Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Jun 2025

20. Đỗ Nhuận

Qua những thông tin người ta biết được thì hình như Đỗ Nhuận sáng tác nhạc rất sớm, năm ông mới mười sáu, mười bẩy tuổi.

Ông gốc gác người Hải Dương, nhưng lớn lên ở thành phố cảng Hải Phòng. Theo những người biết ông từ những ngày xa xôi ấy, tác phẩm đầu tay của ông là bài Trưng Vương, đã được xuất bản vào khoảng các năm 1939-1940. Thực tế cho đến nay, không thấy ai hát lại và hỏi cũng không ai nhớ ca khúc này. Các sáng tác khác của Đỗ Nhuận thực sự được phổ biến, thực sự được yêu thích, hầu hết liên quan với cuộc cách mạng tháng 8-1945, gồm các bài như: Hận Sơn La, Chiều Tù, Côn Đảo, Nhớ Chiến Khu …

Sơn La âm u núi khuất trong sương mù

Lá rơi xuống suối gió đưa vù

Đoàn tù tha phương

cất bước đi trên đường

Tiếng chân xéo lá trong đêm trường

(Hận Sơn La)

Hôm nay trong tù

Vi vu gió may lướt trong chiều thu

Kìa áng mây trôi

Chim bay phương nào tới

Tung cánh dưới trời

(Chiều Tù)

Không biết trong quá trình từ “cách mạng” biến thành “cộng sản”, suy nghĩ của ông có những gì thay đổi? Thực tế, chỉ cần nhìn lại phong trào “Nhân Văn” và nhất là sau này, đọc hồi ký của rất nhiều người, trong đó có cả

những người từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy nhà nước trong suốt khoảng thời gian thu hẹp từ 1945 tới hiện tại, người ta đủ thấy, gần như toàn bộ văn nghệ sĩ miền Bắc đều bị điêu đứng, sống dở chết dở vì cái được gọi là sự giao động tư tưởng, tranh chấp quyền hành rồi thanh trừng nội bộ gì gì … đó! Chẳng phải ngay đến cả Tố Hữu cũng đã bị hạ bệ đó sao?

Kìa xa xa nơi Côn Đảo

Sóng nước muôn trùng

Có đàn cò trắng bay qua lưng trời

Bay về phương Đông [ớ ờ]

Hỡi chim ta nhắn cùng

Ngồi trên boong ta trông nhấp nhô

Xa kìa muôn sóng thiêng bạc đầu

Lòng ta thêm căm u uất đau

Trông về xa quê hương nào đâu

Chiều nay bao tim sôi nổi

Khi quay con tầu

Phút này rời nước đi xa

Mối thù càng thêm sâu …

(Côn Đảo)

Rất nhiều người, bây giờ nhớ lại, nói rằng vào thời ấy, các ca khúc của Đỗ Nhuận đã kích thích sâu xa lòng yêu nước của họ, giục họ“xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Đi đâu để thực hiện lòng yêu nước đó? Theo kháng chiến. Vào chiến khu. Chiến khu trong nhạc Đỗ Nhuận như một bức tranh đầy lãng mạn:

Còn đâu trên chiến khu

trong rừng chiều

Bên đèo tiếng suối reo

ngàn thông reo

Còn đâu trên chiến khu

trong rừng chiều

Bên đèo đàn quân reo đạn bay vèo

Hôm nay đây vai vác súng

trông mây trắng gió buồn đứng

Xa rừng nhớ núi rừng!

(Nhớ Chiến Khu)

Đỗ Nhuận là Tổng Thư Ký đầu tiên của Hội Nhạc Sĩ Việt Nam khóa I & II, 1957-1983. Người ta thường nói đến ông như là người đầu tiên ở miền Bắc được đi tu nghiệp tại Nhạc Viện Tchaikovsky, Liên Sô cũ, trong khi các nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ nhất của chúng ta khi ấy, hầu hết, đều tự học.

Những gì Đỗ Nhuận viết sau khi đi học trở về được quảng bá như những tác phẩm lớn, những opera hoành tráng [Cô Sao, Người Tạc Tượng] các nhạc kịch [Chú Tễu, Ai Đẹp Hơn Ai, Quả Dưa Đỏ] Concerto cho violon [Vũ Khúc Tây Nguyên] vv … Giá trị thật của các tác phẩm ấy như thề nào, ít người biết. Tên tuổi ông vẫn được nhớ đến nhiều hơn cả qua các ca khúc.

Sự thật thì, một số lớn các ca khúc của Đỗ Nhuận, những năm sau này, ngay ở trên miền Bắc, cũng ít thấy ai hát. Có lẽ vì chúng quá gắn bó với thời cuộc, nên chỉ khi nào cần nhắc nhở đến một sự việc nào đó, nhắm đề cao

thành tích, như “chiến thắng Điện Biên” chẳng hạn, người ta mới đem trình diễn. Đỗ Nhuận không viết một bài tình ca nào! Tuổi trẻ, nhất là các cặp tình nhân, khó hát cho nhau nghe những “Chiều Tù”, “Côn Đảo”, hoặc cùng tạo ra kỷ niệm bằng “Nhớ Chiến Khu”.

Các phòng trà cũng không thích hợp để hát “Du Kích Sông Thao”, cho dù đó là một trong những bài hát ngợi ca các dòng sông trên đất nước hay nhất chúng ta có được. Những người sinh trưởng bên sông Hồng [bài hát còn có một tên khác là Hồng Hà] dễ dàng nhận ra cái mênh mông, bát ngát của dòng sông, cái vắng vẻ, quạnh hiu của các bờ bãi trãi dài trong ca khúc.

Không thích hợp để hát trong các phòng trà, nhưng ai muốn nghe lại ca khúc này, có thể tìm trong các CD được thu thanh gần đây nhất, cả ở trong nước và hải ngoại, do Lê Dung [trước khi mất] và Mai Hương trình bầy.

Một ca khúc khác của Đỗ Nhuận hiện còn được các ca sĩ cả trong và ngoài nước hát rất nhiều nữa là bài Đoàn Lữ Nhạc, bản du ca được viết sớm nhất của nhạc Việt Nam:

Ra đi khắp nơi xa vời

Gió bốn phương kìa gió bốn phương

Ao ào cuốn lá rơi

Người đi khúc nhạc chơi vơi

Gió khắp nơi kìa gió khắp trời

Vang vang khúc nhạc say đời

Há há! Há há!

Hỡi những dấu vết xưa tàn phá!

Đâu? Đâu?

Ai biết lũ chim về đâu

Há há! Há há!

Hãy cất tiếng lên cười phá

Ô! ồ ố! Kìa có bóng chim hải hồ

Ha ha ha ha

Khi ta ra đi túi đàn mang theo trên vai

Cất tiếng hát rung trời mây

Át tiếng gió rung ngàn cây

Giờ bước ra đi khói lửa bập bùng đây đó

Hỡi lữ khách khi người đi

Cất tiếng hát quên sầu bi

Đi là đi là đi

Lên chót vót bóng núi

Reo hò reo hò reo

Ta đứng đón gió mới

Đi là đi là đi

Khi sóng gió cuốn tới

Ô à ô à ô

Giang hồ! Hồn ta dâng cao chơi vơi!

Ra đi …

Ôà ô àô

Kìa có bóng chim hải hồ

Ha! ha ha ha!

Sĩ Phú & The cat’s trio

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Jun 2025

19. Đỗ Lễ

Đỗ Lễ viết nhiều tình ca. Có thể nói, nhạc Đỗ Lễ dành cho tình ca, như những con nước, lớn nhỏ đều tuôn ra biển. Cứ nghe ông đặt tên các ca khúc của mình người ta đủ thấy điều đó: Hận Tình, Lời Người Yêu, Oan Trái, Sang Ngang, Tan Vỡ, Tình Buồn, Tình Phụ, Tuyệt Tình … Sư thực, trong đời sống, để ca ngợi tình yêu, còn gì thích hợp hơn nhạc và thơ? Nên có thể nói, các nhạc sĩ của chúng ta, không ai không viết tình ca. Nhiều người viết rồi, khi về già,

còn tỏ ý tiếc, đã không viết nhiều tình ca hơn nữa. Trừ những người, chỉ viết một bài và, cái bài duy nhất ấy lại không phải là tình ca, người ta không biết, nếu người ấy viết thêm nữa, liệu có viết tình ca chăng? Tuy vậy, trong nhạc của chúng ta cũng có một hiện tượng khác thường đó là Đỗ Nhuận: sự nghiệp âm nhạc của ông khá đồ sộ, nhưng ông không viết một bài tình ca nào. Chẳng những thế, nếu có dịp nghe lại nhạc Đỗ Nhuận, căn cứ vào những gì được phổ biến, người ta còn thấy, toàn bộ ca từ của ông, không có một câu nào “gần” với lời tỏ tình, chỉ “gần” thôi, cũng không có!

Người ta tò mò tự hỏi, không biềt trước khi có nhạc Đỗ Nhuận, bản thân, ông hát thứ nhạc nào nhỉ? Đỗ Lễ viết nhiều tình ca. Hai ca khúc được yêu thích nhất của ông là Sang Ngang và Tan Vỡ. Đã có một thời, ở Sài Gòn, đêm đêm, người ta đến phòng trà Queen Bee để nghe Lệ Thu hát Sang Ngang của Đỗ Lễ:

Thôi nín đi em

Lệ đẫm vai rồi

Buồn thương nhớ ơi

Em hỡi đôi mình

Mộng nay đã tan

Tình đã dở dang

Em khóc những chiều

Anh xót xa nhiều

Thương cho tình yêu

Nỗi buồn chua cay

Khi lòng đổi thay

Thôi hết sum vầy

Nếu biết rằng tình là dây oan

Nếu biết rằng hợp rồi sẽ tan

Nếu biết rằng yêu là đau khổ

Thà dương gian đừng có đôi mình

Lau mắt đi em

Gần hết đêm rồi

Buồn thêm nữa sao

Mai bước sang ngang

Lòng thêm nát tan

Tình đã dở dang

Thôi khóc làm gì

Đã lỡ duyên thề

Thương nhau làm chi

Nỗi buồn chua cay

Khi lòng đổi thay

Xa cách nhau rồi

Tình ca Đỗ Lễ ngọt ngào, đắm đuối. Ông chỉ nói những điều khi yêu người ta thường nói với mình và nói với nhau, không vặn vẹo ngôn ngữ. Lời thở than chính là hình bóng của niềm mộng mơ. Hãy cứ yêu như thế và được yêu như thế, không đủ hạnh phúc sao?

Sự thật hôm nay không thật đến ngày mai.

Thì ân ái có bao giờ lại cũ?

Cần chi phải đi tìm những điều khác lạ? Ra khỏi nước sau biến cố tháng 4/75, Đỗ Lễ đã trở về thăm Việt Nam tháng 3/97 và chết bất ngờ. Những người còn ở lại Sài Gòn khi ấy nghe tin ông qua đời với nghi vấn là một cuộc tự sát. Lý do nào đủ, khiến người ta có một quyết định kinh khủng như vậy? Và tình ca có nghĩa gì trước cái chết như thế?

Tan Vỡ

Bao nguồn vui đã mất

Lòng chết theo ngàn tiếng ca

Nghe niềm đau day dứt

Hoa lá nức nở xót xa

Khi tình yêu đã đến

Lòng đắm say ngàn ước mơ

Ôi mộng tình đôi lứa

Êm ái như như ngàn ý thơ

Khi tình vỡ tan theo mơ ước một đời

Trong niềm băng giá

Con tim thổn thức khôn nguôi

Em ơi nếu biết thế

Thà đừng quen nhau

Đừng mơ phút ban đầu

Cho tình ta thêm sâu

Phấn son chưa nhạt môi hồng

Xa xôi em còn nhớ không

Một chiều mưa bay giăng giăng

Anh gửi màu hoa tím

Như màu máu con tim

Đang tàn lửa hương duyên

Một mai mang xuống tuyền đài

Bóng hình em muôn kiếp không phai

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 6 Jun 2025

Tranh Thiếu phụ bên song của Mai Trung Thứ

Thiếu Phụ
Võ văn Hà

Người thiếu phụ cầm tấm check welfare
khóc ròng
trời ngoài chung cư tuyết xuống
bám vào cửa sổ
nhìn nàng ngỡ ngàng

☆

người thiếu phụ khóc
tấm check trong tay
chiều nay sửa soạn xuống phố
đổi thành tiền mặt
mua vài món hàng gởi về Việt Nam
nhờ bên chồng thăm nuôi.

☆

Tuyết vẫn rơi
đứa con đi học về
nàng mắc nghẹn
ôm con vào lòng
thằng bé chưa một lần thấy mặt cha
nhìn mẹ khóc òa

☆

ôm con vào lòng
trong tay vẫn còn tấm check
ngày mai xuống chợ Việt Nam
mua nhang đèn
một con cá nấu canh chua
vài chiếc nem
những món chàng thích
để làm giỗ cho chồng

☆

tuyết vẫn xuống, nước mắt nàng không ngưng
ôm con vào lòng
nàng nhìn lên tường
tấm ảnh chàng lộng kính
đang mỉm cười
vì biết
nàng vẫn nhớ chàng và thương con

☆

tuyết vẫn rơi
cửa sổ phủ đầy
ngoài kia
trời đất một màu trắng xoá.

Võ văn Hà

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 6 Jun 2025

Chú Bình
Nguyễn Chí Thiệp

Những chiếc trực thăng Chinook và UH1B cuối cùng khuất đạng về hướng biển, trời Sàigòn trở lại vắng và buồn, thỉnh thoảng đâu đó vang lên một tràng đạn lẻ tẻ, đường đạn vạch lên khung trời mờ đục, thật xa một vài tiếng đại bác cầm chừng. Phố xá đóng cửa, hoặc chỉ mở hờ đủ cho một người lách ra vào. Trên đường chỉ còn những người lính tan hàng mặc áo trận quần đùi lầm lũi từ ngoại ô đi vào thành phố, những người không di tản kịp dìu dắt vợ con trở về nhà. Mọi người buồn và lo. Sàigòn hồi hộp chờ đợi đài phát thanh truyền lệnh. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cho các đơn vị trưởng giữ vững vị trí để chờ lệnh. Không còn ai tin vào những lệnh của cấp chỉ huy quân đội đã rã ngũ vào chiều 29-4-75.

6 giờ 30 chiều, ba tôi không mở đài BBC như mọi ngày, ông đã thất vọng vì biết chính phủ VNCH không còn nữa. Ông chỉ ngồi thở dài. Mới vài ngày mà ông đã già và tiều tụy hẳn đi.

9 giờ sáng ngày 30-4-75 đài Sàigòn loan tin Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Lệnh của tướng Hạnh cho các đơn vị trưởng quân đội VNCH tiếp xúc với cấp chỉ huy quân giải phóng bàn giao địa điểm. Tôi không cầm được nước mắt, cả nhà tôi ai nấy đều khóc, dù tin đầu hàng không còn đột ngột như cách một tháng trước tin Đà Nẵng thất thủ; nhưng khi sự thật được xác nhận càng khiến cho tôi cảm thấy bàng hoàng.

Ngày 25-3-1975 từ Sàigòn tôi về Đà Nẵng để đưa gia đình ba mẹ và các em tôi vào Sàigòn. Cuộc di tản đầy kinh hoàng ra khỏi thành phố quê hương đã ảnh hưởng đến tinh thần tôi, tôi suy thoái và chán nản cùng cực. Vào được Sàigòn, gọi tất cả bạn thân bảo chuẩn bị để ra đi lánh nạn Cộng Sản. Tôi nói với các bạn một khi miền Trung mất thì không tài nào giữ được Sàigòn và phần đất còn lại tại miền Nam. Dường như bạn hữu tôi không ai tin, ai cũng nói là họ không đi. Chưa bao giờ ra đi ngoại quốc, nên tôi thấy một quyết định ra đi đơn độc quá táo bạo, muốn bạn bè cùng đi để nương tựa nhau. Không ai đáp ứng lời bàn gọi của tôi. Nhưng giờ đây họ đã đi hết rồi. Suốt ngày 29-4 tôi gọi điện thoại đến nhà từng người thì không còn ai ở nhà.

10 giờ kém 15 phút toán quân Việt Cộng  đầu tiên vào đường Hùng Vương, Thị Nghè. Đi đầu là những chiếc tank T-54 và thiết giáp PT-76 có bộ binh đi theo. Cần anten mỗi xe có cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thỉnh thoảng có một cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt. Chiếc tank đi đầu dừng lại ngay trước nhà tôi vì trên cầu Thị Nghè còn một chiếc M-41 án ngữ. Một tràng đại liên của người lính dũng cảm cuối cùng nào đó từ pháo tháp chiếc M-41 làm số người tò mò ra đứng hai bên đường chạy rạt vào các hẻm. Một người lính Cộng Sản ngồi trên xe tank và hai người lính Cộng Hòa tan hàng đi trên đường chết ngay lúc đó. Đoàn xe tank Cộng Sản lùi lại một đoạn và chuẩn bị tư thế tác chiến. Hai phát đại bác làm cháy chiếc M-41. Chiếc M-41 có xác người lính chiến đấu tự sát được ủi qua một bên để quân Việt Cộng  đi vào trung tâm Sàigòn. Một người lính Biệt Động Quân tan ngũ bị thương lết vào nhà tôi xin băng bó.

Buổi tối Đài truyền hình Sàigòn phát hình cảnh chiếm Dinh Độc Lập, chiếc T-54 ủi sập cánh cổng chính, không một kháng cự, trên xe một người lính nhảy xuống cầm cờ MTGPMN chạy vào dinh, ra trước lan can lầu vẫy cờ.

Chính phủ Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, toàn bộ nhóm người đầu hàng được chiếu trên màn ảnh, ông Dương văn Minh, ông Nguyễn văn Huyền, Vũ văn Mẫu, Nguyễn văn Hảo, Lý Quí Chung và một số người khác. Đám đông chính phủ có vẻ né né trước một anh bộ đội Bắc Việt nhỏ con gầy ốm. Người bộ đội này không đeo cấp bậc, nhưng chắc là sĩ quan cao cấp, mặt anh hênh hênh đắc thắng, đôi môi thâm xì nhưng con mắt sáng có vẻ gian xảo quỉ quyệt.

Kết thúc hai mươi mốt năm chiến đấu bằng một quyết định đầu hàng không điều kiện sau một tháng đổ sụp không kháng cự. Từng tỉnh, từng Sư Đoàn rã ra từng mảnh rồi bỏ chạy trước khi địch đến, thật vô lý..

Trong 21 năm, có khi dành nhau từng tấc đất, từng ngọn đồi, rồi kết thúc kỳ cục, người thua không biết tại sao mình thua, mà kẻ thắng cũng ngỡ ngàng vì không hiểu tại sao mình thắng.

Theo quân Bắc Việt cán bộ Cộng Sản các ngành vào miền Nam tiếp thu các cơ sở, những cán bộ miền Nam tập kết được ưu tiên vào Nam.

Chỉ mới hơn một tháng mà Sàigòn thật nhiều thay đổi. Trừ những khu vực chợ trời như đường  Hàm Nghi và Trương Minh Giảng, nhà phố đều đóng cửa im lìm. 

Sau thời gian trăng mật ngắn ngủi giới thiệu với dân Sàigòn bằng những cuộc lễ trong tháng năm, Ủy Ban Quân Quản ra lệnh các sĩ quan binh sĩ và công chức VNCH trình diện ở cơ sở nộp hết giấy tờ. Công an bắt đầu đi sục sạo bắt bớ. Cái hy vọng mỏng manh về việc thực thi hòa hợp hòa giải tan như làn sương mỏng trong nắng mai.

Sau bài học tập đầu tiên ở các khóm, ấp mà cán bộ Cộng Sản không dấu diếm nên nói rõ ra là thành phần “tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt và tay sai phải qua giai đoạn tập trung cải tạo”.

Chú Bình đến gia đình tôi vào buổi chiều có mưa nhẹ trong tháng Sáu. Mới 6 giờ chiều, đường Hùng Vương Thị Nghè, con đường chính từ miền Trung và miền Đông vào Sàigòn vắng tanh, thỉnh thoảng mới có một xe bộ đội chạy qua. Chỉ có những con chó đói của những gia đình di tản chạy đi bới những đống rác kiếm ăn.

Khi thấy bóng dáng người cán bộ Việt Cộng  mặc áo mưa, đội nón cối đi lại trước nhà, ba tôi tái mặt, ông bảo tôi mở cửa sau trốn ra khỏi nhà. Đã có nhiều trường hợp bắt bớ, nhất là đoàn công tác của công an Liên khu 5 đã vào Sàigòn lục lạo để bắt những sĩ quan, viên chức các tỉnh miền Trung.

Người nhà ra mở cửa, người cán bộ giới thiệu một lúc ba tôi mới nhận ra bà con. Chú Bình bà con một đầu ông nội với ba tôi, lúc nhỏ chú được gia đình cho vào “Vùng tự do” ở Quảng Ngãi để đi học, và chú tập kết ra Bắc năm 1954. Ba tôi tiếp khách lạnh nhạt vì tính ông đã ít nói, ông lại không thích “người ở bên kia” dù là bà con thân tộc.

Sợ mếch lòng, tôi phải ra chào hỏi. Câu đầu tiên chú Bình hỏi làm tôi ngạc nhiên:

– Tại sao cháu không đi ra nước ngoài? Về đến Đà Nẵng nghe nói là gia đình còn ở lại Sàigòn, mà không đi, thật vô lý.

Tôi chưa biết trả lời thế nào thì chú Bình nói tiếp:

– Cháu có biết nhiều cán bộ theo đoàn quân về Nam, chỉ muốn mặt trận cầm cự được thời gian để họ ra hồi chánh để mong chạy ra ngoại quốc không?

Ba tôi vẫn dè dặt:

– Đã có hòa bình rồi, ở lại trong nước sống như người bình thường họ nỡ giết hết sao?

Chú Bình sẵng giọng:

– Làm sao sống như người bình thường được. Trong chế độ XHCN không có người dân nào là bình thường. Tất cả phải vào trong một bộ máy, người bị gạt ra khỏi guồng máy đó là phản động. Người ta thi hành chuyên chính của giai cấp vô sản. Không phải chỉ kể tội cá nhân, mà mang cả tội giai cấp nữa. Không thuộc giai cấp vô sản là bị liệt vào hàng ngũ phản động. Cháu là viên chức trong chính quyền mà sao cháu kém hiểu biết về chế độ Cộng Sản thế.

Bị chê là kém hiểu biết về chế độ Cộng Sản tôi hơi tự ái nên cãi lại:

– Cháu cũng biết là Cộng Sản độc tài, tàn ác, vô nhân đạo, nhưng chạy ra ngoại quốc vừa là chuyện phiêu lưu, vừa nhục nhã, vả lại Hiệp định Ba Lê có qui định là không trả thù.

– Cháu lại ngây thơ, cháu đừng nghĩ trả thù là họ giết hết. Họ không giết, nhưng cháu sẽ bị đưa đi các trại cải tạo. Giữ người trong các trại cải tạo có lợi hơn là giết. Chú tưởng cháu không tin vào chính sách hòa hợp hòa giải của chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam mới đúng. Chính phủ này có quyền gì đâu. Tất cả đều được quyết định tại Hà Nội.

Tôi nói rõ ý nghĩ của tôi:

– Không phải cháu hoàn toàn tin. Nhưng chỉ có ba lựa chọn, hoặc là phải chết – cháu không làm được chuyện đó, hoặc là chạy ra nước ngoài, trong lúc mình bị hoảng hốt, thất vọng mà tụi Mỹ nó chửi người di tản là tham nhũng, trốn chạy, mình thấy đi thì nhục quá. Ở lại, thì phải tự tìm cho mình một niềm tin, dù rất mỏng manh. Bây giờ cháu biết quyết định đó là sai, chỉ vì xúc động nhất thời, không nhìn thấy xa, thì trễ rồi.

Bữa cơm xoàng trong gia đình đã làm cho chú Bình xúc động. Chú nói từ lúc vào đến Đà Nẵng, chú mới được ăn thịt bò, dù chú là cán bộ trung cấp, ở ngoài Bắc từ lâu dân chúng và cán bộ cấp dưới không được ăn thịt bò. Trâu, bò là sức kéo, không được làm thịt. Chỉ có hai hạng người được ăn: thứ nhất là cán bộ cao cấp ở trung ương – họ viện lý do cần bồi dưỡng cho những người có công tác quan trọng, nên cần có tiêu chuẩn cao; thứ hai là những người phụ trách các hợp tác xã chăn nuôi, khi có nạn dịch hay bão lụt, trâu bò chết thì họ nhân cơ hội làm thịt ăn bừa đi rồi báo cáo trâu bò chết vì dịch hay vì lạnh là xong.

Nhìn thấy những em nhỏ vào bữa ăn chào mời lễ phép chú Bình khóc. Chú không nhìn thấy những hình ảnh đó từ lâu rồi. Trẻ em miền Bắc rất mất dạy, một mặt vì đảng chủ trương đưa trẻ em ra khỏi gia đình để chúng trung với đảng hiếu với dân, nên dạy cho trẻ em đấu tranh cả những người thân thích kể cả cha mẹ. Mặt khác vì cuộc sống khó khăn cha mẹ không có thì giờ chăm sóc con cái. Cảnh sống chung chạ trong những hộ gia đình chật hẹp, đụng chạm gây gổ nhau suốt ngày. Những đứa trẻ mới mười ba, mười bốn tuổi đã chửi thề ăn nói tục tĩu, vào lớp học thì đã biết chọc thầy cô, thầy cô không làm gì được, vì học sinh có hội, có đoàn bảo vệ.

Chú Bình nói, ông Hồ Chí Minh chủ trương một trăm năm trồng người, đào tạo thế hệ Cộng Sản thứ ba, thứ tư thành con người mẫu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nhưng kết quả chỉ tạo ra một lớp người máy, ngu dốt, ham chuộng vật chất và vô luân.

Chú Bình nhờ được hưởng quy chế ưu đãi người tập kết, chú được đi học ở Liên Sô với cấp bằng Phó tiến sĩ trở về làm giám đốc một phân bộ nhà máy hóa học ở khu kỹ nghệ Thái Nguyên. Chú vào Nam theo phái đoàn tiếp thu kỹ nghệ Biên Hòa. 

Tôi hỏi chú thấy kỹ nghệ ở miền Nam như thế nào. Chú Bình nói lúc ở miền Bắc, chú đọc tài liệu của đảng nói miền Nam nghèo đói, sống nhờ trên đống rác của Mỹ, công nghiệp chỉ sản xuất được các “đồ nhựa xấu xí”. Vào đến miền Nam chú thấy tài liệu tuyên truyền đều sai sự thật, so với miền Bắc thì khu kỹ nghệ Biên Hoà rất hiện đại. Về khu kỹ nghệ Thái Nguyên, chú Bình nói nếu trên cương vị một đảng viên chú nói đó là một khu công nghệ vĩ đại của nước ta do đảng và bác Hồ muôn vàn kính yêu lập nên; nhưng nếu đứng trên cương vị một kỹ thuật gia thì chú nói đó là đồ bỏ đi. Khu kỹ nghệ Thái Nguyên được xây dựng bằng số tiền tám trăm triệu miền Bắc thời giá năm 1958, một số tiền rất lớn, máy móc mua lại của Trung quốc. “Bác Hồ” bị Mao Trạch Đông lừa bán máy móc cũ của Nhật trang bị cho thành phố Đường Sơn từ thời 1935-1938. Cho nên hiện nay máy không còn cơ phận thay thế. “Bác Hồ” và Trung ương đau lắm, nhưng sợ mếch lòng đàn anh Trung quốc nên không dám nói.

Tôi dẫn chú Bình đi xem sinh hoạt thương mại ở khu chợ Bến Thành, dù việc mua bán và hàng hóa giảm đi quá nửa nhưng chú Bình cũng chóa mắt vì hàng, chú nói chú đã đi khắp các thủ đô các nước Đông Âu kể cả Bá Linh và Praha là hai thành phố có sinh hoạt cao nhất khối Cộng Sản, hàng hóa cũng chưa bằng một phần tư Sàigòn. Không đâu được mua hàng tự do có lựa chọn. Nơi đâu cũng thiếu hàng và mua bán theo chế độ phân phối, người mua được bán cái gì nhận cái đó, không có quyền lựa chọn. Hàng thiếu, được bán là may mắn. Nếu không xài được đem ra bán ở chợ trời cũng có lời.

Những ngày chú Bình thường đến nhà chơi, chú thường đến nhà chơi, chú cháu nói chuyện chẳng mấy lúc mà thân. Chú nói không phải ở miền Bắc ai cũng tin vào đảng, những người tuổi trẻ, được đi học ở Liên Sô và Đông Âu, cũng có được nhận định là không thể trông vào chế độ Cộng Sản có thể làm được gì cho đất nước. Nhưng những nhận định đó không thể bộc lộ cho người khác vì sợ. Cộng Sản cai trị dựa trên thuật làm cho dân sợ, chính sách nhân hộ khẩu, và chế độ công an nhân dân làm dân đói phải bám vào đảng và dân sợ không dám chống đối. Tiêu diệt hết sức đề kháng, người ta chấp hành mãi thành một phản xạ ai cũng phải chịu đựng để mà sống; nếu bị đi các trại tập trung vì tội phản động khổ hơn là chết.

Chú Bình biết là dân chúng miền Nam có truyền thống đấu tranh chống chính quyền, chú hy vọng vào sức đề kháng đó.

Trước khi trở lại miền Bắc, chú nói với tôi, dù là đã có một vợ và hai con, dù là đảng viên và sắp được đi sang Liên Sô học tiếp để lấy bằng tiến sĩ nhưng nếu có một cuộc chiến đấu lần thứ hai chú không ngần ngại tham gia.

Chú đã nói với tôi thật nhiều chuyện về thực tế đời sống của miền Bắc cũng như trong khối Xã Hội Chủ Nghĩa mà theo chú Bình là một xã hội hoàn toàn bế tắc, không thể phát triển và phục vụ cho con người. Xã hội đó không xứng đáng để tồn tại.

Tôi không ngờ chỉ trong một thời gian ngắn mà tôi đã học thêm được nhiều chuyện, những gì trước kia còn mơ hồ nay đã sáng tỏ. Trước kia tôi luôn luôn ở trong tình trạng mâu thuẫn. Sách vở học được cũng cho thấy chế độ Cộng Sản là không thể chấp nhận được. Không còn hình ảnh kháng chiến, hình ảnh những con người đi làm cách mạng để giải phóng cho đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang vẫn khiến tôi khâm phục. Những bài học lịch sử chống ngoại xâm từ lớp tiểu học vẫn mãi mãi đậm nét trong tim tôi. Nhưng chú Bình đã cho tôi thấy rõ lịch sử đã bị lợi dụng, cả cái viện Sử học được lập nên ở Hà nội để chỉ nhắm mục đích tìm ngụy chứng cho tính dân tộc của đảng Cộng Sản. Thực sự độc lập dân tộc chỉ là một giai đoạn chiến lược, để người Cộng Sản bước đến cuộc cách mạng vô sản của họ, để họ thống trị toàn dân, đem dân tộc nô lệ cho hệ thống Cộng Sản quốc tế. Đối với người Cộng Sản thuần thành, không có dân tộc mà chỉ có đảng, không có con người mà chỉ có giai cấp đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù giai cấp để được quyền lợi cho một số người lãnh đạo đảng. Về mặt tinh thần thì Cộng Sản đang xây dựng một tôn giáo dùng hận thù làm động lực phát triển.

Nhưng hận thù chỉ là một thuật nhất thời, vì hận thù không hợp với con người. Xã hội loài người có những mâu thuẫn thù hận, có những điều xấu – Nhưng căn bản con người vẫn là tình thương. Hận thù, lòng tham là sản phẩm của bản năng, của thú tính, của phần hạ cấp của con người; nhưng con người còn phần thăng hoa, còn quả tim, còn hướng về tình thương, chỉ có tình thương mới là sự kết hợp rộng rãi bền vững. Chứng cớ sống trong Xã Hội Chủ Nghĩa trong hơn 20 năm, là đảng viên, nhưng đảng đã không nhuộm đỏ được những con người như chú Bình. Đảng chỉ tạm thời khuất phục họ bằng bạo lực, nhưng nếu có dịp thì họ sẽ vùng lên chống lại đảng. Đến lúc đó chắc chắn đảng phải sụp đổ. Chế độ Cộng Sản được xây dựng trên một lý thuyết phản tự nhiên, không phù hợp với con người chắc chắn sẽ bị đào thải, nó chỉ còn sức mạnh ở tổ chức, kết hợp với nhau bằng kỷ luật sắt tàn bạo, nhưng khi kỷ luật không còn thì đảng phải tan rã.

Tôi đã có một niềm tin trở lại là dân tộc Việt Nam sẽ không bị tiêu vong vì họa Cộng Sản. Sự thua trận chỉ là tạm thời, chắc chắn sẽ có những cuộc đấu tranh mới dưới hình thức khác hơn cuộc chiến đấu cũ vừa mới kết thúc.

Tôi quyết định không đi trình diện học tập cải tạo theo thông cáo của Ủy Ban Quân Quản vào những ngày 13, 14 và 15 tháng Sáu. Nhưng tôi đã không trốn thoát được, tôi bị bắt vào năm 1976.

Ra tù năm 1988, tôi được biết chú Bình đã đi học ở Liên Sô vào năm 1979; chú đã thành công bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1982, nhưng chú đã không trở về nước, chú trốn ở lại Liên Sô hay đi một nước nào khác cả gia đình không ai biết. Thím Bình bị tước đảng tịch, không được đi dạy học, hai người con bị đuổi ra khỏi đại học.

Tôi nhớ lời nói của chú Bình trước khi chia tay, chú không ngần ngại tham gia một cuộc chiến đấu thứ hai trong đời. Hoàn cảnh đất nước quá khó khăn, nhiều tổ chức đối kháng bị tiêu diệt trong trứng nước. Chưa có được một cuộc chiến đấu mới để chú Bình tham gia. Chú phải quyết định trốn ở nước ngoài.

Nguyễn Chí Thiệp

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 6 Jun 2025

Phần 22

Phần II: Về Miền Đất Hứa

Chương 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ

Vào thời gian này, ở đảo Kuku không có một cơ sở y tế nào của Cao ủy Tỵ nạn LHQ cũng như của phía Nam Dương. Về “Phòng Xã Hội Nam Dương” mà tôi đã nhắc tới thực ra chỉ là một cái kho chứa quần cũ nằm trong ngôi nhà sử dụng làm Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại, Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn…, nơi mỗi người tỵ nạn chỉ được ghé một lần khi mới tới đảo để lựa chọn một bộ quần áo cũ do các cơ quan từ thiện tây phương cung cấp.

Không có cơ sở y tế, không có thuốc men, nên tỷ lệ thuyền nhân nằm lại “Kuku 2” (nghĩa trang Kuku) cao hơn ở “Galang 3” (nghĩa trang Galang) nhiều; gồm ba thành phần chính: bị kiệt sức sau chuyến vượt biển gian khổ, ghe bị chìm trước khi cập vào đảo, và bị sốt rét rừng.

Trong ba thành phần này, chết vì bị sốt rét rừng đông nhất. Trước kia ở Việt Nam, nói tới muỗi người ta nghĩ ngay tới rừng U Minh ở Cà Mau. Tôi chưa từng đặt chân tới U Minh nhưng đoán có lẽ cũng chỉ bằng Kuku là cùng! Đêm ngủ, tứ phía quanh chỗ nằm đã đốt nhang muỗi (được cấp phát), người muốn ngộp thở mà muỗi vẫn hoành hành! Tôi không biết sốt rét của mình là bệnh cũ (trong tù cải tạo) tái phát hay do muỗi ở Kuku, chỉ biết triệu chứng, diễn biến giống hệt ở Phước Long trước kia.

Tới ngày thứ sáu (kể từ khi tôi bị sốt rét), vợ tôi nghe nói trong số thuyền nhân đang ở trên đảo có một vị bác sĩ liền dò hỏi tìm tới cầu cứu. Vị bác sĩ trạc tuổi trung niên rất sốt sắng, tới thăm bệnh ngay. Nhưng giống như trong trại cải tạo Phước Long hơn ba năm trước, ở Kuku cũng không có một viên thuốc nào. Thành thử vị bác sĩ chỉ biết khám cho tôi rồi an ủi, khích lệ vợ tôi.

* * *

Cũng trong ngày hôm đó, Văn phòng Chỉ huy trưởng trại Kuku thông báo ngày mai sẽ có đợt đi Galang. Theo lời kể của những người đã ở Kuku trước chúng tôi, cứ hai ba tháng lại có một chuyến tàu tiếp tế cho Kuku và chở một số thuyền nhân về Galang. Vào buổi sáng, trong khi chờ đợi tàu tới, Văn phòng trại sẽ cho đọc danh sách những người được đi. Vì khi phỏng vấn tôi, ông George đã nói tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi để chờ ý kiến của văn phòng Cao ủy ở Galang, chúng tôi không một chút hy vọng sẽ có tên trong danh sách ngày mai.

Dù vậy, đêm hôm đó, sau cơn sốt nóng lạnh, mặc dù đã kiệt lực, nằm bất động trên cái võng, đầu óc tôi cũng còn chút tỉnh táo để đặt trường hợp ngày mai gia đình mình sẽ có tên trong sách được đi. Và nếu việc đó xảy ra, liệu người ta có chấp thuận cho khiêng một người ốm nặng gần chết lên tàu không? Tới 99% là không!

Như vậy vợ con tôi sẽ phải ở lại Kuku với tôi. Phải ở lại để rồi đi trễ vài chuyến cũng chẳng sao, chỉ sợ tôi không qua khỏi trận sốt rét tái phát, lúc đó liệu vợ con tôi có tiếp tục được nhìn nhận là tỵ nạn để được đi định cư hay sẽ bị trả về Việt Nam như tin đồn?! Chi bằng nếu ngày mai gia đình tôi có tên trong danh sách đi Galang mà họ từ chối khiêng tôi lên tàu, vợ con tôi sẽ chấp nhận đi trước và để tôi ở lại Kuku. Bằng mọi giá vợ con tôi phải đặt chân tới Galang để được Cao ủy Tỵ nạn làm hồ sơ cho đi định cư, không cần biết sau đó tôi sẽ bình phục và cũng tới Galang hay vĩnh viễn nằm lại “Kuku 2”! Dĩ nhiên vợ tôi phản đối, nhưng lúc ấy tôi đã quá yếu mệt, không còn sức để nghe nàng nói và thiếp đi. Đêm đó, tôi mơ mình chết và được chôn tại nghĩa trang Kuku…

* * *

Nhưng sáng hôm sau, phép lạ lại đến với tôi, một cách thật bất ngờ – còn bất ngờ hơn cả lần thoát chết ở Phước Long mấy năm về trước. Xin được kể sơ lại lần tôi thoát chết vì sốt rét rừng vào năm 1977 khi đang ở trại cải tạo L2T2. Vào lúc tôi đã hoàn toàn mê man sau gần hai tuần lên cơn sốt rét, khi tất cả mọi người, trong đó có tay Trung sĩ y tá bộ đội của T2, tin rằng giờ phút cuối của tôi đã gần kề thì một biến cố xảy ra: cái đập nước ở thượng nguồn sông Tà Niên – tức con suối lớn chảy xuống T2 – bị vỡ. Khu đất của T2 giống như một cái lòng chảo, nơi con suối chảy quanh gần giáp một vòng trước khi xuôi về Thác Mơ dưới chân núi Bà Rá. Với thế đất ấy, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, toàn bộ T2 đã bị lụt. Cũng may lúc đó anh em tù cải tạo đang chuẩn bị đi lao động chứ chưa rời trại, nhờ vậy tôi – đang nằm mê man trên cái giường tre – mới được một người bạn nhớ tới, báo động với toán “anh nuôi” đưa tôi lên một cái chảo lớn bơi lên đồi.

Sau khi được đưa vào nhà thăm nuôi và đặt nằm trên một cái giường, tôi tiếp tục mê man cho tới sáng hôm sau mới tỉnh dậy, để rồi tới buổi chiều, như một phép lạ, cơn sốt rét đã không quay trở lại. Qua ngày hôm sau, tôi bắt đầu bình phục trước sự ngạc nhiên của mọi người!

* * *

Bốn năm sau ở Kuku, không cần tới 24 tiếng mà chỉ qua một đêm tôi đã hồi tỉnh. Khi tôi thức giấc, mặc dù đầu nhức như búa bổ, toàn thân rã rời, tai tôi vẫn nhận ra tiếng loa phóng thanh đang hoạt động. Vì cái lều của chúng tôi ở ngoài cùng cho nên nằm trong lều vẫn nghe rõ tiếng đọc tên những người được đi Galang nhưng vợ tôi đã nôn nóng đi ra sân cát, nơi hàng trăm người đang tụ tập chung quanh cái cột gắn loa phóng thanh. Riêng tôi thì không hề nôn nóng bởi vì, như đã viết ở trên, sau khi phỏng vấn tôi, ông George đã nói tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi lại, thì không thể chỉ trong vòng một tuần lễ, văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Galang đã có thì giờ giải quyết. Nhưng tới cuối danh sách – mà sau này tôi được biết khoảng 200 người – tôi nghe thấy loa đọc số nghe của chúng tôi và tên của 26 người trên ghe!

Tôi lặng người, hay viết một cách chính xác là bị sốc mạnh tới mức không còn sức phản ứng, cũng giống như khi tôi bất ngờ có tên trong kết quả cuộc “xổ số” ở trại tù Tống Lê Chân hồi đầu năm 1981! Rồi vợ tôi từ ngoài chạy vào lều, vì không biết tôi đã tỉnh dậy và nghe qua loa phóng thanh, vội vã kể cho tôi nghe việc cả ghe TV-101926 có tên trong danh sách đi Galang với một giọng vô cùng phấn kích!

Tới khi loa phóng thanh đọc lại danh sách để mọi người nghe thêm một lần nữa cho chắc chắn, không biết từ lúc nào, gần như tất cả mọi người trong ghe đã tụ tập trước cái lều của tôi, nói cười vui vẻ. Sau khi loa đọc xong tên 26 người trong ghe, ông anh cột chèo, ông anh họ vợ và một vài người nữa vào lều thăm tôi.

Tuy không ai nói ra, nhìn ánh mắt và thái độ của mọi người tôi cũng hiểu được họ tin rằng nhờ tôi thuyết phục được ông George mà cả ghe được đi Galang trên chuyến tàu sớm nhất. Riêng tôi chỉ biết cảm tạ Ơn Trên và thầm cám ơn ông George. Thì ra ông không đáng ghét, không tìm mọi cách làm khó dễ người tỵ nạn như nhiều người đã nghĩ, mà ngược lại. (Trên thực tế, ông George có làm khó dễ một số đối tượng, tôi sẽ đề cập tới ở một phần sau)

* * *

Qua loa phóng thanh, chúng tôi được thông báo sau khi ăn cơm trưa phải chuẩn bị hành trang sẵn sàng, khi có lệnh tập họp, ra ngồi chờ trên bãi cát gần cầu tàu (cũng là bãi tắm biển). Lúc này mặc dù đầu óc đã tỉnh táo, tôi vẫn nằm bất động trên cái võng. Vợ tôi nấu cháo trắng nhưng cố gắng lắm tôi cũng chỉ nuốt được vài muỗng vừa vì miệng đắng ngắt vừa vì cuống họng bị sưng. Sau đó tôi thiếp đi cho tới khi bị vợ đánh thức: tàu tới! Đó là một chiếc tàu khá lớn, có lẽ dài gấp rưỡi chiếc Flora đã chở chúng tôi từ đảo Sedanau tới đảo Kuku. Chiếc tàu này được tổ chức từ thiện Tin Lành World Vision mướn và đặt tên là “Seasweep” để vận chuyển tiếp tế và đưa thuyền nhân từ các đảo nhỏ tới các trại tỵ nạn. (World Vision được thành lập năm 1950 tại Hoa Kỳ, là một tổ chức từ thiện chuyên về phát triển và cứu trợ, ưu tiên cho trẻ em, hoạt động tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Á Châu, World Vision phát triển mạnh ở Đại Hàn và Đài Loan. Trước năm 1975, World Vision hoạt động tại miền Nam VN với danh xưng tiếng Việt là “Hoàn Cầu Khải Tượng”, hiện nay được gọi là “Tầm nhìn Thế giới”. Năm 1977, World Vision trở thành World Vision International)

Tàu Seasweep (hình Gaylord Barr)

Vì kích thước và trọng tải lớn, chiếc Seasweep không thể cập vào bến tàu của đảo Kuku như tàu Flora trước đây mà thả neo cách bờ gần 1 km; sau khi xuống hết số hàng tiếp tế cho Kuku mới đón người tỵ nạn lên tàu.

Công việc vận chuyển hàng tiếp tế vào đảo và đưa người tỵ nạn ra tàu được thực hiện bằng những chiếc ghe vượt biên lớn và còn tương đối tốt, nay thuộc quyền sở hữu của nhà chức trách Nam Dương.

Trên chuyến ghe đầu tiên trở vào đảo, có các nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Galang tới Kuku để đưa thuyền nhân (có tên trong danh sách) về Galang.

Đặc biệt lần này, như về sau tôi được biết, còn có cô Amelia Bonifacio, người Phi-luật-tân, nhân vật số 2 tại Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn Galang và một số nhân viên của các tổ chức thiện nguyện, trong đó có Gaylord Barr, một giáo viên Anh ngữ tại Galang, tác giả của nhiều phóng sự kèm hình ảnh về Kuku và Galang, mà một số hình được tôi sử dụng trong thiên hồi ký này. (1)

Nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn Galang và các tổ chức thiện nguyện đợi tàu đi Kuku.

Cô Amelia Bonifacio ngồi phía trái (hình Gaylord Barr)

Lúc tôi được vợ đánh thức dậy là khoảng 3 giờ chiều. Theo thông báo trên loa phóng thanh, tới 3 giờ 30, tất cả những người có tên trong danh sách phải có mặt ngoài bãi cát gần cầu tàu.Mặc dù đã bớt nhức đầu và có thể bước đi chậm chạp, tôi vẫn nằm trên cái võng trong lều, bởi chỉ cách bãi cát vài chục mét, khi nào gọi tới gia đình tôi, thằng con trai sẽ chạy vào gọi bố.

Có điều đáng ngạc nhiên là không có một thông dịch viên người Việt nào từ Galang đi theo các nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tới Kuku. Sau này tôi mới biết nguyên nhân không phải vì ở Galang thiếu thông dịch viên mà chỉ vì nhà cầm quyền Nam Dương vì lý do an ninh, hạn chế tối đa việc cho phép người tỵ nạn rời đảo. Khi cô Amelia Bonifacio hỏi trong đám người được đi Galang có ai biết tiếng Anh và tình nguyện làm thông dịch không, một người đàn ông khoảng trên dưới 60 tên là Ngô Văn Giảng đã xung phong.

Chỉ sau này khi đã tới Galang, tôi mới biết ông Ngô Văn Giảng chính là một nhạc sĩ tên tuổi trong nền tân nhạc Việt Nam, với các bút hiệu Văn Giảng (các bản hùng ca Lục Quân Việt Nam, Đêm Mê Linh, Nam Quan hận khúc, Thúc quân…), Thông Đạt (các ca khúc Ai về sông Tương, Đôi mắt huyền, Hoa cài mái tóc, Tình em biển rộng sông dài…) và Nguyên Thông (các ca khúc về Phật giáo).

Nhạc sĩ Văn Giảng tại Kuku (hình Gaylord Barr)

Ông vượt biên với một người con trai trước chúng tôi ít lâu, tới đảo Natuna, rồi được đưa tới Kuku. Ra chào đời và lớn lên ở cố đô Huế, ngày còn trẻ ông từng vào Sài Gòn theo học đại học và Anh văn tại Hội Việt Mỹ. Sau khi thi lấy bằng cử nhân và thi đậu trong một cuộc sát hạch Anh văn, ông được học bổng tu nghiệp âm nhạc tại Hoa Kỳ, và tốt nghiệp Cao học Âm nhạc; về nước ông giữ chức Giám đốc Trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Với khả năng Anh ngữ của mình, ông Ngô Văn Giảng không chỉ thông dịch những hướng dẫn của nhân viên Cao ủy Tỵ nạn về cuộc hành trình, về cuộc sống sắp tới ở Galang mà đôi khi còn pha trò một cách duyên dáng khiến mọi người vui cười thoải mái.

Cô con gái 8 tuổi của tôi vô tình lọt vào ống kính của Gaylord Barr trong lúc ngồi chờ đọc tên lên tàu Seasweep

Bắt đầu khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi lần lượt được ghe chở ra tàu Seasweep. Theo danh sách, ghe chúng tôi là những người ra đi sau cùng. Bước lên cái cầu tàu bằng cây rừng một cách khó khăn, trong lòng tôi thầm cám ơn Thượng đế chẳng những đã cho mình thoát chết lần thứ hai vì sốt rét rừng để tiếp tục cuộc hành trình tìm tự do mà còn phù hộ cho chúng tôi được sớm rời Kuku.

Sau khi lên tàu Seasweep, tôi cố tìm một vị trí không bị che khuất để nhìn lại Kuku lần cuối, cái hoang đảo âm u mà tuy chỉ sống ở đó hơn một tuần lễ đã để lại trong tôi những ấn tượng không bao giờ phai mờ, nhất là cái nghĩa trang bên bìa rừng – cái nghĩa trang hoang lạnh và buồn nhất tôi được biết trong đời mình.

Vĩnh biệt Kuku (hình Gaylord Barr)

Tàu Seasweep nguyên là một tàu buôn đã khá cũ, vì hầm tàu chỉ là nơi chứa hàng hóa cho nên người ta phải căng vải bạt trên boong tàu làm chỗ tạm trú cho thuyền nhân.

Trước hết chúng tôi được các thanh niên nam nữ thiện nguyện của World Vision, phần lớn là người Á châu (Đại Hàn, Đài Loan) phát cho mỗi người một cuốn Kinh Thánh loại bỏ túi bằng tiếng Việt và một gói mì ăn liền cho bữa ăn tối cùng một ít bánh kẹo. Đây là một gói mì của Singapore mà cho tới hơn 40 năm sau tôi vẫn khẳng định là gói mì ăn liền ngon nhất mà mình từng được ăn!

Rất có thể đây chỉ là nhận xét chủ quan của tôi vào lúc ấy sau một thời gian dài ăn uống thiếu thốn kham khổ từ ngày xuống ghe vượt biên, nhưng điều đáng nói là bên cạnh cảm giác “ngon”, gói mì ăn liền của Singapore ấy – nặng gấp rưỡi gói mì Nam Dương được cấp phát ở Kuku, có tới mấy gói nêm đi kèm, bao bì đẹp đẽ, những hàng chữ hướng dẫn bằng tiếng Anh chuẩn xác… – vô hình trung đã khiến tôi thích thú và cảm thấy lạc quan hơn khi nhìn về tương lai trước mặt.

Chương 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người

Theo lời nhân viên Cao ủy Tỵ nạn cùng đi trên tàu Seasweep, sáng hôm sau tàu sẽ cập bến Galang. Galang – viết đầy đủ là Pulau Galang – là một trong khoảng 1.700 hòn đảo lớn nhỏ của vùng đảo Riau (Riau Islands). Gọi là “vùng đảo Riau” vì ngày ấy nó trực thuộc tỉnh Riau (Riau Province) trên đảo Sumatra (hiện nay, vùng đảo này đã trở thành một tỉnh riêng biệt với tên gọi Riau Islands Province).

Vùng đảo Riau, ngày nay là Riau Islands Province, gồm những đảo có viền đỏ trên bản đồ

Phía bắc của vùng đảo Riau là quần đảo Natuna, nơi ghe chúng tôi cập vào đảo Pulau Laut, sau đó được đưa tới đảo Sedanau. Hướng tây tây nam của Natuna là quần đảo Anambas, nơi có “hoang đảo” Kuku.

Xuôi về phương nam, đối diện với đảo quốc Singapore là nhiều đảo lớn nhỏ, trong số đó gần Singapore nhất là đảo Batam (chưa tới 20 km), trên có Thành phố Batam, là thành phố lớn nhất trong vùng đảo Riau.

Phía nam đông nam đảo Batam là đảo Rempang rồi tới đảo Galang. Về hành chính, cả ba đảo thuộc Thành phố Batam. Theo tỷ lệ trên bản đồ, tính đường chim bay từ Kuku tới Galang khoảng 450 km, và từ Galang sang Singapore khoảng 75 km.

Nguyên vào năm 1978, khi thương lượng với chính phủ Nam Dương về việc thiết lập một trại tỵ nạn quy mô trên lãnh thổ Nam Dương, Cao ủy Tỵ nạn LHQ đã đưa ra yêu cầu: vị trí phải vừa gần quần đảo Anambas nơi có hàng ngàn thuyền nhân đang sống trên “hoang đảo” Kuku, vừa gần Singapore để tiện việc đưa người tỵ nạn đi định cư ở đệ tam quốc gia bằng đường hàng không.

Vị trí đảo Galang (mũi tên đỏ)

Kết quả, nhà cầm quyền Nam Dương đã chọn đảo Galang, vừa gần Singapore, vừa có bờ biển sâu tàu vận tải hạng trung có thể cập bến, vừa tương đối hoang vắng, chỉ có 200 người dân sống trên diện tích 8000 héc-ta! Trại tỵ nạn Galang nằm gần bờ biển phía tây của hòn đảo trên một diện tích 80 héc-ta, tức 1/100 diện tích của đảo, gồm hai trại: Galang site 1 và Galang site 2, thường được người Việt gọi ngắn gọn là Galang 1, Galang 2.

Galang 1 dành cho người ty nạn mới tới đảo, họ sẽ được Văn phòng Cao ủy phỏng vấn rồi làm đơn xin đi định cư ở một đệ tam quốc gia, được nhận hay không họ cũng sẽ tiếp tục sống ở Galang 1. Chỉ trừ những người làm đơn xin đi Mỹ và đã được Mỹ nhận mới phải vào Galang 2 để chờ ngày đi Mỹ; trong thời gian chờ đợi họ được học Anh văn và một khóa về “đời sống và văn minh ở Mỹ quốc”. Bên cạnh đó còn có một số thuyền nhân ở Thái Lan đã được Mỹ nhận định cư cũng được đưa tới Galang 2 để học Anh văn. Vào thời gian tôi ở Galang, thuyền nhân gốc Căm-bốt cũng được đưa tới Galang 2.

Theo con số của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, vào thời gian cao điểm, tổng số thuyền nhân ở Galang 1 và Galang 2 lên tới 12.000 người (một tài liệu khác viết lên tới 14.000).

* * *

Tàu Seasweep chở chúng tôi cập bến Galang vào khoảng 8 giờ sáng. Bến tàu này có lẽ được xây dựng với mục đích chính là đưa đón tỵ nạn cho nên ngoài một ngôi nhà gỗ dùng làm văn phòng còn có hai mái tôn (không có vách) thật lớn làm nơi trú mưa nắng cho kẻ đến người đi.

Một cái cầu tàu cao bằng bê-tông nhô ra biển dành cho tàu lớn và một cầu tàu sát mặt biển và phòng chờ dành cho tàu tốc hành chở khách (express).

Gần đó là một bãi chứa cây rừng đã được dân Nam Dương khai thác chờ được chở đi.

Bến tàu Galang (hình Gaylord Barr)

Cảnh sát Nam Dương giữ trật tự tại bến tàu trong một chuyến đi Singapore (hình Gaylord Barr)

Thủ tục “nhập cảnh” tại bến tàu Galang đơn giản hơn ở Kuku rất nhiều, chỉ có màn đếm đầu người chứ không có mục khám xét hành lý và thân thể người tỵ nạn! Các nhân viên cảnh sát Nam Dương ở Galang cũng tương đối nhã nhặn hơn, không quát tháo như ở Kuku. Ngoài nhân viên cảnh sát, nhân viên Cao ủy Tỵ nạn, còn có nhân viên Phòng Xã Hội Nam Dương đón tiếp, hỏi thăm những gia đình có con nhỏ, người già yếu…Từ bến tàu, đoàn người lần lượt được xe đưa vào trại, phân phối tới các “barrack”. Trại Galang 1 được chia ra năm Zone với trên 100 barrack mái tôn vách gỗ. Mỗi barrack, với hai hàng sạp gỗ dài, có thể dung nạp 100 người vào thời gian cao điểm. Khi chúng tôi tới Galang 1 thì người tỵ nạn gốc Việt chỉ ở bốn Zone I, II, III, IV, còn Zone V thì bỏ trống, khi cần thì sử dụng làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn gốc Căm-bốt trước khi họ được đưa vào Galang 2.

Tất cả 26 người trong ghe của tôi được đưa tới Barrack 73 thuộc Zone III. Điều thú vị là ghe của nhạc sĩ Văn Giảng khoảng 20 người cũng được đưa tới Barrack 73. Cộng với khoảng 15 “ma cũ”, barrack có nhân số khoảng 60 người.

* * *

Vào những năm đầu thập niên 1980, không kể Trại Hawkins Road ở Singapore thì Trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương được xem là trại tỵ nạn “kiểu mẫu” trong số tất cả các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á. Đây là nhận xét của cả Cao ủy Tỵ nạn LHQ lẫn Linh mục Gildo Dominici (1935-2003), một nhân vật mà tên tuổi đã gắn liền với Trại tỵ nạn Galang.

Sở dĩ không tính Trại tỵ nạn Hawkins Road là vì từ năm 1980, chính phủ Singapore đã dứt khoát không nhận thuyền nhân đi thẳng tới đảo quốc này (những ghe tới thẳng sẽ bị tàu của Hải quân Singapore kéo ra hải phận quốc tế), chỉ nhận những thuyền nhân được tàu buôn ngoại quốc vớt và đưa tới Singapore, với điều kiện quốc gia (của tàu buôn) đó phải cam kết bằng văn bản sẽ nhận những thuyền nhân này định cư và đưa họ ra khỏi Singapore trước thời hạn 90 ngày!

Vì số thuyền nhân may mắn nói trên chẳng có là bao, Cao ủy Tỵ nạn LHQ đã điều đình với chính phủ Singapore cho sử dụng Trại Hawkins Road như một trại chuyển tiếp, nơi chờ chuyến bay cho những thuyền nhân đã được các đệ tam quốc gia nhận định cư, tới từ các trại tỵ nạn ở Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan.

Gọi Galang là trại tỵ nạn kiểu mẫu vì việc điều hành mọi việc trong trại được phân chia một cách rõ rệt theo nguyên tắc Cao ủy Tỵ nạn LHQ đưa ra: nhà cầm quyền trại (Nam Dương) đảm trách an ninh trật tự, Cao ủy Tỵ nạn lo việc đi định cư, Ban đại diện trại (Việt Nam) điều hành mọi sinh hoạt thường nhật của đồng bào trong trại, đại diện đồng bào khiếu nại với Cao ủy Tỵ nạn, với nhà cầm quyền Nam Dương trong những trường hợp cần thiết.

Nhà cầm quyền trại gồm Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander Office) do một sĩ quan cấp tá trong Quân đội Nam Dương đảm trách, và một đồn cảnh sát Nam Dương do một sĩ quan cảnh sát cấp úy làm Trưởng đồn. Về Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn LHQ, đứng đầu là một vị Đại diện Cao ủy (UNHCR Representative), dưới quyền có các phòng ban mà quan trọng nhất là Phòng Định cư (Resettlement Processing Centre).

Ngoài ra còn có một “Phòng” rất quan trọng mà tôi không nhớ danh xưng, đó là nơi sắp xếp các chuyến bay cho những người đã được nhận định cư. Đây cũng chính là nơi phát xuất những tin đồn sốt dẻo (thường là thất thiệt) về ngày rời Galang của những đồng bào đã được nhận định cư.

Ban đại diện trại (Camp Committee) gồm một vị Trưởng ban đại diện Trại, một hoặc hai vị Phó, và các phòng ban chuyên môn, như Phòng Hành chánh, Phòng Thông tin, Phòng Trật tự, Phòng Xã hội, Phòng Công tác, Khối Giáo dục, Khối Huấn nghệ, Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên (Youth Center)…

Hệ thống hàng dọc thì có các Zone trưởng, Barack trưởng. [Các danh xưng chức vụ “Trưởng ban đại diện Trại, Phó ban đại diện Trại” thường chỉ được sử dụng trên giấy tờ, trên loa phóng thanh, còn khi nói chuyện mọi người đều gọi ngắn gọn là “Trại trưởng”, “Trại phó”.

Trong khi đó chức vụ Zone Leader trên giấy tờ, trên loa phóng thanh được gọi là “Khu trưởng Khu I, II, III…” nhưng khi nói chuyện mọi người thường gọi là “Zone trưởng Zone I, II, III…” để né chữ “khu”]

Cùng với ba cơ quan “lãnh đạo” nói trên còn có những tổ chức độc lập hoạt động tại Galang như PMI (Palang Merah Indonesia: Hội Hồng Thập Tự Nam Dương) với một bệnh viện nho nhỏ, Phòng Xã hội Nam Dương, các cơ quan thiện nguyện World Relief, Save the Children, Écoles Sans Frontières…

* * *

Sau khi tới Galang 1 được vài ngày, từng ghe sẽ được gọi lên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn để được phỏng vấn và làm hồ sơ. Trong cuộc phỏng vấn này, thông qua các thông dịch viên, thuyền nhân sẽ khai lý lịch và chứng minh mình là người tỵ nạn.

Phòng Định cư của Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Galang. Dãy mái tôn đỏ là nơi đồng bào ngồi chờ gọi tên

(hình Gaylord Barr)

Trước hết nói về lý lịch, trừ những người cần phải khai chính xác cho phù hợp với giấy tờ tùy thân, bằng cấp, chức vụ của mình trước năm 1975, những người còn lại muốn khai ra sao thì khai, cũng giống như người miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954 đi làm giấy Thế Vì Khai Sanh vậy.

Nghĩa là có thể thay đổi tên họ, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, gia cảnh… Nói cho ngay, đa số trường hợp thay đổi này cũng chẳng chết thằng tây nào, nghĩa là gian dối nhưng không làm hại tới những thuyền nhân khác. Chẳng hạn một ông khai thêm tuổi với hy vọng sang nước thứ ba sẽ được về hưu sớm, một bà đã có chồng còn ở VN khai độc thân để sẵn sàng làm lại cuộc đời khi có cơ hội, một công chức tép riu khai là phó quận, trưởng phòng, một hạ sĩ quan hay binh sĩ khai là sĩ quan, hoặc sĩ quan cấp úy khai là sĩ quan cấp tá, thậm chí có người trốn quân dịch cũng khai là cựu quân nhân với hy vọng sẽ được ưu tiên cứu xét cho đi định cư…

Riêng về việc hạ sĩ quan hay binh sĩ tự nhận sĩ quan, sĩ quan khai cấp bậc cao hơn, dân sự khai là quân nhân, sau này một số người từng làm việc với phái đoàn Mỹ kể với tôi rằng người Mỹ có toàn bộ hồ sơ được lưu trữ trong dàn máy IBM của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trước 1975, nay được mang sang Singapore để đối chiếu với lời khai của thuyền nhân, vì thế ai khai gian là bị lộ tẩy ngay.

Thực hư ra sao tôi không có cơ hội tìm hiểu, chỉ biết ở Galang nghe người ta đồn có một số cựu quân nhân man khai lý lịch xin đi định cư ở Mỹ nhưng bị từ chối, bị “giam” ở Galang mấy năm trời mới được đi định cư ở một nước khác. Riêng các hạ sĩ quan, binh sĩ khai tăng tuổi nhưng không xin đi định cư ở Mỹ mà đi một nước khác thì không hề bị khám phá; ít nhất cũng là trong những trường hợp tôi được biết.

Kế tới là việc chứng minh mình là người tỵ nạn cộng sản. Vào khoảng thời gian này – từ cuối thập niên 1970 tới cuối thập niên 1980 – khi mà chế độ CSVN còn duy trì chính sách bế quan tỏa cảng, bị cả thế giới lên án vì cuộc xâm lược Căm-bốt, thì hầu như thuyền nhân VN nào cũng được xem là “tỵ nạn cộng sản”; chỉ tới cuối thập niên 1980, khi diễn ra hòa đàm Paris về tái lập hòa bình ở xứ chùa tháp, CSVN đồng ý rút quân để đổi lấy việc thế giới hủy bỏ lệnh cấm vận, các quốc gia tây phương bắt đầu quay lưng lại với người tỵ nạn Đông Dương, thì mới đẻ ra mấy chữ “tỵ nạn kinh tế” để chỉ những thuyền nhân mà Cao ủy Tỵ nạn cho là không đủ điều kiện “tỵ nạn chính trị”!

* * *

Sau khi được Cao ủy Tỵ nạn phỏng vấn, cho một con số, chụp hình làm “căn cước” (ID), người tỵ nạn mới được nộp đơn xin đi định cư tại quốc gia mình muốn đi. Muốn đi định cư tại quốc gia nào thì phải nộp đơn cho phái đoàn của quốc gia đó. Vào thời điểm 1981-1982, chỉ có một phái đoàn duy nhất thường trực ở Galang để nhận đơn và phỏng vấn là phái đoàn Mỹ, bởi vì hầu hết người tỵ nạn đều muốn “ôm chân đế quốc”, kế tới là các phái đoàn Úc, Canada, Pháp, Đức mỗi năm đến Galang một, hai lần, các quốc gia còn lại – Nhật Bản và các quốc gia Âu châu khác – thì không gửi phái đoàn tới Galang mà nhờ Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn nhận đơn dùm rồi gửi về tòa đại sứ của quốc gia đó ở Jakarta (Nam Dương) hay Singapore cứu xét.

Cũng vì hầu hết người tỵ nạn đều muốn đi Mỹ cho nên phái đoàn Mỹ phải tìm mọi cách để làm khó dễ, hoặc bác đơn – tiếng bình dân gọi là “đá”! Trước hết, những người có thân nhân trực hệ tại Mỹ – vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em ruột – thì thường được nhận cho định cư tại Mỹ. Tôi viết “thường” bởi vì cũng có những trường hợp bị từ chối. Đó là những người có “thành tích” bị ghi vào sổ bìa đen, như từng có lập trường chống Mỹ, từng hoạt động cho cộng sản trước năm 1975, thành phần “30 tháng Tư”, thành phần bất hảo tại Galang, hoặc lý lịch không rõ ràng, khai tới khai lui, v.v…

Thứ đến là các cựu sĩ quan quân đội, cảnh sát, công chức trung cấp, cao cấp của VNCH, trên nguyên tắc là thành phần được ưu tiên đi Mỹ, thì sẽ bị xét hồ sơ cá nhân xem có thân nhân ruột thịt ở các quốc gia khác hay không, nếu có phái đoàn Mỹ sẽ viện lý do “một giọt máu đào hơn ao nước lã” để nói người đó phải làm đơn đi đoàn tụ với người thân, chỉ khi nào bị quốc gia đó từ chối (đóng dấu “đá”) thì phái đoàn Mỹ mới tái xét đơn. Vì thế những người muốn đi Mỹ mà phải làm đơn xin đoàn tụ với người thân ở một quốc gia khác chỉ cầu bị… đá!

Còn với những người (thuộc thành phần ưu tiên nói trên) không có thân nhân ruột thịt ở các quốc gia khác thì trong lần phỏng vấn đầu tiên, phái đoàn Mỹ cũng chỉ phê “được quan tâm cứu xét” (under consideration), và không quên “khuyến khích” trong thời gian chờ đợi, có thể làm đơn xin đi định cư ở một quốc gia khác! Chỉ có một số rất nhỏ may mắn được nhận ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên!

Như đã viết ở một đoạn trước, những người được phái đoàn Mỹ nhận không được đưa thẳng sang Singapore để chờ chuyến bay đi Mỹ, cũng không tiếp tục ở Galang 1 mà được đưa vào Galang 2 để học Anh văn và một khóa về “đời sống và văn minh của Mỹ quốc”, rồi chờ ngày đi Mỹ. Thời gian chờ đợi có thể là vài tháng, một năm, cũng có khi kéo dài tới hai, ba năm!

Vì thế, không ít người thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ đã không làm đơn xin đi Mỹ mà xin đi nước khác, thường là Úc hoặc Canada, để sớm được rời khỏi trại tỵ nạn. Bên cạnh đó cũng có không ít người vẫn còn hận Mỹ, ghét Mỹ về cái tội bỏ rơi miền Nam VN cho nên vừa được Cao ủy Tỵ nạn làm hồ sơ xong là nộp đơn xin đi Úc, đi Canada ngay!

Ngoài ra, cũng không thể không nhắc tới những thành phần phản chiến, thân cộng “có tên tuổi” trước năm 1975, chẳng hạn những tay “trâu đánh” ngoài miền Trung, đám nằm vùng ở Đại học Vạn Hạnh…, sau này không được chế độ cộng sản sử dụng, hoặc chính bản thân họ đã nhận ra bản chất của cộng sản cho nên đã tìm đường vượt biên. Những người này tự biết họ sẽ không bao giờ được Mỹ nhận cho nên đã làm đơn xin đi Úc, Canada, Pháp…

Về phần những người không thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ nếu có thân nhân ở một đệ tam quốc gia thì bắt buộc phải làm đơn xin định cư tại quốc gia đó. Tuy nhiên có không ít người không muốn định cư tại quốc gia mà thân nhân mình đang sống, khi làm hồ sơ đã không khai những thân nhân nói trên.

Sau cùng là những người không thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ và cũng không có thân nhân ở một đệ tam quốc gia thì phải làm đơn xin định cư theo diện nhân đạo, gọi nôm na là “đi chùa”.

“Đi chùa” dễ hay khó, chờ mau hay lâu tùy thuộc vào thời điểm, chính sách di dân, tiêu chuẩn nhận người của quốc gia mình muốn tới định cư, cũng như số lượng người nộp đơn.

Lấy trường hợp Úc và Tân-tây-lan làm thí dụ điển hình. Cả hai quốc gia đều là của người da trắng ở cạnh nhau ở châu Đại dương (Oceania) nhưng trong khi xin đi Tân-tây-lan được nhận ngay thì xin đi Úc còn tùy tuổi tác, trình độ, gia cảnh (kỵ nhất là nam vị thành niên không có cha mẹ đi theo)…

Nhưng nếu so với xin đi Mỹ thì xin đi Úc vẫn có nhiều hy vọng hơn, và nhanh hơn.

* * *

Tới đây tôi xin mô tả chi tiết khung cảnh Trại Galang và cuộc sống của người tỵ nạn ở nơi chốn được mệnh danh là “Cửa ngõ của Tự Do và Tình Người” (The Gate of Freedom and Humanity).

Cửa ngõ của Tự Do và Tình Người (hình Gaylord Barr)

Từ bến tàu Galang đi vào trên con đường chính của đảo theo hướng bắc nam, sau khoảng 3 km thì tới Galang 1, đi thêm hơn 2 km nữa là Galang 2, còn “Galang 3” – tức Nghĩa Trang Galang – nằm trên đường Galang 1 đi Galang 2.

Vì chỉ vào Galang 2 chơi một hai lần, tôi xin chỉ viết về Galang 1.

Vào trại từ hướng bắc, trước hết là chùa Quan Âm của thuyền nhân Việt Nam nằm trên một ngọn đồi cao ở phía bên trái, kế tới là chợ Galang, cũng ở phía bên trái. Đi qua chợ là các barrack của Zone V ở phía bên trái, và các barrack của Zone IV phía bên mặt.

Đi qua Zone IV là các cơ sở của Nam Dương như Hội Hồng thập tự (PMI), Phòng Xã hội Nam Dương, các cơ sở thiện nguyện quốc tế và chỗ ở của nhân viên Cao ủy Tỵ nạn và nhân viên các tổ chức thiện nguyện.

Chùa Quan Âm (hình Gaylord Barr)

Trở lại phía bên trái, sau Zone V tới một khu đất cao là trung tâm sinh hoạt của trại, nơi tập trung mọi cơ sở, phương tiện học hành, giải trí của người tỵ nạn, như hội trường, Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên (Youth Center), các phòng học, tòa soạn bán nguyệt san Tự Do, sân khấu lộ thiên, sân bóng chuyền, booth để TV màu, sân đá banh…

Một phần của khu sinh hoạt, từ trái, Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên, phòng Lab (Anh ngữ), Hội trường (có huy hiệu Trại Galang), các phòng học… Ngoài sân, nơi có những băng ghế “dã chiến” là sân xem tivi màu (hình Gaylord Barr)

Tòa soạn bán nguyệt san Tự Do (hình Gaylord Barr)

Phía sau khu sinh hoạt của trại là một ngọn đồi thấp, có đường cho xe hơi chạy vào Đồn cảnh sát Nam Dương, vào sâu hơn là Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander Office).

Kế tiếp là Zone III với các barrack ở cả hai phía. Vì ở phía bên trái, các Barrack 65, 69 và Văn phòng Zone III nằm sát khu sinh hoạt của trại cho nên về mặt “trật tự trị an”, khu sinh hoạt thuộc lãnh thổ Zone III.

Tiếp tục đi về hướng nam, qua Zone III tới Zone II ở phía bên trái. Giữa Zone III và Zone II là một khu đất trũng không có các barrack, được một số người tỵ nạn khai phá trồng rau để ăn và để bán; khi chủ nhân đi định cư hoặc vào Galang 2, thì giao lại cho người quen hoặc sang lại cho người khác.

Khi bắt đầu lên dốc, phía trước các barrack của Zone II có một dãy sạp bán thuốc lá, bánh trái, các loại quà vặt, và nhiều mặt hàng linh tinh khác, giống như một cái chợ trời nho nhỏ. Tiếp theo là Zone I ở phía bên mặt với các barrack dưới chân đồi; trên đỉnh đồi là nhà thờ Công giáo và cơ sở từ thiện của cha Dominici.

Nhà thờ Công giáo Galang từ Zone 1 nhìn lên (hình Gaylord Barr)

Trại Galang từ sân nhờ Công Giáo nhìn về hướng bắc: mũi tên đỏ là Barrack 73 của tôi, giữa hình là hội trường và khu sinh hoạt của trại, phía bên phải (mũi tên xanh) là Đồn cảnh sát Nam Dương và Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại. Mũi tên vàng là các cơ sở và nơi ở của nhân viên thiện nguyện, xa xa là chùa Quan Âm (hình Gaylord Barr)

Cũng ở dưới chân đồi nhưng nằm phía bên trái là trụ sở của Ban đại diện trại. Đi thêm một đoạn nữa, ở phía bên mặt là Phòng Định cư của Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Galang, cũng là nơi phỏng vấn người tỵ nạn của các phái đoàn. Sau cùng là Nhà thờ Tin Lành trên một ngọn đồi nhỏ, cũng ở phía bên mặt.

Trụ sở Ban đại diện trại (hình Gaylord Barr)

Nhà thờ Tin Lành Galang (hình Gaylord Barr)

Tới đây viết về nhà cầm quyền trại và cảnh sát Nam Dương. Vào thời gian tôi ở Galang, vị Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander) là Trung tá Hasbullah Siregar thuộc Quân đội Nam Dương, còn Trưởng đồn cảnh sát là Đại úy Marjuno.

Theo nguyên tắc đã được thỏa thuận từ lúc ban đầu giữa ba phía (Cao ủy Tỵ nạn, chính quyền Nam Dương, Ban đại diện tỵ nạn), một khi đã được đưa tới trại tỵ nạn Galang, các thuyền nhân là “đối tượng của Cao ủy Tỵ nạn tạm trú trên lãnh thổ Nam Dương” chứ không phải đối tượng của chính quyền Nam Dương. Vì thế nhà cầm quyền trại và cảnh sát Nam Dương chỉ có hai nhiệm vụ: (1) giữ các thuyền nhân trong khu vực ấn định, (2) bảo vệ an ninh cho thuyền nhân.

Chính vì hai nhiệm vụ này đã dẫn đưa tới những vụ rắc rối giữa cảnh sát Nam Dương và Cao ủy Tỵ nạn, cũng như với Ban đại diện Trại, mà nguyên nhân chính là sự lộng hành của cảnh sát Nam Dương (tôi sẽ đề cập tới một cách chi tiết trong một kỳ sau).

Chú Thích:

(1) Gaylord Barr (1947-2015), thành viên của tổ chức thiện nguyện Peace Corps, là giáo viên Anh ngữ tại Galang có nhiệm vụ đào tạo những thầy cô người Việt để họ dạy Anh ngữ cho đồng hương của mình.

Nhưng Gaylord Barr không chỉ dạy Anh ngữ mà còn tự nguyện tham gia vào mọi lĩnh vực trong đời sống của người tỵ nạn, cách riêng trẻ em và những người kém may mắn, cô thế.

Qua đó anh đã trở thành khuôn mặt được biết tới nhiều nhất, và được nhiều người tỵ nạn yêu mến nhất trong số những nhân viên thiện nguyện tại Galang. Với phía Nam Dương, Gaylord Barr trong khi có mối giao hảo tốt đẹp với Phòng Xã Hội Nam Dương thì lại không được cảnh sát Nam Dương dành nhiều cảm tình, vì chính anh vốn đã không có cảm tình với họ!

* * *

Gaylord Barr ra chào đời ngày 21/5/1947 tại tiểu bang Washington. Lớn lên tại thành phố Yakima thơ mộng, sau khi tốt nghiệp tại Yakima Valley Community College, năm 1967 anh gia nhập Peace Corps.

Peace Corps là một tổ chức thiện nguyện độc lập do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, được thành lập năm 1961 dưới thời Tổng thống John F. Kennedy, mục đích chính là giúp đỡ những quốc gia kém phát triển qua việc đào tạo các chuyên viên giáo dục, y tế, nâng cao vị trí phụ nữ, phát triển cộng đồng, v.v… Vào thời gian cao điểm, năm 1966, Peace Corps có 15.556 nhân viên thiện nguyện phục vụ tại 52 quốc gia.

Sau 4 năm dạy Anh ngữ tại Sefrou, Morocco, Gaylord trở về Hoa Kỳ để tiếp tục việc học. Sau khi lấy bằng Cử nhân Nhân văn (BA in Anthropology) và Cao học Giáo dục, năm 1980, Gaylord tình nguyện sang trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương, và tiếp theo là trại Bataan ở Phi-luật-tân để dạy Anh ngữ cho các giáo viên người Việt. Trở về Hoa Kỳ, Gaylord Barr dạy Anh ngữ (ESL) tại Seattle Central University trong mấy năm trước khi trở lại với Peace Corps, lần này là dạy Anh ngữ tại Jeddah, Saudi Arabia, trong suốt 9 năm trời.

Công việc sau cùng của Gaylord Barr là dạy Anh ngữ (ESL) tại Patrick Henry High School ở Roanoke, tiểu bang Virginia, từ năm 2004 cho tới ít lâu trước khi qua đời ngày 30 tháng 5 năm 2015, sau một thời gian ngắn bị phát hiện ung thư.

Trong những ngày cuối đời, Gaylord Barr đã được nhiều bạn bè và học trò cũ từ khắp nơi trên thế giới thăm hỏi qua Facebook, hoặc tới thăm viếng, trong số đó có hai cựu giáo viên Anh ngữ gốc Việt do anh đào tạo.

Theo ý nguyện của Gaylord – một người sống độc thân suốt đời – đã không có tang lễ hay bất cứ hình thức tưởng niệm nào; tro cốt của anh được chị và em gái đem về rải trên thung lũng Yakima, tiểu bang Washington, nơi anh đã sống tuổi thơ và thời niên thiếu trước khi bước chân vào đời.

* * *

Đôi dòng tưởng nhớ, dẫu chỉ quen biết, không dám tự nhân là bạn anh. R.I.P.

Gaylord Barr và một nhân viên thiện nguyện Nam Dương (hình Gaylord Barr)

Gaylord Barr trao chứng chỉ tốt nghiệp cho một học viên tại Galang (hình Gaylord Barr)

Gaylord Barr tiễn một số học viên lên đường đi định cư (hình Gaylord Barr)

Tháp ký ức

vietmessenger.com

Phùng Nguyễn

11/1994

Post by Sơn râu 5 Jun 2025

Năm đó tôi mười một tuổi. Sau mấy năm ròng rã mài đủng quần ở ngôi trường tiểu học dột nát ở làng trên, thuộc nát bấy cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư, và lãnh những trận đòn thừa sống thiếu chết vì tội trốn học đi bẫy chim đá dế ngoài đồng, tôi may mắn trúng tuyển vào trường trung học công lập cấp tỉnh duy nhất của tỉnh Quảng Nam, trường Trần quý Cáp.
Hôm đi coi bảng, tôi chẳng có hy vọng gì mấy. Tỉnh Quảng Nam có đến hàng trăm xã ấp, mỗi xã có một truờng Tiểu Học, mỗi trường Tiểu Học có một lớp Nhất, tức là lớp Năm sau này. Mỗi lớp Nhất có khoảng năm chục đứa học trò mà trong đó có tới bốn mươi đứa tham gia cuộc thi tuyển, tính ra không dưới năm ngàn thí sinh. Trường Trần Quý Cáp có sáu lớp đệ Thất, cao lắm khoảng ba trăm học sinh được tuyển vào mỗi năm, còn mấy ngàn đứa kia thì có nhiều hy vọng về nhà… chăn trâu trừ phi được cha mẹ cho vào bán công hoặc tư thục. Lúc còn học tiểu học, tôi thích chơi nhiều hơn thích học, những con cá rô cá cấn, chim giồng giộc chim sâu trông hấp dẫn hơn những bài địa dư sử ký, bị thầy bắt quỳ gai mít hoài mà vẫn chứng nào tật nấy. Tuy nhiên, bà nội tôi tin tưởng mãnh liệt vào câu học tài thi phận, vả lại chuyện thi cử là chuyện thiên kinh địa nghĩa nên cuối cùng mẹ tôi vắt cho tôi một mo cơm nắm, dúi vào tay tôi mấy đồng bạc để đi “xe điện” – danh từ địa phương dùng để chỉ xe đò- xuống Hội An dự thí.
Chen lấn mãi mới đến gần được tấm bảng gỗ có dán danh sách thí sinh trúng tuyển, tôi dự định sẽ đọc cái danh sách từ dưới lên, chừng năm mươi hàng mà chưa thấy tên mình thì tốt hơn chui trở ra cho đỡ mất thì giờ. Ai dè mới đọc được có mấy hàng đã thấy tên mình. Tôi dụi mắt hai ba lần, đọc lại cho kỹ vẫn thấy tên mình còn sờ sờ ở đó bèn mừng rỡ mở một đường máu chui ra khỏi cái đám con nít đang xô đẩy nhau, chửi mắng nhau, la hét, cười khóc ồn ào như cái chợ nhỏ. Thằng bạn cùng làng cũng vừa mới thoát ra khỏi cái đám đông hỗn tạp, mặt mày tái mét, thở hổn hển hỏi tôi:
“Bộ mày đậu rồi hay sao mà nhảy tưng tưng vậy?”
“Đậu rồi. Còn mày?”
“Tao đậu bình thứ. Còn mày?”
“Tao không biết. Tên tao ở hàng thứ năm.”
Thằng bạn tròn mắt ngạc nhiên:
“Thứ năm? Vậy là mày đậu ưu rồi.”
Hắn gãi đầu có vẽ suy nghĩ, nói tiếp:
“Hồi nãy tao xem bảng kỹ lắm mà tại sao không thấy tên mày.”
Tôi bỏ mặc thằng bạn đứng ngẩn ngơ, đi bộ ra bến xe đón xe đò về nhà.
Việc tôi đậu vào đệ Thất trường công lập, dù đậu hạng bét, là một sự kiện đáng kể cho gia đình tôi, vốn gồm có bà Nội, Mẹ tôi, tôi và ba đứa em gái còn nhỏ xíu. Mấy năm về trước, sau khi đã chán công việc sản xuất và dưỡng dục nhi đồng. Ba tôi quay lưng lại nguời vợ đáng thương và bầy con nheo nhóc, bỏ đi giang hồ vặt, lâu lắm không nghe tin tức. Mẹ tôi ở lại một mình tảo tần buôn bán, nuôi nấng bầy con. Bây giờ thằng con lớn được vào trường tỉnh học, bà vừa mừng lại vừa lo bởi vì chỉ còn vài tuần nữa là thằng con phải đi xa trọ học.
Làng tôi cách thị xã Hội An – còn được gọi là Phố hay Faifo – khoảng gần ba chục cây số. Muốn đến thị xã, tôi phải đi bộ bốn năm cây số, băng qua chiếc cầu xe lửa dài ngoằng bắc ngang qua con sông Thu Bồn nuớc trong veo, rồi leo lên cái ‘xe điện’ duy nhất của tuyến đường Kỳ Lam-Hội An để kết thúc cuộc hành trình. Gần đến Vĩnh Điện, quận lỵ Điện Bàn, xe đi ngang qua tháp Chàm Bàng An, một di tích lịch sử. Ngôi tháp cổ xây bằng gạch nung, lâu ngày rêu phong bám đầy, đứng im lìm, sừng sững nhìn xuống con đường trãi đá lấm bụi chạy dài từ quận lỵ về đến vùng núi non tiếp cận dãy Trường Sơn. Cây tháp chứng nhân của một triều đại đã suy tàn mà mỗi khi nhìn thấy đã gợi trong tôi những ấn tượng mạnh mẽ, những cái tên như Chế Mân, Chế Cũ, những Lý Thường Kiệt, Trần Khắc Chung, những câu chuyện huyền hoặc về những người dân của một quốc gia đã bị xoá tên.
Vậy là tôi bắt đầu cuộc đời trọ học từ lúc còn rất trẻ. Cứ mỗi vài tuần tôi lại đáp xe đò từ tỉnh lỵ về, băng qua chiếc cầu xe lửa bằng sắt, sải những bước chân nôn nao trên con đưòng đất khi thì nứt nẻ mấp mô, khi thì lầy lội trơn trợt, bỏ lại sau lưng những ruộng lúa nghèo nàn, những bãi dâu tươi tốt, rặng tre xào xạc, tiếng rầm rập của những máy dệt vải bằng gỗ, tiếng sè sè của những chiếc trục ươm tơ, lòng hớn hở khi nhìn thấy cái hàng rào quen thuộc có những bông hoa dâm bụt đỏ chói. Rồi có tiếng con chó Vàng sủa ăng ẳng mừng rỡ, tiếng mấy đứa em kêu réo om sòm ‘Mẹ ơi anh Hai về’, rồi bà Nội đứng ở ngưỡng cửa đưa bàn tay nhăn nheo có dính những vệt vôi ăn trầu lên xoa đầu đứa cháu nhỏ hỏi han ‘Con đi đường xa có mệt không’, rồi Mẹ đôi má ửng hồng bên ánh lửa rơm nhìn tôi mĩm cười dịu dàng ‘Mẹ biết thế mô con cũng về bũa ni, cái con mắt trái hắn giựt giựt hồi sáng tới chừ’.
Rồi trong bữa ăn tối thế nào cũng có hoặc là nồi canh cá diếc nấu rau răm, hoặc là ‘trã’ cá đồng kho khô , những món ăn mà tôi ưa thích. Dưới ánh đèn dầu, gia đình tôi quay quần vui vẻ bên nồi cơm độn bắp bốc khói, nói chuyện không ngừng. Mấy đứa em tôi hỏi tôi hàng trăm lần về những chiếc ‘xe điện’, xe ‘bình bịch’ mà họa hoằn lắm chúng mới có dịp thấy, những con khỉ đá, chó đá ở chùa Cầu, những đoàn hát bột nổi tiếng chúng chưa bao giờ được xem. Mẹ tôi bận rộn suốt buổi cơm, la đứa này, nạt đứa kia ‘Con gái chi mà cái miệng xon xỏn’, hỏi tôi về chuyện học hành, ăn ở ‘Họ có cho con ăn uống đàng hoàng không? Tối mi ngủ có treo mùng không hay là cứ làm biếng ngủ trần để muỗi cắn mi chết.’ Tôi biết Mẹ đang vui bởi vì tôi và mấy em tôi cũng đang vui. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp trong mắt Mẹ long lanh một nụ cười lặng lẽ hiếm hoi kể từ khi bà phải một mình gồng gánh gia đình trong đơn chiếc, từ khi ‘Vai xuân thì bánh mật ngã màu đen’ bởi cái gánh hàng nặng trĩu bà mang đi mang về hàng vài mươi cây số mỗi ngày để kiếm tiền nuôi nấng bầy con. Rồi hôm sau tôi lại quay về tỉnh lỵ nơi có căn nhà nhỏ mà tôi và những thằng bạn đồng cảnh ngộ đang ở trọ.
Trường có sáu lớp đệ thất thì hết năm lớp dành cho học sinh với ngoại ngữ chính là Pháp văn. Tôi được đưa vào đệ thất 3, ngồi ngay sau lưng đám học trò con gái. Học trò nhà quê lên tỉnh học dễ bị ăn hiếp. Chỉ cần nhìn cái mặt ngơ ngáo, quần áo lôi thôi, đôi dép râu thô kệch để lòi đôi bàn chân nứt sẹo vì lội ruộng bắp, đánh banh bòng banh buởi là biết ngay. Trong lớp tôi có mấy đứa chuyên môn đi bắt nạt mà đứng đầu là thằng Bạo. Thằng này tên giống như người, mặt mày bặm trợn, lỗ mũi lúc nào cũng đỏ bóng như trái cà chua. Nó thích bắt nạt tôi, chẳng biết vì lý do nào. Nạn nhân kế tiếp phải kể đến Phạm Dó. Thằng này đáng lẽ tên Phải Gió hay Trúng Gió thì mới phù hợp với câu tên sao người vậy. Phạm Gió người nhỏ xíu, ốm tong ốm teo, nhà ở bên kia sông, nơi gọi là Cẩm Giàng Cẩm Phả gì dó. Tôi đã nghèo mà thằng này còn nghèo hơn, đi học mang đôi dép làm bằng mo cau kéo lệt xệt dọc hành lang nghe muốn điếc con ráy. Mỗi lần thấy đám thằng Bạo là mặt mày nó tái mét, tay chân giật đùng đùng như mắc phong, mắt lác xệch đi, ngay cả thằng Bạo trông thấy cũng phát ớn, bỏ đi tìm tôi hay Vĩnh Hoành để trêu ghẹo. Vĩnh Hoành dòng dõi hoàng tộc, vai vế ngang hàng với công dân Vĩnh Thụy, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn. Đám thằng Bạo tước đoạt của thằng này khá nhiều tư trang vật dụng, ngay cả cây viết ‘pilot’ mới toanh cũng đổi chủ ngay từ lúc Vĩnh Hoành mang tới trường lần đầu. Tôi vốn nhát gan, thấy đám cô hồn là lo kiếm đường dông trước, vậy mà cũng không thoát tay tụi nó. Có lần thằng Bạo làm quá, đẩy tôi té dập đầu vào vách tuờng thiếu điều long óc. Tôi giận quá quên cả sợ, vác chiếc ghế dựa của ông thầy ruợt nó chạy lòng vòng cái hành lang dài ngoằng của sáu lớp đệ thất. Sau lần đó, tôi có biệt danh là ‘Trừ…Bạo’, và không còn bị ăn hiếp nữa.
Giáo sư Việt văn kiêm hướng dẫn lớp đệ thất 3 là thầy Kham, Tôn Thất Kham. Theo chỗ tôi biết, thầy là người nhạy cảm và rất thương học trò. Vài tháng sau khi trường khai giảng, vùng tôi ở bị mấy cơn lụt lội, hoa màu bị tàn phá, chợ búa đóng cửa cả tháng. Mẹ tôi không đi buôn bán được, thiếu tiền trả tiền trọ học cho tôi. Tôi nhờ người quen giới thiệu đến một lò bánh mì duới phố để xin lãnh bánh mì đi bán buổi tối phụ với Mẹ trả tiền cho chủ trọ. Mỗi đêm tôi hăng hái vác cái bao tải chứa những ổ bánh mì thơm tho nóng hổi đi vào các khu xóm rao bán. Có lần tôi đang ngoác miệng rao inh ỏi ‘Bánh mì nóng dòn đây’ bỗng có tiếng ai nghe quen quen gọi lại hỏi mua. Đến gần, tôi nhận ra thầy Kham. Thầy trò nhìn nhau ngỡ ngàng. Hình như mắt thầy hơi ươn ướt. Cuối cùng thầy dành mua hết những ổ bánh mì còn lại của buổi tối. Tôi còn nhỏ, đầu óc khờ khạo nhưng cũng biết là thầy muốn giúp mình, chứ thầy cũng ở trọ đi dạy học làm gì mà một mình có thể ăn hết chừng ấy bánh mì trong một vài hôm. Từ đó thầy có vẽ quan tâm đến tôi một cách đặt biệt, và đáp lại, tôi cũng chịu khó học hành đàng hoàng trong giờ Việt văn.
Chiếc bàn học dành cho học trò con gái phía trước tôi có đến hai chị lớn ngồi. Chị lớn là danh từ chung lũ học trò con trai dùng để gọi những nữ học sinh lớn tuổi mà không biết vì lý do nào lại được sắp vào cái lớp con nít này. Chị Bích Ngọc và chị Thuận là hai nhân vật ưa thích của tôi. Hai chị đều lớn hơn tụi tôi năm, sáu tuổi, vào khoảng muời sáu hay mười bảy gì đó trong khi đám còn lại cả trai lẫn gái mới có mười một, mười hai tuổi. Chị Bích Ngọc tóc dài, chị Thuận tóc quăn, hai người đều… dễ thương. Tôi biết được điều đó qua miệng mấy anh lớn học trên đệ nhị cấp hay lãng vảng ngoài hành lang nhìn vào. Riêng tôi và mấy thằng quỷ sứ ngồi cùng bàn đồng ý là mấy chị rất tốt bụng. Trong giờ học, thay vì…thả hồn ra cửa sỏ, chúng tôi để hết tinh thần vào việc chọc phá mấy chị lớn, từ việc cột mấy vạt áo dài lại với nhau cho đến việc dán nhũng tờ giấy vẽ hình nhăng nhít vào tóc vào áo của máy chị, chúng tôi đều thục hiện với một lương tâm chức nghiệp rất cao. Kết quả vô cùng vẻ vang. Hai chị dắt chúng tôi ra cái quán nuớc nhỏ xíu của vợ chồng bác gác truờng, mua cho chúng tôi kẹo mè xửng và kẹo ‘nougat’ sau khi bắt chúng tôi long trọng thề thốt sẽ không bao giờ tái diễn những hoạt động có tính cách phản nghệ thuật như vậy nữa.
Niên học đầu tiên rồi cũng qua đi, đánh dấu bởi những chuyến đi cắm trại ở Cửa Đại, ở đó chúng tôi đốt lửa trại thi đua văn nghệ. Cũng trong niên học này, tôi quen biết Thuớc, người bạn cùng lớp mới mười hai tuổi đã biết làm thơ, biết đọc Ngàn Khơi và Tiểu Thuyết Thứ Bảy, nhũng tạp chí văn chương dành cho người lớn. Rồi những lần theo Phạm Dó qua bên kia sông thăm gia đình hắn, cái gia đình nghèo rách mùng tơi mà vô cùng hiếu khách. Rồi những trò đùa nghịch ngợm, độc ác một cách vô tội của tuổi thơ, những con sâu đo gớm ghiết làm lũ học trò con gái khóc thét, cuống cuồng sợ hãi. Rồi những buổi tối lang thang dọc bờ sông Phố, nơi có cái rạp chiếu bóng duy nhất của thị xã, để xem nguời lớn câu cá hanh bằng nhũng cây cần trúc dài ngoằng. Và khi những chùm hoa phuợng rực rỡ nở ra trên những tàn cây xanh ngắt trong sân trường, chúng tôi tặng nhau lưu bút, hẹn sẽ gặp lại vào mùa Thu tới.
Thầy Kham không còn là thầy huớng dẫn của chúng tôi. Thầy ở lại với đám học trò mới của lớp đệ thất 3. Giáo sư Việt văn kiêm huớng dẫn của đệ lục 3 là đàn bà, đàn bà đẹp. Cô giáo tên Tố Quyên, nguời Bắc. Lúc thầy giám thị đưa cô vào để giới thiệu cho cả lớp, đám học trò con trai đứa nào đứa nấy im thin thít, trống ngực đập còn hơn trống làng. Bởi vì cô trẻ quá, đẹp quá, giọng Bắc Ký êm quá, và trông cô…dễ thương quá. Sau buổi học đầu tiên, thằng Thước, thi sĩ nhi đồng, về nhà làm ngay mười mấy bài thơ tình ướt át gọi gió than mây.
Vào giũa niên học, cô Tố Quyên cho chúng tôi bình giảng truyện ngắn Vàng Tháp Hời của Vũ Hạnh. Đã hơn ba mươi năm, những chi tiết của câu chuyện tôi không còn nhớ nữa, chỉ nhớ đại khái là có hai anh em nhà kia rủ nhau đi tìm vàng trong một ngôi tháp cổ của dân tộc Chiêm Thành, cuối cùng vì một trong hai người nghe lời xúi dục của ngoại nhân mà gây nên cảnh huynh đệ tuơng tàn. Vào thời điểm đó, đối với tôi câu chuyện chỉ có tính cách ngụ ngôn kiểu tục ngữ ‘ Một giọt máu đào hơn ao nuớc lã ‘ hoặc Quốc Văn Giáo Khoa Thư ‘Bó Đũa’. Sau này biết ra Vũ Hạnh đã hoạt động cho phía bên kia, tôi thấy tội nghiệp cho ông ta vì chính truyện ngắn này đã có thể dùng để chỉ trích, phê phán cái chế độ mà ông ta đã chọn lựa để phục vụ. Riêng cô Tố Quyên, tôi có thể đoan chắc mục đích của cô là thuần túy văn học, và một trong những mục tiêu của cô là giúp chúng tôi định nghĩa và phân tích hai chữ hy vọng.
‘Hy vọng luôn luôn hướng về tương lai’, cô Tố Quyên giải thích, ‘hai anh em trong bài viết này hy vọng rằng họ sẽ tìm được kho vàng chôn giấu trong cái tháp Chàm cổ kính’. Tôi đưa tay lên phản đối. ‘Hy vọng không nhất thiết phải hướng về tương lai! Trước khi đi tìm vàng, hai nguời hy vọng đã có một kho tàng trong cái tháp Hời. Có vàng hay không có vàng trong cái tháp Hời là chuyện quá khứ. Do đó, trong trường hợp này, hy vọng đã huớng về quá khứ’. Đám học trò con trai, ngoại trừ thằng Thước, vỗ tay tán thành ầm ĩ. Hơi ngạc nhiên về cái lý luận… bá láp của tôi, cô Tố Quyên bắt cả lớp im lặng rồi giải thích rằng có vàng trong tháp Hời, đối với hai anh em trong câu chuyện là một niềm tin, không phải hy vọng. Với lối lý luận cù nhầy, lũ chúng tôi vẫn khăng khăng cho rằng hy vọng có tính cách…hai chiều, không phải một chiều như cô khẳng định. Không còn ‘hy vọng’ thuyết phục chúng tôi, cô Tố Quyên trong lúc ‘tuyệt vọng’ bèn….khóc. Sau này, trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của mình, tôi cũng đã có dịp chứng kiến đàn bà khóc, có khi vì tôi, có khi vì tình địch của tôi, có khi vì một lý do nào khác, cũng có khi không vì một lý do nào hết. Nói chung đàn bà trông đẹp và dễ thương hơn khi họ khóc, nhưng tôi chưa thấy ai khóc….đẹp bằng cô Tố Quyên. Lúc đó bao nhiêu hùng tâm tráng chí của lũ chúng tôi xẹp xuống như bánh xe đạp cán đinh, nếu cô có bảo hy vọng nằm ở … hướng Tây chúng tôi cũng chịu nữa. Nhưng đã trễ. Cô khóc, rồi bỏ đi. Bổng dưng tôi trở thành tên tội phạm hàng đầu. Đám học trò con gái nhìn tôi với những cặp mắt giận dữ. Thằng Thuớc từ mãi dưới cuối lớp chạy lên đòi ăn thua đủ với tôi, ngay những đứa mới cách đây mấy phút đã mạnh mẽ ủng hộ câu hy vọng hai chiều cũng quay ra đả kích tôi dữ dội. Phần thì băn khoăn không biết rồi cô Tố Quyên có còn trở lại dạy chúng tôi nữa hay không, phần thì lo lắng vì bổng dưng trở thành chánh danh hung thủ, tôi buồn bã ngồi tẩn mẫn cột tóc của hai chị lớn ngồi bàn trên lại với nhau.
Cuối cùng rồi cô Tố Quyên cũng trở về, với một đạo binh. Cho đến giây phút đó, và ngay cả sau này trong cuộc đời đi học của mình, chưa bao giờ chúng tôi được chứng kiến một cuộc phô trương lực lượng quy mô như vậy. Ngoại trừ thầy Hiệu Truởng, từ thầy Hiệu Phó, thầy Tổng Giám Thị, cho đến các thầy đang dạy lớp chúng tôi, và ngay cả các thầy dạy các lớp đệ nhị cấp, đều hiện diện. Lũ học trò nhìn nhau, mặt cắt không còn hạt máu. Trước mặt chúng tôi là cái tập hợp chọn lọc của ngành giáo dục quốc gia, lò đào tạo nhân tài và niềm kiêu hảnh của tỉnh Quảng Nam, nguời nào người nấy trông đằng đằng sát khí. Các thầy lần lượt lên phát biểu, nói cho đúng hơn, sỉ vã chúng tôi. Cô Tố Quyên là nguời phát biểu sau cùng. Cô không sỉ vã chúng tôi, cô chỉ nói nhẹ nhàng, ‘Cô hy vọng rằng từ nay về sau các em sẻ thảo luận các nghi vấn với cô một cách nghiêm chỉnh hơn’. Chúng tôi đều ghi nhận cái tín hiệu cô gởi, từ nay về sau, future tense, thì tương lai, hy vọng chỉ huớng về tương lai.
Cái biến cố đáng ghi nhớ đó rồi cũng qua đi, năm học thứ hai ở ngôi trường tỉnh lỵ rồi cũng qua đi. Trong những năm tháng còn lại ở phố Hội, tôi có thêm nhiều bạn bè, nhiều ky niệm. Vào mùa lũ lụt, tôi thường ra bờ sông để xem nguời ta kéo vó. Đôi khi tôi theo chủ nhà trọ xuống biển Cửa Đại, cái bãi biển hoang vắng với rừng phi lao xanh ngắt, để câu cá hồng cá hanh. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua chùa Cầu, chiếc xe nhảy lộc cộc trên những thanh gỗ lót đường. Hoặc ra xóm Mới- bây giờ chắc đã cũ lắm rồi- vói những con đường lấm cát, nơi có nhà thằng Thước. Hắn vẫn chưa chịu cho tôi xem mấy bài thơ hắn làm cho cô Tố Quyên.
Năm thứ ba ở truờng Trần Quý Cáp đánh dấu những biến động lịch sử mà cái tuổi non nớt của tôi không đủ kiến thức để nhận định. Cuộc đảo chánh tháng mười một năm sáu mươi ba đối với tôi là cơ hội để được nghĩ học đi biểu tình, đón nguời hùng cách mạng Tôn Thất Đính, và nhũng điều tuơng tự. Cũng trong thời gian đó, làng tôi càng ngày càng trở nên mất an ninh. Đã có những cuộc ám sát, khủng bố thực hiện bởi phía bên kia, những cuộc hành quân lùng sục của phía bên này. Đã có những lần về thăm nhà. giữa đêm khuya tôi giật mình thúc giấc bởi tiếng đạn tầm xa gầm rú bay ngang qua nóc nhà hoặc tiếng súng vang rền từ phía bên kia sông.
Cơn lụt khủng khiếp năm sáu mươi bốn đẩy tôi lìa xa vĩnh viễn ngôi trường tỉnh lỵ. Nhà chúng tôi đã sập bởi cơn bão mấy tháng truớc đó, những cây cột tre tạm bợ không chịu nổi giòng nuớc lũ, lại một lần nũa tan tành trong cơn Hồng Thủy. Cơn lụt vô tiền khoáng hậu kéo đến từ những dãy núi xa bên kia sông Cái, cày xới những suờn đồi, bật tung cây cối, ào ạt tràn xuống khu đồng bằng nghèo nàn của miền Trung, cuốn di những bãi dâu xanh, những nong tầm vàng óng, những mái nhà tranh, những căn nhà ngói, những vườn cây trái, những mạng nguời. Cũng may là gia đình tôi đều được an toàn. Trong những ngày tháng kế tiếp, gia đình tôi sống qua ngày bằng lu bắp khô còn sót lại, những hạt bắp khô cứng, nhạt nhẽo cày xới cuống họng của bầy con đói khát và trái tim người mẹ đơn chiếc. Mẹ tôi quyết định đưa chúng tôi vào miền Nam tìm kế sinh nhai.
Chia tay với cái thành phố càng ngày càng trở nên quen thuọc không phải là chuyện dễ dàng. Tôi luyến tiếc nhìn hàng phượng vĩ với những chùm hoa đỏ nở muộn, những con sâu đo gớm ghiếc, cái quán nuớc nghèo nàn của bác gác trường. Tôi còn nhớ cái mùi khăm khẳm đặc biệt của những con ruốc làm mắm phơi trên những vĩ tre dọc lề đuờng, tô bún bò Huế có miếng thịt đùi thơm tho, nhũng cây ‘sê-ri’ với chùm trái chín mọng trồng dọc con đuờng khu tôi ở trọ. Tôi còn nhớ mối tình con nít vụng dại với đúa em gái của thằng bạn cùng lớp, lá thơ viết hai tháng chưa dám gởi đi, nụ hôn đầu tiên trên môi đứa con gái muời ba tuổi bởi thằng con trai muời bốn tuổi suớng tê người.
Rất lâu sau này tôi có một lần về thăm chốn cũ. Cái thành phố ngày xưa bỗng như nhỏ lại. Cỡi chiếc xe gắn máy muợn của đứa cháu, tôi dừng lại truớc cổng trường. Những cây phượng ngày xưa vẫn còn đó, cằn cỗi hơn, thiếu vắng những chùm hoa rực rỡ. Có lẽ vì trái mùa, mà cũng có lẽ vì ‘nhân khứ tận’. Đám bạn học ngày xưa cũng đã tản lạc phương nào, những cái tên của dĩ vãng, thầy Hoàng Trung, thầy Kham, cô Tố Quyên, thằng Bạo, Phạm Dó, Vĩnh Hoành, Huỳnh Bá Thước, Tuờng Vi,… bỗng dưng nghe buồn như thơ Vũ Đình Liên. Cuộc viếng thăm Hội An của tôi rất ngắn ngủi. Trên đường về thăm làng cũ, tôi có dịp thấy lại ngôi tháp Chàm Bàng An. Vẫn sừng sững, vẫn rêu phong, nhưng cái âm u, bí ẩn đã không còn. Chỉ còn một nhân chứng u sầu với tiếng thở dài phiền muộn mỗi khi ngọn gió đồng thổi qua cái đỉnh tháp dột nát.
Bây giờ là sáu giờ sáng. Tôi có thói quen dậy sớm, ngồi một mình ở chiếc bàn ăn nhỏ. Truớc mặt tôi là ly cà phê nóng với cái hương vị lai căng -cà phê bột của Mỹ và sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ- và điếu thuốc lá đầu ngày. Có lần tôi đọc một truyện ngắn, hình như của Phan Du, về một ngọn đèn vàng ở góc cầu thang nào đó đã nhắc nhở tác giả về một ánh đèn vàng ở một nơi chốn khác trong quá khứ. Ngọn đèn đã như chiếc chìa khóa thần diệu mở ra một ngăn kéo của ký ức, ở đó tác giả tìm thấy lại hình ảnh của nguời tình chìm khuất. Còn tôi? chìa khóa nào đã mở ra cho tôi tuổi hoa niên, ngôi tháp Chàm đổ nát, mái truờng thân yêu, những cái tên đã tưởng không bao giờ còn nhớ nỗi, nụ hôn đầu suớng tê người, chùm hoa phượng đỏ rực, và những con sâu đo gớm ghiếc? Tôi không biết. Tôi chỉ biết cám ơn cái quyền lực huyền nhiệm nào đó đã cho tôi khả năng sống lại những kỷ niệm xa xưa.
Tôi mong một ngày nào đó đuợc gặp lại Thuớc để xin hắn tập thơ hắn làm cho cô Tố Quyên vào năm mười hai tuổi, nếu hắn còn sống và còn giữ tập thơ. Tôi cũng rất mong gặp lại cô Tố Quyên để hỏi cô một lần nũa ‘Phải chăng hy vọng chỉ huớng về tương lai?’ Nếu phải thì buồn quá, bởi vì chẳng lẽ những ngăn kéo ký ức tôi mở ra cùng với ly cà phê lai căng và điếu thuốc đầu ngày chỉ chứa có mỏi một niềm tuyệt vọng thôi sao?


tháng mười một 94

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 5 Jun 2025

18. Đỗ Kim Bảng

Đã có một thời, gần như các học

sinh ở miền Nam, không ai lại không biết đến ca khúc Mùa Thi của Kim Bảng. Người ta hát bài đó trước ngày thi và sau ngày thi, để vui thêm và cũng để buồn thêm.

Ai vui thêm, ai buồn thêm? Có

cần phải nói ra không nhỉ?

“Gậm một mối căm hờn trong cũi sắt” hận này, kỳ hai, ta sẽ “thanh toán”.

Xưa, vào cái thời bài Mùa Thi của Kim Bảng còn “vừa được yêu vừa bị ghét” đó, tổ chức thi cử ở miền Nam có một kỳ thi Tú Tài thứ hai, trong cùng năm, để các thi sinh “dẫm phải vỏ chuối” lần trước, thử thời vận một lần nữa.

Thầy Trần Bích Lan, thi sĩ Nguyên Sa còn tặng cho các sĩ tử, trong đó có không biết bao nhiêu môn sinh của thầy một câu thơ, một lời nhắc nhở, còn có thể coi là một lời “đe dọa nữa: “Muốn làm người yêu thì phải thi đỗ tú tài”. Ban Hợp Ca Thăng Long đã có lần biến Mùa Thi thành một nhạc cảnh: Đây bao bộ mặt cười ra nước mắt

Than câu học tài thi phận [í a]

Đây bao tiếng cười khúc khích khoe rằng

Phen này tao hỏng thì ai đậu cho!

Nghe Hoài Trung hát mấy câu ấy kèm theo hai chữ “í a” với cái giọng mếu máo khó chịu lắm!

Hai chữ “khúc khích” không biết do chính tác giả (hay Ban Thăng Long?) có khi sửa thành “đắc chí” và câu hát trở thành “đây bao tiếng cười đắc chí khoe rằng, phen này tao trượt thì ai đậu cho”, nghe lại càng khó chịu. Ai khó chịu có cần phải nói ra không nhỉ?

Cũng như Nguyên Sa, Đỗ Kim Bảng là một nhà giáo. Bài học các thầy dạy trong lớp và “quà tặng” của các thầy ở ngoài lớp, hẳn nhiều trò sẽ còn nhớ đời, dù mình có “Học sôi cơm nhưng chửa chín”. Thời nào thì chắc người thi trượt cũng nhiều hơn người thi đậu. Nhưng cả những người đã “hỏng” làm người yêu vì không đậu tú tài và những người thi đậu, lấy được người

yêu, thuở ấy, đều cho rằng, mình đã được sống một thời rất đẹp. Vậy, cuộc đời sau đó không còn đẹp nữa sao? Lý do?

Lấy một câu thơ của Hoàng Cầm để làm câu trả lời, được chăng:

“Mời anh lên rừng xanh, hỏi những cành lá biếc”.

Ngoài Mùa Thi, Đỗ Kim Bảng còn có nhiều ca khúc được yêu thích, nhất là bài Bước Chân Chiều Chủ Nhật:

Tôi thích lang thang trong chiều chủ nhật

Nghe tiếng chân vang lên từng điệu nhạc

Để lòng nhẹ ru với thành phố im

Vì ngày mai nắng lên

Phố phường xóa nhòa bước êm

Nhưng nhắc tới Đỗ Kim Bảng, người ta vẫn nhớ ngay đến Mùa Thi của ông:

Hôm nay ngày thi

Bao nhiêu người đi

Xe! Rộn rịp

Lớp tràn người

Niềm vui vấn vương

Thi ơi là thi

Sinh mi làm chi

Bay: nghẹn ngào

Bám: ồn ào

Buồn vui vì mi

Đây bao bộ mặt cười ra nước mắt

Than câu “Học tài thi phận” (ía)

Đây bao tiếng cười

Khúc khích khoe rằng

“Phen này tao hỏng thì ai đậu cho!”

Hôm nay còn thi

Mai kia còn thi

Ôi! Đời đời

Khóc cùng cười hòa theo mùa thi

Được biết Đỗ Kim Bảng sinh tại Quảng Nam năm 1932. Ông xuất thân Đại Học Sư Phạm và hiện sống tại Hoa Kỳ.

Lệ Thu

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 5 Jun 2025

17. Đoàn Chuẩn

Sau Ngọc Bích, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn vừa qua đời. Như thế, những nhạc sĩ được xếp chung vào lớp gọi là tiền chiến của chúng ta, đã rơi rụng

gần hết. Không biết ai là người đầu tiên, lấy chiến tranh làm dấu mốc để chia giai đoạn cho nhạc Việt Nam: nhạc tiền chiến, nhạc hậu chiến. Nhưng sự phân chia ấy có vẻ chính xác, dù hơi buồn. Nước chúng ta, nếu không lấy chiến tranh làm dấu mốc thời gian, thì biết lấy cái gì đây?

Nhạc tiền chiến có thể coi là cái tên chung cho tất cả nhạc Việt Nam được viết trước 1954. Đó là thời kỳ phôi thai nhưng cũng mau chóng trở thành

thời kỳ phồn thịnh của nền tân nhạc Việt Nam. Các tác giả và tác phẩm xuất hiện vào thời đó, đều tồn tại cho tới hiện nay, và chắc sẽ còn tồn tại lâu dài nữa, vì giá trị đã được xác định qua nhiều thế hệ, qua nhiều thử thách.

Các thế hệ trẻ so với tuổi của các tác phẩm, đã có lúc tỏ ra không thích nhạc tiền chiến, vì họ cho rằng, nhịp điệu rề rà quá, chậm quá. Nhưng tới một cái tuổi nào đó, họ lại yêu trở lại. Hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn. Dĩ nhiên, mỗi thời đại, người ta sống khác nhau, suy nghĩ khác nhau. Nhưng trở lại ngọn nguồn, người ta vẫn dễ dàng gặp lại nhau.

Âm nhạc là một ngọn nguồn kề cận nhất. Tình yêu là một ngọn nguồn gần gụi nhất. Cũng không thể tách rời tình yêu ra khỏi quê hương được. Vì, tình yêu cũng là tình hoài hương thu nhỏ. Đoàn Chuẩn tuy được xếp chung vào lớp các tiền chiến, nhưng ông xuất hiện sau những Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Phạm Duy …

Các ca khúc của ông tung ra đời là được yêu, được hát ngay. Có thể nói, Đoàn Chuẩn không viết gì khác ngoài tình ca. Tình ca của Đoàn Chuẩn chất chứa tất cả cái ngọt ngào, say đắm của một người tình. Một chiếc lá rơi, một cánh hoa rụng, một xác pháo, đều phảng phất hình bóng của tình. Vẫn biết chỉ ở trong một cái tuổi nào đó người ta mới cóthể yêu như thế. Nhưng vì nó được ghi lại trong nhạc, chụp lại trong thơ, nên nó đã trở thành nỗi ám ảnh, nếu người ta không có được một lần trong đời, hình như người ta đánh mất tuổi trẻ mà không được gì cả.

Tình yêu là một kho tàng quý báu, nếu người ta không kịp khám phá lúc còn trẻ, người ta sẽ nghèo khó khi già đấy! Dù tình yêu trong nhạc Đoàn Chuẩn chỉ là thứ tình người ta đánh mất chứ không giữ lại được. Nhưng mất là mất người yêu thôi, tình yêu vẫn còn. Và, vì tình yêu vẫn còn nên người yêu cũng không thể mất. Cái vòng lẩn quẩn ấy, gọi là vòng tuổi trẻ như cách nói của Bạch Cư Dị cũng được, gọi là cái vòng đau khổ hay hạnh phúc cũng được. Một họa sĩ khi vẽ xong bức chân dung của một người con gái, đã đề dưới bức tranh một câu ngạo ngược thế này: Thượng Đế tạo ra nhà ngươi, nhà ngươi sẽ chết. Ta tạo ra nhà ngươi, nhà ngươi sẽ sống muôn đời.

Có lẽ Đoàn Chuẩn có thể viết một câu na ná như thế dưới mỗi bản nhạc của ông vậy. Một trong những cái đáng quý nhất của nghệ thuật là nó có thể chia sẻ hạnh phúc cho mọi người, dù nguyên cớ của nó có khi chỉ do một người mà được tạo ra. Cái thích thú nhất khi nghe nhạc Đoàn Chuẩn là, người ta có cảm tưởng, ông đã yêu hết lòng rồi, nhưng vẫn cứ tiếc là mình không yêu được hơn thế. Cái phần không thực hiện được ấy là cái phần hạnh phúc để dành.

Hát hay nghe nhạc Đoàn Chuẩn là sống thêm cái phần hạnh phúc để dành hay còn lại đó. Ông tô điểm phấn son, khoác nhung gấm cho người tình.

Cứ yêu đi rồi người ta sẽ biết, đằng sau những thứ ấy, còn nhiều cái hấp dẫn và đáng yêu hơn nhiều. Nhưng đừng có mà hiểu nhảm nhí. Bởi vì, Đoàn Chuẩn vẽ ra những hình ảnh ấy hoàn toàn đứng đắn, không có một sự cợt nhả nào. Nhưng, nếu quả đúng như vậy thì tình yêu là gì đây, hỡi em yêu dấu?

Có những người coi tình yêu như một thứ lý tưởng, ít nhất, trong một khoảng thời gian nào đó, của đời mình. Đoàn Chuẩn yêu hồn nhiên. Ông kể lể với mình nhiều hơn với người. Nói một lần không hết, ông nói thêm lần nữa. Và cứ thế kết thành một dòng nhạc Đoàn Chuẩn. Bởi vì Đoàn Chuẩn không viết gì khác ngoài tình ca. Dù tình yêu của bạn không có một chút gì giống tình yêu của Đoàn Chuẩn, bạn vẫn có thể nghe ra trong nhạc của

ông, một vài điều gì đó, giống như điều bạn muốn nói. Nói nhỏ thôi.

Nói cho một người nghe thôi.

Qua bao rừng núi anh về đây

Nhớ em từng phút yêu từng giây

Chẳng phải là những rừng núi thật, chỉ gập ghềnh những nỗi nhớ, đã làm cho người ta cảm thấy mình phải vượt qua những non cao, vực thẳm. Cũng phải có một thuở yên bình nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, người ta mới yêu như thế được. Chỉ cần một chuyến bay là người ta có thể gặp lại được nhau ngay, dù có nghìn trùng xa cách, người ta sẽ yêu nhau ra sao đây?

Chúng ta phải tin một điều, dù bộ mặt tình yêu ngày nay có khác xưa, nhưng tình không bao giờ làm mỏng thêm tình mà chỉ làm dày thêm.

Xin cảm ơn Đoàn Chuẩn và Từ Linh đã làm cho chúng ta hiểu rõ hơn điều đó. Nói tới Đoàn Chuẩn, chúng ta không thể không nhắc tới Từ Linh, người đã viết lời ca cho hầu hết các ca khúc của Đoàn Chuẩn.

Viết lời ca là giải nghĩa những nốt nhạc bằng lời nói. Và, nếu quả đúng như vậy, thì người ta có thể nói: nhạc Đoàn Chuẩn là tình yêu và lời ca của Từ Linh là sự bầy tỏ. Chúng ta, những người đang sống ở hải ngoại này, có thể đã đi đây, đi đó, nhìn thấy nhiều cảnh đẹp của thế giới, nhưng chúng ta đã nhìn thấy chăng cái mùa thu mà cánh chim ngập ngừng không muốn bay trên đất nước thân yêu của chúng ta?

Trong cái cánh chim ấy có mang theo một tiếng gọi thiết tha trở về. Trở về để nhìn thấy lại nhau cho dù chúng ta đã da mồi, tóc bạc. Nhưng cảnh xưa còn đó, lối cũ còn đây. Cái thời chúng ta trẻ trung yêu nhau vẫn còn quanh quất trong từng cơn gió. Cho dù vạn vật có biến đổi đôi chút, chúng ta không tìm thấy nhau, nhưng vẫn có thể tìm thấy nơi chúng ta đã yêu nhau và gặp lại nhau trong ý nghĩa một cuộc trở về.

Mọi sự sẽ còn nguyên vẹn, nếu cái tình trong lòng chúng ta còn nguyên vẹn.

Nếu trời còn xanh, anh sẽ không bao giờ quên em có đôi mắt biếc.

Nếu trời lại ngả sang màu xanh lơ đúng như nhạc của Đoàn Chuẩn, thì làm sao anh có thể hết những nỗi nhớ thương đây?

Đoàn Chuẩn sáng tác không nhiều. Cuộc chia cắt đất nước năm 1954 đã tạo ra một hoàn cảnh mới, hoàn cảnh ấy chắc không thích hợp với nhạc của ông, nên người ta không còn được nghe một sáng tác nào nữa của Đoàn Chuẩn, ngoài những bài ông đã viết trước thời gian đó. Sau biến cố 1975, ở trong nước, có thấy cho phổ biến một hai ca khúc được coi là mới của Đoàn Chuẩn. Nhưng hình như mấy ca khúc này đã lạc khỏi dòng nhạc Đoàn

Chuẩn, mặc dầu đấy vẫn là những bản tình ca: ngọt ngào nhưng không còn say đắm. Nhưng ngần ấy thôi cũng đủ cho một đời người.

Báo chí trong nước cho hay, trước khi mất, có người cũng hỏi ông về những nỗi niềm, vì sao, có sự đứt đoạn ấy? Hình như, ông đã cười và nhắc lại lời trong một ca khúc của ông: Nhưng thôi tiếc mà chi? Thay mặt những người yêu nhạc ông, chúng tôi xin gửi tới ông một bông hồng tạ ơn. Chúc ông an nghỉ.

Tà Áo xanh (Dang Dở)

Gió bay từ muôn phía

tới đây ngợp hồn anh

Rồi tình lên chơi vơi

Thuyền anh một lá ra khơi

Vẻ em phong kín như mây trời

Đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai

Mộng nữa cũng là không

Ta quen nhau mùa thu

Ta thương nhau mùa đông

Ta yêu nhau mùa xuân

Để rồi tàn trong mùa xuân

Người về lặng lẽ sao đành

Anh còn nhớ em nói rằng

Sao mùa xuân lá vẫn rơi

Sao mùa xuân lá vẫn bay

Em ơi có hoa nào không tàn

Có trời nào không mây

Có tình nào không phai?

Em còn nhớ anh nói rằng

Khi nào em đến với anh

Xin đừng quên chiếc áo xanh

Em ơi có ai ngờ đến rằng

Có màu nào không phai

Như màu xanh ái ân

Rồi chiều nao xác pháo

Bên thềm tản mác bay

Em đi trong xác pháo

Anh đi không nước mắt

Thôi đành em!

Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn

Hoa mai rơi từng cánh bên đường

Lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi

Hoa tàn nhạc tan trong không gian

II

Biết nhau để mà nhớ

Nhớ nhau để sầu dâng

Tình đời ôi mong manh

Người mơ một sớm đến anh

Rồi đi đi mãi cho anh sầu

Đêm đêm ngồi chờ sáng mơ nhau

Mộng nữa cũng là không

Ta quen nhau mùa thu

Ta thương nhau mùa đông

Ta yêu nhau mùa xuân

Để rồi tàn trong mùa xuân

Người về lặng lẽ âm thầm

Anh còn nhớ em nói rằng

Sao mùa xuân đến không vui

Sao mùa xuân đến không tươi

Em ơi có trăng nào không tàn

Có diều nào không bay

Có tình nào không say

Anh còn nhớ em nói rằng

Tâm hồn anh dễ chóng quên

Tâm tình anh dễ chóng phai

Em ơi có ai ngờ đến rằng

Có tình nào không phai

Như tình anh với em

Rồi chiều nao băng giá tâm hồn

tìm đến nhau

Em mơ trong tiếng hát

Anh mơ trong nét bút đa tình sao

Trách sao hoa kia còn có khi tàn

Nhưng riêng anh dệt mấy cung đàn

Nhạc đời còn ghi những nét thương đau

Hoa tàn tình tan trong không gian

Quang Tuấn

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 5 Jun 2025

Nấm Mồ Vô Chủ
Phạm Tất Thắng

Rừng xanh năm canh thao thức
Thương vợ hiền chịu cực để nuôi con
Tình sâu nghĩa trọng vuông tròn
Ngày đêm chờ đợi mắt mòn mỏi trông

Xuân hạ rồi hết thu đông
Đàn con ngơ ngác đứng trông cha về
Tướng hình giam giữ sơn khê
Ngày đi thì có, ngày về thì chưa

Bao năm? dầu dãi nắng mưa
Làm không giờ giấc; vẫn chưa hài lòng
Tháng dư… buộc phải tăng công
Còn như tháng thiếu, một đồng không cho

Khoai mì, bắp hột, muối kho
Uống nước ao hồ khắp chốn rừng sâu
Áo quần tơi tả phai mầu
Chằng trên; chít dưới; ai khâu cho mình?

Kẻng điểm chưa rạng bình minh
Vai cày, tay cuốc; đội hình ra đi
Nam nhi gian khổ sá gì?
Nhớ con thương vợ! biệt ly chừng nào?

Tâm hồn cảm thấy nao nao
Cùng chung một giọt máu đào hại chi
“Độc lập” dân được hưởng gì?
“Tự do” xin phép được đi từng ngày

Kìm kẹp, đánh đập thẳng tay
Lao động tối ngày, ăn chẳng được no
Bệnh nặng, cũng chỉ nằm co
Y tế phát thuốc, toàn cho lá rừng

Chết thì chôn ở dưới bưng
Với manh chiếu rách; giây thừng xiết vô
Tù nhân đào huyệt đắp mồ
Đây là thành quả… giặc “Hồ” đành cho

Việt Nam cách một con đò
Tây phương hạnh phúc, mình gò tha ma
Ai về? nhắn nhủ quê ta
Đây! trường “cải tạo” cũng là nghĩa trang
Thanh bình! xin một tuần nhang
Viếng mồ vô chủ, con hoang giữa rừng…

Phạm Tất Thắng

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 5 Jun 2025

Nội Tướng Miền Nam
Phạm Trọng Phúc

Kính gửi chị Thuần.

Có thể lá thư này chẳng bao giờ đến tay chị, nhưng biết đâu các cháu sẽ đọc được vào một ngày nào đó, khi đất nước đã được giải phóng khỏi sự kềm kẹp dã man của Việt Cộng.

Tôi vẫn nghĩ ngày ấy không còn xa nữa và tôi tin tưởng một ngày tôi sẽ được trở về Bù Gia Phúc thăm mộ anh nhà, đốt một nén hương và bầy tỏ cùng anh nỗi xót xa cay đắng trong suốt bằng ấy năm trời. Tôi cũng sẽ nói với anh rằng sự nằm xuống của anh đã không vô ích và đích thực cần thiết cho đại cuộc giải phóng trên năm mươi triệu đồng bào, còn đang bị đọa đầy trong những trại tập trung khổng lồ trên đất nước mình nữa. Tất nhiên cái chết của anh là một sự mất mát và thiệt thòi không những chỉ của gia đình chị mà còn cả cho chúng tôi, những chiến hữu của anh – đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi trong nhiều năm đau đớn ở các trại cải tạo. Tuy nhiên đời người ai chả một lần chết… vấn đề là chết ra sao, thế nào và, tôi đã hơn một lần xác nhận với chị sự kính mến của các bạn tù dành cho anh nhà trong suốt thời gian tù đầy… ngày ấy, dễ thường chị còn nhớ hơn tôi thái độ kiên cường của anh đối với Việt Cộng ngay cả lúc cận kề cái chết.

Sự quyết liệt của anh – nói như một người bạn – có thể so sánh với cơn cuồng nộ của một ngọn sóng thần – khiến chúng tôi phải ngả nón cúi đầu khâm phục. Tôi không được chứng kiến giây phút cuối cùng của anh và chỉ nghe kể lại qua một người bạn được đến dự khán một sự “dằn mặt”. Anh bạn tù của chúng tôi vốn là một nhà giáo hiền lành nếu không muốn nói là hơi nhát, ấy thế mà chỉ sau ngày được mục kích cái chết của anh nhà, anh bạn tôi đã thay đổi đến nỗi cả trại phải kinh hoàng. Từ nhút nhát anh đã kinh qua giai đoạn bạo dạn để tiến thẳng đến sự dữ dằn. Phản ứng dữ dội và những biện pháp bạo động dành cho bọn cai tù Việt Cộng của anh bạn cho thấy đã bắt nguồn từ sự kính trọng anh nhà thực sự. Tóm lại nhân cách của anh nhà là một tấm gương mà mỗi người tù đều ước vọng noi theo.

Điều tôi vẫn lấy làm tủi thân là không được thấy anh trong giờ phút lâm chung. Việt Cộng đã hành hạ anh nhiều ngày trước khi hành quyết với hy vọng là anh sẽ thối chí ngã lòng rồi đầu hàng. Nhưng chúng đã lầm lẫn tai hại, vì sự nằm xuống của anh đã cảnh tỉnh rất nhiều người còn đang phân vân trong những quyết định, hành động chống đối. Chắc hẳn chị cũng từng được nghe kể lại nhiều cái chết kinh hoàng của bọn cai tù và ngay cả những tên khác ở địa phương đã từng tác oai, tác quái. Những sự việc như vậy có phải bắt nguồn từ những con người háo sát? – Điều này tôi có thể bảo đảm với chị rằng, sau nhiều bôn ba với gần như đủ hạng người ở Âu, Mỹ, Á và Bắc Phi, người Việt Nam chúng ta vẫn được mô tả là những người hài hòa nhất. Tôi không lộng ngôn đâu khi khẳng định với chị rằng dân tộc ta là một dân tộc văn hóa, vì ở bất kỳ đâu, một cộng đồng Việt Nam dù nhỏ bé cũng vẫn biểu lộ được cá tính đặc thù “hiếu khách”. Nói như vậy còn có nghĩa là họ sẵn sàng dành những cảm tình tốt đẹp cho mọi người và dĩ nhiên là còn dành phần hơn cho những người cùng một huyết thống. Ấy thế mà họ đã không thể chấp nhận nổi Việt Cộng – cũng Việt Nam đấy, vào bất kỳ sinh hoạt nào của người Việt Quốc gia. Hẳn nhiên, sự kiện ấy có vẻ như mâu thuẫn, nhưng thực ra cả chị cũng như chúng tôi – những người đã có một thời gian sống dưới chế độ Cộng Sản đều đủ thẩm quyền xác nhận việc chống đối những hành vi tàn bạo của chúng, chẳng qua cũng chỉ là một sự việc phản ảnh được tính tự nhiên, nếu không muốn nói rằng đó là phản ứng phải có của những người đạo đức, sợ máu và nhút nhát nhất. Mặt khác, theo ý tôi, cái việc lấy máu trả nợ máu cũng phần nào thuận lẽ trời, vì sau bao năm tù đầy tôi nhận ra một điều là đối với Việt Cộng, biện pháp giáo dục duy nhất là sức mạnh.

Những thỏa hiệp đạt được trong tù đã được hình thành từ phản ứng của anh nhà và một số bạn tù nóng tính, chị có tin vậy không? Kể từ năm 81, người tù còn đạt được nhiều thắng lợi hơn nữa bằng vào những phản ứng bạo động. Chỉ trong một thời gian ngắn, máu tràn ngập các trại, phản ứng có tính cách giây chuyền vì bị giam giữ sái phép quá lâu. Người tù đã hoàn toàn thấu hiểu ý đồ và chiến thuật của Việt Cộng nên không còn những chuyện cãi vã lằng nhằng, họ hành động thận trọng nhưng quyết liệt – không còn nhân nhượng vì bạn thù đã rõ rệt.

Việt Cộng tàn sát thêm hàng loạt, nhưng phía chúng thiệt hại cũng không phải là nhỏ. Giết người không vũ khí là quyền của Việt Cộng, chúng thi hành chu đáo chủ trương tiêu diệt mọi phần tử từng phục vụ miền Nam, có điều là chúng thực hiện việc giết người quá lộ liễu, không chút nghệ thuật. Nói cách khác, để thi hành những chỉ thị giết chóc, con cháu già Hồ đã hành động với bản năng của loài thú dữ tựa như loài bò mộng xông vào xâu xé người đấu bò khi đã kiệt lực.

Dù với bản chất thận trọng cố hữu tôi vẫn phải thưa với chị rằng những cái chết của bọn Việt Cộng do người Quốc gia thực hiện, lại được hình thành từ những mưu chước thần sầu, do những khối óc xuất chúng. Nói khác đi công việc trị tội bọn Cộng Sản hiếu sát đã được thi hành bởi những người dù rằng mặc áo lính, nhưng đồng thời còn là những nghệ sĩ tài ba nữa. Chị thử nghĩ xem, không một tấc sắc trong tay, thân thể thì đã hoàn toàn bạc nhược vì chế độ lao động khổ sai, ăn uống thiếu thốn đến độ nhiều người chỉ còn da bọc xương, thế mà bọn Việt Cộng với vũ khí tận răng, đầy đủ uy quyền sát hại vẫn phải run sợ mỗi khi đối diện với người lính Quốc gia trong hoàn cảnh bi đát.

So sánh như vậy tôi lại còn muốn thêm một lần xác nhận với chị rằng những người lính Quốc Gia đã hành xử đúng với chức năng và quyền hạn, đành rằng nếu so sánh từ căn bản quả thực đã có những thay đổi lớn lao về bản chất hài hòa và đôn hậu của họ. Sự việc này thoạt nhìn qua luân lý, nó có vẻ như một sự phá sản nhưng nếu tìm hiểu một chút, nghĩa là có nghiên cứu rồi mới kết luận, thì một sự kiện lớn lao như vậy lại chỉ là một phần phản ứng rất tự nhiên. Tôi muốn nói là chưa bao giờ hai chữ “đơn giản” lại hợp lý và đứng đắn đến thế cho một sự việc có vẻ như rất phức tạp về hiện tượng. Điều này có lẽ chị còn hiểu rõ hơn tôi với gần mười năm chịu đựng đủ thứ thủ đoạn xấu xa của bọn Việt Cộng.

Tôi còn nhớ rõ lắm ngày cháu Hợp lên Bù Gia Phúc xin đến viếng mộ anh nhà. Hôm ấy chủ nhật, tháng mười hai ở trong rừng rét lắm, cái lạnh căm căm như vậy đối với người tù đã tương đối quen thuộc, nhưng với người… Sàigòn quả thật chẳng dễ dàng. Tôi hết sức ngỡ ngàng khi được thông báo có người nhà muốn gặp – vì sau lần thăm nuôi cách đây khoảng hai tháng tôi đã có quyết định sẽ không bao giờ để gia đình lên Bù Gia Phúc nữa, thứ nhất là tôi sẽ đào thoát với một người bạn khi có dịp thuận tiện, nhưng điểm chính là tôi không muốn người thân yêu mạo hiểm trên quốc lộ kinh hoàng.

Để tôi giải thích thêm với chị phần này.. Từ Phước Bình lên đến Bù Gia Phúc và xa hơn nữa là Bù Gia Mập hoặc Ban Mê Thuột chỉ có một con đường duy nhất – Quốc lộ 14, nếu không muốn đi xuyên rừng rậm với vô số thú dữ rắn rết, đôi lần lại có cả ông ba mươi rình rập và đặc biệt là những nhóm Việt Cộng được bố trí lẻ tẻ khắp nơi trong rừng già. Xe đò, năm thì mười họa mới dám vượt đoạn đường sau khi đã phải chịu hàng trăm ngàn yêu sách của đủ các tổ chức Việt Cộng thành thử những người đi thăm tù thường phải đi bộ bốn đến năm mươi cây số đường đèo để chỉ được hội ngộ với thân nhân trong ba mươi phút phù du.

Nửa giờ quý báu ấy dù chỉ đủ nhìn thấy mặt nhau và để làm những thủ tục nhận quà bánh, nhưng những người Quốc gia chúng ta đã chẳng ai quản ngại đường dài nguy hiểm, vì chị còn lạ gì tình cảm mặn mòi của đồng bào dành cho người lính miền Nam. Bao nỗi nhớ nhung, thêm vào đó sau một thời gian dài phải đối đầu với dối trá thường trực của chế độ, họ biết chỉ có thể tìm được chính họ khi gặp lại những người lính Quốc Gia đôn hậu, thân thương và hào hiệp.

Tuy nhiên khoảng tháng mười năm bảy mươi tám, trên đoạn đường ấy đã xẩy ra một chuyện thương tâm do hành động mọi rợ của bọn Việt Cộng… Một phụ nữ đi thăm nuôi chồng đã bị một toán cán binh Việt Cộng bắt vào rừng sâu hãm hiếp đến chết và cướp tất cả đồ đạc. Sau đó hai ngày, để xoa dịu lòng căm phẫn và chống đối của tù binh, bộ chỉ huy sư đoàn 7 của Việt Cộng buộc phải xử tử thủ phạm – hai lính “cụ” Hồ. Cái sự việc xử tử đồng bọn này được chúng rêu rao “làm bậy đều bị trừng phạt”, thực sự lại hàm chứa một thủ đoạn đê hèn khác nhằm tiêu diệt những người tù, lảng vảng bên quốc lộ với hy vọng có thể giúp đỡ thân nhân di chuyển các gói quà.

Sự việc xấu xa của bọn “lòng lang dạ thú” ấy đã được dấu diếm hết sức kỹ lưỡng vì trong một thời gian dài sau đó Việt Cộng đã cấm cản mọi việc thăm nuôi, dù chính chúng đã từng công bố “sau ba năm học tập, nhiều người tiến bộ (!) nên việc thăm nuôi rất dễ dàng.”

Suốt khoảng thời gian kinh hoàng, tưởng như trường kỳ “bặt vô âm tín” đó, tôi vẫn thỉnh thoảng được anh nhà cho biết một số tin tức “đặc biệt” do chính chị gửi vào. Thoạt tiên tôi “không tin”, bởi làm sao tin được khi Việt Cộng đã khép kín trại với nhiều toán cán binh mới được bổ sung tới, cộng thêm những tên chó săn được cài cùng khắp. Mãi cho đến một lần chính tôi được thấy chị dưới lốt một bà già mót củi ngoài vòng rào trại, tôi mới tự nhủ “người đàn bà này quả thật là một người đàn bà phi thường.”

Ngày ấy tôi đã nói với anh nhà:

“Tôi biết một cách không sai lầm là nhờ và do ai mà anh đã trở nên một người được toàn thể anh em kính trọng.”

Chính chị là người đã tạo dựng thành quả ấy. Nhân danh một người lính Quốc Gia, tôi vinh danh chị.

Sau ngày được phóng thích tôi còn được nghe kể lại nhiều thành tích khác của chị suốt từ tháng bảy năm một chín bảy lăm – chỉ một tháng sau ngày những người lính Quốc Gia bị mắc bẫy trong các trại tập trung trá hình.

Tình yêu thắm thiết chị dành cho anh nhà sau hơn ba mươi năm hương lửa, cộng thêm tình bạn cao cả đối với những chị em cùng cảnh ngộ còn dẫn chị tìm đến cả những sân bắn ở phi trường Biên Hòa để dò la tin tức về số phận những người cải tạo.

Di chuyển trên những mô đất chắn đạn hoặc ngay cả trên những khu phụ cận đều là việc làm tự sát, ai cũng hiểu như vậy. Là một người vợ lính chị lại còn biết cả những quy luật xạ trường – nhất nhất cẩn trọng mà đôi lúc vẫn còn những nguy hiểm bất ngờ – những trái đạn chưa nổ, mìn bẫy gài cùng khắp để cản ngăn người cùng khổ gom góp vỏ đạn tầm kế độ nhật. Đó là nơi duy nhất Việt Cộng bỏ ngỏ vì tin tưởng không ai ám héo lánh… thế mà chị vẫn đến và ở lại đó nhiều ngày vì chỉ ở đấy mới có thể quan sát sinh hoạt của người tù.

Ở vào lứa tuổi năm mươi – chỉ có chị, mình chị dám làm việc ấy.

Cái sự việc được mô tả ngắn gọn bằng vài hàng chữ đơn giản trên với mắt nhìn của tôi là cả một nghĩa cử cao đẹp, nó nói lên được tính cao thượng, nhân nghĩa, tình người của chị.

Với học vấn giới hạn của mình, tôi không sao tìm được trạng từ, tĩnh từ để nói lên đầy đủ đức tính cao quý của chị, ấy vậy mà tôi cũng đã e sợ một số người cho rằng tôi muốn tạo huyền thoại đấy thôi.

Có người bạn đời như chị làm gì mà anh không dám ngẩng cao mặt đối đầu bọn Cộng Sản. Với tôi, anh chị không những chỉ là những người can đảm, mà còn là tấm gương phản ảnh cái chân thiện mỹ của một cuộc hôn nhân lý tưởng.

Trong tập thể đông đảo của chúng tôi, ngoại trừ những tên ăn cắp và lạm dụng quyền thế – gia đình người lính Quốc Gia nào chả nghèo. Cái nghèo sau tháng tư bảy mươi lăm đã trở thành cái mạt, ấy thế mà chị vẫn tần tảo một mình gầy dựng đàn con nhỏ dại rồi lại còn giúp chồng giữ vững tinh thần trong tù và hướng dẫn bao bạn gái thoát khỏi những cảnh huống ô nhục nhờ vào ngành tiểu công nghệ đan lát giỏ, chiếu mà chị đã cống hiến biết bao công trình sáng tạo.

Mỗi lần nhắc đến chị, vợ tôi thường xác quyết: “Sao mà lại có người đàn bà hoàn toàn đến thế”.

Lời khen ngợi ấy của một người đàn bà dành cho một người đàn bà – nếu không phải mẹ ruột của mình, là một sự hiếm có nếu, không muốn khẳng định là không thể có được. Ấy vậy mà hầu như mỗi lần có cuộc họp mặt giữa những người đồng cảnh ngộ ở quê người này, “nàng” đều đề cập đến những việc chị đã làm như để nhắc nhở mọi người noi gương.

Người đàn bà Việt Nam vốn dĩ nhiều thiệt thòi, trường hợp của chị lại toàn nghiệt ngã… cái chết của anh nhà còn dìm chị vào đau đớn tột cùng, vậy mà tôi còn văng vẳng bên tai lời chị khuyên hôm nào khi tôi rời đất nước “không nên có sự so sánh giữa những điều bất hạnh, nếu có thì chỉ niềm đau mất nước là lớn nhất”.

Điều tôi biết rõ ràng hơn cả về chị là tính nhút nhát và mau nước mắt. Nhận xét này thấy qua việc chị giáo dục đám trẻ con được nghe anh tâm sự cái “ngày đó chúng mình” giữa anh và chị, thế mà sau cái tang chung của đất nước, chị đã hoàn toàn khác. Những công việc, phản ứng và lời  khuyên của chị quả thật làm tôi hổ thẹn mỗi lần thối chí, ngã lòng, trước cuộc mưu sinh chật vật nơi quê hương xa lạ. Tôi cũng tự nhủ sẽ viết thư này đến chị như để tạ tội và hứa với chị rằng, ngày nào còn Cộng Sản, ngày ấy còn phải đấu tranh. Tôi nghe lòng nhẹ nhõm hơn khi thấu hiểu rằng cái đau đớn xót xa của mình chẳng thấm thía gì so với những người còn đang bị đọa đày trên chính quê hương mình.

Tôi cám ơn và xin nhớ ơn chị.

Trở lại ngày cháu Hợp lên Bù Gia Phúc… mới chỉ gần bốn năm xa cách mà biết bao vật đổi sao dời.

“Cái” Hợp đây ư?

Mái tóc ấy, cặp mắt ấy thì ngay giữa đêm tối cũng nhận ra chứ đừng nói gì ban ngày ban mặt.

Thì đúng là cái Hợp rồi chứ còn ai nữa.

Chỉ có điều là khuôn mặt bầu bĩnh và cái lúm đồng tiền đã biến mất để thay vào đó bằng một khuôn mặt xương xẩu tố cáo sự “phồn vinh” của chủ nghĩa xã hội sau ba năm trời xây dựng. Nhìn cháu co ro trong chiếc bà ba với khuôn ảnh của anh trên tay, tôi đã không cầm được nước mắt. Dường như đã lâu lắm, tôi không được khóc, bây giờ gặp dịp nó tuôn trào. Cháu Hợp cũng đẫm lệ, dường như cháu cũng không thể tưởng tượng được ông chú “bay bướm” ngày nào lại có thể tiều tụy đến thế.

Tên Việt Cộng trực ngày hôm đó có vẻ rất “hoan hỉ” trước trạng huống đau lòng ấy. Hắn biểu lộ sự khoái trá qua một lệnh “chắc nịch”:

– Này chị kia, có khóc cũng chỉ nửa giờ thôi, nệnh nà nệnh (lệnh là lệnh), còn anh đưa chị ấy ra mộ, tôi bắt đầu bấm giờ.

Hắn kéo cao tay áo như để khoe cái đồng hồ mới “hữu sản”.

– Bây giờ nà (là) mười một giờ.

– Báo cáo anh từ đây ra mộ vừa đi vừa về cũng đã một tiếng.

– Tôi không cần biết.

– Cháu có chút quà biếu ông cán bộ cách mạng.

Cái việc đánh rơi tờ giấy cụ Hồ nhìn thẳng (tiền giấy 50 đồng Việt Cộng tương đương với  25.000 đồng tiền cũ), đã cho chú cháu tôi tới ba giờ đồng hồ để viếng mộ anh.

Anh nằm ở một khu đất khá cao trên một ngọn đồi. Đất ở đây đỏ quạch và toàn sỏi, không một nhánh cây, trông trơ trụi đến tội nghiệp. Nằm ở đây anh có thể nhìn thấy toàn thể chung quanh… cánh rừng lồ ô bao la bát ngát, một con suối lớn chạy len lỏi giữa đám lá xanh, những mái tranh rải rác – đó là nơi cư ngụ của đoàn quân viễn chinh thuộc “quân đội nhân dân anh hùng… ăn trộm”, của cả những người tù – bạn hữu của anh.

Ỏ đây anh cũng còn có thể phân biệt được nơi cư ngụ, bạn thù rõ rệt. Vào ngày chôn anh, những người bạn tù đặt anh gối đầu ở hướng đông, như thế chỉ cần ngẩng cao lên một chút là anh có thể nhìn bao quát về hướng tây, ở đấy Sàigòn… có chị, các cháu và cả những chiến hữu ở nghĩa trang Biên Hòa nữa.

Ngay tại đồi sỏi ấy anh cũng có nhiều bằng hữu, hơn hai chục nấm mồ nằm ngay hàng thẳng lối. Vài người bạn tù khéo tay đã dùng những đốt lồ ô già để làm thành những bình hoa đặt ở đầu và chân mỗi ngôi mộ. Phần nhiều là các loại hoa rừng trông rất lạ mắt, thường chỉ tìm thấy ở những nơi rừng sâu nước độc. Đặc biệt ở ngôi mộ anh nhà, tôi lại còn thấy cả những cây lan nữa. Vẻ đài các toát ra từ những đóa hoa rừng cho thấy nét thanh cao không những chỉ của người tặng mà còn của cả người được tặng, riêng điều này ở đây tôi chỉ muốn xác nhận với chị các hành động của anh ở trại tù đã tạo ảnh hưởng sâu đậm đến mọi tù nhân. Cái khí thế đấu tranh ở khắp các trại tập trung, vào vài năm sau khi anh nằm xuống nói lên được cái khí tiết của người lính miền Nam ngay cả trong quãng thời gian tù đầy ở khắp các trại giam phải chăng đã khởi đi từ những đấu tranh tích cực của những người như anh nhà? Về ý nghĩ này thì tôi tin tưởng lắm, thứ nhất vì là người trong cuộc và đã được chứng kiến từ đầu diễn tiến dẫn đến công cuộc đấu tranh toàn diện, thứ đến là được ở cạnh anh nhà trong tất cả các cuộc biến động do một số bạn tù chủ xướng.

Nhiều người trong nhóm chủ trương cùng nằm đấy với anh, chẳng hiểu họ còn bàn soạn gì cho những ngày sắp tới?

Hai chú cháu thắp nhang cho tất cả, mùi hương thoang thoảng tẩn mạn khắp trong không khí, cái lạnh trên cao trong bãi trống làm se da thịt và khiến se thắt tâm hồn.

Nhìn cháu quỳ khóc sụt sùi trước mộ anh, tôi đã không sao cầm được nước mắt.

Sống và chết, giản dị như vậy sao ? Mới hôm nào giọng anh còn sang sảng quát mắng bọn sài lang, bây giờ đã nằm yên dưới ba tấc đất.

Sống là ở, thác là về, cuộc đời là thế, xem chừng như chẳng có gì phức tạp, nhưng riêng trường hợp anh nhà tôi vẫn cảm thấy có một điều gì uất nghẹn. Tôi đã được anh cho biết chương trình và diễn tiến về một cuộc đột kích ban chỉ huy của Việt Cộng ở Bù Gia Phúc.

Kế hoạch táo bạo đến nỗi tôi phải rùng mình sợ hãi, vì anh nhà sẵn sàng hy sinh tính mạng trong những phút đầu tiên, để chỉ mong đoạt thành một ước nguyện là một vài bạn tù thoát được ra ngoại quốc để trình bày với quốc tế sự dã man, tàn bạo của Việt Cộng áp đặt tại Việt Nam từ sau ngày miền Nam sụp đổ.

Trí tưởng tượng phong phú của anh nhà nghĩ rằng tôi cũng có thể làm công việc ấy… Ấy thế mà ba năm ở trên đất Tự Do tôi vẫn còn loay hoay với cuộc mưu sinh nhiều đe dọa và rồi còn chưa biết đến bao giờ mới thực hiện được trọn vẹn lời hứa với một người đã nằm xuống vĩnh viễn vì lý tưởng Tự Do, dầu rằng tôi cũng đã trình bầy với một thiểu số người những gì anh nhà căn đặn.

Và cũng trong chiều hướng ấy tôi viết một bản cáo trạng để cảnh tỉnh những ai còn lơ mơ về chủ nghĩa Cộng Sản, và sau đó thực hiện một loạt những công việc cần thiết nhằm mục đích nhắc nhở lớp trẻ như các cháu bé và cả một dân tộc đang quằn quại đau thương.

Trong lúc này tôi chỉ có thể làm được đến như vậy nhưng hiệu quả của chương trình thì lại đòi hỏi rất nhiều yếu tố và điều kiện khá phức tạp… đó là sự tiếp tay của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Cho đến bây giờ mọi công việc tiến triển khá tốt đẹp nhưng cũng mới chỉ là bước đầu hy vọng. Tuy nhiên nhờ vậy tôi cũng phần nào bớt được dằn vặt về những gì đã hứa với anh nhà và với chính mình.

Phần chị, có bao giờ thấy lại anh trong giấc mơ? hay anh đã hòa vào với chị để cùng săn sóc đàn con thơ dại? Đời tôi đã được chứng kiến nhiều chuyện kỳ bí, thế nên cái dự tưởng của tôi về anh chị chắc hẳn chẳng phải là điều vô căn cứ.

Thấm thoát mới ngày nào anh nằm xuống mà đã năm năm, trôi dạt nơi xa lạ cách xa quê mình đến một phần tư trái đất và không quên tình cảnh nơi quê nhà, ở đấy còn những ruột thịt của tôi, chị, các cháu và bằng hữu. Thư này lẽ ra đã được viết từ lâu lắm, nhưng tôi cứ lưỡng lự mãi, bởi chẳng lẽ lại than vãn với chị về những trở ngại còn đó mà đầu đã bạc, tay đã run. Mãi cho đến mùa hè vừa qua khi gặp hai cháu Hợp và Dũng tôi mới thấy trách nhiệm của mình còn nặng lắm, vì cái phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt được rất ít giới trẻ ngưỡng mộ và rồi còn nhiều chuyện đau lòng khác. Tôi đã hỏi các cháu về chị và gia đình, những gì nghe biết chợt khiến tôi đau xót khôn nguôi. Thế ra mắt chị đã lòa vì cuộc mưu sinh khốn khó, ngót nghét sau gần mười năm thống khổ dưới sự kềm kẹp mọi rợ của Việt Cộng.

Thoi thóp với những gói quà vặt vãnh ở một Âu Châu đang đà đi xuống rồi chị và các cháu bé sẽ ra sao?

Tôi thật tủi hổ với những nỗi khó khăn của cuộc mưu sinh thường nhật, đã không mấy thực hiện được những lo lắng hữu hiệu ngay cả với thân yêu ruột thịt, nên chỉ còn biết hứa với chị sẽ làm tất cả những gì có thể ngay khi có điều kiện. Tôi cũng sẽ liên lạc thường xuyên với các cháu để có dịp kể cho chúng nghe về người mẹ anh hùng của chúng.

Tôi tin tưởng thấy được tấm gương sáng của chị, các cháu sẽ tìm ra được con đường phải đi, nhằm chuẩn bị ngay từ bây giờ cho ngày trở về đất nước.

Phạm Trọng Phúc