vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(Viết ngày 29-11-1993)
Post by Sơn râu 20 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu
Phần 45
Tội Nghiệp Cho Phạm Đăng Hưng, Nhân Vật Lớn Đất Gò Công
Gọi ông bằng gì cũng khó. Ông là cực phẩm trọng thần đời vua Gia Long, nhưng nay mộ lăng không được ấm cúng, nên tôi hạ hai chữ tội-nghiệp. Đó là hỗn. Nhưng biết làm sao? Có người đã khuyên tôi sống dai biết khá, hãy kể nhơn vật xưa đất nầy nghe chơi. Tôi cũng muốn lắm. Nhưng bức mây động rừng. Có nhiều ông bự, trước làm nhiều việc không hay, tỷ như Trần Bá Lộc, nhưng nay kể việc ông làm, cũng không xong. Biết đâu chừng, dòng họ ông dầu nay thay danh đổi tánh, nhưng nay mình nói động, họ thù họ ghét, viết không ăn được mấy đồng, mà cái hại to lớn như bồ lúa. Một ngày nào mà họ quăng cho gãy giò, đáng kiếp tiền viết lách không đủ chạy thuốc. Bằng như viết để bêu thơm, cũng khó. Người đọc bài sẽ chê viết nịnh bợ!
Nói ba hoa rồi cũng phải viết, cho đỡ buồn. Lấy sự tích nầy làm gương.
Phạm Đăng Hưng.
Sanh tại giồng Sơn Qui (đất nổi cao như mu rùa) cũng gọi là giồng Khổng Tước, vì xưa có chim công đến làm tổ nơi đó. Lớn lên theo đánh giặc, người nào theo Tây Sơn thì nay được tôn, người như Hưng, theo Gia Long, khi về già, vua hấp hối, gọi lại và cho làm người tin cậy, giữ lời trối. Rốt lại, người nhận trối được dân tôn làm thần, và đó là đức Tả-quân (nơi Bà Chiểu), còn Hưng, về làng nhau rún, xây mộ, lại bị mấy lần phá phách: lần nhứt, bia đá có chữ của Phan Thanh Giản, khi bia chở về tới cửa biển trong nầy, gặp lúc Tây đánh, bên mình giết đại úy capitane Barbet của chúng, chúng đoạt thuyền cướp bia, lấy bia chạm lên ba chữ Tây “ci-git capitaine Barbet”, vân vân; rồi dựng bia nầy nơi mả Barbet ở nghĩa địa Sài Gòn, tôi từng thấy bia nầy tận mắt, rồi nghĩa địa Tây bị ta phá bình địa, tấm bia đá ấy xiêu lạc hà phang? Vua Tự Đức sai làm bia khác cho ông ngoại, bia đem về Gò Công và có được dựng lên hay không, tôi làm sao biết, duy mới rồi, mua tờ tuần báo Văn Nghệ số 110 (7/10-10-1993), nhìn kỹ nơi trang 8, thấy mập mờ lăng họ Phạm, nơi phía lưng có dạng cao cao và bị che khuất, có phải đó là bia thứ 2 của đời vua Tự Đức sót lại hay không? Trong bài ấy, tác giả, ông Nguyễn Hoài Nhơn thuật rằng lăng mộ nầy bị phá phách, mấy con sư tử đá rất khéo, di tích kỳ công thợ Huế thế kỷ XIX nay hư hao đã nhiều, hóa ra dân ta còn khờ quá, không có lòng tôn trọng mỹ thuật cổ, dầu của đời nào, đời Tây Sơn hay đời triều Nguyễn Phước cũng là cổ vật nên để dành, và tại sao làng xã Gò Công để cho chăn trâu chăn bò phá đi. Ai ghét cộng cho bằng dân Anh, nhưng họ đâu có dại và Ăng-lê vẫn tu bổ mộ phần của Karl Max để dụ ngoại dân đến làm giàu cho xứ sở, nhà ngủ có người nước lạ đến ngủ, quán cơm có người nước lạ đến xơi, gẫm lại, biết khôn thì nhờ, và quá ghét, chửi đổng mà có chết ai, và xài hoài chữ Việt-gian, phản quốc, v.v… mà ở đời ai biết ai dại ai khôn, ai phản ai trung xin hỏi…
Họ Phạm xưa có làm ác gì mà nay cháu con trả quả. Mộ bà Từ Dũ bị đào, bắt đứa đào mồ không rõ làm tội và xử phạt cách nào, chỉ xem trong báo cũ, mấy ông tòa xử nấu nữ trang chảy ra vàng chia chác, chia nhau được bao nhiêu mà hại cho văn hóa xiết bao. Tại sao không trưng bày nữ trang tuyệt tác mỹ phẩm đời XIX của Cung nội, người phương xa đến đây nhìn nữ trang ấy rồi bỏ của ra mua cơm mua chỗ ngủ, chẳng là lợi ích bội phần. Làm ông tòa ngồi xử mà nấu vàng vòng khéo léo làm vật khéo hóa ra vàng nguyên khối, ai lên án và xử mấy ông đây? Nói nữa vô ích.
Bây giờ có lệ chê là dị đoan, nhưng đọc báo thấy nói ở Hà Nội, người mua nhà đào nền nhà còn sót xương vụn của người kháng chiến chống giặc Tây những năm lối 1945-1946, đã không trình cho nhà nước lấy cốt chiến sĩ đưa về nghĩa địa anh hùng lại lấy xe chở cho khỏi nền nhà, rồi đốt ba cây nhang, như vậy xin hỏi có còn ảnh hưởng dị đoan hay không? Gẫm cho cùng, mộ bà Từ Dũ, ở Huế bị đào, nhà cửa họ Phạm ở Gò Công, bị họ Ngô Đình áp dụng trật lất luật ấp chiếc lược chiến mẹ gì đó, báo hại họ Phạm, có công lớn với triều Nguyễn Phước, mà cũng không giữ được tròn câu “uổng tác thiên niên kế, nan tải bá niên phần”, tôi học lỏm viết câu nầy mà tự thẹn và nhớ lại họ Ngô Đình, ông Khả là quan võ, sanh con, con tập ấm được đặc cách học nơi trường Giám, làm tuần-vũ, sức học không bằng ông Quỳnh, mắc cỡ, nhảy qua đất Mỹ, lấy danh theo Da-tô, xưng chí sĩ, nhờ Mỹ đưa lên làm tột bực cao, làm được chín năm, xách va-li kim cương, đô la, vàng cả mấy trăm kí, rồi va-li bị giựt, thân bị bắn, xác chôn nhiều lần, ở cạnh bộ tổng tham mưu, bị dời về nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi, rồi nay chạy lên nằm với mẹ, với em, xin ơn trên che chở cho được nằm yên, trong khi còn lại anh lớn, bị đày nơi tòa thánh La Mã, em dâu nay nghe như có chồng khác, một mụ nầy oai như cọp cái, coi thiên hạ như không, rốt lại Xuân đã hết xuân, bớ Trần Thị Xuân thị giả. Người cha, làm luật sư ở Sốc Trăng, làm đại sứ ở Londres, chạy qua Mỹ, nghe như chết bị đứa con sát, phải chăng luật quả báo, không tin, mà vẫn có.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.