Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện
Post by Sơn râu 5 Jun 2025

Phần 21

Phần II: Về Miền Đất Hứa

Chương 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ

Ngôi nhà rất rộng, dư sức cho hàng trăm người nằm, ngồi thoải mái nếu như cái sàn gỗ còn nguyên vẹn. Nhưng sau bao năm tháng bị bỏ hoang phế, sàn gỗ nhiều chỗ đã bị mục nát, thủng lỗ cho nên ông “đại diện tỵ nạn” đã phải năn nỉ những người tới trước thu hẹp “giang sơn” để có chỗ cho chúng tôi.

Thế là ghe của tôi bị chia năm xẻ bảy, mỗi nhóm ở một chỗ. Riêng gia đình tôi chậm chân nên chỉ còn một khoảng trống vừa gần lối ra vào vừa có một lỗ ván thủng, bước sơ ý là lọt chân xuống dễ như chơi!

Chúng tôi không chỉ là những người tới sau cùng mà còn là ghe nhỏ nhất, ít người nhất so với những ghe tới trước; tất cả đều là ghe dài trên 10 mét, máy 2, 3 lốc, từ Việt Nam đi thẳng tới hải phận Natuna và được ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương chỉ đường cập vào đảo Sedanau. Trong số này có một ghe hầu hết khách là người Việt gốc Hoa, họ chỉ nói tiếng Hoa và nhìn các thuyền nhân khác bằng nửa con mắt!

Cũng nhờ bị nằm gần lối ra vào mà tôi có cơ hội làm quen với Mười Triêm, chủ chiếc ghe mới tới Sedanau trước chúng tôi mấy ngày, cho nên đa số người trong ghe của ông cũng bị nằm gần lối đi.

Mười Triêm, tuổi trên dưới 40, Nam kỳ đặc, dân tỉnh lẻ nhưng ra vẻ hiểu biết nhiều, tuy hơi ba hoa, mở miệng ra là “Đ.M.” nhưng là một người thật thà, vui tính. Trò chuyện qua lại, chúng tôi mới biết hai ghe chỉ “đánh” cách nhau một ngày: ghe chúng tôi ra đi đêm 15/10/1981 tại Lam Sơn còn ghe của Mười Triêm đi đêm 16 tại Cần Giờ.

Ngày ấy, những người tổ chức vượt biên ở vùng Sài Gòn, Bà Rịa đều biết Cần Giờ là địa điểm lý tưởng nhất với điều kiện phải có nhiều vàng để lo bến bãi, nơi ghe “taxi” đón khách để đưa ra ghe lớn.

Vào khoảng thời gian chúng tôi ra đi (năm 1981), những ghe đi từ Cần Giờ thường lấy mỗi đầu khách 5, 6 cây vàng so với giá trung bình 3 cây ở những nơi khác. Bù lại, việc đưa đón khách, bến bãi được bảo đảm gần như 100%, trừ trường hợp công an ăn chia không đều tìm cách phá nhau, nhưng rất hiếm khi xảy ra ở Cần Giờ. Ghe vượt biên cũng có kích thước lớn hơn, động cơ mạnh hơn. Chẳng hạn ghe của Mười Triêm dài tới 12 mét và được trang bị động cơ Yanmar 2 lốc “đầu bạc”, tức là mạnh gần gấp ba lần cái động cơ F10 của chúng tôi. Ngoài kích thước và máy mạnh, ghe của Mười Triêm còn có hoa tiêu xịn, tài công kinh nghiệm vậy mà vẫn tới Nam Dương sau chúng tôi mấy ngày!

Nguyên nhân: phải tấp vào Côn Sơn tránh bão! Nhắc lại, ghe chúng tôi rời Lam Sơn đêm 15 rạng 16/10/1981 và tới ngày 17, 18/10 thì gặp bão cấp 3 khi đang ở giữa biển, chỉ biết phó thác cho trời; còn nghe Mười Triêm rời Cần Giờ đêm 16, qua ngày 17 gặp bão, phải tấp vào Côn Sơn. (Bão cấp 3 ngày ấy tương đương với cấp 7 theo cách gọi hiện nay)

Như tôi đã viết trước đây, vào năm 1979, sau khi Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo được thành lập, ngành công an biên phòng đã thống nhất hoạt động từ duyên hải Vũng Tàu xuống tới đảo Côn Đảo (trước kia thuộc tỉnh Hậu Giang) để kiểm soát các cuộc ra đi bán chính thức và đối phó với phong trào vượt biên bất hợp pháp. Tới năm 1981, khi không còn việc ra đi bán chính thức nữa và việc “bán” bến bãi cho ghe ra đi bất hợp pháp đã trở thành “dịch vụ” chính của công an biên phòng, việc “săn mồi” ngoài khơi Đặc khu Vũng Tàu – Côn

Đảo hầu như chấm dứt. Nói cách khác, các ghe vượt biên đi từ Vũng Tàu xuống tới Côn Đảo không còn lo sợ bị tàu thuyền của công an biên phòng “dí” nữa. Nhưng nếu gặp bão phải tấp vào Côn Sơn như ghe của Mười Triêm lại là chuyện khác. Theo hồi ký cũng như lời kể lại của những người từng phải tấp vào Côn Sơn thì tùy trường hợp mà có khi thoát nạn có khi tàn đời!

Nếu là ghe “nhà giàu” và biết thân biết phận nộp vàng sớm cho công an hoặc bộ đội biên phòng ngay sau khi vào bờ thì thường được ra đi sau khi hết bão, nhưng ghe “nhà nghèo” không có vàng để nộp thì ghe bị tịch thu, người bị tống giam để chờ người nhà tới chuộc, không chuộc thì bị đưa tới các trại cải tạo để lao động khổ sai. Bi thảm nhất là trường hợp các cô gái trẻ và các thiếu phụ có nhan sắc bị đưa về huyện, tỉnh giam giữ đã bị công an, cán bộ cao cấp xâm phạm tình dục. (1)

Giờ này tôi không còn nhớ ngày ấy mỗi đầu người trên ghe Mười Triêm phải chi cho công an mấy cây vàng, chỉ biết nhờ chi sớm, nội vụ không bị báo cáo lên huyện ủy (Côn Đảo), ngay sau khi dứt bão ghe đã được “thả” vào đêm hôm đó, và thẳng đường tới Natuna, được ngư dân Nam Dương hướng dẫn vào đảo Sedanau.

Khi nghe tôi kể ghe chúng tôi chỉ dài 7 mét rưỡi, động cơ F10 mà dám ra khơi vào giữa mùa bão, Mười Triêm đã lắc đầu le lưỡi; tới khi tôi kể về hai ngày chống trả với bão cấp 3, ông ta nói:

– Nếu tui không đi sau mấy cha một ngày, bị bão phải tấp vào Côn Sơn, chắc chắn tui không tin. Mấy cha liều mạng thiệt!

Nghe Mười Triêm nói, tôi nhớ lại những lúc từ trên ngọn sóng nhìn xuống vực thẳm trước mặt, hoặc bị những con sóng cao mấy mét phủ xuống nghe mà rùng mình!

Đồng thời tôi cũng nghiệm ra những gì ông anh họ vợ nói là đúng: ghe lớn sóng lớn: nếu là chiếc ghe dài hơn 12 mét của Mười Triêm, nó có thể bị những con sóng liên tiếp đánh lật ghe, bể ghe như đã xảy ra cho biết bao “ghe lớn” khác!

* * *

Vì phần lớn diện tích của căn nhà sàn đã bị những người tới trước chiếm hữu, chúng tôi phải nấu nướng ngay tại chỗ nằm của mình. Mỗi hộ được cấp phát một cái bếp dầu hôi, tương tự những cái bếp ở Sài Gòn trước năm 1975, và một, hai cái nồi nhỏ.

Về thực phẩm, chúng tôi được cấp phát gạo và đồ hộp. Đồ hộp ở đây không phải tiêu chuẩn của Cao ủy Tỵ nạn ở các trại tỵ nạn mà do nhà chức trách địa phương cung cấp cho nên chỉ có một món duy nhất là cá hộp với phẩm chất thuộc hàng thấp nhất, vậy mà cũng không đủ ăn!

Nhưng với những người đi nghe Mười Triêm và mấy ghe tới trước thì không có vấn đề, bởi đa số là người Việt gốc Hoa hoặc người Việt có nhiều vàng mang theo, chỉ cần đi mấy bước ra tiệm chạp phô thì cái gì cũng có! Đó là một trong những cửa tiệm, hàng quán trên con đường từ bến tàu đi ngang qua nơi thuyền nhân tạm trú, chủ nhân đa số là người gốc Hoa.

Thời gian này, Sedanau chưa được chính thức mang danh một “city” (như anh sinh viên và người phụ tá của ông cáp-ten thường gọi) , chưa phát triển thành hòn đảo du lịch nổi tiếng như ngày nay, được gọi là một “floating city” với những căn nhà (bungalow) trên biển san hô trong suốt dành cho khách du lịch, nhưng người Hoa thì đã hiện diện từ đời nào và làm chủ nhiều hàng quán trên con đường chính của hòn đảo.

Sedanau ngày nay: floating city

Giờ này, tôi vẫn còn nhớ trong ba cửa hàng gần đó có tới hai là của người gốc Hoa, một tiệm chạp phô và một tiệm bán trang sức, vàng bạc (dân Nam Dương là chúa thích đeo vàng), tiệm còn lại là của người Nam Dương chuyên bán quần áo, giày dép, túi xách…Theo sự mách bảo của đám thuyền nhân gốc Hoa, chúng tôi có thể mang vàng ra tiệm trang sức bán lấy tiền Nam Dương để tiêu dùng. Ngày mới lên đảo Pulau Laut, vì lo sợ viển vông, bà chị vợ tôi đã nhờ cô em đeo dùm một cái nhẫn (kim cương) hạt tấm. Tới Sedanau, bà chị nói cho luôn cái nhẫn ấy, bán đi lấy tiền chi dùng. Tiệm bán trang sức định giá chiếc nhẫn 20.000 rupiah (tiền Nam Dương).

Thời gian này, chúng tôi hoàn toàn không có một chút ý niệm về giá trị của đồng rupiah so với đồng đô-la Mỹ. Hiện nay, sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Á châu trong thập niên 1990, đồng rupiah bị mất giá thê thảm, tới năm 2022 một đô-la Mỹ ăn tới 15,000 rupiah, nhưng vào năm 1981 tại trại tỵ nạn Galang, theo tôi nhớ thì một đô-la Mỹ chỉ ăn 500 rupiah.

Trở lại thời gian ở Sedanau, chúng tôi chỉ biết tính giá trị của đồng rupiah qua việc mua bán tại các cửa tiệm, chẳng hạn một gói thuốc lá hiệu Hero – loại thuốc đầu lọc tương đối rẻ tiền của Nam Dương – giá chỉ 200 rupiah, một hộp pa-tê khoảng 300 gr giá 150 rupiah… Như vậy, với gia đình bé nhỏ của tôi, số tiền 20.000-rupiah cũng khá lớn, dè sẻn cũng cầm cự được cả tháng.

* * *

Với mọi người trong ghe của tôi, cuộc sống ở Sedanau tương đối thoái mái và thú vị hơn Pulau Laut. Điều bực mình duy nhất là diện tích sàn nhà dành cho đám “ma mới” chúng tôi vừa chật hẹp vừa có nhiều chỗ ván bị mục. Một ngày nọ, đứa con gái 7 tuổi của tôi vô ý bị lọt xuống một lỗ ván mục, may phước sao còn kẹt lại cái đầu và một cánh tay, sau này suốt đời mang một cái thẹo ở cằm.

Với đám trai trẻ và con nít thì thú tiêu khiển duy nhất là tắm biển. Thực ra “biển” ở đây chỉ là khoảng trống giữa ngôi nhà sàn và cái cầu tàu dành cho ghe đánh cá, mỗi bề khoảng 50 m; không có san hô, chỉ có ít đá ngầm. Các bà các cô thì ra “phố”, tức con đường chính của Sedanau, nhưng đa số chỉ vào tiệm chạp phô, còn các cửa tiệm quần áo, trang sức… thì đứng bên ngoài “window shopping”.

Một ngày nọ, tôi rủ tài công Lý đi ra “city” mà anh sinh viên và người phụ tá của ông cáp-ten thường nhắc tới. Theo lời mấy người chủ tiệm người Hoa, cứ theo con đường chính sẽ tới city.

Sau khi ra khỏi khu hàng quán, hai bên đường chỉ còn một màu xanh của vườn tược, phía trong là những căn nhà dân thấp thoáng sau những hàng dừa cao vút. Dù nhà nào cũng lợp tôn chứ không lợp ngói nhưng vì dừa ở đây cao như những cây cau ở Việt Nam, cảnh trí đã khiến tôi liên tưởng tới đường đi Lái Thiêu, mà ngày chưa vào quân đội, tôi thường cùng mấy tay bạn chở đào đi chơi cuối tuần. Đi khoảng một cây số đã thấy mỏi chân mà nhìn về phía trước thấy những ngôi nhà lầu của “city” vẫn còn xa tít, chúng tôi quyết định bỏ cuộc!

* * *

Ngay sau khi tới Sedanau và làm quen với Mười Triêm, tôi đã hỏi ông ta có biết gì, hoặc nghe nói gì về tương lai người tỵ nạn đang tạm trú trên hòn đảo này không, thì ông ta lắc đầu.

Nhưng không chỉ có Mười Triêm mà kể cả những người đã ở Sedanau lâu nhất (gần 3 tháng) cũng không biết gì. Còn ông “đại diện tỵ nạn” đã nhắc tới ở trên thực ra chỉ có nhiệm vụ nhận lương thực và phân phối cho mọi người. Viên chức Nam Dương duy nhất mà ông ta có thể tìm gặp trong trường hợp khẩn cấp là viên cảnh sát ở văn phòng bến tàu.

Về phần ông cựu “trung sĩ người nhái” thỉnh thoảng có ghé chơi nhưng chủ yếu là để show-off với đám con nít chứ cũng chẳng biết gì về những điều chúng tôi muốn biết. Trong bối cảnh ấy, lại có những tin đồn được loan truyền trong nội bộ người tỵ nạn nói rằng tất cả mọi thuyền nhân đang tạm trú trên đảo Sedanau sẽ bị Nam Dương trả về Việt Nam! Khỏi nói, tin đồn này đã gây hoang mang, lo sợ không ít.

Vì đồn qua đồn lại, người ta không được biết đích xác nguồn gốc của tin đồn này mà chỉ nghe kể là do các chủ hàng quán người Hoa ở Sedanau nói với một vài thuyền nhân Việt gốc Hoa nào đó.

Cho tới sau này tôi vẫn không tin rằng các chủ hàng quán người Hoa ở một hòn đảo xa xôi như Sedanau lại được biết, hoặc quan tâm theo dõi chính sách của chính phủ Nam Dương đối với người tỵ nạn Việt Nam. Vì thế nếu quả thực có người trong bọn họ (các chủ hàng quán) tung ra tin trên thì cũng chỉ là nghe lóm các viên chức Nam Dương nói chuyện với nhau câu được câu chăng, rồi kể lại với thuyền nhân Việt gốc Hoa, không quên thêm thắt cho ly kỳ rùng rợn!

Rốt cuộc chúng tôi được nghe nhiều phiên bản khác nhau, trong đó ra vẻ có lý nhất là bắt đầu từ năm 1981, Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc chỉ nhận những thuyền nhân đi thẳng tới các tại tỵ nạn ở Đông Nam Á, hoặc được tàu vớt đưa tới các trại này.

Nghĩa là riêng tại Nam Dương, chỉ những thuyền nhân nào đi thẳng tới trại tỵ nạn trên đảo Kuku hay đảo Galang thì mới được nhận. Còn những người tới các đảo khác, chẳng hạn Sedanau, thì bị xem là di dân bất hợp pháp, sẽ bị trả về Việt Nam.

Bên cạnh đó còn có tin đồn nói rằng tùy điều kiện và nhu cầu ở mỗi địa phương, nhà cầm quyền sở tại có thể cho khép người tỵ nạn ở lại Nam Dương sinh sống.

Riêng bản thân tôi, mặc dù từ khi được thả về vào đầu năm 1981 cho tới khi vượt biên vào giữa tháng 10, trong vô số tin đồn thất thiệt được loan truyền tại miền Nam VN vào “thời đại tin đồn” tôi không hề nghe tin đồn quái ác này, giờ đây cũng không tránh khỏi hoang mang, lo ngại!

Càng hoang mang, lo ngại hơn khi nhớ tới việc mấy đứa con bà chị vợ tôi được ngư dân Nam Dương kéo vào đảo Pulau Laut cách đây hai năm, sau hơn một tuần ở trên đảo đã được đưa thẳng tới trại tỵ nạn ở Kuku, trong khi chúng tôi thì bị đưa tới Sedanau!

* * *

Sau hai tuần lễ sống trong hoang mang, chúng tôi được thông báo ngày mai sẽ có tàu tới đón. Đón đi đâu, không ai biết!Khoảng 9 giờ sáng hôm sau, đoàn người được dẫn ra bến tàu. Vừa tới cổng vào cầu tàu, chúng tôi đã thấy một chiếc tàu lớn cập sẵn ở bến. Ra tới nơi, tôi thấy đó là một chiếc tàu chở hàng dài khoảng 5, 6 chục mét, phía mũi tàu sơn cái tên rất đẹp: Flora.

Các viên chức Nam Dương trước đây đón chúng tôi tới Sedanau, nay đã đợi sẵn. Anh chàng trung sĩ người nhái cũng có mặt, vui vẻ từ giã chúng tôi nhưng khi tôi hỏi anh có biết chúng tôi sẽ được đưa đi đâu không, anh ta lắc đầu! Toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu Flora là người tây phương, sau này tôi được biết họ là người Đức trong một tổ chức thiện nguyện được thành lập để vớt người tỵ nạn Việt Nam trên biển Đông.

Khi chúng tôi lên tàu thì đã có sẵn một số người tỵ nạn Việt Nam ở trên đó, gồm những người may mắn được tàu Flora vớt ngay trên biển, một số khác được tàu buôn vớt rồi “bàn giao” cho tàu Flora, một số cập vào các giàn khoan, cùng một số cập vào các đảo khác trong quần đảo Natuna.

Một người đã ở trên tàu Flora hơn một tuần cho tôi biết tàu sẽ chở đoàn người tới đảo Kuku. Ông cũng kể với tôi việc mọi người trên ghe của ông thoát chết nhờ gặp tàu Flora đúng lúc.

Nguyên chiếc ghe của ông từ Kiên Giang đi Mã Lai nhưng khi tới gần bờ đã bị tàu của hải quân Mã Lai chặn lại và kéo ra hải phận quốc tế. Sau khi trở ra khơi ghe gặp bão lớn, sắp chìm thì may mắn được tàu Flora vớt.

Ngày ấy, tôi đã hết sức ngạc nhiên và bất bình khi được nghe kể về hành động này của hải quân Mã Lai. Chỉ sau khi định cư tại Úc, đọc hồi ký của người Việt tỵ nạn hoặc tin tức trên các trang mạng mới biết những trường hợp bị kéo ra hải phận quốc tế vẫn còn may mắn, bởi có những ghe bị “ủi” cho chìm, hoặc bị tấn công bằng súng đạn. Tới năm 1992, tôi còn được xem cuốn phim “Turtle Beach” trong đó có cảnh người Mã Lai tàn sát người tỵ nạn Việt Nam một cách không gớm tay.

[Turtle Beach, hay The Killing Beach, là một sản phẩm Úc-Mỹ, truyện phim phỏng theo cuốn truyện có cùng tựa của nữ văn sĩ Úc Blanche d’Alpuget, xuất bản năm 1981. Cuốn phim đã gây căng thẳng ngoại giao giữa hai quốc gia vì tính cách man rợ trong cảnh đoàn người trang bị gươm đao, mã tấu, tàn sát thuyền nhân vừa đặt chân lên bãi biển.

Thời gian này, bà Blanche d’Alpuget đang phục vụ tại Phòng Thông Tin của sứ quán Úc ở Nam Dương, đã bỏ một năm trời sang Mã Lai tìm hiểu, thu thập dữ kiện để viết cuốn truyện. Năm 1995, bà trở thành đời vợ thứ hai của cựu Thủ tướng Úc Bob Hawke]. Tới trưa, chúng tôi được ăn cơm do toán “anh nuôi” người Đức và một số thuyền nhân tình nguyện nấu nướng. Bữa cơm chỉ có một món duy nhất là thịt hộp nhưng rất ngon miệng. Có thể vì đây là thịt hộp “cao cấp” (của Đức), cũng có thể vì được biết mình đang trên đường đi tới đảo Kuku, hoặc vì cả hai nguyên nhân.

Sau khoảng 5 tiếng đồng hồ đi về hướng tây tây nam, chúng tôi nhìn thấy nhiều hòn đảo lớn nhỏ ở cuối chân trời. Sau này tìm hiểu qua sách vở, bản đồ, tôi được biết đó là quần đảo Anambas, cách quần đảo Natuna khoảng 250 km về hướng tây tây nam. Về hành chánh, ngày nay cả hai quần đảo này đều là cấp hạt (regency) của tỉnh Riau nhưng ngày ấy Anambas còn là một quận (district) của hạt Natuna.

So sánh về mọi mặt, Anambas không bằng Natuna. Phong cảnh ở Natuna đẹp hơn, dân cư đông hơn và văn minh hơn…Nhưng chiếc tàu Flora không tiến thẳng vào quần đảo Anambas mà lại đi lên hướng bắc rồi mới vòng xuống phía nam, len lỏi qua nhiều hòn đảo lớn nhỏ và cuối cùng cập vào đảo Kuku.

Kuku là một hòn đảo nhỏ, nằm ở hướng tây nam trong quần đảo Anambas. Khác với đảo Sedanau ở quần đảo Natuna có diện tích lớn hơn, có dân cư, phố xá, Kuku là một hoang đảo đúng nghĩa!

Nguyên vào năm 1979, để có chỗ đón nhận thuyền nhân Việt Nam ồ ạt ra đi – đa số đi “bán chính thức” – cùng một số vượt biên bất hợp pháp, chính quyền Nam Dương đã phải thiết lập một trung tâm tạm trú trên đảo Kuku trong thời gian chờ đợi được đưa tới trại tỵ nạn Galang.

Theo một số nhân viên thiện nguyện từng phục vụ tại Kuku, trong hai năm 1979, 1980, vào thời gian cao điểm, số thuyền nhân ở hoang đảo này lên tới mấy ngàn người.

Còn theo con số chính thức của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, trước sau đã có trên dưới 40,000 thuyền nhân Việt Nam tới Kuku, và một số ít hơn được đưa tới đảo Pulau Air Raya ở gần đó, khi Kuku không còn chỗ chứa.

Vì trên danh nghĩa chỉ là một nơi tạm trú do chính quyền Nam Dương thiết lập chứ không phải trại tỵ nạn của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, Kuku không được (Cao ủy Tỵ nạn LHQ) cung cấp một ngân khoản nào để sử dụng vào việc xây dựng cơ sở vật chất, ngoài những tấm nylon lớn để làm mái che, và thuyền nhân phải tự cất nhà bằng cây rừng, cũng có những thuyền nhân “nhà giàu” bỏ tiền thuê mướn người khác cất nhà cho mình.

Những căn lều ở Kuku (1981) – hình Gaylord Barr

Những chiếc ghe tới thẳng Kuku – hình Gaylord Barr

Cho nên nhìn vào khu vực tạm trú của thuyền nhân ở Kuku, người ta có thể một sự tương phản rõ rệt: từ những ngôi nhà tươm tất tới những túp lều lụp xụp. Nghe kể lại vào thời gian cao điểm (hai năm 1979, 1980), những ngôi nhà xịn ấy thường được người đi trước sang lại cho người tới sau với cái giá có khi lên tới cả cây vàng!

* * *

Từ xa xa, nhìn vào đảo Kuku đã thấy nản, tới gần càng nản hơn; nguyên nhân chính là hòn đảo này thực ra chỉ là một ngọn núi nhô lên mặt biển, cây rừng dày đặc, ven bờ không xanh tốt như ở Pulau Laut mà chỉ lưa thưa vài cây dừa khiến khung cảnh đã không có một chút thu hút mà còn như hăm dọa.

Đường vào đảo Kuku (1981) – hình Gaylord Barr

Tàu Flora tiến vào một cái vịnh nho nhỏ đầy đá ngầm; còn cách bờ biển khoảng 1 km, tàu thuyền phải đi giữa hai hàng cọc để vào bờ, nếu không có thể đụng đá ngầm. Tàu cập bến, một cái bến nho nhỏ cách bờ khoảng 200m, tại đây chúng tôi được các nhân viên Nam Dương hướng dẫn đi bộ vào bờ trên một cái cầu gập ghềnh làm bằng cây rừng, phía trong có hai cánh cổng gỗ. Tại cổng, chúng tôi thấy hàng trăm người tỵ nạn tới đảo trước đã đợi sẵn, chen chúc nhau để xem trong đám người mới tới có ai quen biết không…

Cầu tàu vào Kuku (1981) – hình Gaylord Barr

Chúng tôi lần lượt vào từng người để nhân viên Nam Dương đếm tổng số người vừa tới đảo, sau đó qua thủ tục khám xét, khám sức khỏe và lập danh sách. Đáng nói nhất là thủ tục khám xét, qua đó chúng tôi mới thấy giữa những người đàn ông Nam Dương trên “hoang đảo” Pulau Laut và những viên cảnh sát Nam Dương trên “hoang đảo” Kuku khác xa nhau một trời một vực!

Hành lý họ (cảnh sát Nam Dương) chỉ lục xét qua loa nhưng tới khi khám người thì họ chiếu cố thân thể các nữ thuyền nhân trẻ một cách tận tình và cực kỳ nham nhở, khiến ai cũng phải đỏ mặt, một số bà cô đã phải la lên, nhưng ai bênh mình đây? Đành phải cắn răng chịu nhục! Câu nói “Freedom Is Not Free” áp dụng vào trường hợp này quả thật chính xác tới mức mỉa mai!

Nhưng dù sao đi nữa những nữ thuyền nhân tới Kuku vào thời gian này vẫn còn may mắn hơn nhiều so với những người tới sau ngày các quốc gia Đông Nam Á bắt đầu xua đuổi thuyền nhân, và Cao ủy Tỵ nạn LHQ áp dụng thủ tục “thanh lọc” (bắt đầu năm 1989), người nào không hội đủ tiêu chuẩn “tỵ nạn” sẽ phải tình nguyện hoặc bị cưỡng bách trở về Việt Nam.

Theo tự truyện của số nữ thuyền nhân ở Kuku vào khoảng thời gian này thì từ đầu thập niên 1990, cảnh sát Nam Dương ở Kuku lộng hành, tự do đánh đập thuyền nhân, ngang nhiên vào các lều lôi nữ thuyền nhân vào rừng hãm hiếp!

Trong khi vào thời gian chúng tôi ở Kuku, ít ra đám cảnh sát Nam Dương cũng còn phải nể mặt vị Thiếu tá Chỉ huy trưởng là người của Quân đội Nam Dương, nghe nói trước kia từng phục vụ tại Việt Nam trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên sau Hiệp định Paris 1973.

* * *

Xong thủ tục nhập trại thì đã 4, 5 giờ chiều, chúng tôi được hướng dẫn đi tìm chỗ ở. Thời gian này số người tỵ nạn ở Kuku chỉ còn khoảng trên một ngàn (theo sự ước đoán của tôi) cho nên có khá nhiều lều bỏ trống, người mới tới được tự do lựa chọn. Tôi vốn là người chậm chạp, không thích bon chen, gia đình lại chỉ có bốn mạng cho nên vào đại một cái lều nhỏ ở gần bờ biển mà ai cũng chê vì vừa xiêu vẹo vừa trống trải, cũng may mà hai cái chõng còn sử dụng được.

Sau khi đã “an cư”, những ghe mới tới được kêu đi lãnh nồi niêu, chén đũa, lò nấu, gạo, đồ hộp, chăn mền…, và nhang đuổi muỗi (ở Kuku có rất nhiều muỗi). Qua ngày hôm sau, tôi mới bắt chước thiên hạ đi tới những căn nhà, căn lều bỏ trống khác tìm kiếm vật liệu về tu bổ cái lều của mình. Tới đây xin có đôi dòng về “hoang đảo” Kuku và cuộc sống ở hòn đảo đầu tiên có sự hiện diện của Cao ủy Tỵ nạn.

Hiện nay, nếu vào trang Google với từ khóa “Kuku” chúng ta sẽ thấy những địa danh du lịch như Kuku Beach ở Tân-tây-lan, Kuku Beach ở Solomon Islands (châu Đại dương), Kuku Campers ở Băng Đảo… nhưng không có đảo Kuku ở Nam Dương.

Nguyên nhân rất đơn giản: sau khi các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á bị đóng cửa, những thuyền nhân Việt Nam cuối cùng bị cưỡng bách hồi hương vào cuối thập niên 1990 thì đảo Kuku lại trở thành một hoang đảo như trước kia.

Thành thử phải đánh máy đầy đủ mấy chữ “Kuku Refugee Camp” thì mới hiện ra một, hai bài viết về quần đảo Anambas trong có vài hàng nhắc tới trại tỵ nạn Kuku năm xưa, đồng thời giới thiệu bài viết Kuku Refugee Camp của nhân viên thiện nguyện Gaylord Barr (tôi sẽ nhắc tới ở một đoạn sau).

Thực ra, hiện nay gọi Kuku là một “hoang đảo” cũng chỉ đúng 99%, bởi vì thỉnh thoảng cũng có một vài người Việt trở lại thăm chốn xưa, cho dù chốn xưa nay chỉ còn là những khu rừng thưa vắng vẻ, một cái nghĩa trang hoang tàn. Trên bãi cát có một cái cổng thô sơ với hàng chữ:

WELCOME TO EX VIETNAMESE REFUGEE CAMP

KUKU – JEMAJA ISLAND

ANAMBAS ARCHIPLEGO REGENCY

phía bên trong có mấy mũi tên chỉ đường và một cái lều lợp lá để “du khách” tránh cái nắng cháy da của vùng xích đạo.

Kuku ngày nay

Đó là tất cả những gì còn hiện hữu trên đảo Kuku, nơi trước đây trên dưới 40,000 thuyền nhân Việt Nam đã tạm trú trong thời gian chờ đợi được đưa tới trại tỵ nạn Galang, trong số đó có những người đã vĩnh viễn nằm lại ở hòn đảo xa lạ này…

Trở lại với trại tỵ nạn Kuku vào năm 1981, theo ký ức của tôi và những chi tiết trên tấm “bản đồ” được một thuyền nhân vẽ vào cuối thập niên 1980, trại nằm trên bờ biển hình vòng cung của một cái vịnh nho nhỏ (bề ngang khoảng 1 km), nhìn về hướng bắc.

Chính giữa là bến tàu và cầu tàu dẫn vào bờ. Bên cạnh cầu tàu là đồn cảnh sát Nam Dương. Băng qua một con đường đất là khu lều của người tỵ nạn. Ở vòng cung phía bên trái, cách đó vài trăm mét là một ngôi nhà lớn lợp tôn, gồm Văn phòng chỉ huy trưởng Trại, Phòng Xã Hội Nam Dương, Văn phòng (không thường trực) của Cao ủy Tỵ nạn… Nằm giữa các cơ sở này và cầu tàu là một bãi cát, nơi người tỵ nạn được phép tắm biển và cũng nơi tập trung toàn trại khi cần.

Ở vòng cung phía bên phải, đầu tiên là nhà kho nơi lãnh vật dụng và nhu yếu phẩm, kế tới là các vòi tắm lộ thiên dành cho nam giới. Phía trước nhà kho và các vòi tắm lộ thiên là bờ biển với những hòn đá lớn nhỏ chạy dài tới gần cuối vòng cung, nơi có mấy dãy cầu tiêu lộ thiên theo kiểu “cầu tõm”, tức cầu tiêu trên ao cá tra, trên bờ sông lạch ở Việt Nam.

Các vòi tắm có vách lá vây quanh dành cho nữ giới thì nằm ở phía sau khu lều ở. Qua các vòi tắm này vào tới ven rừng là nhà máy điện, gần đó là nhà thờ Công giáo “dã chiến” làm bằng cây rừng. Vào sâu hơn nữa là nghĩa trang Kuku, còn được gọi là “Kuku 2”.

* * *

Cuộc sống của người tỵ nạn ở Kuku về mặt vật chất, nếu quên đi những cái lều lụp xụp thì đầy đủ, thoải mái hơn ở Sedanau nhiều. Về lương thực, chúng gôi được cấp phát gạo, cá hộp, thịt vịt hộp, mì gói, đậu xanh nguyên hạt… Trong khi chất lượng của đồ hộp và mì gói không được cao cho lắm thì gạo lại thường dư thừa bởi khẩu phần được phát tính đổ đồng trên mỗi đầu người khá cao; nhất là những gia đình có con nít, lại càng dư. Số gạo dư nói trên có thể sử dụng để trao đổi lấy cá tươi, rau cỏ, mắm muối với dân Nam Dương.

Trên nguyên tắc, người dân Nam Dương ở các đảo kế cận không được tới đảo Kuku, và ngược lại người tỵ nạn cũng bị cấm tiếp xúc với người dân Nam Dương nếu họ tới đảo, nhưng trên thực tế trong đa số trường hợp, các nhân viên cảnh sát dân Nam Dương đã ngó lơ trước các vụ vi phạm xảy ra hầu như mỗi ngày, mà theo suy đoán của tôi chắc dân Nam Dương phải có “quà cáp” cho cảnh sát.

Trước hết nói về rau cỏ hoa trái, mắm muối…, cứ mỗi buổi sáng, khoảng 9, 10 giờ, lại có một hai chiếc ghe nhỏ tiến vào bờ đáởphía bên phải (trên đường đi ra dãy cầu tiêu lộ thiên), người tỵ nạn nào muốn mua bán (bằng tiền Nam Dương), hoặc đổi gạo lấy rau tươi, đường, muối… thì ra đó mua bán, trao đổi.

Còn cá tươi thì phải đợi tới chiều, sau khi các ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương ở các đảo kế cận trở về bến, họ mới lấy một số cá bỏ lên ghe nhỏ chạy tới Kuku để ưu tiên đổi lấy gạo, còn dư mới bán.

Thành thử dù giàu dù nghèo, nếu bỏ công ra bờ đá chờ, người tỵ nạn ở Kuku thỉnh thoảng cũng có được một bữa cá tươi!

Còn món rau phổ biến nhất ở Kuku là giá đậu xanh làm từ đậu xanh được cấp phát đựng trong bao ni-lông. Dĩ nhiên, đậu xanh nấu chè là nhất nhưng tìm đâu ra đường để nấu chè, cho nên chỉ có cách tiêu thụ là làm giá sống!

* * *

Nhưng về mặt tinh thần thì rất buồn chán và khá căng thẳng. Buồn chán vì sống tù túng mà không có gì để giải khuây, thậm chí một cái sân bóng chuyền cũng không có, chẳng lẽ cứ tắm biển suốt ngày!

Cũng có những thanh thiếu niên lén rủ nhau vào rừng thám hiểm, tìm hái sầu riêng mọc hoang nhưng số này cũng chẳng có bao nhiêu vì rừng ở Kuku là rừng già dày đặc, âm u đầy sức hăm dọa.

Riêng tôi cứ suốt ngày nằm trên cái võng dã chiến – tấm chăn cột hai đầu vào hai góc lều – nhìn ra biển.

Lần duy nhất tôi đi vào ven rừng là ngày Chủ Nhật đầu tiên sau khi tới đảo. Ông anh họ vợ tôi vốn là người sùng đạo rủ chúng tôi đi dự lễ, khi tới ngôi nhà thờ thô sơ bằng cây rừng ghép lại mới biết không có Thánh lễ vì ở Kuku không có vị linh mục nào, chỉ có một thầy Phó tế. Vì thế chúng tôi, khoảng vài chục người, chỉ cùng nhau đọc kinh, nghe thầy Phó tế đọc sách Thánh rồi cùng nhau ra về. Khi ra khỏi nhà thờ, ông anh họ vợ rủ tôi tạt vào nghĩa trang gần đó để cầu nguyện cho linh hồn những thuyền nhân chôn cất tại đây nhưng tôi từ chối. Không phải tôi không xót thương những thuyền nhân xấu số ấy mà chỉ vì tôi không đủ can đảm đối diện với những nấm mồ bất hạnh!

Vẫn biết một khi vượt biên là chấp nhận những bất hạnh có thể đến với mình và những người thân yêu: bị công an bắt, bị giam cầm tù đày, bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, đập đầu quăng xuống biển, bị bão tố, chìm ghe, bị chết đói… nhưng nếu chỉ kể những cái chết khi đã thấy bến bờ, thậm chí sau khi đã đặt chân lên bờ thì Kuku là tử địa hãi hùng nhất!

Nhiều ghe đụng phải đá ngầm trên đường vào bờ và bị chìm. Mặc dù sau này phía Nam Dương đã cho dựng hai cái cột điện bằng gỗ ngoài biển, một cách bến tàu khoảng 500 mét, một ở vòng cung phía bên trái vốn không có nhiều đá ngầm, để các ghe tới đảo ban đêm biết đường chạy vào, nhưng vẫn có những chiếc ghe đụng phải đá ngầm và bị chìm. Có ghe chết không còn người nào, có ghe chỉ có một số may mắn bơi được vào bờ. Khi chúng tôi đặt chân lên Kuku (tháng 11/1981) mọi người còn đang bàn tán về một tai nạn thảm khốc xảy ra trước đó không lâu: một chiếc ghe trên 40 người vào đảo ban đêm đụng phải đá ngầm và bị chìm, chỉ có vài người khỏe mạnh nhắm ánh đèn bơi vào được tới bờ, đa số còn lại chết đuối; sau đó chỉ vớt được gần 20 xác bị sóng đánh dạt vào bờ, được chôn bên nhau tại nghĩa trang.

Ngoài ra, “Kuku 2” còn là nơi chôn cất những thuyền nhân chết sau khi đã đặt chân lên đảo, do bị kiệt sức trong chuyến hải hành gian khổ có khi kéo dài cả tháng, hoặc do bị sốt rét rừng sau khi lên đảo.

Cứ nghĩ tới số phận hẩm hiu của những đồng bào bất hạnh ấy, tôi lại cảm thấy ái ngại, bất nhẫn trước những may mắn của bản thân và gia đình mình, như thể chúng tôi đã giành mất phần phước của họ…

* * *

Bên cạnh sự buồn chán chúng tôi còn bị căng thẳng tinh thần.

Nguyên nhân thứ nhất là tin đồn sẽ chỉ có một số thuyền nhân nào đó được Cao ủy Tỵ nạn công nhận là “tỵ nạn” mới được đưa tới Galang để làm đơn xin đi định cư tại các quốc gia đệ tam.

Giống như thời gian chúng tôi còn ở đảo Sedanau, vô công rỗi nghề, thuyền nhân ở Kuku cũng có cái thú loan tin đồn, thường là những tin đồn thất thiệt và bi quan.

Sở dĩ có tin đồn nói trên là vì thời gian sau này (đầu thập niên 1980) Cao ủy Tỵ nạn LHQ không có đại diện thường trực ở Kuku như những năm 1979, 1980 nữa, mà lâu lâu mới có một phái đoàn tới để lập hồ sơ thuyền nhân; và khi có tàu tới đón đi Galang, danh sách được đi không nhất thiết theo thứ tự ngày tới Kuku mà có khi người tới sau lại được đi trước.

Từ đó, người ta suy ra rồi đây sẽ có những người bị trả về Việt Nam, như chúng tôi đã từng nghe đồn trong thời gian còn ở Sedanau.

Trước tin đồn này, tôi cố gắng tự trấn an: mình là sĩ quan QLVNCH, bị tù cải tạo gần 6 năm, chắc chắn sẽ được công nhận là tỵ nạn cộng sản. Chỉ cần bấy nhiêu thôi, còn cho đi định cư ở đâu cũng được!

Không phải giờ này đã an cư lạc nghiệp ở Úc rồi muốn viết gì thì viết, mà sự thật là ngày ấy trong lòng tôi đã sẵn sàng chấp nhận định cư tại Nam Dương trong trường hợp các quốc gia tây phương không nhận người tỵ nạn nữa.

* * *

Nguyên nhân thứ hai khiến chúng tôi bị căng thẳng tinh thần là cung cách làm việc của vị đại diện Cao ủy Tỵ nạn tới Kuku để phỏng vấn sơ khởi thuyền nhân. Đó một người Mỹ tên George. Tôi không có cơ hội để biết tên họ đầy đủ của ông ta, chỉ biết mọi người gọi là “ông George”. (Sau khi tới Galang, tôi thấy hầu hết nhân viên Cao ủy Tỵ nạn thường được gọi bằng tên – first name, kể cả vị Cao ủy trưởng)

Ông George không phải là người Mỹ da trắng; qua nét mặt, nước da, dáng người, chiều cao cùng với tóc xoắn và hàm râu quai nón, tôi đoán có thể ông là người gốc Haiti hay Cộng hòa Dominique trong vùng đảo Caribbean.

Ông George mang kính trắng. Thường thường một cặp kính trắng sẽ khiến người ta trông hiền lành hơn (chẳng hạn bản thân tôi) nhưng riêng với ông George hình như nó càng khiến mặt mũi ông thêm khó chịu!

Nhưng cung cách phỏng vấn của ông George mới là yếu tố chính khiến không mấy người thích ông. Mặc dù tất cả mọi câu hỏi của ông đều thông qua một thông dịch viên người Việt, người được phỏng vẫn cũng nhận ra thái độ gay gắt, hách dịch của ông.

Chưa hết, ông George còn có thói quen hỏi những chi tiết không cần thiết về đời tư, về quá khứ của thuyền nhân, những chi tiết chẳng ăn nhập gì tới tư cách “tỵ nạn” của thuyền nhân cả!

Cũng may, thời gian sau này ông George chỉ phỏng vấn đại diện ghe để biết các thành phần đi trên ghe, từ đó xác định đây có phải là những thuyền nhân đã liều chết vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam hay không?! Thường thường, cứ khoảng 2, 3 tháng ông George mới trở lại Kuku một lần, với một hai nhân viên phụ tá và một người thông dịch. Lần này, chỉ mấy ngày sau khi chúng tôi được tàu Flora đưa tới Kuku, ông George trở lại đảo. Ai cũng vui mừng, cho rằng mình là người may mắn vì sẽ sớm được rời “hoang đảo” này!

Nhưng riêng tôi thì bị ông George quay tới quay lui về cái số ghe TV-101926, mà những ai từng là thuyền nhân đều thấy nó… không giống ai. Như tôi đã viết trong một kỳ trước, thông thường các ghe khi đăng ký tại Việt Nam sẽ được cấp số ghe gồm hai mẫu tự viết tắt của tên địa phương, chẳng hạn VT (Vũng Tàu), KG (Kiên Giang), TG (Tiền Giang), PT (Phan Thiết), và ba, bốn con số phía sau.

Nhưng ghe của chúng tôi là ghe “lậu”, không có số gì cả. Sau khi tới đảo Pulau Laut, ông anh cột chèo của tôi mới dựa theo số ghe mà Cao ủy Tỵ nạn ở Kuku đã đặt cho chiếc ghe (cũng là ghe “lậu”) của các con ông vào năm 1979 để “chế” ra số ghe của mình.

Số ghe mà Cao ủy Tỵ nạn đặt cho chiếc ghe của các con ông gồm hai mẫu tự PL và sáu con số. Trong lá thư viết về nhà, đứa con trai lớn đã giải thích bốn con số đầu là tháng và ngày tới Nam Dương, hai con số cuối cùng là tổng số người trên ghe. Còn hai mẫu tự PL, cháu không biết do đâu mà có, và đã viết đùa rằng rất có thể người tây phương vốn có truyền thống lấy tên đàn bà con gái đặt cho các du thuyền cho nên văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Kuku đã lấy tên “Phương Loan” của đứa em gái lớn nhất, viết tắt thành PL.

Đọc thư của đứa cháu, tôi hiểu ngay là nó viết đùa nhưng ông anh cột chèo của tôi lại tin là thật, cho nên sau khi tới Pulau Laut mới lấy tên Thiên Vĩ của đứa con trai út viết tắt thành TV, tiếp theo là sáu con số 101926, cho biết ghe tới đảo vào ngày 19 tháng 10, trên ghe có 26 người.

* * *

Khi lên văn phòng Cao ủy với tư cách đại diện ghe, tôi được người thông dịch cho biết theo phương cách làm việc của Cao ủy, không cần biết tôi có hiểu được, nói được tiếng Anh hay không, tất cả mọi câu hỏi của ông George tôi phải chờ thông dịch rồi mới trả lời bằng tiếng Việt. Trước hết, ông George hỏi tôi về cái số ghe TV-101926; sau khi nghe tôi trình bày, giải thích như trên, ông lớn tiếng hỏi tôi: Ai cho phép các anh tự tiện đặt số cho ghe của mình?

Dĩ nhiên tôi ngọng! Ông George nói chúng tôi đã dẵm lên chân Cao ủy, vì việc đặt số cho những chiếc ghe “không tên” là của Cao ủy, và chỉ đặt sau khi phỏng vấn đại diện ghe xong xuôi, nay chúng tôi chưa được phỏng vấn mà đã có số ghe là sai nguyên tắc.

Rồi ông George tạt vào mặt tôi một gáo nước lạnh:

– Anh tưởng hai mẫu tự PL là viết tắt tên cô cháu gái Phương Loan xinh đẹp của anh hả? Không có chuyện đó trên cõi đời này đâu! Đây là viết tắt của hai chữ Pulau Laut; những chiếc ghe không có số cập vào đảo nào thì Cao ủy lấy tên đảo đó làm hai mẫu tự đi đầu, anh hiểu chưa!

Nghe ông George nói, tôi muốn độn thổ vì quê một cục, cho dù người “chế” ra cái số ghe TV-101926 là ông anh cột chèo chứ không phải tôi.

Tiếp theo, ông George nói rằng vì việc này (tự ý chế ra số ghe) chưa từng xảy ra, ông tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi để về hỏi ý kiến của văn phòng Cao ủy ở Galang!

Nghe ông George nói, tôi lặng người, nhớ tới các tin đồn mà lòng lo sợ. Ra vẻ Cao ủy Tỵ nạn – mà ở đây ông George là đại diện – muốn tìm cách làm khó dễ chúng tôi. Bởi vì xét cho cùng, cho dù việc làm của chúng tôi là sai nguyên tắc cũng đâu có gì ghê gớm đến nỗi phải gác hồ sơ!…

Tôi thất thểu ra về, kể cho ông anh cột chèo nghe mọi việc. Ông ngồi im, mặt không tỏ lộ cảm xúc nhưng tôi biết ông bị sốc nặng: đang từ chỗ hãnh diện về cái số ghe độc đáo bỗng phải tuyệt vọng trước hệ lụy của việc làm của mình. Khi ông dặn dò tôi đừng cho mọi người trong ghe biết việc này, tôi nói ông cứ yên tâm.

Đêm hôm đó tôi không thể ngủ yên giấc. Qua ngày hôm sau, mỗi lần nghe loa phóng thanh kêu đại diện một ghe nào đó lên văn phòng Cao ủy phỏng vấn, tôi lại chán nản nghĩ tới việc ghe mình bị gác hồ sơ, và tự hỏi không biết tới bao giờ ông George mới trở lại Kuku!

Thành thử vào khoảng 4 giờ chiều, khi loa phóng thanh lập đi lập lại yêu cầu đại diện ghe TV-101926 lên văn phòng Cao ủy, tôi hết sức ngạc nhiên, không hiểu có chuyện gì.

Sau khi tôi bước vào phòng, ông George ra hiệu cho tôi ngồi ở cái ghế đối diện với ông và người thông dịch. Trong bầu không khí nặng nề ấy, ông George nói với tôi (thông qua người thông dịch) bằng một giọng tương đối nhỏ nhẹ, chậm rãi so với mọi khi, nhưng cũng chính vì thế mà tôi nhận ra tính cách nghiêm trọng của cuộc phỏng vấn lần này.

Vào đề, ông George cho biết mục đích của ông là muốn xác định ghe của chúng tôi thực sự là một ghe vượt biên, do chúng tôi đứng ra tổ chức và đích thân thực hiện cuộc vượt thoát. Vì thế tôi phải thành thật trả lời các câu hỏi, và phải chính xác bởi vì một khi đã ghi vào hồ sơ, không ai, kể cả bản thân ông, có thể thay đổi!

Ngay lúc ấy, vì vừa đầu óc căng thẳng vừa phải vận dụng trí nhớ để trả lời các câu hỏi, tôi không còn thì giờ và hơi sức để thắc mắc trước việc tôi phải chứng minh đích thân chúng tôi tổ chức và thực hiện cuộc vượt thoát.

Chỉ sau khi đã tới trại tỵ nạn Galang, quen biết anh Q, trưởng toán thông phiên dịch, tôi mới biết ngày ấy Cao ủy Tỵ nạn nghi ngờ đã có những chuyến vượt biên do CSVN tổ chức, nhưng không phải theo hình thức ra đi “chính thức” hoặc “bán chính thức” mà sử dụng tàu lớn chở “khách” cùng với mấy chiếc ghe tới gần hải phận Nam Dương rồi thả xuống biển, thế là đám khách “nhà giàu” này (có khi có cả cán bộ cộng sản trà trộn) thơ thới hân hoan đi vào các đảo với tư cách… ghe vượt biên!

Từ đó tôi suy ra ngày ấy ông George tận tình chiếu cố tới ghe của chúng tôi rất có thể vì ông nghi ngờ đây là một trong những chiếc ghe “đặc biệt” nói trên!

Tôi còn nhớ rõ sau khi hỏi tôi từng chi tiết về việc mua ghe, sửa ghe, trang bị trên ghe, học cách xem phương hướng, hối lộ công an, móc nối với người lo bãi bến…, ông George đã truy tới truy lui về mấy điểm sau đây:

– Tại sao lại chọn ra đi vào giữa mùa bão?

– Ghe nhỏ, máy yếu, tại sao không đi về hướng bờ biển Thái Lan, Mã Lai mà lại đi về hướng Nam Dương?

– Gặp bão cấp 3 trong hai ngày liền, làm sao chỉ mất bốn ngày ba đêm đã tới Pulau Laut?

Tôi bình tĩnh giải thích từng điểm, thuật lại từng diễn tiến, trong dó có một diễn tiến mà không ai có thể bịa đặt nếu bản thân chưa trải qua: gặp giàn khoan Nhật và bị xua đuổi!

Khi tôi nhắc tới tên giàn khoan này, ông George gật gù, đưa mắt nhìn người thông dịch rồi nói với tôi:

– Chúng tôi tin anh nói thật, bởi vì đã có nhiều người kể lại việc bị họ giàn khoan này xua đuổi.

* * *

Sau khi ông George rời Kuku, tôi cảm thấy người mệt mỏi một cách khác thường. Lúc đầu tôi cho rằng vì mình bị căng thẳng tinh thần trong hai ngày qua, nhưng tới ngày thứ ba, khi tôi lên cơn sốt vào lúc 3, 4 giờ chiều, mồ hôi đầm đìa, tiếp theo là cơn lạnh run cầm cập, vợ tôi nghi ngờ tôi bị sốt rét rừng.

Tới chiều ngày thư tư, khi cơn sốt và cơn lạnh trở lại, khủng khiếp hơn, tôi biết chắc chắn mình bị sốt rét; chỉ không biết là sốt rét (ngày còn trong tù cải tạo ở Phước Long) tái phát hay là do muỗi rừng ở Kuku?

Qua chiều ngày thứ năm, tôi nằm mê man trên võng.

Chú Thích:

(1) Việc vô số thiếu nữ, thiếu phụ vượt biên bị bắt lại, trong thời gian bị giam giữ bị công an và cán bộ cao cấp cưỡng hiếp dã man là một sự thật kinh hoàng với biết bao nạn nhân và nhân chứng, nhưng chưa bao giờ được CSVN đưa ra xét xử trước pháp luật.

Cựu Đại úy VNCH Nguyễn Hữu Cầu (1947-2022), người được mệnh danh là “người tù kiệt xuất”, tù nhân lương tâm bị giam lâu nhất ở Việt Nam (37 năm) có lẽ là người duy nhất làm đơn tố cáo đích danh hai cán bộ đảng viên tỉnh Kiên Giang hãm hiếp 11 thiếu nữ được chọn từ trại tù vượt biên ở Kiên Giang.

Hậu quả, ông Nguyễn Hữu Cầu (mới đi học tập cải tạo về) bị bắt giam, bị đưa ra xét xử vào năm 1983, bị kết án tử hình với tội danh “Chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam”, bằng chứng dựa vào những bài thơ và các ca khúc do ông sáng tác. Án tử hình này sau được giảm xuống còn tù chung thân.

Mời đọc thêm: “Nguyễn Hữu Cầu (tù nhân lương tâm)” trên trang mạng Wikipedia.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 4 Jun 2025

16. Đặng Thế Phong

Đặng Thế Phong là một trong những nhạc sĩ tiền phong của chúng ta. Ông mất rất sớm, mới ngoài hai mươi tuổi. Ông chỉ để lại có ba bản nhạc.

Cũng có người cho rằng ông có tới bốn hay năm bài. Nhưng thực tế, không ai biết cái bài thứ tư, thứ năm đó. Vậy chỉ nên coi những bài mọi người đều đã biết: Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến và Đêm Thu, chính thức là những tác phẩm của ông.

Những người đồng thời với Đặng Thế Phong kể lại rằng ông muốn trở thành họa sĩ chứ không phải nhạc sĩ. Cũng như Nhất Linh, Đặng Thế Phong đã thi vào trường Mỹ Thuật, nhưng rồi bỏ dở ý định theo đuổi hội họa.

Và cái việc Đặng Thế Phong thi vào Trường Mỹ Thuật ấy, đã để lại một huyền thoại. Nghe nói ông đã vẽ một than cây cụt, không có ngọn, rất đẹp. Vị giáo sư người Pháp chấm bài, khen ngợi, nhưng nói rằng: “E Đặng Thế Phong không sống lâu được”. (Nhớ, xa hơn nữa, các cụ ta cũng truyền lại rằng, một học giả Trung Hoa, sau khi đọc xong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, đã nói:

“Người này, nhiều lắm 5 năm nữa sẽ chết, vì tinh hoa trút hết ra cả đây rồi”.

Cả hai sự tiên liệu đều đúng. Như thế, cả Tây lẫn Tàu đều trông vật mà biết mệnh? Hay đó chỉ là điều giản dị như Shakespeare đã nói: “Trái nào chín trước nhất thì rụng trước hết”

Ba ca khúc của Đặng Thế Phong được viết vào những ngày nền tân nhạc của chúng ta mới khởi đầu và đều là những tình khúc. Và tình khúc Đặng Thế Phong, ngay từ những ngày xa xôi ấy, đã có một tầm vóc khác:

Biết đâu bờ bến

Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu

Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu

Cùng ai trắc ẩn tấm lòng

Dứt bao tình thương

Thuyền mơ buông trôi theo dòng

Bến mơ dù thiết tha

Thuyền ơi đừng chờ mong

Trong ngần ấy lời ca chữ nào nói đến tình yêu, chữ nào không? Hình như không phải chỉ là con thuyền buông trôi theo dòng mà có cả kiếp người trôi trong dòng đời, cái có thật và cái tưởng tượng đều lẩn khuất sau một màn sương, chúng ta nhìn nhau với lòng trắc ẩn, hạnh phúc khó khăn, hay chỉ sống không thôi đã là một diều khó khăn, ‘bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong’ chúng ta chẳng thể tới được nơi mong ước cũng không biết đã ra đi từ đâu sầu như ông viết trong Giọt Mưa Thu:

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây

Phòng vắng bốn bề không liếp che gió về

Ai nức nở thương đời châu buông mau

Dương thế bao la sầu …

Nghe nói khi mới viết xong ca khúc này Đặng Thế Phong đã đặt tên là Vạn Cổ Sầu rồi sau đó mới đổi thành Giọt Mưa Thu.

Cả ba ca khúc Đặng Thế Phong để lại cho đời đều là những bản thu ca. Điều này nữa có phải cũng là một báo hiệu cái mùa đông sắp sửa đang đón đợi ông? Lấy những cái đã xẩy ra rồi để giải thích sự việc, người ta thường tìm cách ráp sao cho ăn khớp, điều ấy dễ thôi.

Nhưng quả thật nghe lại nhạc Đặng Thế Phong, chúng ta sẽ thấy, chỉ cái mùa vạn vật dường đắm một nửa trong mộng ấy, mới thích hợp với tâm hồn ông.

Thu xưa xa xăm ngoài chân mây

Thu nay bơ vơ thuyền trôi đây

Phải chăng thuyền nhớ nơi non bồng

Nơi đã bao phen chùng tơ lòng …

Con sông nào chẳng có hai bờ, nhưng bờ có phải là bến không?

Nghe nhạc Đặng Thế Phong là nghe lấy những tiếng ở giữa chừng đời sống ấy, tiếng va chạm của những giới hạn và vô biên, nơi gặp gỡ của cái chốn xa xăm ngoài chân mây với cái cõi bơ vơ thuyền trôi đây. Người ta không hiểu sao ở ngưỡng cửa của tuổi hai mươi Đặng Thế Phong đã nghe ra cái tiếng nhân thế bao la nữa. Cái chết của Đặng Thế Phong, cái chết của Nguyễn Nhược Pháp, của Thạch Lam, cho đến bây giờ, nhớ lại, nghe

nhắc lại, chúng ta vẫn chưa hết ngẩn ngơ, vì không muốn tin, không tin được đó là sự thật, những bậc tài hoa như thế, tiếc thay tài sao đành lỡ làng (Dương Thiệu Tước). Chúng ta tiếc vì nghĩ rằng, nếu những người ấy không chết yểu như vậy, chắc chúng ta còn được thuởng thức thêm nhiều tác phẩm. Có đúng như vậy không?

Giả thử ước muốn của chúng ta có thể trở thành sự thật thì những cuộc sống thêm ấy sẽ là bao lâu? Chính xác là bao lâu sẽ vừa với ước muốn của chúng ta? Và, liệu chính những người ấy, có ưng vậy chăng?

Tất cả các lời ca của Đặng Thế Phong đều long lanh sáng. Nhưng chúng không sáng cái ánh sáng của mặt trời, mà sáng cái sáng của lân tinh, của ánh trăng. Cái buồn trong nhạc của Đặng Thế Phong còn có thêm một cái buồn lây, của đóa hoa đứng im như mắc buồn, nỗi buồn đông lại (đọng lại) hay mùa đông buồn trong ánh sao, cả ba cách dùng đều có nghĩa.

Cũng nên nói thêm là gần đây, những bài hát gọi chung là nhạc tiền chiến, được thu thanh ở cả trong lẫn ngoài nước, có đến chín phần mười sai. Sai cả nhạc lẫn lời. Nói sai là căn cứ vào những gì đã được in ra, phổ biến trước đây. Trường hợp chính tác giả viết lại thì đành chịu, không thể nói là sai được.

Trở lại với Đặng Thế Phong. Ông đã bỏ không đặt tên ca khúc của mình là Vạn Cổ Sầu. Nhưng ông đã để lại nỗi sầu ấy cho chúng ta và có lẽ cho cả những người sau này.

Con Thuyền Không Bến

Đêm nay thu sang cùng heo may

Đêm nay sương lam mờ chân mây

Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng

Như nhớ thương ai chùng tơ lòng

Thu xưa xa xăm ngoài chân mây

Thu nay bơ vơ thuyền trôi đây

Phải chăng thuyền nhớ nơi non bồng

Nơi đã bao phen trùng tơ lòng

Lướt theo chiều gió

Một con thuyền theo trăng trong

Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng

Biết đâu bờ bến

Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu

Trên con sông Thương

nào ai biết nông sâu

Nhớ khi chiều sương

Cùng ai trắc ẩn tấm lòng

Biết bao sầu thương

Thuyền mơ buông trôi xuôi dòng

Bến mơ dù thiết tha

Thuyền ơi đừng chờ mong

Ánh trăng mờ chiếu

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la

Thuyền mơ bến nơi đâu

Thái Thanh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 4 Jun 2025

Đôi dòng của người post bài:

Thưa quý bạn đọc, có một thiếu sót nhỏ lẽ ra Sơn râu tôi đã phải thưa cùng các bạn trước khi post loạt bài trong quyển sách Bông Hồng Tạ Ơn của ông Nguyễn Đình Toàn. Hình ảnh từng nhạc sĩ trong mỗi bài viết phần lớn là hình râu tôi lấy từ trên Net xuống và có chỉnh sửa lại cho rõ ràng và đẹp hơn hình trong sách nguyên thủy. Vì là hình trắng đen và không rõ nét nên râu tôi muốn cho quyển sách có phần đẹp và phong phú hơn. Vì vậy nếu bạn đang có quyển sách của nhà văn Nguyễn Đình Toàn trong tay, xem lại sẽ thấy có phần khác với các bài trong sách mà tôi đang đưa lên trang blog.

Chỉ vì muốn cho quyển sách được đẹp hơn và phong phú hơn nên râu tôi có thêm vào đôi chút như vậy, không đụng gì đến phần bài viết của tác giả Nguyễn Đình Toàn.

Một số bài đến phần cuối tôi có để vào cái link nhỏ liên quan đến một clip nhạc của bài viết giúp cho bạn đọc có thể xem và nghe clip đó. Nếu không thích xin bạn đừng nghe và xem, vì sở ý mỗi người mỗi khác, mong bạn đọc thông cảm. Râu tôi chỉ muốn bạn đọc có những giây phút thích thú, thoải mái khi đọc bài viết có giá trị, thế thôi.

Thân mến.

Sơn râu

15. Đào Thừa Liệt

Trên Nhật Báo “Người Việt”, trang Văn Học Nghệ Thuật, số ra ngày chủ nhật 3/8/03 độc giả có được đọc một bài viết thêm của Trần Huỳnh Châu về hai nhạc sĩ La Hối và Dương Minh Ninh. Qua bài viết của Trần Huỳnh Châu, chúng ta được biết thêm nhiều điều thích thú.

Thứ nhất Gấm Vàng của Dương Minh Ninh là một trong những bài nhạc của vở kịch thơ Khói Lửa Cảo Kinh tác giả là Vũ Hân, nói về cuộc tình giữa U Vương và Bao Tự. Trần Huỳnh Châu chỉ nói “Gấm Vàng là một bài nhạc của vở kịch” chứ không cho biết rõ đó là một sáng tác riêng của Dương Minh Ninh “viết thêm” cho vở kịch hay chính là thơ của vở kịch được Dương Minh Ninh phổ nhạc? Không biết có ai được đọc cả vở kịch của Vũ Hân chăng? Nhưng bằng vào bản Gấm Vàng chúng ta có thể tin đây là một vở kịch thơ hay, ít nhất là riêng về phương diện thơ. Cũng qua thông

tin của Trần Huỳnh Châu, chúng ta được biết, có một tên tuổi lớn về âm nhạc của liên khu 5 cùng với Dương Minh Ninh lúc bấy giờ (1946-1954) là Lê Trọng Nguyễn, tác giả Nắng Chiều. Lê Trọng Nguyễn hiện có mặt tại Hoa Kỳ, có thể ông sẽ cho chúng ta biết thêm ít điều về Dương Minh Ninh chăng?

Thứ hai, về trường hợp bài Xuân Và Tuổi Trẻ, từ lâu nhiều người cứ ngỡ đó là một bài thơ của Thế Lữ do La Hối phổ nhạc. Sự thực là lời ca Thế Lữ viết cho ca khúc đó chứ không phải thơ của ông. La Hối thuộc một gia đình hoàn toàn là người Trung Hoa, lập nghiệp tại Hội An, chứ không phải người Trung Hoa lai Việt.

Ông viết Xuân Và Tuổi Trẻ đầu tiên bằng tiếng Pháp, đặt tên là Printemps et Jeunesse tên tiếng Việt là Thanh Xuân sau mới đổi là Xuân Và Tuổi Trẻ. Bản này còn có một lời ca bằng tiếng Trung Hoa nữa. Khoảng 1945-46, Thế Lữ có dịp qua Hội An thấy bản nhạc hay, mới đặt lời ca tiếngViệt.

Tóm lại, qua thông tin của Trần Huỳnh Châu chúng ta biết thêm một điều vui và một điều buồn liên quan tới hai ca khúc Gấm Vàng của Dương Minh Ninh và Xuân Và Tuổi Trẻ của La Hối.

Điều vui, chúng ta được biết Vũ Hân là tác giả của vở kịch thơ Khói Lửa Cảo Kinh (nhờ đó chúng ta có thêm ca khúc Gấm Vàng của Dương Minh Ninh). Vũ Hân tuy có tật “đi đứng xiêu vẹo, đầu không đứng thẳng được lúc nào cũng ngoẹo cổ, tiếng nói không rõ ràng, nhưng đã được một nữ sinh xinh đẹp xứ Huế đem lòng yêu và nhất quyết lập gia đình với ông”. Trần Huỳnh Châu gọi đó là “phần thuởng xứng đáng cho con người tài hoa mà trời không cho sức khoẻ tốt”.

Điều buồn, chúng ta được biết La Hối đã bị Nhật bắt và đem xử tử tại Đà Nắng năm 1945. Khi ấy chắc ông còn trẻ lắm.

Mục đích của người viết những bài này cũng chỉ nhằm chia sẻ chút ít sự hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã đóng góp những gì tốt đẹp nhất cho đất nước. Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc không biết gì về nhau.

Chẳng hạn rất ít người biết hiện Đào Thừa Liệt hiện ở đâu, bao nhiêu tuổi? Và ngoài ca khúc Bến Đò Xưa ông còn sáng tác nào nữa không?

Đã có một thời Bến Đò Xưa được rất nhiều ca sĩ danh tiếng chọn để hát trên các đài phát thanh Hà Nội, Huế, Pháp Á, Sài Gòn … Nhưng cũng có những khoảng thời gian không thấy ai hát lại ca khúc này nữa.

Lý do?

Có lẽ vì cái không khí đặc thù của nó, cái vẻ hiu quạnh, buồn tẻ của những bến đò chiều ven sông Hồng, nếu ai chưa có dịp đi qua có thể sẽ không cảm thông được một cách sâu sắc. Ít người không phải ca sĩ thuộc bài hát này, điều ấy chứng tỏ bài hát không được phổ biến lắm. Ít người biết nên cũng ít người hát. Và cái vòng luẩn quẩn lại diễn ra, càng ít người hát càng ít người biết. Ai muốn nghe lại bài hát này có thể tìm trong CD Nhặt Cánh Sao Rơi của Mai Hương / Diễm Xưa phát hành.

Sau đây là nguyên văn lời ca bài Bến Đò Xưa:

Chiều xưa có ai qua bến sông Hồng mộng mơ

Dìu dặt đôi lời hò còn vương vấn nhớ nhung

Chiều đó khách tha phương

đã qua một chiều vui

Rồi đi chưa hết yên vui vội xa

Bên dòng sông nước lững lờ

Ta hòa muôn tiếng ca u buồn

Âm thầm ta nắn cung đàn

Nhìn theo cô lái trôi xuôi

Lời xưa thiết tha đầm ấm

Nay còn lưu luyến dư âm

Thuyền ai buông lái trôi xuôi

Khuất xa dần trong mây núi

Đò ơi! Kiếp phiêu lưu giống con đò giạt trôi

Chiều chiều ta mơ nhìn về nơi cũ bến xưa

Gặp gỡ phút yêu đương sớm gieo sầu biệt ly

Rồi đi thương nhớ ai nơi đò xưa

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 4 Jun 2025

Quê Hương Và Em
Thơ Huy Phương

Nghiêng gương nhỏ tìm em không thấy bóng
Ôi hương tóc phai nhạt tháng ngày qua
Lòng anh như sợi đây đàn rung khẽ
Trời đang mưa trên những dãy núi xa.

Trưa nay một buổi trưa trời mây xám
Anh lặng im nghe mạch máu chảy buồn
Không ưu tư hồn cũng như trĩu xuống
Như những đêm chớp bể với mưa nguồn.

Anh trôi dạt về một thời xa cũ
Thành quách xưa đã cổ kính phai mờ
Không tiếng trống cũng rung vầng trăng lạnh
Mà khói sương mờ nhạt bóng người xưa.

Anh đã sống qua những ngày thơ mộng
Với Huế quê hương yêu dấu muôn đời
Đường Thành Nội đi về ngày hai buổi
Cầu Trường Tiền đêm nhớ dấu trăng soi.

Buổi học bài dưới mái nhà im súng
Anh ngủ quên trên những khẩu thần công
Bỏ công thức mơ làm thân Từ Thức
Tâm hồn theo ngọn mây trắng thong dong.

Ở đó có những chiều mưa tháng Bảy
Suốt mùa đông nhớ sợi nắng hanh vàng
Cô thiếu nữ tay nghiêng che cặp sách
Chiều vội vàng sợ lỡ chuyến đò ngang.

Một giòng sông với đôi bờ xanh mát
Mùa hạ nào hoa chẳng đỏ hàng cây
Những con đường mang theo hồn bướm trắng
Gót chân hồng chậm theo bánh xe quay.

Tiếng ve nào đang rung đàn hợp tấu
Trong khu vườn vắng lặng giữa trưa nay
Dưới bến nước có tiếng chèo khua sóng
Bên kia nhà thấp thoáng áo ai bay.

Mái tóc ai đã chảy dài dưới nón
Đẹp mênh mang hình ảnh của đêm dài
Mối tình nào không phải là tình sử
Kỷ niệm một thời đâu dễ lạt phai.

Một thời để yêu một thời mơ mộng
Tâm hồn em như mặt nước hồ sen
Có một sáng mùa thu nghe xao động
Ngọn gió về theo hơi thở thân quen.

Ngày tiếc nuối khi viết giòng lưu bút
Còn nhớ gì trên trang giáo khoa thư
Khi cổng trường người phu già khép kín
Hàng cây vàng rụng chiếc lá ưu tư.

Thuở đứng đợi trước ngõ dài hun hút
Bước vẩn vơ bứt chiếc lá trên cành
Em vắng bóng vì mùa thi sắp tới
Anh vội vàng vì tình quá mong manh.

Em còn nhớ những ngày anh đứng đợi
Dưới bóng cây ngóng giờ trống tan trường?
Chân bước nhẹ mà lòng nghe run rẩy
Những phút đầu đi bên cạnh người thương .

Kỷ niệm cũ ngủ yên cùng ngày tháng
Bỗng trưa nay thức dậy với mưa về
Từng giọt buồn ru với nhiều giai điệu
Gối tay gầy anh lặng lẽ nằm nghe.

Em với quê hương xa tầm tay với
Vẫn bên anh trong mỗi phút vui buồn
Anh biết ngày qua ngày em ngóng đợi
Mỗi phương trời có một nỗi cô đơn.

Huy Phương
28/9/1980
Trại Tân Kỳ Nghệ Tĩnh

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 4 Jun 2025

Nén Nhang Cho Một H.O.
Chu Tất Tiến

Chiều chủ nhật lạnh. Bầu trời cuối thu giăng giăng một thứ không khí chỉ làm cho người ta nghĩ đến chăn nệm, ghế bành, đến ngọn lửa bập bùng trên bếp hay trong lò sưởi, đến tiếng reo tí tách của những lưỡi lửa liếm vào những thanh củi xinh xinh, tỏa ra một mầu hồng ấm áp. Riêng anh, đang gò lưng trên chiếc xe đạp, chờ đèn xanh tại ngã tư Newland…, chợt nhớ đến ngày nào, trong cái giá lạnh cắt da của Hoàng Liên Sơn, của Yên Bái, của những trại tù khổ sai Vĩnh Phú, anh đã lén ra sau bếp, vun vén vài miếng củi vụn để nhóm lên một chút lửa nhỏ đủ đun sôi một cái lon nước trà, chờ anh bạn già thức giấc để chia nhau một tiếng “Khà!” hoặc góp với nhau một cái nhếch mép, nhấp nháp chờ mặt trời lên. Những bàn tay run rẩy xoay xoay cái ly nước làm bằng lon sữa bò lượm được trên đường đi lao động. Những cặp mắt nhìn nhau, chớp chớp, không nói một lời nào, nhưng lại diễn tả biết bao nhiêu ý nghĩ. Nhung nhớ tràn đầy, tiếc nuối lai láng, thương yêu vô vàn, căm hờn chất ngất, mơ mộng mênh mông… Hai người bạn co ro, quấn chiếc chăn rách im lặng thưởng thức vị trà Bảo Lộc mà người vợ chung thủy gửi cho, bất chấp luật cấm dậy sớm, đốt lửa sớm. Anh đã mấy lần bị kiểm điểm vì cái tật đó mà không chừa. Có lúc, tên vệ binh hùng hổ xông vào, giơ chân đá tung cái lon nước đi, dí dí mũi súng vào mặt anh mà quát:

– Anh… anh này, lần sau mà còn vi phạm Kỷ luật Ăn-Ngủ nữa thì tôi xử lý đấy! Nhóm lửa ban đêm để kêu gọi đồng bọn trốn trại hả?

Anh chỉ đứng yên, không trả lời. Còn gì nữa mà nói! Chỉ một chút hạnh phúc nhỏ nhoi đó cũng bị cấm đoán. Con người đối với nhau còn tệ hơn con thú. Chỉ muốn nghiến nát nhau ra. Chỉ muốn ăn tươi nuốt sống! Đẩy nhau vào rừng thiêng nước độc, bắt nhau làm như trâu như chó, mà cho ăn còn tệ hơn cho ăn mày. Ngày năm củ khoai lang, có củ sùng củ hà. Ngày ba miếng sắn luộc, ngày bo bo – thực phẩm chính của heo ngựa. Nghe kẻng báo giờ cơm mà chả ai buồn nhúc nhích, vì biết trước được cái thực đơn gớm ghiếc đó. Nhưng vẫn phải lê đến, trước sau cũng phải lê đến nhà bàn, để nuốt uất hận mà sống. Rồi lúc nào rảnh chút chút thì đi săn chuột, bắt thằn lằn, nhặt rau dại. Những món này không phải lúc nào cũng sẵn. Chuột tuy ê hề, nhảy nhót tanh tách trên đầu giường tre, dưới chân đứng, có khi đang ngồi cũng bị cắn gót, nhưng không phải dễ mà bắt. Bởi nhiều người săn quá! Chỗ này 3, 4 anh đang tới tấp nhét giẻ vào miệng hang, đốt cho khói um lên rồi quạt phành phạch. Chỗ kia vài anh đang lăm lăm đứng chờ chú nào nhảy ra là chộp. Tay anh nào cũng cả chục lỗ cắn sâu như đầu đinh năm phân vì răng chuột.

Khi chú chuột bị hoảng là cắn loạn xạ. Có chú nhảy bung lên mặt, cắn ngay vào lỗ mũi, máu chảy đầm đề, rất lâu mới cầm lại. Chỉ có những chú mới bơi qua hố phân thì dễ bắt. Cầu tiêu của trại cải tạo là cầu nổi. Đào một hố rộng rồi bắc ván ngang qua. Lâu dần sẽ thành một cái hồ nước vàng ngậy, ruồi nhặng bay vù vù, dòi bò lúc nhúc là chỗ đánh chén lý tưởng của chuột. Nên rình chuột ở đây là tiện nhất. Mấy chú vừa bơi qua còn mệt, mình mấy ướt sũng, lầy nhầy, tay săn chuột đang ngồi thu lu như khối đá, bỗng vươn tay ra chộp cái “choét”. Chú chuột chỉ kịp kêu lên một tiếng là đã bị vào trong bao cát rồi. Một cú đập “bộp” trên đất nữa, là chuột ta chuẩn bị được rửa ráy, lột da, cắt đầu, bỏ đuôi, lòng gan và mấy cục hạch hôi ở nách, xong là nằm tênh hênh trên chảo, biến thành một bữa ngon lành, đầy đủ calori cho ngày lao động kế tiếp, lê thê, dằng đặc. Còn rau dại, trái hoang thì như là trúng số. Bao nhiêu cặp mắt liếc trên, nhìn dưới, đi lao động mà cứ láo liên như đi ăn trộm, xem có bụi dền nào quanh quẩn đâu đây, xem có lá tầu bay không? Có chú ếch, chú cóc nào xấu số không?

Nhớ đến đây, mắt anh chợt sáng lên, anh cười thầm một mình “Hì, hì! Hên quá, hồi ấy mình với được nguyên một kho tàng mà không ai biết. Nếu không chuyển trại, còn được ăn hoài! Có thằng nào biết đâu?” Chuyện là, một hôm, anh đi tiêu, ngồi tẩn mẩn nhìn ra phía sau hố phân, thấy những quả xanh xanh rụng nằm lẫn lộn giữa những chất dơ mà những tay “canh nông”, chuyên viên trồng rau, khi múc phân đi tưới đã làm sót vương vãi trên đất. Anh để ý thấy có một vài quả xanh đã bị vết răng chồn gặm gở, lòi ra chất trắng trắng bên trong, anh chợt nghĩ: “Cái gì chồn ăn được là người cũng ăn được!” Giật mình với ý nghĩ đó, anh vội vàng xuống nhặt mấy trái lên, bỏ vội vào túi, rồi chạy ra sau bếp, lấy dao tách lớp vỏ ra thì thấy một cái hột cứng. Đập vỡ hột, anh thấy có một chất bùi bùi. Bất giác, anh la lên: “Đúng rồi! Một loại hột giẻ đây mà! Trời ơi! Mừng biết bao là mừng! Anh hấp tấp ra chỗ cũ nhìn trước nhìn sau không có ai, anh nhặt hết mọi trái rơi đem cất. Và cứ thế, tàn tàn anh thu gom những hột trời cho ấy, giữa bãi phân rơi, làm kho thực phẩm quý hơn vàng!

Bây giờ, ở trên đất Mỹ này, dù có đạp xe đi giữa những chiếc xe hơi vun vút, anh vẫn thấy vui! Hề gì đâu! Mới qua có hai tháng mà! Người ta còn cầy cả năm, bảy năm mới ổn định. Mình đã nhằm nhò gì! Hồi chiều, trước khi đi đến nhà bạn chơi, vợ anh cứ tíu tít:

– Anh ăn cháo bún bò không? Em hấp cho anh ăn hỉ?

Anh cười:

– Thôi, còn bánh bông lan đây, anh ăn được rồi.

Nghĩ lại, anh nói:

– Cho anh ly sữa vậy! Anh coi tivi chút rồi đi!

Chị quày quả quay vào chỗ tủ lạnh rót cho anh một ly sữa, đến ngồi trước mặt anh, nhìn anh đăm chiêu:

– Đi nhớ về lẹ nhe! Em trông!

Anh ngước lên, nheo mắt:

– Ê, bộ bà tưởng tôi ngố lắm hả? Từ đây tới đó, có mấy “lốc” đường mà!

Chị chắp hai tay đặt trên đùi , mỉm mỉm:

– Nói vậy thôi! Chứ… nhưng mà cứ về sớm nghe!

Đứa con trai anh, 8 tuổi, nhún nhún trên lưng ghế nệm, họa theo:

– Ba về lẹ nghe! Về trễ con phạt à!

Anh vỗ vai con một cái thật mạnh:

– Phạt bắt ba làm ngựa nữa hả! Ba hổng sợ đâu?

Rồi, anh quay qua đứa con gái 18 tuổi đang cắm cúi học bài, nói giỡn:

– Nè, con học sao thì học. Ba về kiểm tra bài à nghe!l

Cô gái bĩu môi:

– Xí! Ba học còn thua con mà làm bộ!

Anh cười hả hê:

– Thôi, ba đi nghe! Chút ba về!

Đoạn, anh đứng lên dắt xe đạp ra, ngoái lại nhìn con trai lần nữa:

– Bye nhé, cưng!

Đứa con anh vẫy tay theo:

– Bye ba!

Và anh đã đến nhà bạn chơi. Hàn huyên không dứt. Chuyện tù, chuyện xã hội, chuyện H.O… Bây giờ anh đang trên đường về. Gió lành lạnh. Anh nhìn đồng hồ: 10 giờ 30 rồi. Vợ con chắc đang trông. Mà, đường chi mà nhiều xe quá vậy! Xe nào cũng chạy vù vù. Ủa, mà sao không có xe chạy ngược chiều? Toàn xe chạy nhanh thấy ớn! Cái gì? Cái gì đây? Biển gì đây? Freeway 405! Trời? Mình lạc rồi! Lạc vào freeway rồi! Chết! Quay ra! Quay ra! Làm sao? Làm sao đây? Freeway… xa lộ… Trời? Em ơi! Con!…

“Rầm!”

Một tiếng chớp! Một tiếng sấm! Lửa! Sét đánh! Điện giật! Anh thấy mình lao đi! Vút đi! Bay lên! Gió! Hun hút! Lạnh lẽo! Có lẽ máu chảy dàn dụa! Có lẽ tim anh thoi thóp! Mệt! Rã rời! Anh tiếp tục bay lên, bay lên! Mãi mãi! Vĩnh hằng.

☆

Anh cựu Đại Úy Pháo binh Lê Văn Lạc, đến Mỹ theo diện H.O. được hai tháng, đã đi xe đạp lạc vào freeway 405 và bị tai nạn giao thông chết lúc 10 giờ 30 đêm 20 tháng 10 năm 1991.

Xác quàn tại máy ướp lạnh, lập thủ tục, làm police report và chờ tiền. Chị và hai con, một gái 18 tuổi, một trai 8 tuổi trong tình trạng quẫn bách, lo sợ vì không biết lấy đâu ra tiền chôn cất. Người thân nhất là một bà cô đang ở Westminster nhưng thuộc diện H.O.4

Chu Tất Tiến

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 4 Jun 2025

Phần 20

Phần II: Về Miền Đất Hứa       

Chương 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ          

Cái cầu tàu này sử dụng cho các tàu chuyên chở máy móc, vật liệu, tiếp tế cho giàn khoan, từ mặt biển đi lên khá cao, vì thế có một cái thang sắt đi xuống gần mặt nước để sử dụng khi cần thiết.

Đến gần, thấy ở phía bên kia cầu tàu có đậu sẵn một chiếc tàu dài khoảng 30, 40 mét, đoán là tàu tiếp tế cho giàn khoan, tôi mừng thầm trong bụng: thật đúng lúc, chiếc tàu này sẽ chở chúng tôi tới đất liền!

Tôi cho ghe tiến tới cái thang sắt, ông anh cột chèo vội lấy một sợi dây thừng cột ghe vào chân cầu tàu để khỏi bị trôi. Mấy người Nhật đứng trên cầu tàu mặc đồ công nhân (overalls) vẫn im lặng quan sát, nhưng tới khi tôi nắm lấy cái thang và đặt chân lên thì một người la lớn “No no…” và ra hiệu cho tôi không được bước lên cầu tàu.

Tôi liền sử dụng tiếng Anh giải thích ngắn gọn cho họ biết chúng tôi là người Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản, xin được cứu vớt, nhưng họ vẫn tiếp tục xua tay từ chối cho tôi bước lên cái thang.

Tôi hơi ngạc nhiên và khá thất vọng. Cứ tạm thời cho rằng những công nhân này không hiểu một chút tiếng Anh nào thì khi thấy một chiếc ghe lênh đênh ngoài biển khơi trên có cả đàn bà con nít, họ cũng phải hiểu rằng chúng tôi là người tỵ nạn chứ!

Khoảng một hai phút sau, một người từ trên giàn khoan đi xuống cầu tàu. Ông ta khoảng trên dưới 40, cao ráo trắng trẻo, ăn mặc sạch sẽ, mang kiếng cận, nói tiếng Anh khá lưu loát, tự giới thiệu là kỹ sư trưởng trên giàn khoan này.

Tôi liền trình bày những gì đã nói với đám công nhân, không quên kể thêm việc chúng tôi bị mất phương hướng sau hai ngày gặp bão, và xin được cứu giúp. Nhưng viên kỹ sư giải thích giàn khoan này thuộc một công ty tư nhân của Nhật, và theo luật lệ của công ty, chỉ có nhân viên của công ty mới được phép bước lên giàn khoan, vì thế ông ta có trách nhiệm không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu này vì nó thuộc giàn khoan của một công ty tư nhân.

* * *

Trước khi vượt biên, qua thư từ của những người đã tới các trại tỵ nạn, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều thuyền nhân được tàu buôn vớt còn có một số ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên và sau đó được tàu đưa tới đất liền. Giờ đây bị viên kỹ sư Nhật từ chối, tôi vô cùng thất vọng và hoang mang. Chẳng lẽ thế giới tự do đã quay lưng lại với người tỵ nạn; hay đây chỉ là một trường hợp riêng lẻ?!

Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi mới biết đó là chủ trương của chính phủ Nhật Bản, một quốc gia có tiếng văn minh, giàu mạnh, tinh thần dân tộc cao nhưng luôn luôn thiếu lòng nhân đạo – ít nhất cũng là theo nhận xét của cá nhân tôi.

Thành thật mà nói, trước đó tôi đã không ưa người Nhật. Cho dù những nguyên nhân khiến tôi ghét người Nhật có thể bị một số người cho là do tinh thần dân tộc cực đoan, quá khích, hoặc mang nặng thành kiến với quân phiệt Nhật trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, hay bất mãn trước đường lối thiên tả của họ trước 1975, tôi vẫn nhất quyết… không ưa người Nhật!

Nhưng kể cả những người xưa nay không hề ghét Nhật cũng không thể biện hộ cho con cháu Thái dương Thần nữ trước việc họ quay lại với người tỵ nạn Việt Nam!

Thời gian từ giữa tới cuối thập niên 1970, nhiều quốc gia thuộc thế giới tự do đã mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân Việt Nam, nhưng trong số đó không có Nhật Bản.

Theo tôi, có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, xưa nay người Nhật luôn luôn chủ trương một nước Nhật thuần chủng, không có một giống dân nào khác ngoài con cháu Thái dương Thần nữ; và thứ hai, không biết có phải vì cái hận phải đầu hàng Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến hay không mà đa số người Nhật – dân chúng, chính giới cũng như giới truyền thông – đều có lập trường chống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Vì thế, mặc dù từ ngày 12/05/1975, tức là chưa đầy hai tuần lễ sau khi miền Nam VN lọt vào tay cộng sản, 9 người tỵ nạn Việt Nam được một tàu Mỹ vớt trên biển, đưa vào hải cảng Chiba gần Tokyo, tới giữa năm 1979, khi tổng số thuyền nhân Việt Nam đến Nhật đã lên tới trên 3,000 người, chính phủ Nhật Bản vẫn chưa có một chính sách nào về việc thu nhận người tỵ nạn cộng sản; việc giúp đỡ những con người khốn khổ này đều do các tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, xã hội như Caritas Japan, Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, Cứu Thế Quân (Salvation Army)… đảm nhận.

Mọi thủ tục giấy tờ từ khi đặt chân lên bờ đều do Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) đảm trách. Chính phủ Nhật chỉ miễn cưỡng cho phép thuyền nhân lên bờ, tạm trú sau khi đã có cam kết bằng văn bản của Cao Ủy Tị Nạn rằng sẽ đưa các thuyền nhân này đi định cư ở một nước thứ ba!

Chỉ tới sau khi hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương diễn ra tại Geneva vào tháng 7 năm 1979, với kết quả trên 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận định cư mỗi năm, đồng thời gia tăng đóng góp vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, trước áp lực của dư luận quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, quốc gia đã nhận cho định cư khoảng 90% số thuyền nhân tới Nhật, chính phủ Nhật mới bắt đầu cứu xét cho người tỵ nạn cộng sản từ Việt Nam được định cư tại quần đảo Phù Tang – với số lượng nhỏ giọt!

Cũng trong hội nghị nói trên, Cao ủy Tỵ nạn LHQ còn kêu gọi các tàu buôn quốc tế tích cực tham gia công việc cứu vớt những người tỵ nạn mà họ gặp ngoài biển khơi, và đưa ra quy định người tỵ nạn được tàu của quốc gia nào vớt thì sẽ được định cư tại quốc gia đó.

Sau này khi đã tới trại tỵ nạn và có dịp làm việc với văn phòng Cao ủy, tôi được biết chính quy định này đã khiến một số quốc gia, đứng đầu là Nhật Bản, né tránh việc cứu vớt thuyền nhân để khỏi phải mang gánh nặng!

Tới lúc đó tôi mới hiểu tại sao gần 30 con tàu chúng tôi gặp trên biển Đông đã ngoảnh mặt làm ngơ, và cái giàn khoan Nhật mà chúng tôi cứ ngỡ là cứu tinh ấy đã tàn nhẫn xua đuổi đoàn người trên con thuyền mong manh chỉ dài hơn 7 mét!

* * *

Trở lại với ngày 19/10/1981 trên biển Đông, mặc dù viên kỹ sư Nhật dứt khoát không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu của giàn khoan, ông anh cột chèo của tôi vẫn nhất quyết cho ghe nằm “ăn vạ” dưới chân cầu tàu vì tin rằng sớm muộn người ta cũng phải giải quyết.

Bên cạnh đó là những cặp mắt lo âu xen lẫn hy vọng của mọi người trên ghe, nên cho dù không có một chút thiện cảm nào với viên kỹ sư Nhật, tôi cũng phải ra sức ca bài con cá nó sống vì nước, cam kết với ông ta tôi sẽ không để ai bước lên cầu tầu, chỉ xin giàn khoan giúp đỡ bằng cách liên lạc với tàu bè qua lại, báo cho họ biết có người tỵ nạn đang ở giàn khoan chờ được cứu vớt.

Nhưng viên kỹ sư Nhật lạnh lùng lắc đầu, trả lời rằng giàn khoan không có phương tiện liên lạc với tàu bè của các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh công ty của ông ta là một công ty tư nhân, không phải của chính phủ Nhật!

Rồi ông ta khuyên chúng tôi nên tiếp tục cuộc hành trình khi thời tiết còn tốt. Trước đó, khi tôi nói chúng tôi bị mất phương hướng sau khi gặp bão, ông ta đã trấn an tôi rằng chúng tôi vẫn đang đi đúng hướng, và chỉ cần đi thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa là tới đảo Laut.

Viên kỹ sư còn ra vẻ tử tế, nói rằng nếu chúng tôi cần dầu mỡ, lương thực, nước uống… giàn khoan sẵn sàng cung cấp. Dĩ nhiên, chúng tôi không cần tới những thứ đó, bởi khi ra đi trên chiếc ghe 7 mét rưỡi vào giữa mùa bão, chúng tôi chấp nhận chết vì ghe bị bể, bị chìm nhưng dứt khoát sẽ không chết vì đói khát hoặc hết nhiên liệu, cho nên thứ gì chúng tôi mang theo cũng dư thừa cho một cuộc hành trình có thể kéo dài tới hai, ba tuần lễ!

Mặc dù chúng tôi nói không cần gì cả, viên kỹ sư cũng cho người đem ra mấy hộp sữa tươi, khoảng một chục quả cam, và cả mấy cục xà bông thơm, mấy chai shampoo có lẽ vì thấy đám đàn bà con nít trên ghe dơ bẩn, đen đủi phát khiếp (vì khói máy tàu)!

Trước thái độ dứt khoát và hành động đuổi khéo của viên kỹ sư, ông anh cột chèo của tôi đành phải chấp nhận rời giàn khoan!

* * *

Từ giàn khoan, chúng tôi tiếp tục đi theo hướng nam (180 độ), nhưng sau gần hai tiếng đồng hồ vẫn không thấy đảo Laut như viên kỹ sư Nhật đã nói!

Lúc này, sau khi bị giàn khoan từ chối cứu vớt, mọi người đều xuống tinh thần, nhất là đám phụ nữ, chỉ sợ gặp hải tặc Thái Lan!

Mặc dù không biết đích xác lúc này ghe đang ở đâu, tôi cũng cố làm ra vẻ bình tĩnh, trấn an mọi người rằng chúng ta đang trên đường đi tới Nam Dương, cách xa vịnh Thái Lan cả mấy trăm cây số, không việc gì phải lo sợ hải tặc!

Nhưng trong khi trấn an mọi người, chính tôi cũng cảm thấy không hoàn toàn yên tâm. Làm sao tôi biết bọn hải tặc Thái Lan chỉ hoạt động trong vịnh Thái Lan? Làm sao tôi biết trong đám ngư dân Nam Dương không có hải tặc?

Nghĩ tới hải tặc, tôi lại thầm trách ông anh cột chèo đã không chịu cho tôi mang theo vũ khí để tự vệ!

Ngày ấy, những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, một số nghe vượt biên, thường là ghe có đông thanh niên hoặc cựu quân nhân VNCH, đã lén mang theo súng ống, lựu đạn để đề phòng trường hợp gặp hải tặc Thái Lan.

Trong thời gian chuẩn bị chuyến vượt thoát, mặc dù đã nhất quyết đi về hướng Nam Dương chứ không vào vịnh Thái Lan, tôi cũng đã nghĩ tới việc mua vũ khí và nhờ Khiêm (tay bạn trung úy hải quân mua hải bàn, hải đồ cho tôi) dò hỏi đám anh chị chợ trời, được biết hai “mặt hàng” phổ biến nhất cho dân vượt biên là súng lục K54 của Trung Cộng và lựu đạn M26 của Mỹ cung cấp cho quân đội VNCH trước năm 1975.

Súng K54 tôi không dám nghĩ tới vì không đủ khả năng tài chánh nhưng lựu đạn thì có thể xoay tiền để mua; tôi dự trù ít ra cũng phải có hai trái để chống lại hai chiếc ghe hải tặc đầu tiên (trường hợp gặp hải tặc tới ba bốn lần thì đành phó thác cho trời!). Nhưng khi tôi bàn với ông anh cột chèo thì bị ông phản đối kịch liệt; ông nói nếu bị bắt lại mà công an xét ghe thấy có vũ khí coi như đời tàn, chúng muốn buộc mình vào tội gì cũng được!

* * *

Trước sự xuống tinh thần của mọi người và lo âu của chính mình, tôi chỉ còn biết ngước mắt lên trời, phó thác mọi việc cho Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria và Thánh Mác-tin.

Vào khoảng 3 chiều, bỗng có một bầy cá lớn bơi sát bên cạnh ghe, có con còn nhào lộn trước mũi. Lúc đầu mọi người hốt hoảng vì tưởng cá mập, sau đó mới biết là cá heo.

Theo sự tin tưởng của ngư dân xưa nay, ra biển gặp cá heo là điềm may. Tôi không biết sự tin tưởng ấy có đúng hay không, chỉ biết trông rất vui mắt. Sau đó, ghe cứ đi được một khoảng thì cá heo lại xuất hiện cả bầy, bơi dọc hông nghe rồi qua mặt, làm như muốn chê ghe của chúng tôi chạy chậm vậy!

Cảnh tượng (và ý nghĩ khôi hài) ấy đã khiến tôi tạm quên đi những nỗi lo của mình!

Chưa hết, một lúc sau còn có những con hải âu xuất hiện, bay lượn khá thấp trên mặt biển. Trước đây qua đọc sách vở, tôi được biết đại khái ở ngoài biển khơi mà thấy hải âu bay lượn là biết gần tới bờ, tuy nhiên “gần” ở đây là mấy chục hay mấy trăm km còn tùy thuộc loài hải âu và dòng nước ấm…

Nhưng ít ra chúng tôi cũng cảm thấy an tâm phần nào, để rồi vài phút sau đó, những gì chúng tôi mong đợi đã tới, một ngọn núi nho nhỏ nhô lên ở cuối chân trời: đảo Laut!

Pulau Laut

Thực ra nếu không gặp giàn khoan và được viên kỹ sư Nhật cho biết chúng tôi đang đi đúng hướng, tôi không dám quả quyết hòn núi trước mặt chính là hòn núi trên đảo Laut, nhưng giờ đây tôi có thể tin tưởng tới 90% đó là Laut. Có nghĩa viên kỹ sư Nhật đã không xí gạt chúng tôi mà chỉ… rút ngắn khoảng cách còn chưa tới một nửa!

Nhưng cho dù trường hợp 10% tệ hại xảy ra: đây không phải đảo Laut mà là một hòn đảo khác, thậm chí một hoang đảo, chúng tôi cũng tạm xem như đã sống sót, đã tới bờ bến chứ không vùi thây trên biển cả!

Khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi có thể thấy màu xanh lam mờ mờ của ngọn núi, và một tiếng đồng hồ sau, đã thấy toàn bộ hòn đảo xanh rì trước mặt.

Mọi người – trừ vợ tôi – từ trong khoang kéo ra chen chúc nhau ngắm nhìn hòn đảo, ai nấy lộ vẻ vui mừng.

Khi còn cách bờ khoảng 2, 3 km, chúng tôi thấy một chiếc tàu vận tải khá lớn ở gần bờ phía bên tay trái. Tới gần hơn, tôi thấy con tàu nằm bất động, có lẽ đang thả neo, nhưng khi lấy ống nhòm quan sát, tôi thấy con tàu rất cũ kỹ, toàn thân bị rỉ sét, nằm nghiêng về một phía và không có bóng một người trên tàu.

Tới gần hơn nữa, tôi mới biết đây là một chiếc tàu bị mắc cạn, và thắc mắc tại sao người ta không tìm cách kéo nó ra mà lại bỏ hoang?

Bỗng ông anh cột chèo báo cho tôi biết hình như có một chiếc ghe ở xa xa phía bên tay mặt; tôi đưa ống nhòm lên thì thấy đó là một chiếc ghe nhỏ đang hướng về phía chúng tôi, trên có mấy bóng đàn ông.

Vừa nghe tôi mô tả những gì mình thấy, ông anh cột chèo chỉ tay vào bờ và lớn tiếng ra lệnh cho tài công Lý:

– Chạy thẳng vào bờ!

Giọng của ông lạc đi, tôi đoán biết chính ông cũng lo sợ chiếc ghe kia có thể là ghe… hải tặc!

Tiếp tục quan sát qua ống nhòm, tôi thấy chiếc ghe vẫn tiến về phía ghe chúng tôi, càng lúc càng gần, và cuối cùng tôi có thể thấy rõ người đàn ông đứng ở mũi ghe đang đưa tay vẫy lia lịa.

Chiếc ghe có tốc độ khá nhanh cho nên chẳng mấy chốc đã tới gần ghe chúng tôi trong khi chúng tôi còn cách xa bờ cả cây số. Nếu là ghe hải tặc chúng tôi phải chấp nhận đối phó chứ không thể nào chạy thoát được!

Khi hai ghe đã gần sát nhau, tôi thấy đây là một chiếc ghe đánh cá thuộc cỡ nhỏ nhất nhưng tiếng máy nổ khá mạnh; trên ghe có bốn người đàn ông, người đứng ở mũi ra hiệu cho chúng tôi dừng ghe lại.

Trước năm 1975 tôi chưa có cơ hội để phân biệt nét mặt giữa người Nam Dương, người Mã Lai, người Thái Lan cũng như ngôn ngữ của ba dân tộc này, tuy nhiên giờ này khi tôi đã tin rằng hòn đảo trước mặt chính là đảo Laut trên hải đồ thì tôi cũng có quyền tin chiếc ghe này của người Nam Dương; mà từ trước tới nay người ta chỉ nói tới “hải tặc Thái Lan” chứ không ai nói tới “hải tặc Nam Dương” cả!

Như vậy tôi có thể yên tâm!

Khi hai chiếc ghe đã cặp sát nhau, người đứng ở mũi ghe nhảy sang ghe chúng tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là xem tay ông ta có cầm vũ khí gì không?

Không có gì cả!

Rồi thêm một người nữa nhảy sang. Đó là một thanh niên đeo kính cận, ăn mặc khá văn minh lịch sự (quần jeans, áo polo…), khác với ba người kia. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng bản xứ rồi anh thanh niên chỉ vào người tôi, hỏi bằng tiếng Anh:

– You Vietnam?

Tôi không kịp ngạc nhiên, trả lời ngay “Yes, Vietnam” rồi vội vã chỉ tay vào bờ, hỏi lại anh ta:

– Laut Island, Indonesia?

Anh đáp:

– Yes, Pulau Laut! (“pulau” tiếng Nam Dương, tiếng Mã Lai có nghĩa là “đảo”)

Rồi anh thông dịch lời của người đàn ông kia (người đã nhảy sang ghe trước tiên) hỏi chúng tôi có vũ khí trên ghe không; sau khi tôi trả lời không, anh nói chúng tôi cho ghe chạy theo chiếc ghe của họ.

Dĩ nhiên chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Rồi với thứ tiếng Anh “cao-bồi Texas”, người thanh niên giải thích với tôi rằng anh là sinh viên y khoa đang thực tập trên “city”, nhân kỳ nghỉ hè về Pulau Laut thăm họ hàng, hôm nay theo mấy ngư dân đi chơi biển và trên đường trở về đảo đã vô tình nhìn thấy ghe chúng tôi, bằng không, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp nạn!

Những gì anh sinh viên kể tiếp theo đó cho thấy chúng tôi cực kỳ may mắn!

Nguyên vùng biển chung quanh đảo Pulau Laut toàn là san hô ngầm. Nhiều tàu thuyền lạ đã gặp nạn, bị chìm hoặc bị hư hại phải bỏ lại như chiếc tàu vận tải mà chúng tôi đã nhìn thấy hồi chiều.

Sau này được đưa sang những hòn đảo khác, tôi mới biết cả vùng biển phía bắc của Nam Dương, trong đó có quần đảo Natuna, là vùng biển có nhiều san hô và đá ngầm vây quanh các đảo; và vì biển ở vùng này rất cạn, tàu thuyền không thể vào sát bờ, người ta phải làm những cầu tàu ra tận ngoài biển, có khi dài tới mấy trăm mét.

Vì thế, nếu chiếc ghe của mấy người Nam Dương không nhìn thấy ghe chúng tôi và tới chặn lại, chúng tôi sẽ tiếp tục chạy thẳng vào bờ biển trước mặt để rồi cùng số phận với những tàu thuyền bị chìm trước đó!

* * *

Chiếc ghe đánh cá dẫn đường chạy khá chậm. Tuy lúc này đã khoảng 6 giờ tối, nhìn xuống mặt nước theo tay anh sinh viên chỉ, chúng tôi vẫn có thể thấy san hô dầy đặc dưới mặt nước biển trong vắt.

Trong lúc tôi và anh sinh viên nói chuyện, người đàn ông Nam Dương kia lấy gói thuốc lá trong túi ra mời mọi người; tôi, tài công Lý, và Tiến đang đứng gần đó mỗi người lấy một điếu. Vừa đưa điếu thuốc lên môi chưa kịp đốt, tôi đã ngửi thấy mùi thơm nhưng không phải mùi thơm của thuốc lá mà là mùi thơm của… gia vị: đinh hương (clove), một vị trong “ngũ vị hương” của người Tàu!

Những ai từng sống ở trại tỵ nạn Pulau Galang, dù hút thuốc hay không hút thuốc cũng không thể quên được cái mùi thơm nồng nặc của loại thuốc lá tẩm đinh hương này (clove cigarettes, tiếng Nam Dương gọi là “kretek”).

Gudang Garam, hiệu “clove cigarettes” cao cấp nhất

Có khác chăng trong khi những người không hút thuốc trước sau chỉ thấy nồng nặc, khó chịu thì những người hút thuốc sau một thời gian hút lại đâm ra nghiền (tuy nhiên đa số không có khả năng mua vì giá mắc hơn nhiều so với thuốc lá bình thường).

Mặc dù đang phải hút Hoa Mai, loại thuốc lá quốc doanh được xem là tồi tệ nhất, lúc đó tôi, Lý, và Tiến cũng không thể nào thưởng thức nổi hương vị của mấy điếu thuốc tẩm đinh hương. Tuy nhiên, trong khi Lý và Tiến lén quăng điếu thuốc xuống nước thì tôi, đang đứng đối diện với hai người đàn ông Nam Dương, phải cố gắng chịu đựng, lâu lâu đưa lên miệng bập một cái thật nhẹ cốt để tránh làm mất lòng họ.

* * *

Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy có ánh đèn điện từ trong bờ rồi chiếc ghe đánh cá hướng dẫn chúng tôi đi vào một cái cầu tàu bằng gỗ. Tới nơi, anh sinh viên nói chúng tôi chờ dưới ghe để người đàn ông Nam Dương kia đi thông báo cho “cáp-ten” (captain), người mà anh giải thích là “chúa đảo” ở Pulau Laut.

Trong lúc chờ đợi ông “cáp-ten”, tôi vào trong khoang và qua ánh sáng lờ mờ từ trên cầu tàu, chứng kiến một cảnh tượng bi hài không thể tưởng tượng: trừ bà chị vợ của tôi và Tốt (vợ Trung, đang mang bầu), tất cả đàn bà con gái còn lại đều sợ hãi ôm chặt lấy nhau vì cho rằng ghe của mình đã lọt vào tay hải tặc, bất chấp những lời giải thích của đám đàn ông đây là những người đánh cá của Nam Dương!… Riêng cô vợ yêu quý của tôi thường nhật cũng không lấy gì làm sùng đạo cho lắm, giờ này đang ôm chặt pho tượng Thánh Mác-tin vào lòng!

Một lúc sau, ông “chúa đảo” – một người trạc tuổi trung niên – cùng với mấy người đàn ông nữa tới nơi. Ông ta chỉ vào ngực và nói một cách hãnh diện “cáp-ten…, cáp-ten”.

Rồi một người, sau này tôi được biết là một thư ký hành chánh, phụ tá của ông cáp-ten, cũng nói được chút ít tiếng Anh, hỏi tôi về tổng số người trên ghe, sau đó nói tôi cho mọi người mang theo tất cả hành lý rời ghe để lên bờ.

Nhưng đám đàn bà con gái ngồi trong khoang nhất định không chịu rời ghe, riêng vợ tôi thì khóc rống lên, nói chết thì chết chứ không lên bờ. Tôi nổi sùng, lớn tiếng quát đã liều chết vượt biển, nay tới bờ lại không chịu lên là làm sao!

Cuối cùng thì mọi người cũng phải lên cầu tàu, riêng vợ tôi và Lệ, cô gái trẻ khách của bà chị vợ, yếu quá đi không nổi phải dìu. Ông “cáp-ten” cùng người thư ký hướng dẫn chúng tôi đi khoảng vài chục mét thì tới một cái nhà sàn khá lớn, đèn điện sáng trưng, sau này mới biết đó là “tư thất” của ông cáp-ten kiêm văn phòng của đảo Pulau Laut.

Chúng tôi được đưa vào một căn phòng lớn, có lẽ là nơi sinh hoạt của dân chúng trên đảo nhưng bàn ghế đã được dọn dẹp; một số đàn bà con nít đang ngồi dưới sàn nhà xem truyền hình. Người thư ký nói chúng tôi ngồi chờ ở đây để bà vợ cáp-ten nấu cơm tối, không quên hướng dẫn lối đi nhà vệ sinh.

Tới lúc này đám đàn bà con gái trên ghe chúng tôi mới hoàn toàn yên tâm. Riêng tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm kích trước cách đối xử của những người Nam Dương đầu tiên mình được gặp. Chỉ có điều là đám đông đang ngồi xem truyền hình hầu hết không theo dõi những gì đang diễn ra trên màn ảnh nữa mà quay sang quan sát chúng tôi, chỉ trỏ, bàn tán…; rồi càng lúc càng có nhiều người kéo tới, đại đa số là phụ nữ và trẻ con.

Lúc đầu chúng tôi cũng cảm thấy khó chịu, nhưng sau một hồi nhìn những khuôn mặt hiền lành chất phác, những nụ cười vô tư của họ, chúng tôi hiểu đây chỉ là sự tò mò vô hại của những người dân đảo hồn nhiên…

Khoảng hơn nửa giờ sau, bữa cơm tối do bà vợ cáp-ten cùng một số phụ nữ nấu đã sẵn sàng. Nhìn cái nồi cơm khổng lồ và chén bát, muỗng nĩa (không có đũa) đầy đủ cho mấy chục người, tôi đoán có lẽ đây cũng là nơi tụ tập tiệc tùng ăn uống của người dân trên đảo.

Bữa tối chỉ có cơm, cá khô và một món canh rau nhưng trừ vợ tôi và cô Lệ quá yếu mệt, tất cả chúng tôi ăn rất ngon miệng sau bốn ngày sống nhờ lương khô!

Ăn cơm tối xong, nghỉ ngơi một lát, chúng tôi được người thư ký cho biết anh sẽ đưa chúng tới nơi tạm trú. Tôi đại diện đoàn người cám ơn ông “cáp-ten” và bà vợ đã cho ăn cơm tối bằng tiếng Anh và được người thư ký thông dịch sang tiếng Nam Dương; trong khi ông “cáp-ten” chỉ gật gật cái đầu thì bà vợ đáp lại bằng nụ cười thật tươi.

Người thư ký đưa chúng tôi tra ra cầu tàu, từ đây đi vào bờ hai bên cầu tàu đều có nhà sàn của người dân, có một hai nhà có truyền hình.

Tới bờ, chúng tôi được dẫn đi thêm vài trăm mét, tới một ngôi nhà lớn nằm giữa một khoảng đất trống tối thui chẳng có đèn đuốc gì cả. Người thư ký đưa cho chúng tôi một mớ đèn cầy, nói vào bên trong ngủ đỡ qua đêm, sáng hôm sau anh ta sẽ trở lại.

Đó là một ngôi nhà lợp tôn vách ván, nền xi-măng, có hai dãy sạp gỗ, mà tôi đoán là được dựng lên cho những thuyền nhân đã tạt vào hòn đảo này, trong số đó có năm anh em con bà chị vợ tôi đi năm 1979.

Sáng ra, người thư ký trở lại cùng với ông cáp-ten. Lúc này tôi mới có thì giờ quan sát kỹ ông “chúa đảo”. Điểm đầu tiên đập vào mắt người đối diện là ông cao hơn mọi người gần một cái đầu, điểm kế tiếp là bộ đồ thể thao (tracksuit) Adidas với đôi giày cùng hiệu của ông. Sau này tới các đảo lớn, tôi mới biết Adidas là “hàng hiệu” được ưa chuộng nhất ở Nam Dương thời bấy giờ.

Không biết ông cáp-ten có mấy bộ tracksuit, chỉ biết trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi thấy ông chỉ mặc một kiểu quần áo duy nhất là bộ tracksuit Adidas màu xanh đậm. Còn những người đàn ông khác trên đảo không hiểu vì không có cơ hội tiếp xúc với xã hội “văn minh” hay vì thời tiết nóng quanh năm mà tất cả đều mặc áo thun (T-shirt), quần đùi, sau khi đi đánh cá về mới quấn cái xà-rông (sarong).

Cũng giống như đại đa số dân ở các đảo nhỏ của Nam Dương, ông cáp-ten có nước da nâu sậm, khuôn mặt mang những nét thuần chủng của người bản xứ (native Indonesians) chứ không có những nét lai Ấn-độ, Ả-rập, Âu châu, Trung Hoa… như nhiều người Nam Dương ở các đảo lớn.

Viết một cách ngắn gọn là không được thanh tú. Bù lại, họ (dân đảo) có những nét đơn sơ, ngây ngô chất phác dễ gây thiện cảm nơi người lạ.

* * *

Qua phần “thông dịch” của người thư ký, chúng tôi được biết ông cáp-ten là đại diện chính quyền Nam Dương ở Pulau Laut, có trách nhiệm canh giữ và giúp đỡ chúng tôi cho tới ngày được đưa tới “city”. Trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi không được vào rừng sâu, không được đi ra cầu tàu hoặc bờ biển.

Sau đó, người thư ký nói chúng tôi cử mấy người lên văn phòng của đảo để lãnh gạo và chiếu nằm về cho mọi người, cùng với nồi niêu chén đĩa, còn thực phẩm thì khi nào ghe đánh cá về thì sẽ cho người gọi chúng tôi tới nhận cá.

Khoảng gần trưa, một phụ nữ tới ra hiệu cho chúng tôi theo bà ta ra bãi. Tới nơi thì thấy ngư dân đã đem cá lên bờ, bày la liệt trên bãi cát, có những con chắc phải tới 4, 5kg, một số người dân đảo đứng chung quanh. Người phụ nữ chỉ tay ra hiệu cho tôi chọn một con trong số những con lớn nhất; tôi bối rối chưa biết phản ứng ra sao, một phần vì ngại ngùng, một phần vì không rành về cá biển, thì bà ta đã lấy con cá lớn nhất trao cho chúng tôi. Sau đó số cá còn lại mới phân phối cho người dân đảo.

Việc “tặng cá” này diễn ra mỗi ngày. Còn gạo thì mỗi lần họ phát cho khoảng 20kg, nói khi nào hết lên lãnh tiếp.

* * *

Tới đây cũng xin có đôi dòng về đảo Pulau Laut và cuộc sống của người dân trên đảo.

Pulau Laut là hòn đảo gần Việt Nam nhất, thuộc hạt (regency) Natuna, tỉnh (province) Riau của Nam Dương. Về mặt lãnh thổ, Cộng Hòa Nam Dương gồm trên 17,000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó vùng đảo Riau, gồm 1,796 đảo, có vị trí quan trọng nhất, vì nằm giữa bán đảo Mã Lai vào đảo Borneo, phía nam là eo biển Malacca (Malacca Strait), huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (biển Đông), phía bắc là lộ trình hàng hải quốc tế.

Vùng đảo phía bắc của Riau là quần đảo Natuna gồm 272 hòn đảo lớn nhỏ, với những biển san hô tuyệt đẹp, với trữ lượng dầu hỏa lớn nhất biển Đông, hiện nay đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng đồng thời cũng trở thành mục tiêu xâm lấn của Trung Cộng (bản đồ “lưỡi bò” mới nhất của Bắc Kinh bao gồm một phần vùng biển phía đông bắc Natuna).

Nhưng vào đầu thập niên 1980, Natuna còn tương đối thưa vắng, nhất là vùng đảo phía bắc, gồm Pulau Laut và hai đảo nhỏ hơn, cùng nhiều đảo tí hon (islets).

Bản đồ lãnh thổ Nam Dương (màu trắng). Vùng biển Riau nằm ở phía bắc, đảo Natuna có mũi tên đỏ; chấm nhỏ phía bên trên là Pulau Laut

Pulau Laut nằm cách đảo chính (Natuna) khoảng 50 km, có chiều dài 11 km theo hướng nam-bắc, chỗ rộng nhất khoảng 5 km. Vào thời gian này, theo lời người thư ký của ông cáp-ten, chỉ có hơn một trăm người dân đảo, sống quây quần ở một bờ biển ở phía nam, nhìn ra hướng tây. Gần như toàn bộ diện tích của Pulau Laut là rừng núi, mà đỉnh cao nhất (273m) nằm ở phía bắc – mà chúng tôi đã nhìn thấy vào chiều 19/10/1981 sau khi rời giàn khoan Nhật.

Tất cả dân đảo chỉ làm một nghề là thu hoạch cùi dừa. Dừa ở Pulau Laut, cũng như ở đa số đảo khác của Nam Dương, Mã Lai, nguyên là dừa mọc hoang ở bờ biển không biết từ đời nào, sau đó được người dân trồng thêm. Dừa khi đã già được lấy cùi, bỏ vào bao bố đưa lên Natuna bán cho các nhà thu mua.

Dừa ở vùng đảo này là dừa vỏ xanh, thân cây cao tới trên 20 mét. Vì thế người ta phải nuôi khỉ để leo lên hái dừa. Hiện nay, những người từng đi du lịch Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương… tới các vùng khai thác dừa có thể đã được “thưởng lãm” cảnh khỉ hái dừa, hoặc qua đọc tài liệu, xem video của các tổ chức bảo vệ thú vật, nhưng ngày ấy chúng tôi chưa một ai được chứng kiến hoặc nghe nói tới việc nuôi khỉ để hái dừa.

Thành thử chứng kiến cảnh hậu duệ Tề thiên Đại thánh bị loài người bắt leo lên cây hái dừa, chúng tôi vừa ngạc nhiên thích thú vừa thương tội!

Thương tội bởi vì để khỉ không thể chạy trốn, người ta xiềng vào cổ nó một sợi xích sắt, dài ngắn tùy theo con khỉ lớn hay nhỏ nhưng tối thiểu cũng khoảng 3, 4 mét; với sức nặng của sợi xích, con khỉ chỉ đi chứ không thể chạy!

Không biết những con khỉ này được huấn luyện ra sao, chỉ biết khi một con được dắt tới gốc dừa, nó leo thoăn thoắt lên ngọn để bẻ dừa, bắt đầu từ những trái lớn nhất quăng xuống gốc cây; trường hợp cuống trái dừa không đứt, nó dùng răng để cắn… Cho tới khi ông chủ ra lệnh thì mới được leo xuống.

Bản đồ lãnh thổ Nam Dương (màu trắng). Vùng biển Riau nằm ở phía bắc, đảo Natuna có mũi tên đỏ; chấm nhỏ phía bên trên là Pulau Laut

Hậu duệ Tề thiên Đại thánh hái dừa

Trong một lần cùng vài người trong ghe đi vào ven vào rừng để thám hiểm, vừa ra khỏi khoảng đất trống nơi có ngôi nhà tạm trú, tôi thấy một ngôi nhà bỏ hoang. Điểm đầu tiên đập vào mắt tôi là tấm bảng gỗ ở phía trước có huy hiệu Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) và hai hàng chữ bắng tiếng Anh và tiếng Nam Dương (Nam Dương, nguyên là thuộc địa của Hòa Lan trong gần bốn thế kỷ, sử dụng mẫu tự La-tinh). Cấu trúc và màu sắc của ngôi nhà này khác hẳn với nhà cửa của dân chúng trên đảo. Đó là một căn nhà sàn bằng gỗ lợp tôn, vách ván, sơn màu xanh blue nhạt, gồm hai căn phòng trống trải.

Sau đó, qua đọc những chữ được khắc trên các cột nhà tạm trú và nghe những người đi trước kể lại, tôi được biết trong các năm 1978, 1979, 1980 đã có một số ghe vượt biên từ Việt Nam, hoặc vì không biết có trại tạm trú ở đảo Kuku hoặc vì không biết đường đi tới Kuku, khi thấy đảo Pulau Laut liền tấp vào. Số thuyền nhân tạm trú tại Pulau Laut có lúc lên tới cả trăm, vì thế lâu lâu Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ lại đưa nhân viên tới đảo thiết lập danh sách, phỏng vấn sơ khởi, rồi từng đợt được đưa sang các đảo lớn.

Ngôi nhà gỗ sơn xanh nói trên được dựng lên làm văn phòng cho nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn làm việc, cùng với ngôi nhà dành cho thuyền nhân tạm trú mà tôi đã viết ở đoạn trên.

Sau này vì đa số ghe đi Nam Dương đã tới thẳng đảo Kuku, thậm chí tới thẳng đảo Galang, đồng thời để tiết kiệm nhân lực vốn luôn thiếu hụt, văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Pulau Laut đã bị dẹp bỏ. Căn nhà tuy bị bỏ hoang nhưng không có người dân nào tới phá phách, tháo gỡ tôn ván vì cho rằng nó vẫn là tài sản của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ.

* * *

Qua ngày thứ hai sau khi chúng tôi đặt chân lên Pulau Laut, người thư ký của ông cáp-ten đem xuống một cái máy đánh chữ nhỏ thuộc loại cổ lỗ sĩ và mấy tờ giấy có in tiếng Anh do Cao Ủy Tỵ Nạn để lại, để tôi đánh danh sách người đi trên ghe.

Phía trên tờ giấy là số hiệu của ghe, ngày tới đảo và tổng số người đi trên ghe. Ngày tới đảo thì tôi ghi 19/10/1981, số người trên ghe là 26, nhưng số ghe thì không có, bởi như đã viết trong một kỳ trước, chiếc ghe của chúng tôi không đăng ký để tránh sự kiểm soát và đòi tiền mãi lộ của công an cho nên không có số hiệu gì cả.

Thông thường, các ghe khi đăng ký sẽ được cấp số hiệu gồm hai mẫu tự viết tắt của tên địa phương, chẳng hạn VT (Vũng Tàu), KG (Kiên Giang), (TG Tiền Giang), PT (Phan Thiết), và ba, bốn con số phía sau.

Vì ghe của chúng tôi không có số cho nên tôi để trống. Tuy nhiên sau khi tôi đánh máy xong danh sách, ông anh cột chèo của tôi lại chế ra một cái tên ghe để tôi điền vào.

Tuy gọi là “chế” nhưng cũng có cơ sở. Nguyên hai năm trước đó, ghe của mấy đứa con bà chị vợ tôi cũng không có số, sau khi tới đảo Pulau Laut bị bỏ lại ở đó, còn người thì được đưa tới đảo Kuku, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku khi làm hồ sơ đã đặt cho chiếc ghe (bị bỏ lại ở Pulau Laut) số hiệu gồm hai mẫu tự PL và tiếp theo là sáu con số.

Trong thư viết từ trại tỵ nạn Galang về Việt Nam, đứa con trai lớn của bà chị vợ tôi giải thích hai con số đầu là tháng tới Nam Dương, hai con số tiếp theo là ngày tới, và hai con số cuối cùng là tổng số người trên ghe.

Còn hai mẫu tự PL, cháu không biết do đâu mà có, và đã viết đùa rằng rất có thể người tây phương vốn có truyền thống lấy tên đàn bà con gái đặt cho các du thuyền cho nên văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku đã lấy tên “Phương Loan” của đứa em gái lớn nhất viết tắt thành PL.

Nhưng ông anh cột chèo của tôi lại… tin lời cậu trưởng nam, cho nên đã lấy hai mẫu tự TV – viết tắt tên con trai út “Thiên Vĩ” – để có một cái tên ghe đầy đủ là TV-101926, nghĩa là ghe tới đảo ngày 19 tháng 10, gồm 26 người.

Ông rất thích thú với cái tên ghe độc đáo, đầy ý nghĩa này, chứ đâu có ngờ chính vì việc “chế” tên ghe không giống ai mà sau này ông và tôi đã bị Cao Ủy Tỵ Nạn quay tới quay lui!

* * *

Sau gần một tuần ở Pulau Laut, chúng tôi được người thư ký của ông cáp-ten báo cho biết ngày mai chúng tôi sẽ được tàu chở lên “city”.

Mặc dù không thể hình dung cái “city” chúng tôi sắp được đưa tới nó lớn nhỏ ra sao, văn minh như thế nào, ai cũng vui mừng. Riêng tôi, xem lẫn nỗi vui ấy có kèm chút bâng khuâng khi từ giã hòn đảo mà mọi người cùng ghe gọi đùa là “hoang đảo” này. Cho dù tới lúc ấy vẫn chưa học được một tiếng Nam Dương nào, tất cả mọi sự “giao dịch” với dân đảo đều qua trung gian thông dịch của anh sinh viên mà đôi khi tôi được gặp lại, tôi cũng rất mến những người dân đảo hiền lành, chất phác, tốt bụng mà sau này không bao giờ còn tìm thấy trên cõi đời này!

Ngày hôm sau, vào khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi được người thư ký dẫn ra cầu tàu. Trên đường đi, những người dân đảo thấy chúng tôi khăn gói ra đi đều đưa tay vẫy chào.

Qua khỏi văn phòng của đảo mấy chục mét, chúng tôi thấy cái nghe của mình vẫn còn nằm y chỗ cũ phía bên tay trái cầu tàu; nước đã ngập gần phân nửa (vì đáy nghe bị nứt khi bị bão).

Tôi cảm thấy bùi ngùi khi nghĩ tới tương lai không mấy sáng sủa của chiếc ghe mục nát đã giúp chúng tôi vượt thoát khỏi Việt Nam: vì đã quá cũ, chắc chắc nó sẽ được dân đảo rã ra để làm củi hay sử dụng vào công việc nào đó. Chấm dứt một kiếp ghe!

* * *

Ra tới nơi, tôi thấy một cái tàu gỗ khá lớn, dài khoảng 15-20 mét, trên đó có ông cáp-ten và mấy người đàn ông, có cả anh sinh viên.

Sau khi đếm đầu người, hướng dẫn chúng tôi lên ghe chỉ chỗ ngồi trên sàn ghe chất đày bao bố đựng cùi dừa, người thư ký cho tôi biết đích ông cáp-ten sẽ đưa chúng tôi ra “city” giao cho nhà chức trách, rồi bắt tay tôi từ giã, rời tàu.

Sau khi tàu ra khơi, thấy anh sinh viên một mình đứng ngắm trời biển, tôi lân la tiến tới hỏi chuyện, được anh cho biết ông cáp-ten không chỉ là người đại diện chính quyền ở Pulau Laut mà còn đảm trách mọi phương diện liên quan tới đời sống của người dân đảo.

Chẳng hạn cứ mỗi tháng một lần, ông cùng với mấy người đi theo lại mang cùi dừa, sản phẩm độc nhất của người dân đảo ra “city” bán cho trung tâm thu mua, rồi mua nhu yếu phẩm cho từng gia đình theo danh sách đã ghi, ngoài ra ông còn mua cả những loại thuốc men căn bản cho dân đảo, cất giữ ở trụ sở kiêm tư thất của “chúa đảo”, nơi mà bà vợ của ông kiêm cả vai trò “y tá”!…

* * *

Sau khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy vô số đảo ở phía chân trời, anh sinh viên nói với tôi đó là quần đảo Natuna, nơi có “city” mà anh và người thư ký của ông cáp-ten đã nhắc tới.

Đi thêm một tiếng nữa, tàu tới gần quần đảo. Hầu như đảo nào cũng có núi, mà ngọn cao nhất sau này tôi được biết vào khoảng 1000 mét, tức là tương đương với núi Bà Đen ở Tây Ninh.

Con tàu tiếp tục đi về phương nam thêm khoảng nửa tiếng rồi tiến vào một hòn đảo xanh tốt với nhiều nhà sàn nhô ra bờ biển. Cuối cùng, tàu cặp vào một cái bến tàu lót gỗ nằm cách bờ biển cả trăm mét. Cũng giống như ở Pulau Laut và hầu hết các đảo trong vùng biển Natuna, mực nước gần bờ ở đây rất cạn, có nhiều đá ngầm và san hô cho nên người ta phải làm một cái cầu tàu chạy dài ra biển.

Chúng tôi được ông cáp-ten đưa tới văn phòng của bến tàu, ngồi chờ ngoài cửa vì cái phòng quá chật. Trong lúc chờ nhân viên hành chính tới làm thủ tục nhận người tỵ nạn, chúng tôi được một “người hùng” vồn vã săn đón.

“Người hùng” khoảng 35, 40 tuổi, hơi thiếu chiều cao nhưng thân hình vạm vỡ, tuy mặt mũi đen đủi nhưng khá đẹp trai với hàng ria mép cắt tỉa gọn ghẽ; chỉ có điều là kể cả những lúc ra vẻ nghiêm trang, đứng đắn nhất, trông anh vẫn có nét khôi hài, khiến tôi liên tưởng tới danh hài Thanh Việt của Sài Gòn trước 1975.

Với vốn liếng tiếng Anh không nhiều nhặn gì, “người hùng” cho chúng tôi biết anh là một cựu Trung sĩ (Sergeant) trong quân đội Nam Dương, không phải là trung sĩ bình thường mà một trung sĩ trong lực lượng người nhái của hải quân, chuyên đi tầu ngầm. Vừa khoe anh vừa vỗ vào con dao đeo ở thắt lưng, nói đó là loại dao găm đặc biệt của người nhái mà anh được giữ làm kỷ niệm.

Vị cựu trung sĩ người nhái cũng cho biết hiện nay anh là người đặc trách an ninh trên hòn đảo Sedanau này. Lúc đó tôi mới biết chữ Sedanau trên hàng chữ Nam Dương trước văn phòng bến tàu là tên của hòn đảo này.

Chờ khoảng 15 phút, các viên chức Nam Dương tới bến tàu để nhận người. Trước khi chia tay, tôi đại diện ghe cám ơn ông cáp-ten và từ giã anh sinh viên; anh nói rồi đây nếu chúng tôi ra “city” chơi, rất có thể sẽ gặp lại anh.

* * *

Rời bến tàu, chúng tôi theo các viên chức Nam Dương đi ra đường phố. Lần đầu tiên kể từ khi bước xuống ghe, chúng tôi mới nhìn thấy một đường phố đúng nghĩa, với các hàng quán và sinh hoạt thường nhật của người dân. Con đường trải nhựa rất sạch sẽ, nhà cửa và hàng quán hai bên tuy đều bằng gỗ nhưng khá tươm tất.

Đi bộ khoảng vài trăm mét, chúng tôi được đưa vào một cái ngõ khá rộng ở phía bên mặt, dẫn tới một dẫy nhà sàn nhô ra bờ biển, trong đó có một ngôi nhà rộng thênh thang, nơi tạm trú của hơn một trăm thuyền nhân đã tới đây trước chúng tôi.

Một người “thâm niên” nhất, được xem là đại diện tỵ nạn Việt Nam trên đảo Sedanau, hướng dẫn chúng tôi vào tìm chỗ.

Nhà sàn ở vùng đảo Natuna

Một khu nhà sàn ở Sedanau tương tự nơi tạm trú của người tỵ nạn cách đây hơn 40 năm

Về sau tôi được biết căn nhà này nguyên là một cái chợ cá cũ, được nhà cầm quyền địa phương sử dụng làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn Việt Nam trong thời gian chờ tàu lớn tới đón.

Thư gởi Anh “Đại Tá”

Tuyển tập Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Jun 2025

Hôm qua trong buổi dạ vũ lấy tiền giúp anh em mới sang, tôi biết anh “Đại Tá” có ý giận tôi, và cũng vì chuyện này đêm qua tôi cũng trăn trọc khó ngủ. Trong lúc mọi người vây quanh anh, một đại tá, hai đại tá thì tôi cũng dùng chữ anh để gọi “đại tá” và xưng tôi. Mặt anh tối sầm lại, tôi thấy rõ, mặc dù đêm vũ trường lúc đó đã tối. Phải nói xung quanh đây toàn là em út của anh cả, và ở đây anh là người có cấp bậc cũ trong quân đội lớn nhất. Lẽ cố nhiên anh cũng hãnh diện vì giờ này thiên hạ còn gọi cấp bậc của anh. Biết đâu có người cao hứng đã gọi anh là Chuẩn Tướng cũng nên. Qua đây để nhớ tiếc một thời vang bóng, người ta đã phong hàm, phong tước cho nhau rất nhiều. Thiếu úy thì xưng là Đại úy, Đại úy thì giới thiệu là Thiếu tá. Thiếu tá thì gọi là Trung tá. Thậm chí Trung sĩ được gọi là cựu sĩ quan.

Trước hết tôi không muốn gọi anh là Đại tá, vì như vậy buộc anh phải gọi tôi là Đại úy theo hệ thống quân giai và đúng vai đúng vế, mặc dù tôi biết anh có thói quen gọi tôi lại bằng chú, chú em và đôi lúc cao hứng gọi mày xưng tao, trong khi lúc nào, trước kia tôi cũng nghiêm trang gọi anh bằng Đại tá.

Nếu giờ này, mà tôi còn gọi anh là Đại tá mong anh cũng thông cảm cho, đó là điều quá ư lạc hậu. Hoặc tôi sẽ gọi anh là Thiếu tướng, Trung tướng hoặc Thống tướng, hoặc là tôi sẽ gọi chính danh là cựu Đại Tá. Nhưng ba chữ cựu Đại tá để nói về ngôi thứ ba, còn đối diện với anh mà gọi chữ cựu e không ổn. Tôi không bao giờ quên cái ngày ấy, khi ở đâu trên phi trường, với một cái “samsonite” đầy của quí trong tay, anh đã gọi điện thoại về đơn vị cho các em út, phòng thủ chỗ này, báo cáo chỗ kia. Máy bay sắp cất cánh rồi mà anh còn nói “tôi kẹt chút việc, sẽ về đơn vị ngay.” Thế là đơn vị tin anh không bỏ chúng tôi, đơn vị tử thủ chờ anh về. Gọi điện thoại như thế với kiểu chỉ huy bằng điện đàm, nếu có lật được thế cờ và anh chưa ra khỏi nước, tôi chắc ngôi sao đầu tiên sẽ gắn lên cổ áo anh là cái chắc.

Trên máy bay anh thở phào nhẹ nhõm nhìn lại, điểm mặt vợ con, hành lý, hàng hóa, tài sản tích lũy không thiếu một thứ gì. Anh tùy viên và sĩ quan tài chánh của anh, hai người mà anh quý nhất trong đơn vị cũng đã lên máy bay rồi. Lo cho em út như vậy là quá chu đáo. Trong khi anh nhìn mây Thái Bình Dương bồng bềnh ngoài cửa số, chờ đèn no smoking vụt tắt, châm một điếu thuốc hít một hơi sảng khoái, thì ông Lê Minh Đảo cùng Sư Đoàn 18 đang quần nhau với Cộng Sản ở ngã ba Xuân Lộc, chận hậu cho anh rút đi an toàn. Trong khi anh ngồi trên hàng không mẫu hạm, chắc chắn một trăm phần trăm anh đã thoát khỏi đất nước rồi thì Sàigòn được giải phóng (!). Miền Nam bàng hoàng nhìn những chiến xa quân cụ VNCH được cởi bởi những anh chàng áo xanh, nón cối, dép râu và ngỡ ngàng trước một sự thật hầu như vô lý đang diễn ra.

Trong khi anh đặt chân đến mảnh đất tự do hoàn toàn, dù đó là Guam,

là Midway và “hạ mình” chịu khó xếp hàng lãnh thực phẩm thì em út

các anh đang xếp hàng dưới báng súng AK, lưỡi lê lên tàu sông Hương

đi đày ra Bắc. Ngay khi trực thăng chở anh chị và các cháu rời mặt đất, anh không còn là cấp chỉ huy của tôi nữa, đừng nói gì đến hai chữ “lãnh đạo”. Bây giờ sau 15,16 năm gặp nhau đây thật quá ngỡ ngàng. Trong tôi nếu còn giữ lại là chút tình huynh đệ chi binh anh là huynh trưởng. Gặp nhau đương nhiên cũng tay bắt mặt mừng. Tha hương ngộ cố tri gặp nhau ai lại không mừng. Quê hương đã xa xôi, gặp người quen biết cũ như chồng đi xa về gặp vợ. Cố tri, đương nhiên rồi, anh và tôi đã biết nhau quá rõ.

Thế mà nỡ lòng nào vì hai chữ danh xưng của một tước vị đã cũ, anh

lại hờn giận tôi. Người ta hoặc là có dĩ vãng, hoặc là có hiện tại, hoặc là có tương lai. Chúng ta qua đây, phần đông đã lỡ làng. Hiện tại chẳng ra gì, tương lai hưởng chút tiền già nhờ cậy con nên anh còn quá tiếc nuối, đánh bóng, đóng khung dĩ vãng và cho đó là một thời vàng son. Anh quên mất cái tình, vịn vào cái lý và quên rằng thời gian đã quá xa, không gian đã thay đối. Gặp nhau tay bắt mặt mừng là đã quý, quý giá gì một chút danh xưng. Ở đất nước người, Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Đại tướng … lúc rời chức vụ rồi còn sáng giá, còn được quần chúng hâm mộ … Ở xứ mình, sao như cái tủ khi đẩy ra khỏi chỗ để dọn nhà, còn để lại bao nhiêu rác rưởi, bụi bặm trên sàn.

Nhà văn Phan Khôi đã ví von các tay sống lâu ra lão làng chẳng khác gì

cái bình vôi vứt lăn lóc dưới gốc đa, được người ta lạy lạy quì quì nhưng thật sự chăng ra tích sự gì. Bây giờ đây là hiện tại, hội họp đình đám bao giờ anh em cũng dành cho anh một chỗ danh dự. Danh dự đó cũng không phải là chỗ của cấp chỉ huy, xin anh đừng mang ảo tưởng. Anh cũng đừng lẫn lộn huynh trưởng với đại ca. Huynh trưởng còn có anh có em. Đại ca là danh xưng trong giới giang hồ. Tôi sợ anh muốn được nhận quyền lợi của một đại ca nhưng chưa tròn được trách nhiệm của một đại ca trong giới giang hồ.

Muốn sống với hiện tại, tôi muốn anh cũng như tôi quên đi dĩ vãng. Anh đừng vội gán ép cho tôi cái tội quên tổ quốc, quê hương, đồng bào.

Quên đây là quên cái cấp bậc của anh, tước vị của anh cũng như của

tất cả chúng ta thôi. Vì trong việc tạo lập cuộc sống mới ở xứ người,

khư khư ôm lấy cái “lon lá” quả là có nhiều trở ngại. Anh cũng như tôi phải xếp hàng chung với mọi người từ khi anh xuống sân bay. Đừng bắt mọi người phải dang ra nhường chỗ cho anh như trước kia có quân cảnh, an ninh dẹp đường cho anh. Chính vì những chuyện như vậy mà hôm nay chúng ta mới phải gặp nhau ở đây. Tôi nói phải, không biết ý anh ra sao, còn tôi, thú thật, quả là chuyện bất đắc dĩ.

Điều làm cho tôi và bạn bè của tôi, những người là em út của anh buồn phiền, xấu hổ nhất là những dự tính về tương lai của các anh. Ra đi, anh là người đầu tiên. Về, anh lại tính chuyện đi trước. Anh lại muốn ăn trên ngồi trốc, muốn chỉ huy, muốn lãnh đạo, muốn cầm quyền. Không có tham vọng làm cho dân giàu nước mạnh, anh chỉ có tham vọng nắm lại quyền hành. Anh nghĩ là anh đã là đại tá anh sẽ ít nhất cũng là đại tá. Anh là tổng thống đương nhiên sẽ là tổng thống hay đổi danh xưng là chủ tịch là cùng. Xin anh đừng gắn liền dân tộc, quê hương, tự do độc lập với chế độ. Và chế độ với các chức vụ đại tá của anh. Phục hồi tự do, độc lập chưa phải là phục hồi chế độ. Phục hồi chế độ không có nghĩa là phục hồi cấp bậc cho anh. Dân chúng hiện nay chán nản chế độ Cộng Sản, hoài vọng một thời tự do sung sướng trước kia không phải là khao khát có anh, khao khát một ông tổng thống cũ về cầm quyền ngồi lại trong dinh Độc Lập.

Bao nhiêu năm qua cũng đủ luận công xét tội. Chúng ta có những người mới, có những công việc mới trong một hoàn cảnh mới. Nếu anh còn chút tâm huyết với quê hương, đất nước, muốn đóng góp một chút gì cho quê hương đất nước khi đất nước đã là một đất nước không còn Cộng Sản, thì xin anh trước hết anh hãy quên cá nhân anh đi. Câu trên tôi viết chữ nghiêng là để anh hiểu cho: lúc này mà anh muốn đóng góp, chia ghế, cầm quyền … thì theo tôi quả là một điều hổ thẹn, nếu anh còn biết hổ thẹn.

Sau này trong công trình xây dựng, cứu vãn, phục hồi đất nước, nếu có

những người mới, nhất là lớp trẻ đủ kiến thức, khả năng, thiện chí đứng

ra đảm đang xin anh hãy đứng ra đóng góp với họ. Anh đừng vì danh vị

của anh mà từ chối ngoảnh mặt làm ngơ, cho rằng chỗ đó không xứng

đáng với địa vị cũ của anh. Càng khiêm nhường chừng nào thì danh dự

của anh càng cao. Anh đừng đòi hỏi cầm lấy một vai trò to lớn, tương

đương với chức vụ cũ của anh. Anh cũng đừng đòi hỏi một địa vị cao

hơn, danh dự hơn kiểu cố vấn bình vôi như Trường Chinh, Phạm Văn

Đồng để đảm nhận sau khi trải qua gần nửa thế kỷ cầm quyền vẫn chưa

hết lòng ham muốn; mục hạ vô nhân coi như trên đời này không ai tài

giỏi bằng họ. Nói theo kiểu mỉa mai, là họ đòi “hy sinh” thêm nữa. Họ

hy sinh lâu chừng nào thì dân tộc điêu linh, khốn khổ thêm chừng đó.

Nếu cần cho đại sự, nếu cần cho đất nước, xin anh hãy đừng đòi hỏi đi

đầu, đứng trước. Xin anh hãy làm một người bình thường, một security

guard trong đời sống chăng hạn, để cho lớp trẻ, để cho những người có

tài năng, đức độ rảnh tay gánh vác việc cứu nước và xây dựng đất nước.

Thưa Anh “Đại Tá”, anh chỉ là một trong các anh của chúng tôi. Cũng

có thể là tôi đã thưa anh “thiếu úy,” “trung úy.” Cũng có thể thưa anh

“Tổng thống,” “Bộ Trưởng,” “Nghị Sĩ,” “Dân Biểu.” Tôi vẫn quý các anh, trước sau các anh vẫn là anh, là huynh trưởng của tôi. Đã mười sáu năm qua, tôi chưa quên được những gì đã xảy ra trên đất nước chúng ta, trong đó khuôn mặt các anh lúc nào cũng nổi bật từng nét trong tâm khảm tôi. Tôi đã đau đớn, xót xa và giờ đây là hổ thẹn chứng kiến những gì đã xảy ra.

Ra đi, tôi thật mong mỏi được tái ngộ cùng anh, nhưng cuộc gặp gỡ đầu

tiên là làm tôi thất vọng, mệt mỏi. Mất mát nhiều hơn gặt hái, buồn phiền nhiều hơn vui vẻ. Tôi đã quên đi những ngày tháng cũ, những gì anh đã gieo thất vọng, chán ngán nơi tôi để tìm lại những niềm tin, những hy vọng mới.

Thưa anh “Đại tá,” tôi biết tin cậy gì nơi anh, thì rồi đây các trẻ con cháu chúng ta nhìn anh, nghĩ về anh ra sao, khi anh đã hy sinh để lãnh đạo quá khứ, tham lam lãnh đạo hiện tại và còn muốn cả tương lai.

Xin thành thật cám ơn Anh.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Jun 2025

14. Đan Trường

Nếu Lương Ngọc Châu và Lê Trạch Lựu dã được biết đến như những tác giả rồi mới qua Pháp, thì Đan Trường đã cho lưu hành các ca

khúc đầu tiên của mình từ Pháp về nước. Ông qua Pháp từ bao giờ chỉ những người thân của ông biết. Tin đồn thì cho rằng, ông gia nhập quân đội Pháp và đã theo đoàn quân viễn chinh trở về Pháp. Thời điểm  không ai rõ. Cơ duyên nào nước Pháp lại giấu đi của chúng ta nhiều nhạc sĩ như vậy? Cảnh hay người?

Vào những năm giữa thập niên 50, từ một đài phát thanh ở Paris, phần Việt ngữ, người ta đã được nghe một ca khúc mới, của một tác giả mới, đó là bài Trách Người Đi của Đan Trường. Bài hát được gửi tới thính giả qua giọng

của một trong những nghệ sĩ sân khấu đã nổi danh của chúng ta lúc bấy giờ: Bích Thuận. Trò chuyện với bằng hữu sau đó nữ nghệ sĩ Bích Thuận cho biết bà rất xúc động không phải chỉ vì là người đầu tiên trình bày ca khúc ấy “để gửi về nhà” mà còn vì nỗi “nhớ quê, nhớ người” tràn ngập trong ca khúc … ” càng thấm thía khi mình cũng là kẻ tha hương”.

Không biết Đan Trường có bao nhiêu tác phẩm, nhưng người ta chỉ thấy ông cho phổ biến mấy bài: Trách Người Đi, Cái Áo The Thâm Tàng, Đêm Vắng Xuôi Đò. Riêng bài Đêm Vắng Xuôi Đò Đan Trường còn viết thêm một lời ca bằng tiếng Pháp. Đây cũng là một ca khúc hay, nhưng chưa thấy ca sĩ nào cho thu thanh.

Cái Áo The Thâm Tàng là một trong vài ca khúc có tính hài hước, châm biếm, hiếm hoi của chúng ta. Hài, vốn khó. Thế giới có không biết bao nhiêu những tác giả, diễn viên bi kịch. Nhưng cho đến bây giờ hình như vẫn chỉ có một mình Charlot, người có thể làm cho khán giả cười và khóc cùng một lúc. Ý nghĩa của chữ “humour” được nhà văn, học giả Lâm Ngữ Đường [?] định nghĩa là “u mặc”. Theo định nghĩa ấy người ta không biết cái cười được dấu ở trong chữ “u” hay chữ “mặc”?

Trước Cái Áo The Thâm Tàng của Đan Trường nhạc của chúng ta chỉ có hai bài hát vui: Say Thuốc Lào của Phạm Duy Nhượng và Vỉa Hè của Canh Thân.

Say Thuốc Lào hoàn toàn là một bài hát vui:

Yêu em như một chiếc ngai vàng

Yêu em như một tiếng tơ đàn

Yêu em như ngàn lời thơ duyên

Yêu em như một viên thuốc lào

Người đẹp tôi yêu

Có đôi bàn tay diễm kiều

Và một làn môi tươi thắm

Người đẹp tôi yêu lấy chồng

để phụ tình tôi

Vì tôi say thuốc lào.

Vỉa Hè cũng là một bài hát vui nhưng nhuốm thêm vị cay đắng:

Hôm qua tôi trông thấy một con chó nhà kia

Tôi thấy nó ăn mà tôi thèm

Rằng nó sướng hơn là tôi nhiều … “.

Cái Áo The Thâm Tàng có thêm một chút nước mắt trong nụ cười:

Cái áo the thâm từ ngày tàng

Chú bác anh em trong họ hàng

Lờ mình đi

Ngó mình qua

Hôm nay không ma nào rước tớ đi chơi

Nghe trong đôi câu chào

Thiếu tiếng ông, tôi

Ngày xưa áo the thâm còn lành

Dân làng quen đều ham đón mình

Người thân thích đâu ra nhiều thế

Không đấu đong anh em bà con …

Như chúng ta đều biết, trong các câu chuyện hài hước người ta thường phóng lớn, bóp méo sự thật để tạo nụ cười. Phóng lớn, bóp méo sự thật chứ không phải bịa đặt. Nước mắt nằm trong những sự thật ấy. Nghe nhạc Đan Trường người ta có cảm tưởng mỗi thanh âm, mỗi ca từ ông viết ra, đều xuất phát từ lòng tư hương. Tình yêu đối với đất nước của ông người ta có thể nhận ra trong cách xử dụng ngôn ngữ và giai điệu hoàn toàn Việt Nam của ông, dù ông sống xa đất nước đã lâu. Sương muối là một từ kép trong tiếng nói của chúng ta để chỉ và cũng để phân biệt với thứ sương thông thường.

Khi viết: “Tối buông màn sương pha muối”, Đan Trường đã chẻ từ đó làm hai và đấy là cách nói riêng, cái duyên riêng của ông. Chữ “pha” dường thêm sức nặng cho phần “muối”, làm tăng vẻ xót xa.

“Xót xa như muối đổ trong lòng”

Trách Người Đi của Đan Trường được tung ra đời khi đất nước chẳng lúc nào yên, người ta phiêu bạt khắp nơi, quê hương là nỗi ám ảnh không nguôi và bài hát gần như trở thành tâm sự của rất nhiều người.

Trách Người Đi

Sương lam tuôn rơi hắt hiu trên hàng thông

xám reo vi vu

Khiến xui bao nhiêu nhớ nhung

tràn lòng ước mơ

Người đi phương xa đâu ngờ

Miền quê hương ai mong chờ

Đau đớn xót thầm từ ngày biệt ly

Gió thu về mang thương nhớ

Đến cho lòng thêm chan chứa

Lá ngô bay trong sương sầu

Biết bao giờ trông thấy nhau

Tối buông màn sương pha muối

Xót xa lòng riêng trăm mối

Gió thu xưa không quên về

Cớ sao mà người cứ đi

II

Đêm đêm canh ba lắng nghe câu hò êm ái

trên dòng sông

Tiếng ca năm xưa thản nhiên

cùng thuyền cuốn trôi

Đò quên không mang duyên về

Còn vương đâu đây câu thề

Xa vắng mấy nghìn lần nhìn thuyền đi

Sĩ Phú

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Jun 2025

13. Đan Thọ

Đan Thọ là người đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng nền tân nhạc Việt Nam với tư cách một nhạc sĩ chơi vĩ cầm trước khi sáng tác.

Ông được coi là một trong những người có tiếng đàn ngọt ngào nhất của chúng ta trước đây. Ngoài vĩ cầm Đan Thọ còn chơi được nhiều nhạc cụ khác, nhất là kèn saxo tenor, tiếng kèn của ông cũng được các đồng nghiệp đánh giá rất cao.

Đan Thọ thuộc lớp các nhạc sĩ thứ hai của chúng ta, đồng thời với những Nhật Bằng, Hoàng Giác, Ngọc Bích, Canh Thân … Nhưng chỉ mãi tới sau những năm 50, ông mới bắt đầu sáng tác và được biết đến nhiều.

Biết bao nhiêu nhạc sĩ từng cộng tác với các đài phát thanh, các hãng sản xuất băng/đĩa nhạc, các đài truyền hình ở Sài Gòn trong khoảng thời gian từ 54 đến 75, và có thể còn sớm hơn nữa, từ những năm 40 tại Hà Nội, những người đã thực sự góp công làm nên nền tân nhạc của chúng ta, nhưng cho đến nay, trừ những người trong nghề, các bằng hữu, không còn ai nhớ đến tên tuổi nữa, vì họ chỉ là những nghệ sĩ trình diễn, không để lại một tác phẩm riêng nào. Trong đời sống hình như luôn có những người phải chịu sự bất công như vậy. Đan Thọ sáng tác không nhiều, mặc dầu gần như ông đã dâng hiến cả đời cho âm nhạc và cũng là một trong những nhạc sĩ có căn bản nhạc lý vững vàng. Trong số những ca khúc Đan Thọ đã cho phổ biến hầu hết đều là những sáng tác chung với Nhật Bằng, Xuân Tiên hoặc thơ phổ nhạc, chỉ có một bài duy nhất do chính ông viết cả lời lẫn nhạc đó là bài “Bóng Chiến Y”. Điều này chứng tỏ [có lẽ] Đan Thọ gặp trở ngại khi viết lời ca. Và, những ca khúc ký tên chung của ông với bằng hữu, phần lớn, tác giả thứ hai là người viết lời ca.

Vì cứ nghe phần nhạc, người ta thấy nó có vẻ thuần nhất với “dòng nhạc Đan Thọ”, các giai điệu luôn toát ra vẻ dịu dàng, chải chuốt, chừng xuất phát từ những dây đàn vĩ cầm nhiều hơn những nhạc cụ khác [Nhiều khi tơ giống như người yêu – Lâm Tuyền/Dạ Chung]. Tất nhiên đó chỉ là cảm tưởng, phỏng đoán của người nghe thôi.

Hai ca khúc gây ấn tượng nhất của Đan Thọ đối với người nghe là các bài Tình Quê Hương và Chiều Tím.

Tình Quê Hương là một bài thơ của Phan Lạc Tuyên. Phan Lạc Tuyên viết bài thơ này khi đang là sĩ quan trong Quân Lực VNCH, thi hành nhiệm vụ trong chiến dịch mang tên là “bình định”. Mục đích của chiến dịch nhắm loại bỏ mọi ảnh hưởng của Việt cộng còn lại ở miền Nam [sau hiệp định Genève], nhất là tại các miền quê hẻo lánh, ổn định đời sống của dân chúng. Phan Lạc Tuyên đã dùng cả từ “giải phóng” để diễn tả công việc của mình. Sự việc là sau đó, Phan Lạc Tuyên lại tham gia vào một cuộc đảo chính [chính phủ Ngô Đình Diệm] không thành, bỏ trốn sang Căm-Bốt và theo Việt Cộng, ra Bắc. Bài thơ tự nó mất đi ý nghĩa ban đầu, và trở thành một nỗi buồn đối với người nghe. Người ta có cảm tưởng mình bị nói dối. Và vì thế, có một thời gian dài người ta không muốn nghe lại bài hát nữa, mặc dầu phần nhạc của Đan Thọ rất hay. Có thể nói, phần thơ của Phan Lạc Tuyên đã gây oan cho phần nhạc của Đan Thọ. Văn học nghệ thuật của chúng ta, trong nửa thế kỷ qua, gặp phải nhiều sự khốn khó, rắc rối, vì không thể nào tách ra khỏi những ràng buộc chính trị. Chiều Tím thường vẫn được giới thiệu như một bài thơ của Đinh Hùng, nhưng Đan Thọ cho biết, đó là lời ca do Đinh Hùng viết chứ không phải là thơ phổ nhạc. Còn nhan đề Chiều Tím là do Thanh Nam đặt.

Đan Thọ kể lại rằng, trong một bữa uống cà phê tại La Pagode, Đan Thọ đã đưa bản nhạc vừa viết xong của mình cho Đinh Hùng và Thanh Nam coi. Đinh Hùng nói, “moi biết chơi mandoline, để moi viết lời ca cho”. Khi Đinh Hùng viết xong lời ca, ba người gặp lại nhau, Thanh Nam đề nghị đặt tên là Chiều Tím. Ca sĩ trình bày Chiều Tím đầu tiên trên làn sóng điện là Anh Ngọc. Đan Thọ sang Hoa Kỳ năm 1985, làm công nhân cho hãng General Ribbon và tiếp tục chơi nhạc cho vũ trường Ritzs Pha Lê của Ngọc Chánh.

Mười năm sau, 1995 người ta mới thấy Đan Thọ viết một ca khúc mới lấy từ tứ thơ của Mùi Quý Bổng. Qua ca khúc này người ta thấy hồn nhạc của Đan Thọ không thay đổi bao nhiêu, dù trải qua những tang thương biến đổi. Cũng đúng như con người ông, nhạc của ông, vui hay buồn đều chừng mực, lãng mạn nhưng không có vẻ ủy mị, đắm đuối, và nhất là luôn toát ra vẻ lịch sự, sang trọng.

Chiều Tím (Lời: Đinh Hùng)

Chiều tím chiều nhớ thương ai

Người em tóc dài

Sầu trên phím đàn

Tình vương không gian

Mây bay quan san có hay

Đàn nhớ từng cánh hoa bay

Vầng trăng viễn hoài

Màu xanh ước thề

Dòng sông trôi đi

Lúc chia tay còn nhớ chăng?

Ai nhớ mắt xanh năm nào

Chiều thu soi bóng

Nắng chưa phai màu

Kề hai mái đầu

Nhìn mây tím nhớ nhau

Chiều tím chiều nhớ thương ai

Còn thương nhớ hoài

Đàn ơi nhắn giùm

người đi phương nao

Nếp chiến bào biếc ánh sao

Từ đấy đàn nhớ thanh âm

Chùng giây vĩ cầm

Người xa vắng rồi

Chiều sang em ơi

Thương ai hoa rơi lá rơi

Người ấy lòng vướng trăng sao

Hồn say chiến bào

Tìm trong tiếng đàn

Mùi hương chưa phai

Ý giao hoan người nhớ chăng

Mây gió bốn phương giăng hàng

Mùa thu thêu áo

Nét hoa mơ vàng

Và em với chàng

Kề vai áo phấn hương

Chiều hỡi đàn nhớ mong nhau

Tình thương bắc cầu

Người đi hướng nào

Tìm trong chiêm bao

Tóc bay dài gió viễn khơi

Lệ Thu

Viêt từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 3 Jun 2025

Niềm Tin Trong Tù

Điềm Nguyên

*Gởi các bạn Trại tù Tiên Lãnh Quân Khu I
thời điểm 1978 – 1979

*Đặc biệt cho anh linh Trần Quang Trân,
người mà Cộng Sản xử tử hình ngay tại trại tù này.

Nhớ dạo đó mày ngâm thơ Thế Lữ
“Hổ nhớ rừng” ba bốn đứa ngồi nghe
Giọng trầm hùng ai cũng thấy say mê
Đời bỗng chốc tràn dâng niềm kiêu hãnh

Dù cơ cực giữa núi rừng hiu quạnh
Chịu khép mình trong bốn bức tường giam
Kiếp trâu cày quần quật cũng đành cam
Mình nhen nhúm một niềm tin để sống

Mày vẫn đấy khi bạn bè giao động
Ngồi vây quanh chuyền tin tức bên ngoài
“Tướng Đ. về Quảng Trị mấy hôm nay
Đưa quân sĩ vào vùng sâu luyện tập…”

“Tướng K. mộ quân ở vùng Đồng Tháp
Rừng U Minh đánh tan giặc bao lần
Chiến thắng về nô nức triệu lòng dân
Và đồng đội cũng bao người gục ngã..”

“Tướng Tr. đem quân trở về Rừng Lá
Gây Cộng thù từng điêu đứng bao phen
Chiến sĩ nghĩa quân các tỉnh Cao Nguyên
“Độc trị độc” chơi đòn du kích chiến”

Nhọc, mệt, đói, thèm… bỗng đưng tan biến
Rồi niềm tin lặng lẽ dấy trong lòng
Đời giam cầm mà cứ tưởng như không
Khao khát đợi giờ vùng lên phục hận…

Điềm Nguyên