Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com
Vương Hồng Sển

(Viết ngày 6-12-1993)

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 47

Nhớ Mẹ Và Nhớ Chùa Cơ-Me Watt Xà Lôn Ở Gần Làng Đại Tâm, Tỉnh Sốc Trăng

Tôi năng đọc tờ Sài Gòn Giải Phóng, và nay gặp trong số 151, tr.12, có bài của Nguyễn Hữu Hiệp, nói về “Đàn dơi ở Chùa Mã Tộc”. Lòng bỗng xúc động nhớ một cảnh chùa Thổ cũng ở tỉnh nhà Sốc Trăng, chùa nầy có phần cổ kính và phong phú không thua chùa Mã Tộc, vậy xin nhắc lại theo trí nhớ, vì sao biết dời, vật nay biến đổi không ngừng, cảnh tôi thấy năm trước, nay có còn chăng? Và đó là chùa Xà Lôn, trên con đại lộ quốc gia Thăng Long/ Minh Hải, chùa nầy cách làng Đại Tâm (Tài-Sum, Xoài-Cả-Nả) độ chừng hơn bốn kí-lô mét ngoài, và tôi kể mấy địa danh lạ tai nầy, mấy ông mới có biết đến chăng?

Trước tiên, xin mạn phép hỏi mấy nhà cầm quyền ở tỉnh nhau rún của tôi, và xin hỏi vì lẽ nào viết tên tỉnh, chữ Sốc, bỏ mất dấu và còn Sóc Trăng?

Tôi vả lại là người đã lỗi thời, quá già, nay 93 tuổi, chết nay chết mai chưa biết, nhưng vẫn biết hồi đời Tây còn ở đây, chúng viết Soc-trang, để gần như tiếng Pháp, còn dân chúng vẫn viết Sốc Trăng, chứ Sốc có dấu mũ, và đó là dựa theo tiếng Khmer Srock Khléang, người Tiều nói Khắc-làng và cổ nhơn ta âm ra Sốc Trăng, chữ Sốc, xưa nay đã nhìn nhận là “làng Cao Miên”, mấy người mới, lẽ đáng nên giữ y và viết theo như cũ, còn căn nguyên “đi đổi sốc” là đi trao đổi buôn bán với người Miên trong Sốc, cũng như “đi Buôn” là đi trao đổi mua bán với người đồng bào Thượng và Buôn là Làng Thượng (Buôn Mê Thuật), vân vân.

Viết Sóc Trăng, tôi hiểu Sóc là mồng một và làm sao mồng một có trăng?? Sửa đổi cho hay cho có lý thì cũng nên, chứ đổi mất dấu mũ, tôi ở xa không dám cải, nhưng tôi vẫn buồn. Chuyện cũ nhắc lại, tỷ như “cửa Trấn Di” tôi đã nói trong một bài báo nay không nhắc lại, Trấn Di đối với cửa Định An bên phía Trà Vinh, bên phía Sốc Trăng là cửa Trấn Di, mà nay cứ gọi là cửa Trần Đề, khiến trẻ em hậu sanh lâu ngày hiểu lầm hiểu sai, tôi cho là tại người cầm đầu trong tỉnh không tôn trọng địa-danh cũ, và vẫn toan đổi mới.

Tôi cũng không hơi đâu cãi vã làm chi, và viết bài nầy, chung qui chỉ vì nhớ mẹ, và nhớ chút chuyện xưa, kể lại đây, giúp vui độc giả và người bản xứ, và nghe hay không tôi cũng không ép. Và xin cáo lỗi đã quá lẩn thẩn dài dòng.

Mẹ tôi sanh năm Mậu Dần 1878, mất năm Quí Sửu 1913, cách nay đã tám chục năm, vong hồn ắt đã đi đầu thai lớp khác, và nơi mộ phần ở Sốc Trăng có lẽ quan tài đã mục, nắm xương đã hóa đất, nhưng con đây vẫn nhớ mẹ rành rạnh không quên, và tình mẫu tử, con còn tắc hơi thở nào, vẫn còn nhớ mẹ. Và quên làm sao được, trong khi mẹ nằm xuống, thì con đây vừa tuổi đếm mười một (11 niên), tấm thân cô quạnh, vừa biết ơn mẹ thì mẹ đã không còn.

Con nhớ lại, Ba của con, tánh nghiêm, con sợ lắm lét, mỗi việc con đều trông cậy và nhỏng nhẻo với mẹ, xin xu xin tiền ăn bánh cũng xin với mẹ, bị thầy giáo trong trường giọi u đầu, khi tắm mẹ hỏi, cũng thì học lại với mẹ, thằng cha thầy giáo dạy lớp Tư-nhì (cours préparatoire) tên Phan Thanh Viên, biết cha mẹ có tiền, nên giọi đầu con để ép Ba đứng ký tên bảo lãnh cho Viên vay bạc năm chục đồng (50$00) nơi tiệm chà chetty rồi cuối năm ấy, Viên xin đổi về tỉnh Bến Tre để số nợ lại cho cha tôi trả thế, Viên giữ về mô phạm mà đã lỗi với đạo làm thầy và phận sự làm người ngay thẳng, như vậy không trách nay con nhắc tên thầy Viên ra và đính chánh Viên nầy không phải thuộc dòng họ quan Phan Kinh-lược kia đâu, và nay con bồi hồi nhớ mẹ và thầm trách năm 1913, Sốc Trăng còn quá quê mùa, dân trong tỉnh không dám chụp hình thâu ảnh để lại vì vẫn cứ tin máy ảnh sẽ hớp hồn người đứng cho chụp hình, và thuốc men đời đó dở quá, mẹ nằm chỗ, rồi đau kiết, và thuở đó cứ nói “người nằm chỗ đau kiết, vô phương trị”, rồi cứ mới thầy Miên (Cơ-me) đến đọc thần chú và thầy nhậu nhẹt cho no nê rồi nhận tiền cúng trở về sốc về làng, tên thầy bùa thầy ngải đời đó, làm nghề ác ôn như vậy mà được nhiều tiền hơn các bác sĩ chuyên khoa ngày nay, và hồi đó dân tình còn quá dị đoan, mẹ tôi mất vào tuổi 33, lại biên trên giá triệu cước lên tuổi tam thập ngũ, để tránh tuổi Nhan Hồi, và tôi vừa mười một, mất mẹ, bơ vơ mà không biết kêu chít chít như gà và vẫn khóc thầm và phải tập bớt sợ và làm quen với người đào tạo ra mình, và từ đó, mẹ đã mất, chỉ còn nương dựa vào cha, và cha sanh mẹ đẻ, nay vẫn mừng cả hai làm tròn bổn phận duy Sển nầy thiếu sót chưa bồi bổ công sanh-thành, và nay làm được chút gì gọi hữu ích cho xã hội thì cả cha lẫn mẹ vẫn không còn, và câu “ơn cha như Thái-sơn, nghĩa mẹ như Đông-hải” quả là thấm thía.

Nhắc lại đã mồ côi mẹ rồi, mới học vào đời. Ba tôi rất tốt, nghiêm ít nói nhưng rất mực thương con. Duy tiền mua bánh tại trường, vẫn bị thằng bạn lớn tuổi và to con hơn ăn hiếp. Cái bánh xầy giá một xu (0$01) mua vào giờ ra chơi, nước mắm vừa chan, miếng ớt cay còn đó mà con tép ngon lành của cái bánh đã có thằng Chín con của thầy đội ma-tà ăn giùm, không cho nó cắn thì nó đón đường đánh đá, chi bằng thí một miếng tuy chưa học tới gương Hàn Tín lòn trôn…

Năm 1912, lên lớp Tư-nhứt (cours élémentaire) khỏi được tay thầy ác ôn Viên và may gặp thầy Dương, tánh hiền, về sau gặp tôi nơi Đại học Văn khoa Sài Gòn tôi chấm đậu một sinh viên tên Danh Sĩ họ Nguyễn, và đó là con thầy cũ tôi trả ơn muôn một. Kỳ bãi trường lớn, nghỉ học sáu chục ngày, bỗng cậu Hai tôi ở Xoài-Cả-Nả, ra nói với Ba tôi và lãnh tôi về làng quê mẹ, sắm sửa cạo đầu, cạo luôn cặp chang mày, để kịp ngày mai, ngày lành tháng hạp, lên chùa Xà Lôn, xuất gia đầu Phật, cậu tôi cắt nghĩa, nay tuổi đủ mười hai (thập-nhị tuế), phải tu tắt đủ một ngọ (hai mươi bốn giờ) gọi báo hiếu theo lễ tục đàn thổ, trả ơn cho mẹ, để hồn mẹ sớm được siêu thăng, hoặc đầu thai qua lớp khác. Tôi hỏi cậu, không thuộc kinh kệ làm sao tu, cậu trả lời: “Cứ quì trước bàn Phật có một ông sãi-cả người Miên quì kế bên, và đừng sợ, cứ sãi đọc chữ nào thì nhái y lại chữ ấy và đó là tu vậy”. Tôi hỏi vói, còn cạo chang mày là nghĩa gì, cậu tôi đáp: “Tục người tu theo Miên, chang mày là dấu ám hiệu cho việc tỏ tình với gái, nên phải cạo sạch hết cho khỏi bụng tà, còn tóc cạo trơn tru, nội hai tháng bãi trường đủ thì giờ cho tóc mọc”.

Nhờ vậy, tôi được biết cảnh u tịch thiêng liêng của chùa Xà Lôn nầy.

Năm trước đây, cách nay chừng bốn hay năm năm, tôi có dịp trở về Sốc Trăng, viếng chùa Xà Lôn thì đã đổi thay cảnh vật không như vào năm 1912 kia nữa. Chùa cũ có lẽ vì lâu niên nên hư tệ, và đáng trách người Miên không biết tồn cổ và đã ham theo mốt mới nên chùa Xà Lôn như tôi thấy lúc viếng, đã không còn cảnh trí như cảnh năm 1912. Năm 1912, tôi bị cạo trọc lóc vừa tóc vừa chang mày, lại bị trọn một ngày, hai mươi bốn giờ, cỗi bỏ áo quần và mặc vào mình một áo sãi-con màu vàng nghệ, không có áo lót, và dưới thân không mặc quần, lạnh buốt phát run trọn một đêm nằm trên vạc tre ọp ẹp của nhà sàn cao cẳng là nhà tiếp khách của chùa, nhưng cũng may, với tuổi thơ, cơn ngủ đến không kịp đỡ và đã ngủ thẳng ống đánh một giấc ngon lành quên cả trời đất, rạng ngày hiện ra một cảnh thần thông biến ảo, nửa tin rằng thật nửa ngờ chiêm bao. Viết đến đây bỗng có khách đến nhà, lại phải tiếp và khi khách về thì bao nhiêu hứng đã mất, nay viết nối, bời rời như cơm nếp mắc mua, – cảnh lạ lùng thấy có một lần đó (lúc 12 tuổi đầu) và nay thuật lại như trên phim hát bóng…

Viết tiếp ngày 7-12-93:

Sáng sớm ngày vào tu tắt “một ngọ”, tôi bị đánh thức lối trời chưa rạng, tôi nghe ồn ào như nhóm chợ, điếc tai tiếng chim kêu chát chúa trên đầu, tôi vừa còn say ke, con mắt nhắm con mắt mở, bước ra khỏi nóc nhà khách thì thấy trên cao ngoài sân chùa, không biết muôn-thiên chim diệc đứng trắng xóa trên một sàng lớn như sân phơi lúa cho nhánh và lá những cây cổ thụ diệp to (cây phượng vĩ của người Bắc), những nhánh và lá ấy chim diệc đã bẻ đã uốn lại từ hồi nào và làm nên sân phơi lúa như tôi nói đây, và trên sân ấy, chim nhỏ chim con vừa mới nở đã rộn rịp như buổi nhóm chợ đông, tôi đang bần thần say ngủ thì thoạt thấy một sãi nhỏ, mặc áo màu vàng nghệ như tôi, tay cầm một cây tre dài, đầu ngọn chẻ ra làm hai và sãi-con nầy vừa cầm cây tre lúc lắc, tiếng nghe lộp-cộp lạc-cạc vài tiếng như ra lịnh bắt im, và tức thì, tiếng ồn ào im bặt, cảnh trí lặng trang, và cậu tôi đã kéo tay tôi đưa vào quì gối trước bàn thờ Phật, và kế bên tôi có ông sãi-cả, trụ trì Watt Xà Lôn đang đọc kinh, và tôi đang nhái lại và nay tôi chỉ nhớ có hai tiếng “Na-mô” y như tiếng “Nam-mô” của mình, còn bao nhiêu tiếng kinh kia tôi đã quên mất tất cả, chỉ biết và xin cải chính, sãi Miên không dùng chuông mỏ và chỉ dùng tiếng trống ra hiệu lịnh trong chùa, (những gì các sách báo ta thuật rằng chùa Phụng Sơn-tự ở Phú Lâm, trước có đào gặp chuông đồng của Cơ-me, những tin như vậy là sai bét, và nên đừng dùng đừng tin theo nữa), ấy với tuổi 12, tôi nhại ông sãi chùa Watt Xà Lôn, là tôi đã thành tâm cầu nguyện cho vong hồn mẹ tôi sẽ được siêu thăng tịnh-độ và tôi đã trả được chút nào công mẹ tôi đã mang nặng đẻ đau. Ngày nầy, hôm nay, 7-12-93, tôi đinh ninh hồn mẹ đã khỏi vùng khổ-hải và chỉ duy còn một tôi, 93 tuổi, đang nhớ mẹ và mẹ đã không còn ngót tám chục năm rồi (1913-1993). Nói tắt lại, kinh trong chùa vừa tụng xong, một sãi-con khi nãy, vừa ló đầu ra khỏi chùa và bước ra sân thì tức nhiên trên sàng điệp cao, tiếng diệc ồn ào trở lại như cũ; như vậy xin hỏi có linh thính hay linh thiêng thật không và độc giả ngày nay, giàu duy-vật hơn duy-tâm, có tin lời tôi thuật đây cùng chẳng? Tôi kể tiếp, sãi Miên, khi tụng hay đọc kinh, vẫn có dùng một quạt tròn có cán để che trước mặt cốt để chú tâm vào kinh và không tà tâm ngó liếc những gái những phụ nữ Miên đang quì trước bàn đức Phật. Tôi thuật dài dòng vừa tới đây thì có khách Việt kiều đến nhà nữa, và cái số tôi khi viết phải viết đứt đoạn mà cũng may, với tuổi 93 nầy, trí còn đủ minh mẫn và viết cũng chưa lộn xộn gì lắm.

Viết tiếp ngày 8-12-93

Ở chùa Miên Watt Xà Lôn nầy năm 1912 hay 1913 chim diệc đến tụ tập và làm ổ thật nhiều, số trên muôn thiên nhưng làm sao thống kê gì được? Và thật kỳ diệu, chim diệc làm ổ trên cao, khi nào chim con rủi rớt xuống thì các sãi Miên sẽ lấy tre làm sàng nhỏ để chim con lên trên sàng ấy và đưa lên cao thì trên cao đã có chim lớn hay chim mẹ gắp để vào ổ như cũ, và đến đây tôi xin nói về tục người Miên tu nơi chùa, vẫn không trai lạt như sãi chùa Việt của ta và sãi Miên chỉ mỗi ngày thời một ngọ vào giờ trưa, và thức ăn là ăn của bố thí của người trong sốc trong xóm, sáng sớm mỗi sãi mặc áo màu vàng nghệ, rồi kéo nhau rồi chùa xuống xóm và đứng sắp hàng dài, trước bụng mỗi sãi vẫn thủ một “bình bát” (tiếng Miên tôi còn nhớ là “tâu bâng-bátt” (đi xin cơm của tín đồ bố thí” (khất thực như ta), nhưng khất thực Miên hết sức dễ dãi, là dân cho món gì thì nhận đem về và xơi luôn món nấy, cho món chay thì tốt, cho món mặn cũng thực luôn không chối từ, mặc dầu không sát sanh nhưng nếu người trong xóm lén lượm chim diệc rớt rơi của chùa, đem về xào-xáo rồi dâng cũng cho sãi đi bâng-bátt, thì sãi vẫn đưa bình bát ra nhận, – và như vậy sướng quá, xin cho tôi nói hỗn, nếu sãi có lòng bất chánh, cứ lựa nhà giàu đến xin cơm, thì tha hồ có rô-ti, bít-tết, chớ nào muối hột cá hôi…, và dầu có tội sát-sanh, thì đã có người dân cúng gánh chịu, sãi Miên tu như thế ấy và tôi chỉ tu có một ngày, chớ chi tu luôn cho đến ngày nay và vẫn còn sống như vầy có lẽ đã gần thành “chánh quả”! Nam mô! Vô lượng Phật!

Chim diệc ở tỉnh Sốc Trăng, tôi còn nhớ có một năm xưa nọ, vào thời chủ tỉnh Tây tên Esquivillon cai trị, nơi dinh quan-bố và cũng dinh tòa-bố (tòa hành chánh) vẫn có rất nhiều chim diệc đến ở, ban đầu Esquivillon rất thích vì có người nịnh quan là minh-chánh nên có chim đến chầu chực, duy về sau chim diệc sanh ra con mạt (mạt diệc) quá nhiều và bay xuống cắn ngứa, sanh ghẻ chốc, Esquivillon không chịu đựng nổi và phải bày ra đốt gỗ cho có khói, làm đống un nơi dinh và nơi tòa-bố thì mới bớt có mạt và đã đốn mé bớt nhánh đuổi diệc bay đi nơi khác, và thấy khi ấy, nơi Watt Xà Lôn, về sau, sãi ham tiền đã đốn bán các cổ thụ nơi chùa và cất chùa lại theo mốt mới, cột gỗ lớp xưa đã mục, sau thay thế bằng cột đúc xi măng, và cột gỗ xưa vẫn có lớp sơn mài khéo đẹp, nay lại thay lớp sơn (laque) bằng mảnh kiếng mảnh gương, chói sáng hoa-mỹ thật, đó là theo ý của sãi Miên tân thời, chớ lấy theo khoa tồn cổ và khảo-cổ-học, thì chùa Xà Lôn đã bớt cảnh phong quang cổ kính năm xưa, và đáng tiếc.

Chùa Xà Lôn khi tôi đến tu một ngày thời đó, trên cao có chim diệc làm ổ, còn dưới ao nước chung quanh chùa vẫn có rất nhiều cá, loại cá sống lâu năm không ai dám câu dám bắt nên thật lớn vóc, gọi cá “tổ nái”, nhiều con lớn to đến như cái gối ôm và mình dài gần một mét (un mètre), vì có lịnh trên của vua Miên gởi xuống, ra lịnh ngư điểu sinh trong vùng chùa, cấm sát. Có người câu trộm không dùng cần câu, và cột dây nhợ có tra lưỡi và cầm dây trong tay, nhiều khi cá cắn câu, giựt kéo quá mạnh, người câu lén té xuống nước, bị bắt thì bị đòn mà chẳng dám rên than.

Lúc tôi thơ ấu, và khi còn ở nhà Ba tôi ở thành phố Sốc Trăng, thì trong tỉnh còn nhiều chùa Miên kiên cố và có danh, như ở Phú Nổ có chùa gọi Chùa Bốn Mặt (Watt Prha Buông-Mútt) có một cổ-Phật thời Angkor-Watt, và nơi vùng Thạnh Thới An, có chùa gọi Watt Bâng-Sroc (địa danh nầy tôi viết chưa đúng), thuở ấy vị trụ trì sãi-cả, tuổi nghe như đến trăm (bá niên), vua Cao Miên ban sắc phong được mặc áo màu đỏ (luck Cà-hom), ngự võng điều, và dân Miên khi gặp ngài thì vẫn mọp lạy kính cẩn, thậm chí dường như vua Miên cũng có thể lạy chào sãi-vương, ý nghĩa không phải lạy người tu hành mà vẫn lạy sắc áo, là áo đức Phật.

Bài nầy đã khá dài, tôi không muốn lợi dụng lòng nhẫn nại của độc giả, và xin tóm tắt, báo Sài Gòn Giải Phóng số 151 (4-12-1993) vẫn viết Sóc Trăng, Sóc không dấu mũ, và trang 10 kể: “Mở hội cúng trăng”. Tôi tiếc tuổi già không về chung dự và đọc báo biết đồng bào người Cơ-me trong tỉnh và các tỉnh lân cận Kiên Giang, Cần Thơ đều đem ghe ngo đến tranh tài, và những lễ ấy tôi xin múa bút: đầu mùa mưa, người Cơ-me ở Sốc Trăng vẫn có lễ chòi Chòl Psa (vào mùa) là đua ghe rước nước để làm mùa (lễ nầy trùng hợp với lễ Cầu An (Kỳ Yên) của ta – và khi hết mùa, như hiện nay, Miên làm lễ Chênh Psa (ra mùa, đưa nước trở về nguồn) và ngắt lúa mới đâm chày đâm cối vui làm “cốm giẹp” và gọi lễ ấy là “Oec-om-bóc”. Đến đây tôi không dám nói nhiều, tôi chẳng qua là một đứa con của tỉnh Sốc Trăng, mà đã vong bản, nay phải lìa nơi nhau rún, và từ năm 1947, chạy lên Gia Định nầy và trụ nơi đây luôn, và đã quên lần tiếng Miên, là tiếng Mẹ Đẻ mà nay tôi không nói được nữa (duy còn hiểu sơ sơ tiếng mất tiếng còn, vì mảng đeo đuổi học tiếng Tây, nay tiếng Tây cũng thiên bất giáo, địa bất chí…, thiệt là uổng kiếp! (viết 3 ngày 6 trang – 6,7,8- décembre 1993).

Chênh-psa trùng với lễ chạp miễu của ta bắt vào mùa hạn chơi diều v.v… Tục ta với tục Miên miền Nam nào khác.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply