Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 1 Jun 2025

9. Dzoãn Cảnh & Văn Thủy

Dzoãn Cảnh chỉ có một bài hát duy nhất được phổ biến, đó là bài Dứt Đường Tơ. Ấn bản đầu tiên của bài hát này có ký tên một đồng tác giả: Văn Thủy. Nhưng người ta không biết đó có phải là Văn Thủy tác giả “Vườn Thu” chăng? Bởi vì khi ấy, hình như đã thành một thông lệ, một bài

hát được in ra, ở bìa sau, người ta thường liệt kê các tác phẩm của cùng tác giả, đôi khi có thêm một bức chân dung tác giả. Ấn bản “Dứt Đường Tơ” không có bảng liệt kê, cũng không có hình ai cả. Còn “Vườn Thu” tuy được phổ biến rộng rãi trên các làn sóng điện, nhưng hình như lại chưa bao giờ được in ra. Vì chẳng nghe ai nói đã nhìn thấy ấn bản bài hát này. Và từ đó

đến nay người ta không được biết gì thêm về Văn Thủy cũng như Dzoãn Cảnh. Nhưng vào cuối thập niên 40 đầu thập niên 50 “Dứt Đường Tơ” được hát rất nhiều. Nhất là ở Hà Nội. Ngọc Bảo, Quách Đàm, Minh Đỗ, Tâm Vấn, Thanh Hằng, Thanh Hiếu … gần như tất cả các ca sĩ danh tiếng ở Hà Nội bấy giờ đều ít nhất đã có một lần hát Dứt Đường Tơ trên đài phát thanh hay tại một sân khấu nào đó. Đó cũng là thời gian đất nước đang chìm ngập trong chiến tranh.

Ranh giới giữa hai phe Quốc/Cộng đã rõ ràng. Nhưng trên thực tế chỉ một số ít người ý thức được thế nào là hiểm họa cộng sản, coi việc chống cộng là chuyện sinh tử, phần lớn dân chúng theo phe này phe kia do tình cờ nhiều hơn lựa chọn. Họ ở đâu thì thuộc về phe đó và trở thành địch đối với phe kia. Và đấy có thể là nguyên do của những tang tóc, chia ly, đau khổ.

Không biết rõ mình là ai, phải làm gì, chiến tranh đối với người ta chỉ còn một ý nghĩa duy nhất: tai họa. Nó cũng giải thích vì sao người ta luôn cảm nhận một nỗi u ám bao trùm lên nhạc của chúng ta, kéo dài cho mãi tới sau này.

Dứt Đường Tơ có thể coi là điển hình cho cái thời buồn bã đó. Bài hát được hát nhiều như thế, nhưng cứ thử nghe lại mà xem, chúng ta thực sự không hiểu rõ tác giả định nói gì, cảnh và tình đều mơ mơ hồ hồ, chỉ có một điều người ta cảm nhận được, đó là đằng sau mỗi ca từ, mỗi âm điệu hình như

đều lẩn khuất một lời cầu nguyện.

Dứt Đường Tơ

Khói mây chiều buồn vương theo gió

Sáo êm ru hiu hắt lời thơ

Lòng lắng trôi theo nguồn say mơ

Khúc mơ hồ vương vương lưu luyến

Mơ đến ngày đầy ánh huy hoàng

Lòng ơi dứt đi đường tơ

Tóc tang còn âm u trong gió

Thiết tha chi những nỗi hoài mong

Đàn lẻ cung thôi đừng buông tơ

Đắm hương tình khi đang giông tố

Non nước đang tràn máu anh hùng

Đừng mơ ái ân đàn ơi

Rung chi tơ lòng

Đầy vơi cung oán mơ mòng

Buồn nghe tiếng gió vấn vương

qua cành lá

Duyên tơ lỡ làng

Sầu vương theo khúc bẽ bàng

Đìu hiu lướt êm trên hàng tơ liễu xanh

Suối u huyền trầm lan trong gió

Quyến trăng thanh lấp lánh vàng tơ

Hờn chiến chinh vang lừng không gian

Nhớ chăng lòng quê hương nguy biến

Mau đứng lên chào đón thanh bình

Lòng ơi dứt đi đường tơ

Cho mãi về sau này, trong âm nhạc của chúng ta chỉ có một người ký tên Văn Thủy, vậy có thể tin được rằng, ông cũng là đồng tác giả của ca khúc “Dứt Đường Tơ”. Nhưng “Vườn Thu” của Văn Thủy, so với “Dứt Đường

Tơ”, tuy cũng vẫn nằm trong một dòng nhạc thường được gọi chung là lãng mạn tiền chiến, nhưng đẹp và chặt chẽ hơn nhiều, về cả ba phương diện bố cục, giai điệu và ca từ. Nhạc sĩ của chúng ta hầu như ai cũng viết về mùa thu.

Mùa thu quyến rũ anh rồi [Đoàn Chuẩn/Từ Linh]

Ta yêu thu, yêu mùa thu [Văn Cao]

Chiều thu đứng ngắm xa núi sông mơ màng

Chiều tha hương lòng nghệ sĩ bẽ bàng [Ng. V. Khánh]

Vườn Thu

Chiều lâm ly lắng trôi

Theo lá vàng tách rơi

Đông đến tứ bề

Khắp vườn hoang vắng

Khi gió thu sang

Vườn thu không bóng chim

Bao dáng buồn lắng im

Hơi gió lùa tới

Cánh hoa tơi bời

Lướt theo chiều gió

Cánh hoa theo chiều gió

Hồn hoa tìm bướm mơ

Chết khi mùa đông đến

Bướm hoa nặng tình duyên

Thu xưa xa xăm ngoài chân mây

Thu nay bơ vơ thuyền trôi đây [Đặng Thế Phong]

Không thể nào trích dẫn hết được. Một điều đáng ghi nhớ nữa là tất cả nhạc thu của chúng ta, rõ hơn những bản thu ca của chúng ta, đều là những bài

hát hay. Có phải vì mùa thu chăng? Vườn Thu của Văn Thủy vừa là một bản nhạc vừa là một bài thơ thu, nếu tách riêng phần lời ca. Để nói về cảnh thu tàn, thơ của chúng ta cũng không có hình ảnh nào vừa cụ thể, vừa thơ mộng hơn câu của Văn Thủy: “Xác hoa trên mình bướm”.

Xác hoa trên mình bướm

Còn vương bao nhớ thương

Khóc trong vườn thu vắng

Những đêm sầu buồn vương

Hương mặn tình mơ tàn dưới gió đông

Gây mối oán than sầu đông

Khi mùa thu chết còn quyến luyến

Tiếc bao chuỗi ngày xuân thắm tươi

Lá rơi theo chiều gió

Vườn thu thêm xác xơ

Tiếng thu còn vi vu

Thấu chăng vườn hồn thu

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 1 Jun 2025

Phần 17

Phần II: Về Miền Đất Hứa

Chương 1 – “Người công dân mất quyền”

Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, bố tôi xin nghỉ việc tại Ty Công Chánh Biên Hòa, không phải vì ông sợ quá khứ “thư ký hội đồng xã” (ở Trảng Bàng, Tây Ninh) bị phanh phui mà chỉ vì bực mình, chán ngán trước sự lộng hành của mấy tay nằm vùng và đám 30 tháng Tư đa số thất học và ngu xuẩn.

Ít lâu sau, bố tôi và các em tôi theo chân người dân trong giáo xứ vào “đồng ruộng”.

“Đồng ruộng” nói tới ở đây là một phần của vùng đất trũng nằm ở phía tay trái quốc lộ 1, hướng Sài Gòn đi ra miền Trung, mà mấy chục năm về trước, Phủ Tổng ủy Di cư của chính phủ Ngộ Đình Diệm đã dự trù biến thành một vùng nông nghiệp trù phú của tỉnh Biên Hòa.

Xin có đôi dòng về vùng Hố Nai. Về mặt địa lý, Hố Nai là vùng đất nằm dọc hai bên quốc lộ 1, khởi đầu từ cây số 6 – tính từ trung tâm thành phố Biên Hòa – tới cây số 18, tức là từ Suối Máu (trại tù Suối Máu tôi đã ở) tới Suối Đỉa (nay thuộc huyện Trảng Bom).

Địa danh “Hố Nai” từ đâu mà có, không một ai được biết. Giả thuyết duy nhất được một số người nhắc tới cũng không mang nhiều sức thuyết phục:

Xưa kia tại vùng đất ngày nay thuộc tỉnh Biên Hòa có nhiều nai nên được gọi là “Đồng Nai” (?). Tại khu vực rừng thưa dọc theo quốc lộ 1, các thợ săn thường đào những cái hố sâu để nai lọt xuống không leo lên được, vì vậy mà vùng này được gọi là “Hố Nai” (?).

Còn theo sách vở và những người dân địa phương thuộc thế hệ trước, xưa kia vùng rừng thưa hoang vắng này được dân Biên Hòa gọi là rừng Phước Cang, từ cây số 6 có rừng cao su của một chủ đất người Việt dài khoảng một cây số (tới cuối thập niên 1960 vẫn còn nhưng không khai thác). Đi thêm vài cây số nữa (nay là Hố Nai 2) là thung lũng Đồng Lách nằm sâu phía bên trái, từ thượng lưu sông Đồng Nai trải dài tới hồ Trị An.

Sau cuộc di cư năm 1954 của một triệu người miền bắc vào nam, chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã đưa đồng bào Công giáo di cư tới khai hoang các vùng đất như Rạch Dừa (Vũng Tàu), Phú Thọ (Sài Gòn), Xóm Mới (Gò Vấp), Cái Sắn (Rạch Giá), Hố Nai (Biên Hòa), Túc Trưng, Gia Kiệm (Định Quán), Phương Lâm, Bảo Lộc…

Riêng tại vùng Hố Nai, từ Suối Máu tới Suối Đỉa, đất dọc quốc lộ được chia đều cho các Giáo phận miền bắc di cư, theo thứ tự Hải Phòng, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Bùi Chu, và sau cùng là Bắc Ninh.

Hố Nai là một vùng rừng thưa, tuy có mấy con suối nhưng đất đai đa phần khô cằn sỏi đá, lúc bấy giờ còn đầy thú rừng, cho nên chỉ có khúc giữa (Kẻ Sặt, Thái Bình, Ngọc Đồng…) phát triển nhờ buôn bán, sản xuất hàng thủ công nghệ và khai thác gỗ. Rừng Hố Nai có nhiều gỗ quý như cẩm lai, gõ…, còn những cây bằng lăng thì tới thập niên 1960, tôi về chơi thấy hầu hết vẫn còn nguyên.

Còn ở khúc cuối (Thanh Hóa, Bùi Chu, Bắc Ninh) đa số dân chúng chỉ biết sống nhờ nghề làm củi (vào rừng cưa củi), làm than, chăn nuôi, canh tác hoa màu ở những vùng đất ven suối.

Nhà thờ giáo xứ Bùi Chu, khánh thành năm 1967, lấy theo mẫu Nhà thờ Đức Bà ở Anjou, Montréal,

Canada; rất tiếc, sau năm 1975 đã bị phá bỏ để thay bằng một ngôi thánh đường “hiện đại” hơn

Nhưng, như đã viết ở trên, khi đưa dân di cư tới vùng Hố Nai, kế hoạch ban đầu của Thủ tướng (sau trở thành Tổng thống) Ngô Đình Diệm là biến thung lũng Đồng Lách thành một vùng nông nghiệp trù phú. Một con đường đất lớn đủ cho xe chạy hai chiều được đắp từ quốc lộ 1, khoảng giữa giáo xứ Thanh Hóa và giáo xứ Bùi Chu, đi vào đồng ruộng.

Lúc ban đầu, chính phủ đã dựng nhà cửa, đưa một vị linh mục tới trông nom cả phần hồn lẫn phần xác cho giáo dân tới khai hoang lập ấp, nhưng chỉ 2, 3 năm sau đã phải lần lượt bỏ đi!

Nguyên nhân: du kích Việt Cộng từ mật khu (thuộc chiến khu D) tiếp giáp với Đồng Lách kéo về quấy phá. Đám du kích ở đây bắt đầu hoạt động rất sớm, ngay từ những năm 1957, 1958 chứ không cần đợi khi Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) được thành lập vào cuối năm 1960.

Chỉ còn lại một số dân Hố Nai vẫn tiếp tục vào đồng ruộng trồng lúa nhưng sáng đi chiều về chứ không dám ngủ đêm trong đó. Tuy nhiên sau khi xảy ra cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của đám tướng lãnh vào cuối năm 1963, các ấp chiến lược bị phá bỏ thì hầu như không còn người dân Hố Nai nào dám vào đồng ruộng nữa, bởi khu vực này đã hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Việt Cộng, từng xảy ra những cuộc giao tranh với quân đội quốc gia.

Sau 30/4/1975, trước viễn ảnh đói khổ dưới chế độ mới, nhiều người dân Hố Nai và cả từ những nơi khác đã trở lại đồng ruộng để khai thác vùng đất bị bỏ hoang từ nhiều năm qua. Bố tôi vốn yếu đuối, từ ngày di cư vào nam không quen chân lấm tay bùn, lại vào sau người ta cho nên chỉ còn những khu đất tương đối cao, nửa ruộng nửa rẫy. Cuối cùng chỉ khai thác được hơn một héc-ta để trồng lúa, nhưng thu hoạch cũng chẳng bỏ công.

Trước tình cảnh này, ba người bác, tức hai bà chị và một ông anh của bố tôi, đề nghị gia đình tôi xuống Cái Sắn để làm ruộng của các bác chia cho.

Gia đình các bác ở Kênh 5, một trong những “kênh” (kinh) trù phú nhất của vùng Cái Sắn. Tuy nhiên việc về Cái Sắn đã bị mẹ tôi phản đối vì, như đã viết trong kỳ trước, sau khi trường học của giáo xứ Tân Thành bị cộng sản tịch thu, mẹ tôi đã “chiếm” trường của giáo xứ Bùi Chu làm nhà dưỡng lão cho người già đơn chiếc, đặt tên là Nhà Tình Thương, bà cụ mà bỏ đi chắc chắn sẽ bị chính quyền địa phương tịch thu!

Cuối cùng, gia đình tôi chia đôi, bố tôi và hai trong số các con trai về Cái Sắn, mẹ tôi ở lại Hố Nai với bốn người con còn lại.

* * *

Năm 1981, khi tôi ra tù và từ Sài Gòn về Hố Nai thì người em trai kế tôi đã có vợ con và ra riêng, người em trai giữa được cho đi tu làm linh mục thì đã bị tử nạn vì đạn nổ vào năm 1977 (thời gian tôi đang bị cải tạo ở Phước Long), nên người em trai út được mẹ tôi “dâng cho Chúa” để thế chỗ, ở nhà chỉ còn mẹ tôi và cô em gái độc nhất.

Ấp Bùi Chu – cũng là giáo xứ Bùi Chu, tuy ở gần cuối vùng Hố Nai nhưng có lẽ vì đông dân nhất nên được chính phủ ưu ái xây cho một trường tiểu học khang trang nhất vùng, mái tôn tường gạch tô quét vôi màu vàng, thềm xi-măng sạnh sẽ cao ráo; trong số giáo viên có những thầy cô về từ Sài Gòn.

Đó là trường tiểu học công lập Minh Đức, nơi tôi học một nửa năm lớp Ba, năm lớp Nhì và mấy tháng lớp Nhất (Grade 6 ngày nay) trước khi lên Sài Gòn ở với bà ngoại vào năm 1958. Đây là lớp Nhất đầu tiên của trường với các học sinh cùng lứa tuổi, khác với những niên khóa trước có cả học sinh đã sắp tới tuổi đi lính hoặc… lấy chồng!

Trường tiểu học công lập Minh Đức, sau hơn 60 năm trông vẫn như xưa

Vì thế, lớp Nhất của tôi được xem là những “tinh hoa” đầu tiên của trường; trong đám nam sinh sau này một tay làm luật sư, mấy tay đại úy, trung úy Hải Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến…

Nhưng khi tôi trở lại chốn xưa vào năm 1981 thì không gặp lại một ai; tay trung úy TQLC – bạn thân nhất của tôi – và tay trung úy pilot trực thăng đã đền nợ nước trước 1975, tay đại úy Hải Quân thì đi tù chưa về, còn lại thì tất cả đã hoặc đang tìm đường vượt biên, trong đó tay luật sư nghe nói đã mất tích trên biển Đông!

Ngoài đám bạn học chung lớp Nhất năm xưa, tôi cũng quen biết một số bạn khác, trước kia không có “nợ máu với nhân dân” cho nên giờ này được thoải mái dưới chế độ mới, có người còn xung phong giữ chức vụ này chức vụ nọ cho nên tôi không qua lại với bất cứ người nào.

Vì thế, mặc dù thửa lúa của nhà tôi trong đồng ruộng chẳng hứa hẹn gì nhiều, tôi cũng thường vào chăm sóc – thực chất là để giải khuây, có khi đi với mẹ tôi, có khi đi một mình…

Tôi thường ngồi dưới gốc cây thả hồn theo mây trời để tạm quên đi thực tại không lối thoát của mình. Cũng có lúc tôi mơ mộng viển vông một toán “lính quốc gia” xuất hiện đưa tôi vào chiến khu.

Viết là “viển vông” vì cả vùng Hố Nai đều biết các toán “lính quốc gia”, tức các cựu quân nhân QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng, sau ngày 30/4/1975 rút vào rừng tiếp tục chiến đấu, sau mấy năm đã bị quân cộng sản đánh dẹp, lớp hy sinh, lớp bị bắt, còn lại thì băng qua chiến khu C tìm đường sang Căm-bốt, hoặc tự động tan hàng…

Nhưng mẹ tôi thì thực tế; bà cụ nhận định một sĩ quan đi tù cải tạo về như tôi, không có “thân nhân cách mạng”, không có vốn liếng, cơ sở làm ăn để móc nối, đút lót cho đám cán bộ địa phương thì không có đất sống. Vì thế, phải lo cho tôi đi vượt biên.

* * *

Quả thật tôi không có đất sống, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng!

Khoảng hai tuần sau khi về Bùi Chu, hôm đó tôi đang ở trong đồng ruộng thì một tay cán bộ tìm gặp mẹ tôi hỏi về tình trạng cư trú của tôi. Sau khi mẹ tôi cho biết tôi về đây sống luôn, hắn nói hắn có trách nhiệm quản lý các sĩ quan của chế độ cũ đi học tập về mà Giấy Ra Trại ghi địa chỉ là ấp Bùi Chu, tôi không thuộc thành phần này thì phải lên Ủy ban Nhân dân xã Hố Nai xin phép cư trú.

Thế nhưng tới khi tôi lên UBND xã làm đơn xin phép về sống ở Bùi Chu thì bị một tay cán bộ gốc Nam Kỳ lớn tiếng “lên lớp”:

– Anh là sĩ quan ngụy chưa được phục hồi quyền công dân, không phải muốn sống ở đâu thì sống. Giấy Ra Trại ghi địa chỉ của anh ở TP.HCM, muốn về sống ở Hố Nai thì phải có giấy giới thiệu của TP.HCM người ta mới cứu xét cho anh chớ!

Có nghĩa là tôi phải trở lại Sài Gòn làm đơn xin về Hố Nai. Dĩ nhiên tôi không dại dột tới mức đó, tôi phải bám lấy Sài Gòn, ít nhất cũng tới hết kỳ hạn 6 tháng ghi trong Giấy Ra Trại rồi tính sau.

Thế rồi tôi nghĩ ra một cái “mánh”, mặc dù không hy vọng lắm nhưng cứ thử, biết đâu!

Một tuần sau, tôi trở lại UBND xã Hố Nai với cái đơn cũ và bộ mặt đưa đám, phịa với tay cán bộ “khó khăn, trở ngại” của tôi như sau: khi tôi về Sài Gon, tới UBND quận Phú Nhuận làm đơn xin phép về Hố Nai cư trú, nơi đây cũng không chấp thuận vì họ nói không có gì bảo đảm sau khi rời Sài Gòn tôi sẽ về Hố Nai, mà biết đâu sẽ đi một nơi khác, với ý đồ nào đó. Vì thế, họ nói tôi phải trở lại UBND xã Hố Nai với cái đơn cũ, xin nơi đây phê cho mấy chữ “phải có giấy giới thiệu của TP.HCM” thì UBND quận Phú Nhuận mới có “cơ sở” để cứu xét!

Không ngờ tay cán bộ gốc Nam Kỳ ở xã Hố Nai tin ngay, phê vào đơn và ký tên, đóng mộc!

Tôi chỉ có thể giải thích có lẽ tay cán bộ này xuất thân du kích thất học nay được ngồi bàn giấy nên rất hãnh diện với việc được ký tên đóng mộc!

Từ đó, tờ đơn xin về Hố Nai cư trú có lời phê, con dấu của “cách mạng”, tuy chưa được chấp thuận, kèm theo cái Giấy Ra Trại, đã trở thành một cái “bùa” cho tôi mỗi khi đi đường bị xét hỏi, và hợp thức hóa tình trạng đi đi về về Sài Gòn – Hố Nai của tôi. Khi gặp phải một tay công an… chậm hiểu, tôi giải thích đại khái: tôi phải về Hố Nai làm ruộng cho kịp vụ mùa và đã trình báo UBND xã Hố Nai, khi nào hết kỳ hạn 6 tháng cư trú ở Sài Gòn, UBND quận Phú Nhuận sẽ ký giấy cho tôi về Hố Nai!

Ngoài ra, với tờ đơn dở dang này, tôi còn thuyết phục được tay công an ở Phường 13 cho tôi trình diện hai tuần một lần thay vì mỗi tuần như trước kia.

* * *

Tới đây viết về chuyện vượt biên.

Thực ra từ sau ngày chiến dịch di tản Frequent Wind Operation của Hoa Kỳ kết thúc, Lực lượng Đặc nhiệm 76 (Task Force 76) của họ rời biển Đông khoảng giữa tháng 5/1975, cho tới đầu năm 1978 đã có những người trốn khỏi miền Nam VN bằng tàu thuyền, nhưng con số ấy không nhiều, không gây tiếng vang quốc tế. Phải đợi tới giữa năm 1978, khi bắt đầu có những chuyến ra đi “chính thức” và “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa, phong trào vượt biên mới nở rộ, phần lớn là những chuyến đi bất hợp pháp của người Việt.

Trước khi kể về những chuyến đi bất hợp pháp (trong đó có chuyến của tôi) cũng xin có đôi dòng về việc ra đi “chính thức” và “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa.

Tại sao người Việt gốc Hoa phải ra đi? Muốn có câu trả lời phải trở lại thời gian miền Nam mới giành được độc lập từ tay người Pháp (1955), khi hầu như toàn bộ nền kinh tế của VNCH đều nằm trong tay Hoa kiều ở Chợ Lớn, khu vực được ghi nhận là “phố Tàu” (Chinatown) lớn nhất trên thế giới nếu tính theo diện tích.

* * *

Nguyên vào thời Pháp thuộc, được sự đỡ đầu của người Pháp, người Hoa đã mặc tình thao túng nền kinh tế của miền nam VN. Đây là một sự hợp tác đôi bên cùng có lợi: lợi của người Hoa là tiền bạc, lợi của người Pháp là mượn bàn tay của Hoa kiều để khống chế người bản xứ.

Giữa thế kỷ 19, vùng Chợ Lớn được chính quyền thuộc địa công nhận là một thành phố riêng biệt: Ville de Cholon (City of Cholon), có chính quyền và hệ thống hành chánh riêng.

Hơn một thế kỷ sau, năm 1951, sau khi chính thể Quốc Gia Việt Nam được thành lập vào năm 1948, do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng, lấy Sài Gòn làm thủ đô, thì Chợ Lớn mới được sát nhập, gọi là Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn; để rồi tới năm 1956, khi nền Đệ nhất Cộng hòa được thành lập, tên gọi chỉ còn bốn chữ Đô thành Sài Gòn.

Cùng năm, trước sự độc quyền kinh tế, thao túng thị trường của Hoa kiều Chợ Lớn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành Dụ số 52 ngày 29/8/1956 và Dụ số 53 ngày 6/9/1956.

Dụ số 52 quy định Hoa kiều sinh sống tại miền Nam VN phải mang quốc tịch Việt Nam. Khi có quốc tịch, họ mới được tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Khi lấy quốc tịch, người Hoa phải Việt hóa tên họ như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v… Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa phải viết bằng Việt ngữ.

Dụ số 53 thì cấm người ngoại quốc (đại đa số là Hoa kiều) không được hành 11 nghề:

– buôn bán thịt cá

– buôn bán chạp phô

– buôn bán than củi

– buôn bán xăng dầu

– buôn bán đồ cũ (lạc-xoong)

– buôn bán vải vóc (lượng dưới 10.000 mét)

– buôn bán sắt vụn

– buôn bán thóc gạo

– chuyển vận hàng hóa và hành khách

– xay lúa

– môi giới ăn huê hồng.

Kết quả tới năm 1961, theo báo cáo của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa, trong hơn 1 triệu người Hoa sống ở miền Nam chỉ còn chừng 2.000 người là không chịu đổi quốc tịch, phần lớn là những người đã quá già. (1)

Tuy nhiên, vì sự phản đối – công khai cũng như ngấm ngầm – cùng với các thủ đoạn đối phó của người Hoa, sự tiếp tay của người Pháp, cộng thêm áp lực quốc tế (Tân-gia-ba, Đài Loan), các chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ đạt hiệu quả phần nào. Trong suốt hơn 15 năm tiếp theo đó, các khu buôn bán và sinh sống của người Hoa ở Chợ Lớn vẫn chẳng khác nào một vùng tự trị ngay trên đất nước Việt Nam. Nhất là sau cuộc đảo chính năm 1963, người Việt gốc Hoa đã góp phần không nhỏ vào các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, trốn thuế, trốn quân dịch, gây xáo trộn xã hội, bất ổn chính trị tại miền Nam VN.

Chưa hết, trước việc Hoa kiều phải lấy quốc tịch VN, Việt Cộng, dưới danh nghĩa MTDTGPMN, đã chiêu dụ họ bằng cách gửi thư khẳng định một mai khi “cách mạng thành công”, toàn thể người Việt gốc Hoa sẽ được tự do trả quốc tịch VN để trở lại với tư cách Hoa kiều như trước kia.

[Vì thế trước đây đã có những nguồn tin (mà tôi không thể phối kiểm) nói rằng trong cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, nhiều người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn đã tiếp tay với Việt Cộng trong việc đưa người và vũ khí vào thành phố, thậm chí chứa chấp bọn chúng]

Thế nhưng sau khi “cách mạng thành công” vào tháng 4 năm 1975, MTDTGPMN bị quăng vào “thùng rác lịch sử” thì nhà cầm quyền CSVN cũng lơ luôn việc cho người Việt gốc Hoa từ bỏ quốc tịch Việt Nam, bởi vì:

– Sau khi CSVN chiếm miền Nam, quan hệ giữa đại bá quyền phương Bắc và tiểu bá quyền phương Nam ngày càng xấu đi, nếu cho người Việt gốc Hoa lấy lại quốc tịch cũ thì Trung Cộng sẽ có “đạo quân thứ năm” một triệu người ngay trong lòng địch. Việc một số khu vực trong Chợ Lớn treo cờ Trung Cộng và hình Mao Trạch Đông đã cho Hà Nội thấy được nguy cơ đó.

– Có tới 80% đối tượng của các chiến dịch đánh tư sản tại miền Nam là người Việt gốc Hoa, nếu cho họ lấy lại quốc tịch cũ thì Trung Cộng sẽ có cớ can thiệp để bảo vệ “Hoa kiều”!

Chợ Lớn trước 1975

Đầu năm 1978, trong chiến dịch đánh tư sản đợt 3, toàn bộ doanh nghiệp lớn của người Việt gốc Hoa (ước lượng 30.000) bị quốc hữu hóa – thực chất là bị tịch thu, vì chỉ bồi hoàn chiếu lệ!

Biết mình không còn đất sống, càng có thêm nhiều người Việt gốc Hoa tìm cách thoát khỏi Việt Nam. Thời gian này cũng là lúc Trung Cộng ra sức lên án CSVN đàn áp người Việt gốc Hoa mà họ gọi là “nạn kiều”, vì thế CSVN đã nhân cơ hội này mà một công đôi ba việc: cho người Việt gốc Hoa đăng ký ra đi chính thức, vừa dẹp bỏ được mầm mống rối loạn, vừa ăn chia “lộ phí” vừa chiếm đoạt hãng xưởng, cơ sở sản xuất và nhà cửa của họ một cách hợp pháp.

Ở đây tôi không nói tới khoảng 250.000 người Việt gốc Hoa ở miền Bắc ra đi bằng đường bộ qua ngả biên giới Hoa-Việt hoặc bằng đường thủy tới Hương Cảng, mà chỉ đề cập tới hơn nửa triệu người Việt gốc Hoa ra đi trong Nam.

Theo thông cáo của nhà cầm quyền CSVN, người Việt gốc Hoa nào ở miền Nam muốn ra đi một cách chính thức thì phải ghi danh tại văn phòng đăng ký của chính phủ tại Sài Gòn.

Theo Wikipedia và một số thông tin trên mạng, người xuất cảnh phải nộp sổ gia đình và đóng 12 lượng vàng mỗi đầu người để mua vé, trẻ em nửa giá. Phương tiện chuyên chở là tàu chở hàng cỡ lớn, chứa được hàng ngàn người, rời bến Bạch Đằng ở Sài Gòn và được tàu của hải quân (CSVN) hộ tống ra đến hải phận quốc tế. Theo trang mạng library.ubc.ca, chủ tàu phải trả tới 70% tiền “vé” cho cán bộ cộng sản Việt Nam.

2700 người Việt gốc Hoa trên chiếc tàu chở hàng Skyluck (Panama) tại Hương Cảng, 08/02/1979 – nguồn: library.ubc.ca

Vì số người Việt gốc Hoa muốn ra đi chính thức quá đông, văn phòng đăng ký trung ương tại Sài Gòn lo không xuể, nhà cầm quyền CSVN đã bật đèn xanh cho các tỉnh được tổ chức những chuyến “ra đi bán chính thức”: các viên chức địa phương tìm người đứng ra mua tàu, xăng dầu… rồi bán vé, cũng 12 lượng vàng mỗi đầu người.

Tương tự ra đi chính thức, những người ra đi bán chính thức cũng phải giao lại giấy tờ nhà cửa cho nhà cầm quyền cộng sản địa phương.

Tuy nhiên không phải tất cả mọi người ra đi chính thức và bán chính thức đều người Việt gốc Hoa (mà Trung Cộng gọi là “nạn kiều”) mà còn có cả người Việt.

Những người Việt muốn ra đi chính thức phải là người rất giàu có, bởi vì trước hết họ phải mua lại giấy tờ tùy thân của người Việt gốc Hoa, rồi đút lót văn phòng đăng ký ở Sài Gòn, chưa kể tiền mua vé 12 lượng vàng cho mỗi đầu người.

Ra đi bán chính thức từ các tỉnh thì không nhất thiết phải mua giấy tờ tùy thân của người Việt gốc Hoa mà chỉ cần móc nối được với người tổ chức, đóng vàng cho họ, và lẽ dĩ nhiên, cũng phải giao lại nhà cửa cho nhà cầm quyền địa phương.

Thế rồi từ việc nhà cầm quyền cộng sản ở trung ương ngầm cho phép các tỉnh được tổ chức ra đi bán chính thức, đã nảy sinh việc ra đi bất hợp pháp có bến bãi. Người đứng tổ chức sẽ mua tàu thuyền rồi “mua bến bãi”, tức là hối lộ đám công an tại địa phương nơi sẽ đón khách để bọn này làm ngơ.

Tùy theo quy mô (ghe lớn, ghe nhỏ), uy tín của người tổ chức, giá vé cho mỗi đầu người ra đi bất hợp pháp có bến bãi có thể lên tới 6 “cây” (lượng vàng) vào thời điểm 1979-1980.

Sau cùng là những cuộc ra đi bất hợp pháp không mua bến bãi, chỉ cần nhét người dưới khoang thuyền, giả dạng dân chài chạy thẳng ra hải phận quốc tế. Những chuyến đi lậu thường xuất phát từ những vùng ven biển hoặc gần cửa sông.

* * *

Khi tôi được thả vào đầu năm 1981 thì việc ra đi chính thức và bán chính thức đã chấm dứt vì số người Việt gốc Hoa muốn ra đi bằng mọi giá và có khả năng chi 12 cây vàng cho mỗi đầu người đã đi hết rồi, chỉ còn lại người Việt và người Việt gốc Hoa nghèo.

Vào thời điểm này, giá vé ra đi bất hợp pháp có bến bãi là từ 3 cây cho tới 5, 6 cây vàng. Sở dĩ có sự quá chênh lệch về giá vé là vì mức độ an toàn và tỷ lệ thành công của mỗi chuyến đi khác nhau.

Thông thường, một chiếc ghe vượt biên “coi được” phải là ghe đi biển (khác với ghe đi sông), dài từ 12m trở lên, được trang bị động cơ 2, 3 lốc (“lốc”: block, cylinder), thường là hiệu Yanmar của Nhật Ghe càng lớn, máy càng mạnh, giá vé càng cao.

Về bến bãi, chủ ghe hoặc người đứng ra tổ chức chuyến đi (nhưhg không đi theo) phải mua “trọn gói” từ một tay chuyên lo bến bãi tại địa phương, gồm việc tìm nhà chứa khách ở gần bãi mà ghe sẽ cập vào để đón, vận chuyển dầu nhớt và lương thực lên ghe, và đút lót đám công an địa phương để bọn này làm ngơ trước những gì đang diễn ra.

Nhưng cũng không thiếu những tay đứng ra tổ chức không chịu mua “trọn gói”, hoặc những tay nhận tiền lo bến bãi (từ chủ ghe) nhưng lại muốn ăn một mình, không chịu chi cho công an địa phương; hậu quả là nhiều chuyến bị bể, người nào may mắn thì chạy thoát, không thì bị công an bắt về đồn, trấn lột hết vàng bạc rồi giải giao lên công an huyện, tỉnh.

Tại đây, tất cả sẽ bị đưa về các nơi tạm giam để thanh lọc, sau đó tùy nơi mà đa số phụ nữ và trẻ em sẽ được thả hoặc chờ người nhà lên “chuộc”, riêng đám thanh niên trong tuổi “đi nghĩa vụ” (vào bộ đội) thì dứt khoát phải “chuộc”. Còn lại đàn ông con trai không chứng minh được lý lịch và nơi cư trú, bị nghi ngờ là sĩ quan chế độ cũ hoặc thành phần chống phá cách mạng, sẽ bị đưa vào các trại cải tạo, và không ít người đã bỏ mạng trong các trại này.

Bên cạnh đó, còn có những tay chuyên tổ chức vượt biên “cuội” để bịp. Họ cũng sắm ghe ngon lành, máy 2, 3 lốc để khách có thể tới tham quan trước; tới “ngày đi”, khách cũng được đưa tới nơi chứa khách, được dặn dò, trao mật khẩu, v.v… Nhưng trên đường đi ra bãi thì bất thần bị công an chặn bắt, ai nấy bỏ chạy thoát thân. Dĩ nhiên đây chỉ là một màn dàn cảnh. Thế là mất toi mấy cây vàng!

Sau khi tôi được thả về vào đầu năm 1981, thỉnh thoảng cũng tới tụ tập với anh em cựu tù cải tạo ở một cái quán cà phê không tên khá tươm tất, là sân trước của một ngôi biệt thự sau lưng phở Quỳnh Tín cũ (đường Trương Minh Ký, khoảng giữa Nhà thờ ba chuông và Lăng Cha Cả).

Chỉ thỉnh thoảng mới tới bởi vì đây là nơi tụ tập của các anh em có gia đình khá giả, đủ khả năng uống cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc” và (chia nhau) thưởng thức mấy điếu thuốc thơm Samit của Thái Lan, trong khi tôi thuộc thành phần “vô sản”, ngồi ké anh em hoài cũng ngại.

Trong những lần gặp gỡ ấy, anh em thường nhắc tới Tài, một tay trung úy Không Quân bạn khá thân của tôi từ ngày còn ở phi trường Pleiku và sau đó cùng thuyên chuyển về cùng một đơn vị ở Biên Hòa. Lần đầu tôi tới quán thì Tài không có mặt, lần kế tiếp cũng không thấy, anh em nói hắn đi vượt biên và còn kể thêm hắn đã đi tổng cộng 12 lần, lần nào cũng bị bể, may mà không bị bắt!

Dù biết Tài là con nhà giàu, ngay lúc đó tôi cũng không tin. Sau này được biết có những người còn bị thất bại nhiều lần hơn tôi mới tin. Tôi không bao giờ gặp lại Tài cho nên cứ nhớ tới hắn, tôi lại liên tưởng tới những chuyện chẳng lành có thể đã xảy ra cho bạn mình. Vì thế lúc mới được thả tôi cũng không thiết tha cho lắm với chuyện vượt biên!

(Hơn 10 năm sau khi định cư ở Úc, tôi mới được tin Tài đã thành công trong chuyến vượt biên thứ 13, và hiện đã “yên bề gia thất” tại xứ Cờ Huê. Cũng mừng cho hắn)

* * *

Sau cùng viết về những chuyến ra đi bất hợp pháp không mua bến bãi, thường gọi là đi lậu. Những chuyến đi lậu thường có quy mô nhỏ, mang tính cách gia đình hoặc nội bộ một nhóm quen biết, tin tưởng lẫn nhau.

Người đứng ra tổ chức nếu có khả năng tài chánh sẽ ứng vốn trước, không thì gom vàng của những người muốn đi để có tiền mua ghe, trang bị máy móc, tìm hoa tiêu, tài công…

Nhưng cho dù mang tiếng đi lậu, đa số ghe cũng phải đăng ký để có thể đi lại một cách hợp pháp trong lúc chờ ngày vượt thoát. Vì đi lậu, không có tiền lo bến bãi nên những chuyến đi này thường xuất phát từ những vùng ven biển hoặc gần cửa sông như Phan Thiết, Phước Tỉnh, Chu Hải, Láng Cát, Cần Giờ, Gò Công, Rạch Giá, v.v…; mọi người hẹn nhau ở một địa điểm kín đáo nào đó, trong đêm ghe sẽ tới bốc khách rồi… dông!

Đi lậu có hai cái lợi là giá rẻ và không sợ bị gạt; nhưng đồng thời cũng có những cái đáng lo mà trước hết là ghe nhỏ, không an toàn khi ra biển khơi.

Sở dĩ phải đi ghe nhỏ là vì vừa không có tiền sắm ghe lớn, máy mạnh vừa để tránh sự chú ý, nghi ngờ của công an biên phòng (thấy ghe nhỏ quá họ sẽ không nghĩ là ghe vượt biên).

Cái đáng lo thứ hai là không có hoa tiêu “xịn”, tức là sĩ quan hải quân của VNCH ngày trước, hoặc các hoa tiêu hàng hải (dân sự) trước 1975, sẽ có nguy cơ đi lạc ngoài biển khơi vì không xác định được vị trí, phương hướng.

Ngày ấy, các chuyến đi bán chính thức và đi bất hợp pháp có bến bãi đều nhắm vào hai thành phần trên để mướn, hoặc mời làm hoa tiêu (đi không phải đóng tiền). Còn các chuyến đi lậu thì không có khả năng, trừ trường hợp trong gia đình, thân tộc hoặc trong nhóm bạn bè quen biết có những người thuộc thành phần này.

* * *

Trở lại với quyết định của mẹ tôi là lo cho thằng trưởng nam đi vượt biên. Vào khoảng thời gian này, giữa năm 1981, trong gia tộc nội ngoại của tôi chỉ có những người tìm đường vượt biên chứ chưa có ai đứng ra tổ chức vượt biên.

Đúng ra cũng có một người, nhưng phải chờ không biết tới bao giờ! Đó là dì S ở Vũng Tàu, một người em họ của mẹ tôi. Trước năm 1975, tôi chỉ được nghe kể dì S là một người góa chồng, rất giàu có nhờ tài kinh doanh chứ chưa bao giờ gặp mặt. Tới khi có phong trào ra đi bất hợp pháp có mua bãi bến, dì S trở thành một trong những người tổ chức có uy tín nhất, chưa bị bể chuyến nào.

Điều kiện của dì đưa ra với mẹ tôi là cứ kiếm cho dì ba người khách thì dì cho một chỗ, sau khi tới miền đất hứa mới phải trả vàng cho các con của dì ở bên Mỹ. Nhưng với một người chỉ quanh quẩn ở xứ đạo như mẹ tôi, kiếm được ba người khách không phải việc dễ dàng. Sau đó, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của tôi, dì hứa khi nào có chuyến còn chỗ trống sẽ cho tôi đi, và sau cùng nếu vẫn không có chỗ trống, tới khi dì “đánh cú chót” – tức là chuyến có dì trên đó – sẽ cho tôi đi theo.

Tóm lại, tôi phải chờ, và không biết chờ tới bao giờ.

* * *

Tính tới lúc đó, trong thân tộc của vợ chồng tôi mới chỉ có hai đám vượt biên thành công, một đám đã được đi định cư tại Úc, một đám còn đang ở trại tỵ nạn Galang, Nam Dương (Indonesia). Cả hai đám đều đi ghe nhà, không mua bến bãi, tức là đi lậu.

Đám thứ nhất là họ hàng bên tôi, gồm gia đình một người cậu họ và mấy người em, bạn bè và người quen biết, đi vào cuối năm 1979. Tôi chỉ được nghe người nhà kể đại khái là đi từ Rạch Giá tới Thái Lan, rồi được Úc nhận cho đi định cư cả ghe.

Đám thứ hai là mấy đứa cháu vợ (con của bà chị vợ) cùng với một nhóm bạn. Sau này được đọc các bài viết về những chuyến vượt biên liều lĩnh nhất, tôi thấy cũng chỉ bằng chuyến đi của đám cháu vợ tôi là cùng!

Nguyên bà chị vợ của tôi có tới 12 đứa con, con số mà tôi tin rằng nếu chỉ tính những bà mẹ cùng lứa tuổi 30-40 ở Sài Gòn lúc bấy giờ, là một kỷ lục!

Còn nhớ vào cuối thập niên 1950, tin ông Ngô Đình Luyện, em trai út của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người giữ chức Đại sứ VNCH tại Luân-đôn, thủ đô Anh Quốc, sau khi có liên tiếp 10 cô con gái mới sinh được một cậu con trai đã trở thành tin tức… quốc tế. (2)

Nhưng đó là chuyện xảy ra một phần tư thế kỷ trước dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, còn nay là thời gạo châu củi quế sau ngày cộng sản chiếm Sài Gòn, cả miền Nam phải ăn độn, nuôi 12 đứa con là một kỳ công!

Trước năm 1975, ông anh cột chèo của tôi, một quân giải ngũ vì thương tật, là nhân viên kỹ thuật quang tuyến tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học, lương công chức ba cọc ba đồng, nhờ bà chị vợ tôi là y tá hành nghề tại gia trong một khu lao động ở cầu Kinh, Bình Thạnh (gần cư xá Thanh Đa) nên mới đủ khả năng nuôi bầy con ăn học.

Khi phong trào vượt biên nở rộ vào năm 1978, 1979 cũng là lúc CSVN mở cuộc xâm lược Căm-bốt, bắt thanh niên trong Nam đi “nghĩa vụ quân sự” đưa sang xứ chùa Tháp đánh nhau với Khmer Đỏ. Trong số ba đứa con trai lớn của bà chị vợ tôi nằm trong tuổi nghĩa vụ, hai đứa lớn trốn tránh ở vùng Láng Cát gần Vũng Tàu, một đứa đang đi học, bị bắt gia nhập Thành Đoàn (Thanh Niên Cộng Sản), sớm muộn cũng phải “tình nguyện” để làm gương, cho nên ông anh cột chèo của tôi phải tìm cách cho chúng vượt biên.

Với hoàn cảnh gia đình tạm đủ ăn, ông anh cột chèo chỉ có thể cho các con đi lậu. Thoạt tiên, ông đóng góp với một người anh họ của vợ tôi trước kia là dân buôn bán nay cũng còn chút ít vốn, và ra vẻ rất “khôn ngoan” dưới chế độ mới.

Tuy nhiên, khi tổ chức chuyến đi thứ nhất, với một chiếc ghe khá lớn, chuẩn bị chu đáo, có hoa tiêu tài công đầy đủ, người anh họ đã không cho ba con trai của bà chị vợ tôi đi, viện lý do người chứa khách không nhận thanh niên trong tuổi nghĩa vụ vì sợ công an địa phương chú ý, rốt cuộc bà chị vợ của tôi đành phải cho hai đứa con gái lớn đi thế chỗ. (Sau này được biết chiếc ghe ấy không bao giờ tới bến).

Vừa vì lo buồn trước việc không nhận được tin tức của hai con gái, vừa vì những xung khắc, bất đồng, ông anh cột chèo không hợp tác với người anh họ vợ nữa, và đích thân tổ chức cho các con còn lại đi lậu.

Trước hết ông ra vùng Lam Sơn, Láng Cát, Chu Hải, Long Hương…, là khu vực có các xứ đạo của người Công giáo di cư nằm trên đường đi Vũng Tàu trước khi tới ngã ba Bà Rịa – Vũng Tàu, để tìm hiểu.

Từ Phước Lễ (Bà Rịa) nếu tiếp tục đi thẳng sẽ tới vùng bờ biển Long Hải, nơi trước năm 1975 có làng đánh cá Phước Tỉnh nổi tiếng của dân Công giáo di cư, sau đó trở thành nơi xuất phát nhiều cuộc vượt biên nhất. Tuy nhiên, tới thời điểm 1978, 1979, sau khi dân Phước Tỉnh đã ra đi hơn phân nửa, nhà cửa, cơ sở kinh doanh bị cán bộ tới chiếm ngụ, vùng này chỉ còn những cuộc vượt biên quy mô phải mua bến bãi, chi tiền từ trên xuống dưới, còn những chuyến đi lậu, hoặc không đủ tiền mua bến bãi thì thường ra đi từ Lam Sơn, Láng Cát, Chu Hải, Long Hương…

Những vùng này ở xa biển hơn nhưng nơi nào cũng có sông lạch, chỉ cách đường lộ 1, 2 km; tất cả các sông lạch này đều đổ ra cửa Cần Giờ.

Thuận lợi thứ nhất khi ra đi từ những vùng này là vắng bóng công an. Bởi vì tuy ở đây cũng có các xứ đạo của người Công giáo di cư nhưng không sầm uất, phồn thịnh như vùng Hố Nai, dân chúng đa số sống nhờ trồng hoa màu và đánh bắt cá ven sông, không phải nơi kiếm chác của đám công an địa phương.

Thuận lợi thứ hai là nhà cửa ở đây rất thưa thớt, càng đi sâu vào phía trong càng vắng bóng người, hai bên bờ sông lạch cỏ lau cao quá đầu người, rất kín đáo cho việc bốc khách.

* * *

Vì không dư giả tiền bạc, ông anh cột chèo sắm cho các con một cái ghe cũ dài 7 mét, còn động cơ tôi không biết cỡ nào (nhưng có lẽ cũng chỉ một “lốc” là cùng), rồi… phó mặc cho trời!

Viết là “phó mặc cho trời” bởi vì, thứ nhất, ghe cỡ 7 mét thường chỉ để đánh cá gần bờ chứ không ai ra khơi, nói gì tới vượt đại dương; thứ hai, ngoài ba anh em trai con bà chị vợ tôi đều chưa tới 30 tuổi, không một chút kinh nghiệm đi biển, chỉ có một thanh niên duy nhất ra vẻ có trình độ, kiến thức, đảm trách nhiệm vụ hoa tiêu!

Sau này, trong những lá thư viết từ trại tỵ nạn Galang về cho gia đình, cháu Th, con trai lớn của chị vợ tôi, chỉ kể lại diễn tiến chuyến đi một cách rất sơ lược vì vào thời gian này, toàn bộ thư từ ngoại quốc gửi về đều bị kiểm duyệt, viết không khéo có thể gây phiền hà rắc rối cho người nhận, đồng thời có thể gây thêm khó khăn cho những người đi sau.

Theo các lá thư của Th, sau ba ngày ba đêm đi về hướng nam, ghe bị chết máy giữa đại dương. Cũng may thời tiết tốt, biển lặng sóng êm, gió thuận, chiếc ghe cứ thế lênh đênh theo chiều gió trôi về hướng nam.

Tới ngày thứ sáu thì thấy một ngọn núi nhô lên ở cuối chân trời càng lúc càng gần. Qua ngày thứ bảy thì được một ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương nhìn thấy và kéo vào hòn đảo có ngọn núi.

Một tuần sau, 15 người trên ghe cùng với những người tới trước đó được tàu lớn đưa tới đảo Kuku, rồi từ Kuku được đưa tới trại tỵ nạn Galang để chờ đi định cư.

* * *

Trở lại với chuyện vượt biên của tôi, hy vọng được dì S cho điền vào chỗ trống một khi không lấy đủ khách ra vẻ khá mong manh, vì từ trước tới nay, chưa bao giờ dì thiếu khách. Cho nên có lẽ phải đợi tới khi dì đánh cú chót, sẽ đi theo dì.

Đùng một cái, có tin dữ báo về: dì S đã đánh cú chót, bị tàu công an rượt theo bắn chìm ghe, không một ai sống sót. Vì không có ai sống sót, mọi người chỉ biết suy đoán dựa theo những tin đồn phối hợp với lời kể lại của một số người quen biết.

Theo đó, vì dì S làm ăn ngày càng quy mô, việc dì mua đứt đám công an và nhà cầm quyền địa phương cuối cùng đã tới tai Đặc khu. “Đặc khu” nhắc tới ở đây là Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, một đơn vị hành chánh trực thuộc trung ương, được nhà cầm quyền cộng sản thiết lập vào năm 1979.

Trang mạng Wikipedia viết:

“Nhằm phục vụ ngành công nghiệp khai thác dầu khí non trẻ, năm 1979, Hội đồng chính phủ quyết định thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trên cơ sở sáp nhập thị xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Đặc khu này được chia thành quận (Côn Đảo), 5 phường: Châu Thành, Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, Phước Thắng và xã Long Sơn. Một khu hậu cần dịch vụ cảng biển phục vụ xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật và sản phẩm dầu khí được thiết lập ở khu đầm lầy dọc theo bờ vịnh Gành Rái.” (ngưng trích)

Riêng với ngành công an biên phòng, việc thành lập đặc khu này đã thống nhất hoạt động kiểm soát các cuộc ra đi bán chính thức và đối phó với phong trào vượt biên bất hợp pháp mà Vũng Tàu là điểm xuất phát chính.

Từ đó, những chiếc tàu của công an biên phòng chuyên bắt người vượt biên bất hợp pháp có thể “săn mồi” dọc duyên hải từ Vũng Tàu xuống tận đảo Côn Sơn mà không sợ dẵm chân các đồng nghiệp.

Trở lại với chuyến đi định mệnh của dì S, sau khi ghe rời Bến Đá (trên đảo Long Sơn) trong đêm tối, ra tới vịnh Gành Rái (nằm giữa Cần Giờ và Vũng Tàu) thì bị tàu của công an biên phòng từ bờ chạy ra chặn. Biết bị lộ, chiếc ghe vượt biên phóng hết tốc lực ra khơi. Chiếc tàu công an vừa rượt theo vừa bắn cảnh cáo, nhưng ghe vẫn không chịu ngừng; cuối cùng, khi ra khỏi cửa Cần Giờ mà vẫn không qua mặt được chiếc ghe vượt biên, tàu công an đã cho nổ súng bắn chìm.

Theo lời đồn, qua ngày hôm sau công an biên phòng đã cho thợ lặn lặn xuống chỗ ghe bị chìm để tìm vàng, vì họ tin rằng khi “đánh cú chót” chắc hẳn dì S phải đem nhiều vàng lắm, chưa kể vàng của đám khách sộp…

Công an có mò được vàng hay không, không ai được biết. Cũng không ai được biết dì S bất ngờ đánh cú chót vì biết mình đã bị Đặc khu “chiếu cố” hay đây là chuyến đi dì đã dự trù từ trước nhưng không cho ai hay biết. Chỉ có một điều chắc chắn: phải có người biết dì S đi trên chuyến này và mật báo cho nên đám bò vàng của Đặc khu mới cho tàu rượt theo với mục đích trấn lột…

* * *

Cái chết của dì S không chỉ là chuyện đau buồn mà còn khiến nhiều người trong họ ngoại của tôi có dự tính vượt biên phải tìm một lối thoát khác. Vì vừa không có nhiều vàng vừa không tin tưởng các chủ ghe, một vài người đã quyết định tổ chức vượt biên lậu. Trong số này có một người em họ của mẹ tôi mà bà cụ rất tin tưởng.

Chú Thích:

(1) Qua hai đạo dụ này, Thủ tướng Ngô Đình Diệm muốn rằng người Hoa sinh sống tại Việt Nam phải hội nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội bản xứ như mọi công dân khác. Ông cho rằng người Hoa không có lý do gì sống bên lề một xã hội mà trong đó họ vui hưởng đầy đủ quyền lợi của một công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, tự do đi lại.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rất cần sự tham gia của tất cả công dân để góp phần xây dựng lại một đất nước vừa mới được độc lập lại vừa chống cộng. Đây là một công tác lớn lao đòi hỏi sự góp sức của toàn dân, trong đó có cộng đồng người Hoa. Chính quyền miền Nam không muốn bị cộng đồng người Hoa và Đài Loan làm áp lực, và nhất quyết không nhượng bộ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ đơn thuần muốn áp đặt uy quyền và luật pháp của quốc gia trên toàn thể những cộng đồng dân tộc đang sống trên lãnh thổ miền Nam, trong đó có người Hoa. (Trích: website Nghiên Cứu Lịch Sử – Người Hoa trong thời đệ nhất Cộng Hòa)

Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các chính sách và nỗ lực của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa trong việc đối phó, giải quyết vấn đề người Hoa qua tập nghiên cứu “Người Hoa tại Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Văn Huy, hiện đang được phổ biến trên Internet.

Chợ Lớn – Chinatown có diện tích lớn nhất thế giới

(2) Ngày ấy, ông Ngô Đình Luyện (1914-1990), em trai út của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một luật sư kiêm kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp, tương đối ít được truyền thông trong nước nhắc tới tên tuổi vì từ năm 1958, ông đã rời Sài Gòn đi làm Đại sứ VNCH tại Anh Quốc, kiêm Đại sứ VNCH tại Bỉ và Hòa-lan; và tới năm 1959 làm Đại sứ VNCH tại Tunisia (Bắc Phi).

Cuối năm 1959, qua báo chí ngoại quốc, người ta mới biết ông vừa có được một cậu con trai để nối dõi tông đường sau khi có một loạt 10 cô con gái.

Trong số 10 cô con gái này thì năm cô là của đời vợ trước, năm cô của đời vợ sau. Một số nguồn tin còn nói rằng hai người là hai chị em ruột, sau khi người chị mất sớm, người em đã “thế chỗ” chị.

Điều đáng tiếc là từ ngày ấy tới nay, các báo Việt ngữ không hề đề cập tới chi tiết ông Ngô Đình Luyện có tới hai đời vợ, cho nên độc giả ai nấy đều thán phục vị Đại sứ phu nhân dám sanh tới 11 người con, đồng thời còn có nhiều người ca tụng dung mạo trẻ trung và thân hình thon gọn của bà mẹ 11 con này!

Kể cả trong những bài viết gần đây của một số tác giả từng được gặp gỡ, phỏng vấn ông Ngô Đình Luyện sau năm 1975, cũng chỉ viết “ông bà được 11 người con”.

Chỉ có những ai ngày ấy từng đọc báo Anh ngữ có loan tin này, mới biết chi tiết 11 người con là của hai đời vợ cộng lại. Hiện nay, vào các website hình ảnh như Alamy, Shutterstock, Flickr, người ta sẽ đọc được những dòng chú thích bằng tiếng Anh như sau:

Nov. 11, 1958 – Vietnam Ambassador – Father of Ten Daughters – Now Has a Son.

Mr. Ngo Dinh Luyen, the Vietnamese Ambassador to London, has been presented with a boy by his wife, Hanh. Mr. Luyen has ten daughters, five of whom are from his first marriage. The baby, baptised and known as Jean Michel until he is given a Vietnamese family name, was born last week.

Bà Ngô Đình Luyện và 11 người con

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Mậu Quý

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 1 Jun 2025

Khóc Bạn

Tưởng niệm cố Trung Tá Phạm Ngọc Quý,
chết tại trại tù Nghệ Tỉnh ngày 14-11-1981

Thôi thế là anh chết thật rồi
Ất Hợi giờ còn chỉ mỗi tôi
Anh đi hờn tủi răng nghiến chặt
Mắt trắng giương cao oán hận đời

Mới sáng hôm kia anh còn khâu
Chiếc áo kaki đã bạc mầu
Anh lo chuẩn bị mùa đông rét
Anh chết rồi áo đã xong đâu!

Tội lắm, ngày nào anh cũng mong
Tuần này chắc vợ sẽ ra thăm
Nhưng nay anh chết nào ai biết
Không cả người thân, không vợ con

Bỗng sáng hôm sau có list quà
Nhưng anh vừa chết tối hôm qua
Quà kia đành “biếu” cho cán bộ
Ôi! kiếp tù đau đớn xót xa!

Anh chết rồi mà chửa yên thân
Xác anh còn khám nghiệm mấy lần
Bụng anh bị mổ banh gan ruột
Việt Cộng một bầy thú dã nhân

Xác anh được liệm giữa ban trưa
Thương xót nên trời cũng đổ mưa
Xe tang là chiếc xe “cải tiến”
Đám tang tù, đâu có tiễn đưa!

Thôi thế là xong một kiếp tù
Anh về âm cảnh hận ngàn thu
Hồn có linh thiêng xin phù trợ
Dân Việt vùng lên giết Cộng thù

Nguyễn Mậu Quý

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 1 Jun 2025

Kẻ Xâm Óc
Tê Đê

Tôi không xâm một con bướm trên thân thể như anh tù khổ sai Papillon vượt ngục. Tôi cũng không có một biệt danh nào. Tôi chỉ là một người tù bình thường như hàng chục triệu người tù Việt Nam. Ngoài hàng rào kẽm gai cũng vẫn là tù.

Tôi đã xâm óc. Tôi muốn nói là có những kỷ niệm trong tù mình không thể nào quên được. Nó là những hình ảnh được xâm vào óc, xâm thật đậm với thứ mực mầu đen.

Không cần phải có những kiểu tra tấn, những lò sát sinh bằng hơi độc của Đức Quốc làm mình kinh hoàng. Chỉ một đám kiến vàng ăn no máu người, bò thật chậm cũng đủ làm tôi nổi gai ốc.

Tôi bị chúng bắt trước 30-4 và nhốt ở Tống Bình. Có lớp lang lắm. Trên núi là cấp tá, giữa núi là cấp úy, dưới chân núi là hạ sĩ quan. Tụi tôi uống nước chung một dòng suối từ trên cao. Lúc đó có dịch sốt rét, tụi tôi đã chết chùm. Càng dưới núi càng chết bạo! Bao nhiêu nước dơ nó đọng ở phía dưới ngọn suối. Có anh nuốt sống giun đất để chữa bệnh!

Thấy chết la liệt, chúng di chuyển trại về Tuy Hòa. Tôi ở trại 54. Có lần chính mắt tôi lúc ở Tống Bình, trông thấy một anh tù lên cơn sốt rét nhẩy từ một mỏm núi xuống vỡ sọ chết tươi. Người thì bảo anh lên cơn sốt giật, người thì nói anh tự tử để vợ con khỏi phải đau khổ.

Ở cái trại 54 này, nó cũng có lớp lang nhưng là lớp cây rừng. Tre rồi đến chà rang, rồi đến mây. Trên cao thì có bằng lăng đầy hoa tím ngắt và cà te.

Ở đây còn có một thứ giây rừng có tên đặc biệt: dây cổ rùa. Tước cái vỏ ngoài, bên trong nó như sợi dây thừng. Tha hồ mà buộc rất chắc. Tôi sẽ kể chuyện giết người có liên quan tới thứ giây rừng này. Tụi nó âm mưu lắm. Con cáo đỏ mà. Sống ở rừng với thú dữ mình còn khống chế được nên an toàn hơn. Ở tù như cá nằm trên thớt nó muốn làm gì mình thì làm. Tôi có nói tới lũ kiến vàng. Phải nói nó là kiến kên kên mới đúng. Đánh hơi thấy máu là chúng kéo đến cả ngàn con. Nghĩ lại cái đám kiến trên lưng anh ta tôi còn ghê. Có đêm tôi vẫn nằm mơ thấy bầy kiến đói máu người nầy mà đổ mồ hôi hột.

Có một sáng tụi tôi chín người thuộc toán làm rừng đang đốn cây thì bị tụi nó gọi ngay về trại lấy cuốc xẻng rồi lại trở về bìa rừng chỗ gần cây bằng lăng chết khô. Cây này không có lá có hoa đã lâu. Trên một thửa ruộng đất cằn, chúng tôi phải đào một cái lỗ bề dài gần hai thước, bề ngang 80 phân, sâu hơn một thước. Đào xong tụi tôi lại về trại.

Khoảng 4 giờ chiều. Lúc đó trời chưa tắt nắng. Chúng tôi nghe thấy có 3 tiếng súng AK. Tiếp sau đó là một loạt đạn nữa. Chúng tôi không biết có chuyện gì ở bìa rừng phía chúng tôi đào cải lỗ buổi sáng.

Tôi và anh Khương bị gọi lên “khung”. Chúng tôi được phát cho một bộ quần áo mới. Cái áo vải rằn ri của biệt động quân, còn cái quần thì của bộ binh. Tên phó trại và một vệ binh có AK dẫn tụi tôi ra rừng.

Tới chỗ cây bằng lăng, tôi thấy xác Lực, một trung úy Biệt Động quân, đang nằm chết, mặt ngửa lên trời. Mắt anh trợn trừng. Máu ộc ra khỏi miệng. Có cả trăm con kiến vàng trên miệng, trên cổ anh ăn máu căng bụng bò rất chậm. Phía trước ngực cũng thấm ướt máu. Tên vệ binh bắn Lực còn ở đó. Mặt hắn lầm lì.

Chúng tôi bị tên phó trại buộc phải viết cái giấy làm chứng có nghe thấy ba tiếng súng chỉ thiên và thấy Lực bỏ chạy nên bị bắn chết! Chúng tôi cũng bị cấm không được tiết lộ gì về chuyện này nếu muốn toàn mạng để về với vợ con. Lại một lớp lang. Lại một sắp xếp. Tên phó trại còn tuyên bố vì Lực có tư tưởng phản động nên không được hưởng “tiêu chuẩn” gì. Có nghĩa là chúng tôi phải vào rừng chặt khoảng ba chục cây chà rang để cuốn xác anh như kiểu bó chiếu. Chúng tôi buộc cái áo quan đặc biệt đó bằng dây cổ rùa.

Lúc chúng tôi thay quần áo cho Lực, tôi khấn anh phù hộ cho anh em tù chúng tôi và tha thứ cho sự làm chứng sai sự thật dưới họng súng AK. Tôi vuốt mắt cho Lực. Tôi lật phía sau lưng và thấy mấy vết đạn phá ở phía sau. Điều này chứng tỏ chúng đã bắn Lực chứ Lực không bỏ chạy. Sau lưng chiếc áo rằn ri cũng đầy máu và đám kiến kên kên bò thật chậm còn dính máu đặc.

Thay quần áo cho anh xong, chúng tôi đặt anh vào cái quan tài chà rang, cuốn vòng thân anh rồi hai tụi tôi khiêng xác anh từ gốc cây bằng lăng chết khô tới cái hố mà chúng tôi đào từ buổi sáng. Chúng tôi được lệnh phải chôn Lực xong trước năm giờ chiều, giờ anh em tù đi lao động từ rừng về trại. Anh bị chúng bắn chỉ vì tuyên bố “đi ba bước lại đái một bước lên cái chủ nghĩa khốn nạn đó.”

Hai ba hôm sau, đói mà tôi vẫn không thể ăn được cái gì vào mồm. Chỉ uống nước thôi.

Tê Đê

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 1 Jun 2025

Chương 14. (Kết)

Tư Thiện ngồi uống rượu, trong căn nhà riêng sau nhà cô Huôi. Tuy không được chứng kiến cái chết của Xí Vĩnh, ông ta đã nghe dư luận đồn đãi, với khá nhiều chi tiết: nào là Xí Vĩnh bị nhốt trong cái cũi rồi trấn xuống nước, nào là cậu Cẩu muốn giết Xí Vĩnh để hăm dọa cô Huôi.

Nhưng đó là vấn đề phụ thuộc.

 Cô Huôi đã vắng nhà. Đứa nữ tỳ cho biết là cô đến nhà cậu Cẩu. Tư Thiện khen thầm:

– Đàn bà như vậy thiệt là đủ khí phách, xứng đáng làm bà chúa một cõi. Nếu nhu nhược thì bọn Mười Hấu sẽ giết luôn tới cô.

Nghĩ vậy, Tư Thiện bèn khóa cửa lại, không muốn cho bất cứ ai thấy mặt ông ta. Cũng may là bọn Mười Hấu quá quê mùa. Nếu biết nhìn xa hơn, Mười Hấu đã bắt ông ta để hăm dọa cô Huôi, như trường hợp Xí Vĩnh.

Tuy chưa đầu độc cậu Cẩu, nhưng Tư Thiện vẫn còn bản án treo mà bất cứ giờ phút nào Mười Hấu cũng được quyền đem ra xét xử lại: tội tình nghi làm gián điệp cho quân Lang Sa.

Mười Hấu chưa làm, vì dưới mắt ông ta, Lang Sa chỉ làm một nhóm vài trăm người, đến Rạch Giá vài mươi hôm để thị oai rồi qua xứ khác.

Tư Thiện khóa chốt cửa, nằm xuống.

Đột nhiên có tiếng gọi to:

– Ông ơi!

Đúng là giọng đứa nữ tỳ. Ông ta hỏi kỹ:

– Ai đó?

– Dạ, con!

– Chuyện gì lạ mà kêu tôi?

– Dạ, có người mang đến cho ông một gói trà.

Lập tức, Tư Thiện mở cửa. Đứa nữ tỳ cầm gói trà trên tay. Ông ta hỏi:

– Người đó đâu rồi?

– Dạ, họ muốn vô đây, nhưng con không cho. Họ nói rằng gói trà nầy để khen thưởng ông về buổi lễ.

– Được rồi!

Khi đứa nữ tỳ vừa quay mặt, Tư Thiện đóng cửa thật nhanh rồi mở gói trà. Trống ngực ông đánh mạnh nghe thình thịch. Ông để gói trà trên bàn, tự hỏi:

– Ai mà có quen với ta?

Gói trà được mở ra, để hé miếng giấy nhỏ, bên góc có ghi rõ ba lằn màu, hai lằn thì đúng hơn: xanh và đỏ, chính giữa có khoảng trắng.

Tư Thiện chụp miếng giấy, xé cái góc có ba sọc ấy mà bỏ vô miệng nhai nuốt. Ông ta trợn mắt, đọc mấy hàng chữ bên dưới. Đó là chữ Nho, do người thông ngôn ở đồn binh Rạch Giá gởi cho ông.

Lá thơ rất ngắn, đại ý người thông ngôn chuyển lời hỏi thăm đến Tư Thiện, cho biết rằng chừng mười ngày nữa có thể người Lang Sa kéo binh đến Hòn Chông.

Binh số Lang Sa rất ít, chừng mười người. Nếu thấy không có gì bất lợi, ngày mai Tư Thiện nên ra mé rạch mà đứng hai tay khoanh trước ngực để làm dấu hiệu.

Xem xong, Tư Thiện xé miếng giấy bỏ vô miệng. Với một tô nước trà nóng, ông ta nuốt gọn cái tài liệu quan trọng ấy.

Dưới mắt Tư Thiện thì vùng Hòn Chông nầy có địa thế hiểm trở. Gặp lúc khác, chưa ắt quân Lang Sa kéo đến được. Nhưng đây là lúc nhân tâm ly tán, ai nấy đều ngán cậu Cẩu. Với mười người và đôi ba khẩu súng, người Lang Sa và lính mã tà có thể bắt sống hoặc giết cậu Cẩu.

Điều thắc mắc của Tư Thiện vẫn là cô Huôi. Cô Huôi nên thương thuyết rồi đầu hàng trong danh dự với quân Lang Sa, Tư Thiện sẽ đóng một vai tuồng quan trọng.

Dạo nầy chắc cô Huôi đã chán chê cái địa vị bà Chúa Hòn rồi. Nếu cô thỏa thuận, nhà cầm quyền Lang Sa sẽ phong cho Tư Thiện làm chức tri huyện hoặc cai tổng. Chừng đó cô Huôi được tự do tái giá, không sợ dư luận. Hai vợ chồng tha hồ ngao du đó đây, sống với chút ít bổng lộc và huê lợi ruộng vườn.

Nói ra quá sớm, liệu cô Huôi tin lời không?

Lại còn cậu Cẩu! Nhứt định là cậu sẽ phản ứng mãnh liệt để rước lấy thảm bại nhục nhã. Nghe tiếng súng, bọn hộ vệ sẽ chạy trốn. Đó là chưa nói đến trường hợp vài đứa làm nội ứng hoặc đến đầu hàng trước khi người Lang Sa nổ súng.

Tư Thiện qua thăm cô Huôi.

Cô ngồi dậy đón tiếp ân cần:

– Khó lắm. Ông ráng chịu đựng vài ngày nữa là xứ nầy có nhiều chuyện thay đổi.

Nghe qua, Tư Thiện sửng sốt. Hay là cô Huôi đã bắt gặp đứa nữ tỳ lúc nó liên lạc với người từ Rạch Giá đến?

Ông ta hỏi:

– Thưa cô, hỗm rày chắc có chuyện lạ.

Cô Huôi lơ đểnh:

– Ông biết rồi, thấy rồi. Cậu Cẩu đang hung hăng đến mức tôi muốn tránh xa vài ngày. Ở đây, lúc cậu nổi cơn điên, có thể tôi bị mang họa. Còn ông thì nên tránh mặt. Ông Mười Hấu như người cỡi con trâu điên. Con trâu chạy lẹ, đụng đâu chém đó. Ông Mười chỉ biết cầm roi quất mạnh cho con trâu bớt điên, quay trở lại chuồng cũ. Nhưng càng quất thì con trâu càng chạy mau.

Tư Thiện phục thầm sự nhận xét của cô Huôi. Nhưng nếu cô Huôi ra đi, ông ta sẽ bị lấn hiếp, tội trạng cũ còn rành rành đó.

– Thưa cô, cô tránh về đâu?

Đôi mắt cô Huôi trở nên mơ màng:

– Về quê, ở với cha. Cha tôi hiền lành và khôn ngoan lắm. Ông không bao giờ đòi hỏi địa vị, danh vọng. Năm ngoái, tôi giúp ông một số tiền. Tuổi già, đâu cần ăn uống, rượu thịt. Ông đem tiền ấy trao cho một ông đạo, nhờ xây cất một ngôi chùa nhỏ. Tôi về ngôi chùa đó, xem thử còn thiếu sót điều gì không? Hoặc là cần dùng ít tiền nhưng mấy tháng qua, sư sãi không cho tôi biết.

Tư Thiện nói:

– Làm sao tôi theo cô cho tấm thân được an nhàn!

Như hiểu thâm ý của Tư Thiện, cô Huôi nói:

– Bây giờ thì chưa được. Nhưng ông đừng buồn. Đó là trời định. Ngày xưa, nghe ba tôi nói lại thì phen đó bông quỳnh hoa nở rộ. Ông đạo Đất biết rằng hễ hoa nở thì tôi được làm bà Chúa. Điều ấy đúng thật. Nhưng khó lắm. Số mạng của tôi giống như đóa hoa.

– Cô nói sao tôi chưa hiểu.

– Hoa có ba thời kỳ: khi mới trổ búp, khi nở và khi tàn héo rụng xuống.

– Bây giờ, cô đang lúc trổ bông?

Cô Huôi cười:

– Ông khen tôi. Nhưng tôi hiểu tôi nhiều hơn người khác. Quỳnh hoa là thứ hoa sớm nở tối tàn. Đáng lý ra tôi gặp nhiều tai nạn. Nhờ biết xử sự khéo léo, tôi sống đến ngày nay. Hoa trổ búp là lúc mới gặp ông Chúa Hòn. Bây giờ thì hoa nở, sắp sửa tàn héo.

Sự nhận xét ấy khiến Tư Thiện ngạc nhiên. Tuy rằng cô Huôi không hiểu tình hình chiến sự, không liên lạc với người Lang Sa hoặc triều Huế, nhưng cô đi đến một kết luận giống như Tư Thiện, căn cứ vào số tử vi.

Quả thật, cái địa vị bà Chúa Hòn của cô đã quá lung lay, chỉ còn là danh từ đẹp, tượng trưng, cho hậu thế nhắc nhở thôi.

Một khi quân Lang Sa kéo đến, làm sao cậu Cẩu chống nổi! Với tư thế yếu kém, dẫu ăn nói khéo léo đi nữa, cô cũng phải đầu hàng kẻ có khí giới mạnh hơn.

Tư Thiện cúi đầu chào:

– Thưa cô, tôi về.

Cô Huôi hỏi kỹ:

– Ông gặp tôi, có chuyện gì không? Nếu ai lấn hiếp, cứ cho biết.

Tư Thiện đã quá thỏa mãn. Ngày giờ mà ông ta được gần gũi cô Huôi đã gần kề. Cô Huôi là người biết sống tùy thời.

Cô Huôi nằm ngủ thiu thiu.

Đâu vào khoảng nửa đêm, cô giựt mình thức dậy. Phía nhà ông Mười Hấu đèn đuốc tối om.

Cô ra lịnh cho nữ tỳ:

– Tắt đèn ở phòng khách, khóa cửa cẩn thận, ai kêu thì đừng mở.

Nữ tỳ hỏi:

– Nếu họ kêu theo lịnh ông Mười hoặc cậu Ba thì làm sao?

Cô Huôi nói:

– Cứ bảo rằng ta đi vắng, thí dụ như ta đi chùa lễ Phật.

Bọn hộ vệ cứ chạy tới lui ngoài đường. Chúng nó bàn tán qua lại về cơn điên của cậu Ba. Có đứa quả quyết rằng oan hồn cûa Xí Vĩnh hiện về, nước dưới sông sôi lên ùng ục rồi từng cục lửa đỏ ké bay bổng đáp xuống nhà cậu Cẩu.

Cô Huôi ngáp dài, cố quên sự thất bại.

Ngủ một giấc, cô giựt mình thức giấc. Đứa nữ tỳ đem ngọn đèn từ nhà bếp lên. Nó khoát tay:

– Thưa cô, có người lạ.

Cô Huôi hỏi:

– Ai mà đến giờ nầy? Ta đã căn dặn đừng cho họ vào nhà. Bọn hộ vệ ở ngoài cổng có xét hỏi không?

Nữ tỳ đáp:

– Đứa hộ vệ kêu cửa trước rồi kêu cửa sau. Con sợ bị cô rầy nên không dám lên tiếng. Lát sau đứa hộ vệ nói rằng ông Mười Hấu muốn tới đây.

Nghe qua, cô Huôi hơi bối rối. Mười Hấu đến nhà, lúc mặt trời chưa mọc, thì quả là ông ta đang thi hành thủ đoạn đen tối gì đó.

Chẳng lẽ ông ta tới đây để giết cô, hòng dẹp trừ tất cả những người chống đối!

Nhớ đến Mười Hấu, cô Huôi vẫn giữ thái độ cố hữu, không xem ông ta như kẻ thù. Là người lớn tuổi, ông ta luôn luôn trầm tĩnh. Nếu muốn giết cô, ông ta cũng cần chờ một vài tháng nữa. Bá Vạn và Xí Vĩnh bị giết, dân chúng đang xôn xao, bọn hộ vệ thì hoang mang đến cùng cực. Ngu dại gì mà Mười Hấu đến gặp cô để giết? Nghĩ vậy, cô nói lớn giọng:

– Ai muốn gặp ta? Hộ vệ đâu.

Từ ngoài kia, tên hộ vệ nói vọng vào:

– Dạ, ông Mười!

Như chờ đợi quá lâu nên sốt ruột, Mười Hấu lên tiếng:

– Thưa cô, tôi đây.

Cô Huôi hỏi:

– Ta là đàn bà, chẳng một ai được tới đây gặp ta lúc ban đêm. Tại sao không đến lúc ban ngày. Hãy chịu khó chờ khi mặt trời mọc. Phải Mười Hấu không? Hay là người khác giả dạng, tới đây bày trò ám muội?

Mười Hấu đau xót và lo sợ vô cùng. Lời của cô Huôi quá cứng rắn và lạnh lùng. Dường như cô muốn bỏ rơi tất cả sự nghiệp và khinh thường ông. Cô dám thách đố công khai.

Ứng phó cách nào bây giờ? Mười Hấu cứ gãi đầu, nói lẩm bẩm:

– Tội nghiệp tôi. Tôi đến một mình. Đến lúc nầy là thất lễ, nhưng…

Làm sao ông Mười dám nói sự thật! Cậu Cẩu đang nổi cơn điên, bò lăn trên nền nhà. Trời gần sáng rõ, nếu cơn bịnh kéo dài thì còn gì thể diện?

Bọn hộ vệ đang bàn tán và khinh khi cậu Cẩu. Lúc nầy, nếu cô Huôi triệu tập bọn chúng rồi ra lệnh là cậu Cẩu và luôn cả ông Mười phải trở thành xác không hồn.

Cô Huôi nói:

– Tại sao biết thất lễ mà cứ tới? Ông là đàn ông, tôi là đàn bà. Rồi đây, nhiều người nói xấu tôi.

Mười Hấu chưa biết trả lời thế nào cho gọn. Mặt trời sắp mọc, phương đông vài đợt mây nằm vắt ngang chân trời. Nếu chờ đợi thì e trễ nải công việc.

Một tên hộ vệ chạy nhanh vào:

– Ông ơi! Thưa ông…

– Cái gì?

– Đằng kia lửa cháy!

Mười Hấu truyền lịnh:

– Cứ múc nước tưới! Tụi bây chậm chạp quá.

– Dạ, lúc nãy ông không cho phép tụi tôi lại gần nhà.

– Bây giờ tao cho phép…

Rồi ông Mười gõ cửa nói nghẹn ngào:

– Cô ơi! Xin cô giúp giùm. Bằng không, tôi tự tử.

Cô Huôi nghe được câu chuyện bên ngoài. Đúng là cậu Cẩu nổi cơn điên. Vì chính ông Mười đang sợ sệt, không dám cho bọn hộ vệ đến gần nhà.

Cô ra lệnh cho nữ tỳ:

– Đốt thêm một ngọn bạch lạp rồi mở cửa.

Vừa qua khỏi ngưỡng cửa, ông Mười quỳ xuống:

– Xin cô giúp giùm.

Để ông Mười được bình tĩnh, cô Huôi khoát tay đuổi đứa hộ vệ. Nữ tỳ khép cửa lại.

Cô ra lệnh cho nữ tỳ vào trong rồi nói:

– Ông Mười cứ nói thật.

– Tôi biết cô buồn giận…

– Ừ! Đã biết thì còn tới đây làm gì? Cậu Ba giết ai thì giết. Cậu đủ quyền hạn, nhưng dùng cái cũi để nhốt một cô gái rồi nhận nước thì quả thật là tàn ác. Dân chúng tới xem, họ sợ sệt. Hễ quá sợ thì họ không còn sợ nữa. Ít ra, khi đóng cái cũi, ông nên cho tôi biết. Bây giờ cậu Ba nổi cơn điên!

– Dạ phải. Xin cô tới, nói cách nào cho cậu …bớt điên.

– Ông đến đây chỉ vậy thôi?

– Vì sợ cậu Ba chết thình lình, tôi cầu cứu với cô. Lúc nãy, cậu đốt nhà…

Cô Huôi đứng dậy, ra đứng trước sân. Ngọn lửa từ từ hạ xuống. Đúng là điềm cậu Cẩu sắp chết. Bỗng dưng mà cô Huôi cười khanh khách:

– Ông cho tôi là người lên đồng lên bóng, là thầy phù thầy pháp sao chớ? Tôi mà trị bệnh điên cho kẻ khác? Lát nữa tôi mới tới. Ông về đi.

Ông Mười Hấu chết điếng trong bụng. Ngọn lửa tắt là do bọn hộ vệ chạy chữa. Nhứt định là cậu Cẩu đang quát mắng, ghen tức với bọn hộ vệ. Lúc nầy nếu cô Huôi bỏ đi nơi khác hoặc gọi tất cả bọn hộ vệ đến đây thì cậu Cẩu bị truất phế trong nháy mắt. Ba bốn đứa hộ vệ chạy nhanh về phía ông Mười, theo sau là chín mười đứa khác. Đứa dẫn đầu lên tiếng:

– Ông ơi! Cậu Ba đòi xử tử bọn tôi như …cô Xí Vĩnh. Ai cứu bọn tôi bây giờ?

Mười Hấu khoát tay:

– Trở về đằng kia!

Cô Huôi nhận ra thâm ý ấy nên cười to:

– Tôi trở thành người trị bệnh điên sao chớ! Ông coi tôi ra gì?

– Dạ, tôi lạy cô. Cô là người …có quyền lực cao siêu. Xin lạy cô lần chót.

Mười Hấu đi trước, cô Huôi và đứa nữ tỳ theo sau. Bọn hộ vệ cúi đầu chào cô Huôi rồi không ai bảo ai, xúm nhau xếp hàng phía sau Mười Hấu ngỡ rằng bọn chúng muốn tập họp lại để chờ cô Huôi ra lịnh khởi loạn.

Cô Huôi như không chú ý tới chi tiết ấy. Khi đến cổng, cô nghe tiếng khóc mếu máo trong nhà. Đúng là giọng cô Ngó. Thoạt tiên, ông Mười ngỡ rằng cậu Cẩu đã chết. Nhưng cô Ngó đã đến ngoài thềm mà phân trần:

– Nó chưởi tôi. Nó xé quần áo, rồi nằm lăn ra đất. Hồi nãy nó đốt nhà…

Cô Huôi vào trong, truyền cho ông Mười Hấu đốt đèn lên thật sáng. Cậu Cẩu hỏi:

– Ai làm gì vậy?

Cô Huôi thấy tình thế quá phức tạo. Nếu bỗng dưng mà cậu Cẩu gọi đích danh cô để chưởi mắng thì còn gì là thể diện. Trong số người đang nắm quyền hành ở vùng Hòn Chông, chỉ riêng cô là có danh nghĩa đứng đắn, là trong sạch nhứt. Cô không trả lời, cứ bước vô phòng.

Cậu Cẩu lồm cồm ngồi dậy:

– Ai đó?

Cô Huôi nói:

– Tôi đây. Nãy giờ ai lấn hiếp cậu? Cậu cứ nói rõ, tôi hứa trừng trị người ấy.

Đôi mắt cậu Cẩu trợn tròn:

– Con Xí Vĩnh.

– Nó chết rồi. Ngày mai, nên cúng món gì cho nó ăn..

– Tại sao nó khuấy rối tôi?

Cô Huôi không còn lạ gì cái bản tánh ngạo mạn, xem trời bằng vung của cậu Cẩu:

– Nó là ma quái, đâu dám khuấy rối cậu? Hơi đâu mà cậu tốn thời giờ để ăn thua với con ma đó. Cậu ban bố chút ít muối gạo là nó chạy đi nơi khác.

Thời khắc trôi qua, yên lặng. Đôi môi cậu Cẩu như mấp máy, nói chưa ra lời. Cô Huôi truyền lịnh:

– Nữ tỳ đâu! Rót rượu cho cậu uống.

Cậu Cẩu nhìn vào cô Huôi. Cô trợn mắt:

– Cậu chưa tin tôi sao? Lúc trước, tôi nằm chiêm bao thấy ma quỷ hiện về. Nhờ lớn tuổi nên tôi không nổi giận như cậu. Mình là người giàu sang, nhiều quyền thế. Hơi đâu mà giận kẻ đói khát. Túng thế, họ phải liều mạng. Cậu tin lời tôi không? Nãy giờ, vì có tôi ở đây nên con Xí Vĩnh không dám tới. Xưa kia nó sợ tôi lắm.

– Cô là người …nhiều oai quyền. Lạ thật, nãy giờ con Xí Vĩnh biến mất. Để tôi nằm xuống coi thử nó còn ở đây không?

Tuy không phải là người chuyên trị bệnh điên nhưng cô Huôi biết dùng tâm lý để điều khiển con bệnh. Dưới mắt cô, cậu Cẩu chỉ là cái xác không hồn, quá mệt mỏi chán chường

Ông Mười Hấu đến gần, ngỏ lời khen ngợi:

– Nhờ cô chỉ dạy nó. Nó muốn nằm ngủ rồi. Ngày mai, theo ý cô, nó nên uống thuốc hay là đến gặp ông đạo Đất?

Cô Huôi cười dòn:

– Cậu ta sợ con Xí Vĩnh rồi sanh ra rối trí. Tôi giải thích cặn kẽ.

Đột nhiên, cậu Cẩu ngồi dậy:

– Nó đó!

Cô Huôi vội trấn áp ngay, giả vờ như thấy rõ con Xí Vĩnh:

– Tôi thấy rồi. Nó sợ sệt, chắp tay xá tôi?

Rồi cô lớn giọng:

– Xí Vĩnh muốn ăn thì ta cho chút muối gạo. Đứng ngoài cửa mà chờ. Rằm tháng bảy năm nay ta xây cho mi một căn nhà. Vừa ý chưa…Thôi cám ơn làm gì! Cứ lấy một chút ít gạo muối rồi về cõi âm.

Lát sau, cậu Cẩu cầm một nắm nhang, cắm trước sân. Tên hộ vệ trao cho cậu một dĩa muối, một dĩa gạo. Cậu ném gạo tứ phía rồi cười tủm tỉm như đứa bé lên năm:

– Hồi nhỏ, cúng rằm tháng bảy, má tôi làm như vầy! Má đâu rồi?

Cô Ngó đến an ủi cậu con. Ông Mười Hấu mừng rỡ vì cậu Cẩu đã chịu lên giường nằm. Nhưng cậu vẫn cự nự, muốn đốt cái giường để xua đuổi Xí Vĩnh.

Cô Huôi khuyên bảo:

– Nên gọi nó đi ngủ, cho nó nằm trên bộ ván ngoài phòng khách.

Lần đầu tiên, cô Huôi gọi cậu Cẩu bằng “nó”.

Cô quay mặt, ra về.

Bọn hộ vệ chắp tay xá. Cô đi khuất mà bọn chúng còn bàn tán:

– Cô xứng danh là bà Chúa Hòn, ma quỷ phải sợ.

Mặt trời lên cao tự bao giờ.

Rõ ràng cô Huôi không muốn xúi giục bọn hộ vệ khởi loạn. Nhưng lúc nầy uy tín cô đang lên tột độ. Dường như Mười Hấu bắt đầu lo sợ. Trong hiện tại, cô Huôi chưa làm cái gì để trả thù cái chết của Xí Vĩnh, nhưng ngày mai, ngày mốt, ai biết cô sẽ làm gì.

Cảm thấy mình không còn uy tín đối với bọn hộ vệ, ông Mười nghĩ đến biện pháp duy nhứt là quỳ lạy để xin lỗi. Đến trưa, ông ta mặc chỉnh tề đến nhà riêng của cô Huôi. Cô mời ngồi. Ông ta quỳ xuống xin phép lạy hai lạy. Cô Huôi mỉm cười chua chát:

– Lạy lục để làm gì? Phải chi hồi tháng trước ông biết sợ tôi thì ngày nay đâu đến nỗi nầy. Bọn hộ vệ kỳ cục lắm.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Cô dạy điều chi?

– Ông nên nhớ rằng bấy lâu bọn hộ vệ phục tùng thằng Cẩu là vì bọn nó tin rằng thằng Cậu là “Chơn mạng đế vương” hoặc ít ra cũng có số tử vi. Dè đâu thằng Cẩu lại sợ ma. Mà con ma đó do thằng Cẩu tạo nên. Nó ác độc quá!

Ông Mười Hấu cúi mặt, sợ sệt. Cô Huôi khinh rẻ cậu Cẩu, gọi bằng “thằng” tức là cô khinh rẻ ông. Ông cúi lạy trong khi cô can gián:

– Được rồi. Tôi hứa không bao giờ tranh giành quyền lợi với bất cứ ai…

Ông Mười nói:

– Cậu Cẩu còn đau yếu. Mỗi ngày, dám mong cô đến thăm vài lần..

Cô Huôi hỏi:

– Chi vậy?

– Dạ, để cho bọn hộ vệ kính nể.

Cô Huôi đáp:

– Bọn nó đâu phải là trẻ con. Nên làm cách khác. Dân chúng ở đây tin Trời Phật. Lẽ dĩ nhiên họ cho rằng cậu Cẩu nổi cơn điên chỉ vì Trời Phật muốn trừng phạt kẻ làm điều ác đức. Ngày trước ông Bá Vạn chết bất ngờ, thiên hạ bàn tán vì không thấy tận mắt đám ma của ổng. Giờ đây cậu Cẩu trấn nước con Xí Vĩnh; nó là người đầu ấp tay gối với cậu, ấy thế mà không được khoan hồng. Nếu người dân đen phạm tội, cậu còn dùng đến hình phạt dã man hơn.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Xin vâng lời cô. Tôi hứa nói với cậu là cất ngôi chùa thật to để tạ lỗi Trời Phật.

Cánh cửa vụt mở.

Cậu Cẩu xuất hiện với nụ cười hiền hòa. Chưa chi cậu quỳ xuống để lạy cô Huôi:

– Thưa dì…

Trong phút giây, cô Huôi xúc động:

– Thôi đứng dậy đi. Nhớ lo cất chùa. Nãy giờ, cậu nghe rõ câu chuyện chớ?

Cậu Cẩu nghiêm mặt:

– Khi nào tôi nổi giận thì khác. Bây giờ tôi hết giận, hết sợ ma quỷ rồi. Tôi giết con Xí Vĩnh vì tôi ghen với ông Bá Vạn.

Cô Huôi đứng dậy:

– Nhớ cất chùa. Chuyện cũ bỏ qua đi.

Trên đường về cô Huôi hơi bực dọc. Rõ ràng là cậu Cẩu quá khôn ngoan, muốn bám víu lấy địa vị cũ. Như vậy là từ rày về sau cô vẫn đóng vai trò tượng trưng để rồi thỉnh thỏang nâng đỡ và củng cố địa vị cho cậu Cẩu. Mỗi lần cậu và ông Mười Hấu năn nỉ là mỗi lần cô mất uy tín với dân chúng.

Mặc nhiên, họ xem cô là đồng loã với kẻ làm điều ác. Hình ảnh Xí Vĩnh hiện ra với đôi mắt u buồn. Chừng nào cô rửa hận cho nó? Nó chết vì quá tin vào cô.

Làm sao bây giờ? Xúi giục Tư Thiện và bọn hộ vệ nổi loạn, giết Mười Hấu và cậu Cẩu chăng? Chuyện ấy dễ thực hiện lắm, với điều kiện thi hành nhanh chóng trong khi bọn hộ vệ đang oán ghét cậu Cẩu! Trong giây phút, cô thở dài.

Ông đạo Đất tiên đoán rằng đóa hoa có ba thời kỳ. Phải chăng đây là giai đoạn chót, khi đóa hoa héo, sắp rụng? Cô nghĩ thầm:

– Ngày mai ta về núi Đất thăm nhà, sẵn dịp thăm cha ta để hỏi ý kiến. Cầu mong ông đạo Đất bói cho ta một quẻ tốt miễn là đóa hoa đừng rụng xuống bùn nhơ.

Tư Thiện cứ áy náy, trông cho mặt trời mọc.

Trời bừng sáng, ông ta thức, rửa mặt. Công việc đầu tiên là giả vờ qua thăm cô Huôi. Hổm rày, cô đối xử tử tế, xem ông là bạn quý. Nhưng nếu biết rằng ông cố ý thông đồng với quân Lang Sa để bán đứng vùng Hòn Chông này thì chưa chắc cô tha thứ.

Từ bao lâu rồi, cô sống với cái thể diện ‘‘bà chúa Hòn’’. Quân Lang Sa đến cô chắc là người đàn bà không quyền hạn. Hoặc là cô sẽ tự tử. Hoặc là cô bị giết, nếu chống lại.

Với nhan sắc sẵn có, cô có thể là miếng mồi xác thịt khá ngon lành, dành cho tên cai, tên đội Lang Sa nào đó tha hồ hưởng thụ

Vì yêu cô Huôi, Tư Thiện muốn cho cô tránh bao nhiêu nhọc nhằn. Nhưng nói trước thì nhứt định là có sự hiểu lầm, nguy hại cho tánh mạng ông ta.

Khi ra trước sân, ông gặp đứa nữ tỳ. Nó múc nước từ ngoài suối đem về. Đúng là đứa nữ tỳ hôm qua đem cho ông gói trà, bên trong có bức thư.

Nó cúi đầu chào. Ông mỉm cười thân mật:

– Cháu làm việc cực nhọc quá.

Nó đáp:

– Nhưng làm như vậy sung sướng hơn ở nhà.

– Cô có ở nhà không?

– Cô đi nhà ông Mười vào lúc hừng sáng.

Tư Thiện nghĩ ra một mưu kế để mua chuộc con bé. Nếu nó tiết lộ chuyện người lạ mặt tặng gói trà thì tánh mạng ông như chỉ mành treo chuông. Ông nói:

– Cứ nghỉ cho khỏe. nếu rảnh thì xách cho tôi một vài hũ nước, tôi hứa…

Đứa nữ tỳ lộ vẽ mừng rỡ:

-Bên nhà còn nước, ở không thì buồn, nên cháu tìm công việc mà làm. Để cháu múc cho ông bốn hũ nước.

Chờ khi nữ tỳ vô nhà. Tư Thiện mở tủ đem ra nửa nén bạc. Đó là số bạc mà ông ta gìn giữ kỹ lưỡng khi bị bắt tại suối Mo So. Suốt tháng qua ông không làm gì ra tiền.

Đứa nữ tỳ đổ nước vào cái lu sau nhà.

Khi nó trở ra, Tư Thiện nói:

– Cháu cứ nhận phân nửa nén bạc này cho tôi vui. Hôm qua, cháu giúp tôi một chuyện, hôm nay thêm một chuyện nữa là hai.

Sau khi nhìn quanh quất nữ tỳ đưa tay ra nhận lãnh phân nửa gói bạc. Nó dấu vào túi áo thật nhanh.

– Sợ quá. Ông cho cô biết thì ắt là tôi bị đuổi.

Tư Thiện đáp:

– Tôi là người lớn. Cháu cũng vậy, đừng cho ai biết bất cứ chuyện gì. Thấy cô Xí Vĩnh không? Bị nhốt rồi bị chấn nước, chết thê thảm. Cô thì hiền lành, nhưng còn nhiều người khác nữa.

Khi nữ tỳ ra đến sân, Tư Thiện nói với theo:

– Được rồi. Khi nào cần tôi gọi. Hũ nước ban nãy đủ cho tôi xài đôi ba ngày.

Khi nữ tỳ đi khuất, Tư Thiện hối tiếc vô cung. Nếu có nhiều tiền bạc hơn, ông sẽ mua chuộc nó, để nó ra chợ Rạch Giá tìm người cai đồn, hỏi kỹ về kế hoạch sắp thi hành.

Cô Huôi từ nhà ông Mười Hấu trở về. Tư Thiện bèn quay mặt chỗ khác, để khỏi có sự hiểu lầm về sự tiếp xúc vừa rồi. Buổi cơm dọn ra, do đứa nữ tỳ khác mang đến. Tư Thiện ngồi ăn chậm rãi, chờ lúc đúng ngọ. Ăn xong, ông ta ra ngoài sân đứng thẩn thơ.

Hôm nay là ngày quyết định. Quân Lang Sa sẽ đến, chắc là trong giòng mươi ngày hoặc một tháng. Trong phút giây, Tư Thiện cảm thấy buồn buồn.

Con rạch chạy cong queo trước mặt nhà, vài bầy vịt trắng phau lội nhởn nhơ, rỉa mấy giề lục bình. Sương đã tan. Bên trái ông, trên sườn đồi, bọn tiều phu lo đốn củi, vài đám khói bốc lên. Chiếc ghe thương hồ nào đó đã khuất dạng, còn bỏ lại chút ít âm hưởng điệu hò.

– Họ đâu biết rằng sự vật đổi sao dời! Mười Hấu và cậu Cẩu chắc là sẽ chết. Tháng sau vùng Hòn Chông đâu còn cảnh yên lặng với nét đẹp cổ kính ngư, tiều, canh, độc …Người Lang Sa đến, nhứt định là xảy ra nhiều trường hợp ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông. Ngôi nhà của Mười Hấu sẽ cháy. Mình chỉ thương cho cô Huôi.

– Nếu sanh trong thời hòa bình, thạnh trị, cô làm được nhiều việc lớn hơn!

Bóng dáng cô Huôi hiện ra ngoài đầu ngõ. Bấy giờ Tư Thiện mới nhận ra sự vô ý của mình. Ông ta cúi đầu chào:

– Chào cô…

Cô Huôi muốn tìm một người để nói chuyên (cho đỡ buồn. Lúc nãy sau khi giải quyết xong công việc cô thấy rẳng cậu Cẩu còn nắm quyền một thời gian nữa. Và suốt thời ấy cô chịu đựng bao nhiêu bực dọc khác:

– Ông rảnh không? Mời ông ăn cơm với tôi. Hồi sáng đến giờ tôi hơi mệt.

Nếu nhận lời dùng cơm thì làm sao ra trước mé sông để làm ám hiệu với người thay mặt cho viên cai đồn chợ Rạch Giá? Bỏ lỡ cơ hội này, bao nhiêu phiền phức sẽ xảy ra. Quân Lang Sa kéo đến bất ngờ. Làm sao ông trở tay cho kịp.

Đó là chưa nói đến trường hợp cai đồn lên án Tư Thiện về tội phản bội nhà nước Lang Sa cố ý giúp sức cho cậu Cẩu để chống cự lại.

Tư Thiện nói lẩm bẩm:

– Dạ tôi mới ăn cơm rồi.

Nhưng cô Huôi vẫn cương quyết:

– Ăn rồi thì uống trà, ăn mứt hột sen. Tôi cần bàn bạc với ông.

Tư Thiện riu ríu theo sau cô Huôi. Nắng lên cao. Làm sao từ chối lời mời mọc này cho được?

 Khi vô nhà cô Huôi, Tư Thiện buồn rầu như một tử tội sắp đến giờ hành hình. Hai cánh cửa đóng lại, bên trong chỉ có thếp đèn và hai ngọn nến cháy lờ mờ.

Làm sao ông ta vừa nói chuyện, vừa liếc ra ngoài để xem chừng bóng nắng?

Mâm cơm dọn ra. Cô Huôi vào phía sau để rửa mặt. Đứa nữ tỳ đến gần ông. Đúng là con bé vừa nhận nửa nén bạc hồi sáng. Không bỏ lỡ cơ hội, ông nói khẽ:

– Lát nữa, cháu coi chừng ngài sân. Ai đến tìm, thí dụ như người tặng gói trà hôm trước thì cháu vô đây cho tôi biết.

Đứa nữ tỳ hỏi khẽ:

– Có cô ở đây, tôi làm sao?

– Cháu gãi lên đầu là tôi hiểu…

Cô Huôi trở ra, nâng chén cơm lên, ăn ngon lành.

– Tôi định vài ngày nữa là về quê

Tư Thiện sửng sốt nghĩ đến ngày ly biệt:

– Nếu vậy, thưa cô, tôi ở đây một mình, buồn lắm.

Cô Huôi đáp:

– Nhưng ông theo tôi thì khó coi quá. Ông chờ vài ngày chớ gì? Hồi nãy, tôi bàn cuyện như vầy: cậu Cẩu xuất tiền ra, xây cất một kiểng chùa để tạ tội với Trời Phật. Còn tôi nhơn dịp đó về quê nhà, thăm cha, thăm ngôi nhà cũ. Mệt lắm rồi. Tôi cố ý cho cậu Cẩu và Mười Hấu hiểu rằng không bao giờ tôi ham địa vị. Ông nghĩ sao?

Tư Thiện mừng thầm. Nếu chỉ một mình ông ta ở lại đây may mắn biết chừng nào? Ông ta tha hồ tiếp xúc với viên dọ thám, từ chợ Rạch Giá đến, lúc cô Huôi vắng mặt. Quân Lang Sa đến nhứt định là cô nhờ ông bảo vệ cho, ngoài ra còn ai nữa!

Hồi lâu, Tư Thiện giả vờ suy nghĩ:

– Cậu Cẩu mà cất chùa, chuyện không ai tin được!

Cô Huôi đáp:

– Nhưng ông nên nhớ rằng dân chúng dễ nhớ mà cũng dễ quên.

– Chừng nào cất chùa, thưa cô? Liệu cậu đủ kiên nhẫn hay không?

Cô Huôi không trả lời ngay. Tư Thiện giựt mình vì đã trót xen vào công việc riêng của cô. Vì thấy viễn ảnh bi quan, ông cho rằng ngôi chùa không bao giờ cất xong. Tiền bạc thì có dư nhưng vài tháng nữa, cậu Cẩu sẽ hóa ra người thiên cổ.

Cô Huôi gật đầu như theo dõi ý nghĩ riêng.

– Ngôi chùa xây cất càng lâu cáng tốt. Ít ra, trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu không dám giết hại bất cứ người nào khác.

Bữa cơm vừa chấm dứt.

Tư Thiện nhìn phía sau bếp. Đứa nữ tỳ bước ra, gãi lên đầu. Đó là dấu hiệu có khách đến.

May thay, cô Huôi đứng dậy.

– Để tôi rửa tay, phía sau.

Đứa nữ tỳ đến gần Tư Thiện:

– Làm sao bây giờ? Người đó tới. Một người đàn ông.

Lúc bối rối, Tư Thiện quyết định.

– Dẫn người đó vô nhà tôi. Bây giờ, tôi còn ở đây, đừng cho cô biết.

Đứa nữ tỳ xuống nhà bếp, sau khi giả vờ châm thêm nước vào cái ấm. Cô Huôi nói:

– Ngày mai hoặc ngày mốt là tôi về quê, luôn dịp mời vài ông sư đến đây xem địa thế cất chùa. Ở nhà, có túng thiếu gì không?

Và muốn kiếu từ thật gấp, Tư Thiện đáp:

– Dạ, tôi không cần dùng tiền. Cơm nước như vậy, đủ rồi…

Cô Huôi nói, giọng tình tứ

– Tôi về nhanh. Đi xa thì nhớ ông lắm đó.

Ra khỏi nhà cô Huôi, Tư Thiện mừng quýnh. NHà ông ta và nhà cô cách nhau bằng một bức tường rào. Đứa nữ tỳ đứng lấp ló, nói với theo:

– Người khách tới, đòi vô nhà ông.

Tư Thiện hoảng sợ. Nếu sự việc này thấu tai cô Huôi hoặc người nào khác, thí dụ như bọn hộ vệ ở nhà Mười Hấu thì tánh mạng ông ta như chỉ mành treo chuông. Tư Thiện không dám nhìn thẳng đứa nữ tỳ:

– Được rồi. Đừng cho ai biết, họ sẽ giết cháu như con Xí Vĩnh vậy. Vài ngày nữa, tôi cho thêm bạc. đây là người bà con tới thăm.

Vào nhà, ông Tư Thiện cứ nhìn dáo dác. Phòng khách không một bóng người. Bỗng nhiên ông nghe tiếng ho trong phòng ngủ. Ông nói:

– Ai?

Trong buồng có giọng trả lời, kéo dài như người ghiền thuốc phiện:

– Ta là …Mười Hấu!

Tư Thiện đã yên tâm, nhớ đến một giọng quen thuộc. Đó là một giọng khôi hài, người nói có vẻ thoải mái lắm. Ông hỏi:

– Ai vậy? Nói chơi là tối kỵ…

Khi vô phòng ngủ, ông cố gắng lắm mới khỏi la lên:

– Mầy! Năm Hí! Trời ơi!

Năm Hí chính là chàng trai đã từng theo Tư Thiện lúc biểu diễn ‘‘sơn đông mãi võ’’. Anh ta còn trẻ, tuổi hơn ba mươi, cuè1 lo đánh trống và đánh phèng la mỗi khi Tư Thiện sắp nhảy vòng lửa.

Bàn tay Tư Thiện đè vai rồi bịt miệng Năm Hí:

– Tình thế khó khăn lắm. Để tao ra ngoài khép cửa lại. Rủi bề gì, hai đứa mình bị nhốt trong cái cũi rồi bị nhận nước.

Năm Hí ngồi dậy vấn điếu thuốc.

– Làm sao có chuyện đó được. Ngày hôm kia, tôi thấy rồi. Cậu Cẩu và Mười Hấu thật quá tàn ác. Nhưng cô Huôi đủ sức bảo vệ tánh mạng ông chớ! Ông là người tình của cô ta mà! Tốt phước quá, hèn gì ông không chịu trở về chợ Rạch Giá. Vài năm nữa, ông được phong chức ‘‘ông chúa Hòn’’!

Thái độ vui vẻ, lạc quan của Năm Hí khiến Tư Thiện hết lo âu. Ông ta hỏi:

– Chừng nào?

– Thì ra ngoài khép cửa he hé vậy thôi. Đáng lý thì tôi mời ông về chợ Rạch Giá để bàn tính. Làm ăn như ông có ngày chết cả bọn. Tôi giao hẹn đúng ngọ, ông ra trước bến để làm dấu hiệu. Cực chẳng đã, tôi phải lủi vô đây. Ra về mà không gặp ông thì khổ quá.

– Đó là gặp chuyện thình lình. Cô Huôi đang ăn cơm chẳng lẽ nửa chừng tôi bỏ đi.

Câu chuyện giữa Tư Thiện và Năm Hí trở nên thân mật. Trước tiên, Năm Hí cho biết nội trong đêm nay anh ta phải về chợ Rạch Giá để gặp viên cai đồn mà báo cáo sự việc. Năm Hỉ cho biết thêm:

– Ông quan ba ở Vĩnh Long mới tới để ra lịnh chiếm cứ tất cả vùng đồi núi Hòn Chông.

Tư Thiện hỏi:

– Chừng nào kéo binh tới đây?

Năm Hí đáp:

– Chiếm cứ mà không kéo binh tới, điều đó mới khó. Bởi vậy, người Lang Sa mới cần dùng tôi và ông, làm cách nào … cho dân chúng miệt này đầu hàng theo người Lang Sa.

Chưa chi, Tư Thiện cau mày:

– Khó lắm. Đánh giặc mà không dùng súng đạn thì khó quá. Cậu Cẩu là đứa liều mạng, hung hăng. Chỉ còn một cách là đầu độc hoặc ám sát. Nhưng con xí Vĩnh bị bắt quả tang, ai dám bắt chước nó lần thứ nhì?

Năm Hí đáp:

– Tôi bàn kỹ với viên cai đồn Rạch Giá. Ông không muốn giết bất cứ ai ở Hòn Chông, miễn là tất cả đều …đầu hàng rồi lãnh chức vụ mới.

Tư Thiện vẫn chưa hiểu:

– Vậy thì chiếm vùng đồi núi này để làm gì? Cứ để cho cậu Cẩu làm chúa. Cậu Cẩu đâu có đụng chạm gì người Lang Sa ở ngoài chợ Rạch Giá hoặc Hà Tiên!

– Ông chưa hiểu rõ ý định người Lang Sa. Họ muốn cho vùng Hà Tiên thành đất của họ. Nếu ai chống cự với họ, cậu Cẩu truy nã ráo riết. Phía Đồng Tháp Mười, nhiều toán nghiã quân nổi dậy. Họ sợ nay mai Hòn Chông trở thành sào huyệt…

– Tôi hiểu rồi. Nhưng chắc chắn là cậu Cẩu không đầu hàng bất cứ ai. Giết cậu Cẩu lúc này là điều khó, cô Huôi còn chịu bó tay.

Năm Hí cằn nhằn:

– Người Lang Sa hứa ban thưởng cho ông chức cai tổng, tôi làm phó tổng. Ngoài ra, khi nào có lịnh trưng khẩn đất đai, tôi với ông sẽ trở thành đại điền chủ, mỗi người được ban thưởng vài ngàn mẫu ruộng. Trong thời loạn, bao nhiêu người chạy trốn, bỏ ruộng. Nhà nước Lang Sa không nhìn nhận những người chủ đất bối đảng cựu vì bộ sổ đã xiêu lạc.

– Khó quá!

– Tại sao khó? Nếu vậy thì hổm rày ông ở đây chỉ là để giải trí, bày lễ lộc cho vui mắt cậu Cẩu. Tôi ở ngoài bờ biển thỉnh thoảng bơi xuồng vô đây, nghe ngóng tin tức.

Tu Thiện cười dòn:

– Tôi như người ở tù, làm sao thuyết phục được cậu Cẩu và cô Huôi? Ít ra, người Lang Sa cũng giúp tôi vài chuyện, thí dụ như biểu dương lực lượng, cho nổ vài phát súng khi xa khi gần.

Năm Hí đáp:

– Vậy thì dễ. Tôi hứa giúp ông. Ngoài biển, bốn năm chiếc tàu sắt chạy tới lui …

– Nhưng như vậy chưa đủ. Cậu Cẩu là người quá ngạo mạn, tin dị đoan…

– Tôi trao ông một khẩu súng, ông dám gìn giữ không?

Tư Thiện đáp:

– Chưa cần. Nhưng đôi ba ngày nữa. Cô Huôi và cậu Cẩu sẽ tới Hòn Đất mà cất kiểng chùa và viếng ông Đạo Đất. Chú làm cách nào tùy ý. Miễn là đừng đụng chạm tới tánh mạng dân chúng.

Ngày cô Huôi về thăm núi Đất tuy không được tổ chức trọng thể nhưng dân chúng địa phương muốn cho cô hãnh diện. Vùng núi Đất nghèo nàn nhưng là nơi phát tích của một bà Chúa hiền lành, uy nghi, có khả năng cảm hóa kẻ hung ác như cậu Cẩu.

Ông Tư Thính và hai ba ông kỳ lão đến tận Hòn Chông để rước cô Huôi. Cậu Cẩu xin phép đi núi Đất để tìm nơi xây ngôi chùa. Cô Huôi không đồng ý cho lắm, gọi ông Mười Hấu đến mà chỉ dạy:

– Chẳng lẽ ta bỏ vùng Hòn Chông nầy trong vòng năm bảy ngày, rủi Hòn Chông làm phản thì làm sao trở tay cho kịp.

Mười Hấu lại lo âu. Hay là cô Huôi tạm rời Hòn Chông để tránh mọi trách nhiệm? Cô cố ý đi vắng, thừa cơ hội ấy, bọn hộ vệ nổi lên. Dường như mọi người đều ngao ngán, trông chờ một sự đổi thay, sau khi họ chứng kiến cái chết thê thảm của Xí Vĩnh.

Cô Huôi nói thêm:

– Vài tháng nữa, tôi về quê ở luôn. Ông Mười Hấu và cậu Ba tha hồ hành động. Đừng hỏi ý kiến tôi bất cứ chuyện gì. Tôi còn có thể diện với dân chúng. Và sau khi chết, tôi không muốn ai nguyền rủa cả dòng họ.

Mười Hấu đáp:

– Nếu không có cô, gia đình tôi đâu được sung sướng như vầy. Chúng tôi mang ơn cô và muốn đền ơn.

Cô Huôi cười lạt:

– Người đáng cho ông mang ơn là ông Bá Vạn. Bá Vạn đã sắp xếp mọi việc. Ông Chúa Hòn quá linh thiêng nên trừng phạt Bá Vạn rồi…Thôi, cứ yên tâm mà ở lại Hòn Chông, tôi đi chừng vài ngày là trở về.

Lát sau, cô Huôi cho đứa nữ tỳ gọi Tư Thiện đến. Tư Thiện hơi ngạc nhiên, hỏi nữ tỳ:

– Cô gọi ta để làm gì? Hay là…

Đứa nữ tỳ lanh miệng trả lời:

– Chắc cô gọi ông vì chuyện khác. Cô sửa soạn đi núi Đất.

Khi vào phòng khách, Tư Thiện bắt đầu yên tâm. Mấy ông kỳ lão ngồi uống rượu với một ông lão mặc áo có thêu chữ Thọ. Tư Thiện đoán đó là cha ruột cô Huôi. Sau khi chắp tay chào, Tư Thiện đứng lóng nhóng.

Cô Huôi đến góc phòng khách, ngồi xuống ghế, gọi nữ tỳ mang chiếc ghế thứ nhì cho Tư Thiện:

– Nầy ông! Tôi muốn hỏi chuyện nầy. Trước kia ông ở chợ Rạch Giá biết người Lang Sa chớ? Mấy người ở núi Đất cho tôi biết rằng dường như người Lang Sa đem chiếc tàu sắt đến bờ biển. Sau bệ tàu, có treo cờ tam sắc.

Tư Thiện muốn che giấu sự liên lạc bí mật với Năm Hí nên trả lời vu vơ:

– Dạ, trước kia tôi mua bán ở chợ Rạch Giá. Người Lang Sa từ phương Tây vượt biển đến. Họ dùng tàu sắt, súng của họ bắn nổ thật to, vách đá cũng ngã sập. Nhờ vậy mà họ chiếm cứ lần hồi các tỉnh thành.

– Thật vậy sao?

– Đó là điều mà tôi nghe nói lại. Hôm trước, tôi đã trình bày một lần cho cô và cậu Cẩu nghe. Người Lang Sa thích ăn uống, ai thuận lòng thì họ bán chức tước. Hơn một tháng rồi, tôi ở đây, không được dịp đi Rạch Giá.

Bỗng dưng cô Huôi nghiêm nét mặt, nói khẽ:

– Ông có thể về Rạch Giá một đôi ngày…

Phản ứng của Tư Thiện là từ chối thật nhanh, với giọng nói cương quyết.

– Tôi muốn ở đây suốt đời.

Cô Huôi nói:

– Tôi nhờ ông, tôi ra lịnh cho ông. Ông nghĩ sao?

Tư Thiện cau mày, chưa hiểu cô Huôi muốn dùng thủ đoạn gì. Chẳng lẽ đứa nữ tỳ lại tố cáo với cô Huôi rằng ông đã phản bội?

– Thưa cô, tôi đi thì có sự hiểu lầm.

– Tôi hiểu rồi. Nhưng trước kia hồi ở núi Mo So, ông đứng về phe thằng Thừa chống lại cậu Cẩu.

Tư Thiện đáp:

– Đi thì dễ nhưng về thì khó. Cậu Cẩu và người Lang Sa đều ngi ngờ tôi. Nếu đi thì ắt là tôi đi luôn cho tất cả mọi người đừng nghi ngờ.

Cô Huôi vẫn chưa đoán ra ý nghioa4 những lời nói sâu xa của Tư Thiện:

– Vậy thì ông ở lại, khi nào cần thì tôi nhờ ông.

Trên đường về núi Đất, cô Huôi thấy khung cảnh thay đổi khác xưa. Ông Tư Thính không quên nhắc nhở:

– Huôi à! Con thấy gốc cây tràm đằng kia không?

Cô Huôi đáp:

– Dạ, thấy ở mé ruộng.

– Ba chục năm trước, con là đứa bé đi chưa vững. Một buổi sáng, ba đem con ra đó. Con ngủ gục, dựa đầu vô gốc cây. Một con mãng xà vương hiện ra, che chở cho con. Ông đạo Đất đoán rằng lớn lên con trở thành bà Chúa!

Cô Huôi mỉm cười:

– Chuyện ấy, cha nói con nghe nhiều lần rồi. Sự may mắn chỉ đến một lần, nhắc lại làm chi thêm buồn. Lúa trổ tốt quá, màu lúa xanh mát, mấy con cò trắng bay lướt quanh trên ngọn lúa để về núi. Thà là nghèo, làm thường dân mà sống trong khung cảnh mộc mạc.

Ông Tư Thính trả lời:

– Cha nhắc lại để con nghe rằng ông đạo Đất là người quá giỏi, biết quá khứ, vị lại. Ngày xưa, ổng nói đúng thì ngày nay chắc ổng nói không sai chạy cho lắm. Bởi vậy, cha rước con về nhà, bàn tính kỹ lưỡng.

– Chuyện người Lang Sa đến Hòn Chông. Cha nói rồi.

Ông Tư Thính đáp:

– Đến bằng trăm cách khác nha. Cha sợ rằng bọn nó đem binh hùng tướng mạnh tới bao vây rồi nã đạn. Con nên xa lánh trong mười ngày, một tháng. Thằng Cẩu là đứa ngu dại. Con ở lại Hòn Chông chỉ là để gánh chịu bao nhiêu trách nhiệm.

– Cha thương con. Con biết đền đáp cách nào bây giờ? Nhưng trước tiên, con xuống gặp ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Chắc là quẻ cuối cùng.

– Con đừng nói vậy xui xẻo lắm.

– Thưa cha, con không sợ xui xẻo.

– Sao vậy?

– Bao nhiêu xui xẻo đều vượt qua rồi. Nhờ ơn đức của cha để lại nên con xử khéo léo, không tham lam quá mức.

Chiếc ghe cập trước bến nhà ông Tư Thính. Khi lên sân, cô Huôi hơi ngậm ngùi. Bụi quỳnh hoa vẫn còn đó, cành lá xum xuê.

Bên ngoài, ông Tư Thính đã làm thêm một vòng rào ngăn cấm không cho trẻ con đến gần.

Thấy đứa con gái đến gần bụi bông, ông Tư cũng ngậm ngùi mà nói:

– Nó còn đó. Hằng ngày ba tưới nước cẩn thận. Nhiều người tới đây xin để làm giống, ba không cho. Con thấy không, bụi hoa to gấp mấy lần trước. Nhờ nó mà con trở nên người sang trọng, ba cũng hưởng lây. Tiếc là má con không còn sống để thấy ngày hôm nay. Thôi, vô nhà mà nghỉ.

Nãy giờ ông Tư Thính buồn rầu. Dường như linh tính báo trước cho ông điều gì không may mắn. Ngồi trong nhà mà đôi mắt ông cứ theo dõi bóng dáng đứa con gái thân yêu, ngoài sân.

Ông sợ nhất là cô Huôi hỏi về bụi bông quỳnh hoa. Nếu hỏi thì ông trả lời cách nào cho vui vẻ?

Trước sân, cô Huôi cứ đứng tần ngần. Lát sau, cô quỳ xuống rồi day lại nói với đứa nữ tỳ:

– Vô nhà, kiếm nhang đèn đem ra đây.

Nữ tỳ vào nhà gặp ông Tư Thính. Ông Tư hỏi:

– Chuyện gì?

– Thưa ông, cô hỏi nhang đèn.

– Trên bàn thờ kia! Cứ vô đó mà lấy.

Cô Huôi quỳ xuống thắp nhang khấn vái lâm râm. Cô đưa mấy nén nhang lên ngay trán rồi xá ba lượt. Bỗng dưng ông Tư Thính để rơi hai hàng nước mắt.

Ông kéo vạt áo mà chùi. Ông day phía sau. May quá! Mấy ông lão đã về nhà. Nếu có người chứng kiến cảnh tượng này ắt uy tín nhà ông bị suy giảm.

Cô Huôi bước chậm rãi vào nhà.

Để khỏi buồn bực, ông Tư Thính cố ý gợi một chuyện khác:

– Chiều nay, con muốn ăn cơm với món gì? Mùa nầy cá rô ngon lắm.

Cô Huôi nhìn cha. Rõ ràng bên khoé mắt cha còn vài ánh nước mắt, chùi không sạch. Cô đã hiểu. Cha cô khóc lúc cô đang thắp nhang mà khấn vái, tạ ơn Trời Phật trước bụi quỳnh hoa. Bao nhiêu năm tháng trôi qua rồi!

Ông Tư Thính hỏi:

– Con ăn cơm với cá rô?

– Dạ. Lâu rồi, con thèm ăn bất cứ món gì ở quê nhà. Ngộ thật! Lớn lên, con người cứ thèm những món mà mình ăn lần đầu tiên hồi còn nhỏ.

Ngỡ rằng câu chuyện đã trôi qua, ông Tư Thính rót trà vào chén. Cô Huôi vội đến gần cha:

– Ba để con lo. Lâu rồi, con không hầu hạ cha được.

Ông Tư đáp:

– Đó là phước đức ông bà để lại, con à. Con người sanh ra trên cõi đời nầy, ai cũng có máu tham. Nếu ba đi theo con thì có thể là ba ác độc như ông Mười Hấu. Ở nhà, ba biết rõ những gì xảy ra. Con thiệt là hiền lành, khôn ngoan. Cầu Trời Phật phò hộ con.

Cô Huôi lại rơi nước mắt:

– Ba là người hiền lành, để phước cho con nhờ. Con muốn hỏi ba một chuyện thôi. Con về đây là để hỏi kỹ…

Rồi không đợi sự đồng ý, cô Huôi ghé miệng vào tai cha mà hỏi:

– Thưa ba, bụi quỳnh hoa có nở lần nào không?

Ông Tư cười dòn:

– Từ bốn năm nay, nó chưa nở lần nào nữa cả. Nhưng biết đâu nó lại nở bất thường. Bông đó kỳ cục lắm. Khi nó trổ nụ thì dầu không săn sóc, nó cũng cứ trổ.

Ngược lại thì…Cô Huôi hiểu ý cha:

– Trổ một lần, được rồi. Nhưng thưa ba, hồi nãy con thấy điều gì kỳ lạ lắm. Mấy lá to cứ nghiêng một bên. Nếu nó không trổ, chắc chẳng ai có bùa phép gì được. Nhưng nếu nó trổ….

Ông Tư Thính lại cười dòn:

– Con nói vòng vo, ba không hiểu. Nghĩa là hồi nãy con khấn vái cho bụi quỳnh hoa trổ bông lần thứ nhì?

– Dạ, con khấn vái như vậy. Nhưng tại sao ba buồn rầu? Con thấy ba lau nước mắt.

– Trổ lần thứ nhì! Con ơi! Đừng quá tham lam. Như vậy đủ rồi. Ngoài biển, lâu lâu có tàu Lang Sa chạy tới lui. Nhiều người chài lưới ra khơi, bị xét hỏi rồi thả cho về. Họ bảo rằng Lang Sa sẽ tới Hòn Chông trước Tết năm nay.

Cô Huôi lại để rơi hai giọt nước mắt:

– Ba đừng rầy mà oan ức cho con. Con đâu có tham lam. Hồi nãy con thắp nhang khấn vái Trời Phật. Nếu lần thứ nhứt bông quỳnh nở mà con được danh vọng thì lần thứ nhì, nếu bông nở thì con đi tu.

-Trời! Con khấn vái như vậy?

-Xin lỗi ba. Con về đây là để khấn vái, luôn dịp nhờ ông đạo Đất xem một quẻ? Ở Hòn Chông, nhiều chuyện xảy ra, rắc rối quá. Trong nhà mà có loạn thì người ngoài trông vào làm sao tin cậy được!

Sau bữa cơm chiều, cô Huôi ra ngoài sân dạo mát. Nhiều người trong xóm tới thăm cô, khen ngợi và chúc mừng. Cô chỉ trả lời:

– Cám ơn bà con. Đáng lý ra, hồi tháng trước tôi về đây giúp đỡ người nghèo khổ, nhưng tôi không có tiền nhiều.

Đến căn nhà mát ở dưới bến, cô ngồi thật lâu. Vài ánh sao chấp chóa trên nền trời xanh, rồi rơi xuống. Cô dụi mắt hỏi đứa nữ tỳ:

– Thấy gì trên trời không?

Nữ tỳ đáp:

– Dạ không! Nhưng mà nãy giờ dường như có ai đánh trống ở đằng kia, trên núi.

Cô Huôi lắng tai nghe rồi đứng dậy:

– Đâu có tiếng trống. Dường như có tiếng súng. Nổ to lắm như trời gầm. Có nghe không? Thôi, ta vô nhà, lạnh lắm.

Năm Hí trở lại Hòn Chông vào lúc mặt trời sắp lặn. Anh ta cứ đội nón lá, đi thong dong ngoài đường cái. Sau khi đi ngang qua nhà cô Huôi, anh ta đánh bạo đi ngang qua nhà ông Mười Hấu và cậu Cẩu. Bọn hộ vệ nằm dài sau khi uống rượu say mèm. Cửa nhà đóng chặt, Năm Hí đếm kỹ rồi kết luận:

– Còn có sáu đứa. Nếu viên cai đồn cho phép thì dễ xoay trở quá. Nhưng ông ta căn dặn nên làm thế nào để cậu Cẩu và cô Huôi chịu đầu hàng có thể diện. Thiệt là rắc rối. Xứ Hòn Chông này đáng mất vào tay người Lang Sa, vậy mà cậu Cẩu còn mê ngủ…

Năm Hí trở lại đi, xăm xăm vào căn nhà dành riêng cho Tư Thiện. Tư Thiện đang ngồi trước sân, uống trà. Chưa chi Năm Hí đã lên tiếng:

– Chờ thời hả?

Tư Thiện giật mình day lại:

– Trời! Chú mày làm tôi hết vía. Trở lại đây hồi nào? Sao không cho hay trước? Chừng này, trời chưa tối hẳn.

Năm Hí đáp:

– Đứa nữ tỳ có ở nhà không?

– Bọn nó theo cô Huôi về núi Đất rồi. Hỏi chi vậy? Coi chừng bọn hộ vệ ở nhà ông Mười Hấu …

Năm Hí đáp:

– Bọn nó say rượu, vài ba đứa vậy thôi. Nếu quan trên cho phép…Uổng quá!

– Mình vô nhà!

Cực chẳng đã, Năm Hí mới chiều theo ý Tư Thiện.

– Ở ngoài sân mát hơn.

Tư Thiện sực nhớ đến vai trò của mình nên nói gắt với Năm Hí:

– Lúc dễ dàng chính là lúc nguy hiểm nhứt. Đừng quá dễ ngươi. Ai cầm đầu chuyện này? Viên cai đồn chợ Rạch Giá dạy như thế nào thì ta làm như thế ấy để lãnh thưởng. Nếu làm trái ý ông ta, liệu chúng ta có bị khiển trách hoặc tình nghi là phản bội hay không?

Năm Hí vẫn chưa hiểu:

– Hôm qua, tôi nói rồi. Mấy ổng dạy nên làm cách nào cho cô Huôi và cậu Cẩu đầu hàng không đổ máu.

Tư Thiện nói:

– Ai điều khiển chuyện này? Chú mày hay là tôi. Nếu chú mày muốn ra tay giết bọn hộ vệ chiếm đoạt căn nhà cậu Cẩu thì tùy ý. Tôi về chợ Rạch Giá cho khỏe thân. Chú mày ở đây xoay trở một mình!

Năm Hí bắt đầu sợ sệt:

– Anh có quyền hạn nhiều hơn tôi. Quan trên dạy tôi đến gặp anh.

– Vậy thì nên nghe lời tôi. Đừng tưởng rằng cậu Cẩu và cô Huôi quá yếu. Chú mày có thể giết mấy người hộ vệ ở dưới bếp rồi vô nhà cậu Cẩu để xâm chiếm. Nhưng liệu người Lang Sa đến tiếp cứu và đóng đồn tại đây không, trong vòng đôi ba ngày. Họ có hứa không? Họ dám kéo binh tới đây không?

Năm Hí cúi đầu:

– Dạ không có hứa,

– Không hứa thì bọn mình chết luôn! Chẳng lẽ giết mấy đứa hộ vệ rồi mình chạy trốn ? Mà giết làm chi cho mệt sức? Nếu vô nhà cậu Cẩu chẳng khác nào bọn mình bó tay nạp mạng. Ông tưởng ở trong thành chỉ mạnh khi nào có quân sĩ, khí giới và lương thực.

Như sực nhớ điều gì quan trọng, Năm Hí đáp:

– Vô đó, lấy gì mà ăn? Trong nhà đâu có dao mác.

– Có chớ. Đồ ăn thì dư, dao mác thì không thiếu. Nước ngọt, gạo muối đủ cho bọn mình ăn suốt tháng nhưng rủi… cậu Cẩu phóng lửa đố nhà thì mình ẩn núp ở đâu cho khỏi trở thành con heo quay vàng lườm.

Bầu không khí trở nên yên lặng.

Tư Thiện thấy kế hoạch mà người Lang Sa giao cho thật là rắc rối. Nếu lính mã tà đến yểm trợ chừng mười đứa, bắn hàng chục phát súng để thị oai thì họa chăng cậu Cẩu mới điều đình, xin đầu hàng trong danh dự ? Đối với Tư Thiện điều quan trọng vẫn là được sống gần cô Huôi, như vợ chồng, cô Huôi sẽ yêu ông ta thêm lên khi nhờ ông ta cứu vớt tánh mạng trong cơn khói lửa.

– Không nổ súng thì khó làm xong việc – Tư Thiện lẩm bẩm như thế.

Nhưng Năm Hí lại nổi giận:

– Anh muốn vậy thì ra chợ Rạch Giá mà trình bày với viên cai đồn.

– Tôi đi thì hư việc. Sớm muộn gì tôi cũng đi. Đêm nay, chú mày rảnh không? Đi theo tôi cho biết tình hình. Hiện giờ, người Lang Sa không chịu kéo quân tới vì họ cho rằng vô ích. Nhưng khi thấy cần thiết, họ sẽ thay đổi ý kiến. Cậu Cẩu với cô Huôi nào phải ngu dại như trẻ con. Cậu ta xem trời đất nhỏ bằng hột tiêu, huống hồ gì bọn Lang Sa…

Hai người nằm kề nhau mà ngủ. Đâu vào khoảng canh năm, Tư Thiện thức dậy

– Năm Hí! Mình đi

– Đi đâu?

– Qua núi Đất, cô Huôi và cậu Cẩu đều tới đủ. Để xem họ làm chuyện gì.

Hai người ra khỏi nhà, đi bộ theo mé rạch rồi đến bến sông mà dừng chân. Tư Thiện khoát nước rửa mặt. Dưới sông, vài chiếc xuồng qua lại. Đó là bọn người đi tới núi Mo So để đốn củi và ăn ong? Năm Hí ngồi cú rũ:

– Lạnh quá, nếu cứ đi bộ, làm sao đủ sức. Đây qua núi Đất, đường xa chớ đâu phải gần!

Tư Thiện chú ý đến chiếc xuồng nằm trên bờ, chủ nhà còn ngủ, cửa chưa mở. Ông ra ra lịnh:

– Thì cứ đẩy chiếc xuồng xuống sông. Mình giả dạng như dân làm ruộng, mua bán. Lúc này cậu Cẩu chẳng bao giờ đề phòng người lạ mặt. Cậu đi tu mà. Nhưng trước khi cất chùa cậu ta còn muốn gặp ông đạo Dắt. Mình tới gặp ông đạo là biết rõ mọi sự.

Năm Hí nói:

– Phải chi mình nhờ ông đạo Đất nói vài lời. Khuyên cậu Cẩu nên tuân theo … luật tuần hoàn của trời đất!

Tư Thiện đáp:

– Tôi nghĩ tới chuyện đó rồi. Mình cứ làm trước. Tại sao bọn mình không là ông đạo Đất?

Chiếc xuồng lướt nhanh. Khi đi ngang qua thửa ruộng khá phì nhiêu, Năm Hí bèn lên giọng:

– Hổm rày, tôi có tới vùng này. Đằng kia là nhà ông Tư Thính, cha ruột cô Huôi. Mình nên dè dặt. Nếu cô bắt gặp thì khó ăn nói.

Tư Thiện đứng dậy, nhìn về phía xa. Một ngôi nhà ngói cao ráo nhô lên màu đỏ hường. Sau nhà khu vườn cau xanh mướt, ngọn cau như tiếp nối với mây trắng. Núi, Đất trông nhỏ nhưng dài. Nhiều tảng đá trắng tinh, phản chiếu ánh nắng gay gắt buổi trưa.

Trước nhà Tư Thính, có ngôi nhà thủy tạ xinh xắn. Hai chiếc ghe mui vuông đậu sẵn buộc vào cột nhà.

Tư Thiện nói:

– Cô Huôi đang ở trên nhà.

Năm Hí như hăng hái thêm:

– Tại sao mình không bơi qua thiệt mau để đến núi Đất! Cậu Cẩu đi về hướng nào?

Tư Thiện đáp:

– Đây là xứ lạ quê người, tôi cũng như chú mày thôi. Muốn biết rõ thì mình nên làm việc mạnh dạn hơn.

– Thế nào là mạnh dạn?

– Thì cứ lên bờ, hỏi thăm dân chúng. Chẳng lẽ họ rượt chúng mình, bắt trói lại. Mình có tội gì đâu ? Vả lại mình không mang khí giới.

Qua nhà cô Huôi, Tư Thiện liếc mắt nhìn kỹ. Đứa nữ tỳ quen thuộc đang cầm chổi quét lá khô trước sân. Cô Huôi ngồi trên chiếc ghe nhỏ, trước hàng ba, ngắn khung cảnh bên hông nhà, trong cái ao hình bán nguyệt, sen nở rộ phô bày hàng chục đóm trắng. Lá sen xanh mướt che phủ mặt nước, giữa ao, chiếc xuồng con nằm yên một ông lão tóc bạc phơ đang cầm cán câu.

Đúng là cảnh điền viên với bao nhiêu thú vui. Xuồng đi xa mà Tư Thiện còn ngoảnh mặt lại. Cô Huôi đến gần ao sen. Có lẽ hai cha con đang nói với nhau chuyện câu cá.

Tư Thiện buồn lâng lâng:

– Tham danh lợi để làm gì chớ?

Năm Hí day lại, cười dòn

– Chắc anh muốn lên nhà, ngồi bên cạnh cô Huôi.

Tư Thiện thú nhận:

– Ai mà không ao ước như vậy. Đời tôi Trời Phật cho hưởng phước đức tới đó là hết. Theo người Lang Sa để đánh Nam dẹp Bắc, chưa ắt tôi làm được chức phủ huyện vì tại học không tới đâu cả.

Năm Hí nói:

– Nhưng … ẩn sĩ quy điền, vợ chồng ngồi bên ao sen ngắm hoa rồi câu cá là một thứ danh lợi đắt tiền. Người bần hàn, làm sao ở ẩn như vậy cho được? Cơm gạo đâu mà ăn? lại còn tốn tiền mướn bọn nữ tỳ. Tôi thì mong sao người Lang Sa ban thưởng chút ít tiền bạc. Về chợ Rạch Giá, tôi mướn hoặc mua căn nhà, làm nơi dự trữ cá khô và nước mắm. Hai món đó luôn luôn có người cần dùng.

–  Ầm! …

Tiếng nổ long trời từ ngoài biển vang vang đụng vào sườn núi Đất rồi dội trở lại, lâu lắm mà dư âm không dứt.

Tư Thiện và Năm Hí đều cúi đầu, bơi thật nhanh. Họ biết đó là súng của tàu Lang Sa, bắn từ ngoài biển. Dân chúng hai bên bờ rạch chạy ra trước sân, nhôn nháo. Nhiều đứa bé đang tắm dưới song vụt chạy lên bờ, kêu khóc ỏm tỏi.

Phía trước mũi xuồng, Tư Thiện nhận ra một toán người khá đông đảo. Họ chạy tán loạn, kẻ lên chân núi, người xuống ruộng.

Năm Hí bèn hỏi ông lão đang bước nhanh trên bờ:

– Đi đâu vậy ông?

Ông lão đáp:

– Mấy ông điếc hay sao? Tàu Tây tới rồi.

Tư Thiện hỏi:

– Còn mấy người đằng kia? Phải chăng là …binh sĩ của ông chúa?

Ông lão đáp:

– Dân trong xóm bị bắt đi làm xâu. Cậu Cẩu bày chuyện xây chùa cất miễu. Chùa thì muốn cất thật cao, cơm gạo thì không cho người ta ăn? Giặc tới rồi!

Tư Thiện như phấn khởi thêm lên. Khi dân chúng mang tâm trạng hoang mang thì làm sao cậu Cẩu và cô Huôi giữ vững tinh thần được.

Nếu người Lang Sa kéo binh đến, cậu Cẩu có thể chạy trốn, cô Huôi ở lại để thương thuyết.

Hàng chục chiếc xuồng phía ve biển bơi nhanh về phía Tư Thiện. Ông ta hốt hoảng:

– Mình lên bờ thì mới yên thân.

Năm Hí hỏi:

– Sao vậy?

– Ai nấy chạy giặc, rồi bờ biển trong khi bọn mình lại ra bờ biển. Họ cho rằng bọn mình là dọ thám! Mình lên bờ, đi bộ đến núi Đất, chờ xem tình thế.

Hai người vượt qua cánh đồng nhỏ hẹp. Đến sườn núi, họ ngồi nghỉ, chờ khi chạng vạng tối mới dám xuất hiện để xin cơm. Theo con đường mòn, họ đi thẳng lên núi. Mùi nhang bay thoang thoảng. Qua kẽ lá, ánh đèn chiếu vàng vọt.

Tư Thiện nói:

– Đây là chùa miễu. Ta vào đó là có cơm ăn. Chẳng lẽ giờ này bọn hộ vệ của cậu Cẩu lại rình sẵn trong miễu.

Năm Hí vụt la lên:

– Nó đó!

Từ bên vách đá có tiếng quát:

– Ai? Mấy người đi đâu?

Đúng là bọn hộ vệ của cậu Cẩu, Tư Thiện khoát tay như ngầm bảo Năm Hí đừng chống cự. Ông lấy giọng bình tĩnh:

– Tôi đây mà. Tôi ở Hòn Chông…

Hai đứa hộ vệ trợn mắt rồi thối lui. Tư Thiện nói tiếp:

– Tôi đi tìm anh em. Quên rồi sao?

– Cậu Ba không cho ai gần miễu. Ông là ai? Tôi quên rồi?

Đã đến lúc Tư Thiện tỏ thái độ tàn nhẫn. Ông ta đá thốc vào hông tên hộ vệ bên trái. Hắn té xuống. Ông bước tới, vặn tay tên hộ vệ thứ nhì.

Năm Hí tiếp sức, quỳ xuống khiêng một tảng đá to, đập vào đầu tên vừa té. Hắn kêu rú, lăn lộn để tránh tảng đá. Không hiểu hắn tránh kịp hay không, điều chắc chắn là người và viên đá đều lăn xuống hố.

Từ đáy hố, nhiều tiếng động vang lên. Nhánh cây gãy nghe răng rắc, tảng đá đụng vào vách hố, văng ra rồi lại đụng vào vách đối diện.

Tư Thiện cầm lòng không đậu nên rầy la:

– Đừng giết nó!

Năm Hí hỏi:

– Tại sao anh chưa giết thằng đó! Nó rút ngọn đoản đao kìa!

Tư Thiện bước lui. Tên hộ vệ bèn xuôi tay. Biết mình hành động quá trễ. Bóng tối tràn lan nhanh chóng. Hai người ngồi xuống. Tên hộ vệ run lên:

– Tội nghiệp tôi. Hồi nãy tôi không biết ai?

Tư Thiện muốn tìm hiểu sự thật nên hứa trước:

– Mày cứ nói thiệt tao tha cho, tao là người lên núi viếng cảnh chúa. Tại sao tụi mày với thằng kia lại giết tao?

– Dạ, tôi xin lỗi rồi. Ông là Tư Thiện, ở gần nhà cô Huôi. Trời chạng vạng, làm sao tôi phân biệt được người quen kẻ lạ?

– Bọn mày còn mấy đứa, lên đây làm gì?

Tên hộ vệ đáp:

– Dạ, chỉ có hai đứa. Tại sao ông nghi ngờ tôi? Tôi với ông đâu thù oán nhau. Ông bày ra lễ lộc, tôi nhớ rõ. Tôi không hiểu gì hết.

Trong phút giây Tư Thiện quyết định nên tra tấn tên hộ vệ này rồi giết cho nó chết luôn. Để nó sống thì hư mọi công việc. Nó đã biết tên ông và nó sẽ thuật lại cho cậu Cẩu và cô Huôi biết rằng ông đến đây với người lạ mặt, người ấy đã giết một đứa hộ vệ.

Nó phải chết, vì Tư Thiện còn gặp mặt cô Huôi và cậu Cẩu. Nghĩ vậy, ông ta hỏi gắt:

– Tại sao tụi bây xông vào giết tao?

Tên hộ vệ kêu lên:

– Trời! Tôi làm dữ với ông hồi nào? Ngoài biển súng thần công nổ. Tôi đứng trên này mà canh chừng. Dường như có tàu nhỏ chạy vô bãi biển, hàng chục người ngồi trên tàu.

Chắc là lính của Lang Sa muốn chiếm Hòn Đất. Không che dấu được sự mừng rỡ, Năm Hí khều nhẹ Tư Thiện :

Tư Thiện day lại:

– Để tôi hỏi nó.

Rồi ông ta đổi giọng:

– Nói thiệt đi! Tôi tới đây để theo dõi người Lang Sa. Chú mày thấy rõ người Lang Sa vô bãi biển. Tàu lớn chạy ngoài khơi, nếu vô bãi thì mắc cạn.

– Dạ, tôi nói láo để làm gì. Dường như họ cướp giựt chiếc ghe lưới rồi chèo vô gành ông Bảo.

– Gành ông Bảo ở đâu?

– Lại đằng kia, sau miếu bà chúa Xứ, nhìn xuống thấy mỏm đá kêu là gành ông Bảo.

Nói tới đó, tên hộ vệ từ từ đứng dậy. Nhưng Tư Thiện ra lịnh:

– Đừng giỡn. Ngồi xuống. Muốn chạy sao chớ? Tại sao mày đòi giết tao lúc nãy.

– Dạ tôi nghe súng nổ rồi mấy người Lang Sa, tôi sợ chạy xuống núi để tìm cậu Cẩu.

– Cậu Cẩu biểu tụi mày lên đây để làm gì?

– Dạ, đêm nay, cậu Cẩu với ông Mười Hấu ở nhà ông Đạo Đất. Ngày mai, họ lên miễu bà chúa Xứ để chờ lên xác. Tụi tôi lên đây canh chừng trước!

Như vậy là đủ rồi. Tình thế biến chuyển nhanh chóng ngoài mức tưởng tượng của Tư Thiện và Năm Hí. Nếu có nơi nào kín đáo, Tư Thiện sẽ giam giữ tên hộ vệ, chờ khi tình thế yên ổn sẽ thả hắn ra.

Nhưng lúc này, nếu giữ lòng nhân đạo, Tư Thiện có thể bị hắn phản bội, tố giác với cậu Cẩu.

Nghĩ vậy, Tư Thiệu nói:

– Tao xin lỗi mày. Hôm nay mày chết tao hứa nhớ ơn mày.

Tên hộ vệ la hoảng:

– Ông giết tôi sao? Hay là ông… theo phe Lang Sa?

Tư Thiện bước tới, vung tay đâm vào ót tên hộ vệ. Vì trời tối, hắn không thấy mà đề phòng. Hắn lăn tròn xuống hố.

Năm Hí và Tư Thiện nhìn nhau. Tư Thiện hỏi:

– Làm cách nào bây giờ? Sao hôm trước chú mày bảo rằng người Lang Sa không đem quân đến?

Năm Hí đáp:

– Đó là chuyện của họ. Tôi là thuộc hạ, làm sao hiểu rành. Biết đâu bọn Lang Sa ở dưới tàu, ngoài biển khơi lại thuộc về cánh quân khác.

Tư Thiện nói:

– Nên rút lui, xuống núi để tìm nơi cư trú của ông đạo Đất. Giờ này cậu Cẩu và ông Mười Hấu đang ở đó. Mình lên núi để làm gì? Vô ích lắm. Lúc nãy, tôi tưởng rằng ông đạo Đất ở gần Miễu. Ngày mai, chú mày thử xuống bãi biển để xem kỹ cho biết toán quân đổ bộ hồi nãy là của ai.

Rốt cuộc, Năm Hí đành tuân lời Tư Thiện. Dọc đường về, hai người ghé vào căn chòi bên đường để xin cơm. Họ tự xưng là hộ vệ quân của cậu Cẩu. Chủ nhà vừa oán ghét vừa lo sợ. Khi Tư Thiện hỏi:

– Ông đạo Đất ở gần xa?

Chủ nhà nói thật nhanh để đuổi khách:

– Xuống triền núi, quẹo sang bên trái rồi hỏi thêm. Trước sân nhà luôn luôn có thắp nhang.

Trời tối như mực, Năm Hí muốn ngủ cho khỏe chờ sáng. Tư Thiện cãi lại, cho rằng nên xê dịch ban đêm. Ông ta đến gần thảo am nghe ngóng những gì xảy ra bên trong.

Nhất định là tiếng súng hồi chiều khiến cậu Cẩu và Mười Hấu suy nghĩ nhiều. Cậu Cẩu sẽ có hai thái độ trái ngược, một là quá sợ, sẵn sàng đầu hàng, hai là khinh thường ngạo mạn vì quá tin vào lá số tử vi của mình.

Năm Hí đáp:

– Để tôi ở đây.

Tư Thiện nói:

– Ra ngoài sân, mình bàn tính riêng.

Hai người đi thẳng, đến căn chòi trước mặt. Tiếng mõ tre vang lên từng chập, đó là mấy người làm rẫy, đánh mõ để xua đuổi mấy con heo rừng phá hoại hoa màu. Tư Thiện bèn bàn:

– Năm Hí cứ vô chòi, làm quen với mấy người làm rẫy. Tôi đi một mình mới xong.

– Tôi ở lại, nguy hiểm quá

– Đừng sợ. Chừng nửa đêm tôi trở lại. Chú mày cứ ngủ dưỡng sức vì ngày mai còn nhiều công việc khác. Vái trời cho quân Lang Sa đổ bộ, kéo qua Hòn Chông đánh một trận. Bọn mình đi tới lui để đánh giặc miệng, làm dọ thám như vậy cực khổ quá. Coi thì khỏe khoắn nhưng có thể chết lãng nhách bất cứ lúc nào.

Nói xong Tư Thiện theo con đường mòn mà xuống dốc sườn đồi. Hàng chục bó đuốc cháy sáng, di chuyển theo con rạch. Ông ta đoán chắc là bọn thường dân đang tản cư.

Đến ngã ba đường, Tư Thiện dừng lại. Hai tên hộ vệ, đang uống rượu bên đóng lửa. Tên thứ nhứt nói khôi hài:

– Đừng sợ chết. Con người, ai cũng qua cái chết một lần thôi. Ông đạo Đất phù hộ mà.

Như vậy có nghĩa là cậu Cẩu còn bố trí canh phòng sơ sài. Tư Thiện ngồi phía chân đồi, cách đó chừng hai mươi ánh đèn chiếu sáng.

‘‘Phải chi mình mang theo con dao’’!

Tư Thiện lo lắng, đề phòng trường hợp bọn hộ vệ xông ra, bắt tất cả những người lạ mặt đang đi tới lui gần chỗ cư ngụ của cậu Cẩu. Ông ta đi vòng ra sau lưng bọn hộ vệ, trèo lên tảng đá cao ngất.

Làm cách nào đến gần am của ông đạo Đất.

Hồi lâu, Tư Thiện làm bài toán liều lĩnh. Ban đêm bọn hộ vệ chỉ chú ý đến những gì xảy ra trên mặt đất.

Ông ta liếc cái nhánh cây đang quơ qua quơ lại trên đầu. Dường như nhánh cây ấy khá to. Không do dự ông ta nhảy thót lên. Nhánh cây quằn xuống đưa ông ta gần sát đất. Bọn hộ vệ như chú ý.

– Cái gì vậy?

Nhanh như chớp, ông buông mình, chụp nhánh cây bên cạnh. Thế là cái nhánh cây đầu tiên bị quật ngược lên cao, ông dùng hai tay mà phăng tới.

Đến nhánh thứ ba, anh trèo lên mà ngồi, thở phào. Cái thảo am của ông đạo đất ở sát gốc cây. Ngồi trên này, nếu lắng tai nghe rõ thì Tư Thiện có thể theo dõi câu chuyện trong nhà.

Dường như trong am ai nấy đều ngủ rồi? Tư Thiện không tin như thế. Ông ta trèo xuống thấp, ôm sát nhánh cây, tay còn lại thì vạch kẽ lá, trên nóc am.

Một nhánh cây khô rơi xuống, gây tiếng chạm nhẹ.

– Ai đó?

Đúng là giọng cậu Cẩu. Tư Thiện cứ lặng thinh, chờ nghe trả lời. Hồi lâu, ông nghe một giọng già.

– Hơi đâu mà lo. Bọn Lang Sa nếu kéo tới đây thì là mượn đường qua Hòn Chông. Tôi hứa chắc mà. Mạng cậu còn lớn lắm.

Một giọng khác phụ họa theo:

– Bởi vậy, đừng lên tiếng, đừng bắt bớ tất cả những ai gần am này. Tôi ra lệnh cho bọn hộ vệ cứ ăn rồi ngủ trong đêm nay.

Biết rằng cậu Cẩu muốn tạm thời mai danh ẩn tính. Tư Thiệu không ngần ngại vạch một lỗ nhỏ trên nóc thảo am. Bụi bay xuống, Tư Thiện ghé mắt thấy rõ Mười Hấu đang ngồi uống trà. Cậu Cẩu thì nằm trên manh chiếu, thân hình gầy guộc. Hồi lâu ông đạo Đất lại nói:

– Người Lang Sa không đáng sợ cho lắm. Tránh voi không xấu mặt nào! Tôi xem quẻ rồi. Cậu cứ tin tôi.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Sao ông biết?

– Đây là trận gió. Thần linh mách bảo với tôi như vậy. Người Lang Sa như cơn giông tố. Rốt cuộc họ phải chết.

Mười Hấu hỏi:

– Liệu người Lang Sa dám đánh phá Hòn Chông không? Bọn hộ vệ của tôi đủ sức chống cự chớ?

Ông Đạo Đất trả lời.

– Ngày mai, tôi xem quẻ khác. Tài năng của tôi chỉ vậy thôi…

Đột nhiên, cậu Cẩu vụt ngồi dậy:

– Không được! Chẳng lẽ tôi ăn năn sơ sài, sống núp lén như người ăn trộm trên núi này với ông? Như vậy là tôi đầu hàng rồi. Bọn Lang Sa chắc là ít người. Bọn nó có súng nhưng bắn riết rồi cũng hết đạn dược.

Mười Hấu như tán thành ý kiến của đứa cháu ngoại:

– Sáng nay hoặc trưa mai, ta đến miễu bà chúa Xứ nhờ lên xá bà…

Cậu Cẩu gật đầu

– Làm thế nào mới được! Chẳng lẽ tôi nằm trên đất mà ngủ để sanh bịnh. Tôi có tội, tôi cất chùa để tạ tội như vậy đủ rồi.

Ông đạo Đất trả lời:

– Tài năng chỉ có vậy. Cậu không tin thì tôi biết làm sao…

Cậu Cẩu đứng thẳng người, đến gần ông đạo Đất.

– Ông có giỏi thì cầm binh đánh người Lang Sa. Nằm một chỗ để chờ chết rồi chôn xác dưới đất thì dễ quá. Ông già rồi, nói như ông thì có nhiều ông già khác nghe theo. Tôi còn trẻ. Tôi đánh lại bọn Lang Sa. Bọn nó ở ngoài biển lâu ngày, lấy gì làm cơm gạo? Tôi sẵn sàng cho tụi nó tới Hòn Chông. Nếu tụi nó biết phải quấy, xin tiền bạc cơm gạo thì tôi cho chút ít. Xứ này của tôi chứ đâu phải của nó.

Ông đạo Đất cứ nhắm mắt, nằm nghiêng một bên.

Tư Thiện mừng thầm vì cậu Cẩu đã trở lại tật cũ: phách lối, ngạo mạn, xem thường người Lang Sa. Cậu sặn sàng tiếp rước nếu người Lang Sa biết lễ phép, tôn kính cậu.

Như vậy là đủ rồi Tư Thiện trèo lên nhánh ba rồi buông mình, trở về căn chòi để gặp Năm Hí.

Hừng sáng hôm sau, Năm Hí thức dậy sớm. Tư Thiện nói vài lời, trước khi chia tay:

– Nên thận trọng tìm cách tiếp xúc với mấy người ở dưới tàu, vừa đổ bộ. Chú mày chắc quen mặt với bọn đó?

Năm Hí nói:

– Có thể viên cai đồn Rạch Giá đến đây thám thính. Hồi ra đi ông ta căn dặn nên giữ lá cờ tam sắc, thêu ở góc khăn. Chỉ khăn đó thôi để sẵn trong túi. Phải chi anh rảnh rang, tới đó nghe ông ta dạy việc.

Tư Thiện đáp:

– Như vậy quá nguy hiểm cho tôi. Rủi có người thấy tôi tiếp xúc với người Lang Sa thì cậu Cẩu giết tôi. Khi gặp cô Huôi, tôi khó bàn bạc. Tốt hơn hết là chú mày nên khuyên viên cai đồn đến Hòn Chông, đến công khai với tánh cách thân thiện. Tôi sẽ thay mặt cậu Cẩu mà đón tiếp. Nên mang theo một khẩu súng và mười người lính mã tà. Đi nhiều quá thì cậu Cẩu nổi giận.

Năm Hí bèn chận lời

– Chắc không bao giờ người Lang Sa chịu kéo ‘‘Đại đội hùng binh’’ đến Hòn Chông. Họ còn lo trấn giữ mấy đồn lớn ở Hà Tiên và Rạch Giá. Nếu đi quá ít, rủi bị giết thì sao? Nhiều khi bọn hộ vệ dám liều mạng, trở mặt rồi liều mạng giết trọn mấy người lính mã tà?

– Nhưng tôi hứa giúp đỡ, giàn xếp giữa đôi bên để chuyện đổ máu đừng bao giờ xảy ra. Lúc nguy nan cậu Cẩu và Mười Hấu luôn luôn hỏi ý kiến của cô Huôi. Luôn luôn, tôi ở bên cạnh. Bây giờ tôi về Hòn Chông trước để gặp cô Huôi. Nếu tôi vắng mặt, cô nghi ngờ.

Khi Tư Thiện xuống chân núi, công việc đầu tiên của Năm Hí là trở lại con đường hồi đêm rồi. Đến miệng hố, nơi xảy ra chuyện bất trắc, Năm Hí nghiêng mình trông xuống. Xác hai tên hộ vệ đã bị nhánh cây che lấp.

Đi một đỗi anh ta dừng lại nghe có tiếng nói chuyện ồn ào. Trong ngôi miếu cổ, hai ba người nằm dài trên chiếc đệm. Ông từ giữ miếu thắp nhang, cắm vào một cái lư nhỏ. Dường như chẳng một ai chú ý đến Năm Hí. Ông từ nói to như ra lệnh:

– Anh em rửa mặt cho sạch sẽ, rủi cậu Ba với ông Mười tới thình lình.

Một chàng trai nói:

– Giặc giã đến nơi mà còn lên xác! Ông nên bàn với cậu Ba nên dời qua ngày khác.

  Ông từ cằn nhằn:

– Cậu Ba muốn thì ai dám cãi. Anh em ráng chịu cực một buổi rồi lãnh tiền xài chơi. Hồi xưa, trước khi ông chúa Hòn cưới cô Huôi, chắc anh em còn nhớ Bà chúa Xứ linh thiêng lắm. hễ bà quở phạt thì vua chúa khó sống dai. Thôi! Tai vách mạch rừng. Hai ông ‘‘hộ vệ’’ đâu rồi?

Lập tức, Nam Hí đi vòng ra sau miễu, tìm con đường tắt xuống bãi biển. Từ trên cao nhìn xuống, anh ta trố mắt vì chiếc tàu sắt đen ngòm đậu sát bãi, khi thủy triều đang dâng cao.

Dường như dân chúng ở bãi biển đã chạy tán loạn. Ở miền quê, ai nấy đều nấu cơm sớm, ăn buổi sáng cho thật no trước khi đi đánh lưới ngoài biển hoặc lên sườn đồi mà cuốc rẫy.

Hồi lâu, Năm Hí nhận ra một làn khói.

Anh ta nhắm hướng ấy chạy xuống

– Lính mã tà nấu cơm, còn ai đâu xa lạ!

Tư Thiện đến Hòn Chông, mừng rỡ vô cùng vì cô Huôi và cậu Cẩu hãy còn ở núi Đất.

Ông ta nằm ngủ một giấc dài rồi thức dậy, tự tay vo gạo nấu buổi cơm chiều. Ăn xong, ông ta ra đường cái, dạo tới lui theo bờ rạch như để chứng minh với bọn hộ vệ rằng ngày hôm qua ông ta không vắng mặt.

Bọn hộ vệ cứ ăn uống và khi thấy Tư Thiện, họ ngoắt tay:

– Tới đây cho vui, còn rượu thịt mà!

Dưới nhà thủy tạ, bọn hộ vệ nướng ba bốn con gà. Chúng trao cho Tư Thiện một bầu rượu nhỏ:

– Ông cứ uống. Tụi tôi đang lo rầu chớ ông thì khỏe khoắn.

Ngỡ rằng có tên dọ thám theo sát bên ông. Ông trố mắt hỏi nhanh.

– Tại sao khỏe? Anh em còn trẻ, được đi tới đi lui. Tôi như bị giam lỏng trong nhà.

Một đứa nâng hủ rượu sát môi ông Tư Thiện:

– Uống rồi ăn lớn miếng như tụi tui. Nè! Đừng nói lại cho biết rằng lúc cậu Ba vắng mặt, anh em tôi bày tiệc này. Rượu này là rượu … ăn cắp ở trong quán. Còn gà vịt… món mà tui gặp đâu xin đó. Ăn no đi rồi nghe tụi tôi hỏi.

Uống cạn hũ rượu, Tư Thiện cười tủm tỉm.

– Hỏi điều gì? Tôi thì chỉ biết bày trò vui, khi có lễ lộc…

Tên hộ vệ lắc đầu.

– Từ rầy về sau, chắc là hết chuyện leo cây thoa mỡ bò rồi.

– Sao vậy?

– Hồi tối tôi nằm chiêm bao, thấy nước dưới sông sôi ùng ục, bốc khói. Từ dưới đáy rạch, một cái cũi trôi lên…

Tư Thiện nói:

– Chắc là hồn oan cô Xí Vĩnh…

– Cô Xí Vĩnh đứng trong cái cũi, quơ hai tay. Cái cũi tung ra. Cô Xí Vĩnh nhảy lên bờ, trợn mắt, nghiến răng mà nói với tụi tôi rằng cô đang trả thù. Tôi hỏi trả thù bằng cách nào thì cô trả lời vắn tắt hai tiếng ‘‘chết hết’’.

Nghe qua, Tư Thiện nắm được một sự kiện. Quả thật tinh thần bọn hộ vệ đang sa sút. Nếu xảy ra một trận đụng độ nhỏ, chưa chắc bọn chúng dám kháng cự.

Vài chuếc xuồng bơi nhanh trước bến. Họ chở theo nào đàn bà, trẻ con, heo gà, cối xay, Tư Thiện giả vờ như chưa biết tình hình.

– Họ đi đâu vậy, mấy chú?

– Họ chạy giặc. Đêm qua, súng nổ phía ngoài biển. Đáng lý ra, dân chúng đến Hòn Chông tụ tập lại để nhờ cậu Ba che chở. Nhưng họ đến vùng khác, phía núi Mo So…

Đột nhiên một tên hộ vệ nói lớn:

– Về rồi! Cậu Ba về rồi! Coi chừng cậu Ba nổi giận.

Để tránh mọi nghi ngờ, Tư Thiện đứng dậy, bước nhanh về. Ông ta đến trước nhà cô Huôi, nép mình bên cây dừa. Quả thật là cô Huôi, nhưng điều đáng chú ý là cô không dùng chiếc ghe mui vuông.

Đứa hộ vệ chèo phía sau, nữ tỳ cầm dù che cho cô. Dường như cô về Hòn Chông quá gấp rút, Tư Thiện hơi bối rối, chưa hiểu Năm Hí đã tiếp xúc với quân Lang Sa ở bãi biển hay chưa? 

Hay là quân Lang Sa cương quyết dùng vũ lực, tiến về phía Hòn Chông?

Trước tình thế nguy hiểm và cấp bách này, Tư Thiện tự nhủ:

– Nên cẩn thận từ lời ăn tiếng nói. Mình là người bị tình nghi làm dọ thám cho quân Lang Sa. Một cử chỉ sơ sót có thể bị hiểu lầm và bị xử tử.

Khi chiếc xuồng gần đến, Tư Thiện chạy vào nhà đóng cửa lại rồi lên giường nằm như người nhàn rỗi không biết làm cách nào để giết thời giờ. Ông chờ mãi mà chẳng thấy cô Huôi gọi.

Nếu quả thật quân Lang Sa kéo đến, ít nữa cô Huôi cũng gọi ông đến để hỏi ý kiến. Buổi chiều, ông đem mớ cơm nguội ra ăn rồi dỗ giấc ngủ cho đến khi gần sáng.

Trong tư thất, Cô Huôi cứ trằn trọc. Đối với cô thì quân Lang Sa quá mạnh, nếu khéo điều đình thì vùng Hòn Chông khỏi bị tàn phá. Cậu Cẩu có thể đưa ra một số vàng bạc, mua chuộc bọn dọ thám. Chắc là quân Lang Sa sẽ giữ thể diện cho cậu trong vài năm!

Cô ngồi dậy, rót nước trà.

Bao nhiêu hình ảnh quái đản như bao vây cô. Đứa nữ tỳ báo cáo những gì xảy ra trên núi Đất, tại miễu Bà chúa Xứ. Vì tự trọng, xem mình cao hơn người khuất mặt nên cô từ chối, không đến dự buổi lên xác ấy. Rủi người xác nói chuyện xui xẻo, xúc phạm đến uy tín cô, hoặc tiên đoán ngày suy sụp thì chẳng lẽ cô lên án xử tử.

Người Lang Sa đến bãi biển. Họ dám mướn người để ám sát cô! Đứa nữ tỳ đến miễu bà, trở về thuật lại nhiều chi tiết quá mức tưởng tượng, cô chưa tin hẳn. Cô đoán chừng:

– Hay là vì còn trẻ nên nó nhận xét sai lạc?

Nghĩ vậy, cô rời bộ ván, đến cái giường bên cạnh mà gọi:

– Nữ tỳ! Ngủ mê quá vậy? Nấu nước cho ta uống.

Gió thổi ngoài hiên, đem hơi lạnh buốt vào gian nhà quá rộng. Bỗng dưng mà cô nhớ đến Tư Thiện. Gọi Tư Thiện đến quá sớm thì còn gì thể diện một bà Chúa, trong lúc bị quân thù dùng võ lực uy hiếp? Hơn nữa, Tư Thiện là người của Lang Sa, chưa đáng tin cậy. Nên chờ thái độ của cậu Cẩu.

Ấm nước reo trên bếp. Nữ tỳ châm vào cái ấm nhỏ rồi đứng khép nép bên gốc cột.

Cô Huôi hỏi:

– Chừng nào cậu Ba về đây?

Nữ tỳ đáp:

– Con về trước. Sau buổi lên xác, cậu Ba xuống chân núi ghé nhà ông đạo Đất, với ông Mười. Phận tôi tớ trong nhà, con đâu dám lại gần cậu để hỏi.

– Cẩn thận như vậy là phải. Hồi lên xác, mi có ở tại đó không? Hay là mi nghe thiên hạ đồn đãi rồi thuật lại, thêm bớt…

Nữ tỳ nói như kêu gào:

– Con đâu dám nói láo. Nếu sau này cô nghe thiên hạ đồn đãi khác hơn lời con thì cô cứ giết con.

Để biết rõ, cô Huôi nói như trách mắng:

– Tại miễu có người lên xác, đó là cô gái còn trinh. Nhưng tại sao mi bảo rằng cậu Ba lên xác. Ta suy nghĩ mãi chưa tin lời nói.

Bấy giờ, đứa nữ tỳ mới phân trần:

– Lúc ban đầu cô gái lên xác. Lát sau, cậu Ba đứng dậy, mặt mày đỏ khé như uống rượu. Cậu múa hait ay rồi la lớn.

– La chuyện gì? Mi nghe rõ không?

– Cậu ta nói ‘‘Ta sắp chết. Một là ta chết. Hai là nó chết’’. Người ở chung quanh hoảng sợ vì cậu Ba đấm ngực, cởi áo ra. Ông Mười năn nỉ cậu Ba…

Cô Huôi hỏi, chận lời đứa nữ tỳ:

– Mi nghe rõ lời cậu Ba không?

– Dạ, lúc đó con ở gần. Ông Mười đuổi con ra xa cho ngồi tới bờ suối, múc nước tạt vào mình cậu. Lát sau, khi tỉnh dậy, cậu đánh ông Mười

– Được rồi! Ta cấm không cho mi đồn đãi. Coi chừng chết oan như cô Xí Vĩnh.

Thế là cô Huôi nằm xuống suy nghĩ. Người Lang Sa đến, toan dùng võ lực uy hiếp. Nếu cậu Cẩu bị giết hoặc chạy trốn thì cô đâu còn địa vị ‘‘bà chúa Hòn’’. Dầu muốn hay không, cô vẫn vào phe cậu Cẩu. Tiếc thay ! Cậu ta lại nổi cơn điên như lúc trước. Xem người khác lên xác rồi tự mình lên xác, chuyện ấy dễ tin. Mùi nhang khói, tiếng trống dồn dập, tiếng đàn du dương có thể làm cho người yếu bóng vía trở thành kẻ mê hoặc, mất trí khôn.

Liệu cậu Cẩu đã bình tĩnh để nghe lời cô dạy chăng? Nếu bịnh điên nổi lên từng hồi, ắt là cậu Cẩu sẽ có những hành động liều lĩnh, không ai ngăn cản kịp.

Cậu liều lĩnh thì cô Huôi sẽ mang họa lây.

Làm sao bây giờ?

Nếu gọi Tư Thiện lúc đêm khuya thì ông này sẽ có thái độ tự phụ, khinh thường cô.

Cô nằm chờ trời sáng, ra lịnh nữ tỳ gọi Tư Thiện đến.

Tư Thiện chắp tay chào, chúc mừng cô được bình yên khi trở về. Cô Huôi nói ngay:

– Ông ơi! Người Lang Sa đến đây rồi!

Tư Thiện hỏi:

– Thưa cô, ai nói vậy?

– Vài ngày nữa, họ đến. Tôi muốn nhờ ông một việc. Theo ý ông, ngừi Lang Sa có ý định tàn sát dân chúng vùng Hòn Chông này không?

– Dạ, họ ngu dại gì mà tàn sát.

– Họ chưa giết cậu Cẩu, ông Mười Hấu, cô Ngó và tôi?

Tư Thiện đáp:

– Chưa chắc như vậy. Họ chỉ giết ai chống cự họ bằng võ lực. Tôi nghe rằng khi đến chợ Rạch Giá hồi năm ngoái, họ không giết một người nào cả…

Cô Huôi trợn mắt:

– Ông nói sao? Nếu không giết người thì họ mang súng, sắm tàu để làm gì?

Tư Thiện đáp:

– Tùy hoàn cảnh mà họ hành động. Nếu ở đây, cô ứng phó khéo léo thì chưa chắc họ dùng võ lực.

– Thí dụ như tôi giao phó cho ông trách nhiệm giàn xếp với họ, liệu ông có thể…

Chưa chi Tư Thiện đã từ chối:

– Khó lắm. Cô tin tôi là một việc nhưng còn cậu Ba và ông Mười Hấu… Ngày trước tôi đã mang tội lớn khi dậy giặcở núi Mo So. Rủi giàn xếp không xong cậu Ba sẽ giết tôi, còn tàn nhẫn hơn là cậu giết cô Xí Vĩnh.

– Cám ơn ông, nghĩa là khi nào cần tôi gọi ông tiếp dùm. Điều quan trọng là thể diện, Cậu Ba là người ngạo mạn, lúc nổi cơn điên thì xem tất cả mọi người như trò chơi. Mấy tháng rồi tôi phó mặc công việc cho cậu hoàn toàn chịu trách nhiệm. Chuyện nào ác độc thiên hạ ghét cậu chớ đâu ghét tôi. Bây giờ thì khác, nếu để cậu tự tung tự tác thì vùng Hòn Chông này mất vào tay người Lang Sa. Chừng đó chắc tôi bị người Lang Sa làm nhục.

Lẽ nào người như tôi mà lại đầu hàng, nhân nhượng quá nhiều trong khi cậu chưa sáng mắt, còn chống cự.

Nghe qua, Tư Thiện càng thêm kính mến cô Huôi. Trên đường về ông thêm lo lắng vì nếu cậu Cẩu còn ngạo mạn, nổi cơn điên từng chập thì nhứt định là xảy ra một cuộc đụng độ đẫm máu. Có lẽ cậu Cẩu sẽ chết nhưng tội nghiệp cho đám lương dân vô tội. Trong phút giây. Tư Thiện nhớ đến bọn hộ vệ.

Đúng là bọn người khó tin cậy. Nếu vì oán giận cậu Cẩu, vì ham tiền mà có vài đứa làm nội ứng thì tình thế lại càng rắc rối. Người Lang Sa quá ngạo mạn, làm sao họ chịu đầu hàng, trở thành đàn em hoặc tay sai của cậu Cẩu như cậu mong muốn. Người mắc bịnh điên luôn luôn tự tôn. Chưa chắc cô Huôi thuyết phục cậu Cẩu được, khi tình thế trở nên khó xử.

Đêm ấy, Tư Thiện giựt mình thức dậy. Dưới bến, bọn hộ vệ đốt đuốc, đón rước cậu Cẩu và ông Mười Hấu. Vài tiếng súng nổ to phía ngoài biển như nhắc nhở với Tư Thiện rằng người Lang Sa không bỏ rơi vùng Hòn Chông. Họ đang tiến binh.

Dân chúng kéo nhau lũ lượt, tốp dưới sông, tốp trên bờ để chạy giặc. Trước cảnh hỗn loạn ấy, Tư Thiện nằm trong nhà không yên. Ông ta đến trước bến, núp sau gốc cây. Cậu Cẩu đứng thẳng người, giữa chiếc ghe:

– Cứ vể Hòn Chông mà ở!

Trên chiếc ghe phía sau, ông Mười Hấu quát to:

– Mấy người cứ tá túc gần nhà tôi. Ai chạy quá xa thì tôi giết. Hồi nào, mấy người ăn của tôi, bây giờ mấy người phải tiếp tay. Tụi nó chỉ có vài đứa, mình thì đông đảo gấp trăm ngàn lần. Hộ vệ đâu?

Vài tên hộ vệ lên tiếng. Mười Hấu ra lịnh cho bọn hộ vệ kiểm soát dân chúng, đừng cho người nào chạy trốn.

Đến hừng sáng. Tư Thiện lại bị đánh thức. Nữ tỳ cho biết rằng cô Huôi gọi ông ta để đến nhà cậu Ba…

Năm Hí bắt đươc liên lạc với toán lính mã tà dưới bãi Hòn Đất. Cầm đầu toán lính này là quan một Ăn Sa. Bên cạnh người Lang Sa này còn có đội Cần.

Quan một Ăn Sa là tên võ biền, ưa uống rượu, tánh tình nóng nảy. Đội Cần ăn nói dịu dàng hơn. Sau khi khen ngợi Năm Hí, đội Cần nói:

– Ngày mai, ta đến Hòn Chông!

Năm Hí sợ hãi:

– Đến bất ngờ như vầy sao? Rủi bị bao vây.

Đội Cần vuốt râu mép:

– Đừng cãi vã. Ông quan một muốn như vậy thì mình tuân mời. Sao ? Gặp Tư Thiện chưa ? Bọn hộ vệ của cậu Cẩu gồm bao nhiêu đứa?

Trong khi Năm Hí báo cáo tình hình, quan một Ăn Sa cứ lo cạo râu. Ông ta nghe và nói được chút ít tiếng Việt Nam nên thúc hối từng chập:

– Một là tụi bây chết vì thằng Cẩu. Hai là tụi bây chết vì viên đạn của tao. Thằng Cẩu là đứa con nít, bọn hộ vệ dùng toàn là dao mác…Ngày mai mà không chiếm được Hòn Chông thì tao giết.

Đêm ấy lính mã tà chiếm ngôi chùa ở bên kia núi, gần am ông đạo Đất. Đa số dân chúng đều tản cư, trong chùa không còn ai cả. Dường như vài người tìm cách ẩn núp ở đám vườn sau chùa.

Bọn lính mã tà nổ vài phát súng để thị oai? Quan một Ăn Sa quát to:

– Bắn làm gì cho tốn đạn? Tụi bây đi chiếm Hòn Chông chớ đâu phải tới đây để đánh giặc với mấy người cầm dao búa? Trưa mai ta cắm cờ ở Hòn Chông? Năm Hí đâu?

Nghe gọi đến tên mình, Năm Hí lo sợ

– Bẩm quan lớn…

– Đêm nay, chú mày ngủ yên rồi suy nghĩ cách nào thuận lợi.

– Quan lớn dạy, tôi nghe chưa rõ.

– Mầy ngu quá, đã nói hôm trước rồi. bên này có mấy người, tuy có súng đạn nhưng ít ỏi, nếu bị thương hoặc bị giết chừng bốn người là thua trận. Quan trên dạy làm cách nào tới Hòn Chông mà không tốn một viên đạn, một người lính mã tà! Đừng cho tụi lính mã tà biết … Rủi xảy ra chuyện rắc rối, chẳng ai tiếp cứu được.

– Dạ, tôi gặp Tư Thiện một lần rồi. Trước khi tới Hòn Chông, quan lớn cho phép tôi gặp Tư Thiện.

– Làm gì thì làm! Ngày mai, đến Hòn Chông, ngày mốt ta trở về. Miễn là thằng Cẩu chịu đầu hàng cho ta treo ngọn cờ tam sắc trước nhà nó.

Nói xong, quan một Ăn Sa chung vào mùng. Ngoài này Năm Hí cứ bàn chuyện với đội Cần. Hai người uống rượu đến say mèm. Đội Cần nói:

– Ngày mai, khi gặp Tư Thiện ta mới bàn tính được. Cứ ăn rồi ngủ.

Trời tờ mờ sáng. Đội Cần đánh thức Năm Hí. Quan một Ăn Sa cứ thúc hối:

– Đi cho mau. Ta chỉ thắng khi mặt trời rọi sáng. Ban đêm mà ngủ ở Hòn Chông thì thật là nguy hiểm. Năm Hí đâu?

Năm Hí hơi run sợ:

– Dạ, tôi đây!

– Tối nay, ta ở Hòn Chông?

Câu hỏi tối nghĩa ấy khiến Năm Hí càng thêm bối rối. Tại sao viên quan một này không muốn ngủ tại Hòn Chông mà là yêu cầu tới Hòn Chông đêm nay.

– Dạ, đường không xa cho lắm. Nếu đường trở về bãi biển thì mất thì giờ.

Viên quan một trợn mắt:

– Tới Hòn Chông, ta không thèm trở về. Đêm nay, ta ở lại đó, chiếm trọn ngôi nhà cậu Cẩu.

– Bẩm quan lớn…còn thương thuyết như lời quan lớn dạy. hai bên nói chuyện nhau, chắc là khó khăn vì cậu Cẩu khó đầu hàng nhanh chóng.

– Nó không đầu hàng thì ta nổ súng. Ta muốn thương thuyết thật mau rồi trở về chợ Rạch Giá. Xong chưa ? Đến lượt Đội Cần day lại:

– Bẩm quan lớn, Ai nấy ăn cơm rồi, còn chờ lịnh…

– Chờ gì nữa! Đi ngay bây giờ. Năm Hí đâu?

– Dạ…

– Mi đi trước. Nếu dọc đường mà có người lính nào bị thương thì ta bắn mi chết tại chỗ.

Năm Hí run sợ, kêu cứu với đội Cần:

– Thầy nghĩ coi, xứ này có nhiều lùm bụi. Làm sao tôi dám bảo đảm. Đánh giặc thì bên này hoặc bên kia phải chịu thiệt hại đôi ba người.

Như muốn tránh sự cãi vã vô lý, đội Cần nói khẽ:

– Chết ai nấy chịu. Ông quan một nóng nảy có lý. Hổm rày chú mày với Tư Thiện làm gì? Nếu vô đây mà hai bên bắn nhau, đốt nhà giết dân chúng thì ai thèm mướn hai đứa bay.

Đoàn người lên đường, Năm Hí đi trước với hai bàn tay không vì anh ta không được mang súng. Hơn nữa vài người lính mã tà dùng gươm, súng vẫn thiếu làm sao có đủ mỗi người một cây.

Khi xuống núi Đất, mặt trời vừa lên. Năm Hí mừng thầm vì phía thảo am của ông đạo Đất chỉ còn vài người đàn bà đứng xớ rớ.

Đột nhiên, Năm Hí nghĩ đến một sáng kiến.

– Thầy đội ơi! Bắt ông đạo Đất dẫn đi là chắc ăn. Ai dám giết ổng?

Đội Cần hỏi:

– Ổng ở đâu?

– Trong thảo am, ở chòm cây bên trái. Cậu Cẩu và cô Huôi đều kính trọng ông.

– Không được…

Vừa lúc ấy, quan một Ăn Sa quát to:

– Đi tới chứ không đi lui, chú mày không biết đường đi sao?

Đến mé sông, Năm Hí đứng lại nhìn dáo dác. Anh ta muốn tìm được một chiếc xuồng hoặc một chiếc ghe. Bên kia bờ, hai người đàn bà đang chống chiếc ghe lườn, trên ghe nào bộ ván, lu hũ.

Năm Hí quay lại quan một Ăn Sa.

– Xin phép quan lớn cho phép bắn vài phát súng. Đường xa đi bộ thì mệt. Tụi tôi chịu được nhưng sợ quan lớn chưa quen. Mưa làm cho đường xá trơn trợt.

Lần đầu tiên Năm Hí thấy quan một Ăn Sa nở nụ cười. Ông ta ngồi xuống mà nói:

– Bắn nhưng để dành đạn dược. Đội Cần bắn một phát thôi. Bắn để chiếm ghe, đừng cho trúng bất cứ người nào.

Phát súng nổ ầm!

Hai người đàn bà trên ghe vụt nhảy xuống nước. hai tên lính mã tà cởi áo ra, lội qua chiếm chiếc ghe, quăng tất cả vật dụng xuống nước. Ngồi bên này bờ, quan một Ăn Sa cứ cằn nhằn:

– Như vầy chưa phải là đánh giặc. Thằng Cẩu là đứa con nít… Đội Cần thấy thế nào?

– Dạ, nhất định là cậu Cẩu chịu đầu hàng nếu quan ba chờ đợi dưới tàu. Nhưng làm cách nào cho nó đầu hàng?

Năm Hí đáp:

– Tư Thiện dàn xếp xong xuôi rồi. Xin quan lớn cứ yên tâm.

Lát sau bọn lính mã tà xuống ghe với quan một Ăn Sa. Năm Hí đi bộ để dò xét phản ứng hai bên bờ.

Ngôi nhà ông Tư Thính hiện ra. Năm Hí mừng rỡ vô cùng vì đây là nơi tá túc thuận lợi nhất, trong khi chờ đợi Tư Thiện đến.

Năm Hí nói với đội Cần:

– Đây là nhà cha ruột cô Huôi. Để tôi đến trước. Mấy chú lính mã tà chèo thật chậm. Đừng bắn súng.

Thái độ trầm tĩnh của Tư Thính khiến Năm Hí kiêng nể. Ông Tư hỏi:

– Người Lang Sa và lĩnh mã tà đi đâu?

Năm Hí đáp:

– Họ muốn gặp cậu Cẩu để bàn bạc vài chuyện quan trọng. Xin ông cho họ vô nhà nghỉ ngơi trong giây lát.

Bỗng nhiên ông Tư Thính thấy buồn rầu xót xa vô hạn.

Mấy tháng qua, ông nghe tiếng súng nổ rền, ngoài biển khơi. Bây giờ thì người Lang Sa lại đến. Họ đến, nhứt định là con gái ông mất địa vị và có thể chết, nếu xảy ra cuộc xung đột. Ông nói nhanh:

– Tôi là người không mong danh lợi. Người ta chạy trốn, tôi ở lại, chú thấy không. Nếu người Lang Sa muốn chiếm ngôi nhà này, tôi sẵn sàng để cho họ, nhưng xin phép, cho tôi vắng mặt.

Năm Hí đáp:

– Tôi là bạn của Tư Thiện. Nhờ ông đi Hòn Chông, nói với cô Huôi rằng tôi và người Lang Sa chờ tại đây. Đừng để trễ, chẳng ai có lợi hết. Ông cứ đi… kìa tụi nó tới rồi.

Ông Tư Thính ra sau hè, gọi đứa gia nhân. Hai người chạy qua cái mương nhỏ, xuống xuồng bơi về Hòn Chông.

Mặt trời xế dần. Tư Thiện ngồi trong nhà mà tâm trí cứ bồn chồn. Phía ngoài biển, nhiều phát súng vang rền, xa lắm. Đứa nữ tỳ chạy đến nhà gọi:

– Thưa ông, cô mời ông …

Khi đến phòng khách nhà cô Huôi, Tư Thiện hơi mất bình tĩnh vì cậu Cẩu và Mười Hấu có mặt sẵn tại đó. Bốn tên hộ vệ nai nịt hẳn hòi đứng sau lưng cậu Cẩu.

Bởi vậy, Tư Thiện đứng thấp thoáng ngoài ngưỡng cửa để chờ đứa nữ tỳ trở ra.

Nhất định là hôm nay có chuyện quan trọng. Từ khi được ân xá đến giờ, lần cuối cùng mà Tư Thiện gặp cậu Cẩu là dịp ăn mừng, với những trò chơi giải trí, trước khi xảy ra chuyện Xí Vĩnh đầu độc.

Dạo đó, nếu Tư Thiện nhớ kỹ thì cậu Cẩu xem ông ta như một tay sai kém quan trọng.

Hôm nay, cậu mời ông đến. Nếu ăn nói vụng về, ông có thể sẽ bị giết, khi bỗng nhiên mà cậu Cẩu nổi cơn điên.

Nữ tỳ trở ra:

– Cậu mời ông!

Vừa bước vào phòng khách, Tư Thiện đã nghe giọng nói dịu dàng của cô Huôi:

– Quỳ xuống để chào cậu Ba và ông Mười.

Tư Thiện vâng lời, không cần suy nghĩ vì lời dạy của cô Huôi luôn luôn có ẩn ý, binh vực và đề cao ông ta. Ông ta quỳ xuống, chắp tay xá nhưng không lạy.

Kinh nghiệm trường đời đã dạy ông ta đừng quá nịnh bợ và sợ sệt bất cứ một ai …

Nhiều khi, người ta chết oan chỉ vì cái tội nịnh bợ, vì nịnh bợ là thái độ của kẻ yếu ớt.

Như hiểu tâm trạng Tư Thiện, cô Huôi nói:

– Xá được xá! Xá cậu Ba, rồi xá ông Mười. Đứng dậy ngồi ghế đằng kia.

Tư Thiện ngồi trên cái đôn sành, cách xa cậu Cẩu chừng năm bước. Ông ta cúi mặt liếc về phía cô Huôi. Tuy chưa biết hôm nay cậu Cẩu muốn bố trí hài kịch nào nhưng Tư Thiện đã yên tâm.

Nhứt định ông không bị rầy, bị giết. Dường như cậu Cẩu và Mười Hấu sẽ trọng dụng ông ta. Cô Huôi ngoắt tay, cậu Cẩu đến gần cô rồi cười dòn:

– Hay lắm! Ta lấy độc mà trị độc. Phải có đứa nào từng làm việc cho người Lang Sa để nói chuyện với người Lang Sa!

Cô Huôi gật đầu:

– Cậu Ba nói phải. Bấy lâu, tôi nuôi dưỡng Tư Thiện là để nhờ cậy trong dịp này.

Cậu Cẩu đáp:

– Ta phải thắng.

Ông Mười Hấu nói khá to:

– Tư Thiện là người mặt mày sáng láng. Cho ông ta gặp bọn nó thì hay biết mấy. Để bọn nó hiểu rằng, người như Tư Thiện còn phải đầu hàng. Nuôi quân ba năm, dụng quân một ngày! Tư Thiện đâu!

Nghe gọi đến tên mình, Tư Thiện đứng dậy. Cô Huôi nói chậm rãi, như chủ nhà nói với tôi tớ:

– Người Lang Sa sắp tới để ra mắt cậu Ba. Ông nghĩ sao?

Tư Thiện đáp:

– Nếu ở đây ai nấy đều tin tôi, tôi hứa ra sức chống cự với bọn nó, dùng lời nói đuổi chớ không cần gươm đao.

Cậu Cẩu vỗ tay

– Hay lắm…

Rồi bỗng dưng cậu trợn tròn đôi mắt.

– Nếu dùng gươm đao thì … mệt cho cả đôi bên. Nếu Tư Thiện giàn xếp xong, ta đền ơn cho. Bọn nó cho người tới đây, xin ra mắt. Tư Thiện nghĩ sao? Hử!

Đôi mắt trợn trắng ấy cứ lườm Tư Thiện. Đúng là cậu sắp trở chứng. Tư Thiện nói nhanh:

– Thưa cậu, cậu là bực ‘‘cao cả, đầy đủ khí tượng đế vương’’. Thấy cậu, bọn nó khiếp vía.  Bọn nó ở xa tới đây, chưa quen phong thổ. Nếu chứng minh rằng cậu là người hùng mạnh thì bọn nó rút lui.

Mười Hấu nhìn cô Huôi. Trong thâm tâm, Mười Hấu thấy rằng Tư Thiện nịnh bợ quá đáng. Hay là Tư Thiện là kẻ làm nội ứng cho quân Lang Sa?

Mười Hấu nói gắt:

– Làm sao chứng minh rằng cậu Ba là người hùng mạnh?

Trước khi tới đây, bọn Lạng Sa đã cho người dọ dẫm. Hai ba chục đứa hộ vệ, đâu phải là lực lượng vô địch! Nếu ta có vài khẩu súng đồng, bắn trả ra ngoài biển thì họa chăng?

Tư Thiện đáp:

– Bọn Lang Sa muốn gặp mặt cậu Ba. Đó là chúng nó sợ oai danh cậu Ba rồi!

Cậu Cẩu cười dòn.

— Phải! Tư Thiện nói đúng. Đây là giang san cẩm tú của ta. Vùng Hòn Chông là nơi linh thiêng. Thử hỏi ở Rạch Giá, ở Mỹ Tho có nơi nào nhiều đồi núi như Hòn Chông không?

Rồi cậu day qua cô Huôi

— Nó bắn súng ngoài khơi bởi vì nó… chịu thua! Súng đạn làm sao bắn đồi núi đượ.  Bọn Lang Sa chiếm chợ phố ở xứ khác, vì đó là vùng đồng bằng. Phải không Tư Thiện?

Tư Thiện suy nghĩ miên man. Như vầy là Năm Hí đã tới và ra mắt cậu Cẩu. Người Lang Sa chỉ muốn đặt sự cai trị ở đây rồi rút lui chớ không muốn đóng quân. Nên xúc tiến cuộc gặp gỡ giữa đôi bên.

Sau này, nếu cuộc gặp gỡ bất thành thì Tư Thiện không chịu trách nhiệm. Phận sự ông ta đã chấm dứt.

—Dạ phải! Bởi vậy, tôi xin trình với cậu ý kiến này. Nếu tôi nói sai, xin cậu tha thứ cho.

— Cứ nói.

— Nên làm thế nào cho người Lang Sa và bọn lính của họ kính nể. Xin cậu tự phong cho mình một chức cao hơn.

— Ta là… ông chúa Hòn!

Mười Hấu gật đầu:

– Tư Thiện nói đúng. Cậu Ba xưng là… ông vua nhỏ để bắt buộc người Lang Sa cúi đầu chào và quỳ gối khi nóị chuyện. Mình nên dằn mặt, thị oai trước.

Cậu Cẩu nói:

– Nếu tụi nó biết lễ phép, ta sẵn sàng chấp nhận để kết tình anh em. Bằng không thi tùy cơ ứng biến, ta đánh một trận!

Cô Huôi mừng thầm vì Tư Thiện đánh trúng vào óc tự tôn của cậu Cẩu.

— Chức gì bây giờ? Để ta lựa xem.

Tư Thiện ra vẻ khiêm tốn, trình với cử tọa:

– Xưng là vua thì quá đáng, vì ở đây không có cung điện đầy vàng ngọc như ở ngoài Huế.

Cậu Cẩu như không vừa ý với ý kiến ấy.

– Như ta không phải là quan to.  Ta là ông chúa, cha truyền con nối, nào khác gì ông vua.

Hồi lâu, Mười Hấu mới chịu lên tiếng. Nãy giờ, ông ta chưa tin là thiện chí của Tư Thiện. Ý kiến của Mười Hấu là chọn một chức vụ khá cao cho đứa cháu ngoại để bọn Lang Sa hiểu rằng nếu đụng chạm đến thể diện người địa phương thì chúng khó bề cai trị dân chúng:

– Tư Thiện lựa thử…

Tư Thiện không kém tế nhị nên trả lời:

– Đó là quyền của ông. Tôi là người dưng chưa dám xen vào chuyện riêng trong gia đình cậu Ba,

— Hễ người nói đúng thì ta khen thưởng.

Tư Thiên đáp như gợi ý cho cô Huôi.

— Ngày xưa dường như ở Hà Tiên có ông quan ta, oai quyền vang lừng, trên là vua ngoài Huế, kế đó là ông quan.

Cô Huôi đáp:

– Ông Mạc Cửu. Sau này gọi là Mạc Lịnh Công. Cậu Ba họ Trần nên xưng là Trần Lịnh Công…

Cậu Cẩu gật đầu:

— Lịnh là… mạng, lịnh. Công là gì?

Tư Thiện nói:

 – Thưa cậu, là công hầu. Theo ý tôi thì nên thêm một chức tước gì cho long trọng hơn. Người Lang Sa thích chức tước. Gọi là ‘‘trấn thủ Hòn Chông’’ Trần lịnh Công.

Cậu Cẩu đắc ý, ra lịnh:

 – Tư Thiện gặp thằng… sứ giả của tụi Lang Sa để bàn bạc cách thức tiếp rước. Tụi nó đến đây một buổi rồi đi chỗ khác, ta sẵn sàng kết tình thân thiện nếu chúng nó đừng hỗn láo.

Khi cậu Cẩu về nhà, Mười Hấu ở lại nhà cô Huôi bàn bạc, với Tư Thiện:

 – Chú ráng lo liệu, tụi Lang Sa cần bao nhiêu tiền bạc tôi đóng góp cho. Hòn Chông là xứ nghèo nàn. Miễn là người Lang Sa để cho tôi và cậu Ba chút ít thể diện. Muốn mua món gì người Lang Sa cứ nói rõ. Hơn nữa người Lang Sa đến dây, dân chúng sẽ bàn tán xôn xao khinh thuờng cậu Ba. Chú nên khuyên họ giữ lễ phép. Nếu cậu Ba không, đồng ý thì tôi sẵn lòng gặp riêng người Lang Sa để bàn bạc, tôi xuất tiền ra mua chuộc họ.

Cộ Huôi thở dài.

Dường như tình thế đã thay đổi hẳn và đúng như lời ông Đạo Đất tiên đoán, trước áp lực của người Lang Sa nhứt định, là cậu Cẩu không còn địa vị gì cả.

Chờ khi ông Mười Hấu ra về, cô, Huôi nói gặp Tư Thiện, Tư Thiện lên tiếng trước.

 – Thưa cô, ai là người thay mặt cho quân Lang Sa?

– Người đó ngồi dưới ghe, ở dưới bến cậu Cẩu. Cậu không cho lên bờ, e rằng người đó làm dọ thám. Này Tư Thiện, tôi hỏi thật ông cứ trả lời thật.

Tư Thiện cúi mặt

– Tôi đâu còn gì để dấu diếm với cô.

– Liệu người Lang Sa có buông tha vùng Hòn Chông này không?

Hồi lâu, Tư Thiện mới hở môi.

– Họ muốn xâm chiếm mà không tốn hao nhơn mạng và súng đạn. Là người mạnh, đánh đâu thắng đó lẽ dĩ nhiên họ ngang ngược.

– Cậu Cẩu lại nổi cơn điên, chắc là đôi bên khó thỏa thuận với nhau. Chỉ còn một con đường là…

Tư Thiện nín thở khi cô Huôi đến gần, ghé miệng sát tai ông ta. Chưa bao giờ cô Huôi có cử chỉ quá thân mật như thế.

Thoạt tiên, Tư Thiện đoán rằng cô Huôi muốn trốn với Tư Thiện để xây tổ uyên ương ở chân trời xa xăm nào. Nhưng Tư Thiện Ịầm to. Cô Huôi nắm vững vai trò và gánh lấy trách nhiệm một bà Chúa.

– Con đường ấy là…giết cậu Cẩu. Tư Thiện thấy sao?

Tư Thiện liếc về phía cô Huôi:

– Thưa cô, tôi không dám bàn bạc. Nói nhiều quá, tôi bị tình nghi là dọ thám, là nội ứng. Nhưng theo tôi thì không nên.

– Sao vậy? Ông cứ trả lời để tôi đoán ông thông minh đến mức nào?

Như để Tư Thiện khỏi bối rối, cô Huôi nói khẽ:

— Cậu Cẩu chết thì tôi là người có tiếng mà không có miếng. Bấy lâu nay, cậu Cẩu làm ác. Nhưng điều ác ấy có lợi cho tôi. Thiên hạ kính nể tôi vì tôi có chức tước cao hơn cậu Cẩu. Bởi vậy, tôi muốn đi tu…

Liệu lúc nguy nan cô can gián cậu Cẩu được không?

– Cậu Cẩu chẳng đáng kể và có lẽ cậu Cẩu chỉ là đứa bé hiền lành nếu không có Mười Hấu ở một một bên. Mười Hấu làm hộ mọi việc. Cô Ngó thì suốt ngay chỉ biết ăn trầu mà nhớ mong vong hồn ông Bá Vạn. Nếu Bá Vạn còn sống, chắc rằng ông ta đến gặp người Lang Sa mà thương thuyết tại chợ Rạch giá chớ không đợi khi họ kéo binh đến sát bên nhà.

Tư Thiện phục thầm sự nhận xét của cô Huôi. Truớc khi ra đi, ông ta hứa sẽ trở lại, trước khi người Lang Sa đến để hỏi ý kiến thêm. Làm thế nào cho cậu Cẩu chịu nhận mọi điều kiện.

Đến bến nhà cậu Cẩu, Tư Thiện được phép xuống chiếc.ghe nhỏ. Đúng là Năm Hí đang ngồi chờ. Hai bên đều làm mặt lạ, để tránh sự tò mò của bọn hộ vệ.

Tư Thiện ra lịnh:

– Anh em hộ vệ đưa tụi tôi qua bên kia rạch là đủ rồi. Cám ơn.

Khi lên bờ, Tư Thiện hỏi Năm Hí:

– Người Lang Sa hiện ở đâu?

– Ở nhà ông Tư Thính. Liệu cậu Cẩu chịu đầu hàng?

Tư Thiên hỏi ngược lại

– Người Lang Sa muốn gì?  Mấy người? Bao nhiêu súng ống?

Năm Hí đáp

– Dọc đường, tôi nói cho anh nghe. Bọn mình không có quyền hạn gì hết. Đội Cần thì hiền lành, muốn cho đâu đó êm thắm. Quan một Ăn Sa thì nóng nảy, cứ đòi bắn và đốt Hòn Chông nếu cậu Cẩu chống cự hoặc tỏ ra vô lễ..

Nghe đến tên Đội Cần, Tư Thiện hơi bực tức. Đội Cần là tay lợi hại, đã từng giúp cho quan phủ Lộc trong cuộc truy nã Thiên hộ Dương ở Đồng Tháp Mười. Hắn quá tham lam, hăm dọa để giết người cướp của.

Nhứt là khi gặp đàn bà con gái có nhan sắc, hắn chẳng bao giờ buông tha. Trong những ngày sắp tới, nếu ứng phó quá vụng về thì Tư Thiện sẽ mất tất cả quyền lợi. Đội Cần sẽ cưỡng bức cô Huôi chăng? Không thể nào được!

Tư Thiện cương quyết bảo vệ người mà ông ta yêu thầm bấy lâu nay. Chỉ còn cô Ngó, tuy nhan sẳc hơi kém nhưng còn xinh tươi. Cô Ngó hiện đang gìn giữ tiền bạc. Từ khi Bá Vạn mất, ít khi nào cô xuất hiện nơi đông người. Thú vui duy nhứt của cô là tích trữ vàng bạc.

– Nên làm thế nào cho đội Cần nhìn về phía cô Ngó!

Vì bận rộn suy nghĩ nên Tư Thiện không nghe Năm Hí hỏi. Năm Hí hỏi gắt:

– Sao, chừng nào xong chuyện?

Tư Thiện đáp

– Làm sao tôi biết được? Tùy theo ông quan một với đội Cần.

Năm Hí thở dài

– Nếu vậy thì anh em mình đành trốn qua xứ khác?

– Sao vậy?

– Ông quan một nóng nảy, nếu không xong bọn mình mang tội. Nói thật cho anh thương! Hồi đi dọ thám, tôi có lãnh trước của viên cai đồn Rạch Giá 40 quan, để lại cho vợ con xài, Miễn là cậu Cẩu chịu đầu hàng…

Tư Thiện không trả lời. Hai người đứng hồi lâu trên bờ, chờ chiếc ghe đi qua là quá giang.

May thay, có ông lãọ già nua đang chở mấy giạ lúa, Ông lão đưa bọn Tư Thiện đến nhà ông Tư Thính.

Quan một Ăn Sa nằm trên bộ ván, lính mã tà canh phòng bốn phía nhà. Vừa gặp Tư Thiện quan một ngồi dậy:

– Tụi bây hành hạ tao!  Muỗi cắn, tao bị bệnh rét. Xứ gì mà ban đêm muỗi bay đầy, quơ tay là đụng nhằm hàng chục con!

– Nếu quan lớn mệt thì…

Quan một ngắt lời:

– Tụi nó có bao nhiêu đứa? Tao mệt. Thà rằng bắn vài phát súng.

Tư Thiện đáp:

– Như vậy, làm sao cậu Cẩu đầu hàng…

– Nó mạnh lắm sao?

Tư Thiện bèn bịa chuyện.

– Cậu Cẩu có hằng trăm tên hộ vệ, họ dùng gươm dáo nhưng khi rút lên núị cậu ta có thể phòng thủ. Bọn hộ vệ bắn mũi tên tẩm thuốc độc!

– Làm sao cho nó đầu hàng? Tao mệt lắm. Ngày mai tao mới đi được. Ngày mai đi, ngày mốt tao xuống tàu về Rạch Giá.

Tư Thiện chấp tay để quan một Ăn Sa tin lời:

– Xin quan lớn để tôi lo liệụ. Ngày mai quan lớn gặp cậu Cẩu; cậu Cẩu nhận lá thơ của quan lớn rồi ký tên vô chịu đầu hàng. Thế là xong!

Quan một Ăn Sa gật đầu.

– Hay lắm. Nó đâu biết chữ. Lúc nguy nan nó ký tên để kéo dài thời gian. Tao đem lá thơ đó về cho viên cai đồn Rạch Giá là xong. Sau này nếu nó phản bội, quan trên ở Saigon bày ra cách khác. Đem binh số tới. Tao chỉ lãnh trách nhiệm điều đình. Mau đi. Tụi bây cứ viết lá thư. Viết rồi đọc cho tao nghe. Tao mệt!

Nói xong, quan một Ăn Sa trùm mền lại che khuất đầu cổ. Ông ta rên hù hù. Cơn rét rừng hành; ông ta run rẩỵ đến mức độ cạo. Bộ ván gõ cứ khua động, ông ta đập chân xuống ván nghe rầm rầm.

Bấy giờ, Tư Thiện mới bàn đến đội Cần:

– Ông viết lá thơ..

Đội Cần nheo mắt:

– Ra ngoài sân mình bàn chuyện. Mấy đứa lính mã tà này quá tò mò.

Đến đây, đội Cần ngồi trên cái ghế nhỏ. Tư Thiện ngồi đối diện mà nói: 

– Thầy đội tính lẽ nào?

Đội Cần vì tham lam nên ngỏ ý.

– Chú Tư lớn tuổi hơn tôi, ở Hòn Chông lâu ngày rồi chắc là chú hiểu…

– Hiểu chuyện gì?

– Hiểu rõ cậu Cẩu có bao nhiêu tiền, bao nhiêu vợ bé, vợ lớn? Tụi mình chia với nhau mà xài. Quan một Ăn Sa chê cái thứ Hòn Chông này, nhưng bọn mình thì khác, một đồng, một quan là số tiền lớn. Nếu gặp lúc thuận lợi mình lấy vườn tược tại đây…

Như vậy có nghĩa là đội Cần muốn tránh mọi cuộc xung đột đẫm máu và hắn quá tham lam. Bỗng dưng mà Tư Thiện làm một bài tóan để phân chia tất cả tài sản và người đẹp ở Hòn Chông,

Tư Thiện sẽ là chồng cô Huôi, ông ta xin chức cai tổng, sống tại nhà nầy với ông Tư Thính. Lẽ dĩ nhiên, người Lang Sa để lại cho Tư Thiệu một số ruộng đất.

Đội Cần thì gặp cô Ngó, tha hồ vơ vét tiền bạc. Có lẽ cô Ngó sẽ rời vùng này, đến chợ Bạch Giá để mua bán.

Muốn thực hiện cuộc phân chia nói trên, phải giết hai người cậu Cẩu và Mười Hấu.

Đội Cần nhắc nhở:

– Anh tính sao?

Tư Thiện đáp.

– Tôi rất đồng ý. Bây giờ thầy đội cứ viết lá thơ để cho cậu Cẩu ký tên vào, chịu đầu hàng. Quan một Ăn Sa chỉ muốn chuyện đó thôi. Người Lang Sa thì ham chuyện giấy tờ.

Đội Cần đáp:

– Viết như thế nào? Anh cứ viết rồi đọc cho tôi nghe.

Tư Thiện nói, nghiêm sắc mặt:

– Thầy cứ nói cho tôi viết. Vì ngày mai thầy đưa lá thư cho cậu Cẩu.

Đội Cần cằn nhằn.

– Ai viết không được. Tôi là đứa thiếu học… Nên nói cho gắt. Còn việc đưa lá thư thì nên giao cho quan một Ăn Sa. Nguy hiểm lắm, ông ưa rầy rà nếu thất bại, ổng cho rằng mình làm việc không hết lòng.

Tư Thiện lục lạo trên bàn. May thay ông Tư Thính có nghiên mực và cây bút lông để viết chữ nho. Tư Thiện suy nghĩ một hồi lâu rồi quyết định nên dùng chữ nôm cho có vẻ long trọng. Thật ra, mấy hàng chữ ông ta sắp viết dường như chữ để cho riêng ông đọc mà thôi.

Chữ nôm đòi hỏi cách phiên âm khó, khăn, mượn cách phát âm của chữ Hán, mỗi người viết một kiểu. Thí dụ như hai tiếng ‘‘Hòn Chông’’ cũng đủ rắc rối vì chữ nho thiếu chữ Hòn và chữ Chông.

Từ cậu Cẩu, Mười Hấu đến cô Huôi đến quân một Ăn Sa, bọn lính mã tà, bọn hộ vệ…đều không biết chữ nho. Tuy nhiên, Tư Thiện cố gắng viết, trách nhiệm thuộc về ông ta nếu sau nầy quan phủ, quan huyện xem lại, thấy có điều sơ sót.

Lại còn trường hợp cậụ Cẩu và Mười Hấu ăn nói ngược ngạo để mưu toan nổi loạn, khi họ thấy rằng người Lang Sa không đủ binh lực để trấn đóng nơi đèo heo hút gió nầy.

Bức thư mà Tư Thiện thảo ra gồm mấy hàng vắn tắt như sau:

– Hôm nay, ngày Dần, tháng Sửu, năm Quý Mẽo, tôi là thượng tướng Ăn Sa có đến gặp Trần Lịnh Công, trấn thủ vùng Hòn Chông.

Trần Lịnh Công bằng lòng quân đội Lang Sa chiếm đóng và thâu thuế vùng Hòn Chông. Quân đội Lang Sa cho phép Trần Lịnh Công làm chức cai tổng.

Vì không có bàn cãi thêm nên đôi bên ký tên dưới đây làm bằng chứng…’’

Viết xong, Tư Thiện đọc khẽ cho đội Cần nghe. Đội Cần đáp:

– Lời lẽ hơi quá đáng. Người kiêu hãnh như cậu Cẩu đâu thèm nhận lời.

Tư Thiện đáp

– Nhưng nếu chỉ nói là gặp nhau để giao hảo thì sau này còn nhiều rắc rối. Cậu Cẩu cho rằng người Lang Sa không có quyền hạn gì hết.

Đột nhiên, Tư Thiện và đội Cần giựt mình nghe tiếng quát tháo.

– Cái gì…Không có quyền hạn? Ai nói như vậy? Người Lang Sa tới đây để đầu hàng đứa con nít?

Tư Thiện chưa kịp trả lời là quan một Ăn Sa nói tiếp, ông ngồi dậy, cầm chiếc giầy dạ mà đập trên bộ ván

– Ngày mai tao về. Hay là tao đốt phá Hòn Chông! Thành Sàigòn, Gia Định, Vĩnh Long tao còn chiếm được huống gì cái xứ muỗi mồng này…

Đội Cần bèn chắp tay nài nỉ:

– Bẩm quan lớn, chúng tôi đâu có viết như vậy!

– Chúng bây làm gì, tao không cần biết. Tao đốt xóm nầy, thử coi thằng Cẩu dám đem binh tới không? Nó là con ruồi con muỗi.

– Thưa ông, bởi vậy nên quan cai đồn ở Rạch Giá dạy tôi nên giết nó mà không tốn một viên đạn. Miễn là nó chịu ký tên.

– Đọc cho tao nghe. Tao có quyền nghe mà, tụi bây nên nhớ rằng vua An Nam mà người Lang Sa còn xem thường, huống gì thằng con nít…

Tư Thiện run giọng, đọc từng chử, không dám sửa đổi vì ông ta không muốn gánh tất cả trách nhiệm. Lúc này, đội Cần đứng về phe ông ta nhưng biết đâu mai sau, hắn sẽ châm chọc báo cáo với quan trên rằng ông ta nhân nhượng quá nhiều, làm nội ứng cho cô Huôi.

Giọng Tư Thiện cố ý nhấn mạnh:

– Bằng lòng cho quân đội Lang Sa chiếm đóng và thâu thuế vùng Hòn Chông.

Quan một Ăn Sa cầm chiếc giầy da mà nện thật mạnh, như ngụ ý nện trên đầu Tư Thiện.

– Ngu quá. Tại sao bằng lòng? Ngườl Lang Sa xin phép tới đất Hòn Chông sao chớ?

Tư Thiện cúi mặt.

– Bẩm quan, đó là phép xã giao. Ngài cứ dạy, tôi sẵn sàng sửa lại…

– Xẻ bỏ. Viết tờ giấy khác. Ta muốn giết thằng Cẩu nhưng thằng Cẩu năn nỉ để nó được sống. Ta cho phép nó sống để làm… tôi tớ. À!

Quan một Ăn Sa lẩm bẩm vài tiếng Pháp như ‘‘xẹt vi te’’ ‘‘cổ lô ni’’. Chính ông ta cũng chưạ hiểu nên dịch lại như thế nào cho gọn nghĩa.

Ông ta vỗ trán:

– Phải rồi, Lang Sa là nước mẹ. An Nam là đứa con, sống nhờ mẹ. Thằng Cẩu ở Hòn Chông này là con của vua An Nam. Như vậy, nó là cháu nội của ta!

Đội Cần bèn thay mặt Tư Thiện mà trả lời.

-Bẩm quan lớn! Hay quá. Tay tôi viết đúng theo ý quan lớn.

Quan một Ăn Sa đáp:

– Viết gì ty ý tụi bây. Tao mệt lắm. Nhưng mà tao nói trước rằng ngày mai tao mang súng tới gặp thằng Cẩu. Tốn thời giờ quá.

Hai người trở lại cái án thư của ông Tư Thính. Tư Thiện hơi bất mãn.

– Thầy nhận lời thì cứ viết. Tôi thấy khó khăn lắm. Làm sao cậu Cẩu chịu nhận làm cháu nội quan một Ăn Sa?

Lại còn lão Mười Hấu gian ác?

Đội Cần đáp:

– Quan một đang nóng giận. Cãi với ông là bọn mình bi nện chiếc giày trên đầu, tụi lính mã tà cười cho một trận. Cứ viết.

Lần nầy, Tư Thiện vui vẻ vô cùng. Một nụ cười thoải mái nở trên môi ông ta. Ngày mai người đọc lá thư nầy, hoặc người trao thư chính là đội Cần. Như vậy, cô Huôi Và cậu Cẩu sẽ trút oán hận lên đầu kẻ khác, ông ta sẽ đứng về phía cô Huôi để giải thích…

Tư Thính chạy đến Hòn Chông để giúp đứa con gái thân yêu. Ông cho biết rằng quân Lang Sa đang chiếm căn nhà. Cô Huôi bèn an ủi cha.

– Người ăn ở hiền lành như ta thì chắc là Trời Phật phò hộ. Người Lang Sa tạm trú ẩn lại đó một buổi rồi tới đây. Thời buổi nầy, miễn tánh mạng được an toàn là quí rồi.

Ông Tư Thính cau mày:

– Ba là người tu tại gia. Nếu tham lam thì bấy lâu nay ba lợi dụng quyền thế để vơ vét cho đầy túi tham. Khó nói quá. Nếu ba khổ một mình thì dễ…

Cô Huôi giật mình:

– Chuyện gì xảy đến cho con? Ai hăm dọa ba? Ba gặp bọn Lang Sa ở dọc đường.

– Làm sao gặp được? Tụi nói vừa tới là ba chạy trốn rồi. Nhưng đêm rồi, ba suy nghĩ nhiều lắm. Đáng lý ra, ba lên núi mà ở, lẫn lộn với bọn người tản cư. Từ khi con có được địa vị, ba mới tới Hòn Chông, lần đầu tiên, chẳng qua là ba thương con.

– Xin ba nói rõ.

– Hồi tối ba nằm chiêm bao, thấy mấy nụ quỳnh hoa nó rộ. Lạ quá. Ba thắp nhang khấn vái nhưng không nụ nào trổ. Trong giấc chiêm bao lạ quá.

Vì không hiểu câu nói ấy, cô Huôi bèn an ủi cha:

– Có gì là hại. Như người nghèo, ao ước được giàu sang bỗng nhiên nằm chiêm bao thấy vàng bạc chất đầy kho.

– Quỳnh hoa nở là sự thường. Nhưng trong điềm chiêm bao hàng chục nụ nở ra trắng mướt. Lát sau, hoa không rụng. Từng cánh hoa bay lên trời, biến mất trong đêm trăng, như vậy là điềm gì? Nếu không có người Lang Sa tới ba đã tới gặp ông đạo Đất để hỏi.

Cô Huôi mỉm cười:

– Chắc là con gặp may mắn. Chiêm bao mộng mị khó tin; Xin ba cứ yên tâm. Lúc nầy khó khăn lắm. Nhưng người Lang Sa chẳng lẽ giết con.

– Sao vậy? Con đầu hàng người Lang Sa?

Niềm đau sót thầm kín hiện trên gương mặt hốc hác của Tư Thính. Cô Huôi chưa biết trả lời thế nào cho gọn. Hồi lâu cô trình bày:

— Nếu lúc trước con giành nắm quyền hạn với thằng Cẩu và Mười Hấu thì hôm nay con mang tiếng là phản quốc, là khiếp nhược, Bây giờ, người mang tiếng xấu là bọn đó chớ đâu phải con. Bọn đó gặp người Lang Sa để thương lượng. Con lánh mặt cũng được nhưng tội nghiệp cho dân lương thiện trong vùng này.

Từ lâu, họ chịu sưu cao thuế nặng, làm ra mười đồng thì đóng hết bảy, tám đồng.

Tư Thính đưa tay lên, lau nước mắt.

– Con ăn ở có nhơn đức. Trời Phật phò hộ con được minh mẫn. Bây giờ theo ý con thì ba nên làm gì?

Làm sao cô Huôi đoán được chuyện gì xảy ra vào trưa hoặc chiều hôm nay?

Tư Thiện yêu cô giúp đỡ cô nhưng Tư Thiện nào nắm tất cả quyền hạn? Người Lang Sa hung hăng, nếu cần, bọn chúng dám sa thải hoặc giết Tư Thiện. Trong phút giây đó, cô Huôi nghĩ ra một sáng kiến

– Ba nên về ẩn lánh vài ngày đừng cho ai biết.

Tại sao người Lang Sa có thể cầm giữ ba, để làm con tin nếu cuộc thương lượng bất thành, cậu Cẩu mà nổi điên thì bao nhiêu hậu quả tai hại xảy ra. Đó là chưa kể tới ông Mười Hấu ông ta dám liều lĩnh giết ba và con.

Khi ông Tư Thính ra sân cô Huôi tiễn đưa bằng giọng ngậm ngùi:

– Hơn chục năm rồi con không tham lam nên chẳng có gì gởi cho ba đem dấu cất. Vẫn là tay trắng ba ơi! Được mớ quần áo và căn nhà này.

Tư Thính như hài lòng vì Cô Huôi nói đúng theo lý thuyết mà ông đã giảng.

– Nhắm mắt với hai tay không. Cái nhà, quần áo, con người đều là giả. Ba thấy con xứng đáng lắm. Nếu đất Hòn Chông nầy mà không có con thì dân tình chắc điêu đứng hơn.

– Thưa ba, con hổ thẹn, chưa dám nhận lời khen đó. Bao nhiêu người chết oan, thiếu ăn thiếu mặc mà con chẳng cứu giúp được. Bây giờ, thêm tai nạn mới.

Cô Huôi vào nhà, tâm hồn thảnh thơi hơn bao giờ hết. Thời khắc trôi qua, chậm chạp. Đã xế trưa, khi sửa soạn nằm nghỉ thì cô nghe nữ tỳ gọi:

– Thưa cô, ông Mười với cậu Ba mời.

– Chuyện gì?

Nữ tỳ đáp:

– Con không rõ, nhưng mới đây có chiếc ghe nhỏ, chỗ ông Tư Thiện…

– Nói với cậu Ba rằng ta đến…

Bước vào nhà cậu Cẩu; cô Huôi mừng thầm và khâm phục Tư Thiện. Nếu ông ta gặp cô trước thì cậu Cẩu và Mười Hấu đã nghi ngờ, cho rằng có sự thông đồng giữa cô và Tư Thiện để bán vùng đất nầy cho người Lang Sa.

Tư Thiện ngồi trên ghế, chăm chú nghe Mười Hấu hỏi:

– Chừng nào nó tới?

– Dạ chừng lát nữa nó tới. Khi tôi đi thì họ sửa soạn rồi. Họ treo cờ tam sắc trước mũi ghe.

Cậu Cẩu hỏi

– Mấy đứa?

Tư Thiện đáp to giọng như cố ý cho cô Huôi nghe rõ:

– Viên quan một Ăn Sá người Lang Sa. Ngoài ra còn đội Cần và bảy người lính mã tà.

Cậu Cẩu trợn mắt:

– Mã tà là cái gì? Bọn đó cỡi ngựa? Mã là ngựa?

Tư Thiện đáp:

– Dạ không biết. Đó là tiếng…chào. Vài tiếng Lang Sa, tôi chưa rành… Tất cả là chín đứa với chín khẩu súng.

Mười Hấu hỏi:

– Mỗi khẩu súng có bao nhịêu viên đạn?

– Dạ chừng hai mươi viên.

Chưa chi, cậu Cẩu vỗ tay:

– Hai mươi viên, bắn bậy bạ chừng mười sáu, mười chín viên, còn đôi ba viên là đáng sợ! Mình có gươm dáo, cung tên. Dễ quá. Bây giờ; tôi làm bộ như đang ngủ trưa, tụi nó tới thì tôi thức dậy. Hơi đâu mà chào đón.

Mười Hấu nói với cậu Cẩu.

– Cháụ cứ nằm nghỉ.. Để ông bàn bạc thêm. Đừng qúa nóng nẩy. Chắc là người Lang Sa muốn thương lượng…

Cô Huôi nói

– Ông Mười với cậu Ba lo đón tiếp người Lang Sa. Tôi là đàn bà…

Tư Thiện đứng dậy, xin ra ngoài, lấy cớ là đói bụng. Cô Huôi hiểu ý, ra về. Đến nhà, Tư Thiện mới xin phép cô Huôi.

– Chuyện này rắc rối lắm, tôi nói ra cho cô nghe riêng thôi. Người Lang Sa có binh rồng tướng mạnh ỷ thế, tìm cách lấn hiếp.

Cô Huôi cau mày:

– Lấn hiếp bằng cách nào? Sao ông bảo họ muốn giao hảo, thương lượng để cậu Ba đóng thuế rồi thì đâu vào đó họ rút lui. Cậu Ba vẫn nắm quyền như cũ.

Với tất cả lòng thành thật, Tư Thiện đề cập đến bức thư mà quan một Ăn Sa bắt buộc ông ta thạo ra, với lời lẽ thóa mạ, xem cậu Cẩu như đứa cháu nội. Hơn thế nữa Tư Thiện cho biết.

– Quan một Ăn Sa là người hung hăng, đội Cần là kẻ tham nhũng, háo sắc. Quan một muốn giết người cho sướng tay trong khi đội Cần ôm ấp giấc mộng làm chủ vùng Hòn Chông.

Hồi lâu, cô Huôi mới thở dài:

– Nếu cậu Cẩu chấp nhận bức thư ấy thì lẽ nào ông quan một Ăn Sa lại chém giết.

Tư Thiện hỏi:

-Theo ý tôi thì cậu Ba quá ngạo mạn..

– Miễn là đừng đọc lá thư. Cậu Ba dốt nát.

Tư Thiện đáp:

– Nếu không đọc lá thư thì chưa chắc quan một Ăn Sa đồng ý. Hắn tới đây để biểu dương uy thế người Lang Sa mà.

Dưới biển, bọn hộ vệ hò reo ầm ĩ. Tư Thiện và cô Huôi trông ra. Nữ tỳ vào nhà, cho biết:

–  Bọn hộ vệ sắp hàng bên bờ rạch để đón rước người Lang Sa…

Cô Huôi hỏi

– Họ tới chưa?

Nữ tỳ đáp:

– Một chiếc xuồng đi trước, phía sau, còn chiếc ghe với lá cờ tam sắc.

Cô Huôi và Tư Thiện nhìn nhau. Trong phút giây, Tư Thiện nảy ra ý tưởng: rủ cô Huôi trốn lên núi, ra hải đảo nào đó mà sống cho thảnh thơi. Cuộc thương thuyết nầy không êm thắm như Tư Thiện đã gây cảm tưởng cho cô Huôi biết, từ mấy ngày qua.

Đạn sẽ nổ, lửa sẽ bốc cháy. Liệu cô Huôi can giám được cậu Cẩu và Mười Hấu không?

Nhưng cô Huôi lên tiếng trước:

– Tôi ở đâỵ, chờ xem.

Dưới biển, bọn hộ vệ quát to, như truyền lịnh cho nhau:

– Tụi bây ơi! Bịt lỗ tai lại. Người Lang Sa nã súng. Họ bắn lên trời để chào mừng cậu Ba.

Đứa khác cãi lại:

–  Ai cho phép tụi nó bắn? Phải chờ cậu Ba đồng ý chớ.

Một tiếng nổ ầm vang lên.

Tư Thiện quan sát tình thế.

Dường như bọn hộ vệ còn đầy tinh thần chờ không quá sợ súng đạn, như ông đã tưởng. Người đứng trước mũi ghe là Năm Hí. Khi chiếc ghe đi ngang qua nhà, Năm Hí trông lên.

Để trốn trách nhiệm và để khỏi bị tình nghi, Tư Thiện nép mình sau gốc cột. Cô Huôi vẫn bình tĩnh:

– Ta ở đây.  Cậu Ba không hỏi ý ta khi tiếp rước, đó là điều may mắn. Lúc này mà trốn tránh thì quá hèn nhát.

Tư Thiện không hiểu rõ cô Huôi

– Thưa cô…

– Nhiều khi, người ta chết chỉ vì hèn nhát.

Khi chiếc ghe cặp vào bến, Năm Hí nhảy lên bờ với cây súng mang sau vai. Hắn lên tiếng

– Xin ra mắt… cậu Ba.

Bọn hộ vệ nhìn nhau, chưa muốn trả lời.

Năm Hí nhìn vào cổng. Cổng đóng kín mít. Hắn hơi lo ngại, day lại.

Đội Cẩn nói:

– Tới cổng lên tiếng cho đàng hoàng.

Quan một Ăn Sa cứ nhìn hai bên bờ rạch. Là người võ biền ông ta chú ý đến địa thế, trước khi nã súng.

Trong thâm tâm ông ta muốn giải quyết bằng võ lực cho nhanh chóng để xuống tàu, về Saigon. Nếu dùng lời lẽ mà cãi vã với nhau chưa ắt một ngày một buổi là xong chuyện. Ông ta gật gù, vạch ra chiến lược: Bọn hộ vệ khá đông nếu để tập trung trong nhà thì chúng lợi dụng địa thế, núp vào vách bên gốc cây. Nên làm thế nào cho bọn chúng chạy ra đồng cỏ trống hoang!

Bởi vậy, quan một Ăn Sa cứ ngồi yên, mặc cho Năm Hí và đội Cần cãi vã.

Năm Hi đến sát cổng:

– Thưa Ngài, chúng tôi là phái viên của quân đội Lang Sa đến.

Một tên hộ vệ từ thềm nhà đi chậm rãi đến cổng, mở toang hai cánh cửa rồi quay mặt, không nói lời nào.

Nhìn mớ khí giới quá thô sơ, Năm Hí nói giọng kiêu hãnh:

– Sao không trả lời?

Theo lịnh từ trước của cậu Cẩu, bọn hộ vệ cứ yên lặng.

Năm Hí hỏi Đội Cần.

-Thầy tính sao?

Đội Cần đề phòng trường hợp bị mai phục theo con đường từ cỔng đến nhà nên hỏi quan một Ăn Sa.

– Ông tính sao?

Quan một Ăn Sa nói:

– Tụi bây lo liệu, tụi bây là ‘‘An Nam’’ thì nói với người ‘‘An Nam’’. Tao lo chuyện khác. Nãy giờ, tốn thời giờ quá nhiều. Cứ vô nhà. Tục lệ kỳ quá?

Từ nãy giờ, cậu Cẩu và Mười Hấu theo dõi phái đoàn Lang Sa. Họ không muốn gọi cô Huôi đến vì cô bị nghi ngờ là muốn đầu hàng. Tên hộ vệ vào, báo cáo rằng phái đoàn Lang Sa chỉ gồm có bảy, tám người. Cậu Cẩu cười dòn.

– Ông ngoại coi! Tụi nó yến ớt quá. Phen nầy, mình bắt buộc tụi nó phải giữ lễ phép, trước khi vô nhà, mọi người nên cởi giày ra.

– Phải! Mười Hấu đổi ý tin rằng người Lang Sa chỉ đòi chuyện mua bán.

Cậu Cẩu nói:

– Tụi nó tới đây để năn nỉ mình. Mình nên bắt buộc tụi nó đóng thuế hoặc….Cống sứ lễ vật. Biển Hòn Chông là của xứ Hòn Chông. Hỗm rày, tụi nó vô lễ. À! Tới rồi kia. Mười Hấu bắt đầu lo ngại vì chưa chi đứa cháu ngoại đã quá kiêu hãnh, nếu để cậu ta ăn nói thì cuộc thương thuyết bất thành.

Bởi vậy, ông ta vỗ về cậu Cẩu.

– Cháu cứ ngồi trên ghế, đừng trả lời với bọn nó. Mọi việc có ông lo liệu. Cháu giữ gương mặt nghiêm trang, bọn đó mới kiêng nể.

Lính mã tà sắp hàng đôi, bước đều, dậm chân xuống nền sân trải đá. Cậu Cẩu và Mười Hấu hơi hoảng sợ khi thấy một tên râu đỏ, tóc hoe, cao lớn dình dàng đi bên cạnh một người Việt Nam mặc áo vàng sậm.

Lúc đến ngưỡng cửa, người Việt Nam đứng lại mà nói.

– Xin phép cậu cho tôi vô trước…

Mười Hấu đáp:

– Cứ vô. Vô một mình thôi!

Người dẫn đầu không ai khác hơn là Năm Hí. Anh ta hơi ngạc nhiên vì Tư Thiện vắng mặt trong buởi tiếp rước này. Năm Hí đến gần Mười Hấu, cúi đầu mà nói.

– Chúng tôi vô để bàn việc. Cậu cho phép?

Mười Hấu hỏi khẽ:

– Việc gi? Họ mang súng ở sau lưng đó hả?

– Dạ. Đó là súng. Lính thì phải mang súng.

– Có đạn không?

Năm Hí liếc trở lại như dò xét thái độ của đội Cần. Đội Cần và quan một Ăn Sa cứ đứng yên, lát sau, quan một khoác tay như ngầm bảo. Năm Hí phải cương quyết

Năm Hí đáp:

– Súng thì luôn luôn có đạn.

– Để súng đạn ngoài cửa. Đây là chỗ nói chuyện, chớ đâu phải đánh giặc.

Năm Hí trả lời khéo léo:

– Lính đi theo ông quan một để hầu hạ. Nếu để súng ở ngoài sân, rủi mất thì sao?

Mười Hấu nhìn kỹ sắc mặt những người ngoài sân. Dường như tất cả đều hiền lành, gương mặt lộ vẻ mệt mỏi, trừ người Lang Sa!

Nhưng người Lang Sa này chỉ là thiểu số, ông Mười nói:

– Cứ vô! Ta không ngại…

Câu Cẩu nói:

– Cho họ vô. Tốn thời giờ quá. Nhưng… tất cả phải cởi giày ra. Đây là chỗ tôn nghiêm. Giày của mấy người dơ dáy quá, dính bùn sình.

Lần này, Năm Hí thấy vấn đề khá to lớn nên xin phép trở ra ngưỡng cửa mà hỏi ý kiến.

Ngoài này, đội Cần nghe rõ câụ chuyện nên nhận định với Năm Hí.

–  Cứ cởi giày… Sau nầy mình sẽ mang giày.

Quan một Ăn Sa cứ quan sát vị trí. Cậu Cẩu là đứa đáng ghét. Nhứt định ông ta phải nổ vài phát súng, dùng võ lực chiếm cứ ngôi nhà nầy. Nhà khá to, thiệt là chắc chắn. Tại sao không đóng cửa thình lình, nhốt cậu Cẩu lại và Mười Hấu trong này để làm con tin?

Bọn hộ vệ gồm chừng sáu đứa, đứng hầu sát vạch. Chúng mang gươm giáo, không đáng kể.

Linh mã tà ngồi xuống, cởi giày.

Quan một Ăn Sa vì muốn tiến nhanh vào trong nhà để lập căn cứ nên giả vờ ngồi xuống. Ông ta rờ vào đôi giày nói với đội Cần.

– Tao không cởi giày. Lát nữa, tao giết tụi nó.

Đội Cần nói như van nài:

– Xin quan lớn bớt nóng giận. Thế nào bọn nó cũng chấp nhận việc đóng thuế cho quan lớn. Viên cai đồn ở Rạch Giá dạy tôi…

Quan một Ăn Sa mỉm cười

– Tao đi sau chót tao mang giày để xem bọn nó sợ hay không sợ! Cứ vô nhà. Đừng xin phép nữa, Thằng Năm Hí xin phép rồi.

Đoàn người kéo vào phòng khách. Trước mặt cậu Cẩu và Mười Hấu là bộ ván gõ khá dày chùi bóng láng.

Mười Hấu nói:

– Mời ngồi!

Đội Cẩn đáp:

– Thưa ông, chúng tôi đứng được rồi. Người Lang Sa không thích ngồi xếp bằng.

– Ừ! Lạ qúa. Tới đây làm gì? Ai cầm đầu.

Quan một Ăn Sa cứ lo quan sát địa thế, phải chi bọn hộ vệ có súng hoặc có gươm dài thì cuộc tranh tài sẽ vô cùng ngoạn mục. Nhà này tuy vách ván nhưng cột to và cứng như sắt. Núp bên góc cột mà bắn thì sung sướng biết chừng nào!

Nhưng gẫm lại thì dường như bọn hộ vệ nắm được ưu thế.

Đội Cần nói:

– Tôi… cầm đầu!

Cậu Cẩu nói:

– Cứ nói chuyện, nếu biết lễ phép lát nữa ta đãi tiệc, cho nghe phường nhạc ngũ âm…

Đội Cần thò tay vàotúi, đem ra phong thư rồi vâng lệnh đọc khá to.

Gương mặt Mười Hấu và cậu Cẩu trở nên tái mét vì lời lẽ trong thư đã miệt thị chẳng riêng gì họ, Đội Cần hơi run giọng khi đọc tiếp phần quan trọng nhứt.

– Nước Lang Sa là cha là mẹ, triều đình Huế là con. Bởi vậy các quan ở Hòn Chông đều là cháu của nước Lang Sa.

Cậu Cẩu hỏi to:

– Cái gì? Ai là cháu? Ai là ông nội, ông ngoại?

Quan một Ăn Sa đứng chống nạnh, lên tiếng dõng dạc với dụng ý khiêu khích để ông ta dùng võ lực:

– Người Lang Sa làm chủ mặt biển Hòn Chông. Mấy người biết rõ chứ! Mấy tháng qua vì không muốn giết hại dân chúng ta còn do dự…

Mười Hấu nhịn không được.

– Tại sao lại so sánh chúng tôi như cháu nội, cháu ngoại?

Đội Cần thay Iời quan một Ăn Sa:

– Đó là so sánh với nước Lang Sa. Nước Lang Sa to và rộng bằng mấy chục lần xứ Hòn Chông này.

Cậu Cẩu vẫn bực rọc:

– Xứ to hay nhỏ, ta không cần biết. Hôm nay…mấy ông là khách mà không biết lễ phép.

Quan một Ăn Sa lên tiếng:

– Tai sao? Như vậy là lễ phép rồi.

Mười Hấu liếc về Cậu Cẩu rồi nhìn vào quan một Ăn Sa:

– Ông mang giày vào nhà tôi; Hồi nãy, tôi nói trước mà ông bất chấp. Ông khinh chúng tôi chớ gì? Như vậy, làm sao có tình giao hảo được?

Đội Cần tìm cách cứu vãn, tình thế:

– Ở bên Lang Sa, mang giày là giữ lễ phép. Nếu đến nhà bạn mà không mang giày thì phạm tội vô lễ.  Xin các ông miễn chấp vì quan một là người Lang Sa.

Quan một Ăn Sa khiêu khích:

– Chiều nay, tôi muốn mời một người xuống tàu, ngoài biển. Mấy ông nên đi để chứng tỏ lòng thành thật. Tôi đến nhà mấy ông, mấy ông phải đến tàu biển của chúng tôi để đáp lễ.

Mười Hấu và cậu Cẩu đều mất bình tĩnh trước sự nhục mạ ấy. Quan một Ăn Sa muốn bắt cóc một người. Mười Hấu hoặc cậu Cẩu. Mười Hấu nói:

– Xin hẹn ngày khác. Hôm nay mấy ông quá vô phép.

 Quan một Ăn Sa quay mặt:

– Để tôi ra ngoài. Mấy ông ghét người Lang Sa mang giầy.

‘‘Ra ngoài’’, phải chăng là bày binh bố trận để tấn công?

Biết mình thiếu chuẩn bị và thất thế vì không có súng đạn, Mười Hấu bèn rời ghế, đưa tay ngoắc đội Cần:

– Ông lại đây. Còn ăn cơm nữa chớ. Mấy ông ở lại đêm nay. Tôi đâu có đuổi mà ông quan một lại ra ngoài? Lát nữa, có cơm.

Mười Hấu và Cậu Cẩu bàn tán với nhau khá lâu. Đại để, họ cho rằng nóng giận ra mặt là bất lợi.

Tốt hơn hết là nên dục hưỡn cầu mưu và đối xử nhã nhặn với người Lang Sa.

Hai tên hộ vệ đến ngưỡng cửa, đưa đội Cẩn và quan một Ăn Sa đến ngôi nhà bên cạnh, bấy lâu dành cho Mười Hấu cư ngụ.

Đó là ngôi nhà chắc chắn, bên trong có nhiều phòng. Vì không chuẩn bị kịp nên bọn hộ vệ chỉ cho phép phái đoàn Lang Sa ở ngay phòng khách. Mấy phòng kia đều khóa chặt. Mười Hấu chấp nhận biện pháp này vì bao nhiêu vàng bạc do ông ta trích trữ đều được chôn dấu dưới đất, bọn lính mã tà không tài nào lục lạo được.

Đồng thời, ông Mười Hấu ra lịnh cho cô Ngó đến nhà cô Huôi mà tạm trú.

Mười Hấu đến gặp cô Huôi, thuật đầu đuôi cuộc gặp gỡ rồi tiết lộ:

– Đêm nay, chắc là cậu Cẩu đánh bọn nó.

Cộ Huôi lắc đầu:

– Đáng lý ra, giữa chúng ta và người Lang Sa không xảy ra chuyện cãi vã. Mình biết bọn nó ngạo mạn, chỉ cầu mong cho bọn nó đến rồi về thật nhanh. Liệu cậu Cẩu thay đổi ý kiến không?

 Mười Hấu hỏi gắt:

– Cô nói sao?

Cô Huôi trở lại thực tế, lúc này, Mười Hấu dám làm chuyện liều lĩnh là giết cô… để lập công với người Lang Sa. Cô nói:

– Tôi đứng theo phe cậu Ba. Cậu muốn là tôi tán thành.

Mười Hấu:

– Còn Tư Thiện? Nó đâu rồi? Đêm nay ta giết nó. Nó làm phản. Nhưng trước khi giết, ta lợi dụng nó đi dọ thám. Cô ra lịnh để nó tin lời cô. Chừng nào hai bên đánh nhau, tôi cho cô hay trước để… rút. về núi Mo So. Bọn Lang Sa có súng đạn nhưng phải chết đói… trong ngôi nhà. Ngoài nầy, bọn hộ vệ cứ bao vay, rồi đốt nhà. Bọn nó như bầy chuột vô hang.

Nói xong, Mười Hấu ra về. Cô Huôi gọi Tư Thiện mà nói

– Đến gặp người Lang Sa, đừng trở về đây nữa.

Tư Thiện cau mày, đoán được phần nào ý định của cô Huôi.

– Cám ơn cô. Đêm nay, có lẽ…

Cô Huôi nghiêm nét mặt:

– Ta là… bà chúa Hòn. Ta không thể đầu hàng. Đối với ông, ta chỉ nói bấy nhiêu lời. Ráng giữ gìn thân thể.

Tư Thiện quỳ xuống:

– Cô đuổi tôi. Bấy lâu, tôi ao ước được quỳ dưới chân cô.  Rồi cô đi đâu?

Cô Huôi nói giọng ngậm ngùi:

– Tôi chưa nói được. Đáng lý ra, tôi phải tự tử sau khi mấy ngôi nhà nầy bị đốt phá.

– Trời! Nếu vậy thì cô cho phép tôi ở lại! Tôi không ưa người Lang Sa. Lúc trước vì cần dựa thế lực bọn nó để làm ăn, tôi bèn đến đấy. Nhưng đời người không gì cao hơn là… hanh phúc, xin cô đừng tự tử.

Cô Huôi cười lạt:

– Ông đừng lo. Tôi sợ rằng ông sẽ tự tử vì chuyện nhỏ mọn. Bây giờ, tôi nói thật với ông…

Quả tim của Tư Thiện như ngừng đập… Lời nói của cô Huôi sẽ quyết định tương lai ông. Cô Huôi sẽ nói lời hứa hẹn yêu đương chăng?

Nhưng Tư Thiện lầm to. Cô Huôi nói khẽ.

– Tôi không tự tử vì tôi có nơi nương tựa. Tôi về đồng quê gần chùa với cha tôi. Tôi muốn về nhà từ lâu nhưng tôi còn ở lại đây chỉ vì Mười Hấu. Nó là đứa ác độc.

Vì nó mà đêm nay, hàng chục người chết. Tôi oán người Lang Sa nhưng tôi chê bai vài người An Nam mình.

Tư Thiện chùi hai giọt nước mắt:

– Thưa cô!

Cô Huôi thúc hối:

– Ông cứ đi đừng ở đây quá lâu. Ông là người mà tôi quý mến nhứt.

Trong phút tuyệt vọng, Tư Thiện cố nói thêm:

– Tai sao quý mến mà cô nhẫn tâm đuổi tôi.

– Vì ở đây bất tiện cho ông. Mười Hấu nghi ngờ. Tôi đã quyết định rồi. Dầu sao đi nữa, thể diện của tôi vẫn là xứ Hòn Chông này…

– Chừng nào tôi gặp cô được?

– Gặp để làm gì? Đêm nay chắc nhiều chuyện lạ xảy ra. Theo ý tôi thì cậu Cẩu và người Lang Sa đều điên khùng. Họ muốn làm tất cả những chuyện ác độc để thỏa thích dục vọng, họ bất chấp mạng sống của kẻ khác! Trời Phật dành cho họ nhiều hình phạt không chóng thì chầy.

Ra khỏi cổng nhà cô Huôi, Tư Thiện trở lại thực tế. Dường như bọn hộ vệ trở nên hung dữ hơn mọi khi. Tư Thiện phải vất vã lắm mới đến căn nhà của Mười Hấu, giờ đây trở thành nơi trú đóng của lính mã tà và quan một Ăn Sa.

Mười Hấu đứng trước cổng, nói với Tư Thiện:

– Chú mầy ráng điều đình.

Tư Thiện hơị bối rối:

– Tôi là người sống nhờ ơn đức của ông bấy lâu nay. Người Lang Sa hung hăng lắm. Ông chỉ dạy dùm, tôi hứa nói tất cả những gì ông muốn.

Hồi lâu, Mười Hấu đáp:

– Một là cậu Ba chịu đóng thuế hàng năm Lang Sa nếu họ đừng gọi cậu Ba bằng… cháu nội, Hai là bên này không chịu gởi người xuống tàu để làm con tin cho người Lang Sa. Họ nên giữ thể diện cho người bên này chứ.

– Dạ còn gì nữa không?

– Còn điều này nữa, chú mày nên trấn an người Lang Sa khuyên họ nên ngủ yên giấc. Ngày mai có thể cậu Ba chịu nhượng bộ. Nhớ chưa.

Tư Thiện vào trong nhà. Quán một Ăn Sa cứ hút thuốc trong khi bọn lính mã tà đem từng viên đạn ra mà lau chùi.

Đội Cần hỏi:

– Đến đây là may cho chú…Có gì lạ không?

Quan một Ăn Sa nói gắt:

– Đừng hỏi. Tất cả mọi người nên dưỡng sức, nấu cơm riêng mà ăn, coi chừng bọn nó đầu độc.

Rồi quan một nói to giọng hơn:

– Tư Thiện đâu! Nó nói với mày chuyện gì?

Tư Thiên mời đội Cần, Năm Hí đến gần họ bàn bạc khá lâu, trước mặt quan một Ăn Sa đế đi đến kết luận

– Đêm nay, bọn Mười Hấu và cậu Cẩu bao vây thình lình.

Tư Thiện nói thêm:

– Nó cho phép tôi vô đây loan tin thất thiệt.

Bọn lính mã tà đuổi mấy đứa nữ tỳ ra ngoài sau khi lãnh mớ gạo để nấu cơm. Mặt trời xuống thấp rồi trời sẩm tối. Mưa rơi rắc rắc trên mái ngói.

Tên lính mã tà canh trước cổng bỗng nhiên chạy vào:

– Thầy đội ơi! Bọn nó gom về đằng kia!

Đội Cần hỏi:

– Về đâu làm sao tao biết được?

Một hồi tù và vang lên. Quan một Ăn Sa ra trước sân. Trời đã tối hẳn. Ông ta truyền lịnh:

– Đội Cần lên nóc nhà coi thử.

Từ trên mái ngói, đội Cần nói vòng xuống:

— Tụi nó thổi tù và rồi đốt đuốc.

Tư Thiện hơi bối rối. Chưa bao giờ ở vùng Hòn Chông nầy có hiệu lịnh thổi tù và. Đội Cần nói tiếp

– Bọn nó gom về nhà cậu Cẩu.

Quan một Ăn Sa nói:

– Lính mã tà đâu? Nai nịt gọn gàng chưa? Chờ lịnh…

Rồi đích thân quan một ra trước sân. Quả thật bọn hộ vệ tập trung về nhà cậu Cẩu. Tư Thiện phục thầm tinh thần của bọn hộ vệ.

Quan một Ăn Sa gọi đích danh:

– Tư Thiện! Mầy tính sao?

Để khỏi bị nghi ngờ rằng làm nội ứng cho đối phương ông ta nói:

-Nên đánh lập tức?

– Giỏi lắm. Tao tin mầy, theo sát bên tao. Còn lục soát căn nhà thằng Cẩu nữa. Tụi nó chừng bao nhiêu đứa?

– Dạ, chừng năm mươi đứa nhưng hăng hái lắm.

– Đốt đèn lên!

Bọn lính mã tà tuân lời quan một, tìm khắp trong nhà được mươi ngọn đèn sáp.

Đèn cháy sáng, cắm ở bàn, trong phòng khách. Quan một thích chí vô cùng

– Cắm vài ngọn ở sau bếp!

Tiếng tù và thổi lên.

Quan một Ăn Sa ra ngoài sân rồi truyền lệnh thật khẽ:

– Không được hút thuốc, không được nói chuyện. Tất cả rút ra phía này.

Lính mã tà đã hiểu kế hoạch thầm tính của quan một Ăn Sa.

Lát nữa đây, bọn hộ vệ tưởng rằng linh mã tà còn ngủ trong nhà nên đến bao vây, đánh úp… Khi bọn nó lọt vào trong thì ngoài này, lính mã tà sẽ nổ súng, nhốt cả bọn trong nhà.

Quan một Ăn Sa dẫn lính mã tà ra sau vườn rồi ra lệnh:

– Ngồi xuống.

Tư Thiện tin chắc rằng bọn hộ vệ sẽ bị thảm sát trong giây lát, ông ta ngồi nín thinh. Quan một hỏi:

– Tư Thiện đâu?

– Dạ.

– Vô nhà. Lát nữa, chú mày thổi tắt từng ngọn đèn rồi hãy trở ra. Khi nào bọn nó sắp sửa tới. Nghe chưa. Ta chờ chú mày tại đây.

Mựa rơi trong bóng đêm. Muỗi bay, bọn lính mã tà cứ đập bôm bốp. Tư Thiện thở dài nghĩ đến cô Huôi. Nhứt định là bọn hộ vệ sẽ bị giết trong nhà nầy. Cô Huôi chạy thoát được không? Ai bảo vệ cô?

 Thời khắc trôi qua.

 Tư Thiện đứng trong nhà chờ đợi.

Thỉnh thoảng, và tên lính mã tà ho sù sụ. Quan một Ăn Sa ngồi sát gốc mít, lù lù trong bóng tối. Điều khiến Tư Thiện ngạc nhiên là ở dưới rạch, vài chiếc ghe buôn lướt qua, bạn ghe vẫn hát hò nghe não nuột.

Phải chăng họ không hay biết những gi xảy ra.

Tư Thiện trả lời một mình.

– Có lẽ họ cho rằng, cuộc thương thuyết đã tiến hành êm đẹp. Là người mua bán, họ không bao giờ chống đối hoăc làm hại quyền lợi của bất cứ phe nào?

Từ trên núi, tiếng chuông chùa vang lên ngân nga. Tại sao giờ nầy lại có chuông? Tư Thiện đoán chừng là mấy ông đạo đi lu trong ‘‘cốc’’ mỗi người một môn phái riêng. Đó chẳng phải là ám hiệu của cậu Cẩu.

Chờ quá lâu, Tư Thiện hơi sốt ruột. Ông ta đến ngưỡng cửa nhà trước. Mấy ngọn đèn sáng đã tàn lụn hơn phân nửa. Mấy khung cửa sơn son thiếp vàng sáng ngời lên.

Nếu nổ súng, những công trình mỹ thuật này ắt là bị cháy.

Phía nhà cậu Cẩu dường như đèn cháy sáng.

Khi tiến thêm một bước đến trước sân Tư Thiện giựt mình, ngồi xuống thật nhanh. Một bóng người xuất hiện, từ phía nhà cậu Cẩu tiến về phía cổng. Người ấy cầm cây đèn lồng bằng giấy.

Điều gì đây?

Tư Thiện muốn trở vào nhà để thổi tắt đèn rồi đến sau vườn để chiến đấu, bên cạnh bọn lính mã tà.

Nhưng lại có một sự ngạc nhiên mới. Người cầm đèn chính là nữ tỳ của cô Huôi.

Nó đến đây làm gì? Phải chăng cô Huôi muốn nhắn nhủ vài lời với Tư Thiện.

Trong phút giây, Tư Thiện hơi do dự. Có nên theo đứa nữ tỳ đến đường cái rồi nhảy xuống rạch, lội qua bên kia bờ để rồi trở lại gặp cô Huôi. Hai người sẽ tới vùng khác, mặc cho cậu Cẩu và quan một Ăn Sa sát hại lẫn nhau.

– Tư Thiện!

Giựt mình day lại, Tư Thiện nhận ra quan một Ăn Sa. Ông này táo bạo đáng sợ thật. Nếu Tư Thiện liên lạc với nữ tỳ thì quan một bắt gặp tại trận rồi.

Để chứng minh lòng thành thật của mình, Tư Thiện đến gần quan một, nói thật khẽ:

– Đứa nữ tỳ!

Quan một ngồi xuống, nói với Tư Thiện:

– Nó đi đến dọ thám. Thằng Cẩu kéo binh tới. Chú mày vô nhà. Cây súng của tao đây! Mầy cầm trong tay rồi hò hét.

Nói vừa dứt lời, quan một chạy ra sau vườn.

Nữ tỳ đến cổng, nhìn vào.

Tư Thiện biết có người đang theo dõi mọi hành động dè dặt hơn bao giờ hết:

– Ai?

Nữ tỳ kêu rú lên

– Tôi!

– Dọ thám hả? Tao bắn bây giờ? Lính mã tà đang ngủ, tới làm gì?

Vừa nói, ông ta đưa bá súng lên vai.

Nữ tỳ la hoảng:

– Tôi đi chơi…

Quan một Ăn Sa đã có mặt sau lưng Tư Thiện:

-Bắn một phát chỉ thiên!

Phát súng nổ ầm! Nữ tỳ hoảng chạy kêu rú lên, quăng cái lồng đèn giấy xuống đất.

Lòng đèn phát cháy, ánh sáng bừng lên khá lâu rồi tắt ngấm. Quan một Ăn Sa bước tới sát bên Tư Thiện.

– Đóng cửa thật mạnh cho bọn nó nghe tiếng động.

Tư Thiện vâng lời, phục thầm tài điều khiển của quan một Ăn Sa. Mấy ngọn nến còn lại sắp tàn lụn. Quan một khép cánh cửa rồi mở ra.

– Đi theo tao!

Khi đến khu vườn sau hè nhà, quan một nói dõng dạc:

– Đừng nói chuyện. Tôi bảo đi đâu thì tất cả phải theo không được do dự. Tôi đứng rồi khoát tay, luôn luôn tôi đi trước. Nằm xuống hết.

Muỗi dưới bãi cỏ bay vo ve, ai nấy đều bực rọc, chẳng dám đập mạnh sợ gây tiếng động. Hồi lâu, quan một Ăn Sa nắm tay Tư Thiện:

– Chú hiểu rành xứ nầy phải không? Đi theo tôi.

Lần thứ nhì, Tư Thiện ra ngoài sân với quan một Ăn Sa theo sát bên cạnh. Dụng ý người Lang Sa này thật khó hiểu nhưng Tư Thiện không dám hỏi thêm.

Quan một ngồi xuống, nép mình vào tườnng rào, nhìn về phía nhà cậu Cẩu

– Sao nó chưa tới?

Tư Thiện nói trước, để khỏi chịu trách nhiệm.

– Mười Hấu là đứa gian xảo, quan lớn nên đề phòng cẩn thận.

– Nó tới đây, bao vây căn nhà nầy đêm hay. Tại sao nó chưa tới?

Tư Thiện chợt nhìn xuống sông, ông ta lạnh rởn óc nhận ra sự vô ý của mình từ nãy giờ. Bốn chiếc xuồng bơi, theo hàng dài, tuy bầu trời thiếu trăng nhưng ông không còn nghi ngờ gì nữa. Mỗi xuồng chở hơn mười người.

Khi gần tới bến, bốn chiếc xuồng đen đúa ấy dừng lai đậu sát bờ.

Từ phía sau chót, chiếc xuồng thứ năm tiến tới. Xuồng này chỉ có một người bơi sau lái và một người đứng thẳng lưng trước mũi.

Quan một Ăn Sa hỏi:

– Ai cầm đầu?

Tư Thiện đáp:

– Chắc là Mười Hấu.

– Như vậy là thằng Cẩu còn ở nhà. Được lắm, lát nữa bọn nó bị tiêu diệt.

Hai người vào nhà. Mấy ngọn nến cháy leo lét, gần lụn. Quan một Ăn Sa lại đẩy cửa rồi đóng lại thật mạnh, cố ý gây tiếng động. Ông ta cùng với Tư Thiện xuống nhà bếp rồi ra sau vườn.

Lính mã tà và Tư Thiện đều sửng sốt khi thấy quan một Ăn Sa chỉ ngón tay về phía nhà cậu Cẩu.

Họ rút từ từ ra khỏi khu vườn.

Bọn hộ vệ bắt đầu đổ bộ, vào sân. Mười Hấu nói giọng kiêu hãnh:

– Nó đang ngủ trong nhà. Để tao lên tiếng trước. 

Bây giờ Tư Thiện đã hiểu âm mưu thâm độc của quan một Ăn Sa. Quan một dừng lại, lắng tai thật kỹ rồi hỏi:

– Phải cha thằng Cẩu không?

Tư Thiện đáp:

– Dạ, đúng là Mười Hấu…

Quan một Ăn Sa ra lịnh cho Tư Thiện:

– Dẫn tao tới nhà thằng Cẩu. Nhớ vô nhà phía sau hè. Tới đó, mình nhảy tường rào.

Ngôi nhà cậu Cẩu xuất hiện lù lù trước mặt: Khi tiếng hò reo nổi lên, ánh đèn trong nhà vụt tắt. Quan một Ăn Sa nói.

– Tư Thiện là người quen biết với thằng Cẩu. Chú mày vô nhà, theo cửa trước, giả bộ như chú mày đứng về phe nó. Hễ thấy lính mã tà tới thì theo sát, giết nó.

Tư Thiện day lại, trình bày với quan một Ăn Sa

– Nó có vài đứa hộ vệ ở gần. Nếu tôi mang súng thì chắc là bị giết trước khi quan lớn tới.

– Ừ! Đưa súng cho tao.

Tiếng hò reo khiến cậu Cẩu vui sướng vô cùng. Cậu ra sân, đứng ngóng về phía ngôi nhà dành cho lính mã tà trú đóng. Trong nhà, còn năm đứa hộ vệ. Ngoài ra, còn mẹ cậu Cẩu là cô Ngó.

Cậu Cẩu tức giận vô cùng, ra lịnh với tên hộ vệ

– Mầy coi thử! Tại sao chưa nổ súng?

Tên hộ vệ muốn từ chối. Đi mạo hiểm đến nơi người Lang Sa trú đóng thì chẳng khác nào nạp miệng cho cọp. Nhưng từ chối bằng cách nào. Cậu Cẩu nhìn vào bóng đêm.

– Đèn thì tắt. Tại sao người Lang Sa không nổ súng?  Mầy cải lời tao hả?

Bấy giờ tên hộ vệ không còn do dự nữa. Do dự là chết, chết vì bàn tay cậu Cẩu.  Anh ta đã khuất dạng trong bóng tối, ra đi với mục đích trốn luôn. Nhưng trốn theo đường nào bây giờ? Đi ngoài đường cái bị cậu Cẩu theo dõi, hơn nữa có thể anh ta bị lính mã tà tình nghi là làm dọ thám.

..Đị được vài chục bước, anh ta qụẹo ra sau vườn.

– Ai đó?

Anh ta giựt mình, toan chạy, một bàn tay cứng như sắt nắm anh ta lại:

– Mầy là hộ vệ? Tao là Tư Thiện đây.

Tên hộ vệ vẫn ngạc nhiên:

– Cậu Ba đang nổi giận, ở trong nhà.

– Đưa tao vô nhà gặp cậu Ba. Ra ngoài vườn làm gì?

Rồi Tư Thiện nói khẽ:

– Bọn Lang Sa nằm sắp hàng ngoài vườn bao vây cậu Ba từ nãy giờ. Mầy ra ngoài đó để nạp mạng sao chớ.

– Vậy chớ tôi chạy đi đâu bây giờ?

– Vô nhà, nói với cậu Ba rằng có tao đến, tao không mang khí giới gì cả. Khi tao gặp cậu Ba, mày cứ rút lui, xuống bến mà lặn qua bên kia bờ rạch. Đừng cãi lời tao. Tao với mày đâu có thù oán gì!

– Tại sao ông không vô một mình!

– Đừng hỏi…

Tên hộ vệ bèn lủi thủi trở vào cổng:

– Thưa cậu, Tư Thiện tới kiếm cậu.

– Coi chừng nó làm phản!

– Dạ, Tư Thiện đi một mình, không mang súng ống gì hết! Ông tới kìa!

Tư Thiện chắp tay xá cậu Cẩu.

– Thưa cậu, nguy lắm. Nhưng phe mình có thể thắng được, dịp khác.

Cậu Cẩu hỏi:

– Tai saọ bọn Lang Sa không nổ súng.

Tư Thiện đáp khẽ:

– Bọn nó bao vây nhà này, nằm phía sau vườn. Ông Mười lại đằng kia để đánh căn nhà trống rỗng, không có ai hết!

Hàng chục tên lính mã tà với súng đạn đầy đủ quả là lực lượng đáng sợ. Quan một Ăn sa quá khôn ngoan vượt ngoài mức tưởng của cậu Cẩu. Cậu hơi run.

– Làm sao bây giờ?

Tư Thiện đứng trong tình trạng khó xử. Nếu trở ra sau vườn để báo tin cho lính mã tà bao vâỵ, bắt sống cậu Cẩu thì ông ta mang tiếng là hèn nhát. Sau khi thắng trận, chưa chắc ông ta được thưởng số tiền lớn vì đội Cần sẽ cướp công và dèm xiểm ông ta.

Ngoài ra, còn hình bóng cô Huôi. Cô đã từng tâm sự với ông ta rằng Mười Hấu mới là kẻ thù Biết rõ sự thật, cô Huôi sẽ khinh bỉ ông ta.

Cậu Cẩu hỏi:

– Làm sao? Bây giờ ta rút ra ngoài! Trong nhà, có ba bốn đứa hộ vệ cầm dao mác mà thôi. Mấy chục đứa kia thì đi theo ông Mười rồi.

Một cảnh tượng vừa buồn cười, vừa cảm động hiện ra trước mắt Tư Thiện. Cô Ngó đang quỳ trước bàn Phật mà lạỵ. Có lẽ cô biết ngày tàn của dòng họ đã đến, không phương cứu chữa.

Tư Thiện đang lưỡng lự

– Tùy theo cậu! Tôi là tôi tớ trong nhà nầy.

Cận Cẩu sờ vào ngón tay bên phải, tháo chiếc nhẫn ra:

– Cứ lấy chiếc nhẫn, Làm sao? Miễn là tôi còn sống.

Tư Thiện nhớ đến cô Huôi nên nhận chiếc nhẫn.

– Cám ơn cậu. Cậu đi một mình tới gặp cô Huôi. Rồi đến núi Mo So mà chờ tôi. Tôi không thể nào theo cậu được! Bọn Lang Sa tới rồi kìa.

Hàng chục phát súng nổ ầm. Đèn trong nhà tắt ngấm.

Cậu Cẩu cắm đầu chạy xuống bến. Tư Thiện bèn quát to, để cho quan một Ăn Sa đừng nghi ngờ.

– Nó kìa! Vô nhà mà bắt sống!

Bọn hộ vệ giận sôi gan

– Tư Thiện làm phản!

Ba bốn đứa hộ vệ toan chạy ra ngoài, nhưng lính mã tà đã tràn vô. Bọn hộ vệ chạy trở vào, mở cửa sau. Đội Cần lên tiếng:

– Đừng bắn, uổng đạn. Ai chạy ra ngoài thì cứ bắn!

Quan một hỏi:

– Thằng Cẩu đâu rồi!

Từ Thiện đáp:

– Nó ở nhà sau!

Cuộc lục soát bắt đầu. Hai phát súng nổ vang. Hai đứa, hộ vệ nằm gục trong vũng máu trong khi bọn lính mã tà, phá cửa sau, chạy ra vườn.

Quan một Ăn Sa đứng trước thềm rồi ra ngoài cổng với mục đích chận đánh Mười Hấu, nếu lão ta đến tiếp cứu.

Trong nhà, Đội Cần làm chủ tình hình, ông ta cười vang:

– Cô Ngó đâu? Tôi nghe danh cô là người đẹp nhứt, giàu nhứt. Ra đầu hàng thì tôi cứu cho.

Tư Thiện cố giữ vai trò thụ động. Đồng ý rằng cậu Cẩu áp bức dân chúng tại Hòn Chông nhưng hiện người Lang Sa có tốt hơn cậu Cẩu không? Là người Việt Nam, Tư Thiện thấy tủi nhục đau xót.

Ông ta lo ngại cho cô Huôi. Phía nhà cô Huôi, đèn đuốc tối om. Vì quân lực quá yếu, quan một Ăn Sa không dám bố trí một cánh quân thứ nhì đến bao vây nhà cô Huôi, Tư Thiện cầu mong cậu Cẩu được sống sót để cùng với cô Huôi chạỵ về núi Mo So như ông ta chỉ chạy lúc nãy.

Quan một Ăn Sa cười dòn:

– Xong rồi! Mười Hấu chưa dám tới tiếp viện. Nãy giờ, nó đánh giặc với ma quỉ!

Rồi quan một đến hai cây trụ to, trước cổng. Trên mỗi cây trụ lâu đời rồi, có gắn một con kỳ lân bằng sành.

Hắn ta trèo lên, cỡi trên con kỳ lân.

Tư Thiện ngồi chồm hỗm trước thềm. Trong nhà, bọn lính mã tà thi nhau cạy cửa tủ, quơ tay vơ vét. Đội Cần đi lom khom để quan sát phía dưới bộ ván.

Ông ta reo lên

– Ra đây!

Từ dưới bộ ván, cô Ngó kêu Ịên thống thiết:

– Tôi không có tội gì hết.

– Thằng Cẩu đâu rồi?

Cô Ngó vẫn ngồi dưới bộ ván:

– Dạ tôi không biết.

Đội Cần thích chí vô cùng; Cô Ngó có gương mặt sáng rực, làn da trắng mịn. Lúc này đội Cần quả thật là ông vua nhỏ, ông ta ra lênh:

– Tôi hứa không làm khó dễ. Cô đừng sợ. Cứ ra ngoài này để trả lời.

Lúc này, cô Ngó tưởng rằng người Lang Sa và lính mã tà quá ác độc, gặp ai giết nấy. Giờ đây giọng nói khá ôn hòa nhã nhặn của đội Cần khiến cô được yên tâm phần nào. Cô ra ngoài, đứng dậy.

Rõ ràng cô Ngó khá xinh đẹp, hình dung yểu điệu, hai tay thòng xuống gần đụng đầu gối. Nếu chiếm cô Ngó làm vợ nhỏ thì còn gi vui sướng cho bằng. Đội Cần ra lệnh:

– Thắp thêm một ngọn đèn sáp.

Cô Ngó mở tủ, lục lạo hồi lâu.

Thừa lúc ấy, đội Cần đến gần vịn vai cô. Cô day lại:

– Cái ông nầy!

– Tôi thương cô nên cứu dùm. Tại sao…

Cô Ngó im lặng, hồi lâu mới trả lời:

– Tôi là đàn bà. Bao nhiêu đồ đạc trong tủ nầy biến mất rồi.

Đội Cần liếc ra ngoài cửa. Tư Thiện và quan một Ăn Sa đều vắng dạng, Bọn lính mã tà bắt đầu đập phá dưới nhà bếp. Khung cảnh thật thích hợp cho ông ta giở trò tán tỉnh:

– Cô nên mừng mà gặp tôi!

Rồi ông ta ôm cô Ngó vào lòng. Cô Ngó vụt la lên:

– Cái gì? Thà rằng ông bắt tôi, đem về chợ Rạch Giá.

Từ ngoài cửa, quan một Ăn Sa vọng vào:

– Thằng Cẩu đâu? Hàng chục người mà không bắt sống được một đứa con nít?

Lợi dụng cơ hội ấỵ đội Cần nói với cô Ngó.

– Cô không thuận lời, tôi giết cô bây giờ. Quan một cho phép tôi tra tấn cô.

Cô Ngó day lại nhìn đội Cần. Hai hàng nước mắt chua xót chảy dài.

Cô tháo, chiếc nhẫn, trao cho đội Cần:

– Tôi hứa theo ông, nếu ông cứu mạng cho tôi.

Đội Cần đưa bá súng lên vai, bắn một phát lên nóc nhà.

Khói bay mù mịt và cô Ngó ngất xỉu khi nghe tiếng nổ. Đội cần thổi ngọn đèn sáp, ôm cô Ngó vào lòng rồi nói to:

-Nó…ở trên nóc nhà nhảy xuống đó!  Rượt theo nó.

Tư Thiện theo dõi mọị hành động của đội Cần.

Đêm đã quá khuya. Quan một Ăn Sa ngáp dài nhưng ông ta không rời vị trí trước cổng vì đó là nơi thuận lợi nhứt để quan sát. 

 Ông ta đến mé sông.

Chiếc xuồng từ từ bơi lại, trên xuồng có hai người, một bơi sau lái, một người cầm đuốc:

Quan một gọi:

– Ai đó? Tư Thiện đâu?

Khi đến mé sông, Tư Thiện trố mắt… Người cầm đụốc trên xuồng không khác hơn là Mười Hấu.

Mười Hấu nói to:

–  Quan lớn tha tội cho tôi. Tôi xin đầu hàng.

Quan một Ăn Sa hỏi:

– Mấy thằng hộ vệ đâu?

– Dạ, tụi nó chạy trốn ngoài ruộng hết rồi..

Còn một mình tôi thôi, xin quan lớn tha mạng cho con tôi, cho cháu tôi. Nếu thằng Cẩu bị bắt, mấy ông đừng giết nó.

Khi xuồng cập bến, Mười Hấu lên bờ, quỳ xuống ôm chân quan một Ăn Sa khóc nức nở.

Trời đã rạng đông. Núi Mo So hiện ra trước mắt… Sau cơn mưa đêm, sương mù tan biến. Vài con cò trắng bay chập chờn bên áng mây hồng. Ít khi vào mùa mưa khung cảnh đựợc tươi đẹp như thế nầy.

Đứa nữ tỳ bơi sau lái xuồng. Cậu Cẩu ngồi cú rũ, bên cạnh cô Huôi. Hai bên bờ rạch, dân chúng dụm năm dụm ba.

Vài ông lão nâng hũ rượu lên, uống cạn rồi quăng hũ xuống nước mà chửi đổng:

– Hôm trước chạy giặc một lần rồi trở về xây cất nhà cửa. Lần đó, cậu Ba với ông Bá Vạn ra tay dẹp giặc.

Lần nầy thì khác, Giặc Lang Sa tới…

– Tụi nó tới để ăn thua với cậu Ba. Mình là dân uống rượu, xưa nay không bao giờ đánh bất cứ ai. Kìa?

Ông lãọ bèn nhìn lên bờ, làm dấu hiệu cho ai nấy đều chú ý đến chiếc xuồng dưới rạch. Nhưng có người nói to:

– Giặc giã mà bơi xuồng như đi dạo?

Chưa chi, cậu Cẩu đã cằn nhằn:

– Tụi nầy hỗn láo.

Cô Huôi nghiêm nét mặt

– Cậu nhớ lời tôi dạỵ hồi tối chớ! Cậu nín dùm cho tôi.

Cậu Cẩu khoát nước rửa mặt.

– Nín làm sao được? Xứ này của tôi mà? Hồi nhỏ, tôi lên núi này cất nhà để qui tụ bạn bè đá cá thia thia. Chắc là tôi ăn bận xấu xí nên họ khinh rẻ.

Cò Huôi đáp

– Cậu cãi lời tôi thì lên bờ mà đi bộ. Tôi giao phó chiếc xuồng đây cho cậu. Đến lúc này cậu đừng ăn nói lố lăng? Cậu đừng làm thiên hạ cười tôi. Vả lại, dân trong xóm có làm gì mà cậu quở trách là hỗn láo? Họ chưa biết ai ở dưới xuồng nầỵ.

Nữ tỳ hỏi:

– Thưa cô! Ghe ở đâu?

— Đằng kia. Tụi nó đứng chờ dưới bến kia.

Theo sự bố trí của cô Huôi, hai đứa hộ vệ thân tín nhứt đã giả dạng thường dân đến ngôi nhà cũ của ông Mười Hấu mà dò xét.

Hai đứa nó ngoắc tay rồi vào nhà.

Xuồng ghe bến. Cậu Cẩu vào nhà, ngắm nghía cái bộ ván và cái tủ thờ. Toàn là những món xấu xí, bị cháy nám đen. Mái nhà ngói đã dột. Vài miếng lá dừa nước được phủ lên.

Ánh nắng rọi xuống, từng đốm tròn.

Hai đứa hộ vệ tỏ ra lo lắng. Vài người trong xóm chạy đến, đứng lấp ló ngoài sân.

Cộ Huôi ra lịnh:

-Nên ăn nói nhỏ nhẹ, đừng khoát nạt. Mời họ về nhà đừng tò mò chuyện trong nầy.

Cậu Cẩu nằm trên bộ ván vụt ngồi dậy:

-Nhà nầy trống trải quá. Phải chi nó chắc chắn hơn, tôi cho bọn hộ vệ đào mương xung quanh rồi cắm chông. Bọn Lang Sa làm sao vô đây được! Tôi cho vài đứa hộ vệ hò hét trong nhà để nhử bọn Lang Sa trong khi tôi leo núi lập đồn lũy. Nếu bọn nó lên núi thì tôi lăn đá xuống. Súng đạn bắn không lủng đá núi được? Cô nghĩ sao?

Nụ cười yên lành nở trên môi cô Huôi.

 Tư Thiện ở lại, theo bọn Lang Sa. Dưới mắt cô ông ta là người chưa đến nỗi tán tận lương tâm. Bọn Lang Sa có lẽ sẽ đi tắt về núi Đất xuống tàu biển, sau khi đốt phá Hòn Chông. Chẳng lẽ vì quá yêu cô mà  Tư Thiện đem lính mã tà tới bao vây, để bắt sống rồi đem về làm vợ?

Lúc nầy quả thật cậu Cẩu là đứa con bất hiếu, bất nhơn. Vùng Hòn Chông mất rồi, cậu ta cứ tưởng rằng dân chúng cứ kính nể kẻ có ‘‘chơn mạng đế vương’’ Dọc đường, cậu chẳng nhắc tới mẹ ruột là cô Ngó và ông ngoại là Mười Hấu!

– Lập đồn lũy ở đây được không cô? Tôi mộ thêm vài chục đứa hộ vệ.

Cô Huôi chịu không nổi, bèn quát mắng:

– Bây giờ khác hơn hồi hôm qua. Ai chịu đào hầm, đắp lũy.

– Sao vậy?

Cô Huôi đáp

– Hồi nào, cậu nhốt con Xí Vĩnh trong cái cũi rồi thòng xuống nước, cho nó chết ngộp. Người ta đi làm xâu, cậu có cho cơm gạo không? Hay là cậu mắng chửi những người tới đây làm công cho cậu?

– Chẳng lẽ ngồi đây chờ chết! Nếu mình thua ở Hòn Chông thì mình lập thành quách ở đây, cho dân chúng biết rằng mình đang suy yếu.

Cô Huôi thở dài! Đột nhiên cô nghe có một kế khá thâm độc. Cậu Cẩu là người ác gian đáng chết. Nên để cho cậu làm những điều gì cậu muốn.

Nghĩ vậy, cô muốn tránh mọi sự hiểu lầm với dân chúng địa phương.

Cậu Cẩu ngồi nhăn nhó, thỉnh thoảng liếc ra sân:

– Chừng nầy, sao mẹ tôi và ông ngoại tôi chưa tới. Ông ngọai tôi điều khiển chuyện xây thành đắp lũy thì nhứt định có người nghe, đây là xứ của ổng. Tiền bạc còn thiếu gì! Mẹ tôi chôn vàng bạc dưới đất, trong lu hũ, bọn lính mã tà đập phá, đốt nhà cửa thì làm sao đụng chạm tới.

Cô Huôi cứ yên lặng, gọi nữ tỳ:

– Đi với cô!

Bên cạnh nhà Mười Hấu có căn nhà lá sạch, chủ nhà đón tiếp niềm nở. Ăn xong bữa cơm, cô Huôi ngồi trầm ngâm, nhớ đến hình bóng Tư Thiện.

Ngoài sân, có tiếng quát to. Cô nhìn ra thấy cậu Cẩu và hai tên hộ vệ đang khoát nạt, bắt buộc người qua kẻ lại phải tụ họp trọng sân để nghe cậu dạy việc.

Nữ tỳ đứng trước cửa nhòm hồi lâu. Cô Huôi nói:

– Làm gì đứng đó. Vô trong này.

– Dạ, tội nghiệp mấy ông già.

– Vô đây. Đừng tò mò chuyện làm của cậu Ba.

Khi nữ tỳ vô nhà, cô Huôi lại đến ngưỡng cửa. Hai tên hộ vệ đứng ngoài đường, bắt buộc tất cả mọi người qua lại phải vào trong sân, ngồi xuống mà chờ lịnh.

Cuộc cãi vã xảy ra. Nhiều người viện lý do là bận rộn công việc nhà nên không rảnh rang. Cậu Cẩu hỏi:

– Mấy người không muốn giúp nước à?

Một chàng trai trả lời:

– Giặc Lang Sa tới Hòn Chông, tại sao cậu chạy tới đây?

Cậu Cẩu đáp:

– Tao giết mầy!

Chàng trai nọ cười nhếch mép:

– Cậu để tôi sống, tôi còn giết bọn Lang Sa nữa chớ!

– Chừng nào mầy giết?

Chàng trai nọ thách đố:

– Hễ cậu ở đây thì tôi ở đâỵ. Tôi chỉ e rằng khi nào bọn nó tới thì cậu đã chạy trốn lên núi.

Nói xong, chàng trai nọ đi tuốt.  Cậu Cẩu ra lịnh cho tên hộ vệ

– Bắt nó, đánh một chục roi.

Tên hộ vệ đáp:

– Thưa cậu, nó quá phách lối. Bọn trai trong xóm này như không ưa bọn tôi. Nếu tôi rựợt theo nó, rủi bị đâm lén thì cậu ở đây với ai?

Cậu Cẩu giựt mình.

– Vậy thì đóng cổng lại. Tụi bây ở đây với tao chớ.

Cô Huôi ra sân vào nhà cậu Cẩu. Hai ba lão già ngồi dựa lưng vào gốc cột, trước thềm. Một ông lão đứng dậy chắp tay:

– Thưa cô!

Cậu Cẩu hơi bực rọc.

– Trưa nay làm sao ăn cơm! Phải đó. Lão già này về nhà nấu cơm, kiếm còn gà luộc xé phay rồi đem tới đây cho ta.

Cô Huôi khẽ nói với lão già:

– Ông cứ nhận lời rồi về nhà luôn. Lão kia cũng cứ về.

Cô Huôi và Cậu Cẩu ngồi yên không ai nói một lời. Cô chú ý đến một chi tiết buồn cười. Hai tên hộ vệ gọi cô bán mía, lựa vài khúc rồi đuổi đi, không trả tiền. Cô gái chưởi đổng vài tiếng

– Để cho người ta sống với cha!

Lập tức, cậu Cẩu đứng dậy:

– Nó chửi à. Chém đầu nó để làm gương cho kẻ khác. Ông ngoại tao đem binh tới đây, tụi nó biết tao. Tao đâu phải là đứa thất thế. Nước chưa mất mà ai nấy đã… coi tôi không ra gì.

Lần đầu tiên, cô Huôi lại gần cậu Cẩu mà nói nhỏ nhẹ dùng lối xưng hô đặc biệt

– Con! Dì không đẻ ra con nhưng xứng đáng làm mẹ của con.

Cậu Cẩu hỏi:

– Dì nói sao? Nãy giờ, con có nói điều gì hỗn láo với dì?

 Cô Huôi đáp:

– Đáng lý ra, dì về hòn Đất mà sống, tránh tai họa. Nhưng dì đi theo con vì muốn giữ thể diện. Là người có chức vụ cao, được thiên hạ phong chức, bà chúa Hòn, dì không được quyền chạy trốn khi Hòn Chông mất vào bọn Lang Sa. Con đừng nóng nảy.

Cậu Cẩu cúi mặt. Từ hồi sáng đến giờ, cậu muốn dùng oai, quyền để khoát nạt dân chúng, việc xây thành đắp lũy không bao giờ thực hiện được. Cậu bị bỏ rơi rồi. Nếu cãi vã với cô Huôi thì chắc là đêm nay cậu ở đây một mình.

Cậu nói:

– Con lạy dì! Dì tính sao? Chẳng lẽ con đầu hàng người Lang Sa! Hoặc, là con lên núi làm người đốn củi. Tại sao thiên hạ làm phản.

Cô Huôi nói:

– Con làm phản chớ họ có trung thành với con hồi nào đâu? Dì nói cho con biết. Hai thằng hộ vệ nầy sẽ trốn vì đói cơm, khát nước.

– Tại sao vậy?

– Con ăn ở thất đức. Chưa bao giờ con ban ơn hoặc đối xử công bình với họ. Con giết họ, từ lâu rồi. Bây giờ, họ trả thù. Con tự xưng là vua chúa. Vua chúa… có nhiều quyền hạn muốn giết ai thì giết. Nhưng con quên rằng vua chúa vẫn có phận sự giúp đỡ dân trong xóm. Từ khi nắm quyền hành trong tay, con đã làm gì cho họ nhờ?

Cậu Cẩu quì xuống:

– Con nên làm gì? Dì cứ dạy con.

– Thì con ở đây, chờ ông Mười tới. Dì ráng chờ một đôi ngày, nếu không gặp ông Mười thi dì cũng đi về hòn Đất.

– Dì ở đây!

– Từ lâu rồi, dì không có quyền hạn gì trong nhà. Ông ngoại con nắm tất cả mọi việc, nào là giết ông Bá Vạn, nào là giết con Xí Vĩnh. Nếu dì nóng nảy, có Ịẽ dì đã bị ông ngoại con giết. Thôi, chuyện cũ bỏ qua đi.

– Trưa nay, ngày mai, làm sao con ăn cơm. Chẳng lẽ đi dạo xóm. Ghê quá. Ai cũng ghét con. Hai thằng hộ vệ thì tin cậy không được.

– Ngồi đây. Thế nào cũng có cơm ăn.

Nói xong, cô Huôi qua nhà bên cạnh.

Dân trong xóm vì cảm mến cô Huôi nên tự động đem tới nào chuối mít, nào cơm gạo, nào trứng gà. Họ xuống bếp, đốt lửa, nấu nước pha trà.

Đột nhiên, cô giựt mình khi nghe gọi.

– Lạy cô! Cô còn nhớ tôi không?

Đó là một chàng trai khỏe mạnh, chàng đội trên đầu một quày chuối đỏ lườm. Dường như cô Huôi chưa gặp mặt chàng ta lần nào:

– Chú là ai?

Chàng trai đáp khẽ:

– Dạ, tôi là người chịu ơn của ông Bá Vạn.

Cô Huôi hỏi:

– Tên gì? Chịu ơn Bá Vạn hồi nào?

– Dạ, tôi là A Chúa, giữ mấy căn nhà ở Vàm Rầy. Hồi xưa, cậu Cẩu hạ nhục khi tôi bầy tiệc tùng đờn ca. Lúc đó con Xí Vĩnh còn sống.

– Ngồi đây mà nói chuyện.

A Chúa chắp tay kính cẩn

– Cám ơn cô. Hôm nay, tôi xin phép làm một chuyện riêng. Đáng lý thì tôi không nói…

– Chuyện gì?

A Chúa đáp:

– Tôi muốn trả thù cho ông Bá Vạn và con Xí Vĩnh. Bá Vạn là thầy là chú của tôi. Xí vĩnh là người tình của tôi, nhưng cậu Cẩu giết vì tưởng nó là của ông Bá Vạn. Tôi nào có tội tình gì! Khi tới Vàm Rầy, cậu Cẩu tưởng mình là bực ‘‘chơn mạng đế vương’’, hăm dọạ tôi để thị oai với dân chúng, Cậu bắt tôi phải quỳ xuống chịu tội, giữa đám đông…

Trong thâm tâm cô Huôi không ưa gì cậu Cẩu nhưng nếu giết cậu ta trong lúc nầy thì hơi quá đáng, chẳng ích lợi gì. Hồi lâu, cô suy nghĩ rồi can gián:

– Mười Hấu là người ác đức. Cậu Cẩu còn nhỏ, nếu phạm tội thì không đáng trách. Chú mầy bị quì gối, đó là hình phạt nhẹ.

A Chúa đáp:

– Thưa cô, hôm đó tôi nhớ rõ lắm. Cậu Cẩu bắt buộc tôi quỳ gối là để mắng nhiếc ông Bá Vạn. Rồi sau đó, mấỵ căn phố của ông Bá Vạn bị tịch thâu với bao nhiêu tôm khô, bong bóng cá, trị giá hàng trăm nén vàng. Lại còn con Xí Vĩnh! Cậu Cẩu giết người tình của tôi. Nếu phen đó mà không bị bắt cưỡng hiếp thì giờ phút này nó với tôi sống cuộc đời hạnh phúc.

– Bỏ qua đi.

A Chúa vẫn cương quyết:

–  Tôi trả thù cho chủ cũ và cho người yêu.

– Trả thù bằng cách nào? Đừng làm gì náo động. Ta là dì của nó. Tuy không là mẹ ruột nhưng ta xem nó như đứa con. Lẽ nào mẹ lại đồng ý cho đứa con mình… bị giết. Muốn làm gì thì làm đừng hỏi ý kiến của ta nữa. Ta không muốn nghe. Bởi vì nó còn sống nên ta phải tìm cách che chở bảo bọc nó.

Lập luận ấy khiến A Chúa hơi bâng khuâng- Dưới mắt anh ta, cô Huôi quá mềm yếu. Từ lâu anh ta xem cô là người đáng khâm phục, công bình; tuy sống gần Mười Hấu và cậu Cẩu, nhưng cô biết điều nhơn đức.

Cô đã ngăn cản. Làm sao bây giờ? Anh ta hối tiếc. Phải chi lúc nãy anh ta xông vô nhà, bắt sống cậu Cẩu hoặc đâm chết tại trận.

Cô Huôi như hiểu ý

– Tại sao chú mầy buồn?

– Dạ,, tức tối quá. Theo luật quả báo thì kẻ ác phải đền tội.

Cô Huôi đáp

– Ta không binh vực cho thằng Cẩu. Ta thấy cảnh tượng hãi hùng… lúc Xí Vĩnh bị giết. Nó chết vì muốn binh vực ta. Ta giận thằng Cẩu vì mấy năm rồi, nó cướp đoạt bao nhiêu quyền hạn. Tuy được xem là bà Chúa, nhưng chức vị đó là danh vọng hão huyền.

– Theo ý cô thì cậu Cẩu không có tội với dân giang. – Có chớ. Nhưng nếu biết phải quấy thì nó phải tự tử. Nó hống hách, xem mạng người như cỏ rác. Giặc Lang Sa đến, nó chạy trước thiên hạ. Nó nên uống thuốc độc… Như vậy, nó đền tội mà người Lang Sa không chê cười.

– Sao chê cười? Người Lang Sa chừng nào tới đây? Nếu họ tới cậu Cẩu lại chạy dài chớ chưa ai dám chống cự. Bọn hộ vệ chỉ có tài lấn hiếp người trong xóm mà thôi.

– Nhưng nếu chuyện này mà thấu tai người Lang Sa thì còn gì thể diện. Ta nói nhiều rồi.

A Chúa cúi đầu:

– Dân làng xin phép cô trước. Cảm ơn cô.

Vậy thì chúng tôi có cách này, kín đáo hơn, không bao giờ người Lang Sa biết được. Nếu không có cô tới đây thì cậu Cẩu đã bị giết lúc nãy. Chúng tôi sợ cô giận.

Cô Huôi lấy hai tay che mặt như để xua đuổi một hình ảnh ghê rợn. Cậu Cẩu chết là phải. Nếu cậu sống, ắt dân chúng ở núi Mo So nầy còn chết vô lý. Hồi sáng, cậu vẫn giở trò khoát nạt.

A Chúa ra ngoài sân rồi chạy về xóm, tri hô lên.

– Xong xuôi! Mình mời cậu Cẩu lên núi mà làm thịt.

 Bọn thanh niên trai tráng thích chí vô cùng.

A Chúa nói tiếp:

– Anh em cứ theo tôi. Lựa chỗ nào thật tốt cho cậu Ba đầu thai dễ dàng. Anh em chuẩn bị xong chưa?

A Chúa đi dẫn đầu, theo sau là toán thanh niên. Kế bên A Chúa, có cái trống thật to. Trống đánh liên hồi, như ngày hội.

Thằng Thừa đi bên cạnh A Chúa:

 – Tao cầm dùi trống mầy cứ vô, đừng sợ. Trong ruột cây dùi này có ngọn dao bén. Nhưng tao nghi ngờ quá.

A Chúa đến trước cổng, reo to

– Chúng tôi quỳ lạy cậu Ba, xin hết lòng, hết dạ…

Như người khát gặp nước giếng, cậu Cẩu chạy ra sân

– Ai đó! Chà! Đông đảo quá. Mấy người là dân xóm này?

A Chúa, đáp:

– Dạ! bấy lâu nay, bọn tôi là dân của ông Mười. Cậu quên chớ bọn tôi thì sùng bái cậu. Xin cậu dạy… bọn tôi sẵn sàng đánh quân Lang Sa, chiếm Hòn Chông.

Cậu Cẩu đưa tay ra:

– Mời mấy chú vô nhà. Phải giết bọn Lang Sa.

A Chúa mừng thầm vì cậu Cẩu không nhớ mặt anh ta.

– Thưa cậu! Hay tin bọn Lang Sa đến Hòn Chông, anh em tụi tôi nóng lòng, muốn liều chết để giúp đỡ cậu tới giọt máu cuối cùng. Nước mất mà bọn trai nằm nhà lo ăn uống thì còn gì nhục cho bằng.

– Hay lắm! Mấy chú nói nghe được. Tôi bàn với cô Huôi, cô là đàn bà nên yếu ớt lắm.

 A Chúa được mời ngồi đối diện với cậu Cẳu. Bọn trai làng như nôn nóng muốn ra tay hạ sát cho xong. Hồi lâu A Chúa nói rỉ vào tai cậu Cẩu:

–  Bọn Lang Sa có súng đạn tối tân, nếu mình ở trong nhà vách ván thì dễ bị thua. Chi bằng mình lên núi.

Kế hoạch ấy khiến cậu Cẩu thích chí. Lúc nãy, cậu đưa ra bàn bạc một lần nhưng cô Huôi từ khước. Hồi xem quẻ với ông đạo Đất ở núi Đất, cậu đã nghe mấy tiếng súng thần công từ ngoài khơi bắn vào.

– Đá cứng hơn sắt… Sắt bắn vô đá thì đá mẻ vài miếng vậy thôi. Lên núi là phải.

Để thúc hối cậu Cẩu, A Chúa nói:

– Chúng tôi lên núi, xây cái thành nhỏ, lựa một hang đá kín đáo cho cậu trú ẩn. Vách thành bằng đá, làm sao lính mã tà lại gần được! Ở trên núi lâu ngày, bọn nó đành rút lui vì thiếu lương thực.

Bỗng nhiên, cậu Cẩu vỗ trán:

– Mình lên vách thành lượm cục đá to mà quăng xuống. Đá lần theo triền núi. Bọn lính mã tà không gãy tay, thì què chân. Đi lên núi ngay bây giờ.

Bọn thanh niên kéo nhau lên núi, với tiếng trống rình rang. Khi đi ngang qua nhà cô Huôi, cậu Cẩu nói:

– Di đừng lo, ngày mai con rước dì lên núi.

Cô Huôi ra sân đứng trông theo. Bất giác cô thở dài, đưa tay lau hai giọt nước mắt nóng hổi. Nữ tỳ hỏi:

– Thưa cô….

Cô trả lời:

– Vô nhà đi. Đây là chuyện riêng của cô.

Núi Mo So dựng lên sừng sững, dường như cao hơn ngày thường. Vài người đốn củi trên núi bỗng dưng chạy trở xuống, loan tin rằng cậu Cẩu sắp xây thành đắp lũy. Họ sẽ bị bắt đi làm xâu.

Nhưng cô Huôi vẫn bình thản, ngắm mấy đợt mây trôi trên đầu núi. Trên đời này, không có gì tồn tại lâu dài cả. Cách đây không lâu, tại Lung Tràm xanh rì phía chân trời, ông chúa Hòn chết vì chứng kiến buổi săn heo rừng. Lại còn cậu hai Điền, chết oan vì thằng Thừa, thằng Thiếu. Giờ đây, người bị ám sát và kẻ sát nhân đều nằm dưới đất.

Trong phút giây, cô hối hận vì đã là đồng loã của những vụ thảm sát ấy. Nhờ đó mà cô được lên địa vị rồi sắp trở thành thường dân, như hôm nay.

Nữ tỳ hỏi

– Cô uống trà?

– Ừ! Lo nấu cơm đi. Có lẽ đêm nay ta đi nơi khác.

Nữ tỳ hốt hoảng:

– Rủi gặp bọn Lang Sa hoặc bọn cướp chận đường thì ai bảo vệ cho cô?

– Đừng lo. Đời ta chưa làm điều gì quá thất đức. Bọn Lang Sa chắc là đã rút lui xuống tàu biển. Còn đối với dân chúng, ta không ngại.

– Cô về đâu? Nếu đường quá xa, xin cô mướn thêm người chèo chống. Đi ban ngày dễ hơn ban đêm.

– Cứ lo buổi cơm chiều.

Bóng nắng xế dần. Trời đã sụp tối. Nữ tỳ lo ngại hơn bao giờ.

– Thưa cô! Đêm nay rủi có một hai tên lính mã tà đến thì ai lo cho cô?

Đột nhiên ngoài sân có tiếng trống đánh vang rền. Khi ra sân, cô Huôi nhận ra hàng chục bóng di chuyển từ triền núi Mo So xuống nơi đất thấp. Dân trong xóm chạy đến chân núi. Nữ tỳ run rẩy:

– Họ đốt đuốc, đánh trống để làm gì?

Cô Huôi nói:

– Thôi, ta vô nhà.

Tiếng trống nghe mỗi lúc một gần. Ngoài cửa, có tiếng chân thình thịch.

– Thưa cô. Tôi đây.

Nữ tỳ đứng chận ngay cửa. Cô Huôi hỏi:

– Ai đó?

– Dạ. A Chúa! Xong rồi.

Cô Huôi đứng dậy, chậm rãi mở cửa. Hại tiếng ‘‘xong rồi’’ không làm cho cô quá mừng. A Chúa nói:

– Tụi tôi đưa cậu ta tới miệng hố. Ngày xưa, cậu Điền chết tại đó…

– Ta hiểu rồi.

A Chúa nói một hơi:

– Cậu Cẩu ra lịnh cho bọn tôi xây thành đắp lũy. Tụi tôi đứng bao vây chung quanh để hạch tội. Hai thằng hộ vệ chạy trốn mất. Thiệt là cười ra nước mắt. Cậu nổi giận, đòi xử tử bọn tôi.

Bọn tôi bắt buộc cậu ta quỳ xuống. Cậu ta khóc như đứa con nít rồi đòi uống thuốc độc. Cậu ta hứa xây cất hai ba kiểng chùa. Nhưng, tụi tôi ra tay, quăng xuống hố.

Nhánh cây gãy nghe răng rắc, vậy thôi. Chắc cái hố đó sâu lắm, không nghe tiếng dội. Xác cậu Cẩu đụng đáy hang, chắc dội lên nghe tiếng động chớ.

Cô Huôi nói:

– Cám ơn A Chúa.

A Chúa hỏi:

– Bây giờ, chúng tôi mời cô lại đây, cô là người hiền lành.

Cô Huôi nghiêm nét mặt

– Để ta đi. Ta đi xa lắm… Đừng ngăn cản ta. Ta đi tu.

Mười Hấu muốn đầu hàng. Chỉ có đầu hàng thì ông ta mới sống được. Quả thật người Lang Sa quá khôn ngoan chưa chi mà họ đã lường gạt ông một mẻ khá tủi nhục.

Tiếng súng nổ như còn vang rền trong tai. Ông quá sợ sệt đứng trước nhà trong khi bọn hộ vê chạy tán loạn.

 Ông đốt đuốc, chạy nhanh về nhà cậu Cẩu, với niềm hy vọng là người Lang Sa cứu sống. Ông quát to:

– Hộ vệ đâu?

Vài tên hộ vệ nói mỉa mai:

– Đi đâu bây giờ. Tụi nó có súng trong tay. Mình đi tay không tới đó để nạp mạng sao chớ!

Mười Hấu không che dấu sự thật:

– Tránh voi không xấu mặt nào? Mình cứ trá hàng để ngày nào đó, mình ‘‘phục quốc’’!

– Thôi, tụi tôi sợ lắm. Đầu hàng hay không đầu hàng thì cũng làm tôi tớ thiên hạ, ích lợi gì.

Mười Hấu muốn trên núi nhưng ông ta còn luyến tiếc bao nhiêu vàng bạc mà cậu Cẩu và mẹ cậu ta đang gìn giữ… Ông ta chửi rủa:

– Tao cho tụi bây biết trước. Nếu không gặp người Lang Sa để đầu hàng một lượt với tao thì tụi bây… sẽ là kẻ thù của tao. Tao đi, tụi bây ở lại là làm phản. Chết đừng kêu than!

Đến trước cửa, Mười Hấu quỳ xuống; Từ Thiện đứng kế bên. Nhìn vào trong, Mười Hấu hơi yên tâm vì đội Cần đang đứng gần cô Ngó. Cậu Cẩu chắc trốn thoát rồi.

Ông Mười nói:

– Xin quan lớn tha tội.

Quan một Ăn Sa đáp

– Vô trông nhà! Đưa hai tay lên…. Còn đứa nào đi theo mầy không?

– Dạ tụi nó trốn rồi.

– Vô trong nhà, đứng sát vách. Hễ cự quậy là bắn tại trận.

Tư Thiện không thèm nhìn gương mặt hèn hạ của Mười Hấu. Ông ta đi theo quan một Ăn Sa. Quan một đến trước cổng, ngắm nghía giòng nước chảy lờ đờ ra phía biển.

Vạc ăn sương kêu oang oác. Bên kia bờ rạch, vài đốm lửa cháy bập bùng, thật xa. Có lẽ đó là bọn người chạy loạn, về phía núi Đất.

Quan một hỏi:

– Xong rồi. Sáng mai ta về. Ta nói rằng không thể thương thuyết được. Đáng lý ra, theo lời quan trưởng đồn Kiên giang thì thằng Cẩu được phong chức cai tổng. Nhưng nó chạy trốn. Nó là đứa con nít. Ta muốn giao chức ấy cho…

Tư Thiện nói nhanh:

– Cho Mười Hấu! Nó đầu hàng, nó làm việc đắc lực…

Quan một đáp:

– Không được! Ta thấy rõ gương mặt nó rồi! Ngu dốt hèn hạ. Thà rằng ta chọn người khác.

– Quan lớn chọn ai?

Quan một Ăn Sa vịn vai Tư Thiện:

– Đội Cần thì về chợ rồi đi qua tỉnh khác. Nó là đội mã tà, còn ở trong cơ binh. Ta chọn chú!

Nghe qua Tư Thiện, dàu dàu nét mặt:

– Bẩm quan lớn, tôi không có tài. Hơn nữa, đây là vùng đồi núi âm u, dân chúng sống rảị rác, khó thâu huê lợi. Sớm muộn gì, tôi cũng bị giết.

Quan một đáp:

– Bởi vậy ta ra lịnh cho chú mầy giết Mười Hấu. Thằng đó hèn hạ quá. Thà rằngg nó chống cự với ta, ta bắt làm tù binh rồi ta tha tội. Nó là đứa bất tài. Cứ giết Mười Hấu.

– Giết lúc nầy?

– Ngày mai, ngày mốt, chú mầy giết nó. Sáng mai lính mã tà theo ta xuống tàu. Ta để cho chú mầy một cây súng. Chú mầy bắt buộc thằng Mười Hấu điểm chỉ nơi thằng Cẩu trốn lánh. A! Còn nữa, ta nghe rằng…

Tư Thiện nín thở, đoán điều gì không may:

– Bẩm quan.

– Nghe nói ở xứ này có bà chúa Hòn đẹp lắm. Bà ta đâu rồi?

– Dạ… tôi không biết. Nhưng theo tôi biết thì bà chúa này tu đạo Phật.

– Chú mày làm chức cai tổng, nếu cưới bà chúa đó làm vợ thì nhứt định là dân chúng phục tùng.

– Dạ, chuyện đó hơi khó.

Quan một Ăn Sa ra lịnh.

– Vô nhà theo dõi Mười Hấu bắt buộc nó phải nạp mạng thằng Cẩu. Ta đi ngủ, còn lo chuyện khác.

Nói xong, quan một Ăn Sa và bọn lính mã tà rút lui về ngôi nhà của Mười Hấu, nơi mà Mười Hấu bao vây lúc nãy..

Đội Cần ra sân với một gói khá nặng. Cô Ngó lau nước mắt..

– Tội nghiệp mà ông!

Đội Cần đáp:

– Nếu đêm nay, cô chịu nói chuyện vui với tôi thì gói này là của cô. Cô là vàng ngọc qúy giá gấp trăm ngàn lần gói này. Thôi! Khóc làm gì! Mấy năm rồi cô ngồi một mình. Tôi không đẹp trai bằng ông chúa hồi xưa sao chớ?

 Cô Ngó theo chân đội Cần.

Mười Hấu vẫn đứng sát vách, chờ lịnh. Quan một Ăn Sa bước vào trao cây súng cho Tư Thiện.

– Chú điều khiển cho Mười Hấu đi kiếm thằng Cẩu, sau đó ta ban cho mề đay và chức vụ lớn. Nghe chưa!

Mười Hấu lại quỳ xuống:

– Xin quan lớn thương tôi.

– Ừ! Đem thằng Cẩu về chợ Rạch giá cho ta thấy mặt. Ta hứa để cho nó sống. Bây giờ, phải nghe lời Tư Thiện.

Căn nhà trở nên vắng vẻ lạ thường. Tư Thiện đóng cửa lại rồi nói gắt:

– Mười Hấu! Nằm đó mà ngủ. Đừng chạy trốn.

Suốt đêm, Tư Thiện không ngủ được.

Hình bóng cô Huôi cứ chập chờn trước mắt. Giờ nàỵ, cô ở đâu? Đáng lý ra, cô đã về hòn Đất, ở bên cạnh cha, gần ao sen và bụi quỳnh hoa… không bao giờ trổ hoa nữa. Nhưng cậu Cẩu chạy theo cô với hai tên hộ vệ. Như vậy là cô hiện nay đang ở núi Mo So, như lời cô căn dặn trước.

Để được yên tâm, Tư Thiện ra lịnh cho Mười Hấu nằm trong nhà.

Tư Thiện đóng cửa lại, ngủ ngoài hiên sau khi hăm dọa:

– Lính mã tà canh chừng suốt đêm. Đừng ra ngoài mà mang họa.

Mười Hấu năn nỉ:

–  Ông Tư nên thương tôi. Hồi nào tới giờ, tôi đâu có chơi xấu với ông. Và biết ông là dọ thám của Lang Sa nên tôi đối xử tử tế. Tôi muốn giữ tài sản chớ tôi có chống cự với người Lang Sa hồi nào đâu?

Tư Thiện đáp:

– Tôi muốn giúp đỡ ông. Nếu là người có tâm địa ác độc, tôi kêu ông bằng thằng nầy thằng kia. Dầu sao đi nữa ông cũng nên tìm cậu Cẩu và cô Huôi. Chắc họ về núi Mo So để lánh nạn. Tôi chỉ lo cho cậu Cẩu, tánh tình còn nông nổi. Quan một Ăn Sa bắt buộc ông phải đem cậu Cẩu ra trình diện với nhà nước Lang Sa. Họ đề phòng trường hợp cậu ta dậy giặc.

– Vậy tôi đi bây giờ! Nó là cháu ngoại tôi, tôi nói thì nó tin lời.  Dân ở núi Mo So là tá điền ngày xưa của tôi. Tôi hứa giúp người Lang Sa. Con gái tôi đi theo thầy đội. Nó mang theo một gói vàng bạc. Ông nghĩ thế nào? Nếu ông ưng nó, cưới nó làm vợ thì tôi hứa chia cho ông một nửa.

Từ Thiện bĩu môi. Chính ông cũng muốn đi sớm để bảo vệ cô Huôi. Nếu cậu Cẩu làm loạn, tánh mạng cô có thể bị nguy ngập.

Dân ở miền biển hòn Đất đã trải qua những giờ phút hãi hùng. Lính mã tà đốt phá dãy nhà sát mé biển. Quan một Ăn sa ra lịnh bắn giết năm sáu con bò tơ rồi bảo dân chúng khiêng mấy con thịt ấy xuống ghe, chở ra tận mấy chiếc tàu sắt.

Ai nấy đều buồn tủi. Giặc Lang Sa đốt phá miễu bà chúa Xứ và cái cốc của ông đạo Đất. Ông Đạo đi vắng, hôm xảy ra biến cố. Sau một đêm neo tàu gần bờ, quân Lang Sa lần lần di chuyển về phía Bắc. Dân chài lưới đoán chừng rằng quân thù ra đảo Phú Quốc.

Cuộc sống lần lần trở lại bình thường.

Cô Huôi về nhà cha, ăn mặc quần áo vải bố như mấy người nông phu khác. Dân trong xóm đến thăm viếng mừng rỡ vô cùng vì cô thoát nạn. Họ không quên hỏi thăm về số phận Mười Hấu, cô Ngó và cậu Cẩu.

Cô Huôi trả lời:

– Cám ơn bà con. Nhờ tôi ăn ở hiền lành, biết kềm chế tánh tham nên tai qua nạn khỏi. Cô Ngó chắc là đi chợ Rạch Giá. Bà con thấy cô xuống tàu không? Con người ai cũng có sở thích riêng. Có lẽ cô Ngó muốn làm ăn buôn bán. Còn cậu Cẩu thì tôi không thấy, từ mấy ngày nay. Về đây sống như vầy, nghĩ mình thảnh thơi hơn lúc ở Hòn Chông.

Một buổi sáng, vừa thức dậy, cô nghe cha gọi:

– Con! Người Lang Sa đến! Sau lái ghe treo cờ tam sắc. Liệu xảy ra chuyện rắc rối không?

Cô Huôi đứng nép sau khung cửa, nhận ra Tư Thiện và hai tên hộ vệ khá quen thuộc, ông Tư Thính cầm cây chổi quét bụi trên ghế như tỏ ra kính trọng kẻ đang thắng thế. Thoạt nhìn qua, cô Huôi hơi buồn. Tư Thiện đến đây, không phải để bắt bớ cô nhưng là để van nài tình yêu. Thật khó

Tư Thính chắp tay chào. Tư Thiện cúi đầu đáp lễ. Thay vì vào nhà, Tư Thiện chỉ yêu cầu được ngồi trên chiếc ghế nhỏ, ở trước sân, bên bụi quỳnh hoa để nói chuyện riêng với cô Huôi.

Cô Huôi sẵn sàng chấp nhận điều ấy.

Mấy nhánh quỳnh hoa vươn lên xanh tươi, cao bằng cái bàn thông thiên. Vài chiếc lá rụng. Chim se sẽ kêu ríu rít, từ mái nhà nhảy xuống đất. Mây trắng nằm yên ở chân trời. Bằng một giọng cảm động, Tư Thiện nói:

– Thưa cô, những gì cô ao ước đều có sẵn.

Cô Huôi trợn mắt:

– Ông nói sao? Tôi đâu ao ước gì nữa. Giấc chiêm bao đã qua rồi. Tôi không muốn sống trong giấc chiêm bao thứ nhì.

Tư Thiện đáp:

– Cô muốn giết Mười Hấu vì hắn là kẻ gian ác. Tôi bắt sống Mười Hấu rồi. Chỉ chờ cô ra lịnh và cô chứng kiến ngày trừng phạt ấy?

Ông ta đầu hàng rồi đến núi Mo So để trả thù dân làng. Ông ta cho rằng dân làng giết cậu Cẩu trên núi. Bởi vậy tôi trói khi ông ta sửa soạn đốt mấy dãy nhà ở chân núi. Lạ thiệt. Ông ta như khùng điên, đòi nhịn ăn mà chết nhưng lát sau thì đòi ăn. Đáng lý ra, tôi giữ ông ta để xài nhưng đó là người phản phúc, có nhiều tội.

Cô Huôi gật đầu:

– Cảm ơn ông. Mấy ngày trước, tôi muốn được thấy Mười Hấu chết, lúc người Lang Sa kéo đến. Nhưng bây giờ thì khác. Tôi muốn ở đây thôi.

– Cô không về Hòn Chông? Người Lang Sa phong cho tôi chức cai tổng. Tôi muốn…

– Như vậy tủi nhục lắm.

–  Trời! Có gì tủi nhục. Ai khinh rẻ cô?

– Nhưng dân làng tủi nhục. Dầu sao đi nữa, tôi cũng là người mà thiên hạ trông theo. Ông xem bụi quỳnh hoa kia! Người ta quý nó vì nó trong sạch.

Tư Thiện hỏi:

– Cô…cô quên tôi sao?

– Chúc ông về bình yên. Thà rằng quỳnh hoa không nở nữa, còn hơn là trở thành loài hoa tầm thường. Thỉnh thoảng, có nghĩ tình, ông ghé nhà, thăm tôi…

Con người có số

hoidonghuongquangtri.com

Đoàn Dự

Posted on April 2, 2021 by hoangdung

Post by Sơn râu 30 May 2025

Tên hắn là Khải. Hắn học với tôi năm lớp 11 tại trường Tân Phương, Gò Vấp. Nhà hắn ở trại định cư Cái Sắn nằm giữa hai tỉnh Long Xuyên và Rạch Giá. Hình như bố mẹ hắn có quen với một ông trùm họ đạo ngày trước cũng ở Cái Sắn, sau lên Sài Gòn, trông coi giúp Cha sở ở nhà thờ Ngã năm Bình Hòa, Gia Định. Rồi hắn lên Sài Gòn, nhờ ông trùm đó xin với Cha cho ở nhờ ngoài hành lang nhà thờ, làm người kéo chuông, trông coi, quét dọn… để có chỗ ăn ở, đi học. Cha thấy hắn ngoan ngoãn, lễ phép, nhất là trước đây lại cùng họ đạo với ông trùm nên rất vui lòng.

Lúc ấy, tại Xóm Gà Gia Định có trường Tân Phương của ông Phan Ngô mới mở, dạy tới lớp Đệ Nhị (tức lớp 11 bây giờ). Cha nói với ông Phan Ngô xin cho hắn học miễn phí để chuẩn bị đi thi Tú tài I. Phần vì trường mới mở đang cần học sinh, phần vì nể lời Cha nên ông Phan Ngô cũng đồng ý. Ngoài ra, Cha thấy hắn ham học ngoại ngữ, giỏi tiếng Anh nên mỗi tháng cho tiền hắn học thêm Anh văn cao cấp ở Hội Việt-Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi, Tân Định. Như vậy, ngoài việc học ở trường Tân Phương vào các buổi sáng, cứ đến buổi chiều, mỗi tuần ba lần, hắn cuốc bộ từ Gia Định lên Tân Định để học tại Hội Việt-Mỹ. Cha cũng thích ngoại ngữ, buổi tối hắn thường chỉ dẫn thêm tiếng Anh cho Cha.

Trường hợp tôi thì lại khác. Nhà tôi cũng nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt nhưng tôi thi đậu hạng nhì vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi nên được học bổng, mỗi tháng 300 đồng, tương đương với một chỉ vàng lúc bấy giờ, việc sách vở, học hành đỡ phải lo lắng. Ba năm sau, khi bắt đầu lên đến lớp Đệ Ngũ (lớp  tôi và hai bạn khác trong lớp rủ nhau “học nhảy”: Trường Nguyễn Trãi lúc đó chưa có cơ sở nên phải học nhờ tại trường Tiểu học Đa Kao ở số 94 đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tất cả các lớp đều học buổi chiều, còn buổi sáng thì học sinh trường Đa Kao học.

Buổi sáng được nghỉ, ba đứa chúng tôi đóng học phí học lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường Cộng Hòa của giáo sư Phạm Văn Vận ở đường Pasteur để thi Trung học Phổ thông, nếu đậu sẽ sớm được một năm, cái đó kêu là “học nhảy”. Nhà nghèo, nên dù học thêm lớp Đệ Tứ trường tư nhưng tôi vẫn tiếp tục học lớp Đệ Ngũ trường công để được học bổng và đề phòng nếu rớt Trung học thì vẫn có chân trong trường công.

Cuối năm ấy, cả ba đứa chúng tôi đều đậu Trung học, rồi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn, tức lại trở lại trường công. Tôi đậu hạng 5 trong số 52 học sinh thi đậu, hơi thấp, không được học bổng vì Bộ Quốc gia Giáo dục chỉ cho mỗi lớp có 3 người, từ hạng 1 tới hạng 3. Hai anh bạn yên tâm học lớp Đệ Tam tại Hồ Ngọc Cẩn, còn tôi, nhảy được một năm nhưng mất học bổng, tôi ân hận lắm.

Đúng lúc ấy ông Phan Ngô mở trường Tân Phương có tới lớp Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ – thời đó trường tư chưa trường nào có lớp Đệ Nhất, học xong lớp Đệ Nhị, đậu xong Tú tài I được quyền xin vào Đệ Nhất trường công, bắt buộc trường công phải nhận, thời ông Diệm là như thế, rất ưu tiên cho học sinh).

Ông Phan Ngô là hiệu trưởng trường Tân Thạnh ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định. Người em con chú con bác với ông là ông Phan Thuyết làm giám đốc. Trường dạy giỏi, nổi tiếng nên rất đông học sinh. Nhưng không hiểu hai anh em có chuyện xích mích gì đó nên bán trường, ông Phan Thuyết về mở trường Đạt Đức ở Phú Nhuận, còn ông Phan Ngô mở trường Tân Phương ở Gò Vấp.

Vào học lớp Đệ Nhị trường Tân Phương, tôi quen với hắn rồi dần dần hai đứa trở thành thân thiết với nhau. Tôi chưa từng thấy một người bạn nào nghèo như vậy. Ngày nào đi học hắn cũng mặc một bộ đồ duy nhất: chiếc áo sơ mi cũ màu cháo lòng có hai miếng vá, một miếng ở lưng, một miếng ở vai; chiếc quần ka ki cũng cũ, vá một miếng lớn ở mông. Có lẽ hắn tự vá lấy bằng chỉ đen, đường chỉ vụng về trông thô kệch chẳng ra sao cả. Chân hắn đi đôi dép Nhật mòn vẹt, sứt mẻ, một quai màu xanh, một quai màu đỏ, cột bằng dây kẽm. Có lần tôi hỏi sao hai quai dép lại bên xanh bên đỏ? Hắn cười, hơi mắc cỡ: “Tại mình nhặt được trong thùng rác ấy mà. Nó bị đứt, họ vứt đi, mình kiếm được hai cái quai cột vô đi tạm chứ chẳng lẽ đi học lại đi chân không”.

Hắn nghèo, cả lớp ai cũng biết nhưng ai cũng thông cảm, chẳng ai chê cười. Nhất là các chị, nhiều khi giấm giúi cho hắn tiền uống nước. Ngày tết, trường tổ chức cắm trại, thi đấu bóng chuyền và văn nghệ ở trong sân, mỗi lớp có một cái quầy nho nhỏ cung cấp bánh mì, kẹo bánh và nước ngọt cho lớp của mình. Mỗi bạn trong lớp đóng mỗi người 10 đồng, hắn không có tiền, định không tham dự, các chị bàn nhau không bắt hắn đóng.

Cuối năm ấy, lớp chúng tôi có 51 người, thi đậu ngay trong khóa 1 là 13 người, trong đó có tôi và hắn. Tỉ lệ như vậy là khá cao, bởi vì thi tú tài thời đó rất khó, trường tư giỏi lắm cũng chỉ đậu khoảng 10% là cùng, đằng này đậu tới hơn 25%. Thầy Phan Ngô mừng lắm, thầy nói: “Trường Tân Phương là nhứt, không khác gì trường Tân Thịnh ngày trước”.

Sau khi đậu xong Tú tài phần I, các bạn người Nam thì đa số nộp đơn vào học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Petrus Ký, còn tôi và hắn là người Bắc nên nộp đơn vào trường Chu Văn An. Tôi từ trường công lại trở lại trường công, “nhảy” được hai năm. Còn hắn, có sự tiến bộ: ông trùm nhà thờ Ngã năm Bình Hòa cho hắn mượn một chiếc xe đạp cũ. Hội Phụ huynh học sinh Chu Văn An cứu xét, thấy hắn nghèo, cho hai kỳ học bổng, mỗi kỳ 500 đồng và một bộ quần áo may sẵn, hơi ngắn.

Cuối năm ấy, đậu xong Tú tài phần II, tôi thi vào Đại học Sư Phạm còn hắn thì thi vào trường Kỹ sư Phú Thọ nhưng rớt. “Cậu ngốc lắm, giá thi Sư Phạm với tớ có lẽ đã đậu, thi Kỹ sư Phú Thọ khó muốn chết, tớ không dám nghĩ đến”. “Tại tớ thi ngành Điện nên mới rớt chứ giá thi Công chánh hay Công nghệ thì đỡ hơn”. Hắn rớt, đáng lẽ bị kêu đi sĩ quan Thủ Đức nhưng có người anh cũng đã ở trong quân đội nên được hoãn. “Tớ phải về Cái Sắn làm giấy tờ nộp hồ sơ hoãn dịch cậu ạ”. “Hoãn thì được rồi nhưng làm sao có tiền đi xe?”. “Cha có cho. Cha dặn làm giấy tờ xong, nhớ lên xem người ta có cho thi vào ngành nào thì thi chứ không lại lỡ mất một năm học”.

Hôm lên, hắn đến nhà tôi chơi và hỏi những ngày hắn về Cái Sắn, ở Sài Gòn họ có cho thi gì không. Tôi nói Tổng nha Cảnh sát ra thông cáo cho thi lấy 50 người vào học khóa Biên tập viên cảnh sát, học bổng mỗi tháng cũng 1,500 đồng giống như Đại học Sư phạm và Quốc gia Hành chánh. “Biên tập viên cảnh sát là làm gì?”. “Tớ không rõ, họ nói cũng học 3 năm, ra làm phó quận cảnh sát”. “Được đấy, có lẽ tớ sẽ nộp đơn thi Biên tập viên cảnh sát”. Thời chúng tôi, con nhà nghèo, thi vào ngành nào thì phải nhắm có học bổng chứ nếu học những trường không có học bổng như Y khoa, Dược khoa, Luật, Văn khoa, Khoa học v.v…, tuy không phải thi tuyển nhưng không có tiền ăn học suốt bao nhiêu năm.

Giữa lúc hắn đang lo làm đơn thi Biên tập viên cảnh sát thì có tin Bộ Quốc gia Giáo dục ra thông cáo, Cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO cho hai học bổng, một thi tiếng Anh, du học tại Mỹ, một thi tiếng Pháp, du học tại Pháp hay Thuỵ Sĩ gì đó, tất cả mọi khoản đều do Liên Hiệp Quốc đài thọ, học tiến sĩ kinh tế, sau này sẽ ra làm cho Liên Hiệp Quốc, giúp đỡ các nước nghèo. “Cậu đã biết tin đó chưa?”. “Chưa, tớ không biết gì hết, nhà thờ đâu có radio mà nghe. Cậu có nộp đơn không?”. “Không, Tú tài II tớ đậu Bình Thứ chứ đâu phải hạng Bình như cậu.

Họ bắt phải từ hạng Bình trở lên mới được thi”.

Thời chúng tôi, thi tú tài I hay tú tài II, kết quả thi đậu có 5 hạng gọi theo tiếng Pháp: đậu thường gọi là hạng Thứ (Passable); trên Thứ là Bình Thứ (Assez Bien); trên Bình Thứ là Bình (Bien); trên Bình là Ưu (Honorable); rồi đến Tối Ưu (Très Honorable) là hết mức, môn nào cũng phải đạt tối đa khoảng 20 điểm. Hắn đậu Bình, cao hơn tôi một bậc.

“Nộp thì nộp vậy thôi chứ cả Anh văn lẫn Pháp văn mới lấy có hai người, khó lắm, chắc tớ không đậu được đâu”. “Biết đâu đấy, cứ nộp đơn đi, may mà giờ vinh quang đã điểm thì bọn cắc ké nghèo mạt rệp như tụi mình cũng ngon lành ra phết”. “Vậy tớ nộp đơn cả bên UNESCO lẫn bên Biên tập viên cho chắc ăn”.

Hắn nộp đơn xong, khoảng hai tháng sau thì dự cuộc thi của UNESCO. Hắn kể rằng, đợt thứ nhất, hơn 200 người cả Anh văn lẫn Pháp văn, thi viết, loại bớt còn 50 người. Đợt thứ nhì, 50 người lại loại lần nữa, còn lại 10 người trong đó có hắn. Rồi 5 người trong nhóm Anh văn bọn hắn vào “sát hạch” tại tòa đại sứ Mỹ, còn 5 người nhóm Pháp văn thì sát hạch tại tòa đại sứ Pháp hay Thuỵ Sĩ, hắn không để ý.

Hắn kể, giám khảo nhóm Anh văn của hắn gồm ba giáo sư, một ông người Mỹ, một ông người Canada, một ông người Úc hay Tân Tây Lan gì đó hắn không biết rõ, tất cả đều nói tiếng Anh.

Họ thay đổi nhau quay hắn về tình hình kinh tế các nước trên thế giới, về vai trò của một nhà kinh tế học đối với các nước nghèo như ở châu Phi chẳng hạn.

Cuối cùng, vị giáo sư người Úc hay Tân Tây Lan hỏi hắn quê ở đâu, cha mẹ làm nghề gì, từ nhỏ tới lớn sống như thế nào…, hắn nói thật rằng quê hắn ở Nam Định, di cư vào Nam năm 1954, ở trại định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Long Xuyên, bố mẹ hắn rất nghèo, làm nghề trồng cói và dệt chiếu ở Cái Sắn, còn hắn thì kéo chuông và hầu hạ trong Nhà thờ Bình Hòa để có chỗ ăn học.

Tất cả ba vị giám khảo đều trợn tròn mắt, không ngờ một học sinh được vào chung kết của một cuộc thi quan trọng như vậy mà gia đình lại nghèo đến thế. “Dám cậu thắng mấy người kia nhờ cái nghèo của cậu lắm ạ! Người Tây phương họ có cái nhìn khác lắm, sẵn sàng ưu tiên cho người nghèo nếu thấy thực sự đó là người giỏi chứ không khinh bỉ người nghèo như bên Việt Nam mình”.

“Tớ cũng hy vọng như vậy. Trông nét mặt ba vị giám khảo thấy họ có vẻ có cảm tình với tớ lắm. Nhưng thôi, kệ, muốn đến đâu thì đến. Tớ cam đoan với cậu thi Biên tập viên cảnh sát tớ đậu là cái chắc. Làm phó quận trưởng cảnh sát cũng bảnh ra phết!”.

Trong khi tâm sự, hắn kể với tôi rằng bữa đi mua giấy tờ lập hồ sơ thi du học, hắn mua ở tiệm sách Thanh Trúc gần Ngã tư Phú Nhuận. Cô con gái bà chủ cỡ chừng 15 – 16 tuổi, xinh lắm và rất tốt bụng.

Thấy hắn vét túi mà vẫn không đủ tiền trả, cô ta cười rồi cho luôn, không tính một đồng nào cả.

“Cô bé cỡ 15 – 16 tuổi, vậy là cô em. Cô chị lớn hơn, khoảng 17 – 18 tuổi, mặt tròn, cũng đẹp nhưng không xinh bằng cô em”.

“Ủa, thế cậu cũng biết tiệm đó?”.

“Biết chứ, tớ là dân Phú Nhuận mà, vẫn mua sách ở tiệm đó”.

Tôi kể cho hắn nghe bà mẹ còn tốt hơn nữa. Hồi tôi được phần thưởng cuối năm ở trường Tân Phương, trong số các cuốn sách lãnh thưởng có cuốn Triết Học Nhập Môn của tác giả gì tôi quên mất tên.

Cuốn sách đó nghiên cứu về triết học nói chung chứ không phải sách lớp Đệ Nhất dạy về triết học để đi thi tú tài II. Tôi đem đến tiệm Thanh Trúc nhờ bà chủ đổi cho cuốn Luận Lý Học của tác giả Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa, giáo sư triết trường Chu Văn An.

Bà coi qua cuốn sách của tôi rồi cười: “Sách người ta tặng cho các trường để phát phần thưởng thường là sách khó bán nên họ mới tặng. Tiệm tôi không bán loại này. Nhưng thôi, cậu được phần thưởng như vậy là quý, muốn đổi thì tôi cũng đổi để cậu may mắn, năm tới thi đậu. Một vài cuốn sách chẳng đáng bao nhiêu…”.

Cuốn Luận Lý Học của giáo sư Trần Bích Lan đắt hơn cuốn Triết Học Nhập Môn một chút nhưng bà chủ tiệm cũng cho luôn, không bắt trả tiền chênh lệch.

Tôi kết luận rằng bà mẹ tốt bụng như thế nên các cô con gái cũng tốt là một chuyện thường.

Hắn thở dài, nét mặt hơi buồn: “Nhà họ giàu, tiệm sách có tới mấy tầng lầu ở ngoài mặt đường, còn mình thì nghèo rớt mồng tơi không đáng xách dép cho họ. Tớ nói thật, nếu tớ được học bổng đi du học bên Mỹ kỳ này, đậu xong tiến sĩ tớ sẽ trở về, quỳ xuống dưới chân cô ấy, nói với cô ấy rằng nhờ cô cho giấy tờ lập hồ sơ nên tôi mới được du học, không bao giờ tôi dám quên ơn cô…”.

Tôi bật cười: “Cậu ngốc thấy mẹ, nếu đậu thì đến báo tin từ trước khi đi cho người ta còn chờ đợi chứ đậu xong tiến sĩ, hàng chục năm trời, họ lấy chồng mất tiêu rồi thì lúc ấy có ngồi mà khóc!”.

“Ừ há, mình cũng ngu thật. Nhưng biết họ có đợi hay không?”.

“Tại sao lại không? Vấn đề là cậu có thắng được mấy người kia hay không chứ nhà giàu thì họ khôn lắm, họ dư biết giá trị của một thằng học sinh nghèo được học bổng du học bên Mỹ”.

Và tôi nói thêm: “Ngoài ra, sang đấy ăn ở ra sao, học hành thế nào cậu luôn luôn viết thư về cho em chứ đâu phải như Kinh Kha sang Tần, một đi là không trở lại”. “Ờ há, vậy mà tớ không nghĩ ra, tớ phải ghi địa chỉ tiệm sách nhà em mới được”.

Thế rồi hắn đậu thật, hơn 200 người, lấy có 2 người, khó chứ không phải dễ. Tội nghiệp, trước khi đi hắn vẫn còn nghèo bởi vì sang bên ấy, vào học trường nào rồi người ta mới trả lại tiền vé máy bay và bắt đầu cho lãnh học bổng chứ không phải họ đưa trước.

Mọi thứ chi phí như mua sắm va-li, giày dép, quần áo mặc trong mùa lạnh, kể cả tiền vé máy bay v.v… đều là của Cha (LM) cho. Cha còn nói hôm hắn đi, Cha bận không đưa tiễn được nhưng sẽ cho tài xế chở hắn ra phi trường.

“Rồi ông cụ bà cụ cậu ở dưới Cái Sắn có lên không?”.

Hắn lắc đầu, vẻ mặt buồn buồn:

“Không, gia đình tớ nghèo lắm, không có bà con anh em gì ở trên này. Bố mẹ tớ nói lên đây vừa tốn tiền lại vừa làm phiền Cha, không có chỗ ở chẳng lẽ lại ở nhờ Cha trong nhà thờ”.

Tôi tưởng tượng ra cảnh hôm hắn đi, chắc chỉ có mình tôi và người tài xế của Cha đưa hắn ra phi trường. Nhưng ra đến đấy người tài xế sẽ quay trở lại chứ đâu có tiễn làm gì, chung quy chỉ có mình tôi mà thôi.

– “Cậu đã đến từ biệt cô bé chưa?”.

– “Có, tớ có đến nhưng cô ấy mắc đi học, chỉ gặp bà mẹ. Tớ kể cho bà ấy nghe chuyện cô bé cho giấy tờ làm đơn, nhờ đó tớ mới được du học, tớ đến chào từ biệt và gửi lời nhờ bà cám ơn cô bé giùm”. “Bà ấy có nói gì không?”. “Có, bà ấy xuýt xoa, thế ạ, quý hóa quá nhỉ, tôi không biết gì hết chứ nếu biết tôi đã mời cậu đến nhà dùng bữa cơm thân mật.

– Bao giờ cậu đi? –

– Dạ, thưa sáng mai. –

– Sáng mai, sớm vậy sao? Vậy là không kịp rồi, cậu không đến đây từ trước.

Bà ấy tiếc lắm. Tớ cám ơn bà ấy rồi đi…”. “Đó, cậu thấy chưa, tớ đã nói nhà giàu, nhất là một tiệm sách quen với chữ nghĩa, họ không dại gì mà không biết giá trị của con người”, và tôi giục:

– “Cậu đến nữa đi, phải gặp cô bé bằng được và dặn cô ấy chờ đợi, học xong cậu sẽ trở về”. Hắn lắc đầu:

– “Không dám đâu, đến sợ lại gặp bà ấy nữa tớ mắc cỡ lắm. Dù sao cô ấy cũng hãy còn nhỏ…”.

– “Trời đất ơi, 15-16 tuổi mà nhỏ cái gì! Sang đấy cậu phải học cử nhân, cao học, tiến sĩ, ít nhất cũng 8 năm nữa. Lúc ấy cậu khoảng 28, cô bé 24, chả nhỏ một tí nào cả”. Hắn khẽ thở dài:

– “Nói thật với cậu, từ bé tới lớn tớ khổ sở quá nên không dám nghĩ tới chuyện cao xa. Trước khi ra đi, tớ chỉ mong được nhìn thấy cô ấy một lần, được nghe thấy cô ấy nói một tiếng là sung sướng lắm rồi. Sang đấy tớ sẽ cố gắng học hành để đền đáp ơn nghĩa cô ấy…”.

Thật kỳ cục, có đáng gì đâu mấy tờ sơ yếu lý lịch, mấy tờ mẫu đơn tiếng Việt phải dịch sang tiếng Anh để nộp cho cơ quan UNESCO mà tên bạn tôi lại đặt nặng vấn đề đến thế?

Nếu cô bé không xinh xắn, tính tình không vui vẻ và không có lòng thương người thì hắn có mê cô ta đến mức đó hay không?

Tưởng tượng tới cảnh hắn lên máy bay chẳng có ai đưa tiễn, tôi nghĩ ra cách là ngay buổi chiều hôm đó đến tiệm sách kể hết mọi chuyện với bà mẹ. Có cả cô bé cũng có ở đấy. Nghe tôi kể, cô chỉ cúi mặt mỉm cười, hai gò má ửng hồng còn bà mẹ thì rất chú ý.

Cuối cùng, bà cười dễ dãi: “Hồi sáng cậu ấy có đến đây, tôi có biết mọi chuyện. Ý cậu là muốn nhờ em Trúc đi tiễn cậu ấy giùm phải không?”.

“Vâng ạ”.

“Mấy giờ thì cậu ấy lên máy bay?”.

“Dạ thưa 11 giờ 30, nhưng phải đến sớm ít nhất 2 tiếng đồng hồ để nó còn vào làm thủ tục”.

“Có, tôi biết. Sáng mai Chủ nhật em Trúc đi được. Vậy khoảng 8 giờ 30 cậu đến đây đi cả với em cho vui. Chắc có em Thanh cũng đi nữa”.

Tôi đoán Thanh là tên người con gái lớn của bà.

“Dạ, vâng ạ”.

Cô bé vẫn cúi mặt cười, tay cầm cây bút Bic không mở nắp vẽ vẽ bâng quơ trên mặt tủ kính quầy hàng cho đỡ mắc cỡ, chắc cô cũng quên không nhớ mặt hắn.

Sáng hôm sau, tôi đến. Hai cô con gái mặc juýp theo kiểu đơn giản thời đó, cô lớn juýp trắng, cô bé juýp hồng nhưng cũng rất đẹp.

Nhất là cô chị, cô có thoa chút phấn hồng nên lại càng đẹp, tôi nghe đâu đây thoang thoảng mùi thơm của phấn son hay của hương trinh nữ?

Ôi chao, đời đẹp quá, tôi, một thằng sinh viên bắt đầu học năm thứ nhất ĐHSP, nhà nghèo, mẹ làm thợ dệt nhưng đứng bên cô, ngửi mùi hương ngan ngát đó tôi vẫn thấy đời đẹp như thường.

Chắc cô cũng có cảm tình với tôi, thấy trong lúc đợi xe taxi, cô đứng sát bên cạnh tôi. Bà mẹ tiễn ra tận vỉa hè. Bà đưa tiền cho cô lớn: “Đây, tiền đây, nhớ trả tiền cho anh, đừng để anh trả nghe con!”. Cô không cầm, giọng con gái Bắc ngọt như mía lùi: “Con có rồi mẹ!”.

Chúng tôi đến. Hắn đang đứng một mình bên cạnh chiếc va-li hơi cũ, có lẽ của Cha cho mượn và một chiếc túi xách để trên mặt chiếc va-li đó.

Thấy chúng tôi tới, hắn cứ ngớ ra coi bộ hết sức ngạc nhiên. Tôi cười, giới thiệu:

– “Đây là cô Thanh, chị của cô Trúc. Còn đây là cô Trúc, người bạn vẫn nhớ ơn đó. Các cô thân hành ra đây tiễn bạn…”. Hắn không ngờ mình được hân hạnh đó nên lúng túng như gà mắc dây thun, mỉm cười khẽ gật đầu chào. Các cô chào lại. Cô chị nói:

– “Chúng em đến tiễn anh, chúc anh lên đường mạnh giỏi. Thỉnh thoảng anh nhớ viết thư về cho Trúc”.

– “Vâng, cám ơn các cô, thế nào tôi cũng phải viết”.

Tôi cười:

– “Được viết thư cho người đẹp sướng thấy bố rồi lại còn phải viết với không phải viết. Sao nào, nếu học xong tiến sĩ kinh tế, có trở lại thăm cô Trúc không nào?”.

Hắn cười, mặt đỏ bừng, bây giờ tôi mới thấy hắn nói được một câu có thể coi là thông minh:

– “Có chứ, đó là mơ ước lớn nhất trong đời mình, nếu hai cụ nhà cho phép và cô Trúc sẵn sàng chờ đợi”. Cô chị hỏi: “Học tiến sĩ thì mất chừng bao lâu hả anh?”.

Hắn nói: “Khoảng chừng 8 năm, sớm nhất cũng phải 6 năm. Bên Mỹ nếu cố gắng vẫn có cách học vượt thời gian như vậy. Bên mình thường thường là phải 10 năm…”.

Cô chị nói:

– “Lúc ấy Trúc mới 22 hay 24 tuổi, còn sớm chán”.

Tôi cười, nói đùa:

– “Sao, ‘cô bé đẹp’, có đợi được không thì cho biết ý kiến?”.

Cô bé chỉ cúi mặt cười, không nói gì cả. Tôi hỏi gặng quá bắt buộc cô phải trả lời:

– “Dạ được”. “Được thì ngoéo tay đi, hắn là dân Công giáo, đã nói là sẽ giữ lời, có tôi làm chứng!”.

Cô chị cười: “Em cũng làm chứng luôn”.

Mọi người cùng cười, hắn đã bạo dạn nên đưa tay ra ngoéo tay cô bé khiến cô đỏ mặt nhưng cũng ngoéo lại.

Trời đất ơi, phải chi tôi được ngoéo tay cô chị nữa thì đỡ quá! Nhưng nhà tôi nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt, tôi 20 tuổi, còn cô thì khoảng 18 tuổi, kém tôi 2 tuổi, làm sao tôi có điều kiện lấy vợ trong lúc còn đang đi học mặc dầu cô cũng có vẻ quý mến tôi, luôn luôn đứng sát cạnh tôi.

Cuộc tiễn đưa chỉ có thế. Ba năm sau, tôi tốt nghiệp, đi dạy. Thời đó chúng tôi học Đại Học Sư Phạm theo régime 3 năm, các ban khoa học đều phải học bằng tiếng Pháp, thi cử cũng bằng tiếng Pháp. Sau khóa của tôi thì được đổi sang régime 4 năm và đã được chuyển ngữ, học bằng tiếng Việt. Ngoài ra, thời đó các trường trung học đệ nhị cấp dạy tới lớp 12 rất ít, ở các tỉnh lớn mới có, nên tôi đậu hạng 5 mà phải đi xa, Bạc Liêu cách Sài Gòn gần 300 cây số, vài tháng lễ, tết mới về nhà một lần.

Có lẽ cũng đến 5-6 năm, một lần tôi về, thấy trên mặt bàn có tấm thiệp của hắn làm đám cưới với Thanh Trúc. Hai chị em nhà đó có cái lạ là cô em tên Thanh Trúc, cô chị tên Trúc Thanh, ngược lại với nhau.

Phong bì bên ngoài đã có vẻ cũ, bám bụi. Tấm thiệp bên trong đề ngày cưới cách đấy đã hơn hai tháng. “Thằng Khải nó về rồi hở mẹ?”. “Ừ, cậu ấy về, nghe đâu đã đậu tiến sĩ, về làm đám cưới với cô con gái tiệm sách ở gần ngã tư Phú Nhuận. Cả hai cô cậu ấy đến chơi, đem thiệp cưới đến mời anh nhưng tôi nói anh dạy học ở mãi Bạc Liêu, chắc không về kịp. Cậu ấy nói cưới xong sẽ đưa cô ấy sang Mỹ, bao giờ có dịp về sẽ gặp anh sau”. Thời chúng tôi, người Việt ở bên Mỹ rất ít, nên họa hoằn lắm, hễ có ai về Việt Nam cưới vợ thì sau khi cưới xong, đem đi rất dễ chứ không khó khăn, phải làm đủ thứ giấy tờ bảo lãnh mới được đi như bây giờ. Cái thằng đó giỏi thật, lúc nó ra đi thì tôi bắt đầu vào Sư Phạm, học xong 3 năm, đi dạy 6 năm, tức mới 9 năm mà nó đã đậu đạt, đi làm, để dành được tiền về cưới vợ, giỏi thật. Tôi rất phục nó.

Thế rồi tôi được đổi về trường Trung học Dĩ An, Biên Hòa, cách Thủ Đức khoảng 10 cây số.

Năm năm sau, 1975, miền Nam sụp đổ, các giáo viên – giáo sư trung học bây giờ gọi là giáo viên – của 7 trường thuộc hai huyện Dĩ An và Lái Thiêu chúng tôi phải đi cải tạo tại K4 Long Khánh. Người cán bộ giáo dục về tiếp thu các trường thuộc hai huyện đó thấy người ta cách ly các sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát thuộc hai tỉnh Bình Dương và Biên Hòa tại hai trường An Mỹ và Trịnh Hoài Đức, có du kích gác, rồi sẽ đưa đi học tập cải tạo thì bắt các nam giáo viên chúng tôi đi học tập cho… có tinh thần yêu nước vậy thôi. Hơn sáu tháng trời cải tạo tại K4 Long Khánh, tôi suýt bỏ mạng tại đấy. Bởi vì cơ thể tôi ưa lạnh chứ không ưa nóng. Cứ hễ trời nóng là tôi ho rũ rượi, ở nhà thường uống Terpin-Codein, một thứ thuốc rất rẻ do Việt Nam chế tạo. Đi học tập, trong trại không có thuốc men, lại ăn uống kham khổ nên tôi ho liên tục, ban đêm không ngủ được, thân hình gầy xác như con cá mắm.

Sáu tháng sau, các giáo viên được thả về. Sài Gòn buồn thê thảm và nghèo không thể tưởng tượng nổi. Mẹ và em gái tôi nói chuyện người ta đánh tư sản mại bản (nghĩa là tư sản mất gốc), các tiệm lớn ở Phú Nhuận bị tịch thu nhà cửa, hàng hóa, gia đình bị đuổi đi kinh tế mới, tiếng khóc như di.

Còn ở Chợ Lớn, các tiệm người Tàu sợ quá, ném những cây vải còn nguyên cả xấp và các đồ đạc xuống đường, kệ ai muốn nhặt thì nhặt nhưng chẳng ai dám nhặt.

Em tôi kể thêm: “May hồi trước anh Khải về làm đám cưới với cô con gái thứ hai tiệm sách Thanh Trúc rồi đưa cô ấy sang Mỹ chứ không thì bây giờ bị kẹt, tiệm đó bị đánh, muốn cưới cũng chẳng được”.

Tôi ngạc nhiên:

“Sao, tiệm sách Thanh Trúc cũng bị đánh? Người ta bán sách chứ có làm gì đâu mà đánh?”.

“Có, cả nhà may Bảo Toàn cũng bị đánh, tiệm bị tịch thu, nghe đâu người ta đuổi ông bà ấy lên cái gác xép nhỏ tí mãi tuốt tầng ba trên lầu, bây giờ nghèo lắm”.

Bảo Toàn là nhà may lớn nhất Phú Nhuận, trước đây tôi thường may quần áo ở đấy nên cũng khá quen, ông bà Bảo Toàn rất tốt, đối đãi với khách hàng rất niềm nở, ân cần.

“Tiệm sách Thanh Trúc còn một cô con gái lớn nữa tên là Thanh. Cô có nghe nói gì về cô con gái lớn đó không?”.

“Họ nói cô ấy lấy chồng, có bầu, nhà chồng là một tiệm vàng cũng ở gần đấy.

Hôm đánh tư sản, cả hai tiệm bị tịch thâu, cô ấy buồn quá định tự tử nhưng người ta cứu được…”.

Miệng tôi đắng ngắt. Tôi nhớ đến hôm tiễn Khải ra phi trường, có cả cô chị cùng đi, cô thường đứng sát bên cạnh tôi, cái mùi son phấn thơm thơm sang trọng tôi không thể nào quên được.

Rồi chúng tôi được Ty Giáo dục Sông Bé – Dĩ An trước thuộc Biên Hòa, bây giờ thuộc tỉnh Sông Bé – cho đi học tập chính trị hè sau đó cho đi dạy lại. Nghèo lắm. Lương tôi trước 63 ngàn, bây giờ chỉ còn 41 đồng, nghèo không chịu nổi.

Rồi tôi lấy vợ. Nhà tôi cũng dạy cùng trường nhưng môn Anh văn, tốt nghiệp ĐHSP sau tôi 6 năm. Năm ấy tôi 32 tuổi.

Lương của hai vợ chồng cộng lại chưa đầy 80 đồng. Nhà tôi dạy thêm Anh văn buổi tối cho các học sinh gia đình sắp đi vượt biên hoặc được bảo lãnh. Còn tôi, lúc rảnh tôi dịch truyện bán cho các nhà xuất bản ở trên Sài Gòn, buổi tối giữ con cho vợ dạy học. Giáo viên chúng tôi anh nào cũng gầy như cò bợ, quần áo ngày trước mặc vừa, bây giờ rộng thùng thình, áo thì mặc được còn quần cài dây nịt dúm dím, mặc không được.

Một hôm tôi nghĩ ra cách là khi về nhà ở Phú Nhuận, Sài Gòn thì đem hai chiếc quần tây đến tiệm Bảo Toàn, leo lên cái gác xép tận trên lầu ba theo cái cầu thang bên cạnh, nhờ ông Bảo Toàn sửa lại giùm. Ông đo người tôi, xem kỹ hai chiếc quần tây rồi nói: “Sửa không được đâu. Bây giờ phải tháo hết các đường chỉ ra, ủi cho thẳng rồi cắt lại như cắt quần mới chứ sửa đâu có được”. Tôi hỏi giá cả, ông nói: “Ông là người quen, tôi tính ông mỗi chiếc ba đồng gọi là có thôi”.

Tôi mừng quá, cám ơn rối rít. Ông nói: “Ông thấy tôi khổ như vậy đó. Ngày trước tiệm tôi lớn nhất Phú Nhuận, ngay cả may đồ cho khách tôi cũng chỉ trông nom chứ đã có thợ, đâu phải nhúng tay vào. Bây giờ thì đi may lại chiếc quần, kiếm ba đồng bạc…”

. “Hình như tiệm sách Thanh Trúc bên kia cũng bị đánh tư sản như bên tiệm bác?”.

“Có chứ, tiệm nào hơi có máu mặt một chút mà chả bị đánh. Họ bảo bán sách là toàn các thứ phản động, đáng lẽ họ đuổi đi kinh tế mới nhưng cô Thanh cô ấy tự tử, họ cho cả nhà ở tạm cái bếp ở phía đằng sau”.

Rồi ông nói thêm:

“Nhà bà ấy cũng bị tịch thu hết, nghèo lắm. May nhờ có vợ chồng cô Trúc ở bên Mỹ gửi quà về nên mới sống được”. Tưởng tôi không biết gì về vợ chồng Khải, ông kể:

“Nghe nói người chồng cô Trúc đậu tiến sĩ kinh tế, trước làm trong cơ quan Liên Hiệp Quốc, sau làm giáo sư dạy đại học tại California”.

Rồi ông kết luận:

“Con người ta có số cả. Lúc lấy chồng, cô Trúc mới hăm mấy tuổi, gia đình lại khá giả nhưng vẫn quyết định đi, bây giờ đang bảo lãnh cho cả nhà sang bên ấy đấy. Tôi thấy họ đi được là đúng, gia đình bà ấy đối xử với ai cũng tốt lắm”.

Con người có số hay không tôi không biết, nhưng theo tôi nghĩ, câu chuyện giữa cô bé 16 tuổi tên Trúc và anh chàng học sinh nghèo tên Khải hơi giống chuyện cổ tích của một thời đã qua, nay khó có nữa.

Đoàn Dự

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 30 May 2025

Phần 16

Về Miền Đất Hứa

Chương 1 – “Người công dân mất quyền”

Thất bại trong việc làm xà bông bột, tôi quyết định về Hố Nai làm ruộng, hay viết chính xác hơn là thay vì ăn bám vợ ở thành Hồ thì về quê ăn bám mẹ. Lúc này gia đình tôi đã bị chia đôi, một nửa theo bố về Cái Sắn làm ruộng (ké ruộng của các bác), một nửa ở lại Hố Nai với mẹ. Tới đây xin có đôi dòng về bước đường lưu lạc của gia đình tôi từ khi di cư vào Nam năm 1954, cách riêng mẹ tôi, một phụ nữ quê mùa nhưng bất khuất.

Trước hết, sau một thời gian ngắn tạm trú tại nhà người chị của ông ngoại ở Thị Nghè, tới cuối năm 1954, gia đình tôi cùng bà ngoại, các cậu dì được “cha già cố Trực”, một vị linh mục thân thiết của gia đình, vận động lên định cư tại Tha La, Trảng Bàng, Tây Ninh.

Hơn một năm sau, khi đa số dân Bắc kỳ di cư ở Tha La đã bỏ đi vì không tìm được kế sinh nhai thì gia đình tôi lại an cư lạc nghiệp tại xứ đạo nổi tiếng này. Bố tôi làm Thư ký ở Hội đồng xã An Hòa, mẹ tôi nuôi mấy con heo, bầy gà, mấy con vịt xiêm, trồng hoa mầu…, cuộc sống tương đối đầy đủ, thoải mái.

Nhưng hai năm sau, khi gia đình tôi đã hòa nhập một cách tốt đẹp vào cuộc sống của người dân Tha La xóm đạo, bố tôi đột ngột bỏ về Sài Gòn (tức là “đào nhiệm”), mà sau này tôi mới biết nguyên do là việc các viên chức xã bị Việt Cộng hăm dọa cắt cổ sau khi lính quốc gia vây bắt được mấy tên du kích lén về thăm nhà!

Sau đó mẹ tôi, đang mang bầu đứa con thứ ba, mới dắt tôi và thằng em trai rời Tha La, nhà cửa đồ đạc bỏ lại hết. Tại Sài Gòn, gia đình tôi tạm trú nhà bà ngoại ở hẻm 6 Trương Minh Giảng nối dài (về sau là đường Trương Minh Ký). Ít lâu sau, bố tôi được hãng Ba Son thu nhận với tư cách nhân viên phù động (casual); bà ngoại khuyên mẹ tôi ở lại Sài Gòn tìm cách buôn bán nhưng mẹ tôi lại nghe lời rủ rê của người chị và người em gái vốn đã lập nghiệp tại Hố Nai từ năm 1954, đưa các con về đây để gầy dựng lại từ đầu.

Nhưng chưa đầy hai năm sau (1958), khi tôi đang học lớp Nhất (lớp 6 ngày nay) bố tôi được một người anh họ của mẹ tôi thuyết phục theo ông tình nguyện đưa gia đình lên tỉnh Phước Long mới được thành lập, phục vụ tại Ty Công Chánh với tư cách công chức chính ngạch (permanent). Tôi là con trai lớn được cho ở lại Sài Gòn với bà ngoại để tiện việc học hành.

Nguyên sau khi nền đệ nhất cộng hòa thành được thành lập, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cắt đất của hai tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương sau này) và Biên Hòa để thành lập hai tỉnh mới là Bình Long, và Phước Long.

[Tới năm 1959 lại cắt đất của Phước Long và Bình Dương để lập thêm tỉnh Phước Thành, trở thành “Đặc khu Phước – Bình – Thành”. Tuy nhiên sau cuộc đảo chánh năm 1963 của các tướng lãnh, trước các cuộc tấn công liên tục của cộng quân, tới năm 1965 tỉnh Phước Thành đã bị xóa tên trên bản đồ, trở thành quận Phú Giáo thuộc tỉnh Bình Dương].Phước Long là một vùng đất đỏ màu mỡ, nguyên là quận Bà Rá thuộc tỉnh Biên Hòa; gọi như thế vì ở đó có núi Bà Rá, ngọn núi cao thứ ba ở Vùng 3 chiến thuật, sau núi Bà Đen (Tây Ninh) và núi Chứa Chan (Xuân Lộc).

Phước Long: núi Bà Rá nhìn từ Tòa Hành Chánh tỉnh. Phía trước là con đường chính song song với phi trường “bỏ túi” (dành cho L-19 và Caribou)

Dưới chân núi Bà Rá

Vùng đất này xưa kia chỉ có người Thượng thuộc sắc tộc S’tiêng sinh sống, tới thời Pháp thuộc mới trở thành nơi đày tù khổ sai. Sau này, trong những lần về thăm nhà, được các em dẫn vào rừng thám hiểm, tôi từng thấy những cây cam, cây bưởi, cây điều lộn hột thuộc hàng cổ thụ còn sót lại chen chúc với cây rừng, do tù khổ sai trồng từ mấy chục năm về trước. Những cư dân người Kinh đầu tiên của Phước Long là di dân miền Trung được chính phủ đưa tới các khu dinh điền, được cấp đất đã ủi sẵn để làm rẫy.

Nguyên nhân chính khiến ông bác (anh họ của mẹ tôi) rủ bố tôi tình nguyện lên xây dựng tỉnh mới là các công chức sẽ được chính phủ ưu tiên cấp đất để tùy nghi khai thác. Vùng đất dành cho Ty Công Chánh thuộc xã Sơn Giang, nằm dọc theo con đường từ quận lỵ Phước Bình vào tỉnh lỵ Phước Long, khoảng giữa phi trường dã chiến và chân núi Bà Rá.

Đất đỏ ở đây tốt hơn đất ở Long Khánh nhiều, lý tưởng để trồng cao-su, cà-phê, cây ăn trái và hoa mầu, đặc biệt là hạt tiêu. Điểm thuận lợi nhất cho các công chức được cấp đất làm rẫy, viết ra thì có vẻ “người bóc lột người” nhưng trên thực tế lại là “đôi bên cùng có lợi”, đó là gần như toàn bộ nhân công được mướn để làm rẫy đều là đồng bào Thượng.

Theo suy đoán của tôi, trước khi chính phủ VNCH thành lập tỉnh Phước Long, đưa di dân miền Trung tới lập nghiệp và đưa viên chức chính phủ lên xây dựng tỉnh, người Thượng ở đây chưa từng tiếp xúc với người Kinh cho nên họ không hề có một chút ý niệm về giá trị của tiền bạc, trả công bao nhiêu họ cũng nhận không một chút thắc mắc!

Mẹ tôi kể lại mặc dù luôn luôn trả tiền công cho họ cao hơn những chủ rẫy người Kinh khác, bà vẫn cảm thấy áy náy vì cho rằng trả như là thấp, là “lỗi phép công bằng” (theo giáo lý Công giáo) cho nên thường trữ sẵn muối, đường, thuốc rê để lâu lâu cho họ, và bánh kẹo cho con cái họ. Lúc đầu, thấy đàn bà con gái để ngực trần, mẹ tôi cho họ mấy cái áo bà ba cũ nhưng đa số từ chối vì họ để ngực trần quen rồi!

Khoảng 4, 5 năm sau ngày lên Phước Long, bố mẹ tôi đã an cư lạc nghiệp.

Cùng với hoa màu, mấy mẫu tây trồng cây ăn trái đã bắt đầu thu hoạch. Chỉ nội hàng điều lộn hột trồng làm ranh giới giữa rẫy của nhà tôi và ông bác họ đã đem lại một món lợi tức đáng kể mà chẳng phải tốn công sức gì cả.

Nhớ lại hồi còn bé ở Tha La xóm đạo, lâu lâu mới thấy một cây điều mọc lang thang, có trái lời dạy của cha xứ (không được leo lên cây hái trái) mà leo lên hái thì cũng chỉ được vài trái chưa kịp chín, bởi vì có nhiều thằng nhỏ khác (cũng không nghe lời cha dạy) nhanh tay lẹ mắt hơn!

Còn ở Phước Long, điều lộn hột ra trái đầy cây mà không ai thèm ăn, đợi tới cuối mùa rụng xuống, mướn người Thượng thu lượm hột dồn vào bao bố đem ra chợ tỉnh bán cho người thu mua (ngày đó hạt điều còn tương đối hiếm, rất có giá).

Tuy nhiên niềm vui, và hãnh diện, lớn nhất của bố tôi chính là ngôi nhà gỗ khang trang có gác lửng với những cây cột bằng gỗ giáng hương, loại gỗ quý nhất của rừng già Phước Long!

Nhưng niềm vui ấy không kéo dài được lâu. Khoảng đầu tháng 5/1965, để mở đầu cho “chiến dịch Đồng Xoài”, Việt Cộng tấn công quận lỵ Phước Bình và tỉnh lỵ Phước Long.

Tại tỉnh lỵ Phước Long, ngay từ thời đệ nhất cộng hòa, toàn bộ công chức được xem là lực lượng bán quân sự đặt dưới quyền điều động của Bộ chỉ huy Tiểu khu; công chức các cấp đều được học cách sử dụng vũ khí.

Ít lâu trước khi Việt Cộng phát động chiến dịch Đồng Xoài, được tin tình báo, Bộ chỉ huy Tiểu khu ra lệnh cho toàn thể công chức tới tối phải trở vào nhiệm sở ngủ để tham gia phòng thủ khi hữu sự.

Hiện nay vào trang mạng Wikipedia tiếng Việt với từ khóa “chiến dịch Đồng Xoài”, độc giả sẽ thấy phía cộng sản đã phải thừa nhận ngày ấy Việt Cộng bị thiệt hại nặng nề khi lực lượng hơn một trung đoàn của họ tấn công quận lỵ Phước Bình.

Riêng tỉnh lỵ Phước Long, tôi được nghe kể lại đêm hôm ấy Việt Cộng đã chiếm được gần hết tỉnh, chỉ còn lại Bộ chỉ huy Tiểu khu, Tòa hành chánh và Ty Công Chánh, nhưng không thể tiến xa hơn trước sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng phòng thủ.

Tới gần sáng, lực lượng địch đã phải rút lui khi các phi cơ khu trục của Không Quân VNCH tới can thiệp. Sáng ra, người ta thấy xác Việt Cộng nằm la liệt mà nhiều nhất là ở trước Ty Công Chánh, nơi các công chức chỉ được trang bị súng Carbine M1, một loại súng trường bán tự động hạng nhẹ!

Từ năm 1965 cho tới năm 1972, Phước Long bị tấn công thêm nhiều lần nữa, tuy không có giao tranh trong tỉnh lỵ nhưng khu vực gia đình tôi sinh sống lại trở nên nguy hiểm hơn vì nằm giữa phi trường Phước Long và chân núi Bà Rá, nơi thường xuyên xảy ra các cuộc giao tranh trong đêm tối giữa Việt Cộng với các lực lượng VNCH và biệt kích Mỹ.

Theo lời các em tôi kể lại, có lần đám Việt Cộng tấn công phi trường bị đẩy lui, rút ra ẩn núp dưới con suối phía sau khu rẫy nhà tôi, bị trực thăng võ trang của Mỹ quần tới sáng!

Năm 1970, sau khi đã nhập ngũ và phục vụ tại Căn Cứ Không Quân Pleiku, trong lần duy nhất về thăm nhà, tôi thấy những lỗ đạn đại liên 12 ly 7 trên vách ván do trận đánh trước đó để lại, cũng may cả nhà không ai bị hề hấn gì. Trong lần về thăm nhà ấy, ban đêm, tôi được bố đưa vào trong tỉnh ngủ nhờ nhà người quen chứ không dám ngủ ở nhà.

Qua năm 1971, tình hình chiến sự càng thêm ác liệt, bố mẹ tôi quyết định bỏ của chạy lấy người lần thứ hai kể từ ngày di cư vào Nam năm 1954.

Thực ra lần này cũng không đến nỗi ra đi tay không như lần rời bỏ Tha La xóm đạo năm 1956, mà nhà cửa, đất đai được bán lại cho một người anh họ khác của mẹ tôi, nhưng với một cái giá rất tượng trưng!

Sau đó mẹ tôi đưa các con về Hố Nai trong khi bố tôi tiếp tục ở lại Phước Long chờ ngày đơn xin thuyên chuyển về Ty Công Chánh Biên Hòa được chấp thuận.

Thế là sau hơn 12 năm bỏ Hố Nai lên Phước Long lập nghiệp, gia đình tôi lại quay về chốn cũ, nơi hai gia đình người chị và người em gái của mẹ tôi đã lập nghiệp từ những ngày đầu di cư.

Mẹ tôi

Phải rời bỏ Phước Long, có lẽ chỉ một mình mẹ tôi buồn. Bố tôi tuy có tiếc ngôi nhà bằng gỗ quý nhưng cũng được an ủi vì đổi về Ty Công Chánh Biên Hòa xa vùng lửa đạn, các em tôi vui vì Hố Nai gần thành thị, đứa thì lên Sài Gòn ở với dì, đứa nội trú ở Thủ Đức, muốn đi đâu chơi cũng tiện…

Nhưng mẹ tôi thì rất buồn, bởi vì bà đã gắn bó với Phước Long, cũng như trước đây bà đã gắn bó với Tha La xóm đạo. Có thể nói cuộc đời của mẹ tôi một nửa dành cho gia đình, một nửa dành cho xã hội và giáo hội.

Mẹ tôi là một người thông minh, lanh lợi, xông xáo và khá cứng đầu!

Bà ngoại tôi nhận xét “Cứ nhìn cái trán nó thì biết!”

Nhưng cũng chính bà thường nói “Mẹ Thuyết (tên bố tôi) mà được học hành tới nơi tới chốn thì cả nhà này không ai bằng nó!”. Ý bà muốn nói là hơn cả các cậu các dì được ăn học trên tỉnh!

Riêng với tôi, tạm thời gác quan hệ mẹ con sang một bên, mẹ tôi cũng vẫn là người phụ nữ tôi kính phục nhất trong đời, với ba đức tính nổi bật: đảm đang, nhân hậu, và bất khuất.

Mẹ tôi ra chào đời vào ngày đầu năm dương lịch 1929, gần cuối năm Mậu Thìn. Sau này mẹ tôi thường hãnh diện về cái tuổi Thìn của mình nhưng riêng tôi thì thấy “quý” đâu không thấy chỉ thấy lận đận long đong một đời!

Dù chỉ là người con thứ hai, ngay từ nhỏ mẹ tôi đã phải gánh vác mọi việc trong nhà ngoài đồng.

Nguyên ông ngoại tôi, Vũ Ngọc San, vốn thuộc chi tộc Vũ Ngọc của họ Vũ – họ lớn nhất ở tỉnh Nam Định – ngày ấy làm lý trưởng làng Du Hiếu, một làng nông nghiệp ở xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy.

[Sau năm 1954, hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy bị sát nhập thành huyện Xuân Thủy. Mãi tới năm 1996, khi tỉnh Hà Nam Ninh tách rời thành ba tỉnh như cũ (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) Xuân Thủy mới trở thành hai huyện riêng biệt Xuân Trường và Giao Thủy như trước đây]

Họ Vũ Ngọc không nổi tiếng vì giàu có mà nhờ truyền thống hiếu học. Người con gái lớn, tức chị của mẹ tôi, vốn có bản chất thông minh (lại ốm yếu quanh năm, không thể làm lụng) nên được ông bà gửi ra Hà Nội nội trú ở trường các bà Xơ áo trắng.

Mẹ tôi ở nhà thọ giáo ông bạ Phác, một người trong thân tộc và cũng là người uyên bác nhất trong số 5 ông “bạ” (chưởng bạ) của làng; ông thường đi đó đây nên không mở trường dạy học, chỉ nhận làm gia sư cho một mình mẹ tôi. Kết quả, “cô Kính con ông bà Lý San” đã trở thành cô gái đầu tiên và duy nhất trong làng, tính tới lúc đó, lên Nam Định thi tiểu học, và thi đậu.

Trước đó, vào tuổi 11, mẹ tôi còn đoạt danh hiệu “tông đồ nghĩa binh bé nhất” của Địa phận Bùi Chu.

Cũng nên biết về hành chánh, làng Du Hiếu thuộc tỉnh Nam Định, còn về mặt tôn giáo, giáo xứ Du Hiếu thuộc Địa phận (Diocese) Bùi Chu. Du Hiếu trước kia chỉ là một họ đạo thuộc Giáo xứ Quất Lâm, tới năm 1940 mới được nâng lên hàng giáo xứ. (1)

Nhà thờ Du Hiếu

Năm ấy, nhân dịp trọng đại này, Đức cha Hồ Ngọc Cẩn, giám mục địa phận Bùi Chu về thăm Du Hiếu, mẹ tôi được giới thiệu là “tông đồ nghĩa binh bé nhất” trong địa phận, được Đức cha gọi lên ban khen và cho hôn nhẫn. (“Tông đồ nghĩa binh” cũng giống Đội trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể ngày nay).

[Đức cha Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948) là vị giám mục người Việt thứ nhì sau Đức cha Nguyễn Bá Tòng (1868-1949), giám mục địa phận Phát Diệm]

Với tài chỉ huy (tạm gọi như thế) và sự tháo vát, khi bắt đầu khôn lớn, mẹ tôi đã dần dần thay thế ông bà ngoại quán xuyến mọi việc trong nhà ngoài đồng.

Tiếng lành đồn xa, “cô Kính con ông bà Lý San” nổi tiếng xinh xắn, đảm đang đã được mấy đám gia thế ở các huyện lân cận và trên thành phố Nam Định nhờ người mai mối, nhưng tất cả đã bị ông bà ngoại tôi từ chối.

Nguyên nhân: khi gả chồng cho ba cô con gái đầu, ông bà tôi đã đưa ra hai điều kiện tiên quyết, một là con nhà hiền lành đạo đức, hai là phải là người cùng làng. Sở dĩ ông bà không muốn con gái làm dâu phương xa là vì sợ con mình bị nhà chồng ăn hiếp!

Với hai điều kiện ấy, ông bà tôi đã chấp nhận những cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối. Bởi vì xét về giàu nghèo, tuy ông ngoại tôi không giàu nứt khố đổ vách cũng đứng thứ nhì trong làng, chỉ sau ông bố vợ – một ông bá hộ giàu nức tiếng! Còn xét về chữ nghĩa, năm ông “bạ” trong làng thì có tới bốn ông là người thân ruột thịt của ông ngoại hoặc bà ngoại tôi.

Kết quả, cả ba người con rể đều là con của các ông Trùm họ đạo, đều là con trai út, đều là học trò của ông giáo Cư, người anh trai duy nhất của ông ngoại tôi và cũng là ông “bạ” duy nhất trong làng mở trường dạy học, nên còn được gọi là ông “giáo”.

Riêng mẹ tôi còn không phải làm dâu, vì ít lâu sau ngày cưới, bố mẹ chồng lần lượt qua đời. Nhờ đó, mẹ tôi có thì giờ thường xuyên trở về nhà cha mẹ ruột để phụ giúp trông coi mọi việc.

Mặc dù lúc ấy mới 4, 5 tuổi, những gì xảy ra vào năm 1953, 1954 đến nay tôi còn nhớ khá rõ.

Mỗi tuần vài lần, mẹ tôi lại bế con (em trai 2 tuổi của tôi) về nhà ông bà, tôi lẽo đẽo theo sau. Thường thì mẹ tôi chỉ làm những công việc trong nhà, như giã gạo, chăm sóc bầy lợn, đàn gà, chỉ bảo dì út cơm nước, giặt giũ…, nhưng tới ngày mùa thì mẹ tôi vô cùng bận rộn, nhiều khi ăn cơm chiều xong, phải ở lại tới tối.

Sau này nghe người lớn kể lại, tôi được biết tới năm 1953, tình hình an ninh ở làng Du Hiếu bắt đầu xấu đi. Một làng Công giáo toàn tòng giờ đây đã có những phần tử đi theo Việt Minh, tức là chống lại phe thân quốc gia trong làng mà ông ngoại tôi là người đứng đầu.

Thực ra, nếu chỉ giữ chức Lý trưởng – một chức vụ về hành chánh – ông ngoại tôi không dính dáng gì tới cuộc xung đột quốc cộng, mà phe nào kiểm soát làng thì chấp nhận ngả theo phe đó. Nhưng ở đây ông ngoại tôi lại có nhiều liên hệ với phe quốc gia và tội chống việt Minh.

Trước hết nói về liên hệ gia đình thì một người em trai của bà ngoại tôi là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, bị cộng sản (Việt Minh) bắt năm 1946, về sau có người cho biết họ chứng kiến ông bị bắn chết trong trại Đầm Đùn. Tiếp theo, ông bạ Phác, gia sư của mẹ tôi và cũng là một người trong thân tộc, bị cộng sản bắt đem đi biệt tích, sau này không ai được biết số phận.

Nhưng “tội” nặng nhất là việc ông ngoại tôi tham gia lực lượng Tự vệ Bùi Chu – Phát Diệm.

Nguyên vào năm 1945, Đức cha Lê Hữu Từ, giám mục Địa phận Phát Diệm (sau này kiêm nhiệm giám mục Địa phận Bùi Chu sau khi Đức cha Hồ Ngọc Cẩn qua đời năm 1948), là một người chống Pháp triệt để, đã nhận lời làm Cố vấn Chính phủ do Hồ Chí Minh cầm đầu. Nhưng sau khi họ Hồ ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 hòa hoãn với Pháp, cho Pháp đem quân trở lại Bắc Việt với mục đích được rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia (sách lược “liên kết với ngoại xâm để tiêu diệt nội thù”), Đức cha Lê Hữu Từ thấy được dã tâm của họ Hồ nên từ chức Cố vấn Chính phủ, tuyên bố thành lập Khu tự trị Bùi Chu Phát Diệm, không theo Pháp cũng không theo Việt Minh. Khi ấy, hai địa phận này có khoảng 400,000 giáo dân.

Cuối năm 1946, Việt Minh và Pháp quay ra đánh nhau, Khu tự trị Bùi Chu Phát Diệm đứng giữa phải thành lập lực lượng Tự vệ Công giáo, ông ngoại tôi được trao quyền chỉ huy Tự vệ của một tổng, gọi là “Tổng binh”, của tỉnh Bùi Chu mới được thành lập. (2)

Mặc dù lực lượng Tự vệ Công giáo ở vùng Giao Thủy – Xuân Trường không tồn tại được lâu trước sức áp đảo của cả Việt Minh lẫn Pháp, nhiều người vẫn tiếp tục gọi ông ngoại tôi là ông Tổng San thay vì Lý San; chính vì cái danh gọi “Tổng San” ấy mà ông tôi bị xem là có nợ máu với Việt Minh.

Khoảng giữa năm 1953, Việt Minh bắt đầu hoạt động công khai tại Du Hiếu vào ban đêm; ông tôi phải bỏ nhà lên Thức Hóa, một làng lớn ở kế cận nơi có lực lượng của quốc gia trấn giữ gọi là bốt Thức Hóa.

Tại đây ông tôi trú ngụ ở nhà ông chánh L, người đứng đầu làng, và đứng ra thành lập một lực lượng tình nguyện gọi là Trung đội Hương chức để cùng với lực lượng quốc gia trấn giữ làng.

Tôi vẫn còn nhớ trong một lần lén về thăm nhà, ông đã cho gọi tôi và người cậu út vào phòng riêng của ông bà cho chúng tôi ngắm nghía khẩu súng lục của ông!

Một ngày nọ, có người từ Du Hiếu lên Thức Hóa mật báo về một buổi họp quan trọng của Việt Minh sẽ được tổ chức vào đêm hôm đó tại một căn nhà trong làng. Phe quốc gia âm thầm đưa người về bao vây, bắn chết ba tay cán bộ.

Mặc dù ông tôi chẳng dính dáng gì tới vụ này, đám Việt Minh cũng lấy một phần ba mẫu đất trồng hoa màu của nhà tôi gần nghĩa trang của làng để chôn ba tay cán bộ và đắp ba cái mộ thật lớn, như để dằn mặt “bố con Lý San”!

Từ đó, ông tôi không bao giờ về thăm nhà nữa, nhưng lâu lâu không hiểu do nguồn tin “tình báo” từ đâu, Việt Minh lại bất thần tới bao vây xét nhà, cầu may bắt được ông. Mỗi lần như thế, mẹ tôi lại phải đối phó với họ…

Đầu năm 1954, vào dịp tết Giáp Ngọ, tôi và người cậu út được bà ngoại lén dắt lên Thức Hóa thăm ông. Đó là lần cuối cùng tôi được gặp ông vì mấy tháng sau, ông hy sinh trong trận đánh đồn Thức Hóa, Việt Minh với lực lượng áp đảo, có cả súng cối, đã chiếm được đồn.

Sau khi ông ngoại tôi mất, bố tôi phải âm thầm bỏ nhà lên Phú Nhai, thuộc huyện Xuân Trường, nơi lực lượng quốc gia còn nắm quyền kiểm soát, lánh nạn ở nhà xứ. Trước đó mấy tháng, khi Việt Minh bắt “dân công” để phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ, bố tôi cũng đã phải bỏ trốn lên Phú Nhai; lần đó có dắt tôi đi theo, và cũng ở trong nhà xứ; tôi không bao giờ quên cảm giác lạ lùng pha lẫn sợ hãi khi đứng dưới sân nhìn lên hai ngọn tháp cao chót vót của ngôi thánh đường lớn nhất Đông Nam Á. (3)

Ở lại Du Hiếu, mẹ tôi đưa hai con – tôi và thằng em sơ sinh (người em kế tôi đã mất sớm) – về ở luôn trong nhà ông bà để trông coi mọi việc, bởi lúc ấy ngoài bà ngoại ra, nhà không có người lớn: người con nuôi (do Việt Minh xúi dục) đã bỏ đi, người dì thứ tư và người cậu lớn từ lâu đã được gửi trọ học ở Trung Linh (huyện Xuân Trường), còn lại chỉ có người dì út mới 13, 14 tuổi và ba cậu còn nhỏ.

Chẳng bao lâu sau, Việt Minh từng bước tiến hành chiếm nhà.

Đầu tiên, họ lấy cái sân gạch trước nhà làm nơi sinh hoạt cho cán bộ và thiếu nhi (cháu ngoan bác Hồ).

Nếu không kể ruộng nương chỉ tính nhà cửa thì cơ ngơi của ông ngoại tôi lớn nhất làng Du Hiếu, nằm trên một thửa đất hình chữ nhật, gồm một ngôi nhà chính, một cái nhà ngang, một cái ao thật lớn, một sân gạch cũng tương đương với cái ao, một cái bể (bồn bằng xi-măng) chứa nước mưa, và vườn tược chung quanh…

Sinh hoạt của đám cán bộ gồm những tiết mục gì, tôi không để ý tới, chỉ biết trong đó có màn trai gái nắm tay nhau nhảy “son đố mì”. (4)

Riêng với những đứa trẻ mới lớn như tôi và cậu út thì sinh hoạt thiếu nhi rất có sức thu hút. Giờ này tôi không còn nhớ ngày ấy đám cán bộ Việt Minh bày những trò chơi gì cho trẻ con, chỉ biết trong mấy ngày đầu, tôi và cậu út từ trong nhà ngang hí hởn chạy ra sân tham gia, và lần nào cũng bị mẹ tôi ra nắm cổ lôi vào.

Sau này hồi tưởng lại, tôi thấy không khí ở nhà bà ngoại lúc đó rất ngột ngạt, người lớn ai cũng trở nên nghiêm trang, ít nói chuyện với nhau, và khi cần phải nói thì chỉ nói nhỏ vừa đủ nghe.

Chẳng bao lâu sau, Việt Minh tiến thêm một bước: sử dụng nhà ngang làm nơi họp hành.

Gọi là “nhà ngang” bởi vì nó nằm ngang, tạo thành một góc vuông với ngôi nhà chính, mà chúng tôi gọi là “nhà trên”. Nhà ngang được sử dụng làm chỗ ăn uống cho con cháu (và người làm công khi tới mùa gặt), cũng là nơi đặt cối xay lúa và cối giã gạo. Còn ông bà thì ăn riêng ở nhà trên; chỉ những khi ông vắng nhà, bà mới ăn chung với con cháu ở nhà ngang.

Mỗi khi Việt Minh kéo tới, bà, mẹ tôi và mọi người lại phải kéo nhau lên nhà trên, nhường nhà ngang cho họ. Nhà trên bằng gỗ quý, lợp ngói, rất cao ráo, rộng rãi, thoáng mát nhưng từ khi Việt Minh kéo tới, các cửa và cửa sổ ở mặt tiền (nhìn ra sân gạch) được đóng kín, mọi người ra vào bằng cái cửa hông, lối đi xuống nhà ngang, cho nên ai cũng cảm thấy bị tù túng, không khí càng trở nên khó thở.

Cho tới một ngày nọ, sau khi Pháp đầu hàng Việt Minh tại Điện Biên Phủ đưa tới nhiều tin đồn, dự đoán bi quan về số phận người dân miền Bắc, bà ngoại tôi đưa dì út và ba cậu lên Hà Nội.

Lúc này, ở những vùng do Việt Minh kiểm soát, người nào có việc muốn rời khỏi làng phải xin giấy phép do “ủy ban hành chính” (của kháng chiến) cấp. Bà tôi và các con có được tờ giấy phép này là nhờ mẹ tôi mua chuộc một người họ hàng xa đang làm việc trong ủy ban nói trên.

Cũng giống như đám “30 tháng Tư” ở miền Nam sau này, ngày ấy ở miền Bắc cũng không thiếu những tay trở cờ hoặc hợp tác với Việt Minh để thủ lợi. Nhờ đó mẹ tôi mới “mua” được tờ giấy phép đi đường cho bà ngoại, từ Du Hiếu lên Nam Định “để thăm người nhà đau ốm”!

Dĩ nhiên, đám Việt Minh thừa biết bà tôi một đi không trở lại. Mấy ngày sau, ủy ban kháng chiến tới niêm phong toàn bộ nhà cửa, kiểm kê và tịch thu vườn tược, gia súc…

Từ đó, tôi không bao giờ còn được trở lại cái cơ ngơi đẹp đẽ, thân yêu, nơi tôi đã sống một phần tuổi ấu thơ của mình!

Ít lâu sau, tôi theo mẹ vào nhà bác C, chị gái của mẹ tôi, người trước kia được gửi học nội trú ở Hà Nội. Tôi không được biết hai chị em nói chuyện gì với nhau, chỉ nhớ trước khi ra về tôi được bác trai cho một tờ giấy bạc 10 đồng màu đỏ (tiền Đông Dương). Lúc ấy, tôi chưa đủ trí khôn để thắc mắc tại sao bỗng dưng bác trai lại cho tiền mình, nhưng vì đã được mẹ dạy đánh vần và đếm số, tôi biết đây là một số tiền lớn gấp đôi số tiền 5 đồng ông ngoại mừng tuổi hôm Tết khi lên Thức Hóa thăm ông. Vì thế, tôi thích vô cùng, về nhà nhất định không chịu đưa cho mẹ giữ mà cẩn thận cất trong túi quần soọc (short), cái quần duy nhất của tôi có túi.

Sau này, tôi mới biết mẹ tôi vào để từ giã hai bác trước khi di cư vào Nam. Nếu không kể gia đình bà ngoại đã ra Hà Nội từ trước, gia đình tôi là gia đình đầu tiên trong làng Du Hiếu quyết định di cư.

Nguyên vào thời gian này mặc dù Hiệp Định Genève 1954 chấm dứt Chiến tranh Đông Dương đã được ký kết ngày 20 tháng 7, trong đó có điều khoản người dân hai miền nam bắc vĩ tuyến 17 có 300 ngày để lựa chọn hoặc sống dưới chế độ cộng sản ở miền bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) hoặc chế độ quốc gia ở miền nam (Quốc Gia Việt Nam, năm 1955 đổi danh xưng thành Việt Nam Cộng Hòa), nhưng đa số dân chúng ở các vùng quê ngoài bắc không, hoặc chưa biết việc này.

Thực ra, sau khi Pháp đầu hàng Việt Minh tại Điện Biên Phủ (tháng 5/1954), nhiều người dân Hà Nội, Hải Phòng đã bắt đầu tìm đường vào Nam, và sau khi quân đội Pháp bất ngờ rút khỏi thành phố Nam Định, dân chúng cũng hốt hoảng chạy theo, nhưng tại các xứ đạo miền quê, giáo dân chỉ được biết tin tức qua các vị linh mục, mà chính các vị này cũng đang hoang mang, chờ đợi chỉ thị, hướng dẫn của giáo quyền.

Gia đình tôi may mắn được người quen từ Nam Định về cho biết tình hình bi đát trên tỉnh, vì thế bố tôi đang ở Phú Nhai quyết định đi lên Hải Dương tạm trú tại nhà họ hàng, chờ mẹ tôi đưa hai con lên rồi tìm đường vào Nam.

Mẹ tôi thuyết phục được dì T, em kế mẹ tôi, để chú cùng đi, sau khi tới Hà Nội, nếu không muốn đi vào Nam chú có thể trở về làng.

Cuộc hành trình 200 km

Như đã viết ở trên, số của mẹ tôi lận đận, chính vì biết rõ tình hình và bỏ đi sớm mà mẹ tôi phải trải qua cuộc hành trình gian khổ gần 200 km trong đó 1/3 quãng đường này phải đi bộ!

Nếu mẹ tôi đợi hai, ba tháng để rồi cùng đi với đoàn người trong làng, khi việc tự do di cư đã được phổ biến rộng rãi, Việt Minh không thể ngăn cấm (ít nhất cũng ở các làng Công giáo) thì đâu đến nỗi!

Buổi tối trước khi chúng tôi đi, mẹ tôi mời ba bà bác dâu bên họ nội, tức ba người chị dâu của bố tôi, tới nhà. Cùng với việc từ giã, mẹ tôi đã phân chia ấm tách, chén sứ, muỗng nĩa, mâm đồng, nồi đồng, xoong chảo cho các bác. Những thứ này ở miền Bắc ngày đó rất quý, bố tôi là con trai út, vì phải nuôi hai em gái nên được hưởng tài sản của ông bà nội.

Sáng sớm hôm, khi nhà thờ Du Hiếu chưa đổ chuông nhất (khoảng 4 rưỡi sáng), tôi đã bị mẹ đánh thức dậy để đi. Khi chúng tôi tới nhà dì T, chú đã chuẩn bị sẵn sàng; chú không chỉ có nhiệm vụ “hộ tống” chúng tôi mà quan trọng không kém là phải đeo cái tay nải của mẹ tôi trên lưng, vì mẹ tôi phải bế em trai tôi, lúc đó mới được mấy tháng.

[“Tay nải” là một loại túi vải hình ống, hai đầu nhỏ dần thành cái quai đeo xéo ngang lưng, để đựng quần áo, đồ dùng khi đi đường xa]

Vừa ra khỏi đầu làng chúng tôi rời đường cái để sử dụng những con đường nhỏ ở dưới đồng ruộng, bởi nếu đi trên đường cái có thể bị cán bộ Việt Minh bắt giữ, hoặc đuổi trở về làng.

Rất tiếc, khi ấy còn nhỏ dại, tôi không nhớ được mọi diễn tiến trong cuộc hành trình gian khổ của bốn người chúng tôi từ làng Du Hiếu tới thị trấn Phủ Lý, thủ phủ tỉnh Hà Nam, là tỉnh nằm giữa Nam Định và Hà Nội. Sau này di cư vào Nam, vì sống với bà ngoại và các dì các cậu nhiều hơn sống với gia đình, tôi cũng không có cơ hội hỏi mẹ tôi một cách chi tiết.

Tôi chỉ nhớ đại khái lộ trình của chúng tôi như sau: từ Du Hiếu đi Phủ Lý, từ Phủ Lý đi Hà Nội, từ Hà Nội đi Hải Dương, và sau cùng từ Hải Dương đi ra Hải Phòng để lên tàu vào Nam.

Làng Du Hiếu nằm ở vùng đông nam tỉnh Nam Định, gần biển, cách thành phố Nam Định khoảng 45 km.

Từ Nam Định muốn lên Hà Nội phải đi qua tỉnh Hà Nam ở hướng tây bắc; khoảng cách từ thành phố Nam Định tới thị trấn Phủ Lý, thủ phủ tỉnh Hà Nam, vào khoảng 35 km, vị chi từ Du Hiếu tới Phủ Lý vào khoảng 90 km, tuy nhiên vì chúng tôi không đi lên thành phố Nam Định mà đi đường tắt, cho nên lộ trình chỉ vào khoảng 70 km.

Cho tới lúc ấy, thị trấn Phủ Lý và thành phố Nam Định vẫn còn nằm trong tay phe quốc gia, tại sao gia đình tôi không lên Nam Định để từ đó đi xe tới Phủ Lý, rồi từ đây đi xe lên Hà Nội?

Sau này nghe người lớn kể lại, tôi mới biết nguyên nhân là vì đường từ Nam Định đi các tỉnh lân cận (Hà Nam, Thái Bình…) thường bị Việt Minh đặt mìn, đã có nhiều xe – xe dân sự cũng như xe quân đội – bị mìn khiến nhiều người chết hoặc bị thương. Trong số người chết có cả người em gái của bà ngoại tôi và cô con dâu.

Vì thế, chúng tôi đã phải đi bộ theo đường tắt, khoảng 70 km từ làng Du Hiếu tới thị trấn Phủ Lý trong thời gian 14 ngày. Thời gian “14 ngày” là do mẹ tôi nhớ lại, còn khoảng cách 70 km từ làng Du Hiếu tới Phủ Lý là do sau này tôi tìm hiểu qua bản đồ.

Trên quãng đường 70 km ấy, khi đi qua những làng Công giáo, ban đêm chúng tôi thường ngủ ở sân nhà thờ, sáng ra dự thánh lễ rồi đi tiếp, cũng có khi tạt vào chợ mua thức ăn, bánh trái…

Nhưng trước khi tới được khu vực do quân đội quốc gia kiểm soát, có sự hiện diện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ở Phủ Lý, chúng tôi đã gặp cản trở sau cùng, và cũng là cản trở lớn nhất trong cuộc hành trình: tại bến đò Phủ Lý, chúng tôi cùng với đoàn người di cư bị Việt Minh ngăn chặn, tuyên truyền xuyên tạc gây hoang mang, trà trộn vào để gây hỗn loạn.

Mặc dù không nhớ được mọi diễn tiến của cuộc hành trình gian khổ từ làng Du Hiếu lên thị trấn Phủ Lý, những gì xảy ra tại bến đò tôi lại nhớ từng chi tiết nhỏ. Rất có thể vì lúc đó mẹ tôi bỗng dưng trở thành một “người hùng bất đắc dĩ”!

Đầu đuôi sự việc như sau:

Con đường đi Phủ Lý mà chúng tôi sử dụng, tới bờ sông Đáy là đường cùng, tại đây có một bến đò dọc đi Phủ Lý. Bến đò này nằm trong khu vực có sự hiện diện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến nhưng họ chỉ có mặt vào ban ngày, khi có những chuyến đò của phe quốc gia chở người di cư từ đây đi Phủ Lý.

Hôm ấy, khi chúng tôi tới bến đò thì trời đã về chiều, không còn đò và các nhân viên trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến cũng đã rút đi. Đoàn người di cư tụ tập tại bến đò càng lúc càng đông; sau này nghe mẹ tôi kể lại có đến cả ngàn người. Vậy mà trong đám đông ấy chúng tôi đã gặp được người trong thân tộc: gia đình bà bạ Phác (nhắc lại: ông bạ Phác là thầy dạy học của mẹ tôi, đã bị Việt Minh bắt đem đi mất tích).

Khi trời đã tối, mọi người đang chuẩn bị chỗ đặt lưng qua đêm thì bỗng có một toán nam nữ cán bộ Việt Minh tới nơi cùng với mấy chiếc xe cam-nhông (vận tải); họ ăn mặc như thường dân chứ không mặc quần áo bộ đội, và cũng không mang súng ống vì ở vùng này cả hai phe đều bị cấm mang vũ khí. Họ tới chỉ để tuyên truyền và gây rối loạn.

Trước hết, một tay cán bộ đứng trên phía sau một chiếc xe, dùng loa (loa bằng thiếc, ngày đó chưa có loa chạy bằng pin) kêu gọi mọi người đừng dại dột nghe theo lời xúi giục di cư vào Nam mà hãy trở về làng quê của mình sống trong hòa bình, bởi vì trong Nam vẫn còn chiến tranh, chết chóc, vào Nam sẽ bị bắt đi lính cho Pháp, v.v… Rồi hắn ta hứa hẹn “Ai trở về thì sẽ được phát một nón (nón lá) bánh kẹo và được ô-tô chở về tận làng!”

Tay cán bộ nói xong, đám nữ cán bộ đồng loạt xông vào đoàn người di cư, gây rối loạn trong màn đêm bằng cách lôi trẻ con ra khỏi tay người lớn khiến nhiều gia đình bị thất tán, tiếng trẻ con khóc, tiếng cha mẹ gọi con inh ỏi!

Trong lúc hỗn loạn đó, chúng tôi lạc mất chú T, mẹ tôi phải nhờ cậu P và cậu N con bà bạ Phác nắm chặt hai tay tôi. Bỗng một ả cán bộ xông tới, vừa đưa tay như muốn giật lấy em tôi trong tay mẹ tôi vừa nói:

“Chị muốn đi thì để cháu lại chúng em nuôi cho, khi nào chị về chúng em giao lại!”

Xui cho ả cán bộ đụng phải mẹ tôi, tức “cô Kính con gái ông bà Lý San” nổi tiếng đáo để nhất làng Du Hiếu. Mẹ tôi tay giữ chặt em tôi, miệng quát:

“Con tôi, tôi đẻ ra thì tôi nuôi, tôi giữ, không khiến chó các chị!”

Ả cán bộ câm họng. Được đà, mẹ tôi lớn tiếng hô hào mọi người chung quanh hãy nắm chặt tay nhau để khỏi bị lạc, và vạch mặt những ả cán bộ Việt Minh trà trộn phá rối “lôi chúng nó ra dần một cho trận”!

Cùng lúc đó, một số đàn ông trong đoàn người di cư khám phá ra một số cán bộ Việt Minh kéo cái cầu tàu nổi ở bến đò lên bờ và tính khiêng đi đâu đó, liền tri hô lên cho mọi người biết.

Cầu tàu nổi (floating pier) này làm bằng tre nứa, gồm mấy đoạn nối lại với nhau, để hành khách từ bờ đi lên đò vì đò ở đây là đò dọc, khá lớn không thể vào sát bờ (ngoài Bắc người ta thường gọi là “tàu”).

Nếu để Việt Minh lấy mất cái cầu tàu thì ngày mai làm sao lên đò, người lớn có thể lội ra nhưng còn con nít thì sao? Thế là đám đàn ông kéo nhau tới vây quanh mấy tay cán bộ đang khuân mấy đoạn cầu tàu (chắc tính đem lên xe?), đòi một mất một còn khiến họ phải bỏ chạy…

Nhưng dù sao, việc đám cán bộ Việt Minh tới để tuyên truyền và gây rối loạn trong đoàn người di cư cũng thành công phần nào.

Thứ nhất, trong khi đại đa số nhất quyết đi di cư, một số nhỏ đã bị lung lạc trước những lời tuyên truyền xuyên tạc của cán bộ Việt Minh và lên xe quay về.

Thứ hai, thủ đoạn cho đám nữ cán bộ xâm nhập vào đoàn người để gây rối loạn đã gây tác hại không nhỏ; chẳng cần nói đâu xa, ngay gia đình tôi và chú T cũng bị lạc nhau. Nếu đêm hôm đó chúng tôi không may mắn gặp được gia đình bà bạ Phác, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra: rất có thể tôi đã bị đám cán bộ Việt Minh bắt cóc đem về cho làm “cháu ngoan bác Hồ”, lớn lên trở thành bộ đội “sinh Bắc tử Nam” không chừng!

Sáng ra, vẫn không tìm thấy chú T, mẹ tôi quyết định tiếp tục cuộc hành trình với gia đình bà bạ Phác.

Sau này, khi gặp lại nhau trong Nam, mọi người mới biết ngày ấy sau khi bị lạc nhau, chú T tin rằng mẹ tôi sẽ phải quay về, bởi vì tất cả quần áo, vật dụng cá nhân của chúng tôi đều nằm trong cái tay nải trên vai chú, chúng tôi không thể nào tiếp tục cuộc hành trình với bộ quần áo duy nhất trên người! Vì thế chú đã gia nhập đoàn người quay trở về làng, hy vọng sẽ gặp lại chúng tôi…, chứ chú đâu có ngờ mẹ tôi nhất quyết tiếp tục cuộc hành trình! Hơn nữa, đi một mình chú biết đi đâu?!

Riêng tôi, với đầu óc của một đứa trẻ mới hơn 5 tuổi, khi biết mình đã lạc mất chú T, tôi không hề nghĩ tới những khó khăn của mẹ tôi trong những ngày trước mắt mà chỉ buồn bực tức tối vì bị mất 10 đồng của bác C trai cho: cái quần soọc mà tôi cất kỹ tờ giấy bạc màu đỏ trong túi quần, giờ đây đang nằm trong cái tay nải trên vai chú T!

Mất tiền, tôi quay ra oán trách mẹ tôi: phải chi mẹ tôi cứ để cho tôi mặc cái quần soọc đó, đừng cất trong tay nải thì đâu đến nỗi!

Nguyên cái quần soọc bằng vải ka-ki (khaki) màu vàng này nằm trong bộ đồ “công tử nhất bộ” của tôi, gồm: quần soọc, áo sơ-mi trắng ngắn tay, cái mũ nồi (beret) bẳng nỉ màu xanh blue, và đôi xăng-đan bằng da.

Cái mũ nồi thì hễ ra khỏi nhà, chẳng hạn đi vào nhà ông bà, thì được đội, nhưng quần soọc và áo sơ-mi thì chỉ được mặc vào những dịp đặc biệt, trịnh trọng, chẳng hạn hôm tết theo bà lên Thức Hóa thăm Ông, hoặc mỗi khi đi lễ nhà thờ Quất Lâm.

Qua ngày hôm sau, vì số người di cư tụ tập tại bến đò Phủ Lý quá đông, phải đợi tới trưa, chúng tôi và gia đình bà bạ Phác mới được lên tàu – một chiếc tàu gỗ để chở khách khá dài, có mui để che mưa nắng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được đi tàu, thuyền. Rất tiếc, vừa lên tàu xong thì trời mưa lớn, để tránh nước mưa hắt vào, các cửa sổ được che kín bằng những chiếc chiếu nên tôi không thể quan sát khung cảnh trên bờ.

Từ thị trấn Phủ Lý, đoàn người di cư được xe cam-nhông nhà binh chở ra Hà Nội. Tới Hà Nội thì trời đã tối. Tôi không nhớ gia đình bà bạ Phác và chúng tôi chia tay nhau từ lúc nào, chỉ biết sau đó mẹ tôi một tay bế em tôi một tay nắm tay tôi đi tới cuối Nhà Thờ Lớn, tức nhà thờ chánh tòa Hà Nội, để nghỉ qua đêm trên thềm.

Nhà thờ chánh tòa Hà Nội

Sau này khi đã trưởng thành, mỗi lần nhớ lại cái cảnh màn trời chiếu trên thềm Nhà Thờ Lớn Hà Nội, tôi lại tủi thân muốn khóc và thương mẹ tôi vô cùng.

Sau 14 ngày lội ruộng băng đồng dưới trời nắng chang chang, tay lúc nào cũng ôm đứa con mấy tháng, vượt 70 km đường bộ, “cô Kính con ông bà Lý San” nổi tiếng xinh xắn, học giỏi, tháo vát, đảm đang, từng thay bố mẹ cai quản cơ ngơi, đôn đốc bao con ăn người làm… giờ đây đang ngồi bệt dưới đất, rũ rượi, bẩn thỉu, rách nát như một mụ ăn mày!

Tôi không tả oán quá lời, mà chắc hẳn sáng hôm sau những giáo dân đi lễ sớm đã tưởng mẹ con chúng tôi là những kẻ ăn mày thật sự!

Thành thử sau này nhớ lại, tôi vẫn thắc mắc không hiểu sao cái quán phở đối diện sân nhà thờ lại để cho chúng tôi bước vào?… Tôi vẫn còn nhớ được mẹ gọi cho một tô phở có thịt giá 2 đồng, còn mẹ tôi ăn tô không thịt giá 1 đồng.

Rời quán phở, mẹ tôi dò hỏi đường đi tới bến xe đi Hải Dương, nơi bố tôi đang tạm trú ở nhà họ hàng bên nội.

Khoảng cách từ Hà Nội tới Hải Dương chỉ vào khoảng 60 km nhưng xe chạy ì à ì ạch xế chiều mới tới; chưa kịp vào bến thì xe bị tắt máy vì đường bị ngập lụt, nằm ăn vạ ngay phía trước chợ (thành phố Hải Dương nằm cạnh bờ sông Thái Bình, thường hay bị ngập lụt).

Mọi người phải xuống xe, lội tới thềm chợ để đứng tránh lụt. Mẹ tôi lo lắng ra mặt: cứ cái đà này thì còn lâu nước mới rút để mẹ tôi có thể hỏi thăm đường đi tới nhà bà M, nơi bố tôi đang chờ; có nghĩa là đêm nay lại màn trời chiếu đất!

Đang lúc mẹ tôi lo âu, tuyệt vọng, bỗng từ phía bên kia đường có tiếng người réo gọi. Thì ra một người con gái của bà M trên đường về nhà ở gần bờ sông, trong lúc chờ cho nước rút bớt, đã vô tình nhìn thấy mẹ tôi trên thềm chợ!

Tạ ơn Chúa. Tới đây kết thúc cuộc hành trình dài gần 200 km của mẹ con tôi, trong đó có 70 km phải đi bộ băng đồng!

Tôi không nhớ thời gian ở nhà bà M kéo dài bao lâu, chỉ biết chúng tôi đã mất một tuần lễ để hồi phục sức khỏe, nhất là hai bàn chân bị sưng tấy. Riêng tôi còn bị phỏng phía trong hai đùi vì khi đi bộ, da cọ sát vào nhau ngày này qua ngày khác, lại thiếu vệ sinh (không tắm rửa) nên làm độc, giống như bị phỏng nặng. Hậu quả là hai mảng da đen xì phía bên trong đùi mà tôi phải mang suốt đời. Vì thế, lớn lên tôi không bao giờ ôm mộng đi thi “lực sĩ đẹp”!

Sau khi bình phục, tôi được theo bố ra phố Hải Dương chơi mấy lần. Với tôi, một thằng bé nhà quê mà trước đây đi chỉ được lên tới Phú Nhai là xa nhất, cái gì ở Hải Dương cũng to đẹp, lạ mắt; và cũng chính tại Hải Dương, tôi đã được thưởng thức hai thứ đầu tiên trong đời là cà-rem (kem cây) và lạc rang (đậu phộng còn nguyên vỏ) nóng hổi, bùi không thể tưởng tượng!

Rồi tới một ngày nọ, gia đình tôi cùng một số người bên họ nội lên đường ra Hải Phòng, chỉ cách Hải Dương mấy chục cây số. Tại bờ biển, chúng tôi lên “tàu há mồm” (tàu đổ bộ – landing ship) để được đưa ra tàu lớn, một chiếc vận tải hạm của Hải Quân Hoa Kỳ.

Không hiểu vì phải đi theo lộ trình ấn định chung cho tất cả các tàu, hay vì vị hạm trưởng tốt bụng muốn cho đoàn người di cư có cơ hội nhìn lại vịnh Hạ Long – một kỳ quan thiên nhiên của thế giới – lần cuối cùng, chiếc vận tải hạm thay vì lấy hướng nam ngay sau khi ra khơi, lại giữ hướng đông, đi ra quần đảo Cát Bà trong Vịnh Hạ Long rồi mới từ từ xuôi nam, hướng về miền đất tự do.

Với cả bốn thành viên trong gia đình tôi – bố mẹ, tôi và em trai – đây là chuyến tàu biệt xứ, ra đi không hẹn ngày về.

Quần đảo Cát Bà

Trở lại với nỗi buồn của mẹ tôi khi phải rời bỏ Phước Long vào năm 1971. Trước kia chỉ ở Tha La chưa tới 2 năm, mẹ tôi đã gắn bó với họ đạo Nam kỳ nổi tiếng ấy, huống hồ ở Phước Long hơn 12 năm.

Về mặt đạo, mẹ tôi quen thân và rất có uy tín với cả hai đời cha xứ ở nhà thờ tỉnh lỵ; về mặt đời, mẹ tôi kết giao với đủ mọi thành phần, từ mấy ông sĩ quan trong tiểu khu tới các cô giáo xa nhà, các bà buôn bán ngoài chợ; thậm chí sau khi nghe tin thằng trưởng nam ở Sài Gòn thi đậu Tú Tài 2, mẹ tôi đã tự tiện chấm cho tôi cô con gái của bà chủ tiệm bách hóa duy nhất trong tỉnh.

Tôi chỉ được biết việc này khi về thăm nhà và bị mẹ đưa đi xem mặt cô vợ tương lai. Cô khá xinh chỉ phải tội người hơi đẫy đà, nhưng dù thế nào đi chăng nữa một thằng con trai Sài Gòn mới 18 tuổi ranh làm gì đã nghĩ tới chuyện lấy vợ. Về nhà, tôi tìm cách thoái thác; bà ngoại tôi còn đổ thêm dầu vào lửa, nói ở Sài Gòn bà quen thiếu gì, có đám còn có cả nhà thuốc tây. Khi bị mẹ tôi cự nự, bà tức mình bảo:

– Tôi nuôi nó (ý nói việc tôi sống với bà) thì để tôi hỏi vợ cho nó!

Thế là hai mẹ con giận nhau, cho tới trước ngày bà và tôi về lại Sài Gòn hai bên mới làm hòa.

Kể những chuyện này ra không phải để khoe khoang mà chỉ để cho thấy mẹ tôi là người đảm đang, xông xáo như thế nào, gắn bó Phước Long tới mức nào!

Về giáo xứ Bùi Chu, Hố Nai năm 1971, mua đất xây nhà xong, qua năm 1972, mẹ tôi lại bắt đầu… xông xáo!

Vào thời gian này, có một đoàn giáo dân miền Trung tỵ nạn cộng sản được đưa vào vùng Hố Nai lập nghiệp, một giáo xứ mới (Tân Thành, nếu tôi nhớ không lầm) được thành lập, nằm giữa giáo xứ Bùi Chu và giáo xứ Bắc Ninh. Mẹ tôi tình nguyện giúp cha xứ mới mở trường học, vừa dạy vỡ lòng vừa dạy giáo lý cho trẻ em.

Sau 30/4/1975, trường học (của giáo xứ mới) bị cộng sản tịch thu. Nhưng bù lại, mẹ tôi lại “chiếm” được một ngôi trường lớn hơn, đó là trường của giáo xứ Bùi Chu!

Nguyên sau khi thấy cộng sản tịch thu trường học của giáo xứ mới, biết thế nào họ cũng chiếm trường của giáo xứ Bùi Chu, mẹ tôi đã xúi các cụ già neo đơn tới “chiếm” trường làm nhà dưỡng lão, đặt tên là “Nhà Tình Thương”, giúp các cụ thiết lập cơ sở chăn nuôi, trồng trọt để tự lực cánh sinh.

Trước việc đã rồi (và đầy chính nghĩa ấy), cộng sản đành chịu thua. Nhưng chỉ thua tạm thời, vì như mọi người thường nói với nhau “bà giáo Thuyết mà chết là họ tịch thu Nhà Tình Thương ngay!”

Tuy nhiên, thời gian đã chứng minh mẹ tôi không thua! Về sau, khi công việc ở Nhà Tình Thương ngày càng phát triển và mẹ tôi đã già yếu, chính quyền địa phương đã ép bụng “tỏ thiện chí” bằng cách công nhận đây là một cơ sở xã hội và đứng ra nhận trách nhiệm điều hành.

Nhưng đó chuyện sau này, còn vào năm 1981, khi tôi về Hố Nai ăn bám mẹ thì bà đang là cái gai trước mắt đám cán bộ địa phương, một “bà già giết giặc” có tới ba thằng con trai đi “lính ngụy”.

Chú Thích:

(1) Quất Lâm. Về hành chánh, Quất Lâm là một làng lớn thuộc xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, Nam Định, có bãi biển rất đẹp. Trước khi quân Nhật chiếm Đông Dương (1941), cứ lâu lâu đám quan lại Pháp trên Nam Định trong đó có cả quan công sứ (người đứng đầu tỉnh) lại đưa vợ con về Quất Lâm nghỉ mát, tắm biển.

Nhà thờ Quất Lâm

Sau năm 1975, tới thời kỳ “mở cửa, đổi mới”, Quất Lâm được nâng lên thành Thị trấn Quất Lâm, được ghi nhận là trung tâm mãi dâm lớn thứ nhì ở miền Bắc sau Đồ Sơn (Hải Phòng).

2) Tỉnh Bùi Chu. Trong khoảng thời gian hai năm 1946, 1947, khi cuộc xung đột giữa Pháp – Việt Minh lan rộng và Pháp đã chiếm đóng thành phố Nam Định, phía Công giáo đã tự động thành lập “tỉnh Bùi Chu” gồm các huyện Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, tỉnh lỵ đặt tại Hành Thiện, một làng nổi tiếng xưa nay có nhiều người đỗ đạt nhất ở miền Bắc được nhắc tới trong ca dao: gái Cổ Am – trai Hành Thiện.

Tuy nhiên, ngay trong nội bộ Công giáo cũng có nhiều người không chấp nhận Bùi Chu là một “tỉnh”; sau di cư vào Nam và làm giấy “Thế vì khai sanh” cho những đứa trẻ ra đời trong giai đoạn này, họ đã đổi Bùi Chu thành Nam Định. Chính bà ngoại tôi tuy thân với các “đấng bậc” cũng phải nói “Làm gì có cái tỉnh Bùi Chu!”

(3) Nhà thờ Phú Nhai. Mặc dù Phú Nhai chỉ là một làng thuộc xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, nhưng có ngôi nhà thờ lớn nhất Đông Nam Á, vì nơi đây được ghi nhận là điểm truyền giáo đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam.

Nhà thờ Phú Nhai, còn gọi là Đền Thánh Phú Nhai, cũng là nhà thờ đầu tiên được xây dựng công khai tại VN, ngay sau khi vua Tự Đức ký sắc lệnh bãi bỏ cấm đạo vào năm 1866, chấm dứt gần 3 thế kỷ bách hại đạo Công giáo.

Với kiến trúc “gothic” kiểu Pháp độc đáo, nhà thờ Phú Nhai còn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính đẹp nhất VN. Sau năm 1954, nhà thờ bị xuống cấp trầm trọng; bước sang đầu thế kỷ 21, nhờ sự đóng góp của “cựu giáo dân” Phú Nhai trong Nam và hải ngoại cùng các nhà hảo tâm, nhà thờ được trùng tu.

Năm 2008, nhà thờ Phú Nhai được Giáo hội La-mã sắc phong nâng lên hàng Vương cung Thánh đường (Basilica).

Đây là một trong bốn Vương cung Thánh đường tại VN, gồm (theo thứ tự sắc phong):

– Nhà thờ Đức Bà (Sài Gòn)

– Nhà thờ La Vang (Quảng Trị)

– Nhà thờ Phú Nhai (Nam Định)

– Nhà thờ Sở Kiện (Hà Nam)

Nhà thờ Phú Nhai sau khi được trùng tu

(4) Son Đố Mì.Thực ra “son đố mì” chỉ là ba nốt nhạc Sol (G), Do (C) và Mi (E) trong ký âm pháp, nhưng ở đây đã được Việt Minh sử dụng để gọi một ca khúc và điệu nhảy giữa nam nữ cán bộ phát xuất từ Hoa Lục (Trung Cộng). Ngày ấy, ở vùng quốc gia, người ta thường hát nhái như sau:

“Son mì son là son đố mì, son mì son là ôm nhau đi, nhờ có bác Hồ mà ta mê ly…”

Hồ Chí Minh nhảy son đố mì với thiếu nhi Hà Nội

 Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 May 2025

8. Cung Tiến

Cung Tiến nổi tiếng rất sớm. Những ca khúc đầu tiên của ông như Thu Vàng, Hương Xưa, Hoài Cảm, đều được viết từ khi ông còn ngồi ở ghế các trường Trung Học. Những bài hát của Cung Tiến khi ấy, thường được đưa tới thính giả trước hết qua “chương trình phát thanh học sinh, sinh viên” của đài phát thanh Quốc Gia Sài Gòn, bằng các giọng ca Duy Trác, Đỗ Tuấn [Đỗ Đình Tuân], Phạm Vận, Kim Tước, Mai Hương, Bạch Tuyết, Mai Ngân, Mai Hân, Thể Tần, Hồng Hảo … tất cả đều còn là học sinh, sinh viên. Và, những ca khúc đầu tay ấy của Cung Tiến, không phải chỉ được các sinh viên, học sinh ưa thích, mà còn được hoan nghênh bởi các thành phần thính giả rộng lớn khác nữa.

Vì thế, Cung Tiến trở thành niềm hãnh diện chung của các sinh viên, học sinh một thời. Ông như biểu tượng của một tài năng trẻ, xuất hiện là được công nhận ngay.

Tuy chỉ là những tác phẩm đầu tay, nhưng những bài hát của Cung Tiến đã có đủ nét tài hoa và nghiêm chỉnh, để có thể bền vững lâu dài. Quả thật, bài hát nào của Cung Tiến, dù ngắn hay dài, luôn luôn toát ra một vẻ trang trọng, đẹp cái đẹp của một bức tranh lụa nhiều hơn một bức sơn dầu. Tất cả màu sắc hình như đều được nhìn qua một lớp sương mù, ẩn đấy mà hiện đấy. Theo Phan Lạc Phúc, những bài hát đầu tay của Cung Tiến, “từ khi xuất hiện tới nay, trên 40 năm, không lúc nào ngừng tỏa hương thơm. Một hương thơm dịu dàng, sâu kín, có để ý tìm mới thấy. Nó không gây ồn ào như một số nhạc thời thượng, tiền tuyến, hậu phương, du ca, về nguồn, thân phận, nhưng có một sức sống riêng bền bỉ. Đó là một khu vườn Cung Tiến, không lẫn với ai, nhạc ‘xưa’ nhưng không ‘cũ’ bao giờ, nghe càng lâu càng thấm. Nó chịu được sự thử thách của thời gian.

Nghe nhạc Cung Tiến, tôi thường nghĩ đến người con gái đẹp của một thế gia vọng tộc vừa suy tàn, sống ẩn dấu trong một khu vườn hẻo lánh, nhưng luôn luôn mang một nỗi tự kiêu thầm kín về gia phong và nếp sống của mình”. Có người cho rằng, ca khúc của Cung Tiến đều là những bản dịch từ thơ sang nhạc. Nó là rượu cất từ nho chứ không phải rượu ngang.

Ông là người có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt, ngoài viết nhạc Cung Tiến còn là một dịch giả văn chương và là một chuyên gia kinh tế, nhưng ông yêu thơ. Lời ca của ông có một vẻ gì đó như được chiết ra từ thơ,

thơ của những người ông đã đọc, thơ của trời đất và thơ của chính tâm hồn ông:

Trên đường vào thôn vắng

Vương dày đặc tơ trăng

Tưng bừng hội hoa đăng

Muôn ánh đèn hòa muôn tiếng cười

muôn tiếng ca

Lòng ta như mới nở muôn cánh hoa

Người ta không thể tách rời trăng ra khỏi bất cứ vật gì trong một khung cảnh dày đặc tơ trăng như thế. Vâng hình như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương cũng đã nhìn thấy một đêm trăng như thế. Về phần lời ca, tuy cách xử dụng ngôn ngữ, những hình ảnh Cung Tiến đưa ra trong nhạc của mình không có gì mới lạ, nhưng nó hợp nhất với tài năng của ông, làm nên một xâu chuỗi những hạt ngọc quý và nhất là, nó cho người nghe

thấy được cái tiềm ẩn kỳ diệu của chữ nghĩa, người ta không bao giờ tát cạn được. Nếu người ta biết cách dùng, không có chữ nào cũ cả. Một điểm đặc biệt khác nữa của nhạc Cung Tiến là nó toát ra một không khí trí thức, dù cho nó có là một bản tình ca chăng nữa. Nó giống một ngôi đền hơn là một căn nhà. Nó gần với tưởng tượng hơn là da thịt. Nó gợi cho người ta nhớ tới tuổi trẻ hơn là những phần đời về sau.

Nó là thế giới để cho người ta chiêm ngưỡng, nâng niu, chứ không phải để sống với. Đây không phải là ưu hay khuyết điểm của nhạc Cung Tiến.

Mà chỉ vì nó đã được tạo ra như thế. Ba mươi, bốn mươi năm, đã trôi qua.

Cung Tiến nay đã ở vào cái tuổi nhi nhĩ thuận. Ông sáng tác không nhiều, hay đúng hơn, những gì ông cho chúng ta nghe không nhiều. Nhưng mỗi bài là một tác phẩm hoàn chỉnh, Và bao giờ cũng được viết bằng sự đắn đo, suy nghĩ kỹ càng. Vì thế, thời gian trôi qua, Cung Tiến vẫn bảo vệ được lòng yêu mến của người nghe đối với nhạc của mình. Ca khúc của Cung Tiến liên quan nhiều tới thơ. Mỗi khổ nhạc của ông, tách rời ra, là một khổ thơ.

Không phải ông chỉ là người yêu thơ. Mà bản thân ông cũng là một thi sĩ. Lời ca của ông chính là thơ của ông. Ông cũng là người phổ nhạc rất nhiều thơ. Thơ Thanh Tâm Tuyền. Thơ Trần Dạ Từ. Thơ Quang Dũng. Ông

cũng đã đưa cả tập Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm [?] vào một bản giao hưởng.

Cung Tiến còn phổ nhạc cả Đường thi nữa. Đó là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu với bản dịch ra Việt ngữ của Vũ Hoàng Chương. Cung Tiến là một người khó tính. Ông thay đổi lối viết hoài. Từ những ca khúc như Hoài Cảm, Hương Xưa đến nhũng bài như Mắt Biếc, Lệ Đá Xanh là một thay đổi. Tới những bài như Hoàng Hạc Lâu lại một giai đoạn thay đổi khác nữa.

Thế nhưng Cung Tiến vẫn nói về những sáng tác trước đây của mình như những bài tập. Dù Cung Tiến nói với ý nghĩa thế nào, thính giả nói chung, đều cho rằng, điều quan trọng nhất đối với một tác giả là tác phẩm, kỳ dư chỉ là những chú thích.

Gần đây nhất, Cung Tiến có khuynh hướng viết nhạc không lời chứ không viết ca khúc như trước nữa. Với tài năng sẵn có, với kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt của mình, chúng ta, những thính giả ưa thích nhạc của ông, hy vọng sẽ được nghe những tác phẩm lớn và khác lạ của ông. Nhưng với những gì ông đã viết, chúng ta đã được nghe, Cung Tiến đủ xứng đáng được coi là một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của đất nước chúng ta rồi. Bạn bè ông, những người cùng lứa tuổi với ông khi xưa, vẫn giữ nguyên vẹn niềm hãnh diện một thời và chờ nghe những tác phẩm mới của ông.

Hương Xưa

Người ơi!

Một chiều nắng tơ vàng hiền hòa

hồn có mơ xa

Người ơi!

Đường xa lắm con đường về làng

dìu mấy thuyền đò

Còn đó tiếng tre êm ru

Còn đó bóng đa hẹn hò

Còn đó những đêm sao mờ

Hồn ta mênh mông nghe sáo vi vụ

Người ơi!

Còn nhớ rõ trưa nào ngày nào

vàng bướm bên ao

Người ơi!

Còn nghe mãi tiếng ru êm êm

dường trong ca dao

Còn đó tiếng khung quay tơ

Còn đó con diều vật vờ

Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu

tới kiếp nào cho vừa

Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài

một giấc xa xôi

Buồn sớm đưa chân cuộc đời

Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa

Dù có bao giờ lắng men đợi chờ

Tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa

Cung nguyệt cầm vẫn thương Cô Tô

Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ

Tiếng đàn đợi chờ mơ hồ

Vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó

Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài

một giấc ai mơ

Dù đã quên lời hẹn hò

Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha

Chờ đến bao giờ tái sinh cho người

Đời lập từ những đêm hoang sơ

Thanh bình như bóng trưa đơn sơ

Nay đời tan biến trong hư vô

chết đầy từng mồ oán thù

Máu xương tơi bời nhiều mùa thu

Người ơi!

Chiều nao có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi

Người ơi!

Chiều nao có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi

Tình có ghi lên đôi môi

Sầu có phai nhòa cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người

Và yên vui sống cuộc sống vui

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

7. Chung Quân

Có người nghe nhạc Việt Nam đưa ra nhận xét rằng, các nhạc sĩ Việt Nam, dẫu khác biệt nhau thế nào, vẫn có một điểm chung, đó là, hình như ai cũng nặng tình với quê hương. Trong ngôn ngữ của chúng ta hai tiếng “quê hương” có rất nhiều ý nghĩa. Thu hẹp là quê cha đất tổ của một người. Mở rộng là đất nước, là tổ quốc.

Đối với một người Việt Nam tha hương, tất cả những gì thuộc về đất nước đều là quê hương. Đất là quê hương. Sông biển, núi non là quê hương. Cây cỏ là quê hương.

Từng đám mây, từng bóng cây, từng ngọn cỏ

Cũng bâng khuâng như đợi bóng anh về

[Hoàng Cầm]

Khi người ta trông ngóng nhau, quê hương, cây cỏ và lòng người là một.

Cũng có người cho rằng chính vì quá nặng lòng với quê hương như vậy, chúng ta thường bị đất giữ chân, thiếu óc phiêu lưu, mạo hiểm.

Tha phương đối với chúng ta luôn là một điều bất đắc dĩ. Và, đó cũng là lý do làm cho đời sống chúng ta chậm lại. Đúng hay sai, cái quan niệm sống ấy, cái cách sống ấy, đối với quảng đại quần chúng Việt Nam, đến nay, đã thay đổi bao nhiêu và nhất là nó đã phản ảnh ra sao trong nhạc của chúng ta nhỉ? Riêng cái tình quê hương thì dường như vẫn dằng dặc trong lòng mọi người. Nghe lại những bài hát như Làng Tôi của Chung Quân chẳng hạn, người ta vẫn thấy tâm hồn rung động. Sự rung động qua những tầng lớp thời gian và các khoảng cách không gian, có thể phai nhạt, nhưng chính sự phai nhạt lại làm cho càng trở nên thấm thía.

Làng Tôi

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh

Có sông sâu lờ lững vờn quanh

Êm xuôi về Nam

Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau

Bóng tre ru bên mấy hàng cau

Đồng quê mơ màng

Nhưng than ôi!

Có một chiều thu lá thu rơi

Có một chiều thu lá thu rơi

Ôm súng lìa quê

Tôi thầm mơ bóng ngày về

Mơ trông bóng ngày về

Quê tôi chìm trong trời mờ sương

Quê tôi là bao nguồn yêu thương

Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn

Là bao vấn vương tâm hồn

Người bốn phương

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 30 May 2025

Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi
Du Tử Lê

ba mươi năm lẻ ai ngờ được
tao với bay, giờ gặp tại đây
chiến tranh đã dứt nhưng thương tích
vẫn ở cùng tao, ở với bay.

bay đã kinh qua địa ngục đời
từng nhìn binh biến giống trò vui
chiến xa, đại bác bay chơi nổi
bom ném ngang trời cũng được thôi.

trận mạc ngày xưa còn chẳng ngán
nhằm nhò chi ít vỉ bia “cua”
cười khan những buổi đi “chà láng”
mà lại buồn so diện H.O.

nốc rượu nguyên đêm chờ được xỉn
ôi mái tường rêu: Chu Văn An
nhiều thằng “thăng” lúc còn hôi sữa
dăm tên đầu bạc, kể hung hăng

đạn bom ngốn mất thời trai trẻ
cải tạo khơi khơi năm, mười niên
ra tù mất vợ, con quay mặt
cười gượng ra điều ta vẫn… ngon

trong mắt bay nay vàng kỷ niệm
tao đầy gân máu nhớ quê hương
đêm đêm ác mộng còn truy kích
lạnh cẳng tao hầm nhất Biển Đông

tụi bay muốn sống? – Quên cho lẹ
mũ đỏ, đen gì… cũng đã xong
tao cam phận kiếm tô canh cặn
bay rồi cũng thế! – Liệu nghe con

sa trường mất xác. Giờ đâu khác?
xương bỏ quê người, cỏ cũng chê
chắc chi đã được như Tư Cóc
chết giữa quê hương – đắp mảnh cờ

Minh Dê, Hồng Trố… tao mừng lắm
những tưởng không còn gặp tụi bay
đêm qua uống rượu con nhà Kiểm
thương bạn tao thèm được khóc ngay

nhìn nhau chợt thấy ra sông núi
có chút gì nghe rất thốn đau
hẹn bay về chết trong tay mẹ
tổ quốc nghìn năm bỏ được sao?

Du Tử Lê
04/02/1991