Posted on October 29, 2022, by Bình Long
Post by Sơn râu 5 Jun 2025


Nội Tướng Miền Nam
Phạm Trọng Phúc
Kính gửi chị Thuần.
Có thể lá thư này chẳng bao giờ đến tay chị, nhưng biết đâu các cháu sẽ đọc được vào một ngày nào đó, khi đất nước đã được giải phóng khỏi sự kềm kẹp dã man của Việt Cộng.
Tôi vẫn nghĩ ngày ấy không còn xa nữa và tôi tin tưởng một ngày tôi sẽ được trở về Bù Gia Phúc thăm mộ anh nhà, đốt một nén hương và bầy tỏ cùng anh nỗi xót xa cay đắng trong suốt bằng ấy năm trời. Tôi cũng sẽ nói với anh rằng sự nằm xuống của anh đã không vô ích và đích thực cần thiết cho đại cuộc giải phóng trên năm mươi triệu đồng bào, còn đang bị đọa đầy trong những trại tập trung khổng lồ trên đất nước mình nữa. Tất nhiên cái chết của anh là một sự mất mát và thiệt thòi không những chỉ của gia đình chị mà còn cả cho chúng tôi, những chiến hữu của anh – đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi trong nhiều năm đau đớn ở các trại cải tạo. Tuy nhiên đời người ai chả một lần chết… vấn đề là chết ra sao, thế nào và, tôi đã hơn một lần xác nhận với chị sự kính mến của các bạn tù dành cho anh nhà trong suốt thời gian tù đầy… ngày ấy, dễ thường chị còn nhớ hơn tôi thái độ kiên cường của anh đối với Việt Cộng ngay cả lúc cận kề cái chết.
Sự quyết liệt của anh – nói như một người bạn – có thể so sánh với cơn cuồng nộ của một ngọn sóng thần – khiến chúng tôi phải ngả nón cúi đầu khâm phục. Tôi không được chứng kiến giây phút cuối cùng của anh và chỉ nghe kể lại qua một người bạn được đến dự khán một sự “dằn mặt”. Anh bạn tù của chúng tôi vốn là một nhà giáo hiền lành nếu không muốn nói là hơi nhát, ấy thế mà chỉ sau ngày được mục kích cái chết của anh nhà, anh bạn tôi đã thay đổi đến nỗi cả trại phải kinh hoàng. Từ nhút nhát anh đã kinh qua giai đoạn bạo dạn để tiến thẳng đến sự dữ dằn. Phản ứng dữ dội và những biện pháp bạo động dành cho bọn cai tù Việt Cộng của anh bạn cho thấy đã bắt nguồn từ sự kính trọng anh nhà thực sự. Tóm lại nhân cách của anh nhà là một tấm gương mà mỗi người tù đều ước vọng noi theo.
Điều tôi vẫn lấy làm tủi thân là không được thấy anh trong giờ phút lâm chung. Việt Cộng đã hành hạ anh nhiều ngày trước khi hành quyết với hy vọng là anh sẽ thối chí ngã lòng rồi đầu hàng. Nhưng chúng đã lầm lẫn tai hại, vì sự nằm xuống của anh đã cảnh tỉnh rất nhiều người còn đang phân vân trong những quyết định, hành động chống đối. Chắc hẳn chị cũng từng được nghe kể lại nhiều cái chết kinh hoàng của bọn cai tù và ngay cả những tên khác ở địa phương đã từng tác oai, tác quái. Những sự việc như vậy có phải bắt nguồn từ những con người háo sát? – Điều này tôi có thể bảo đảm với chị rằng, sau nhiều bôn ba với gần như đủ hạng người ở Âu, Mỹ, Á và Bắc Phi, người Việt Nam chúng ta vẫn được mô tả là những người hài hòa nhất. Tôi không lộng ngôn đâu khi khẳng định với chị rằng dân tộc ta là một dân tộc văn hóa, vì ở bất kỳ đâu, một cộng đồng Việt Nam dù nhỏ bé cũng vẫn biểu lộ được cá tính đặc thù “hiếu khách”. Nói như vậy còn có nghĩa là họ sẵn sàng dành những cảm tình tốt đẹp cho mọi người và dĩ nhiên là còn dành phần hơn cho những người cùng một huyết thống. Ấy thế mà họ đã không thể chấp nhận nổi Việt Cộng – cũng Việt Nam đấy, vào bất kỳ sinh hoạt nào của người Việt Quốc gia. Hẳn nhiên, sự kiện ấy có vẻ như mâu thuẫn, nhưng thực ra cả chị cũng như chúng tôi – những người đã có một thời gian sống dưới chế độ Cộng Sản đều đủ thẩm quyền xác nhận việc chống đối những hành vi tàn bạo của chúng, chẳng qua cũng chỉ là một sự việc phản ảnh được tính tự nhiên, nếu không muốn nói rằng đó là phản ứng phải có của những người đạo đức, sợ máu và nhút nhát nhất. Mặt khác, theo ý tôi, cái việc lấy máu trả nợ máu cũng phần nào thuận lẽ trời, vì sau bao năm tù đầy tôi nhận ra một điều là đối với Việt Cộng, biện pháp giáo dục duy nhất là sức mạnh.
Những thỏa hiệp đạt được trong tù đã được hình thành từ phản ứng của anh nhà và một số bạn tù nóng tính, chị có tin vậy không? Kể từ năm 81, người tù còn đạt được nhiều thắng lợi hơn nữa bằng vào những phản ứng bạo động. Chỉ trong một thời gian ngắn, máu tràn ngập các trại, phản ứng có tính cách giây chuyền vì bị giam giữ sái phép quá lâu. Người tù đã hoàn toàn thấu hiểu ý đồ và chiến thuật của Việt Cộng nên không còn những chuyện cãi vã lằng nhằng, họ hành động thận trọng nhưng quyết liệt – không còn nhân nhượng vì bạn thù đã rõ rệt.
Việt Cộng tàn sát thêm hàng loạt, nhưng phía chúng thiệt hại cũng không phải là nhỏ. Giết người không vũ khí là quyền của Việt Cộng, chúng thi hành chu đáo chủ trương tiêu diệt mọi phần tử từng phục vụ miền Nam, có điều là chúng thực hiện việc giết người quá lộ liễu, không chút nghệ thuật. Nói cách khác, để thi hành những chỉ thị giết chóc, con cháu già Hồ đã hành động với bản năng của loài thú dữ tựa như loài bò mộng xông vào xâu xé người đấu bò khi đã kiệt lực.
Dù với bản chất thận trọng cố hữu tôi vẫn phải thưa với chị rằng những cái chết của bọn Việt Cộng do người Quốc gia thực hiện, lại được hình thành từ những mưu chước thần sầu, do những khối óc xuất chúng. Nói khác đi công việc trị tội bọn Cộng Sản hiếu sát đã được thi hành bởi những người dù rằng mặc áo lính, nhưng đồng thời còn là những nghệ sĩ tài ba nữa. Chị thử nghĩ xem, không một tấc sắc trong tay, thân thể thì đã hoàn toàn bạc nhược vì chế độ lao động khổ sai, ăn uống thiếu thốn đến độ nhiều người chỉ còn da bọc xương, thế mà bọn Việt Cộng với vũ khí tận răng, đầy đủ uy quyền sát hại vẫn phải run sợ mỗi khi đối diện với người lính Quốc gia trong hoàn cảnh bi đát.
So sánh như vậy tôi lại còn muốn thêm một lần xác nhận với chị rằng những người lính Quốc Gia đã hành xử đúng với chức năng và quyền hạn, đành rằng nếu so sánh từ căn bản quả thực đã có những thay đổi lớn lao về bản chất hài hòa và đôn hậu của họ. Sự việc này thoạt nhìn qua luân lý, nó có vẻ như một sự phá sản nhưng nếu tìm hiểu một chút, nghĩa là có nghiên cứu rồi mới kết luận, thì một sự kiện lớn lao như vậy lại chỉ là một phần phản ứng rất tự nhiên. Tôi muốn nói là chưa bao giờ hai chữ “đơn giản” lại hợp lý và đứng đắn đến thế cho một sự việc có vẻ như rất phức tạp về hiện tượng. Điều này có lẽ chị còn hiểu rõ hơn tôi với gần mười năm chịu đựng đủ thứ thủ đoạn xấu xa của bọn Việt Cộng.
Tôi còn nhớ rõ lắm ngày cháu Hợp lên Bù Gia Phúc xin đến viếng mộ anh nhà. Hôm ấy chủ nhật, tháng mười hai ở trong rừng rét lắm, cái lạnh căm căm như vậy đối với người tù đã tương đối quen thuộc, nhưng với người… Sàigòn quả thật chẳng dễ dàng. Tôi hết sức ngỡ ngàng khi được thông báo có người nhà muốn gặp – vì sau lần thăm nuôi cách đây khoảng hai tháng tôi đã có quyết định sẽ không bao giờ để gia đình lên Bù Gia Phúc nữa, thứ nhất là tôi sẽ đào thoát với một người bạn khi có dịp thuận tiện, nhưng điểm chính là tôi không muốn người thân yêu mạo hiểm trên quốc lộ kinh hoàng.
Để tôi giải thích thêm với chị phần này.. Từ Phước Bình lên đến Bù Gia Phúc và xa hơn nữa là Bù Gia Mập hoặc Ban Mê Thuột chỉ có một con đường duy nhất – Quốc lộ 14, nếu không muốn đi xuyên rừng rậm với vô số thú dữ rắn rết, đôi lần lại có cả ông ba mươi rình rập và đặc biệt là những nhóm Việt Cộng được bố trí lẻ tẻ khắp nơi trong rừng già. Xe đò, năm thì mười họa mới dám vượt đoạn đường sau khi đã phải chịu hàng trăm ngàn yêu sách của đủ các tổ chức Việt Cộng thành thử những người đi thăm tù thường phải đi bộ bốn đến năm mươi cây số đường đèo để chỉ được hội ngộ với thân nhân trong ba mươi phút phù du.
Nửa giờ quý báu ấy dù chỉ đủ nhìn thấy mặt nhau và để làm những thủ tục nhận quà bánh, nhưng những người Quốc gia chúng ta đã chẳng ai quản ngại đường dài nguy hiểm, vì chị còn lạ gì tình cảm mặn mòi của đồng bào dành cho người lính miền Nam. Bao nỗi nhớ nhung, thêm vào đó sau một thời gian dài phải đối đầu với dối trá thường trực của chế độ, họ biết chỉ có thể tìm được chính họ khi gặp lại những người lính Quốc Gia đôn hậu, thân thương và hào hiệp.
Tuy nhiên khoảng tháng mười năm bảy mươi tám, trên đoạn đường ấy đã xẩy ra một chuyện thương tâm do hành động mọi rợ của bọn Việt Cộng… Một phụ nữ đi thăm nuôi chồng đã bị một toán cán binh Việt Cộng bắt vào rừng sâu hãm hiếp đến chết và cướp tất cả đồ đạc. Sau đó hai ngày, để xoa dịu lòng căm phẫn và chống đối của tù binh, bộ chỉ huy sư đoàn 7 của Việt Cộng buộc phải xử tử thủ phạm – hai lính “cụ” Hồ. Cái sự việc xử tử đồng bọn này được chúng rêu rao “làm bậy đều bị trừng phạt”, thực sự lại hàm chứa một thủ đoạn đê hèn khác nhằm tiêu diệt những người tù, lảng vảng bên quốc lộ với hy vọng có thể giúp đỡ thân nhân di chuyển các gói quà.
Sự việc xấu xa của bọn “lòng lang dạ thú” ấy đã được dấu diếm hết sức kỹ lưỡng vì trong một thời gian dài sau đó Việt Cộng đã cấm cản mọi việc thăm nuôi, dù chính chúng đã từng công bố “sau ba năm học tập, nhiều người tiến bộ (!) nên việc thăm nuôi rất dễ dàng.”
Suốt khoảng thời gian kinh hoàng, tưởng như trường kỳ “bặt vô âm tín” đó, tôi vẫn thỉnh thoảng được anh nhà cho biết một số tin tức “đặc biệt” do chính chị gửi vào. Thoạt tiên tôi “không tin”, bởi làm sao tin được khi Việt Cộng đã khép kín trại với nhiều toán cán binh mới được bổ sung tới, cộng thêm những tên chó săn được cài cùng khắp. Mãi cho đến một lần chính tôi được thấy chị dưới lốt một bà già mót củi ngoài vòng rào trại, tôi mới tự nhủ “người đàn bà này quả thật là một người đàn bà phi thường.”
Ngày ấy tôi đã nói với anh nhà:
“Tôi biết một cách không sai lầm là nhờ và do ai mà anh đã trở nên một người được toàn thể anh em kính trọng.”
Chính chị là người đã tạo dựng thành quả ấy. Nhân danh một người lính Quốc Gia, tôi vinh danh chị.
Sau ngày được phóng thích tôi còn được nghe kể lại nhiều thành tích khác của chị suốt từ tháng bảy năm một chín bảy lăm – chỉ một tháng sau ngày những người lính Quốc Gia bị mắc bẫy trong các trại tập trung trá hình.
Tình yêu thắm thiết chị dành cho anh nhà sau hơn ba mươi năm hương lửa, cộng thêm tình bạn cao cả đối với những chị em cùng cảnh ngộ còn dẫn chị tìm đến cả những sân bắn ở phi trường Biên Hòa để dò la tin tức về số phận những người cải tạo.
Di chuyển trên những mô đất chắn đạn hoặc ngay cả trên những khu phụ cận đều là việc làm tự sát, ai cũng hiểu như vậy. Là một người vợ lính chị lại còn biết cả những quy luật xạ trường – nhất nhất cẩn trọng mà đôi lúc vẫn còn những nguy hiểm bất ngờ – những trái đạn chưa nổ, mìn bẫy gài cùng khắp để cản ngăn người cùng khổ gom góp vỏ đạn tầm kế độ nhật. Đó là nơi duy nhất Việt Cộng bỏ ngỏ vì tin tưởng không ai ám héo lánh… thế mà chị vẫn đến và ở lại đó nhiều ngày vì chỉ ở đấy mới có thể quan sát sinh hoạt của người tù.
Ở vào lứa tuổi năm mươi – chỉ có chị, mình chị dám làm việc ấy.
Cái sự việc được mô tả ngắn gọn bằng vài hàng chữ đơn giản trên với mắt nhìn của tôi là cả một nghĩa cử cao đẹp, nó nói lên được tính cao thượng, nhân nghĩa, tình người của chị.
Với học vấn giới hạn của mình, tôi không sao tìm được trạng từ, tĩnh từ để nói lên đầy đủ đức tính cao quý của chị, ấy vậy mà tôi cũng đã e sợ một số người cho rằng tôi muốn tạo huyền thoại đấy thôi.
Có người bạn đời như chị làm gì mà anh không dám ngẩng cao mặt đối đầu bọn Cộng Sản. Với tôi, anh chị không những chỉ là những người can đảm, mà còn là tấm gương phản ảnh cái chân thiện mỹ của một cuộc hôn nhân lý tưởng.
Trong tập thể đông đảo của chúng tôi, ngoại trừ những tên ăn cắp và lạm dụng quyền thế – gia đình người lính Quốc Gia nào chả nghèo. Cái nghèo sau tháng tư bảy mươi lăm đã trở thành cái mạt, ấy thế mà chị vẫn tần tảo một mình gầy dựng đàn con nhỏ dại rồi lại còn giúp chồng giữ vững tinh thần trong tù và hướng dẫn bao bạn gái thoát khỏi những cảnh huống ô nhục nhờ vào ngành tiểu công nghệ đan lát giỏ, chiếu mà chị đã cống hiến biết bao công trình sáng tạo.
Mỗi lần nhắc đến chị, vợ tôi thường xác quyết: “Sao mà lại có người đàn bà hoàn toàn đến thế”.
Lời khen ngợi ấy của một người đàn bà dành cho một người đàn bà – nếu không phải mẹ ruột của mình, là một sự hiếm có nếu, không muốn khẳng định là không thể có được. Ấy vậy mà hầu như mỗi lần có cuộc họp mặt giữa những người đồng cảnh ngộ ở quê người này, “nàng” đều đề cập đến những việc chị đã làm như để nhắc nhở mọi người noi gương.
Người đàn bà Việt Nam vốn dĩ nhiều thiệt thòi, trường hợp của chị lại toàn nghiệt ngã… cái chết của anh nhà còn dìm chị vào đau đớn tột cùng, vậy mà tôi còn văng vẳng bên tai lời chị khuyên hôm nào khi tôi rời đất nước “không nên có sự so sánh giữa những điều bất hạnh, nếu có thì chỉ niềm đau mất nước là lớn nhất”.
Điều tôi biết rõ ràng hơn cả về chị là tính nhút nhát và mau nước mắt. Nhận xét này thấy qua việc chị giáo dục đám trẻ con được nghe anh tâm sự cái “ngày đó chúng mình” giữa anh và chị, thế mà sau cái tang chung của đất nước, chị đã hoàn toàn khác. Những công việc, phản ứng và lời khuyên của chị quả thật làm tôi hổ thẹn mỗi lần thối chí, ngã lòng, trước cuộc mưu sinh chật vật nơi quê hương xa lạ. Tôi cũng tự nhủ sẽ viết thư này đến chị như để tạ tội và hứa với chị rằng, ngày nào còn Cộng Sản, ngày ấy còn phải đấu tranh. Tôi nghe lòng nhẹ nhõm hơn khi thấu hiểu rằng cái đau đớn xót xa của mình chẳng thấm thía gì so với những người còn đang bị đọa đày trên chính quê hương mình.
Tôi cám ơn và xin nhớ ơn chị.
Trở lại ngày cháu Hợp lên Bù Gia Phúc… mới chỉ gần bốn năm xa cách mà biết bao vật đổi sao dời.
“Cái” Hợp đây ư?
Mái tóc ấy, cặp mắt ấy thì ngay giữa đêm tối cũng nhận ra chứ đừng nói gì ban ngày ban mặt.
Thì đúng là cái Hợp rồi chứ còn ai nữa.
Chỉ có điều là khuôn mặt bầu bĩnh và cái lúm đồng tiền đã biến mất để thay vào đó bằng một khuôn mặt xương xẩu tố cáo sự “phồn vinh” của chủ nghĩa xã hội sau ba năm trời xây dựng. Nhìn cháu co ro trong chiếc bà ba với khuôn ảnh của anh trên tay, tôi đã không cầm được nước mắt. Dường như đã lâu lắm, tôi không được khóc, bây giờ gặp dịp nó tuôn trào. Cháu Hợp cũng đẫm lệ, dường như cháu cũng không thể tưởng tượng được ông chú “bay bướm” ngày nào lại có thể tiều tụy đến thế.
Tên Việt Cộng trực ngày hôm đó có vẻ rất “hoan hỉ” trước trạng huống đau lòng ấy. Hắn biểu lộ sự khoái trá qua một lệnh “chắc nịch”:
– Này chị kia, có khóc cũng chỉ nửa giờ thôi, nệnh nà nệnh (lệnh là lệnh), còn anh đưa chị ấy ra mộ, tôi bắt đầu bấm giờ.
Hắn kéo cao tay áo như để khoe cái đồng hồ mới “hữu sản”.
– Bây giờ nà (là) mười một giờ.
– Báo cáo anh từ đây ra mộ vừa đi vừa về cũng đã một tiếng.
– Tôi không cần biết.
– Cháu có chút quà biếu ông cán bộ cách mạng.
Cái việc đánh rơi tờ giấy cụ Hồ nhìn thẳng (tiền giấy 50 đồng Việt Cộng tương đương với 25.000 đồng tiền cũ), đã cho chú cháu tôi tới ba giờ đồng hồ để viếng mộ anh.
Anh nằm ở một khu đất khá cao trên một ngọn đồi. Đất ở đây đỏ quạch và toàn sỏi, không một nhánh cây, trông trơ trụi đến tội nghiệp. Nằm ở đây anh có thể nhìn thấy toàn thể chung quanh… cánh rừng lồ ô bao la bát ngát, một con suối lớn chạy len lỏi giữa đám lá xanh, những mái tranh rải rác – đó là nơi cư ngụ của đoàn quân viễn chinh thuộc “quân đội nhân dân anh hùng… ăn trộm”, của cả những người tù – bạn hữu của anh.
Ỏ đây anh cũng còn có thể phân biệt được nơi cư ngụ, bạn thù rõ rệt. Vào ngày chôn anh, những người bạn tù đặt anh gối đầu ở hướng đông, như thế chỉ cần ngẩng cao lên một chút là anh có thể nhìn bao quát về hướng tây, ở đấy Sàigòn… có chị, các cháu và cả những chiến hữu ở nghĩa trang Biên Hòa nữa.
Ngay tại đồi sỏi ấy anh cũng có nhiều bằng hữu, hơn hai chục nấm mồ nằm ngay hàng thẳng lối. Vài người bạn tù khéo tay đã dùng những đốt lồ ô già để làm thành những bình hoa đặt ở đầu và chân mỗi ngôi mộ. Phần nhiều là các loại hoa rừng trông rất lạ mắt, thường chỉ tìm thấy ở những nơi rừng sâu nước độc. Đặc biệt ở ngôi mộ anh nhà, tôi lại còn thấy cả những cây lan nữa. Vẻ đài các toát ra từ những đóa hoa rừng cho thấy nét thanh cao không những chỉ của người tặng mà còn của cả người được tặng, riêng điều này ở đây tôi chỉ muốn xác nhận với chị các hành động của anh ở trại tù đã tạo ảnh hưởng sâu đậm đến mọi tù nhân. Cái khí thế đấu tranh ở khắp các trại tập trung, vào vài năm sau khi anh nằm xuống nói lên được cái khí tiết của người lính miền Nam ngay cả trong quãng thời gian tù đầy ở khắp các trại giam phải chăng đã khởi đi từ những đấu tranh tích cực của những người như anh nhà? Về ý nghĩ này thì tôi tin tưởng lắm, thứ nhất vì là người trong cuộc và đã được chứng kiến từ đầu diễn tiến dẫn đến công cuộc đấu tranh toàn diện, thứ đến là được ở cạnh anh nhà trong tất cả các cuộc biến động do một số bạn tù chủ xướng.
Nhiều người trong nhóm chủ trương cùng nằm đấy với anh, chẳng hiểu họ còn bàn soạn gì cho những ngày sắp tới?
Hai chú cháu thắp nhang cho tất cả, mùi hương thoang thoảng tẩn mạn khắp trong không khí, cái lạnh trên cao trong bãi trống làm se da thịt và khiến se thắt tâm hồn.
Nhìn cháu quỳ khóc sụt sùi trước mộ anh, tôi đã không sao cầm được nước mắt.
Sống và chết, giản dị như vậy sao ? Mới hôm nào giọng anh còn sang sảng quát mắng bọn sài lang, bây giờ đã nằm yên dưới ba tấc đất.
Sống là ở, thác là về, cuộc đời là thế, xem chừng như chẳng có gì phức tạp, nhưng riêng trường hợp anh nhà tôi vẫn cảm thấy có một điều gì uất nghẹn. Tôi đã được anh cho biết chương trình và diễn tiến về một cuộc đột kích ban chỉ huy của Việt Cộng ở Bù Gia Phúc.
Kế hoạch táo bạo đến nỗi tôi phải rùng mình sợ hãi, vì anh nhà sẵn sàng hy sinh tính mạng trong những phút đầu tiên, để chỉ mong đoạt thành một ước nguyện là một vài bạn tù thoát được ra ngoại quốc để trình bày với quốc tế sự dã man, tàn bạo của Việt Cộng áp đặt tại Việt Nam từ sau ngày miền Nam sụp đổ.
Trí tưởng tượng phong phú của anh nhà nghĩ rằng tôi cũng có thể làm công việc ấy… Ấy thế mà ba năm ở trên đất Tự Do tôi vẫn còn loay hoay với cuộc mưu sinh nhiều đe dọa và rồi còn chưa biết đến bao giờ mới thực hiện được trọn vẹn lời hứa với một người đã nằm xuống vĩnh viễn vì lý tưởng Tự Do, dầu rằng tôi cũng đã trình bầy với một thiểu số người những gì anh nhà căn đặn.
Và cũng trong chiều hướng ấy tôi viết một bản cáo trạng để cảnh tỉnh những ai còn lơ mơ về chủ nghĩa Cộng Sản, và sau đó thực hiện một loạt những công việc cần thiết nhằm mục đích nhắc nhở lớp trẻ như các cháu bé và cả một dân tộc đang quằn quại đau thương.
Trong lúc này tôi chỉ có thể làm được đến như vậy nhưng hiệu quả của chương trình thì lại đòi hỏi rất nhiều yếu tố và điều kiện khá phức tạp… đó là sự tiếp tay của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Cho đến bây giờ mọi công việc tiến triển khá tốt đẹp nhưng cũng mới chỉ là bước đầu hy vọng. Tuy nhiên nhờ vậy tôi cũng phần nào bớt được dằn vặt về những gì đã hứa với anh nhà và với chính mình.
Phần chị, có bao giờ thấy lại anh trong giấc mơ? hay anh đã hòa vào với chị để cùng săn sóc đàn con thơ dại? Đời tôi đã được chứng kiến nhiều chuyện kỳ bí, thế nên cái dự tưởng của tôi về anh chị chắc hẳn chẳng phải là điều vô căn cứ.
Thấm thoát mới ngày nào anh nằm xuống mà đã năm năm, trôi dạt nơi xa lạ cách xa quê mình đến một phần tư trái đất và không quên tình cảnh nơi quê nhà, ở đấy còn những ruột thịt của tôi, chị, các cháu và bằng hữu. Thư này lẽ ra đã được viết từ lâu lắm, nhưng tôi cứ lưỡng lự mãi, bởi chẳng lẽ lại than vãn với chị về những trở ngại còn đó mà đầu đã bạc, tay đã run. Mãi cho đến mùa hè vừa qua khi gặp hai cháu Hợp và Dũng tôi mới thấy trách nhiệm của mình còn nặng lắm, vì cái phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt được rất ít giới trẻ ngưỡng mộ và rồi còn nhiều chuyện đau lòng khác. Tôi đã hỏi các cháu về chị và gia đình, những gì nghe biết chợt khiến tôi đau xót khôn nguôi. Thế ra mắt chị đã lòa vì cuộc mưu sinh khốn khó, ngót nghét sau gần mười năm thống khổ dưới sự kềm kẹp mọi rợ của Việt Cộng.
Thoi thóp với những gói quà vặt vãnh ở một Âu Châu đang đà đi xuống rồi chị và các cháu bé sẽ ra sao?
Tôi thật tủi hổ với những nỗi khó khăn của cuộc mưu sinh thường nhật, đã không mấy thực hiện được những lo lắng hữu hiệu ngay cả với thân yêu ruột thịt, nên chỉ còn biết hứa với chị sẽ làm tất cả những gì có thể ngay khi có điều kiện. Tôi cũng sẽ liên lạc thường xuyên với các cháu để có dịp kể cho chúng nghe về người mẹ anh hùng của chúng.
Tôi tin tưởng thấy được tấm gương sáng của chị, các cháu sẽ tìm ra được con đường phải đi, nhằm chuẩn bị ngay từ bây giờ cho ngày trở về đất nước.
Phạm Trọng Phúc
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.