ Văn Hòa thấy dưới hiên nhà giam có một cái hòm gỗ, chẳng biết ai là người đang nằm bên trong.
Gỗ quan tài hơi mỏng, người nằm trong đó chắc không mập lắm. Khiêng cái áo quan lên xe mà Hòa và Chánh không cần phải bặm môi, vận sức.
Xe đổ dốc, cán bộ Hồng le te dẫn đường đi về hướng phân trại C.
Xe xuống dốc để ra vườn rau.
Qua bãi đổ phân, bãi đổ phân thối quá! Hồ Văn Hòa muốn nghẹt thở. Vậy mà Hòa thấy mặt Lê Văn Chánh vẫn tỉnh bơ.
Ngày nào bạn Chánh cũng phải tới chỗ này một lần. Có lẽ vì vậy mà khứu giác của Chánh đã quen đi, hay là khứu giác của anh ấy đã bị đui, bị điếc rồi cũng nên!
Xe đi qua bãi phân, lên một cái dốc thì cán bộ Hồng giơ tay ra hiệu cho dừng,
– Lạc đường rồi! Quay lại!
Xe lại lộc cộc quay về, đi vòng ra phía sau ngọn đồi có ban chỉ huy rồi tới nghĩa trang chôn tù chết.
Cựu Thiếu tá Vương Mộng Long và Cựu Đại tá Trần Quang Tiến, USA 2011
Xe vào nghĩa địa thì ở đây đã có sẵn bốn năm tù hình sự ngồi chờ, họ đang vây quanh một cái điếu cày thuốc lào.
Hồng ra lệnh cho Chánh và Hòa hạ chiếc quan tài xuống, rồi đem xe về.
Chiếc xe quay về trại mà không có cán bộ quản giáo đi theo…
Hòa vừa kể chuyện cho tôi nghe xong thì các buồng bắt đầu mở cửa, tù túa ra sân.
Việc đầu tiên trong ngày nghỉ của tù là ào ra giếng tranh nhau múc nước.
Giếng thì rộng nhưng không sâu, nếu chậm chân, chậm tay, có khi vét không còn một giọt. Tôi cũng vác gầu chạy nhanh ra giếng…
Qua cổng dẫn vào Buồng 1, Buồng 2, tôi chạm mặt cựu Ðại tá Ngô, ông Ngô vẫy tay chào, tôi vẫy tay chào lại. Ðại tá Ngô là bạn của Ðại tá Ủy, Ðại tá Ủy là đàn anh thân thiết của tôi.
Cách nay không lâu, bác Ngô bị anh Bảy Xe Lửa hành hung, đánh cho sưng cả mặt, chỉ vì anh ta nhìn nhầm bác Ngô với một ông đại tá cò mồi.
Một buổi nhá nhem tối, Bảy Xe Lửa đè ông Ngô ra mà thụi, ông Ngô la oai oái!
Anh Nghĩa Âm Phủ đứng bên thấy thế mới can,
– Ê! Bảy Xe Lửa! Sao mày lại đánh bác Ngô! Bác Ngô có làm gì sai mà mày đánh bác ấy?
Bảy vội dừng tay rồi ớ người ra,
– Ủa! Không phải cha này là cò mồi hả? Chết cha! Tui đánh lộn người rồi! Tui xin lỗi đại tá! Tui xin lỗi đại tá!
Ðược thằng Bảy xin lỗi thì Ðại tá Ngô đã sưng cả mặt mũi rồi!
Thời gian này ở Nam Hà A phong trào diệt ăng ten, diệt cò mồi đang dâng cao. Bảy Xe Lửa là thành viên của nhóm “diệt trừ ăng ten”
Thành viên của nhóm này anh nào cũng có võ.
Họ cứ lựa những ngày mưa bão hay vào buổi nhá nhem là ra tay.
Họ thẳng tay đấm bể mõm những tên nịnh hót cán bộ hoặc những tên làm ăng ten đặt điều báo cáo, làm hại anh em.
Những tên nhân viên văn hóa, đội trưởng, hay cò mồi, thấy mấy hung thần này thì sợ đái ra quần.
Tôi trở về buồng, rửa mặt, đánh răng xong thì thấy anh em gọi nhau ra tụ tập giữa sân để nghe tên Công An tên là Chèo Lực thông báo tin tức gì đó.
Len lỏi tới gần, tôi nghe được tiếng Chèo Lực,
– Ðêm qua cải tạo viên Trần Hàn đã trốn học tập lao động bằng cách treo cổ tự tử…
Tôi vỡ lẽ ra, cái xác mà Lê Văn Chánh và Hồ Văn Hòa chở trên xe cải tiến đem đi chôn sáng nay là xác của Thiếu tá Trần Hàn.
Anh Hàn bị biệt giam mấy ngày rồi, vì liên lụy tới chuyện chiếc radio.
Thiếu tá Trần Hàn đã chết vì cái radio.
Tới trưa, tôi chui vào Buồng 2 thăm cựu Ðại tá Cao Văn Ủy. Anh Ủy đang ngồi tập Yoga với cựu Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao và cựu Ðại tá Nguyễn Thành Trí.
Anh Ủy kéo tôi ngồi xuống chiếu,
– Sáng nay thằng cán bộ quản giáo Ðội 32 vào rỉ tai cho thằng Liễu biết rằng đêm qua chúng nó đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt anh em chúng mình.
(Thằng Liễu: là cựu Ðại tá Trần Công Liễu, đội trưởng đội lao động số 32 Trại Nam Hà A. Ông Ủy xuất thân khóa 7 Ðà-Lạt, ông Liễu xuất thân khóa 8, nên ông Ủy có gọi ông Liễu là “thằng” thì cũng chẳng sao.)
Anh Ủy cũng cho tôi hay tên cán bộ này còn bắt Ðại tá Trần Quang Tiến, là người trực Buồng 2 và hai người khác đi sang Trại Nam Hà B làm vệ sinh sạch sẽ căn phòng kỷ luật đã nhốt anh Hàn.
Anh Ủy chỉ tay vào cái bát nhôm để sát tường, cái bát còn chứa một khẩu phần bo bo, giọng anh bùi ngùi,
– Ông Tiến có đem về đây di vật độc nhất của chú Hàn là cái bát đựng cơm này. Có lẽ chú ấy chết đi mà bụng còn đói!
Anh chợt thấp giọng,
– Ông Tiến nghi tụi cán bộ đã giết chú Hàn. Trong lúc quét dọn ông ấy thấy xà nhà cao lắm, muốn tự tử phải đứng trên ghế mới với tới xà nhà. Một người bị cùm chân, còng tay thì làm cách gì mà có thể leo lên xà nhà được? Còn sợi dây dù treo cổ, tự dưng mà có ư?
Tôi ngậm ngùi, vậy là đêm qua anh Hàn đã bị cai tù giết.
Tháng 9 năm 1943, lúc đó, Hector Adonis đang làm giáo sư sử học tại đại học Palermo. Tài năng của ông thì quá xứng đáng với địa vị ấy. Tuy nhiên, ngay cả các vị khoa bảng đồng sự với ông cũng có ý kém trọng nể, chỉ vì cái vóc dáng “nhỏ con” của ông. Nhưng, âu đó cũng là định mệnh! Vì, cả cái xứ Sicily khốn khổ này, sự thích thú khốn nạn và độc ác của thiên hạ vẫn là chế giễu, nhạo báng những người chẳng may thấp, nhỏ bằng những hỗn danh châm chọc, đểu cáng. Chỉ có một người, – đó là ngài viện trưởng viện đại học – nhận ra cái giá trị thực của ông. Cũng trong tháng 9 năm 1943, cuộc đời của giáo sư Hector Adonis cũng sắp sửa thay đổi. Vì, ở miền Nam nước Ý, chiến tranh đã chấm dứt. Quân đội Mỹ đã chiếm được đảo Sicily và sửa soạn đổ bộ lên lục địa. Chủ nghĩa phát xít đã chết. Nước Ý hồi sinh. Lần đầu tiên từ bốn mươi năm qua, đảo Sicily trên thực tế là vô chủ. Nhưng, nhận thức được những trớ trêu của lịch sử, giáo sư Adonis nhìn xuống sân trường đại học, nhìn tới những toàn nhà gọi là ký túc xá sinh viên. Khác với truyền thống đại học Anh, Mỹ, đại học của Ý không có chế độ nội trú (trong khi chế độ này gần như bắt buộc ở các đại học Anh, Mỹ). Do đó, gọi là ký túc xá đại học, nhưng không có nhà ở tập thể. Ở đây, hầu hết mọi sinh viên đều học tập ở nhà và chỉ đến trường để thảo luận và tham vấn với giáo sư của mình vào những khoảng thời gian ấn định. Sinh viên không đi nghe giáo sư giảng bài cũng không sao. Chỉ cần họ quan tâm và tham dự các kỳ thi là đủ. Theo ý giáo sư Adonis thì chế độ đại học đó là không hay, và đối với riêng xứ Scily này thì đó là một chế độ tệ hại và ngu xuẩn. Bởi vì đối với sinh viên người Sicilian thì cần phải có một chế độ đại học chặt chẽ hơn nữa. Từ trên cửa sổ văn phòng, giáo sư Adonis thấy các xếp sòng Mafia từ khắp các thành phố, các tỉnh trên đảo Sicily nườm nượp kéo tới viện đại học để vận động, chạy chọt. Dưới chế độ phát xít, các xếp sòng này không chết, nhưng cũng phải e dè, nhũn hơn. Nhưng nay, dưới sự cai trị ềm dẻo của nền dân chủ tập sự theo kiểu Mỹ, bọn này ngóc đầu dậy như giòi bọ dưới lỗ nẻ chui lên lúc trời mưa. Và bọn chúng lại ngang nhiên không cần e dè, giấu giếm bắt tay vào những việc mà dưới chế độ phát xít chúng phải tiến hành hết sức lén lút. Ăn vận những bộ đồ xịn nhất của chúng, các xếp lớn, xếp bé của Mafia, từ tên đầu sỏ cỡ tỉnh cho đến những tên làng nhàng cỡ xã của các tổ chức “Người anh em” này, lũ lượt kéo đến viện đại học để xin xỏ cũng có, hù doạ làm áp lực cũng có cho bọn con, cháu xa gần của chúng, hoặc của bạn bè chúng và thậm chí của các chủ đất giàu có được chúng bảo trợ. Bọn này thi rớt vì lý do này hay lý do khác. Đối với bọn này, chữ nghĩa là đồ bỏ, nhưng bằng cấp thì cực kỳ quan trọng. Các gia đình đâu có cách nào để loại bỏ những đứa con bất tài vô tướng, ngu độn và tầm thường. Chẳng lẽ cột đá vào cổ chúng rồi đem buông sông hay đem câu cá sấu? Nuôi báo cô chúng suốt đời hay sao? Mà để chúng sống nghèo khổ tầm thường thì mất mặt quá. Nhưng, với bằng cấp – cái mảnh vứt đi của viện đại học chứ gì – bọn côn đồ lục lâm này cũng thành thầy giáo, bác sĩ, dân biểu, nghệ sĩ, hoặc tệ lắm thì cũng thành một anh công chức cọ giấy ở các công sở nhà nước. Cũng “oách” chán. Giáo sư Adonis nhún vai. Nghĩ đi thì như thế, nghĩ lại thì… lịch sử đã an ủi ông. Cái nước Anh mà ông hằng nể phục kia – trong những ngày huy hoàng nhất của đế quốc – đã đặt quân đội của nó vào tay con cháu bọn nhà giàu, trong số đó có chán vạn đứa bất tài, nhưng đã được ông bô bà bô nó “chạy” cho những chức vụ chỉ huy trong quân đội hay hải quân. Ấy thế mà đế quốc Anh vẫn cứ cường thịnh. Đúng, rất nhiều khi các vị chỉ huy ấy đã “nướng” lính tráng của họ một cách ngu xuẩn, phí phạm và vô ích. Nhưng bọn chỉ huy ấy đã được tâng bốc và huấn dụ rằng: can đảm, cùng vào sinh ra tử với lính là tác phong phải có của các cấp lãnh đạo, chỉ huy. Bằng cách ấy, quốc gia đã thanh toán được một cách khá mau lẹ cái gánh nặng bọn con cháu nhà giàu bất tài, vô tích sự ấy mà vẫn chẳng mất mát thiệt hại gì bao nhiêu và dân Ý đâu có cái truyền thống hiệp sĩ kiểu đó, đâu có lối giải quyết thực tiễn và lạnh lùng kiểu đó. Dân Ý thương con, thương cháu mình lắm – tình cảm ấy quả là đáng quí – nên đã tìm mọi cách vun quén, thu lợi cho con cho cháu. Và, chẳng may vì cái tình cảm cao quí ấy mà tổn hại đến quốc gia thì mặc kệ quốc gia. Từ trên cửa sổ văn phòng, giáo sư Adonis điểm mặt được ít ra cũng ba “ông kẹ” Mafia địa phương đang nhớn nhác, dáo dác đi tìm “nạn nhân” của họ, tức là các giáo sư dạy các môn mà con cháu họ thi rớt. Thời tiết hãy còn nóng mà họ đã bận áo vét bằng nhung, rồi lại còn áo khoác… trông quỷnh không chịu được. Nhưng họ cứ tưởng vậy là sang. Khệ nệ sách giỏ trái cây từ “vườn nhà” hoặc kè kè vò rượu “nhà nấu”, họ ngơ ngác, chẳng bù cho họ lúc kè kè chiếc mã tấu, hoặc lăm lăm khẩu súng máy. Chẳng phải họ cần đút lót gì, nhưng ít ra thì vò rượu cũng giúp cho các giáo sư bớt kinh hãi khi thoạt trông thấy bộ mặt ác ôn, ma cô của chúng. Hầu hết các giáo sư đại học ở đây là người địa phương. Do đó, các vị hiểu rằng bản thân và vợ con các vị muốn sống yên ổn thì chớ có dại dột mà từ chối lời yêu cầu được đưa ra một cách lễ độ như thế. Một trong những “ông kẹ” Mafia mà giáo sư trông thấy – mặc bộ đồ kiểu “cao bồi vườn” – bước vào toà nhà và đi lên thang. Với sự thích thú ranh mãnh – vì biết rằng không thể tránh được – giáo sư Adonis sửa soạn để đóng vở kịch sắp tới. Giáo sư có biết “ông kẹ” kia. Tên y là Bucilla. Y có một trang trại và một bầy cừu ở cái tỉnh gọi là Partinico, cách Montelepre không xa. Họ bắt tay nhau. Bucilla đặt giỏ trái cây xuống và nói – Cây trong vườn nhà tôi năm nay sai trái quá. Để nó chín, thối rụng xuống đất thì uổng. Bởi vậy, hái một chút đem cho ông giáo. Trông y quê mùa, nhưng là thứ quê mùa thô lỗ, chứ không phải thứ quê mùa chất phác. Y không cao nhưng có bề ngang, có sức mạnh nhờ cả đời làm lụng hùng hục. Adonis biết y cũng được tiếng là lương thiện. Và nói chung thì y cũng là người có máu mặt ở địa phương, nhưng chưa thuộc loại “cọp” và có cái vẻ bề ngoài nhũn nhặn. Y có láu lỉnh thì cũng chỉ là láu lỉnh theo kiểu văn minh miệt vườn. Nhưng không phải vì thế mà y không biết lợi dụng cái sức khoẻ và sự tàn bạo ngầm của y để làm giàu. Y là một trong những kiểu mẫu thoái hoá của các sếp Mafia cựu trào. Bởi vì các vị này xưa kia dao búa không hẳn chỉ vì tiền mà còn vì lòng tôn kính và danh dự. Giáo sư Adonis mỉm cười nhận giỏ trái cây. Ông thừa hiểu là đời nào có một anh nhà quê Sicilian lại để cho một cái gì hư, uổng. Chỉ một trái ô-liu rụng thì đã có cả trăm đứa trẻ tranh nhau làm thành một đám giặc non rồi. Lũ trẻ ấy đông như châu chấu. Bicilla thở dài. Y có vẻ nhũn nhặn đến độ ảo não. Nhưng Adonis cũng biết là chỉ trong một giây cũng đủ để sự nhũn nhặn ấy biến mất để nhường chỗ cho sự hầm hè, doạ nạt. Bởi vậy, ông cố nặn cho ra một nụ cười có vẻ tình cảm khi Bucilla mở miệng nói: – Cuộc đời này thật phiền quá đi. Ấy, tôi đang làm vườn. Đã bận bỏ mẹ đi, thì cái ông hàng xóm lại đến nhờ một việc. Chả có cách nào từ chối. Ông già tôi với ông già hắn là chỗ quen biết. Ông nội tôi với ông nội hắn cũng vậy nữa. Vả lại cái tính tôi kỳ lắm, hay đó là cái rủi của tôi không chừng, là hễ cứ bạn bè nào, dù thân hay sơ, nhờ cái gì dù lớn hay nhỏ, thì mình cũng không có lòng dạ nào mà từ chối cho được. Nói cho cùng ra thì mình cũng đều là con cái Chúa cả. – Thì người dân Sicilian mình ai mà chẳng vậy, – Hector Adonis nhẹ nhàng đáp. – Đã thế, ông anh lại còn quá hào hiệp nữa. Chính vì vậy mà bọn người Bắc ở Rome ấy nó cứ lợi dụng mình hoài. Bucilla đắc ý, nhìn chòng chọc vào ông ta và thầm nghĩ “ Vậy là không có chuyện làm khó, làm dễ rồi. Vả lại, nghe đâu ông thầy này cũng “phe ta”. Có điều chắc chắn là ông ta chẳng có vẻ gì đáng ngại. Nếu ông ta cũng “phe ta”, cũng là “người anh em”, thì một người như Bucilla sao lại không biết nhỉ? Nhưng, tuy cũng là “người anh em” thì cũng có năm bảy hạng “ người anh em”. Có điều chắc chắn đây là một người biết tới biết lui, biết người biết của lắm. – Tôi có chút việc nhỏ đến nhờ thầy giúp, – Bucilla nói. – Cũng như mọi người Sicillian khác, ông bạn lối xóm của tôi có thằng con trai năm nay thi rớt, và rớt ở môn của thầy. Ông bạn lối xóm của tôi cứ buồn mãi, cứ rên rỉ phàn nàn với tôi. Nhưng khi nghe thấy tên thầy, tôi đã nói với hắn thế này: “Cái gì? Thầy Adonis hả? Sao? Ông thầy này có từ tâm, nhân hậu, thương người nhất thế giới. Nếu biết rõ việc này thì không khi nào ông ấy lại nhẫn tâm. Không bao giờ!” Bởi vậy hắn khóc lóc nài nỉ tôi đến thưa với thầy sự thể đầu đuôi. Và xin thầy mở lượng hải hà cho con hắn đậu, đặng sau này nó ra đời nó có phương kế sanh nhai lương thiện, nuôi vợ nuôi con. Hector Adonis đâu có bị phỉnh gạt vì cái sự quá ư lễ độ này. Ông lại nhớ đến dân “Hồng Mao” – mà ông rất nể phục – một dân tộc dù có chơi xỏ lá thì cũng tế nhị đến nỗi cả tháng sau mới hiểu là họ chửi cha của mình. Cách nói của Bucilla là một kiểu mẫu cho cách nói lịch sự kiểu người Anh. Nhưng khác ở chỗ nếu từ chối lời yêu cầu của y thì coi chừng, y lụi cho một vài nhát dao là rồi đời. Adonis chỉ giỏ trái cây, ậm a ậm ừ. – A, tất nhiên là ai lại có thể đang tâm để cho đám trẻ này phải đói rét trong cái thế giới khốn khổ này được. Thế anh bạn trẻ ấy tên là gì? Trong khi Bucilla nói, thì ông ta lôi từ dưới đáy ngăn kéo ra một cuốn sổ và giả bộ lật lật, chứ ông thừa biết cái tên rồi. Thằng nhóc ấy là một thằng cù lần, đần độn còn thua cả con lừa trong trại của lão Bucilla. Bẽn lẽn như con gái, mà lại huênh hoang khoác lác một cách ngu xuẩn. Một thằng dốt đặc cán mai không phân biệt nổi con ếch với con nhái. Dầu vậy, Hector Adonis vẫn mỉm cười dịu dàng với Bucilla. Và, bằng một giọng giả bộ ngạc nhiên, ông nói: – A, cậu này có một vài trục trặc nhỏ ở một trong những bài thi vừa rồi đây. Nhưng cũng dễ thu xếp thôi. Ông bảo cậu ta đến đây. Tôi sẽ ôn tập cho cậu ta ngay tại phòng này, rồi sau đó thi lại, ngoại lệ. Và sẽ không rớt nữa đâu. Họ bắt tay nhau. Ông kẹ ra về. Adonis nghĩ bụng: “Cũng là một cách thêm bạn, bớt thù. Cho dù tất cả những ông con vô tích sự ấy đậu những bằng cấp đại học mà chúng nó không đáng đậu thì đã sao? Ở cái nước Ý năm 1943 này, chúng dùng bằng cấp ấy để vênh vang, để “tráng men học thức” cho cái gia tài bất chính của ông bà già chúng. Vì chẳng lẽ giàu sụ mà trong nhà không có ai có “mác” đại học thì coi bộ “sệ” quá và mang tiếng là trọc phú. Hoặc chúng dùng bằng cấp ấy để kiếm một địa vị lèng xèng nào đấy. Chuông điện thoại cắt đứt ngang ý nghĩ lan man của ông và đem đến cho ông nỗi bực dọc khác nữa. Một hồi chuông ngắn, rồi ngưng, tiếp theo là ba hồi chuông ngắn, gay gắt. Cô điện thoại viên đang nói chuyện tào lao với ai đó vẫn chưa chịu cắt đứt câu chuyện của cô. Cái đó càng làm ông bực. Đến nỗi ông ta “a lô” như hét vào máy. Rủi thay, đó lại là cú điện thoại của ngài viện trưởng viện Đại học. Ngài viện trưởng – một người nổi tiếng khắt khe về những nghi thức giao tế lịch sự – hiển nhiên là đang gặp cái gì đó quan trọng lắm, nên đã không chú ý đến sự gay gắt của ông giáo sư. Giọng ngài run run – có vẻ sợ hãi – như sắp khóc đến nơi: – Giáo sư Adonis, – ông nói, – phiền ngài đến văn phòng tôi ngay bây giờ, được không? Viện đại học đang gặp một rắc rối nghiêm trọng mà chỉ có ông mới giải quyết được. Hết sức quan trọng. Tin tôi đi, giáo sư, tôi sẽ nhớ ơn ông.
Photo edit by Sơn râu
Cái giọng cầu cạnh này càng làm cho ông thêm bực. Ông nghĩ bụng: “Lão già ngốc này muốn nhờ mình cái gì? Bộ nhảy qua nhà thờ chánh toà Palermo chắc? Nếu vậy thì lão ta nhảy chắc ngon lành hơn, – Adonis chợt chua chát nhớ tới cặp giò của mình – vì lão cao lớn như tượng. Thì lão cứ nhảy, mắc mớ gì mà lại bắt một thuộc cấp có giò ngắn nhất xứ Sicily này nhảy thay lão ta!” – Hình ảnh ví von chợt thoáng trong óc khiến cho Adonis bật cười và vui vui. Ông dịu dàng nói vào máy: – Nếu có thể được, có lẽ ngài viện trưởng nói sơ qua cho tôi biết đặng tôi vừa đi lên gặp ngài vừa suy nghĩ được không? Tiếng ngài viện trưởng trầm đi, chỉ thấy thì thào: – Ông Trùm Croce hạ cố đến thăm viện. Thằng cháu ông ta học y khoa bị rớt. Ông ta đã đến xin tôi chiếu cố, xét lại. Nhưng ông giáo sư y khoa nhất định không chịu! – Ai mà điên khùng vậy? – Adonis hỏi. – Ấy, ngài tiến sĩ trẻ Nattore. Thực ra thì đó là một giáo sư y khoa khá đấy. Phải cái hơi lý tưởng. – Năm phút nữa tôi xin có mặt tại văn phòng của ngài. Khi vội vã đi ngang cái sân rộng mênh mông của viện để tới toà viện trưởng, Hector Adonis suy nghĩ cân nhắc xem phải hành động giải quyết thế nào cho ổn thoả. Cái khó tất nhiên không phải do ngài viện trưởng. Bởi vì ông vẫn thường được ngài triệu đến để giúp giải quyết những việc tương tự. Cái khó là bác sĩ Nattore kia. Ông biết Nattore quá mà. Một giáo sư y khoa kiệt xuất mà cái chết của ông ta sẽ là một mất mát lớn cho cái xứ Sicily này. Mà ngay cả sự từ chức của ông ta sẽ là một mất mát lớn cho viện Đại học Palermo. Tuy có huênh hoang, phù phiếm một chút, nhưng nói chung, ông ta là một người trọng nguyên tắc – trọng đến mức cứng nhắc – và trọng danh dự. Nhưng dù sao ông ta cũng đã phải nghe nói đến Ông Trùm Croce là ai và là người như thế nào chứ. Ông ta cũng phải có một chút lương tri trong cái bộ óc sáng láng của ông ta mới phải chứ? Phải có một cái gì khác, một chút linh động trong vụ này chứ? Một chiếc xe hơi lớn màu đen đậu trước toà viện trưởng. Và đứng bên xe là hai tên cốt đột mặc đồ bảo hộ lao động, cho nên trông chúng cũng không đến nỗi cô hồn lắm. Chắc hẳn đó là tài xế và vệ sĩ của Ông Trùm. Để bọn này đứng ở đây, đối với Ông Trùm đã là một cách tỏ lòng trọng nể viện rồi đấy. Adonis cũng đọc được sự ngạc nhiên và sau đó là sự thích thú của hai tên cốt đột này khi chúng thấy vóc dáng nhỏ thó của ông. Ông đưa mắt nhìn lạnh lùng khiến chúng giật mình. Có thể nào một người nhỏ thó như vậy mà cũng là “Người anh em” được nhỉ? Văn phòng viện trưởng trông có dáng như một thư viện hơn là một trung tâm điều hành công việc. Ngài viện trưởng là một học giả đúng hơn là một người quản lý. Các kệ sách kê kín các bức tường. Đồ đạc tuy có tiện nghi đấy, nhưng thô. Ông Trùm Croce ngồi trong một chiếc ghế bành lớn và đang nhâm nhi ly rượu. Cái mặt của lão gợi cho Adonis hình ảnh của cái mũi tàu bị vênh, méo vì những năm tháng chiến đấu và vì sóng biển dập vùi. Ông Trùm và Adonis đều làm bộ chưa quen biết, chưa gặp nhau bao giờ. Và Adonis cũng để cho người ta giới thiệu với Ông Trùm. Ngài viện trưởng thì biết cái trò giả bộ này, nhưng bác sĩ Nattore thì tưởng thật. Ngài viện trưởng là người cao lớn nhất viện. Giáo sư Adonis là người thấp nhỏ nhất viện. Không giữ lễ nữa, ngài viện trưởng ngồi ngay xuống, lọt thỏm trong chiếc ghế bành, rồi nói: – Chúng tôi có một sự bất đồng nho nhỏ. Nghe nói thế, bác sĩ Nattore khịt khịt mũi tỏ vẻ bực bội, trong khi lão Croce nhè nhẹ gật gật cái đầu tỏ vẻ đồng ý. Ngài viện trưởng nói tiếp: – Ông Croce đây có đứa cháu cứ ao ước làm bác sĩ. Giáo sư Nattore đây thì bảo là nó không có đủ các chứng chỉ cần thiết để có thể cho tốt nghiệp được. Thế mới khổ! Thế mới rắc rối! Bởi vậy, ông Croce mới cất công đến đây và tình bày trường hợp của thằng cháu. Vì ông Croce đây đã từng giúp đỡ nhiều cho viện ta, nên tôi nghĩ rằng ta thử xem lại, xem có thể châm chước cho thằng cháu ông ta một chút được chăng? Lão Croce lên tiếng. Lão nói có vẻ chân thành, chứ không có vẻ gì là xỏ xiên, châm chọc: – Thú thật, tôi là người vô học. Ấy thế mà chẳng ai có thể nói là tôi lại không thành công trong việc kinh doanh. Giáo sư Adonis nghĩ bụng: “Đúng, đâu có cần phải biết đọc, biết viết mới hối lộ, mua chuộc được các bộ trưởng, ra lệnh cho những tên sát nhân, hăm doạ được các chủ tiệm, chủ nhà máy…”. Lão Croce trầm ngâm, thân mật nói, như thể lão đang tâm sự với người tình của lão, đồng thời có pha chút tự hào: – Chỉ bằng kinh nghiệm, tôi đã tìm ra con đường riêng của tôi. Tại sao thằng cháu tôi lại không làm như vậy được nhỉ? Tại sao lại phải cứ làm bác sĩ mới được? Bộ không làm bác sĩ, thiên hạ chết ráo hay sao? Khổ nỗi, bà chị tội nghiệp của tôi cứ héo hắt, buồn khổ vì cái chuyện thằng con trai bà không có cái “mác” bác sĩ để in trên danh thiếp. Bà là con chiên ngoan đạo, bả cứ muốn giúp đời! Như bất cứ ai cũng tin tưởng sắt đá rằng mình có lý, bác sĩ Nattore nói: – Tôi không thể thay đổi lập trường được! Lão Croce thở dài ra cái vẻ nhẫn nhục. Lão nói, giọng phỉnh phờ: – Thì thằng cháu tôi cũng có làm thiệt hại gì ai đâu. Cho nó đậu, các ông cũng có mất mát, thiệt thòi gì đâu. Tôi sẽ thu xếp để nó có một chân trong quân đội, hoặc trong một nhà dưỡng lão. Ở đó nó không phải sờ đến cái ống chích, công việc của nó chỉ là cười, bắt tay và lắng nghe những lời than phiền của họ. Nó dễ thương và cũng khéo mồm khéo miệng lắm, chắc chắn nó sẽ chinh phục được lòng cảm mến của mấy người già tàn phế ấy. Tôi có mong gì hơn đâu? Một mảnh giấy bỏ đi mà ở đây các ông có vô số. Lão đưa mắt khinh khỉnh nhìn những kệ sách kê kín bức tường. Giáo sư Hector Adonis bối rối trước cái vẻ hiền lành, chất phác lúc này của lão. Trung tâm bão lại là nơi êm ả nhất, và lặng gió. Cái vẻ hiền lành chính là dấu hiệu nguy hiểm nhất của con người này. Lão trở mặt lẹ lắm. Bởi vậy, Adonis biết rằng ông phải tìm cách để gỡ cái thế bí này. – Bác sĩ Nattore này, – Hector Adonis nói, – chắc là ông có thể giúp được việc này đấy. Chẳng hạn, kèm cặp nó thêm chút đỉnh, hay là bắt nó thực tập thêm ở một bệnh viện miễn phí nào chẳng hạn. Mặc dầu sinh ra tại Palermo, nhưng bác sĩ Nattore lại chẳng có vẻ Sicilian chút nào. Ngay thẳng, bộc trực và tỏ ra giận dữ. Đó là điều mà không một người Sicilian chính hiệu nào làm trong những trường hợp tế nhị này. Có lẽ đó là một “gen” di truyền từ tổ tiên xa xăm người phương Bắc của ông. – Giáo sư Adonis, – bác sĩ Nattore nói, – ông không hiểu, ngặt một cái là thằng khốn kiếp ấy lại cứ đòi làm bác sĩ phẫu thuật kia! – “Giêsu, Maria Giuse(1), lạy Chúa tôi, – Hector Adonis than thầm, – thế này thì rắc rối to rồi!”. Lợi dụng lúc đồng nghiệp choáng váng vì sự tiết lộ của mình, bác sĩ Nattore nói tiếp: – Đòi làm bác sĩ phẫu thuật mà thằng cháu của ông mù tịt, không biết tí gì về cơ thể học. Nó mổ cơ thể người ta mà cứ như thằng đồ tể mổ bò, mổ heo ấy. Nó có chịu nghe giảng bài, thực tập bao giờ đâu. Mà có đi thì cũng chẳng bao giờ trên tay có lấy một mảnh giấy để ghi chép hay làm bài phúc trình thu hoạch. Nó đi vào phòng giải phẫu mà cứ nhở nhơ còn hơn là đi vào tiệm nhảy đầm không bằng. Tôi công nhận là nó dễ thương. Ông không thể kiếm được một thằng nhỏ kháu hơn thế đâu. Nhưng, ở đây ta đang nói về một người ước mong một ngày nào đó cầm lưỡi dao mổ mà phải giải phẫu cơ thể người ta. Hector Adonis biết rõ Ông Trùm đang nghĩ gì trong đầu. Đại khái là thằng nhỏ ấy có là bác sĩ phẫu thuật tồi đi chăng nữa thì cũng đếch cần. Vấn đề là thể diện gia đình. Thằng nhỏ mà thi rớt thì gia đình hết vênh vang. Nó có giải phẫu tồi đi nữa thì cũng đã sao. Nó có cần sống bằng cái nghề ấy đâu.
Photo edit by Sơn râu
Mà, cho dù có sống bằng cái nghề ấy thì nó cũng chẳng thể giết nhiều người hơn một tay em cỡ kha khá của lão. Thằng cháu của lão có là bác sĩ phẫu thuật hay là bác sĩ gì gì đi nữa, cũng được. Cứ bác sĩ là được. Có thế thôi mà cái ông bác sĩ giáo sư Nattore – tuy còn trẻ mà lẩn thẩn này – không hiểu được cái ý của người ta để chiều lòng người ta một chút. Bây giờ đã đến lúc ông Hector phải “tháo ngòi” để gỡ cái thế bí này trước khi tình hình trở nên căng thẳng một cách nguy hiểm. – Ông Croce quý mến, – Adonis nói, – tôi chắc là giáo sư Nattorre đây cũng chẳng ngại gì mà không chiều theo ý ông, nếu ta tiếp tục thuyết phục giáo sư thêm chút nữa. Nhưng, tại sao thằng cháu ông lại cứ mơ mông, đòi làm bác sĩ phẫu thuật làm gì? Cứ như lời ông thì thằng nhỏ này vốn dĩ hiền lành, dễ thương. Mà cái nghề phẫu thuật, – xin lỗi giáo sư Nattore, – không ít thì nhiều, phải nói là “tàn bạo”. Vì mổ xẻ thế nào cũng dính máu dính me. Vả lại, ở Sicily này, có mấy ai sẵn lòng đưa thân cho người khác mổ xẻ đâu? – Ngừng một chút giáo sư Adonis nói tiếp: – Nếu ở đây chúng tôi cho nó đi qua chăng nữa, thì nó vẫn phải đi Rome thực tập tiếp. Ông còn lạ gì bọn người Bắc? Lúc nào cũng chẳng tìm đủ mọi cách để gạt người Sicilian mình ra rìa. Như thế là chính ông đã làm hại thằng nhỏ. Vậy tôi đề nghị một sự dung hoà như thế này. Bác sĩ Nattore lẩm bẩm trong miệng: “Dung hoà thế quái nào được”. Lần đầu tiên, đôi mắt rắn mối của lão Croce léo sáng lên một cái, như tia chớp. Giáo sư Adonis nói tiếp: – Thằng cháu của ông vẫn được cấp bằng bác sĩ chứ không phải không. Điều trị hay phẫu thuật, nội khoa hay ngoại khoa thì cũng là bác sĩ cả, chớ đâu có kém cạnh gì. Chúng tôi sẽ nói là tâm địa thằng này dịu dàng quá đi, nên không làm bác sĩ phẫu thuật được. Môi nở nụ cười, hai tay dang rộng, Ông Trùm hớn hở nói với Adonis: – Thế là lòng tốt và lý sự của ông đã đánh bại tôi rồi. Thế là đủ. Khỏi cần phẫu thuật phẫu thiếc gì ráo. Bấy nhiêu đó cũng đủ để bà chị tôi yên lòng rồi. Lão vội vã cáo từ. Vì mục tiêu thật sự của lão đã đạt, lão chẳng mong gì hơn. Ngài viện trưởng ra tận xe tiễn lão. Nhưng mọi người trong phòng đều thấy trước khi rời phòng, lão đã lườm bác sĩ Nattore một cái thật nhanh. Thật nhanh nhưng đó là một cái nhìn chăm chú, soi mói như cố ghi sâu vào ký ức để chắc chắn không thể quên được cái bản mặt của một thằng to gan đã dám trái ý lão. Khi lão Croce và ngài viện trưởng ra khỏi phòng, giáo sư Adonis quay ra nói với bác sĩ Nattore: – Ông bạn đồng nghiệp quí mến, ông bạn nên xin từ chức giáo sư và về Rome mà hành nghề. Đó là một lời khuyên – xin lỗi vì đó là từ đúng nhất trong trường hợp này – một lời khuyên đáng được ông bạn nghe theo nhất đời ông bạn. Bác sĩ Nattore giận dữ nói: – Ông có điên không đấy? – Chắc chắn là điên hơn ông, – Adonis chậm rãi đáp. – Tối nay, tôi nhất định mời ông dùng cơm tối với tôi. Và tôi sẽ giải thích cho ông tại sao đảo Sicily không phải là đảo Thần Tiên, là chốn Bồng Lai. – Nhưng tại sao tôi lại phải rời khỏi nơi đây kia chứ? – Bác sĩ Nattore phản đối. – Bởi vì ông đã dám nói “không” với Croce Malo. Cũng một lúc, Sicily không đủ chỗ cho cả hai người. – Nhưng ông ta đã được toại nguyện, chứ đâu phải không, – bác sĩ Nattore la lên, giọng thất vọng. – Cháu của ông ta sẽ thành bác sĩ. Ông và ngài viện trưởng đã chuẩn y điều đó mà. – Nhưng ông thì không, – Hector Adonis nói. – Chúng tôi đã phải chuẩn y điều đó chính là để cứu mạng ông. Nhưng dù vậy, ông đã là người bị Croce Malo để ý. Chiều hôm đó, giáo sư Hector Adonis chủ trì bữa tiệc gồm sáu giáo sư, trong đó có bác sĩ Nattore. Bữa tiệc đặt tại một nhà hàng sang nhất Palermo. Cũng ngày hôm đó, những vị giáo sư kia cũng được một người “đàng hoàng” đến thăm. Và tất cả các vị này cùng đồng ý sửa điểm cho mấy ông sinh viên thi rớt.
Photo edit by Sơn râu
Bác sĩ Nattore nghe câu chuyện của họ mà phát hoảng và ớn lạnh xương sống. Nhưng ông ta vẫn cứ gân cổ lên cãi, khiến cho các vị giáo sư khác phải nổi xung. – Nhưng điều đó không thể để cho nó xảy ra ở một bác sĩ, – Nattore nói. Giáo sư dạy triết đề nghị giáo sư Nattore cho biết: – Tại sao chỉ trường y khoa mới không nên để cho điều đó xảy ra, còn các trường khác thì sao? Phải chăng sự thực hành y khoa lại quan trọng cho loài người hơn là tiến trình tư tưởng rất phức tạp của tinh thần con người và tính thiêng liêng bất tử của con người. Về mặt lý thuyết – dejure(2) – thì không một trường đại học nào được phép để cho điều đó xảy ra. Nhưng – de facto (3) trên thực tế… nhất là thực tế của Sicily… Sau cùng, họ cũng thuyết phục được bác sĩ Nattore rời nhiệm sở để di cư sang Brazil, ở đó, theo sự đảm bảo của đồng nghiệp, một bác sĩ giải phẫu có cỡ thì có thể kiếm ra tiền. Đêm đó, giáo sư Hector Adonis đã ngủ một giấc ngủ của một người vừa làm được điều thiện. Nhưng đến gần sáng, ông bị đánh thức bởi một cú điện thoại từ Montelepre gọi tới. Turi Guiliano, thằng con đỡ đầu của ông mà trí thông minh của nó đã được ông dưỡng dục, bản tính tốt lành của nó đã được ông cảm mến và quí hoá, tương lai của nó đã được ông sắp đặt – vừa mới hạ một tên cớm. ……… (1) Tên của các vị thánh mà người theo đạo Thiên Chúa vẫn kêu cầu mỗi khi gặp khổ sở, khó khăn, nghịch cảnh, nguy hiểm (2) (3) Dejure, de facto: tiếng La – tinh (đôi khi có phần làm dáng của giới khoa bảng) – có nghĩa là trên lý thuyết, trên thực tế.
Tôi vừa thấy bài nói trên đây, đề ngày viết 7-10-93, đã được đăng trong Văn Nghệ số 117, tôi mừng vì có tiền và đỡ bớt ăn cơm chiên mỡ hoài ngán quá, và tôi xin nói liền ra đây, sở dĩ tôi thường đề ngày đã viết và tôi xin mấy thầy cò, mấy ông ra tiền mua máy in, đừng bôi bỏ của tôi, vì những chi tiết nhỏ nhặt ấy về lâu mới thấy có chỗ dùng, và đó là mánh lới của nhà chơi sách, nhà chơi đồ cổ gàn dở như tôi, và nay vì đã tàn tạ gần trở đầu về núi nên không giấu nghề làm chi, chớ thuở nay tôi không muốn nói, cốt để tránh đường cho mấy người mới viết cho mình đọc, sướng hơn… Sở dĩ tôi nói giấu nghề, vì tỷ như nghề chơi đồ cổ, nghề mua sách lạ, nếu nói, e người có tiền mua giành, thì cũng chưa mấy hại, chớ nếu nhà tra xét nơi hải quan, nhà kiểm-soát-bắt-đồ-lậu biết, thì chết cha mồ tổ. Có nhiều việc xưa, như tô hủ tíu trước giá sáu xu, nay giá hơn bạc ngàn, nếu sách báo lược bỏ, thì người đi sau làm sao rõ việc người đi trước.
Tiện đây tôi xin nói phứt để làm quảng cáo cho tôi, là tôi có cho đăng năm rồi 1992 một tập hồi ký “Hơn nửa đời hư”, tôi bị một thằng-cha-trời-đánh, đứng trung gian, mượn đầu heo nấu cháo, làm tài khôn, sửa và bôi bỏ của tôi, nhiều đoạn tôi cho là đáng tiếc, vì những đoạn ấy chứng tỏ xưa khác và nay rất khác, tỷ như bản thảo viết “vàng đổ đé để cho bớt móp”, sách H.N.Đ.H. in ra “vàng đổ đá…”, đá hột lớn làm sao nhét vô chiếc vàng và đé là đá tán nhỏ thành bột mịn, mà thằng “mắc dịch thầy cò, cóc đi guốc” kia nào biết, và nguyên một đoạn dài tôi tả cảnh cố phụ thân tôi, vào năm 1890 mua được một chiếc xe đạp bánh-bộng-bôm-hơi…, hai trang ấy tôi mất mấy ngày mới viết thành hình, tôi nhớ cha tôi ghét nịnh và đã bán xe để cho tụi mấy ông mấy thầy đời đó, đi xe-đạp-bánh-cao-su-đặc, thường đến mượn chiếc xe-bánh-bộng của Ba tôi để ngồi xe ấy đã bớt tức dái thế nào, ấy vậy mà người thầy cò in sách mướn, đã đành bỏ trọn hai trang của tôi, không trách tôi gọi “trời đánh” sao đặng?
Tôi lỡ viết ba hoa chích chòe cho đỡ tức, tôi xin lỗi với độc giả, nay xin nói qua về đồ cổ, bộ môn tem gởi thơ, sách quí hiếm lạ, về những việc nầy, tuy tôi không có học luật, nhưng nghề dạy nghề, tôi biết hai chữ Pháp như sau:
1) chữ “préhension” và 2) chữ “préemption”, hai chữ tròm trèm gần như nhau, rất quan trọng về ngành chơi đồ cổ, và tôi xin múa bút giải nghĩa như sau:
1. Préhension, sách Petit Larousse dạy: “préhension” mot latin, prehensio, action de saisir, de prendre; l’éléphant exerce la préhension avec sa trompe.
Tôi dịch: “préhension” là do chữ la-tinh “prehensio”, có nghĩa là “thộp lấy, chụp lấy”, và tỷ dụ con voi, con tượng dùng vòi mà nắm, chụp, bắt món vật nào nó muốn, vân vân. Và tôi xin khuyên khoan dùng chữ nầy, và nên dùng chữ préemption.
Tôi giải nghĩa như sau: préemption, n.f. (lat. proc, avant, et emptio, achat). Achat fait antérieurement. Faculté que détient une personne ou une administration, en vertu de la loi ou d’un contrat, d’acquérir un bien de préférence à toute autre. (Le droit de préemption des musées nationaux leur permet d’acquérir un objet d’art vendu par adjudication publique, au prix de la demière enchère).
Tôi dịch: “préemtion”, do chữ la-tinh, pros, avant là trước và emption, achat, tức là mua, mua được tiên khởi. Và đó là một lệ định sẵn và đã được chấp thuận giữa một chánh phủ hoặc một người đã giao ước với nhau từ trước.
Nhờ luật préemption nầy mà viện bảo tàng của một quốc gia nào đó được quyền tiên khởi mua lên một món vật quí báu, mỹ thuật đã bày bán trong một cuộc phát mãi công khai và lấy theo giá chót nhứt định của cuộc bán đấu giá ấy, hoặc do đèn đã tắt hoặc do cây búa lịnh của nhà lãnh nhiệm vụ bán đã gõ lịnh rồi, và nhờ vậy, giá bán vừa không làm thiệt hại quyền lợi người chủ bán, mà cũng không thiệt thòi người trả giá chót muốn mua, vì lấy công bình mà nói, cố nhiên người muốn mua phải nhượng quyền ấy cho viện bảo tàng vì ích lợi chung.
Luật ptéemption nầy đã được các nước phương Tây, bên Âu-Mỹ thảy đều công nhận và đã áp dụng từ lâu, và nước ta tưởng nên dùng theo cho phải lẽ.
Tôi xin viết thêm vài tỷ dụ tôi biết để dư luận công chúng thẩm xét.
Cách nay vài năm, nhà nước ta đã ngăn cản không cho một nhà giảo giá bán tại kinh đô Paris một bộ môn đồ sứ men lam trước mua ở đây tại mấy nhà buôn đồ cổ ở Sài Gòn, nhưng rốt cuộc tòa Tây vẫn cho bán, vì xét ra bộ môn ấy vẫn mua tại những nhà có môn-bài, tức không phải vật đánh cắp. Riêng tôi, tôi xin nói thêm là người chủ bộ môn bán được nhiều tiền song đã quên ơn người dẫn dắt mua giúp, nhưng đó là việc tư riêng, trách sao được lòng người, đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm, là chuyện thường tình và lòng biết ơn vẫn thường ít có.
Và nay có hai ba việc nhỏ nầy xin nói luôn để làm tư liệu và để khi trà dư tửu hậu. Việc thứ nhất, đời Tây còn ở đây, một bữa chủ nhựt nọ, nơi nhà tầm-tầm đường La Grandière cũ, gần thư viện cũ, có bày bán một nghiên mài mực cho rằng tối cổ, vì làm bằng một mảnh ngói dày dày và lớn cỡ 25 cm x 40 cm, viên giảo giá Tây sẵn thấy có mặt hai tôi, ông B.Groslier, quản thủ chánh viện bảo tàng và tôi là phụ tá. ông Cardi xin giấy chứng nhận rằng nghiên mực là ngói Vị-Ương-cung đời Tây Hán. Groslier vừa muốn ký giấy chứng nhận, nhưng dè dặt hỏi ý kiến tôi, tôi liếc cời và nói nhỏ đủ nghe: “Ông là chủ, tự ý ông định và làm lấy. Riêng tôi, tôi tưởng không cần gánh vàng vào kho làm giàu thêm cho ông bán đấu giá…”
Và rốt cuộc, tuy không giấy chứng, nhưng đã có một phụ nữ người Trung Hoa, giơ tay mãi và đã mua được Nghiên mực. Giá bán 9.000$, thêm 900$ hoa hồng: 9.900$00.
Một miếng ngói chưa chắc của cung Vị-Ương, và cung nầy xưa có bao nhiêu ngói.
2. Một việc thứ hai lại là việc của kẻ hèn nầy. Năm 1963, tôi được sang Pháp, học bổ túc về ngành đồ cổ, tháng 7 dương lịch, sẵn còn dư tiền, tôi mua nơi đường rue des Saints-Pères, một hũ đựng cốt đời Tống, chủ hiệu gọi điện thoại, mời cô Stertevens chưa chồng đến làm giấy cho chở ra khỏi Paris, cô cười hỏi: “Sao chở củi về rừng?”. Tôi đáp: “Vì bên xứ hũ ít có nắp.” Và tôi cẩn thận xin đóng thùng gởi theo đường biển vì tôi còn sang Thổ Nhĩ Kỳ xem đồ gốm viện Topkapyl ở Istanbul. Chẳng lành mà chớ, khi về bị giấy sở Nhà Rồng đòi, và Kho 5 đòi phải trả thuế. Tôi nài nỉ dối rằng mua cho Viện bảo tàng, viên chủ Kho 5 cười cười mà rằng: “S. với tôi vốn quen nhau từ ở Sốc Trăng. Nay tôi không nhận thuế nhưng S. trả 5.000$ cho tụi nó!” Tôi đành móc bóp trả đủ, nhưng dè dặt xin mở gói trước mặt hãng Tây vì có trả tiền bảo lãnh bảo kê. Khui thùng ra, thì hỡi ôi, cái nắp hũ đựng cốt đã bể làm hai, vì buổi đó chưa biết loại mủ bao bọc món vật và gói ghém không được an toàn. Chủ hãng bảo hiểm thường cho tôi 7.000$, có dư tiền mua và dư dã tiền đúc sáp, tiền bồi thường bỏ túi xong, tôi hỏi ông Tây chủ bảo kê nắp bể đem về để làm gì, ông Tây bắt tay từ giã và nhã nhặn nói: “Xin biếu để làm quen”. Tôi sướng quá, mà không dám nói lớn, một tội hối lộ, một tội nói “Sướng” là chữ cấm kỵ của bà quả phụ nhà văn chết tại lớp giảng năm xưa ở Đại học Văn khoa, nhưng thưa chị M.T. chị cữ nói tiếng ấy cho rằng tục, nhưng theo tôi, cữ là tự “lạy ông tôi ở bụi nầy!”, chớ tôi đã từng nghe một chị răng đen, bán bắp giã, chỉ nói: “Giờ nầy mà bán được sạch gánh, sướng đi đời!” và thành ngữ “khoái trá” tục hay không, tôi xin hỏi.
Viết đến đây, bỗng nhớ một việc cũ, xin viết thêm. Cách nay ít lâu, có một cán bộ trẻ quen với B. con tôi, đến hỏi: “Có lượm được một món ở Thanh Hóa, muốn đem lại nhờ cho biết có quả cổ hay chăng và nếu bán, nên cho biết giá”.
Tôi đã trả lời: “Nếu con anh không tiền đóng tiền trường hay vợ anh đau, vật anh lượm thì đâu phải vật cắp vật gian, tuy vậy xin anh hỏi nơi viện bảo tàng, tôi khuyên đừng đem lại lây cho tôi mang tội tìm cách tẩu tán đồ nhà, tôi đã chán lắm và không muốn nghe đến đồ cổ. Tuy tôi nói làm vậy mà xin anh đừng thối chí đừng để cho con lấy vật ấy đâm ớt đâm tiêu, vì vật ở Thanh Hóa quí đấy”.
Buổi ấu thơ tưởng sau nầy sẽ là rường cột, ngờ đâu già đời chỉ là “chưa xứng cầm tăm xỉa”, và vì có vợ hàng thứ 5, nên cũng xưng “Năm Cù-nèo”, cho hay Cù-nèo cũng là tiếng Việt, tương đương cây can (canne), cây ba-toon (baton) Pháp. Thôi thì đành vậy. Về hào phu thê, tác giả hai bài thi, đi đủ ba cửa:
1) Vợ cưới lần đầu, do cha mẹ chọn, ở với nhau chưa nát một chiếc chiếu (9 tháng) sanh ngoại tình, tình tan như thạch thủy. Phải ly dị. (Cưới ham vợ giàu tiền)
2) Qua năm 1927, thi đậu chức cò-mi, được kén vào làm rể, sau khi hẹn non thề biển, từ nghèo, làm cho nội-ổ là bà Phủ An ở Sốc Trăng, chúc ngôn cho kim cương hơn ba trăm hạt, ruộng tốt ở Hòa Tú (Sốc Trăng) 2.000 công (200 ha), nhưng năm 1945-1946 xảy ra biến cố đảo chánh kéo theo biến cố trong gia đình, lại hồ tan keo rã, nồng mặn được 19 năm (1927-1946) rồi chia tay, kim cương, vàng bạc về nàng, tôi giữ được mớ sách và mớ dĩa chén khờn mẻ nhưng vẫn là đồ xưa. Thương nhau vì tình nhưng khi được nhiều tiền thì lòng đổi khác, ly dị lần nữa: bị phụ tình, nàng nay đã chết, tuy đây vẫn còn tiếc và thương. Duyên vì tình cũng hỏng.
3) Qua kỳ 3, sự bất quá tam, nhưng nói nữa làm chi, vợ thứ ba nầy, không lập hôn thú nữa, nhưng nàng thứ ba vào năm 1988, cũng mãn phần, sau 41 năm chung sống. Tiền cũng hỏng, tình có thề nguyện cũng trôi sông, lần 3 kết duyên muốn được đúng câu “lương nhân, tài tử” thì 41 năm gãy gánh, nay có thằng mình nuôi từ bé nay nó bôi mặt kiện mình ra tòa, việc chưa biết kết quả thế nào, viết đến đây, trời kéo mây tối mịt không thấy đường nữa, ngày mai 10 novembre là 27 âm lịch tháng 9 năm Quí Dậu, đúng là ngày sanh của mình, hay là ý trên đã định, nên dừng bút nơi đây, bỏ lỡ không giải nghĩa tiếp mấy câu dưới của 2 bài, vì lòng nát ngướu và chán ngấy, không muốn mừng ngày cha sanh mẹ đẻ và chỉ muốn được như ngày xưa nơi bờ sông, hát câu “ra đi mà không có chuyến về”, nhại câu nho “khứ bất phục phản”.
Cũng vừa đúng dịp, hôm qua hay tin Châu Hải Kỳ từ trần, đọc sớn sát câu viết nơi trang 2 tập kỷ niệm Nguyễn Ngu Ý, câu viết “sau năm 1945…” 2 tôi sớn sát đọc lẹ là “Sanh năm 1945” và viết lỡ mấy hàng trong tập bản thảo, vậy xin cáo lỗi và xin độc giả tự cải chánh giùm, vì với tuổi lỡ khao 93 nầy, tôi không còn thời giờ làm việc vặt vãnh như vậy được.
(viết sáng ngày 7 tháng 9 năm Quí Dậu / 5-XI-1993).
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.