This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Có thể gọi những anh em sĩ quan viên chức chế độ cũ, cựu tù nhân chính trị mới sang định cư tại Hoa Kỳ là những kẻ đến sau có lẽ cũng không có gì quá đáng lắm.
Hiện nay đa số anh em thuộc diện này đang gặp nhiều trở ngại trong việc tạo lập cuộc sống mới: trợ cấp bị giới hạn, khó kiếm việc hơn và tuổi tác cao, sức khỏe kém…
Trước hết là vấn đề sinh ngữ. Trừ một số may mắn có thì giờ trau dồi Anh Văn từ lúc còn trẻ mà nay thông thạo, còn đa số anh em ta trước kia bận rộn chiến đấu, làm việc, ít có dịp học thêm sau khi rời ghế nhà trường trung học. Nay sang Mỹ định cư thực sự thì yếu tiếng Anh là một khó khăn khá lớn. Để giải quyết vấn đề này, cần có một ý chí cao. Nếu thực sự thích thú và quả quyết thì tuổi nào cũng vẫn có thể học thêm nhất là khi anh em ta đã có chút ít tiếng Anh căn bản, tuy có thể là chậm hơn lớp trẻ. Những ai đã dạy sinh ngữ trong những năm gần đây ở Việt Nam hẳn đã thấy rất nhiều người trên 60 tuổi vẫn thành công trong lãnh vực này.
Kế đến là vấn đề làm quen với cuộc sống mới. Mới đến một nước lạ hoắc, khác hẳn nước mình về địa lý, cách suy nghĩ, phong tục tập quán, đời sống xã hội, luật lệ… ai mà không ngỡ ngàng. Phải mất một thời gian cả năm sau mới tạm thích ứng với môi trường mới. Về mặt này thì số anh em sang năm 1975 còn ngỡ ngàng hơn, vì đã quyết định rời bỏ tổ quốc ra đi một cách đột ngột. Khi sang tới đây nhiều người đã phải đi làm việc tay chân vất vả và ngay tức khắc mà không được biết đến trợ cấp là gì. Anh em mới sang có một khoảng thời gian ít ra là từ 4 đến 8 năm chờ đợi và do đó đã tự chuẩn bị tinh thần, nên về mặt tâm lý thì có lẽ sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn hơn.
Khó khăn khác là vấn đề sức khỏe. Sau nhiều năm tù đầy cộng với tuổi đời chồng chất thêm 16 năm, ai cũng mang theo từ Việt Nam ít nhất là một bệnh mãn tính. Đa số không còn xốc vác nhanh nhẹn được so với những người cùng lứa tuổi mà không được vinh dự học bài học dài 16 năm – rất giá trị nhưng nếu không bị học thì vẫn tốt hơn. Tuy nhiên, với khí hậu điều hòa hơn, ăn uống có dinh dưỡng cao hơn, có phương tiện trị bệnh tốt hơn, chắc hẳn một phần nào vấn đề bệnh hoạn sẽ được giải quyết tạm ổn thỏa. Đúng ra, vấn đề sức khỏe ở đây là căn bản. Miễn là có đủ sức khỏe, không ai có thể chết đói ở nước Mỹ, trừ phi tự ý tuyệt thực.
Nói về vấn đề nghề nghiệp, thì đa số anh em mới sang không có nghề chuyên môn dùng được ở nước Mỹ. Đi học một nghề mới thì kém sinh ngữ, lớn tuổi, học khó vào. Điều này thì còn tùy thuộc vào cá tính. Cần có kiên nhẫn và chịu cực nhọc, chịu xông xáo. Dĩ nhiên phần đông anh em mới sang đều đã trên 50, ngoài 60… Tuổi già sức yếu, chậm chạp, do đó khó được nhận vào các hãng xưởng khi phải tranh đua với những người trẻ dưới 30. Nhưng khó khăn ấy không phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Một số không nhỏ anh em sang năm 1975 khi họ đã trên 50 tuổi cũng từng phải đương đầu với khó khăn này và họ đều đã vượt qua hoặc lâu hoặc mau mà thôi.
Còn vấn đề kỳ thị thoạt nghe có vẻ lớn, nhưng không phải là khó khăn nan giải. Tâm lý kỳ thị thì ở đâu cũng có. Người da trắng gốc gác khác nhau cũng kỳ thị nhau. Mỹ New England không thích Mỹ Florida vì họ ăn spaghetti bỏ thêm đường. Hồi đầu thế kỷ, người Hung Gia Lợi bị kỳ thị đến độ tàn sát như quỷ dữ. Người Hoa, người Nhật, người Phi Luật Tân cũng từng chịu nạn kỳ thị một thời gian dài… So với họ thì người Việt Nam chưa bị kỳ thị nhiều bằng. Miễn sao chúng ta đừng bị khinh bỉ công khai, bị gây khó khăn trong việc làm … là được.
Hiện nay, một số anh em đang cùng gia đình sống trong những khu vực toàn là người Mỹ, nên gặp những trở ngại về ngôn ngữ, phong tục. Tuy nhiên, trong một thời gian những trở ngại này có thể giảm dần, ngược lại còn có thể có những thuận lợi khác. Người Mỹ tuy sống ồ ạt, bận rộn, chạy theo tiền bạc, có khi thô lỗ… nhưng mỗi gia đình có thể có những truyền thống khác nhau và khi đã quý mến ai thì tận tình giúp đỡ. Tất nhiên khi họ đã ghét ai thì khó mà khôi phục lại cảm tình. Ai ở Mỹ lâu đều thấy rằng chỉ cần tỏ ra thật thà, thẳng thắn, giữ chữ tín, không nói dối, đừng có thái độ quắt quéo vụng trộm, biểu lộ tình cảm theo kiểu Việt Nam, xã giao khéo léo đôi chút…, thì một người Việt có thể trở thành bạn quý, trong một số trường hợp nổi bật, có thể thành thần tượng của cả một khu xóm. Có khi ở chung với Mỹ lại dễ xử hơn.
Giữa những người Việt với nhau, cũng khó tránh khỏi những dị biệt. Người sang trước thì thấy anh em mới sang vóc dáng uể oải, kém năng động, ít xông xáo, vì hậu quả của những năm dài ở trại tù trong và trại tù ngoài, nên có thể lầm tưởng là họ lười biếng, dựa dẫm… Phải mất một thời gian sau nữa khi quen thuộc kha khá với nếp sống mới, tình trạng này mới ổn định được.
Anh em mới sang vô cùng buồn rầu khi thấy cộng đồng Việt Nam chia rẽ, xích mích, nhiều phe phái khích bác và làm hại nhau. Sau những năm tù đầy trong các “đáy đia ngục”, anh em mới sang rất nản lòng vì một số người đi trước có cái nhìn không giống như họ về Cộng Sản.
Thông thường, người Việt Nam trong hoàn cảnh sống tự do thì kém đoàn kết so với một số dân tộc khác. Tuy nhiên nếu tất cả anh em cựu tù chính trị mà tự xây dựng được một tinh thần đoàn kết ở mức độ nào đó thì có thể dần dần tạo nên một chất keo hàn gắn lại những đổ vỡ, rạn nứt của cộng đồng người Việt ở đây. Người viết bài này được nghe một số anh em bày tỏ quan niệm sau đây.
Theo một số anh em thì chúng ta cứ nên tham dự mọi sinh hoạt hội họp nào có lợi cho người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, củng cố tinh thần chống Cộng Sản, xây dựng tương lai cho Cộng đồng Việt Nam… đóng góp dù chút ít cho các hoạt động từ thiện… Đa số các tổ chức từ thiện, xã hội phục vụ cộng đồng nếu ít bị lạm dụng. Nhưng nếu có bị lạm dụng chút ít miễn là đừng quá đáng thì chúng ta vẫn cứ nên tham gia công hay của, vì sự đóng góp sẽ gây được khí thế chung cho tập thể người Việt. Từ đó có thể tạo ra tình đoàn kết. Còn những gì đào sâu hố chia rẽ sẵn có thì nên tránh.
Nếu chúng ta tạo được một khí thế cho người Việt thì tiếng nói chung của cộng đồng Việt Nam tại đây mới có hy vọng được chính quyền Mỹ lưu tâm và trọng nể, và mới có thể giới hạn được những hành vi làm mất uy tín của người Việt chúng ta.
Đối với chính quyền Mỹ, họ tự coi như không có trách nhiệm vật chất với chúng ta mà chỉ có trách nhiệm tinh thần. Ta không hề là quân nhân hay công chức Mỹ thì họ không có trách nhiệm về lương bổng với chúng ta. Ta cũng chẳng nên quá trông cậy vào lòng từ thiện của họ. Lòng từ thiện ở Mỹ cũng bị kế hoạch hóa, tình thương tùy thuộc vào số thuế thu được hàng năm. Họ chịu nhận đông đảo anh em sang đây đã là tử tế lắm rồi. Ngay giữa người Việt với nhau, giữa anh em ruột thịt với nhau mà có khi còn chẳng được giúp đỡ gì, nói chi người bên ngoài.
Trước những khó khăn hiện tại, anh em mới sang có một số thuận lợi, đó là con cái. Những năm sống dưới gông cùm Cộng Sản làm chúng bị thiệt thòi về học vấn, nhưng lại khiến chúng có khả năng để chịu đựng khó khăn để vươn lên, nhất là chúng còn “Việt Nam” hơn bạn bè chúng đã sang Mỹ từ lâu. Nhiều anh em sang trước đây thấy cảnh gần gũi thân mật trong gia đình anh em mới sang tỏ ra rất thích thú. Một người bạn đi từ năm 1975 đã nói với người viết bài này rằng:
– Con tao có được dạy dỗ kỹ lắm thì cũng chỉ có thể là một thằng Mỹ ngoan, nhưng khó có thể là một thằng Việt Nam ngoan như con chúng mày, một mơ ước mà tao không đạt được.
Con cái là niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta, lý do chính khiến chúng ta bỏ nước mà đi. Một tờ báo Mỹ năm 1985 đã nói đại khái rằng “số con cái của đông đảo gia đình các thành phần tị nạn Đông Dương sẽ được nhận vào Hoa Kỳ trong những năm sau đây, sẽ làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của nước Mỹ trong các thập niên tới…” Lời tiên đoán ấy chắc sẽ được thực hiện miễn là bố mẹ chúng nó không sớm ngã lòng.
☆
Nói tóm lại, thì tuy có nhiều khó khăn trước mắt, nhưng với thời gian đa số sẽ được giải quyết lâu hay mau là tùy từng người. Những bạn nào đọc mấy dòng này mà sau ít năm ổn định được cuộc sống hoặc thành công dù lớn dù nhỏ ở quê hương mới xứ cờ hoa này, xin nhớ ban cho kẻ viết bài này một câu: “thằng ấy nói có phần đúng!” Đó là nhuận bút cao nhất mà kẻ hèn này mong được trả.
Sau khi hai chiếc ghe công an biên phòng đã khuất dạng, để cho chắc ăn, ghe chúng tôi tiếp tục đi về hướng Phan Thiết khoảng nửa tiếng đồng hồ nữa rồi mới lấy hướng đông-đông-nam (120 độ) để đi ra hải phận quốc tế.
Với vận tốc ghe chỉ khoảng 10 cây số/giờ và dựa theo tấm hải đồ biển Đông tôi đã thuộc lòng, sau khoảng hai tiếng đồng hồ, tôi tin rằng ghe đã ra tới hải phận quốc tế, và theo dự định, từ đây chúng tôi bắt đầu lấy hướng nam-đông-nam (165 độ) để đi tới đảo Laut trong hải phận Nam Dương.
Lúc này đã quá trưa ngày 16/10/1981, biển khá êm, gió nhẹ. Theo phương cách học được từ Khiêm, tôi lấy hướng gió và tính độ giạt. Gió bắc-tây-bắc, thật lý tưởng, độ giạt khoảng +15 độ cộng với 165 thành 180 độ, tức hướng chính nam.
Mọi người trong khoang thay phiên nhau ra ngoài để hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người, suýt nữa tôi bật cười: mặt ai cũng đen như bôi nhọ nồi vì bị bám khói dầu cặn của máy ghe. Lúc này tôi mới biết chính xác trên ghe có tổng cộng 26 nhân mạng, gồm 15 người của gia đình chị vợ, gia đình tôi, gia đình ông anh họ, 2 người khách, 7 người của hai gia đình lo bãi bến, tài công Lý và chú bé canh me.
Hai người lo bãi bến, Tiến và Trung, là hai anh em cột chèo, cả hai đi cùng với vợ và một, hai đứa em nhỏ. Ngay lúc đó tôi không hề để ý tới việc vợ Trung đang có bầu, chỉ sau này nghe bà chị vợ càm ràm “ghe vượt biên mà có bà bầu là xui tận mạng”, đã vậy Tốt – vợ của Trung – còn là người dạn dĩ, khỏe mạnh và vô tư, thích ngồi trước mũi ghe ngắm sóng nước trời mây, khiến bà chị vợ tôi càng thêm ngứa mắt, lo ngại! Chỉ có một người duy nhất không ra khỏi ca-bin: cô vợ yêu quý của tôi, từ lúc ghe ra khơi cứ nằm liệt một chỗ!
Nguyên vợ tôi có máu say xe, say máy bay từ nhỏ. Còn nhớ lần đầu tiên đi máy bay, từ Tân Sơn Nhất ra Pleiku sau ngày cưới, mặc dù đi C-130 của Mỹ, loại phi cơ vận tải quân sự bay êm nhất thời bấy giờ, khi bước xuống nàng cũng như một cái xác không hồn! Thê thảm nhất là lần đi chơi Đà Lạt năm 1971 bằng trực thăng UH-1.
Nguyên vào khoảng thời gian này, Không Quân VNCH đang gấp rút thành lập thêm các phi đoàn trực thăng để tiếp nhận phi cơ do người Mỹ bàn giao trước khi họ rút quân về nước. Hàng trăm phi công trực thăng trẻ được đào tạo tại Hoa Kỳ trở về VN chưa có một chút kinh nghiệm thực tế, cho nên ngoài việc ngồi ghế phi công phụ trong các phi vụ hành quân, họ còn phải bay các phi vụ huấn luyện, liên lạc (không tác chiến) cho vững tay nghề.
Một số phi vụ huấn luyện, liên lạc ấy đã được các vị chỉ huy phối hợp với những nhu cầu – có hoặc không có “trên giấy tờ” – của đơn vị. Một trong những nhu cầu “không có trên giấy tờ” ấy là cho các quân nhân trong đơn vị về phép thăm nhà hoặc đi du ngoạn.
Lần đó, có hai bà vợ của hai phi công khu trục, một Thiếu tá một Đại úy của Phi Đoàn 530 ra Pleiku thăm chồng, hai người lại là hai chị em ruột nên ông Trung tá Liên đoàn trưởng sắp xếp một phi vụ huấn luyện đi Đà Lạt, với bốn cặp quá giang trong đó có vợ chồng tôi.
Lúc đi cũng không đến nỗi nào, vợ tôi chỉ “ngất ngư” suốt chuyến bay, nhưng sau khi tới nơi, ăn trưa ở nhà hàng Mekong rồi đi chơi vòng vòng, lúc về ói tới mật xanh mật vàng khiến mọi người mất vui.
Từ ngày ấy cho tới khi rời Pleiku vào Mùa hè đỏ lửa (1972), vợ tôi không bao giờ bước chân lên phi cơ nữa! Cũng may, trong cuộc di tản dân chúng vào tháng 3, tháng 4 năm ấy (vì sợ quân Cộng Sản Bắc Việt sẽ tiến về Pleilu một khi chiếm được Kontum), Không Lực Hoa Kỳ đã yểm trợ một số phi vụ C-141, là loại vận tải phản lực lớn nhất, bay nhanh nhất thời bấy giờ, cho nên vợ tôi, khi ấy đang mang bầu đứa con thứ hai, mới đủ sức “lết” về tới Sài Gòn!…
* * *
Khoảng 3, 4 giờ chiều, chúng tôi thấy một chiếc tàu chở hàng khá lớn ở xa xa, đi ngược chiều, tức là lên hướng bắc-đông-bắc; một hồi sau, thấy thêm chiếc thứ hai, rồi chiếc thứ ba, cũng đi ngược chiều, tôi biết ghe đã ra tới gần tuyến hải hành nam-bắc, bắc-nam của tàu buôn quốc tế.
Mọi người trên ghe xôn xao, hy vọng sẽ được tàu buôn vớt như những gì đã được nghe qua chương trình tiếng Việt của đài BBC, đài VOA trong thời gian gần đây.
Cũng nên biết, trước việc người tỵ nạn Đông Dương, đa số là người Việt, bỏ nước ra đi ngày càng đông, đưa tới những thảm cảnh trên biển cả và tạo khó khăn cho các quốc gia Đông Nam Á đang cho thuyền nhân tạm trú, vào tháng 7 năm 1979, Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) trụ sở đặt tại Geneva, đã tổ chức một hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương.
Kết quả, khoảng 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đã đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận mỗi năm – từ 125.000 lên 260.000 – và đóng góp thêm vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ. Nhờ vậy, năm quốc gia Đông Nam Á đang cho người tỵ nạn tạm trú là Nam Dương, Singapore, Mã Lai, Thái Lan và Phi-luật-tân đã đồng ý gia tăng tổng số thuyền nhân tại các trại tạm trú.
Đồng thời Cao ủy Tỵ nạn cũng kêu gọi tàu bè của các quốc gia này quan tâm hơn tới việc cứu vớt thuyền nhân lênh đênh trên biển cả. Kết quả ngày càng có nhiều người được tàu vớt.
Những chiếc ghe may mắn được tàu buôn cứu vớt (hình: Cao ủy Tỵ nạn LHQ)
Rồi chiếc tàu thứ tư, thứ năm xuất hiện, cũng đi ngược chiều. Sau khi bàn bạc với nhau, chúng tôi quyết định bẻ lái chếch sang hướng đông, tiến sát vào lộ trình của tàu buôn, cho đàn bà con nít ra ngồi trên nóc ca-bin, và giữ khoảng cách khoảng 500 mét – khoảng cách mà tôi nghĩ không cần sử dụng ống nhòm, hoa tiêu trên tàu cũng nhìn thấy chiếc ghe của chúng tôi.
Và để họ hiểu rằng chúng tôi mong muốn được cứu vớt, chúng tôi cho ghe chạy thật chậm, gần như dừng hẳn, và lấy cây sào có cột cái áo thun trắng (mà chúng tôi đã chuẩn bị sẵn) phất lia lịa.
Nhưng rồi tổng cộng hơn 10 chiếc tàu đi ngang qua mà không chiếc nào dòm ngó tới con thuyền tỵ nạn!
Khi hoàng hôn sắp buông xuống, chúng tôi quyết định “chơi bạo”: đón đầu chiếc tàu đang tiến tới bằng cách nhắm thẳng vào phía mũi tàu. Tới khi nhận ra rằng chiếc tàu vẫn giữ nguyên tốc độ xông tới, tôi hoảng hốt nói tài công Lý bẻ lái gấp sang phía tay mặt để tránh, vậy mà sau đó sóng từ mũi tàu cũng khiến chiếc ghe của chúng tôi tròng trành muốn lật!
Hú hồn! Từ lúc đó, chúng tôi không dám tiến tới sát những con tàu nữa, trừ chiếc cuối cùng vào chiều tối hôm đó: một chiếc du thuyền sang trọng.
Lúc đó trời bắt đầu tối, chúng tôi thấy một chiếc tàu lớn sơn màu trắng (hay xám nhạt) tiến tới với tốc độ khá chậm; tới gần, tôi nhận ra đây là một chiếc du thuyền sang trọng, đèn đuốc sáng trưng. Hy vọng vị thuyền trưởng và thủy thủ trên một chiếc du thuyền sẽ dễ động lòng thương cảm hơn những nhân viên trên tàu buôn, chúng tôi cho ghe tiến tới thật gần – gần tới mức tôi có thể nghe được tiếng nhạc và nhìn thấy những bóng người dưới ánh đèn màu.
Tôi cho ghe ngừng lại, bấm đèn pin làm hiệu SOS; nhưng trước sau chỉ có vài người đứng tựa lan can nhìn xuống, dửng dưng!
Khi chiếc du thuyền xa dần, ánh đèn màu mờ dần, lòng tôi cảm thấy chán nản cùng cực trước sự vô cảm của đồng loại; mọi người trên ghe có lẽ cũng có cùng cảm nghĩ ấy, dù không ai thốt nên lời!
Sau đó, chúng tôi quyết định rời lộ trình của tàu bè quốc tế, lấy lại hướng cũ: đảo Laut của Nam Dương.
* * *
Gần nửa đêm, trăng đã chếch về hướng tây nhưng vẫn còn đủ sáng lấp lánh trên từng ngọn sóng. Nhẩm tính trong đầu, tôi đoán ghe đã đi được khoảng ¼ của cuộc hành trình 700 km từ Vũng Tàu tới điểm gần (Việt Nam) nhất của hải phận Nam Dương: đảo Laut.
Nếu tôi tính toán chính xác thì lúc này ghe đang đi ngang quần đảo Côn Sơn. Dù không thấy gì ở cuối chân trời tối đen, tôi cũng nhìn đăm đăm về hướng tây như thể nhìn đất nước Việt Nam lần cuối…
Rồi tôi nằm trên sàn ghe ngủ thiếp đi lúc nào không hay, khi giật mình thức dậy thì đã 2, 3 giờ sáng, Tiến đang lái ghe cho Lý ngủ, ông anh cột chèo của tôi giữ hướng.
Nhìn lên trời, tôi thấy sao Nam Tào (Southern Cross) ngay phía trên đầu, liền lấy cái địa bàn bộ binh so hướng thì thấy sao chỉ hướng 170 độ. Tôi cố khắc ghi vào đầu giờ giấc xuất hiện và độ lệch của sao để đề phòng trường hợp bị mất phương hướng.
Sáng hôm sau, 17/10/1981, biển vẫn êm, trời quang đãng, gió bắc-tây-bắc thổi nhẹ, ghe tiếp tục lấy hướng 180 độ.
Khi mặt trời đã lên cao, chúng tôi lại thấy những chiếc tàu buôn ở xa xa phía bên tay trái, đa số di chuyển theo hướng nam-bắc. Tôi chợt nhớ lại chi tiết trên tấm hải đồ biển Đông mà tôi đã thuộc lòng và đoán mò rằng sau một đêm đi theo hướng 180 độ, ghe chúng tôi đã tái nhập vào tuyến hải hành nam-bắc của tàu bè quốc tế.
Mặc dù vào chiều hôm qua đã bị thất vọng não nề trước sự dửng dưng của hơn 10 con tàu, giờ đây chúng tôi cũng cố gắng thử vận may thêm một lần nữa, cho ghe bẻ hướng trái tiến sát vào đường đi của tàu bè, cho đàn bà con trẻ ra ngồi trên ca-bin, cho ghe chạy thật chậm, và đưa “cây sào SOS” lên vẫy.
Nhưng rồi một chiếc, hai chiếc, ba chiếc…, cuối cùng, cũng giống như chiều hôm qua, cả chục chiếc tàu đi ngang qua mà không một chiếc nào dừng lại!
* * *
Tới trưa, khi chúng tôi đã hoàn toàn hết hy vọng được tàu vớt thì mây đen bắt đầu kéo tới cùng với gió lạnh. Ông anh họ vợ nói với tôi “Chắc sắp có bão chú ạ”. Lúc này tôi mới chợt nhớ ra rằng chúng tôi ra đi vào giữa mùa bão.
Theo kinh nghiệm dân gian, “tháng Ba bà già đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch (khoảng tháng Tư dương lịch) là thời điểm biển Đông êm nhất. Vì thế lúc ban đầu, ông anh cột chèo đã dự tính sẽ ra đi vào đầu năm 1982, khi biển đã bắt đầu êm, nhưng vì những nguyên nhân tôi đã đề cập tới, ông đã quyết định ra đi vào giữa mùa bão.
Mùa bão ở biển Đông nói chung, vùng duyên hải Việt Nam nói riêng, bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 dương lịch, trong đó ba tháng 8, 9, 10 là thời gian có bão thường xuyên nhất, và mạnh nhất. Chỉ mấy phút sau khi ông anh họ vợ báo động, mây đen đã phủ kín bầu trời, gió ngược, tức gió nam-tây-nam thổi càng lúc càng mạnh, biển động dữ dội với những con sóng cao khoảng 2 mét chồm tới phủ lên mũi ghe.
Tất cả mọi người đã vào trong khoang, chỉ còn lại tôi, tài công Lý, và hai ông anh. Lúc này là lúc một người tài công kinh nghiệm chứng tỏ bản lĩnh của mình, trong đó quan trọng nhất là “gối sóng”, làm sao để những con sóng tung chiếc ghe lên chứ không dìm xuống hoặc lật ngang; và Lý đã cho thấy chú là một tài công giỏi và có sức mạnh hơn người (để giữ vững lái).
Về phần mình, tôi cố gắng giữ phương hướng nhưng vô ích; tôi có cảm tưởng chiếc ghe đang bị trôi giạt mà không biết trôi về phương nào, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn với gió ngược, chiếc ghe đã không tiến về phương nam!
Phước đức ông bà, khoảng 4, 5 giờ chiều, mặc dù mây đen vẫn giăng kín, sức gió giảm bớt một cách đáng kể, sóng không còn phủ lên mũi ghe nữa…
Tôi hỏi tài công Lý về những gì vừa trải qua và kinh nghiệm của bản thân chú thì chú cho biết đây là lần đầu tiên mình gặp bão lớn như thế, vì trước đây trong những lần theo ghe đánh cá đi biển, gặp bão cấp 1 là đã lo quay vào bờ rồi. Còn cơn bão chúng tôi vừa trải qua, chú đoán phải là cấp 2 trở lên.
Cho tới lúc ấy, toàn bộ kiến thức về bão của tôi chỉ là câu nói dân gian “tháng Ba bà gìa đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch, biển êm nhất; còn về “cấp bão” thì tôi không có một chút ý niệm nào cả, ông anh họ vợ nói “đánh” vào tháng 10 dương lịch là đúng vào mùa bão thì tôi chỉ biết sẽ gặp bão, chứ không hề biết bão có mấy “cấp”, và cường độ của mỗi cấp ra sao.
Chỉ sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết ngày ấy ở Việt Nam người ta chia bão (storm) ra làm 5 cấp, với sức gió từ 100 lên tới 200 cây số/giờ.
Như vậy, ngày ấy khi gặp cơn bão cấp 2 (như Lý nói) thì chiếc ghe 7 mét rưỡi của chúng tôi đã phải chịu đựng sức gió khoảng 140-150 cây số/giờ.
* * *
Tôi vào trong khoang xem tình hình của vợ con thì thấy vợ tôi nằm sõng soài trên mặt ván, chiếm mất khoảng 1/5 diện tích sàn ghe của 20 người lớn lẫn trẻ con; hai đứa con thì thằng con trai không khá gì hơn mẹ, đứa con gái tuy tỉnh táo hơn nhưng mặt cũng tái mét vì sợ hãi.
Lợi dụng lúc bớt sóng gió, một số người còn đủ sức để ăn đã lấy lương khô ra dằn bụng. Tôi không biết những chiếc ghe “nhà giàu” khi vượt biên họ mang theo những loại lương khô gì, còn ghe của chúng tôi chỉ có bánh bích-quy (biscuit), mì khô (mì ăn liền), và thính gạo rang.
Bánh bích-quy “xã hội chủ nghĩa”, như những ai ở lại Việt Nam sau năm 1975 còn nhớ, có lẽ không còn từ nào khác để mô tả hơn là hai chữ “khủng khiếp”: bột mì Liên Xô hôi mốc, đường hóa học đắng nghét, mùi bột va-ni rẻ tiền nồng nặc, chỉ có con nít không biết gì mới ăn!
Vì thế, giữa bánh bích-quy và mì khô tôi dứt khoát chọn mì khô!
Mì khô ở đây là mì ăn liền dưới dạng mì vụn. Lần đầu tiên tôi được thấy mì vụn ăn liền là trong thời gian tù cải tạo ở Phước Long (1977-1978), được một số thân nhân đem lên tiếp tế cho tù cải tạo trong các dịp thăm nuôi.
Mặt hàng này xuất hiện trên thị trường chợ đen sau khi các hãng mì ăn liền ở Sài Gòn bị đưa vào tập thể, hoặc bị nhà nước tịch thu trong các đợt đánh tư sản sau năm 1975.
Lúc ban đầu, mì vụn được xem là một “phế phẩm” của các xí nghiệp quốc doanh, được phân phối cho công nhân viên với giá rẻ, để họ có thêm một nguồn lương thực ngoài tiêu chuẩn.
Cũng nên biết khoảng thời gian này được cộng sản Việt Nam gọi là thời kỳ “bao cấp”, còn người dân thì gọi một cách dễ hiểu là thời kỳ “ngăn sông cấm chợ”, khởi đầu từ năm 1976 cho tới năm 1986, thời gian Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “Đổi mới”.
Trong giai đoạn này, tất cả mọi sinh hoạt kinh tế, sản xuất đều do nhà nước nắm giữ, tất cả mọi loại hàng hóa, nhu yếu phẩm đều được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền ban phát. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm, hàng hóa theo đầu người.
Chính vì nhà nước trở thành chủ nhân ông, nắm giữ toàn bộ sản phẩm cho nên người dân chẳng ai dại dột làm hết sức mình; và cũng chính vì nhà nước nắm toàn quyền phân phối cho nên không phải người dân nào cũng được hưởng tiêu chuẩn như nhau.
Hậu quả là hàng chục triệu người dân miền Nam lâm vào cảnh thiếu thốn, đói khổ. Những ai đã từng sống vào thời kỳ bao cấp này hẳn không thể nào quên được cái đói của người dân miền Nam, nhất là trong nạn đói năm 1979, khi nông dân miền Nam – nơi mà vào thời đệ nhất cộng hòa từng được xưng tụng là vựa lúa của Đông Nam Á – nhiều người đã phải ăn củ hoang rau dại để khỏi chết đói (theo tường thuật trên báo Tuổi Trẻ của thành Hồ)!
Trở lại với “phế phẩm” mì ăn liền của của các xí nghiệp quốc doanh, trước năm 1975 chưa ai nghe nói tới, bởi vì mì gói ăn liền được làm hoàn toàn bằng máy – từ lúc trộn bột tới lúc đóng gói, thì làm gì có “phế phẩm”, nhưng nay chẳng hiểu tại sao trong lúc sấy khô trước khi được đóng gói, mì cứ bị… nát vụn; để rồi số lượng mì nát vụn này được gom lại để phân phối cho công nhân trong xí nghiệp với giá rất tượng trưng!
Dĩ nhiên, đám cán bộ lãnh đạo xí nghiệp dư sức biết tại sao mì lại bị nát vụn nhiều đến như thế, nhưng thời “bao cấp” mà, cha chung không ai khóc, tội vạ gì kiếm chuyện với công nhân!
Bên cạnh đó, sau khi một số công nhân đem phần mì vụn của mình bán cho người khác, đưa tới việc mì vụn trở thành một mặt hàng mới trên thị trường chợ đen thì đám cán bộ lãnh đạo cũng tìm cách tuồn mì vụn ra thị trường, dĩ nhiên với một quy mô lớn hơn!
Mặt hàng này rất được thân nhân tù cải tạo và dân vượt biên ưa chuộng.
Trước hết nói về tù cải tạo. Trong hoàn cảnh đói khổ, thiếu thốn, nhiều khi chỉ có muối hột, ở Phước Long mì vụn được chúng tôi sử dụng để “nêm” canh nấu bằng các loạu rau trồng được hoặc chôm chĩa từ vườn rau của bộ đội.
Chỉ có ở trong trại cải tạo người ta mới thấy được công dụng tuyệt vời của một nắm mì vụn: sau khi nồi canh rau muống, rau dền, mồng tơi, mướp… được nấu chín, bỏ vào một mắm mì vụn thì nó trở nên đậm đà ngon ngọt như thể được nấu với tôm khô vậy!
Còn với dân vượt biên nhà nghèo, mì vụn là loại lương khô phổ biến, tiện lợi nhất bởi vì có thể bỏ vào mồm nhai, không cần phải nấu nướng gì cả!
Số lượng mì vụn bà chị vợ mang theo cho hai gia đình (hai chị em) dự trù cho năm ngày, sau đó nếu vẫn chưa tới đảo, vẫn chưa được tàu vớt, chúng tôi sẽ phải ăn thính gạo rang.
Thực ra trong nền ẩm thực của người Việt, thính không phải là một món ăn mà chỉ là một loại “gia vị” không thể thiếu trong những món nem, hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho các món bê thui, gỏi cá, hoặc pha các loại mắm như: mắm tôm, mắm tép, mắm ruốc…
Chỉ tới khi có phong trào vượt biên, thính mới được một số người trộn đường để làm thực phẩm dự trữ, vì có thể để lâu cả tháng trời mà không bị hư.
* * *
Ăn xong mấy bốc mì khô, uống vài ngụm nước, tôi trở ra ngoài ghe thì trời đã tối đen như mực. Vừa hút xong điếu thuốc Hoa Mai khét lẹt thì mưa giông bắt đầu kéo tới. Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng cao, và chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn toàn mất phương hướng. Nhưng trong hoàn cảnh nguy ngập này, giữ hướng chỉ là chuyện phụ, việc chính là giữ cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. Lúc ban ngày, Lý còn nhìn thấy những con sóng để bẻ lái “gối sóng”, tức là tránh để sóng đánh ngang vào mạn thuyền, nhưng giờ đây trên trời dưới biển chỉ là màu đen kịt…
Chiếc ghe 7 mét rưỡi lúc thì bị tung lên cao, lúc như muốn lật ngang, sóng phủ lên ghe khiến bốn người chúng tôi – Lý, tôi, ông anh cột chèo, ông anh họ vợ – ướt sũng.
Ảnh minh họa: một chiếc ghe đánh cá hiện đại, dài 15 mét, đang “gối sóng” trong một cơn bão nhẹ trên biển Đông (nguồn: Internet)
Bỗng ông anh họ vợ chui vào trong khoang rồi trở ra ngay. Sau này vợ tôi kể lại ông vào chỉ để nói một câu ngắn gọn khiến mọi người bủn rủn tay chân: “Các cô ạ, cầu nguyện đi!”
Trong bối cảnh này, mặc dù hai chữ “cầu nguyện” vừa được hiểu là cầu nguyện để xin Thiên Chúa phù hộ vừa có nghĩa là đọc kinh sám hối để chuẩn bị chết, còn được gọi là “phó linh hồn”, nhưng ai cũng hiểu theo nghĩa thứ hai! Bởi vì ông anh họ vợ hồi còn ở ngoài Bắc đã từng theo ghe ra đánh cá ngoài biển, hẳn phải là người có kinh nghiệm, nay ông nói mọi người cầu nguyện thì phải hiểu là chiếc ghe của chúng tôi khó lòng qua khỏi cơn bão này!
Lẽ ra, ông anh họ vợ tôi không nên thốt ra câu đó, bởi vì nó chỉ khiến mọi người trong khoang thêm bấn loạn, chẳng ích lợi gì!
Sau này, bà chị vợ tôi và một số người ở trong khoang kể lại rằng mọi người chỉ âm thầm cầu nguyện nhưng có lúc họ lại nghe thấy “tiếng đọc kinh rõ mồn một” từ một nơi nào đó vọng lại, khiến họ càng thêm sợ hãi; có người còn tin rằng đây là tiếng cầu kinh của oan hồn những người đã chết trên biển Đông. Nhưng tôi không tin, cho đó chỉ là óc tưởng tượng của họ khi nghe tiếng gió rít, tiếng sóng biển gào thét.
Riêng tôi, mặc dù lúc ấy không biết ông anh họ vợ tôi nói gì với mọi người trong khoang, cũng nghĩ tới cái chết trước mắt, giống như trước đó hơn 3 năm khi bị sốt rét rừng ở Phước Long, tôi đã nghĩ tới. Có khác chăng là lúc này tôi cảm thấy lòng mình bình thản hơn nhiều.
Ngày nằm chờ chết ở Phước Long, mặc dù đã phó thác mọi sự cho Đấng tối cao, tôi vẫn không thể yên tâm khi nhớ tới gia đình bé nhỏ của mình. Vợ con tôi rồi đây sẽ đói no ra sao, tương lai của các con dưới một chế độ đang tìm mọi cách trả thù những người ngã ngựa sẽ đi về đâu…
Còn giờ đây nếu chết, tôi sẽ chết cùng với vợ con. Dĩ nhiên không ai muốn chết cả, nhưng nếu phải chết thì tốt nhất là chết mà không phải bận tâm, lo lắng cho những người thân yêu mình bỏ lại.
Rồi, cũng giống như ở Phước Long trước đây, tôi kiểm điểm lại bản thân lần cuối để tâm hồn được thanh thản.
* * *
Trong phần đầu của thiên hồi ký này, tôi đã thú nhận mình chỉ tìm lại được niềm tin vào tôn giáo sau khi bị đi tù cải tạo. Trước kia, tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, tôi không hề ý thức mình là một “con chiên” của Chúa để sống sao cho xứng đáng. Biểu hiện duy nhất để mọi người biết tôi là người Công giáo hoàn toàn mang tính cách hình thức: đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ nhật, nhưng đi do thói quen, hoặc bị mẹ, bà ngoại, và sau này là vợ bắt đi mà thôi!
Nhưng thực ra tôi vẫn ‘tin đạo” chỉ không “giữ đạo”, nghĩa là không chịu tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh” mà thôi. Vì tin đạo cho nên mỗi khi gặp hoạn nạn hoặc lâm vào hoàn cảnh khó khăn tuyệt vọng, tôi thường “cầu cứu” Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng. Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng sau gần 2 năm đi “bụi”, bỏ học trọn năm Đệ Tam, chỉ học nửa năm Đệ Nhị rồi tự nộp đơn xin thi tự do mà tôi vẫn đậu được cái bằng Tú Tài 1 ban B là do “phép lạ” của Đức Mẹ và Thánh Mác-tin (St Martin de Porres). Nhờ đó, tôi mới giật mình tu tỉnh, sau này cũng lấy được cái bằng Tú Tài 2 ban A rồi vào trường Luật.
Nhưng sau khi vào quân đội thì tôi lại ngựa quen đường cũ, thậm chí còn tệ hại hơn thời học sinh sinh viên vì môi trường tứ đổ tường trong cuộc sống quân ngũ!
Chỉ sau cuộc đổi đời năm 1975, bị đưa vào trại cải tạo, sống trong cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, tôi mới có cơ hội tìm lại niềm tin tôn giáo, để có đủ sức mạnh tinh thần vượt qua và sẵn sàng chấp nhận cái chết có thể đến với mình – tai nạn, bệnh tật, thậm chí bị bắn bỏ…
Tới khi bị sốt rét rừng Phước Long, tin rằng mình sẽ không qua khỏi, tôi kiểm điểm lại bản thân, thành tâm ăn năn sám hối về mọi lỗi lầm trong đời, và cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm.
Giờ đây cũng thế, đối diện với tử thần, tâm hồn tôi thật thanh thản!
* * *
Mặc dù cả bầu trời lẫn mặt biển tối đen như mực, không thể nhìn thấy các ngọn sóng, nhưng so với sức gió lúc ban chiều mà Lý nói là bão cấp 2, tôi đoán giờ đây chúng tôi đang gặp bão cấp 3. Sức gió, tiếng sóng thật khủng khiếp, muốn nói điều gì, chúng tôi phải hét vào tai nhau.
Vào khoảng 10 giờ đêm, Tiến – một trong hai thanh niên lo bãi bến và cũng là tài công phụ – từ trong khoang chui ra hốt hoảng báo cho ông anh cột chèo của tôi biết sàn ghe đã bị ngập nước. Cả hai ông anh vội vã bỏ vào trong lấy đèn pin soi thì thấy tất cả mọi người đều đang ngồi xổm. Ông anh cột chèo vội chui xuống khoang đặt máy ghe thì hỡi ôi, nước đã lên tới 1/3.
Ông anh đoán có những mép ván ở đáy ghe bị hở do bị sóng đánh quá mạnh, và nước biển đã vào ghe qua những kẽ hở này. Lúc ban ngày, khi bị bão lần thứ nhất, ông anh chưa thấy nước trong khoang máy, như vậy nước mới vào từ lúc bị cơn bão thứ hai.
Giải pháp trước mắt là tát nước. Thế là Tiến – cậu bé canh me mà sau này chúng tôi gọi là Tiến “con” – được phân công cùng với Trung, em cột chèo của Tiến, lấy xô múc nước trong khoang máy chuyền tay nhau đổ ra ngoài.
Khoảng 15 phút sau, sàn gỗ trong khoang của đàn bà con nít đã hết ngập, như vậy tốc độ nước vào ghe cũng không nhanh, suy ra chỗ ván bị hở cũng không lớn lắm. Sau nửa giờ đồng hồ, nước trong khoang máy đã gần cạn. Từ lúc đó cho tới khi cuộc hành trình kết thúc, Tiến “con” được trao trách nhiệm canh chừng mực nước trong khoang máy, khi nào thấy đủ để lấy xô múc thì tự động làm bổn phận.
* * *
Cuối cùng, cơn bão thứ hai mà tôi đoán tối thiểu phải là cấp 3 đã không đủ sức đánh bể hoặc nhận chìm chiếc ghe bầu 7 mét rưỡi; và tới khoảng 4 giờ sáng ngày 18/10/1981, bắt đầu giảm cường độ, tới 5 giờ sáng thì chấm dứt. Tới lúc đó tôi cũng cảm thấy hoàn toàn kiệt lực, vào trong khoang lấy một bộ quần áo khô ra thay, giao cái địa bàn cho ông anh cột chèo rồi lăn ra ngủ phía mũi ghe. Lý cũng giao cho Tiến lái ghe rồi nằm ngủ cạnh tôi…
Khi tôi giật mình thức dậy thì đã 7, 8 giờ sáng. Biển chỉ động nhẹ nhưng mây đen vẫn giăng kín tứ phương. Lý cũng đã thức từ hồi nào và đang bẻ lái. Ông anh cột chèo giao lại cái địa bàn cho tôi rồi vào chui vào trong khoang. Ông không nói một lời nào nhưng tôi biết ông đã suy sụp, tinh thần cũng như thể xác, sau gần một ngày chống chọi với hai cơn bão.
Tôi không biết trong lòng ông có ân hận vì đã quyết định “đánh” vào giữa mùa bão hay không, nhưng qua quan sát thái độ im lặng, nét mặt không còn cảm xúc của ông, tôi rất ái ngại, tự nhủ lòng cố gắng san sẻ trách nhiệm với ông…Khoảng 9, 10 giờ sáng, tiếng sấm rền bắt đầu vọng lại từ hướng tây, mây càng lúc càng dày và thấp, gió càng lúc càng mạnh. Ông anh họ vợ tới bên cạnh tôi, nói vừa đủ nghe:
– Sắp bão nữa chú ạ!
Sau hai trận bão, giờ này tôi đã hoàn toàn tin lời nhà dự đoán thời tiết này. Tôi hỏi lại:
– Có mạnh bằng đêm qua không anh?
– Tôi đoán cũng tầm đó… Nhưng ban ngày đỡ lo hơn vì mình nhìn thấy sóng.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, cơn bão tới, không biết sức gió có mạnh bằng hồi đêm hay không nhưng qua so sánh chiều cao của các ngọn sóng tôi biết chắc chắn phải dữ dội hơn chiều hôm trước, tức là từ cấp 3 trở lên!
Mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng tung lên cao, đứng ở mũi nhìn xuống, tôi thấy cả một vực thẳm hãi hùng trước mặt mà đêm hôm qua tôi không thể nhìn thấy trong màn đêm tối đen. Lúc này, lo sợ trong lòng tôi mới lên tới cực điểm.
Trước chuyến vượt biên, tôi mới đi biển tổng cộng ba lần trong đời. Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954 trên một chiếc tàu vận tải lớn của Hải Quân Hoa Kỳ, lần thứ hai khi bị đưa từ Tân Cảng (Sài Gòn) ra đảo Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm HQ-405 của VNCH để lại, lần thứ ba khi bị đưa từ Phú Quốc về đất liền trên chiếc dương vận hạm HQ-501, cũng của VNCH để lại.
Trong ba lần nói trên, chỉ có chuyến đi ra Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm hạng trung (HQ-405) gặp bão, sau này tôi đoán là bão cấp 2. Tôi còn nhớ con tàu bị sóng ngang đánh mạnh nhiều lúc tưởng như muốn lật, nhưng vì ngồi dưới sàn tàu không nhìn thấy mặt biển nên tôi không có cảm giác sợ hãi như trong chuyến vượt biên sau này.
Cũng như chiều hôm trước, giờ đây việc giữ hướng của tôi tạm dẹp sang một bên, việc trước mắt là bẻ lái sao cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. An nguy của 26 mạng người hoàn toàn tùy thuộc vào sức chịu đựng của chiếc ghe và tài “gối sóng” của Lý.
Mặc dù trong lòng đã dứt khoát chấp nhận cái chết nếu mình “tới số”, mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng hất tung lên, tôi lại nhắm mắt lại, đợi cho ghe lao xuống vực thẳm rồi trồi lên, mới dám mở mắt ra! Nhưng trong khi nhắm mắt, tôi lại phải cố lắng tai nghe xem có tiếng động lạ nào không; nói trắng ra là chiếc ghe có bị sóng đánh vỡ hay chưa!
Tới lúc đó, tôi mới thấy việc tôi và ông anh họ vợ bỏ bao công sức ra để đóng thêm hai công đà cho chiếc ghe bầu đã sắp mục nát không uổng phí một chút nào. Thật vậy, không chỉ mình tôi mà cả hai ông anh sau này hồi tưởng lại đều đồng ý với tôi rằng nếu không đóng thêm hai công đà ấy, chắc hẳn chiếc ghe đã bị sóng đánh bể nát trong đêm bão đầu tiên!
* * *
Tới khoảng 3, 4 giờ chiều, Lý vừa mệt mỏi rã rời vừa buồn ngủ, nói Tiến giữ lái thay mình. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể nài ép Lý vì sức người có hạn, nhưng những gì diễn ra sau đó đã khiến chúng tôi nhiều lần phải xanh mặt: kinh nghiệm và khả năng gối sóng của Tiến không bằng phân nửa của Lý, cứ sau một ngọn sóng bổ tới, chiếc ghe lại tròng trành một cách đáng sợ, khiến mọi người ở trong khoang hốt hoảng, la ơi ới…
Bà chị vợ của tôi vội đánh thức chồng dậy, ông từ trong khoang bước ra, không nói không rằng, nét mặt lộ rõ sự tuyệt vọng… Về phần tôi chỉ biết thầm cầu nguyện xin Đức Mẹ và Thánh Mác-tin phù hộ.
Cũng may, sau khi Tiến thay Lý được hơn một tiếng đồng hồ thì sức gió giảm bớt, sóng chỉ còn cao hơn một mét, và trước khi màn đêm buông xuống bão đã dứt hẳn. Cho dù không biết những gì sẽ xảy ra vào ngày mai, chúng tôi cũng có cảm tưởng mình vừa chết đi sống lại.
* * *
Khi đêm tới, trên bầu trời bắt đầu xuất hiện những vì sao, trăng hạ tuần sắp lặn ở phương tây nhưng vẫn đủ sáng để soi bóng xuống mặt biển êm như hồ thu.
Tôi lấy cái địa bàn bộ binh ra để lấy hướng. Sau hơn một ngày một đêm bị bão liên tục, tới lúc này tôi mới có thì giờ (và can đảm) để tự hỏi: ghe chúng tôi hiện đang ở đâu?
Sau ba trận bão, với sức gió từ 150 tới 200 cây số/giờ, chủ yếu là gió tây, chắn chắc ghe chúng tôi đã bị trôi giạt về phương đông, nhưng bao xa so với lộ trình đã dự tính thì không thể nào ước đoán. Mà một khi không biết mình đang ở đâu thì biết lấy hướng nào để đi?
Biết mọi người đang lo âu, tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh, bắt đầu óc làm việc để tìm một câu trả lời hợp lý nhất.
Trước hết tôi nhớ lại tấm hải đồ biển Đông mà mình đã thuộc lòng, nếu không bị bão và lấy hướng 180 độ (165 độ + 15 độ giạt) thì giờ này chúng tôi đang ở trên lộ trình nam-bắc của tàu bè quốc tế và đã đi được 2/3 đoạn đường 700 km từ Vũng Tàu tới đảo Laut của Nam Dương. Nhưng sau hơn một ngày một đêm bị bão, chúng tôi đã bị trôi giạt về hướng đông một khoảng mà tôi ước đoán có thể lên tới cả trăm km. Tạm thời xem là 100 km, nếu từ vị trí này chúng tôi cứ tiếp tục lấy hướng 180 độ thì rất có thể sẽ đi lệch về phía bên trái và không nhìn thấy đảo Laut, và phải đi thêm khoảng 500 km nữa mới tới lãnh thổ của Mã Lai trên đảo Borneo, nơi chỉ có những bộ lạc bán khai sinh sống!
Vì thế, tôi quyết định lựa chọn hướng tây-nam (225 độ), cho dù có đi lệch về phía bên phải và cũng không nhìn thấy đảo Laut, ít ra sau khi đi thêm 300, 400 km chúng tôi cũng tới được Mã Lai hoặc Singapore.
Khoảng nửa đêm, trăng đã khuất, nhìn lên thấy một bầu trời đầy sao, lòng tôi nổi lên một cảm giác cô đơn, hoang mang khôn tả, bởi vì nói gì thì nói, tôi cũng chỉ là một anh lính văn phòng vượt biển lần đầu tiên, lại trải qua ba cơn bão, làm sao tôi có thể tin tưởng vào sự suy đoán của mình. Nhưng dù bán tín bán nghi, tôi bắt buộc phải có một sự lựa chọn!
Lúc này biển êm, gió nhẹ, không khí thật dễ chịu, mọi người đều lăn ra ngủ, trừ ông anh cột chèo và Lý. Rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào không hay, và một cơn ác mộng đã đến trong giấc ngủ: ghe chúng tôi bị công an biên phòng chặn bắt, tôi lại bị đưa vào trại cải tạo, lần này không có ngày về…
Đúng lúc ấy, ông anh cột chèo lay tôi dậy: ông nhìn thấy đất liền!
Ông chỉ về phía trước mặt, nói đó là bờ biển có ánh đèn. Trước thái độ phấn kích của ông, tôi cố dương mắt quan sát và thấy hình như có một dải đen ở trước mặt, rất có thể là bờ biển. Ông anh cột chèo vội đánh thức cả ông anh họ vợ dậy…
Lúc đó, đầu óc tôi không còn đủ minh mẫn để đặt câu hỏi: nếu là bờ biển trước mặt thì đó là lãnh thổ Mã Lai hoặc Singapore, nhưng tại sao bị bão trôi về hướng đông mà giờ đây ghe lại cập bờ biển ở hướng tây?
Tôi vội vã mường tượng những gì sẽ xảy ra một khi ghe cập vào bờ biển trong đêm tối. Chắc là mọi người sẽ ngồi lại ở bờ biển chờ tôi tìm cách liên lạc với nhà chức trách địa phương. Dĩ nhiên, tôi sẽ sử dụng tiếng Anh; hy vọng sẽ gặp được một vài người dân bản xứ biêt tiếng Anh…
Trong lúc đầu óc tôi làm việc, ông anh họ vợ giữ lái cho ghe chạy thẳng vào “bờ”, còn ông anh cột chèo vào trong khoang vui mừng báo cho mọi người biết sắp tới đất liền!
Thế nhưng ngay lúc đó, ông anh họ vợ, cũng giống như tôi, khi được ông em họ chỉ cho thấy “bờ biển có ánh đèn”, cũng chỉ thấy “hình như có bờ biển”, giờ này không còn thấy gì nữa. Và chính tôi cũng không thấy gì nữa!
Rồi tới lượt ông anh cột chèo, từ trong khoang trở ra, cũng thấy “bờ biển có ánh đèn” đã biến mất! Ông dụi mắt một hồi, dáo dác nhìn tứ phương nhưng vẫn không thấy gì!…
Như vậy, ông anh cột chèo đã bị ảo giác, và hai người chúng tôi bị… ảo tưởng!
Tôi chợt nhớ tới chuyến khám phá Tân thế giới của Christopher Columbus lần thứ nhất vào năm 1942-1943, trong cơn tuyệt vọng, các thủy thủ làm nhiệm vụ quan sát trên cột buồm cũng nhiều lần thấy “đất liền”, nhưng sau đó tất cả đều biến mất.
Có khác chăng là chúng tôi không đến nỗi bị khủng hoảng tinh thần tới mức điên loạn như các thủy thủ trên tàu Santa Maria năm xưa, bởi ngày ấy vẫn còn có nhiều người không tin trái đất tròn mà cho rằng tận cùng của “mặt đất” sẽ là hố thẳm vô tận!…
Ông anh cột chèo thẫn thờ, im lặng một hồi rồi quyết định… thả neo! Dù ông không nói ra, tôi cũng hiểu ông vẫn cố tin rằng “bờ biển có ánh đèn” mà ông nhìn thấy lúc nãy là có thật, chẳng qua chúng tôi đã để mất hướng mà thôi. Ông quyết định thả neo với hy vọng sáng ra sẽ nhìn thấy bờ biển trước mặt!
* * *
Việc thả neo ngoài biển Đông, nơi có những hố sâu hơn 5500 mét thoạt nghe qua là “chuyện tề thiên”, nhưng trên thực tế, nếu từ Vũng Tàu hoặc các tỉnh miền Tây đi Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Nam Dương thì độ sâu trung bình chỉ từ 25 tới 75 mét.
Nguyên trong thời gian chuẩn bị chuyến đi, qua nghiên cứu tấm hải đồ biển Đông, tôi được biết vùng biển nằm giữa Trung Hoa, Việt Nam, đảo Borneo và Phi-luật-tân (tức vùng biển hiện nay được gọi là “đường lưỡi bò”) tuy có độ sâu từ 1000 tới 5500 mét nhưng nếu từ Việt Nam không lấy hướng đông (Phi-luật-tân) mà lấy hướng nam thì độ sâu ngoài khơi cũng chỉ bằng trong vịnh Thái Lan, tối đa 85 mét.
Bản đồ độ sâu trên biển Đông; những vùng màu trắng có độ sâu 0-50 mét (nguồn: Internet)
Khi được tôi cho biết chi tiết này, ông anh cột chèo đã quyết định chơi một cái neo “vĩ đại” với cuộn dây dài 60 mét!…
Thoạt tiên, trong bụng tôi không an tâm một chút nào trước việc thả neo giữa biển, nhưng nhớ lại trước đó, khi ông anh cột chèo nói rằng ông thấy phía trước có bờ biển và ánh đèn, chính tôi cũng thấy hình như có bờ biển thật; như vậy đầu óc tôi cũng không còn tỉnh táo, minh mẫn nữa, cho nên tốt hơn hết là cứ thả neo rồi sáng mai tính sau!
Sau khi tắt máy ghe, thả neo hết cuộn dây 60 mét, ghe của chúng tôi nằm im, không hiểu vì neo đã chạm đáy biển hay vì lúc đó biển êm như mặt hồ thu, không một chút gió, hoặc vì cả hai?
Chỉ biết đêm hôm đó, ba anh em chúng tôi người nào cũng ngủ một giấc khá dài, dù có trải qua những cơn ác mộng thì ít ra cũng lấy lại sức sau gần hai ngày chống chỏi với giông bão.
Sáng hôm sau, khi mặt trời đã mọc ở phương đông, ông anh cột chèo của tôi dù muốn hay không cũng phải trở về với thực tế phũ phàng: trước mặt sau lưng, bên trái bên phải không có bờ biển nào cả!
Riêng tôi, chưa bao giờ được ngắm bình minh đẹp đến như thế; trong một khoảnh khắc ngắn ngủi tôi quên hẳn việc mình đang ở giữa biển cả không biết bờ bến phương nào để hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên…
Mọi người trong khoang cũng kéo nhau ra ngoài hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người tôi lại muốn bật cười nhưng đã cố nén được: sau ba ngày, những khuôn mặt nhem nhuốc vì bị bám khói dầu cặn từ buồng máy lọt sang, giờ này đã trở đen bóng như được xịt một lớp hắc ín, trông giống hệt mấy tay hề trong các gánh xiếc tây phương!
Tôi vào trong khoang thăm dò tình trạng của vợ, thấy nàng đã có thể ngồi lên tựa lưng vào vách ghe, tôi cũng an tâm phần nào.
Sau khi kéo neo lên, tôi đề nghị ông anh cột chèo tiếp tục lấy hướng tây-nam vì hiện nay tôi không biết đích xác vị trí của ghe thì thà cập bến Mã Lai hoặc Singapore còn hơn đi lạc vào vùng biển Borneo ở hướng đông-nam, không biết bao giờ mới tới bờ. Ông anh đồng ý.
Ghe nổ máy. Lúc này tôi mới có thì giờ chú ý tới tiếng máy ghe. Sau ba ngày đêm, cái động cơ Yanmar F10 tân trang vẫn nổ đều đặn. Thật may cho chúng tôi là nó không bị trục trặc, bởi ghe chúng tôi không hề có máy sơ-cua (tức cái máy đuôi tôm Kohler mà ông anh cột chèo đã tự tính lúc đầu), nếu cái máy F10 mà ăn vạ thì cũng cùng số phận với cái nghe của các con bà chị vợ trước đây: trôi lênh đênh theo chiều gió!
Lúc này mặt biển rất êm cho nên nhìn xuống tôi có thể nhận thấy chiếc ghe chạy quá chậm so với tiếng máy nổ dòn. Không cần đợi tôi đo vận tốc ghe, ông anh cột chèo cũng nhận ra điều này; ông nghĩ có thể chân vịt bị trục trặc gì đây, liền cho tắt máy ghe và lại thả neo. Rồi ông cởi quần áo nhảy xuống.
Chỉ một phút sau ông trồi lên cho biết chân vịt bị lưới đánh cá cuốn chằng chịt và nói chúng tôi đưa cho ông con dao. Phải mất hơn 10 phút ông mới thanh toán xong mớ lưới với những sợi nylon to gần bằng ngón tay. Hèn chi chân vịt quay mà không có sức đẩy!
Rồi lại nhổ neo, nổ máy. Chiếc ghe chạy thật ngon lành!
* * *
Khoảng giữa trưa, tôi nhìn thấy một vật lạ nhô lên ở cuối chân trời về hướng chính nam (180 độ). Tôi lấy ống nhòm quan sát thì thấy trông giống như một cái cột ăng-ten trên tàu buôn. Sau khi bàn thảo, chúng tôi quyết định thử vận may lần cuối, cho ghe đổi hướng tiến về phía con tàu, hy vọng, dù rất mong manh, sẽ được vớt.
Nhưng trái với mấy ngày đầu, chỉ cần 15, 20 phút ghe chúng tôi và con tàu đi ngược chiều đã tới gần nhau, lần này chúng tôi đi cả nửa tiếng đồng hồ vẫn thấy cái cột ăng-ten tàu còn khá xa, giống như con tàu đó đang thả neo giữa biển. Phải đi thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, nhìn qua ống nhòm tôi mới biết đây không phải tàu buôn mà là một giàn khoan dầu! Càng tốt, mấy ngày trước gặp trên dưới hai chục chiếc tàu mà có chiếc nào thèm vớt đâu, còn giàn khoan nằm cố định một chỗ, vớt mình thì họ cũng đâu bị trở ngại gì!
Vào thời gian chuẩn bị vượt biên, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều người vượt biển được tàu buôn vớt còn có những ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên chờ tới khi có tàu buôn đi ngang qua, hoặc tàu tiếp tế cho giàn khoan tới nơi thì cho “quá giang” tới đất liền.
Giàn khoan chúng tôi gặp là một giàn khoan treo cờ Nhật. Khi còn cách khoảng 500 mét, tôi mới thấy được tính cách vĩ đại của giàn khoan khổng lồ này, rồi nhìn lại chiếc ghe bé nhỏ mong manh mà giật mình.
Ảnh minh họa: một giàn khoan của Nhật Bản trên biển Đông, tương tự giàn khoan chúng tôi đã gặp (hình Internet)
Lúc này hầu như tất cả mọi người đã ra khỏi khoang để chiêm ngưỡng cái giàn khoan một cách thích thú, và vui mừng vì sắp được vớt, kết thúc chuyến hải hành hãi hùng sau ba trận bão! Khi ghe tới mặt phía bắc của giàn khoan chỉ còn cách khoảng 100 mét, tôi thấy một nhân viên đứng trên lan can của tầng thấp nhất lấy tay làm hiệu cho ghe chúng tôi chạy vòng ra mặt hướng nam. Sau đó tôi mới hiểu cái cầu tàu của giàn khoan nằm ở phía nam.
Khi chúng tôi cho ghe tiến vào cầu tàu, đã có mấy người đứng sẵn trên đó chờ đợi.
Sau biến cố 1975, Dương Thiệu Tước ở lại trong nước và đã tạ thế. Trong những năm cuối đời, Dương Thiệu Tước và Lê Thương là hai tác giả, được người ta nhắc tới và lựa chọn một số tác phẩm cho trình bầy ở những nơi công cộng. Thế nhưng trong cuộc sống hàng ngày, Dương Thiệu Tước có vẻ hoàn toàn đóng vai một người vắng mặt. Có thể vì tuổi tác. Cũng có thể ông lựa chọn cách sống như thế. Một điều lạ lùng là, tuy nhạc của ông có được đem trình diễn trở lại, nhưng ngay lúc nghe nhạc ông, người ta vẫn cảm thấy sự vắng mặt của ông. Tựa hồ mỗi dòng nhạc ông viết ra, được hát lại ấy, tự nó, nói ra rằng: “Sống một đời như thế là đủ. Những điều đã nói không cần thiết được nhắc lại. Nhắc lại cũng chẳng sao, nhưng không cần thiết”.
Ông hiện hữu bằng chính sự vắng mặt của mình. Dù người ta nghe và hiểu nhạc Dương Thiệu Tước như thế nào, ông vẫn là một trong những đỉnh cao nhất, hợp thành dãy Trường Sơn của nền âm nhạc Việt Nam. Ngoài sáng tác, Dương Thiệu Tước còn là một danh cầm. Ông chơi được nhiều nhạc cụ: dương cầm, tây ban cầm, hạ uy cầm, đàn tranh, đàn bầu … Những bản nhạc như Bến Xuân, Suối Mơ của Văn Cao và Phạm Duy, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước do chính ông đàn Hạ uy cầm, đài phát thanh Sài Gòn vẫn cho phát hàng đêm trước đây, nhiều người vẫn còn nhớ. Sau ông, người ta không còn được nghe thấy ngón đàn ngọt ngào nào như thế nữa. Sau 1975, Dương Thiệu Tước vẫn được lưu dụng (chữ CS dùng để chỉ những người làm việc trong chế độ cũ được tạm giữ lại) để giảng dạy về Tây ban cầm tại Trường Quốc Gia Âm Sài Gòn, vì ông là giáo sư duy nhất dạy cấp cao đẳng.
Dù rất am hiểu về cổ nhạc dân tộc, và, một số ca khúc của ông viết dựa trên những làn điệu đặc thù của miền Trung, miền Nam, nhưng những bản như Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự, vẫn mang một vẻ gì đó rất riêng biệt, rất Dương Thiệu Tước. Dương Thiệu Tước cũng là một trong những người viết lời ca hay nhất của chúng ta.
Ở Dương Thiệu Tước không có những khám phá mới lạ trong cách xử dụng ngôn ngữ. Nhưng trong khuôn khổ, ý nghĩa từng chữ ông dùng, chứng tỏ ông nắm vững và hoàn toàn làm chủ những gì ông muốn viết. Thơ và họa tràn lan trong nhạc của ông, đẹp cái đẹp của những bức tranh thủy mặc hay ấn tượng, như các bản Thuyền Mơ hay Áng Mây Chiều.
Đó là những bức tranh được vẽ bằng màu sắc riêng của âm nhạc. Ngoại trừ bản Bóng Chiều Xưa, một tình khúc, có vẻ như vì tình mà được viết ra, các ca khúc khác của Dương Thiệu Tước, tình thường lẫn với cảnh. Người ta không biết ông yêu người hơn hay yêu cảnh hơn. Cũng có thể vì yêu người nên ông cũng yêu cảnh và ngược lại. Dương Thiệu Tước cũng là người đầu tiên dùng được nhiều thể nhạc Tây phương để viết nhạc và đã Việt-nam hóa được các thể điệu ấy. Khi ông viết Ôi Quê Xưa, thể điệu Tango Habanera còn xa lạ với nhạc Việt Nam. Bằng ca khúc này, Dương Thiệu Tước đã làm cho nó trở nên thân thuộc ngay với người nghe. Hình ảnh Dương Thiệu Tước vẽ ra trong ca khúc tư hương ấy, cảnh điêu tàn, gió mưa, nhịp cầu, mái tranh, không một chút gượng ép. Và người ta hiểu ngay rằng, nhạc sĩ Việt Nam nào cũng có thể dùng thể điệu ấy để viết ca khúc, nếu người ta có cái tài của Dương Thiệu Tước.
Phạm Duy xếp nhạc Dương Thiệu Tước vào loại quý phái của nhạc Việt Nam. Quả vậy, từ giai điệu cho đến những chỗ luyến láy trong mỗi ca khúc của ông, người ta dễ dàng nhận ra cái vẻ trau chuốt, hào hoa, nhưng cũng rất lịch sự, trang trọng. Nhạc Dương Thiệu Tước không khó đàn, cũng không khó hát. Nhưng không phải ai cũng đàn, cũng hát được.
Có lẽ vì thế, giữa người nghe, người hát nhạc Dương Thiệu Tước, luôn hiện hữu một khoảng cách. Cái khoảng cách ấy nên được hiểu như thế nào đây? Nó từa tựa như lời khuyên nhủ: “Cuộc đời như thế, lòng người yêu đời, yêu người như thế, nhưng chẳng thể nào chiếm hữu trọn vẹn được. Ao ước hơn chỉ là ảo tưởng. Trần gian là một giới hạn. Hai tay chúng ta cũng là một giới hạn. Chẳng thể nào ôm hết được. Nhìn nhận như vậy, có vẻ lại chính là phương thức để vượt qua những giới hạn đấy”.
Thành thử, dù không có cái vẻ ôm xiết lấy cuộc đời như nhạc Phạm Duy, nhưng nếu người ta thuộc nhạc Dương Thiệu Tước, khi yêu, người ta vẫn cảm thấy nhạc ông có những điều nói đúng với tiếng lòng của mình. Và, đó cũng là một cách yêu không kém phần thiết tha, đằm thắm.
Nói chung, nhạc Dương Thiệu Tước cũng là nhạc tình. Nhưng ông không yêu cái tình yêu vồ vập. Ông yêu cảnh, nhưng dường như, lúc nào ông cũng đứng ở vị thế ngoạn cảnh. Ông muốn nhập vào cảnh bằng tâm hồn mình, chứ không phải bằng thân xác. Ông giống như người đứng giữa đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:
Dừng chân, ngoảnh lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
Người ta không chỉ sống mà còn có một cách thế sống, cách thế thuởng ngoạn và chịu đựng cuộc sống nữa. Sự im lặng của Dương Thiệu Tước kể từ biến cố 75, ông ở lại trong nước, cho đến ngày ông qua đời, không phải là một cách thế sống của ông đó sao?
Ước gì chúng ta có thể được nghe lại chính ông và Minh Trang hát Bóng Chiều Xưa của cái thời Đài Pháp Á xa xưa một lần! Với cái tên Vân Hải, Dương Thiệu Tước còn là một ca sĩ có một giọng hát, ai đã có dịp may mắn được nghe, hẳn không thể nào quên. Điều ước khó thành, nếu không muốn nói là, không thể nào có được nữa.
Bông hồng tạ ơn những người đã viết nhạc và hát cho chúng ta nghe, chúng ta có muốn gửi tới Dương Thiệu Tước hôm nay, trên thực tế, đã muộn. Bởi vì Dương Thiệu Tước đã mất.
Nhưng những người như ông thì chúng ta có thể nói như Nguyễn Du:
“Thác là thể phách, còn là tinh anh”.
Cái chết của ông chỉ là sự vắng mặt của ông giữa cuộc sống này thôi. Những gì ông đã viết ra và để lại cho đời, cũng giống như những mùa hoa, có thể có lúc tàn, nhưng đến kỳ sẽ nở lại. Ông đã làm giàu cho âm nhạc, làm giàu cho tâm hồn nhiều thế hệ Việt Nam.
Mong ước có được nột ngày, tất cả những người đi xa sẽ có thể trở về, những người nghe nhạc của ông hôm nay, ở nơi xa xôi này, sẽ được nghe nhạc của Dương Thiệu Tước ngay trên chính mảnh đất của quê hương, được trực tiếp đặt những bông hồng tưởng niệm trên mộ phần nơi ông an nghỉ,
Dương Minh Ninh không phải chỉ viết một ca khúc. Ông đã viết cả một vở nhạc kịch. Ca khúc Gấm Vàng được rút ra từ vở kịch ấy và [tạm thời] được coi là tác phẩm duy nhất của ông.
Vì, trừ các thân nhân và bằng hữu của ông, chưa ai được biết vở kịch này ra sao [xin đọc thêm phần ghi chú & tài liệu].
Nhưng chỉ bằng vào riêng một mảnh Gấm Vàng đã được phổ biến, chúng ta có thể tin được rằng, toàn vở nhạc kịch của Dương Minh Ninh là cả một tấm gấm quý. Dương Minh Ninh thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ hai của chúng ta sau những Lê Thương, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước … Hoàn cảnh đất nước khiến chúng ta nhiều khi cư xử dường như vô tình đối với nhau. Chiến tranh rồi sự chia cắt …có những người chúng ta yêu mến nhưng chẳng biết vui buồn, lưu lạc nơi đâu, còn mất ra sao. Dương Minh Ninh là một trong những người như thế.
Nhắc tới Gấm Vàng của Dương Minh Ninh người ta lại cũng không thể không nhắc tới tiếng hát Minh Diệu. Đĩa nhựa (78 vòng?) ghi âm giọng hát Minh Diệu trình bày ca khúc này đã trở thành một phần dĩ vãng của Sài Gòn, của Huế, của Hà Nội và còn lại trong trí nhớ của rất nhiều người. Người ta thương nhớ một quê hương đã mất, rồi lại mất thêm một vài lần nữa, quá khứ đã mịt mùng lại lùi xa thêm. Trong cái quá khứ mấy từng sương khói ấy, hình như chỉ có những thanh âm mới thắp sáng lên được những hình bóng cũ.
Gởi các bạn trại tù Tiên Lãnh Quân Khu I những tháng năm thao thức đợi chờ…
Đêm nằm nghe tiếng Từ Quy Xót cho thân phận người đi chưa về Mênh mông rừng núi phủ che Triền miên nỗi nhớ câu thề thủy chung Biết ai có ý thay lòng Trăm năm còn vẹn duyên nồng hay chăng? Đêm nằm thao thức trở trăn Nửa đời cam những nhọc nhằn bấy lâu Từ Quy chim gọi tiếng sầu Trót xưa mất bạn – tìm đâu rã rời Âm vang khuya lạnh núi đồi Nhắc ai còn nhớ những lời sắt son Đêm nằm chong mắt mỏi mòn Nghe chim mà ngỡ người còn quanh đây Dẫu rằng đợi cuối chân mây Còn lâu chăng cũng đong đầy niềm tin Mai kia đày đọa bao miền Hóa thân xin được làm chim theo người…
– Anh ơi! Liệu người ta có cho mình về sau 10 ngày học tập chính sách không? Em lo quá!
– Ai mà biết được, nhưng… anh đoán chừng e cũng phải vài ba tháng vì anh nghe đồn họ đưa mình vô chiến khu cho biết mùi khổ cực. Hơn nữa trong 10 ngày, làm sao họ có thể tẩy cái não đã 35 năm thấm nhuần tư bản chủ nghĩa của mình được.
– Em sợ quá, anh ơi! Em không bao giờ quên cái Tết Mậu Thân ở Huế mình. Anh Thi, giáo sư vật lý, cậu Nga, thầy chích dạo, nửa đêm đã được người ta mời đi họp khi đang núp bom đạn trong hầm nhà em; để rồi mấy hôm sau bà con tìm thấy xác 2 cha con và hàng chục người khác bị chôn sống phía sau chùa Từ Hiếu. Và như cả thế giới đều thấy, đều biết, bao nhiêu người dân Huế vô tội đã bị tàn sát như vậy. Em không khi mô tin họ cả, em lo quá. Hồi chiều đi coi thầy, thầy nói số anh tháng ni xấu lắm. Anh ráng giữ mình nghe anh.
– Bây giờ đất nước đã không còn chiến tranh, họ đã có chính quyền, chế độ miền Nam đã hoàn toàn tan rã, kẻ bỏ chạy, người ngoan ngoãn đi tù. Rứa thì họ giết người hàng loạt làm chi? Thêm nữa, nếu muốn giết, họ phải giết hàng vài triệu người miền Nam, họ có dám làm không? Mặt khác, nếu không mở cho chúng ta một con đường hy vọng được sống, dĩ nhiên chúng ta phải liều chết chống lại. Cuối cùng, họ sẽ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nhân dân khác, chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và dai dẳng. Anh nghĩ đó là điều họ không muốn. Còn nói về tướng số thì không phải chỉ riêng anh, mà cả mấy mươi triệu người miền Nam chúng ta sau ngày 30-4-1975 đều mạt theo vận nước ngửa nghiêng hết rồi. Nước mất nhà tan còn chi nữa mà tốt với xấu.
– Anh ơi! Em khổ quá, mai anh đi rồi, chừ em biết làm răng mà sống nuôi ba đứa con dại. Mạ cho cây vàng làm vốn thì anh đã bị tụi lừa đảo tráo tiền bằng giấy báo ở chợ Bến Thành rồi. Khi tê, biết như ri em đừng lấy lính cho rồi, lấy ông kỹ sư, giáo sư cho khỏe, không đi lính khổ cực ngày mô, khỏi sợ làm góa phụ, chừ lại khỏi đi học tập. Mấy con bạn em thời mô cũng sướng, tiền bạc rủng rỉnh, lên xe xuống ngựa, nhà cao cửa rộng, thiệt là có phước. Còn em, 6 năm lấy anh, lẽo đẽo theo anh khắp 4 vùng chiến thuật, ăn đồ quân tiếp vụ, ở trại gia binh, thấp thỏm đợi chờ, lo âu từng phút. Ngủ cũng thấy toàn ác mộng vì cứ lo sợ có ngày mô đó phải “đón anh về trên chiếc trực thăng in màu tang trắng” hay về làm “bại tướng cụt chân” như ông nhạc sĩ Phạm Duy đã dọa. Sáu năm ở với nhau được mấy trăm ngày trọn vẹn mà đến mấy ngàn đêm đợi chờ lo âu khắc khoải? Chừ súng không còn nổ nữa, chiến tranh hết rồi, anh lại cũng ra đi, biết khi mô mới về, răng em lo quá. Anh ơi! Răng đời em khổ hoài khổ mãi như ri!
Và tiếp theo là những giọt nước mắt nóng hổi, những tiếng nấc tức tưởi cố ghìm âm thanh lại cho giấc mộng thần tiên của các con nằm bên được tròn.
– Thôi gắng ngủ đi em, cố giữ gìn sức khỏe còn nuôi con. Mai anh đi rồi, em thu xếp về Huế nương tựa ba mạ hai bên một thời gian rồi hãy tính. Ở Saigon trong buổi giao thời hỗn loạn, nguy lắm. Về ngoài mình, có bà con, có nhà cửa em ráng tìm cách đắp đổi qua ngày chờ anh về hẳng hay. Anh sẽ về, nhất định anh sẽ về với em và các con. Mình ở hiền gặp lành, em nợ! Nhớ anh thì ráng lo cho các con, nhất là bé Móm ngày mai là đầy 10 tháng, phải không em?
– Không, em phải ở lại Saigon chờ anh về rồi cùng ra Huế luôn. Lòng dạ mô mà về khi không biết anh sống chết, no đói ra răng?
Mắt tôi ráo hoảnh, thân tôi bất động, nhưng đôi môi mím chặt để khỏi bật ra tiếng khóc thương người vợ trẻ 25 tuổi đời và ba đứa con thơ dại, bơ vơ giữa Saigon tan tác ngày mất nước.
Tôi và hàng ngàn bạn đồng đội đã từng từ giã những người thân yêu của mình để tình nguyện bước vào nhà tù khắc nghiệt của Cộng Sản vào một sớm mùa thu năm ấy, với một niềm hy vọng ngây thơ là trả cho xong một món nợ, để rồi sau đó, trở về làm một người dân bình thường sống trong một đất nước thanh bình.
Nhưng hầu hết chúng tôi đã lầm lẫn. Mười ngày và một tháng của Việt Cộng là 5 năm hay 10 năm của người này, là 14, 15 năm của người khác. Bi thảm và đau đớn hơn nữa là nhiều anh em không bao giờ trở lại. Họ đã can đảm tìm cái chết để khỏi sống kiếp tội đồ, khỏi thấy gia đình và dân chúng bị đày đọa trong cảnh lầm than đói khổ. Một số anh em khác đã chứng tỏ khí phách anh hùng, tổ chức đào thoát mong tìm về với đồng đội còn chiến đấu đâu đây để tiếp tục cuộc chiến còn dang dở; nhưng chẳng may họ thất bại, bị bắt lại và ngẩng cao đầu nhận những viên đạn thù.
Những người sống sót trở về, bản thân ít ai còn nguyên vẹn. Người thì để lại một phần thân thể: một con mắt, một cánh tay trong một lần cắt tranh trên một bãi chiến trường xa vắng năm xưa. Kẻ thì tim gan phèo phổi rách bươm vì những điều kiện ngặt nghèo cùng cực về dinh dưỡng, về y tế hoặc vì những ngày dài lao động khổ sai, sức cùng lực kiệt.
Những anh em may mắn không bị những mất mát thể xác thì gặp những tai biến tâm thần, những thảm trạng gia đình mà nguyên do vì ý chí không vững vàng hoặc vì những điều kiện khách quan phức tạp của xã hội nhiễu nhương.
Có thể hiểu 4 chữ “Tập Trung Cải Tạo” đồng nghĩa với “Địa Ngục Trần Gian”.
Đêm mùa thu Cali lành lạnh gợi nhớ đến cái đêm mưa Saigon đi cải tạo mười bảy năm trước. Nhớ để ghi khắc trong lòng, nhớ để nhắc nhở những ai chưa từng biết Cộng Sản là gì, chưa từng sống với Cộng Sản một ngày là: Lừa Bịp, Ngu Dốt và Tàn Ác là Bản chất của người Cộng Sản. “Thiên đường Cộng Sản” chính là “Địa Ngục Trần Gian” có thật trên quê hương chúng ta.
Những đêm dài thao thức trong lao tù Cộng Sản, tôi vẫn hằng tâm nguyện, nếu còn sống sót trở về, tôi sẽ đi khắp hang cùng ngõ hẻm, nói cho đồng bào tôi nghe sự thật về người Cộng Sản và Chủ Nghĩa phi nhân tàn bạo đó, để không còn một ai nghe theo lời đường mật, lừa mị của chúng nữa.
Tôi ước mơ một ngày không xa, chủ nghĩa không tưởng quái quỷ đồng nghĩa với đau thương và khốn cùng đó sẽ hoàn toàn biến mất trên trái đất này.
Niềm mơ ước đó ngày nay đã trở thành hiện thực, phong trào Cộng Sản đã và đang tan rã trên toàn thế giới.
Nhưng bất hạnh thay cho dân tộc Việt Nam chúng ta, Cộng Sản vẫn còn thống trị, vẫn còn ngoan cố áp đặt một chế độ hà khắc, tàn bạo trên hơn 60 triệu đồng bào lầm than khốn khổ cùng cực.
Vậy thì bằng mọi nỗ lực, bằng cách này hay cách khác, cuộc chiến đấu chống Cộng còn dang dở của toàn dân Việt Nam vẫn phải còn tiếp tục.
Để không thẹn với anh linh của bao tử sĩ anh hùng.
Để giành lấy quê hương mà xây dựng lại một Việt Nam Tự Do, Thanh Bình và Thịnh Vượng.
Theo dự trù, chuyến vượt biên của người cậu họ (tức em họ của mẹ tôi) sẽ diễn ra vào khoảng đầu năm 1982. Dĩ nhiên là đi lậu!
Như vậy tôi phải chờ ít nhất sáu tháng, và tôi phải làm đơn xin về Hố Nai cư trú, vì chỉ còn hơn một tháng nữa là hết thời hạn 6 tháng cư trú tại Sài Gòn đã ghi trong Giấy ra trại.
Mấy tuần lễ sau, khi tôi đang ở Sài Gòn chuẩn bị lên Ủy Ban Nhân Dân quận Phú Nhuận làm thủ tục thay đổi nơi cư trú, thì ông anh cột chèo cho thằng con trai 12 tuổi đạp xe tới nhà, nói ba mẹ cháu kêu hai vợ chồng tôi tới nhà ông bà ở Cầu Kinh (quận Bình Thạnh) ăn cơm tối vì có chuyện quan trọng muốn nói.
Trong bữa cơm, ông anh cột chèo cho vợ chồng tôi biết ông quyết định đứng ra tổ chức vượt biên cho tất cả các thành viên còn lại trong gia đình, gồm hai vợ chồng và năm đứa con, cùng với mấy cha con một người anh họ vợ, nếu chúng tôi nếu muốn tham gia thì ông cho hai chỗ – tôi và thằng con trai 10 tuổi.
Theo ông, công việc trước mắt là mua ghe rồi chờ thời cơ thuận tiện, trễ nhất là vào cuối năm (1981) sẽ ra đi. Muốn mua ghe thì phải có tiền do các gia đình đóng góp, sau này càng lấy được nhiều khách thì số tiền phải đóng góp càng giảm bớt. Nhưng trước mắt là phải đóng góp.
Nghe nói tới việc “đóng góp”, vợ chồng tôi hơi nản vì sau năm 1975 chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ nói cám ơn anh chị chứ không trả lời ngay là có tham gia hay không.
Khoảng hai tuần sau, ông anh cột chèo lại kêu hai vợ chồng tôi tới nhà ăn cơm… Lần này, hai ông bà nói thẳng ra là sẽ cho tôi và thằng con trai đi “chùa”, sau khi tới miền đất hứa mới phải trả hai cây; nhưng bắt chúng tôi hứa phải giữ kín, vì vợ chồng ông không muốn cho người anh họ của vợ biết. Bù lại, tôi phải phụ giúp mọi việc trong thời gian chuẩn bị, như sửa ghe, đi đây đi đó để liên lạc…
Về nhà, sau khi bàn bạc với nhau, hai vợ chồng tôi cho đây là một cơ hội rất tốt, nếu không muốn nói là có một không hai: tôi và thằng con trai sẽ đi theo ghe của bà chị vợ; vợ tôi và đứa con gái ở lại, đợi tới đầu năm 1982 sẽ đi theo ghe của người em họ mẹ tôi.
Hơn một tuần sau, ông anh cột chèo kêu tôi tới nhà gặp anh C, người anh họ vợ, chuẩn bị bắt tay vào việc. Thì ra ông vừa mua được một chiếc ghe cũ, và giao công việc tu bổ cho tôi và anh C.
Cho tới lúc đó, ông anh cột chèo vẫn tiếp tục bám lấy công việc chuyên viên chụp hình quang tuyến X ở bệnh viện Nguyễn Văn Học để tránh bị nghi ngờ vào cái thời mà “nếu có chân, cái cột đèn cũng vượt biên”; ông cũng giữ kín tin năm đứa con đã tới được được trại tỵ nạn ở Nam Dương, ai hỏi thì ông nói chúng đang làm rẫy ở ngoài Láng Cát, Bà Rịa. Vì thế, ông không thể bỏ bê công việc ở bệnh viện, chỉ lâu lâu mới ghé chỗ chúng tôi sửa ghe.
Vị trí sửa ghe chỉ cách nhà chị vợ tôi khoảng 2, 3 cây số, băng qua cầu Kinh sang Bình Qưới, nằm trên bờ sông Sài Gòn.
Có thể gọi Bình Qưới là một bán đảo do sông Sài Gòn chảy uốn khúc gần một vòng tròn tạo thành; từ Ngã ba Hàng Xanh đi vào, qua cầu Kinh (là một con kinh nối liền cái eo của bán đảo) sang biên kia là Bình Qưới.
Vị trí sửa ghe (ngôi sao đỏ)
Ngày ấy Bình Qưới còn khá thưa vắng, ngoài cư xá Thanh Đa nằm ở phía ngoài, bên trong phần lớn còn là đồng ruộng, lâu lâu mới có một nhà dân, lý tưởng để chúng tôi đi lại hàng ngày mà không sợ bị chú ý.
Khi tôi tới nơi thì chiếc ghe đã được đưa lên bờ. Bất cứ ai hiểu biết ít nhiều về chuyện vượt biên mà nhìn thấy chiếc ghe ông anh cột chèo của tôi mua để đi “vượt biên” chắc chắn sẽ phải tá hỏa.
Tá hỏa bởi trước hết chiếc ghe chỉ dài 7 mét rưỡi; thứ hai, quan trọng hơn, đây là một chiếc ghe bầu để đi trên sông chứ không phải ghe ra biển đánh cá! Một cách chi tiết hơn, đây là một chiếc ghe bầu trước kia được sử dụng để chở dừa.
Ghe bầu, như chúng ta thường thấy trên các sông lạch ở vùng Thủ Đức, Lái Thiêu, hoặc ở miền Tây, là những chiếc ghe có bề ngang khá rộng, mũi và đuôi gần như giống nhau, để vận chuyển hàng hóa trên sông. Vì trong sông không có sóng lớn, ghe bầu có thể chở khẳm mà không sợ bị lật chìm. Ngày người ta còn sử dụng “tỉn” để đựng nước mắm, chính mắt tôi đã thấy những chiếc ghe bầu chở tỉn nước mắm, nước sông mấp mé mạn thuyền chỉ còn độ một gang tay!
Ghe đánh cá ngoài biển thì khác, trước hết mũi ghe phải nhọn để rẽ sóng, thứ đến lườn ghe phải có khả năng cỡi sóng, và khung, thành ghe (framework) phải cứng cáp để đỡ sóng!
Tuy nhiên vì tôi không có một chút kiến thức nào về ghe thuyền và chưa hề nhìn thấy một chiếc ghe vượt biên bao giờ, tất cả những thứ nói trên tôi chỉ có dịp tìm hiểu sau khi đã tới bến bờ tự do, còn vào lúc đó tôi mù tịt. Tôi chỉ nhận ra một điểm: chiếc ghe đã quá cũ!
* * *
Tới đây nói về anh C, người anh họ của vợ tôi. Tuy vai anh, anh C đã khá lớn tuổi, ngày còn ở ngoài Bắc đã từng theo ghe đi đánh cá ngoài biển.
Nguyên quê ngoại của vợ tôi là một làng đánh cá nổi tiếng thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi ông ngoại vợ tôi giữ chức Chánh tổng. Gia đình anh C làm chủ nhiều ghe đánh cá; có lẽ vì vậy mà nay ông anh cột chèo của tôi rủ anh C tham gia vượt biên, bởi tin rằng ít nhiều anh cũng có kinh nghiệm đi biển ngày còn ở ngoài Bắc, cho dù sau khi di cư vào Nam chỉ biết buôn bán.
Sau này nhớ lại, tôi không hiểu anh C nghĩ gì khi thấy chiếc ghe bầu cũ kỹ dài 7.5 mét, chỉ biết anh không tỏ lộ một chút thất vọng hay lo âu nào cả. Anh xem xét chiếc ghe (khi ấy đã được đưa lên bờ) rồi bàn bạc, góp ý kiến với ông anh cột chèo của tôi về chương trình “đại tu” – nhái chữ của Hải Quân VNCH có nghĩa là sửa chữa, tu bổ toàn bộ.
Sau khi lên chương trình, ông anh cột chèo giao công việc cho anh C và tôi, lâu lâu mới ra thăm và góp ý.
* * *
Vì tham gia công việc sửa ghe, tôi phải tìm cách ở lại Sài Gòn một khi thời hạn 6 tháng cư trú ghi trong Giấy ra trại chấm dứt. Trước hết, trong phần báo cáo sinh hoạt hàng ngày mỗi khi ra trình diện công an phường, tôi không ghi về Hố Nai làm ruộng nữa mà ghi đang làm vỏ xe đạp ở bên Tân Định.
Nguyên trong số bạn tù ở chung đội với tôi từ Tây Ninh lên Phước Long, có Phát “tịt”, một tay thiếu úy được thả trước tôi hơn 2 năm, nay đang làm vỏ xe đạp với một tay bạn tù khác, có đăng ký dưới danh xưng “Tổ hợp X…”.
Như những người bị kẹt lại ở VN sau năm 1975 còn nhớ, sau các đợt đánh tư sản, hầu như toàn bộ nền kỹ nghệ nhẹ tại miền Nam bị sụp đổ, cùng với việc bị quốc tế cấm vận sau khi CSVN xua quân xâm lược Căm Bốt, vỏ xe đạp được xem là một trong những mặt hàng khan hiếm nhất vì xe đạp là phương tiện di chuyển chính trên cả nước. Vì thế nghề làm vỏ xe đạp theo phương pháp thủ công nghệ cũng phát triển theo!
Vào thời gian này, vỏ xe đạp mòn tới mức lòi những sợi bố vẫn không bị phế thải mà được “lót” bằng những khúc vỏ cũ cắt ra từ những cái vỏ đã bị phế thải. Tới khi tanh banh mới bán cho những tay làm vỏ xe đạp để họ lấy hai cái vành thép sử dụng làm vỏ mới.
Trở lại với “tổ hợp” làm vỏ xe đạp của Phát và người bạn, thực ra đây cũng chỉ là một màn trình diễn chứ không phải kế sinh nhai, bởi vì tất cả mọi “khâu” đều là “thủ công” đúng nghĩa; cả ngày hai thằng hì hục đan bố (sợi polyester), tới khi nào được vài cặp mới mua cao-su về nấu, đúc thành cái vỏ xe rồi tìm chỗ bỏ mối.
Tuy không bị thất bại thê thảm như công việc làm xà bông bột của tôi và Khiêm, việc làm vỏ xe đạp của Phát cũng không bõ công, thêm vào đó là sự cạnh tranh của những cơ sở sản xuất quy mô hơn của tư nhân hoạt động lậu dưới sự bao che của đám cán bộ địa phương.
Khi biết tôi đang tham gia một tổ hợp làm vỏ xe đạp, Huỳnh, tay công an khu vực, thăm dò:
– Sao anh không tự làm chủ, thành lập một tổ hợp ngay tại xóm mình, căn nhà của tổ hợp thêu may vẫn còn chỗ trống đó.
(Căn nhà này ở ngay lối vào khu ao cá, chủ bỏ đi năm 1975, được sử dụng làm cơ sở cho tổ hợp thêu may)
– Vốn liếng đâu mà mua sắm dụng cụ, anh!
– Vợ anh buôn bán hàng ngoại thiếu gì tiền!
– Cũng chỉ đủ ngày hai bữa thôi anh à. Hơn nữa, tôi cũng sắp hết hạn 6 tháng cư trú ở TP.HCM rồi…
– Thì trong Giấy ra trại họ ghi vậy thôi. Nếu anh có công ăn việc làm, tôi có thể giúp anh làm hộ khẩu. Đừng có lo!
Tôi dư biết tay Huỳnh này muốn gì, nghĩ thầm trong bụng: mình đang cần ở lại Sài Gòn để sửa ghe, cứ câu giờ rồi tính sau. Nhưng tôi vẫn cẩn thận không để tay công an khu vực hiểu lầm là vợ tôi có nhiều tiền sẽ tìm cách bắt địa:
– Nếu anh giúp được, tôi sẽ không quên ơn. Nhưng chắc tôi phải về Hố Nai nhờ mẹ tôi vay mượn tiền bạc làm vốn cái đã.
* * *
Trở lại với công việc sửa ghe. Trước hết chúng tôi – tôi và ông anh họ vợ – đóng thêm hai công đà (đà ngang) để khung ghe thêm vững chắc. Không hiểu ông anh cột chèo mua loại gỗ gì mà nó vừa nặng vừa cứng, phải mất mấy ngày trời chúng tôi mới cưa, đục, khoan rồi bắt bù-loong vào hai cái đà cũ trên ghe!
Tiếp theo là xem lại từng miếng ván trên thân ghe, chỗ nào bị bung, hoặc sắp bung ra thì lấy đinh đóng lại. Khi làm công việc này, chúng tôi mới khám phá ra nhiều mép ván đã bị mục, vì thế ở những chỗ chưa bị mục, chúng tôi phải đóng thêm đinh, và khi trét dầu chai lại toàn ghe, tới những chỗ bị mục chúng tôi cố gắng trét thật kỹ.
Sau đó tới việc đóng ca-bin. Vì ghe bầu vốn sử dụng để chở dừa, chở tỉn nước mắm, và những loại hàng hóa không cần che mưa nắng cho nên phía trên trống không để chở được tối đa; để che mưa nắng, người ta chỉ cần căng một tấm bạt.
Đóng một cái ca-bin tươm tất và đúng kiểu cách như các ghe đánh cá ven biển thì chúng tôi không đủ khả năng, vả lại cũng không cần thiết. Những gì chúng tôi cần là một chỗ che mưa nắng, sóng gió cho đàn bà con trẻ khi ra ngoài biển khơi.
Cuối cùng chúng tôi quyết định cũng đóng ca-bin nhưng là một cái ca-bin thấp lè tè che gần hết diện tích chiếc ghe. Khoảng 1/3 phía sau của ca-bin sẽ là nơi đặt máy ghe, 2/3 phía trước, rộng khoảng 4, 5 mét vuông, ưu tiên cho đàn bà con trẻ.
Sau này, có dịp quan sát tận mắt một số ghe tới được Nam Dương cũng như qua hình ảnh về ghe vượt biên, tôi mới thấy chiếc ghe của chúng tôi không giống con giáp nào cả, nhỏ xíu, thấp lè tè, kín mít, trông kiên cố như một pháo đài!
Đóng ca-bin xong chúng tôi bắt đầu nghiên cứu đóng thêm cái “mũi Thái Lan” giả. Gọi là “giả” bởi phía dưới vẫn là cái mũi ghe bầu, chỉ khác ở phía trên được đóng thêm mấy tấm ván cho mũi ghe cao hơn, đồng thời đóng thêm một cái cản ngang (giống cản xe hơi) để trông “ngầu” hơn (chưa kể sau này còn thêm cái mỏ neo lớn quá mức bình thường và cuộn dây 60 mét).
Phía đuôi ghe thì đóng thêm một cái sàn gỗ làm giang sơn cho tài công và hoa tiêu.
Chiếc ghe bầu 7.5 mét sau khi được “đại tu”, đứng trên mui ghe là ông anh cột chèo
Sau khi công việc hoàn tất, ông anh cột chèo của tôi lại có thêm một sáng kiến: vì đây là ghe sông không có các “con lươn” hai bên lườn ghe để gối sóng, ván thuyền lại quá cũ nên ông mua tôn Mỹ về để bọc dưới lườn ghe.
Nói tới “tôn Mỹ”, không phải người nào sống tại miền Nam trước năm 1975 cũng biết độ dày và cứng của nó. Chẳng hạn tôi và ông anh họ vợ, chỉ tới khi ông anh cột chèo mướn ghe chở tôn tới, chúng tôi mới biết nó dày và cứng cỡ nào; chúng tôi phải sử dụng những khúc gỗ lớn dộng thật mạnh mới đập dẹp được, và tới khi đóng vào lườn ghe thì đinh (thời xã hội chủ nghĩa) cứ bị cong, chúng tôi phải sử dụng một cái đinh lớn để “mồi” (đục lỗ trước).
Kết quả, tôi nói đùa với anh C, “chúng ta đã có một chiếc… thiết giáp hạm đúng nghĩa”.
* * *
Trong thời gian tôi và anh C tu bổ chiếc ghe, ông anh cột chèo nói tôi có bạn bè hay người quen biết nào muốn vượt biên thì rủ họ cùng đi, giá 3 cây (lượng vàng) một đầu người, và phải đưa trước.
Trong số các bạn thân và bạn tù cải tạo, tôi chỉ biết chắc chắn Đức “cống” đang có ý định vượt biên. Khi tôi kể cho hắn nghe việc chúng tôi đang sửa ghe chuẩn bị vượt biên và hỏi hắn có muốn đi với tôi không, Đức hỏi thẳng:
– Ghe mày mấy mét?
Tôi ăn gian:
– Hơn 8 mét!
– Mẹ, 8 mét mà vượt biên cái gì, ít nhất cũng phải 12 mét!
Sau đó, Đức giải thích cho tôi hiểu không kể những chiếc “ghe nhà” chỉ cầu ra tới hải phận quốc tế để mong được tàu vớt, ghe vượt biên phải dài ít nhất 12 mét mới có thể vượt đại dương, còn ghe nhỏ cỡ ghe của tôi chỉ sử dụng làm ghe taxi, tức là ghe chở khách từ bờ tới điểm hẹn của chiếc ghe vượt biên (ngày đó nhiều người còn gọi là ghe “tăng-bo”, tôi không hiểu có phải từ chữ “en-bord” trong tiếng Pháp hay không?)
Khi được tôi kể lại những gì Đức nói với tôi, anh C trấn an:
– Ra ngoài khơi thì ghe lớn sóng lớn chú ạ. Gặp giông bão thì ghe nào cũng như nhau; mình chỉ biết phó thác trong tay Chúa thôi!
Vẫn biết anh C là người sùng đạo, gia đình có tới hai người làm linh mục, lúc nào cũng nhắc tới Chúa là việc bình thường, nhưng tôi có linh cảm trong trường hợp này, anh nhắc tới Chúa để trấn an cả tôi lẫn bản thân anh. Có nghĩa chính anh cũng không an tâm trước chiếc ghe dài 7 mét rưỡi này!
Dĩ nhiên, tôi không bao giờ nói ra những suy nghĩ của mình, nhưng từ lúc đó, tôi luôn luôn tự nhủ: cho dù ra đi là liều chết, tôi cũng không còn lựa chọn nào khác; hơn nữa, việc tôi thoát chết vì sốt rét rừng ở Phước Long càng khiến tôi tin sống chết là do sự an bài của Đấng Tối Cao!
Chỉ có cách tự nhủ lòng mình như thế, tôi mới có thể yên tâm tiếp tục công việc chuẩn bị vượt biên!
* * *
Khi công việc sửa ghe sắp hoàn tất, ông anh cột chèo bắt đầu đi lùng mua máy ghe. Cứ theo lời Đức “cống”, cùng với chiều dài từ 12m trở lên, ghe còn phải được trang bị động cơ 2, 3 lốc (“lốc”: block, cylinder) thì mới đủ sức đi biển. Tất cả những động cơ này đều là động cơ cũ từ thời VNCH, hầu hết là hiệu Yanmar của Nhật.
Sau khi ông anh cột chèo của tôi mua được một động cơ cũ, đem đi tân trang rồi đưa về ráp vào ghe, tôi được ông anh họ vợ cho biết cái động cơ này… chưa tới 1 lốc!
Một cách chi tiết, đây là một động cơ F10. Sau này có cơ hội tìm hiểu qua tài liệu của hãng Yanmar, tôi được biết các động cơ nhỏ được mang ký hiệu F6, F8, F10, tới F12 mới là 1 lốc.
Như để trấn an chúng tôi, ông anh cột chèo cho biết trong chuyến vượt biên trước đó của mấy đứa con vào năm 1979, ghe chỉ được trang bị máy F8 mà thôi. Rồi ông cho biết sẽ tìm mua một cái máy Kohler (máy đuôi tôm) làm máy sơ-cua!
* * *
Vào khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9/1981, chiếc ghe được “hạ thủy” nhưng chưa chạy thử ngay mà cắm sào đậu tại chỗ để xem chỗ nào bị nước rỉ vào thì đánh dấu để “vá” hoặc đóng thêm đinh rồi trét dầu chai một lần nữa. Nhưng qua một đêm, ngày hôm sau tôi và anh C xem xét từng kẽ ván mà không hề thấy một giọt nước rỉ vào.
Mấy ngày sau, ông anh cột chèo chính thức xin nghỉ việc tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học để bắt đầu đánh cá “chui” cùng với ông anh họ vợ.
“Chui” ở đây có nghĩa là không đăng ký ghe. Sau này ngẫm lại, tôi mới thấy việc ông anh cột chèo “chơi” ghe nhỏ không chỉ tiết kiệm tiền bạc mà còn dễ dàng giả dạng ghe đánh cá chui của người dân.
Thời gian này, hầu như các ghe đánh cá nhỏ không ai đăng ký cả, và thay vào đó thì phải nộp “tiền mãi lộ” hoặc trà lá, quà cáp cho đám công an.
Và vì là ghe nhỏ, không có khả năng vượt biên, nên có thể “lang thang” tới các nhánh của sông Sài Gòn mà không bị chú ý hoặc làm khó dễ, miễn là đừng ra tới cửa Cần Giờ. Giả dạng ghe cào, hai ông anh của tôi sẽ đi đi lại lại càng nhiều càng tốt, thứ nhất để quen thuộc đường lối ngõ ngách, thứ hai, để kết thân, tìm hiểu hoạt động của đám công an biên phòng.
* * *
Trong lúc hai ông anh ở dưới ghe thì trên bộ tôi được giao trách nhiệm mua hải bàn, hải đồ, ống nhòm và… học làm hoa tiêu!
Thoạt nghe ông anh cột chèo nói tôi sẽ làm hoa tiêu, tôi hết hồn, hỏi lại:
– Ghe mình không có hoa tiêu sao anh?
– Tôi hỏi chú chứ tiền đầu mà mướn hoa tiêu? Nếu có dư tiền thì tôi lấy để mua cái động cơ mạnh hơn, hoặc mua bến bãi đàng hoàng, hoa tiêu tính sau!
Rồi ông kể cho chúng tôi nghe những chuyến đi có sĩ quan Hải Quân làm hoa tiêu mà vẫn bị lạc, bị mất tích, bị cướp, thậm chí bị chết đói!
Nhưng nói gì thì nói, các chuyến đi bán chính thức trước kia và đi lậu sau này đều cố gắng tìm cho bằng được một cựu sĩ quan Hải Quân hoặc cựu hoa tiêu Hàng Hải dân sự trước năm 1975 để mời làm hoa tiêu.
Nghe kể có những trường hợp vị sĩ quan Hải Quân còn đang ở tù cải tạo đã được người ta bỏ tiền “chạy” để được thả sớm, về làm hoa tiêu ghe vượt biên!
Cũng may mà tôi có được một bạn tù sĩ quan hải quân thân thiết là Phạm Khắc Khiêm, tay trung úy đã cùng tôi làm xà bông bột (và bị thất bại). Ngoài việc mua giúp tôi cái hải bàn M88 cũ của Hải Quân được tân trang, tấm hải đồ biển Đông, cái ống nhòm, hắn còn sốt sắng nhận lời hướng dẫn tôi cách đi biển.
Mặc dù chỉ là một sĩ quan ngành cơ khí chứ không phải ngành chỉ huy, cả binh nghiệp chỉ quanh quẩn ở Hải Quân Công Xưởng (trước kia là hãng Ba Son của Pháp), nhưng khi còn ở trong quân trường, Khiêm cũng được học về hải hành căn bản. Và theo hắn, bằng đó cũng đủ để làm hoa tiêu vượt biên.
Không biết có phải vì tự ái của một sĩ quan cơ khí hay không mà Khiêm cũng nói giống như ông anh cột chèo của tôi:
– Mày phải biết tuy mấy cha sĩ quan ngành chỉ huy học nhiều, biết nhiều về đi biển hơn tụi tao thật, nhưng đó là trên các chiến hạm có đầy đủ dụng cụ hải hành, nào là hải đồ chi tiết, nào la bàn, nào là máy đo độ sâu, dụng cụ trắc giác, còn xuống ghe vượt biên chỉ có mỗi cái hải bàn con con thì mấy chả cũng như tụi tao thôi!
Rồi với những kiến thức căn bản của mình, Khiêm hướng dẫn tôi cách sử dụng hải bàn, cách xem hải đồ, cách đo vận tốc ghe, cách lấy hướng gió, cách tính độ giạt, v.v… Trong đó quan trọng nhất là xem hải đồ và định hướng.
Tấm hải đồ (photocopy) biển Đông Khiêm mua cho tôi khá lớn và rất chi tiết. Đây là hải đồ tổng quát sử dụng cho tàu bè đi từ Ấn-độ dương sang Thái bình dương qua eo biển Mã-lai (Malacca Strait), từ đó theo hướng Bắc đi lên biển Đông (trong hải đồ gọi là South China Sea theo tên gọi Nam Hải của Tàu), qua eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) lên Đông Hải (East China Sea), bán đảo Triều Tiên, quần đảo Nhật Bản…
Vì chúng tôi dứt khoát không đi Thái Lan, Mã Lai, cho nên tôi chỉ nhờ Khiêm hướng dẫn đường đi Nam Dương và Singapore (Tân Gia Ba). Trong lúc nghiên cứu vùng biển Nam Dương, chúng tôi khám phá ra một chấm nhỏ li ti giữa đại dương có ghi chữ Laut và chú thích 895 ft.
Theo sự giải thích của Khiêm, có lẽ đây là một hòn đảo nhỏ hoặc một ngọn núi nhô lên trên mặt biển 895 bộ có tên là Laut, nằm trên tuyến hải hành nam – bắc, nên đã được ghi ra trên hải đồ để tàu bè quốc tế xem đó như một điểm chuẩn trong việc xác định vị trí, lộ trình.
Nghe Khiêm giải thích, tôi sực nhớ tới nội dung lá thư của cháu Th, con trai lớn của bà chị vợ, kể về chuyến đi của năm anh em, theo đó sau khi ghe bị chết máy và trôi về hướng nam thì thấy một ngọn núi nhô lên ở cuối chân trời, và qua ngày hôm sau gặp một ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương, được họ kéo vào hòn đảo nhỏ có ngọn núi này. Sau hơn một tuần ở trên đảo, đoàn người cùng với những người tới trước đó được tàu lớn đưa tới đảo Kuku, rồi từ Kuku được đưa tới trại tỵ nạn Galang để chờ đi định cư.
Mặc dù cháu Th không biết tên hòn đảo, Khiêm cũng chắc chắn 100% đó chính là đảo Laut trên tấm hải đồ.
Chúng tôi lấy thước đo khoảng cách Vũng Tàu – Laut, nhân với tỷ lệ hải đồ thì thấy vào khoảng 700 km, tức là chỉ bằng 2/3 khoảng cách Vũng Tàu – Singapore (khoảng 1100 km).
Vị trí đảo Laut trên biển Đông. Trong bản đồ này chỉ là một chấm nhỏ, không có chữ Pulau Laut
Sau này qua tham khảo tài liệu, tôi được biết nếu xuất phát từ Vũng Tàu thì hòn đào nhỏ này là điểm tới gần nhất ở vùng Đông Nam Á cho các ghe vượt biên, tức là còn gần hơn cả Thái Lan và Mã Lai.
Chỉ có điều là đảo Laut nằm chếch về hướng đông (165 độ), nếu đi không đúng hướng có thể bị lạc tới lãnh thổ của Mã Lai trên đảo Borneo cách đó khoảng 500 km, nơi mà dân cư đa số là những bộ lạc bán khai!
Như vậy, vì ngay từ đầu đã quyết định không đi về hướng Thái Lan, Mã Lai để tránh hải tặc, tôi chỉ có hai lựa chọn: sau khi ra hải phận quốc tế, hoặc là lấy hướng 165 độ để đi tới đảo Laut, cái đích gần nhất, hai là lấy hướng 200 độ để đi Singapore, xa hơn 300, 400 km.
Cả tôi lẫn Khiêm đều cho rằng nên ưu tiên chọn đi Laut, và sau đó ông anh cột chèo cũng đồng ý với tôi.
* * *
Sau khi học cách sử dụng hải đồ, tôi nhờ Khiêm chỉ cách định phương hướng.
Lẽ dĩ nhiên, ghe vượt biên nào mà không mang theo hải bàn, nhưng vẫn phải đề phòng trường hợp tệ hại nhất có thể xảy ra: hải bàn bị trục trặc, bị công an chặn xét và tịch thu, bị hải tặc cướp đoạt…, khi ấy chỉ còn cách nhờ trời – trời theo nghĩa đen: mặt trời và sao trời!
Ban ngày nhìn hướng mặt trời thì dễ, còn ban đêm muốn định hướng thì phải nhìn sao, nhưng sao nào đây?
Về mục này thì ông bạn trung úy hải quân cũng không khá gì hơn tôi. Nguyên ngày còn ở trong quân trường Khiêm rất ghét môn này, và cũng vì ngành của hắn là cơ khí, không học cách xem sao cũng chẳng sao, kết quả kiến thức về sao trời của hắn chỉ là một chòm sao duy nhất: Thập tự phương Nam (Southern Cross) mà người Việt, người Tàu gọi là sao Nam Tào.
Ngày ấy chưa có Internet cho nên chúng tôi không có bất cứ nguồn tài liệu nào để tìm hiểu về chòm sao này, chẳng hạn thời điểm xuất hiện, vị trí (thay đổi) vào bốn mùa xuân hạ thu đông…
Lúc này tôi mới chợt nhớ và hối tiếc vì đã không chịu tham dự “lớp thiên văn” ngày còn trong tù cải tạo ở Đồng Ban!
Nguyên vào thời gian ở Đồng Ban, tù cải tạo chúng tôi có khá nhiều thời gian rảnh rỗi, cho nên cùng với các “lớp” dạy đàn hát còn có một lớp Anh ngữ do một vị giáo sư Trường Sinh ngữ Quân đội hướng dẫn, và lớp thiên văn do một chàng trung úy Hải Quân phụ trách.
Dĩ nhiên, với một người có bản tính ham vui như tôi thì hơi đâu mà rèn luyện Anh ngữ cũng như tìm hiểu về sao trời. Nay tiếc thì đã quá muộn!
* * *
Tới giữa tháng 8/1981, ông anh cột chèo đổi ý, quyết định sẽ “đánh” trễ hơn, vào khoảng đầu năm dương lịch (1982), khi mùa bão đã chấm dứt. Ông hy vọng trong thời gian chờ đợi sẽ kiếm thêm được vài người khách để lấy tiền lo bến bãi cho đàng hoàng vì bà chị vợ tôi có hai đứa con còn quá nhỏ, đánh “chui” nếu êm xuôi thì không sao nhưng gặp bất trắc thì khó lòng mà lường được chuyện gì có thể xảy ra.
Như vậy, nếu chuyến vượt biên của người cậu họ (em họ của mẹ tôi) cũng diễn ra vào khoảng đầu năm 1982 theo dự trù, hy vọng cả bốn người trong tiểu gia đình của tôi sẽ vượt biên cùng khoảng thời gian: tôi và thằng con trai đi ghe của ông anh cột chèo, vợ tôi và đứa con gái đi ghe của người cậu họ. Được như thế thì không còn gì bằng, bởi tôi không muốn ra đi trước một chút nào, mặc dù trong đa số trường hợp vượt biên nếu hoàn cảnh không cho phép đi cả nhà, bao giờ người ta cũng dành ưu tiên cho ông chồng.
Trong thời gian chờ đợi, tôi được ông anh cột chèo sai làm “thuyết khách” tới một số gia đình họ hàng bên vợ và người quen đã từng tham gia những chuyến vượt biên hụt trước đây để rủ họ vượt biên với chúng tôi, nhưng khi nghe nói ghe chỉ dài 8 mét (tôi tính cả cái mũi Thái Lan giả) ai cũng từ chối khéo.
* * *
Tới cuối tháng 9/1981, ông anh cột chèo lại cho thằng con trai đạp xe sang Phú Nhuận kiếm vợ chồng tôi. Tới nhà, thấy thái độ và nét mặt của vợ chồng ông có vẻ nghiêm trọng hơn thường lệ, tôi cũng hơi lo, trong lòng tự hỏi không biết có chuyện gì?
Thì ra ông quyết định “đánh” sớm, càng sớm càng tốt, có thể là vào giữa tháng 10. Tôi khá ngạc nhiên vì lúc này đã bước vào mùa bão, nhưng không dám hỏi nguyên nhân.
Sau này tôi mới biết ông anh cột chèo quyết định “đánh” sớm vì ông sợ công an thành Hồ ra tay trước! Bởi vì không hiểu do đâu, trong đám cựu đồng nghiệp ở bệnh viện và người quen biết đã có những lời bàn tán về việc ông đang chuẩn bị vượt biên!
Nhưng riêng với gia đình tôi, việc phải “đánh” sớm lại đem tới một tin vui bất ngờ: bà chị vợ thấy ghe còn trống đã nói chồng cho cả gia đình tôi đi theo; ông đồng ý với điều kiện chúng tôi phải đóng góp ngay hai cây vàng để phụ tiền dầu mỡ, bến bãi, và sau này khi tới nơi phải trả thêm hai cây mà ông còn thiếu nợ người khác.
Dĩ nhiên, chúng tôi đồng ý ngay. Trước khi ra về, bà chị vợ còn cẩn thận căn dặn vợ tôi phải phơi nắng cho da đen đen một chút. Bà nói:
– Da trắng như mày mà đi ra đó (vùng bờ biển) không nói người cũng biết ngay là dân Sài Gòn đi vượt biên!
Sau khi về Hố Nai nhờ mẹ tôi mượn cho hai cây vàng đưa cho bà chị vợ, ba anh em chúng tôi ngồi lại để cùng nhau hoạch định chương trình và phân công tác.
Trước hết là ngày “đánh”, chúng tôi chọn tuần lễ bắt đầu vào ngày 12 tháng 10, cũng là giữa tháng 9 âm lịch, trăng sáng.
Về bến bãi, dầu mỡ, lương thực, tuy không có kế hoạch quy mô nhưng ra vẻ cũng khá an toàn, đầy đủ. Trước đó, qua trung gian Lý, một tay tài công từng quen biết năm đứa con của ông đã đi năm 1979, ông anh cột chèo móc nối được hai cặp vợ chồng trẻ ở giáo xứ Lam Sơn (Bà Rịa) muốn đi vượt biên.
Những người này có nhiệm vụ mua chuộc đám du kích địa phương, tìm nhà chứa khách, khuân vác dầu mỡ, lương thực tới điểm hẹn, rồi tất cả cùng nhau lên ghe.
Sau khi nhờ Đức “cống” mua cho cái giấy phép đi đường của công an Phú Nhuận (không biết thật hay giả?), tôi theo ông anh cột chèo ra Lam Sơn gặp Tiến, một trong hai người chồng trẻ nói trên, hẹn địa điểm để tôi đưa người ra.
Trở lại Sài Gòn, để đề phòng những trở ngại bất ngờ có thể xảy ra trên đường đi, hai ông anh quyết định rời Cầu Kinh vào ngày 13/10, từ sông Sài Gòn lần lượt rẽ trái vào các sông Soài Rạp, Lòng Tàu, Đồng Tranh, rồi rẽ mặt vào sông Thị Vải, sau đó len lỏi vào các con lạch để tới điểm hẹn ở Lam Sơn. Khoảng 11 giờ đêm ông anh cột chèo để ông anh họ ở lại giữ ghe, rồi lội bộ tới nhà chứa khách…
Tôi thì cùng với nhiệm vụ đưa người ra Lam Sơn, sẽ mang theo cái hải bàn cất dấu trong một cái lon sữa Guigoz phía trên đựng muối mè, còn tấm hải đồ thì tôi… học thuộc lòng vùng biển Nam Dương rồi để ở nhà!
Tôi quyết định để tấm hải đồ ở nhà vì nó to bằng nửa cái bàn học, không thể nào cất dấu trong người, mà bỏ trong túi xách nếu bị công an xét là bại lộ ngay (có ít nhất hai trạm công an cố định trên đường đi, chưa kể những trạm “đột xuất” với mục đích “bắt địa” dân buôn lậu).
Nói tới việc học thuộc lòng bản đồ có thể nhiều người cho là khó tin nhưng với tôi là chuyện thật.
Nguyên từ thời trung học, tôi rất mê môn Sử Địa, nhất là Thế giới sử, và trở thành đệ tử ruột của Linh mục Bùi Đức Sinh, một vị Giáo sư Tiến sĩ Sử học nổi tiếng thuộc Dòng Đa-minh.
Một trong những phương pháp cha Sinh chỉ dạy tôi để dễ học thuộc thế giới sử là tự tay vẽ lại các bản đồ (từ trong sách) và ghi chú các địa danh, vẽ càng nhiều lần càng thuộc bài. Kết quả, sau đó chính cha Sinh đã phải ngạc nhiên trước trí nhớ của tôi về môn Thế giới sử!
Gần 20 năm sau, phương pháp này được tôi ứng dụng trong việc vượt biên. Tôi vẽ đi vẽ lại vùng biển Nam Dương với đảo Laut, Singapore, và cả đảo Borneo, bán đảo Mã Lai để đề phòng trường hợp bị trôi giạt tới những vùng này.
Cách riêng, tôi phải nhớ nằm lòng phương hướng từ Vũng Tàu đi tới đảo Laut là 165 độ, tới Singapore (trong trường hợp đổi ý) là 200 độ; còn nếu không tìm thấy đảo Laut, lúc đó sẽ phải lấy hướng bao nhiêu độ để đi Singapore thì không thể tính trước, bởi vì còn tùy thuộc khi ấy chúng tôi đã đi được bao xa…
* * *
Hai chuyến đưa người của tôi ra Lam Sơn không gặp trở ngại nào, cái hải bàn nằm trong lon Guigoz cũng trót lọt. Khi tôi và vợ con tới nhà chứa khách thì đã chiều tối. Có tổng cộng 11 người tại đó, gồm bà chị vợ tôi và năm đứa con, ba người con của ông anh họ, hai người khách duy nhất là hai chị em con của một gia đình quen biết, cộng với bốn người của gia đình tôi là 15.
Sau khi đưa gia đình tôi tới nơi, Tiến, anh chàng lo bãi bến, dặn dò chúng tôi cứ yên tâm chờ rồi bỏ đi lo vận chuyển dầu mỡ ra điểm hẹn.
Nhà chứa khách là một căn nhà tôn vách nằm phía bên mặt con đường Sài Gòn – Vũng Tàu, cách đường lộ hơn 1 km.
Mặc dù cũng là những xứ đạo của người Công giáo di cư, nhưng vùng Lam Sơn, Láng Cát… nhà cửa thưa thớt hơn vùng Hố Nai nhiều, càng đi sâu vào phía trong càng thưa thớt, cuối cùng tới gần bờ sông chỉ còn một vài căn nhà của dân chài địa phương, đa số là người miền Nam, mỗi nhà cách nhau cả mấy trăm mét, rất kín đáo, tiện lợi cho việc chứa khách vượt biên.
Gia đình chứa chúng tôi có lẽ đã quen thuộc với công việc này cho nên không hề tỏ ra tò mò trước những người lạ mặt, mà rút hết vào phía bên trong. Họ chỉ cho chúng tôi lối đi ra cầu tiêu ngoài vườn, và tới giờ cơm tối nấu cho chúng tôi mấy ấm nước sôi để ăn mì gói – những tô mì gói cuối cùng chúng tôi ăn trên mảnh đất Việt Nam.
* * *
Hơn 11 giờ khuya, tức giờ hẹn của ông anh cột chèo, vẫn không thấy Tiến quay trở lại, chúng tôi – những người lớn không ngủ được – bắt đầu bồn chồn lo lắng.
Gần một tiếng đồng hồ sau, Tiến mới trở lại cùng với ông anh cột chèo, thúc giục chúng tôi gom góp hành trang ra đi. Tiến dẫn đầu, mọi người theo sau, ông anh cột chèo cõng đứa con gái nhỏ đi sau cùng.
Con đường càng lúc càng hẹp, cỏ lau mọc hai bên cao quá đầu người, cũng may mà có ánh trăng cho nên dù đường rất khó đi, cũng không có ai bị té lọt xuống ruộng.
Cuối cùng chúng tôi cũng tới được bờ lạch, nơi chiếc ghe đậu gần sát bờ, từng người bước trên tấm ván hẹp để lên ghe. Khi chúng tôi lên thì đã thấy gia đình của hai người lo bãi bến ở sẵn trên đó.
Xong xuôi, tôi thấy Tiến nói nhỏ với ông anh cột chèo của tôi rằng có một cậu bé xin đi theo, và ông miễn cưỡng đồng ý.
Viết là miễn cưỡng bởi ông không muốn kéo dài thời gian ở bãi, lỡ bọn du kích hoặc công an địa phương tới bất tử thì tiêu tùng!
Theo cách gọi vào thời vượt biên, cậu bé này thuộc thành phần “canh me”, tức là vượt biên “chùa”, là những người bằng cách nào đó biết được bến bãi của các chuyến vượt biên, tới rình sẵn, đợi lúc mọi người lên ghe thì trà trộn vào để lên theo. Tuy cũng có những chuyến vượt biên quy mô, có sự kiểm soát khách chặt chẽ cùng với một lực lượng chống canh me, nhưng nói chung phần lớn các ghe bị “canh me” đã phải ép bụng chấp nhận, vì sợ bị bể, vì không muốn rắc rối, nhất là trong trường hợp đám canh me thuộc giới “anh chị”!
Vì thế, thành phần “canh me” nói chung thường bị mọi người nhìn với cặp mắt thiếu thiện cảm.
* * *
Sau khi tất cả mọi người đã lên ghe, tổng cộng 25 nhân mạng, ông anh cột chèo cho nổ máy ghe và rời bờ. Lúc đó đã gần 1 giờ sáng ngày 16/10/1981.
Dưới ánh trăng, chiếc ghe lại từ từ len lỏi theo các con lạch để trở ra sông Thị Vải. Ông anh cột chèo hướng dẫn Lý, tài công chính của ghe, bẻ lái.
Sau này tôi được ông anh họ vợ tiết lộ trên đường tới địa điểm bốc khách, sau khi từ sông Đồng Tranh rẽ vào sông Thị Vải, hai người đã không tìm ra con lạch đi tới Lam Sơn, vì trong đêm, con lạch nào trông cũng giống nhau. Giờ đây đi trở ra, chúng tôi cũng gặp khó khăn tương tự.
Điểm xuất phát: Lam Sơn (mũi tên đỏ)
Còn theo lời Lý và Tiến, vốn là người địa phương khá rành đường đi nước bước, từ Lam Sơn có đường đi thẳng ra vịnh Gành Rái, nhưng ông anh cột chèo có lẽ sợ bị công an biên phòng ở Bến Đá và hải quân (CSVN) ở Cát Lở chặn xét, nên đã quyết định trở ra sông Thị Vải bằng đường cũ.
Ra tới sông Thị Vải, thấy chiếc ghe vẫn chạy rề rề, không nhanh hơn khi chạy trong lạch bao nhiêu, tôi đâm ra nghi ngờ tốc độ tối đa của chiếc ghe trang bị động cơ F10 mà ông anh cột chèo nói là 14, 15 cây số/giờ!
Nguyên từ ngày chiếc ghe được “hạ thủy” ở Bình Qưới cho tới ngày ra đi, tôi không có cơ hội đi theo ghe để thực hành cách đo vận tốc do Khiêm hướng dẫn mà chỉ nói lại cách thức cho ông anh cột chèo. Kết quả ông cho biết tốc độ tối đa là 14, 15 cây số/giờ…
Nhưng tôi chưa kịp hỏi ông anh cột chèo về tốc độ của chiếc ghe thì một “tai họa” đã bất ngờ xảy ra: cái khúc đuôi của ống bô máy ghe trổ ra bên hông bị sút ra và rớt xuống sông mất tiêu!
Như đã viết ở một phần trên, 1/3 diện tích ca-bin được sử dụng để đặt cái động cơ Yanmar F10 và làm nơi chứa dầu, nhớt, dụng cụ linh tinh… Giữa khoang đặt động cơ và khoang cho đàn bà con trẻ có vách ván và một cánh cửa nhỏ nhưng không đủ kín để ngăn khói dầu cặn luồn qua.
Bị ngộp khói, mọi người bò ra khỏi khoang ngồi chen chúc trên sàn ghe, trên mui ca-bin. Bằng mọi giá không thể để công an biên phòng nhìn thấy cảnh này khi trời sáng, ông anh cột chèo nói tài công Lý tấp vào bờ.
Nhưng Lý chưa kịp đổi hướng thì bỗng có ánh đèn pha từ phía trước chiếu vào nghe. Thì ra đây là một chiếc ghe công an đi tuần chạy ngược chiều. Ông anh cột chèo quát mọi người chui vào trong khoang và nói Lý giữ nguyên hướng cũ. Ngồi thu mình trong khoang, qua khung cửa sổ nhỏ, tôi thấy ánh đèn pha càng lúc càng gần, rồi đi ngang qua chiếu thẳng vào ghe, sau đó xa dần, xa dần… Sau này, bà chị vợ của tôi nhất quyết cho rằng chiếc ghe công an đã bị “người khuất mặt” che mắt; hay nói cách khác, chúng tôi thoát nạn nhờ phước đức ông bà!
Đợi cho chiếc ghe công an khuất hẳn, ông anh cột chèo nói Lý tấp vào bờ, tắt máy tìm cách giải quyết cái ống bô. Cũng may trước đây sau khi sửa ghe xong, tôi và ông anh họ vợ đã giữ lại mấy miếng tôn Mỹ dài mấy gang tay để sử dụng làm miếng lót bếp khi cần nấu nướng trên ghe; giờ đây được ông anh cột chèo uốn lại thành cái một cái đuôi bô dã chiến. Kết quả, sau khi nổ máy ghe và chạy thử một khúc dọc bờ sông, mười phần khói thì bảy phần đã được cái đuôi bô tống khứ ra ngoài, chỉ còn lại khoảng một phần ba; tức là vẫn gây khó chịu cho người ngồi trong khoang nhưng không đến nỗi bị ngộp thở.
* * *
Vừa vì trục trặc nói trên, vừa vì ghe chạy chậm cho nên tính từ lúc rời Lam Sơn, phải mất gần bốn tiếng đồng hồ chúng tôi mới ra tới vịnh Gành Rái. Từ đây ra tới cửa Cần Giờ là giang sơn của tài công Lý; chú cho biết ánh đèn điện xa xa phía trước là Mũi Gành Rái.
Theo kinh nghiệm của Lý, ra tới vịnh ghe nhỏ không bao giờ đi khơi khơi giữa vịnh vì đó là hải trình của tàu lớn, nếu gặp mà không kịp tránh có thể bị sóng đánh lật nghe; bờ phía bên mặt, tức Cần Giờ thì chú chưa có dịp đi qua, nhưng nghe nói có nhiều cồn cát ngầm đi ban đêm không thể nhìn thấy, cho nên thuyền bè từ cửa sông Thị Vải chạy ra biển thường theo lộ trình phía bên trái, đi ngang qua đảo Long Sơn rồi mới lấy hướng Núi Lớn đi ra cửa biển.
Khi ghe của chúng tôi tới ven đảo Long Sơn, trời bắt đầu sáng. Theo dự trù trước đây của ông anh cột chèo, giờ này lẽ ra chúng tôi đã tới hải phận quốc tế, nhưng nhìn vào bờ chỉ thấy những con tàu lớn đậu san sát. Chúng tôi có thể thấy cờ Liên Xô trên tàu và đám người đi lại trên boong; thì ra đây là những chiếc tàu của các chuyên gia dầu khí Liên Xô sang Việt Nam khai thác các mỏ dầu ngoài khơi Vũng Tàu.
Cùng với những chiếc tàu treo cờ Liên Xô còn có những tàu nhỏ hơn treo cờ đỏ sao vàng, có thể là tàu của các chuyên viên VN, cũng có thể là của lực lượng an ninh, vì thế tôi nói ông anh cột chèo ra lệnh cho mọi người chui vào khoang hết, trừ ông và tài công, để nếu có bị công an chú ý theo dõi sẽ cho đây là một chiếc ghe đánh cá của dân địa phương.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, khi ghe ra tới Núi Lớn thì mặt trời đã lên khá cao, lác đác phía trước có những chiếc ghe đánh cá lớn nhỏ đang đi về hướng bắc đông bắc, tức là hướng Phước Tỉnh, hoặc xa hơn là Phan Thiết. Tôi lấy hải bàn ra để nhắm hướng ra hải phận quốc tế càng sớm càng tốt. Đây là cái hải bàn kiểu M88 của Hải Quân VNCH ngày trước, tới khi có phong trào vượt biên bán chính và vượt biên lậu đã được đám “Hải Quân Nhân Dân” lấy cắp bán cho đám con buôn chuyên về “hàng vượt biên” – gồm hải bàn, hải đồ, ống nhòm, đạn chiếu sáng (flare), thậm chí cả súng và lựu đạn để đối phó với hải tặc, nếu được yêu cầu cũng có!
Trong số hải bàn M88 được đem bán có những cái đã cũ không còn hoạt động chính xác nay được “tân trang” với một lớp sơn mới; cái mà Khiêm mua cho tôi là hàng tân trang. Trước khi trao cho tôi, Khiêm đã dắt tôi lên sân thượng nhà hắn để thử cho tôi thấy nó hoạt động ngon lành!
Nhưng giờ đây, khi tôi vừa lấy trong bọc ni-lông dưới đáy lon Guigoz muối mè ra thì thấy cái kim nó quay loạn xà ngầu! Tôi thử xoay người về hương bắc, vẫn thế!
Tôi tái mặt, trong bụng chửi thề “Mẹ mày Khiêm, mày gạt tao!”, nhưng ngay sau đó tôi cảm thấy ân hận vì đã nghĩ xấu cho một trong những thằng bạn cải tạo thân nhất của mình, và tin rằng chính Khiêm cũng bị một tay trung gian nào đó xí gạt!
Bình tĩnh lại, tôi hiểu cái kim hải bàn quay loạn xà ngầu là do ảnh hưởng từ trường phát ra từ động cơ của ghe; để kiểm chứng, tôi mang ra tận mũi ghe, tức là vị trí xa động cơ nhất, để thử lại thì thấy cái kim không quay loạn xạ nữa nhưng cũng không chịu đứng yên một chỗ, coi như bất khiển dụng!
May mắn thay, ông anh cột chèo của tôi là người chu đáo và biết lo xa, trước đó đã tìm mua và mang theo trên ghe một cái địa bàn cá nhân, trước năm 1975 thường được gọi là “địa bàn bộ binh” mà các sinh viên sĩ quan trong các quân trường đều đã sử dụng qua khi thực tập di hành đêm.
Và cái “địa bàn bộ binh” chỉ lớn hơn cái mặt đồng hồ đeo tay kiểu thể thao ấy đã trở thành người bạn thân thiết của tôi trong suốt cuộc hành trình.
Địa bàn bộ binh
Nhờ đã nghiên cứu hải đồ cùng với Khiêm từ trước, tôi biết từ Vũng Tàu muốn ra hải phận quốc tế bằng con đường nhanh nhất thì phải lấy hướng đông-đông-nam, tức là khoảng 120 độ.
Vừa giữ hướng cho Lý giữ lái tôi vừa đo vận tốc ghe, kết quả thấy chỉ vào khoảng 10 cây số/giờ, nhưng vì không muốn để mọi người phải thắc mắc, lo âu vô ích, tôi nói là 14, 15 cây số/giờ, giống kết quả ông anh cột chèo đã đo trước đó (sau này tôi cũng không nỡ hỏi ông: ngày ấy ông thực sự đo được 14, 15 cây số/giờ – tức là đo sai – hay chỉ đo được 10 cây số/giờ nhưng tăng lên để thêm “uy tín” cho chiếc ghe 7 mét rưỡi của mình?)
Nhưng chính vì lấy hướng đông-đông-nam mà ghe của chúng tôi lọt vào “mắt xanh” của công an biên phòng. Tôi may mắn kịp thời khám phá sự việc này một cách hết sức tình cờ!
Vĩnh biệt Núi Lớn
Nguyên khi đã xa bờ, trong lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi buồn khôn tả, đưa ống nhòm lên quay lại nhìn Núi Lớn một lần cuối, hồi tưởng vào 27 năm trước cũng bỏ quần đảo Cát Bà (trong vịnh Hạ Long) lại sau lưng để di cư vào Nam, thì chợt nhìn thấy ra hai chiếc ghe lớn treo cờ đỏ sao vàng đang từ bờ tiến về hướng chúng tôi. Quan sát kỹ, tôi nhận ra những bóng công an trên ghe, và hình như có một tay đang đưa ống nhòm lên.
Như một phản xạ tự nhiên, tôi ngồi thụp xuống, miệng la lớn:
– Ghe công an rượt, chui vào khoang hết!
Rồi tôi rồi nằm bò ra sàn ghe, gác cái ống nhòm lên thành ghe tiếp tục quan sát, thì thấy khá rõ tay công an đang cầm ống nhòm hướng về phía ghe của chúng tôi. Tôi báo cho ông anh cột chèo biết sự việc, ông nhanh trí nói với Lý:
– Lấy hướng Phan Thiết!
Trong lúc Lý bẻ lái về hướng bắc đông bắc, tôi quay lại phía sau quan sát. Thấy hai chiếc ghe công an càng lúc càng gần, tôi nghĩ thầm trong bụng: với tốc tốc độ này chắc chắn chúng sẽ đuổi kịp trong vòng 15, 20 phút nữa mà thôi. Tôi chuẩn bị sẵn trong đầu những lời khai khi bị bắt và cầu mong vợ con tôi sẽ nhớ để khai ăn khớp, dấu biệt việc tôi là sĩ quan đi tù cải tạo về, và khai địa chỉ ở Hố Nai chứ không khai ở Sài Gòn…
Rồi tôi vừa thầm cầu nguyện vừa nằm trên sàn ghe tiếp tục quan sát qua ống nhòm; một hồi sau tôi thấy hình như hai chiếc ghe công an không rượt theo chúng tôi nữa mà đổi sang hướng đông. Trong lòng vẫn còn nghi hoặc, tôi không vội cho mọi người biết diễn tiến này; chỉ tới khi hai chiếc ghe công an gần khuất bóng cuối chân trời, tôi mới báo tin mừng thoát nạn! Có lẽ sau khi lấy ống nhòm quan sát, thấy ghe của chúng tôi nhỏ xíu và đang lấy hướng bắc đông bắc, cùng hướng với những ghe đánh cá khác, đám công an biên phòng đã kết luận đây chỉ là một ghe đánh cá ven biển.
Hải quân Thiếu tá* Loi Van Huynh được bổ nhiệm làm Sĩ quan huấn luyên Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74), căn cứ Hải quân Newport News, Virginia từ tháng 7 năm 2024. Tháng 8 năm 2022, HQ Đại uý** Loi Van Huynh được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân chọn dề cử thăng HQ Thiếu tá, và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện xác nhận bầu chọn ngày 29 tháng 9 năm 2022, tháng 9 năm 2023, ông được chính thức thăng cấp HQ Thiếu tá. Nhiệm kỳ vừa qua, ông là Sĩ quan chuyên viên phân tích nhân lực thuộc Biệt đội Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC) tại Căn cứ Hải quân Norfolk, Virginia từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024.
HQ Thiếu tá Loi Van Huynh đã từng phục vụ các đơn vị Hải quân qua các nhiệm kỳ và thời gian: Từ tháng 10 năm 2019 đến Tháng 2 năm 2022, Sĩ quan Quyền chỉ huy trưởng Trung tâm tuyển mộ nhân tài Hải quân Columbus, Ohio, Biệt đội tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Ohio River Valley. Chịu trách nhiệm tuyển mộ Sĩ quan các khu vực Columbus, Dayton và Beckley WV cho ngành Sĩ quan chỉ huy Hải quân. Biệt đội tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio River Valley. Chịu trách nhiệm điều hành 2 văn phòng liên lạc và tuyển mộ gồm 70 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thủy thủ và 5 nhân viên dân sự tại Trung tâm tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Columbus.
HQ Đại úy** Loi Van Huynh, Sĩ quan tuyển mộ nhập ngũ, giới thiệu và giải đáp cho một học sinh trung học (ảnh của Chief Mass Communication Specialist Brian Dietrick/Release năm 2020).
Từ năm 2018 đến năm 2019, Sĩ quan điều hành chương trình tuyển mộ Sĩ quan Hải quân tại West Palm Beach, Florida, Phòng tuyển mộ Hải quân khu vực Miami. tuyển mộ những nam, nữ tài giỏi và thông minh gia nhập Hải quân, trở thành những Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ. HQ Đại úy Loi Van Huynh điều hành 25 nhân viên Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ.
Từ năm 2016 đến năm 2018: Sĩ quan chống khủng bố kiêm Sĩ quan an toàn Tuần dương hạm USS LEYTE GULF (CG-55), khu vực Norfolk, Virginia, giám sát các vấn đề liên quan đến bảo vệ lực lượng và an toàn. huấn luyện đào tạo và trang bị cho hơn 300 thủy thủ các thiết bị và chiến thuật bảo vệ lực lượng mới nhất. Quản lý hơn 15 chương trình an toàn của Hải quân mà không có tai nạn nào liên quan đến an toàn.
Từ năm 2014 đến năm 2016: Sĩ quan cơ khí Khu trục hạm USS MITSCHER (DDG-57), căn cừ Hải quân Norfolk, Virginia, Sĩ quan điều hành 25 Hạ sĩ quan và Thủy thủ chuyên ngành cơ khí kỹ thuật hệ thống tua bin (GSM), điều hành hoạt động và bảo trì 4 máy phát điện General Electric, LM 2500. chịu trách nhiệm vận hành an toàn trên chiến hạm.
Huy hiệu Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis, CVN 74 (ảnh của en.wikipedia.org).
Hải quân Thiếu tá Loi Van Huynh tốt nghiệp các Văn bằng Cử nhân và Cao học tại các trường: Tốt nghiệp Trường Đại học University of Oklahoma – Gallogly College of Engineering – Văn bằng Cử nhân Khoa học Kỹ nghệ Cơ khí năm 2014, Tốt nghiệp trường Đại học Youngstown State University – Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh năm 2021; Tốt nghiệp Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College) – văn bằng Chỉ huy tham mưu năm 2022.
Hải quân Thiếu tá Loi Van Huynh 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều HQ Thiếu tá gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: *HQ Thiếu tá=Navy Lieutenat Commander; **Ghi theo khi còn mang cấp HQ Đại uý=Navy Lieutenant.
Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; bienxua-28 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2022.
Hải Quân Thiếu tá Hugh Tran (ảnh của linkedin.com).
Hải Quân Thiếu tá* Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ hiện đang phục vụ đặc trách Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương từ tháng 5 năm 2024. Ông nguyên là Sĩ quan tác chiến Hạm đội trên mặt biển (SWO) đã từng phục vụ trên Hàng không mẫu hạm và Khu trục hạm Hải quân Hoa Kỳ, Hugh Tran được thăng cấp Thiếu tá vào tháng 4 năm 2024. Ông nguyên là một Hạ sĩ quan Hải quân ngành cơ khí, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41) và Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân.
HQ Thiếu tá Hugh Tran đã từng phục vụ các đơn vị Hải quân qua các nhiệm kỳ và thời gian được ghi nhận : Từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024, Phục vụ trên Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), Căn cứ Hải quân San Diego, California. Sĩ quan Phụ tá chính cho Hạm phó quản lý chương trình bảo trì trên 20 ban ngành và 139 trung tâm làm việc.
HQ Thiếu tá Hugh Tran trên đài chi huy Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), (ảnh của linkedin.com).
Từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 6 năm 2022**, phục vụ tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy), Annapolis, Maryland. Sĩ quan quyền chỉ huy (OIC), Phòng Sẵn sàng trên sông, quản lý việc bảo trì và vận hành Huấn luyện hạm (YP) cho Sinh viên sĩ quan thực tập.
Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 12 năm 2013**, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41), San Diego, California. Hạ sĩ quan cơ khí chỉ huy trong bộ phận máy chánh trên chiến hạm.
Từ tháng 8 năm 2008 đên tháng 8 năm 2011, phục vụ Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân. Nhân viên tuyển mộ Hải quân tại Trạm Downtown Los Angeles và Trạm Alhambra.
Từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 7 năm 2008, nhập ngũ trở thành Thuỷ thủ căn cứ Hải quân San Diego, California, Nhân viên kỹ thuật viên cơ khí hệ thống tua bin (GSM). Trung sỉ Hải quân, quản lý trung tâm làm việc.
HQ Thiếu tá Hugh Tran tốt nghiệp các văn bằng: Tốt nghiệp Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) với Văn bằng Cao học quan hệ Quốc tế và nghiên cứu an ninh Quốc gia năm 2024; Tốt nghiệp Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College) với Văn bằng Cao học giáo dục quân sự chuyên nghiệp tổng quát năm 2021; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh và quản lý tổng quát năm 2002; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng kinh doanh quốc tế năm 1999.
Là Sĩ quan Hải Quân, ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ, HQ Thiếu tá Hugh Tran nói được 4 ngôn ngữ: Pháp, Đan Mạch, Việt Nam và Anh ngữ.
Hải quân Thiếu tá Hugh Tran 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Loi Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều HQ Thiếu tá gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Viết theo tài liệu; *HQ Thiếu tá=Navy Lieutenat Commander; **Không tìm thấy tài liệu ghi nhận chi tiết thời gian từ năm 2013 đến năm 2022, và cũng không ghi nhận được chi tiết HQ Thiếu tá Hugh Tran thụ huấn trường Sĩ quan Hải quân nào, OCS hay USNA? và tên Khu trục hạm ông từng phục vụ?
Có những vị trưởng lão râu tóc bạc phơ, nói rằng, “họ đã nghe, đã thuộc Cô Lái Đò và Biệt Ly của Dzoãn Mẫn từ lúc còn nhỏ”. Và họ không ngần ngại hát ngay vài câu để chứng minh điều đó:
Dừng chèo lại đây cô lái đò ơi
Dừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi
Cho tôi sang với bên sông xa vắng
Trời khuya thanh vắng
khách sang mình tôi
Khi bài Cô Lái Đò [cũng có người nhớ là Cô Lái Thuyền Xinh] bắt đầu được phổ biến, ít người biết đó là một sáng tác của Dzoãn Mẫn. Vào thời ấy, hình như vấn đề tác giả chưa được người ta chú ý lắm. Chỉ mãi sau này, qua những bài viết của các nhà nghiên cứu, các tác giả đồng thời với ông, người ta mới biết đó là một sáng tác của ông. Song từ khi Dzoãn Mẫn nổi tiếng như một tác giả lại không thấy ca sĩ nào trình bày hay cho ghi âm lại bài Cô Lái Đò. Hỏi những người hay sưu tầm, lưu giữ băng đĩa nhạc cũ, quả thật không ai có cả.
Các tác giả đồng thời với ông, nay không biết còn lại bao nhiêu người?
Những người nói là mình thuộc nhạc Dzoãn Mẫn từ khi còn nhỏ, sự thực cũng chỉ cùng trang lứa với ông, hoặc chênh lệch 5, 10 tuổi thôi.
Nền tân nhạc của chúng ta còn quá trẻ. Kể cả những người đã chết [hình như] cũng chưa ai tới tuổi bách niên. Nếu chúng ta coi thời kỳ khởi sự của nền tân nhạc Việt Nam là một thời rực rỡ thì Dzoãn Mẫn chính là một trong những người đã đóng góp nhiều công lao nhất. Cũng có thể nói thêm, tất cả các ca khúc của Dzoãn Mẫn còn được lưu truyền cho đến hiện tại, đều đã được ông viết trong thời gian ấy.
Suốt thời kỳ chiến tranh rồi cộng sản sau đó hình như ông không viết được gì cả. Vì, cho đến nay, người ta không thấy một sáng tác nào khác của ông, ngoài những gì ông đã viết ra trước đó. Người ta cũng không biết ông được hưởng những gì, phải chịu đựng những gì, trong trận gió tanh mưa máu diễn
ra trên khắp đất nước và riêng ở miền Bắc suốt hơn một nửa thế kỷ qua.
Ông khó lòng đóng vai một người vô danh, nên chỉ nguyên cái việc tên ông không thấy ai nhắc tới trong những ngày ấy đủ là một chuyện lạ.
Biệt Ly ca khúc được nhiều biết đến nhất của Dzoãn Mẫn, nghe nói, đã được ông viết từ khi còn đang là một học sinh trung học. Mới đầu nó có tên là Huyền Trân và nằm trong vở kịch Huyền Trân Công Chúa. Vở kịch này Dzoãn Mẫn viết để các bạn cùng trường [Bưởi / Chu Văn An] trình diễn trong một đêm văn nghệ cuối năm của học sinh / sinh viên tại Nhà Hát Lớn Thành Phố [Hà Nội]. Có thể coi Biệt Ly là ca khúc tiêu biểu của tân nhạc
Việt Nam trước chiến tranh. Lãng mạn, ngọt ngào, nửa tưởng tượng, nửa thực. Người ta nói đến tình bằng thứ ngôn ngữ tựa những mảnh của một tấm gương tuy đã dập vỡ nhưng vẫn long lanh hạnh phúc.
Biệt ly nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may
Người về có hay
Biệt ly sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi
Ngày tháng trôi cùng lướt trôi
Mấy phút bên nhau rồi thôi
Đến khi bóng em mờ khuất
Người về u buồn khắp trời
Người ra đi với ngàn nhớ mong
Trong thơ và nhạc của chúng ta những ngày xa ấy, có hai tiếng còi tàu đã để lại dư vang trong lòng rất nhiều người. Tiếng còi tầu hỏa [xe lửa] trong thơ Tế Hanh:
Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ
Lòng của người đi réo kẻ về
Và tiếng còi tàu thủy trong nhạc Dzoãn Mẫn:
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Đó là tiếng còi của những chuyến tàu Nam [Hà Nội – Nam Định]. Những người sống ở hai bên ven sông Hồng, gần bến Phà Đen, chắc không ai quên được tiếng còi này. Nhất là những buổi chiều mùa đông, đất trời u ám, cái tiếng “ù ù” trầm nặng, ngắn ngủi của còi tàu, chỉ nghe thôi đủ não lòng đừng nói đến phải làm chia ly trong cảnh ấy.
Một điều cũng nên nói thêm ở đây là, không chỉ riêng nhạc Dzoãn Mẩn, mà là tình trạng chung của sinh hoạt âm nhạc Việt Nam hiện nay là, nếu người ta có trong tay ba đĩa nhạc, thu thanh cùng một bài hát, người ta sẽ không biết bài nào đúng với bản chính nghĩa là đúng với bản do nhạc sĩ sáng tác. Vì, mỗi người hát một khác. Có những cái sai người ta có thể biết được, đoán ra được. Nhưng cũng có những cái sai chỉ mình tác giả biết.
Thí dụ bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, câu:
Ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Có người hát là “ôm sầu nghiêng bóng”, “ôm sầu soi bóng”?
Bài Biệt Ly của Dzoãn Mẫn:
“Biệt ly ‘sóng’ trên dòng sông hay ‘sống’ trên dòng sông”?
“Dáng em sáng trong hồn tôi” hay “sống trong hồn tôi”?
Nếu lại có thêm một bản thứ ba có một hai chữ khác nữa thì người ta không còn biết đâu là sự thật, câu nào đúng, câu nào sai, trừ tác giả! Nhạc Dzoãn Mẫn vào cái thời xa xôi ấy đã được coi là có nhiều cái mới, từ giai điệu, nhịp điệu đến ca từ. Một Buổi Chiều Mơ có đủ cái chững chạc của một bản
boston ngoài hát có thể dùng để khiêu vũ.
Đàn du dương quá ru hồn quá
Đàn vang reo khắp thinh không xa
Đàn bay theo gió theo rừng lá
Trời chiều màu ngà
Đàn yêu đương quá êm đềm quá
Đàn đang lan thánh thót trong sương sa
Đàn như ganh với muôn lời lá
Và với ngàn lời hoa
Chiều nay ánh trăng lên
Lầu hoa thắm êm đềm
Nhưng đâu bóng trên gác cao
Nàng còn đứng đâu
Lòng tôi càng đớn đau
Nhịp điệu rộn rã [slow fox] Dzoãn Mẫn dùng để viết Hương Cố Nhân khi ấy còn hoàn toàn mới đối nhạc Việt Nam. Dzoãn Mẫn viết không nhiều.
Những bài phổ biến nhất của ông gồm có:
Cô Lái Đò
Biệt Ly
Gió Xa Khơi
Hương Cố Nhân
Một Buổi Chiều Mơ
Nhắn Người Chiến Sĩ
Mỗi ca khúc của Dzoãn Mẫn là một cõi tình thu nhỏ. Lời ca của ông là những “câu ân ái, thốt ra từ những cái miệng ái ân” như cách nói của Nguyễn Bính [?]. Trừ bản Biệt Ly có vẻ não nùng, tất cả các ca khúc khác
của Dzoãn Mẫn, cái đẹp, chất thơ mộng nhiều hơn cái buồn, nên tự nó làm nên cái vui, cho dù ông có nói tới một cuộc chia cách nào khác.
Sau đây là nguyên văn bài Hương Cố Nhân của Dzoãn Mẫn:
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.