Khi về đã lạnh vườn xưa

http://www.talachu.org

Trần Vũ

Post on 9 Aug 2009

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Mỗi thời đại thờ cúng một vị thần. Thần sông Tô Lịch khi dâng nước mênh mông, khi hiền hòa tưới mát các đồng lúa, ở mãi với dân Giao Châu. Cho đến khi Tiết độ sứ Cao Biền sang trấn thủ, bày trò trấn yểm, dìm chúng tôi xuống móng thành Đại La.
Tôi với Tiểu Khanh chết đi ở giấc canh khuya, khi mặt sông đã hóa bùn và nước sông đã đặc tóc. Song tóc Tiểu Khanh làm sông Tô Lịch chảy mềm mại và từ bấy mang màu tóc Tiểu Khanh. Sông xanh tóc con gái ước mơ và kiên nhẫn.
Chết trong sóng nước quê mình là một hạnh phúc. Sống vì quê, chết về quê. Đã bao ngày chúng tôi tin vậy, từ khi lọt lòng, khi biết chạy nhảy qua các đồng rạ rồi trèo lên các gốc mận chia trái ngọt của quê mình. Chết, khi tuổi trẻ ngập kín hồn là tuyệt phúc. Vì chết mà nụ cười vẫn tươi. Còn mang hồn nhiên thanh thoát. Tôi nói Tiểu Khanh đừng ngại chết. Tiểu Khanh biết tôi nói dối. Vì chết khi chưa kịp sống, là chết oan. Tiểu Khanh hiểu mà vẫn thương lời nói dối. Chết đi không than trách. Sử Giao Châu không chép, nhưng tôi mang ánh mắt của Tiểu Khanh xuống tuyền đài. Ánh mắt còn chứa chan tình yêu đất này và lấp lánh niềm hoài cảm.
Cao vương trù tính chúng tôi phải làm âm binh. Tôi hầu quạt còn Tiểu Khanh làm ca kỹ cho Thành hoàng. Chúng tôi cứ thế, ngày ôm móng thành, đêm trồi lên mặt nước, đôi khi ráng chiều muộn còn vỡ trên ruộng mạ phì nhiêu chan chứa tình người mà chúng tôi quyến luyến. Đôi khi mây xám vừng lên những giấc mưa, làm ướt tóc Tiểu Khanh, làm ướt ánh mắt u hoài. Chúng tôi thân với nhau từ ngày vỡ lòng Tam tự kinh, chết đi thành hồn âm nhưng vẫn thương xứ này. Đất Giao Châu muôn thuở, nơi chúng tôi sinh ra, lớn lên và khám phá tình tự đầu đời. Chưa phải là tình yêu vì chúng tôi chưa biết đến, chưa kịp mặn nồng vì chúng tôi chưa biết thề nguyền, nhưng đã là sự trân quý của tuổi trẻ cảm thấu và độ lượng.
Lìa trần làm âm binh, kiếp người hòa vào kiếp nước, nước của sông Tô Lịch của đất Giao Châu vạn đời. Song chúng tôi phải sống trong chật hẹp, không thể tự do mơ ước, không thể tự do bay nhảy, hay đạt chí cả của đời mình. Vì phải đội sức nặng của thành Đại La cho đến khi vỡ thành như bùa yểm của Cao Biền. Thần sông Tô Lịch cũng lắm phong trần. Khi giữ chức Đô phủ Thành hoàng Thần quân, khi nhận tước Đô quốc Thành hoàng Đại vương, đến triều Trần, năm Trùng Hưng lãnh Bảo quốc, năm Hưng Long lãnh thêm Định bang, toàn hàng mã. Chúng tôi chết đã năm trăm năm, tuổi ma già theo tuổi sông, mà vong linh vẫn tươi trẻ, như dòng nghịch thủy còn xanh tóc Tiểu Khanh.
Một ngày thầy An đi qua sông.
Từ xa chúng tôi đã biết gặp một nho sĩ. Thầy An mang linh hồn của một nho sĩ. Chỉ một nho sĩ mới biết viết lên trời xanh. Chỉ một nho sĩ mới biết ấn sâu vào lòng đất chữ thánh hiền. Chúng tôi ngắm bóng thầy xa xa. Tâm hồn thầy thanh sạch. Sức trinh bạch làm trong sắc trời. Giống thầy An làm tan biến mây mù và hiện cầu vồng lướt trên sông. Tiểu Khanh níu tôi, Tiểu Khanh ngửi ra mùi bột gạo của huyện Thanh Đàm, quê của Tiểu Khanh mà cũng là quê của thầy An, tên chữ của thầy là Linh Triệt. Chúng tôi có khả năng ngửi thấy tông tích người sống, cũng như đoán biết đến khi nào các búp lan rừng sẽ chậm rãi nở, sẽ phả hương tinh khiết.
Chúng tôi trầm dưới sông. Tôi với Tiểu Khanh đùa giỡn. Chúng tôi tự nhiên như hai thiếu niên đang vẫy vùng giữa sông, tin sông Tô Lịch nghìn năm mây phủ và tin chúng tôi đã mất dáng người. Tiểu Khanh cười khúc khích, trong lúc tôi làm trò. Nhưng thầy An trông thấy chúng tôi, mặc dầu chúng tôi vô hình, thầy gọi:
“Sao không học hành mà tắm dưới sông?”
Chúng tôi rùng mình. Lần đầu tiên một người sống trông thấy chúng tôi. Tiếng thầy cất trên sông như tiếng hò, của người Giao Châu, gọi nước, gọi hồn. Chúng tôi biết thầy An không phải pháp sư, mà sao thầy trông thấy các hồn âm? Tiểu Khanh nói khẽ: Thầy trông thấy nỗi oan khiên ở đời. Chúng tôi trồi lên, quỳ trên sóng sông Tô Lịch.
Chúng tôi chắp tay, thưa, chúng tôi rất hiếu học mà khổ nỗi bị xiềng vào chân thành Đại La chìm sâu dưới nước. Chúng tôi thác oan nhưng lễ giáo vẫn giữ. Vẫn tin học lễ rồi mới học văn. Tin vào chữ thánh hiền. Tin vào tình yêu xứ này. Thầy nhìn chúng tôi chăm chú. Thầy biết chúng tôi là quỷ. Nhưng hôm ấy, chừng như thầy thương cảm và xúc động. Thầy nói Tiểu Khanh có thần thái sáng láng, còn tôi tuy bặm trợn vẫn giữ cốt cách có giáo dục. Hôm sau nữa, thầy An trở lại khúc sông vắng, bày hương án, làm lễ xá thủy thần. Thầy lập đàn giải oan, cúng Thành hoàng, rồi lấy bút nghiên viết lên mặt sông những chữ đại tự. Chữ thầy viết đến đâu, mặt sóng lặng như trang giấy. Chữ thầy lan đến đâu, mặt nước thành mặt gương, phản chiếu. Chữ thầy thẳng, như sự ngay thẳng trong lòng thầy. Liễn mực cạn dần theo nét chữ thảo vừa viết trên sông, mà đã thoắt lên trời cao. Nét chữ như nét roi. Nét chữ của một nho sĩ, mang sức mạnh của lương tri mà ghè đá, sóng nước, không cản nổi ý chí viết trên sông, viết lên cái chết oan của tuổi thanh xuân không phạm tội. Đến khuya, chúng tôi được thả.
Từ bấy, kiếp ma va kiếp đời. Chúng tôi vẫn là hồn âm, nhưng đã thành môn sinh của thầy Chu Văn An. Học thầy phải theo thầy, thầy An dạy, khi chúng tôi bước qua cổng Quốc Tử Giám.
*
Vũ trụ là những thời quán, mà mỗi thời quán dài ngắn tùy theo ký ức. Kiếp ma vô tận nên tôi đầy ký ức. Tôi vẫn chưa quên buổi sáng trở về ngôi nhà cũ của thầy An dưới chân núi Chí Linh. Buổi sáng có sắc trắng chập chờn của cội mai già hiu hắt. Có sắc trắng hiu quạnh của bụi lài cô độc. Có sắc trắng nhờ của vài nhành huệ lay lắt trước gió hú kéo lê lá khô qua nền nhà cũ.

Khi về đã lạnh vườn xưa, tôi biết thầy An muốn hét to vào hướng núi, muốn hét to vào xa vắng, muốn thả nước mắt rơi phương trời. Thiên nhiên không đáp trả tấm lòng thầy. Núi Chí Linh tịch liêu, bất lực với nỗi đau của thầy. Nỗi đau câm. Nỗi đau trong im lặng. Vì suốt đoạn đường thầy không một lần trò chuyện, không một lần cất tiếng. Thầy bước những bước dài, thẳng, không một lần quay lại. Tôi với Tiểu Khanh gánh sách và vật dụng cá nhân, tất tả từ kinh sư theo thầy về Chí Linh, từ buổi trưa thầy ra khỏi Cấm Đình. Chúng tôi quẩy gánh như ma, lướt đi giữa phố phường kín cửa. Bóng chúng tôi lướt qua phố xá im phắc. Thiên hạ bạc như lớp vôi quét trên vách. Chúng tôi làm ma đã đành, thầy An vẫn còn sống mà các môn sinh của thầy, nhiều kẻ đậu đến đại khoa như Phạm Mạnh Sư và Lê Bá Quát, không một ai đưa tiễn. Tất cả sợ. Sợ dây vào mình “Thất trảm sớ.” Sợ sai nha của nịnh thần. Sợ mất phú quý. Chỉ một mình thầy An qua cửa Ô. Gần như một phát vãng, tự nguyện, vẫn là phát vãng. Tiểu Khanh khóc, vì thương thầy, chúng tôi ngậm ngùi rời Văn Miếu Môn.
Ký ức tôi vang động, như đã khảm vào não. Tôi hãy còn nhớ, khi thầy bắt Tiểu Khanh và tôi quỳ lạy tượng Khổng tử và Tứ phối ở nhà Khải Thánh. Khi thầy đứng trên bục giảng, luận về Nhan tử, Tăng tử, Tử tư và Mạnh tử, cho chúng tôi chép vào vở. Tôi với Tiểu Khanh mang nhân dáng nhuyễn thể, vì dìm dưới sông quá lâu, nên chúng tôi có thể treo trên xà nhà, hay trườn dưới mái, hoặc thoắt ở ngọn cây, hoặc trầm dưới Thái hồ. Những ngày ở Quốc Tử Giám là những ngày nhiễm phúc. Tiểu Khanh được thầy An cho ở nhà Thái học sinh, dẫy nhà xây tường ngang, lợp ngói đồng. Tôi được ở khu Tam xá, ba dẫy, mỗi dẫy 25 gian, phía gần bức tường vôi đắp gạch Bát Tràng, kết bạn cùng với các đồng môn. Với thầy An, không có học trò ma, chỉ có học trò của thầy. Mà đã là môn sinh thì phải học làm người. Xác ma nhưng biết chính trực, cốt cách tinh thần thì vẫn là người, như thầy dạy. Cấm ma mãnh. Thầy cấm tất. Học đạo của người quân tử và học cách ký thác lương tri của mình vào chữ. Chữ của người quân tử. Thầy bắt chúng tôi và các môn sinh mỗi ngày tập đồ chữ. Miệt mài cho đến khi nét chữ thật thẳng, như vết phóng. Chữ có thẳng, thì lòng mới ngay. Như thầy bảo. Các môn sinh phải tập viết ra sự ngay thẳng của lý trí mình. Cấm cong, cấm uốn, cấm run rẩy.
Giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, thầy An còn dạy thêm khoa lý số, phép tính xác xuất của thời phong kiến. Phép tính giản lược mà khó khăn: Tìm giới hạn của một cá nhân bằng cách tính hiệu năng của cá nhân đối với bách tính. Chúng tôi cần mẫn tu tập. Đôi lúc, tôi mê giọng đọc Luận ngữ của Tiểu Khanh. Đôi lúc, tôi say nét chữ của Tiểu Khanh chép Nam Hoa kinh lên lá bàng. Tình yêu của một nho sĩ phải đẹp như tâm hồn của một nho sĩ. Tôi muốn trở thành nho sĩ để tình yêu thánh khiết của mình trong sáng vĩnh cửu. Nhưng tôi chỉ là ma da. Ma da của sông Tô Lịch. Một ma da tập làm người. Thầy An hiểu, thầy thường khuyên nhủ: Ma vẫn phải trọng danh dự, để không ai khinh, để không nhục, để có thể nhìn thẳng vào mắt người sống mà không cúi đầu, không lạy lục, không van xin. Đôi khi thầy cho phép các môn sinh ra ngoài. Chúng tôi bay lượn khắp kinh kỳ, ngắm hoàng thành rực rỡ, nhìn mặt hồ Thiền Quang sóng khói phả từng giấc mơ. Nhìn những váng mưa phất qua thôn Liên Thủy, chao xuống hồ, như nước giao với nước, thành làn hơi thở mỏng của Tiểu Khanh thu vào từng lời hứa. Tôi say Tiểu Khanh. Say Thăng Long, say nét hoài cổ thắm sắc vàng. Tôi vẽ chân dung Tiểu Khanh lên giấy bảng. Vẽ từng lọn tóc, vẽ từng sợi, như chải tóc cho Tiểu Khanh. Vẽ ánh mắt nhu mì mà u hoài. Vẽ sóng mũi thanh của con gái Giao Châu. Vẽ chân mày hiếu học và khóe môi biết vâng lời thầy.
Thăng Long rộn rã xe ngựa. Rộn rã phường tuồng. Rộn rã các vườn hoa Bình Than, Diên Hồng. Ngày ngày kép Dương Khương uốn éo với đào thương Dương Mẫu. Các hoàng thân mê đắm Dương Mẫu, đến nỗi Dương Mẫu có mang với Dương Khương vẫn được Cung túc vương Trần Nguyên Dục rước về. Rồi thánh thượng Trần Dụ Tông cũng đắm say với Dương Mẫu, phục chức cho Đỗ Tử Bình, đã bị truất vì tham ô, đồ làm đinh nhân, được thăng lên làm Hành khiển Nghệ An. Đó là ngày cát hung mà thầy An tức uất. Giận dữ vì điềm suy vi nhà Trần đã thấy rõ. Chưa bao giờ chúng tôi thấy thầy giận đến như vậy. Thầy không ngớt quát tháo, xỉ vả triều chính vô đạo.

Đó là đêm thầy An thảo sớ. Chúng tôi rúc trên mái, bên trên thư phòng vắng vẻ của thầy An. Đêm thâu, vẫn nét chữ roi quất của một nho sĩ, có thể viết lên trời xanh, có thể viết xuống sông sâu, có thể ấn xuống huyệt đất thứ chữ của người quân tử. Vẫn nét chữ rắn của thầy An, rắn trên lá sớ mong manh, rắn tựa thầy lấy thép viết lên tàu lá chuối, để lá chuối ghi tấm lòng sắt son của thầy.
Thầy quất bảy lần roi. Bảy lần thụy hiệu và tên cúng cơm của bảy nịnh thần hiện ra dưới vết đánh. Thầy hạ bút ký Văn Trinh Công. Không một do dự. Không một giọt mực thừa. Chúng tôi nín thở. Thư phòng lẫm liệt nét chữ. Tiểu Khanh siết lấy tay tôi sợ hãi. Chúng tôi hiểu, thầy đương đầu với xiểm nịnh. Mà xiểm nịnh trên đất nước này lúc nhúc, chúng cùng khắp. Chúng uy quyền và ngạo mạn. Chúng có thể đánh tàn tật bất kỳ kẻ nào. Chúng chỉ chờ dịp để giết thầy. Bắt thầy thú tội. Nhận tội phản triều đình. Chính chúng mới là kẻ có tội, song chúng tiếm danh vua, tiếm danh sơn hà. Chúng tôi thức đêm cuối cùng với thầy An ở Quốc Tử Giám.
Bảy trăm năm sau, tôi hãy còn nhớ. Bảy trăm năm như một thời quán. Bảy trăm năm trôi vụt, mà những lời tâm huyết cuối cùng của Chu Văn An hãy còn vang trên mặt Thái hồ. Làm như thầy muốn mặt hồ phong phải giữ lấy dư âm, để lớp rêu ẩm, xanh rì, còn giữ được lời thầy. Truyền cho hậu thế. Để mai này hậu thế biết ngày xưa, ở Quốc Tử Giám, các tôn sư đã dạy học như thế nào. Văn Miếu, nơi thầy được tòng tự. Văn Miếu nơi tiếng thầy sang sảng: Chữ thầy là chữ thật. Lời thầy là lời thật. Thầy dạy sao, thầy sống vậy. Mai này ra làm quan phải nhớ lời thầy dạy. Tiếng Chu Văn An sang sảng, nghiêm khắc: Thầy dạy những gì, môn sinh đã biết. Cấm tham ô. Cấm cửa quyền. Thấy sai phải cất tiếng. Không trái với lương tri mình. Đó là những lời cuối, trước khi Văn Trinh Công rời Văn Miếu Môn.
Thầy sẽ vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại nữa, nơi thầy đã đào tạo biết bao môn sinh, biết bao khoa bảng, tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa… Thầy ra khỏi Văn Miếu khi trời đổ mưa. Buổi trưa ấy, nắng nhạt không đủ làm sáng mưa, nắng nhạt không sáng mặt người. Mưa cũng không đủ dội tắt nắng, giống lòng người buổi giao thời, không trông thấy rõ đâu là thiện, đâu là ác, không biết mưa hay nắng, chỉ trông thấy mái điện vàng ban áo gấm. Văn Trinh Công đứng đợi băng qua đường. Trông thầy già nua, nhỏ bé. Thầy cố giữ vạt áo thâm thật thẳng, cố giữ khăn nhiễu quấn chữ Nhất đừng lệch, cố giữ cốt cách của một vị thầy, và cố ôm trong lòng túi vải chứa lá sớ. Thầy ôm chặt túi vải vào mình, vì sợ ướt mưa, khiến chữ nhòe khiến sau này hậu thế không đọc được thụy hiệu của bảy nịnh thần. Thầy ôm chặt vào lòng, vì sợ chúng giật, trước khi lá sớ đến tay Trần Dụ Tông. Không phải vì thầy sợ Trần Dụ Tông không kịp đọc để phê duyệt, mà vì thầy muốn Trần Dụ Tông phải gánh lấy trách nhiệm. Vì thầy biết Trần Dụ Tông sẽ bất động. Sẽ liếc mắt rồi phê “Bất đệ.” Không ngự lãm vì phạm lễ. Không ai được quyền dạy vua trảm thần. Thầy biết tất. Biết, nên thầy ôm chặt túi vải. Chúng có thể giật mất lá sớ rồi cho xe ngựa cán thầy. Chúng có thể xóa mọi vết tích mà thầy muốn hậu thế phải biết đến. Không phải quan triều nào cũng im lặng. Không phải nho gia nào cũng bán chữ thánh hiền. Còn Chu Văn An giữ tiết tháo.
Chúng tôi lẩn quất sau lưng thầy. Núp sau bóng thầy với tất cả kinh sợ. Tiểu Khanh khóc vì biết thầy đương đầu với nguy hiểm. Không ai viết sớ xin chém kẻ cầm quyền, khi chính kẻ ấy giữ đao trong tay, chăn đồ tể. Vậy mà thầy viết. Vậy mà thầy đọc sớ trước mặt chúng. Chúng nham hiểm bao nhiêu trò, làm sao thầy thoát. Chúng tôi níu áo thầy. Khi cổng Cấm Đình hiện ra, thầy An lẳng lặng, quay lại dặn chúng tôi về thu xếp hành trang về núi Chí Linh. Nếu thầy không trở ra, cứ về mà ở. Nếu thầy trở ra, thầy sẽ cùng về. Thầy điềm đạm. Sự trầm tĩnh của một nho sĩ. Giống thầy đã sắp đặt hết. Vì thầy hiểu chỉ có những hồn âm thác oan mới theo thầy, vì chúng tôi không còn gì để mất. Thầy sắp đặt hết. Trảm đầu thầy thì Trần Dụ Tông càng thêm tội. Không trảm thì thầy phải tự phát vãng vì lũ nịnh thần sẽ hãm hại một khi thầy còn ở kinh sư. Chúng tôi khóc, van lạy thầy đừng dâng sớ. Thầy quắc mắt: “Nho sĩ chết không khóc. Chết phải giữ đạo.” Rồi thầy dứt áo the thâm, bước vào Cấm Đình. Bước chân của một nho sĩ mang sự quyết liệt khẳng khái của một nho sĩ. Chúng tôi chỉ kịp nhìn thấy vạt áo thâm thẳng tắp giữa hàng sai nha. Giữa đám quan hoạn. Giữa cung phi diêm dúa. Đám đông hiếu kỳ vây quanh cổng. Các tiếng xì xầm bàn tán. Vọng lên dần thành tiếng xôn xao. Rồi cả kinh thành rúng động. Tin lan nhanh như làn nước: Văn Trinh Công dâng “Thất trảm sớ.”
*
Khi về đã lạnh vườn xưa. Bảy trăm năm sau tôi còn nhớ, khi về, vườn lạnh băng. Thầy muốn hét to vào núi, muốn hét to vào xa vắng, muốn thả nước mắt rơi phương trời. Tôi nhớ, vì đã khảm vào não. Chúng tôi đã đợi cho đến khi vãng mặt trời. Mỗi tiếng trống phiên làm đám đông có rúm vì nghĩ trống tử hình. Mỗi tiếng chuông ngân làm đám đông nghẹn, úp mặt, vì nghĩ chuông trảm thủ cấp. Khát khô môi. Khát mặn lưỡi. Vì cắn dập môi. Cắn dập lưỡi. Trong lạnh toát sợ hãi. Trong xanh mướt hy vọng. Hy vọng thầy An thay đổi đất nước. Thay đổi đất nước đã tím bầm mặt. Nhưng Văn Trinh Công trở ra. Gương mặt thầy tuyệt vọng vì bất lực. Thầy đã hiểu thầy chỉ có thể lập đàn giải oan cho người chết, không thể giải oan cho người sống. Thầy đã hiểu một cá nhân thầy không thể vực dậy triều chính ngu muội. Thầy đã hiểu phải đi đến cùng phép tính của mình. Trần Dụ Tông phải gánh lấy phán xét của lịch sử. Chúng tôi về núi Chí Linh.
Triều Trần rồi vụt qua như một làn gió. Đi ngược làn gió, chúng tôi gánh sách qua các dẫy phố kín cửa, cửa cái, cửa con đóng sập, để hiểu lòng người quay thoắt. Hương thu còn dậy ở Đồng Xuân mà cả một phiên chợ dừng bán. Chúng tôi lướt qua các tấm phản bất động và các chảo đậu rán ngừng sôi. Lướt qua thau bún lạnh tanh lũ ruồi. Đôi mắt chúng xanh to như hạt đỗ, nhìn chúng tôi trừng trừng. Chúng cợt nhả rồi bay tản từng đàn rình rập. Chúng là lũ phi liêm mọc cánh. “Đừng dây với Chu An” là tiếng chó sủa khi qua bến đò. Bóng tôi với Tiểu Khanh va vào nỗi đau tê tái vì thương thầy. Mới trưa kia “Thất trảm sớ” làm chấn động, vì thầy lập thụy hiệu gian thần cho các quan đầu triều, nay đã bạc bẽo. Sách Dương Chu, Mặc Tử nặng vì chứa trong mình vũ trụ, sách Kinh Lễ của Khổng Phu nặng vì chứa phép làm người. Ngũ viên và Nhị thập triết khiến chúng tôi mất sức, phải cố gánh thật nhịp nhàng để theo kịp bước chân thầy. Bước chân của một nho sĩ nhẹ tênh, vì lòng không hổ thẹn.
Tôi muốn nghĩ đến những điều đẹp đẽ. Sắc vân tím trên áo của Tiểu Khanh hay sắc trưa huyền quang khi chúng tôi trốn tiết Hiến Văn lẻn ra cửa Thành Đức, bên hông Văn Miếu, đi viếng cảnh chùa. Có nghe tiếng chuông Chiêu Thiền Tự ngân nga bến Yên Lãng rồi vang sang tận Hoài Đức trên tháp Quảng Nghiêm trước khi về lại Trấn Quốc mới hiểu vì sao chúng tôi thích giẫm lên tiếng đại hồng chung để gang bàn chân đỏ hồng những âm trầm. Tôi muốn nghĩ điều đẹp đẽ mà ký ức chứa bẽ bàng. Trương Hán Siêu gả con cho tù trưởng Nùng Ích Vấn xin đất, kết giao với quan hoạn Phạm Nghiêu Tư để xin chức Tham tri chính sự. Ký thệ tự với thầy, mà trưa thầy đọc sớ, Trương Hán Siêu cáo ốm không vào triều. Văn của một nho sĩ phải hiển lộng. Văn của Trương Hán Siêu chỉ lộng lẫy mà chưa phải bút Tả thanh thiên.
Bảy trăm năm, bay ngược gió, tôi nghiền ngẫm. Phép tính của một nho sĩ giản dị: Quốc gia ở tính nhân, ở lòng chính trực. Lấy một thân thầy chống với thói gian tà, lấy một thân thầy cảnh cáo lương tri quốc dân. Thầy hiểu lượng vàng mua chuộc, bồ thóc nhấn chìm, chính vì vậy phải lấy một con người với hai tay trắng để chống với đám đông gậy gộc, để sự can đảm càng thêm can đảm, để sự tự tin càng thêm tự tin, và chân lý càng thêm sáng. Số đông bao giờ cũng thắng, nên phép tính lũy thừa của thầy thêm vào thời gian, vì sự chính trực khi lũy thừa thời gian của lòng người sẽ tiến đến vô cực. Từ một cực tiểu trở thành cực đại mà không một triều chính nào có thể hãm.
Chu Văn An đã muốn hét to vào mai hậu, còn Cao Biền? Hắn muốn trở về đất này để trấn yểm thành Đại La thêm một lần nữa.

Chu Văn An gửi cho hậu thế:

Trần Vũ
6 tháng 8-2009

(*) Khi về đã lạnh vườn xưa, Tâm sự cùng Nguyễn Du, thơ Võ Việt Dũng
© 2009 talawas chủ nhật

Cô Gái Điếm và Năm Người Đàn Ông

vannghe.free.fr

Đỗ Hoàng Diệu

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Gió thì chết già trên những tán lá rậm rạp. Nhưng gió thu không chết già mà chết trẻ. Heo may thế, mỏng manh thế làm sao sống quá vài phút dưới tầng tầng lớp lớp cơ man lá cành cổ thụ không có tuổi? Huệ mơ màng mộng mị sờ nắn những lớp vẩy cổ thụ đang chà xát vào tấm lưng trần của mình. Huệ không dám bóc lớp vẩy, như thế sẽ làm cổ thụ đau. Huệ chẳng muốn ai đau bao giờ. Lớp lụa mỏng líu ríu trên người Huệ, líu ríu gốc cổ thụ. Gió đang vướng vít chúng với nhau. Nhưng cổ thụ sẽ không làm hư chiếc váy lụa của Huệ, Huệ biết điều ấy. Nó sẽ chỉ làm Huệ nhô ra được bộ ngực đã hơi nhõng của mình, lộ thêm cặp đùi vẫn dài thế nhưng đã bắt đầu sàm sạm. Sông Hồng đang dâng nước, thủy triều lên. Huệ nghe rõ nhịp nước xao động lê la bò từng thớ cỏ ngoài kia. Đã bao đêm Huệ đếm nhịp lên của sông Hồng ở góc phố nhờ nhờ này. Cả nhịp nước chảy vào lòng đất, chảy vào âm ty rốn ráy vũ trụ mất đi những mùa nước cạn.

“Dường như chỉ mấy ngày nữa trời sẽ trở lạnh đấy cô gái. Cô sẽ lại không mắc chiếc váy lụa mà ta rất thích này được nữa”.

Bâng quơ Huệ ngước mắt nhìn những vầng sáng lọt ra giữa cành lá đan quện.

“Huệ cũng thấy lành lạnh thật. Nhưng có lạnh Huệ cũng sẽ mặc thêm chiếc váy này dăm ba bữa nữa để cổ thụ vui lòng, đừng lo”.

“Huệ sẽ run rẩy đấy, đừng làm thế. Tôi chờ được đến ngày nắng ấm mà Huệ”.

“Sao Huệ không nhìn thấy mặt cổ thụ? Huệ muốn nhìn đôi mắt cổ thụ, đêm nay tự nhiên Huệ nao nao, là lạ”.

Gió thổi thốc tới. Những tán cây lao xao. Trăng chạy đến đỉnh đầu cổ thụ và nhìn xuống cô gái dịu dàng.

“Huệ nhìn thấy mặt cổ thụ rồi. Huệ hơi buồn ngủ, giờ này sao chẳng có ai đến hả cổ thụ? Người ta đi đâu hết rồi?”

“Hình như lại có chuyện gì đấy nên không thấy nhiều người ra đường. Hình như là gì đấy.”

Cô gái dõi mắt cùng lúc ra hai hướng đường, phảng phất từng khoảng trăng vàng vọt đậu mình trên muôn vàn lá rụng mùa thu.

“Cổ thụ ơi sao năm nay lá rụng nhiều quá. Cổ thụ cũng thế, rụng nhiều quá rồi.”

“Ta mới chỉ rơi vài lá thôi, ta trút nó đi để nhìn được Huệ rõ ràng hơn đấy. Vẫn đủ lá để sưởi ấm Huệ mùa đông sắp đến, làm nệm giữ lưng Huệ được êm ả. Hay là Huệ leo lên đây đi để ta sưởi ấm Huệ, gió có vẻ lạnh hơn rồi.”

“Nhưng tối nay chưa có người khách nào cả. Huệ đói cổ thụ à. Chưa có gì ăn cả. Huệ ngồi đây xem có ai đến không, chẳng nhẽ đêm nay lại không người đàn ông nào muốn được ái ân ư?”

Im lặng hoàn toàn.

“Cổ thụ buồn vì Huệ đói ư? Không sao đâu cổ thụ. Rồi Huệ sẽ no mà. Nhưng mắt Huệ ríu cả lông my rồi. Cổ thụ nói chuyện với Huệ đi để Huệ đừng ngủ gục”.

“Huệ muốn chúng mình nói về chuyện gì?”

“Chuyện gì cũng được cổ thụ. Chuyện đứa trẻ chơi dưới gốc cổ thụ cách đây gần 100 năm, đứa bé tóc vàng ấy. Đêm qua nó bảo nó tên là Maria, cổ thụ lại kể cho Huệ tên nó là Alixia”.

“Ta đặt cho nó đấy thôi, nó đã bao giờ có tên đâu. Nó chỉ được làm người 20 phút người ta đã chôn nó xuống chân ta rồi. Ta thấy tóc nó màu vàng nhưng mắt nó đen láy và mũi nó tẹt. Người đàn bà mang nó đến đây khóc nhiều quá ta không biết mắt cô ta màu gì. Còn bố nó ta chẳng biết nhưng ta đoán là một người nước ngoài. Đêm qua đứa bé lại về nói chuyện với Huệ à? Sao ta không biết nhỉ?”

“Nói chuyện này buồn quá cổ thụ ơi. Chuyện khác đi, hay là chuyện đêm ấy đi cổ thụ”.

Có âm thanh của tiếng thở dài rơi rớt.

“Ngày nào Huệ cũng muốn nghe chuyến ấy, gần 20 năm, bao ngàn đêm rồi Huệ”.

“Huệ không chán cổ thụ à. Mỗi khi nói đến chuyện ấy Huệ vui lắm. Chiều lòng Huệ đi cổ thụ”.

“Ừ, năm chàng trai trẻ đêm ấy, cái đêm hôm ấy, làm sao quên được”.

Vi vu, dìu dặt lá cây chạm khẽ vào nhau. Cô gái ngủ ngon lành. Không một bóng qua lại. Môi cô mấp máy, mọng đỏ, run run. Cô thật đẹp!

*

Từ khi người vợ hoa hậu ôm đứa con gái bốn tuổi xinh như thiên thần bỏ đi, Toàn chưa ngủ. Toàn thức cả ngày lẫn đêm, thức trên đường đi và thức suốt đường về.

Toàn nhớ khuôn mặt ngây thơ của con gái, Toàn không lý giải được tại sao Ngọc ôm con bỏ đi theo một người đàn ông chẳng có gì. Toàn đầy đủ mọi thứ và Ngọc đã thỏa mãn chán chê trong ngôi nhà này. Ngọc có chồng đẹp trai, hào hoa, nổi tiếng, giàu có. Ban ngày Ngọc thừa tiền để tiêu xài và ban đêm khi nào cần Ngọc cũng đầy đủ đàn ông từ Toàn dù nồng nàn hay chuồi chuội. Ngọc đâu phải người nhiều đam mê?

Từ ngày Ngọc ôm con bỏ đi, đêm nào Toàn cũng thức. Cả người anh không ngủ. Ngay cả khi anh đang ôm trong tay một cô người mẫu xinh đẹp, đầu anh gối lên cặp đùi dài như dòng sông nhắm mắt, trán Toàn vẫn hằn lên những ưu tư. Nặng trĩu và ám ảnh, mông lung những điều hư hao Toàn không nắm giữ. Toàn không khóc, Toàn chẳng đau khổ đến không cùng. Nhưng Toàn bất lực. Bất lực với chính mình. Anh không xua nổi được hình ảnh ấy cho dù bây giờ hình ảnh con gái thiên thần đang chiếm ngự dòng máu anh.

Đêm nay Toàn vẫn không ngủ. Từ khi vợ anh ôm đứa con gái bỏ đi theo một người đàn ông chẳng có gì anh không ngủ. Toàn mở cửa sổ, kéo tấm màn cửa sang hai bên. Toàn không nhìn thấy sao cũng chẳng có trăng chạy ngang qua bàn tay. Thời gian đang không có mùa, chẳng mùa nào đến vào lúc này. Chỉ là mùa của Toàn, mùa bất lực và hư hao. Chậu hoa tường vy bên bậu cửa không có màu. Màu lá, màu hoa, màu cây đã đi theo mùa. Không mùa, không màu và không ngủ. Toàn hờ hững bước lui khỏi bậu cửa. Bên trái, bên phải, không hướng. Toàn muốn đặt lưng xuống giường. Chiếc giường nằm ở đâu? Không gian không có chiều. Tất cả đã theo mùa đi hết. Toàn thoáng thấy những phím dương cầm rung lên đâu đó, rung trên đôi môi, khóe mắt của Toàn, rung dọc sống lưng và rung trên đùi Toàn. Những niềm hư ảo đang ngân lên giai điệu không âm thanh, không màu sắc và Toàn ngồi bệt xuống, anh cảm nhận hoa đang nở dọc đùi mình, nở xuống tận gót chân. Chiếc lưỡi mềm mại ấy đu kéo trên đùi Toàn, ràn rượi trên thân thể Toàn, cô gái lại về ám ảnh Toàn, chiếc lưỡi ấy, bàn tay ấy không thôi làm hoa nở trên chân anh. Những bông hoa hình nốt nhạc tạo thành bản tình ca êm đềm và lãng mạn nhất Toàn từng biết. Hay Ngọc cảm nhận được những bông hoa hình nốt nhạc ấy mà bỏ đi. Không phải, người ta thường ganh tỵ khi nói rằng bao giờ các cô gái vô cùng xinh đẹp và phô trương sắc đẹp của mình cũng gắn trên cổ cái đầu rỗng tuếch. Nhưng chẳng phải ghen tỵ, vợ Toàn đúng như vậy. Cô hoa hậu qua ảnh một cuộc thi nửa vời do một tạp chí có mầu mè không thị hiếu tổ chức chưa học hết phổ thông đã lăn xả vào Toàn nói những lời có cánh học lại trong cuốn “Những bức thư tình hay nhất”. Và Toàn sững sờ trước đôi mắt đen lay láy lông my cong chơm chớp, làn da nõn nà thơ ngây đã đem Ngọc về sở hữu cho có hậu lời tuyên bố đưa ra từ ngày dậy thì: “Sau này Toàn sẽ cưới hoa hậu làm vợ”. Làm sao Ngọc có thể biết được những bông hoa trong muốt hình nốt nhạc nở trên đùi chồng khi cảm nhận cuộc sống của Ngọc chỉ là những gì sờ sờ trưng bầy trước mắt?

Đã nhiều lần mùi nước hoa của mấy cô người mẫu vương sót lại trên vai Toàn, Ngọc chẳng ngửi thấy. Toàn đã chuẩn bị sẵn câu trả lời trong đầu cho tình huống ấy. Tính anh lãng mạn và đam mê, anh chỉ đi với cô ta thoáng chốc rồi lại quay về với em. Nhưng Toàn không có cơ hội trả lời. Vậy thì làm sao Ngọc có thể biết hoa trong muốt nở khắp đùi anh hình nốt nhạc?

Trước khi vợ Toàn ôm đứa con gái thiên thần bỏ đi, hoa hình nốt nhạc ít nở trên đùi anh. Bởi vì Toàn ngủ được trên đường đi và ngủ được trên đường về. Chúng chỉ nở sau mỗi cuộc tình tan nát mộng du cùng một người đẹp nào đấy khi biết anh không ly dỵ vợ để cưới nàng về ở trong ngôi biệt thự bốn tầng ngà trắng được đã hét lên: “Anh lừa dối tôi, anh đừng đụng vào người tôi nữa!” Thế nào khoảnh khắc ấy những bông hoa lại nở. Thân hình anh trở lại non tơ 15 tuổi hứng háo thèm thuồng sợ sệt. Ngày ấy đang có mùa và mùa cũng đang có màu. Mùa thu và mùa vàng. Những vàng óng êm dịu dưới bàn chân Toàn đang khẽ chạm, thân hình Toàn cố bay lên môi mọng và tóc huyền người con gái. Toàn không dám mở mắt, chỉ biết có mùi hồi, mùi quế, mùi áo quần phơi được nắng, mùi sữa mẹ. Ngày ấy không gian vẫn còn, phố bình yên cổ kính, cây cổ thụ ngút ngàn một phần xòe ra góc phố một phần náu mình phủ phê khu vườn hoang không thấy chủ. Lớp lá mềm vàng nâng cậu bé 15 lên mãi, lên mãi co rút vào một hình tròn êm ái. Người con gái rút anh lên và nâng anh đi. Rồi vỡ tan tất cả, anh tụt xuống. Đúng lúc ấy Toàn bỗng râm ran phía dưới. Anh nhỏm dậy. Hình tròn êm ái màu đỏ ấy đang giọt xuống người Toàn những giọt trắng ngà chảy nóng da thịt anh. Giọt rơi đến đâu những bông hoa muốt hình nốt nhạc nở đến đấy. Toàn ngả đầu lên lớp lá vàng nhìn gió lượn. Trong âm thanh gió heo may hình như có những nốt nhạc ngân nga: “Em là người con gái rất lãng mạn, anh sẽ cưới em anh nhé?” Sau này Toàn chỉ nhớ hình ảnh hoa hình nốt nhạc còn giọng nói, âm thanh ấy Toàn đã quên mất. Người con gái gieo hạt nảy mầm cho anh ngày ấy anh không nhìn rõ mặt. Bây giờ anh lại cảm thấy những bông hoa đang nở, nhưng anh muốn nhìn mặt người con gái ấy, người con gái đã rút anh lên và nhả xuống người anh những giọt muốt trắng. Toàn giở cuốn tạp chí trên đầu giường. Nhung huyền mái tóc đây, đôi môi xinh xinh và tên gọi kiều diễm đây.

“A lô, Ngà đấy hả? Anh Toàn đây, anh đang rất buồn. Em đến nhà anh nhé”.

“OK, 15 phút nữa em sẽ tới, anh ra cổng trả tiền taxi cho em”.

“Em trả tiên taxi đi rồi anh cho em sau. Em cứ đẩy cổng vào lên phòng ngủ của anh luôn”.

Toàn sợ nếu anh rời khỏi nơi đây những bông hoa sẽ không nở được nữa. Cô người mẫu tóc nhung huyền ấy lên cô ta sẽ làm hoa nở, cô ta xinh thế cơ mà. Toàn nghe tiếng giầy cao gót, Ngà đang lên cầu thang, mùi nước hoa ngào ngạt. Tiếng cô ta cởi áo, cởi giầy, vuốt ra sau mái tóc nhung huyền. Toàn đẩy cô ta xuống dưới anh. Nhưng đau đớn quá, rút cả ruột gan anh lên mà không có nhỏ giọt, không có hoa nở.

Tiếng cửa đập rầm bên tai Toàn:

“Một thằng cha bất lực, cụt hứng đêm nay. Em sẽ tự trả tiền taxi”.

Toàn đã nghe tiếng nói, đã thấy không gian, đã nhìn thời gian trước mặt. Gần một giờ sáng rồi. Gió phả lạnh ngoài cửa sổ mở, heo may. Có mùa rồi, mùa thu. Nhưng hoa đã không nở, chậu tường vy xám xịt và nhăn nheo. Những bông hoa hình nốt nhạc vẫn lơ lửng, lơ lửng trong góc khu vườn hoang và người con gái không rõ mặt, đường nét xa mờ.

*

Cô gái cằn cựa dưới bụng Mạnh. Hai bàn tay thô ráp của cô ta ấn đôi mông thô ráp chai sạn của Mạnh xuống. Trần nhà màu xanh bàn bạt đang thấp dần, đổ ụp. Chú thạch sùng cố bám chắc bám chắc, móng chân tõe ra cấu chặt vân vy mầu sơn phết chẳng đều.

“Cho xong đi anh, gì mà lâu thế?”

Bàn chân chú thạch sùng vẫn riết róng vân vy sơn phết chẳng đều.

“Sao khó thế? Anh đơ cu lơ rồi đấy à? Chẳng thấy động tĩnh gì cả”.

“Người đàn bà bộ ngực cong vểnh sừng trâu chưa về”.

“Anh nói cái quái gì thế? Anh đang nằm với gái điếm. Đàn bà cong vểnh nào đi về? Anh đúng là cái gã điên khùng mà cái Hương nói với em rồi”.

“Về rồi, về rồi à. Hôm nay ngực cong hơn, cong hơn, cong hơn”.

Về rồi, bộ ngực cong ngễu nghện trước mắt anh, chà xát gáy anh, ép vào nách anh, vểnh trên môi anh, mũi anh. Bộ ngực ấy từ từ ép chặt, nuốt trọn bộ hạ của anh, tất cả. Ép chặt hơn nữa, nứt rạn da dẻ. Hai núm vú hồng đỏ tách đầu dương vật anh đưa đẩy, rút kéo, ào ạt chảy vào hai núm vú đang hé mở, chảy hết.

“Khiếp, xong rồi thì buông em ra nào. Gì mà dữ tợn thế. Giầy nát cả con thạch sùng vừa rơi xuống.”

Lại một lần nữa, không biết lần thứ bao nhiêu, người đàn bà bộ ngực cong vểnh giúp anh kết thúc cuộc làm tình. Dù với người vợ khỏe mạnh, phốp pháp hay một gái làng chơi khắp nơi những công trình xây dựng anh đi qua.

“Bộ ngực cong vểnh là gì thế anh Mạnh? Sao ngủ với con Hương lác anh cũng nhắc đến khi sắp xuất tinh”.

“Là người đã làm anh thành đàn ông”.

“Ra thế, chắc là một cô học cùng lớp với anh?”

“Không phải, một cô gái điếm vẫn đứng ở góc phố gần trường anh. Năm đứa chơi thân với nhau đã cùng thành đàn ông nhờ cô ta trong một đêm”.

“Năm đứa? Chắc đêm ấy cô ta trúng quả rồi. Nhưng sao vợ không nhớ mà lại nhớ cô gái điếm?”

“Không biết nữa. Cô ta đặc biệt lắm. Em cũng được đấy nhưng không giống cô ta. Cô ta có bộ ngực tròn cong vểnh lên như chiếc tù và. Cô ta dùng hai bên vú góp chặt hạ bộ của anh và anh xuất tinh, anh nhìn thấy hai núm vú cô ta mở ra hút hết tinh trùng của anh vào đấy”.

“Anh bị điên thật rồi. Làm gì có chuyện ấy, đúng là hoang đường!”

“Đấy là sự thật, anh nhìn thấy. Lúc ấy anh nghĩ đàn bà ai cũng làm như vậy cả nhưng sau này mới biết không có ai làm được như thế nữa. Mỗi lần sắp xuất tinh anh đều nghĩ đến bộ ngực cong vểnh ấy đang ép chặt dương vật và tinh hoàn anh, anh mới sướng”.

“Không ngờ ông kỹ sư da đen như Châu phi, mặt rỗ hoa, môi thâm sì, to cao như trâu lại mắc chứng hoang tuởng”.

“Kể cho ai người ta cũng chẳng tin. Tính anh phổi bò nói thật, bịa làm gì”.

Cô gái dùng chiếc váy màu da thạch sùng lau quệt phía mình dưới, xòe tay nhận tiền Mạnh đưa và vung vẩy rít thuốc lá bước khỏi căn phòng. Hai bàn chân chú thạch sùng xấu số đứt lìa tênh hếch giữa hai đùi Mạnh. Một chút thịt nhầy nhầy bám trên mảng da thâm đầu gối anh. Cong vểnh sừng trâu ơi, không biết khuôn mặt em thế nào?

Hai ngày sau Mạnh về thăm vợ. Người vợ béo khỏe, phốp pháp, nói cười rổn rảng của Mạnh nhào đến ôm ngang lưng Mạnh, bàn tay chị lần xuống nắm chặt cái của chồng. Mạnh bị khích thích. Người đàn ông vạm vỡ trong Mạnh vùng lên lôi xệch vợ vào góc nhà. Thân thể Mạnh có ngàn ngàn lưới điện chạy qua. Ngoài đường tiếng còi ô tô tải mười tấn réo liên hồi. Chúng lớn quá làm sao đi nhanh trên phố chật hẹp giờ tan tầm. Nhưng bằng cách nào đấy phải phóng qua, phóng thật nhanh khỏi chỗ tắc nghẽn đông nghịt này thôi. Bằng cách nào đây, không có người dẹp đường, không có bộ ngực cong vểnh thít chặt và bung ra những con đường khác.

“Về đi, về đi! Mà thôi đừng về bộ ngực cong vểnh”.

“Lại bộ ngực cong vểnh? Chẳng nhẽ anh cứ phải đọc câu văn chết tiệt trong cuốn tiểt thuyết chết tiệt ấy mới sướng được?”

“Không phải câu văn. Người đàn bà có bộ ngực cong vểnh lên mặt anh đã gặp rồi”.

“À, thế mà lâu nay dám nói dối tôi. Gặp bao giờ, con đĩ ấy bây giờ ở đâu? Tên gì?”

“Anh không biết cô ta tên gì, ở đâu, mặt mũi cũng không nhìn thấy, chỉ thấy bộ ngực”.

Mạnh bị văng ngã đập mông vào cánh tủ. Vợ anh chồm lên hất tung bằng sức mạnh của chiếc xe bus 18 mét. Cong queo hết tất cả.

Đêm ấy, khi Mạnh đang hò hét khản đặc trong phòng karaoke, tay rờ rẫm bộ ngực cong xuống một cô tiếp viên nhão nhoẹt thì vợ Mạnh dẫn về nhà người thợ tẩm quất 20 tuổi nói l thành n. Nhưng anh ta không nói đến bộ ngực cong vểnh trước lúc xuất tinh. Khi vợ Mạnh rên hừ hừ như một con bò cái cũng là khi Mạnh ngượng ngùng mặc áo quần trước ánh mắt thương hại cô tiếp viên bộ ngực cong xuống. Dù hai bàn tay và cái miệng cô gái làm mọi cách nhưng xe tải mười tấn đã không chạy được nữa. Đường vắng tanh mà rúc còi rền rã chẳng ai nhường bước để chạy. Mạnh chợt nghĩ đến người thợ máy đặc biệt.

*

Sáng nay vợ Đàn dậy sớm hơn mọi ngày. Cả đêm chị chập chờn cơ man ý nghĩ rối rắm dưới mái tóc lượn xoăn bồng bềnh sương khói. Đàn cũng thức nhưng trong đầu chỉ duy nhất một câu hỏi. Nó bắt đầu vang lên từ canh hai và liên tục cao vút đến canh năm. “Tại sao chiếc đồng hồ treo tường lại hỏng?” Đã đành không còn nghe tiếng tích tắc đều đều, đã đành không còn tiếng chim hót đúng vào 5 giờ sáng đánh thức chú mèo tam thể lười nhác ngủ từ 3 giờ chiều đến sáng vẫn say sưa, giấc ngủ không có chuột. Nhưng sao nó lại hỏng đúng vào đêm qua, sao nó không hỏng vào ngày hôm trước khi vợ Đàn đang bận bịu chuyện làm ăn nào đó mãi tận mũi Cà Mau?

Vợ Đàn uể oải vươn vai, tay chị dài loăng ngoăng, hất lên một cái ra tận cửa sổ để ngỏ. Đàn tưởng tượng ra chiếc kim giây. Chú mèo tam thể ẽo ượt cào cào lên cánh tay kim giây, ánh mắt tinh nghịch nhìn vợ Đàn rồi liếc về phía Đàn. Anh bật dậy. Trời u ám quá, thể nào hôm nay cũng sẽ lại mưa. Vợ Đàn đưa tay lên miệng ngáp, giọng rời rạc:

– Anh có chạy ra bờ hồ không?

– Không, em chạy một mình đi, anh ở nhà sửa chiếc đồng hồ.

– Đồng hồ nào? Nhà mình có mấy chiếc đồng hồ hỏng một cái đã sao, việc gì sáng chưa bảnh mắt anh đã vội vàng sửa.

– Đồng hồ trong phòng này bị hỏng hôm qua em không biết à?

– Em không để ý.

Lạy trời, vợ Đàn không biết đồng hồ hỏng. Thế là chị không biết bí mật của anh. Chẳng có gì đáng sợ, anh sẽ sửa chiếc đồng hồ này ngay bây giờ và nó lại sẽ tích tắc chính xác sau khi chị chạy hai vòng bờ hồ. Biết đâu u ám nhưng lại có nắng?

Chú mèo chăm chỉ xem Đàn mở từng bộ phận chiếc đồng hồ. Không thể hết pin được, Đàn mới thay pin cách đây một tuần bằng loại tốt nhất. Ở bộ phận nào đây? Chú mèo tam thể vẫn cần mẫn ngồi cạnh Đàn. 30 phút, gần hết hai vòng bờ hồ đồng hồ vẫn chưa nhúc nhích. Sao lại có thể như vậy được? Mọi đồ đạc trong nhà hỏng hóc Đàn đều tự sửa từ cái bóng đèn đến chiếc xe gắn máy. Đàn phải sửa xong chiếc đồng hồ này trước khi vợ Đàn thể dục bờ hồ về. Thật may vợ Đàn không biết bí mật của chồng, chỉ hơi ngạc nhiên một chút đêm qua khi Đàn cứng đờ trên bụng mãi vẫn không mềm người ra được. Chiếc đồng hồ chết tiệt, nó đã làm Đàn không xác định được 5 phút, không xác định được nhịp nhảy của kim giây nên anh không thể nào nhịp theo tích tắc. Anh mất phương hướng đen ngòm trong hang hốc tối tăm nguyên thủy không xác định ngày giờ.

Vợ Đàn không chạy hết một vòng bờ hồ như anh nghĩ, chị ngồi lặng yên trên ghế đá, cánh tay dài ngoẵng kim giây thõng bên sườn. Đêm qua chồng chị bỏ ngang giữa chừng trong cuộc ái ân. Anh vẫn nằm trên chị, chị vẫn vòng tay ôm ngang lưng anh, tư thế gần hai mươi năm bất di bất dịch. Nhưng anh đã không nhịp lên nhịp xuống đều đặn được như hai mươi năm qua và không có kết thúc. Chị không thấy dòng máu nóng của anh tuôn chảy vào người chị. Người ta vẫn thường bàn nhau về những cách, những kiểu khác nhau khi chồng yêu vợ nhưng chị không quan tâm. Chồng chị duy nhất một cách và chị cảm thấy hài lòng. Chị không nhìn đồng hồ, chị không đếm nhịp nhưng chị có thể cảm nhận được lúc anh chuẩn bị kết thúc. Vậy mà đêm qua anh đã không kết thúc. Có cần bảo anh đi bác sĩ không? Mà sao sáng nay anh lạ quá, chưa tỉnh ngủ đã sửa đồng hồ. Cánh tay kim giây của chị thõng xuống sâu hơn nữa.

Chú mèo tam thể vẫn miệt mài xem Đàn tháo ra lắp vào các bộ phận của chiếc đồng hồ. Anh mở chiếc hộp đựng dụng cụ. Đây rồi, có cặp pin mới vẫn chưa dùng đến, anh lắp vào. Tích tắc, chạy rồi. Con chim cúc cu trong đồng hồ kêu mừng rỡ. Đúng 6 giờ sáng. Bắt đầu một ngày mới nắng vàng. Nhưng cúc cu chỉ kêu được ba tiếng rồi ngừng, nó ngoắt chiếc mỏ xinh xắn thẳng vào mặt Đàn: “Cúc cu, cúc cu, anh chàng khốn khổ. Nhịp lên nhịp xuống mà không thành người. Cúc cu cúc cu, đồng hồ hết chạy thành đàn không thanh.”

Và im lặng hoàn toàn, đồng hồ ngừng tích tắc, chim cúc cu đậu yên trên cành cây. Đàn díu mắt, mắt anh vẫn sáng. Chết tiệt, chẳng nhẽ Đàn bị ốm? Anh ném chiếc đồng hồ vào hộp đựng dụng cụ và đi vào nhà vệ sinh.

Cô học trò mặc chiếc áo khoét sâu trễ cong đôi môi khi Đàn bước vào lớp. Đôi mắt thăm thẳm của cô dán chặt vào người Đàn. Anh bỗng đưa hai tay ôm đằng trước. Chú mèo đen tuyền trước ngực áo cô học trò động đậy những sợi ria. Lại mèo, ở nhà sáng nay mèo tam thể soi mói Đàn sửa đồng hồ không chớp mắt, nó đã nghe chim cúc cu hát bài hát vô nghĩa ấy. Đi dậy, mèo đen tuyền trước ngực áo cô học trò lại núng nẩy ngo ngoe ria mép. Hay là lũ mèo đã biết hết bí mật của anh và chiếc đồng hồ? Đôi mắt thăm thẳm cô học trò ném chặt, dán chặt anh vào chiếc ghế dựa. Khóe miệng hênh hếch lên. “Thầy đã thấy sự nghiêm khắc, bó khuôn của thầy phải trả giá thế nào chưa? Đồng hồ đã không chạy, thầy đã không định được 5 phút và thầy đành ngã ngựa”. Khóe miệng hồng hồng hếch lên chút nữa. “Thầy đã từ chối em, thầy ra dáng một người đàn ông nghiêm túc, thầy không dám nhìn sâu xuống chiếc áo hở cổ của em, thầy gạt tay em ra khi em vòng tay qua cổ thầy. Em chỉ muốn phá bỏ qua luật 5 phút của thầy đi thành 20 phút, một giờ. Nhưng thầy xua đuổi em, bây giờ thì thầy đã trả giá.” Đàn không chịu được ánh nhìn thăm thẳm và khóe miệng hênh hếch kia, khóe miệng ấy, khóe miệng hênh hếch lên ấy đã rà rẫm từng phân vuông trên người Đàn, đẩy Đàn vào mê cung mềm mại của vương quốc nhung lụa làm Đàn trở thành vĩ đại. Người đàn ông vĩ đại. Trời ơi, Đàn không chịu đựng được nữa. Đàn đã chôn sâu sự đê mê nhục nhã ấy hai mươi năm nay. Nho gia nền nếp không dạy Đàn 16 tuổi đi mua dâm một cô gái điếm đứng đường. Nhưng kìa, đôi môi cong trễ ấy lại tiếp tục hếch lên nữa. Anh đang lớn dần lên ở dưới, hai bên ngực, hai bên nách và hai bên tai. Phòng học trở thành góc khu vườn hoang tranh tối tranh sáng lót dầy những lớp lá rụng mùa thu. Có chiếc tổ chim trên cành cây gần nhất đang xòe xuống. Chim cúc cu nghển cổ nhìn Đàn 16 tuổi chết dưới đôi môi cong trễ của cô gái. Nó ca lên những nốt nhạc vô nghĩa. Đôi môi cong trễ ấy rà đến đâu ở chỗ ấy lại mọc lên một thằng đàn ông nữa. Đàn vĩ đại quá! Đàn ông dưới bụng của Đàn nhấn sâu vào dưới bụng cô gái, đàn ông trên hai núm ngực Đàn nhấn sâu vào đôi gò bồng đảo cô gái, đàn ông sau hai tai Đàn bị bóp chặt bởi tóc cô gái. Đôi môi cong trễ ấy thốt nên một câu thật nhẹ nhàng trên lớp lá mùa thu: “Anh là người đàn ông vĩ đại. Em muốn làm vợ anh”. Nhỏ nhẹ như heo may nhưng chim cúc cu nghe thấy và Đàn cũng nghe thấy. Nhưng Đàn đã quên, ngay hôm sau khi mùa thu chưa đi, lá vẫn rụng vàng, Đàn đã quên tất cả. Đàn xấu hổ với lễ giáo, nho gia của chính mình. Góc phố ấy, vườn hoang ấy, cây cổ thụ ấy, tổ chim cúc cu ở gần nhà Đàn nhưng chẳng bao giờ Đàn dám đi ngang qua nữa. Sao bây giờ cô học trò kia khóe miệng lại hếch lên và đôi môi lại cong trễ đến thế?

– Thưa thầy, thầy bị ốm đấy à?

Đàn giật mình. Đúng rồi. Đàn đang ốm, người Đàn nặng nề quá. Cô gái bảo là Đàn vĩ đại. Chim cúc cu bảo Đàn không thanh. Cô học trò vẫn thăm thẳm chiếu người Đàn. Cô ta sẽ phát hiện ra bí mật của Đàn mất. Đàn phải về nhà sửa xong chiếc đồng hồ để chim cúc cu lại hót, Đàn phải về.

Buổi chiều khi vợ Đàn về nhà thấy chú mèo tam thể chăm chú ngồi xem Đàn sửa chiếc đồng hồ trong phòng ngủ. Trên người Đàn không một mảnh vải.

*

Mấy hôm Đạo không dám soi gương nên cũng đành thôi cạo râu. Mặt anh nhiều trứng quá, nó nổi lên từng mảng, mụn mủ, mụn đầu đen thâm sì. Con gái Đạo phán đoán: “Có thể bố bị dị ứng đồ biển”. Đồng nghiệp Đạo cười hi hí sau lưng anh: “Chắc khí tồn tại não, thiếu cái khoản ấy”. Đạo không trả lời, cũng chẳng cười đồng tình hay quay mặt phản đối. Đơn giản chỉ vì trứng cá, có khoảng hơn nửa dân số mọc mụn trứng cá. Đấy chẳng phải căn bệnh chết người. Chỉ cần cẩn thận khi rửa mặt, mà bàn tay Đạo mạnh mẽ, những ngón vừa xương xẩu vừa to lớn nhẹ nhàng sao mà khó. Lại ngứa râm ran khắp mặt. Chẳng giữ gìn, Đạo đưa tay gãi sồn sột, móng tay dài nửa vàng nửa nâu. Gãi đến đâu sướng rồ người đến đấy. Vợ Đạo rú lên như gặp phải ma cà rồng buổi chiều Đạo xách cặp vào nhà.

– Ối trời ơi! Sao cái mặt anh lại khủng khiếp thế này?

Đạo trừng mắt nhìn vợ:

– Cô giáo mà rú lên ăn nói thế hả? Vô phép, không có từ nào nhẹ nhàng hơn à? Từ nay bỏ cái thói ăn nói vớ vẩn ấy đi.

Vợ Đạo len lét cầm rổ đi rửa rau. Những cọng rau muống xòe ra khỏi vành rổ, rau muống mùa này không được tươi xanh. Nhìn mà phát chán.

– Tôi không ăn cơm ở nhà. Tối nay ăn cơm khách, rồi về cơ quan trực luôn, mấy mẹ con đừng chờ.

Những cọng rau muống rơi ập xuống chiếc chậu màu trắng cam chịu. Tối nào cũng trực. Vợ Đạo không biết khi cô đang gắp những cọng rau muống không xanh tươi cho vào bát, mắt dõi theo bộ phim truyền hình Trung Quốc trên truyền hình thì Đạo đang khật khừ cơm khách trong phòng karaoke ngoại ô. Bên trái Đạo là một người đàn ông tóc buộc túm môi đỏ chon chót, đầu lưỡi cũng chon chót đổ.

– Xếp bao bọc cho đàn em thế này, đàn em sẽ không bao giờ quên ơn xếp. Gia đình xếp có bất cứ khó khăn nào chỉ cần ới một tiếng chúng em xin hầu.

– Chú mày thì giúp được cái gì khác ngoài tiền, tao mà bị phát hiện đuổi khỏi ngành chú mày có giúp được không? Cái lon đại úy của tao vứt xuống cống chú mày nhặt lên được không?

– Xếp đừng có nói dại chứ. Xếp kín đáo thế, nổi tiếng nghiêm minh và thanh liêm, dũng cảm làm sao mà bị đuổi. Với lại tiền giải quyết được tất cả.

Đạo hềnh hệch cười theo cái mồm xệch ra của tên chủ nhà chứa.

– Tuần này liều liệu mà kín đáo, đang có chiến dịch, sẽ làm căng đấy. Xong đây tao cũng phải đi quét mấy ổ ở phía nam thành phố.

– Thế thì em để xếp lại một mình thoải mái để xếp còn thi hành phận sự.

Tên tóc buộc túm lom khom bước lui và đóng cửa nhưng ghé sát tai vào ổ khóa bên ngoài.

– Đồ gái điếm hư hỏng chiều tao đi, nhanh lên, lột ra, mút đi, mạnh vào, sao ngu thế? Không bằng một cái liếm môi đứa con gái ấy, cái đứa sâu hun hút và chặt thin thít.

Vừa đi tóc buộc túm vừa lẩm nhẩm trong hành lang tối “Cái đứa sâu hún hút, chặt thin thít ấy là đứa nào? Gái ở đây là đệ nhất thiên hạ rồi cơ mà”.

Rồi Đạo cũng áo quần chỉnh tề, mặt mày đỏ phừng phừng đến cơ quan thay đồng phục. Đêm nay tổ của Đạo phải làm trong sạch địa bàn phía Nam, Đạo háo hức. Cứ mỗi lần ra tay cái cảm giác phừng phừng hứng khởi lại căng cứng. Đồng nghiệp nhận xét Đạo dũng cảm và có trách nhiệm trong công việc. Đêm nay Đạo có linh cảm sẽ tìm thấy cô gái điếm sâu hun hút và chặt thin thít. Nhiều lần Đạo đã nhìn thấy cô gái ấy, anh chạy theo hết con đường thì cô gái lại biến mất như trêu ngươi. Anh đã nhiều lần qua lại góc phố hoang tàn ấy dù anh không tin cô gái vẫn còn đứng. Nhưng Đạo có cảm giác đêm nay anh sẽ tìm thấy cô gái. Đạo không quên được hình ảnh cô mút dương vật anh dài ra dài ra mãi và ấn vào cửa mình cô hun hút bóp chặt. Sâu hun hút nhưng chạm tới đáy. Lần duy nhất cái đàn ông của Đạo có thể dài đến thế. Đạo đã thử nhưng chẳng cô gái nào kéo dài của Đạo ra được nữa, chỉ là một mẩu ngắn ngủn bơi lội trong giếng khơi. Cô gái ấy đã nói dối Đạo, đã làm Đạo tin tưởng: “Anh mới dậy thì mà đã to dài thế rồi. Sau này trưởng thành sẽ khủng khiếp lắm. Nhưng chỉ cái của em mới vừa thôi, vì thế anh cưới em nhé?” Cô ta đã lừa Đạo, bây giờ lại chạy trốn Đạo. Đạo chưa bao giờ nhìn rõ mặt cô ta nhưng Đạo nhớ, cô ta ám ảnh Đạo mỗi khi anh không áo quần trên người. Không áo quần Đạo nhìn thấy cái ngắn ngủn của mình. Đạo muốn cô gái ấy, muốn dược chặt thin thít trong sâu hun hút để giải thoát khỏi kiếp vật lộn giữa ao hồ mênh mang.

Đây rồi, cô ấy đây rồi. Cô ta chạy vào con đường vắng không nhiều ngõ ngách. Đêm nay Đạo sẽ bắt bằng được cô gái điếm. Không nhầm lẫn vào đâu được. Bước giầy Đạo ráo riết, cô gái mặc váy lụa màu gạch chạy trước mặt Đạo không phát ra tiếng động. Đạo nghĩ cô ta đã vứt giầy chạy chân đất. Con đường hẹp dần và hun hút. Khu phố này vốn quen thuộc với Đạo sao hôm nay lạ quá. Không điện đóm gì cả như đi vào ngõ chết. Con đường hẹp dần, hẹp dần, gió từ hun hút phả vào mặt, những tảng trứng cá buốt nhức. Làn gió đến từ cõi chết. Bóng cô gái vẫn ở trước mặt thoắt ẩn thoắt hiện trong những tán cây sâu hun hút. Đạo hoa mắt ngã quỵ. Khi anh mở mắt, phố sáng đèn và rộng thênh thang, tán cây xào xạc lá. Anh lên xe chạy về nhà để nguyên áo quần đè lên vợ. Trứng cá giật giật từng cơn, những ngón tay to dài của Đạo bồm bộp vào người vợ: “Kéo dài ra đi nào, cô là vợ tôi mà cô không làm được. Đáng ra tôi phải lấy cô gái ấy, chỉ cô gái ấy mới xứng đáng làm vợ tôi.”

Sáng mai chưa đến phòng làm việc, ngay từ cổng Đạo đã hay tin sốt dẻo 24 cô gái điếm đội anh tóm được trong đợt truy quét lần trước, 16 cô bị nhiễm HIV. Đạo hoảng sợ, trứng cá mưng mủ vàng nhức nhối. Anh lần theo 16 bức ảnh trong hồ sơ những cô gái mang án tử hình. Môi cong hờn dỗi và khóe miệng hếch lên. Đạo chỉ ngủ với những gái điếm có khuôn miệng giống thế 20 năm qua. Đạo đi tìm sâu hun hút và chặt thin thít. Trời ơi cô gái ấy có trong 16 gương mặt mang án tử hình. Khóe miệng trở nên lạnh giá tựa hồn ma. Cô gái đã hại anh, chính là cô gái ấy đã trả thù anh vì anh không cưới cô ta làm vợ. Khóe miệng vẫn hếch lên từ từ, khuôn miệng cô gái trong tấm ảnh thành hình trăng khuyết. Đạo sờ xuống dưới, cái đàn ông của anh từ từ ngắn lại, thụt sâu vào trong chỉ dính lại một chút da bên ngoài. Chiếc quần trên người Đạo rộng toang toác, gió lùa sâu bốn bên mông đùi chân bụng.

*

Nếu ai đó hỏi anh chuyện gì trong cuộc đời gần 40 tuổi của mình làm anh nhớ nhất, Andrews sẽ mỉm cười, giọng anh nhẹ như bấc: “Chuyện năm chàng trai và góc vườn hoang”. Sẽ chẳng ai dại dột gặng hỏi Andrews hơn nữa bởi khi ấy đôi mắt anh xa xăm và hai bàn tay đan chéo vào nhau trầm mặc. Anh thấy rõ ràng góc phố heo may lạnh một chút, trăng sáng một chút, lá vàng rơi một chút và cô gái ấy cao một chút, mảnh mai một chút. Nhưng cây cổ thụ thì lớn quá chừng. Andrews nghĩ bây giờ chắc nó đã gần vài trăm tuổi. Năm chàng trai thì hồi hộp vô cùng, tim đập rộn rã, mặt mũi nóng bừng, chân tay lóng ngóng. Buổi học nhóm của năm học sinh chuyên toán trở thành buổi học đặc biệt. Andrews cũng chẳng còn nhớ ai đã mào đầu chuyện ấy, chỉ biết rằng không ai phản đối. Họ lầm lũi bước ngang qua ba dãy phố đến vùng sáng tối một chút ấy, chẳng ai nói với ai câu nào. Cô gái mặc chiếc váy lụa màu gạch cười với họ, anh thấy răng cô thật đều và thật trắng, lấp lóa cả góc phố. Khác với lời bàn bạc từ lúc ở nhà, không thấy cô gái không nói đến tiền trước tiên, không ngã giá. Chỉ thấy cô cười và khoát nhẹ tay. Anh nhìn thấy những ngón tay và bàn tay mảnh dẻ của cô có vài vết sẹo. Cô kéo chiếc váy sát vào thân mình và nhẹ nhang chui qua hàng rào vào khu vườn bàng bạc ánh sáng. Nhỏ nhắn như một chú mèo, cô vẫy vẫy bàn tay mời gọi. Năm chàng trai lần lượt chui qua hàng rào. Andrews lúc ấy còn tên là Thái chạm khẽ vào lớp lá vàng. Anh nhìn cô gái buột miệng: “lá vàng nhiều quá!” Cô gái vẫn cười, răng trắng lấp lóa dưới ánh trăng bàng bạc mùa thu. Năm chàng trai đứng im như trời trồng. Cô gái bỗng thì thầm: “Nước sông Hồng đang lên, các anh có nghe thấy không?” Họ nhìn nhau bối rối, giọng nói của cô gái dường như không âm lượng. Cô gỡ chiếc dây váy trên vai, trăng mờ mờ, giây lát anh nhìn mái tóc nhung chảy tràn xuống đôi vai gầy, ngấp nghé bộ ngực cong vểnh. Họ vẫn đứng như trời trồng. Cô gái dựa vào gốc cây nửa ngồi nửa đứng, chân cô thẳng tắp, cặp đùi kiêu sa hé ra nhẹ nhàng. Họ không cử động, miệng khô đắng mà nước bọt chỉ chực ứa tuôn. Cô gái đưa tay chỉ về phía anh. Cô lại cười, điệu cười như một tiếng thở dài: “Chàng trai tóc xoăn lại đây với em. Còn bốn chàng trai kia dạo quanh khu vườn bắt dế, hái hoa cho em đi.” Họ nghe theo lời cô răm rắp. Anh bay lại phía cô gái, má anh nóng hổi những giọt nước mắt. Bốn chàng trai còn lại sắp hàng đi về phía khóm hoa dại. Anh chỉ thấy khóm hoa, hình như chúng không có màu. Cô gái nhẹ nhàng dùng tóc lau khô những giọt nước mắt cho anh, tóc cô mềm mại. Anh ngửi thấy mùi sữa mẹ. Áp đầu vào bộ ngực cong vểnh anh cảm thấy thân thể mình sắp tan chảy. Cô gái thì thầm bên tai anh: “Anh đáng yêu nhất, anh đáng yêu nhất, da thịt anh thơm như được tắm nước nguồn sông Hồng…” Hai núm vú cô gái vươn cao và cong lên mãi, anh với miệng theo không kịp. Những dòng sữa mát lạnh tuôn chảy vào miệng anh từ đôi bầu vú căng đầy, miệng anh không kịp hứng. Chảy xuống bụng anh, xuống đùi anh làm anh cúi với theo. Chao ôi! Anh cúi xuống, cúi xuống nữa, phía dưới chiếc bụng phẳng mềm của cô là cả một bức tranh anh chưa từng thấy. Bức tranh ấy ưỡn cong giấy lụa nhích sát về phía anh. Nó tỏa ra hương vị đặc biệt. Anh chẳng biết gì nữa kể từ lúc ấy. Khi tiếng chim cúc cu gù xao xác lá anh giật mình mở mắt, cô gái đang mút những ngón tay nhìn anh rồi nhìn ngọn cây cổ thụ. Anh thấy rõ những vết sẹo trên bàn tay cô. “Anh sẽ không quên em đâu phải không anh?” Rồi cô huýt sáo, những người bạn anh đang đứng ngước mặt lên trời như chó sói đồng loạt quay lại. Cô gái vẫy tay chỉ chàng trai gần nhất. Anh chậm chạp bò dậy lê khỏi lớp nệm mùa thu. Anh không biết anh vừa đánh mất thứ gì, lúc ấy anh hoàn toàn không biết. Sau đấy là những tháng ngày nơi xứ người lang thang học hành kiếm sống, anh vẫn không biết chính xác mình đã mất gì trong đêm mùa thu 15 tuổi.

Bây giờ anh ngồi đây, nơi thành phố năm ấy có đêm mùa thu và góc vườn hoang. Anh đã trở về cái nơi anh vẫn chưa biết mình đã mất gì trước khi ra đi. Căn phòng khách sạn cửa sổ nhìn ra hồ nước. Anh thấy lạnh lẽo và xa mờ. Anh ước khi với tay mở cửa sổ, trước mắt anh sẽ là cây cổ thụ xum xuê, trăng sẽ bàng bạc và cô gái chiếc váy màu gạch non mỉm cười nhìn anh. Lại như năm nào anh cúi người chui hàng rào vào góc vườn hoang. Anh không mảnh dẻ nữa để có thể chui qua nhưng anh sẽ thu nhỏ mình lại bay theo cô gái, bàn tay mảnh dẻ của cô có những vết sẹo. Năm ấy anh không nhìn ra hoa dại có màu, bây giờ anh cũng chẳng muốn chúng có màu gì dù rực rỡ hay ý nhị. Anh muốn chúng chẳng mang màu, chỉ cần cô gái ấy vẫn có màu huyền của tóc, màu trắng của làn da, của dòng sữa và màu quyến rũ của những lời thì thầm. Nhưng Andrews không biết cô ấy có tha thứ cho mình hay không, tha thứ cho 20 năm qua anh vẫn chưa biết mình đánh mất gì.

Buổi đêm, sau một ngày mệt nhoài nơi công sở, ghé quán ăn cơm Việt Nam hay mua một ổ bánh mỳ kẹp thịt trên đường về hay lười biếng nhấc điện thoại gọi một xuất hủ tiếu xào, anh bật máy tính miệt mài viết. Những truyện ngắn của anh đầy màu sắc và không khí, cái màu sắc không màu và cái không khí chẳng mùi vị. Nhưng bao giờ cũng như bao giờ khi máy khởi động cũng là hình ảnh cô gai mỉm cười, cặp đùi dài như một tiếng thở sâu, chà xát bộ ngực cong vểnh vào bàn phím. Và một dòng chữ hiện ra màu gạch trên màn hình mùa thu: “Anh đã là đàn ông bởi do em”. Đầu tiên Andrews hoảng sợ, anh tưởng mình bị hoang tưởng. Lâu riết thành quen, anh chỉ muốn mau tan sở vềâ nhà bật máy tính để được hưởng cảm giác cô gái đang chà xát bộ ngực cong vểnh vào bàn phím và nhắc nhở anh đã trở thành đàn ông bởi chính cô.

Có điện thoại gọi lên phòng cho anh. Giọng con gái nhẹ nhàng hỏi anh có mệt không sau chuyến bay dài. Andrews nhớ mãi mới ra cô bạn đã từng tá túc qua đêm nhiều lần ở nhà anh khi sang bên ấy công tác. Và lần này cô mong được đền đáp khi anh về thăm quê hương. Anh không vồ vập cũng chẳng hờ hững với cô trong bữa ăn tối. Cô nói cười luôn miệng nhưng chỉ nói và cười, Andrews chẳng thấy nước sông Hồng đang dâng. Như lẽ tự nhiên, anh đưa cô về phòng mình. Cô bạn anh tung tẩy vào phòng, tắm, tiếng nước xối ào ào. Anh bỗng thấy màn hình chiếc laptop của anh rực sáng. Andrews với tay ra để tắt, chân anh tự bỏ giầy. Khi anh đưa tay vào nút tắt, màn hình laptop hiện lên dòng chữ màu đen: “Anh đã bỏ rơi người đàn bà tốt nhất”. Và hai bầu vú vàng vọt thõng xuống như trái mướp rơi khỏi bàn phím. Đêm ấy cô bạn gái hay nói hay cười của Andrews hậm hực bỏ về, chân bước hầm hập xuống cầu thang, bước chân của người đàn bà không đựơc thỏa mãn.

*

Hình như sắp đến mùa đông. Huệ chiều lòng cổ thụ lại mặc chiếc váy lụa màu gạch. Bây giờ Huệ cảm thấy ớn lạnh. Năm nay chắc gió mùa về sớm. Nước sông Hồng mấy hôm nay cạn nhiều quá. Huệ xót xa thấy chúng cứ tụt dần tụt dần. Bãi chẳng bồi thêm được chút nào. Đến ngày sông Hồng chẳng thể nuôi nổi mình, những cánh đồng ngóng chờ sẽ cằn cỗi. Không biết dòng sông chảy mãi suốt bốn mùa ấy có chảy qua nơi đã sinh ra Huệ. Nhưng Huệ đâu rõ mình sinh ra ở đâu. Con bé mười tuổi trong trại trẻ mồ côi hằng ngày phải lao động vất vả như nô lệ bị cái nhìn tiêu ớt người đàn ông quản lý đã tháo chạy ra bờ đê sông Hồng ngủ vùi trong bãi ngô xanh mướt suốt hai ngày. Tỉnh dậy nó thấy đũng quần ươn ướt màu đỏ khô đặc quánh. Sông Hồng sóng lớn dồn dập. Nó biết cái cơ thể mười tuổi của mình thay đổi. Và rồi sông Hồng mùa nước trong nước nổi cứ xuống lên lên xuống, Huệ chẳng biết nó chảy về đâu… Sao năm nay mùa về sớm quá, thể nào ngày mai cũng có mưa phùn.

“Cổ thụ ơi, Huệ thấy lòng mình nao nao lạ lắm. Có phải Huệ đã già rồi không?”

“Huệ chưa già nhưng không còn trẻ nữa, chẳng ai ngăn được tuổi đâu Huệ. Mùa đông rồi Huệ đừng chiều lòng cổ thụ nữa, ngày mai Huệ nhớ mặc áo ấm vào nhé”.

Cô gái ngước mắt âu lo lên vòm trời.

“Giọng cổ thụ hôm nay là lạ thế nào. Có phải cổ thụ ốm không?”

“Ta cảm thấy bất an. Ta nghe những âm thanh cưa dùi, rìu búa. Thương thay hình hài Alixia đang nương náu dưới đất này…”

“Cổ thụ đừng nên như vậy Huệ sợ, Huệ đang cảm thấy sợ. Nói chuyện vui đi cổ thụ, Huệ lên trên ấy nói chuyện với cổ thụ cho gần hơn nhé”.

Những tán lá xào xạc, cô gái leo thoăn thoắt lên chạc cây cao vút, từ đấy có thể ngắm bao la trời đất. Huệ nằm dài trên chạc cây vững chãi, bàn tay cô ve vuốt từng cành lá.

“Cổ thụ ơi, lâu lắm rồi chẳng có đôi chim cúc cu nào về đây làm tổ nữa. Huệ nhớ tiếng rù rì của chúng”.

“Già cỗi hết rồi Huệ ạ. Chim cúc cu phải đi tìm vùng trời nắng ấm và những mái ngói đỏ. Ta không còn thích hợp cho chúng nữa”.

“Năm chàng trai ấy có già đi không cổ thụ nhỉ…”

“Họ cũng già như ta và Huệ thôi. Huệ lại nhớ họ đấy?”

“Vâng, hôm nào mà Huệ chẳng nhớ họ. Họ trong trắng và họ không làm đau Huệ. Cổ thụ biết không, Huệ ước được có gia đình với một trong những chàng trai ấy, nhất là chàng trai có mái tóc xoăn. Anh ta tốt và là người đàn ông đam mê thực sự.”

Tiếng xào xạc lá lẫn trong tiếng thở dài cô gái. Nghe như tiếng gió khóc. Cô gái thiu ngủ, đôi mắt to của cô khép nhẹ nhàng. Ở đầu con đường bóng những người đàn ông đang đi lại. Họ chẳng đi cùng nhau nhưng đều đi về cuối phố. Hình như họ đang tìm kiếm điều gì, những đôi mắt ngác ngơ và bàn chân dò dẫm. Bước đi của họ chẳng âm lượng, xa xăm lạ lùng. Có tiếng chim cúc cu rù rì, Huệ choàng tỉnh. Cổ thụ ôm đỡ lấy người con gái.

“Cổ thụ ơi, chim cúc cu lại về. Huệ nghe những bước chân…”

Cô gái chẳng nói hết lời. Từ ngọn cổ thụ Huệ nhìn rõ năm người đàn ông đang im lặng ngước mắt nhìn mình. Huệ bối rối sửa lại tóc tai, váy áo. Năm người đàn ông hết nhìn nhau rồi nhìn lên ngọn cây. Đôi mắt Huệ sáng rực, đôi mắt người đàn bà biết mình sắp được yêu.

“Các anh lên đây với em”.

Năm người đàn ông nhìn nhau, nhìn cô gái, nhìn những cành cổ thụ dù đã rụng vàng gốc mùa thu vẫn rậm rạp xào xạc lá. Đàn nghĩ về chiếc đồng hồ treo tường trong phòng ngủ. Toàn ngân lên những nốt nhạc hình cánh hoa nở rộ trên đùi. Mạnh tự hỏi không biết bộ ngực cong vểnh ấy còn vểnh lên. Đạo cười đắc ý cuối cùng con đường cũng đến đích. Andrews nhìn rõ dòng chữ mạu gạch đang bay trên tán lá: “Anh sẽ lại làm đàn ông bởi chính em.” Giọng nói Huệ vẫn du dương mời gọi:

“Lên đây đi năm người đàn ông. Huệ biết thể nào các anh cũng trở về…”

Năm người đàn ông giật mình. Hai mươi năm bây giờ họ mới biết cô gái ấy tên Huệ. Một cái tên đẹp dành cho một người phụ nữ đẹp. Họ bối rối. Giọng nói ân cần du dương thúc giục mời mọc. Từng người một cởi giầy và leo lên những chạc cây, cổ thụ nâng đỡ họ dễ dàng. Tiếng cô gái lảnh lót:

“Mỗi anh tìm cho minh một chạc cây vững chắc đi, em sẽ leo xuống dần dần…”

Họ nhìn thấy màu gạch thoăn thoắt trèo xuống. Năm người đàn ông không còn biết gì nữa. Không có thời gian, không có mùa, không có mầu và không có cả âm thanh. Andrews thấy màn hình laptop trở thành màu trắng, lấp lóa và mượt mà lụa nhiễu. Ngày hôm sau vợ Đàn nhìn đồng hồ chạy đúng giờ, nhịp của chồng đều đặn. Con gái Đạo ồ lên ngạc nhiên vì trứng cá trên mặt bố chỉ sau một đêm đã biến mất. Cô người mẫu tên Ngà nhận tiền taxi của Toàn ra về, đôi môi mọng đỏ. Bạn gái Andrews bước những bước chân rời rạc xuống cầu thang hẹp.

Trước khi trở về Mỹ, Andrews thơ thẩn đến góc phố hẹp, cổ thụ, vườn hoang, trăng bàng bạc. Anh không tin ở mắt mình. Tất cả bị san phẳng, không còn dấu tích gì của cây, của vườn, của Huệ. Thấp thoáng màu trắng một xa lộ thênh thang. Anh chợt nghe sông Hồng sóng cuộn.


© Copyright Đỗ Hoàng Diệu 2005

Chú kem chuối ngày xưa

baotreonline.com

Song Thy

Post on October 6th, 2019

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Không còn nhớ rõ là tự lúc nào, hình ảnh của chú đã để lại những ấn tượng khá sâu sắc trong lòng tôi.

Với công việc của một người bán văn hóa phẩm từ cái thời mà người Việt lưu vong rất thèm chữ nghĩa, những con chữ mang âm hưởng quê hương đã cách xa nửa vòng trái đất.

Mỗi ngày chúng tôi phải giao tiếp với biết bao nhiêu khách hàng, thì hình ảnh người đàn ông trung niên, khuôn mặt khắc khổ không có nét gì đặc biệt, rất dễ nhạt nhòa trong dòng người ra vào tấp nập từ sáng đến chiều tối.

Sau vài lần chú đến giao báo, mà lại là những tờ báo đấu tranh, rất kén chọn người đọc, với nụ cười niềm nở, giọng nói miền Trung hơi khó nghe, nhưng ấm áp và cách dùng từ ngữ chuẩn xác, đã khiến cô hàng sách ham mê chữ nghĩa như tôi chợt nảy ra những câu hỏi:

Người ta làm báo để kiếm lợi nhuận, còn với những ấn bản khó tiêu thụ như của chú, chắc chi đã đủ tiền trả nhà in, vậy mà sao chú vẫn đều đặn như một cái đồng hồ điện tử được điều chỉnh sẵn, đúng giờ và đúng ngày.

Thế thì chú làm công việc này vì mục đích gì?

Và hình ảnh cây kem chuối chú ngậm, luôn luôn có trên miệng khiến tôi càng thắc mắc hơn.

Cho đến một ngày kia, khi đã đủ quen biết để có thể nêu ra những ẩn ức trong lòng thì mới được nghe lời giải thích là một cô hàng tạp hóa có quảng cáo trên báo của chú. Mỗi khi nhận báo đều tặng chú một cây kem chuối, đến nỗi anh chị em trong tiệm đều gọi chú bằng cái tên khá ngộ nghĩnh và dễ thương: Chú Kem Chuối.

Nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân (đầu tiên, từ phải)

Rồi đến khi có cơ duyên sinh hoạt chung với các anh chị nghệ sĩ trong Văn Bút Nam Hoa Kỳ, tôi lại khám phá ra một điều thật bất ngờ: Chú là tác giả những bài viết mà tôi rất thích đọc với bút hiệu Nguyễn Mạnh An Dân.

Niềm quý mến tăng dần theo thời gian cho đến một buổi trưa nắng đổ trên đường Synott tôi đã phải dừng xe lại vì chứng kiến một tai nạn giao thông vô cùng thảm khốc.

Chưa về đến nhà thì nhận được điện thoại của các thân hữu cho biết nạn nhân trong vụ đụng xe trên, mà tôi nghĩ rằng sẽ khó qua khỏi, lại chính là Chú Kem Chuối mà tôi hằng kính trọng.

Tôi thật bàng hoàng và vẫn không tin chuyện đó là thật cho đến tận bây giờ… và ngay khi đang nghĩ và viết về chú với hình ảnh thật rõ hiện trong trí tôi “Chú Kem Chuối” với hai tay xách mấy xâu báo và miệng ngậm cây kem chuối.

Ôi kiếp nhân sinh sao mà ngắn ngủi, càng nghĩ càng thấy ngậm ngùi, dường như có một điều gì khiến xui để tôi chứng kiến một thảm cảnh đau lòng, và cho đến hôm nay trong tâm tư vẫn những băn khoăn: Phải chi tôi biết được nạn nhân lúc ấy là Chú Kem Chuối, thì đã xuống xe để được nhìn mặt chú lần cuối.

Âu cũng là duyên phận.

Có thể khi xe tôi đến đúng thời điểm đó, chú nhìn thấy tôi chăng!

Nhưng mãi mãi và mãi mãi tôi chẳng bao giờ thấy lại chú nữa…

Tiễn đưa chú, xin ghi lại vài dòng như chút tâm tình gửi theo gió mây, Chú Kem Chuối ơi.

Hỡi Chú “Kem chuối” dễ thương ơi!

Cõi xa xăm ấy nhớ mỉm cười 

Nhắm mắt xuôi tay rồi mới biết

Đẹp sao nhân nghĩa với tình người!

Qua làn hương khói quyện tỏa lan

Tiễn hồn chú Mạnh Dạn bình an

Tiêu dao ngày tháng nơi tiên cảnh 

Vung tay múa bút giữa gió ngàn 

Thôi thế cũng xong một kiếp người 

Sắc không không sắc bóng chiều rơi 

Sống chết lẽ thường ai tránh khỏi 

Còn chút tâm tư để lại đời 

Vần thơ mộc mạc phút chia tay

Lòng đã dặn lòng, sao mắt cay!

Hình như hương khói làm hoen lệ

Chút tình xin gửi gió mây bay…

ST

Hỏa Lò

vietmessenger.com

Nguyễn Chí Thiện

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Phần 5

Trăng Nước Sông Hồng

– Thôi vào buồng đi, để người khác còn ra vệ sinh, muộn rồi.

– Mới có dăm phút đã đuổi vào. “Dựa cột”* tới nơi rồi, tôi cũng chẳng hít thở không khí được mấy nữa đâu. Không chừng ngày mai, ngày kia là được ăn kẹo đồng. Ðứng ngoài sân thoáng đãng, nhìn trời mây, non nước. Một giờ nữa sẽ vào.

Tên quản giáo đấu dịu:

– Còn bao nhiêu người, thôi, anh chịu khó vào đi. Nếu không thì hết cả buổi sáng, vệ sinh cũng chưa xong!

Gã thanh niên mang án tử hình, cởi trần, mặc chiếc quần đùi bộ đội, đôi mắt sếch trợn lên, nói như quát:

– Mặc xác họ, tôi chưa vào! Họ còn sống lâu, tha hồ mà hưởng không khí.

Nhìn thấy ở ngoài sân trại thấp thoáng một người mặc áo choàng trắng, gã nghển cổ, gào toáng lên:

– Báo cáo y sĩ đao phủ, bố của mày xin thuốc từ hôm qua mà mày không cho! A, mày lủi! Tiên sư y sĩ đao phủ! Tiên sư y sĩ dê cụ!

Tên y sĩ xuất hiện trước cửa sân khu xà-lim, nói ngọt như dỗ trẻ:

– Anh đau ngực phải không? Tôi sẽ cho người mang thuốc tới ngay. Cứ bình tĩnh! Cứ bình tĩnh!

Dứt câu, hắn quay đi, chuồn thẳng.

Những chuỗi cười khúc khích của cả nam lẫn nữ từ các buồng xà-lim bay ra, thích thú. Tên quản giáo hầm hầm đứng dậy, đập tay xuống bàn, rầm một cái:

– Câm hết! Ông khoá mõm lại tất cả!

Mấy con nhặng xanh lè bay vo vo trong nắng sớm vàng mượt, lấp lánh.

Tên quản giáo giơ tay xem đồng hồ, vẻ sốt ruột:

– Vào đi thôi, anh không thấy bao nhiêu người chờ đợi một mình anh sao?

Gã tử tù cười hềnh hệch:

– Việc gì phải chờ tôi. Có mót, họ cứ tương vào bô của họ ấy. Tôi cùm 24 trên 24. Cả ngày có mấy phút thoải mái. Vào để ông cùm ngay lại à? Tôi cũng chỉ mong được “đòm” một cái là đi đoong, đỡ khổ!

Tên quản giáo xua tay:

– Ðừng quá bi quan. Anh đã làm đơn lên chủ tịch nước xin ân xá. Có nhiều triển vọng lắm. Anh đã từng đi bộ đội chiến đấu…

Gã tử tù nhăn mặt, cắt ngang:

– Ông đừng động viên lừa tôi. Từ xưa tới nay, Ðồng chí Trường-Chinh kính mến có ân xá cho ai đâu! Nói thật với ông chứ, giá viên đạn của bọn bành trướng Trung-Quốc bắn vào ngực tôi đây này, mà lệch đi độ 3 phân nữa thì trúng tim, tôi đâu có phải kéo lê cuộc sống đểu này đến bây giờ để những người như các ông ôm chặt chữ thọ, không biết hưởng khói lửa chiến trường là gì, nay lại đuổi vào bằng được, không cho cả thằng sắp lìa đời hưởng tí không khí suông. Không khí của trời đất, chứ phải của riêng nhà các ông đâu! Tôi còn đứng ngoài này hai tiếng nữa. Ông muốn làm gì thì làm! 

Tên quản giáo không biết xử lý thế nào, rút điếu thuốc ra châm hút. Lũ tử tù này mà khùng lên thì nguy lắm. Ðã có lần, lão phó giám thị bị một tên ụp cả bô phân lên đầu, làm trò cười cho cả Hỏa-Lò. Dây vào đám cùi này chỉ thiệt.

Nghĩ vậy, tên quản giáo quay ra điều đình:

– Thôi, anh vào buồng đi. Khi nào tất cả vệ sinh xong, tôi mới cùm anh. Quyền hạn của tôi chỉ có thể linh động cho anh được tới thế. Ðồng ý chứ?

Gã tử tù ngần ngừ một phút, rồi cúi xuống, cầm cái bô lên, vừa đi vào buồng, vừa cười sằng sặc.

– Ông chiếu cố như vậy thì tôi vào. Tôi cũng không muốn để mấy “Amie xanh tươi” phải nhăn nhó ôm bụng, cố nhịn vì tôi.

Tới trước cửa buồng kỷ niệm Hoàng-văn-Thụ, gã đứng lại nhìn vào, chửi đổng:

– Ð… mẹ thằng Pháp thế mà nhân đạo! Phía sau buồng, cửa sổ toang hoác, nắng gió tha hồ ùa vào. Phía trước lại có hai lỗ thông hơi to đùng, trẻ con chui lọt! Bây giờ bịt kín tất. Tối như bưng, nóng như nung!

Tên quản giáo xua xua chùm chìa khóa:

– Ðừng phản tuyên truyền nữa, vào đi!

– Sự thực sờ sờ ngay trước mặt mà còn bảo là phản tuyên truyền. Ông nhìn xem buồng kỷ niệm ông Trần-Ðăng-Ninh kia kìa. Hồi Pháp thế nào, giữ nguyên như vậy, giống như buồng này, thoáng đãng. Thôi, nói với ông cũng bằng thừa!

Gã tử tù vào buồng, quăng chiếc bô xoảng một cái xuống sàn xi-măng làm tên quản giáo giật mình. Tiếng cửa đóng rầm, tiếng khóa lọc xọc.

Tên quản giáo mở buồng bên cạnh. Hai phụ nữ xanh nhớt, một trẻ măng, một đứng tuổi, người cầm bô, người mang quần áo, khăn mặt, cập rập bước ra.

– Hôm nay tôi bận họp. Mỗi buồng đúng năm phút. Khẩn trương lên!

Suốt trong khoảng một giờ đồng hồ, hơn một chục buồng lần lượt ra vệ sinh. Tất cả vội vã, cuống quít. Tiếng quát tháo, tiếng thúc giục, tiếng chân chạy uỳnh uỵch, tiếng nắp bô rơi loảng xoảng, tiếng cửa buồng đóng, mở, ầm ầm liên tục. Rồi tất cả chìm trong yên lặng. 

Tên quản giáo khóa cửa ngoài hành lang, lặng lẽ bỏ đi. 

Mười phút sau, một anh tù nhà bếp, mập mạp, da xạm nắng, bộ quần áo tù mầu xanh chật căng, gánh cơm vào sân xà-lim. Anh lặng lẽ đặt xoong bột luộc xám xịt, xoong nước muối đen xì như nước cống xuống chiếc bàn dài kê sát tường. Trên bàn, một chồng bát men, một chồng đĩa men, một đống thìa. Tất cả đều han gỉ, sứt mẻ, bẩn thỉu. Anh lầm lì làm công việc chia bôi, không hề liếc mắt về phía buồng xà-lim, coi như không có ai.

Trong một buồng, gã phạm cán đứng ghé mắt nhìn qua khe mấy tấm ván bịt cửa sổ, thông báo cho mọi người:

– Lại mì luộc, nước cống!

Những tiếng chửi tục bực bội, những tiếng chép miệng ngao ngán, những tiếng thở dài cam phận…

– Này, anh hai cấp dưỡng, sắp có rau muống chưa?

– 19 tháng 8 này có “ăn tươi” (có thịt) không, anh hai?

– Bao giờ thì mới có gạo, cho đàn em biết một tí!

– Ð… mẹ mày, điếc, câm à?

Mặc những câu hỏi, câu chửi từ các buồng văng ra, anh nhà bếp vẫn thản nhiên, lờ tịt, giữ đúng nội quy, không quan hệ, không liên lạc. Xong việc, anh đặt mấy cái xoong không vào quang, toòng teng gánh đi…

Gã tử tù cất giọng oang oang:

– Bố nó bị án chết mà bữa nào cũng chỉ nước cống với mấy miếng mì luộc nhỏ như lưỡi mèo. Thời Tây, thằng Phạm-Hùng, thằng Hoàng-văn-Thụ, sau khi tòa tuyên án tử hình là muốn ăn gì, có nấy, hơn cả “bìa A” (bìa ăn cao cấp) ở Tôn-Ðản! Còn các bố nó bây giờ, cứ bị tử hình là cùm miết, cấm gặp luôn cả gia đình. Ð… mẹ cái chế độ!

– Sao chú mày biết thời Tây, tử tù ăn uống sướng như vua chúa vậy?

Giọng miền Trung của gã phạm cán mỉa mai vọng sang.

– Sao biết à? Chính các ông ấy viết kể lại trong hồi ký cách mạng “Nhân Dân Ta Rất Anh Hùng”. Cứ hỏi ông Bộ-Trưởng Bộ Công An Phạm-Hùng thì biết. Ông ấy được Tây ân xá tha chết, sống sót viết lại đấy. Ông ấy còn kể là cả tử tù cướp của giết người muốn ăn gì thì ăn, theo ý thích! Sáng nào cai ngục cũng cầm sổ, cầm bút vào tận xà-lim án chém hỏi chúng muốn ăn gì. Thằng Thanh rỗ ở cùng với ông ấy đòi gà sống thiến và thuốc xì gà. Còn ông Trần-Ðăng-Ninh trước bị giam ở cái buồng số 2 kia kìa, thì kể là Hoàng-văn-Thụ ăn mửa ra không hết, thường đem cho các nữ phạm nhân. Mấy quyển sách này, thư viện nào chả có!

Ở buồng 14, buồng năm 1925 cụ Phan-Bội-Châu đã từng nằm, cửa sổ trông ra sân, gần ngay bàn chia cơm, xoang xoảng tiếng bô đập vào mấy miếng ván bịt. 

Gã tử tù cười khanh khách:

– Chú em ơi, đập vỡ bô thì lấy gì mà “Trút bầu tâm sự”. Chuột Hỏa-Lò nó không sợ cái trò ấy đâu. Cứ để nó ăn, nó đái, nó ỉa vào. Ai chê, đưa tao. Tất cả có 14 suất, tao có thể một mình đớp sạch một lúc. Không tin thì cứ thử một bữa! Có tiếng giầy bộp bộp. Tên quản giáo lủng lẳng chùm chìa khóa trong tay, đi vào. Ba, bốn con chuột cống béo múp, xám xịt, to như những con mèo con, đương xục mõm vầy vò trên mấy đĩa bột luộc, hốt hoảng nhẩy ào xuống đất, thoăn thoắt chui vào lỗ cống, mất hút…

Từng buồng lần lượt được mở cửa ra lấy suất ăn mang vào. Ðến lượt gã tử tù, tên quản giáo giọng tử tế:

– Ðây, thuốc xoa ngực của anh đây. Từ nay trở đi, đến giờ này tôi mới cùm anh. Nếu anh chấp hành tốt, không mất trật tự, tôi sẽ bảo nhà bếp chia phần anh gấp đôi.

– Tôi không thèm ăn của người khác! Phần tôi tăng, thì những phần khác rút đi. Cả cái xà-lim này sẽ chửi thầm tôi. Ông chỉ được cái của người, phúc ta!

– Nếu anh sĩ diện hão, thì thôi.

Tên quản giáo ngượng nghịu nói, rồi lẳng lặng đi ra, quên cả hạch xách những người tù khác như thường ngày y vẫn làm.

Ðối với bọn tù Hỏa-Lò, ăn sáng xong là coi như hết buổi sáng. Họ lại ngong ngóng đợi bữa chiều. Ăn chiều xong là coi như hết ngày. Lại ngong ngóng đợi bữa hôm sau. Hai bữa ăn là hai cái mốc chính trong đời của những người tù đói quặn, đói thắt, đói run, đói sa sẩm cả mặt mày, đói tiêu hao cả máu thịt, ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác.

Ngày hôm đó, sau bữa ăn chiều, đột nhiên trời đất đen ngòm, rồi gió ầm ầm, mưa ào ào, sấm đùng đùng, dữ dội như trời long, đất lở. Mặc cho cành gẫy, cây đổ, cột đèn nghiêng, mái nhà tung bay bên ngoài. Tường xà-lim dầy nửa mét bằng bê-tông cốt sắt cứ trơ trơ! 

Lũ tù hả hê, gào lên:

– Ðã quá, cơn bão này giá trị hơn đĩa phở xào!

– Rôm sẩy khắp người sẽ lặn hết!

– Nóng thêm vài hôm nữa thời phát điên bố nó cả!

– Gió bão hãy thổi tung mẹ nó cái thế giới này đi!

Trùm lấp tất cả những tiếng la thét khác là tiếng gã tử tù rú lên, liên hồi:

– Hoan hô Bác Hoàng-văn-Hoan! 

– Hoan hô Ðại Quân Trung Quốc! 

– Giải phóng Việt-Nam!

Nhộn nhạo, ầm ĩ một hồi, tất cả dần dần thiếp đi, mê mệt. Hàng chục hôm liền, không khí xà-lim như hơi nước sôi. Những mụn đỏ lăn tăn nổi đầy người. Ngứa, rát. Mồ hôi lúc nào cũng ròng ròng. Rệp, muỗi đua nhau đốt, cắn. Ai ngủ được! Hôm nay mát mẻ, chỉ một lúc là vật ra ngủ cả, li bì.

Lúc gã tử tù bừng thức giấc thời bão đã tan, mưa đã tạnh từ lâu. Toàn bộ Hỏa-Lò lặng ngắt. Trong xà-lim nghe rõ tiếng ngáy hồng hộc, tiếng nghiến răng ken két từ mấy buồng vọng ra. Không biết mấy giờ. Nhưng chắc đã khuya lắm. Gã ngồi dậy, dùng hai bàn tay xoa mắt, xoa mặt một lúc cho tỉnh táo. Rồi gã lấy túi ni-lông nước, ngửa cổ uống ừng ực, nước chảy cả xuống cổ, xuống ngực. Ðặt túi ni-lông vào góc cùm, gã đằng hắng mấy cái, rồi cất tiếng hát. Giọng trầm, ấm, buồn. Trong đêm tù âm u, nghe ai oán, não nuột:

Mòn con mắt

Trông về Nam cánh nhạn lẻ loi…

Tình tang tình…

Ờ cô mình…Thấu chăng tình…

Gã ngừng hát, nghe ngóng. Buồng trước mặt vẫn im lìm. Chắc “Em” ngủ. Gã mới chuyển từ xà-lim 2 sang xà-lim 1 này được hơn một tuần. Từ mấy đêm nay, đoán chừng khi mọi người đã yên giấc, gã vẫn dùng mấy câu hát này làm tín hiệu cho “Em” biết là “câu chuyện tâm tình” có thể bắt đầu. Ðợi một lúc không động tĩnh gì, gã nhoài người, lấy tay đập vào cửa buồng thình thình mấy tiếng.

Buồng trước mặt vọng sang giọng một cô gái, nhỏ nhẹ, âu yếm như ve vuốt:

– Sao hôm nay thức sớm thế, có ngủ được không?

– Ngủ được. Em có ngủ được không? 

– Em chỉ nằm mơ mơ màng màng thôi. Lâu lắm rồi, không bao giờ ngủ ngon cả. Mà cũng chẳng cần ngủ. Rồi sẽ tha hồ mà ngủ!

– Anh đang ngồi. Còn em đang nằm hay ngồi?

– Em đang nằm.

– Nằm nghiêng hay nằm ngửa?

– Nằm nghiêng về phía bên ngoài.

– Cùm mà nằm nghiêng được à?

– Em gầy đi nhiều. Cổ chân nhỏ đi, có thể xoay người được.

– Em có thích anh sang với em không?

– Vớ vẩn! Sang làm sao được? Chết đến nơi cả rồi, còn đùa!

– Anh không đùa. Anh hỏi nghiêm chỉnh là em có thích không?

– Ai mà chẳng thích! Giá chúng mình gặp nhau ở ngoài nhỉ!

– Em nói thế là anh thỏa lòng rồi. Cảm ơn ông Trời đã cho anh chuyển sang đây gặp em, lại được nằm đối diện với buồng em.

– Anh cũng tin ở Trời à?

– Nói thế thôi, chứ Trời đất gì! Ðời toàn bịp bợm, đểu cáng, dối trá. Càng lương thiện, hiền lành, càng bị chúng nó bóp cổ đến phòi cả con ngươi mắt ra. Từ lâu rồi, anh chẳng tin gì cả. Cả Trời, cả đất, cả người! Chỉ riêng có em là anh tin thôi.

– Tại sao anh lại đi tin em?

– Ờ ờ…Cái này khó giải thích lắm. Lần đầu tiên chỉ thấp thoáng nhìn thấy hình dáng em khi em đi làm vệ sinh thôi, anh đã thấy bồi hồi cả lòng. Nghe tiếng guốc em kéo lê ngoài hành lang, mòn mỏi, buồn nản, anh tự nhiên thấy thương cảm vô hạn. Rồi cái hôm trong giờ vệ sinh, lợi dụng lúc thằng quản giáo đang đấu hót với con y tá ngoài bàn, anh mở lỗ cửa gió buồng em. Nhìn thấy em xanh xao đang ngồi trên sàn, chân trong cùm, thân gầy, tóc xõa ngang vai. Dưới ánh đèn vàng, vẻ mặt em rầu rầu, nhưng thanh tú lắm. Em hơi giật mình khi nhìn thấy anh. Em có đôi mắt quyến rũ lắm, hút được cả hồn người! Nhìn vào mắt em, anh thấy xao động cả một trời mơ ước, một trời hạnh phúc… Rồi tối hôm đó, em tìm cách quăng dây sang buồng anh, cho anh đường, kẹo, bánh quy, kim, chỉ, tăm. Cả một hộp cao Sao Vàng nữa. Từ khi thầy mẹ anh mất, đời anh chẳng được ai thương cảm chăm sóc như thế cả. Ðêm ấy anh khóc rất nhiều. Anh yêu em từ buổi đó. Mà đã yêu thời phải tin nhau. Người ta gọi là “tin yêu” mà lại. Hơn nữa, anh còn phục em.

– Em có gì đáng phục mà anh phục?

– Chuyện em “đánh hỏa công”, dùng một can xăng đốt chết cả nhà thằng công an hộ khẩu, trấn động cả Hà-Nội. Ðáng phục quá đi chứ!

– Em ức quá đấy thôi. Em chỉ mua bán tem phiếu ở cửa mậu dịch để kiếm sống, có hại ai đâu. Thằng hộ khẩu đó ở gần nhà em chuyên môn ăn chạc, uống chạc, hút chạc của mấy hàng phở gánh, của mấy bà bán nước, của mấy em bé bán thuốc lá. Thế mà nó tự tiện khám nhà em nhiều lần. Lợi dụng khám cả người em! Em chửi nó. Nó đưa em ra khu phố đấu tố. Mẹ em dạy học cũng bị nhà trường lôi ra kiểm điểm. Em cố nhịn mãi. Tới khi vì nó mà em bị chính quyền bắt đi kinh tế mới khai hoang, em không nén được nữa, mới ra tay. Còn anh, chỉ mang tội “đột vòm”* thôi mà sao cũng bị tử hình nhỉ, lạ thật!

– Em không biết. Anh là đầu vụ. Bình thường ra thì chỉ mười năm tù là tối đa. Nhưng bọn anh vô tình chơi phải kho thuốc tây của trung ương Ðảng ở phố Ðinh-Liệt gần hồ Hoàn-Kiếm mới bỏ mẹ. Ông luật sư Ðỗ-xuân-Sảng, trước hôm xử, gặp bọn anh, đã nói trước: “Các cháu dại lắm! Chết rồi. Các cháu dám sờ vào dái ngựa. Hết cứu. Bác đành chịu!” Ðời anh thực là khốn nạn. Ði bộ đội từ năm 17 tuổi. Ðánh nhau cả với Mỹ lẫn Trung-Quốc. Quăng quật trên chiến trường hàng chục năm. Rút cuộc chỉ được một vết thương ở ngực, một vết thương ở đùi, và phải giải ngũ. Anh sống bằng nghề thợ điện, có biết trộm cắp là gì đâu. Chỉ vì anh mê một con văn công quân đội. Nó thích trưng diện. Nhiều sĩ quan tặng quà cho nó. Anh nghèo lại muốn chơi trội, định tặng nó một món thực sang. Thế là anh tổ chức đánh quả thuốc tây này, và bị tử hình. Từ ngày anh bị bắt, nó lờ tịt, chẳng thăm hỏi gì. Anh hận lắm. Nhiều bạn bè đã khuyên anh là đừng dính với bọn văn công. Loại gái này không xài được. Họ bảo phải nhớ câu “giường bệnh xá, má văn công”. Anh hối hận là đã không nghe họ. Gặp em, anh coi như mối tình đầu của anh đấy. Em đúng là người trong mộng tưởng của anh. Nhưng anh tồi tệ như vậy, em có thương anh không? 

– Hai đứa bị tử hình không thương nhau thời thương ai? Hôm anh nhìn vào buồng em, thấy mặt anh ngây ra, buồn cười quá! Chắc chúng mình có duyên nợ với nhau từ kiếp trước. Năm nay em 19 tuổi. Ở ngoài, em chưa yêu ai đâu!

– Mười chín tuổi. Mới có trăng tròn lẻ bốn. Chưa một mảnh tình vắt vai. Tuổi mới bước vào đời, mà đã phải bước ra. Tiếc thật. Giá anh có thể chết thay cho em được thì tốt biết bao! Anh hơn em đúng một giáp. Nhưng sao anh thấy em bình tĩnh thế. Không như anh, nhiều lúc muốn điên loạn.

– Em bình tĩnh là vì em tin có linh hồn, có luân hồi. Con người không phải chỉ có một cuộc đời, mà có nhiều cuộc đời. Miễn là sống cho tốt, gieo nhân tốt, thì kiếp sau hái quả tốt. Mẹ em thương em, tiếp tế cho em đủ ăn. Nhưng thấy các bạn tù ở đây nhiều người chỉ sống bằng hai suất ăn của trại, đói khổ quá, em thương, em phân phát cả. Em có gầy đi cũng chẳng sao. Béo, gầy, đằng nào cũng ngủ với giun tới nơi. Bác già ở buồng cạnh em giảng giải cho em về lẽ sống, chết, nên em mới hiểu và an tâm như vậy.

Lão già buồng bên vẫn nằm thẳng cẳng, hai tay buông xuôi, mắt nhắm nghiền, hít thở đều đều. Nghe thấy nói tới mình, lão hơi mở mắt, rồi lại nhắm ngay lại.

– Cái lão già phản cách mạng ấy nói thiên thối để an ủi em đấy. Anh xông pha chiến trận, bao nhiêu người chết. Anh chẳng bao giờ thấy linh hồn họ cả.

– Em cũng chưa thấy. Nhưng bác ấy là người từng trải, có tư cách, không nói dối đâu. Bác ấy kể chuyện một số người đã chết, rồi lại sống lại. Tất cả đều nói rằng khi linh hồn thoát khỏi xác thì bay tới một vùng đầy hào quang, tưng bừng hương sắc, vui lắm, không ai muốn trở lại. Nhưng vì số chưa hết, nên hồn bị trả về thể xác. Còn chuyện đầu thai nữa, có nhiều bằng chứng được các nhà nghiên cứu khoa học xác nhận. Bác ấy quả quyết là Thượng-đế tạo ra vũ trụ, tạo ra muôn loài. Ðơn giản như cái bát, cái thìa, cũng phải có người tạo ra mới có. Huống chi con người, không thể tự nhiên mà có được đâu.

– Nghe có lý đấy. Mấy đêm trước, anh nằm mơ thấy thầy mẹ anh. Hai “cụ vía” vui lắm, nói là sắp được đón anh. Kiếp sau hai đứa mình sẽ chung sống nhé! Nhưng nếu đầu thai thì em với anh đầu thai vào hẳn nước Mỹ cho nó sướng cái thân. Chớ có đầu thai vào cái nước Việt Nam này, mà lại bỏ mẹ cả!

– Ðợi kiếp sau lâu lắm, em không đợi được đâu. Sau khi chết, hai linh hồn chúng mình gặp nhau ngay cơ! Chúng mình chọn một nơi thật thơ mộng, như bên Hồ-Tây, trên đường Thanh-Niên ấy. Vào những đêm trăng sáng, mặt nước Hồ-Tây bát ngát, êm ả, lấp loáng, gió thổi mơn man. Chúng mình sẽ ngồi trên ghế đá. Em ngả đầu vào ngực anh. Anh vuốt má em…

– Ý kiến hay quá! Nhưng bên Hồ-Tây có nhiều cặp lắm. Bọn “thanh niên cờ đỏ” lại hay đi lùng sục, hạch hỏi, mất cả thú!

Cô gái cười khúc khích:

– Chúng mình là ma cơ mà. Chúng nó làm sao nhìn thấy được. Nếu thấy, chúng cũng sợ chết ngất đi, làm sao có thể phá rối nổi tình yêu chúng mình được.

– Theo ý anh, để tránh phiền phức, chúng ta gặp nhau ở trên đê sông Hồng. Chỗ Ðồn-Thủy đi thẳng ra ấy. Hồi mười bốn, mười lăm tuổi, anh với bọn bạn thường nô đùa trên bãi cát, rồi bơi qua sông, sang bờ bên kia, lủi vào các bãi ngô rậm rạp, bẻ trộm ngô, nướng ăn. Cảnh trăng nước sông Hồng lồng lộng, đẹp lắm em ạ. Hoàn toàn thanh vắng, trên tài* Hồ-Tây nhiều. Lại không bị bọn “thanh niên cờ đỏ” quấy rầy. Em thấy thế nào?

– Thế mà em không nghĩ ra! Hồi bé, gia đình em ở chỗ đó. Mẹ em đẻ em ở đó đấy. Vào những đêm trăng sáng, chúng ta cứ gặp nhau ở đó. Có anh bên cạnh thì nơi nào em cũng thấy hạnh phúc. Ngay cả ở trong cái xà-lim bẩn thỉu, đang bị cùm kẹp như thế này.

– Anh cũng vậy, sao ý nghĩ chúng mình giống nhau quá nhỉ ! Ðúng là có duyên số, có Trời dun dủi cho anh trước khi chết được gặp em, được yêu em, được em yêu. Anh tin có Trời rồi em ạ. Cứ tưởng tượng tới cảnh hai hồn ma chúng mình được ôm ấp, quay cuồng quấn lấy nhau, trong cảnh trăng nước sông Hồng dạt dào, mênh mông, anh sung sướng quá, không sợ chết nữa. Niềm tin và tình yêu mạnh hơn cái chết!

– Này, nếu ở thế giới bên kia mà anh phụ em, em sẽ “hỏa thiêu” luôn cả linh hồn anh đấy. Anh sẽ không được đầu thai nữa đâu!

– Trời đã thương anh, ban em cho anh. Anh mà phụ em nghĩa là phụ cả ân đức của Trời rồi. Chẳng cần phải em hỏa thiêu. Trời sẽ cho sét nổ lên đầu, đánh chết tươi anh ngay. Em ơi, anh muốn sang buồng em quá. Nghĩ tới được ôm ấp em, vuốt ve em, anh run cả người lên đây này.

– Em cũng muốn lắm. Mồ hôi em lấm tấm ở trán đây này. Hay là chúng mình cứ tưởng tượng nằm bên nhau như vợ chồng đi. Từ nay chúng mình là vợ chồng nhé, đêm nay là đêm tân hôn nhé.

Gã tử tù ngạc nhiên:

– Em cũng nghĩ tới chuyện cưới nhau, coi nhau như vợ chồng à? Anh cũng đã nghĩ tới. Sao trùng hợp lạ thế nhỉ? Em có biết tại sao sáng nay anh quậy thế không?

– Bình thường anh lầm lì. Sao sáng nay anh phá dữ thế? Tên quản giáo sợ, cũng phải nhượng bộ.

– Không nhượng bộ thì anh sẽ cho nó ăn “mỹ kim”!

– Mỹ kim? Ðô la mỹ à?

Gã cười hăng hắc:

– Anh làm gì có đô la Mỹ. Bọn anh gọi lê, dao là mỹ kim, nghĩa là kim loại quý để trang sức. Anh đã mài một cái đinh bảy phân nhọn hoắt, sáng quắc. Nếu nó hỗn với anh, anh sẽ “trang sức” vào mặt nó mấy mũi để kỷ niệm suốt đời. Hoặc sơi nó một “pha”, cho nó thành độc nhỡn! Anh đã từng là đặc công, nhanh như sóc. Nó không đỡ nổi đâu.

– Thế sáng nay anh quậy phá là để được thoải mái vài giờ chứ gì?

– Em đoán đúng. Buổi sáng, cả em cũng được thả cùm như anh phải không?

– Ừ, tới lúc lấy cơm nó mới cùm em.

– Thế là đạt mục tiêu rồi!

Cô gái chép miệng:

– Thả cùm một, hai tiếng đồng hồ thì bõ bèn gì mà anh phải phí hơi với nó.

– Mục tiêu không phải thế. Anh định thế này. Em tha lỗi cho anh trước, anh mới dám nói.

– Ðã là vợ chồng, có thể trao thân gửi phận cho nhau, có gì không nói được mà phải giào đón như người xa lạ ấy.

Gã tử tù hạ thấp giọng, nói nhỏ bớt đi:0

– Em đã thông cảm, thời anh mạnh dạn nói. Ðêm qua nằm, anh nghĩ anh sẽ đề nghị với em là chúng mình trở thành vợ chồng. Nhưng chuyện động phòng là không thể được rồi. Anh chỉ muốn chúng mình ngắm thân thể của nhau. Nhưng cả hai cùng bị cùm cả thì làm thế nào đứng lên nhìn sang buồng nhau được. Vì vậy anh mới lập mưu để hết giờ vệ sinh nó mới cùm chúng mình. Như thế, từ sáng mai, sau khi vệ sinh vào, anh sẽ đứng lên cùm, nhìn sang buồng em. Ðến lượt em, lại đứng lên cùm, nhìn sang buồng anh. Nếu như chưa đủ cao để nhìn được, em kê thêm cái chăn, cái bô. May mà giờ vệ sinh đèn lại chưa tắt! Nhớ phải cởi hết ra đấy!

– Ðược, anh cũng phải thế đấy. Nếu có cơ hội, anh mở lỗ cửa gió buồng em như hôm nọ. Em sẽ để môi ra cho anh hôn.

– Sáng kiến lắm! Anh sẽ hôn. Ờ… mà không phải hôn. Anh sẽ uống linh hồn em!

– Em cũng uống linh hồn anh. Cho hai linh hồn chúng mình hòa với nhau làm một!

Ðột nhiên, nhiều tiếng giầy thình thịch đi vào sân. Rồi tiếng mở khóa loảng xoảng.

Gã tử tù tim như ngừng lại, hốt hoảng:

– Có lẽ anh “đi” đấy!

Giọng cô gái hồi hộp:

– Có thể là em!

– Dù là ai, cũng bình tĩnh lại. Phải chết cho đàng hoàng. Anh đã chuẩn bị đón giờ này từ lâu rồi.

– Em cũng thế.

– Tiếng cửa sắt rít lên. Tên quản giáo và bốn tên công an vũ trang rầm rập bước vào hành lang xà-lim. Bọn tù ở các buồng dọc theo dẫy hành lang đều ngồi nhỏm dậy, nín thở, nghe ngóng.

Tên quản giáo mở cửa buồng gã tử tù. Hai tên vũ trang xông vào, quát:

– Ngồi im, không được cử động! Chúng bẻ hai cánh tay gã tử tù ra sau lưng, dùng còng số 8 khóa lại. Tên quản giáo bước vào mở khóa cùm.

Gã tử tù nói to:

– Anh đi trước, anh sẽ đợi em ở bờ sông Hồng. Nhớ trăng nước sông Hồng, đừng sai hẹn!

Cô gái đập cửa buồng thình thình, gào lên:

– Xin các ông đưa tôi đi bắn cùng với anh ấy! Xin các ông!

Một tên công an vũ trang cười hà hà:

– Chúng nó sợ hóa điên cả rồi. Có gan ăn cướp thì phải có gan chịu đòn chứ.

Một tên khác lấy mảnh vải bịt mắt gã tử tù lại, rồi đẩy gã ra khỏi buồng:

– Ði!

Gã tử tù ra ngoài hành lang, hướng về buồng cô gái:

– Tạm biệt em. Có em, anh rất mãn nguyện. Ðừng buồn. Hãy giữ lấy tư cách. Ðừng cầu xin chúng nó gì cả. Chắc chắn chúng mình sẽ gặp nhau.

Tiếng cô gái nức nở:

– Anh ơi! Tạm biệt anh! Em thương anh quá! Em muốn đi cùng với anh. Chúng mình phải gặp nhau! Trên bờ sông Hồng, em sẽ tới đó!

Gã tử tù thét to:

– Chào các bạn, vĩnh biệt các bạn! Tạm biệt em!

Tên quản giáo gằn giọng:

– Tiên sư mày, chết đến nơi rồi, còn mất trật tự! Trước khi ăn đạn, ông phải cho mày ăn đòn hẵng!

– Ông mà động tới anh ấy, ông sẽ hối không kịp với tôi!

Tiếng cô gái thét lên.

– Giờ phút này mà ông còn định đánh người ta, ông mất hết tính người rồi sao? Tôi sẽ báo việc này lên Trên!

Tiếng lão phản cách mạng sang sảng, nghiêm nghị, đĩnh đạc.

Hai tên vũ trang xốc nách gã tử tù, lôi mạnh:

– Ði! Ði!

Ra tới sân, gã ngoái cổ lại, kêu lớn:

– Em đừng buồn, anh đợi em! Anh đợi em!

– Anh đi trước! Em đi sau! Chúng mình nhất định sẽ gặp nhau, anh ơi!

Trong xà-lim, các tù nhân nữ thút thít khóc. Nhưng có một tiếng khóc nấc lên từng hồi, thảm thiết, xé ruột, xé gan tất cả những ai còn là người.

Xa xa, tiếng gã tử tù vọng lại, nhỏ dần, loãng dần…

– Trăng nước sông Hồng… Trăng nước… sông… Hồng… Trăng nước… Em ơi……..

——————————————————————————–

Nguyễn Chí Thiện

Trích tập truyện Hỏa Lò

* Dựa cột: Bị xử bắn.

* Ðột vòm: vào nhà hay nhà kho ăn trộm.

* Trên tài: vượt trội.

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 8

Đoàn xe nhà binh lên tới Sài Gòn gần chạng vạng.

Tư Cầu tuy trong bụng lo ghê lắm nhưng cũng ráng nghển cổ nhìn ra phía ngoài xe để cho biết thành phố Sàigòn ra sao. Anh ta còn nhớ cách mấy năm về trước anh ta đã… lên hụt Sàigòn một lần rồi.

Tư Cầu bị đưa luôn vô thành lê dương trên Hòa Hưng và giam tạm ở đó.

Tên thông ngôn dẫn anh ta đến tận cửa khám âm u. Khi anh ta vừa đặt chân vào gian phòng tối tăm hắn ta bèn vỗ vai anh ta cười nói:

– Thôi mầy chịu khó ở đây nhiều lắm là một vài bữa rồi người ta sẽ làm giấy tờ đưa mầy đi chỗ khác.

Tư Cầu lo lắng hỏi lại:

– Trời ơi bộ còn dời chỗ nữa hả ông? Ông làm ơn nói giùm để tui ở luôn với ông tại đây cũng được…

Tên thông ngôn thấy Tư Cầu “quyến luyến” như vậy càng đâm ra ái ngại và dịu giọng bảo:

– Không được đâu chú em ơi. Chỗ nầy là khám nhà binh, vì vậy đâu có giữ chú em được. Phần qua, qua đi rèn rẹt với tụi nó hoài đâu có rảnh. Chú em đừng lo sợ gì nữa hết, bất quá ở năm bảy tháng tù, hay cùng lắm là một vài năm rồi cũng về. Kể ra chú em cũng hên dữ lắm nên mới còn toàn mạng mà lên tới đây đó chú em à!

Tư Cầu không biết nói sao chỉ đứng thở dài.

Thấy vậy, tên thông ngôn vừa kéo cánh cửa khám khép lại vừa ân cần nói với anh ta:

– Thôi nằm nghỉ đi. Chắc chú em cũng đói rồi phải không? Để qua đi kiếm cho một khúc bánh mì gậm đỡ… à chú em mầy có ghiền thuốc không hả?

Tư Cầu vội đưa tay lần túi nhái đựng thuốc của mình thì mới hay là đã rớt mất từ bao giờ. Anh ta vội đáp liền:

– Dạ cũng ghiền… mà tui quen hút thuốc vấn không ông à!

Tên thông ngôn vừa đẩy chốt khóa cửa, vừa mau mắn đáp:

– Được rồi, để qua đi kiếm thuốc đem cho chú em.

… Một lát sau, tên thông ngôn trở lại mở khóa cửa nghe lạch cạch. Tư Cầu mừng quýnh chạy lại vì từ nãy giờ ngồi thui thủi có một mình trong gian buồng tối nên rất khó chịu và nóng ruột. Tên thông ngôn chìa ra một nửa ổ bánh mì to tướng và ba gói thuốc điếu “Gaulois” cùng một cái hộp quẹt:

– Đây nè, chú em chịu khó dùng tạm mấy thứ nầy. Qua thấy tình cảm của chú em qua cũng… ái ngại lắm, nhưng qua cũng đành… để bụng vậy thôi chớ không làm gì hơn nữa được… Chú em có vợ con cha mẹ gì ở nhà không vậy?

Tư Cầu cảm động đưa tay đỡ lấy mấy món đồ và kể sơ qua tình cảnh của mình. Nghe xong, tên thông ngôn chỉ biết lắc đầu rồi dơ tay nắm lấy chốt cửa:

– Thôi qua… rút lui nghen ! Đừng lo buồn gì quá chú em à! Thây kệ mẹ nó… Để qua ráng lo giấy tờ gấp để giải chú em qua chỗ khác, một là cho được dễ chịu hơn, hai là để họ tính coi bắt thả như thế nào, chớ chú em mày nằm ở đây ngày nào thì thêm kẹt ngày nấy chớ không ích lợi gì ráo…

Tư Cầu nghẹn ngào nói:

– Ông ráng lo giùm được phần nào đỡ phần nấy chớ biết sao bây giờ.

… Cánh cửa khám từ từ khép lại, kêu ken két trên mấy chiếc bàn lề sét rỉ, rồi đóng sập lại nghe một cái rầm…

Trong gian buồng tối om, Tư Cầu chỉ thấy có một vệt ánh sáng vàng khè của ngọn đèn điện bên ngoài lọt qua lỗ hổng dưới cánh cửa.

Trời đã tối hẳn. Bầy muỗi bắt đầu vo ve. Vì phòng giam ở biệt lập hẳn trong một khu riêng nên tiếng người nói chuyện từ mấy dãy trại ngoài không lọt vào tới đây được.

Thỉnh thoảng Tư Cầu chỉ nghe xa xa có tiếng máy xe hơi chạy vụt qua ở đâu phía ngoài thành lính và trên đầu anh ta, có tiếng mấy con dơi bắt muỗi bay xớt qua.

… Bỗng nhiên, Tư Cầu có cảm giác kỳ lạ vì sự thay đổi chỗ ở quá mau chóng quá bất ngờ của mình: thì mới hồi sáng sớm hôm nay anh ta còn đứng ngáp dài bên cạnh gốc dừa ở mé sông dưới làng mà bây giờ đây anh ta lại ngồi cú xụ một mình trong một chỗ cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, và ở tận mãi Sàigòn nầy lận.

Và Tư Cầu lại rùng mình khi nghĩ tới thêm rằng nếu anh ta không lên tới trên Sàigòn thì giờ nầy đây rất có thể anh ta chỉ còn là cái xác chết cứng còng trôi ngầm dưới một khúc sông nào đó, để rồi vài ba bữa nữa sẽ nổi phình lên vật vờ theo con nước lớn ròng, mặc cho bầy lòng tong, cá chốt, tôm, tép bu quanh rút rỉa từng thẻo, từng miếng da đã bong ra, từng miếng thịt đã sình mục… Nghĩ tới đó Tư Cầu thấy lợm giọng và phun nhả vội miếng bánh mì đã nở rã ra trong miệng mình…

… Đêm đó Tư Cầu ngồi dựa lưng vào vách khám thao thức chớ không tài nào chợp mắt được. Anh ta châm thuốc hút liên miên và như vậy làm cho anh ta thêm tỉnh, mắt mở trao tráo mặc dầu anh ta nghe mệt đừ vì mấy bận xê dịch suốt một ngày qua.

Mấy con dán cứ bò luồn lên ống chân làm cho anh ta vừa nhột nhạt vừa kinh tởm. Anh ta ước mong nghe tiếng người nói hay tiếng chân đi để cho thấy bớt cô độc. Nhưng không có một tên lính nào buồn bén mảng đến chỗ giam anh ta cả.

Anh ta nhìn chòng chọc vào vệt ánh sáng dưới cánh cửa và khoắc khoải mong cho mau đến sáng…

Tư Cầu bị kẹt ở khám nhà binh đó gần một tuần lễ.

Cứ mỗi ngày qua anh ta lấy một miếng miểng sành đánh dấu lên vách tường bằng một cái gạch nhỏ, và số gạch ấy lên đến sáu nét. Mới có sáu nét mà anh ta xem bằng cả sáu tháng.

Đến sáng ngày thứ bảy, anh ta vừa cầm miếng miểng sành lên định o bế gạch thêm một nét nữa (và lần nầy sẽ thêm một gạch chéo để đánh dấu trọn tuần lễ) thì nghe có tiếng mở cửa lạch cạch bên ngoài. Tư Cầu vội buông tay xuống chạy a lại cửa.

Tên thông ngôn tay cầm tờ giấy đánh máy tươi cười bảo anh ta:

– Ê tụi, có đồ đạc gì lấy đem ra hết…

Tư Cầu hỏi liền:

– Bộ đi hả ông?

– Ừ, có quần áo gì thì mang ra hết nghen chú em!

Tư Cầu xăng xái bước ra khỏi cửa:

– Tui chỉ có mình trơn vầy nè chớ có gì nữa đâu! Sáng hôm đó mấy ổng xách cổ đi tuốt lên trên nầy nên có lấy áo quần gì đem theo để thay đổi đâu!

Tên thông ngôn gật gù:

– Ừ phải, qua quên khuấy đi mất… Để qua kiếm bậy một cái áo trây-di cũ để chú em mầy đem theo phòng hờ khi lạnh lẽo…

– Cám ơn ông nhiều lắm. Mà ông biết mấy ổng tính đưa tui đi đâu vậy hả ông?

Tên thông ngôn có vẻ do dự một hồi rồi đáp:

– Chắc chú em qua bót Ca-ti-na trước để coi ở bển họ tính sao, nếu họ không nhận thì đem đi chỗ khác.

Tư Cầu lo lắng hỏi ngay:

– Ủa, bộ ở trên nầy có nhiều chỗ giam lắm sao ông?

– Ối thiếu gì… Mà chú em đừng lo không ở được chỗ này thì ở chỗ khác… hổng ngủ bờ ngủ bụi đâu mà sợ!

Tư Cầu gượng cười:

– Mấy ổng giữ kè kè như vầy còn ngủ lang ngủ chạ đâu được! Tui mong được ở một chỗ nào yên yên, để mấy ổng xét mau mau cho tui được dìa dưới sớm.

Tên thông ngôn muốn tìm lời an ủi anh ta nhưng rồi cũng chỉ nói được một câu:

– Thế nào chú em cũng ra sớm… chú em cứ tin như vậy đi?

Tư Cầu thở dài:

– Thì tôi cũng ráng tin như vậy chớ biết sao!

Rồi anh ta lủi thủi đi theo tên thông ngôn ra phía trước sân trại binh leo lên một chiếc xe đã có mấy tên lính cầm súng ngồi chực sẵn. Tên thông ngôn vội chạy đi để rồi mang lại một chiếc áo nhà binh trao cho Tư Cầu với mấy gói thuốc lá nữa.

Thấy tên thông ngôn đứng nguyên ở dưới đất Tư Cầu lo lắng hỏi:

– Ủa, bộ ông hổng đi theo xe sao?

Tên thông ngôn chỉ mấy tên lính Tây:

– Có mấy ổng đi thôi, còn qua ở lại.

Vừa lúc đó một viên đội từ trong văn phòng bước ra xe leo thẳng lên xe ngồi phía trước bên cạnh người tài xế, và chiếc xe rồ máy chuyển bánh.

Tên thông ngôn giơ tay vỗ nhẹ vào lưng Tư Cầu:

– Thôi đi mạnh giỏi nghe chú em, rồi về cho sớm!

Tư Cầu ngó ngoái lại và cúi đầu chào:

– Ông ở lợi mạnh giỏi… thiệt hổng biết chừng nào tui mới trả ơn ông được!

Tên thông ngôn nhún vai rồi đứng yên nhìn chiếc xe từ từ chạy ra cổng chánh của thành lính.

Tư Cầu bỗng nhiên cảm thấy lo lắng nên lại y như hồi mới lên xe dưới Cầu Kè. Mấy ngày rày, anh mong cho sớm đổi chỗ để xem số phận sẽ được định đoạt như thế nào, nhưng đến khi ngồi trên xe đi, anh ta lại đâm ra bồn chồn lo sợ…

Viên đội trên xe đưa Tư Cầu xuống hết hai sở rồi mà nơi nào cũng không chịu nhận anh ta hết. Chiếc xe cứ chạy lòng vòng trong thành phố và làm cho Tư Cầu sốt ruột thêm lên. Cuối cùng, chiếc xe trực chỉ về hướng Chợ-lớn và viên đội chở Tư Cầu gởi tuốt vô căng Phú Lâm. Tư Cầu thấy có nơi chịu nhận mình nên cũng hơi yên tâm, chớ anh ta có ngờ đâu cái căng này là nơi giam chứa những kẻ thuộc hạng “ăn dầm nằm dề” không có tội gì cho nặng lắm nhưng cũng không biết đến bao giờ mới được thả ra.

… Lúc mới bước chân vào trại giam, Tư Cầu cũng vững bụng đôi chút vì thấy đông nghẹt người đồng cảnh ngộ. Anh ta liền được giới thiệu với anh đại diện cùng những nhân viên phụ trách về trật tự trại. Anh em trong trại thấy có người mới đến nên bu lại hỏi thăm hỏi nom anh ta tíu tít. Và các câu hỏi thăm cũng không ngoài vấn đề: tại sao bị bắt, bị bắt ở đâu, bị bắt lâu mau cùng gia đình vợ con như thế nào…

Một bác tuổi cũng “sồn sồn” nghe Tư Cầu nói là mình ở tỉnh Cần Thơ liền chen vô níu vai anh ta hỏi:

– Ủa, bộ chú em ở Cần Thơ hả?

– Dạ phải… chắc bác cũng ở miệt đó?

Bác kia vồn vã đáp:

– Ừ, qua cũng ở chung một “xứ” với chú em, qua ở Ngãi Tứ chắc chú em mầy biết chớ?

Tư Cầu mừng rỡ nói:

– Tui ở dưới Rạch Chiếc đó bác! Cha, không dè lên đây mà còn gặp bà con mình ở dưới. Mà sao bác lại… ở đây vậy?

Bác kia cười ngất rồi nói:

– Thì cũng giống na ná như chú em mầy vậy, nhưng qua đi một chuyến ghe heo bị tàu tuần Tây nó bắt thẩy luôn lên trên nầy ở riết cho tới bây giờ…

Thấy có người cùng xứ sở trong trại giam, Tư Cầu như thêm vững lòng. Anh ta sốt sắng hỏi thêm:

– Vậy chớ ở nhà bác có ai hay biết gì không? À, bác thứ mấy để tui kêu cho tiện?

– Ờ, qua thứ tám. Ở… dưới nhà của qua hay lâu rồi, nhờ có người trên nầy được thả dìa, qua nhắn tin theo.

Tư Cầu mừng rỡ hỏi luôn:

– Bộ ở đây cũng thả dìa được nữa sao bác? Mà họ có thả… hoài hoài hông bác?

Bác Tám cười đáp:

– Thì có bắt thì phải có thả chớ chú em! Nhưng thả… lai rai vậy. À, chú em bị bắt lâu mau rồi?

Tư Cầu trả lời liền:

– Dạ, tui bị bắt có cả tuần lễ rồi bác Tám à.

Bác kia bắt cười xòa. Thấy vậy, Tư Cầu ngơ ngác nhìn bác rồi ấp úng hỏi lại:

– Còn bác, bác bị kẹt bao lâu rồi vậy?

– Ối, qua mới bị giam có gần một năm…

– Ý trời mới có gần một năm?

Bác Tám gật đầu:

– Ở đây, cái “cỡ “ đó là thường… có người bị kẹt hồi Tây mới qua đây nữa.

Tư Cầu như mất hứng ngồi bí xị. Một hồi lâu anh ta móc gói thuốc ra mời bác Tám và mấy người ngồi chung quanh đó. Ai nấy đều sốt sắng đưa tay rút lấy điếu thuốc một cách rất trịnh trọng và đầy vẻ nâng niu.

Tư Cầu vừa phà ra một hơi thuốc vừa thở dài:

– Cái điệu này, phần tui chưa có ăn nhằm gì hết. Tui bị bắt cả tuần nay tưởng đã lâu dữ lắm ai dè so lại thì không bằng ngày lẻ của mấy bác.

Bác Tám vỗ vai an ủi anh ta:

– Ối, coi vậy mà mấy hồi chú em ơi! Cũng có khi mấy ổng thả bất tử lắm chớ đâu phải chỉ do ở lâu hay mới. Hơi sức nào chú em lo buồn, thây kệ bà nó mình cứ nhắm mắt đánh liều rồi muốn tới đâu thì tới…

Tư Cầu nhăn nhó hỏi thêm:

– Thì đã đành như vậy rồi, nhưng sao mấy bác… ở hoài trong nầy mà chịu nổi?

Bác Tám cười xòa:

– Chớ mình chịu hổng nổi thì ai vô đó mà “chịu” thế cho mình? Để qua nói đây rồi chú em mầy nghiệm coi có đúng không: ở riết rồi cũng quen chú em à!

Tư Cầu cười gượng:

– Cha, chắc cái điệu nầy tui… quen hổng nổi đâu!

Vừa lúc ấy có tiếng kiểng đổ một hồi dài, những người ở trong trại vội vã đứng dậy đi ra ngoài cửa. Tư Cầu còn đang ngơ ngác chưa hiểu gì thì bác Tám đã níu tay anh ta lôi dậy:

– Thôi đi ăn cơm chú em! Chắc mấy hôm nay thèm gạo lắm phải không?

Tư Cầu thẫn thờ đáp:

– Cũng không thấy thèm gì lắm, nhưng nhai ba cái bánh mì nhà binh thét rồi trẹo hàm hết.

Bác Tám vui vẻ nói:

– Đó, ai mới vô thì cũng muốn… bỏ ăn hết, nhưng ở quen quen đôi ba tháng, cha nào cha nấy cũng ních tới năm sáu tô cơm gạo đỏ, và buổi chiều còn vắt cơm vô trại để… dằn bụng ba hột nữa chớ!

Tư Cầu có vẻ không tin nhưng cũng đẩy đưa cho qua:

– Vậy hả!

Bác Tám vừa cặp tay anh ta đi ra ngoài ăn cơm, vừa tươi cười nói:

– Thôi gượng vui lên chớ chú em! Chú em còn trẻ quá mà! À, tự nãy giờ qua quên hỏi chú em tên gì, thứ mấy để kêu cho tiện chớ cứ gọi trống không hoài coi cũng… kỳ!

Tư Cầu ân cần đáp:

– Ối, tui cũng như con cháu của bác vậy! Tui tên Cầu thứ tư, bác kêu đại tên tui cho nó… dễ.

Bác Tám cặp chặt thêm tay anh ta:

– Vậy thì… chú Tư, xin mời chú em ra dùng cơm với qua… lấy thảo! Mau chú em, không thôi tụi nó “lùa” hết đa!

Cả hai ngó nhau cười xòa rồi rảo bước đi gấp lại chỗ dọn cơm.

Tư Cầu đã hơi quen với cuộc sống mới tại trại Phú Lâm. Mới ban đầu anh ta còn lóng ngóng từng ngày, từng tuần… riết rồi hết biết chờ đợi tới bao giờ nữa, nên cũng đâm lì ra bỏ lún việc mong đợi ấy.

Một buổi chiều, trong lúc mọi người trong căng đều vui vẻ: kẻ họp nhau đánh cờ, người tụ lại kể chuyện tiếu lâm hay chuyện ly kỳ gì khác, và ở cuối trại, một nhóm anh em đang thưởng thức mấy câu vọng cổ rất mùi của một anh bạn tốt tiếng, có cả một cây kìm và ghi-ta phụ họa… trong lúc ấy Tư Cầu ngồi dựa lưng vào vách nhìn một đám mây trôi qua mấy lỗ mắt cáo của tấm lưới sắt bao quanh phía trên tường trại.

Bác Tám lẳng lặng đến ngồi một bên anh ta lúc nào mà anh ta cũng chẳng hay. Một hồi lâu sau, bác nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai anh ta.

Tư Cầu giựt mình quay đầu lại:

– A, bác! Vậy mà tui tưởng ai chớ! Sao bác hổng vui chơi môn gì với mấy anh em kia hết vậy bác?

Bác Tám nghển cổ lên:

– Coi, chú Tư mầy sao lẹ miệng quá vậy? Câu đó đáng lẽ để qua hỏi chú em mới phải, bây giờ chú em hỏi ngược lại qua!

Tư Cầu chỉ biết cười trừ…Thấy vậy, bác Tám ngồi xích lại móc thuốc ra mời nó, rồi chỉ đám anh em đang vui chơi trong trại:

– Đó chú em coi, phải ai cũng ngồi một đống như chú em hết thì cái trại nầy chẳng khác gì nhà mồ!

Tư Cầu trả lời cầm chừng:

– Thì cũng có người vầy người khác chớ bác!

– Qua thấy chú em ngồi riết ở trong trại buồn, nên qua tính rủ chú em ra làm cỏ-vê ở ngoài cho nó giãn gân, giãn cốt một chút, chớ cứ sống bó rọ hoài… phát thủng chết lần chết mòn đa chú Tư nó!

– Ở trong trại, tui cũng có làm… công tác vệ sinh chớ bác!

– Ối, như vậy mà ăn nhậu gì! Chú em cứ ở trong rợp hoài da thịt bủng xì hết. Qua muốn kêu chú em theo qua đi “lao công” ở bên ngoài… có nắng có gió coi vậy mà cũng đỡ lắm chú em à! Hơn nữa, có đi ra ngoài mình nhìn thiên hạ đi qua đi lại… cũng đỡ khổ nhiều lắm!

– Thì ở đây, anh em mình trong trại đi qua đi lại chen chưn không lọt chớ bộ thiếu sao?

– Trời ơi, sao chú em mầy thiệt thà quá vậy ! Qua nói thiên hạ là thiên hạ… ở ngoài đời chớ đâu phải thứ tù như tụi mình! Nhứt là giát sáng nhìn qua hàng rào dây kẽm, thấy các bà các cô đi chợ rần rần… coi cũng nôn quá chú em ơi! (rồi bác cười hấp tấp nói tiếp liền theo) Qua nói đây là nói cho… chú em, chớ phần qua thì già cả rồi, mấy thứ đó qua đâu có ham nữa!

Tư Cầu cũng cười đáp:

– À cái đó thì tui cũng… bái luôn.

Bác Tám nghiêm mặt lại nói tiếp:

– Thôi dẹp cái chuyện tầm xàm đó qua một bên đi! Bây giờ qua trở lại chuyện hồi nãy: vậy chú em có ưng theo qua ra ngoài làm cỏ-vê không? Nếu chú em chịu thì qua nói với anh đại diện sắp đặt để bắt đầu sớm ngày mơi này tụi mình đi làm luôn.

Tư Cầu gật đầu nhưng không có vẻ gì hăng hái cho lắm:

– Được rồi, bác nói giùm đi để mơi tui tháp tùng theo…

Nghe giọng nói của Tư Cầu xụi lơ như vậy, bác Tám khều nó bảo thêm:

– Ê tụi, chỗ làm đó ngon lắm nghen! Thiếu gì đứa ở trong trại muốn nhảy vô “sở” đó, nhưng nhờ qua có… “ngoại giao” nhiều, nên tụi mình muốn đi làm chỗ ấy lúc nào cũng được hết!

Tư Cầu vội nắm lấy cánh tay của bác Tám:

– Thì tui biết vậy rồi mà! Tui cám ơn bác nhiều lắm… thiệt vô đây tui gặp được bác kể như nhờ phước đức ông bà gì để lợi nhiều lắm vậy.

– Ối, ơn với nghĩa gì đó chú Tư! Mình là người cùng xứ sở với nhau ai giúp nhau được cái gì thì cứ giúp. Qua thấy chú em hiền lành qua thương lắm, để chuyến nầy dìa dưới, thế nào qua cũng kiếm một chỗ làm ăn đàng hoàng và lịch sự người để qua làm mối cho chú em!

Tư Cầu xô nhẹ vai bác Tám ra:

– Cái đó thì tui xin… can bác! Thời buổi nầy, một thân một mình đây mà còn chẳng biết sống chết vào lúc nào; đèo bồng thêm vợ con lùm đùm lề đề nữa chỉ thêm lo chớ sướng ích gì!

Sáng hôm sau, Tư Cầu theo bác Tám và một số anh em nữa xếp hàng ra khỏi trại để đi “lao công”.

Tốp của hai người nầy được chỉ định vào làm cỏ và săn sóc mấy bồn bông ở khoảng đất chung quanh nhà viên Trung úy Pháp cai quản trại giam.

Vừa tới chỗ làm, bác Tám đã vội khoe với Tư Cầu:

– Ê chú Tư, “chỗ” của tụi mình coi bộ dễ thở đa chú. Nè, chú ngó ra ngoài đường coi: xe cộ thiên hạ dập dìu vui vẻ quá há! Mà chú đừng rề lại gần hàng rào dây kẽm đó nghen, ba thằng gạch mặt ở trên chòi canh nó thấy nó “ria” liền đa!

Tư Cầu trề môi nhún vai:

– Tưởng cái gì khác chớ cái đó… tui biệt có thèm!

Bác Tám gật gù:

– Nếu vậy thì chú em mầy bảnh!

Công việc của bác Tám và Tư Cầu có việc săn sóc và tưới nước mấy bồn bông. Riêng trong ngày đầu tiên, hai người lo cắt xén mấy hàng rau dừa kiểng “chạy chỉ” xung quanh mấy bồn bông. Họ tỉ mỉ cắt từng cái lá, từng cọng cây sao cho thật bằng đầu và thẳng đứng ở hai bên.

Tư Cầu cầm cây kéo nhấp nhấp liền tay, anh ta chăm chú tỉa từng cái lá một và có vẻ như mải mê với công việc. Bác Tám liếc mắt trông thấy như vậy cũng hả hê một phần nào. Đoạn bác tươi cười kêu Tư Cầu:

– Ê, chú Tư nó! tụi mình làm như vầy thiệt chẳng khác ba anh thợ hớt tóc tỉa ngọn tóc… và còn kỹ hơn họ nữa là khác! Thiệt chỉ có mấy cha nội tù mới dư thì giờ mà làm chuyện lắc rắc kỹ lưỡng như vầy thôi!

Tư Cầu ngừng tay kéo, ngước lên vui vẻ đáp:

– Bác nói đúng đa! Tui dám chắc ở ngoài đời làm gì có thứ bồn bông liếp kiểng khéo léo như trong nầy phải hông bác? (rồi anh ta chép miệng than) Hồi còn ở dưới vườn, bắt tui phát mấy công đất tui cũng chịu, chớ ai thử thời bắt tui ngồi tỉa từng cái lá chút bíu như vầy, tụi… chạy tét luôn!

Bác Tám chận lời anh ta lại liền:

– Đọ, đi ba đồng bảy đổi gì rồi chú em cũng… chặt cua về dưới vườn hoài hè! Qua nói dẹp luôn cái chuyện đó qua một bên đi, càng nhắc tới càng rầu thúi ruột chớ ích gì!

Tư Cầu xẻn lẻn đáp:

– Thì tui vui miệng nói chơi vậy chớ bộ ai… Mà thôi trời nắng nóng dữ rồi đa! Tui thấy khát nước rồi bác!

Bác Tám phủi tay đứng dậy:

– Khát nước thì đi uống và nghỉ xả hơi một hồi.

Tư Cầu do dự hỏi:

– Nhưng chưa gì mình nghỉ ngơi, mấy ổng có la rầy hông bác?

Bác Tám lôi anh ta đi:

– Rầy khỉ khô họ! Ở đây tụi nó cũng dễ chịu ở cái chỗ đó: tụi nó không hối thúc gì hết miễn là mình chịu khó… ở tù một chút! Ờ, qua quên dặn chú Tư nó điều nầy nữa: ở đây, trừ ra công tác vệ sinh ở trại thì không kể, mọi công việc lao công hay cỏ-vê gì khác, mình cứ cà rịch cà tang làm tới đâu hay tới đó… Ngày rộng tháng dài mà! Thủng thỉnh mà làm, chớ làm săng lên quá hết công việc… thất nghiệp đa chú!

Khi đi đến sân sau trước nhà bếp, Tư Cầu thấy trên mấy hàng dây kẽm phơi quần áo có mấy cái áo dài màu và quần áo đàn bà, anh ta lấy làm ngạc nhiên day qua hỏi nhỏ bác Tám:

– Nè bác Tám, sao có quần áo đàn bà phơi đầy ở đây hết vậy?

Nghe Tư Cầu hỏi về mấy cái áo dài và quần áo đàn bà phơi trên dây kẽm, bác Tám mỉm cười:

– Cha chú em tinh mắt quá há!

Tư Cầu hơi mắc cở nên tìm cách nói cho qua:

– Thì… thấy nó phất phơ trước mắt nên hỏi vậy thôi… vì tui lấy làm lạ sao lại có những thứ đó ở đây…

Bác Tám hớp một ngụm trà Huế rồi đáp:

– Bởi vậy qua mới nói chú mầy tinh mắt! Quần áo ấy là của vợ ông quan hai cai quản căng của tụi mình đó chú Tư!

Tư Cầu nhìn lại phía sào phơi quần áo, rồi nhìn bác Tám:

– Ủa, quần áo của vợ ông hai? Bộ ổng hổng có vợ đầm hay sao hả bác?

Bác Tám cười xòa:

– Dữ hông, có bấy nhiêu đó mà tự nãy giờ qua coi bộ chú Tư nó thắc mắc ghê quá! Thì có gì lạ đâu, mấy ổng qua bên nầy coi vậy cũng buồn nên có vợ lền khên… Mấy cô chơi bời đó thiếu gì chú Tư!

Tư Cầu gật gù:

– Hèn chi tự nãy giờ tui cứ lấy làm lạ hoài tại sao nhà ông hai tây mà lại phơi áo dài đàn bà mình… Té ra là áo của vợ ổng. (rồi anh ta thắc mắc hỏi thêm bác Tám) Nè bác, nhưng sao mấy ổng là quan quyền bự như vậy mà lại chịu cặp với mấy cô chơi bời hả bác? Bộ mấy ổng hổng sợ tai tiếng gì sao?

Bác Tám vỗ vai anh ta, cười đáp:

– Chú Tư sao thiệt thà quá đỗi! Mấy ổng qua bên nầy đánh giặc, buồn buồn nên cặp mấy cổ chơi qua đường vậy chớ có gì đâu mà tai với tiếng!

Tư Cầu có vẻ mắc cở:

– Thôi mà bác, bác ngạo tui hoài.

– Giỡn khỉ gì, qua nói thiệt đa! Đâu chú em nhìn thẳng lại qua coi! À… à mắt lớn mà ướt ướt, lông mi chớp lia, tóc mướt rượt… môi dầy dầy nhưng ở mép có ngấn… chua cay… người đa tình đa cảm, nhưng nhút nhát không quyết định và chắc phải bị đàn bà… đá đít đến năm bảy chục cái…

Tư Cầu cười rộ:

– Bác nói trật lất! Đàn bà nào đâu mà bác nói hàm hồ như vậy.

Bác Tám như không chú ý đến lời của Tư Cầu, nắm lấy bàn tay trái của anh ta lật ra chăm chú xem chỉ tay:

– Đúng rồi. Bàn tay chú em cũng rõ mồn một đây nè: số đào hoa… nhưng lằng nhằng quá đỗi. Đào hoa kiểu nầy thành ra… đào tẩu hết, nghĩa là rút cục rồi chú em chỉ còn có cái mình trơ…

Tư Cầu tuy bắt đầu chú ý đến những lời của bác Tám nhưng còn làm bộ hỏi lơi:

– Bác học xem tay xem tướng hồi nào mà dám nói dựng đứng như vậy chớ?

– Thì học ở trong nầy chớ học hồi nào. Thôi mà chú Tư nó có muốn coi tới thì nói để qua xem kỹ chớ đừng làm bộ mại hơi hoài…

Tư Cầu chỉ biết cười trừ.

Vừa lúc đó có tiếng đàn bà léo nhéo ở trên nhà làm Tư Cầu đứng sững lắng tai nghe, rồi có tiếng mở cửa sổ trên lầu. Anh ta ngẩng đầu nhìn lên và chỉ thấy thoáng qua một cái lưng đàn bà còn để trần với chiếc áo nịt con màu đen.

Tư Cầu há hốc miệng rồi lẩm bẩm nói:

– Ủa… sao tui coi quen quá…

Bác Tám cũng quay đầu nhìn lại, nhưng rồi bác vội níu áo Tư Cầu giựt giựt:

– Thôi cha nội ơi! Cho qua can đi, chú em mà làng chàng ngó bậy ngó bạ thứ nầy, thằng quan hai nó thấy bất tử thì… mệt cầm canh đa chú em.

Tư Cầu mắt vẫn lấm lét nhìn lên lầu và lấp bấp trả lời:

– Đâu có bác…

Bác Tám kéo anh ta đi chỗ khác:

– Hổng có thì tốt! Chú em đừng tưởng mới đây nghe qua nói có số đào hoa rồi nhè vợ của nó mà “đá bóng” thì… tận số nghen chú em!

Tư Cầu chống chế:

– Bậy nà, tui đâu có dại đến mức đó bác! Nhưng tôi trông người đàn bà đó quen quá. Hồi nãy nghe tiếng nói không thôi, tui cũng bắt giựt mình…

Bác Tám lắc đầu quầy quậy:

– Thôi, thôi đi cha nội! Đừng có nhìn quàng nhìn xiên mà mang khổ đa!

Tư Cầu nói giọng quả quyết:

– Thiệt mà bác! Tui nghe tiếng nói và thấy phía sau lưng của… bà quan hai sao giống một người đàn bà mà tui quen quá! (rồi nó thở dài nói tiếp) Nhưng người tui quen đó ở xa tít mù chớ đâu có mặt trên nầy được. Có lẽ người giống người…

– Có lẽ khỉ gì, chắc mẻm như vậy rồi!

Tư Cầu nín thinh một hồi rồi quay qua hỏi bác Tám:

– Nè bác, vậy chớ bác có gặp tận mặt bà hai lần nào chưa? Bả là người ở đâu bác có biết… nghĩa là bác có nghe ai nói lợi hông.

Bác Tám nheo nheo mắt nhìn anh ta rồi chậm rãi hỏi lại:

– Ê chú Tư, sao chú hỏi tới hoài vậy chú? Chú muốn gặp mặt bả hả? Chú mần ở đây thế nào cũng có ngày giáp mặt mà! Còn cái việc… gốc gác của bả là người ở đâu thì qua cũng chưa rõ. Ối, mấy bà chơi bời đó trôi nổi bình bồng thì biết xứ sở làm khỉ gì.

Tư Cầu đưa đẩy cho xuôi theo:

– Ờ, bác nói nghe cũng có lý… (nhưng rồi anh ta lại tò mò hỏi thêm) Mà bác thấy bà hai có con cái gì không?

Bác Tám cười đáp:

– Ta đã nói gái chơi bời mà con cái gì! Bộ chú Tư hổng rành cái chuyện đó sao?

– Vậy hả, tui nào có biết…

Bác Tám sốt sắng nói thêm:

– Tui nói là nói vậy chớ bà hai đây cũng điệu lắm chớ hổng phải giống như thứ hư thân mất nết khác đâu. Qua coi bộ bả cũng biết tội nghiệp cho những kẻ tù tội như tụi mình. Chú em hổng biết chớ thiếu gì người đàn bà lấy Tây rồi đụng ai cũng “sạt-cà-rây-cu-xoon” tưới hột sen còn quá mẹ mấy ông Tây chánh hiệu “con nai nằm” nữa!

Tự nhiên Tư Cầu cảm thấy hớn hở:

– Nói vậy bả cũng khá hén bác!

– Ừ, anh em lên mần ở đây thường được bà cho thuốc hút hay bánh mì nhà binh ăn hoài. Bả được nhứt ở chỗ đó!

Bác Tám nói xong như khoái chí điều gì nên cười xòa.

Đoạn hai người lững thững bước đi ra ngoài sân chỗ mấy bồn bông để tiếp tục làm công việc bỏ dở ban nãy. Khi hai người ló mặt ra ở gốc sân, thì Tư Cầu đã chỉ kịp thấy vợ viên quan hai quần áo đàng hoàng leo lên ngồi phía trước chiếc xe díp bên cạnh tên tài xế nhà binh da đen, và chiếc xe rồ máy chạy vọt thẳng ra phía cổng ngoài.

Tư Cầu đứng ngẩn người nhìn trân trối theo chiếc xe hơi đã khuất trong nháy mắt…

Bác Tám nắm vai anh ta lắc mạnh mấy cái:

– Ê chú Tư… bớ ba hồn bảy vía chú Tư dìa ăn cơm ăn cá!

Tư Cầu giựt mình quay lại và khi nghe câu “gọi hồn” bỡn cợt của bác Tám anh ta bắt tức cười theo bác:

– Bác cứ ngạo tui hoài.

Bác Tám làm ra vẻ nhăn nhó kêu than:

– Cha, qua coi bộ chú em mầy “lậm” quá rồi! Mới có ở tù chưa nóng chỗ nằm mà qua coi bộ chú em mầy… thấy đàn bà là chịu hết nổi! Cái điệu nầy rủi kẹt chừng một vài năm nữa, “nó” lên tới óc thì chú em mầy nguy!

Tư Cầu xô nhẹ bác ra:

– Bác cứ nói giỡn hoài!

°   °
°

Đến buổi chiều, Tư Cầu nóng ruột cho mau đến giờ đi làm vì suốt buổi sáng anh ta thắc mắc rất nhiều về bà vợ của ông quan hai.

Anh ta sốt sắng chực sẵn ở chỗ tập họp điểm danh trước khi sắp hàng đi làm bên ngoài. Thấy bộ tịch anh ta như vậy, bác Tám mỉm cười… hoài nghi nhìn anh ta và bảo:

– Mới đi làm có một buổi mà qua coi bộ chú em “bắt xăng” dữ rồi đa!

Tư Cầu ngó lảng ra chỗ khác:

– Thì… sẵn dịp tui ngồi chơi ngoài nầy cho mát để đợi giờ đi làm luôn, chớ có cái gì đâu bác…

Kiểng đổ giờ đi làm chiều…

Tư Cầu và bác Tám lại được đưa đến chỗ cũ, và trong suốt buổi chiều hai người lo xách nước để tưới mấy dãy bồn bông.

Tư Cầu hơi nóng lòng vì trong nhà viên quan hai lặng trang. Mấy lần anh ta tính kêu bác Tám để hỏi dò và nói chuyện chơi cho đỡ buồn, nhưng anh ta nín luôn vì sợ bác sẽ tìm cách nói soi mói lại.

… Tư Cầu và bác Tám đang đứng chờ cho nước ở vòi chảy đầy thùng để rồi hè nhau xách ra đằng trước tưới bông, thì nghe có tiếng cười giòn tan của bà quan hai ở trên lầu. Tiếp theo đó có tiếng mở cửa sổ rột rẹt…

Tư Cầu vội ngẩng đầu nhìn lên, lòng hồi hộp vô cùng.

Hai cánh cửa sổ mở toang ra đập mạnh vào vách tường.

Bà hai, hai tay vịn cao vào hai bên thành cửa, đứng ưỡn người ngửa mặt lên trời như để đón hứng ngọn gió mát lồng lộng thổi vào…

Ở dưới nầy, Tư Cầu sửng sốt nhìn lên. Anh ta lắc đầu liền hai ba cái như để nom cho rõ, chớp mắt lia một hồi như để tin chắc rằng nhãn quan không bị hoa mờ… Rồi anh ta há hốc miệng ra, muốn kêu một tiếng mà như bị đớ lưỡi. Bác Tám đứng bên cạnh anh ta cũng đâm ra luýnh quýnh lây.

Chiếc thùng thiếc đầy tràn nước mà hai người không ai hay biết và bỗng tuột khỏi bàn tay của Tư Cầu… bác Tám hốt hoảng gượng xách một bên quai thùng lên nhưng không kịp vì đã quá trễ… Đít của chiếc thùng nặng đầy nước rớt nện mạnh vào mặt đất tráng xi măng nghe vang ầm.

Bà hai giựt mình nghiêng vội người ra ngoài khung cửa sổ nhìn xuống, rồi bà buông hai tay để chống lên thành cửa cúi gập tuốt ra ngoài để nhìn cho rõ hơn. Thấy người đứng ở dưới ngó sững lên, bà hai nhìn kỹ, lẩm bẩm: “Ai mà mình trông ngờ ngợ như là anh Tư vậy cà… Ủa, đúng thằng chả rồi!”. Và bà mừng quýnh phát kêu lớn lên:

– Anh Tư!

Nhưng thấy người ở dưới đứng chết trân, bà lại ngập ngừng hỏi thêm:

– Ai đứng ở dưới có phải anh Tư không?

Tư Cầu mới tỉnh hồn, nhón chân lên, nhón chân xuống như muốn gần thêm người ở trên lầu và lấp bấp đáp:

– Phải…. phải tui đây!… Tư Cầu đây mà!… Em Ba trên Nam Vang đó phải hông em Ba!

Bà hai cũng vội vã vừa gật đầu vừa gọi vọng xuống:

– Anh Tư! Em đây mà!

Rồi bà hai thụt tuốt vô trong. Tư Cầu nghe tiếng guốc vang rầm rầm trên mấy bực thang lầu và tiếng trống ngực của mình cũng đập to gần bằng như thế ấy.

Bác Tám níu tay anh ta lắc hỏi:

– Ủa bộ quen thiệt hả chú Tư?

Tư Cầu vừa thở vừa đáp:

– Tui nói có sai đâu: đúng là con Ba Xá-Lị trên Nam Vang chớ ai!

– Mà sao chú quen với bả hay quá vậy?

Tư Cầu chưa kịp trả lời thì con Ba (vì bà quan hai chính là con Ba trên chợ Nam Vang chớ không ai xa lạ) đã chạy a ra cười nói rối rít:

– Trời đất quỷ thần ơi… anh Tư! Vậy mà em nhìn hoài mà thiếu điều không nhận ra anh? Sao anh hổng kêu em hả?

– Trời ơi… em Ba! Mấy lần anh thấy em thấp thoáng anh nghi trong bụng quá… Anh nói với bác Tám đây hoài.

Con Ba mới để ý quay qua phía bác Tám.

Bác vội lấy hai tay lột nón lá xuống cắp nơi trước bụng:

– Dạ chào bà hai!

Rồi bác lấy cùi chỏ thúc vô hông Tư Cầu kê đầu gần anh ta nhắc bảo rất nhỏ và rất mau:

– Bà hai chớ “em em” gì!

Tư Cầu có vẻ bực mình nhưng cũng gượng dẹp sự sôi nổi qua một bên, sửa bộ đứng lại ngay thẳng và đưa mắt liếc nhìn xung quanh.

Con Ba thấy vậy ngạc nhiên hỏi:

– Gì vậy anh Tư?

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Dạ… hổng có chi…

Con Ba cau mày:

– Sao khi không anh có vẻ sượng ngang vậy anh Tư? Lâu ngày gặp anh bất tử như vầy mừng muốn chết mà em coi bộ anh ké né cái gì vậy hả?

Bác Tám lại lấy ngón chân cái khều khều vào chân anh ta, mắt bác nháy nháy như muốn nhắc chừng cho Tư Cầu nhớ lời căn dặn của bác.

Tư Cầu trả lời lúng túng trong miệng:

– Dạ… bà hai…

Con Ba gắt gỏng:

– Xời ơi… em với anh mà anh cũng dạ với thưa vậy sao?

– Dạ… bị…

– Bị cái gì hả?

Tư Cầu nhăn nhó lấy tay chỉ chỉ lên phía nhà lầu.

Con Ba như hiểu ra, xì một tiếng rồi hỏi:

– Bị em là vợ của thằng quan hai hả?

Tư Cầu gật đầu liền.

Bác Tám tằng hắng rồi nói chen vô:

– Dạ thưa bà Hai, chú Tư đây nói như vậy cũng phải. Dạ đối với bà Hai thì không sao, chớ đối với anh em tụi tui thì… phải giữ phép, rủi ro có chuyện gì thì khổ lắm, nhứt là ông quan hai đây… rủi ai thọc mạch bậy bạ điều gì… ổng dám xách cổ tụi tui ra bắn nát óc lắm chớ hổng phải chuyện giỡn. Tui ở đây lâu, tui biết: lúc trước có mấy cha nội dưới trại đi làm cỏ-vê bên “căng ma dê” rồi chàng ràng với vợ ba ông nội tây sao đó mà bị mấy ổng nện cho thiếu điều ói máu. Dạ tui tình thiệt nói ngay xin bà Hai thương giùm…

Con Ba mím môi có vẻ suy nghĩ rồi thẫn thờ nói:

– Bác nói như vậy cũng phải… À, bác thứ mấy vậy bác?

Bác Tám lẹ miệng đáp:

– Dạ thứ tám… Dạ tui với chú Tư đây ở chung một trại.

Tự nãy giờ Tư Cầu đứng lặïng thinh mắt không rời ngắm nhìn con Ba từ đầu đến chân: cũng vẻ mặt sắc sảo ấy, cũng vóc mình thon thon ấy… có khác chăng chỉ có mái tóc nay đã uốn quăn.

– Anh Tư, anh làm cái gì mà đứng như trời trồng đi vậy hả?

Tiếng con Ba hỏi bất thần làm Tư Cầu giật mình anh ta luống cuống đáp:

– Dạ…

Con Ba cau mặt chận ngang:

– Dạ cái gì mà dạ hoài hủy vậy! Em cấm tiệt anh không được thưa gởi như vậy nữa nghen!

Tư Cầu nhăn nhó nhìn sang bác Tám như để phân trần rồi quay qua nói:

– Thì… em, cũng nghĩ giùm tới hoàn cảnh của… anh hiện giờ. Em hổng nghe bác Tám đây nói hồi nãy đó sao?

Con Ba thở dài:

– Ờ cũng kẹt quá há! Thằng hai nầy nó cũng ghen thấu trời, nhưng em đâu có chịu non tay ấn đối với nó. (rồi con Ba hăng hái nói tiếp) Nó mê em thấy mồ, anh đừng có lo?

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Cha, mấy thuở mới gặp lại nhau mà em khoe cái chuyện “mê” đó nghe sao… ớn quá!

Con Ba mỉm cười tát nhẹ vào má anh ta:

– Anh sao… còn anh, mấy năm mới gặp mặt anh mà anh vẫn kỳ cục như thường! Anh khó tánh quá mẹ người ta!

… Bác Tám đứng bên nầy như canh chừng từ đời nào, vội tằng hắng một tiếng lớn rồi nói chen vô:

– Thôi chú Tư ơi, tụi mình lo đi tưới kiểng xăng xăng lên kẻo trễ. (rồi bác day qua nói với con Ba) Thưa bà hai, xin phép bà để hai anh em tụi tui đi mần công việc… chứ để đến chiều nay ông xếp Tây ổng đi rảo, thấy chưa tưới giáp hết ba cái bông kiểng… thì đố khỏi bị ổng mần thịt, và hổng chừng còn xuống dưới trại cấm luôn không cho tụi tui lên đây nữa.

Tư Cầu nghe bác nói như vậy cũng hoảng kinh:

– Ừ phải đa bác!

Rồi anh ta quay sang nhìn con Ba gượng cười, nhún vai như có vẻ cam đành với số phận.

Con Ba thở dài sườn sượt nhưng cũng ráng nói đẩy đưa với bác Tám:

– Ờ… cũng phải… nhưng sợ khỉ gì! Có tôi đây làm chi! Tôi có thiếu gì cách để nói cho hai anh em bác hay lãnh cho hai người lên làm mỗi ngày luôn ở trên này chớ không phải đổi thay đi đâu nữa hết.

Bác Tám tỏ vẻ vồn vã đáp:

– Dà bà hai nói vô một tiếng thì… dễ ợt rồi, nhưng mới ban đầu, theo tôi nghĩ thì cũng nên… để thủng thỉnh rồi liệu bề mà tính cho nó hổng có cái gì trục trặc hết. Dạ anh em bị kẹt trong này ai ai được gặp bà hai cũng đều… dễ thở hết!

Con Ba có vẻ vừa ý lắm, nhưng tìm cách nói cho giả lả:

– Ối, anh em bị nạn như vầy tôi tìm cách giúp được chút nào hay chút nấy… Cũng người mình với nhau chớ ai vô đó…

– Dạ phải…

Rồi bác lại hối Tư Cầu:

– Chú Tư, tụi mình hè nhau xách nước một hơi để tưới kiểng cho rồi đi chú!

Tư Cầu “ừa” một tiếng không mấy hăng hái rồi miễn cưỡng với tay xách thùng nước lên.

Con Ba lại bước theo:

– À mà quên nữa anh Tư! Em quên hỏi: vì sao anh bị bắt lên tới trên nầy lận? Tự nãy giờ mắc lo nói dông nói dài nên lú ruột lú gan đi mất!

Tư Cầu đặt thùng nước, cười lạt hỏi lại:

– Ờ quên nữa, còn em, vì sao em trôi giạt tới đây?

– Vậy mà cũng hỏi: vì em là vợ của thằng chúa ngục nầy nè!

– Thì cũng như anh: vì anh là thằng tù của ông chúa ngục đó!

– Hứ lãng òm! Đến non nước nầy mà anh còn nói giỡn chớ! À mà quên nữa: từ hồi anh về xứ tới bây giờ, anh đã có vợ con gia đình gì chưa anh?

Tư Cầu xụ mặt lấy ngón chân cái ấn ấn chỗ cát đất bị nước trong thùng chảy rỉ ra làm cho ướt mềm:

– Chuyện của anh thì còn dài lắm để bữa nào khác anh sẽ kể hết đầu đuôi ngọn ngành cho em nghe. Còn em, từ ngày anh dìa xứ, em làm gì nữa… à, còn thằng Năm ra sao em? Cô Năm bán quán chỗ anh ở đậu có nhắc nhở gì anh không?

Con Ba thở dài đáp:

– Chuyện của em cũng còn dài… mình còn gặp nhau nữa mà lo gì!

Tư Cầu lại xách thùng nước lên:

– Ờ phải… Thôi anh đi làm công chuyện nghen!

Nói xong anh ta rảo bước đi về phía trước sân. Con Ba đứng tần ngần nhìn theo, rồi như tự khám phá ra một niềm vui gì mới mẻ, nó hí hửng quay trở đi vô dãy nhà bồi bếp. Đi ngang qua bụi trúc đào, nó nhảy trửng lên lẩy ngang một chùm hoa màu hường tươi, rồi tiện tay ngắt tung hết ra ném túa lên trên sân cỏ.

°   °
°

Tư Cầu ngồi dựa lưng vào vách trại, thấy bác Tám đang đứng chắp tay sau lưng cúi xuống xem anh em khác đánh cờ, nó vội kêu lên:

– Bác Tám lại đây chơi bác!

Tiếng của Tư Cầu quá to làm mọi người quay đầu nhìn lại, và sau khi nhận thấy không có gì khác lạ một anh đã lên giọng mỉa mai:

– Cha, bữa nay cóc mới mở miệng đó anh em ơi!

Một anh khác chêm vô:

– Vậy mà tao tưởng… còi a-lẹt chớ!

Tư Cầu nghe “dư luận” như vậy mới biết mình hơi “lố” nên xẻn lẻn cúi gầm mặt xuống. Bác Tám bước đến thổi cho sạch bụi cát rồi ngồi sát một bên anh ta cười tủm tỉm hỏi:

– Cha, bữa nay qua coi bộ chú em… hứng chí quá vậy!

Tư Cầu không biết trả lời sao nên móc ra một gói “ách chuồn” mời bác:

– Hút bậy một điếu chơi bác.

Bác Tám mân mê điếu thuốc trong tay rồi ngước mắt lên hỏi:

– Của bả hả?

Tư Cầu gật đầu:

– Hồi ở Nam Vang tui đã nói không ưa thứ thuốc thơm này mà… bả cứ không nghe.

– Cha bả cưng chú quá há!

Tư Cầu có vẻ mắc cở nhưng rồi nói thêm bằng một giọng thật tha thiết:

– Thì bác nghĩ coi tình xưa nghĩa cũ…

Đoạn anh ta thuật lại cho bác Tám nghe cuộc tình duyên tuy ngắn ngủi nhưng không kém đậm đà giữa anh và con Ba hồi ở trên Nam Vang.

Nghe xong, bác Tám gật gù nói:

– Hèn chi qua đã nói với chú em: bà hai nầy là người… dễ chịu lắm! (rồi như nhớ trực lại điều gì, bác vỗ mạnh vào vai Tư Cầu) Đọ, chú em coi qua có tài không?

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi liền:

– Tài gì bác?

– Thì tài coi tướng coi tay cho chú em, bộ chú em quên rồi sao? Về cái chuyện số đào hoa đó mà! Phải chú em nhớ rõ ngày giờ sanh, qua còn coi luôn tử vi cho chú em nữa! Số chú em thế nào cũng có “Đào Hồng” chiếu mạng!

Tư Cầu xô nhẹ vai bác Tám:

– Thôi đi bác! “Chiếu” hay không thì tui hổng biết, chớ mới có đúng phải hai, ba bà mà thiếu điều… ngất ngư đây nè!

Bác Tám nghiêm mặt ngó thẳng vào mắt anh ta:

– Nói chơi cho vui miệng vậy thôi, chớ qua khuyên chú em nên cẩn thận một chút. Chú em đừng tưởng mình ở trong này cũng như hồi còn ở ngoài đời thì nguy lắm đa! Qua coi bộ chú em hí hửng như bắt được vàng… sao qua ngại quá!

Tư Cầu phân trần:

– Coi tui làm gì bậy đâu? Thì có bác đứng một bên từ đầu mùa chí cuối…

– Phải rồi, nhưng qua nói đây là nói phòng xa. Chú em cũng nên dặn kỹ, hay là năn nỉ nữa cũng được, để bà hai giữ phần bả, chớ qua coi cái điệu của bả nhỏng nha nhỏng nhảnh như vậy cũng có ngày… hại chú em đa!

Tư Cầu định cãi lại, nhưng bác Tám đã nói hớt:

– Qua tình thiệt nói ngay, chú em có phiền qua cũng chịu, nhưng sau này chú em nghĩ lại rồi mới biết thằng già nầy lơ mơ vậy mà nói trúng!

– Thì tui có nói gì đâu!

Bác Tám nhích lại gần Tư Cầu thêm một chút nữa:

– Nếu chú em chịu nghe qua thì tốt! Ở ngoài đời có bề gì cũng không sao, bất quá chú em làng chàng với các bà đôi chút có thằng nào nó ghen, nó cho chú em ăn dao phay mang thẹo là cùng, chớ cái chuyện nầy… ăn đạn cả chục viên đa chú em!

Tư Cầu vuốt mớ tóc buông xõa trước trán lên, rồi ấp úng nói:

– Bác Tám, dầu sao đi nữa tui cũng không để có chuyện gì… rắc rối xảy ra đâu. Chắc bác dư rõ: tui là một thằng… quen nhịn nhục, có bề gì thì tui… chạy mặt trước, như vậy thì đâu có chuyện “ăn dao phay” như bác nói đó!

Bác Tám cười khan:

– Ờ… qua thấy màng màng rồi đó nghen! Qua lạ gì chuyện đời: cây đa cũ bến đò xưa gặp lại nhau nè, ở tù lâu không gần được vợ con nè, bà hai ăn bánh mì đồ tây hoài ngán thấy mồ nè… bây giờ có món… canh chua cá kho kề tới miệng thì… trời cản bả cũng hổng buông tha! Qua nói bấy nhiêu đó, chú em mầy là người… sáng dạ chắc cũng hiểu nhiều mà!

Tư Cầu nghe bác Tám nói như thế cũng bắt cười xòa theo:

– Hiểu rồi, hiểu rồi… ông “tổ sư bồ đề” ơi! Thiệt bác nói như bác… đi guốc trong bụng người ta vậy.

Tư Cầu xô mạnh vai bác, rồi móc gói “ách chuồn” ra mời:

– Hút bậy một điếu nữa cho vui bác!

Bác Tám cầm điếu thuốc trong tay, ngó sững một hồi lâu như có vẻ tư lự lắm, đoạn bác mỉm cười nói với Tư Cầu:

– Hút điếu thuốc nầy đây rồi phải ngậm câm để… đưa lưng chịu chung với chú em đây!

Tư Cầu vui vẻ kêu lên:

– Trời ơi, chuyện gì sẽ xảy ra thì chưa biết, chớ chưa gì tui đã nhức xương vì những lời cằn nhằn cửi nhửi của bác rồi!

Bác Tám vừa phà khói thuốc thơm phức, vừa nheo mắt đáp:

– Thà là nhức xương trước mà còn đỡ hơn là để cho thằng quan hai nó nện cho… mềm xương sau nầy.

… Từ đây, dù sao cuộc đời trong căng của Tư Cầu cũng đỡ tẻ ngắt, nếu không muốn cho rằng đã khá… sôi nổi, nhứt là trong những lúc đi làm “lao công” ở nhà viên quan hai cai quản trại giam.

Mấy ngày kế tiếp đó, Tư Cầu phải ké né hoài mỗi lần con Ba đeo theo anh ta để nói chuyện. Tuy nơm nớp lo sợ có chuyện không hay xảy ra nhưng Tư Cầu vẫn thấy thích thú trong những lần gặp mặt ấy.

Và kẻ khổ tâm nhứt vẫn là bác Tám. Bác kèm theo sát một bên Tư Cầu, nhưng mỗi lần con Ba đến gợi chuyện với Tư Cầu, bác lại phải buông lơi ra một chút vì không đành tâm xử “gắt” đối với đôi nhơn tình cũ ấy, với lại bác cũng tự thấy chỗ “bất tiện” khi phải theo tò tò hai người, tuy đang trao đổi những câu hỏi han thăm nom thông thường nhưng bên trong nặng chứa nghĩa tâm…

Con Ba đã cho Tư Cầu biết sơ qua trường hợp nào đó đã “đụng” viên quan hai: hai người đã quen nhau trong lúc con Ba làm công tại một quán rượu nọ và một phần chán ngán cuộc đời ba chìm bảy nổi, một phần nhận thấy viên quan hai cũng… dễ chịu, nên nó theo luôn ông ta cho đến ngày nay. Và kể ra thì cuộc sống của nó hiện giờ cũng tạm yên và đỡ vất vả hơn trước nhiều nếu không muốn nói là khá sung sướng, khá đầy đủ.

Nghe con Ba kể lại một quãng đời của nó như vậy Tư Cầu không khỏi ái ngại:

– Nhưng em liệu ở với ông Tây nầy có bền không?

Con Ba cười ngặt ngoẹo làm Tư Cầu hoảng kinh phải chận nó lại:

– Có cái gì đâu mà em phát cười như… lên đồng vậy? Em phải nhớ giữ kỹ một chút, chớ hông thôi anh… chạy luôn đa!

Con Ba mới gượng đứng đàng hoàng lại và đáp:

– Thì ai biểu anh hỏi em một câu dễ tức cười quá mà ai nhịn được! Đối với em, những cuộc gặp gỡ, ly tan em coi thường quá… Với lại thời buổi lung tung beng này mà anh hỏi “cái nầy có bền hông, cái kia có chắc hông” thì… mụ nội ai cũng hổng biết đường đâu mà trả lời! Bị anh lo bao đồng như vậy mà anh chết lên chết xuống hoài. Còn em, em sống tới đâu thì hay tới đó, được cái gì thì hay cái đó.

Tư Cầu chắc lưỡi than:

– Nói như em vậy là… hết chuyện rồi!

Con Ba mỉm cười nói tiếp:

– Còn hoài hoài chớ đâu hết! Nhưng có một điều là em chỉ biết có hiện tại, chớ còn cái việc quá khứ tương lai thì… dẹp nó qua một bên hết. Ai hơi sức đâu mà để cho nó lằng nhằng!

Tư Cầu thở dài:

– Thiệt mấy năm trời gặp lại nhau mà anh coi bộ em hổng thay đổi chút nào hết… em cũng cứ theo cái điệu sống… bạt mạng cô hồn hoài!

Con Ba hăng hái nói liền:

– Đó, đối với em thì có cái đó bền đa! Với thêm cái tình nghĩa của những người mà em quý mến như anh là một, cái tình nghĩa đó… em dám nói là bền, còn cái chuyện gặp gỡ nhau, bây giờ đây, cũng như hồi mình ở trên Nam Vang em đâu có cho là bền được đâu!

Tư Cầu có vẻ vẫn chưa được yên tâm:

– Thôi đã đành vậy rồi… nhưng em một ngày một lớn tuổi em cũng phải kiếm nơi nương tựa nào cho nó… chắc chắn một chút chớ mai mốt gì đây… rủi ông Tây ổng xuống tàu dìa bển rồi sao?

Con Ba cười xòa:

– Chuyện đó là chuyện của em mà sao anh thắc mắc làm chi cho mệt hổng biết! Ối, cái điệu lộn xộn này thì còn lâu thằng chả mới về Tây… mà có đi em cũng đeo dính cứng nó cho anh coi!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Cái đó thì… anh coi hết vô đa em!

… Mười lần như một, bác Tám ở ngoài kiếm cớ chen vô chận câu chuyện của hai người lại, không để cho họ kéo dài đến cái mức mà bác cho là có thể đi đến chỗ… nguy hiểm được. Tư Cầu và cả con Ba nữa, hai người dư biết bác Tám muốn phá đám nhưng đều vui vẻ chia tay và thầm mang ơn con người trọng tuổi ấy.

… Qua mấy lần gặp gỡ sau, Tư Cầu hỏi thăm con Ba thêm về thằng Năm cùng Sáu Cẩu, về cô Năm bán quán và được biết rằng ai ai ở trển cũng nhắc nhở đến anh ta rất nhiều, nhứt là thằng Năm.

Cố nhiên là con Ba cũng không quên hỏi kỹ Tư Cầu về đường vợ con sau ngày rời bỏ Nam Vang. Ban đầu Tư Cầu còn tìm cách nói lảng ra chớ không muốn đá động gì nhiều đến vấn đề đó hết, nhưng con Ba vẫn đeo hỏi riết, hoặc tìm cách gài bẫy để cho anh ta nói ra: thành thử rốt cuộc rồi con Ba cũng biết rõ hết, cả đến chuyện con Phấn về dưới quê Tư Cầu nữa.

Nghe xong con Ba chép miệng thở dài:

– Như vậy em coi bộ anh không được… hên chút bẻo nào hết về đường vợ con. Em coi bộ anh… rớ tới đâu thì hư tới đó… trừ có một mình em là êm thôi!

Tư Cầu cười đáp:

– À cái đó cũng chưa chắc! Sao anh nghi chuyến này hổng êm quá!

Vừa lúc đó bác Tám hớt hơ hớt hải chạy vào và nghe lỏm được câu bỡn cợt của Tư Cầu với con Ba nên bác nói luôn theo:

– Nghi khỉ gì nữa! Ông hai ổng dìa tới kìa chú Tư, chú mà hổng rút dù lập tức thì “hổng êm” thiệt chớ không phải nghi ngờ gì nữa hết.

Con Ba nghe bác nói như thế, cau mặt chống nạnh, rồi làm ra vẻ cằn nhằn:

– Coi, sao bác làm cái gì mà nói giựt ngược như vậy? Bộ tôi không có quyền đứng đây nhờ anh Tư hay bất kỳ anh em nào khác làm công việc kia việc nọ hay sao? Ông hai ổng về thì thây kệ ổng chớ!

Bác Tám vặn vẹo mấy đầu ngón tay vào nhau nửa như muốn để tạ lỗi, nửa như để làm câu trả lời cho xuôi:

– Dạ thưa bà hai… dạ, tui đâu dám nói cái gì khác đâu… dạ tại… bị tui có đôi chút nóng lòng sốt ruột lo lắng cho chú Tư đây. Dạ tui nói như vậy chắc bà hai cũng niệm tình cho…

Thấy bộ điệu của bác Tám, con Ba cũng động lòng. Cô ta mỉm cười rồi nhỏ nhẹ nói với bác như để an ủi.

– Tưởng cái gì chớ cái đó thì bác khỏi nói tôi cũng dư biết. Bác đừng có sợ gì hết, tôi lớn tuổi rồi chớ bộ còn con nít nhẹ dạ hay sao! Nhưng bác lo như vậy cũng có… chỗ phải…

Bác Tám kéo Tư Cầu đi vừa gật đầu lia lịa:

– Dà… dà phải!

… Vừa lúc đó viên quan hai ló đầu ra khỏi cửa sổ trên lầu và cất tiếng gọi bà hai một cách rất tình tứ. Con Ba đưa tay vẫy trả lời rồi vội chạy tuốt lên.

Tư Cầu tay cắt tỉa mấy cái lá ngải khô úa mà mắt thì vẫn lấm la lấm lét nhìn ngoái ra sau lưng. Anh ta có vẻ bực dọc quay qua hỏi bác Tám:

– Thằng quan hai nó kêu con Ba cái điệu gì mà tui nghe như cu gù vậy bác Tám?

Bác Tám cười xòa đáp:

– Ý trời mẹt ơi, có vậy mà chú Tư hổng biết sao? Đó là cách người Lang-sa họ kêu theo điệu mùi mẫn “sê ri, cù cú cu…”, thì cũng như cái kiểu mà mình kêu “nựng” má bầy trẻ ở nhà vậy mà!

Tư Cầu xẻn lẻn hỏi lảng:

– Vậy hả! Nhưng sao bác biết rành quá vậy?

– Thì qua… cũng nghe anh em “có ăn học” trong trại họ nói lại. Thôi lo làm xăng tới đi cha nội!

Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng cầm cái kéo to, thứ dùng để cắt hàng rào cây nhấp mạnh mấy cái lá ngải bất kể lá héo, lá tươi như để cho… hả giận.

… Trên lầu cao lại vang vọng xuống tiếng con Ba cười sằng sặc làm cho Tư Cầu phải quay đầu nhìn lên chỗ cửa sổ. Anh ta thấy viên quan hai đang quàng tay ôm ghịt lấy cổ con Ba và hôn lấy hôn để trên khắp đầu cổ…

Bác Tám đang ngồi dưới cỏ xới đất vội đưa tay níu vạt áo của Tư Cầu kéo ghịt ghịt:

– Thôi cho qua can cha nội ơi! Cha cứ đứng xổng lưng ngó lom lom nó như vậy, nó xuống nó nện cho đã đời mà còn không cho khóc bằng tiếng ta nữa đa!

Tư Cầu gỡ tay bác ra, cự nự lại:

– Bác để thây kệ mẹ tui!

Bác Tám thở dài sườn sượt rồi nói như than thở một mình:

– Tui biết trước mà! Thiệt khổ cho thân tui…

Vừa lúc đó có tiếng con Ba cười vang lên nữa, rồi những tiếng cười như bị đứt đoạn, rồi nghe như con Ba la cái gì ú ớ trong miệng…

Tư Cầu gọi giựt ngược bác Tám:

– Nè bác Tám, bác coi tụi nó làm cái gì kỳ vậy?

Bác Tám miễn cưỡng ngước mắt nhìn lên, rồi bác lắc đầu níu áo Tư Cầu kéo xuống thêm một lần nữa:

– Ối có… chút xíu vậy mà chú em làm ầm ầm lên. Thì vợ chồng… tây u người ta mùi mẫn như vậy. Bộ chú em hổng coi hát bóng lần nào ráo trọi hay sao?

Nghe bác Tám hỏi, Tư Cầu mới nhớ trực lại hồi ở Nam Vang đã có nhiều lần mình đi xem chiếu bóng cùng con Ba:

– Ờ, có chớ sao không… nhưng ở trong tuồng người ta mới giả bộ mần như vậy chớ thiệt sao?

Bác Tám không nín được cười:

– Trời ơi, sao chú mầy… thiệt thà quá cỡ! Thì ở ngoài đời nó có thiệt như vậy nên trong tuồng họ mới bắt chước được chớ!

Tư Cầu vẫn còn hục hặc:

– Nhưng người ta là tây u rặc ròng, còn đằng này con Ba nó có phải là đầm đâu mà nó cũng xà nẹo với nhau, tôi coi xốn con mắt quá bác!

Bác Tám lắc đầu:

– Cha, sao bữa nay chú Tư nó khó tánh quá! Đã đành bà hai là người mình, nhưng chú em nó nghĩ lợi coi: hễ mình nhập giang thì phải tùy khúc chớ!

Tư Cầu vẫn còn bới móc:

– Tùy gì thì tùy… nó cũng vừa vừa chớ, đằng này tui thấy nó làm coi bộ… thẳng cánh quá. (rồi Tư Cầu lấy chân đá đá vào chân bác Tám) Kia kìa, bác làm ơn ngó coi tụi nó giùm tui một chút. Tụi nó làm cái gì mà… chụt chụt hoài giống in hệt như là chim đút mồi…

Bác Tám vừa chắc lưỡi liên hồi vừa kéo anh ta quay mặt đi ra chỗ khác:

– Tía nội ơi, tía cứ đứng đưa mặt chần dần ra đó, rồi “phê bình kiểm thảo” om sòm “bất nhã” như vậy nguy lắm đa! (rồi bác hạ giọng năn nỉ) Thôi chú Tư ơi, thây kệ người ta mà chú!

– Nhưng bác coi nó làm kỳ quá!

– Ối người ta hun kiểu Tây đó mà! Thì ông hai là người Pháp thì cũng phải cho ổng hun theo kiểu Tây chớ chú! Chú từng coi hát bóng mà chú lạ gì việc đó!

Tư Cầu cằn nhằn:

– Nhưng con Ba…

Tư Cầu lại quay ngó lên phía cửa sổ trên lầu và để kịp thấy viên qua hai bế thốc con Ba lên và quay lưng bước tuốt vào trong nhà…

Khuôn cửa sổ đột nhiên trống trơn bóng người càng như có vẻ hợm hĩnh trêu chọc trước mắt Tư Cầu.

… Và giọng cười rộ lên từng chập của con Ba từ ở tận trong phòng kia còn vang vọng ra y như những tiếng của một miếng thủy tinh lớn đang rớt bể loảng xoảng trong tim, trong óc Tư Cầu…

Bác Tám nhìn anh ta lắc đầu, và nhận thấy không còn bóng dáng ông hai ở trên lầu nữa nên bác cũng chẳng buồn níu kéo anh ta làm gì.

Bỗng Tư Cầu như chịu đựng hết nổi, quay lại hỏi giựt ngược bác Tám:

– Bác Tám, nè bác Tám! Tụi nó làm gì mà ban ngày ban mặt…

Bác Tám chưng hửng nhìn lại anh ta:

– Coi, bộ chú em cấm nó được hả?

Tư Cầu mím môi tìm thêm một cái “cớ” khác:

– Nhưng bộ thằng quan hai nó… bỏ ngang giờ làm việc lúc nào cũng được hết sao?

Bác Tám hỏi trở ngược lại liền:

– Bộ chú… bắt phạt nó được hả?

Tư Cầu đứng chầm dầm một hồi rồi vùng vằng nói:

– Cũng bị có thứ con… ngựa đó! Vậy mà bác cứ nói là tốt tốt!

Bác Tám cự lại nó:

– Coi, qua nói bà hai tốt là tốt đối với anh em tù tội trong nầy, còn cái chuyện gì khác qua xin miễn bàn đến… Nè, chú em mầy quên rồi sao: chính hồi đầu qua thấy chú em mầy có vẻ chộn rộn, qua đã khuyên chú em nên cẩn thận nữa mà! (đoạn bác dịu giọng nói tiếp) Mà sao chú em cũng kỳ đời quá: đó là cái chuyện vợ chồng của người ta, chú em để ý từng ly từng chút làm chi hổng biết nữa!

Tư Cầu cười mũi:

– Hứ, vợ chồng gì cái thứ đó! Thiệt là cái thứ chơi bời mặt chai mày đá hổng còn biết mắc cở mắc kiếc gì nữa hết!

Bác Tám thở dài não nuột rồi nắm lấy tay anh ta hất hàm chỉ vào phía hàng rào dây kẽm gai:

– Nè chú Tư, chú làm ơn bình tĩnh nhìn kỹ lại coi tụi mình đang ở đâu đây? Tụi mình đang ở tù chớ bộ vợ chồng thằng quan hai cũng ở tù ”mêm sối” như qua với chú em sao hả?

Tư Cầu nhìn trân dãy hàng rào dây kẽm dài bịt thẳng tắp và cao nghệu, và còn ráng nói thêm bằng một giọng không giấu vẻ chán chường:

– Nhưng con Ba vợ của thằng hai nó quen với tui… bộ bác hổng biết hay sao…

Bác Tám thở ra rồi lắc đầu:

– Biết và biết lâu rồi! Cũng vì chỗ đó mà qua muốn nhắc nhở cho chú em để ý một chút. Chắc chú em cũng thấy ngay rằng: dầu bà quan hai ”còn” là người quen của chú em, nhưng chú em “đâu còn” tự tung tự hoành được như hồi ở ngoài đời! Kẹt là kẹt ở chỗ đó đa chú Tư!

Tư Cầu nghĩ cũng thấm ý nên làm thinh, mặt mày ủ rũ, nhưng một hồi lâu sau, như bực mình trở lại về một chuyện gì, anh ta mới ngước mắt lên “tuôn” một hơi với bác Tám:

– … Nhưng con Ba nó cũng làm bộ chó nó! Bác coi nó bẹo hình bẹo dạng trước mắt mình như vậy mà hổng tức sao được! Bác đứng ở ngoài bác nói giỏi, chớ thử thời bác đứng vào địa vị của tui rồi bác mới biết đá biết vàng.

Bác Tám cười dài rồi khoan thai hỏi lại anh ta:

– Chú em nói vậy… mới nghe thì cũng xuôi tai lắm nhưng qua xin hỏi chú em một câu này: hiện giờ chú em hay thằng quan hai là chồng của bà quan hai hả?

Tư Cầu nhăn nhó đáp:

– Thì cố nhiên là thằng quan hai…

Bác Tám chận hỏi liền thêm:

– Nghĩa là chú em hổng phải là chồng của bà hai chớ gì? Được rồi… bây giờ qua xin hỏi chú em một câu nữa: ở trong nầy, chú em là “sếp” hay thằng quan hai là “sếp”?

Tư Cầu bực mình nói sẵng:

– Bộ bác muốn hỏi dộng đầu dộng óc tui sao chớ: tui cũng như bác, tụi mình đều là những đứa ở tù thì “sếp” cái khỉ khô gì được với thằng qua hai chớ!

Bác Tám thân mật vịn vai anh ta và nhỏ nhẹ nói tiếp:

– Đọ, chú em thấy không: cái chuyện đời nó… chó đẻ như vậy, nên mình cũng phải ăn theo thuở, ở theo thì. Qua nói đây là nói thiệt tình, qua thương chú em hổng hết chớ qua nỡ lòng nào nói châm nói chọc chú em! Qua phá chú em thì có lợi lộc gì đâu hay có dìa nhà sớm được ngày nào đâu?

Tư Cầu lặng thinh ngồi xệp xuống đất, rồi lơ đãng đưa mắt nhìn theo một con bướm sắc màu sặc sỡ đang chập chờn bay lên đáp xuống trên chùm bông ngải…

Mấy ngày kế tiếp sau đó, mỗi khi cùng bác Tám lên làm trên phía nhà viên quan hai, Tư Cầu tìm mọi cách để lánh mặt con Ba.

Có một lần bị con Ba theo riết quá, Tư Cầu bực mình hỏi sẵng lại:

– Bà hai muốn sai biểu tui cái chi mà theo tui tò tò hoài… (rồi anh ta day qua kêu bác Tám) Nè bác Tám ngày mơi bác làm ơn nói với ban đại diện cho tui ở nhà hoặc đổi đi làm ở sở khác nghen bác!

Con Ba chưng hửng hỏi liền:

– Coi, bộ anh điên rồi sao hả anh Tư? Cái gì mà khi không anh ăn nói sao nghe chướng tai quá!

Tư Cầu cười lạt:

– Tại bà hai hổng muốn chịu hiểu chớ! Đời có nhiều chuyện còn chướng gấp vạn lần như vậy nữa mà người ta vẫn như thường kia mà!

Con Ba bực tức giậm chân xuống đất:

– Trời ơi, bộ cái gì nhập ảnh rồi sao mà!

Đoạn nhớ trực lại còn có bác Tám đứng cách đó không xa, con Ba tiến lại hỏi liền:

– Nè bác Tám, sao bữa nay anh Tư ảnh làm cái gì mà kỳ cục quá vậy bác?

Bác Tám lấm lét nhìn về phía Tư Cầu và ấp úng đáp:

– Dạ… dạ thưa bà hai, dạ chú Tư nó hôm nay chắc hơi… ể mình.

Con Ba đứng chống nạnh ngó chăm bẳm về phía Tư Cầu một hồi lâu, rồi như nghĩ ra được điều gì nó cười lạt hất hàm hỏi bác Tám:

– Sao bác, thiệt ra ảnh đau cái chứng bệnh gì bác làm ơn nói cho tôi rõ coi? Tôi coi bộ mấy người tính giấu tôi chuyện gì đây!

Bác Tám rụt rè đáp:

– Dạ… chú Tư chú ở trong nầy mà nhiều khi chú lại quên lửng là chú… ở trong này.

Con Ba sốt ruột hỏi phăng tới:

– Cái gì mà bác nói lằng nhằng như vậy. Bác cứ nói huỵch tẹt ra cho tôi nghe coi!

Bác Tám có vẻ lúng túng:

– Dạ thưa bà hai, hổng nói giấu gì bà hai: chú Tư chú có thuật lại cho tui nghe cái chuyện chú… quen với bà hai hồi ở trên Nam Vang…

– Ừ thì cái đó… có! Nhưng quen rồi… sao nữa bác Tám? Và việc ấy có ăn thua gì đến cái vẻ mặt chầm dầm của ảnh hồi nãy không hả?

– Dạ… cũng hơi ăn thua chút chút.

Con Ba nhăn nhó chắc lưỡi:

– Trời ơi, bác nói đại ra cho tôi nghe coi có được không? Cái gì mà bác cứ đi lòng vòng hoài vậy!

– Dạ, cái chuyện nầy cũng hơi khó nói. Xin bà hai bỏ lỗi cho trước thì tui mới dám…

– Thì tôi hỏi bác chớ bộ khi không bác khai ra hay sao mà bác sợ mích lòng mích bề!

Bác Tám suy nghĩ một hồi như để lựa lời làm sao cho con Ba vừa hiểu được mà vừa khỏi phải nói thẳng quá:

– Dạ thưa bà hai, coi vậy chớ chú Tư chưa quên cái thời chú ở trên Nam Vang và ngày nay chú lọt vô đây, rồi chú gặp bà hai lại…

Con Ba sốt ruột chận ngang:

– Coi, có gặp lại tôi trong hoàn cảnh nầy đáng lẽ ảnh mừng dữ lắm mới phải!

Bác Tám chụp nói liền:

– Dạ bị chú mừng lung lắm nên bây giờ mới… chù ụ như vậy!

Liếc thấy con Ba cau mày nhíu mặt có vẻ bực mình bác Tám sợ bị cự nên vội tiếp lời:

– Dạ, ban đầu thì không sao hết, chú Tư chú mừng rơn trong bụng, nhưng kẹt một nỗi là chú lại quên rằng ngày nay bà hai đã có… ông hai và ông hai là “sếp” bao trùm cả trại giam nầy, mà chú Tư nó lại ở tù trong cái trại giam của ông hai…

– Coi, ông hai ổng có bắt bớ gì ảnh đâu! Ổng chỉ có phận sự coi sóc ở đây và ai đâu khác đã đưa anh Tư đến chỗ này. Tôi tưởng như vậy là hên cho ảnh lắm chớ bác!

Bác Tám rụt rè cười đáp:

– Dạ hên thì cũng có hên, nhưng rồi sau đó lại kẹt… Đã đành rằng bà hai ở với ông hai là lẽ tự nhiên nhưng đôi khi chú Tư chú lên đây làm rồi chú thấy… gia cảnh của bà hai như vậy chú cũng… hơi tủi thân.

– Tủi khỉ gì vậy! Tôi tưởng ảnh đâu còn lạ gì đời sống của tôi từ trước. Cái điều nầy tôi chắc cũng có lúc ảnh thuật qua cho bác nghe rồi phải không?

– Dạ cũng có nhưng… tui nói đây là… khó nói cho hết lời được. Bà hai nghĩ lại coi: cái thân chú Tư nó là cái thân tù tội cho nên có lúc chú lên đây thấy bà hai với ông hai… đầm ấm quá đỗi nên chú đâm ra tủi phận, chú nhớ lại hồi nào chú cũng vậy mà bây giờ phải đứng chết cứng ở đó mà giương mắt ếch lên ngó. Đọ, tui nói tủi là tủi ở chỗ đó đa bà hai.

Con Ba thở ra như trút một gánh nặng:

– Xời ơi, có vậy mà bác cứ đi ba đồng bảy đổi hoài làm cho tui nóng ruột gần chết. Như cái điệu bác nói đó thì anh Tư ảnh… ghen chớ tủi khỉ khô gì!

Bác Tám gượng cười đáp:

– Dạ… thì cũng na ná như vậy! Thưa bà hai, từ ghen tới tủi đâu có mấy hồi…

Con Ba cười mủm mỉm nói:

– Thiệt cái tánh của thằng chả khó khăn đố ai bì kịp. Tôi tưởng cái gì khác chớ nếu có bấy nhiêu đó mà thằng chả làm mặt giận mặt hờn với tui thì để tui làm tới nữa cho thằng chả biết một phen!

Bác Tám hốt hoảng kêu lên:

– Ý trời đất ơi, bà hai làm như vậy hổng nên, chú Tư chú dám thí mạng cùng mà rồi cái thân già của tôi đây cũng mang họa lây! Bà hai hổng thấy sao: may mà mới có sơ như vậy, chú Tư chú đã sanh chứng huống hồ gì bà hai còn mần tới nữa thì tui hổng biết đâu mà lường trước được!

– Thì bác để tôi thử một chuyến coi! Có làm như vậy mới trị được thằng chả!

– Chuyện gì thì tui hổng dám xía vô chớ chuyện nầy tui xin mạn phép can bà hai. Bà hai từng… quen biết với chú Tư, bà hai còn lạ gì tính nết của chú: ngày thường thì chú hiền khô và nhiều lúc lù khù như con ngủ ngày, chớ khi chú nổi xung lên rồi thì trời cản bây giờ chú cũng nhào tới! Tui xin bà hai nghĩ tình thương hại giùm cho chú, bà hai hổng biết chớ khi con người ta ở tù lâu ngày rồi thì tánh nết nó cũng đâm ra bất thường lắm… tui tưởng bà hai không nên chấp nhứt chú làm gì!

Con Ba mỉm cười một cách bí hiểm:

– Chuyến nầy thì ảnh khỏi phải nóng mũi gì hết! Cái thằng cha như vậy mà ghen ác nhơn sát đức chớ! (rồi nó niềm nở dặn bác Tám thêm) Nè bác Tám, bác nhớ chiều về trại lấy một mớ thuốc bánh hút nghen! À còn cái cái nầy nữa… khi nào bác thèm chút đỉnh rượu, bác nói với tôi, tôi mua cho mà nhậu chơi, nhưng có uống thì uống cho cạn ở trên này chớ đừng đem về trại rồi… làm tùm lum tùm lê lên, ông hai ổng hay được chết tôi đa!

Bác Tám gật đầu lia lịa:

– Dà… dà… điều đó bà hai khỏi phải căn dặn tui cũng lo giữ kỹ để còn lai rai lâu dài được chớ!

Nói xong bác hớn hở xách mạnh thùng nước lên đi xăng xái về phía trước sân…

Một buổi sáng nọ, trong lúc Tư Cầu và bác Tám đang lui cui nhổ cỏ trước sân thì thấy viên quan hai đi xe díp chạy thẳng ra cổng ngoài.

Tư Cầu nghển cổ ngó chừng theo chiếc xe và hỏi bác Tám:

– Ủa “thằng hai” nó đi đâu sớm vậy bác?

Bác Tám vẫn không ngừng tay nhổ cỏ:

– Sớm khỉ gì nữa! Ối, nó đi ra ngoài hà rầm, mình ở trong nầy có biết đằng nào đâu mà rờ! Chú làm ở đây cũng khá lâu rồi bộ chú hổng thấu sao?

– Có chớ sao không, nhưng bữa nay tui thấy nó ăn bận đồ lớn nên tui mới hỏi bác.

– Ừ, chắc nó đi hội đi nhóm gì với mấy ông bự của nó chớ gì! (đoạn bác phủi tay đứng dậy) Mà thôi, nó đi rồi thì tụi mình ở đây cũng… thăng luôn! Thôi, thả rề lợi phía đằng sau kiếm nước trà nóng rồi hút thuốc chơi chú Tư!

Tư Cầu vẫn chưa chịu đứng dậy:

– Thì để nhổ cho sạch ba cái cỏ nầy đã bác!

Bác Tám thở hắt ra một hơi dài:

– Ý trời ơi, chú mà làm sạch trơn cỏ rồi mai mốt đây lấy cái gì để cho mình nhổ nữa chớ! Mình chỉ bứt cầm chừng cầm chìa cho nó qua ngày đoạn tháng và cho cỏ nó đủ thời gian mọc lên thêm để cho tụi mình nhổ tiếp nữa chớ chú! Chú làm như mai nầy hai anh em mình xách gói ra dìa vậy!

Tư Cầu cười xòa rồi uể oải đứng lên:

– Thôi tui xin nghe lời bác dành ba mớ lợi đó để… phòng thân! Thiệt ba thằng Tây bắt chi thứ tụi mình để nuôi cho tốn cơm gạo lức hổng biết!

Bác Tám níu tay Tư Cầu lôi đi:

– Nếu nói như chú vậy thì hết chuyện rồi!

… Vô đến dãy nhà bồi bếp, Tư Cầu và bác Tám đi xin hai tô nước trà Huế rồi tìm chỗ ngồi dựa lưng nghỉ.

Trong lúc hai người đang phì phèo hút thuốc và trầm ngâm nhìn theo mấy con chim én bay lượn trên bầu trời trong xanh, thì con Ba ló đầu ra ngoài cửa sổ lầu gọi lớn lên:

– Anh Tư, bác Tám ơi!

Bác Tám vội đứng phắt dậy:

– Bà hai kêu tụi tui?

Con Ba nghiêm trang gật đầu:

– Phải, tôi nhờ hai người lên đây làm việc nầy một chút!

Bác Tám lấy tay khều Tư Cầu:

– Đứng dậy chú Tư! Bà hai bả kêu mình lên mần cái gì kìa.

Tư Cầu vẫn ngồi nguyên một chỗ:

– Thì bác đi một mình cũng đủ rồi mà?

Ở trên lầu con Ba nghe được câu ấy nên làm bộ cau mặt hối luôn:

– Đi cả hai người mới được! Tôi nhờ khiêng tủ mà!

Bác Tám xăng xái bước đi và ngoắc Tư Cầu:

– Khiêng tủ mà chú Tư! Một mình qua thì qua rê sao nổi!

Tư Cầu chậm rãi hít một hơi thuốc chót liệng mạnh cái tàn vào kẹt nhà, rồi khệnh khạng đứng lên đi theo bác Tám lên lầu…

Bác Tám và Tư Cầu vừa lên tới giữa thang lầu thì thấy con Ba bước ra đứng đợi ở phía trên, một tay ôm một con sóc nhỏ và một tay cầm chùm nho tươi để cho con vật thò đầu sang rứt rứt ăn từng trái một…

Như yên tâm vì đã có Tư Cầu lên theo cùng với bác Tám, con Ba khoan thai đem con sóc và chùm nho bỏ trả vô chiếc lồng lưới sắt sơn xanh đặt ở ngoài hành lang lầu. Đoạn nó mở bét cửa buồng ra, đứng nép sang một bên rồi nói:

– Đây, tôi nhờ bác Tám với anh Tư khiêng giùm tôi cái tủ nầy…

Con Ba bỏ lửng giữa câu để ngó qua một vòng đồ đạc trong phòng như cố tìm một cái tủ nào khả dĩ còn có thể xê dịch đến một chỗ khác được.

Bác Tám bước vô buồng và mau miệng hỏi:

– Dạ, thưa bà hai… trong buồng theo ý của tui thì cái nào cũng ở… phải chỗ của nó hết. Dạ dầu cho bà hai có muốn dời cái nào đi nữa thì cũng chỉ đổi chỗ qua đổi chỗ lại chớ không có cách nào khác hơn hết!

Nghe bác Tám nói như vậy, Tư Cầu cũng tò mò liếc mắt nhìn gian phòng. Bỗng nhiên anh ta có một cảm giác khó chịu khi nhận thấy những đồ đạc sang trọng bày ở trong ấy: bàn ghế tủ giường toàn là kiểu tân thời đánh vẹc-ni bóng lộn…

Anh ta cau mặt nhìn một hồi lâu chiếc giường ngủ thấp lùn, rộng “mênh mông đại hải”, trên có trải ra trắng tinh, hai cái gối tai bèo to nằm song song với nhau trên đầu giường và một cái gối dài để chận ở phía dưới… Như bực mình thêm vì những chiếc gối nằm sóng sượt ra trên đó, Tư Cầu quay phắt đi để nhìn về hướng mấy cái tủ. Trong phòng chỉ có vỏn vẹn hai cái tủ: một cao có mặt kiếng soi ở một bên cánh cửa và một thấp gồm toàn là ngăn kéo: Tư Cầu nhận thấy cái nào cũng đều ở đúng chỗ phải đặt của nó và nay dầu có muốn khiêng dời đi thì cũng chẳng có nơi nào khác cho thật vừa ý hơn.

Nhận xét như vậy và thấy con Ba cũng còn đang phân vân chưa biết phải dời món nào, Tư Cầu đâm ra hoài nghi. Anh ta mím môi nhìn chầm chập vào mặt con Ba như để dò xét.

Con Ba lúng túng nhìn quanh rồi chỉ đại cái bàn phấn cho bác Tám và nói tỉnh khô:

– Tôi tính nhờ bác Tám với anh Tư phụ lực vô khiêng cái bàn phấn này đem đi chỗ khác giùm tôi.

Bác Tám nhìn sững cái bàn thấp lùn có tấm gương soi hình tròn ở phía trên và với vô số chai lớn chai nhỏ, hộp vuông hộp tròn bày lủ khủ trên mặt bàn có lộng một miếng kiếng dầy. Bác nheo nheo đôi mắt rồi nói:

– Dạ thưa bà hai, theo tui nghĩ: cái bàn… “dồi phấn” nầy để ở chỗ đó thì nhứt hạng rồi. Dạ, chỗ đó gần cửa sổ sáng trưng thiệt không đâu hơn được đó bà hai.

Tư Cầu nghe bác Tám nói có lý như vậy bắt cười khan một tiếng nho nhỏ.

Con Ba đảo mắt liếc xéo anh ta rồi trả lời bác Tám một cách châm bẩm:

– Tôi muốn dời nó đi đâu tôi biết mà! Trên đầu tấm gương có gắn đèn điển thì tối với sáng có ăn nhằm gì mà bác nói cho mắc công hổng biết nữa!

Bị cự, bác Tám cuống quít nói gỡ:

– Dạ tui nói là nói vậy chớ tùy ý bà hai muốn dời đâu thì tụi nầy hè nhau khiêng cái rụp liền. Cái bàn nầy nhẹ xều mà! (đoạn bác day sang phía Tư Cầu) Chú Tư tiếp qua một tay chú!

Tư Cầu vẫn đứng lựng khựng một chỗ:

– Ối, có cái bàn chút xíu đó, một mình bác rê đi cũng đủ rồi mà!

– Coi, chú hổng thấy mấy chai đầu thơm, son phấn để lển nghển ở trên bàn đó sao! Qua mà kéo một cái là nó đổ vãi ra hết.

Tư Cầu đành bước lại đặt tay vào nắm lấy mép bàn dở hổng lên. Anh ta ngó con Ba rồi hỏi trống không:

– Bây giờ khiêng đem đi đâu nè?

Con Ba chỉ vào phía trong:

– Đem vô để trong góc kia giùm tôi, chỗ gần cái tủ đứng đó!

Tư Cầu quay sang bác Tám:

– Đi bác, khiêng phứt cho rồi để còn xuống làm công chuyện khác chớ! Ứ hự, ở chỗ sáng trưng hổng muốn lại đòi dời vô chỗ tối hù!

Nghe nói như thế, con Ba cười mủm mỉm nghiêng đầu nghìn theo Tư Cầu đứng khom lưng cùng với bác Tám lúc thúc khiêng bàn phấn đặt vào chỗ mới.

Xong xuôi đâu đó, Tư Cầu đưa tay ngoắc bác Tám:

– Thôi mình đi xuống bác!

Con Ba vội chạy lại đứng chận ở cửa:

– Ý khoan đã! Tôi còn nhờ thêm một việc nầy nữa mà! (rồi nó quay sang bảo bác Tám) Nè bác, tôi nhờ bác chạy xuống dưới nhà lấy lên kềm búa và một mớ đinh bốn năm phân gì đó, để tôi… cậy anh Tư đóng giùm tôi mấy chỗ nầy nữa…

Bác Tám chưa kịp trả lời thì Tư Cầu đã lách mình xông tới trước:

– Nè bác Tám, bác ở trên nầy đi, để tui xuống dưới lấy đem lên cho!

Nhưng con Ba vẫn đứng chận ở cửa và ngó bác Tám lườm lườm:

– Bác Tám đi lấy giùm tôi đi bác! Bác biết chỗ, chớ anh Tư đây có biết đâu! Đi đi bác!

Con Ba vừa nói vừa hất hàm như để hối thúc thêm bác Tám. Bác ta đứng lớ ngớ ở đó một đôi giây rồi thở dài bước ra khỏi cửa.

Thật tình bác cũng chẳng rõ chỗ để kềm búa ở đâu! Hơn thế nữa, khi nhận thấy con Ba hối bác đi và một hai giữ Tư Cầu ở lại, bác càng thêm rối ruột rối gan không biết tìm cách gì để “giải vây” cho người bạn trẻ tuổi ấy.

Đi được hai bước, bác quay vụt trở lại, và cũng vừa lúc đó con Ba đang vói tay đóng cửa. Bác vội kêu lên:

– Dạ thưa bà hai!

Con Ba ngừng tay lại, ló đầu qua kẹt cửa, cau mặt hỏi:

– Gì nữa đó bác?

Bác Tám ấp úng:

– Dạ… chỗ để kềm búa… tôi cũng chưa rành…

– Hứ, có vậy mà cũng kêu giựt ngược người ta lại! Bác không biết thì xuống hỏi mấy anh em ở dưới nhà.

– Dạ ở dưới nhà chắc cũng hổng có gì trước đây đã có lần tui tính mượn để đóng guốc… Dạ mấy thứ đó bên công xưởng mới có…

Con Ba cằn nhằn:

– Thì bác làm ơn đi tuốt qua bển mượn không được sao? Thôi đi giùm tôi một chút bác! (nhưng rồi nó lại cười một cách đầy ẩn ý và chậm rãi nói tiếng) Mà bác cũng cứ thủng thẳng nghen! Công việc nầy cũng không gấp mấy… tôi còn nhờ anh Tư xếp dọn lại cái nầy nữa…

Đoạn nó đóng sập cửa lại…

Bác Tám định nói thêm nữa nhưng không kịp. Bác nhìn trân trối vào cái nắm cửa hình hột xoài đang từ từ xoay qua một vòng rồi ngừng hẳn, và bác toát mồ hôi khi nghe có tiếng chìa khóa rột rẹt trong ổ… tiếng cái chốt cửa bật qua nghe cái “cắc”… rồi tiếng chìa khóa bị rút tuột ra…

Bác lắc đầu năm bảy cái để định thần lại, rồi lẩm bẩm nói một mình như than như thở:

– Ý trời ơi! Cái điệu nầy thì nguy cho chú Tư nó đến nơi rồi còn khỉ gì! Hèn chi bả bày đặt sai mình đi lấy kềm lấy búa: kềm búa ở tuốt bên công xưởng, và chắc bà nội đó bả cũng dư biết là mình không thể léo hánh sang bên đó được!

Bác luýnh quýnh đi tới đi lui trong hành lang lầu như gà mắc đẻ, rồi chạy tuốt ra phía cửa sổ trước nhà ngó mông dưới đường để… chắc lưỡi liên hồi:

– Cha, rủi thẳng hai nó trở dìa bất tử thì trời xuống đây bây giờ cản nó cũng hổng nổi! Sao chú Tư hồi nãy chú hổng vọt mẹ chạy xuống lầu cho rồi. Mình biết trước là thế nào cũng có ngày nầy thì đúng y là… có cái ngày nầy!

Vừa lúc đó, nghe có tiếng giựt cửa rầm rầm đằng phía buồng ngủ của con Ba nên bác quầy quả chạy trở lại. Bác định lên tiếng hỏi Tư Cầu nhưng rồi lại không dám. Bỗng có tiếng la hét của anh ta vọng ra khiến bác nghiêng tai sát gần thêm cánh cửa một chút nữa. Cái hột xoài cửa lại bị vặn, bị giựt nghe rầm rầm, rồi có tiếng Tư Cầu quát tháo ở trong phòng:

– Có mở cửa ra hông tui đạp bể tung hết bây giờ?

Tiếng nhỏ nhẹ của con Ba đáp lại:

– Anh Tư, anh sao kỳ quá! Thì có cái gì để thủng thẳng rồi mình tính với nhau chứ chưa chi anh dộng cửa ầm ầm như vậy đã không có ích gì mà còn nguy hiểm nữa là khác! Đây, em hỏi anh, rủi lính canh ở dưới nghe thấy, tụi nó chạy lên đây hỏi rồi anh tính làm sao nè?

Bác Tám nghe câu hỏi đó cũng bắt… ớn xương sống và bác lắng tai kỹ để coi Tư Cầu trả lời ra sao…

Mãi một hồi lâu sau, bác mới nghe tiếng Tư Cầu và lần nầy hết còn hung hăng như trước mà có vẻ rụt rè lo ngại và có giọng thở than:

– Đọ, anh đã nói mà em hổng chịu nghe, em làm như vậy rủi tụi lính nó lên rồi biết trả lời ra sao bây giờ? Còn ông nội quan hai nữa! Cái điệu nầy là em đưa đầu anh cho tây nó nã đạn vô chớ thương yêu, nhớ nhung cái gì mà… ác nhơn sát đức dữ vậy!

Có tiếng con Ba cười nho nhỏ rồi một giọng nói ngọt như mía lùi đáp lại lời Tư Cầu:

– Anh khéo lo thì thôi! Em nói như vậy chớ thử thời tụi lính canh có nghe động chạy lên em cũng dư sức trả lời! Bất quá em nói em nhờ anh đóng sửa cái bản lề hay cái ống khóa cửa… Đó là cách thứ nhất và còn một cách thứ hai nữa anh còn muốn biết không hả anh Tư?

Tiếng của Tư Cầu rụt rè hỏi lại:

– Còn cách gì nữa em nói phứt đi để mình… liệu coi cái nào hay hơn hết.

– Anh muốn biết hả? Cách nầy thì… sẵn đây vui miệng em nói luôn chơi chớ… hổng có xài đến đâu! Đây nè, nếu em ác và nếu anh… không biết điều, có tụi nó lên em sẽ nói… em sẽ nói là anh khóa cửa lại để làm hỗn với em, em chống trả nên chạy vuột ra đập cửa rầm rầm để kêu cứu đó! Em nói sơ sơ như vậy anh nghe có lý hông?

Ở ngoài nầy bác Tám nghe con con Ba nói như thế bác cũng đủ mướt mồ hôi trán. Và bác không lấy gì làm lạ khi nghe Tư Cầu kêu lên mấy tiếng gần như thất thanh:

– Ý trời trời… em nói giỡn hay là nói thiệt đó? (nhưng rồi giọng nói của anh ta trở nên hơi hơi cứng cỏi, dường như là ráng làm tỉnh lại) Nhưng em nói dựng đứng như vậy chưa chắc tụi nó tin em, còn anh đây nữa chi? Bộ anh hổng có miệng hay sao?

Tiếng con Ba cười giòn tan:

– Thôi đi tía non! Thôi đi cưng ơi, cưng đừng làm ra bộ là khôn khéo hơn người ta… Thì đây, nếu em muốn cho tụi nó tin chắc cứng lời em thì dễ ợt mà! Anh coi, em làm như vầy nè… nè…

Bác Tám nghe tiếng nút áo tuột mạnh ra khỏi khuy kêu bừng bực, rồi tiếng rơi “xạch” của một vật gì, ý chừng cũng nhẹ nhàng lắm, bị liệng xuống sàn gạch bông gần sát một bên cánh cửa.

Giọng nói đỏng đảnh của con Ba lại vang lên:

– Rồi em vò cho rối nùi tóc tai nữa nè… Rồi em… nè anh Tư anh muốn hông, em làm tới cho mà coi! Còn cái nầy nữa nè… em…

Có tiếng Tư Cầu hớt hải chận ngang:

– Thôi, thôi em Ba ơi! Nội bấy nhiêu đó cũng đủ chết anh rồi… (rồi bác Tám nghe Tư Cầu kêu ú ớ) Coi coi… bộ em tính… Tội nghiệp anh mà em!

Tiếng con Ba cười rộ lên, kế tới một giọng nói ra vẻ chanh chua:

– Cha! Ở trong nầy lâu ngày chầy tháng thèm thấy mồ bây giờ người ta đem dưng tới miệng còn làm bộ mại hơi hoài! Anh thiệt anh hổng thèm phải hông? Anh ngon anh nói một cái một đi! Khoái chí tử mà còn làm bộ nói “tội nghiệp”!

Tiếng Tư Cầu ấp úng van nài:

– Thôi mà em, em nói nặng nói nhẹ anh làm gì! Hổng nói giấu chi em trong hoàn cảnh tù tội… khô đói mà gặp dịp như vầy là… nhứt hạng rồi còn gì nữa! Nhưng em hổng ngó lại sau lưng: rủi thằng nào nó thấy nó đi thọc bậy một cái thì kể như đời của anh tàn gấp, hay là rủi ông quan hai ổng trở dìa bất tử thì… mạng của anh kể như “dĩ tiệt”…

Giọng của con Ba đáp lại vẫn không có vẻ gì nao núng mà còn như thêm cả quyết nữa là khác:

– Mốc xì họ! Thằng quan hai nó đi hội ít lắm cũng tới một giờ trưa mới về, bộ anh nói em… làm ẩu hay sao? Còn cái chuyện “có ai khác” thấy thì anh khỏi lo, hay nếu có, thì chỉ có bác Tám biết được thôi! (rồi con Ba cười nói tiếp một cách như đắc ý lắm) Ví dầu bác có thấy cũng hổng sao mà còn vững bụng thêm nữa!

– Ý trời ơi, ông già ấy ổng khó giàn trời mây! Chuyến nầy ổng biết ổng xài xể cho anh nghe, tàu ghe nào mà chở cho hết!

– Em đã nói: có bác mình thêm vững, có bác thì dầu muốn dầu không bác cũng phải canh chừng giùm cho hai đứa mình, kẻo rủi ra có bề gì thì bác cũng bị họa lây chớ bộ giỡn sao! Ông già đó ổng rành đời lắm thế nào mà ổng chẳng thấy cái chỗ “lợi hại” đó! Em nói như vậy có đúng không cưng?

Bác Tám nghe bấy nhiêu lời đó bắt nổi xung lên. Bác giơ tay lên định đập cửa kêu Tư Cầu để phá đám cho bõ ghét, nhưng rồi bác lại lắc đầu thở dài buông thõng tay xuống rủa thầm trong bụng:

– Thiệt là mình già mà còn bị mắc mớp con quỷ cái! Nó cao tay ấn quá cỡ như vậy hèn chi tây tà gì nó cũng xỏ mũi ráo nạo chớ đừng nói chi cỡ chú Tư!

Bỗng có tiếng Tư Cầu, giọng đứt khoảng vang ra, ban đầu còn cự nự, rồi như van nài, rồi như chống chỏi, rồi như… chịu thua luôn:

– Coi, em làm gì kỳ vậy!… Cha, để khi khác hổng được sao em!… Anh nói hổng được mà! Ứ hự, cái điệu nầy… em hại anh có ngày…

Bác Tám không nghe con Ba nói năng gì hết mà chỉ có tiếng “ngừ ngừ” như khi bậm môi nghiến răng, văng vẳng lọt ra…

Bác thở hắt ra một hơi dài, lắc đầu nhún vai rồi nhón gót bước nhẹ về phía cửa sổ để canh chừng lối ra vào phía trước nhà… Bác Tám đứng trên cửa sổ lầu hết ngó mông ra phía dưới đường đến trông chừng về phía cửa buồng của con Ba. Bác sốt ruột móc thuốc ra vấn hút, nhưng bác chỉ bập bập được một vài hơi rồi liệng mạnh điếu thuốc xuống lầu.

Bác tháo chiếc khăn tắm quấn nơi cổ ra lau mồ hôi trán rồi lẩm bẩm than thở một mình:

– Thiệt là “tiền oan nghiệp chướng” gì á! Ai ăn dộng, ai sung sướng gì đâu hổng biết mà bắt thằng già nầy lo méo mặt! May mà bà nội đó bả khéo canh cái ngày thằng quan hai nó đi hội, chớ hông thôi mình đây cũng… xón ra trong quần chớ phải chơi…

Rồi bác vừa ngáp dài vừa vung vai một cách khoái trá… Bỗng có tiếng con chó bẹc-giê kêu ử ử và sủa gâu gâu như đón mừng ai ở dưới sân sau nhà. Bác Tám vội chạy ra phía cửa sổ ở phía sau lầu để vừa kịp thoáng thấy viên quan hai bước vô nhà và con chó thì nhảy chồm chồm một bên chân chủ của nó.

Bác tái mặt chạy a lại buồng con Ba và đưa tay lắc lia lịa cái quả nắm hột xoài:

– Bà hai ơi, chết rồi!… Ông hai dìa tới dưới nhà kia kìa! Tư ơi Tư mau đi…

Bác chưa nói được hết câu thì đã nghe có tiếng giày của viên quan hai nện thình thình trên mấy bực thang lầu.

Bác lại lắc lắc cái hột xoài và hớt hơ hớt hải báo động:

– Tới rồi bà hai ơi!

Tiếng viên quan hai xua đuổi con chó vọng lên càng làm cho bác Tám quýnh ruột, trong lúc ấy cánh cửa buồng của con Ba vẫn chưa mở ra.

Bác Tám bỗng ngó thấy con sóc đang nhảy nhót trong lồng, và một ý hay thoáng qua óc bác: bác vội vàng chạy lại mở toang lồng thò tay vào lôi tuột con sóc ra, thả nó xuống sàn gạch rồi giơ tay xua xua cho nó chạy xuống phía thang lầu.

Vừa lúc đó viên quan hai cũng vừa ló lên. Con chó bẹc-giê thoáng thấy con sóc liền sủa vang rân và hăng hái vồ tới đuổi bắt… Con sóc hoảng sợ vừa kêu chéc chéc vừa nhảy phóc lên mặt bàn để gần đó rồi phóng luôn lên cái mắc áo trên tường.

Viên quan hai sợ con chó vật chết con vật quý yêu của vợ nên vội xông tới nắm lấy chiếc vòng da đeo cổ của con chó ghịt giữ lại, rồi ông ta vừa quát tháo om sòm vừa chỉ chỏ mấy cái cửa sổ vì có ý sợ con sóc phóng ra mất.

Bác Tám vội chạy lại phía cửa sổ và lừa lúc ấy, Tư Cầu cũng ở trong buồng hé cửa ló mặt ra có ý nghe ngóng động tĩnh. Bác Tám chạy xớt qua thấy vậy vội chụp tay anh ta lôi ra luôn:

– Chạy mau ra đóng cửa sổ phía đằng trước kia tía nội!

Tư Cầu vuốt sơ lại mớ tóc xõa trước trán rồi làm tỉnh bước ra phóng nhanh về phía cửa sổ trước lầu. Đến ngang chỗ viên quan hai đứng giữ con chó, anh ta chạy bét bét ra và lấm lét ngó chừng sắc mặt của ông ta. Tiếng quát “mau lên” của ông nầy làm cho anh ta giựt mình nhưng yên tâm vì… mọi sự đều được bình an.

Trong lúc đó con Ba ở trong buồng khoan thai bước ra, rồi làm ra vẻ mừng rỡ chạy a lại phía viên quan hai, nhưng khi thấy mặt mày ông nầy có vẻ châm bẩm, cô ta hơi chột dạ. Cô ta vội đưa mắt tính kiếm bác Tám để dò coi việc gì đã xảy ra, nhưng bác nầy đang lui cui đóng cửa sổ. Vừa lúc đó viên quan đã lên tiếng gọi nó và chỉ lên phía chiếc mắc áo. Con Ba ngẩng vội đầu lên nhìn và khi thấy con sóc ngồi co ro trên ấy, cô ta phát cười to lên rồi chạy lại chìa tay lên. Con sóc không do dự gì hết nhảy phóc xuống lòng bàn tay chủ, rồi bò mau theo cánh tay để xuống đeo cứng nơi ngực con Ba như có ý muốn được che chở.

Con Ba vừa vuốt ve con vật vừa đả đớt nói nựng:

– Sao con chạy đi đâu vậy! Bộ con chó dịch vật đó nó muốn ăn thịt con hả?… Ui cha tội nghiệp dữ hông!

Đoạn nó đem nhốt con sóc vào lồng…

Vừa lúc ấy, bác Tám đã bước đến dừng liền một bên.

Con Ba kiếm chuyện hỏi bác:

– Nè bác Tám, tôi nhớ hồi nãy tôi đã khóa cái chốt cửa lồng lại rồi mà!

Bác Tám cười như mếu:

– Dà phải đa, nhưng cũng nhờ có con sóc này… sút chuồng kịp lúc… Dạ nhờ vậy mà có ông hai phụ lực kềm giữ con chó tây và… và chú Tư nó kịp chạy đi đóng cửa sổ phụ với tui, chớ không thôi thì…

Con Ba đỡ lời bác liền:

– … Thì con sóc cưng của tôi chạy mất chớ gì. (rồi nó nháy nháy mắt ra hiệu rằng mình đã hiểu ý bác Tám và đon đả nói tiếp) Cha, tôi cám ơn bác Tám nhiều lắm nghen! Thiệt cũng nhờ bác…

Viên quan hai đã tiến đến khoác tay vợ và con Ba cũng vội quay lại mỉm cười, mặt mày tươi rói.

Bác Tám thấy ông ta hất hàm về phía bác và Tư Cầu rồi xì xồ hỏi con Ba, con nầy lanh miệng đáp lại một hơi và giơ tay chỉ chỏ tủ bàn trong buồng. Viên quan hai gật gù ra vẻ hài lòng rồi bế thốc con con Ba lên lòng để vừa gầm gừ vừa hôn hít làm cho con này có lúc cười hăng hắc, có lúc kêu ai ái…

Thấy vậy bác Tám ngoắc Tư Cầu lại rồi cả hai len lén bước xuống thang lầu.

°   °
°

Ra đến sân sau bác Tám mới đứng lại, chống nạnh lên, chậm rãi hỏi Tư Cầu:

– Chắc bây giờ chú Tư nó vừa lòng lắm hén?

Tư Cầu cúi đầu làm thinh và lấy tay phủi phủi một sợi tóc quăn còn đeo dính trên chỗ gần nách áo.

Bác Tám thở phào ra một hơi dài rồi ra giọng chua chát nói thêm:

– Đó chú thấy không, qua đã nói đâu thì có đó vậy mà bữa hổm hễ qua động tới là chú em cự nự thiếu điều vuốt mặt không kịp?

Thấy bác Tám cự nự riết tới, Tư Cầu cũng bắt bực mình và nói sẵng lại:

– Bộ tại tui sao mà bác cằn nhằn hoài vậy!

Bác Tám không nhịn được cười:

– Hổng có chú em vô đó thì làm sao sanh chuyện được! Mà thôi, tai qua nạn khỏi rồi qua cũng mừng, thiệt hú hồn hú vía…

Tư Cầu cũng cười theo, rồi hỏi lại bác Tám:

– Bác canh chừng làm sao để cho thằng hai nó vô tới bên đít mà hổng biết gì hết ráo vậy?

Bác Tám trợn mắt:

– Cha, nói coi sướng không! Ở ngoài nầy qua lo thấy mụ nội chớ bộ như chú em sao! Tại thằng hai nó dìa bất tử, mà nó lại để xe đậu bên phía văn phòng và cuốc bộ đi êm ru ở phía ngã sau mới thắt họng mình chớ! Trong lúc đó thì qua cứ ngó lom lom về phía cổng đằng trước!

Tư Cầu hỏi tới:

– Hèn chi… nhưng rồi bác làm sao chận nó lại? Hồi bác giựt giựt cánh cửa đó cho đến chừng tui ló ra cũng lâu ớn mà?

Bác Tám mỉm cười:

– Mà cha làm cái gì ở trỏng mà… chậm lụt quá vậy! Nghe động là phải vọt ra liền chớ chú em! May mà qua trông thấy có con sóc ở trong lồng nên qua thả mẹ nó ra để…”dục huỡn, cầu mưu” chớ hông chết nhăn răng cả đám rồi!

Tư Cầu cảm động nắm lấy tay bác:

– Thiệt tui cám ơn bác hết sức! Nếu hổng có bác thì không biết giờ phút nầy tui và con Ba ra thế nào!

– Thôi chút đỉnh mà chú em, với lại bà hai bả cũng cám ơn qua năm bảy cái rồi! Qua nói đây không phải để khoe, chớ mấy người ỷ y có thằng già này ở ngoài quá mà! Còn bà hai nữa, vậy mà bả nói là tới trưa ông hai mới dìa! (rồi bác có dáng suy nghĩ nói tiếng) Thiệt qua phục mấy người là giỏi, chớ qua mà… hồi hộp như vậy, qua hổng…. mần ăn được gì ráo!

Tư Cầu cười xòa xô nhẹ vai bác:

– Thôi đi bác! Bác mà lâm vào cảnh như tui thì cũng… mê mê ra vậy chớ hơn gì! Tới chừng đó rồi mình sao… hết biết trời đất gì nữa hết!

Bác Tám làm mặt ngiêm:

– Kỳ tới gặp cảnh như vậy chú em làm ơn làm phước “biết” có thằng nầy giùm qua một chút, chỉ xin chú em một chút xíu đó thôi.

°   °
°

… Một buổi sáng nọ, trong lúc bác Tám và Tư Cầu cùng một số anh em khác nữa ra tới sân nhà viên quan hai để làm “lao động” như mọi khi, thì thấy có một chiếc xe mười bánh chực sẵn ở đó với mấy người lính tây và một viên thông ngôn.

Viên thông ngôn ngoắc tốp người lao động lại:

– Anh em ơi, bữa nay anh em theo tôi đi chợ chơi!

Một người trong bọn tù mừng rỡ hỏi lại:

– Đi chợ chơi thiệt sao sếp?

Viên thông ngôn cười đáp:

– Thiệt mà! Hôm nay anh em đi mua một mớ cây ván với tôi để về sửa lại mấy chỗ hư mục trong các trại. Thôi, leo lên xe mau mau đi mấy cha nội!

… Và tuy mọi người đều dư biết là lên xe để chạy vù lại chỗ mua cây ván rồi về luôn, nhưng ai nấy đều có vẻ chộn rộn vì được dịp đi ra ”ngoài đời”, được dịp tránh khỏi nhìn trong giây lát cái cảnh quá nhàm của một chỗ ở mà ai cũng đều ngán như cơm nếp, nhứt là một chỗ ở mà họ không biết đến bao giờ mới rời khỏi được.

Chiếc xe quẹo ra đường cái chạy thẳng về phía Sài Gòn, và khi xe vượt qua một cái chợ buôn bán tấp nập, Tư Cầu có vẻ bực bội khi nhìn thấy dọc theo hai bên lề đường thiên hạ ai ai cũng đều có vẻ “bình yên vô sự”, có vẻ bằng lòng với cuộc sống lắm.

Những tiếng cười giòn tan của mấy chị đàn bà xách giỏ đi chợ vang thoáng qua tai Tư Cầu làm cho anh ta nhăn mặt, anh ta day qua cằn nhằn với bác Tám:

– Hổng biết họ vui sướng cái gì mà sao ra ngoài nầy tui thấy mặt nào mặt nấy cũng… tươi rói hết vậy bác?

Bác Tám thở ra:

– Coi, mình ở tù chớ bộ họ ở tù sao mà chú bắt ai cũng phải mặt ủ mày ê hết! Ở ngoài đời người ta vẫn sống như thường, thì cũng y như chú hồi còn ở vườn…

Tư Cầu vẫn càu nhàu:

– Nhưng họ làm như không thấy rằng có chiếc xe của tụi mình đi qua, và trong xe ấy có những thằng tù tội. Biết đâu một ngày nào đó đến phiên chồng họ, anh họ, cha họ cũng bị kẹt ngồi cú rũ trong xe như tụi mình. Thời buổi súng đạn nầy… nhấp nháy mấy hồi đó bác? Thì bác coi, trước đây có khi nào tụi mình nghĩ rằng có phen mình lọt vô tù đâu? Vậy mà cũng lọt tuốt luốt đó bác!

Bác Tám không mấy thích nghe những chuyện rắc rối đó nên bác xì một tiếng:

– Ối thôi, dẹp mấy thứ chuyện đó qua một bên đi chú Tư! (rồi bác chắc lưỡi hít hà níu vai Tư Cầu chỉ về một đám phụ nữ áo xanh áo tím ríu rít níu tay nhau chạy băng qua đường trước đầu xe) Ý chà chà, hằng hà sa số kìa chú Tư ơi! Nhờ mấy dịp này mà tụi mình đi “rửa” con mắt cho sướng chớ tội gì mà lẩm bẩm lầm bầm cho nó mệt thêm nữa!

… Qua khỏi Chợ Quán, chiếc xe quẹo vô đường đi lên cầu chữ Y và đậu lại trước một cửa tiệm hai căn, bán cây ván và đồ sắt khá lớn.

Viên thông ngôn nhảy xống xe và hối liền:

– Thôi tới chỗ rồi, anh em xuống mỗi người một tay chất rút ba cái cây ván này lên xe rồi mình về cho sớm!

Trong lúc ấy, mấy người lính Tây cầm súng đứng bao quanh đó để canh chừng đám tù nhơn.

… Bác Tám kề tai nói nhỏ với Tư Cầu:

– Thiệt mới có tới nơi là nó hối đi dìa liền! Vậy mà hồi lên xe còn làm bộ nói cho anh em đi chợ chơi chớ!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Thì người ta phải nói như vậy cho nó… bùi tai một chút! Thôi ráp vô khiêng cây cho rồi đi cha nội! Tự nãy giờ giữa hai tụi mình, chỉ có bác là gỡ gạc nhiều nhứt!

– Gỡ gạc cái gì chú Tư?

– Thì hôm nay Tây nó đãi bác một bữa “rửa con mắt” no nê rồi còn gì nữa! Tui nghe bác chắc lưỡi hít hà liên hồi mỗi khi có bóng áo xanh áo đỏ xẹt qua, bộ hổng có vậy sao? Hay là bác còn đòi Tây nó chở đi một tua chợ Bến Thành nữa để ngắm nghía mấy cô mấy bà mặc đồ mốt!

Bác Tám xô mạnh Tư Cầu chúi tới:

– Thôi đi chú! Qua có chắc lưỡi hít hà để chỉ chỏ mấy cô cho chú em thưởng thức chơi chớ qua mà ăn thua gì!

Mấy anh em khác, mỗi người một câu, nói chuyện ồn ào trước cửa tiệm làm cho viên thông ngôn phải hối thúc thêm một lần nữa:

– Mau lên chớ mấy cha nội! Mấy cha làm cái gì mà như họp chợ vậy! Đây nè, chỉ có hai đống cây ván chất bên nầy thôi… anh em quăng bỏ hết lên xe rồi mình về!

Có người lên tiếng hỏi ông sếp:

– Sếp ơi sếp, hai đống cây tổ chảng như vầy một chuyến xe làm gì cho hết hả sếp!

Viên thông ngôn ngắm nghía số cây ván rồi nói:

– Một chuyến chưa hết thì hai chuyến. Anh em sao lo quá! Mà mau lên chớ mấy cha cà rịch cà tang đứng đó… ăn trầu hút thuốc hoài sao!

Bác Tám vọt miệng nói chen vào:

– Sếp ơi, năm khi mười họa mới được ra ngoài đời một lần, sếp cũng làm phước huỡn đãi cho tụi nầy một chút… Bề gì thì nội buổi sáng nầy anh em cũng rinh hết hai đống cây ván này dìa trỏng… Và bữa nay cũng hên quá: từ sếp cho đến mấy ông Tây theo canh gác, ông nào ông nấy cũng dễ dãi, cũng… nới nới cho anh em tụi tui hết!

Viên thông ngôn đành bọc xuôi theo:

– Thì ai có muốn làm khó làm dễ gì anh em đâu! Nhưng anh em cũng liệu… cựa quậy một chút chớ mình bê bối quá, tây tà nó cũng… khi dễ!

Một vài tiếng cười vang lên làm viên thông ngôn hơi sượng mặt nên ông ta vội rảo bước về phía viên đội Tây đang ngồi một cách uể oải trên một chồng cây ván gần đó.

… Trong lúc anh em can phạm đang hì hục khiêng cây ván chất lên xe thì có một đứa bé trai ăn mặc xinh xắn lẫm đẫm bước lại. Có lẽ nó thấy đám người rộn rịp nên tò mò đi bê bê tới xem.

Một người trong bọn thấy đứa bé ngộ nghĩnh nên tươi cười ngoắc nó lại:

– Ê tụi, lại đây chơi cho vui!

Thằng bé không nhát với người lạ chút nào mà còn bươn bả tới, vừa lúc ấy có tiếng một chị vú kêu nheo nhéo ở phía sau:

– Bé Hai! Bé Hai! Mầy xớ rớ lại đó, cây ván rớt dập chưn dập cẳng mầy chết nghe hông!

Bác Tám đang cùng khiêng với Tư Cầu một cây đà dài cũng đứng rị lại nói chen vô nửa bỡn nửa thật:

– Coi, chỉ để nó lại chơi với tụi nầy một chút hổng được sao! Bộ chị nghe người ta thường nói “thứ dơ như tù” hay “đồ cho tù…” rồi chị lầm tưởng rằng tụi nầy cũng ẹ lắm hả? Thời buổi bây giờ thứ nầy có giá lắm nghe chị!

Nghe bác Tám nói như thế, cả bọn cười rộ lên làm cho chị vú sượng trân đứng xa xa ra đó để trông chừng đứa bé.

Bác Tám có vẻ hả hê quay sang nói với Tư Cầu:

– Ê chú Tư, chú coi thằng nhỏ nầy dễ thương quá há! (rồi giọng bác bỗng trở nên buồn buồn) Hồi qua bị bắt thằng út của qua ở dưới nhà cũng cỡ đó, nhưng bây giờ chắc nó lớn xộn rồi…

Tư Cầu lôi cây đà đi tới:

– Thôi đem bỏ khúc cây nầy lên xe cho rồi, chớ cứ đứng ì đây chịu trận hoài sao bác!

Bác Tám buộc lòng phải cất bước nhưng vẫn ngó ngoái lại đứa nhỏ và trách Tư Cầu:

– Chú em chưa có con cái gì hết mà sao thấy con nít không ham vậy cà! Còn bây giờ qua thấy đứa nhỏ nào qua cũng bắt nhớ bầy trẻ ở dưới nhà quá đỗi!

Tư Cầu cười khan:

– May mà tui không ngơ, chớ nếu đeo thêm con cái vô nữa, rồi lâm vào cảnh nầy thì mới lãnh đủ đa!

– Cái gì cũng có sướng có khổ chớ chú em cứ nằng nặc đòi sướng không thì… ở cõi trần nầy đâu có! (rồi bác chép miệng than) Cha, qua đi vắng đây ở nhà má bầy trẻ mắc lu bu lo chạy gạo, hổng biết có ai chăm nom gì tới thằng út không! Chắc là thả nó đi bắt cua bắt còng suốt ngày chớ gì!

Tư Cầu cười nói:

– Đọ, bác thấy không: có con có cái là như vậy đó, còn tui thì khỏe ru!

Vừa khi đó có tiếng xe xích lô thắng ken két ngoài lộ trước cửa tiệm, gần chỗ chiếc quân xa đậu. Cả bác Tám lẫn Tư Cầu đều ngẩng đầu nhìn ra…

Tư Cầu bỗng đứng khựng lại nhìn trân trân người đàn bà vừa ở trên xe xích lô bước xuống, rồi quay lưng về phía anh ta trong lúc móc bóp trả tiền cuốc xe.

Bác Tám thúc cây đà đi tới để buộc Tư Cầu cất bước:

– Thôi đi tới chớ chú! Hồi nãy qua nghe chú chê qua rậm rề rậm rật về cái vụ ngó liếc đó mà!

Tư Cầu vẫn ghìm đứng lại một chỗ và lẩm bẩm:

– Ủa lạ quá, sao tui trông ngờ ngợ…

Bác Tám quắc mắt hỏi liền:

– Gì nữa đó cha nội?

Viên thông ngôn đang rảo bước tới và mỉm cười đáp:

– Dạ phải đa bà chủ! Chắc bận nầy bà chủ có dư dả thời giờ để trò chuyện… thả cửa chớ gì!

Phấn liếc xéo Tư Cầu rồi hạ giọng thì thầm riêng với anh ta:

– Nói chuyện khỉ gì đâu! Cứ lo… cãi lộn không hà!

Rồi thấy viên thông ngôn đã đến nơi nó bèn quay sang nói liền:

– Sếp nói như vậy chớ tôi cũng chưa chuyện trò gì được nhiều lắm với anh Tư đây. Chắc sếp dư rõ, bà con thân thuộc lâu ngày gặp mặt nhau nên cứ hỏi thăm lung tung lên mà chẳng câu nào ăn nhằm vào câu nào hết!

Viên thông ngôn cười giả lả:

– Ối, bà chủ đừng có lo gì hết, thiếu gì dịp khác nữa! Để tôi về là lo liền chuyện thăm nuôi anh Tư đây cho bà chủ.

Phấn vội nói thêm:

– Cám ơn sếp nhiều lắm. Thế nào rồi đây tôi cũng sẽ nhờ sếp giúp cho một vài chuyện cần nữa.

Viên thông ngôn mau mắn đáp:

– Ơn với huệ gì, tôi bao giờ cũng sẵn lòng mà! Nè bà chủ, xe cũng sắp chạy rồi, bà chủ có gởi cho anh Tư đây món gì thì bà chủ liệu mà trao cho ảnh đi.

Phấn vội chạy vụt vô trong nhà xách ra ba bọc giấy đem tới đưa cho Tư Cầu.

Tư Cầu thấy mấy gói đồ to lớn quá quên phải kêu lên:

– Trời đất ơi, em cho anh cái gì mà lùm đùm lề đề dữ vậy? (kế thấy viên thông ngôn ngóng cổ nhìn vô mấy gói đồ, nên nó vội nói) Mà em phải trình cho ông sếp đây xét qua rồi anh mới lãnh được.

Phấn bèn đặt mấy gói đồ xuống đất và mở phanh ra:

– Đây sếp, chút đỉnh bánh trái chớ có gì khác đâu sếp!

Viên thông ngôn vội lấy tay ấn mép miệng túi giấy xuống và nói gạt ngang:

– Khỏi mà bà chủ! Với ai thì tôi không tin chứ với bà chủ… tôi nhắm mắt lại bây giờ cũng được! (đoạn ông ta quay sang Tư Cầu) Thôi cầm lên rồi ra xe anh Tư!

Tư Cầu nhìn qua Phấn:

– Thôi để anh một gói thôi, chớ nhiều quá…

Viên thông ngôn xách hai gói còn lại nhét luôn vô tay Tư Cầu:

– Cầm luôn đi cha nội! Mấy thứ nầy, ở trỏng đâu có sợ dư mà lo!

Rồi ông ta xô nhẹ Tư Cầu đi ra xe.

Phấn lật đật bước theo căn dặn thêm Tư Cầu:

– Vô trỏng nếu anh cần cái gì , anh nhắn ông sếp đây nói cho em biết nghe anh!

Tư Cầu ngó ngoái lại và lên tiếng bảo Phấn:

– Thôi em đi vô đi, chớ ra ngoài xe anh em đông lắm… Ờ mà quên nữa, lát nữa chú Ba có dìa em nhớ nói anh có gởi lời thăm chú nghen! (rồi không biết nghĩ sao anh ta ngập ngừng nói thêm) Hay là thôi… em khỏi nói với chú cũng được… có lẽ mình nên giấu nhẹm luôn thì tốt đó em! Nhà cửa của em đang vui vẻ như vầy, khi không anh chọt vô nữa cho nó sanh phiền phức thêm… anh hổng muốn… Phận anh, bề gì cũng lỡ kẹt… thì thôi để nó… yên như vậy cho rồi.

Phấn có vẻ cảm động khi nghe Tư Cầu nói dài dòng như vậy, nhưng cô ta làm ra bộ cứng cỏi cự nự lại:

– Em nói hổng có sao mà! Anh Ba ảnh là người biết điều chớ không phải như thiên hạ thường tình đâu!

… Chiếc xe rồ máy om sòm.

Tư Cầu gượng cười nhìn lại Phấn, rồi hấp tấp chuyển mấy gói đồ lên trước để rảnh tay níu trèo lên xe.

Viên thông ngôn bước tới nghiêng đầu chào Phấn, rồi cất tiếng cho tài xế biết rằng mọi người đã lên xe đông đủ.

Chiếc xe từ từ chuyển bánh…

Tư Cầu cúi gầm mặt xuống chớ không dám nhìn ngoái lại về phía Phấn đứng nữa, vì tự nhiên anh ta thấy bồi hồi lạ kỳ. Trong lúc gặp mặt lại, hai người không bỏ lỡ dịp để… cắn đắn nhau, nhưng khi xe chạy rồi, Tư Cầu bỗng đâm ra nhớ nhung người cũ một cách gần như là đau xót mặc dầu đây chỉ là một cuộc tạm biệt… đầy hứa hẹn !

°   °
°

… Tư Cầu và bác Tám đang lom khom cuốc đất ở phía sau nhà viên quan hai để trồng một líp cải làm “của riêng” cho có thêm rau ăn, thì thấy con Ba ở nhà trên bước uống. Con Ba ngừng lại và đứng dựa lưng vào cây cột của hai mái nhà cầu nối liền biệt thự ở phía trên và dãy nhà bồi bếp.

Mỗi khi thấy con Ba chàng ràng ở gần một bên mình, Tư Cầu đâm ra ngán trân nhứt là từ bữa anh ta theo xe đi chở cây rồi tình cờ gặp lại Phấn. Vì vậy anh ta làm như không hay biết gì hết và cứ cúi gầm mặt xuống cuốc đất tơi bời.

Bác Tám cũng làm ra vẻ thản nhiên nhưng rồi bác lại thì thầm bên tai anh ta:

– Ê chú, bà ra kia kìa!

Tư Cầu không ngừng tay cuốc:

– Ra thì thây kệ người ta, mọi khi bác cản tui dữ lắm mà!

– Ậy, qua cản là cản cái chuyện quá lố, chớ còn bình thường mình cũng phải đon đả chào hỏi, vì dầu sao bả cũng là người tốt đối với anh em trong căng đi làm cỏ-vê trên nầy. Thiệt đằng nào chú em mầy cũng đi quá lố hết: đi tới thì đi lút ga, còn sụt lùi thì… tuột thắng luôn…

Tư Cầu chưa kịp trả lời lại thì đã nghe con Ba cất tiếng kêu:

– Anh Tư ơi, anh bỏ đó lại đây hỏi thăm cái nầy chút coi!

Bác Tám nhìn anh ta mỉm cười:

– Đọ, cho chú em mầy trốn! Đi lợi đẳng đi cha nội!

Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng ráng cuốc thêm một vài cái nữa, rồi dình dàng xách cây cuốc đem dựng ở góc nhà bếp, đoạn vừa rút khăn tắm dắt gần đó lau mặt, vừa thủng thỉnh đi lại phía con Ba. Đến nơi, anh ta đứng chình ình ra đó chớ không hỏi han nói năng gì hết. Con Ba thì vẫn dựa ngửa dựa nghiêng trên thân cột vừa nheo mắt nhìn anh ta vừa cười mủm mỉm. Một hồi lâu sau, cô ta đứng rột ngay lại, một tay chống nạnh một tay chỏi vào cột nhà:

– Cha, có chuyện vui mà dấu biệt hổng cho người ta biết tới hén!

Tư Cầu lẩm bẩm trong miệng:

– Có cái gì đâu mà vui hay hổng vui…

Con Ba lên giọng chanh chua để chận ngang:

– Thiệt anh giỏi quá trời, mới xẹt ra khỏi chỗ này một chút là có chuyện rồi!

– Chuyện gì… làm ơn nói ra thử coi?

Con Ba cười mũi:

– Xí, bộ anh nói người ta hổng biết hả! Anh đi theo mấy chuyến xe chở cây rồi gặp con mẹ nào đó hả?

Tư Cầu bắt đầu mất bình tĩnh:

– Ai học cho em biết đó? Mà người ta là người… bà con quen của anh chứ bộ ai sao mà em kêu con mẹ nầy con mẹ kia.

Con Ba cười lớn:

– Cha chưa gì mà binh rồi hén! (rồi cô ta hạ thấp giọng xuống thân mật hỏi thêm) Mà ai vậy anh?

Tư Cầu ấp úng đáp:

– … Đó là người ớ một “xứ” với anh, bây giờ người ta… có chồng buôn bán tiệm cây ở trên này nên tình cờ đi lại đó chở ván anh gặp…

– Mà người ta có bà con thân thích gì với anh hông, chớ sao em coi bộ lo lắng cho anh quá cỡ vậy?

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi liền:

– Sao em biết rành quá vậy?

Con Ba mỉm cười đáp:

– Vậy mới tài! Nhưng thôi, để em nói thiệt cho mà nghe: con mẹ đó có nhờ thầy thông ngôn tìm gặp em để xin em nói vô với ông hai về việc thăm nuôi đặc biệt cho anh.

Tư Cầu thở ra:

– Hèn chi mà em biết hết!

Bỗng con Ba quay phắt lại nhìn đăm đăm vào mặt anh ta và nghiêm giọng hỏi gọn lỏn:

– Ai đó vậy anh?

Câu hỏi bất ngờ làm cho Tư Cầu đâm ra lúng túng:

– Thì hồi nãy anh đã nói… người ta là… bà con quen ở cùng xứ sở, người ta thấy anh bị nạn như vầy nên có lòng hỏi thăm và giúp đỡ…

– Hứ, bộ không có em lo cho anh ở trong nầy sao? Em có để cho anh đói khát hay rách rưới đau ốm gì sao mà anh phải làm phiền tới người ngoài như vậy chớ?

Tư Cầu nhăn nhó đáp:

– Anh có nhờ nhỏi gì người ta đâu! Đó là họ… có lòng tốt với mình, và ý là anh đã có căn dặn là khỏi phải vô thăm hỏi trong nầy làm gì cho mất công…

Con Ba cười gằn:

– Sợ đổ bể hén!

Tư Cầu bực mình hỏi sẵng lại:

– Cái gì mà đổ bể?

Con Ba trề môi rồi hỏi trớ đi câu khác:

– Chớ em hỏi anh: bộ con mẻ ở không lắm sao mà lại cứ đeo riết thầy thông ngôn để cậy thẩy lo giùm cái chuyện thăm nuôi cho anh? Nếu con mẻ… quen sơ sơ ở dưới vườn thì đâu có lẽ con mẻ lại “mặn” với anh như vậy.

Tư Cầu gạt ngang:

– Bậy nà, người ta nói là… bà con thân mà…

Con Ba liếc xéo anh ta:

– Ừ phải, thiếu chút xíu là bà con gần sát rạt phải không anh?

Tư Cầu tìm cách hỏi lảng ra:

– Em có hỏi gì nữa hông để anh còn ra cuốc đất phụ với bác Tám? Em đừng quên anh đây cũng thân tù tội như người ta, chớ bộ là ông nội họ sao mà ra đây cứ đứng cà nhỏng nói chuyện hoài.

– Cha, em coi bộ bây giờ anh hết cần ai hết hén! Được rồi, nếu anh không chịu nói thiệt thì em có thiếu gì cách làm cho con mẹ chủ tiệm cây khỏi có ngó tới anh được nữa!

Tư Cầu hốt hoảng hỏi liền:

– Trời ơi, còn tính chuyện gì nữa đó bà nội?

Con Ba cười một cách đắc chí:

– Chuyện gì để nữa rồi anh sẽ biết!

Tư Cầu bực mình cự nự:

– Thiệt có mấy bà vô thì rắc rối tổ mẹ! Người ta ở tù yên thân rồi mà nay người nầy xía vô, mốt người nọ thọt ra…

Con Bà nhìn anh ta cười:

– Ai biểu anh giấu hoài, anh làm như con nầy ngu lắm vậy? Bây giờ anh có chịu khai ra hết hông nè?

– Thì nếu em đã biết rồi em còn hỏi nữa làm chi…

– Hỏi cho biết bụng dạ của anh ra sao vậy mà!

Tư Cầu thở dài sườn sượt:

– Thì em nghĩ coi: người ta cũng có lòng lo cho mình… bây giờ hổng lẽ mình… chửi mắng người ta lại được sao!

– Cha, già hàm lẻo mép há! Mà bây giờ không nói on đơ gì hết, em hỏi thiệt anh có phải con mẻ là người đã cho anh leo cây thoa mỡ bò đó không?

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Thì… em đã biết hết rồi… (rồi anh ta ngây ngô hỏi lại) Nhưng sao chuyện gì em cũng rành hết vậy?

– Hổng rành để mấy người tính qua mặt người ta hả? Chắc anh tưởng chuyện đó kín lắm chắc?

– Chắc thầy thông ngôn thẩy học lại cho em biết chớ gì?

– Mốc xì họ! Thẩy mà biết cái gì, nhưng thẩy mới nói mí mí là em đoán ra liền: người quen cùng xứ với anh mà lại có chồng khách-trú bên tiệm cây trên nầy, thì ai vô đó nữa! Anh quên rằng hồi anh mới lên Nam Vang anh đã mếu máo kể chuyện đó cho em nghe sao.

Tư Cầu xẻn lẻn nói gạt ngang:

– Bậy nà! Ai mà như vậy hổng biết!

Con Ba nghiêm mặt hỏi:

– Bây giờ anh tính sao đây?

– Thì tính gì nữa! Cái đó tùy em, mà theo anh nghĩ: chắc em hổng hẹp hòi gì với người ta… bề gì anh cũng mắc kẹt trong nầy chớ có ra luông tuồn ở ngoài tiệm cây được đâu.

Con Ba mỉm cười lấy ngón tay xỉa phớt qua trán Tư Cầu:

– Cha, ăn nói khéo quá há! Nhưng nếu không có mấy lớp rào dây kẽm gai, và không có ba cây súng chong trên mấy cái lô-cốt kia thì… bà nội ai bây giờ cản cũng hổng nổi anh!

Tư Cầu thấm ý cười trừ.

Con Ba lại hỏi tiếp:

– Nhưng anh có nói với người ta em là ai không?

– Em là bà quan hai chớ là ai nữa!

Con Ba giậm chân chắc lưỡi:

– Xí, lãng òm! Em muốn biết coi bà chủ tiệm đó có rõ em với anh là… là chỗ quen thuộc cũ hông? Anh có nói cho bả biết hông?

– Anh nói sơ sơ vậy thôi, nhưng có lẽ người ta cũng đoán ra được. Cái gì thì không biết chớ mấy chuyện đó có trời mà giấu được mấy bà!

Con Ba gật gù:

– Nếu anh hiểu được như vậy thì tốt lắm! Nhưng em còn để coi bả vô đây bả ăn nói thể nào, nếu biết điều thì em sẵn lòng giúp, bằng không… em cấm tiệt luôn!

Tư Cầu than thở:

– Mấy bà mà xâu xé nhau thì chỉ khổ cho thằng nầy thôi. Sao mấy bà hổng hè nhau, mỗi người một tay, như vậy có phải đỡ hơn không!

Con Ba cười rộ lên:

– Anh nói khôn quá tổ mẹ người ta! Đằng nào, anh cũng hưởng đủ hết hén!

Tư Cầu chỉ biết đứng đó cười trừ.

Thấy vậy con Ba lên tiếng bảo anh ta:

– Thôi đi ra ngoải đi, để rồi em liệu coi con mẻ với em đây ai giỏi hơn ai thì biết.

Tư Cầu dùng dằng chưa chịu đi và xuống giọng năn nỉ:

– Chắc em vui miệng nói chơi như vậy chớ… hổng sao phải hông em! Bề gì người ta cũng là gái có chồng.

Con Ba cắt ngang:

– Chớ bộ em hổng có hả?

– Có nhưng mà… có khác… (rồi sợ con Ba kiếm chuyện lôi thôi nữa, anh ta vội rảo bước đi vô phía bác Tám và ngoái lại nói với) Thôi, anh đi mần công việc nghen!

Con Ba mỉm cười lắc đầu nhìn theo Tư Cầu, một cái nhìn vừa trìu mến, vừa độ lượng…

°   °
°

Thầy thông ngôn ở trong biệt thự viên quan hai chạy ra ngoắc Phấn:

– Mời bà chủ vô, bà quan hai đã xuống đợi bà chủ trong sa-lông rồi.

Phấn vội ôm hai gói to đựng trái cây lên và hất hàm chỉ về phía thùng rượu nằm dưới đất:

– Còn cái nầy tính sao đây sếp?

Viên thông ngôn ngó quanh để tìm một người lao công và khi nhận thấy Tư Cầu cùng bác Tám ở phía sau nhà bếp đi ló ra, ông ta vội kêu:

– Ê anh Tư, anh lại đây tôi nhờ anh một tay coi!

Tư Cầu ngó lại thấy có Phấn nên đứng khựng lại, hồi hộp đưa mắt nhìn trân trân. Phấn mỉm cười gật đầu như ra hiệu cho anh ta bước lại. Tư Cầu lột cái nón lá quăng xuống đất tính xâm xâm đi lại, nhưng bác Tám đã lẹ tay níu anh ta lại:

– Để qua lợi đẳng vác thùng rượu đó thế cho chú, chú Tư!

Tư Cầu ngơ ngác nhìn bác và hơi sẵng giọng hỏi:

– Sao lạ vậy?

Bác Tám đáp nho nhỏ:

– Hổng phải ai dành với chú mà té vàng té bạc gì, nhưng chú lợi đó khiêng thùng rượu vô cho thằng quan hai mà có mặt cả hai bà chứng kiến thì nó… nhẹ thể mình quá!

Tư Cầu cau mày suy nghĩ rồi đáp xụi lơ:

– Ừa, bác nói cũng phải… bị tui cũng hơi hấp tấp muốn gặp Phấn… tức là bà chủ tiệm đó.

Bác Tám vỗ vai anh ta vừa bước đi:

– Ối rồi đây thiếu gì dịp khác! Chú đừng quên: mình ở tù là ở tù với ba thằngTây, chớ trước con mắt của mấy bả, mình cũng… bảnh tỏn như thường phải hông chú!

Tư Cầu tươi cười gật đầu:

– Phải rồi, mà thôi bước mau lại đẳng giùm tui đi tía!

… Thấy bác Tám đi lại tới, Phấn băn khoăn hỏi liền và hỏi nho nhỏ:

– Ủa sao anh Tư ảnh không chịu lại đây bác?

Bác Tám vừa nhắc thùng rượu lên vừa đáp:

– Dạ… bị chú có công chuyện cần riêng (rồi bác hạ thấp giọng nói nhanh tiếp)… Dạ, chắc bà chủ cũng dư rõ: nếu chú bê thùng rượu nầy vô để đứng lựng khựng giữa bà chủ và bà quan hai thì cũng… kẹt cho chú quá.

Phấn thở dài:

– Ừ phải há! (rồi cô quay sang nhìn bác Tám, mỉm cười hỏi luôn) Mà sao tôi coi bộ bác… rành về… chuyện nầy quá vậy! Chắc anh Tư có nói lại cho bác rõ phải hông?

Bác Tám nở mũi đáp:

– Dạ, tui với chú Tư là chỗ anh em thân trong tù… Tui được cái trọng tuổi nên có chỉ vẽ cho chú được một vài việc cũng… hay hay!

… Viên thông ngôn chực trên thềm nhà lên tiếng báo bác Tám:

– Nè ông già, ông đem để “két” rượu đó ở trước hàng ba nghen! Còn bà chủ thì xin mời bà chủ đi ngã này.

Phấn quay sang bác Tám:

– Cám ơn bác nghen! Bác nói với anh Tư, tôi hỏi thăm ảnh nhiều thiệt là nhiều đó nghen!

Nói xong, cô vội vã vuốt sửa lại tóc tai cùng ngắm nghía sơ qua áo quần rồi hấp tấp bước theo viên thông ngôn vô sa-lông.

… Viên thông ngôn gõ cửa sơ sơ mấy cái rồi bước vô trước và lên tiếng giới thiệu:

– Dạ thưa bà hai, dạ có bà chủ tiệm cây đến thăm bà hai.

Con Ba đang ngồi đọc báo, nghe nói vậy từ từ đứng dậy mà mắt vẫn không rời nhìn vào tờ báo như là còn mải mê xem lắm…

Phấn đứng lựng khựng ở đó, và tuy chưa rõ mặt mày của bà quan hai ra sao (vì tờ báo che khuất) nhưng nhìn thấy điệu bộ của “bà quan hai” như vậy nó đâm ra vừa bực, mà cũng vừa “khớp” nữa.

Con Ba quăng mạnh tờ báo xuống mặt bàn và ngước mắt lên hỏi viên thông ngôn:

– Bà chủ tiệm… quen thân với anh Tư đây hả thầy? (và không đợi ông nầy trả lời, nó quay sang phía Phấn, nhích đầu chào) Chào bà chủ, xin mời vô ngồi đây chớ làm gì mà đựng khựng ở đó vậy? (rồi nó lại nói bâng quơ) Cha, cái tiểu thuyết đăng trong báo coi hay quá mà họ lại chơi ác dứt ngang xương…

Phấn ké né ú ớ trong miệng:

– Dà…

Rồi bỗng như có hẹn, hai người đàn bà quắc mắt nhìn nhau lom lom để ”đo lường” đối thủ trước khi bắt chuyện. Tia mắt của họ giao nhau tưởng chừng có thể… vang lên thành một tiếng rít giống y như hai thanh kiếm va chạm vào nhau vậy.

Con Ba, dầu sao cũng nhớ rằng mình là chủ nhà nên vội bảo viên thông ngôn:

– Thôi thầy để bà chủ đây cho tôi… Cám ơn thầy nghen!

Đoạn, nó quay sang Phấn đon đả mời một lần nữa:

– Coi, sao bà chủ đứng hoài vậy! Bà chủ ngồi xuống đây rồi chị em mình nói chuyện sau.

Phấn chưa kịp đến ngồi xuống ghế thì con Ba đã bước tới đỡ nhẹ lấy vạt áo dài trước của cô ta đưa ra chỗ có nhiều ánh sáng để xem mặt hàng, rồi trầm trồ liền miệng:

– Cha, bà chủ mặc thứ hàng nầy có bông ngộ quá! Mà cái màu nầy cũng hợp với nước da của bà chủ nữa… để bữa nào rảnh, tôi phải đi lùng ở mấy tiệm Bombay mua một áo thứ nầy mới được!

– Dạ… thứ hàng nầy họ bán thiếu gì.

Con Ba buông vạt áo xuống rồi ngó chăm bẳm Phấn từ đâu đến chân và mỉm cười hỏi thêm:

– Bà chủ được mấy em rồi mà tôi coi còn trẻ măng vậy?… Chắc còn nhỏ lắm! Cha, còn nhỏ tuổi mà đã làm… bà chủ như vậy thì tốt phước biết đâu mà kể!

Phấn thận trọng đáp:

– Dạ, tôi mới được một đứa trai.

Con Ba chắc lưỡi khen liền:

– Cha, gái một con, thuốc ngon nửa điếu! Hèn chi…

Phấn định chụp hỏi “hèn chi cái gì?” nhưng rồi giữ vẻ lễ phép hỏi lại:

– Dạ còn… bà hai được mấy em rồi?

Con Ba cười dòn tan rồi đáp:

– Tôi chỉ có một mình trơ như vầy đó bà chủ à!

Phấn mau miệng khen dồn:

– Bà hai trông còn trẻ đẹp sắc sảo quá, thiệt mấy cô mới lớn lên cũng chưa dễ gì bì kịp! Bà hai lại còn sang trọng quyền oai nữa… kể ra ít người được như vầy! Hèn chi…

Con Ba hơi cau mày nhưng rồi lại gật gù cười xòa và níu tay Phấn dắt lại bên ghế sa lông:

– Mời bà chủ ngồi xuống đây rồi chị em mình muốn nói gì thì nói, chớ chẳng lẽ tôi với bà chủ cứ đứng sững ở đó để… khen vần công cho nhau sao! (rồi chợt thấy mấy gói đồ, nó liền hỏi tiếp) Mà bà chủ ôm theo mấy gói gì lủ khủ đó?

Phấn như nhớ trực lại chuyện quà cáp nên vừa ngồi xuống lại đứng dậy đặt mấy bọc giấy trên mặt bàn giữa sa-lông:

– Dạ tôi có mấy ký bom nho nầy đem đến để bà hai dùng lấy thảo… Dạ, còn có một két sâm-banh để ở ngoài hàng ba, riêng kính tặng cho ông hai, xin nhờ bà hai nói lại giùm.

Con Ba chắc lưỡi kêu lên:

– Hổng biết thầy thông ngôn mắc toi đó có nói tôi với ông hai ở nhà đòi ăn đòi uống gì không, mà bà chủ phải lễ mễ đem lại như vậy!

– Dạ thưa bà hai, cái nầy là do ý tôi chớ thầy thông ngôn không hay biết chi ráo.

Con Ba đáp nửa thật, nửa giỡn:

– Cha, chưa gì mà bà chủ muốn… trám miệng trước tụi nầy há! Bà chủ làm như vậy nữa mích lòng lắm nghen! Chắc bà chủ dư biết: tôi nghe thầy thông ngôn nói lại là bà chủ đây là chỗ… bà con với anh Tư nên tôi mới sẵn lòng mời tới, chớ phải ai khác thì xin lỗi bà chủ, dầu cho chín xe mười vàng đi nữa cũng… khỏi đi!

Phấn thấy hơi bực mình nhưng cũng phải ráng xuống giọng cầu khẩn:

– Dạ cái đó thì tôi cũng… rõ nhiều. Anh Tư ảnh có kể sơ cho tôi biết rằng bà hai đây là chỗ… ơn nghĩa cũ của ảnh và bà hai cũng đã hết lòng giúp đỡ ảnh trong lúc ảnh bị kẹt trong nầy. Dạ vì vậy mà tôi mới dám đường đột tới đây để quấy rầy bà hai…

– Ối, nói là nói vậy chớ chỗ chị em mình, nếu hổng biết nhau thì thôi, một khi đã biết nhau rồi thì… dễ ợt, nhứt là cái chuyện này cũng là chuyện của anh Tư… Mà hễ chuyện của anh Tư là tôi sẵn sàng… bao lãnh hết!

Phấn gượng cười đáp:

– Thiệt cám ơn bà hai hết sức! Cũng may cho anh Tư gặp lại được bà hai ở chỗ nầy!

Con Ba thản nhiên tiếp lời:

– À cái đó thì có: anh Tư ảnh có gặp tôi lần nào thì cũng được may mắn ráo trọi hết, chớ không có rủi ro hay vấp váp gì hết á!

Phấn cắn môi suy nghĩ trong một vài giây, rồi đáp đẩy đưa:

– Dà, phần tôi thì tôi cũng mong như vậy…

Con Ba cười và ngọt ngào nói:

– Bà chủ khỏi mong với mỏi gì hết, cái chuyện đó là cái chuyện… đã có rồi mà!

Nghe con Ba nói một cách “chắc cứng” như vậy, Phấn cười gằn nhưng rồi lại vội nói đỡ:

– Thưa bà hai, như vậy anh Tư thiệt có phần lắm!

Con Ba như có vẻ hài lòng vì đã “dằn mặt” sơ được Phấn nên lại muốn tỏ ra độ lượng:

– À còn cái nầy mà tự nãy giờ tôi tính nói rồi bị lu bu nên quên khuấy đi mất: chị em mình nên tìm cách xưng hô lại cho nó đỡ khách sáo hơn đi! Bề gì thì bên nào cũng là chỗ… quen biết của anh Tư, phải không chị? Chị thứ mấy để tôi kêu cho tiện?

Phấn ấp úng đáp:

– Dạ… tôi thứ ba…

Con Ba kéo nhích ghế lại gần Phấn:

– Ủa, cũng thứ ba như tôi vậy sao? (rồi nó nháy nháy mắt lên giọng hỏi ỡm ờ) Ai cũng thứ ba hết rồi như vậy ai… lớn ai nhỏ đây?

Phấn ngả lưng dựa vào thành ghế phô-tơi rồi cười đáp lại một cách rất thản nhiên:

– Dạ cái đó thì tôi chẳng dám tranh rồi! Dạ cũng như cái chuyện… chim trời cá nước, mạnh ai bắt được nấy ăn…

Con Ba liếc xéo cô ta một cái nhanh như chớp:

– Hừ, hay quá há! Bây giờ tôi mới biết ngán… chị Ba rồi đa!

Phấn vội nói vớt:

– Dạ, bà hai dạy quá lời… Tôi vui miệng nói buông thùa vậy mà!

Con Ba chắc lưỡi một hơi:

– Đọ, đọ… tôi đã biểu chị Ba dẹp cái tiếng “bà hai” đó qua một bên rồi mà!

Đoạn nó vói tay bấm nút chuông điện gọi anh bồi và khi anh nầy chạy lên tới, nó quay sang hỏi Phấn:

– Chị Ba dùng nước ngọt nghen?

Phấn chưa kịp trả lời thì con Ba đã bảo anh bồi:

– Anh cho tui xin hai chai nước cam mau mau một chút, chớ tự nãy giờ mắc nói chuyện tầm khào mà quên mời khách uống nước.

Phấn vội nói chen vô:

– Dạ thưa chị… Hai, xin chị Hai coi tôi cũng như là chỗ quen biết trong nhà chớ khách khứa gì đó…

Con Ba tròn xoe mắt hỏi lại:

– Ủa, sao chị kêu tôi bằng thứ hai? Hồi nãy tôi nói giỡn chơi chớ bộ muốn đòi… lớn nhỏ gì sao?

Phấn thản nhiên đáp:

– Dạ, chị Hai đây là chị… quan hai, tôi xin kêu như vậy cho nó… phân biệt hơn.

Con Ba mỉm cười lim dim đôi mắt:

– Thiệt tới bây giờ tôi mới biết… ớn chị rồi đó!

Phấn cũng cười đáp lại:

– Dạ, chị Hai nói vậy chớ tôi… hiền khô hè!

Nhưng rồi Phấn nghiêm mặt lại nói tiếp:

– Dạ, chắc chị Hai đã rõ tôi đến đây, trước để… ra mắt chị Hai, sau nữa để nhờ chị Hai chút việc…

– Cha, chị nầy ăn nói văn vẻ quá ta! Việc gì vậy chị?

Phấn đáp hơi ấp úng:

– Dạ, cũng không có việc gì khác ngoài việc thăm nuôi cho anh Tư. Nói cho đúng ra, mọi sự ở trong nầy đã sẵn có chị Hai giúp đỡ săn sóc cho anh Tư, nhưng phần tôi, tôi cũng muốn gặp mặt ảnh…

– Ối tôi tưởng cái gì chớ việc đó dễ ợt? Thiếu gì người vô thăm nuôi chồng con đó chị Ba và họ cứ ra ngoài văn phòng xin giấy là được.

– Dạ, thầy thông ngôn cũng có nói cho tôi rõ việc ấy, nhưng tôi nghĩ chắc chị Hai đây có thể giúp cho việc thăm nuôi anh Tư của tôi được… đặc biệt hơn người khác, nghĩa là được sự dễ dãi hơn…

Con Ba nhìn chăm bẳm Phấn rồi hỏi:

– Bộ chị có chuyện gì cần phải bàn tán nhiều với anh Tư sao?

Phấn cười giả lả:

– Dạ, đâu có chuyện gì cần, nhưng chắc chị Hai cũng hiểu cho: tôi là người cùng xứ với ảnh, tôi có vô ra gặp mặt ảnh ở đây thì cũng chỉ để hỏi thăm hỏi nom về chuyện nhà cửa dưới vườn. Ảnh xa nhà lâu rồi mà biệt vô âm tín, ảnh nóng ruột lắm; liền sau khi tình cờ gặp ảnh ở ngoài tiệm cây, tôi đã có nhắn tin về dưới rồi, mà mãi tới hôm nay sao người quen họ chưa có lên hổng biết!

Con Ba chép miệng than thở:

– Cha tội nghiệp ảnh quá há! (đoạn cô ta dịu giọng bảo Phấn) Phần chị, chị ráng lo hỏi thăm về chuyện dưới nhà cho ảnh, còn phần tôi, tôi lo việc thăm nuôi cho chị. À, hay chị muốn nói chuyện liền với ảnh ở đây hông, để tôi làm cách cho chị giáp mặt. Việc nầy ông hai ổng biết được ổng sẽ cự nự tôi ghê lắm nhưng không sao…

Phấn vội nói:

– Thiệt cám ơn chị Hai lắm, nhưng theo ý tôi mình nên làm cho… đàng hoàng đúng phép đúng luật thì hơn. Chớ chị Hai thương tôi mà tính như vậy, rủi ra gặp ngày vận tháng xui có chuyện gì rắc rối xảy ra thì chẳng những làm phiền chị Hai mà còn để họa cho anh Tư nữa… Mình có thương ảnh thì nên thương cho… trót lọt…

Con Ba gật gù đáp:

– Chị nghĩ vậy chín chắn lắm! Được rồi tôi xin nghe theo lời chị. À, chị biên tên họ giao cho thầy thông ngôn để thẩy chạy về mặt giấy tờ cho, còn tôi để tôi thúc mấy sếp dưới văn phòng. Và nếu chị có chuyện gì gấp muốn nhắn với anh Tư, chị cứ vô đây nói với tôi rồi tôi… thông tin lại cho.

Nghe câu sau cùng ấy Phấn có vẻ kém hưởng ứng và lợ ngợ đáp:

– Dạ thôi, chắc không có cái gì gấp đâu, tôi phiền chị Hai như vậy cũng quá nhiều rồi…

Con Ba hiểu ý cười nói:

– Thôi tôi biết rồi! Nhưng tôi nói như vầy chị đừng giận nghen: bề gì bây giờ anh Tư cũng kẹt ở trong nầy nghĩa là ảnh… nằm trong bàn tay của tôi…

Phấn nín lặng một hồi rồi gượng cười nói:

– Dạ cái đó thì tôi thấy rõ ngờ ngờ rồi… Tôi xin chịu hẹp vậy!

Con Ba biết mình đi hơi quá nên vội nói lảng ra:

– Để tôi nhờ mấy ổng lục hồ sơ coi tội trạng của anh Tư nặng nhẹ thế nào để tôi còn nhờ ông hai ở nhà ổng can thiệp dùm đỡ phần nào hay phần nấy.

Phấn mau mắn nói vô:

– Ờ, tôi cũng quên nhắc với chị Hai về cái chuyện đó nữa! Dạ… chị Hai nhắm coi anh Tư có được mau thả ra không chị? Theo tôi biết ảnh hiền như cục đất có làm chi đâu mà mấy ổng bỏ tù bỏ rạc như vậy!

Con Ba cười xòa:

– Tôi thì cũng như chị, chị em mình làm sao biết được chừng nào ảnh ra! Còn cái việc ảnh “hiền khô” đó thì… để lâm chuyện rồi mới biết… thằng chả cũng dữ dàn trời mây chớ không như chị tưởng đâu! Nhưng dầu sao, tôi cũng xin hứa chắc với chị: để bữa nào ông hai ổng vui vui, tôi sẽ liệu lời nói vùa vô ổng.

– Chuyện gì tôi hổng biết chớ chuyện đó thì tôi tin chắc mẻm là chị Hai sẽ thành công rồi!

Con Ba liếc xéo:

– Cha, chị nói như vậy là khen hay chê tôi đó?

– Dạ tôi tình thiệt nói ngay như vậy đó chị Hai à! Tánh tôi thẳng băng chớ hổng cong queo ngoắt ngoéo như người ta…

Rồi cô đứng lên nói tiếp:

– Tôi xin kiếu chị Hai… Dạ, tự nãy giờ tôi làm rộn chị Hai nhiều quá.

Con Ba cũng đứng lên theo và nói gạt ngang:

– Ối chỗ chị em mình mà! Chị đừng có ngại gì hết, khi nào rảnh xin mời chị lại chơi, tôi ở đây cũng ít bè bạn lắm!

– Dạ, tôi cũng vậy. Suốt ngày tôi chỉ lẩn quẩn ở nhà… ( rồi cô nhìn con Ba mỉm cười ý nhị ) thiệt anh Tư ảnh có con mắt lắm!

Con Ba nhướng mắt hỏi lại:

– Sao vậy?

– Vì… chị Hai rất bặt thiệp lanh lợi mà lại lịch sự duyên dáng nữa…

Con Ba xô nhẹ vai Phấn:

– Thôi chị đi! Chị nói giả ngộ hoài! Còn chị không sắc sảo mặn mòi đó sao! Tôi gặp chị tôi cũng muốn mê nữa là… con trai mới lớn lên. Hèn chi hồi tôi mới gặp anh Tư ở trên Nam Vang ảnh lớ ngớ như là bị ma hốt hồn hay bị bùa mê thuốc lú gì vậy! Và mới ràng ràng đây nè, từ bữa ảnh đi chở cây về ảnh lầm lầm lì lì lắm lúc tôi thấy mà phát ghét! (rồi nó níu tay Phấn cười nói thêm) Nầy chị Ba, phải hồi tôi còn con gái mà tôi gặp chị như trường hợp bây giờ… tôi ghen lắm đa!

Phấn làm bộ kinh hãi:

– Ý mẹt ơi, gặp tay của chị Hai đây ghen thì tôi có nước chạy tét không dám ngoái cổ ngó lại… mà về nhà ngủ hổng chừng còn dám giựt mình nữa!

… Con Ba vừa ở trên xích lô bước xuống là Phấn nhận thấy ngay. Cô vội giao thằng bé Kỳ lại cho chị vú và tất tả chạy ra đón:

– Dữ hông, bữa nay chị Hai mới đến thăm tụi nầy!

Con Ba hối hả níu lấy tay Phấn và lôi đi:

– Xin lỗi chị Ba, tôi tính lại đây hoài mà mắc công kia việc nọ thành thử cứ để lần khân mãi. Hôm nay có chuyện cần lắm nên tôi chờ ông Hai ổng qua sở là tôi phóng lại đây liền.

Phấn ngừng lại nhìn sững nó một hồi rồi hỏi:

– Chuyện gì vậy chị? Lành hay dữ? Hèn chi tôi lấy làm lạ sao chị lại đây sớm bửng… Bộ anh Tư đau ốm hay sao đó vậy chị?

Con Ba không đáp ngay mà lôi Phấn đi vào:

– Để vô nhà rồi tôi nói rõ cho chị hay… Mà có ai ở trỏng không chị?

Nhìn thấy vẻ mặt nghiêm nghị cùng cách phục sức lôi thôi của con Ba, Phấn càng đâm lo. Cô vừa đi vừa hỏi dồn tới:

– Cái gì đó chị? Anh Tư có sao không mà chị hổng nói liền cho tôi biết? Tôi mới vô thăm ảnh vào ngày hôm kia thấy ảnh… vui vẻ chớ có sao đâu!

– Chị khoan nóng, chuyện nầy nói ra đây không tiện. Tôi hấp tấp ra đây cốt có bấy nhiêu đó chớ ai muốn giấu chị làm gì chớ! Tôi hỏi chị có ai khác ở trong nhà không để chị em mình nói chuyện cho tiện mà chị cứ lo hỏi nôn tới hoài!

Phấn dịu giọng đáp:

– Xin lỗi chị Hai, bị tôi quýnh quá nên hổng nhớ gì hết… Dạ, trong nhà chỉ còn có mấy người làm công, còn ba của thằng Kỳ thì đi ra kho bạc lãnh tiền mua cây của nhà nước trả.

Con Ba gật gù:

– Ờ nếu vậy thì tiện lắm! Mà chị có chỗ nào riêng biệt văng vắng ở trong nhà để khỏi ai dòm ngó, vì chuyện nầy là chuyện… sanh tử của anh Tư lận!

Phấn tái mặt lập cập hỏi nho nhỏ:

– Trời… cái gì mà chị lại nói nghe ớn quá vậy? Chị nói phứt ra hổng được sao?

Con Ba như không để ý đến sự lo sợ của Phấn mà cứ lôi tuột cô đi và hỏi:

– Đâu chị Ba, chỗ nào tiện hả?

Phấn biết hỏi gấp cũng vô ích nên lẳng lặng dắt con Ba vào buồng trong. Đến nơi nó kéo một chiếc ghế mời khách và gượng cười nói:

– Xin lỗi chị Hai, tôi mời chị Hai vô trong nầy thiệt là không phải phép, nhưng ở đây thì khỏi sợ ai soi mói hết. Để tôi kêu con vú bưng nước lên…

Con Ba gạt ngang:

– Ối thôi nước với nôi làm chi chị!

– Dà…

Con Ba đảo mắt nhìn qua một vòng khắp gian buồng rồi chậm rãi nói:

– Chị Ba à, hôm trước tôi có nhờ người ta lục coi hồ sơ của anh Tư để xem tội trạng nặng nhẹ thể nào…

Phấn tò mò hỏi liền:

– Dạ nặng hay nhẹ hả chị Hai?

Con Ba lườm nó như có vẻ phật ý vì bị chận ngang nhưng rồi lại ôn tồn đáp:

– Nhẹ xều à!

– Vậy chắc ảnh… cũng hy vọng sớm được thả ra hả chị?

Con Ba thở dài:

– Thì tôi cũng nghĩ như vậy và mấy cha nội trên văn phòng cũng nói hổng sao, hổng sao… nhưng ai có dè đâu nó xảy ra chuyện bất tử như vầy!

– Bộ anh Tư ảnh làm cái gì bậy ở trỏng hả? (rồi cô cắn môi suy nghĩ đoạn quắc mắt hỏi sẵng) Hay là… hay là ảnh không giữ gìn tình ý để… lẹo tẹo đổ bể tùm lum ra rồi ông quan hai ổng bắt được?

Con Ba đứng phắt dậy cầm lấy cái bóp đầm xỉa xói vào mặt Phấn:

– Thiệt tôi đến đây uổng công quá! Phải tôi mà dè có thứ ghen ẩu ghen tả, nói bậy nói bạ như vầy, tui đấm thèm xuống đây làm chi cho tốn gần cả chục đồng bạc tiền xích lô!

Phấn biết mình nói quá lố nên vội đứng lên theo níu tay con Ba năn nỉ:

– Thôi mà chị Hai, tôi lạy chị… bị tôi lo quýnh quá không còn biết trời trăng gì nữa, xin chị đừng chấp nhứt làm gì tội nghiệp. Chị ngồi xuống đi, và chị làm ơn làm phước nói liền cho tôi rõ, chớ thiệt tình thì tôi… nóng ruột chịu hết nổi!

Con Ba thở dài ngồi xuống lại, nhìn Phấn lắc đầu cười gượng, rồi tằng hắng như để đổi giọng cho êm dịu hơn:

– Thôi chị cũng ngồi xuống đi. Ví dầu tôi với anh Tư mà có… lộn xộn để cho kẹt đạn kẹt vỏ như hồi nãy chị… nghi bậy như vậy, thì có nước tôi độn thổ luôn chớ dám vác mặt lại đây với chị hả chị Ba!

– Dà…

– Tôi cũng tưởng là số anh Tư đã hết nạn tai rồi, chớ có dè đâu mới đây tụi Tây nó đánh giặc đánh giã thua thiệt làm sao đó, nên tụi nó nổi khùng quyết định bắt một số anh em tù nhơn trong căng đem đưa ra Côn-đảo nay mai gì đây…

Phần hốt hoảng hỏi liền:

– Bộ trong số đó có lọt anh Tư vô hả?

Con Ba se sẽ gật đầu…

Phấn chụp níu lấy bàn tay con Ba:

– Trời đất ơi, sao kỳ cục vậy chị! Mà chị có chắc như vậy không?

Con Ba ngó mông ra phía ngoài cửa rồi thẫn thờ đáp:

– Sao không chắc! Người ta đã lập bản danh sách hẳn hoi rồi. Và tôi còn nghe nói cái số tù đưa ra đảo nầy dám bị xử bắn lắm nữa…

Phấn trợn mắt hỏi:

– Người ta đem bắn anh Tư nữa hả? Mà ảnh có tội tình gì lại chở ảnh ra ngoài đảo để giết hại như vậy cà? Sao chị ở trỏng mà chị hổng nói với người ta… còn ông quan hai đâu, chị hổng biểu ổng xét lại cho anh Tư nhờ, hay là… ổng bôi tên anh Tư trong sổ hổng được sao?

Con Ba nghe cô ta nói một hơi một dọc như vậy cũng đâm ra bực mình:

– Chị giỏi thì chị vô nói đi! Bộ chị tưởng tôi hổng biết lo sao? Nhưng tôi thử hỏi chị: cái chuyện đó ở trên tây tà người ta quyết định như vậy, ông hai ổng có môn giữ ba thằng tù chớ đâu có quyền bắt bớ hay buông tha gì đâu! Mà tôi hỏi chị thêm một câu nầy nữa: giả tỷ như ổng bôi tên anh Tư được đi, rồi sao đó phải lấy tên ai khác thế vô bây giờ?

Phấn đáp liền:

– Ý trời, tù tội cả đống ở trỏng lấy ai khác mà hổng được!

Con Ba nhìn cô ta một hồi:

– Đọ, chị nói như vậy là nói càn mạng đa! Chị hổng nghĩ rằng nếu có bắt được người khác thế vô thì cũng là… người như anh Tư, nghĩa là họ cũng có những người thương yêu họ và biết đâu họ lại còn có con thơ con mọn ở nhà… mình làm như vậy có phải thêm tội không?

Phấn xẻn lẻn cúi đầu, nhưng còn nói gượng:

– Thì tôi cũng nói bừa như vậy… nhưng chắc thiếu gì người khác một thân một mình… (rồi cô ngước mắt lên hỏi) Bây giờ chị tính sao đây, chẳng lẽ ngồi đó ngó để cho tụi nó xách đầu anh Tư đem bắn sao?

Con Ba không trả lời mà lấy bóp mở ra lấy thuốc hút. Nó ngồi trầm ngâm nhả khói bay từ từ… Phấn thấy vậy cũng bắt ngứa mắt, nhưng biết không thế nào làm khác hơn được nên đành ngồi chờ.

Con Ba đưa ngón tay búng nhẹ cho tàn thuốc rớt xuống đất rồi chậm rãi nói:

– Tôi cũng nghĩ nát nước hết mà chẳng tìm ra mưu kế gì được…

Phấn thở dài cựa mình một cách có vẻ bực bội làm chiếc ghế kêu răng rắc.

Con Ba thản nhiên nói tiếp:

– … Bởi vậy tôi mới ra đây, trước là để cho chị hay, sau là để… xem coi chị có cách nào gỡ nạn cho anh Tư chăng?

Phấn đâm ra lúng túng:

– Chị ở trỏng quen lớn với các quan quyền khắp mặt hết mà chị còn chịu co tay kia huống hồ gì tôi ở tí mú ngoài nầy! Hay là chị nghĩ coi mình có thể chạy chọt lo lót ông nào được không? Nếu được, nói nào ngay, tôi cũng có sẵn chút đỉnh tiền nong…

Con Ba đáp một cách không hăng hái chút nào:

– Kể ra thì cũng có chút ít hy vọng về mặt đó, nhưng… nhưng tốn hao lắm và nếu anh Tư khỏi bị đày ra đảo thì cũng bị giam lại ở đó chớ bộ ra được sao!

Phấn chụp nói liền:

– Tốn hao bao nhiêu tôi không tiếc miễn anh Tư còn đó là được, rồi thủng thỉnh mình lo chạy chọt sau để lãnh ảnh ra… Hay là nếu chị sợ dính dấp vô thì để tôi nói thẳng với thầy thông ngôn nhờ thẩy đi vận động với mấy ông bự giùm…

Con Ba nói gạt ngay:

– Hổng được đâu! Chuyện nầy là chuyện… kín, chị làm tài khôn tài khéo cho nó đổ bể tùm lum lên rồi Tây nó đem lưu anh Tư đi chỗ khác, ở ngoài nầy đi ở tù cả đám hết… Chuyện đó là chuyện chết chớ hổng phải nhảy a làm càn được đâu nghen!

Phấn cau mày nhìn con Ba một hồi lâu rồi nói:

– Coi, chị kêu tôi tìm cách gỡ nạn cho anh Tư mà hễ tôi nói ra câu nào thì chị bác đi tuốt hết? Như vậy còn bàn với tính gì nữa được! Chị đã nói chị chịu co tay thì ít nữa chị cũng để tôi… liều mạng cho ảnh chớ?

Con Ba ấp úng đáp:

– Thì tôi có nói gì đâu… Tôi sợ mình tính chưa được chín chắn, rủi ro có bề gì thêm nữa thì vô kế khả thi…

Phấn cười lạt:

– Chắc chị sợ tôi chạy chọt cho anh Tư được rồi tôi rinh ảnh mất hả? Hông đâu, nếu khỏi đi đảo thì bề gì ảnh cũng còn kẹt ở trỏng… chớ có bay mất đi đâu mà chị ngại hổng biết!

Con Ba đỏ mặt quăng mạnh tàn thuốc xuống đất, lấy dép chà lia cho tắt lửa, rồi hầm hầm nói:

– Chị đừng ỷ có ba đồng tiền đó rồi muốn nói quàng nói xiên gì thì nói nghen! Bộ chị nói tôi đây lo cho ảnh không được hả?

Phấn thản nhiên đáp:

– Thì cũng như… chị ỷ có ông quan hai vậy mà… Thôi bây giờ… xả càng, mạnh ai nấy lo cho anh Tư.

Con Ba đập mạnh tay vào thành ghế:

– Coi, bộ chị nói giỡn sao chớ! Mạnh ai ấy lo rồi chị hổng biết đách gì hết, rủi có trặc trẹo chuyện gì hư luôn công việc của tôi rồi sao hả? Chị giỏi chị… qua mặt anh Tư được chớ với tôi, xin lỗi… cái đó còn hơi lâu đa!

Phấn cười mũi:

– Chị Hai thiệt khó tánh quá! Bây giờ chị Hai tính sao đây chị làm ơn nói huỵch tẹt ra rõ đi chớ úp úp mở mở hoài, tôi ngu dốt lắm không biết được!

Con Ba định nói “trả đũa” lại nữa nhưng rồi lại chép miệng than:

– Anh Tư ảnh sắp ngoẻo tới nơi mà ở ngoài nầy tôi với chị mải lo ăn thua đủ với nhau như vầy hoài rồi làm sao được kìa!

Phấn cũng nhận thấy sự vô lý đó nên thở dài rồi dịu giọng nói:

– Thôi, chị ráng lo cho ảnh đi. Chị ở gần bên trỏng thì thế nào chị cũng dễ tính hơn tôi, rồi có cái gì cần tới, chị cứ nói với tôi để tôi ráng sức mà giúp vào. Chẳng lẽ bây giờ, mạnh đằng chị chị lo, mạnh đằng tôi tôi chạy… như vậy chẳng những tốn công vô ích mà nhiều khi còn tréo ngoe với nhau nữa…

– Thì đó, như hồi nãy tôi đã nói với chị: mình nên suy tính kỹ mới được! Thế nào rồi đây tôi cũng phải nhờ chị giúp vô một phần lớn, chớ một mình tôi, tôi đâu có ba đầu sáu tay mà lo cho xuể hết được. Vả cũng vì chỗ đó mà tôi vội vã ra đây cho chị hay…

Phấn ngạc nhiên hỏi:

– Ủa, vậy chị chưa cho anh Tư ảnh biết tin đó sao?

Con Ba lắc đầu:

– Chưa chị à! Tôi tính để mình bàn với nhau trước đã rồi mai mốt đây tôi cho anh Tư hãy cũng không muộn.

– Rủi họ đưa ảnh đi liền sao chị?

– Không đâu, tôi biết ít lắm một tháng nữa mới có chuyện đó. Bây giờ mình cho ảnh hay trước, rủi ảnh chộn rộn lên thiên hạ trong căng biết hết thì càng thêm khó khăn nữa!

Phấn nhích ghế lại gần con Ba, rồi ngập ngừng hỏi:

– Chắc chị có tính ra một kế gì… Chị có thể nói sơ qua cho tôi nghe được không chị Hai?

Con Ba mím môi nhìn xuống đất một hồi rồi ngước mặt lên chậm rãi đáp:

– Cách nầy cũng hơi… mạo hiểm một chút, vì bây giờ anh Tư chỉ có nước là trốn đi.

– Ý trời, ở trỏng con ruồi bay ra hổng lọt rồi làm sao anh Tư ảnh đi cho thoát được?

– Ậy, chị đừng có lo… Tôi đã nghĩ ra cách rồi, nhưng phải có người ở ngoài nầy chứa chấp đỡ ảnh một vài ngày rồi mới có thể trốn luôn về dưới vườn được, chớ nếu để anh ra đi lớ ngớ ngoài đường ngoài chợ, giấy tờ không có thì chỉ vài tiếng đồng hồ sau là ảnh bị thộp cổ lại liền.

Phấn có vẻ lo ngại hỏi thêm:

– Nhưng “chứa” ảnh vào đâu bây giờ?

Con Ba mỉm cười nói:

– Thì việc đó… tôi xin nhờ đến tay chị.

Phấn trợn mắt:

– Ý hổng được đâu! Ba thằng Kỳ là người Tàu làm ăn nên họ kỵ việc đó lắm, đời nào thằng chả dám chứa thứ… quốc cấm ấy trong nhà.

– Coi, chị phải ép buộc thằng chả chớ!

Phấn nhăn nhó:

– Phải mình tôi thì cái gì cũng được hết ráo trọi, nhưng có thằng chả vô đó khó nói lắm. Chị bắt thằng chả chung ra vài chục ngàn thì thằng chả chịu liền, chớ bắt chứa anh Tư trong nhà một chút xíu thằng chả cũng lạy dài đó chị à!

Con Ba vẫn tươi cười như thường:

– Chị thiệt dở khẹt! Chị phải viện cớ rằng hồi đó thằng chả… hại anh Tư thiếu điều chết đứng thì bây giờ thằng chả ráng chứa chấp anh Tư trong nhà một đôi ngày mà ăn nhằm gì! Cái đó cũng như để đền bù thiệt hại khi xưa vậy mà!

Phấn mím môi suy nghĩ một hồi rồi nói:

– Tôi nghĩ rồi: hay là chị để tôi lãnh phần đưa anh Tư luôn tuốt về dưới vườn, đi có cặp như vậy hổng ai để ý sanh nghi được. Ờ phải đa, chị làm ơn kiếm giùm ảnh một cái giấy tờ gì tạm cũng được, hay thôi để tôi lo luôn vụ nầy cũng được vì tôi biết có chỗ chỉ tốn kém chút đỉnh là họ cho mình một cái giấy “lách xê” rồi…

Con Ba cười mũi:

– Nếu chị đưa ảnh về dưới được thì tôi đây đưa không được sao? Tôi cũng đã tính bỏ luôn ông hai để dông trốn theo ảnh một lượt… như vậy có phải gọn bân không?

Phấn nhổm người lên:

– Chị nói thiệt hay nói chơi đó? Chị dám bỏ ông quan hai để mạo hiểm trốn theo anh Tư sao? Hay là chị định nói dọa cho tôi ngán hả chị Hai?

Con Ba ngả người dựa lưng trên ghế rồi mỉm cười đáp:

– Ai mà thèm dọa làm gì hổng biết! Chắc chị chưa rõ: chớ giữa tôi và chị, người dám liều mạng cho anh Tư là tôi đây nè! Tôi cũng xin nhắc thêm: con nầy chưa lần nào làm phiền lòng anh Tư một chuyện gì, dầu là một chuyện chút xíu bằng ngón tay út cũng vậy đó chị!

Phấn cười lạt:

– Thì tôi biết chị giỏi rồi mà! Nhưng chị cũng giỏi luôn về cái chuyện ghen tranh của người ta nữa! Điều nói là nói vậy, chớ tôi dư biết nếu tôi đây có lo cho anh Tư đi trốn như hồi nãy tôi bàn đó, thì chị cũng phá ngang chớ dễ gì để cho thành công được!

Con Ba ngao ngán thở dài:

– Quả tình tôi có nóng tánh chút đỉnh, nhưng tôi đâu có đến nỗi tệ quá vậy! Tôi hỏi chị: tôi với chị cứ tranh giành nhau. rủi ro để cho anh Tư ảnh bị kẹt chết luôn rồi tới chừng đó chỉ có nước ngồi ngó nhau mà khóc!

Phấn vẫn còn cau có:

– Chị nói thì nghe ngọt lắm… nhưng hễ tôi dính vô chuyện anh Tư là chị nhảy đong đỏng lên! Ờ, nếu rủi ảnh bị kẹt thì cho ảnh chết luôn… ai biểu ảnh đụng đâu cũng làng chàng đó hết!

Con Ba cười xòa:

– Đừng nói bậy nà! Ảnh mà kẹt chết luôn thì tôi cũng không ngơ mà chị cũng… trớt vó, như vậy tôi với chị ghen tranh với nhau để làm gì hả?… Thôi tôi nhường cho chị đó; ít ra cũng có một người… hưởng được!

Phấn mắc cở cúi đầu làm thinh. Con Ba nhích ghế lại gần, thân mật vỗ nhẹ lấy vai nó:

– Tôi thiệt tình với chị và quý anh Tư lắm nên tôi mới cất công ra đây, chớ phải tôi có bụng xấu muốn chiếm… độc quyền ảnh thì tôi làm êm ở trỏng rồi!

Phấn có vẻ cảm động:

– Xin lỗi chị Hai… bị tôi rối ruột hết, với lại thiệt tình thì tôi cũng muốn nhơn dịp này mà… theo luôn anh Tư để… chuộc lỗi ngày trước, cái chuyện giữa tôi và ảnh chắc chị Hai cũng đã rõ, và hồi trở về dưới quê, tôi cũng đã năn nỉ ỉ ôi ảnh đủ điều để ảnh theo tôi mà ảnh cứ trơ trơ, tuy tôi dư biết lòng ảnh cũng… như cũ.

– Vậy hả! Tội nghiệp quá há! Nhưng thôi chị Ba à, phận mình dầu sao cũng đã yên thì không nên chộn rộn nữa làm gì! Không phải bây giờ tôi mới nói tốt, chớ tôi cũng đã nghĩ rồi chị ơi: nếu anh Tư đi một mình êm thì chẳng khó khăn gì mấy, chớ nếu có tôi hoặc chị trốn theo nữa thì rắc rối thêm nhiều lắm lắm.

– Sao vậy chị?

– Có gì lạ đâu: tới chừng đó, hoặc ông hai hoặc ông chủ ngoài nầy… mất vợ, thì trời cản mấy ổng cũng nhốn nháo cả lên, rồi thưa gởi tìm kiếm lung tung beng… như vậy có phải làm cho anh Tư…. mệt thêm không?

Phấn gật đầu nói liền:

– Ờ phải há!

– Bởi vậy mình có… thương anh Tư thì phải thương cho trót và cho đúng điệu. Phần chị, xin chị ráng nói khéo với ông chủ cho anh Tư ở đỡ đôi ba bữa đi chị!

– Đâu chị bày cách cho tôi coi, chớ bây giờ tôi lú ruột lú gan hết…

Con Ba mỉm cười đáp:

– Dễ như chơi mà: thì chị cứ bắt ép ổng luôn về hai mặt tình và… lý: một là ổng phải tính chuyện ơn nghĩa với anh Tư, hai là nếu ổng hổng tính cho xuôi thì để cho chị tính…

– Tính sao đó chị Hai?

– Thì chị cập tàu trốn luôn theo anh Tư chớ sao nữa!

Phấn phải cười xòa, nhưng rồi thắc mắc hỏi lại:

– Nhưng rủi thằng chả đi báo cáo rồi sao chị?

Con Ba cau mày:

– Ừ còn cái chuyện đó nữa há! Mà khỏi lo: chị nói trước với ổng nếu ổng sanh tâm làm bậy thì kẹt luôn cả chị nữa, vì chị là đồng lõa kia mà! Và chị nói thêm luôn: nếu ổng rục rịch thì chị còn khai càn luôn là ổng cũng có dính líu vô nữa, nhưng sau vì ghen nên ổng mới đi báo, và ổng còn đóng thuế đóng má cho bên kia nữa. Tây nó nghe nói vậy nó ham lắm nghen, vì ổng là ông chủ có bạc cắc nhiều mà!

Phấn lắc đầu cười:

– Thiệt tôi phục chị Hai sát đất! Chị mà tính cái gì ra là có môn chết thiên hạ hết!

Con Ba khiêm tốn đáp:

– Biết sao bây giờ chị! Ở đời, mình đâu có thể nào ở cho vừa lòng khắp mọi người được, và bởi vậy chỉ còn có cách: thương cho phải chỗ, ghét cho đáng nơi. Cái công việc mình tính đây cũng không phải là để hãm hại ông chủ ở nhà; mình chỉ “dạ hành tỏ” cho ổng ngán chơi nếu có trường hợp ổng không… vui vẻ thuận theo ý mình… Đó chị coi, đâu có cái gì ác đức đâu phải hông chị Ba?

Phấn mau mắn tán đồng:

– Phải rồi chị Hai à! Tôi cũng thấy không sao nên mới sẵn sàng nghe theo ý chị, vì bề nào thì ông chủ đây cũng là… chồng của tôi và thiệt ra thằng chả cũng thương tôi dữ lắm!

– Chớ bộ ông hai ở trỏng không thương tôi gắt củ kiệu đó sao?

Phấn cười xòa:

– Thì ai có nói gì đâu, nhưng của chị khác, của tôi khác… (rồi như sợ con Ba sẽ hỏi phăng tới về chỗ “khác nhau” ấy, Phấn vội nói lảng ra) Hổng nói giấu gì chị: nếu gặp tay khác thì hổng dễ gì tôi chịu nghe lời êm rơ vầy đâu nghen!

Con Ba lắc đầu:

– Thiệt tôi cũng… bái chị luôn! Nội cái tôi nghe chị nói sơ sơ qua, tôi cũng đủ ớn xương sống rồi.

Đoạn nó đứng dậy xách bóp lên:

– Thôi, tôi xin kiếu chị để cho tôi về lo sắp đặt công chuyện và hễ tôi tính xong đâu đó đàng hoàng tôi sẽ ra cho chị hay liền.

Phấn cũng đứng theo lên:

– Ờ, chị nhớ ra cho tôi hay liền nghen chị Hai. Mà chị về trỏng cũng liệu cách nào cho anh Tư ảnh rõ công chuyện nầy…

– Cố nhiên rồi, cái đó chị để kệ tôi. Còn phần chị, theo tôi nghĩ thì chị cũng nên ngưng luôn cái vụ đi thăm nuôi anh Tư bây giờ đi, như vậy để mình tránh được mọi sự tình nghi sau này.

Phấn đành miễn cưỡng nhận:

– Chị nói tôi hiểu rồi… đành chịu vậy chớ biết sao, chớ thật ra tôi cũng nôn gặp mặt ảnh lắm!

– Thì để nữa rồi mặc tình mà gặp (rồi nó liếc xéo Phấn)… hay là chị kiếm một căn nhà nào mướn sẵn để anh Tư ra là dông lại đó rồi. Như vậy “thăm nuôi” ảnh lu bù được đa! Ờ mà phải, chị nên tính như vậy đi, như vậy ông chủ tiệm đây đỡ ngán và cũng khỏi sợ tây tà nó dòm ngó nhà chị!

Phấn mỉm cười hoài nghi:

– Thôi chị đừng xí gạt tôi nữa chị Hai!

– Thiệt mà! Nhưng miễn là ông chủ đây đừng có ghen quá là được!

– Để tôi nghĩ lại coi… Mà thằng chả có ghen thì cũng ráng bấm bụng chịu cho nó quen…

°   °
°

Khi nghe con Ba cho biết là mình có tên trong đám đi đảo và có thể nguy được, Tư Cầu đứng ngẩn ngơ một hồi lâu rồi mới lấp bấp hỏi lại:

– Mà em chắc có như vậy không? Sao anh nghe anh em trong trại người ta xầm xì là sắp có thả nhiều lắm!

Con Ba trề môi:

– Thả xuống biển thì có!

Tư Cầu thở dài:

– Nếu vậy thì cái số của anh xui tận mạng rồi… Cha, hổng biết làm sao cho dưới nhà hay…

– Xui khỉ gì! Sao anh hay tin bá láp quá! Nói vậy cả trăm người khác bị đưa ra Côn đảo thì cũng tại số xui hết sao?

– Thì mình hổng biết đổ thừa cho ai bây giờ… chỉ còn cách nói là tại cái số…

– Có số hên xui hay không là cũng do nơi em đây nè!

Tư Cầu ngó nó lom lom:

– Em sao lúc nào cũng nói bông lơn được hết!

Con Ba nghiêm giọng nói:

– Em nói thiệt đa! Và sở dĩ cho anh hay là để bàn với anh chuyện tìm cách để anh thoát đi!

Tư Cầu trợn mắt rồi ngó dáo dác:

– Trốn đi! Cái nầy là em nói giỡn đa!

Con Ba không buồn trả lời câu đó mà hỏi luôn:

– Nhưng anh có dám mạo hiểm trốn không hả?

Tư Cầu hốt hoảng đáp:

– Ý hổng nên đâu!

Con Ba lắc đầu:

– Xí, cái gì anh cũng nói hổng nên hết! Vậy chớ anh để nó xách đầu đày ra Côn-đảo, rồi đem bắn đạp xác xuống biển cho cá mập cá xà nó xực… như vậy chắc nên lắm há!

Tư Cầu đáp xuôi xị:

– Thì ai mà muốn như vậy, nhưng em nghĩ coi mình làm sao ra lọt khỏi chỗ… Thập điện Diêm vương nầy?

– Cái đó để em lo.

Tư Cầu lắc đầu:

– Như vậy càng không nên nữa: anh không muốn em phải liên lụy vì anh. Phận anh, dầu có chết năm bảy mạng cũng chẳng ăn thua gì, còn em… em như vầy kể như cũng sung sướng hơn người ta rồi…

Con Ba bực mình:

– Em sung sướng hay không thì kệ mồ em! Bộ em dại lắm sao mà để cho anh trốn thoát rồi đưa đầu cho Tây nó thộp! Anh cứ việc xách cái thân xác của anh dông đi, mọi việc để kệ em…

– Rồi em cũng phải dông nữa chớ bộ dám ở lợi chịu trận à?

Con Ba chắc lưỡi:

– Thằng cha nầy sao… bư quá. Bộ em ngu để cho tụi nó làm khó dễ gì được em sao chứ! (rồi nó tha thiết nói tiếp) Mà ví dầu sau khi anh đi rồi, em bị rắc rối lôi thôi gì nữa, em cũng vui lòng mà! Chớ em hỏi anh: em quen biết với anh làm chi mà không nhờ cậy gì được ráo trong những lúc nầy?

– Em tốt với anh quá đỗi rồi, anh nỡ nào để em phải dính vô thêm cái thứ chuyện chết đó! Anh chỉ xin em một điều: là khi anh ra đảo rồi em làm ơn kiếm cách nhắn tin về dưới nhà giùm. Cha, chắc tía má anh ở dưới vườn được tin nầy ổng bả rầu thúi ruột! Thiệt anh chưa có làm được việc gì cho ổng bả vui lòng hết… (rồi anh ta mỉm cười chua chát) Còn cái chuyện tranh đấu cho nước nhà độc lập, anh cũng chưa làm khỉ gì nữa! Mới chộn rộn đôi chút là bị thộp đầu lên đây, rồi sắp sửa ra đảo để gởi xương ở ngoải… Ứ hự, cuộc đời của anh toàn là ăn xài lớn mà hổng mua được cái gì cho coi được hết!

Con Ba ngó châm bẩm anh ta:

– Còn trối trăn cái gì nữa thì nói luôn một lượt đi! Anh sao như con gà chết! Em đã nói hổng sao hết: em có cách nào cho trốn đi êm ru mà anh hổng chịu nữa hả? Thì anh vừa nói: anh chưa có làm cái gì nên thân nên hồn hết, vậy mà anh… chịu khó nằm ở đây chờ cho Tây nó chặt! Thiệt nhiều lúc em không hiểu trong đầu trong óc anh có cái gì ở trỏng nữa! Thôi được rồi để nữa em cho hai bác ở dưới vườn biết ngày nào mà Tây nó xách cổ anh đem ra bắn ở ngoài đảo, để hai bác biết mà cúng quảy và giỗ chạp cho anh… như vậy chắc anh mát ruột lắm hén!

Tư Cầu có vẻ mủi lòng:

– Em đừng nói xiên nói xéo, nói cay nói đắng như vậy làm gì… bộ như vầy chưa đủ rối ruột sao chớ! Con chó nó còn muốn sống ăn… bậy thay, huống hồ gì anh đây còn cha mẹ, còn anh em, còn bạn đồng đội… Mà em có chắc là anh đi êm được hông và khỏi phải bị lôi thôi gì hông?

Con Ba gật đầu:

– Chắc… (nhưng rồi nó nghiêm mặt nói thêm) Mà có chắc hay không là cũng do nơi anh: anh cứ làm như thường và tới chừng đó là dông một mạch, chớ cái điệu bộ xăng văng xéo véo như gà mắc đẻ cục tác của anh đó, thì chỉ có nước chết sớm, mà đố khỏi còn gây họa lây cho em nữa!

Tư Cầu nghển cổ, ưỡn ngực:

– Sao em… coi rẻ thằng nầy quá vậy! Để nữa rồi em coi… Nhưng chừng nào trốn hả em và trốn bằng cách nào? Chớ anh coi bộ ở đây con kiến bò ra cũng còn khó!

Con Ba cười rồi hạ thấp giọng:

– Bò ra hổng lọt nhưng leo ra thì được. Đây nè, anh liếc mắt nhìn chỗ nóc dãy nhà bồi bếp coi, chỗ đó anh có thể leo lên nhảy phóng ra ngoài dễ ợt.

Tư Cầu ngoái cổ nhìn đăm đăm về phía ấy… Thấy vậy con Ba lấy chân đá vào ống quyển anh ta:

– Coi, mới nói đó mà anh cũng ẩu rồi! Anh nhìn len lén hổng được hay sao mà phải ngó thiếu điều rớt con ngươi vậy!

Tư Cầu xẻn lẻn quay lại:

– Ờ chỗ đó coi bộ được đa! Nhưng sao Tây nó hổng rào một lớp dây kẽm gai cà?

– Bộ muốn lắm hả?… Thì anh nghĩ coi trên nầy là nhà của ông hai chớ bộ chỗ nhốt mấy cha nội ở dưới trại hay sao mà cần phải rào kỹ như vậy! Nhưng anh phải để ý ở hai đầu có lô cốt canh đó nghen.

– Cha, như vầy mới ló ra tụi nó hay hết còn gì?

– Hay khỉ gì được! Phía ngoài vách tuy trống trải, nhưng phía trong nầy thì anh khỏi lo, vì nhờ có mấy cây vú sữa cành lá um tùm de ra trên mái nhà. Anh chỉ leo lên đó rồi phóng đại ra ngoài, tới chừng đó dầu trên lô cốt tụi nó có thấy và ria theo thì cũng không kịp, mà hễ anh chạy tuốt được vô xóm nhà lá trước mặt thì kể như êm đi. Nhưng anh khỏi lo gì hết: tụi lính canh nó để ý bên phía mấy dãy căng của tù hơn là ngóng chừng lên trên nầy, nhứt là anh vọt ra vào lúc hơi sập tối trước giờ tập hợp về trại thì chắc ăn lắm.

Tư Cầu lại liếc chừng về phía mái của dãy nhà bồi bếp rồi thắc mắc hỏi:

– Nhưng từ dưới đất lên trên mái cao tổ cha rồi làm sao leo lên nổi?

– Hứ, bộ để nữa em cõng anh lên chắc! Anh cứ yên tâm về điểm đó: miễn làm sao tới ngày tới giờ ấy em sắp sẵn có cách anh leo được lên trển thì thôi!

– Sao em tính coi bộ chắc ăn quá vậy?

Con Ba mỉm cười:

– Từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ, cái gì có chắc ăn… chắc cứng thì em mới làm bằng không thì khỏi đi! (rồi nó nghiêm mặt bảo Tư Cầu) Nhưng mà nè, anh nghe em dặn kỹ đây: về dưới trại đừng có bép xép cái miệng một lời một tiếng nào hết đó nghen!

Tư Cầu gật đầu:

– Ừ mà!… Nhưng anh nói cho bác Tám biết sơ sơ được chớ? Bề gì anh cũng phải từ biệt bác…

Con Ba nhăn nhó:

– Thôi cho tôi xin đứt cái chuyện đó đi! Anh mà hở môi ra cho bác biết thì anh chết sớm! Bác cũng có tên trong số bị đưa ra đảo nữa đó nghen!

Tư Cầu hốt hoảng nói:

– Ý trời, bác cũng bị chung số phận đó sao! Vậy mà tự nãy giờ em hổng chịu nói liền…

Con Ba ngắt ngang:

– Nói làm chi chớ!

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Thì sẵn dịp có anh đi, mình cho bác theo luôn.

Con Ba quắc mắt:

– Thôi đi tía! Thiệt mới căn dặn ràng ràng đây mà anh còn tính như vậy. Em nói cho biết: bị có anh kẹt vô trỏng nên em ráng sức mà lo, chớ thiên hạ thì… em xin chịu thua…

– Em ráng thêm một mình bác Tám nữa hổng được sao? Mình cho bác tháp tùng vô… có tốn hao gì đâu. Bác còn vợ con ở nhà… tội nghiệp người ta em à?

Con Ba sẵng giọng:

– Em nói hổng được là hổng được. Em cũng biết thương người ta lắm chớ chẳng phải không, nhưng trong trường hợp sống chết nầy, em nói thiệt: em thương anh nhiều hơn và trước hơn ai hết… nhiều và trước hơn cả mình em nữa!

Tư Cầu buồn bã đưa mắt nhìn quanh để kiếm bác Tám, nhưng chẳng thấy bác ở đâu hết. Anh ta thở dài chép miệng than:

– Thiệt ở đời có nhiều cái tréo cẳng ngỗng quá: người đáng được cứu thì lại để cho… chết! (rồi anh ta quay sang nhìn con Ba với đôi mắt cầu khẩn) Em à, đằng nào thì cũng nguy hiểm, vậy em cho bác theo đại với anh để cho có bạn một khi trốn được ra ngoài…

– Ý trời, một người mới dễ trốn, bây giờ anh lại tính dắt theo lùm đùm lề đề… năm bảy người nữa thì đứng cách xa mười cây số, tụi nó cũng biết rõ là mấy cha đi trốn. Em nói dứt dạt như vầy: một là anh vượt một mình anh, hai là anh ở luôn trong nầy cùng bác Tám để chờ ngày đi đảo cho đủ cặp, hai điều đó, anh phải lựa chọn một chứ đừng nói lằng nhằng gì nữa.

Tư Cầu trả lời xuôi xị:

– Thì thôi anh đi một mình vậy!

Bỗng anh ta nhớ trực lại điều gì nên hấp tấp nói liền theo đó:

– Ý mà hổng được em ơi!

– Cha nầy sao rắc rối tổ mẹ! Cái gì mà hổng được hoài hủy vậy hả?

– Anh hỏi em: rủi anh đi rồi ở nhà tụi nó nhè bác Tám mà tra bác thì sao? Cái chuyện đó dám có lắm nghen!

Con Ba chán nản thở ra:

– Dầu cho chắc có đi nữa thì… đành vậy chớ biết sao! Trời ơi, cái chuyện thoát khỏi nơi đây khó giàn trời, bởi vậy miễn sao anh đi cho trót lọt là mừng rồi chớ hơi sức nào mà lo bao đồng thiên hạ nữa được!

Tư Cầu lắc đầu nói:

– Anh đi mà để phiền lụy cho em, rồi bây giờ cho cả bác Tám nữa… cái đó thiệt không nên em à!

– Tụi nó bắt mấy người ở tù, rồi bắt đưa ra đảo, rồi đem đi xử tử… như vậy có nên không? Còn mấy năm nay đánh giặc đánh giã, bắn nhau rầm rầm… như vậy có nên nữa không? Thiệt nói chuyện với anh nhiều lúc tức ói máu!

Tư Cầu chẳng biết nói sao nên kiếm cách hỏi lảng ra:

– À còn điều nầy nữa: một khi anh thoát khỏi nơi nầy rồi làm sao anh có đủ giấy tờ và nếu đi dìa dưới rủi Tây chận xét dọc đường rồi anh tính sao đây? Ở trên nầy lạ nước lạ cái, đường đi nước bước một tấc anh chẳng rành… chết ở chỗ đó nữa!

Con Ba cười đáp:

– Cái đó anh khỏi lo: em đã sắp đặt sẵn hết cho anh, hễ anh ra rồi thì có chị Phấn ở ngoài chỉ lãnh phần… bao bọc anh sao cho êm thấm hết thì thôi!

Tư Cầu dẫy nẩy:

– Trời ơi, sao em lại để dính vô… cô Ba ở ngoải nữa! Nội mình em đây cũng đủ rồi…

– Cha, lo cho con mẹ chủ tiệm quá há!

– Hổng phải…

– Phải trái khỉ gì! Em với chị Phấn đã bàn tính đâu đó sẵn hết trơn rồi: anh vượt qua khỏi căng nầy thì có chỉ rước anh liền và tới chừng đó, hai ông bà mặc sức muốn làm gì đó thì làm…

Tư Cầu cự nự:

– Em sao cứ nói giọng đó hoài!

Con Ba ra dấu bảo Tư Cầu đi:

– Thôi ra ngoài với bác Tám đi! Mà nhớ không được hở môi cái gì hết đó nghen!

– Ừ mà!

Tư Cầu lủi thủi đi trở ra ngoài sân kiếm bác Tám. Thấy anh ta ra, bác Tám nhìn anh ta một hồi rồi cười hỏi:

– Mọi khi chú gặp bả, mặt mày chú tươi rói, còn hôm nay sao lại chù ụ như chim ục vậy? Bộ bả còn cự nự chú về cái chuyện chủ tiệm cây hả?

Tư Cầu lắc đầu nín thinh.

– Hay là bả trì kéo gì nữa phải không?

Tư Cầu lại lắc đầu.

– Vậy chớ chuyện gì? Qua coi bộ chú em ăn cơm gạo lức nhiều quá rồi mà vẫn còn… khó tánh!

Tư Cầu chẳng biết trả lời làm sao nên chỉ nói cho xuôi:

– Chuyện nầy là chuyện riêng… bác hổng biết đâu!

Bác Tám cười xòa:

– Chuyện riêng… thì lần nào cũng chuyện riêng của chú mầy hết mà làm cho qua đây xất bất xang bang! (rồi bác liếc xéo Tư Cầu) Chuyến này, qua mong sao cái chuyện riêng của chú mầy… để qua đứng yên qua một bên thì khỏe lắm!

Câu nói ấy làm cho Tư Cầu bứt rứt khó chịu. Anh ta vặn vẹo mấy ngón tay vào nhau một hồi rồi nói như than thở một mình:

– Không biết trời xui đất khiến cho tui gặp bác trong nầy làm gì…

Bác Tám có vẻ không bằng lòng:

– Coi, bộ chú em mầy phiền trách việc đó hả? Đã đành rằng có lúc qua cản mũi cản lái chú em thiệt, nhưng lần nào qua cũng “ủng hộ” chú em hết mình mà!

Tư Cầu vội đáp:

– Thì đó! Bác tốt bụng với tui quá nên tui… lo quá bác à! Tui làm phiền bác nhiều quá!

Bác Tám làm bộ cự nự:

– Chú em mầy đừng nói cái giọng đó nghen! Tuy qua có tật hay nói lốp bốp cái lỗ miệng nhưng thiệt tình qua thương chú em mầy lắm! Và qua chẳng thấy có gì phiền ráo.

Tư Cầu dợm nói nữa nhưng bác Tám đã xua tay:

– Qua hổng nghe thêm tiếng nào nữa đâu! (rồi bác dịu giọng bảo Tư Cầu) Thôi, sẵn tay chú mầy khô sạch, chớ qua mới đi tưới kiểng nên ướt chèm nhẹp hết, chú mầy làm ơn đi gói cất giùm ba cái hột ngải qua để phơi trên bực thềm đó! Lấy giống ngải quý đó để dìa dưới trồng một hàng trước nhà qua đó chú em!

Tư Cầu đứng ngó trân trân bác Tám một hồi, môi anh ta mấp máy như muốn nói một điều gì lắm, nhưng rồi anh ta lại cúi đầu lủi thủi đi ra chỗ bác Tám để phơi mấy hột ngải bông giống.

… Đến nơi, Tư Cầu từ từ ngồi xuống dưới bực thềm một cách gần như là thành kính, rồi chậm rãi và trịnh trọng gói mấy cái hột ngải lại như gói một di vật quý báu nhứt đời. Xong xuôi đâu đó, Tư Cầu đứng dậy quay lại nhìn bác Tám: bác vẫn thản nhiên tiếp tục tưới mấy hàng bông kiểng… rồi anh ta liếc mắt về phía nóc dãy nhà bồi bếp: cái khoảng trời xanh xanh và lồng lộng ở ngoài kia ấy, tuy tối cần cho mạng sống của anh ta, nhưng quả thật không có chút gì hấp dẫn hết.

°   °
°

Mấy hôm nay lại có thêm một tốp anh em tù đi lên trên nhà ông quan hai để lo việc quét nước vôi lại tường vách trên ấy. Vì có thêm đông người làm nên khung cảnh trên nhà ông quan hai trở nên ồn ào rộn rịp chớ không vắng lặng trống trải như mọi khi. Và điều đó càng làm cho Tư Cầu thêm sốt ruột.

Mới rồi đây, con Ba có cho Tư Cầu biết là nên chuẩn bị… tinh thần cho sẵn sàng để chờ dịp thuận tiện là dông liền và cái dịp ấy, theo như con Ba đã căn dặn đó, thì cũng rất gần kề. Nay thấy người ở dưới trại lên thêm để làm “lao công” trên nầy, Tư Cầu bắt lo thêm: mọi khi lẻ tẻ một vài người thì còn dễ, chớ bây giờ đông quá… và Tư Cầu có cảm giác là ai ai cũng soi mói nhìn tới mình hết. Mấy lần anh ta định tìm con Ba để hỏi thăm về việc đó nhưng chẳng thấy con Ba ló mặt ở đâu cả.

Mãi đến chiều, trong lúc anh ta xách nước ra tưới bồn bông ở phía đằng trước biệt thự thì đã thấy con Ba đang đứng ngắm nghía mấy cụm lài mới trổ đầy bông búp. Tư Cầu xách thùng nước lại tưới cây kiểng ở đầu đằng nầy rồi đi lần lần đến trước chỗ con Ba đang đứng.

Không nhìn về phía con Ba, Tư Cầu vừa tưới nước vừa hỏi nhỏ:

– Cha, tự hổm rày đi đâu mất biệt vậy?

Con Ba thản nhiên đáp:

– Thì gần tới ngày đó rồi nên em phải lánh mặt gắt mới được. Gần ngày đi của anh nên em muốn đề phòng cẩn thận vậy mà!

Tư Cầu ngó về hướng mấy anh em lao động đang quét nước vôi:

– Gần tới ngày mà thiên hạ rần rần trên nầy như vậy rồi làm sao mà thoát cho êm được?

– Cái đó mới càng dễ thêm đa! Thiên hạ có chộn rộn như vậy mình làm cái gì mới không có ai để ý, chớ nếu lèo lèo vài người… dễ lộ lắm anh à!

– Nhưng còn cái vụ leo lên mái nhà kia nữa bộ em quên lửng chuyện ấy rồi sao?

Con Ba cười đáp:

– Chớ anh không thấy có mấy anh em lên trên nầy sơn phết tường vách đó sao? Năm bảy cái thang đó thiếu gì và chiều chiều trước khi về trại họ dựng sắp lớp ở phía dưới nhà bếp đó.

Tư Cầu khẽ gật đầu:

– Ờ phải, bị anh lo cái chuyện đông người rần rần mà quên phứt chỗ đó! Thiệt may quá em há!

Con Ba lấy tay bụm miệng cười:

– May khỉ gì! Chính em đã biểu ông hai cho sơn phết lại nhà cửa đó chớ bộ không hả? Đó anh coi, cái gì em cũng tính trước hết!

Tư Cầu chép miệng:

– Em thiệt giỏi khó ai bì kịp! Nhưng cái giỏi đó chỉ có… xài riêng cho một mình anh thôi thì uổng quá. Phải chi…

Con Ba không muốn cho anh ta dài dòng thêm nữa:

– Như vậy, bữa nào anh ra đi cũng được hết. Hay là mình định vào chiều ngày mai hả anh?

Tư Cầu đặt thùng nước xuống đất:

– Sao gấp dữ vậy em?

Con Ba cau mày rồi cười nói:

– Anh làm như anh còn bịn rịn ở đây lắm vậy! Chắc hổng phải vì em?

Tư Cầu thở dài:

– … Vì đủ thứ hết trọi!

Con Ba hỏi lại:

– Mình nhứt định vào chiều mai nghen?

– Sao cũng được.

– Anh nầy thiệt kỳ, anh làm như em ép anh trốn đi vậy! Thôi để em ra dặn trước mọi việc với chị Phấn và sáng mai thế nào em cũng gặp anh lần nữa và là… lần chót.

– Ờ…

– Mà anh ráng giữ gìn cho tự nhiên như thường từ đây cho đến chiều mai, nhứt là đừng có thố lộ một ly một chút gì cho bác Tám biết đó nghen!

Căn dặn xong, con Ba bỏ đi vào nhà…

Sáng hôm sau, nhân lúc Tư Cầu đang lau gạch bông trên nhà một mình, con Ba lẻn đến bảo anh ta:

– Xong xuôi hết rồi nghen anh Tư! Chiều nay trước khi tập họp về trại, anh liệu lúc mấy anh em khác lu bu tắm rửa, anh leo lên mái nhà rồi phóng ra ngoài. Có chị Phấn chực sẵn ở ngoài với bộ quần áo khác để anh thay đổi liền chớ anh cứ vác bộ bà ba đen nầy đi ngờ ngờ ngoài đường phố đố khỏi bị thiên hạ chú ý đến.

– Cha rắc rối quá há!

– Thì có gì đâu: chị Phấn đã mua sẵn một bộ quần tây, áo sơ-mi và một đôi xăng-đan theo ni cỡ của anh, anh ra ngoải xọt vô liền cho nó có vẻ người ở chợ búa một chút… chớ để đầu cổ chồm bồm như vầy sao được! Và đi kiếm lưỡi lam cạo giùm râu ria kia cho nó sáng sủa mặt mày và bảnh trai một chút coi!

– Được rồi mà!

– Cái gì mà được? Em nói thiệt chớ hổng phải giỡn đâu nghen! Đây nè, em còn chút đỉnh tiền, anh cầm lấy để xây xài và một khi ra ngoài đời thế nào chị Phấn chỉ cũng đưa thêm nữa. Thôi phần em như vậy kể như xong… Em chỉ giúp anh được có bây nhiêu đó!

Tư Cầu đẩy tay con Ba lại:

– Ý trời, em giúp anh như vầy biết đời kiếp nào anh trả ơn cho được! Còn số tiền nầy… em cất vô đi, anh hổng nhận đâu. Em xài lớn, còn anh dông về dưới vườn thì có tiêu pha gì đâu, với lại ra ngoài đã có cô Ba chủ tiệm cây rồi.

Con Ba vạch túi anh ta ra bỏ xấp giấy bạc vô trong ấy:

– Thì cứ cầm lấy đi, nếu dư dả nhiều thì làm vốn cưới vợ khác chớ chẳng lẽ anh cứ sống một thân một mình như vầy hoài à! Trong giờ phút nầy mà anh còn đưa qua đẩy lại… chẳng hóa ra phụ tấm lòng của em lắm sao!

Tư Cầu cảm động đưa tay giữ lấy miệng túi áo, mắt nhìn con Ba trân trân, và mãi một lúc sau mới ngập ngừng lên tiếng hỏi:

– … Như vậy, bây giờ tới chiều… anh không còn… gặp em lần nào nữa sao!

Con Ba chỉ khẽ gật đầu.

– … Rồi biết chừng nào mình gặp nhau nữa… sau khi anh thoát khỏi nơi đây?

Con Ba thở dài:

– Anh hỏi chuyện xa vời quá em làm sao trả lời được, nhưng chắc là còn lâu…

– Như vậy kể như anh khó lòng gặp lại em một lần thứ hai nữa!

Con Ba gượng cười đáp:

– Cái đó cũng hổng chắc được nữa! Đó anh coi: hồi hai đứa mình chia tay nhau ở bến tàu Nam Vang, có đứa nào tin rằng mình sẽ gặp lại đâu? Vậy mà em với anh vẫn… đụng đầu nhau tại đây như thường!

– Ờ phải… nhưng gặp nhau trong hoàn cảnh lắt léo như vầy thiệt anh cũng hổng ham!

– Cha chưa chi đã giở giọng đó rồi nghen! Thiệt mấy cha nội đàn ông nuôi cho họ mập thây, rồi họ nói trời trăng nghe coi sướng lắm! Như vậy một khi anh leo khỏi bức tường nầy kể như… hết tình hết nghĩa. Phải mà, ra ngoải đã có người khác…

Tư Cầu vội nói chận ngang:

– Trời ơi, giờ phút nầy mà em còn bắt bẻ anh từ li từ chút như vậy thì tội cho anh quá! Anh mang ơn em hổng hết có đâu…

Con Ba mỉm cười nắm lấy tay anh ta siết chặt:

– Em nói chơi cho khuây lãng vậy mà! Chớ chẳng lẽ bây giờ hai đứa mình ngồi ôm nhau khóc sao! Cái chuyện đó ở đây… kẹt lắm, với lại em cũng không ưa cái lối chia ly… phựt đèn màu để xuống… hai mươi câu giọng cổ ấy!

– Em sao lúc nào cũng giỡn được hết!

Con Ba tiếp tục nói bằng một giọng tha thiết:

– … Còn cái việc mang ơn thì dễ mà: khi nào về tới dưới, và luôn cả khi nào anh yên bề gia thất, đôi lúc anh ngồi nghĩ tới em một chút là đủ lắm rồi! (đoạn cô liếc nhìn Tư Cầu mỉm cười nói tiếp) Rất tiếc là ông trời đặt để ra em lại… không hợp để có thể sống luôn bên cạnh anh!

Tư Cầu lắc đầu:

– Thiệt anh nói hoài: em là người đàn bà hiếm có… em hơn người ta nhiều lắm!

– Hơn ở chỗ nào anh nói thử coi?

– Hơn ở chỗ… hơn ở chỗ nào, anh cũng hổng biết rõ nữa, nhưng chắc chắn là hơn…

Con Ba xô nhẹ vai Tư Cầu ra:

– Đây nè hơn ở chỗ: yêu thương anh mà không làm phiền rộn anh, yêu thương anh mà biết… hạ màn đúng lúc kịp thì… Có phải vậy hông?

Tư Cầu có vẻ trầm ngâm, rồi thẫn thờ đáp:

– Ờ… chắc cũng đâu đó…

Con Ba bước lùi ra sau một bước rồi khoanh tay trước ngực hỏi anh ta:

– Thôi, anh còn cần hỏi em điều gì nữa hông chớ đến chiều nay, anh lo liệu lấy một mình anh đa!

Phần 5

Tư Cầu chớp mắt lia và nghẹn ngào đáp:

– Anh biết hỏi em điều gì nữa bây giờ… Ờ em còn ở chỗ nầy hoài không?

Con Ba lắc đầu:

– Chắc là không mọc rễ luôn ở đây đâu, một phần vì ông hai là nhà binh nhà tướng nay ở đây, mai đổi đi chỗ khác không chừng, một phần khác thì… cuộc đời của em nó cứ… lung tung hoài… chắc anh dư biết!

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Cha, như vậy sau này muốn kiếm thăm em thì biết đâu mà lần! Hay là em có đi đâu nhớ gởi ba chữ dìa dưới vườn cho anh biết nghen em!

Con Ba thở ra:

– Cái chuyện thăm viếng đó, em coi bộ còn lâu đa! Còn cái việc thơ từ thì… thời buổi nầy đường xá gì đứt đoạn hết, dầu em có muốn viết thư cho anh cũng không làm sao gởi cho tới tay được. Tốt hơn là mình để tới đâu hay tới đó… Thôi, chiều nay anh đi cho được nhiều may mắn và luôn mạnh khỏe!

Tư Cầu hốt hoảng nói:

– Coi, gấp gì vậy em? Em ở đây thêm một chút nữa hổng được sao! Bề gì đây cũng là lần chót…

Con Ba lắc đầu mỉm cười:

– Anh làm như đây là bến tàu Nam Vang vậy! Và chắc anh cũng quên phứt cái chuyện anh là một tù nhơn sắp sửa vượt ngục! Thôi chiều nay anh cứ mạnh dạn và… đàng hoàng mà đi, và em đã căn dặn điều gì thì anh ráng nhớ kỹ và làm đúng y bon theo. Đó cũng là một cách… anh nhớ thương em thiệt tình vậy nghen!

Con Ba vừa nói vừa chậm rãi bước lùi dần về phía chân cầu thang lầu:

– … À em nhờ anh nói lại với chị Phấn: để khi nào mọi việc êm thấm hết rồi em sẽ ra thăm chỉ. Thiệt chỉ cũng hết lòng lo cho anh, vậy khi ra tới ngoải anh ráng lo mà trả ơn cho người ta!

Tư Cầu nhăn nhó:

– Thôi mà em!

Con Ba tay vịn lan can thang lầu, tay đưa lên vẫy chào:

– Chuyến này anh đi cho hên hoàn toàn nghen! Và bây giờ thì… em lên trên lầu luôn nghen!

Nói xong, cô chạy thẳng một mạch lên trên…

Tư Cầu vội giơ tay ra phía trước như muốn giữ lại và lấp bấp kêu lên:

– Em Ba! Em Ba…

Rồi chợt nhận thấy tiếng gọi của mình hơi to, và con Ba cũng đã đi lên khuất, Tư Cầu đứng sững ở đó nhìn trân trối lên phía chiếc cầu thang lầu bỗng trở nên trống trải và dài thượt một cách lạ lùng…

Tiếng “rầm” của cửa phòng bên trên đóng lại làm cho Tư Cầu vừa giật mình vừa thấy đau nhói ở trong tim, và tưởng chừng như đó là một thứ tiếng vang của đôi cánh cửa Quá Khứ khép chặt lại đời đời trên hình ảnh của con Ba…

°   °
°

Anh em lao công đã bắt đầu nghỉ làm để chuẩn bị về trại.

Thấy Tư Cầu đứng thẫn thờ một chỗ, bác Tám ngoắc anh ta lại:

– Làm gì đứng như trời trồng ở đó hoài vậy chú Tư! Sao chú hổng lo tắm rửa rút đi để còn sắp hàng về trại ăn ba hột cơm chớ!

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Dạ… tui không tắm bác Tám à! Bữa nay thấy trong mình hơi… khó chịu.

Bác Tám bước gần lại và đưa tay rờ trán Tư Cầu:

– Chú em làm sao vậy? Không, đầu cổ mát rượi… hay là chú em mầy đau bụng. Qua thấy mặt mày chú em tái mét và nhăn nhó…

Tư Cầu lấp bấp tìm cách trả lời cho xuôi:

– Không có sao mà bác! Tui chỉ thấy trong mình hơi… eng eng vậy thôi. Bác cứ lo tắm rửa phần bác đi, bác để thây kệ tui.

Bác Tám có vẻ phật ý:

– Coi chỗ anh em quen lớn thì cần có nhau những lúc trái trời trở gió như vầy, chớ cái lúc mạnh giỏi xởn xơ thì ăn thua gì! Đây nè, qua có hộp cù là “Con Cọp” đây, chú em lấy xức đi… coi vậy mà đỡ lắm nghen!

Tư Cầu buộc lòng phải mở nắp hộp cù là lấy dầu thoa xức qua loa trên hai bên thái dương. Xong rồi cầm lấy bàn tay bác Tám ngửa ra rồi chậm rãi đặt hộp dầu vào lòng bàn tay chai cứng ấy và cảm động nói:

– Bác Tám, từ khi bị nạn lọt vô đây may mắn được làm quen liền với bác… thiệt tui mừng cũng có mà buồn cũng có nữa…

Bác có vẻ chưng hửng:

– Coi, bộ Ông ứng hay Bà hành gì bữa nay chú mầy ăn nói kỳ cục hổng ăn nhằm trên dưới gì hết ráo!

Tư Cầu gượng cười tiếp:

– Mừng vì được có một người bạn già tốt, quá tốt… thiệt còn hơncbàø con ruột thịt nữa…

Bác Tám gật gù:

– Ờ cái đó thì tạm cho là… được đi! Còn cái chuyện “buồn”. Qua có làm điều gì mích lòng mích bề đâu mà để chú em phải… buồn qua chớ hả?

Tư Cầu lắc đầu lia lại:

– Buồn là… buồn khác, chớ hổng phải buồn trách gì bác đâu! Buồn đây là tui buồn… vì đã lắm lần làm phiền rộn bác những chuyện… mắc dịch mắc toi gì đâu đâu…

Bác Tám nói chận ngang:

– Vậy mà qua tưởng chú em mầy phiền qua cái gì chớ! Còn cái chuyện chú em nói đó… ối, ăn thua gì! Chú em mà đứng vào địa vị của qua, chú em cũng không thể mần ngơ được. Anh em mình quen biết nhau làm đách gì mà hổng giúp đỡ nhau được trong những lúc… ngặt đó!

Câu nói ấy càng làm cho Tư Cầu thêm bứt rứt trong lòng. Anh ta sững sờ nhìn bác Tám rồi nói như mê sảng:

– Phải… anh em làm gì mà không giúp đỡ nhau được trong những lúc ngặt ấy! Vậy mà tui không giúp được ai hết, cái đó mới thiệt là kỳ!

Bỗng anh ta cầm lấy tay bác Tám giựt giựt mấy cái liền:

– Nè bác Tám… tui có điều nầy muốn nói với bác.

– Gì nữa đó cha nội! Chắc sắp sửa rắc rối nữa hả?

Tư Cầu nhìn thẳng vào mắt bác Tám:

– Chút nữa đây tôi trốn khỏi nơi này đa bác!

Bác Tám trợn mắt nhìn anh ta rồi bác dáo dác nhìn quanh, đoạn hạ giọng cự nự:

– Bộ qua mới nói… ngọt với chú mầy đây, rồi chú mầy tính làm tới sao chớ. Lỡ lộn xộn với bà hai thì còn châm chế được, bây giờ chú mầy lại tính chuyện động trời đó nữa. Ê cái đó chẳng êm đâu nghen chú Tư!

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Hổng phải vậy đâu! Tui muốn rủ bác cùng đi với tui, mọi việc đã sắp đặt sẵn hết rồi.

– Cùng đi với chú mầy? Thôi, thôi cho qua xin. Qua già như vầy chớ còn ham sống lắm chớ hổng muốn chết bỏ vợ con… mồ côi đâu!

– Ý trời ơi, tui nói thiệt mà bác! Đây nè…

Và Tư Cầu kể sơ cho bác Tám nghe đầu đuôi câu chuyện vượt ngục.

Nghe xong bác cắn môi suy nghĩ một hồi rồi thở dài nói:

– Cha chả, cái điệu nầy nầy lẩm rẩm mà nguy há! Ở lợi thì cũng chết ra đi thì… (bác nắm lấy tay Tư Cầu) Thôi, chú em đi một mình đi, qua ở lợi canh chừng cho chú em một lần nầy nữa là lần chót. Qua từng tuổi nầy cũng gần kề miệng lỗ rồi, chú em còn giúp ích cho đời được.

Tư Cầu xuống giọng năn nỉ:

– Tui lạy bác, bác làm ơn dông với tui đi, chớ bác ở lại đây, tui rứt ra không được, rồi cứ chùng chình như vầy hoài rút cục dám chết chùm cả đám hết lắm. Bác nghĩ lại đi bác Tám, bác còn có bác gái và con cái lùm đùm lề đề ở nhà, bác nên nhớ tới mấy người đó một chút bác à!

Bác Tám lại thở dài:

– Ứ hự, đằng nào cũng kẹt, thôi đi thì đi… nhưng ra tới ngoải qua hổng theo chú em đâu nghen! Mạnh ai nấy đi… như vậy dễ hơn.

– Coi, tui muốn rủ bác cùng vượt ngục là để cùng sống với nhau, chớ ra ngoải bác tách đi lang bang một mình, Tây nó thộp lại thì… Bà hú!

– Chú em mầy khéo lo quá: qua tuy ở vườn chớ cũng rành cái đất trên nầy lắm, với lại qua cũng có bà con thân thích ở miệt Phú Nhuận, chú em đừng sợ qua bơ vơ. Sợ là sợ tụi mình ra ngoài còn níu tay nhau thì dám chết dính chùm lắm đó chú em! Chú em có chịu như qua nói đó thì qua mới đi, bằng không thì qua quyết thí mạng cùng ở đây chớ hổng thèm nhích đi đâu nửa bước nữa hết!

Tư Cầu vừa lắc đầu vừa lôi bác đi:

– Thôi, để nữa ra tới ngoải rồi mình sẽ tính sau, bây giờ tui coi bộ dông được rồi đa! Tui leo lên trước hễ thấy êm thì ra hiệu bác nhào theo cho mau nghen!

– Được rồi… Cha đi cái điệu nầy quần áo bỏ lại trong trại hết còn khỉ gì!

Tư Cầu đứng lại móc túi lấy xấp giấy bạc mà con Ba đã trao tặng mình lúc ban sáng:

– Thiếu chút nữa tôi quên mất cái việc quan trọng nầy: đây nè bác cầm đỡ phân nửa số tiền nầy để khi ra ngoải có chút đỉnh xây xài… (rồi anh ta lại đếm đưa thêm bác Tám hai tờ giấy một trăm) Bác lấy thêm số nầy nữa để liệu mua quần áo khác thay đổi liền chớ vác bộ bà ba mốc cời đi ngờ ngờ ngoài đường… kỵ lắm đó bác!

Bác Tám ngần ngừ chưa chịu lấy:

– Chú em chia cho qua phân nửa cũng hậu lắm rồi…

Tư Cầu nhét luôn hai tờ giấy bạc vô tay của bác:

– Ậy tui còn mối khác có tiền nữa mà! Bác quên bà chủ tiệm cây à?

Bác Tám vừa lấy tiền bỏ vô túi vừa liếc anh ta cười nói:

– Lẩm đẩm vậy mà cũng nhờ cậy mấy bả nhiều trong những lúc ngặt nghèo nầy hén chú! (rồi như nhớ trực lại điều gì, bác níu tay Tư Cầu hấp tấp hỏi) Ý quên nữa, chú trả gói hột bông ngải giống lại cho qua, để sẵn dịp nầy qua đem dìa dưới trồng chơi chớ!

Tư Cầu moi túi lấy một gói giấy nhỏ trao cho bác:

– Đây nè cha nội! Quý giá thì thứ đó hổng biết! Nội cái mạng sống của tụi mình đây, lát nữa cũng chẳng biết còn mất ra sao chớ đừng nói gì khác nữa!

Bác Tám cười giả lả:

– Chớ để chú đem dìa tuốt dưới nhà chú sao hả?

Rồi bác đứng lại nhìn kỹ một vòng chung quanh:

– Được lắm chú Tư à! Bốn bề tứ hướng gì cũng êm hết, mấy anh em khác thì mắc lu bu lo dìa trại, tụi mình liệu mà “khơi” đi hông thôi trễ đa chú!

Tư Cầu cũng nhìn quanh:

– Ừ khơi thì khơi… Tui đi trước nghen bác!

– Lên trên nóc nhà rồi nhớ coi chừng kỹ nghen chú Tư! Niệm Phật cho dữ đi chú! (rồi bác khấn lẩm bẩm) Ông Ngay Trời Phật, Thánh Thần bổn cảnh, Chúa ngục cùng cô hồn các đảng… độ mạng cho tui với chú Tư nó qua khỏi được phen nầy, tui xin… tui xin dìa cúng một heo… và ăn chay trường một tháng, Ông Ngay…

Trong lúc ấy Tư Cầu mon men bước lại phía bên hông dãy nhà bồi bếp, xách một chiếc thang mà anh em đi sơn nhà dựng ở đó, đem bắc dựa vào tường. Xong xuôi anh ta hất hàm hỏi bác Tám và bác nầy khẽ gật đầu. Yên tâm, Tư Cầu leo phắt lên mấy bực thang.

Đến nửa chừng anh ta bỗng dừng lại ngoái đầu ngó lên phía cửa sổ trên lầu có ý mong tìm con Ba một lần cuối…

Tấm màn vải xanh lợt đã che kín khuôn cửa sổ từ bao giờ, Tư Cầu có vẻ thất vọng, nhưng liền lúc đó cánh màn chao động, và anh ta thoáng thấy một nửa mặt của con Ba lấp ló một bên kẹt màn vừa được vén nhích qua một chút…

Tư Cầu nghển cổ lên như để cố nhìn cho kỹ, cho rõ… Một bàn tay nhỏ nhắn thò ra ngoài vẫy nhanh và tấm màn được kéo phủ kín lại như cũ…

Tư Cầu thở ra một hơi dài rồi leo thoăn thoắt lên nóc nhà. Anh ta mọp sát người xuống mái ngói, thò đầu ra ngó về phía hai đầu lô cốt để xem động tĩnh.

Đúng như con Ba đã dự đoán, giờ nầy không có một ai để ý đến chỗ nầy hết. Tư Cầu bèn giơ tay ngoắc bác Tám. Bác Tám vội vã leo rút lên làm cho mấy nấc thang tre kêu “keen keéc” một cách thật dễ… sợ.

Đợi cho bác Tám lên tới nơi, Tư Cầu bò thẳng ra mé ngoài và buông mình phóng nhảy xuống đất như trái mít rụng. Tư Cầu vừa lồm cồm đứng dậy thì một tiếng quát rợn người từ đằng phía lô cốt vang lại, tiếp theo là tiếng lên cò súng nghe lách cách làm cho Tư Cầu thiếu điều cóng chân lại… Anh ta sợ quýnh cúi gập người xuống rồi chạy thục mạng về phía mấy cụm lùm bụi trước mặt…

Một tràng tiểu liển nổ dòn tan và những mũi đạn bắn tung đất cát lên cách sau lưng Tư Cầu độ non một thước.

Anh ta cắm đầu cắm cổ lủi bừa tới, nhưng vừa lúc đó mấy tràng tiểu liên sau lại trở hướng về trên phía nóc nhà bồi bếp, nơi bác Tám còn mắc kẹt trên ấy.

Bác nằm sát trên mái nhà và đạn tiểu liên cứ đua nhau ria tới làm cho các tấm ngói nứt bể rớt nghe loảng xoảng. Biết ở lại cũng không xong, bác Tám túng thế quá liều mạng bò nhanh ra phía ngoài, đứng vụt lên nhảy bừa xuống…

Chân bác vừa chạm đến mặt đất thì một viên đạn bay tới xuyên vào bả vai làm cho bác nghiêng người suýt ngã. Bác cắn răng đưa tay giữ lấy chỗ bị thương và chuệnh choạng chạy lủi về phía trước.

Tư Cầu núp trong bụi rậm vội lên tiếng kêu bác:

– Bác Tám, chạy vô hướng nầy nè bác!

Nghe tiếng gọi của Tư Cầu, bác như hăng hái thêm phóng về hướng đó. Chỉ còn cách bốn năm bước nữa là tới bụi rậm thì mấy viên đạn cuối của tràng tiểu liên quét đuổi theo bác bén gót, đã kịp trúng đích.

Tư Cầu thấy bác chao người rồi té lật nghiêng qua một bên. Bác vừa thở hào hển vừa gắng gượng bò dậy để lủi chạy nữa…

Tiếng súng lại nổ như xé không khí… lần nầy bác Tám té nhủi tới trước, ập mặt xuống đường và nằm im không cựa quậy gì nữa.

Đằng nầy, Tư Cầu chỉ kịp thấy gói hột bông ngải trong túi của bác Tám văng ra đổ tung tóe trên mặt đất cát…

Còi báo động trong trại hú lên từng hồi chen lẫn với tiếng quát tháo và tiếng giày đinh của bọn lính gác chạy nghe rầm rập… Tư Cầu nhìn bác Tám nằm chơ vơ giữa khoảng trống trong một vài giây, rồi hối hả chui lách trong bụi rậm để chạy trốn về phía xóm nhà ở trước mặt. Và tự nhiên nước mắt anh ta chảy ràn rụa.

… Tư Cầu vừa mới lủi đầu vô trong xóm thì đã thấy Phấn hớt hơ hớt hải chạy ra níu tay anh ta dắt vào một kẹt kín:

– Trời đất ơi, em nghe súng nổ dữ quá, em tưởng đâu hổng êm rồi chớ! Thôi đi theo em cho mau!

Tư Cầu lựng khựng đứng rị lại và chắc lưỡi than:

– Khổ quá! Bác Tám bị Tây nó bắn chết rồi còn đâu! Thiệt chỉ còn một chút xíu nữa là thoát…

Phấn chưng hửng hỏi lại:

– Ủa, bộ anh có rủ bác trốn nữa sao? (rồi cô níu Tư Cầu lôi đi) Cái điệu này anh phải rời khỏi vùng nầy liền bây giờ! Anh thiệt hay cãi trời, cãi đất, nói cái gì cũng hổng chịu nghe hết á!

Tư Cầu còn ráng ngó ngoái lại:

– Cha, rồi hổng biết tụi nó chôn xác bác ở đâu! Thiệt là chạy ô mồ mắc ô mả!

Phấn tức mình giật mạnh cánh tay anh ta:

– Chôn đâu thì thây kệ tía nó!… Hay là anh còn muốn bịn rịn ở đây để Tây nó làm “ráp” tới rồi kẹt chết thêm hai ba mạng với anh nữa hả? Anh làm ơn đi mau mau lại đằng phía ngôi mả xưa kia kìa, và đây bộ quần áo, anh đem vô trỏng thay liền đi rồi em với anh lội băng qua phía đường bên kia đón xe về nhà.

Tư Cầu cầm lấy gói quần áo, nhưng còn ngoái cổ lại hỏi:

– Nhà nào vậy hả?

Phấn xô anh ta đi:

– Nhà nào cũng được! Lo thay quần áo đi chớ bộ đứng đó hỏi hoài sao!

Tư Cầu đành lủi thủi đi quẹo vô ngôi mả xưa…

Một lát sau anh ta trở ra tay xách bộ bà ba đen cũ.

Thấy vậy, Phấn cự nự:

– Anh vụt bộ quần áo mắc toi đó cho em! Sao anh hay tiếc của đời quá hổng biết! (rồi cô ngắm nghía Tư Cầu và nói tiếp) Ờ, anh ăn bận như vầy coi được đa. Thôi mình ra kiếm xe đi cho mau anh!

… Phấn đưa Tư Cầu ra tới Chợ-lớùn, rồi từ Chợ-lớn, hai người lên xe điển về Chợ Quán. Khi xe ngừng ở ga Pétrus Ký, Phấn níu tay anh ta kéo đi:

– Xuống đây anh!

Tư Cầu vội bước theo:

– Ủa, bộ em hổng dẫn anh dìa tiệm cây sao?

– Dẫn về đó cho sanh chuyện nữa hả? Ở đây êm hơn: em có mướn sẵn một căn nhà lá trong xóm để anh ở tạm trong đôi ba ngày hay nửa tháng gì đó. Như vậy em chạy tới chạy lui thăm anh cũng tiện vì tiệm cây ở gần đây mà!

Tư Cầu thắc mắc hỏi thêm:

– Nhưng em liệu… chú Ba ở nhà có hay biết gì không?

Phấn nhìn anh ta cười xòa:

– Hổng hay biết sao được! Anh cứ yên tâm, em hổng có làm gì… ẩu tả đâu!

Nói xong cô xăng xái đi lên trước lấy chìa khóa mở cửa:

– Đây nè, bây giờ em giao căn nhà nầy cho anh đây, rồi đến tối em sẽ trở qua thăm anh để đưa giấy tờ luôn một thể.

Tư Cầu đưa mắt nhìn quanh:

– Cha, tối quá! Em có sắm sẵn đèn đuốc gì không!

Phấn chạy lại bên cột nhà bật công tắc đèn lên và mỉm cười hỏi Tư Cầu:

– Như vậy được hông?

Tư Cầu bị chói ánh sáng đưa tay dụi mắt rồi sửng sốt kêu lên:

– Cha, em sắm đồ đạc hồi nào mà có sẵn hết vậy?

– Thì cũng phải lo đầy đủ cho anh chớ! Có cái gì nhiều đâu, em chỉ mua cho anh cái giường, mùng mền với vài ba cái ghế. Em sắm tạm vậy thôi, chớ nếu anh tính ở làm ăn luôn trên này thì em sẽ liệu sau.

Tư Cầu lắc đầu quầy quậy:

– Thôi như vầy… cũng đủ quá ể rồi. Anh nóng lòng nóng ruột dìa dưới vườn cho rồi, chớ ở trên này sao được. Bộ tính nộp mạng cho tây một lần nữa à?

– Ối, Sàigòn – Chợlớn rộng minh mông đại hải, người như kiến cỏ, ai biết ai đâu mà sợ! Thôi để em về nhà một chút, rồi tối tối một chút em sẽ quay trở lại thăm anh và mình nói chuyện nhiều nghen!

Tư Cầu có vẻ bứt rứt:

– Em cũng nên coi chừng coi đổi, chớ em cứ ỷ y qua lợi… buông cương thả giàn hổng nên đa! Bây giờ anh… khác chớ hổng phải như hồi đó…

Phấn háy xéo anh ta rồi cằn nhằn:

– Khác cái mốc xì họ! Anh cứ vậy hoài! Công trình người ta đưa anh về đây, anh chẳng mừng rỡ thì chớ, lại còn nói cà-lằng-nhằng nghe phát ghét.

– Thì anh nói phòng xa vậy… (rồi anh hỏi lảng ra) À em, ở đây rồi chuyện cơm nước thế nào?

Phấn vội mở bóp lấy ra một xấp mười tờ giấy một trăm đồng ghim lại sẵn nhét vô tay Tư Cầu:

– Ờ quên nữa, anh cầm tạm số tiền nầy, rồi mỗi bữa ra ngoài quán cơm bên chợ gần đây ăn uống cho tiện…

– Thôi em… cô Ba ở trỏng đã có cho anh chút đỉnh rồi.

Phấn cau mày:

– Coi, em đã nói để em lo cho anh về cái chuyện tiền nong mà sao con mẻ cứ làm tài khôn hoài hổng biết!

Tư Cầu trả lời cho xuôi theo:

– Vậy hả… nhưng bây giờ anh cầm lỡ rồi, với lại cô Ba cổ cũng có lòng. Mà nè em, về cái chuyện cơm nước đó, để rồi anh mua nồi niêu nấu luôn trong nhà ăn cho tiện, chớ đi ăn cơm tiệm hoài hao tốn lắm!

– Ối, thứ ăn đỡ đôi ngày hay một tuần lễ thì kể số gì. Còn nếu anh tính ở luôn trên nầy thì để chừng đó… có em đây bảo lãnh chuyện bếp núc cho.

Tư Cầu gượng cười nín thinh.

Phấn thở ra một hơi dài như có vẻ khoan khoái, mãn nguyện, nhìn quanh gian nhà một lượt rồi liếc xéo qua Tư Cầu:

– Căn nhà tuy nhỏ xíu mà coi bộ ấm cúng quá anh hén?

Tư Cầu miễn cưỡng gật đầu:

– Ừa…

– Có khạp nước để đằng sau em đã mướn họ gánh nước đổ đầy sẵn đó, chút nữa anh vô tắm rửa cho mát mẻ và cho hết… cái lớp tù đi… rồi tối em qua thăm anh nghen!

Tư Cầu lại gật đầu một cách… kém hăng hái:

– Ừa…

Phấn còn dùng dằng chưa chịu về:

– Anh coi lại anh còn thiếu, còn cần cái gì nữa không để rồi em sắm luôn cho?

Lần nầy thì Tư Cầu lắc đầu lia:

– Thôi, như vầy cũng quá đủ. Mà có thiếu thì cũng để thủng thẳng rồi mình sẽ tính… bây giờ em dìa bển đi…

Phấn bước liền lại kề sát mặt anh ta hỏi:

– Bộ đuổi hả?

Tư Cầu thối lui rồi ấp úng trả lời vớt:

– Đâu có vậy… Bề gì lát nữa em cũng còn trở qua đây mà!

Phấn nhoẻn miệng cười:

– Ừ, nhớ như vậy giỏi đa! Thôi chuyến nầy em về thiệt nghen!

Nói xong cô tất tả xách bóp lên đi thẳng ra ngoài đường, và ở trong này, Tư Cầu đứng tần ngần nhìn theo một hồi lâu rồi chép miệng than:

– Ứ hự… thiệt mấy con mẹ nầy rắc rối tổ cha!

°   °
°

Nghe tiếng gõ cửa, Tư Cầu hốt hoảng bò rột dậy cất tiếng hỏi nho nhỏ:

– Ai đó vậy?

Có tiếng Phấn vọng vô:

– Em đây chứ còn ai nữa! Mà làm gì anh tắt đèn tối thui vậy?

Tư Cầu lần mò bật đèn lên rồi lạch cạch ra mở cửa. Phấn bước lẹ vô rồi thuận tay vói khép chặt cánh cửa lại:

– Sao có gì lạ hông anh?

– Hổng có gì hết, nhưng anh nóng ruột và hồi hộp quá chừng quá đỗi… cái điệu này mà kéo dài chừng một tuần lễ nữa, chắc anh chịu hổng thấu quá!

Phấn dịu giọng an ủi:

– Anh sợ bóng sợ gió nên mới khổ như vậy. Em nói hổng có sao đâu! Đây nè, em đã lo đủ giấy tờ cho anh, bây giờ anh ở luôn trên nầy cũng không sao, chớ đừng nói gì đến chuyện về dưới.

Tư Cầu thở ra:

– Hổng nói giấu gì em, mới có hồi chiều tới giờ mà anh lên ruột cầm canh: nghe ai nói lớn bên cạnh anh cũng giựt mình và hễ có tiếng xe nhà binh thắng lại đậu ở ngoài đường, anh cũng lo thiếu điều muốn chạy mở cửa sau để tông đi cho gấp!

– Thì mới đầu nó vậy thét rồi cũng phải quen đi chớ! (rồi nó nhìn Tư Cầu cười mủm mỉm) Nhưng bây giờ có em qua đây để em… trấn an cho!

Tư Cầu cau mày:

– Người ta lo thiếu điều hụt hơi mà em cứ nói giỡn hoài!

– Thiệt chớ giỡn mốc xì họ!

Phấn vừa nói vừa cởi chiếc áo dài treo lên cây đinh trên cột nhà rồi đưa hai tay vuốt sửa lại mái tóc một cách rất đỗi tự nhiên.

Dưới ánh đèn điện sáng trưng, Tư Cầu chú ý ngay đến chiếc quần sa-teng trắng quá mướt rượt và anh ta vội ngoảnh mặt đi, rồi luống cuống lấy thuốc ra vấn hút.

Phấn quay lại thấy vậy chắc lưỡi hỏi.

– Ý cha, anh làm ơn dẹp ba cái thuốc rê qua một bên đi. Ở trên nầy mà anh phạch cái túi nhái đựng thuốc đó ra thì lỏ chèn hết, và thiên hạ dễ sanh nghi lắm! Với lại, anh hút chi thứ mắc toi đó tanh rình, khét nghẹt ai mà chịu nổi!

Tư Cầu cười mũi:

– Sao hồi ở trong chòi chăn vịt ngoài đồng, anh hổng nghe em chê hôi chê thúi hồi nào hết trọi vậy.

Phấn mắc cở tìm cách nói gạt phăng đi:

– Ối hồi đó… khác bây giờ khác, anh hơi đâu mà nhắc cái chuyện xa lắc xa lơ đó hổng biết.

Tư Cầu vẫn chưa chịu buông tha:

– Chắc hồi đó… anh còn… khét nắng nên nó lấp hết đi chớ gì.

Phấn háy anh ta một cái rồi uốn éo và chờn vờn đi lại gần. Đến nơi cô đưa hai bàn tay dịu nhĩu đặt lên hai bên vai Tư Cầu và lim dim đôi mắt, rồi đỏng đa đỏng đảnh nói:

– Thì cũng như bây giờ em… thơm tho như vầy nè!

Tư Cầu nói ú ớ trong miệng cái gì nhe không rõ… Anh ta không dám nhìn thẳng vào mặt Phấn nhưng trước mắt anh ta có đôi cánh tay tròn lẳn và trắng mát, có… Tư Cầu cúi gầm mặt xuống, lấy bàn chân chà chà dưới đất như muốn khỏa lấp, bôi xóa một cái gì vậy. Tự nhiên đầu anh ta nóng bừng bừng như lên cơn sốt, chẳng biết có phải tại quá hồi hộp hay vì hơi thở nồng ấm của Phấn truyền sang.

Phấn lắc vai anh ta mấy cái:

– Sao làm thinh vậy anh?

Tư Cầu như sực tỉnh:

– Ờ… hả?

Phấn lấy tay nâng cằm anh ta lên:

– Anh làm gì mà như bị ai hốt hồn vậy? Chắc tại ở trong tù lâu ngày mới ra nên nó làm như… say sóng vậy phải hông?

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Phải đó em!

Phấn bỏ hai tay ôm quàng lấy cổ anh ta:

– Gặp em như vầy anh có… vui hông?

Tư Cầu vội đưa tay lên gỡ nhẹ tay Phấn ra… Cô ôm siết chặt thêm một chút nữa và quắc mắt nạt nộ:

– Để yên đa! Đố anh giỏi anh gỡ ra coi!

Nhưng rồi cô lại dịu giọng hỏi lại:

– Sao anh gặp em như vầy anh không vui hả?

Tư Cầu đáp xụi lơ:

– Vui… vui lắm…

Phấn vừa ghịt thêm vòng tay vừa lắc mạnh:

– Vui, vui khỉ gì mà ngồi cú rũ vậy? Vui thì phải nhúc nhích cục cựa làm sao… chớ vui gì mà… vui trơn vậy à?

Tư Cầu sợ làm phật ý Phấn thêm nữa, nên tìm cách đáp cho xuôi:

– Anh dư biết như vậy là… mích lòng em lắm nhưng em nghĩ lại coi: anh mới chưn ướt chưn ráo ra đây thiệt tình thì sau một mẻ hú hồn hú vì hồi chiều anh như chưa… lấy lại tinh thần vậy! Phải thì gặp em như vầy mà lại ở trong lúc… bình an thiên hạ thì… khỏi nói!

Nghe Phấn thở dài quá não nuột, Tư Cầu vội tìm lời an ủi thêm:

– … Để huỡn đãi một chút em à… chớ bây giờ hổng biết tây nó bắt lại lúc nào…

Phấn chặn ngang:

– Đừng có nói chuyện xui xẻo đó không nên nghen! Mà huỡn đãi để rồi anh dông tuốt về dưới luôn hả?

– Đâu có… Nhưng còn chú Ba làm chi?

– Ờ quên nữa, anh Ba ảnh có gởi lời hỏi thăm anh đó, ảnh nói đáng lẽ ảnh lại thăm anh nhưng vì ảnh là người… buôn bán làm ăn, nên như vậy có điều không tiện…

Tư Cầu gật gù:

– Phải đa! Nhưng, chú Ba tốt như vậy mình nên ăn ở cho… phải với chú một chút.

Phấn làm bộ giận lẫy:

– Phải cái mốc xì họ! Anh sao cứ có tật đó hoài! Đến anh Ba ảnh còn biết ép bụng chịu hẹp cho em đón anh về đây, anh thì anh lại nói ăn trét hết!

– Thiệt chú Ba chú hiền quá…

Phấn cười mũi:

– Hứ, anh đã bị một lần chết lên chết xuống mà bây giờ còn ngồi đó khen thằng chả hiền! Phải em đụng ai khác hơn anh coi thằng chả có để yên không? Bề gì thì thằng chả cũng còn nhớ đã… thiếu nợ anh hồi trước khá bộn, nên bây giờ thằng chả mới ráng chịu như vậy!

Tư Cầu mỉm cười lắc đầu:

– Thiệt em hết sức: em nói cái gì cũng nghe xuôi rót ráo và bị vậy mà thiên hạ ở ngoài méo mặt hết!

Phấn lôi Tư Cầu ngồi xuống gường trong lúc đôi cánh tay của cô vẫn ghịt chặt lấy cổ của anh ta:

– Xí, tự nãy giờ cái gì anh cũng chê em hết ráo trọi vậy? Bộ ở trỏng bị con mẹ quan hai nó o bế quá chừng rồi lậm nặng phải hông! (rồi cô ngó xéo Tư Cầu nói tiếp bằng giọng khinh khỉnh) Mà cũng phải: thứ con mẻ đó già tay ấn lắm làm sao anh hổng mê được!

Tư Cầu ráng nhoi người ra:

– Bậy nà! Em bây giờ sao hay nói tầm xàm quá!

Phấn vừa rướn người lên khỏi mặt anh ta vừa siết mạnh đôi cánh tay lại rồi nghiến răng nói:

– Để anh coi, con nầy hỏng chịu thua con mẻ đâu!

Tư Cầu vội chống tay xuống sạp giường để cho khỏi ngã ngửa, đoạn cố lách mặt ra để kêu lên nho nhỏ:

– Ý em… em làm quá, nhà mình lại là nhà vách… lá, hai bên hàng xóm láng giềng họ biết được kỳ lắm!

Phấn hơi buông lơi ra một chút, rồi cúi xuống nhìn vào mặt Tư Cầu:

– Anh làm như còn ở dưới vườn vậy! Ở trên nầy, dầu cho anh… hát bội sát một bên thì cũng chẳng có ai thèm để ý làm đách gì cho mệt! (rồi cô lên giọng đả đớt nhiếc Tư Cầu một hơi) Thứ cái đồ chết nhát! Thấy người ta thương rồi làm bộ hoài nè! Em mà nổi dóa lên đố anh chạy khỏi tay em, em kêu bằng cha! Bây giờ anh tính sao đây hả?

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Thì… để thủng thẳng…

Anh ta bỏ lửng giữa câu để đưa mắt nhìn lên dò la tình ý Phấn… anh ta đâm ra lúng túng khi bắt gặp những tia mắt sáng ngời ngời lọt qua rèm mi lim dim, những tia mắt có vẻ nửa như dọa ép, nửa như hối thúc… Tư Cầu không dám đương đầu lâu với những tia mắt ấy. Anh vội liếc nhìn xuống đôi cánh mũi hấp háy liên hồi theo hơi thở dồn mau của Phấn. Đôi cánh mũi trông dễ thương quá đỗi. Và ánh sáng của ngọn đèn điện mắc ở phía sau lưng Phấn rọi tới làm cho Tư Cầu để ý đến vành tai ngời lông măng mịn mướt.

Tư Cầu lại không dám nhìn lâu thêm nữa…

Nhưng rồi tới đôi môi của Phấn… đôi môi hơi dầy cong mà dầu có khuất ánh đèn, Tư Cầu cũng dư thấy rõ vẻ vừa khinh miệt, vừa khiêu khích mà cũng vừa quyến rũ lạ kỳ.

Anh ta bối rối cúi mặt xuống để nhìn thấy đôi nút áo đã ỡm ờ tách rời khỏi khuy từ bao giờ, có lẽ trong lúc Phấn ôm siết anh ta quá chặt và anh ta thì cựa quậy cố nhoi đầu ra.

Tự nhiên Tư Cầu có một cảm giác êm ả khác thường… Để trấn áp sự nôn nả trong lòng, Tư Cầu quay đầu nhìn ra chung quanh gian buồng: dưới ánh đèn sáng xanh, tất cả đều có vẻ ấm cúng, mới mẻ và hơi… kỳ bí như một căn phòng của một cặp vợ chồng mới cưới hồi ban chiều.

Tư Cầu nhìn chiếc giường rộng rãi với chiếu, mùng mền, gối mới tinh… và bỗng mỉm cười khoái trá khi chợt nghĩ rằng: đêm nay cũng là đêm đầu tiên anh ta được ngủ trên giường đàng hoàng sau bao nhiêu đêm ngủ chen lấn trên nền xi-măng nhám cát.

Tự nãy giờ Phấn nín thinh nhìn anh ta không nháy mắt, nín thinh trong một sự chờ đợi không phải là không đầy hồi hộp…

Cô bỗng cất tiếng hỏi Tư Cầu:

– Cười gì vậy anh Tư?

– Hông… À, anh cười… một cái nầy em hổng biết được đâu!

Phấn không hỏi thêm nữa. Cô từ từ rút tay khỏi cổ Tư Cầu rồi bò lên giường nằm sát vào phía trong, đoạn lấy bàn tay đập nhè nhẹ xuống mặt chiếu chỗ còn trống một bên cạnh.

– Nằm xuống đây mà nghỉ lưng một chút anh Tư! Tự nãy giờ, hai đứa cứ ngồi hoài mỏi thấy mồ!

Tư Cầu ngần ngừ:

– Ờ, em nằm nghỉ đi… để thây kệ anh.

Phấn cau mày:

– Coi, anh này sao kỳ cục quá! Anh nói câu nào ra cũng thấy ghét hết! Phải người khác vô đây thì thế nào mà họ chẳng mừng rỡ, vồn vập, còn anh… anh cứ không ngơ hoài! (rồi cô lên giọng chanh chua nói tiếp) Ờ mà phải: chắc bị ở trỏng mấy tháng nay no đủ với con mẹ quan hai lắm mà, hèn chi ra đây làm bộ hoài!

Tư Cầu nhăn nhó năn nỉ:

– Ý trời ơi, em sao khó tổ mẹ! Người ta lo quýnh đây đã hổng biết thương mà còn nằm đó cằn nhằn nhức tai nhức óc nữa!

Phấn làm bộ cự nự lại:

– Cha, anh có để yên cho người ta thương đâu! Hễ rớ tới anh một chút thì anh làm bộ làm tịch như trong mình em có gai vậy! Anh thiệt hổng ưa dịu ngọt mà!

Phấn vừa nói vừa đưa hai chân quặp lấy ngang hông Tư Cầu lôi mạnh để bắt anh ta phải nằm xuống.

Tư Cầu luống cuống định gỡ ra nhưng bàn tay anh ta vừa đặt lên cổ chân của Phấn thì lại nằm yên ở nơi đó: đôi bắp chuối chân trắng nõn của Phấn dốc nghiêng xuống làm cho anh ta như bị chóa mắt…

Phấn vẫn không lơi rình sát mọi cử động của Tư Cầu và Tư Cầu chỉ khựng lại có chút xíu đó thôi cũng đủ cho cô mạnh dạn xấn tới… Cô cười mủm mỉm nhìn bộ mặt ngây ra của Tư Cầu rồi chậm rãi nhích người lại gần một chút nữa, đoạn quặp chân cho thêm chặt vào hai bên eo ếch của Tư Cầu và từ từ kéo rị anh ta xuống…

Tư Cầu riu ríu ngả người theo y như một cây ta bị trốc gốc dần dần…

… Phấn lấy ngón tay chỉ chỉ vào trán anh ta:

– Thiệt trên đời mới có một anh được như vầy nghen! Vậy mà làm bộ cho người ta mệt công nhọc sức quá hè!

Tư Cầu nhíu mày nhìn sững con Phấn một hồi lâu như có vẻ suy nghĩ một điều gì lung lắm. Trong lúc ấy Phấn nín lặng nhìn lại anh ta, nửa như si mê, nửa như chờ đợi. Cô tẩn mẩn đưa mấy ngón tay âu yếm vuốt xuôi qua một bên chùm tóc của Tư Cầu rơi xõa xuống trán…

Tư Cầu thở ra một hơi dài rồi đưa tay mân mê một bên vai tròn mát của Phấn… Thấy vậy Phấn nhoẻn cười nhắm mắt lại, rồi nhủi đầu vô cổ Tư Cầu như để nép trốn…

Tư Cầu bỗng bò rột dậy. Phấn mở choàng mắt ra, nghển cổ lên và đưa tay níu áo lại hỏi giựt ngược:

– Anh làm gì vậy? Anh đi đâu đó hả?

Tư Cầu nhảy phắt xuống giường rồi quay đầu nhìn đáp một cách… tỉnh khô:

– Đi tắt đèn… Bộ hổng cho hả?

Phấn thở khì ra rồi buông tay nằm sãi xuống giường:

– Vậy mà hổng nói, làm ngươi ta tưởng…

Tiếng thắng gấp của một chiếc xe đậu ngoài đường cái làm cho Tư Cầu giựt mình vội gỡ tay Phấn ra nằm lại qua một bên và nghển cổ lên nghe ngóng động tĩnh.

Phấn lắc mạnh vai anh ta mấy cái liền:

– Cái gì nữa đó ông nội? Anh làm cái gì mà lập cà lập cửi…

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Làm ơn làm phước nín thinh giùm một chút coi bà nội.

Phấn vẫn còn cằn nhằn:

– Thằng cha nầy sao… luôn luôn có chuyện hoài hè!

– Xe nhà binh tới kìa bà!

Phấn lôi anh ta xuống:

– Anh sao lo sợ bá vơ hoài! Nhà của mình ở gần bên đường lớn thì giờ giấc nào hổng có xe cộ qua lại. Mà sao anh biết là xe nhà binh chớ?

– Thì… nó chạy rần rần rồi thắng nghe kééc… kééc đó… Bây giờ mình tính sao đây em?

Phấn lục đục một hồi rồi bò dậy bước xuống giường căn dặn:

– Anh ngồi yên đây nghen, để em chạy ra coi thử một chút xem có phải đúng như vậy không!… Mà chưa chắc có, vì thường thường xe nhà binh nó cũng chạy hà rầm trên con đường nầy.

– Ờ em đi nhóng thử coi… Mau mau nghen!

Một lát sau cô quay trở vô và chẳng nói chẳng rằng đi thẳng lại cột nhà bật đèn lên.

Tư Cầu sốt ruột hỏi:

– Sao em! Em ra ngoải có cái gì hông mà vô rồi… êm rơ vậy?

Phấn ngồi phịch xuống mép giường:

– Có khỉ mốc gì đâu! Anh cứ la hoảng hoài làm người ta ra ngoải lạnh thấy mồ!

Cô vừa nói vừa đưa hai tay lên co ro ôm lấy hai bên bả vai. Tư Cầu cũng ngồi xuống ở phía đầu đằng này. Nghe Phấn trách móc như vậy, anh ta gượng cười, xẻn lẻn đáp:

– Thì ai biết đâu… khi không nghe có tiếng xe thắng cái kééc ở ngoài đường mà em biểu hổng lên ruột sao được? Chớ bộ ai kiếm chuyện hay đặt điều gì đâu…

Phấn thở dài liếc nhìn qua mớ mền gối xô lệch trên giường rồi nói một cách xuôi xị.

– Ừ thì có… xe đậu lại.

– Mà xe gì vậy em? Hổng phải xe nhà binh à?

Phấn đáp bằng một giọng chán ngán:

– Ờ, xe chở hàng chớ xe nhà binh gì mà nhà binh hoài hổng biết!

Tư Cầu tìm cách hỏi lảng ra:

– Em có đeo đồng hồ đó… em coi được mấy giờ rồi hả em?

Phấn đưa cổ tay lên xem:

– Mới có mười giờ mười lăm hè!

Tư Cầu nói liền theo:

– Cha khuya quá há!

Phấn cau mày:

– Khuya khỉ gì vậy mà khuya, khuya hoài cà! Anh sao…

Nói đến đó, Phấn bèn vói tay kéo chiếc gối cho ngay lại rồi ngả người nằm xuống giường. Tư Cầu vội đưa tay ra như muốn níu giữ cô ta lại và lấp bấp hỏi:

– Ủa bộ em chưa dìa sao? Em coi chừng chớ hông thôi lố tới giờ thiết quân luật đó nghen!

Phấn vùng vằng ngồi dậy:

– Mười hai giờ khuya mới thiết quân luật lận mà! Nhưng thôi cái điệu này dầu có nán ở lại đây nữa thì cũng như hành tội thêm anh và em thì bực mình bực mẩy thêm nữa chớ ích lợi gì!

– Thì anh sợ… em bị trễ…

Phấn đi thẳng lại cột nhà lấy áo dài mặc vô:

– Hứ, với anh thì luôn nếu hổng tại nầy thì cũng bị kia! Không có khi nào xuôi rót coi! Vậy mà lại hay đèo bồng, rủ rê thiên hạ lắm!

Lời nói của Phấn làm cho Tư Cầu nhớ trực đến bác Tám; anh thở dài rồi buồn bã nói như để tự bào chữa:

– Em nên nghĩ lại giùm anh: anh… như vầy… tự nãy giờ, kể ra cũng hổng phải lắm. Bác Tám bác vừa mới chết ràng ràng đây… sợ Tây nó còn quăng xác bác để nằm phơi ở góc xó nào nữa là khác!

Phấn chầm dầm mặt xuống:

– Thì cũng tại anh hết chớ ai vô đó nữa! Anh muốn chuyện rắc rối không hè!

Tư Cầu nín thinh một hồi rồi tìm cách nói lảng ra:

– Ờ, hôm nào em có lại đây nhớ dắt thằng bé Hai theo chơi nghen em!

Phấn vui vẻ trở lại:

– Thôi đi anh, dắt nó lại để… hai cha con lu bu với nhau, rồi bỏ ”lạc xon” con nầy hả? Anh muốn giữ kín chỗ này không cho ai để ý mà lại còn biểu đem thằng nhỏ lại cho nó rùm beng lên nữa!

Tư Cầu rụt rè năn nỉ:

– Thằng nhỏ… có chút xíu mà…

Phấn như không để ý đến lời anh ta và hăng hái nói luôn:

– Mà hổng có cái chuyện mai mốt gì đến đây hết! Trưa mai em sẽ qua thăm anh nữa…

– Ý trời!

Phấn xách bóp lên cười mủm mỉm:

– Không có trời đất gì hết, em nói qua là em qua thây kệ anh, anh muốn tính sao cho… êm thấm đó thì tùy anh!

Nói xong cô quày quả bước thẳng ra cửa…

°   °
°

… Suốt một ngày mệt nhọc vì đủ thứ chuyện, Tư Cầu đặt lưng lại xuống giường, nằm trằn trọc một hồi rồi ngủ quên lúc nào cũng chẳng biết.

Trong lúc ngủ say mệt ấy, anh ta nằm chiêm bao lung tung. Trong những cơn mơ lộn xộn ấy, những hình ảnh quái dị, không đầu không đuôi chồng chất, xen lẫn vào nhau rồi quay cuồng cuồng…

… Tư Cầu thấy mình đang chạy trốn trong một cái hang tối om om, dài thăm thẳm, và lúc ấy, tiếng hơi thở hồng hộc của anh ta chen lẫn với cả ngàn, cả muôn tiếng giày đinh rầm rập kéo tới náo động như bước dồn của thiên binh vạn mã… những tiếng động ấy cứ mỗi lúc mỗi to dần như được khuếch đại đến cực độ.

… Rồi Tư Cầu lại thấy anh ta bị vấp chân té sấp nằm lên trên giường… rồi hàng chục chiếc lưỡi lê cắm trên đầu súng nhắm ngay anh ta đâm phập xuống như ghim luôn thân người vào ván gỗ…

… Bỗng nhiên, những chiếc lưỡi lê kia mềm nhũn và từ từ chảy tan như là những que sáp bị hơ nóng… Rồi Phấn hiện ra đứng sừng sững trên đầu anh ta… Phấn mặc một thứ áo choàng rộng lớn, hai tay giương ra và một luồng gió bốc mạnh thổi xoáy vào làm cho các mảnh áo từ từ tách ra như bị sút chỉ may, đoạn bay mất theo hướng gió, rồi lần lượt những mảnh y phục khác còn che đậy trên người Phấn cũng rã rời để nối nhau bay tuôn đi mất…

… Rồi bóng con Ba hiện ra trên khuôn cửa sổ lầu cao, thật cao như ở tận chín tầng mây, cánh màn cửa sổ ở trước mặt con Ba kéo vô mở ra liên hồi như là tự động bằng một thứ máy gì vậy.

… Rồi những tràng tiểu liên nổ thật dòn, trong lúc ấy bác Tám quay mòng mòng như một hình nhơn bằng cây đặt trên một trụ cốt… Rồi những hột bông ngải đen ngời – không biết cơ man nào kể – đua nhau rơi lốp bốp trên mái ngói để đổ dồn về ống máng xối, và chảy xuống thành một suối máu đỏ tươi linh láng dưới sân nhà.

… Rồi từng đoàn xe nhà binh mười bánh chạy rầm rầm, rồi thắng keen-keéc… rồi chạy, rồi thắng… đinh tai nhức óc…

… Rồi Tư Cầu bỗng bị nhắc bổng lên để bỏ tuột vô một thứ thùng sắt kín bưng… để rồi ở bên ngoài không biết ai dùng cây, gậy, hay bá súng nện thình thình vào khắp ba bề của chiếc thùng sắt ấy…

Tiếng nện mỗi lúc mỗi to, Tư Cầu chịu hết nổi ú ớ kêu lên… Vừa lúc đó anh ta mơ mơ màng màng nghe có tiếng người quát tháo đâu đây:

– Mở cửa mau lên!

Tư Cầu trở mình, đưa tay dụi mắt.

Lại có tiếng đập cửa nghe rầm rầm:

– Ai ở trỏng mở cửa ra cho mau, bộ tính ngủ luôn sao chớ!

Tư Cầu hốt hoảng mở choàng mắt ra và bò rột ngồi dậy. Bên hàng xóm cũng có tiếng dộng cửa kêu mở nghe rõ mồn một. Tư Cầu càng thêm sợ quýnh. Cái điệu này, họ đã bao vây khắp xóm thì anh ta làm sao tông ra để thoát thân được.

Ý chừng nổi nóng thêm lên, những người ở ngoài lấy chân đạp cửa nghe ầm ầm và chửi thề om xòm:

– Không mở cửa cho mau tao bắn nát nhà hết đa nghen! Đ.m chắc tụi ở trỏng là V.M mà!

Tư Cầu vội lấp bấp lên tiếng:

– Y khoan… mấy ông ơi! Dân mần ăn, mấy ông ơi!… Dạ để tui ra mở cửa liền…

Tư Cầu vừa rút chốt cửa là ở bên ngoài ba bốn người mặc thường phục cầm súng lục lăm lăm nơi tay ùa cả vô nhà. Một người lấy mũi súng chọt vào sau lưng Tư Cầu đẩy tới:

– A-lê, đi ra cho mau mầy!

Tư Cầu ráng làm tỉnh:

– Dạ… đi đâu mấy ông?

Người kia xô anh ta nhủi tới:

– Thằng nầy giả mù sa mưa hoài! Thì ra ngoải theo dân trong xóm đi lại chỗ khoảng đất trống ngồi xếp hàng sẵn đó để chờ “bao bố” trên Ca-ti-na xuống nhìn mặt. Chớ bộ mầy nói tụi nầy kêu cửa bốn năm giờ sáng để mời đi uống cà-phê sao chớ!

Một người khác vừa lục soát trong nhà vừa nói chen vô:

– Ối, anh hơi sức đâu mà cắt nghĩa cho nó hổng biết! Cái thứ này, ban ngày ban mặt thì làm bộ như gà mở cửa mả, chớ ban đêm hôm, tụi nó đi liệng lựu đạn, mụ nội ai rượt theo cũng hổng kịp nó nữa!

Tư Cầu nghe có bấy nhiêu đó cũng đủ toát mồ hôi, và vội quay qua nói với người đứng gần bên cửa:

– Xin mấy ông cho tôi vô xỏ cái áo và lấy giấy tờ luôn thể…

– Ừ… Mà đừng có bày đặt lủi trốn nghen tụi !

– Dạ…

Tư Cầu bước lại phía sau lấy quần áo mặc vào rồi riu ríu đi theo mấy công- an viên Ca-ti-na.

Ra đến khoảng đất trống nhà máy xay lúa, Tư Cầu thấy dân trong xóm đã ngồi xếp hàng đầy nghẹt, và toàn là đàn ông thanh niên không thôi. Anh ta rề lại ngồi chồm hổm, khoanh hai tay lên đầu gối kế bên một người đứng tuổi.

Tư Cầu liếc nhìn qua một vòng: ai nấy có vẻ đăm chiêu, sợ sệt và có người lại cúi gục đầu xuống như muốn để cho mấy ông lính thấy chắc rằng mình không dòm ngửa dòm nghiêng gì hết.

Trong lúc ấy, lính tráng đứng bao vây vòng trong vòng ngoài và Tư Cầu thầm nghĩ rằng : “Cái điệu nầy đến con kiến chui qua cũng hổng lọt nữa là người ta! Và phải chi ở vườn còn tông nhảy vô lùm vô bụi hay nhào đại xuống ao đìa trốn, chớ còn ở đây…’

Không khí lặng trang kỳ lạ của đám đông người đặc biệt này làm cho Tư Cầu thấy khó chịu vô cùng. Một lát sau, anh ta đánh bạo lấy ngón tay khều người ngồi bên cạnh và nghiêng đầu hỏi nhỏ.

– Nè bác, họ đem tụi mình vào đây làm chi vậy?

Bác kia trừng mắt nhìn quanh về phía anh ta rồi cúi gầm mặt xuống:

– Lính kín dưới Ca-ti-na làm ráp để chút nữa chở “bao bố” lên nhìn mặt chớ làm gì nữa!

– Bao bố gì mà nhìn mặt? Và nhìn mặt ai?

Bác kia trừng mắt nhìn nhanh về phía anh ta rồi lại cúi mặt xuống như cũ:

– Lát nữa rồi biết! Đừng hỏi lào xào nữa hỏng nên đa chú!

Nhưng rồi bác ta nhíu mày nhìn xéo Tư Cầu một vài giây như có vẻ nghi ngờ một điều gì:

– Bộ chú… là người ở đâu mới tới đây hay sao mà hổng rành mấy chuyện đó?

Tư Cầu tái mặt, luống cuống tìm lời che dấu, nhưng cũng may bác kia như không có ý đợi câu đáp và lại xoay mình ngồi đưa lưng về phía anh ta.

Vừa lúc ấy một chiếc xe “bít bùng” chạy đậu lại trước đám đông. Hai thầy lính kín áp giải từ trên xe xuống một người hai tay bị còng chặt và… trên đầu phủ chùm một cái bao bố lụng thụng xuống quá bụng, phía trên bao bố có khoét hai lỗ ngay chỗ cặp mắt.

Tư Cầu nghển cổ lên và lẩm bẩm:

– Hèn chi…

Đám người ngồi xếp hàng trên bãi đất trống đều cúi mặt xuống như… không dám nhìn ai, cũng như không muốn… ai nhìn mình hết. Tư Cầu bắt sợ lây theo và vừa ngó xuống đất vừa co ro người cho thêm bé nhỏ lại và anh ta rối ruột lên: nếu người trong bao bố là một anh em trên căng thì phen nầy kể như… mạng vong.

– Ngước mặt lên hết để bao bố làm việc!

Tư Cầu giật mình khi nghe tiếng “lịnh” đột ngột ấy. Anh ta vội đảo mắt nhìn qua một vòng để canh chừng thiên hạ rục rịch ra sao hầu bắt chước làm theo…

Tất cả mọi người ngồi dưới đều nhứt loạt ngó hơi xéo xéo lên trời như là đã quen thuộc với “động tác” ấy lắm vậy. Tư Cầu để ý nhận thấy tất cả những gương mặt sợ hãi ấy ngẩng lên trong một dáng điệu cứng đờ như là bị… chỏi dưới hàm hạ bằng một thứ cọc cây vô hình nào.

Bao bố bắt đầu chậm rãi đi nhìn mặt từng người một và vì Tư Cầu đến sau ngồi vào hàng chót nên… còn lâu mới đến lượt anh ta. Đó là một điều càng làm cho Tư Cầu thêm nghẹt thở…

… Bao bố đã đi đến hàng có Tư Cầu ngồi trong ấy.

… Một người, hai người, ba người… Có lẽ hàng nầy không có ai khả nghi hết, nên bao bố chỉ liếc sơ qua rồi bước tới.

Thấy tự nãy giờ bao bố chưa “gật đầu” một ai hết, một thầy lính kín có vẻ sốt ruột chụp vai bao bố lại:

– Ê mầy! Bộ tụi nầy chở mầy đi chơi mát sao chớ! Coi chừng nghen mậy: mầy hổng chịu chỉ cho ra mấy thằng đồng bọn với mầy thì về đây rồi biết!

Bao bố ú ớ trả lời cái gì mà Tư Cầu không rõ, và thấy liền theo đó, thầy lính kín “lên” cho hắn ta “một gối” khiến hắn té chúi nhủi. Như ý thức được “phận sự”, bao bố bèn lồm cồm ngồi dậy, rồi xăng xái đi tới chăm chỉ tiếp tục công việc nhận diện.

… Đến trước bác đứng tuổi ngồi cạnh Tư Cầu, bao bố có lẽ không mấy chú trọng đến những người có tuổi nên đi lướt qua mau và Tư Cầu kịp nghe bác ấy thở ra một hơi như là trút gánh nặng tự nãy giờ đè trĩu trên ngực…

Điều ấy cũng làm cho Tư Cầu thêm khó chịu. Anh ta ngó trân trân vào hai cái lỗ khoét trên chiếc bao bố như đợi chờ một lời phán quyết của Định Mạng. Anh ta nín thở, mình mẫy toát mồ hôi khi chợt thấy bao bố chùng chình không chịu bước đi qua cho mau.

Thầy lính kín theo sát bên bao bố vội lách mình lên chụp hắn ta lại hỏi sẵng:

– Sao mậy? Bộ thằng nầy hả?

Thầy lính kín vừa hỏi vừa lấy tay chỉ chỉ thẳng về phía Tư Cầu.

Người trong bao bố chưa kịp trả lời, hay nói cho đúng hơn chưa biết phải trả lời ra làm sao, thì Tư Cầu rướn cổ lên đáp xía vô:

– Dạ hổng phải tui đâu ông ơi!

Thầy lính kín quay lại đạp mạnh anh ta một cái:

– Tao hỏi nó chớ có hỏi mầy đâu hả!

Tư Cầu hoảng kinh cúi gầm mặt xuống.

Thầy lính kín lại lấy mũi giày đá vào đầu gối anh ta.

– Ngước mặt lên cho nó nhìn mầy! (và day qua tên bao bố) Phải thằng nầy hông mậy? Tao cho mầy nửa phút để nhận cho kỹ đó nghen!

Tư Cầu run lẩy bẩy hai tay khoanh chặt trên đầu gối há hốc miệng nhìn chòng chọc vào đôi con mắt sâu thẳm đầy bí mật của người bao bố. Đó là một cái nhìn nửa như cầu khẩn van nài, nửa như kinh hồn khiếp đảm.

Người bao bố vẫn không nhúc nhích. Thật ra khi thấy bộ vó của Tư Cầu, hắn ta cũng muốn gật đầu bừa một cái để yên thân đi về cho rồi, nhưng lại không đành tâm khi nhận ra dáng điệu thảm thiết một cách quá… tuyệt vọng của Tư Cầu.

Thầy lính kín lại hối:

– Sao lâu quá vậy mầy? Có phải thằng nầy không thì mầy nói!

Người bao bố bước nhích lại gần chỗ Tư Cầu ngồi thêm một chút nữa… Tư Cầu chết điếng trong bụng, tứ chi như cứng cồng và như bị hai cái lỗ khoét trên đầu bao bố kia hớp hết hồn.

Người bao bố bước lùi trở lại và hướng về phía thầy lính kín, hắn ta chậm rãi lắc đầu.

Thầy lính kín nổi giận đấm như mưa bấc vào người bao bố và chửi thề vang rân:

– Đ.m nếu hổng phải thì mầy đi liền để nhìn thằng khác chớ làm gì đứng dây dưa ở một chỗ? Bộ tính ở lại để nhận bà con với nó hả? A-lê đi tới cho mau mầy! Chuyến nầy mầy về dưới bót rồi mầy coi tao! Đ.m tự hổm nay nó dắt đi mấy buổi trời cho phơi nắng thấy con đĩ mẹ, mà rồi không chịu gục gặc gì ai hết và để cho mình xách xe không về hoài! Bộ mầy là cha người ta hả?

Người bao bố, có lẽ quá quen thuộc với tình cảnh ấy lủi thủi đi và không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ hắn ta muốn trả lời lại hết.

… Người bao bố lại bắt đầu đi nhìn mặt những người kế tiếp. Tư Cầu nhắm nghiền mắt lại buông mình ngồi phịch xuống đất, thở hắt một hơi dài… Đoạn anh ta mở choàng mắt ra liếng thoắng ngó qua bác ngồi bên cạnh. Bác này cũng nhìn sang anh ta và tự nhiên cả hai cùng nhoẻn miệng cười…

Bao bố đã bị đưa lên xe chở đi, và suốt một buổi sáng hắn ta không nhận diện được một ai hết. Đám người bị bố ráp rần rộ kéo nhau về nhà để còn lo đi làm kẻo muộn. Vì trong xóm không có ai bị bắt nên người nào người nấy cũng thấy như vui thêm lên, họ đua nhau vừa đi vừa cười nói ồn ào như nhóm chợ.

Trong lúc ấy, bác đứng tuổi ngồi kế Tư Cầu ban nãy bước lại gần anh ta bắt chuyện:

– Thế là được tai qua nạn khỏi thêm một lần nữa! Nè chú em, bây giờ chú em có muốn nói chuyện gì đó thì cứ nói thả ga đi, chớ hồi nãy chú em cứ xầm xì hoài… qua ngán trân!

Tư Cầu xẻn lẻn đáp:

– Dạ mới lần đầu nên tui hổng biết…

Bác kia chận ngang:

– Thì qua cũng đoán như vậy… bây giờ đã biết rõ cái chuyện bố ráp chưa? Ối nếu chú em còn ở đây lâu thì bị… bố ráp lu bù thét rồi cũng quen! Mà hồi nãy qua tưởng nó “lượm” chú em rồi chớ? Thiệt hú hồn hú vía?

Và không đợi cho Tư Cầu trả lời, bác ta bước nhanh lại kề sát bên tai Tư Cầu nói luôn:

– Bộ chú em là người… ở đâu mới lại đây hả? Ráng mà “xi-kên” bộ vó lại đi, chớ như vầy thì dễ làm cho người ta để ý lắm đó nghen!

Nói xong bác bươn bả đi thẳng không quay đầu nhìn lại. Tư Cầu ngơ ngác theo bác một hồi rồi hấp tấp đi về gian nhà của mình.

°   °
°

– Anh Tư đâu mất tiêu rồi!

Phấn vừa xô cửa vừa hí hửng hỏi liền… Tư Cầu đang lúc thúc ở phía sau vội bước ra:

– Cha sao lợi hoài hoài vậy bà cố! Xóm này bị bố ráp liền liền trong suốt tuần nay, vậy mà cứ thậm thọt vô ra cả ngày lẫn đêm thì đố khỏi có người dòm ngó!

Phấn không buồn trả lời, liệng mạnh cái khăn đội và cái bóp lên trên giường, rồi thản nhiên cởi áo dài ra… Nhưng cô bỗng ngừng tay lại lên tiếng réo Tư Cầu:

– Ê anh Tư, lại mở giùm cái nút áo nầy coi!

Tư Cầu đứng yên một chỗ:

– Trời đất quỷ thần ơi, có chút vậy mà cũng bày đặt chuyện để sai người ta nữa sao?

Phấn buông thõng hai tay xuống:

– Vậy mà hổng được hén? (rồi cô lấy ngón tay chỉ chỉ một cái nút áo nơi kẹt nách) Người ta mở hổng ra nên mới nhờ tới mình chút xíu đó mà cũng làm bộ hoài! Bây giờ anh có chịu lại đây hông nè!

Phấn vừa nói vừa đưa cánh tay lên cao và nheo nheo mắt nhìn Tư Cầu… Thấy Tư Cầu nhăn nhó đi lại, Phấn mỉm cười nói:

– Thiệt anh làm như sắp sửa đi lên gươm máy vậy!

Tư Cầu cười lạt:

– Lên gươm máy còn chết mau, chớ với mấy bà thì chết lần chết mòn!

Tư Cầu lom khom đưa tay cố mở cái nút áo ra khỏi khuy nhưng vẫn không được. Thấy thế, Phấn chắc lưỡi:

– Làm cái gì mà ba trật ba vuột hoài vậy anh?

Tư Cầu bực mình đứng xổng lưng lên:

– Thì bà có giỏi mở ên một mình coi!

Phấn níu Tư Cầu khom xuống:

– Bị người ta trái tay chớ hông thôi ai thèm nhờ anh làm khỉ gì cho mất công!

Tư Cầu lại ráng mở cho được cái nút áo ấy. Xong anh ta đứng thẳng lại thở ra một hơi dài như vừa trút bỏ một gánh nặng:

– Thiệt đồ mắc toi gì đâu!

Phấn lại nắm chặt lấy tay anh ta:

– Ủa, bộ tính hổng cổi luôn cái áo cho người ta hả?

Tư Cầu giựt mạnh tay ra và hỏi lại:

– Bộ cùi rồi hả?

Phấn háy xéo anh ta:

– Xí, cái bản mặt thấy ghét quá hà!

Đoạn cô cổi phăng cái áo dài ra liệng vắt trên đầu giường rồi nhảy lại ôm ngang eo ếch Tư Cầu và đeo dính cứng.

Tư Cầu lúng túng gỡ tay Phấn ra:

– Ý trời, lo thấy mồ thấy tổ chớ vui sướng gì đâu mà em làm như vậy hổng biết!

Phấn vẫn giữ chặt lấy anh ta:

– Lo cái gì mà hễ gặp mặt anh là anh kêu lo! Lo thì cũng có khi có lúc, chớ lo hà rầm như vậy ai chịu nổi!

Tư Cầu cười mũi:

– Ai bắt em chịu hồi nào đâu thử nói coi.

Phấn xô mạnh anh ta ra và nói một hơi:

– Hứ anh làm như anh quý lắm vậy! Em hỏi anh: chớ em lao tâm tổn trí đem anh ra đây làm chi? Để làm mắm chắc?… Mà anh lo cái khỉ mốc gì vậy hả?

Tư Cầu xuống nước phân trần:

– Thiệt ra anh cũng mang ơn em nhiều lắm chớ hổng phải không…

– Ai khiến anh mang ơn cà! Mà anh mang ơn theo cái điệu… đuổi xua đó hả?

Tư Cầu nhăn nhó chắc lưỡi:

– Em cứ nói vậy hoài… Anh lo là lo hổng biết cái chuyện anh trốn đây có êm luôn hông…

Phấn chận ngang:

– Nếu hổng êm thì tây nó chộp cổ anh lại rồi!

– Em nói sao nghe dễ quá…

Phấn bước lại kéo cái gối dựng lên đầu giường rồi ngồi xuống dựa lưng vào:

– Em biết rõ cái gì thì em mới nói cái nấy. Mới rồi chị Hai ở trỏng có ra kiếm em để cho hay là tốp tù bị đưa ra Côn đảo đã xuống tàu chở đi hết rồi.

Tư Cầu vội ngồi xuống một bên Phấn:

– Vậy hả? Cha tội nghiệp mấy anh em đó quá há!

Phấn lừ mắt nhìn anh ta:

– Anh hổng lo chuyện của anh mà cứ lo tội nghiệp cho người khác hoài hè!

Tư Cầu biết dầu có phân giải gì nữa cũng vô ích nên ra bộ ân cần hỏi lại Phấn:

– Ờ mà cái chuyện của anh ra làm sao hả em? Cô… Ba có cho biết gì lạ không?

– Dữ hông!… Thì như vậy kể như cái vụ của anh êm luôn rồi và chắc không ai còn để ý tìm kiếm “nguội lạnh” nữa làm chi.

– Cô Ba cổ nói như vậy hả?

– Phải… Mà em cũng nghĩ: tù cả ngàn, cả vạn người thì dầu cho có thiếu mất đi một vài người cũng chẳng sao!

Tư Cầu bật cười:

– Nói như em vậy thì… khỏe quá! (rồi anh ta ngập ngừng hỏi thêm) Mà cô Ba cổ có… nói thêm cái gì nữa không hả em?

Phấn đăm đăm nhìn vào mặt anh ta:

– Hừ, anh khôn quá tổ mẹ người ta há! Thì hỏi đại coi con mẹ Hai hỏi thăm hỏi nom anh gì nữa có được không? Vậy mà còn làm bộ hỏi ngoắt ngoéo… tính qua mặt con nầy nữa!

Bỗng cô đập mạnh tay xuống sập giường nghe một cái rầm và làm cho Tư Cầu giựt mình nhích lui ra sau:

– Hèn chi anh nói anh lo! Lo vậy đó phải không?

Tư Cầu thấp giọng năn nỉ:

– Coi em la lối om xòm… hàng xóm láng giềng họ tưởng mình đánh lộn đánh lạo bu lại coi thì… hổng tốt đa em! Em hổng biết, chớ đứng vào tình cảnh của anh hổng lo sao được: trước thì lo bị bắt lại, còn bây giờ nếu êm hết rồi thì… phải lo kiếm đường dìa thăm dưới nhà coi bình an thể nào, chờ lâu ớn rồi…

Phấn nghe nói vậy chồm tới níu tay anh ta hỏi liền:

– Bộ anh về dưới sao? Mà cái gì gấp dữ vậy? Bây giờ êm rồi thì anh cứ ở nán trên nầy chơi một ít lâu nữa hổng được sao? Mấy thuở anh lên được trên Sài Gòn…

Tư Cầu cười khan:

– Ý trời ơi, tới nước nầy mà em còn biểu ở trên nầy chơi nữa chớ! Em làm như không có chuyện gì xảy ra hết!

Phấn còn ráng thuyết phục anh ta:

– Sao em không biết như vậy, nhưng bây giờ mọi việc kể như êm ru hết rồi… Anh nghĩ coi: thời buổi nầy, biết bao lâu nữa anh mới có dịp lên trên nầy? Lần lên lần khó thôi thì anh nán ở lại năm mười bữa nữa. Anh cứ kể như anh… còn bị kẹt trong căng vậy!

Tư Cầu lắc đầu quầy quậy:

– Kể gì vậy mà kể! Anh nói hổng được là hổng được… Thiệt tình thì không phải anh vô tâm vô tính gì mà chẳng quyến luyến… trên nầy, nhưng ngặt nổi nhà nhà cửa mê mê ở dưới vườn và bà con cô bác chắc ai cũng nóng ruột trông tin anh. Đó em coi…

Phấn gạt ngang:

– Thì em biết rồi… Nhưng thôi, em cũng không dám nài ép anh làm gì để nữa rồi anh đổ thừa kia nọ ghét lắm!

Đoạn Phấn bò rột lại, kê đầu nằm lên trên bắp vế anh ta rồi ngước mặt lên nhoẻn miệng cười. Tư Cầu vói tay lấy cái gối định để kê đầu cho Phấn, nhưng cô ta đã lẹ chân hất cái gối văng ra xa, và rướn người lên nằm đè luôn hai đùi của Tư Cầu…

Phấn níu lấy áo anh ta giật mạnh và lên giọng nạt nộ:

– Ngồi yên đa! Anh mà rục rịch nữa em véo bắp vế non cho anh coi.

Tư Cầu bắt cười xòa:

– Bị gặp thứ… quỷ vương như em vầy nè rồi làm sao mà yên được…

Nghe câu ấy, Phấn như được mợi nằm lăn ra giường và lôi Tư Cầu ngả người nằm kế một bên. Thấy Tư Cầu quay mặt ngó vô vách, Phấn vừa đưa tay níu lấy vành tai, vừa gác chân lên người anh ta để lôi kéo trở ra.

– Anh bây giờ sao tệ hơn hồi đó nhiều!

– Hừ…

– Anh so em bây giờ với em hồi đó coi thế nào? Có hơn nhiều hông?

– Hơn và ngán hơn nhiều.

– Cái anh mắc dịch này! Được rồi anh muốn ngán, em cho anh ngán luôn!

Tư Cầu chưa kịp nói thêm một lời nào nữa thì Phấn đã choàng một tay qua đỡ đầu anh ta lên, và một tay kia thì luồn đặt dưới cổ.

Một mùi dầu thơm nồng xông lên làm cho Tư Cầu hơi ngây ngất… và đây, cũng người này ngày nào trong chòi vắng mà anh ta quá quen thuộc, quen thuộc từng sợi tóc dính bết mồ hôi trên trán, từng hơi thở dồn ấm bên tai… cũng người ấy, nhưng sao Tư Cầu cảm thấy quá mới lạ.

Và lòng anh ta vẫn bồi hồi xúc động như thường, tay anh ta vẫn run rẩy, vẫn ngập ngừng… như trong một đêm xa lắc xa lơ nào giữa đồng trống gió lùa trên mái rạ, khi cây rọi mù-u ngã lăn và tắt ngóm trên nền đất….

Bỗng nhiên, Tư Cầu thấy bực mình: với con Ba, anh ta đâu có đến nỗi vụng về luống cuống như thế. Còn còn Phấn… thì tự hổm nay anh ta chẳng đã ôm ấp trong lòng rồi đó sao? Nhưng lần nào cũng như lần nào, Tư Cầu vẫn thấy rộn ràng làm sao… Rộn ràng vì sắp nâng niu một người tình cũ, người tình đầu tiên hơn là vì nằm kề một người đàn bà mà da thịt, mắt, môi, tay chân… cho đến một hơi thở nữa cũng đều ngùn ngụt… “chuyện” yêu đương.

… Như tự trách sự ngượng ngập vô lý của mình, Tư Cầu chắc lưỡi liền mấy cái… Phấn vội ngước mặt lên nửa lo ngại, nửa bực mình hỏi:

– Gì vậy anh?

Tư Cầu mỉm cười lắc đầu nhè nhẹ:

– Không…

Rồi anh ta choàng tay qua ôm siết mạnh lấy vai của người yêu… Phấn ngạc nhiên cố nhoai ra mở to mắt nhìn anh ta, cô định hỏi thêm nữa nhưng rồi lại ú ớ kêu lên:

– Vậy mà làm người ta hết hồn! Dữ hông…

°   °
°

Mới có hơn một giờ khuya mà Tư Cầu đã rọ rạy thức dậy rồi, mặc dầu mãi đến ba giờ sáng chuyến xe đò Sài Gòn – Cần Thơ mới khởi hành.

Sau khi xúc miệng rửa mặt, bận quần áo đàng hoàng, và thu xếp đồ đạc lặt vặt mang theo vô một chiếc cặp da mà anh ta mới mua hồi chiều, Tư Cầu ngồi hút thuốc để giết bớt thì giờ…

Tiếng xe thổ mộ lốc-cốc leng-keeng chạy ngoài lộ làm cho anh ta thấy nao nao trong lòng. Tuy sốt ruột mong cho chóng về tới nhà, nhưng Tư Cầu vẫn cảm thấy bâng khuâng khi sắp lìa xa gian nhà bé nhỏ mà anh ta nương náu bấy lâu nay, lìa xa Phấn, con Ba… hai người đàn bà đã yêu mến, giúp đỡ anh ta rất nhiều, (mà cũng làm phiền rộn anh ta không ít) lìa xa Sài Gòn, một nơi đã riêng dành cho anh ta bao cuộc xáo trộn…

Có tiếng chân người bước hối hả ngoài ngõ và Tư Cầu kịp ngó ngoái ra thì Phấn đã xô cửa ló vào:

– Thiệt em đi muốn hụt hơi vì sợ anh đã ra huốt ngoài bến xe rồi!

– Ra đâu mà ra, còn sớm bửng…

– Em cũng biết vậy, nhưng em còn lạ gì tánh của anh quá… lo xa.

Tư Cầu thẫn thờ nhìn quanh gian nhà:

– Ừ…

– Anh sửa soạn xong chưa? (rồi như nhận thấy câu hỏi ấy quá thừa, Phấn lại tiếp) Thôi mình thả lần ra bến xe lục tỉnh đi, chớ ngồi nán lại đây làm khỉ gì! Ra ngoải mình vô tiệm ngồi uống cà phê ăn lót dạ rồi đợi giờ xe chạy cũng được đó anh!

– Ừ.

Tư Cầu uể oải đứng dậy xách cặp da lên rồi chậm rãi ngó chung quanh gian nhà một lần nữa.

Thấy vậy Phấn hỏi liền;

– Anh kiếm cái gì mà em thấy anh ngó đảo qua đảo lại năm lần bảy lượt vậy?

Tư Cầu lắc đầu đáp:

– Không… anh coi có còn bỏ quên lại món gì không mà!

Phấn thở dài đứng lặng thinh chờ anh ta một hồi rồi hỏi:

-Sao? Có bỏ sót cái gì không?

Tư Cầu vẫn đứng sững ở giữa nhà:

– Không… À nè em, căn nhà nầy khi anh dìa dưới rồi em tính sao đây?

– Ối, vậy mà cũng lo! Em tính sao thây kệ em… hay là em cứ khóa cửa để đó chờ coi anh về xứ không yên thì quay lên ở luôn trên nầy nghe anh!

Tư Cầu lắc đầu quầy quậy:

– Ý thôi, em trả lại cho chủ nhà đi chớ hơi sức đâu mà đợi anh! Với lại anh dìa chuyến nầy thì ở luôn dưới xứ, may ra chừng nào hết giặc giã mới có thể lần mò lên trên nầy được… hay là bây giờ cho tới chết cũng chưa chắc anh gặp mặt lại cái đất Sàigòn nầy!

Phấn nguýt háy anh ta:

– Hễ động mở miệng ra là nói bậy hoài! (đoạn cô xuống giọng tha thiết nói tiếp) Em nghe nói lóng rày ở dưới miệt quê động lắm: Tây nó bố ráp, càn quét lu bù, và còn cái nạn máy bay liệng bom, nã súng liên miên nữa… Như vậy, theo em nghĩ: anh về quê thăm qua nhà cửa cho bà con cô bác ở dưới yên lòng rồi vọt gấp lên trên nầy…

Tư Cầu nhìn Phấn mỉm cười:

– Lên trên nầy cho hai bà hùa vô… xé xác phanh thây hả! Tây nó có bố thì dầu cho ngặt nghèo thế mấy cũng có đường trốn, chớ hai bà mà ráp vô thì có nước tui độn thổ mới toàn mạng được!

Phấn có vẻ mắc cở, nhưng như để khỏa lấp, lại gân cổ nói bừa đi:

– Anh sao cứ giỡn bông lơn hoài! Bộ em… ganh tỵ gì với con mẹ hai đó sau? Đấm đách đi! Em dầu hèn cũng thể chớ bộ thèm so đo với cái thứ con mẻ sao!

Tư Cầu cau mày hỏi sẵng:

– Cái thứ gì hả?

Phấn hơi ấp úng nhưng rồi cũng ráng đáp bừa tới:

– Cái thứ… đụng đâu xâu đó vậy mà anh cũng hỏi! Cái thứ đó nập nợn ở miệt đường A-mi-ran Cuộc-bê (con đường dập dìu gái điếm hồi quân đội viễn chinh mới sang) thiếu gì!

Tư Cầu lên tiếng cự nự liền:

– Em hổng biết khỉ gì hết mà cũng nói ẩu cho người ta hoài! Em mà còn ọ ọe nữa thì khỏi chuyện đưa đón gì nữa hết nghen!

Nói xong anh ta vùng vằng xách cặp đi thẳng ra ngoài cửa.

Phấn te te chạy theo sau:

– Đợi em đi với anh Tư! Anh không muốn em nói thì thôi. Tại anh hỏi vô chớ bộ em…

Tư Cầu mải miết đi tới:

– Thôi biết rồi, dẹp cái chuyện đó qua một bên cho rảnh!

Phấn dịu giọng hỏi anh ta:

– Bây giờ mình đi ra bến xe bằng gì đây?

– Bằng cái gì cũng được hết miễn cho tui leo lên tới xe dông luôn tuốt dìa xứ là quý rồi!

Phấn cũng phát bực:

– Cái anh này thiệt…

Rồi sợ Tư Cầu kiếm chuyện nói “phong ngang bửa củi” nữa, Phấn xông lên đi trước để giơ tay chận đón một chiếc xích lô máy đang chạy trờ tới…

Sau khi cùng Phấn vô tiệm cà phê ăn lót lòng xong xuôi, Tư Cầu xách cặp da leo lên xe ngồi sẵn vì cũng sắp tới giờ khởi hành rồi.

Tư Cầu mua giấy trước hồi chiều nên chọn được chỗ ngồi ngoài bìa, và nhờ vậy mà Phấn đứng dưới đất có thể dễ dàng chuyện trò với anh ta trong lúc xe chưa chuyển bánh.

Tư Cầu thò đầu ra ngoài và giục Phấn:

– Thôi em đi dìa đi chớ hơi sức nào đứng ở đây nữa cho mỏi chưn!

Dựa người vào thùng xe, Phấn âu sầu ngước mắt lên nhìn anh ta:

– Dầu cho có rã đầu gối bây giờ em cũng phải đợi cho xe chạy rồi về mới được. Anh không nghĩ đến chỗ: chỉ còn năm mười phút, hay nửa giờ nữa là em với anh… mỗi người mỗi ngả và chẳng biết đến bao giờ mới gặp mặt nhau lại được như vầy!

Tư Cầu cũng thở dài:

– Thì đúng như thế đó… Nhưng coi vậy chớ nếu ở đời hễ xa nhau là… chết rũ, thì có lẽ hai đứa mình đã… ngủm hồi từ thuở cố lũy nào rồi! Rốt cuộc rồi ai cũng yên phận nấy, ai cũng sống nhăn hết…

Phấn gượng cười cắt ngang:

– Nói như anh vậy là hết chuyện! Đã đành rằng không ai chết được, nhưng bộ anh chẳng thấy héo ruột héo gan hay sao?

Tư Cầu cũng cười theo:

– Nếu có thì để bụng chớ chẳng lẽ… la làng lên hay sao?

Phấn vói tay véo nhẹ vào vai anh ta:

– Anh thiệt hổng bỏ cái tật nói ngang nói ngạnh đó!

Tư Cầu làm nghiêm trở lại:

– Ý quên nữa: em nhớ nói lợi với chú Ba rằng anh có gởi lời thăm chú được mạnh giỏi, buôn bán mần ăn tấn phát hoài hoài… Thiệt ra thì chuyến nầy, anh mang ơn chú nhiều lắm… và cũng làm phiền chú không ít!

– Coi, anh có làm phiền thằng chả cái gì đâu? Có em chạy tới chạy lui lo cho anh nầy nọ, chớ thằng chả cứ ở miết trong tiệm và có chịu nhúc nhích cục cựa gì đâu! Vậy mà thằng chả lại còn cằn nhằn em nhức xương nhức cốt nữa!

Tư Cầu lắc đầu:

– Thì làm phiền chú Ba là ở chỗ ấy đó em ơi! Đã đành rằng hai đứa mình là… tình xưa nghĩa cũ, nhưng bây giờ, bề nào chú cũng là chồng của em… Anh nói có phải như vậy hông?

– Thì phải… nhưng ai biểu hồi đó…

– Biểu khỉ gì! Cũng có em… can dự vô chớ bộ một mình chú mà… mà xảy ra chuyện đó sao? Kể ra chú Ba cũng hiền lắm chớ đứng vào địa vị anh mà lại có con vợ bạt mạng như em, thì nhứt định là anh vặn họng bẻ hầu nó liền chớ đâu đó để luồng tuôn vậy được!

– Xí, anh hổng biết mốc gì hết mà cũng nói! Thằng chả mà hiền! Em vì thương anh nên em mới bất kể như vậy, chớ bộ anh nói dễ chịu đựng với thằng chả lắm hả? Có điều là thằng chả khôn cãi trời cho nên không dám làm tới vì sợ em liều bỏ đi luôn, và nhứt là sợ lùm tum lên, rủi ro anh có bề gì thì cũng kẹt luôn thằng chả vô trỏng nữa.

– Cái gì mà lại dính dáng đến chú Ba?

– Hứ, em mà non tay ấn như anh vậy thì chỉ có nước ngồi ngó cho anh chết tiệt ở trong căng hay ở ngoài đảo. Mới đầu em đã nói thẳng cho thằng chả biết: nếu thằng chả làm bậy bạ để cho anh bị bắt lại thì trời cản em cũng cho thằng chả… chìm chung một xuồng… (nói đến đây Phấn thở dài) Thiệt bây giờ nghĩ lại em mới biết mang ơn chị Hai vợ của ông quan hai, vì cũng nhờ chỉ bày mưu đặt kế để em đón anh ra ngoài nầy tự hổm rày…

– Dữ hông! Lâu lâu mới nghe em nói một câu nghe không nghịch lỗ nhĩ! Vậy mà cứ làm hùm làm hổ với người ta hoài!

– Thôi nghen, hổng phải nghe em nói vậy mà được mợi làm tới… có chuyện nữa đa! (rồi như sợ phật ý Tư Cầu trong lúc này, cô dịu giọng nói tiếp) Bởi vậy, sau khi anh về xứ rồi, em tính để bữa nào rảnh vô tìm chị Hai một chuyến để nói vài lời phải quấy với chỉ kẻo chị phiền…

Tư Cầu hăng hái tán thành:

– Ừ phải đa! Mà em có vô trỏng nhớ nói…

Phấn xớt lời ngang:

– Nhớ nói anh hỏi thăm chỉ nhiều lắm phải hông?

– Ừ… thì em nghĩ coi: bề gì thì cổ cũng xăng văng xéo véo cho cho anh chớ bộ không sao?… Mà thôi, nói chuyện khác đi bà nội, xe đã bắt đầu rồ máy, bóp kèn om xòm đó!

Phấn đưa mắt nhìn chung quanh:

– Ối, mấy cha lơ làm bộ vậy để hối khách, chớ có chạy thiệt đâu anh ơi! (rồi cô trở lại nhìn Tư Cầu) Anh coi lại giấy tờ, tiền bạc gì còn đủ hông, hay là bị chúng móc túi chọt hầu bao mất hết rồi?

Tư Cầu vỗ túi quần sau:

– Còn đây nè! Mà hồi chiều em nhét trong bóp anh chi tới ba ngàn đồng lận? Anh tưởng em chỉ đưa thêm một vài trăm đủ anh xây xài dìa tới dưới… Thôi để sẵn dịp này anh trả bớt lại em… (anh ta vừa nói vừa rút bóp ra)

Phấn nhóng người lên chụp tay Tư Cầu bắt phải đút cái bóp trở vô túi quần và lên giọng hăm he anh ta:

– Anh mà lộn xộn nữa là có chuyện liền bây giờ đó nghen!

Biết không thể cưỡng được ý của Phấn, Tư Cầu đành chịu phép và đáp xụi lơ:

– Cha, em ép anh nhiều cái ngặt quá! Tiền bạc nầy em… bòn rút của chú Ba rồi trao cho anh xài thì cũng hơi… kỳ kỳ…

– Ê, tiền của em để dành riêng chớ hổng phải tiền móc hầu bao của thằng chả mà anh phải áy náy!

– Em có tiền riêng thì cũng nên để dành đó cho thằng bé… Kỳ.

– Cái đó anh khỏi phải nói, bây giờ em lo cho… tía ruột thằng Kỳ trước đã!

Nói xong Phấn nhìn Tư Cầu cười mủm mỉm làm cho anh ta cũng đâm ra xẻn lẻn vội ngó về phía khác.

Vừa lúc ấy có một chị bán bánh mì tay cầm mấy ổ bánh dài thòn, vàng ửng đi tới và mời mua:

– Hai chú thiếm mua giùm em vài ổ bánh mì giòn nóng hổi mới ra lò.

Phấn liền cầm lấy một đầu ổ bánh mì để nắm xem có quả thật là thứ mới không, xong cô gật đầu ra vẻ vừa ý:

– Chị cho tôi ba ổ đi làm ơn gói buộc lại kỹ lưỡng đó nghen!

Tư Cầu vội cản nói:

– Mua chi dữ vậy em? Nếu có đói anh mua bánh bán ở dọc đường cũng được mà!

Phấn đỡ lấy ba ổ bánh mì mà chị bán hàng trao cho, rồi đưa luôn cho Tư Cầu:

– Ậy, anh cứ xách đem về dưới đi. Thứ bánh mì nầy làm bằng toàn là bột thiệt ngon lắm mà!

Tư Cầu bắt buộc phải cầm lấy mấy ổ bánh mì mà mặt mày thì nhăn nhó. Anh ta nhìn trân trân vào gói bánh, đoạn thở dài.

Thấy thế, Phấn bực mình hỏi anh ta:

– Thì anh xách thêm một chút xíu đó có nặng nhọc gì dữ lắm sao mà mặt mày anh chầm dầm vậy?

Tư Cầu thở ra:

– Hổng phải nặng nhọc gì, nhưng anh thấy mấy ổ bánh mì nầy anh… bắt ngán quá!

– Ngán cái gì?

Tư Cầu do dự một hồi rồi đáp:

– Em hổng nhớ sao: tại bến cầu tàu lục tỉnh ở Cần Thơ hồi em với anh… tính lên trên nầy đó mà!

Phấn cau mày:

– Đọ, lại sắp kiếm chuyện nữa rồi đa! (nhưng rồi cô lại tò mò hỏi thêm) Mà hồi đó rồi làm sao? Mấy ổ bánh mì nầy có ăn nhập gì vô trỏng hả?

Tư Cầu nhìn cô như trách móc:

– Em… cái gì cũng mau quên hết, nên… cái gì cũng dễ ợt! Thì hồi đó em biểu anh lên cầu tàu đi mua bánh mì và thịt xá xíu đó! Rồi ở dưới nầy… Cũng tại ba cái bánh mì mắc dịch nầy nè! Mà thôi nhắc nữa làm gì!

Nghe giọng nói của Tư Cầu, Phấn bắt phì cười:

– Sướng quá há! Thì cũng anh nhắc lại, rồi cũng anh biểu thôi! Thiệt thằng cha nầy nhớ dai quá tổ mẹ người ta!

Tư Cầu có vẻ phật ý:

– Hứ, cái chuyện thấu trời, động đất mà không nhớ thì nhớ cái gì nữa cà?

Phấn mỉm cười vói tay nắm lấy tay Tư Cầu:

– Thì tại anh thương em gắt nên mới nhớ dai như vậy chớ gì?

Tư Cầu cảm động vội quay mặt đi, nhưng lại nói buông thõng:

– Chưa chắc! Cái đó để… hỏi lợi coi!

Vừa lúc ấy tài xế rồ máy xe, bóp kèn inh ỏi và anh lơ luôn miệng hối khách còn đứng dưới đất mau mau lên ngồi vào chỗ của mình… Phấn vội nắm chặt lấy bàn tay của Tư Cầu và lặng thinh ngước mắt đăm đăm nhìn anh ta.

… Chiếc xe từ từ chuyển bánh và bàn tay của Phấn cũng từ từ tuột nhẹ ra khỏi bàn tay của Tư Cầu.

Phấn vẫn lúp xúp chạy theo xe. Tư Cầu vội hối cô ta:

– Thôi em dìa đi!

– Anh đi mạnh giỏi nghen anh Tư! Nhớ nếu ở dưới không yên thì lên trên nầy liền nghen!

Tư Cầu ló đầu ra, ngó ngoái lại:

– Ừ… Em ở lại mạnh giỏi nghen!

Phấn đã đứng lại vì chiếc xe bắt trớn nên chạy mau thêm.

Tư Cầu ráng ló đầu ra ngoài để ngoái nhìn cho rõ thêm được chút nào hay chút nấy hình dáng Phấn đứng chơ vơ bên vệ đường.

Trời hãy còn tối nên hình dáng yêu mến ấy đã nhỏ dần và như… bé bỏng, đơn độc hơn thêm nữa dưới ánh sáng vàng khè vẩn đục sương sớm của ngọn đèn điện trên cột trụ bên đường…

Bỗng có tiếng đập thùng xe và liền theo đó là tiếng quát tháo của anh lơ:

– Anh Hai ngồi đằng trước đó, làm ơn thụt đầu vô hông thôi xe khác qua mặt quẹt lọi cổ đa!

Tư Cầu giựt mình vội rút đầu vô và vừa lúc ấy chiếc xe đò cũng đã quẹo qua một con đường khác.

… Chiếc xe đã chạy ra vùng ngoại ô và anh tài xế đã tắt ngọn đèn trong mui.Trong xe, hành khách đều giữ lặng trang vì ai nấy đã bắt đầu ngủ gà ngủ gật.Gió ngoài đồng trống như được thể thổi vù vù vào trong mui xe và làm cho Tư Cầu co ro người lại. Anh ta ôm ghịt cái cặp da cùng mấy ổ bánh mì vào lòng và hơi nóng âm ấm của mấy ổ bánh ấy càng làm cho anh ta cảm thấy gió đang lùa vào xe kia như lạnh buốt thêm trong buổi sáng biệt ly…

… Rồi chiếc xe chạy ngang qua căng Phú Lâm… Tư Cầu quay đầu sững sờ nhìn lớp hàng rào dây kẽm gai, những cột điện cách khoảng rọi sáng trưng mấy dãy trại mà bề ngoài xem thật vắng tanh như một khu xóm không có bóng người cư trú…

Chiếc xe chạy vụt qua và hình ảnh của nơi quá quen thuộc ấy lùi dần lùi dần… Lòng Tư Cầu thấy thê lương lạ thường khi nghĩ tới rằng: giờ nầy trong những căn trại đó, còn có biết bao nhiêu người đang nằm chen chúc trên sân xi măng… có người ngủ mê ú ớ mớ gọi vợ kêu con, có kẻ thao thức lắng nghe tiếng kiểng đổ gọi chuyền nhau qua mấy điếm canh trên lô cốt…

Rồi một trạm kiểm soát xuất hiện trước mặt. Chiếc xe từ từ đậu lại, và lính tráng trong bót ùa ra kẻ xét giấy tờ, người khám hành lý.Tư Cầu tái mặt. Mới đầu anh ta tưởng chừng như là tất cả những sự kiểm soát ấy riêng nhắm vào… anh ta. Mấy lần anh ta muốn vọt chạy xuống ruộng để lủi trốn nhưng kịp nghĩ lại nơi đó là một vùng lạ hoắc và như vậy anh ta biết xoay trở làm sao.Đành là liều ở lại vậy… Nhưng rồi mọi việc đều êm thấm: sau khi được kiểm soát qua loa, chiếc xe lại tiếp tục cuộc hành trình…Đi được một đỗi xa chiếc xe ngừng trước trạm gác khác, rồi đến một trạm khác nữa… Tuy biết rằng không có gì đến nỗi, nhưng Tư Cầu vẫn thấy… lên ruột mỗi lần phải xuống trình giấy tờ, rồi giơ thẳng hai tay lên trời để cho người ta lục soát trong người…Có qua những phút ấy, Tư Cầu mới biết rằng sự tự do mà anh ta được hưởng đó không phải là dễ dàng và khỏe ru gì cho lắm!…

Ngày ta bỏ núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6th May 2021

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 2

Nhớ lại lần đầu, 6 năm trước, tôi và người bạn cùng đơn vị đi đón em gái anh ta lúc học sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột tan trường. Sau đó mẹ tôi từ Hội-An vào gặp bố mẹ cô ta; mẹ tôi xin cô ta về làm dâu họ Vương. Bây giờ nàng đang bị kẹt trong vùng đạn lửa, một nách ba đứa con thơ, lại thêm bụng mang dạ chửa. Tôi ngồi thừ người trước cửa hầm trú ẩn của tiểu đoàn trưởng. Tôi không cảm thấy cái lạnh của sương đêm. Trời sáng lúc nào tôi không hay.

Vừng dương bắt đầu le lói. Lại thêm một ngày.

Bên tôi là những cây hoa móng tay.

Mấy ngày rồi không ai tưới, hoa lá đã vàng vọt úa màu.

Bên những cây hoa này, hai đứa con gái tôi đã đứng chụp hình. Con tôi cũng chỉ xấp xỉ cao cỡ những cây hoa đó.

Sau Noẽl 1974 tôi đã đón vợ tôi và hai đứa con gái lớn lên tiền đồn này chơi vài ngày. Hai đứa bé suốt ngày chỉ quanh quẩn bên những cây hoa móng tay.

Chợt những bông hoa móng tay trước mắt tôi như mờ dần đi. Một giọt nước mắt nóng rơi trên mu bàn tay. Ðầu óc tôi phừng phừng.

Hai bàn tay tôi xoắn vào nhau, giày vò lẫn nhau. Tôi muốn đập phá, la hét, kêu gào để trút bỏ niềm đau đớn, phẫn uất đang nung nấu tâm can.

Nước mắt cứ tiếp tục lăn trên má, qua môi, xuống miệng.

Tôi oán trách ông Trời; tôi oán trách Ðại tá Tất; tôi oán trách Tướng Tường; tôi oán trách Trung tá Dậu; tôi tự oán trách tôi.

Chuẩn úy Lê Văn Phước (Ban 3) len lén đến bên tôi. Phước đưa cho tôi cái khăn bông ướt,

– Bình tĩnh lại Thiếu tá! Ðài BBC nói Ban Mê Thuột thất thủ rồi!  Ðánh nhau nhanh như vậy chắc là ít người chết. Nhà hai bác ở xa khu quân sự, hy vọng chị và các cháu không hề hấn gì.

Cái khăn ướt làm mặt tôi bớt nóng. Tôi đứng lên bước hững hờ xuống khu pháo binh cũ, hướng Bắc của bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Từ đây tôi có thể nhìn thấy một vùng rừng rậm xanh rì trải dài về hướng chân trời.

Xa lắm, nơi chân mây hướng Ðông Bắc là Ban Mê Thuột, nơi đó có gia đình tôi, gia đình của những người lính Kinh, Thượng, Jarai, Rhadé, Bana dưới quyền tôi.

Hai ngày dài buồn thảm nối tiếp trôi qua, tôi không nghe được tin tức gì của Ban Mê Thuột.

Chiều 15 tháng Ba dân chúng từ buôn Bù-Binh hướng Nam, nối đuôi nhau đi về Ngã Ba Kiến-Ðức. Gùi sau lưng, con trước ngực, họ từng đoàn lếch thếch qua mặt đồn tôi đóng, để về Nhơn-Cơ.

Không rõ vì lý do gì, gần tối đoàn người dội ngược trở lại. Tôi cho đám dân tị nạn này tạm nghỉ qua đêm trong cái nhà tranh Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn, sát chân đồi, bên lề đường.

Sáng sớm 16 tháng Ba, trung đội tuần đường của Ðại Ðội 1/82 vừa tới đầu khúc cua chữ “S” cách Kiến-Ðức hơn ba cây số thì đại liên 12.7 ly “choang choác!”  nổ giòn.

Ông Thượng sĩ Y Ngon Near bị phòng không bắn chết nơi đầu dốc. Trung đội tuần đường tháo chạy ngược về hướng Kiến- Ðức.

Từ giờ này Tỉnh Lộ 344 đoạn Kiến-Ðức, Nhơn-Cơ bị cắt.

Xác ông tiểu đội trưởng Y Ngon Near bị bỏ rơi nằm chình ình giữa lộ.

Ngay lúc đó, pháo địch từ hướng Tây Bắc nã khoảng gần 100 viên đại bác 105 ly trên đồi Kiến-Ðức.

Lúc đạn địch rơi, tôi đang thăm khu dân tị nạn để hỏi han họ lý do tại sao họ không về Nhơn-Cơ chiều hôm trước.

Bây giờ thì rõ ràng rồi: địch chặn đường!

Lúc này, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân báo cáo rằng chiến xa địch đang từ hướng Phước-Long tiến về Bù-Binh, nơi ông đang đóng quân. Liên đoàn cho lệnh ông Mẫn rút về với tôi.

Tối đó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân được tôi chia cho phần nhiệm vụ phòng thủ mặt Ðông của Ngã Ba Kiến-Ðức, án ngữ hướng về Nhơn-Cơ.

Ðêm 16 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho Thiếu tá Mẫn nỗ lực vượt qua nút chặn của Cộng Quân để về phòng thủ quận Nhơn-Cơ.

Suốt ngày 17 tháng Ba năm 1975, đạn 12.7 ly nổ rền trời nơi khúc quanh có xác Thượng sĩ Ngon. Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân không tiến được bước nào.

Ðêm xuống, con cáo già Khóa 2 Ðồng-Ðế là Hoàng Ðình Mẫn cho đơn vị chui lòn trong rừng, đánh một vòng rộng về hướng Nam, xa hẳn vùng Việt-Cộng đóng chốt để tìm đường vào phi trường Nhơn-Cơ.

Ông Mẫn đã khôn khéo tránh né đụng độ, và đã hoàn thành nhiệm vụ bắt tay được Thiếu tá Khánh, Quận trưởng Kiến-Ðức ở Căn Cứ Nhơn-Cơ buổi sáng ngày hôm sau.

Mờ sáng 18 tháng Ba năm 1975, súng cối 82 ly của địch từ hướng Tây lại tái pháo kích vào Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Từ tuần lễ nay, đồi Bù-Row bỏ ngỏ. Ðịch đã quay lại chiếm lĩnh cao điểm này. Từ đây, DKZ 75 của chúng liên tục đánh phá khu trung tâm đồi chỉ huy của tiểu đoàn. Thêm vào đó, đạn đại bác 105 ly từ đằng xa phía Bắc, nã không ngừng trên nửa ngọn đồi hướng Bắc, nơi những ụ súng pháo binh đã bỏ hoang từ khi pháo đội 105 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh rút đi.

“Oành! Oành! Oành!”

Ðạn 75 ly theo nhau tóe lửa trên lô cốt Ðông và khu vực quanh cái cây khô cao nghệu giữa đỉnh đồi.

Cây cổ thụ này cao lắm, đứng xa cả cây số mà người ta còn nhìn thấy nó. Nó tồn tại từ khi cơ ngơi của Chi Khu Kiến-Ðức mới được xây dựng lên. Chiến trận nổ ra thì nó trở thành cái mốc cho địch quân điều chỉnh pháo.

Ngày mới tới đây tôi đã có ý định hạ nó xuống, nhưng bận rộn hết việc này tới việc khác, tôi đã quên đi.

Hầm chỉ huy của tôi có hai mái bằng bao cát, lớp trên đã bị bắn sập, đất cát đang tuôn ào ào vào các lỗ châu mai.

Tôi quyết định tụt xuống ngã ba Quốc lộ 14, tạm trú trong cái hầm nhỏ khoét sâu vào vách núi bên Tỉnh lộ 344.

Vừa phóng nhanh ra cửa, tôi vừa ngoắc tay ra dấu cho hai người lính đang ngồi gác đôi,

– Xuống đường!

Như cái máy, Binh nhì Ðức Xì Ke ào lên án ngữ cái cầu thang, còn Binh nhì Ba Rỗ thì kè sát sau lưng tôi, rồi lấy cái thân to lớn của nó che chở cho tôi rời khu chỉ huy sở của tiểu đoàn.

Xuống tới đường, tôi lập tức hạ lệnh cho toán đầu bếp của Câu Lạc Bộ,

– Kéo cổng Ðông! Gài Claymore!

Hiện thời địch đã chiếm lĩnh vùng đồi thấp giữa Nhơn Cơ và Kiến Ðức. Hướng Ðông lại là khu vực tôi dàn quân mỏng nhất. Cấp thời chỉ có cách gài thêm mìn và huy động nhân viên Câu Lạc Bộ tăng cường phòng thủ với tiểu đội cận vệ.

“Xèo! Oành!”- “Xèo! Oành!”

Nghe tiếng rít của đạn bay, tôi lấy làm lạ, vội giơ tay bịt lỗ tai rồi buột miệng,

– Ủa! 122 ly?

Kinh nghiệm cho tôi biết, xưa nay địch chưa bao giờ dùng hỏa tiễn 122 ly hay 107 ly để đánh phá các mục tiêu có diện tích hẹp như các tiền đồn hay căn cứ hỏa lực.

Vậy mà giờ này, trước mắt tôi đúng là 122ly! Không sai!

Trái hỏa tiễn thứ nhất và thứ nhì đã bay ngang qua đầu tôi, rồi rơi trong rừng cây hướng Nam.

“Xèo! Oành!”

Trái thứ ba rơi ngắn hơn, nên cắm trên mặt Tỉnh lộ 344, tóe lửa, khiến cho đất, đá bay rào rào!

Một mảnh hỏa tiễn chém đứt lìa cái cột chính của Câu Lạc Bộ, làm cho mái tranh sụm xuống.

Kế đó, cách tôi chừng hai thước, Binh nhì Ðức Xì Ke đang ôm ngực, đầu chúi về phía trước rồi nằm giãy đành đạch trên mặt lộ.

– Thiếu tá ơi! Thiếu tá ơi… 

Tôi chưa nghe trọn tiếng kêu từ miệng thằng em thì nó đã chết rồi!

Gia đình Th/tá Vương Mộng Long tại tiền đồn Kiến Đức tháng 12 năm 1974

Binh nhì Ðức Xì Ke là một tân binh vừa hết bệnh nghiền sau một tuần nằm trong chuồng cọp. Hết bệnh chích choác, Ðức Xì Ke được tôi cho về tiểu đội cận vệ trám chỗ của thằng Thon chết trận Ðạo Trung. Vậy mà chưa được bao lâu, thằng Ðức Xì Ke đã sớm đi theo thằng Thon…

Lúc này từ khu gia binh bỗng có nhiều tiếng trẻ con đua nhau khóc ré lên thật thảm thiết. Tôi vội chạy lại coi có gì xảy ra không thì một chị vợ lính chui ra đường nắm áo tôi khiếu nại,

– Thiếu tá ơi! Hầm trú của tụi em bị mấy người Thượng chiếm chỗ rồi! Tụi em và mấy cháu không biết chạy đi đâu mà núp pháo kích!

Tôi hỏi,

– Có ai bị thương không?

– Dạ không!

Tôi thở ra, rồi la lớn,

– Thôi! Nếu hầm trú ẩn đã bị dân chúng chiếm, thì tất cả mọi người chỉ còn cách nằm úp mặt xuống sát đất tránh pháo. Chắc cũng không lâu nữa thì yên! Ráng chịu đựng đêm nay, mai tôi sẽ xin trực thăng chở gia đình các chị và các cháu ra Gia- Nghĩa.

Lúc này pháo của địch vẫn tiếp tục rơi trên đồi chỉ huy, nhưng không thấy thêm trái 122 ly nào cả.

Sáng nay tôi không cho lệnh phản pháo tức thời như vẫn làm thường lệ khi bị địch pháo kích. Tôi cùng toán hộ tống chạy thẳng lên đỉnh ngọn đồi hướng Tây do Ðại Ðội 2/82 trấn giữ. Từ đây tôi có thể chấm chính xác 3 vị trí cối 82 ly và nơi phụt khói 75 ly của địch. Tôi cho trung đội Pháo Binh Biên-Phòng đang ở với tôi và Pháo Binh Diện Ðịa Nhơn- Cơ mười phút để lột vỏ 400 quả đạn và chuẩn bị yếu tố tác xạ trên bốn vị trí tôi đã chấm.

Ðại Ðội 2/82 được lệnh di chuyển tiến đánh hai khẩu cối 82 ly đặt gần, ngay sau lưng một ngọn đồi trọc hướng Tây.

Ðại Ðội 2/82 đang thiếu đại đội trưởng. Trước Tết Dương Lịch, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 là Trung úy Võ Hữu Danh, khóa 25 Võ Bị, khai bệnh sốt rét, phải đi nằm nhà thương, nên Ðại Ðội 2/82 tạm thời do Chuẩn úy Gấm cầm đầu.

Trung úy Trần Văn Ðăng, Sĩ quan Tiếp liệu của tiểu đoàn xin tôi cho anh chỉ huy Ðại Ðội 2/82 trong lần ra quân này.

Tôi ái ngại,

– Chú nghĩ sao mà xin đi đánh cú này?

Ðăng nghẹn ngào,

– Vợ con em ở hậu cứ. Hậu cứ mất rồi. Em còn gì đâu? Thiếu tá cho em trở lại đại đội cho quên chuyện gia đình.

Tôi tần ngần,

– Ừ! Cậu đã muốn thế thì tôi cũng okay! Thôi đi đi!

Tôi đứng trên đồi nhìn theo bóng dáng cao gầy của Ðăng đang lẫn vào rặng cây xanh.

Hồi 1969-1970, khi tôi còn làm Ban 2 và Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân thì Chuẩn úy Trần Văn Ðăng là Trung đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân dưới quyền một anh bạn cùng khóa của tôi.

Khi tôi nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì Ðăng đang là Trung úy Ðại đội trưởng của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Ngày đó anh có gặp và xin tôi nhận anh về làm việc với tôi, tôi từ chối vì đơn vị tôi đã đủ sĩ quan đại đội trưởng.

Sau đó Trung úy Ðăng bị thương, đứt một khúc ruột, chờ ra Hội đồng Y khoa để chuyển sang bộ binh, làm Thương Binh Loại 2 Yểm trợ.

Ðăng lại gặp tôi và tình nguyện làm sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn cho tôi để anh còn được tiếp tục ở lại phục vụ binh chủng Biệt Ðộng Quân. Lần này tôi chấp thuận.

Ðăng xin xuất viện về làm việc dưới quyền tôi đã được gần một năm.

Khi cánh quân của Ðại Ðội 2/82 báo cáo còn cách mục tiêu gần hai trăm mét thì tôi cho lệnh pháo binh khai hỏa. Ðạn đi! Mỗi mục tiêu một trăm quả hỗn tạp.

Và chỉ năm phút sau khi đạn rơi, tiếng M16 nổ rộ như pháo ran, chêm vào là những tiếng M 79. Khói súng và bụi che mờ một nửa ngọn đồi.

Thoáng chốc, hai khẩu cối 82 ly đã đổi chủ, từ Trung Ðoàn E271/ T10 của Quân Khu 6/ Cộng-Sản Bắc Việt sang Ðại Ðội 2/Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Tôi chợt nghe AK và đại liên nổ rền trong thung lũng.

Tôi hỏi Ðăng,

– Ê! Delta! ngoài tiếng AK còn tiếng đại liên. Ðại liên của cậu hay của địch vậy?

(Danh hiệu truyền tin của Trung úy Ðăng là Delta.)

– Của tụi nó đó Thái Sơn! Em đâu có đem theo M 60!

Tôi cho lệnh Ðại Ðội 2/82 rút lui,

–  Delta đây Thái Sơn! Cuốn gói! Ðừng về đường cũ! Hãy theo hướng ba ngàn hai trăm! Tôi với thằng An Bình đón cậu trên đường. Tôi lặp lại! Ba ngàn hai trăm! Nghe rõ chưa?

– Ba ngàn hai! Nhận 5!

Nếu trở về đường cũ thì Ðại Ðội 2/82 sẽ phải qua một cái thung lũng, và hai khẩu đại liên địch không để cho họ dễ dàng rút về an toàn trên đoạn đường gần 2 cây số rừng lau.

Ðại liên địch cứ nổ giòn, đạn lửa đan chéo nhau trong thung lũng. Tôi nghĩ địch bắn hoảng, bắn tiều, chứ chúng chẳng rõ Biệt Ðộng Quân đang ở chỗ nào!

Tôi chấm vị trí hai khẩu đại liên địch và giao cho Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu đoàn phó. Ông Hoàn và Thượng sĩ Năng, trưởng khẩu 81 ly sẽ rót cối vào đầu chúng!

Từ hướng Bắc, đạn đại bác 105 ly địch lại rơi tới tấp trên đồi chỉ huy của tiểu đoàn.

Với đại bác 105 ly thì vô phương! 105 ly của khối Cộng đã bắn dài hơn 105 ly của ta, mà súng của ta lại đặt sau hậu quân. Hai khẩu đại bác 155 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tăng cường cho tôi đã bị Tiểu Khu Quảng-Ðức đòi lại từ hai tuần lễ trước.

Hiện thời, không súng nào của tôi với tới được vị trí súng của chúng.

Thôi! Cứ để cho nó tác oai tác quái, chưa hề hấn gì!

Nửa giờ sau tôi và An Bình (An Bình là danh xưng của Trung úy Trần Văn Phước) cùng một trung đội thuộc Ðại Ðội 3/82 tiếp xúc được cánh quân đầu của Trung úy Ðăng. Ðại Ðội 2 đã hoàn tất nhiệm vụ mà không bị tổn thất nào. Thẩm quyền Delta là một trong những người đi đoạn hậu của Ðại Ðội 2/82.

Tôi thấy Trung úy Ðăng vừa thở, vừa cười hì hì khi leo lên mặt Quốc lộ 14.

Vừa gặp mặt tôi Ðăng đã oang oang,

– Có ngay hai khẩu 82 ly cho Thái Sơn đây!

Sau lưng Trung úy Ðăng là hai anh lính Thượng đang hì hục vác 2 cái nòng súng cối 82 ly. Hai ông lính Jarai hớn hở khoe,

– Cái ông Thiếu tá ơi! Tụi Việt-Cộng này đánh nhau dở lắm! Chưa chi đã bỏ súng mà chạy! Dở hơn mấy thằng đánh nhau với mình ở Trà-Ku nhiều!

Tôi cười,

– Mấy hôm nữa tụi mình lại về Trà-Ku. Mấy chú có nhớ Trà-Ku không?

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Apr 2021

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Đa Dung – con sông kỷ niệm. Nguồn: PGĐ 2021 

Kỳ 1

Giữa tháng 2 năm 1975, tôi lái xe từ đồn Kiến-Ðức, Quảng-Ðức lên thăm Ðại tá Biệt Ðộng Quân Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum tại căn cứ Non Nước, khoảng 10 cây số Bắc Kontum.

Ðêm đó thầy trò tôi nằm bên nhau, hàn huyên tới khuya.

Tôi được Ðại tá Tất cho đọc bản cung từ của một hồi chánh viên Việt-Cộng.

Bản cung từ này do Ðại úy Vũ Quang Dũng của Trung Tâm Thẩm-Vấn/ Phòng 2/ Quân Ðoàn II thiết lập.

Người hồi chánh là một Thượng sĩ Trưởng mũi thám sát của Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt.

Anh ta khai rằng, hai tháng nữa sẽ có một cuộc tấn công đại quy mô của Cộng Quân nhằm giải phóng thị xã Ban Mê Thuột. Anh ta còn kê khai ra những tổn thất của Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt trong trận đánh 33 ngày đêm vây hãm Pleime tháng 7&8 năm 1974. Trận này Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A chủ công đã bị thiệt hại rất nặng, mỗi đại đội chỉ còn khoảng 17, 18 cán binh. Ðơn vị này phải về hậu cứ gần biên giới Việt Miên để bổ sung quân số rồi chuyển vùng hoạt động.

Ðêm đó tôi có nói với Ðại tá Tất rằng,

– Thằng 48 đã bị tôi đánh xiểng liểng hai lần. Kỳ này Tư Lệnh cho tôi về phòng thủ Ban Mê Thuột, tôi sẽ có dịp “cưa” với nó một lần nữa. Ðại tá yên chí! Nếu tôi chưa chết thì Ban Mê Thuột chưa lung lay. Tôi cam đoan với Ðại tá như vậy!

Tôi thực lòng mong muốn được về giữ thành phố này. Vì cha mẹ, vợ con, anh em tôi, và gia đình binh sĩ đơn vị tôi sinh sống ở đây.

Ông Tất cười cười trả lời,

– Cậu đừng lo! Ông Phú đã giao cho ông Tường vụ này rồi!

(Ghi chú: Ông Phú = Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Ông Tường = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh)

Tôi cũng được ông Tất cho biết rằng Sư Ðoàn 23 Bộ Binh sẽ án ngữ tại Buôn Blech, có thể dễ dàng di động giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.

Tiếp đó Ðại tá Tư Lệnh “bật mí” cho tôi một tin vui: Vài tháng nữa Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi sẽ được tăng cường để có quân số trên 800 người, với một hệ thống ngang 16 máy truyền tin, gồm đủ Trinh Sát, Viễn Thám cùng một đại đội chỉ huy và bốn đại đội tác chiến. Tiểu đoàn tôi sẽ xuất phái khỏi Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân để làm lực lượng xung kích dưới quyền Tư Lệnh Mặt Trận Kontum.

Hôm sau, trước khi từ giã Ðại tá Tất, tôi có đi quanh một vòng thăm Trung tá Lê Tất Biên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân và vài người bạn đang tham gia phòng thủ vùng Bắc Kontum.

Thiếu tá Thi, liên đoàn phó Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân hướng dẫn tôi đi quan sát vị trí bố quân của liên đoàn.

Tôi thấy mặt trận ở đây có vẻ còn yên tĩnh hơn vùng Ngã Ba Tam-Biên-Nam (Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ) mà tôi đang trấn giữ.

Trên đường về Quảng-Ðức, tôi ghé Ban Mê Thuột thăm tiền cứ của tiểu đoàn, rồi về nhà nghỉ với vợ con tôi một đêm.

Buổi sáng ngày kế đó, tôi vào tiệm Phở Tây-Hiên, ăn điểm tâm trước khi lên đường. Lúc tôi sắp lên xe thì người lính già mới giải ngũ Dương Ðức Mai (cựu Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân) xuất hiện giữa phố, giơ tay vẫy,

– Chào người hùng Pleime! Ghé tệ xá cho tôi hỏi thăm đôi lời đi ông Quan Tư!

Tôi và bác Mai là chỗ rất thân tình. Chúng tôi đã nhiều năm làm việc chung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2.

Tôi theo chân bác, vào thăm nhà bác. Nhà bác Mai ở kế hàng rào Sân Vận Ðộng Ban Mê Thuột.

Vào tới sân, cựu Trung tá Dương Ðức Mai, thật nghiêm nghị, hỏi tôi,

– Theo ý cậu, tụi Việt-Cộng có dám đánh Ban Mê Thuột hay không?

Vừa nâng niu những giò lan rực rỡ trên giàn, tôi vừa hùng hồn cam đoan với người chỉ huy cũ.

– Bác cứ yên chí lớn! Ông Tường sẽ bảo vệ Ban Mê Thuột, ông Tất nói vậy, bác đừng lo!

Bác Mai nhìn tôi, dọ dẫm,

– Thế ông gia, bà gia và vợ con cậu không di chuyển đi đâu sao?

Tôi cầm tay bác, trấn an bác,

– Có thể địch sẽ tấn công, nhưng chắc chúng không làm nên sự việc gì đâu. Gia đình tôi còn ở đây, đủ hết, cha mẹ, anh em, vợ con tôi, vợ con binh sĩ tiểu đoàn tôi.

Tới đây thì bác Mai có vẻ yên tâm.

Tối trước, khi thấy bố vợ tôi âu lo vì những tin đồn địch sẽ tấn công, tôi nói với ông cụ rằng, một cặp chỉ huy dày dạn chiến trường Tường & Luật đủ bảo đảm cho sự đứng vững của thành phố nhỏ bé này rồi.

(Ghi chú: Tường&Luật = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh & Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng Darlac).

Nghe tôi mạnh miệng, bố vợ tôi mới hết lo lắng.

Bố vợ tôi cũng là một cựu Trung tá của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh vừa giải ngũ được hơn một năm.  Ông cụ và bác Dương Ðức Mai là bạn khá thân.

Sau khi chuyện trò một lúc, tôi bắt tay từ giã người cựu Liên đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Dương Ðức Mai, rồi lên đường.

Vài ngày sau, ở Kiến- Ðức, tôi chợt nhớ ra rằng, bản cung hồi chánh đã cũ, và nếu đúng theo diễn tiến mà anh Thượng sĩ của Trung Ðoàn 48/SÐ 320 A/ Ðiện-Biên đã khai, thì giữa tháng Ba tới, địch sẽ triển khai chiến dịch tấn công Ban Mê Thuột.

Tôi lại nghe tin A 2 phổ biến từ Phòng Nhì/ Quân Ðoàn II thông báo những chỉ dấu chuyển quân của Việt-Cộng từ biên giới Việt Miên về vùng ven căn cứ biên phòng Bản-Don.

Tôi biết rất rõ về Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản Bắc Việt, đơn vị chủ công sẽ đánh Ban-Mê-Thuột.

Tôi tin tưởng rằng đơn vị tôi đủ sức đương đầu với chúng. Trong quá khứ, đơn vị tôi đã hai lần chạm trán với trung đoàn Cộng Sản này ở căn cứ 711 Pleiku (tháng Tư 1974) và ở căn cứ biên phòng Pleime (tháng 7&8 năm 1974).

Mối quan tâm của tôi là, gia đình tôi và đa số gia đình binh sĩ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đều ở Ban Mê Thuột. Tôi vội thảo gấp một cái công điện gởi thẳng cho hai nơi, một cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Biệt Ðộng Quân/ Quân- Khu 2 đang ở Kontum, một cho Bộ Tư Lệnh /Quân Ðoàn II ở Pleiku. Tôi xin thượng cấp cho phép Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được rời Kiến-Ðức, Quảng-Ðức để về phòng thủ Ban Mê Thuột.

Vì đây là điện văn riêng, nên tôi không gởi theo hệ thống dọc qua Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và qua Bộ chỉ huy Tiểu Khu Quảng-Ðức mà chúng tôi đang tăng phái. Nhưng Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân rõ chuyện này, vì tôi có tâm sự với ông, ông rất thông cảm hoàn cảnh của tôi.

Tôi chờ đợi từng ngày. Không ai trả lời bức điện thỉnh cầu của tôi vì nó là một điện văn gửi vượt hệ thống quân giai, hoàn toàn sái nguyên tắc.

Những khi hành quân xa, tôi thường đặt đài tiếp vận để tiện liên lạc với hậu cứ. Những tiểu đoàn bạn, đôi khi cả bộ chỉ huy liên đoàn cũng vào tần số đài này nhờ chuyển tin. Sáng ngày 9 tháng Ba năm 1975, đài tiếp vận “Tam Quái 82” của tôi đặt trên căn cứ hoả lực Núi Lửa, Ðức-Lập báo cáo rằng địch đang pháo kích vào Chi Khu Ðức-Lập. Tới gần trưa thì chính căn cứ Núi Lửa cũng bị địch pháo kích và tấn công bằng bộ binh.

Ngã Ba Kiến Đức 46 năm sau. Nguồn PGĐ 2021

Xế chiều, tôi nghe anh binh nhì trưởng toán tiếp vận báo cáo bằng bạch văn lời cuối,

– Thiếu tá ơi! Tam Quái chắc tiêu ma đợt này rồi Thiếu tá ơi!”

Sau đó tôi không còn nghe được gì nữa.

Tôi thường gọi mấy anh Biệt Ðộng Quân của Tiểu Ðoàn 82 giữ máy tiếp vận trên đỉnh Núi Lửa là “Tam Quái”. Chỉ vì toán này gồm ba anh lính có tật, một anh cà thọt, một anh điếc, và một anh thong manh. Anh điếc nấu cơm, hai anh kia trực máy truyền tin.

Những năm sau này, quân số thiếu hụt, những người có tật cũng bị bắt đi quân dịch, mà Biệt Ðộng Quân lại thiếu người, nên rất dễ dãi vấn đề tuyển quân. Biệt Ðộng Quân nhận tất cả quân nhân bổ sung từ bất cứ nguồn nhân lực nào.

Chúng tôi được bổ sung quân số từ Trung Tâm Nhập Ngũ Số 3 chuyển qua Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, từ Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, từ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, và từ Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương, Nha-Trang với những người lính vừa mãn án tù, kể cả Lao Công Phục Hồi.

Tôi không chê bất cứ ai trình sự vụ lệnh về phục vụ đơn vị mình. Thong manh, cà thọt, mẻ sứt, kể cả ma túy, xì-ke tôi nhận tuốt! Những quái nhân này ở tiểu đoàn tôi chỉ ít lâu sau đã thành những con người mới. Người nào có việc nấy, tôi cứ áp dụng lời khuyên của người chỉ huy cũ, Trung tá Bùi Văn Sâm:

“Viên đạn nào cũng bắn vào đầu địch. Chỉ cần người lính chịu bóp cò là được rồi. Xấu trai mà dám bóp cò, còn hơn đẹp trai mà ra trận chưa nghe súng nổ, mắt đã láo liên. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn!”  

Vì thế mà quân số tiểu đoàn tôi lúc nào cũng đông hơn tiểu đoàn khác.

Lính cà thọt không chạy nhanh được, cho họ làm tiền đồn. Cà thọt đóng chốt thì khỏi lo mất chốt.

Lính thong manh, không canh gác được thì cho trực truyền tin, nấu cơm.

Lính điếc thì cho tải đạn cối 81 ly, cối 60 ly, SKZ 57 ly. Lính điếc mà bắn cối hay SKZ thì nhất! Ðiếc đâu cần bịt lỗ tai!

Xì-ke nghiện ngập cũng dễ chữa thôi! Tôi lúc nào cũng dùng lời khuyến dụ êm ngọt trước, dùng võ lực sau. Anh nào không nghe lời nhỏ nhẹ bỏ nghề chích choác thì tôi mời vào connex nằm chơi. Ngày này qua ngày khác, chỉ có món nước đường do Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Ðại đội trưởng đại đội công vụ tiếp tế. Những ngày đầu thiếu thuốc, dân choác khổ sở, vật vã vô cùng. Dăm ba ngày sau quen dần, quen dần… Người nghiện nặng cách mấy cũng chỉ một tuần là phải từ giã ống chích, kim tiêm, khỏi bịnh!

Theo lời dạy của cổ nhân, “Dụng nhân như dụng mộc”, tôi sắp xếp người của tôi vào công việc phù hợp với họ; trên dưới đề huề, thương nhau.

Những năm sau cùng, không khí sinh hoạt trong đơn vị tôi (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) là thế đấy!

Tin Tam Quái trên Núi Lửa bị mất liên lạc làm cả ban tham mưu tiểu đoàn buồn rầu.

Sáng 10 tháng Ba năm 1975, bộ chỉ huy liên đoàn báo cho tôi biết tin địch đang pháo kích vào tiền cứ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ở Ban Mê Thuột. Tiền cứ này nằm sát trại Thiết-Giáp trên đường đi Bản-Ðôn. Người chỉ huy tiền cứ của liên đoàn là Thiếu tá Lê Ðình Hồng đã bị thương nặng.

Hậu trạm của tiểu đoàn tôi ở Ban Mê Thuột cũng có mặt sáu người là, Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Chuẩn úy Lê Hữu Ðức, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Lao công Phan Thành Hoàng, và ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ. Không rõ tình trạng của các ông này ra sao?

Tới trưa thì có tin chiến xa Việt-Cộng nối đuôi nhau chạy rầm rầm giữa trung tâm thị xã. Mọi cuộc đàm thoại vô tuyến bị đứt đoạn vì không có đài tiếp vận.

Liên lạc giữa Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân từ Gia-Nghĩa với tiền cứ Ban Mê Thuột bằng các hệ thống máy tầm xa như VRC 67 và PRC 74 cũng đột nhiên chấm dứt.

Ðêm đó đài BBC loan tin Ban Mê Thuột thất thủ. Tôi và cả ban tham mưu tiểu đoàn bàng hoàng, vì tiền cứ của tiểu đoàn tôi cũng như gia đình binh sĩ đều ở thành phố này.

Ngày 11 tháng Ba năm 1975, tôi nghe được tiếng Ðại tá Phạm Duy Tất trên tần số. Ông Tất đang bay trên trời Ban Mê Thuột và gọi tôi.

Tôi hỏi ông về địch tình, về phản ứng của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.

Ðại tá Tất buồn rầu trả lời:

“Ông Tường không đủ sức ngăn chúng nó toa ơi! Bây giờ chỉ còn hy vọng thằng Dậu cố gắng cứu vãn tình thế. Không biết có được hay không?”

(Ghi chú: Thằng Dậu= Trung tá Lê Quý Dậu)

Trung tá Lê Quý Dậu là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.

Ông Dậu mới lên chỉ huy liên đoàn được hai, ba tháng, thay thế cho Trung tá Nguyễn Lang (Lang Trọc) vừa giải ngũ.

Tôi cố nài nỉ ông chỉ huy trưởng,

– Trường An cho phương tiện bốc tôi về Ban Mê Thuột đi! Trường An ơi! Vợ con tôi ở đó! Vợ con lính của tôi ở đó!

Trường An là danh hiệu truyền tin của Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Lúc đó tôi nghẹn lời. Bên tôi, người Sĩ quan Tiếp liệu tiểu đoàn, Trung úy Trần Văn Ðăng mắt cũng đỏ hoe.

Tôi tỉnh người khi nghe ông Tất hứa hẹn,

– Rồi! Ta sẽ nói lại với Số 1 (Thiếu tướng Phạm Văn Phú) để bốc Thái-Sơn về!

Thái-Sơn là tên riêng của tôi, tôi mang tên này từ khi còn phục vụ ở Tiểu Ðoàn 11/ Biệt Ðộng Quân, Pleiku, thời 1967-69.

Ðược lời như cởi tấm lòng. Tôi quyết định rút trung đội tiền đồn của Ðại Ðội 4/82 trên đồi Bù-Row cách 3 cây số hướng Bắc về.

Tôi cũng gọi sĩ quan đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đang tăng cường cho tôi lên gặp tôi.

Tôi dặn dò anh kỹ càng những điều phải làm để phòng thủ Ngã Ba Kiến-Ðức thay cho Ðại Ðội 1/82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu úy Ðặng Thành Học, nếu chúng tôi có trực thăng bốc đi.

Tiếp đó tôi cho tiểu đoàn chuẩn bị hai ngày cơm vắt, vũ khí, đạn dược sẵn sàng.

Sau khi lệnh chuẩn bị hành quân của tôi được thông báo tới mọi cấp trong đơn vị, tôi nghe tiếng bàn tán xôn xao trong các túp lều và bên giao thông hào.

Niềm háo hức hân hoan lộ rõ trên những khuôn mặt sạm nắng.

Những người lính gốc Rhadé, Jarai dưới quyền tôi đã lâu, nên qua nụ cười, ánh mắt của họ, tôi hiểu rằng lúc đó họ đang vui sướng vô cùng.

Suốt ngày 12/3/75 tôi không nghe tiếng Ðại tá Tất trên máy, nhưng tôi liên lạc được một phi công đang quan sát trên trời Ban Mê Thuột.

Tôi nhờ anh ghi nhận và chuyển cho tôi những gì anh nhìn thấy dưới chân anh.

Tôi mô tả con đường Hàm Nghi cạnh nhà thờ Vinh-Sơn, là nơi gia đình tôi cư ngụ và khu tiền trạm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Sau hồi lâu quan sát, anh cho tôi biết rằng cả hai nơi đều nằm trong màn khói đen mù mịt.

Buồn quá, tôi ngồi trước cửa hầm, ôm cây đàn guitar. Tay tôi chỉ bấm một cung Mi Thứ; tôi lần mò một bài tình ca buồn.

Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 19 Jan 2023

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Tranh Bảo Huân

Kỳ 2

Ðây! Anh coi xem thật hay giả?

Phụ giơ tay giật mạnh, tờ giấy 20 đồng đẹp như tranh vẽ đã nằm trong tay.

Sau đó y đặt chai nước vối xuống đất, dùng hai tay căng đồng bạc ra, rồi đưa ngang mắt, soi qua ánh mặt trời.

Kiểm tra tờ bạc xong, Phụ tắc lưỡi, gật gù,

– Ðúng rồi! Không phải là bạc giả. Nhưng để anh cất cho. Lúc nào em cần mua gì thì đi với anh, anh trả tiền người ta mới tin, em là trẻ con, người ta sẽ lường gạt mất.

Thằng bé lắc đầu,

– Tiền mẹ cho hằng ngày em còn tiêu chưa hết. Em cần gì phải dùng tới tờ hai chục này. Ðây là tiền chú Tường cho em thì em phải cất. Em không đưa cho anh giữ đâu.

Anh Phụ bỏ tờ bạc vào túi quần rồi ra lệnh,

– Tao là anh, mày là em, anh nói thì em phải nghe! Mày mà cãi lời tao, tao đánh đòn đó!

Hăm he xong anh Phụ xách cặp đứng lên.

Thằng bé cũng đứng lên theo thằng anh.

Bất ngờ, Phụ giựt chai nước trên tay thằng em, tu một hơi cạn đáy rồi thẳng tay quật cái vỏ chai xuống thềm xi măng.

“Choảng!” cái chai vỡ tan! Mảnh thuỷ tinh văng tung tóe.

Thắng bé sợ quá, hai tay nó nắm chặt cái song sắt của cửa rạp hát.

Tuy vậy, nó vẫn nói cứng,

– Em nói rồi! Anh phải trả lại hai chục cho em! Nếu anh giữ nó, mẹ hỏi, em làm sao mà trả lời mẹ?

“Bốp!” một cái tát toé lửa xáng ngay trên mặt làm cho thằng bé tối tăm mặt mũi, chúi đầu xuống nền xi măng. Anh nó hét lên,

– Thì mày cứ nói mày tiêu hết rồi! Chú Tường cho phép mày muốn tiêu gì, mua gì cũng được mà!

Nó đưa tay quệt máu từ vết rách trên khóe miệng, rồi cố gắng ngồi dậy, nhưng nhìn thấy cặp mắt đỏ ngầu của ông anh cùng với hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt thì nó sợ quá, run lên như cầy sấy.

Chợt trong óc nó loé lên một ý nghĩ, nó giả đò thật thà, lắp bắp,

– Vậy thì… nếu mẹ hỏi, em nói… em còn bé quá, giữ nhiều tiền trong túi thì … nguy hiểm nên em… nhờ anh Phụ giữ hộ. Như thế… có được không?

Thấy dáng điệu khiếp sợ cùng với câu nói có vẻ an phận, buông xuôi của thằng em, Phụ liền dịu cơn thịnh nộ. Lập tức, miệng anh đã trở lại ngọt ngào ngay,

– Ðúng rồi! Làm anh thì phải thương yêu em, bảo vệ em. Làm em thì phải nghe lời anh. Vừa rồi em làm anh giận lắm đó! Bây giờ thì anh hết giận rồi. Chuyện cũ mình xí xóa! Chúng mình đi học thôi!  

Nói xong, anh Phụ ân cần nắm cánh tay nó, dắt nó xuống tam cấp. Hai anh em sóng vai bên nhau đi về hướng trường.

Chiều hôm đó, trước lúc chia tay ở cạnh rạp Kim Phụng, anh Phụ còn nhắc nhở nó,

– Tốt nhất là ở nhà, em đừng đả động tới chuyện đồng bạc hai chục, chắc mấy bữa sau mẹ em cũng quên đi thôi.

Nó gật đầu, biểu đồng tình,

– Mẹ bận lắm, chắc không có thì giờ mà hỏi gì đâu.

Tuy miệng nó nói thế, nhưng suốt dọc đường về, nó cứ thấy ngực nặng như đeo chì. Nó tức đến nỗi thở không được.

Nó chợt nhớ tới lời chú Tường nói rằng bố nó là “Ðại ca” của chú. Nó đã chứng kiến chú Tường dõng dạc nói với bốn người đàn em của bố,

– Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Về tới Ngã Sáu, nó ghé vào căn phố đầu đường dẫn vào Lao Xá, dự định sẽ kể chuyện nó bị thằng anh kết nghĩa ức hiếp cho mấy ông đàn em của bố nó nghe. Chắc chắn mấy ông này sẽ ra tay nghĩa hiệp diệt bạo, trừ gian, mà giúp đỡ nó đòi lại tờ giấy bạc hai chục đồng.

Nó chỉ gặp được một người ở nhà chiều hôm đó là ông Trần Phương Quế.

Ở Nam Ðịnh thì gia đình bà chị Cả của bà Sen là hàng xóm của gia đình ông Quế; ông Quế nhận bà Cả là chị nuôi.

Vì bà Sen lớn hơn ông Quế bảy tuổi, nên ông Quế cũng gọi bà Sen là chị.

Do đó, thằng con của bà Sen mới gọi ông Trần Phương Quế là cậu Quế.

Nhưng từ hôm biết tin bố nó bị người ta giết thì ông Quế bắt nó đổi cách xưng hô, gọi ông là chú, cũng giống như chú Yên, chú Lâm, chú Sử, chú Tường.

Nó chưa mở miệng thì chú Quế đã vồn vã,

-Cháu mới đi học về ghé thăm chú phải không? Con nhà tông, không giống lông cũng phải giống cánh. Cháu là con của đại ca, sau này lớn lên chắc chắn cháu sẽ trở thành một nhân tài.

Nghe ông Quế nói nó là con của một đại ca, sau này nó sẽ trở thành một nhân tài thì nó liền bỏ ngay ý nghĩ nhờ vả người khác giải quyết chuyện riêng.

Nó sẽ không nhờ vả ai. Nó thề rằng sẽ tự mình đòi lại tờ giấy hai chục mà tên côn đồ đã trắng trợn cướp trên tay nó. Thế là nó vui vẻ trả lời ông Quế,

– Hôm nay cháu được về sớm. Cháu ghé thăm sức khỏe của chú. Thôi! Cháu xin phép chú! Cháu về ăn cơm.

Ra khỏi nhà chú Quế, thằng bé chạy thẳng một mạch xuống chợ Tây.

Khu chợ rau, chợ cá đã dọn hàng, đóng nắp sạp. Nhưng dãy nhà bán tạp hóa còn mở tới 8 giờ tối.

Nó vào hiệu tạp hóa mua một cái kéo bằng Inox của thợ hớt tóc, đáng giá hai đồng rồi hí hửng ra về.

Thường ngày thì về tới nhà nó thay cái quần soọc xanh ra, mặc cái quần đùi vào cho gọn. Tối nay nó vẫn để nguyên cái quần soọc trên người. Cái quần này có túi.

Cái kéo nằm gọn trong túi quần, nó bước ra sân sau.

Trong suốt ba giờ đồng hồ, nó tập thật nhuần nhuyễn ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát địch thủ.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông kẻ thù.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … cho tới khi thằng ăn cướp móc túi trả lại tờ giấy bạc hai chục đồng Ðông Dương thì nó mới dừng tay.

Sáng hôm sau, 27 tháng Chạp Âm Lịch, thay vì đem theo hai chai nước vối, nó pha một chai nước chanh đường.

Tới rạp Kim Phụng, nó vừa cười hì hì vừa nịnh bợ người anh kết nghĩa.

– Em chưa kịp mua thêm một cái chai để đựng nước vối. Hôm nay em chỉ đem theo một chai nước chanh cho anh thôi. Em không khát.

Anh Phụ đỡ chai nước chanh giọng cảm động,

– Thằng em của tôi tốt bụng quá!

Vì nó đã dùng kìm để siết cái nắp chai, nên anh Phụ phải vận sức cả hai tay để mở chai. Nhân cơ hội này nó đã thực hành thật nhanh ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát ông anh kết nghĩa.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông thằng ăn cướp.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … miệng nó liên tiếp la:

“Trả lại tờ bạc hai chục cho tao! Trả lại tờ bạc hai chục cho tao!”

Cái kéo hớt tóc bằng Inox vừa sắc lại vừa cứng. Cú đâm nào cũng lút tới xương. Cái chai nước chanh rớt xuống lăn long lóc theo bực tam cấp nhưng không vỡ.

Thằng anh kết nghĩa lớn tiếng kêu,

– Bà con ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!

Thằng em kết nghĩa bình tĩnh, lớn tiếng đáp lại,

– Nó là thằng ăn cướp! Nó cướp tiền của tôi! Bà con gọi Cảnh Sát bắt nó! Bắt nó!

Chợt tên Phụ quỵ xuống rồi thều thào,

– Anh sẽ trả lại tiền cho em! Ðừng đâm nữa! Ðừng đâm nữa!

Nó đứng chưa tới ngực tên Phụ nên chỉ có thể đâm vào đùi, vào hông của Phụ.

Giờ này thấy Phụ quỵ xuống, nó bèn ghim mũi kéo ngay yết hầu của Phụ.

Chỉ cần một cái hất tay, một linh hồn sẽ bay lên trời.

Phụ run rẩy móc túi lấy cái phong bì có chứa tờ giấy bạc đưa lên trước mặt,

– Tiền của Long đây! Anh lạy em! Tha cho anh!

Tay của Phụ đầy máu, cái bì thư cũng đẫm máu.

Thằng bé cúi xuống cầm cái bì thư rồi nhìn một vòng xung quanh phân bua với đám người đang đứng vây,

– Ðây là tiền của tôi! Nó là thằng ăn cướp! Bà con đã thấy chưa?

Nó tính mở cái bì thư lấy tiền ra thì nghe ai đó trong đám đông la to,

– Thằng ăn cướp bỏ chạy! Bắt nó! Bắt nó bà con ơi!

Phải nói rằng tên Phụ này rất khoẻ, bị đâm cả chục nhát kéo vào đùi, máu tuôn ra ào ào mà vừa nhỏm dậy nó đã biến mất sau hàng hiên dãy phố bên kia.

Thằng bé vội phóng theo tên tội phạm, nhưng qua đường nó cũng quẹo trái, len lỏi vào mấy con hẻm quen dẫn về phố Jean De Bouchet rồi thót vào nhà.

Không có ai ở nhà, nó chạy tới bên giếng, múc nước tắm cả quần, cả áo.

Máu kẻ thù còn tươi, chỉ cần chục gầu nước xối qua, là hết dấu vết.

Ðêm hôm đó nó cứ suy nghĩ mông lung, rồi cảm thấy hối hận vì đã lỡ lời thổ lộ chuyện nhà cho anh Phụ, khiến cho tình nghĩa anh em tổn thương, đang là bạn bỗng chốc hóa ra thù.

Nó tự trách mình đã quá nặng tay. Chắc giờ này anh Phụ đang đau đớn lắm? Chắc giờ này anh ấy oán hận nó lắm?

Càng nghĩ lại chuyện xảy ra sáng nay, nó càng thấy thương hại anh Phụ, nó càng thấy mình có lỗi với bạn.

Ðêm đã khuya mà mắt vẫn còn mở thao láo, nó bèn đưa hai bàn tay lên xoa mặt tìm giấc ngủ.

Nó giật mình vì thấy mặt nó đau ê ẩm khi bị bàn tay chạm vào. Ðồng thời đầu lưỡi của nó cảm thấy mùi vị của máu tươi vừa tuôn ra từ những vết thương trên môi, trên mép chưa lành. Mùi máu tanh tanh, vị máu mằn mặn, xót xa, xót xa…

Nhắm mắt lại vài giây, rồi mở mắt ra, nó lại đưa tay lên mặt lần nữa.

Nó tiếp tục xoa nhè nhẹ, nhè nhẹ. Hiện giờ má trái của nó đã sưng u lên như cái bánh bao! Hai môi nó cũng phồng lên như hai miếng bánh dầy.

Trước mắt nó chợt hiện ra đôi mắt đổ lửa của thằng anh.

Trước mắt nó chợt hiện ra hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt.

Ngay lập tức, lòng nó bỗng trở thành lạnh tanh.

Suốt đêm 27 tháng Chạp Âm Lịch, nó miên man suy nghĩ về chuyện bố nó bị người ta giết, chuyện tờ giấy bạc hai chục chú Tường cho, chuyện vô cớ bị thằng bạn cướp tiền, rồi còn bị tát sưng cả mặt mày…

Cuối cùng nó thở phào nhẹ nhõm, vì trong đầu nó vừa hiện ra con đường tương lai mà nó sẽ phải đi theo.

Thế là, chỉ sau một đêm, thằng bé sáu tuổi rưỡi đã biến thành một người trưởng thành.

Ngày 28 Âm Lịch là ngày ăn tiệc tất niên, nó không dám bỏ lớp, nên đánh liều ra khỏi nhà với cái kéo trong túi quần.

Theo đường Thống Nhất, nó đi thẳng tới Tòa Hành Chánh, vòng lên Ga, rồi mới đi xuống Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương. Nó tránh xa rạp hát Kim Phụng, vì sợ anh Phụ mai phục đâu đó đón đường.

Tới trường, nó đứng núp sau lưng tụi bạn cùng lớp rồi len lén quan sát xem bên lớp Ba có bóng dáng cao lớn của người anh kết nghĩa không.

Nó thở ra khoan khoái khi không thấy anh học trò khổng lồ 18 tuổi thường đi đoạn hậu của lớp này.

Sau tiệc tất niên, học trò được nghỉ.

Mùng Mười Tết, quay lại trường, nó vẫn không thấy anh Phụ.

Nó hỏi dò thằng bạn tên là Ðoàn Ðình Ngữ ngồi bên cạnh là người hàng xóm của anh Phụ,

– Mày có biết vì sao anh Phụ nghỉ học không?

Thằng Ngữ nhanh nhảu đáp lời,

– Anh Phụ bị ngã gãy chân, đi cà nhót, cà nhót, chỉ quanh quẩn trong sân cả chục ngày rồi.

Rồi cả tháng sau thấy anh Phụ vẫn vắng bóng, nó lại hỏi thằng Ngữ,

– Lâu rồi mà chân của anh Phụ vẫn chưa lành sao?

Ngữ vỗ đùi,

–  Ông ấy tình nguyện đi lính pa đờ suýt rồi! Bố tao nói học lớp Ba mà vào lính thì chỉ lên tới ca pô ran là cùng. Tao sẽ học tới đíp lôm rồi mới đi lính. Tao sẽ đi lính sĩ quan. Làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran.

(Chú thích: Pa đờ suýt là lính Nhảy Dù của Tây- Ca pô ran là hạ sĩ lính Tây- Ðíp lôm là bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp của Tây)

Sau này thằng Ðoàn Ðình Ngữ học tới tú tài và tốt nghiệp Khóa 19 Sĩ Quan Ðà-Lạt.

Nghe thằng Ngữ nói làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran, thằng bé cũng muốn khi lớn lên nó sẽ đi làm sĩ quan. Nó mà làm sĩ quan thì anh ca pô ran tên là Phụ sẽ không dám bắt nạt nó nữa.

Tuổi thần tiên của một đời người là thời gian vừa biết nói cho tới ngày vào lớp Năm, lớp Tư. Tuổi Mẫu Giáo và lớp Năm, em bé được nghe những truyện thần tiên do cha mẹ, ông bà kể.

Tuổi lớp Tư, em bé được đọc truyện thần tiên trên sách báo Thiếu Nhi.

Trong đầu em bé suốt ngày, suốt đêm, chứa chất đầy mộng đẹp.

Tới lớp Ba thì coi như tuổi thần tiên đã đi qua, vì em bé bắt đầu đọc những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư để trở thành một người công dân tốt sau này.

Thằng con bà Sen thực sự chưa từng được biết thế nào là tuổi thần tiên.

Không rõ trên thế gian này có một tuổi thơ nào giống như tuổi thơ của thằng bé sáu tuổi rưỡi này không?

Ba tuổi, 1945 nó sống sót sau nạn đói Ất Dậu.

Bốn tuổi, 1946 nó theo mẹ trốn chạy chiến tranh Việt Pháp, rồi trải qua những cơn sốt rét thập tử nhất sinh trên vùng rừng núi Ðông Triều đầy sơn lam chướng khí.

Sáu tuổi, 1948 nó hồi cư; nửa năm sau nó nghe tin bố chết; bỗng chốc, đứa học trò lớp Năm mang trên vai một mối đại thù.

Sau Tết ít lâu, chủ nhà hồi cư, đòi lại nhà, vợ chồng chú Sử và mẹ con nó phải dọn về số 24 Jean De Bouchet ở chung với gia đình anh ruột của mẹ nó và bà ngoại nó.

Giữa năm lớp Tư, nhà nó lại dọn nhà lần nữa, tới số 17 phố Hàng Lọng.

Ðầu năm 1952, vừa làm quen với những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì gia đình nó di chuyển lên làng Vẽ, tức là làng Ðông-Ngạc huyện Quảng-Bá, ngoại ô Hà-Nội.

Ngày 17 tháng 7 năm 1954 gia đình nó di chuyển vào Ðà-Nẵng.

Ba ngày sau, 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve được ký kết, nước Việt-Nam bị cắt làm hai.

Chú Tường lưu lạc nơi nào không ai hay. Chú Phan Ngọc Yên ở lại Miền Bắc. Các chú Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế đều theo học lớp sĩ quan Ðà-Lạt.

Chú Trần Văn Sử sau khi thuyên chuyển về Vùng 4 không biết còn sống hay đã chết.

Năm 1968 nó nghe tin chú Lâm đã là đại úy, giữ chức vụ gì đó trong khu Quang-Trung của Trường Võ Bị, gia đình chú thì cư ngụ trong trại gia binh ở gần hồ Saint Bénoit.

Nó đã bỏ công lái xe vòng vòng hai tiếng đồng hồ trong khu Mê Linh để tìm thăm chú.

Nhưng hai mươi năm sau, chú Lâm đã quên họ, quên tên người “Ðại ca” của chú ấy mất rồi!

Nó thấy người đàn em của bố nó có vẻ như không muốn nhắc lại cái thời dĩ vãng xa xôi ngày xưa. Vì thế, nó chỉ ghé thăm ông ấy một lần rồi không bao giờ quay lại.

Riêng chú Trần Phương Quế sau một thời gian gián đoạn đã liên lạc được gia đình nó. Chú Quế sau này trở thành một đại tá của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa.

Ðại tá Trần Phương Quế là vị Trung Ðoàn Trưởng sau cùng của Trung Ðoàn 9/ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.

Lẫn trong dòng đời, thằng bé đã lớn lên, trông già hơn những đứa bạn cùng trang lứa, cô đơn hơn những đứa bạn cùng trang lứa; kiến thức của nó khác hẳn kiến thức của những đứa học cùng lớp, và ước vọng của nó cũng khác hẳn ước vọng của những người cùng thời.

Ðể trả thù nhà, thằng bé đã chọn binh nghiệp.

Mười năm vào sinh ra tử, nó đã vươn lên như một cây thông, thẳng đứng, lừng lững giữa trời, không vịn vào ai, không dựa vào ai.

Thế rồi chiến tranh tàn, người thua trận cứ mãi mang trong lòng một nỗi buồn khôn nguôi vì nợ nước thù nhà không trả nổi.

Thời gian qua như tên bay, thằng bé ngày xưa đã thành một ông già…

VML

Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 12 Jan 2023

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Tranh Bảo Huân

Kỳ 1.

Ngày ông Táo về trời năm Mậu Tý, Thế Kỷ 20…

Nơi góc phố Jean De Bouchet, Hải-Dương có một thằng bé sáu tuổi rưỡi ngồi say mê ngắm nghía một món đồ chơi mà nó vừa mua được.

Trên tay nó là một cái xe làm bằng vỏ hộp cá mòi.

Cái vỏ hộp cá mòi của Marốc do ai đó nhặt từ đống rác của Tây, rồi đục bốn cái lỗ bên hông, gắn vào bốn bánh xe bằng nắp khoén, nắp bia đã trở thành món đồ chơi quý báu của lũ trẻ trai sáu, bảy tuổi cư ngụ trong khu Ngã Sáu, Hải-Dương này.

Sáng nay thằng bé đã bỏ ra năm hào để mua lại chiếc xe từ tay thằng bạn nó tên là Hải.

Thằng Hải là con ông chủ Khách sạn Thiên Tuế ở đầu đường.

Thời buổi đó, trong chợ Tây của tỉnh Hải-Dương thì, một bữa trưa hay bữa chiều dành cho người lớn chỉ đáng giá một đồng bạc Ðông Dương. Với một tô cơm trắng, một món canh, một món kho, một ly nước trà, người ta chỉ phải trả một đồng.

Vậy mà mỗi ngày thằng bé có tới hai đồng, làm sao tiêu cho hết?

Hằng ngày, trước khi rời nhà để đi buôn, mẹ nó đều nhét dưới gối, đầu giường cho nó hai đồng. Ngủ dậy, việc đầu tiên của nó là quơ tay dưới gối, lấy tiền bỏ vào túi quần rồi mới đi rửa mặt đánh răng.

Nó nhớ ra hôm nay là ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch cô giáo cho học trò nghỉ.

Mẹ nó cũng hứa sẽ về sớm, mua đồ cúng tiễn đưa ông Táo về trời.

Nó ôm cái xe đồ chơi vào ngực,

– Ông Táo ơi! Tối nay ông Táo đừng thèm cưỡi cá chép, cháu sẽ cho ông mượn chiếc ô tô của cháu để ông cưỡi cho oai.

Từ giờ đó, nó cứ chắc mẩm rằng ông Táo nhà nó sẽ oai hơn ông Táo của những nhà hàng xóm. Nó chắc mẩm rằng, cả thành phố này không có ông Táo nhà nào tới chầu Ngọc Hoàng sớm hơn ông Táo nhà nó; vì ông Táo nhà nó lên trời bằng ô tô, chứ không phải cưỡi lưng cá chép, vượt qua cả nghìn cây số qua thác, qua ghềnh.

Thằng bé và mẹ nó vừa hồi cư từ vùng chiến tranh về Hải-Dương cuối năm 1948. Mẹ con nó ở nhờ trong nhà một người quen tên là Sử.

Mẹ nó bảo nó gọi ông Sử, bà Sử là chú và thím.

Ông Sử cũng là dân mới hồi cư nhưng nhanh chân chiếm cứ được một ngôi nhà rộng có sân tọa lạc ngay giữa phố, cách Ngã Sáu không xa.

Thời gian này phố Jean De Bouchet còn nhiều căn nhà rất đẹp nhưng bị bỏ hoang vì chủ của chúng còn đi lánh nạn chiến tranh, chưa quay về.

Hồi cư đúng vào dịp khai trường, nên thằng bé được nhận thẳng vào lớp 5 tiểu học, mấy chục năm sau người ta đổi lớp 5 thành lớp 1, còn ở Mỹ thì đây là lớp First Grade.

Xế trưa hôm đó bà Sử dẫn về một người đàn ông lạ rồi lớn tiếng gọi,

– Long ơi! Có khách muốn gặp cháu!

Nghe kêu tên, thằng bé vội vàng chạy tới khoanh tay, lễ phép,

– Thưa thím, cháu đây!

Bà Sử nhìn người khách,

– Ðây là thằng bé mà bác muốn gặp!

Người đàn ông tuổi chừng trên dưới ba mươi, dong dỏng cao, có đôi mắt sáng như sao.

Nhìn chằm chặp vào mặt thằng bé một phút rồi người khách kéo tay nó dẫn ra cửa sau,

– Cháu tên là Vương Mộng Long con bà Sen phải không?

– Vâng! Thưa ông! Cháu tên là Vương Mộng Long con của bà Sen.

– Bố cháu là thầy của chú. Mình tìm chỗ nào vắng, chú có việc cần nói cho cháu biết.

Tới bên gốc cây bưởi nơi góc sân sau nhà, người đàn ông cúi xuống ôm chặt thằng bé vào lòng rồi sụt sùi,

– Cháu nhớ nhé! Tên chú là Tường! Cháu cứ gọi chú là chú Tường! Chú là đàn em của bố cháu! Chú gọi bố cháu là đại ca.

– Thưa chú! Cháu sẽ nhớ! Tên chú là Tường, là đàn em của bố cháu. Chú gọi bố cháu là đại ca. Vậy chú có biết bố cháu bây giờ ở đâu không?

Chú Tường dang hai tay ôm chặt thằng bé, nghẹn ngào,

– Cháu ơi! Bố cháu chết rồi!

Thằng bé vội đẩy người đàn ông ra rồi la lên,

– Chú nói cái gì? Vì sao bố cháu chết?

Chú Tường lại dang hai tay ôm nó, giọng chú run run,

– Bố cháu chết rồi! Cháu hãy ngồi im mà nghe chú nói đây! Suốt đời không được quên những gì chú nói với cháu hôm nay!

Thằng bé nắm chặt hai bàn tay thành hai nắm đấm, rồi nhìn vào mắt chú Tường,

– Vâng! Chú nói đi!

Chú Tường đưa tay lên xoa mặt, vuốt ngực một cái rồi dõng dạc từng tiếng,

– Cháu hãy nghe cho rõ: Tụi Việt-Cộng đã giết bố cháu đấy!

Nó vội hỏi,

-Chú có biết Việt-Cộng là ai không? Chú có biết Việt-Cộng ở đâu không?

Chú Tường đưa tay đè hai vai nó xuống, rồi nghiến răng, dằn giọng,

– Mai này lớn lên cháu sẽ biết Việt-Cộng là ai. Nhiệm vụ của chú tìm gặp cháu ngày hôm nay là nói cho cháu biết rằng không được quên mối thù này!

Dứt lời, chú Tường dắt thằng bé vào nhà.

Vào tới nhà, chú Tường bận bịu nói chuyện với vợ chồng ông Sử, không để ý tới thằng bé nữa.

Thì ra chú Tường là anh con cô, con cậu của thím Sử; chú mới quá giang theo chuyến công voa Hà-Nội, Hải-Phòng để về Hải-Dương sáng nay.

Hình như những người bà con này đã không có dịp gặp mặt nhau lâu lắm rồi nên cứ luôn mồm nói từ chuyện này sang chuyện khác mãi không dứt.

Nó muốn hỏi chú Tường thêm nhiều điều, nhưng thấy chú bận bịu quá, nó lại thôi.

Rồi căn nhà chợt ồn ào hẳn lên khi có ba người đàn ông bước vào. Thằng bé đã biết ba vị này là nhóm thanh niên ở trọ trong căn nhà đầu Ngã Sáu trên con đường dẫn vào Lao Xá Hải Dương.

Ba thanh niên cùng chú Sử và chú Tường ngồi quanh cái bàn tròn giữa sân, bàn bạc với nhau chuyện gì đó hình như hệ trọng lắm. Chú Tường có vẻ là người có uy nhất của năm vị này.

Buổi họp mặt bế mạc, chú Tường đứng lên, đảo mắt một vòng rồi dõng dạc,

– Ðại ca đã mất rồi. Từ nay anh em ta sẽ chia tay. Các chú sẽ tự định đoạt tương lai của chính mình.  

Ngừng một giây, chú Tường nhìn về phía thằng bé đang ngồi ủ rũ bên hiên nhà, giọng chú nghẹn ngào,

– Ngày mai anh không còn ở đây nữa. Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Thì ra ba ông thanh niên này, cùng với chú Tường và chú Sử là đàn em của bố nó.

Nó không rõ chú Tường mang họ gì, quê quán ở đâu.

Một ông cũng lớn tuổi như chú Tường tên là Phan Ngọc Yên thì cùng quê Hải Dương với bố. Ba ông còn lại thì trẻ hơn nhiều, đều mang họ Trần và có quê Nam-Ðịnh.

Tên của các ông này là Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế.

Sau đó mấy vị đàn em của bố nó kéo tới vây quanh nó, ôm hôn nó, xoa đầu nó, rồi theo chân nhau đi ra cửa. Bà vợ ông Sử quét nhà xong cũng gánh rau rời nhà lên chợ.

Chỉ còn một mình trong căn nhà vắng, thằng bé thấy mình cô đơn một cách thật lạ kỳ.

Từ lúc nghe tin bố chết, nó thẫn thờ như kẻ mất hồn, hết ngồi vật, ngồi vạ trên cái chõng tre ngoài phòng khách, lại đứng trước cái bàn thờ Phật, nhìn hình Phật trên kia rồi suy nghĩ mung lung.

Nó còn nhớ ngày đó, cách nay hai năm, bố nó đã đưa mẹ con nó ra Ga Hàng Cỏ để lên tàu hỏa về quê.

Trước khi chia tay, bố đã ôm hôn nó, nói với nó rằng,

– Con của bố gắng ngoan! Mai này bố sẽ về, bố sẽ bế con, bố sẽ cõng con đi chơi quanh thành phố Hải-Dương. Bố sẽ mua cho con một hộp bánh khảo và bánh đậu xanh Bảo-Hiên Rồng Vàng thật là to.

Gần tám chục năm sau nó vẫn chưa quên hình ảnh bố nó đứng bên cái xe đạp, dưới ánh đèn đường, giơ tay vẫy vẫy, tiễn chân mẹ con nó lên tàu xuôi Hải-Dương.

Nó không tin những lời chú Tường vừa nói là chuyện thật, nó không tin bố nó đã bị người ta giết. Bố là người tài giỏi nhất trên đời! Bố không thể chết!

Tới chiều thì mẹ thằng bé bước vào cửa cùng lúc với vợ chồng chú Sử và chú Tường.

Rồi mẹ thằng bé cũng ra vườn nói chuyện với chú Tường. Khoảng một giờ đồng hồ sau mẹ nó và chú Tường mới trở vào. Lúc này mắt mẹ nó đã đẫm lệ, đỏ hoe.

Tới tối, nó đang ngồi thút thít khóc bên bàn học, thì chú Tường tới ngồi bên, cầm mấy quyển vở của nó lên xem, rồi cất tiếng khen,

– Cháu ngoan lắm! Cháu gắng học giỏi để mai này nối chí ông thầy của chú!

Chú Tường lần tay ra túi sau, móc bóp lấy ra tờ giấy bạc 20 đồng Ðông Dương mềm như lụa, đưa cho thằng bé,

– Tiền này chú cho cháu để ăn quà hay mua đồ chơi, tùy ý cháu.

Thằng bé ngần ngừ, nhìn mẹ; thấy mẹ nó gật đầu, nó mới giơ tay cầm tờ bạc, miệng lí nhí,

– Cháu cám ơn chú Tường!

Nhớ lời mẹ nó dặn, khi cám ơn ai thì nó phải nhìn thẳng vào mặt người đó.

Thằng bé cám ơn chú Tường, đồng thời nhìn ngay mặt chú, nó nhận ra trên má chú có hai dòng lệ đang chảy xuống. Dưới ánh đèn, nước mắt của chú sáng lấp lánh.

Tối hôm đó mẹ nó không thắp nhang tiễn đưa ông Táo.

Mẹ con nó đã quên không ăn cơm chiều. Mẹ nó lững thững đi ra vườn, nó nối đuôi theo.

Ði ngang phòng khách, nó thấy chú Tường nằm trên cái chõng tre.

Chú Tường đang hút thuốc lá, khói thuốc bay lên trần nhà.

Mẹ nó đi tới gốc bưởi, ngồi rũ xuống và sụt sịt khóc; nó mon men lại gần thì mẹ xua tay, đuổi nó đi.

Nó lê bước vào nhà, vứt cái ô tô làm bằng vỏ hộp cá mòi vào gầm bàn, rồi lăn ra chiếu.

Trong bóng tối, nó trùm chăn kín đầu, nằm khóc một mình.

Trước khi nó thiếp đi, nó nghe ai đó nói nhỏ bên tai,

– Việt-Cộng là kẻ thù đã giết bố cháu! Suốt đời, cháu không được quên mối thù này!

Sớm hôm sau thằng bé tỉnh dậy thì mẹ nó đã đi làm; trên cái chõng tre ngoài phòng khách cũng không thấy chú Tường.

Ngày 24 tháng Chạp Âm Lịch năm Mậu Tý, rơi vào Thứ Bảy, cũng là ngày hội thể thao tất niên của trường, nhưng nó không thèm tới sân vận động để xem, mà chỉ nằm nhà ôm mặt khóc. Suốt ngày Chủ Nhật sau đó, nó cũng chỉ loanh quanh trong vườn chứ không ló đầu ra ngoài phố.

Sáng Thứ Hai, 26 tháng Chạp, nó ôm quyển vở, xách hai chai nước vối rồi bước ra đường.

Tới Ngã Sáu, nó gặp thằng Hải đang đứng chờ.

Thằng Hải thấy hai mắt nó sưng húp thì ngạc nhiên, cất tiếng hỏi thăm,

– Mày bị đau mắt hả? Nhà tao có thuốc nhỏ mắt tốt lắm. Ðể tao chạy về lấy cho mày nhé?

Nó vội xua tay,

– Không cần! Không cần! Ðừng hỏi nữa! Chiều về tao kể cho nghe!  

Nói xong, nó vội vàng phóng nhanh qua đường. Thằng Hải cũng lao theo bén gót.

Hai đứa vào trung tâm thành phố, rồi tới phố Hàng Bạc.

Thằng bé đi thẳng lên hướng Ga để tới Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương.

Còn bạn nó thì rẽ sang tay phải để tới Trường Thánh Giuse.

Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương là trường công, học trò không phải đóng tiền.

Trường Thánh Giuse là trường Tây, trường tư, học trò phải trả tiền.

Học trò Trường Thánh Giuse đa phần là con nhà giàu hay có đạo; thằng Hải là con nhà giàu.

Tới gần rạp hát Kim Phụng thằng bé đã thấy người anh kết nghĩa của nó đứng chờ.  Nó mới quen anh Phụ được vài tuần. Anh Phụ học lớp Ba cùng trường, năm nay anh đã 18 tuổi, và đã có vợ. Thời gian này học trò mới hồi cư được khuyến khích đến trường, không giới hạn tuổi tác.

Nhà anh Phụ ở ngoại ô thành phố phía đằng sau vườn hoa Bảo Ðại. Ngày nào anh Phụ cũng đứng chờ nó nơi hiên rạp Kim Phụng để cùng đi với nó. Chiều chiều tan trường, hai anh em lại cùng về.

Anh Phụ nói năng rất ngọt ngào; anh coi nó thân thiết như đứa em ruột của anh.

Nó là đứa bé không có anh chị; được anh Phụ nhận làm em kết nghĩa nó cảm thấy sung sướng vô cùng.

Trước đây khi mới gặp nhau, anh Phụ thường mang theo bên mình một chai nước mưa để giải khát; nhưng từ khi được nếm mùi vị nước vối của nhà thằng em thì anh Phụ đề nghị nó mang thêm một chai nước vối nữa cho anh.

Nó vui vẻ làm theo yêu cầu của bạn nó ngay. Nó đã không quản công khó mà còn cảm thấy hạnh phúc khi thấy người anh kết nghĩa đã cần tới nó. Trong bếp nhà nó lúc nào cũng có một nồi nước vối đầy, hai chai nước vối nó đem đi học có đáng là bao?

Một hôm đang đi giữa đường, anh Phụ bỗng dừng chân đứng lại ôm bụng nhăn nhó. Nó lo lắng cuống quýt,

– Anh sao thế? Anh bị bệnh gì thế?

Phụ xua tay,

– Anh không sao, ruột anh chỉ bị quặn quặn một lúc thì hết ngay thôi!

Phụ nói đúng, chỉ một phút sau anh đã đi đứng bình thường.

Chiều về, người anh kết nghĩa mới thú thực với thằng em,

– Em có biết không? Sáng nay anh bị đau bụng là vì đói đó! Ðói mà uống nước vối thì bị cồn ruột.

Thằng bé thắc mắc,

– Thế sáng ra anh nhịn đói mà đi học ư?

– Chứ sao? Nhà anh nghèo lắm, làm gì có tiền mà ăn sáng? Anh nhịn tới chiều về tới nhà mới được ăn cơm. Nhà nghèo khổ lắm em ơi!

Thằng bé đúng là thứ ruột ngựa,

– Mỗi ngày mẹ cho em hai đồng, sáng ra em ăn một đĩa xôi lạp xưởng hay một đĩa bánh cuốn cà cuống chỉ hết năm hào. Còn một đồng rưỡi em bỏ ống, chờ tới Tết mới đem ra tiêu. Chẳng bù cho anh bị đói suốt ngày! Tội nghiệp anh tôi! Từ mai, mỗi ngày em sẽ chia cho anh năm hào để ăn sáng.

Nói xong nó dúi vào tay Phụ tờ bạc 5 hào bằng giấy,

– Ðây là tiền cho anh sáng mai.

Mắt Phụ sáng lên, nhưng anh còn làm bộ thoái thác,

– Lấy tiền của em anh ngại quá! Nếu mẹ em mà biết thì anh xấu hổ lắm! Bà dành tiền cho em chứ có phải cho anh đâu?

– Anh đừng lo! Mẹ không biết đâu! Vả lại mẹ cho tiền, em muốn làm gì thì làm, mẹ không bao giờ kiểm soát cả.

Người đẩy qua, kẻ đẩy lại, cuối cùng Phụ đành cất tờ giấy bạc vào túi,

– Nể em lắm anh mới nhận. Bao giờ anh khấm khá, anh sẽ đãi em mỗi ngày.

Thằng bé cười xòa,

– Có thế chứ! Chúng mình là anh em mà!

Từ hôm đó quỹ chi tiêu hằng ngày của thằng bé chỉ còn 1 đồng 5 hào.

Hôm nay vì thời gian còn sớm nên hai anh em nó ngồi tạm nghỉ trên tam cấp của rạp Kim Phụng. Rạp hát này ban ngày đóng cửa. Tới ba giờ chiều người ta mới mở hai cái cửa tò vò để bán vé.

Thằng bé trao cho anh nó chai nước vối cùng 5 hào tiền ăn sáng mai, rồi từ từ tâm sự cho anh nó nghe tất cả những chuyện buồn mà nó đã gặp phải trong mấy ngày qua.

Nó những tưởng người anh kết nghĩa của nó sẽ tỏ lòng thương xót khi thấy nó bỗng chốc trở thành một đứa trẻ mồ côi cha.

Nào ngờ, nó vừa dứt lời, anh Phụ đã trợn mắt,

– Bộ em bịa chuyện hả? Anh không tin trên đời này lại có người chú tốt bụng đến mức dám cho thằng cháu sáu tuổi một tờ giấy hai chục đồng Ðông Dương. Hai chục đồng là cả một gia tài đấy! Em có biết không?

Thằng nhỏ ngẩn mặt, thật thà,

– Em nói thật mà! Chú Tường cho em hai chục thật mà! Chú ấy nói em muốn mua gì thì mua, muốn ăn gì thì ăn mà!

– Anh không tin! Ðâu? Ðồng hai chục đâu? Ðưa cho anh coi, xem là tiền thật hay tiền giả?

Nghe tới hai chữ “tiền giả” thằng bé chột dạ, vội vàng móc túi lấy tờ bạc đưa cho thằng anh,

Sicily Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 21 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 4 

Tại Sicily, tháng 9 năm 1943, người ta không thể sống được nếu không “chạy chợ”. Những qui định chặt chẽ về khẩu phần lương thực trong thời chiến vẫn còn áp dụng. Và nông dân vẫn phải bán sản phẩm cho các kho của nhà nước theo giá nhà nước ấn định và nhận lấy đồng tiền hầu như vô giá trị. Ngược lại, nhà nước có nhiệm vụ phải bán lại cho người dân lương thực với giá rẻ. Với chế độ “bao cấp” ấy, tất nhiên chẳng thể sống phè phỡn, nhưng cũng còn “ngáp ngáp” được. Thực ra, hễ giấu được cái gì là nông dân giấu cái đó. Bởi vì những gì họ bán được cho nhà nước thì trên thực tế lại chui vào kho của Ông Trùm Croce, và sau đó tuồn ra chợ đen với giá cắt cổ. Vì vậy, nếu họ có buôn chui thì cũng chỉ để sinh tồn, chứ chẳng phải làm giàu làm có gì. Nhưng nếu bị bắt quả tang buôn chui thì bị bắt, bị tống giam, bị đưa ra toà. Vậy thì cái chính quyền dân chủ được dựng lên ở Rome kia để làm gì? Dân chúng đi bỏ phiếu để được chết đói à?
Turi Guiliano và Aspanu đi buôn chui với tấm lòng phơi phới. Chính Pisciotta đã có những mối chợ đen – mua cũng như bán, và chính hắn đã tổ chức cuộc buôn chui hôm nay. Hắn đã tiếp xúc với một nông dân ở Castellammare, mua một tảng phó – mát để “đẩy” ra chợ đen ở Montelepre. Nếu trót lọt thì tiền lời sẽ đủ để mua bốn cái chân giò lợn hun khói và một ký lạp xường. Bấy nhiêu đó cũng tạm đủ để làm một bữa tiệc linh đình cho buổi lễ đính hôn của chị hắn. Và làm như vậy thì cùng một lúc chúng vi phạm hai đạo luật: một, cấm chợ đen, chợ đỏ, hai, cấm buôn lậu từ nơi này sang nơi khác. Không đủ nhân viên nhà nước để thực thi hữu hiệu đạo luật cấm chợ đen chợ đỏ. Nhưng buôn lậu thì lại là chuyện khác. Nhân viên nhà nước có quyền tống giam bất cứ người nào ở Sicily. Những toán cảnh sát dã chiến, cảnh vệ lang thang tuần tiễu khắp hang cùng ngõ hẻm, thị xã cũng như vùng quê. Chúng tung chỉ điểm viên, mật thám và đặt các chốt kiểm soát cố định và lưu động. Tất nhiên bọn này đâu có dám động đến các đoàn xe chở hàng lậu của Ông Trùm Croce Malo. Lão dùng xe tải của quân đội Mỹ có quân cảnh hộ tống. Nhưng cảnh vệ giăng lưới bắt được khá nhiều những tay buôn chui “ tép riu”. Bọn cảnh vệ rất nhiệt tình sục sạo, ngày cũng như đêm, vì những hàng lậu bắt được chúng được xài, nếu xài không hết, chính chúng lại tung ra chợ đen.
Turi Guiliano và Gaspare Pisciotta phải mất bốn tiếng đồng hồ mới đi đến chỗ mua hàng. Hai đứa mua được một bánh pho – mát trắng và mấy thứ lặt vặt khác chất lên lưng con lừa. Chúng lấy cỏ khô phủ lên đặng nguỵ trang để nếu bọn cớm có nhìn thấy thì tưởng chúng chở cỏ khô cho súc vật chứa trong kho đặt rải rác ở các làng. Chúng vừa có cái hớ hênh của một tụi mớivào nghề lại vừa có sự ngây ngô của bọn trẻ – thật đúng là con nít – chôm đồ của chính bố mẹ chúng. Làm như thế chỉ nguyên cái ý định đánh lừa là đủ. Có vẻ lại chắc ăn hơn nữa, vì chúng tìm ra con đường mòn kín đáo khuất nẻo, len lỏi qua khe núi.
Trên đường về, Pisciotta đi trước dò đường, hễ thấy bóng bọn cảnh vệ thì báo cho Turi dắt lừa chở hàng đi xa xa đằng sau. Chúng đặt ra những qui ước huýt gió làm mật hiệu đàng hoàng. Con lừa chở hàng cũng đi dễ dàng vì món hàng trên lưng nhẹ bỗng, nó cũng tỏ ra ngoan ngoãn vì trước khi lên đường trở về, nó đã được cho ăn uống đầy đủ. Chúng đi được hai giờ đồng hồ, ngon lành, an toàn! Chúng chầm chậm xuống núi và phía trước không có dấu hiệu gì nguy hiểm. Thế rồi bỗng phía sau, cũng trên con đường đó và đi về phía hắn, Turi Guiliano thấy một đoàn sáu con la và một người cưỡi ngựa ở cách hắn khoảng ba dặm. Hắn nghĩ bụng: nếu bọn buôn chui khác cũng biết con đường mòn này, thì thể nào bọn cảnh vệ xũng biết và sẽ đặt chốt chặn. Cẩn thận, hắn cho Piscotta đi trước thật xa để thám thính.
Một giờ sau hắn bắt kịp Aspanu Pisciotta đang ngồi trên một tảng đá và ho rũ tượi. Aspanu nom xanh mét. Lẽ ra y không được hút thuốc nữa mới phải. Turi lại gần, ngồi xuống nghỉ chân bên cạnh Aspanu. Một trong những cam kết chặt chẽ nhất giữa chúng với nhau ngay từ lúc còn nhỏ là không có đứa nào chỉ huy đứa nào. Bởi vậy, dù muốn Aspanu đừng hút thuốc nữa, Guiliano vẫn không nói gì. Sau cũng, Aspanu giụi tắt điếu thuốc và cất mẩu thuốc đang hút dở vào túi. Chúng lại bắt đầu đi. Turi dắt con lừa. Pisciotta đi bên cạnh.
Chúng đang đi theo một đường mòn trên núi cắt ngang qua một con lộ lớn và một thôn ấp nhỏ. Con đường quanh co. Do đó chúng thấy khi ẩn, khi hiện cái giếng nước của người Hy Lạp cổ có nước chảy tuôn ra từ cái miệng nhăn nhúm của bức tượng, hoặc phế tích một pháo đài cổ của người phương Bắc xây từ bao thế kỷ trước để chặn đường quân xâm lược. Nhìn những phế tích đó, Turi nhớ tới quá khứ của Sicily và nghĩ tới tương lai của mình. Hắn nhớ tới việc ông bố đỡ đầu – giáo sư Hector Adonis – hứa sau lễ Kính Thánh Bổn Mạng sẽ về Montelepre để chuẩn bị cho hắn vào đại học. Nghĩ tới ông, Turi cảm thấy buồn. Không bao giờ giáo sư Adonis về Montelepre dự lễ Kính Thánh Bổn Mạng vì ngày đó, nhiều thằng say rượu cứ nhè cái vóc dáng thấp bé của ông mà châm chọc, chế nhạo. Con nít – có nhiều đứa còn cao lớn hơn ông – cũng giễu cợt, làm nhục ông. Turi tự hỏi làm sao mà Chúa oái oăm, đã cho ông một cái đầu óc thông minh, sáng láng như vậy, thì còn tiếc gì một vài tấc xương, thịt mà không cho ông đủ, để đến nỗi thân xác của ông còi cọc, thấp bé như vậy? Đối với Turi thì ông Hector Adonis là một người thông thái nhất thế giới. Và hắn thương ông vì ông đã tỏ ra tử tế, ân cần chăm lo cho hắn và gia đình hắn.
Hắn nghĩ tới ông bố hắn phải làm việc cực nhọc vất vả như một con lừa trên một mảnh đất nhỏ xíu mà lại cằn cỗi, tới các chị hắn tới tuổi cập kê rồi mà quần áo tả tơi. May mà Mariannina xinh đẹp nên dù nghèo kiết xác và không có thì giờ để chải chuốt, làm dáng mà vẫn kiếm được tấm chồng. Nhưng, buồn khổ nhất vẫn là lúc hắn nghĩ đến mẹ hắn. Ngay từ lúc còn nhỏ, hắn đã nhận thức được nỗi chua chát và sự bất hạnh của bà. Bà đã được nếm trải cái ngọt bùi lúc còn ở bên Mỹ, và nay thì phải chịu cảnh nghèo khổ ở cái xứ Sicily khổn khổ này. Mỗi khi nghe ông bố hắn nhắc lại cái ngày xưa huy hoàng thì mẹ hắn lại rấm rứt khóc. Nhưng, Turi suy nghĩ, hắn có thể xoay chuyển được số phận của gia đình hắn. Hắn sẽ làm việc cật lực, học hành “chết bỏ”, để trở nên một nhân vật tài ba không thua gì ông bố đỡ đầu của hắn.
Bỗng chốc, chúng đi qua một đám cây – một khoảng rừng nhỏ – một trong số rất ít đám cây còn lại ở Sicily và dường như chỉ mọc trên những núi đá vôi và thạch cao. Qua bên kia sườn núi, chúng sẽ bắt đầu đổ dốc đi xuống Montelepre và phải cẩn thận cảnh giác vì những toán tuần tiễu của bọn cảnh vệ ăn cướp. Và, chúng đã đi bình an đến chỗ ngã tư. Lòng khấp khởi mừng vì sắp về tới đích an toàn, nhưng cũng vẫn phải cảnh giác. Guiliano kéo con lừa và ra hiệu cho Aspanu ngừng lại. Chúng lặng lẽ, nghe ngóng. Không nghe thấy tiếng động gì lạ. Chỉ có tiếng côn trùng rù rì trên mặt đất, tiếng đập cánh vo vo và soàn soạt như tiếng cưa gỗ xa xa. Chúng tiến lên, vượt qua ngã tư và lại khuất an toàn trong lùm cây của một cụm rừng khác. Turi lại nối tiếp lại giấc mộng tưởng tượng của mình.
Rừng cây đã thưa hẳn đi như thể nó bị đẩy lùi lại, vì chúng bắt đầu đi vào cụm rừng thưa chỉ có những bụi tre lơ thơ và những đám cỏ lèo tèo, xơ xác mọc trên nền đá vụn. Phía xa xa, mặt trời đã ngả bóng nom nhợt nhạt, lạnh lẽo và treo lơ lửng phía trên đỉnh núi. Qua khỏi khoảnh rừng thưa này, con đường mòn sẽ ngoằn nghèo đổ dốc đi xuống thung lũng Montelepre. Thình lình, Turi Guiliano tỉnh giấc mơ. Một tia sáng loé lên như người ta quẹt một que diêm. Tia sáng loé lên, rồi vụt tắt, nhưng cũng đủ đập vào mắt hắn. Hắn thình lình giật mạnh để con lừa ngừng lại và giơ cao tay ra hiệu cho Aspanu.
Chỉ cách đó khoảng ba chục mét, mấy người lạ bước ra khỏi bụi rậm. Bọn đó gồm ba tên. Và Turi nhìn thấy cái mũ đen cứng nhắc có viền trắng và bộ đồng phục màu đen. Hắn cảm thấy thất vọng và mắc cỡ muốn phát bệnh luôn. Thế là hắn bị cớm “vồ” rồi. Hai trong số ba tên cớm đó mặt non choẹt, búng ra sữa. Và hồng hào mũm mĩm. Cái mũ nhà binh lật ngược ra phía sau, để lộ gần hết mái tóc. Cớm oắt coi bộ sốt sắng đến độ khoái chí, khi chĩa khẩu súng lục vào Guiliano và Pisciotta. Tên cớm đứng giữa tuổi đã trung niên, tay lăm lăm khẩu tiểu liên, cái mũ kéo sụp xuống che gần kín cái mặt rỗ huê có vẻ hơi hoảng hốt hay ngỡ ngàng như một kẻ lượm được món tiền giữa đường. Phía ống tay áo gần chỗ cầu vai có phù hiệu và cái lon trung sĩ. ánh sáng loé lên mà Guiliano thấy ban nãy chỉ là ánh mặt trời phản chiếu trên các băng đạn của hắn.
– Thầy đội, – Trung sĩ mỉm cười vừa có vẻ nham hiểm vừa có vẻ chế giễu, khẩu tiểu liên chĩa thẳng vào Guiliano và Pisciotta. Nụ cười mỉm cười lặng lẽ và nham hiểu của gã đã biến nỗi thất vọng của Guiliano thành nỗi tức giận.

Photo edit by Sơn râu

Vẫn khẩu tiểu liên chĩa thẳng vào hai đứa, thầy đội cớm bước lại gần Guiliano, hai cớm oắt hai bên. Bây giờ Guiliano đã hết choáng. Đối với Guiliano thì hai tên cớm oắt với hai khẩu súng lục không có gì đáng sợ lắm. Chúng xớn xơ xớn xác bước lại gần con lừa và chẳng mấy quan tâm đến hai “thằng tù” của chúng. Chẳng nói chẳng rằng, chúng lấy mũi súng ra hiệu cho Guiliano và Aspanu đứng cách xa con lừa. Một trong hai cớm oắt nhét khẩu súng vào bao đeo tòn teng trên thắt lưng, bước đến khui bó cỏ khô nguỵ trang trên lưng con lừa. Khi thấy “hàng” nó khoái chí huýt gió lên một tiếng, không để ý Pisciotta đang len lén lại gần nó. Nhưng thầy đội đã thấy và la lên:
– Cái thằng có râu mép kia, đứng ra xa!
Aspanu lùi lại gần Turi. Tên đội cớm tiến lại gần chúng thêm một chút nữa. Guiliano nhìn gã như dò xét và ước lượng khoảng cách. Cái mặt rỗ huê của gã coi bộ mệt mỏi, nhưng đôi mắt gã long lên sòng sọc khi gã nói:
– Rồi, mấy anh bạn trẻ, bánh phó – mát trắng ngon lành quá héng? Để tụi này đem về trại xài với mì ống thì ngon tuyệt. Cứ nói tên thằng “nhà quê” nào đã bán cho tụi bay là tao sẽ cho tụi bay dắt lừa về, khỏi làm khó dễ, lôi thôi gì!
Guiliano và Pisciotta nín thinh, và thầy đội cũng nín thinh. Chờ. Hai đứa vẫn chẳng nói chẳng rằng. Sau cùng, Turi rụt rè khẽ nói:
– Ông để cho tụi tôi đi, tụi tôi biếu ông một ngàn lire xài chơi.
Thầy đội cười khẩy, rồi nói:
– Tao đâu cần giấy chùi đít, mày? Đâu, giấy tờ đâu, đưa coi? Nếu giấy tờ tụi bay không hợp lệ, thì tao sẽ cho tụi bay té cứt luôn. Rồi tao lấy giấy tờ đó mà chùi.
Câu nói đểu cáng, mất dạy kèm theo cử chỉ xấc xược phách lối của mấy tên cớm đã làm cơn giận ngầm của Turi bốc lên. Lúc đó, hắn biết là hắn không được phép để cho mình bị bắt, đồng thời cũng không được phép để cho bọn chó đẻ này cướp cơm của gia đình mình.
Turi chìa căn cước và tiến lại gần thầy đội. Hắn tự biết là hiếm có ai cử động linh hoạt và lẹ làng bằng hắn. Và hắn tính liều. Nhưng họng súng ra lệnh cho hắn lùi. Thầy đội nói:
– Mày cứ ném căn cước xuống đất.
Guiliano làm theo.
Pisciotta đứng phía trái cách Guiliano khoảng năm mét. Y biết thằng bạn đang toan tính gì trong đầu và biết rằng bạn giắt khẩu súng lục ở thắt lưng, nên y tìm cách đánh lạc hướng sự chú ý của tên đội cớm. Tay luồn sau lưng, nắm lấy cán dao cài ở đó, Pisciotta tiến lên, miệng nói giọng cố ý châm chọc, xấc láo:
– Ê, sếp, nãy sếp bảo tụi này cứ nói tên thằng “nhà quê” đã bán phó – mát thì sếp thả, cho dắt lừa về. Vậy thì mắc mớ đếch gì mà lại đòi coi giấy tờ. Sao lại ăn đằng sóng, nói đằng gió vậy, sếp?
Ngưng một lúc rồi hắn lại nói móc họng tiếp:
– Ai mà chả biết bọn cớm nhà các anh lúc nào cũng giữ lời.
Nói tiếng cớm, y phun nước miếng cái “tẹc” một cái.
Không nổi đoá, sếp cớm thủng thỉnh bước về phía y vài bước, rồi ngừng lại mỉm cười chĩa súng vào y, nói:
– Còn mày, thằng điếm đực, căn cước đâu? Hay là mày cũng như con lừa này, đếch có giấy tờ? À, ít ai có bộ ria mép đẹp như của mày, lơ thơ ba sợi như lông chó ghẻ.
Hai cớm oắt cười hô hố. Mắt Pisciotta toé lửa. Y bước lại gần đội cớm, nói:
– Ồ, tôi đếch có giấy tờ gì hết, mà tôi cũng đếch biết thằng “nhà quê” nào cả. Tôi lượm được bánh phó – mát ai đánh rớt giữa đường, vậy thôi.
Nhưng, câu nói chọc tức đã làm hỏng ý đồ của y. Y muốn thầy đội bước lại gần trong tầm tay. Nhưng thầy đội lại lùi mấy bước, cười khẩy và nói:
– Chắc là mày chưa được nếm món bastinado (1) bao giờ phải không? Cho mày hay, nhiều thằng Sicily yêng hùng còn hơn mày nhiều mà cũng nuốt không vô cái món này. Tuy nhiên món bastinado này sẽ chữa cho mày khỏi cái bệnh ăn nói xấc xược, hỗn láo kiểu Sicilian tụi bay.
Gã ngưng một chút, rồi hét lên:
– Cả hai thằng nằm úp mặt xuống đất!
Guiliano biết nhiều người dân ở Montelepre đã bị tra tấn bằng đòn bastinado trong trai giam Bellampo Barracks. Trở về nhà, những người này bị gãy đầu gối, đầu bị sưng phình ra to bằng trái dưa hấu, nội tạng bị chấn thương, khiến cho họ từ đó đến chết không có thể đi đứng, làm ăn gì được. Nó biết mấy anh cớm chỉ lùi chứ không dám chơi đòn này với chúng nó, vì buôn chui cò con không phải là một tội chính trị mưu phản. Guiliano khuỵ gối, tay trái chống xuống đất giả bộ nằm xuống, tay phải luồn vào thắt lưng đặng rút khẩu súng lục nó giấu dưới áo.
Lúc đó, khoảng rừng thưa chơi vơi trong ánh sáng lờ mờ của bình minh vừa chớm. Mặt trời còn chìm sâu dưới rặng cây và dãy núi phía xa xa. Hắn thấy Pisciotta vẫn còn đứng sững, hiên ngang, không tuân lệnh đội cớm nằm sấp xuống. Chắc chắn bọn kia không dám xả súng bắn chúng chỉ vì buôn lậu một bánh nhỏ phó – mát. Hắn trong thấy khẩu súng lục rung rung trong tay chú cớm oắt.
Đúng lúc đó có những tiếng la kêu be be và tiếng vó ngựa kêu lộp cộp vang lên từ phía sau khoảng rừng thưa. Tiếp đó là đoàn la và tên cưỡi ngựa mà hắn thấy đi phía sau hắn lúc chiều tối. Tên cưỡi ngựa dẫn đoàn la vai đeo khẩu súng lủng lẳng. Chiếc áo khoác bằng da trùm bên ngoài làm cho người gã phình ra. Gã nhảy xuống ngựa, rút từ trong túi ra một cọc tiền và nói với thầy đội.
– Lần này ông chỉ hốt được một ít cá sộp.
Rõ ràng là bọn này đã từng “ăn chịu” với nhau nhiều lần rồi. Từ lúc đầu đến giờ, đây là lần đầu tiên, đội cớm mắc bận nhận tiền nên đã lơ là, không cảnh giác đối với chúng nó. Hai thằng tù coi bộ bị bỏ quên. Turi len lén lại gần chỗ tên cớm oắt đứng gần nhất. Pisciotta len lén lại gần bụi tre gần nhất. Bọn kia hớ hênh không để ý. Guiliano xô mạnh tên cớm oắt đứng gần hắn khiến cho tên này té lăn ù. Hắn hét to cho Pisciotta: “Vọt!”
Tên cớm oắt không bị té thì quá bất ngờ, đứng ngây ra không kịp đưa khẩu súng lục lên. Lúc lao vào chỗ nấp trong rừng, Guiliano bỗng thấy một thoáng hân hoan nhẹ nhõm, thơ thới. Hắn nhẩy cẫng lân, lao vào giữa hai cây có thể che đạn cho hắn, khẩu súng lục suýt bị rớt. Thầy đội buông bó tiền rớt xuống đất, chĩa khẩu súng tiểu liên về phía hắn, lạnh lùng ria một tràng. Gã không phải là một tay súng tồi.
Guiliano nghe tiếng nổ, đồng thời cảm thấy đau nhói như thể bị đập một gậy thiệt mạnh. Hắn lăn ra đất chỗ có hai cái cây và gượng đứng, nhưng không được. Cẳng hắn tê dại đi và không cử động được nữa. Khẩu súng lục trong tay, hắn nhằm vào thầy đội đang quơ quơ khẩu tiểu liên lên trời, dáng điệu bất đắc chí. Guiliano cảm thấy quần hắn ướt ướt, ẩm ẩm, dính dính.
Trong khoảnh khắc chưa tới một giây đồng hồ trước khi lảy cò, Turi chỉ cảm thấy ngạc nhiên. Vậy là bọn kia đã bắn hắn chỉ vì một cái bánh phó – mát nhỏ. Vậy là bọn kia đã đánh sụm cả gia đình nó một cách thản nhiên như giỡn chơi, nhưng tàn bạo như vậy chỉ vì hắn đã bỏ chạy khi bị bắt quả tang vì phạm sơ sơ đạo luật mà mọi người đều vi phạm. Mạng nó rẻ đến thế sao? Mẹ hắn chắc sẽ khóc cho đến mãn đời. Lúc này thân thể hắn máu me đầm đìa. Hắn chưa từng làm điều gì hại ai.
Hắn lẩy cò và nhìn thấy khẩu tiểu liên trong tay thầy đội rớt xuống đất, cái mũ viền trắng trên đầu bị hất tung lên trong không khí, trong khi thân thể gã với cái đầu nát bấy té lăn xuống đất, tay chân quờ quào trên mặt đất như thể đang bơi. Một phát súng lục không thể đạt kết quả đó. Nhưng, đối với Turi Guiliano dường như chính tay của hắn đã bay theo viên đạn và “bủa” vào đầu gã nên đầu gã mới bấy bá ra như vậy. Tiếng súng lục nổ đì đẹt nhưng đạn bay bổng, vô hại. Rồi im lặng! Ngay cả côn trùng cũng im tiếng rù rì.
Guiliano lăn vào bụi cây. Nhìn thấy mặt kẻ thù bê bết máu, hắn hy vọng. Hắn đã chứng tỏ được hắn đâu phải là thằng “gà chết” bất lực. Hắn gượng đứng dậy, nhưng lúc này chiếc cẳng không còn theo lệnh điều khiển của óc hắn nữa. Hắn bắt đầu chạy, nhưng chỉ một cẳng đưa về phía trước, còn cẳng kia cứ lết trên mặt đất khiến hắn ngạc nhiên. Hắn cảm thấy ấm ấm, dính dính ở háng, quần ướt đầm, mắt mờ đi. Khi chạy qua một chỗ quang đãng, hắn sợ là lại chạy ra chỗ rừng thưa trống trải, bởi vậy hắn quay trở lại. Hắn cảm thấy thân thể như bắt đầu rớt không phải là xuống mặt đất, mà là xuống khoảng không thăm thẳm không có đáy, màu đỏ đậm pha lẫn màu đen và rớt, rớt xuống hoài.

Photo edit by Sơn râu

Chỗ khoảng rừng thưa, chú oắt con rời tay khỏi cò súng. Và tiếng đì đẹt ngưng hẳn. Thấy súng nổ, tên buôn lậu sợ cớm oắt lóng ngóng, có thể lạc đạn trúng gã nên hắn nằm mọp xuống đất. Thấy ngưng bắn, gã nhỏm dậy, lượm cọc tiền, đưa cho hai tên cớm oắt. Nhưng hai tên cớm oắt ấy chĩa mũi súng vào hắn và nói: “Anh bị bắt!”. Tên buôn lậu nói: “Bây giờ chỉ còn hai chú, vậy hai chú cứ cưa đôi và để tôi đi”.
Cớm oắt nhìn xác thầy đội nằm thẳng cẳng trên mặt đất. Chắc chắn là gã đã tịch rồi. Viên đạn xuyên qua tròng mắt, trổ lên đầu, bể sọ và óc bắn tung toé. Tên buôn lậu nói giọng bợ đỡ:
– Để tôi chạy đuổi theo nó. Nếu nó không chết thì cũng bị thương nặng rồi. Để tôi lôi xác nó lại đây và hai chú sẽ là anh hùng. Rồi, để tôi đi!
Một trong hai cớm oắt lượm tấm căn cước Turi liệng xuống đất theo lệnh của thầy đội lúc nãy, lớn tiếng đọc Salvatore Guiliano, thị trấn Montelepre, rồi bỏ vào túi.
– Không cần chú ý vào nó nữa, – cớm oắt nói. – Mình sẽ báo cáo lại sau, cái đó quan trọng hơn.
Tên buôn lậu buột miệng bực tức nói: “Đồ thỏ đế”. Gã chợt định tháo khẩu súng đeo trên vai ra. Nhưng gã thấy hai cớm oắt nhìn gã trừng trừng. Gã vừa nhục mạ chúng. Vì vậy, chúng bắt gã đỡ xác thầy đội lên lưng ngựa và đi theo chúng về trại. Để ngừa hậu hoạ, chúng tước khẩu súng của gã. Chúng rất nhát, vì thế tên buôn lậu mong chúng đừng bắn sảng, lỡ đạn trúng gã. Ngoài ra gã chẳng liên can gì đến cái chết của đội cớm. Gã cũng rất quen biết Maressciallo Rocofino ở Montelepre. Trước đây, họ đã từng làm ăn với nhau và sau này sẽ còn dài dài.
Trong suốt thời gian đó, cả ba chẳng ai nghĩ tới Aspanu. Nhưng y đã nghe thấy tất cả những câu chúng trao đổi với nhau. Y nằm im re, ép sát dưới hố cỏ mọc um tùm, con dao đã rút ra khỏi bao. Y đợi bọn kia chia nhau săn tìm Turi, và y đã phác hoạ một kế hoạch phục kích một trong ba tên, cắt họng nó rồi tước súng. Tâm địa độc ác đã át cả nỗi sợ hãi, đến nỗi y chẳng biết sợ chết là gì nữa. Khi nghe thấy tên buôn lậu đề nghị để hắn đi lôi xác Turi về, y cố ghi sâu vào trí não, để không thể quên được bản mặt thằng khốn nạn đó. Y lấy làm tiếc vì bọn kia đã bỏ đi, để y ở lại.
Y cảm thấy đau nhói khi bọn kia cột con lừa của y vào bầy la và dắt đi.
Nhưng y biết Turi bị thương nặng và cần sự giúp đỡ của y. Y đi vòng khoảng rừng thưa và chạy đến chỗ đám cây mà ông anh họ đã nhảy vào lúc nãy. Không thấy xác Turi nằm đó. Y chạy trở lại con đường mòn chúng đã đi trước đấy. Cũng không thấy dấu tích gì. Y trèo lên mỏm đá cao nhô ra ngoài một chỗ trũng. Dưới đáy chỗ trũng có một vũng máu đọng và phía bên kia có những giọt máu chảy thành hàng còn tươi. Chạy theo vết máu đó, thình lình y thấy Turi nằm vắt ngang đường mòn, bất tỉnh nhân sự, tay vẫn còn nắm khẩu súng lục.
Y quỳ xuống, lượm khẩu súng cài vào thắt lưng. Lúc đó Turi mở mắt ra, đôi mắt còn hừng hực căm hờn, nhưng tránh không nhìn y. Y sụt sịt khóc và ráng nhấc không nổi. “Turi, Turi, ráng đứng dậy, tao sẽ đỡ cho!” Aspanu Pisciota nói. Turi tay chống đất, ráng nhấc thân thể của mình lên. Aspanu choàng tay mặt qua thắt lưng Turi và cảm thấy tay ấm ấm và ướt đẫm. Y rụt tay lại và lật áo sơ – mi của Turi lên. Y kinh hoàng thấy một vết thương hoác miệng chỗ mạng sườn Turi. Y đặt Turi dựa vào gốc cây, xé toạc áo của hắn nhét vào vết thương để cầm máu và cột hai tay áo vào thắt lưng Turi. Tay phải ôm ngang lưng Turi, tay trái nắm tay tay trái Turi vắt ngang vai y và cứ thế cẩn thận kè Turi loạng choạng bước theo đường mòn đi xuống. Đứng ở xa nom như ai đứa đang vừa đi vừa khiêu vũ.
Và, thế là Turi hụt mất hai ngày lễ Kính Thánh Bổn Mạng – Thánh Rosalie – mà nhân dân thị xã Montelepre cầu mong Thánh sẽ làm phép mầu cho thị xã.
Hắn cũng hụt mất cuộc thi đi săn mà chắc chắn hắn sẽ thắng. Hắn cũng hụt mất cuộc đua ngựa, không được xem đốt pháo bông, không được nếm miếng bánh ngon ngọt mà các chị hắn đã làm, cũng không được dự bữa tiệc đính hôn của chị hắn.
Cuộc “thả nọc” giữa con lừa và con la đã không có kết quả. Dân trong thị trấn thất vọng. Nhưng họ đâu biết rằng cũng chính ngày lễ Kính Thánh Bổn Mạng năm sau đã có một phép lạ bằng xương bằng thịt của chàng thanh niên năm trước đã nhấc bổng con lừa lên cho nó “thả nọc” vào con la.
……….
(1) Nguyên văn viết bằng tiếng Ý, bastinado là đòn tra tấn đánh vào gót và gan bàn chân làm cho người bị đòn lúc đó đau thốn, buốt đến tận óc, sau đó bị gãy đầu gối, sưng đầu, chấn thương nội tạng.