This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sơn cùng thuỷ tận. Hình ảnh ấy mang đủ sự đe doạ. Như ngày xưa người ta sợ hãi khi bị dồn đẩy lên vùng kinh tế mới, lạ nước lạ cái, đưa đầu trần, tay không tấc sắt, chống đỡ và đương cự với bao oan nghiệt vây bủa, thập tử nhất sinh.
Nhưng ngày nay, vì hoàn cảnh riêng tư đã xúi đôi kẻ chẳng ngần ngại lập ngôn “ta không vào địa ngục thì ai vào?”. Thiên đường thì mãi hiếm chứ địa ngục, ôi thôi nó bày ra nhan nhãn đó đây. Rừng rậm không dấu chân người thì bỏ qua đi nha, núi cao muôn trượng tuyết phủ ngàn năm cũng rứa; chúng không phải và không đúng với tâm trạng “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”. Thưa vắng khác với đèo heo hút gió, chó ăn đá gà ăn muối. Địa ngục cũng có năm bảy tầng, đừng dại thăm thú tầng quá sâu. Chúng ta đi là đi vậy chứ lòng chúng ta mong lắm ngày trở về. Cô dâu chú rể thường khởi đầu cuộc sống lứa đôi bằng tuần trăng mật. Họ đồng lòng chọn lựa một nơi chốn cực kỳ thú để đánh dấu kỷ niệm về sự kiện quan trọng trong đời. Qua rồi thời vàng son, mình bây chừ chuyện sống chết đến sát bên lưng hồi nào chẳng hay. Cần lắm một lần thay đổi không khí.
An email cho Bằng: Xét thấy địa phận nọ khá hấp dẫn. Máy bay bán phản lực đáp xuống phi trường nhỏ, xong thì có hai phương cách để bắc tiến: Một đi xe đò, hai là dùng thuỷ phi cơ. Dân cư thưa thớt, thị trấn gom chừng hai chục ngàn người, đa số hành nghề thuỷ sản, nổi tiếng về sản xuất lobster, mực ống, cá saumon, nghêu sò ốc hến đủ loại. Hình dung gió mang mùi muối bể, mát cái buồng phổi cách chi!
Bằng hồi âm: Mất bao lâu để đặt chân vào nơi khỉ ho cò gáy? Nghe kinh rạch sông ngòi biển cả đã thấy ưng bụng.
An viết, có bỏ dấu bộ chữ Việt hẳn hoi: Chừng bốn năm tiếng là tới. Tuy đang hè, khí hậu ôn đới nhưng họ khuyến cáo bạn cần mang theo áo ấm, áo đi mưa. Vé đang sale, hai người mất có 580. Mê tơi chưa? Bằng lòng nhé. An sẽ xí chỗ ngay. Muốn thực hiện thì đừng bàn tính dông dài, sẽ chẳng đi tới đâu cả. Bốc đồng vẫn có cái hay của nó. An đợi phút này đã lâu.
Bằng nghĩ không có chữ nào cô đọng cho bằng: OK.
Chốn này, mỗi người sẽ dùng phương tiện riêng để đến phi trường. Câm lặng ra đi vai mang ba lô, chẳng có song thân để rụt rè đi thưa về trình. Mẹ cha ở lại, con đi đây, chừng năm bữa nửa tháng rồi con lại về. Đó là xét riêng hoàn cảnh của Bằng. Không rõ An có gặp rắc rối, thậm thụt dấn liều qua sông? Mom đi ngoạn cảnh đỡ buồn, honey đừng trách cánh chuồn chuồn bay. Lồng son chim nhốt ai hay? Tía mày cà chớn chúa bày đau thương.
Bằng rảo một vòng, từ điểm tập trung những chuyến bay nội địa cho tới khu vực sãi cánh ra nước ngoài, đảo mắt qua về chẳng nhìn ra An. Sớm quá chăng? Mua một ly cà phê, buồn chân ra bên ngoài đứng thắp điếu thuốc. Hút thuốc có hại cho sức khoẻ bạn. Chuyện đó trẻ lên mười đều biết tỏng, cái nên nói cho trẻ tường là khói thuốc dìu đỡ, vực người hút đi qua nhiều tâm trạng hoài nghi, thôi bồn chồn, bớt buồn lo và mặc nhiên xem thường tới sự chuyển dịch có nơi hai cây kim đồng hồ. Khói huyền là đồng minh không bao giờ tháo chạy, trấn an cho những ai lâm vào cảnh đợi chờ thắt thỏm.
Giờ này mà vẫn còn hút thuốc? An hiện sau lưng, nói như trách cứ đứa vụng chùng tìm kiếm niềm vui riêng. Bằng ngó người đại diện cho sở chăm lo sức khoẻ đồng bào: Nếu An chưa xuất hiện thì e sẽ châm sang hút điếu khác. Trong khi chờ dụi tắt mẩu thuốc cụt, Bằng nhớ tới một chuyện tiếu lâm: Trong thương xá, một gã đàn ông đến bên cô gái trẻ đẹp: Vợ chồng tôi bị lạc nhau, cô có thể cho tôi đứng gần nói năng đôi ba câu? Vợ ông đi lạc thì mắc mớ gì tới tôi? Là như thế này thưa cô, rằng mỗi khi tôi đứng cạnh một ai xinh đẹp thì vợ tôi liền xuất hiện ngay tức khắc.
An cười: Có nghĩa là khi mình kiếm không ra cô nào trẻ đẹp thì liền moi thuốc ra hút? Bằng nhai thỏi kẹo cao su cho thơm miệng: Ừ, cả hai cũng quan trọng, lợi hại ngang nhau. Sao đến trễ vậy? Thì đàn bà mà. Phụ nữ bao giờ cũng sửa soạn lề mề hơn đàn ông. Bằng ngó xuống thứ hành lý nặng nề có tay kéo ở trên có bánh xe bên dưới. Cồng kềnh thế, chưa tính tới cái túi xách nặng oằn vai kia? Đàn bà mà, đồ đoàn lủ khủ nhiều món cần thiết hơn tư trang đàn ông, đâu thể ra đi không mang ba lô quần áo cứ thế cắp nách. Vô sản cũng chừng mực nào đấy thôi!
Cả hai tới quầy làm thủ tục đổi vé lên máy bay, gửi hành lý. Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau. Mình đi chơi cũng y như đi ăn đám giỗ, chớ lần khân làm xôi hỏng bỏng không. An chỉ mua a-lê mà không rờ-tua, vé lẻ chẳng khứ hồi vì chưa định được cảnh sắc chốn đó, nếu nó tẻ nhạt quá thì mình đi qua thị trấn lân cận. Vui thì ở nán dài ngày. Sao đi xa mà mang theo áo quần ít thế? Còn gọn nhẹ hơn lính hành quân vào khu hiểm địa ra đi chẳng biết ngày trở lại? Bằng bắt chước cách định nghĩa của An: Đàn ông mà, ai lại mang theo phụ kiện lôi thôi như phụ nữ. Vậy thì có trúng gió cảm mạo nhức đầu chớ nắm lấy tay phụ nữ mà mè nheo. Có thủ theo chai dầu dùng để cạo gió không? Có chứ, không trúng gió cũng đè xuống cạo cho bỏ ghét.
Máy bay hai chong chóng tha hồ gầm rú vẫn trồi lên trụt xuống giữa tầng không tuyệt chẳng vướng một áng mây lững lờ. An nói: Có tin được không, trời xanh ngó vô biên vậy chứ cũng định ra đường đi lối về, chớ loạng quạng đi trật phi trình mà xâm phạm đường bay kẻ khác. Thiên la địa võng là thế huống chi nhân gian nhỏ bé dưới kia. Vậy cho nên mới bày ra số phận, mà đã gọi là số phận thì buộc phải gò bó trong vòng dây của định mệnh, khó cưỡng chống, dễ buông xuôi. Thây kệ, tới đâu hay đó.
Tiếp viên hàng không mang đến cho An bao đậu phộng rang, chai nước suối. Đưa cho Bằng cái bánh ngọt nhỏ không thể nhỏ hơn đi kèm ly cà phê lớn bằng quả chanh, tất cả đi vô miệng mà chẳng dính kẽ răng. Chỉ có vậy. Đòi hỏi gì thêm? Ngồi vừa nóng đít là ba bánh cao su của máy bay thò ra cắn xuống đường băng rồi. Lâu lắc dài ngày cho cam. Ăn uống lấy thảo, bận sau nhớ tìm tới hãng hàng không chúng tôi nha. An toàn, nồng hậu, chu đáo. Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi.
Đúng là thay đổi không khí, chốn kia nóng nực mà vùng này mát mẻ. Phố cũ nồng mùi xăng mà thị trấn đìu hiu nơi đây đậm hương mùi biển mặn, mùi rong rêu, mùi hoang dã, mùi mốc meo, mùi xa vắng. Một thứ mùi bỏ quên hơn ba chục năm giờ mới lần khân ùa tới đùa nghịch trước mũi. An đọc địa chỉ khách sạn khi đóng cánh cửa taxi. Mình ở tạm để dưỡng sức, mai mốt mới ngược lên phía bắc đồng không mông quạnh, chẳng ai hay biết, riêng chỉ còn mình với ta. Bằng nhìn ra vẻ khác lạ ban đầu, người lái xe là một phụ nữ, giấy phép hành nghề có dán ảnh đặt cạnh đồng hồ tính tiền.
Mình từng thấy phụ nữ điều khiển tàu điện ngầm, lái xe buýt, xe ủi tuyết, đứng mũi chịu sào mang con đò sang sông… An ngắt lời: Khó khăn còn chơi được huống hồ chiếc taxi nhỏ bé dễ nuốt này. Bằng nhìn qua An, người bạn đường đúng nghĩa, bạn chỉ mươi ngày nửa tháng: Hạt tiêu nhỏ nhưng hạt tiêu cay, phải lường trước những tình huống tồi tệ mà bọn khách ngồi sau sẽ gây ra, kể cả an nguy tới tính mạng. An đưa ngay một kết luận: Có nghĩa là chốn này mức độ tội phạm không cao. Đàn bà luôn thế thân cho những gì an lành? Bằng cười thành tiếng: E là vậy. Khi đã yêu thương thì sóng gió bầm dập nào vây hãm cũng xem là chuyện nhỏ.
Thỉnh thoảng người lái xe đặt mắt vào kính chiếu hậu như tự tìm một lời giải thích, chẳng lẽ cặp vợ chồng này đi du lịch? Thăm bà con cũng không đúng? Tìm kiếm việc làm lại sai nốt. Chúng đang nói thứ ngôn ngữ nào thế? Nhật? Đại Hàn? Thái Lan? Không, người Tàu e nhiều phần đúng? Ở đây có một nhà hàng China phô trương thanh thế tới gai con mắt. Hầu như hang cùng ngõ hẹp nào cũng có giống dân đó chen chân? Trong phim ảnh về miền viễn tây Hoa kỳ, “Bắn chậm thì chết” chẳng hạn, cũng chen cài vào thước phim cảnh sinh hoạt của một gã Tàu làm nghề đóng hòm, vợ con gã thì bận ra ngoài thị trấn, phu phen cày job dựng xây đường rầy xe lửa. Bà nội thì mở tiệm giặt ủi. Toàn gia mần ăn rất mực khấm khá.
Qua internet, dòm ngó hình ảnh xong, An đã đặt phòng ở khách sạn mang tên Blue Fish. Rồi An thêm: Nó được gắn ba sao. Mỗi ngày họ sẽ cho mình ăn điểm tâm. Khi xe thắng đứng trước một căn nhà, bà lái taxi nói: Đến rồi. Bằng nhìn ra, nếu nó không treo tấm bảng gỗ có vẽ hình con cá màu xanh dương trồi đầu lên khỏi ngọn sóng thì rõ là bà ta đã tới sai mục tiêu. Nó chả mang vẻ một khách sạn, không nốt motel. Nó là một căn nhà hai tầng, bít bùng, kiểu dáng gần trùng một trụ sở cảnh sát vừa được tân trang, chưa hoàn thiện. Một mặt thấy an toàn, mặt khác hình dung ra sự thúc thủ khi bị giam nhốt.
An vừa ly dị chồng xong. Đứa con trai lên đại học, ở hẳn trong ký túc xá. An rộng cẳng, nhưng An buồn. An muốn tìm kiếm niềm vui về chiều, thích đến một nơi xa xôi chẳng ai biết số phận của mình, nhưng An là đàn bà, An cần một kẻ đồng hành. Bằng là đứa hội đủ mọi điều kiện, hắn vừa nghỉ hưu non, hắn than không có vợ sai đi chợ, cũng chẳng có bầy gà tục tác bới móc để mang chổi ra vườn sau đuổi xua. Nhàn cư đến chạnh lòng. Nhưng vấn nạn tiền bạc của hắn thì quá sức eo hẹp, muốn xách đầu lôi cổ hắn đi thì An phải lo từ a tới z. Để chắc ăn, An thuyết pháp thêm: Vô tư đi nha, thư giãn tới bến nha. Rồi An hát “cuộc đời đó có bao lăm mà hững hờ”. Bằng yên lặng như tờ, chẳng biết đường mà rờ, người ta lên kế hoạch sờ sờ, và người ta đang đợi chờ. Nghe lời bổn cô nương đi mờ, các hạ đừng cách xa đôi bờ. Bằng đành ô kê một phép. Thuận lòng cũng có chia ra hai bậc: Một bậc là khẩu phục mà tâm không phục, nghe lời vì ngại bả ngầy, làm cho có chứ thực bụng thì bất mãn lắm. Bậc khác là khi nghe đâm mở cờ trong bụng, sướng như được gãi vào chỗ ngứa. Bằng sướng là chuyện ắt có và đủ. Và Bằng cảm động, thời nay chẳng còn ai tử tế được thế, vì coi trọng đồng tiền nên vợ chồng mãi cơm không lành canh không ngọt. Chẳng phải xem đô-la là cỏ rác nhưng An biết cách vung tay quá trán. Trán không nhăn nếp toan tính nào bởi trán ấy đã nghĩ qua, rằng Bằng là thằng bạn cũ dễ chơi, hắn chưa hề gây ra một lỗi lầm nào cả. Hắn không muốn vấy bẩn vào tình bạn, hắn ghét lợi dụng. Và sau hết, hắn hồn nhiên, chẳng tra vấn lắm lời.
Phòng An mướn khá rộng rãi, có hai giường đặt song song. An chiếm giường nằm gần chỗ vệ sinh, giường còn lại kê sát cánh cửa che màn, Bằng kéo tấm vải dày qua bên để lộ một khúc sông vắng đầy lau lách chẳng thấy lối đi xuống bến. Trời chiều, những bóng đèn vàng thắp đó đây, tuyệt không nghe một âm thanh nào dấy lên. Bằng mở TV, Bằng cần tiếng động chen vào trong bốn bức vách. Bằng không hình dung được loại tình cảnh mang thứ đánh đố gay cấn về một cách cư xử vẹn toàn. Sao An lại chọn phòng có hai giường? Dù không đồng sàng dị mộng vẫn có thể gọi là ngủ chung buồng. Nếu có đặt ra một biên giới thì khoảng cách hơn một thước nọ rất dễ xé rào xâm phạm hiệp ước đình chiến, lấn đất dành dân, bành trướng lãnh thổ, và rồi đắp chung chăn mới biết có rệp. Nó cắn cho phờ người, một loại ngứa ngáy không hề có thuốc điều trị.
An đi tắm trước nghe. Bằng không trả lời, vật người xuống giường, nằm vòng tay gối đầu. Truyền hình phát sóng chỉ có ba băng tần. Một phim hoạt hình, một hài kịch và một thế giới động vật. Bằng theo dõi hình ảnh một con sơn dương tách đàn chậm rãi xuống sông uống nước chẳng để ý có thân gỗ mục đang lặng lời trôi tới gần. Bố mẹ trên bờ gọi con chẳng kịp, con giao mạng cho mụ phù thuỷ cá sấu gớm ghiếc vừa hả họng táp lấy đôi chân non yếu. Sóng gió ba đào đục câm màu bùn. Vùng vẫy, hoảng loạn. Điểm danh bầy đàn ta như vậy lại thiếu hụt một miệng ăn. The thé gọi nhau, con ơi là con. Chúng bây nên xem đó mà làm gương, ta về ta tắm ao ta dù trong dù đục ao nhà… không biết có an toàn chăng? Nước mắt (cá sấu) rơi bên dòng sông oan nghiệt.
Bằng có một chứng bệnh, nếu có thể gọi đó là bệnh tình, canh khuya Bằng luôn ngủ không tròn giấc, manh múm từng giấc ngắn dù chẳng gặp ác mộng. Bù lại ban ngày, vào giấc trưa chẳng hạn hai mắt tự động ríu lại, nhất là khi theo dõi phim ảnh trên màn hình TV. Phim cấm trẻ em, phim hành động súng nổ liên lồi kỳ trận cực kỳ gay cấn cũng chẳng đủ lực đánh thức Bằng. Ngủ là ngủ, chỉ có vậy thôi. Ngủ bất biết cha già mẹ yếu, hả họng ra ngủ, ngủ như một baby. Và như vậy, An đang tắm, An lau mình lau mẩy, An thay đổi áo xống… mấy thứ lẻ tẻ đó chẳng can dự vào căn bệnh ngủ bù của Bằng. Đêm qua Bằng không ngủ, chiều nay Bằng ngủ bù. Li bì, y như một thứ trái cây bị rụng cùi thối cuống. Rơi xuống, lăn lóc, vô tri giác.
Khi Bằng thức giấc, chương trình thế giới động vật tường trình về cách sinh tồn trong rừng sâu nước độc đã chấm dứt. Truyền hình vẫn sáng màn ảnh, giờ này có hai người đàn ông ngồi trên ca nô đang khoe những con cá mà họ câu được, to có nhỏ có. To thì bỏ vào xô mà nhỏ thì quẳng xuống lại cho sông hồ. Có ông nói chữ fuck khi sơ ý bị gai nhọn của cá đâm tay chảy máu, xong đưa bàn tay vào miệng mút lấy mút để. Dơ hầy, tanh tưởi, ăn ở kiểu gì thiệt mất vệ sinh. Bằng dòm qua giường bên, lạnh ngắt, chăn nệm chẳng có một vết nhăn nhàu. Bằng đi vào nhà vệ sinh, trống trải (không dấu chân An). Đứng đái, rùng mình, chẳng rõ bạn đường đã bỏ trốn góc kẹt nào? Bằng nhớ lại thứ cảm giác hụt hẩng mà ngày bé thơ xưa cũ từng gặp phải, thức giấc không thấy dáng mẹ hiền trong căn nhà vắng, lo âu khiến phải khóc bù lu bù loa. Khi ấy, tự dưng thấy mình quá đỗi nhỏ bé, bơ vơ giữa cuộc đời rất ư ghẻ lạnh. Và mẹ đi chợ về, lêu lêu lớn sầm đầu mà không biết hổ ngươi. Mẹ vắt khăn mát lau “mặt mèo”, mẹ trao tay ly nước mía xay. Người mẹ đầy cả mùi nắng, chiếc nón bài thơ không giúp cho những sợi tóc bớt rối nhàu. Nhớ bài công dân giáo dục lớp vỡ lòng: Thương mẹ con đặt ở trên đầu. Đặt lên đó vì diện tích trái tim vốn nhỏ, nó chứa đựng không hết hình bóng lớn lao mà thượng đế chỉ nhào nặn ra vỏn vẹn có một, không hai.
Và An về, rón rén mở cửa phòng, lách thân vào, cố đóng làm sao mà đừng phát tiếng: Ủa, thức dậy rồi à? Có mua cho hộp cơm đây này. Người An thơm nhẹ mùi nước hoa và thương An, Bằng chẳng biết đặt ở đâu. Có thể đặt trên bụng? Bụng đang đói, bụng nhớ cả ngày mới dộng vào được cái bánh ngọt lớn cỡ một vành tai. Trái tai An có đeo chiếc vòng kim loại, nó khiến cho mặt An trông trẻ ra. Gái một con trông mòn con mắt, đó là bàn tới gái ấy vừa đẻ con xong, chưa giã biệt xuân thì. Khen An kiểu đó sẽ nghe An nói: Không dám đâu. Nước nôi gì nữa mà ham!
Bày hộp cơm trên bàn, đi kèm đôi đũa nằm trong bao giấy và cái muỗng nhựa: Ăn đi, kẻo nguội. Vừa ăn vừa nghe An kể chuyện lạ. Bằng nhìn hàng chữ đỏ Win Chou in bên ngoài, bên trong nêm cứng những hạt cơm chiên màu nâu bóng. Có thể là Dương Châu, có thể là Tiều Châu, có thể Thượng Hải, có thể Bắc Kinh, nhưng không trật vào đâu được Win Chou đích thị là nhãn hiệu của Tàu. Ai đã bày ra một nhận xét đầy sai quấy, vọng ngoại: “ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật”? Sao không là ăn phở Bắc, nhà ở trong Nam, lấy vợ miền Trung? Bằng chẳng biết quê quán đích thị của An, hai đứa quen nhau hồi học chung lớp trên Đà Lạt. Là cao nguyên tươi mát, chừng tách biệt ra Bắc Trung Nam, giữ lấy một bản sắc riêng biệt. Và ở An luôn thu cất cả gia tài toàn chuyện lạ, Bằng vẫn tin là An không hề đặt điều.
Hai đứa ăn chung một hộp cơm?
Không, An ăn rồi. Hồi nãy xuống quầy tiếp tân tính hỏi chỗ thuê xe bất ngờ đụng mặt một người quen cũ. Hoài nghi một chốc, bán tín bán nghi chừng chục phút mới dần nhớ ra Chức, người mà thuở xưa từng gây tiếng vang, được đăng ảnh lên tờ nhật báo. Hồi mới sang đây, Chức đứng sắp hàng trong nhà băng, sáng hôm đó một gã bịt mặt tay cầm súng đi vào cướp một bao tiền, chẳng rõ bằng cách nào đó mà Chức đã vật ngã được tên cướp và với sự hợp sức của ông bảo vệ chẳng có vũ khí, họ trói giữ được gã tội phạm. Chức trở thành anh hùng của thành phố, nhận được bằng khen thưởng của toà thị chính đồng thời ngân hàng đó đã ký một tấm ngân phiếu trao tặng đứa tị nạn vừa mới nhập cư.
Mình có nghe vụ đó. Hắn mở một tiệm tạp hoá đâu chừng ba tháng thì đóng cửa. Đúng là nhân vật nọ không? Giờ này hắn làm gì ở chốn heo hút này?
Lấy vợ Tàu và Mít-tơ Tommy giờ đây làm chủ quán ăn Win Chou. Ngoài ra, ông Tommy ấy còn đứng ra trông coi một cơ sở giặt giũ lớn, ký hợp đồng với khách sạn này bao thầu chuyện hấp tẩy chăn màn khăn các thứ. Chức, hay Tommy có nhã ý sẽ mời chúng ta ngày mai đi khám phá những nơi đặc biệt quanh đây.
Hữu duyên quá. Mấy chục năm mất tăm mất tích sao tự dưng phút đầu lại tương ngộ nơi đây? Tưởng rằng đi về chốn chẳng ai hay biết, nào ngờ “oan ôi ông địa”!
Đang mang lòng ngờ vực tới An sao?
Không biết. Cũng có thể. Như trước đây, mình từng băn khoăn về trường hợp của Chức. Hình dung tới cảnh tên cướp kia mãn hạn tù, hắn sẽ tìm cho ra đứa làm hắn phải sa cơ để trả món nợ ngày nào.
Xem TV cho lắm! Bị phim ảnh đầu độc rồi đó. Chức làm ăn phát đạt và Chức vẫn biểu lộ sự niềm nở chân tình khi nhìn ra An lạc chân đến đây. Khi người ta đã có lòng thành, mình không nên từ khước thứ cảm tình ấy. Biết Chức nói sao không? Ôi mừng vui quá! Tha phương gặp cố tri.
Cố tri? Nếu An ngại làm mích lòng cố tri thì hãy đáp ứng những yêu cầu nọ. Riêng mình… ta dại ta tìm nơi vắng vẻ.
Bằng đi tới mở cửa: Mình ra ngoài đường hút điếu thuốc.
Ở sau quầy tiếp khách có người con gái ngồi đối mặt vào màn hình computer. Cô cất đầu mở môi cười khi thấy Bằng đi xuống. Bằng cười đáp trả, và lại gần dựa thân vào quầy: Từ cửa phòng tôi ngụ nhìn ra bên ngoài thấy một khúc sông, cô có thể bày tôi cách xuống bến? Ồ, thực chất nó là hồ, thưa ông. Dễ đi lắm, ông ra cửa thì quẹo trái, tới ngả tư lại quẹo trái, mất chừng mười phút ông gặp phải một cái công viên. Hồ đó nằm chỗ tận cùng. Cảm ơn cô. Không có chi, nếu ban ngày thì ở đó người ta cho thuê thuyền độc mộc để mình có thể tự chèo chống. Giờ này thì… coi chừng bị muỗi đốt.
Cô này có khiếu ăn nói lại vui vẻ rộng lòng với khách. Bằng nghĩ, vài năm sau mình trở lại chẳng biết cô còn nhận ra mình và gọi là cố tri? Ngọn gió nào đã mang anh tới đây? Theo lời chỉ dẫn kèm với cánh tay vung ra chỉ trỏ phương hướng của cô ta, Bằng chậm rãi cất bước. Đi mỗi lúc một nghe gần âm thanh vỗ về của con nước xô bờ. Chẳng biết đã mấy giờ? Trăng không thanh nhưng gió mát. Trời nhờ nhợ chẳng sáng chẳng tối, thứ màu sắc vây chắn những bãi bốc lắm nguy nan để chẳng mấy lâu trong tự điển phát sinh ra từ mới: Thuyền nhân.
Tuy gọi là hồ nhưng nó lớn rộng hơn sông ngàn lần. Cô gái nào lên đò sang ngang e phải mất lắm ngày phiêu bồng mới sang tới, kịp làm dâu bên chồng. Không bến bờ, ngóng về quê mẹ nước mắt lưng tròng chẳng chịu rời mi cay. Bao la, bát ngát là thế thì ruột phải đau tới 99 chiều. Một chiều nào trời làm cơn mưa, khóc đủ trăm chiều ngẩng ngơ xứ lạ trong nhờ đục chịu.
Bằng đi xuống, đá dăm, hòn cuội, viên sỏi cựa mình dưới chân nhộn nhạo, phải băng qua nó mới gặp phải bờ cát ẩm. Hồ có sóng và nước hồ lạnh ngắt chăm chỉ xô vào từng đợt. Thăm hỏi lời rì rào, nhẹ như hơi thở một người tình thủ thỉ bên tai, bất tận thứ ngôn từ không nên bạch hoá. Tự dưng Bằng nhớ hai đoạn trong bài thơ Hải Phận của thi sĩ Tô Thuỳ Yên:
Từng chút vỗ về, từng chút một Em tạt vào anh rồi rút đi… Thương tích chẳng lành chan muối xót Bào sâu thân đá, nước tay ghì
Anh sống làm quen cùng cái chết Liếm lấy mặn mà trên đau thương Chìm mãi xuống em và mất tích Như mặt trời rã trong nước loang.
Bằng khum tay mồi lửa một điếu thuốc. Lại châm đỏ điếu thứ hai. Một điếu ngậm ở bờ môi khô, điếu kia cắm ngược đầu vào bờ cát ẩm. Ở tư thế quỳ gối, Bằng nói thành tiếng gửi ra trùng khơi: Mấy mươi năm anh mới có cơ hội được đối mặt với một con nước. Nếu nó gầm thét với lượng sóng cao hơn đầu người thì nào khác gì biển mặn trùng khơi. Đại dương bạc ác soán đoạt lấy thi thể em, chôn em vào một ngôi mộ di động. Đôi khi anh ngu dại tự hỏi, giữa hai ta ai là kẻ kém may mắn? Anh câm lặng. Thương mẹ anh đặt trên đầu, thương em anh nhốt chật vào buồng tim. Không một ai hay về thứ kho báu chôn chặt ở chốn khuất lấp ấy. Mỗi đánh động co thắt của tim bơm máu mãi tuần hoàn nhân ảnh sủi bọt em mang. Anh vẫn ở vậy từ khi lên bờ bình an cho đến phút này. Anh là con chim cánh cụt chẳng muốn được chắp cánh bay xa. Em vắn số và anh tật nguyền.
Gió hút mau điếu thuốc, lập loè rồi tắt hẳn. Bằng ngồi bệt xuống cát. Không một con tàu nào đi ngang. Không một xác cá dạt tấp vào bờ. Không rong rêu, không vỏ sò, không ốc mượn hồn. Chẳng rõ hơi nước hay sương giăng khiến Bằng thấy lạnh. Điệp khúc mà hồ tạo ra đơn điệu, nhưng lẫn vào trong Bằng tưởng như tiếng mẹ gọi đâu xa: Bằng ơi, về ăn cơm. Hai người đàn bà Bằng yêu quý đều đã mất, mỗi người qua đời một cách khác nhau. Sao em chẳng gọi anh một tiếng? Giữa thinh không, một vì sao vụt bay ngang. Ôi, sơn cùng thuỷ tận!
Ông ta khoảng ngoài năm mươi, tôi áng chừng vậy. Tôi chưa từng ngó ra lão giữa thanh thiên bạch nhật. Nghề của tôi chỉ tiếp xúc với hạng người tà đạo, bọn dạ hành lấp liếm chuyên đi săn đêm. Ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh. Hỏi nhau tới nhan sắc, tuổi tác, ngoại hình… là xem như chơi khó nhau. Làm sao trông rõ, xem mặt mà bắt hình dong?
Không biết tên. Nghe bọn đi cùng gọi tuỳ tiện: Anh Hai, khi thì Đại ca, có lúc ông Thầy. Thi thoảng nghe kêu Thủ trưởng, lắm bận lại Sếp. Những kẻ đến đây thông thường chúng mang biệt danh hoặc bí số gì đấy. Chúng dấu nhẹm tên tuổi, an toàn để ở nhà cho vợ con cất. Chùi mồm sạch sau khi ăn vụng, đă đành, lại thống nhất việc giữ kín hành tích thân phận. Mèo dấu cứt thì kín đáo cũng tầm cỡ ấy thôi. Biết chết liền! Tiền bạc hở? Đại gia ư? Lão ta là loại ngoài rìa, không chịu để cho kẻ khác sắp hạng thứ lớp. Một quan chức cán bộ, thế lực của lão ở địa phương nầy buộc người ta phải thay đổi tư duy cũng như mọi định nghĩa về sự vật. Đen có thể biến thành trắng trong nháy mắt, giả dụ vậy. Nghe đồn đãi, một bà mẹ, đêm hôm có thể mang chân dung vô hình tướng của lão ra để doạ dẫm trẻ thơ, làm câm họng tiếng khóc nhè, khát sữa. Hơn cả ông kẹ!Ông ưa đổi thay, thậm tẻ nhạt nếu cứ mãi nhìn một nhân dạng, một hình tướng. Ông bảo thế. Cực chẳng đã, sau khi đã trải nghiệm qua, đã đi giáp vòng những lối mòn, ông chỉ định đứa nào tương đối có thịt da nhất và gợi ý với má mì: Muốn kinh doanh một nhà hàng đặc sản, chí ít cái tấm thực đơn của quán ăn ấy phải không dưới mười hai hạng mục để chiều chuộng khẩu vị khách khứa, đó là chưa kể tới món khai vị hoặc đôi ba thứ dùng tráng miệng.Tôi từng là món ông dùng để khai vị, thứ ông xơi lai rai đêm dài lắm mộng cũng như làm cú tráng miệng sau cùng trước khi dắt tăm vào giữa đôi môi thâm dầy háu đói. Nói chung là đéo sướng. Một khứa lão trọng tuổi hơn cả bố mình đang dày xéo mình… Buồn. Nhục. Có cái an ủi, dẫm chân vào nghề bạc ác này thường chẳng trụ được lâu. Đôi ba năm nhan sắc tàn phai, người chảy nhão; phải tự tìm đường rút lui nhường đất cho bọn nhí, em út mới lớn tới chiếm đóng điền thế. Mấy ông nội xã hội đen đi lại trong giang hồ cũng từng đưa ra một lập thuyết tương tự: Sóng sau xô sóng trước, phải tự lượng sức mà rửa tay gát kiếm, tìm chốn quy ẩn. Buông đao xuống hoạ may thành Phật!
2.
Bà bán cơm bụi đường Đồng Khởi:
Trước, có chút nhan sắc, có ngoại hình khá bắt mắt và hiền thục ngu ngơ như gái quê, tôi được tuyển làm phục vụ viên trong quán nhậu uy tín nhất thị xã, quán “Sương Sương MàTới Bến”. Có thể người đời đã đánh giá, đã nghĩ sai về đội ngũ lao động như bọn tôi. Cũng có thể do bởi tôi điên rồ, tôi dại khờ, tôi dở hơi, tôi té giếng nên đã mù quáng lỡ tay phạm thượng. Đêm đó, ông ta đi cùng đám người chộn rộn trong cơ quan đến quán đánh chén ăn mừng thắng lợi về một hợp đồng béo bở nào đấy vừa bút sa gà chết. Tôi mang bia ra, ông ta chồm người qua mặt bàn để thò bàn tay hộ pháp tới bóp vú tôi. Ma nhập hay sao ấy, phản ứng điện giật là tôi đã tạt nguyên cốc bia vào mặt đương sự. Hậu quả là tôi đánh mất tương lai, nhân thân xấu, lý lịch đen để biến đổi thân phận, đầu thai sang kiếp khác. Tôi thành tâm vào chùa thắp nhang cúng vái mong giải oan nghiệp chướng. Sư bà an ủi: Mô Phật! Chưa tù tội nhục hình chết chóc là đã may. Có căn tu chăng? Ăn hiền ở lành chăng? Quới nhơn, người khuất mặt khuất mày dõi trông phù hộ chăng?
3.
Hoạ sĩ Hoa:
Bắt đầu từ Festival Huế, năng nổ tham dự hầu hết những cuộc giao lưu văn hoá cùng bè bạn thế giới đổ về tham quan, hăng say đi thực hiện loạt sáng tác tranh đường phố, tôn vinh và xiển dương nét đẹp đặc trưng truyền thống của dân tộc, tôi bắt đầu tạo dựng chút tên tuổi; được những cơ quan tài trợ ưu ái đặt cho danh hiệu: Cành phượng đất Thần kinh.Một ngày đẹp trời, sau buổi bàn thảo sơ bộ có tính đại cương ở nhà hàng đặc sản “Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”, tôi được xe ô tô con rước về căn biệt thự tiền tỷ trồng nhiều cây cao niên thâm u ở vùng ngoại ô tịch lặng mà đất ở đấy đang nằm trong tầm nhắm của các đại gia chuyên làm đảo điên chuyện rừng vàng biển bạc. Khác với những chẩn đoán thường vô căn cớ, thiếu cơ sở về những ông quan tai to mặt lớn, thực bụng tôi rất an tâm khi được diện kiến gia chủ, người có thời làm bí thư tỉnh uỷ và một dọc những chức phận đi kèm nghe thót tim. Hồng hào, tươi nhuận, vui tính, xuề xoà… Ông không hề cho người đối diện thoáng mọc vu vơ cái cảm nhận hồ đồ, rằng sáu chục tuổi thì còn nước nôi gì để tạo dáng nhanh lẹ cường tráng thậm sung như tớ đang hiển thị rành rành. Không tuổi tác, phương phi là một từ khác nhằm tô đậm thần sắc linh hoạt lên người tôi đang hầu chuyện. Ông có lối nói thật ấn tượng, quả quyết, chủ động, chẳng vòng vo, trấn áp đối phương. Đó là ngôn ngữ rổn rảng của kẻ đầy quyền lực và kẻ ấy chừng như chưa hề tạo ra sai lầm trong suốt quá trình từ hạ tầng cơ sở leo dần tới thượng tầng kiến trúc. Một sự tự tin thái quá, chủ quan cả vú lấp miệng em hệt như tấm băng-rôn đỏ chói lọi treo mắc cửi phố phường: Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng muôn năm! Muôn năm hay muốn nằm? Ông ngả người xuống ghế, chiếc ghế lớn rộng khảm xà cừ, gỗ lên nước bóng lộn với vô số hình phù điêu chạm trổ công phu. Ngai vàng của hoàng thượng chưa chắc được hoành tráng tựa thế. Long sàng e cũng kíp nhường ngôi. Ông ngó tôi, từ đỉnh đầu xuống tới gót chân, dừng sâu ở diện mạo, chú mục tới khuôn ngực nhô ra những nhịp đập thất thường. Theo hợp đồng, tôi sẽ phải thu mình trong căn biệt thự trống trải ấy, ngắn hay dài ngày tuỳ vào thành quả lao động nghệ thuật của tôi. Tôi sẽ phải hoàn tất hai bức tranh sơn dầu kích cỡ khác biệt. Nhỏ: Chân dung. Lớn: kích thước thật, y hệt con người bản lai diện mục ông mang. Và ông muốn đi thụt lùi vào thời tiền sử, giai đoạn khỉ vừa lột xác thành người, nghĩa là trần trụi, nghĩa là tranh nuy, nghĩa là dơ dáng dại hình, nghĩa là chẳng có gì che đậy. Tranh vẽ phải hơn máy chụp hình, theo đòi hỏi của ông. Ông làm sáng tỏ: Phản ánh khách quan là nhiệm vụ của quang khẩu mở, đóng, chụp bắt, thu hình. Rất trung thực nhưng thiếu hẳn cái hậu cảnh phông màn đằng sau khi mình tha hồ muốn dàn dựng thoả chí. Tôi khoả thân ung dung tự tại phía trước bỏ quên sau lưng cảnh một con rồng bay ngang mặt biển vờn nguyệt giỡn mây. Đặng không? Nhắm ăn nổi không? Ý tưởng chủ đạo là thế nhưng Hoa có quyền thêm bớt những tiểu tiết để bức tranh hiển lộng một uy lực siêu khủng. Người xem dẫu gà mờ chẳng thông hiểu ẩn ngôn của hội hoạ vẫn có thể rùng mình choáng váng trước bao dời đổi của thế sự đảo điên. Vốn là sản phẩm của tưởng tượng nhưng rồng là loài vật dễ hớp hồn người nhất, gieo cho chúng sinh thứ cảm nhận đầy mê muội của một lòng thần phục khó bề cưỡng chống. Khi thao tác nghệ thuật trước khung bố, tôi đã phải ngừng cọ lắm phen. Người mẫu nằm yên theo đòi hỏi nhưng cái vật quái gỡ dị hình dị tướng kia thì khác, mãi vọng động. Như thể đã có một thế lực thù địch nào luôn mang âm mưu đen tối tới truy bức, hãm hại. Ông nói: Nhìn nó rung động, Hoa có mang vào lòng một nỗi niềm gì không? Đừng nói với tôi là khi hy sinh cho nghệ thuật, ta phải cương cường đạp đổ hết mọi chướng ngại, xét đó là rào cản thấp hèn, hoen ố trần tục. Vói dáng vẻ một con báo vồ mồi, ông đã phủ chụp tấm khăn choàng quyền lực lên phần số đen tối tôi mang. Gầm gừ bằng ngôn ngữ loài người, con mãnh thú ấy cất tiếng: Tôi sẽ trao cho Hoa những cơ hội làm bàn đạp tiến thân. Tài năng như Hoa, một siêu sao về lĩnh vực tạo hình, chuyện đó vốn không khó nắm bắt, tin tôi đi, cũng như tôi luôn thủ đắc một đề cương, có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống ở đời, chả có thứ gì là miễn phí là hàng khuyến mãi đối với mình cả. Hoa tin không? Ông đã nhẫn nha gặm nhấm con mồi trong ba thời khắc, bởi theo sự suy diễn ông bộc bạch, rằng định luật quang học rất ảnh hưởng tới vấn đề âm dương hoà hợp. Tôi trải thân dưới người ông vào bình minh, đúng ngọ và nửa đêm về sáng. Tôi đã nuốt ngược nước mắt hai lần, ngăn suối lệ hoen ra trên gối. Và duy một lần, nếu được ai khích lệ, tôi sẽ rên rỉ thành tiếng, manh động oà vỡ cơn hoan lạc như biểu tỏ một khám phá, có khi hạnh phúc đến tìm bằng tận cùng những đớn đau. Nếu mai đây ông làm lãnh tụ một bộ phận linh tinh có trong guồng máy điều khiển nước nhà nhiêu khê trắc trở chậm lụt này hẳn khi đó tôi sẽ viết tự truyện cực ngắn, siêu mỏng: Đời đời nhớ ơn chủ tịch đã giải phóng một thiếu nữ dại khờ ở tuổi 23 đen như đêm ba mươi.
4.
Chú Tư vé số:
Muốn cải thiện chút chút cuộc sống trầm trầy trầm trật và trầm kha này, chiều hè êm ả ấy nghe lời đường mật tui đã ngửa tay nhận tiền để đêm khuya hợp sức cùng một đám người đeo khẩu trang hì hục chui lỗ chó tạt hắt tám thùng chứa phân người cũng như đầu tôm đuôi cá ruột rà thú vật vào trong nhà ông Bê suông sẻ trót lọt. Sau đọc báo mới biết ông Bê là đảng viên đang có đấu đá quyền lực trong nội bộ, doạ khui thành tích man khai của ai kia làm mích lòng đụng chạm tới một quan chức có tiếng là anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ thần thánh. Tui ít học nhưng ngẫm lại việc mình làm là bậy bạ dễ bị khiển trách, còn tệ hơn mụ vợ tui khi không bỏ buôn bỏ bán hí hửng mang về nhà một két bia hôi của rơi lăn lóc ngoài đường. Có sao đâu, trời đãi kẻ khù khờ, ai cũng lăn xả nhập cuộc vui, mấy khi mới được hưởng. Tối nay đợi mấy mặt con say ngủ ông thử uống bia ôm xem sao. Lâu quá rồi cứ đầu tắt mặt tối chẳng có điều kiện thuận lợi để nói chuyện mặn nồng. Kệ, ông với tui cứ chơi đại một hai lon xem say tới cỡ nào đặng nằm ôm nhau mà gác chân lên tâm sự chuyện đời đắng cay cho thoả dạ. Chuyện đời lạ lùng, sau sự cố hôi hám tanh tưởi ô nhiễm môi sinh cả một khu vực, ông Bê thôi hét ra lửa, làm đơn yếu xìu xin ra khỏi đảng, đề đạt nguyện vọng tâm tư đại để như rũ áo từ quan về cầm chổi quét sân trước và đuổi gà ở sân sau. Ông Bê tâm sự, tui hiến dâng cả đời tui cho cách mạng ngang tới đoạn này là xem như đã ớn tới tận cổ, rách như cái xơ mướp trong cuộc hí trường, bị cả dòng họ nội ngoại thảy ra mặt khinh khi, ác đức bất nhơn biết sao mà thổ lộ! Nhiều đứa nghe, có đứa chảy nước mắt.
5.
Minh Bảo Đường:
Cha truyền con nối đã hơn ba đời vương, theo thời cuộc, bổn tiệm chuyên trị hàng độc thuốc bắc thuốc nam thuốc dân tộc thuốc cây lá thảo mộc eo xèo lao đao đã lắm bận. Có dạo chỉ sống lai rai nhờ vào rượu thuốc nhân sâm, rượu ngâm mãng xà rắn rết, rượu cường dương bổ thận hoàn ông uống bà khen hay. Rượu chân mòn mà gối không mỏi, cái mới khó đụng hàng! Thời gian gần đây, cũng do thời cuộc mặn phong thuỷ, tin thần thánh, thầy tướng số nhà ngoại cảm mọc ra từng dề bổn tiệm theo đó cũng có lắm khách vãng lai đến để bốc thuốc. Từ một gói cân đo đong đếm gia giảm hương liệu dùng để ninh một nồi phở cho chí nguyên vật liệu làm thuốc xông cho đàn bà đẻ chóng hồi sức. Thân chủ đa phần đều nhờ xắt thuốc xin toa thứ chứa hợp chất nhằm chữa bá bệnh, ăn đứt Xuyên tâm liên thời mới phỏng dái. Nói chung, nôm na là từ sống thoi thóp nay đã chuyển đổi qua sống mạnh sống vững chắc. Trải lòng chỉ chốc lát thôi, và riêng tư; chứ bọn sát thủ mà nghe được chúng tới hỏi thăm sức khoẻ thì ngay cả Hoa Đà lương y như từ mẫu tái thế cũng xin bó tay chấm com. Ruột đổ ngoài da. Tiệm vắng, cô quạnh, neo người vì con cháu lần hồi vượt biên hết ráo, vì dạo xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới chống bọn giặc phương Bắc phản động, nhà nước liền mang sự ác cảm nghi ngờ bọn người Hoa chúng tôi, quy chụp là thành phần nội ứng, là cảm tình viên, là trợ thủ đắc lực nội công ngoại kích cho bọn xâm lược bành trướng. Nói thế là oan ôi ông địa! Là xét theo gia phả xưa goắc cần câu, từ đời tám hoảnh nào đó, chứ giờ đây chúng tôi là Duỵt Nàm dành, người Việt chay chứ Tàu bè cắc chú thế lực thù địch nào nữa chớ! Ngộ nói mà lị có hiểu không? Hẩu lớ. Có chạy ra nước ngoài tha phương cầu thực thì đè mấy ông đế quốc đầu sỏ mà xin nương náu chứ tội vạ gì chui đầu vào Tung cọt. Ai mà chơi được với Mao xếnh xáng! Biết rồi, khổ lắm, cứ nói. Người nước lạ gọi là đả thông tư tưởng. Người nước lạ cũng có thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương”, một hôm có chiếc xe xịn gắn bảng số tứ quý thể hiện đẳng cấp đỗ ngay trước cửa bổn tiệm. Quan không nhọc thân giá lâm, chỉ là bốn đứa đệ tử mặt mày vênh váo vào đặt hàng. Sau hơn cả giờ đả thông tư tưởng, đôi bên mới rõ lý đạt tình, rằng thì là tôi có sứ mạng bốc cho quan một phương thuốc thần dược nhằm xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên, nôm na đánh đâu thắng đó, đánh đến rách cái lai quần vẫn đánh, đánh cho đối phương đạt cao trào hưng phấn ta mới buông đao xuống ngựa hạ hồi phân giải. Sứ giả tâm phúc của quan rù rì: Ngài từng thử qua Viagra nhưng đồ rằng món ấy chẳng hợp tạng. Ta về ta tắm ao ta, người phương Đông e nên xài linh chi ngàn năm để đả thông hai huyệt nhâm đốc tăng thêm mười hai thành công lực chăng? Ui chao, đột xuất quá. Hạng dân dã thì cho chúng liều lượng qua loa cây lá linh tinh, chứ một vị đại thần như ổng thì ngộ hổng dám vuốt râu hùm, bèn có lời thưa thốt: Dạ, bổn tiệm hiện không có linh dược, phải kíp thỉnh cầu sang Đài-loan o-đờ ngay, chúng đóng gói gửi hoả tốc thì mất ngoẻn ba ngày. Ba ngày đối với kẻ ngắc ngoải đợi bắt tay thần chết thì lâu tợn, tợ thiên thu; nhưng thời gian nọ dành cho kẻ quyết tâm đi vùi hoa dập liễu thì chỉ là vó câu bên ngoài cửa. Chấp nhận thương đau. Quan nhắn gửi thông tin cuối: Trăm sự ta chỉ trông nhờ có mình lão thôi. Hãy xem đó là trọng trách, gắn chu toàn để ta an tâm đùa vui những mùa Xuân đại thắng cuối đời. Bí mật là phương châm hành sử của kẻ thức thời. Mafia có tuyên ngôn 3 không: Không thấy, không nghe, không biết. Ba ngày thôi, đúng không? Ta đợi ta chờ ta trông.
6.
Bảo vệ:
Tôi tên Tướng. Trong cơ quan, ai cũng có cảm tình. Cô Hồng kế toán viên bảo: Cái tên ấy nhằm nói đến một bộ phần nào, chứ cái mặt thư sinh của anh, má đỏ môi hồng, ôi chao, dễ ghét quá đi. Nào, cho em thăm thú nhé. Vậy đó, ngay thủ trưởng giám đốc cơ quan cũng từng tuyên dương: Cái hay của một bảo vệ như Tướng nằm ở chỗ ngỡ có mà không, ngỡ hư mà thật. Cậu ấy dáng vẻ là sinh viên nhưng vì bổn phận, khi ra đòn thì gặt hái thành quả ngay. Kẻ xấu bụng, thành phần bất hảo sẽ ngờ vực: Sao cái mặt búng ra sữa kia lại có nhiều ngón nghề dắt lưng thế nhẩy? Hổng kịp trở tay! Nói như trên, ý tôi muốn diễn đạt, đôi khi cái tên mình mang chả có tác động để lậm vào người. Nơi tôi công tác trước đây có anh mang tên Thật, anh ấy có rất lắm bí danh và khi anh thuật chuyện, anh thường vui mồm hư cấu phóng đại sự việc, mông lung huyền ảo rất khó lường. Anh Nguyễn Thành Đạt cũng vậy, anh chưa tốt nghiệp bậc tiểu học, anh là bộ đội phục viên và hiện anh có dựng tấm bìa cứng chéo cơ quan, ngồi vá xe thủng ruột và thường nhìn đời hiu quạnh. Anh có băng qua đường xin tôi điếu thuốc. Anh nhổ toẹt bãi đờm vướng họng: Mẹ nó chứ, e có ngày thằng Thành Đạt này làm đinh tặc quá. Đời thằng Đại Dương giờ này đã phất vì nó lên rừng làm lâm tặc, tối ngủ mộng lành vì gối đầu thường không dưới năm chục triệu. Mẹ nó chứ, sao nó không bị gãy cổ nhỉ, cái cũng lạ!Tướng? Mấy bà chị đi ăn nhậu, đi hát karaoke thường mắng yêu mấy thằng đàn ông mang tật ngứa tay: Thôi đi ông Thánh ông Tướng, giờ này khuya khoắt gì cho cam mà đã sớm bày trò lùng sục mân mê. Để yên cho người ta xả xì-trét.Tướng? Hình như thiếu chữ cướp đi cùng, nhỉ? Hôm ấy trong cơ quan xẩy ra chuyện, người ta gọi tôi vào để trói ké một lão già mãi mồm năm miệng mười: Chúng bây là một bọn tướng cướp, không hơn không kém. Tôi làm xong bổn phận, nghĩa là gọi công an đến để họ dẫn về trụ sở làm rõ nguyên nhân khiến đối tượng bức xúc gây mất trật tự cơ quan nhà nước. Qua báo cáo của Nguyễn Thành Đạt, nghề vá sửa xe của anh là nơi thu lượm lắm tin tức thời sự, tôi biết lão già ấy là chủ tiệm thuốc bắc ở bên phố, ông bị sếp của tôi lường gạt một số tiền lớn, dùng chi trả cho thứ linh dược hiếm quý nhập về tử Đài-loan. Lý do khiến sếp lớn không chịu thanh thoả vì ông bảo đó là hàng nhái, chẳng thể đồ xịn chính hãng, uống không gây hiệu ứng như trông đợi lại gây thêm phản ứng phụ. Sếp mắng: Đéo mẹ, tao chưa nhốt mày vào lao là phước cho mày lắm rồi, còn to gan vu tao là tướng cướp! Giòng họ nhà mày mới là tướng cướp, biển đảo người ta đang lặng sóng thế kia, không dưng lại…
7.
Quan toà:
Chí công vô tư là phương châm hành động của chúng ta. Xét bắt ai phải đúng người đúng tội. Chúng ta phải có dũng khí để nhắm mắt nói không, xua tay từ chối những phong bì bôi trơn lật lọng ém nhẹm sự thật. Một bên là chính nghĩa trong khi việc bôi trơn kia là cách hành sử của thế lực ám muội kiểu tư bản dẫy chết. Ngay từ đầu phải tuyên chiến với những lươn lẹo, bề dày bộ luật cộng hoà xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn dắt ta tới công đạo, đâu ra đó, rút tỉa kinh nghiệm để tránh vụt những đường đao vào mặt nhân dân.Sau khi thống nhất vụ việc, những diễn tiến của câu chuyện mà bọn ác khẩu gọi là “thường ngày ở huyện”, chúng tôi đã hội ý, đấu tranh rất căng ròng rã tháng trời, trên đã gửi xuống văn bản tuyệt hậu như sau: Ông Minh Bảo Đường, 69 tuổi, tù 8 năm 3 năm cưỡng chế vì tội âm mưu cấy độc tố vào người cán bộ trông coi một bộ phận không nhỏ trong guồng máy nhà nước thông qua đường sinh lý trong uống ngoài thoa kích dục và đã tác hại tới tiền liệt tuyến đêm bảy ngày ba vô ra toa-lét giải thuỷ xác xơ chim cò mà theo giấy chứng thương của bác sĩ chuyên khoa da liễu xét nghiệm rằng thì là bệnh nhân nghe như sét đánh ngang tai đang hùng mạnh chuyển qua yếu xìu không thể nào hồ hởi phấn khởi tợ như kỳ vô phong nhan sắc cực kỳ thảm hại. Riêng cá nhân ông Phạm Vương, bí danh anh Chín, 61 tuổi, qua quá trình điều tra thu thập chứng cớ cũng như hỏi chuyện những nạn nhân trước đây không dám tố cáo bưng bít sự thật, chúng tôi đã thống nhất đi tới kết luận đương sự mang chứng hoang tưởng ngỡ mình là vua của một vùng miền, ưa hô phong hoán vũ và đặc biệt thích xơi gái trinh nguyên để sống lâu trăm tuổi như truyền thuyết những vị vua ngày trước, thời phong kiến thực dân cha truyền con nối cơ ngơi thế lực khủng. Vì bận dưỡng thương nên khiếm diện chốn công đường, tuy nhiên khi nghe qua những luận tội sơ khởi đương sự cũng đã hình dung ra bản án, đấy là bị đuổi ra khỏi đảng, thu hồi chức vụ, cho dưỡng thương đến khi thực sự bình phục mới ra hầu toà nghe tuyên án tiếp. Tội phạm đã cúi đầu chấp nhận khung hình phạt của bản án, do bản tính vốn lạc quan nên người đàn ông 61 tuổi đã đùa dai rằng: Tôi thực bụng chả muốn làm quan, chứ hỏi quý vị, trên bảo dưới không nghe như giờ nầy thì sinh lực vui thú đéo gì nữa mà mặn nồng đeo bám danh lợi! Búa gỗ gõ chan chát xuống mặt bàn chao đảo. Ông Bao Công thời đại tuyên bố:
Hình như ở Sài Gòn trước đây, vào cái thời Lê Đô và Văn Hạnh viết ‘Mùa Hoa Phượng’, cả miền Nam chỉ ở Đà Lạt có một cây phượng tím. Cây phượng ấy được trồng bên lề phải con đường từ hồ Xuân Hương vào chợ Đà Lạt.
Hoa phượng Lê Đô và Văn Hạnh viết trong ca khúc của họ, chắc chắn không phải hoa của cây phượng tím hiếm hoi đó, mà là phượng đỏ, thứ hoa tượng trưng cho mùa hè, cho tuổi học trò của Việt Nam. Hè sang nắng lên, hoa về đỏ tươi, Lê Đô và Văn Hạnh đã xác định như thế. Người ta thường nói mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Thế nhưng cứ nghe nhạc của chúng ta, người ta sẽ thấy mùa hè cũng không thiếu quyến rũ, đôi khi nó còn có vẻ gì đó, rực rỡ hơn cả mùa xuân nữa. Chứng cớ là chúng ta có rất nhiều nhạc và cả thơ nữa ca ngợi mùa hè:
Hè Về của Hùng Lân
Chiều Hè của Thẩm Oánh
Vui Cảnh Mùa Hè của Hoàng Trọng & Hoàng Dương
Khúc Ca Mùa Hè của Canh Thân …
Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng để lại cho chúng ta một bài thơ ngợi ca mùa hè, đọc, đôi lúc chúng ta lẫn lộn không còn biết mình đang đọc thơ hay nghe nhạc, và nghe như tự đáy lòng âm thầm dấy lên lời tạ ơn Trời đã ban cho đất nước chúng ta những mùa màng đẹp đẽ như thế:
Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao xác
Trong tối đua bay đóm lập loè
May được nồm Nam cơn gió thổi
Đàn ta ta gẩy khúc Nam nghe
Image from the Net collected by Sơn râu
Mùa Hoa Phượng, ca khúc duy nhất của Lê Đô và Văn Hạnh chúng ta còn giữ được, có thêm vẻ đẹp của một bài thơ nhỏ: vuông vức, cân đối. Nó lại được viết ra vào những ngày vết thương đất nước bị chia cắt chưa lành hẳn, nên dường như xen lẫn trong mỗi nốt nhạc có một nỗi ngậm ngùi không tách rời ra được, khơi gợi những kỷ niệm riêng trong lòng người nghe:
Trong bài nói về Văn Trí và bài Hoài Thu (đăng trên báo Người Việt) người viết có nhắc tới tác giả ca khúc Đường Lên Sơn Cước và tuy trong đầu vẫn nhớ là Lê Bình nhưng tay lại gõ vào máy chữ “Văn”, chỉ khi báo in ra rồi mới biết (tuổi già có những nỗi buồn như vậy) xin được nói lại ở đây và thành thật xin tác giả Lê Bình và quý vị độc giả tha lỗi.
Trí nhớ mòn mỏi, lại không có tài liệu gì trong tay, nghĩ tiếc những cái mình đã được nghe, được đọc, thấy hay, quý, muốn ghi lại, nhắc nhở các bạn trẻ, chưa biết, biết rằng, chúng ta có những tác phẩm như thế, đã được lưu hành một thời, có thể tìm nghe, đọc … Đất nước chúng ta bị chiến tranh tàn phá, ý thức hệ chi phối, nên có những tác phẩm khi bị cấm ở chỗ này, lúc bị cấm ở chỗ khác, bị bỏ quên, bị đốt, bị hủy bỏ, cố tình làm cho mất tích, những việc làm như thế cần phải được xét lại, đánh giá lại, nếu không, chúng ta có thể bị rơi vào tình trạng những cái đáng giữ lại để mất, đi giữ những cái không đáng giữ.
Trở lại với “Đường Lên Sơn Cước” của Lê Bình. Bài hát đã được phổ biến cách đây bốn năm mươi năm rồi, không thấy tác giả cho ra đời thêm một bài nào khác, vậy tạm coi như Đường Lên Sơn Cước là tác phẩm duy nhất của ông.
Rừng núi gây cảm hứng cho rất nhiều nhạc sĩ của chúng ta. Dĩ nhiên mỗi người viết về rừng núi một khác. Nhưng cũng có mấy bài nội dung hơi giống nhau, có thể gọi chung là tình ca, đó là các bài: Thiếu Nữ Trên Ngàn của Ngọc Bích, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải, Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn, Trăng Sơn Cước của Văn Phụng, Đường Lên Sơn Cước của Lê Bình … ghi lại bước chân phiêu lãng của các chàng trai thành phố, tới một miền sơn cước nào đó, và để lại đấy một mối tình.
Thiếu Nữ Trên Ngàn của Ngọc Bích là một bài thơ lục bát được phổ nhạc:
Nhà em ở tận nẻo xa
Có cây bên suối có nhà sàn bương
Quanh co độ mấy thôi đường
Ven rừng, ven núi, ven nương, ven đồi
Nhà em ở một khoảng trời
Gió lùa hiu hắt, mây trôi êm đềm
Hôm qua anh đến nhà em
Thấy đôi mắt đẹp anh thèm muốn xin …
Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải là một bản tình ca bình thường, nếu có một chút ý tuyên truyền nào đó thì cũng mờ nhạt thôi:
Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi
Mây mờ buông xuống núi đồi
Mà trong lòng mơ hơn ở ngoài trời
Cỏ cây hoa lá thương nhớ mãi người đi
Và dâng sầu lên khóe mắt người về
Ngơ ngẩn đàn chim ngừng tiếng hót …
Nếu mấy ca khúc của Ngọc Bích, Tô Hải, Lê Bình đều được viết theo nhịp, valse chậm, thì Trăng Sơn Cước của Văn Phụng được viết bằng nhịp rumba rộn ràng, vui hơn, vàcó vẻ như đây là một trong những ca khúc Văn Phụng đã “tung hoành” khi viết lời ca:
Lòng còn hoài mơ một đêm
Điệu nhạc rền vang rừng thẳm
Rượu cần càng vui càng uống
Đắm say men nồng tình duyên
Cùng nàng ngồi bên bờ suối
Hẹn hò một duyên tình mới
Nàng ngồi lặng nghe chẳng nói
Khẽ rung rinh đôi làn môi …
Trong “Sơn Nữ Ca” Trần Hoàn thì đã có bóng anh “du kích” rồi:
Có cô sơn nữ miệng cười khúc khích
Ngắm anh du kích rồi lòng bâng khuâng …
Theo tin mới nhất thì Trần Hoàn, từng làm Bộ Trưởng Văn Hóa của Việt Cộng, đã chết tại Hà Nội ngày 23 tháng 11/03.
Nếu Ngọc Bích, Tô Hải, Văn Phụng cho người nghe cảm tưởng, khi viết những ca khúc đó các tác giả chìm sâu trong cảnh thì Đường Lên Sơn Cước của Lê Bình lại cho người nghe cảm tưởng hình như tác giả ở ngoài cảnh (ở ngoài núi rừng) chỉ đang trên đường nhập lại. Vì, âm điệu của bài hát tuy vẫn toát ra cái chất hoang vu của cao nguyên, nhưng “sáng” hơn, cho người nghe cảm tưởng ấy, và ca từ [cũng] xác định điều đó.
Trong khi người tráng sĩ sửa soạn quân đội bản bộ rút khỏi miền Nam, mở một cuộc viễn chinh riêng của chàng, một ngày kia, ở quê, người anh Hai bảo với anh Cả:
– Sáng mai, nếu có rỗi, bác lại tiệm trà phố Hồng Ngọc chúng ta cần phải thảo luận về hai việc.
Nghe thế, người anh Cả không khỏi ngạc nhiên vì anh chỉ biết có một việc là ruộng đất, còn việc nữa anh không hiểu là việc gì, nên hỏi lại:
– Chắc chắn mai tôi đến, nhưng chú nói còn việc nữa ngoài việc ruộng đất chẳng hay là việc gì?
Anh Hai trả lời:
– Tôi vừa nhận được thơ của chú Ba, xem thơ lạ quá, chú khẩn cầu xin mấy đứa con trai lớn của tôi và bác, định khuếch trương một việc gì lớn lắm, cần có người nhà máu mủ ruột thịt, vì chú ấy chưa có con.
Anh Cả hết sức ngạc nhiên, mồm há hốc, mắt trợn tròn, nhìn anh Hai thốt ra một câu:
– Xin mấy đứa con trai!
Anh Hai nhún đầu nói:
– Phải!Thật ra tôi cũng chưa đoán được ý chú Ba định làm gì. Thôi để mai ra tiệm trà ta sẽ bàn luận xem sao.
Anh Hai đi bán thóc về, tình cờ gặp anh Cả ở giữa đường nói chuyện qua loa, hẹn mai sẽ gặp, nói xong quay người định đi.
Anh Cả không thích nói vắn tắt quá, bây giờ rảnh rang lắm, bất cứ việc gì cũng muốn biết đến ngọn ngành; độ này anh vui lắm, đã nắm được phần gia tài trong tay, anh giữ anh Hai lại và nói:
– Có cái gì là khó, mà chú ấy lo không có con trai. Để tôi kiếm cho chú ấy một con vợ.
Nói xong, anh lim dim hai mắt, ý muốn nói câu gì bóng gió, bóm hỉnh.
Anh Hai hiểu ý, cười nhạt, nói mát:
– Ai cũng còn bận công, bận việc, có rảnh đâu được như bác mà lúc nào cũng hú hí với vợ.
Anh vừa nói vừa rảo bước đi, không muốn để anh Cả ba hoa tâm tình giữa đường giữa phố, kẻ qua người lại nhỡ lọt vào tai họ. Sẵng hôm sau, hai anh em gặp nhau ở tiệm trà. H có ý chọn một cái bàn kê trong góc cùng, ngồi ở đấy họ có thể nhìn khắp gian phòng mà không sợ ai nghe được họ chuyện trò bàn tán gì. Anh Cả chễm chệ ngồi giữa, gọi tửu bảo đem đồ điểm tâm bánh mặn, bánh ngọt nóng hổi, một hũ rượu nóng, làm thêm vài món xào nấu đưa cay. Anh thích ăn ngon và sành lắm. Anh Hai ngồi yên, để tai nghe anh Cả phán huyên thuyên với tửu bảo. Thật anh ngồi không yên, trong bụng lo quá, không biết ăn xong ai chi tiền, anh vội vàng bảo anh Cả:
– Bác gọi nhiều quá để bác xơi, tôi thú thật không quen ăn sáng, mà có ăn cũng qua loa, không ăn được mấy.
Anh Cả, tính rộng rãi, hào phóng, trả lời:
– Hôm nay tôi mời chú, chú đừng quan tâm gì hết, tôi xin chu biện hết.
Được lời, anh Hai vững dạ, khi tửu bảo đem các mòn xào nấu lên, anh cố ăn cho thật nhiều, anh có cái tật chắt bóp, so kè, tiền có rất nhiều nhưng còn để dành, không dám bỏ ra tiêu pha mấy, việc gì bất đắc dĩ lắm mới bỏ tiền, mà giá không phải mất tiền thì hỉ hả lắm. Như người khác, quần áo rách, những đồ vật gì không dùng đến, bỏ xó, họ cho đầy tớ, đằng này anh thu vén, gói lại, lén đem bán cho hàng đồng nát được đồng nào hay đồng ấy.
Anh mà được ai mời ăn uống, anh cố “ních” cho thật nhiều, tuy người anh gầy còm khẳng khiu, bụng bằng một chét tay. Anh cố hết sức “ngốn” cho đẫy để hai ba hôm sau khỏi phải ăn cơm nhà. Trường hợp anh đúng vào bữa rượu sáng hôm đó. Hai anh em cúi đầu ăn uống không ai trao đổi một lời, mỗi lần chờ tửu bảo đem món ăn đến, cả hai đưa mắt nhìn ra ngoài, vì vừa ăn vừa nói chuyện mất ngon, mà dạ dày cũng khó làm việc tiêu hóa.
Cả hai cũng không biết, chính ở tiệm trà này xưa kia Vương Long thường năng lui tới, đã mê một kỹ nữ ở đây là Liên, rồi chuộc ra đem về làm nàng hầu. Vương Long cho tiệm này là bồng lai, là kỳ ngộ, trên vách tiệm treo tranh tố nữ. Trái lại hai anh em cho tiệm này xoàng nhất, vào ăn ở đây hơi sượng sùng, như một anh dân cày đứng giữa đám người tỉnh thành. Hai anh em đến đây mặc áo lụa, những người vào ăn, thấy hai chàng, đứng dậy chào. Các tửu bảo tíu tít hầu bàn. Lão chủ quán đi với tửu bảo, hai tay bê một hũ rượu tới bảo hai người:
– Rượu này. tốt lắm, vô vò để chỗ mát đã lâu, hôm nay có hai ngài lại, chính tay tôi nạy đất, mở nắp chắt ra.
Lão chủ quán, săn sóc, hỏi đi hỏi lại có thiếu thứ gì không? Các món có vừa ý không? Hai anh em con Vương Long hôm ấy ăn uống no say, mọi thứ hoàn hảo vừa ý cả. Chỗ hai chàng ngồi gần đó hãy còn treo bức tranh lụa vẽ hình Liên, một tố nữ hình vóc mảnh dẻ bàn tay búp măng cầm một bông sen. Xưa kia Vương Long ngắm bức tranh này say mê mệt, giờ đây Vương Long đã chết, Liên thì thân hình thay đổi. Bức tranh đó bây giờ ám khói đầy cứt ruồi muỗi không ai buồn nhìn mà cũng chẳng ai mà lại treo ở xó này? Hai anh em không biết, mà dù có biết, cũng không sao tưởng tượng được đó là Liên, không giống mụ hiện giờ một tí nào.
Cơm rượu xong, anh Hai lấy lá thơ gập nhỏ giắt cạp quần rút ở phong bì ra giải tấm giấy trên bàn; anh Cả cầm lấy, đằng hắng vài tiếng to, lẩm bẩm đọc một mình, nét chữ viết rắn rỏi, cứng cáp như tính tình người tráng sĩ phản chiếu vậy. Vài câu xã giao thăm hỏi ở trên, đây đoạn chính lá thơ:
“Tôi cần tiền lắm, phần gia tài của tôi, xin hai anh gửi gấp cho “càng nhiều càng hay. Nếu có thể, anh cho tôi vay thêm, hết bao “nhiêu lãi cũng được, tôi xin hoàn lại chu tất khi công việc của tôi “được thành tựu. Các cháu trai, trên mười bảy tuổi, hai anh cũng “gửi cho tôi. Tôi sẽ trông nom các cháu, rèn luyện sau này chúng sẽ “có một địa vị lớn, các anh không thể tưởng tượng được. Công việc “kế hoạch của tôi thực hành cần có những người ruột thịt, tâm phúc. Tóm tắt hai anh gửi cho tôi tiền và các cháu trai lớn, tôi mong lắm”.
Anh Cả đọc xong, đưa mắt nhìn anh Hai, hai anh em nhìn nhau chưa hiểu thế nào. Anh Hai có vẻ lạ lùng sửng sốt, thản nhiên nói:
– Chú ấy có nói chuyện với bác bao giờ không, hiện chú đang ở trong đạo quân của một lão tướng nào ở miền Nam.
– Lạ quá, nó không nói rõ, nó cần tụi con trai để làm gì.
Ai có hoài con mà cho đi, mà chẳng hiểu đi làm gì?
Cả hai anh em lặng yên suy nghĩ, cho là cả một sự lạ, cho con đi xa mà không hiểu để làm gì. Nhưng cả hai lẩn vẩn trong trí óc câu này: “Sẽ rèn luyện các cháu sau này chúng có một địa vị cao” cả hai cùng một ý nghĩ, hiện có một, hai đứa đã lớn, thử đánh bạo cho đi xem sao. Anh Cả sinh với người vợ lớn được sáu con, bỏ mất hai đứa khi còn bé. Vợ lẽ được một đứa mà mụ hiện đang có bầu, một, hai tháng nữa thì đẻ. Tất cả đều khỏe mạnh, duy có thằng thứ ba con của một nô tỳ, mẹ nó bỏ đi khi nó mới được một, hai tháng. Thằng bé này có một cái bướu ở sau lưng, gần vai, đầu thì to hơn người mà ở sát ngay cái bướu trông như đầu con rùa nấp ở trong cái mai.
Anh cũng đã có mời hai ông lang lại chữa và cúng vái ở ngôi đền Bà, cầu xin trả lễ một chiếc áo ngự nếu con anh tai qua nạn khỏi. Thật ra anh không tin, nhưng có bệnh phải vái tứ phương. Anh Hai có năm con, đứa đầu lòng và đứa rốt ổ là gái. Chị vợ coi hãy còn xuân lắm, tốt nái còn đẻ nhiều, đẻ cho đến đứng bóng mới thôi. Hai anh em suy nghĩ hồi lâu, rồi cùng một ý tưởng thầm nghĩ: Kể ra có thể đánh bạo cho một đứa đi cũng được.
Image from the Net collected by Sơn râu
Anh Hai ngước mắt nhìn anh Cả cất giọng hỏi:
– Bác bảo nên trả lời chú ấy thế nào?
Anh Cả ngập ngừng chưa biết nói ra sao, anh có phải người lanh trí việc gì có thể quyết đoán ngay được đâu, anh còn về bàn với vợ, hễ vợ bảo thế nào thì theo. Anh Hai hiểu ý vội nói:
– Tôi viết thơ trả lời: Anh gửi một cháu, tôi gửi một cháu, còn tiền tôi cố được bao nhiêu tôi sẽ gửi.
– Ừ, chú nói phải. Thế cũng nhẹ mình, tôi cho bớt một đứa đi. Ai lại nhà đầy trẻ con, quấy khóc suốt ngày, mấy đứa lớn chí chóe cãi nhau, thật không một phút nào tôi được ngồi yên. Tôi cho thằng hai đi, chú cho thằng lớn, nói dại nếu tôi có thế nào, tôi còn thằng lớn nó nối dõi sau này.
Câu chuyện thế là dàn xếp ổn thỏa, hai anh em ngồi uống nước một lúc.
Xong việc của chú Ba, bây giờ họ đem vấn đề ruộng đất ra thảo luận, xem thửa nào nên bán, thửa nào nên giữ lại. Đương xì xào bàn tán thì cả hai cùng sực nhớ lại câu chuyện cũ. Xưa kia, có một ngày, hai người cũng xì xào bàn tán bán ruộng, hồi đó Vương Long tuy đã già song hãy còn đủ sức, rón rén lại gần lén nghe. Còn nhớ lúc đó ở trong một thửa ruộng gần căn nhà đất. Mới thoáng nghe được hai câu “bán ruộng” ông già đã thịnh nộ hét lên:
– Đồ nghiệt tử, chúng mày mưu mô bán ruộng bán đất hở?
Ông ấy nói xong giận quá, suýt quy, nếu không có người đỡ. Để ông nguôi giận, hai người con luôn mồm:
– Không, không, không đời nào chúng con bán ruộng.
Vương Long lúc đó đã già quá, sợ ông giận quá phát uất, hai con ông cam đoan thề: Không bao giờ có chuyện bán ruộng, bán đất. Tuy nói thế hai người nhìn nhau mỉm cười, cùng thông cảm, một ngày kia ta sẽ trở lại vấn đề đó. Giờ đây, cả hai đều khao khát về tiền, nhưng hồi nghĩ lại chuyện xưa hình ảnh ông già hiện trong ký ức, bán ruộng cũng thấy ngại ngại thế nào, chứ không dễ dàng như họ tưởng. Trong thâm tâm cả hai cùng một ý nghĩ, không nên bán hết cả một lúc, ông già nghĩ cũng chí lý lắm, phải phòng xa những năm làm ăn khó khăn, những lúc gấp khúc còn có miếng mà ăn biết thế nào được ngày mai. Có thể một ngày kia, có một bọn thảo khấu, đánh phá chiếm cả vùng hay một thiên tai nào, ruộng đất thì không thể suy suyển, không ai khênh đi được.
Tuy nghĩ thế, nhưng lại tưởng đến món tiền lời lớn đặt lãi, họ tối mắt lại, phân vân quá, anh Hai hỏi:
– Thửa nào anh định bán?
Anh Cả trả lời khôn, giọng nước đôi:
– Xét ra tôi cũng không có nghề nghiệp gì như chú mà tôi cũng không biết làm gì ngoài cái chức vị điền chủ. Tôi cũng muốn bán một số lớn, sự thật tôi cần tiền, nhưng mà tôi cũng chẳng dại đem bán hết cả.
Anh Hai tiếp lời:
– Chúng ta phải ra ngoài cánh đồng, thực mục sở thị, xem ruộng nương thế nào, có nhiều miếng xa tít mù tắp, chỗ này một miếng, chỗ kia một miếng. Ông cụ ngày xưa tham, bạ đâu cũng tậu, mà tậu vào năm đói kém, giá rẻ mạt, thành ruộng rộng rải rác khắp vùng. Có lắm miếng chỉ độ một sào
hay hơn một sào. Nếu chủ tâm anh muốn làm điền chủ, phải có ruộng liền khu mới dễ trông nom chớ. Câu chuyện nghe rất hợp lý, cả hai đồng ý và thông cảm.
Anh Cả chi xong tiền tiệc rượu, cho tửu bảo vài đồng, hai người đứng dậy đi ra. Đi đến cổng tỉnh, anh Cả mệt lắm, gọi hai mã phu dắt hai con lừa, thắng sẵn yên cương. Hai anh em cỡi lừa ra khỏi tỉnh. Suốt cả ngày hôm ấy hai người đi thăm ruộng, buổi trưa nghỉ ở quán dọc đường. Họ đi coi xét kỹ từng thửa ruộng, để ý xem các tá điền làm ăn thế nào. Thấy hai ông chủ mới, bọn này khúm núm kính cẩn chào hỏi, anh Hai ghi chép từng mảnh cái nào nên bán, cái nào nên để. Còn số ruộng của chú Ba, anh bán hết, chỉ để lại một mảnh nhỏ ở cạnh gian nhà đất.
Cả hai đều đồng ý không đả động đến căn nhà đất và một mảnh ruộng có mộ Vương Long ở dưới gốc cây chà đà. Chiều tối họ trở về tỉnh, người, vật đều mệt nhoài, trả tiền thuê lừa theo giá đã mặc cả. Hai mã phu nài xin thêm ít tiền nước nôi, họ than phiền phải lẽo đẽo đi theo xa quá, đi hỏng cả đôi hài xảo. Anh Cả tính rộng rãi cho thêm, anh Hai nhất định không cho, bảo mã phu:
– Tôi trả anh đủ số rồi, còn hài xảo anh đi nó hỏng, dễ thường anh bắt đền tôi hả?
Nói rồi rảo bước lảng xa, không để ý hai mã phu chửi rủa sau lưng.
Về đến nhà, anh nào về căn ấy, cả hai cùng chung một ý chí, cùng chung một tâm sự. Anh Hai nói với:
– Mùng tám tốt ngày, tôi dắt hai đứa trẻ đi nhé?
Anh Cả gật đầu, mệt nhoài người, thật từ thủa bé chưa có ngày nào lại mệt đến thế. Anh nghĩ làm một anh điền chủ cực nhọc thật.
TG Triều Phong (thứ 2 từ phải) nhận giải Danh Dự VVNM 2014
Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Ông tên thật Trần Phương Ngôn, đã sống ở trại tỵ nạn PFAC Phi Luật Tân gần mười một năm, hiện là cư dân Dayton, Ohio.
***
“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”
(Chinh Phụ Ngâm-Đặng Trần Côn)
Hàng năm, cứ qua giữa tháng Năm là nước Mỹ lại bắt đầu rộn ràng hơn cho ngày lễ hội Memorial Day sắp tới! Các “florist centers” lo chuẩn bị thêm nhiều hoa để cung cấp cho người tiêu thụ, những gian hàng đồ lưu niệm bày biện lắm thứ hơn để bán. Walmart, Krogers tấp nập khách hàng vì có đông người đi chợ cho các tiệc tùng ăn uống chiều hôm đó.
Như chúng ta biết, ngày lễ này được long trọng tổ chức vào mỗi thứ Hai cuối cùng của tháng Năm nhằm vinh danh những người lính đã xả thân hy sinh trong quân đội Hoa Kỳ.
Ngược dòng lịch sử và theo các sử gia thì cuộc nội chiến Mỹ được xem là có nhiều người chết nhất nên những nghĩa trang thành hình từ đấy. Vào mấy năm cuối của thập niên 1860 thì ở nhiều quận, hạt, tỉnh, thành, thiên hạ bắt đầu tới sửa sang, dọn dẹp vệ sinh cho những ngôi mộ của người thân mình, mang theo bông hoa trang hoàng cho các ngôi mộ đó; những chiến binh đã nằm xuống!
Không ai rõ Memorial Day (Lễ Tưởng Niệm) này bắt đầu từ lúc nào và nguồn gốc chính xác của nó ra sao? Tuy nhiên theo tài liệu ghi nhận thì có lẽ chừng gần một tháng sau, khi liên quân miền Nam đầu hàng năm 1865 thì nó được khởi đi từ các nhóm nô lệ người da đen ở thành phố Charleston của tiểu bang South Carolina.
Nhưng Ngày 05 tháng Năm, 1866, tại Waterloo ở tiểu bang New York là nơi đầu tiên bắt đầu tổ chức hằng năm trên quy mô lớn như một sự kiện với phạm vi rộng rãi của cộng đồng khi người dân đóng cửa mọi hoạt động thương mại để mang hoa tới trang trí cho những mộ phần của tử sĩ và cắm cờ vinh danh người nằm xuống.
Trong sự phát triển dần dần ấy thì Ngày 05 tháng Năm, 1868, tướng John Logan, người đứng đầu “Đại quân của nền Cộng Hòa quân đội miền Bắc” đã chính thức công bố ngày Lễ Tưởng Niệm như là một ngày Lễ Trang Hoàng để đem hoa và cờ tới cắm trên những mộ phần của các tử sĩ để tưởng nhớ sự hy sinh của họ!
Năm 1873, New York là tiểu bang thứ nhất được chính quyền của tiểu bang thừa nhận Memorial Day là ngày nghỉ lễ của tiểu bang. Tới 1890 thì hầu hết mọi tiểu bang ở miền Bắc công nhận lễ này, tuy nhiên ở miền Nam vẫn còn nhiều tiểu bang tổ chức tưởng niệm vào các thời gian khác nhau vì vấn đề nô lệ chủng tộc!
Sau Đệ Nhất Thế Chiến thì ý nghĩa của ngày lễ này được mở rộng ra hơn nhằm tôn vinh tất cả các quân nhân của Mỹ đã hy sinh trong bất cứ cuộc chiến tranh nào để bảo vệ tự do, hòa bình, dân chủ trên thế giới.
Tuy vậy mãi đến năm 1971, khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua “National Holiday Act” và chọn ngày Thứ Hai cuối cùng của Tháng Năm làm ngày lễ chính thức của liên bang thì ngày này trở thành ngày Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong trên toàn quốc để đi viếng nghĩa trang, đài tưởng niệm, treo cờ rũ cho tới trưa theo giờ địa phương nhằm hồi tưởng về các quân nhân đã tử nạn trong quân đội!
Từ lý do đó, ngày nay ngoài các sinh hoạt kể trên, Memorial Day còn là một ngày lễ của “long weekend” vì vào chiều thứ sáu sau khi làm việc xong thì có nhiều gia đình đã đi chơi xa sang những tiểu bang khác cho tới chiều thứ hai mới trở về để chuẩn bị đi làm lại ngày hôm sau, tạo thêm một hoạt động vui chơi khác trong dịp này.
Như lệ thường, ngay từ sáng sớm ngày Thứ Hai cuối cùng của Tháng Năm, khi trời còn tỏa hơi sương lành lạnh, mờ nhân ảnh ấy thì tôi đã tới một nghĩa trang gần nhà, để tham dự Lễ Tưởng Niệm.
Tại đây đã có rất nhiều lá quốc kỳ nho nhỏ của Mỹ bay nhè nhẹ trong gió sớm, những bó hoa còn tươi nguyên được đặt ngay ngắn trên từng mộ phần người quá vãng từ hôm trước. Không lâu sau, xe cộ lũ lượt chạy vô con đường làng nhỏ hẹp, chẳng mấy chốc đã đậu kín hai bên đường. Nhiều gia đình với đủ nam, phụ, lão, ấu được cha mẹ chúng dẫn theo lần vào nghĩa trang nơi có thân nhân của mình đang an nghỉ tại đó để thăm viếng trong niềm nhớ thương mất mát.
Rồi một chiếc xe buýt lớn chở đầy các ông già, bà lão trờ tới và dừng ngay cổng chính của nghĩa trang. Bước xuống xe, trong quân phục của đủ các binh chủng với huân chương được gắn đầy trên ngực áo; đó là những cựu chiến binh của chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam…mà tôi có thể nhận ra nhờ hàng chữ ghi trên mấy chiếc nón họ đang đội. Đặc biệt còn có cả một cựu quân nhân thời Đệ Nhị Thế Chiến ngồi xe lăn cũng được người ta đẩy tới tham dự.
Buổi lễ này do chính quyền thành phố phối hợp với Hội Cựu Chiến Binh Mỹ tổ chức. Đúng chín giờ, một toán nghi thức tiến vào, một vị đại diện lên diễn đàn mời các cựu chiến binh tới vị trí hành lễ đơn sơ ngoài trời để bắt đầu buổi lễ. Một số quan khách bước lại gần, tụ tập bên những người lính già bước đi khập khiễng, mệt mỏi theo thời gian nhưng vẫn hăng hái trở về để tưởng nhớ đồng đội đã ngã xuống của mình!
Vị diễn giả mở đầu bài nói chuyện bằng cách nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của Memorial Day. Kể lể những gian khổ mất mát, hy sinh gia đình, bản thân, cả tới sinh mạng để phụng sự quê hương của người lính cho tới nỗi đớn đau của nhiều gia đình hiện nay còn phải âm thầm chịu đựng vì sự mất tích của người thân trên các chiến trường vẫn chưa tìm được tung tích!
Sau phần vinh danh, và tri ân những cựu chiến binh Mỹ đã nằm lại trong các cuộc chiến tranh vì bảo vệ hòa bình, tự do, cho nhân loại trên khắp thế giới là phút mặc niệm để tưởng nhớ tới anh linh của các anh hùng đã tử trận nơi sa trường.
Dưới tàng cây to, giữa không gian im ắng, mọi người yên lặng cúi đầu mơ về quá khứ với ánh mắt xa xăm. Đứng lẫn trong dòng người đông đảo, tôi nghe lòng ai oán, não nùng lúc tiếng kèn trầm bổng cất lên. Ôi, đau đớn làm sao, buồn vương nỗi sầu!
Nắng lên khá cao, những tia nắng xuyên qua cành lá rớt nhè nhẹ lên bãi cỏ như ve vuốt. Các hoa nắng hờ hững rơi trên những bia đá lạnh, nằm im lìm rồi di chuyển chậm dần như thì thầm an ủi, âu yếm người đã khuất. Buổi lễ chấm dứt sau chừng độ một tiếng đồng hồ. Người có thân nhân ở đây thì nán lại viếng mộ, số khác lặng lẽ ra về. Tôi bước lửng thửng ra xe!
Trên đường đi, dư âm của buổi lễ vẫn còn trong tâm trí, hình ảnh của mấy vị cựu quân nhân già đi lựng chựng khiến tôi chợt nhớ tới vợ chồng vị cựu chiến binh tới tiệm tôi cách đây mấy tháng.
… Khoảng ba bốn giờ chiều một hôm, lúc tiệm vắng khách thì có đôi vợ chồng người Mỹ bước vô. Ông bà cũng khá lớn tuổi, tôi đoán chừng họ cũng xấp xỉ tám mươi chớ không ít! Trông cả hai khá yếu ớt vì dáng bà mảnh mai nhưng sang cả với mái tóc bạch kim còn ông thì gầy ốm và phải chống gậy!
Bà muốn làm “manicure.” Sau khi chào hỏi xã giao, tôi nói bà đi rửa tay và mời ông ngồi xuống chiếc ghế cạnh bên, đoạn sửa soạn mọi thứ. Lúc bà làm vệ sinh xong trở lại thì tôi cũng đã sẵn sàng và chỉ chiếc ghế trước mặt tôi mời bà an vị. Trong khi làm việc, tôi bắt chuyện cho khách vui, thỉnh thoảng tôi ngước lên nhìn bà thì mới để ý là bà còn có nhiều nét đẹp, ngày xưa chắc cũng là một mỹ nhân diễm lệ không chừng.
Lâu lâu tôi lại quay qua ông nói đôi điều cho ông không cảm thấy trống trải, lúc ấy tôi nhận ra ông có lẽ là một cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam vì ông đội cái mũ lưỡi trai có in hàng chữ “Vietnam Veteran” trên đó. Bà thì dịu dàng, giọng thỏ thẻ như oanh vàng đang hót còn ông thì cũng rất nhẹ nhàng, nói chậm rãi như sương rơi nhưng là do sức khỏe yếu ớt!
Xong việc, bà phải ngồi chừng mười lăm phút để hơ tay cho móng khô vì bà chọn nước sơn thường! Đảo mắt ngó quanh thấy tiệm cũng thưa thớt khách, bà bắt chuyện, hỏi tôi người ở đâu? đến đây bằng cách nào.v.v..?
Lúc biết tôi là người Việt tị nạn, từng ở tù khá lâu vì vượt biên thất bại và chôn đời trong nhiều năm ở trại tị nạn do trại đóng cửa, bà “ồ” một tiếng lớn và quay qua ông. Bấy giờ tôi ngó sang ông hỏi khẽ ông có phải là cựu chiến binh Việt Nam không thì bà gật đầu vì ông chẳng nghe được. Đoạn bà nghiêng người sang ông nói nhỏ với ông rằng tôi cũng là người Việt Nam thì thấy cái miệng móm mém của ộng mấp máy, đầu gật gù như đã hiểu và nhìn tôi cười. Nụ cười của ông rất dễ thương!
Thấy vậy tôi buột miệng hỏi:
– When were you in Vietnam, sir? (Ông đã ở Việt Nam lúc nào, thưa ông?)
Nghe hỏi mình, ông nhích người lên nhướng mày ý chừng như chưa nghe rõ. Bà bèn lặp lại giúp tôi. Ông đáp:
– 1968.
– How long have you been there? (Ông đã ở đó bao lâu?)
– Two years! (Hai năm!)
– Where have you been in my country? (Ông đã ở chỗ nào trên quê hương tôi?)
– Central region! (Miền Trung!)
Ngẫm nghĩ giây lát như sực nhớ ra một điều khá quan trọng, tôi tiếp:
– How old were you at that time? (Khi ấy ông bao nhiêu tuổi?)
– Twenty! I was twenty years old when I went there. (Hai mươi. Tôi tới đó lúc hai mươi tuổi).
Trả lời xong, ông yên lặng, trở về với bản tính cố hữu của mình. Bà lên tiếng, phá tan sự im lìm, nói nho nhỏ với tôi như không muốn cho ông nghe rằng ông bị thương trong chiến tranh và được đưa về Mỹ chữa trị. Lành bịnh ông được giải ngũ, ông gặp bà khi ông bị PTSD (Post-traumatic stress disorder.)
Thấy ông bị bịnh và bị xã hội thời ấy ruồng bỏ, bà tội nghiệp ông. Từ thương hại cảm thông tới tình yêu, thương thật ông tự lúc nào bà không biết để cuối cùng bà chấp nhận lập gia đình với ông vì ngoài những lúc cơn bịnh phát tác ra thì ông rất hiền!
TG Triều Phong và người cựu chiến binh Hoa Kỳ
(hình do TG cung cấp)
Nghe bà nói tự dưng tôi cũng cảm thấy xót xa, thương cho số phận của một con người từ rất xa xôi bỗng mang bịnh tật bởi đất nước mình nên tôi khẽ liếc sang ông và thấy ông nhỏ thó, ngồi bất động, tay phải mân mê đầu gậy, đôi mắt nhìn xa xăm vào cõi không như vô hồn, như đang nghĩ về các chiến hữu của mình đã ngã xuống trong cuộc chiến bởi tôi biết dù bà có thì thầm nhỏ mấy ông vẫn nghe được vì đó là giọng nói thân thương đã ở với ông suốt mấy mươi năm nên lâu lâu ông lại nhìn bà như chờ đợi điều gì ở nơi bà.
Bỗng nhiên da mặt ông co rúm lại xanh mét, bàn tay trái nắm chặt và thân hình giật giật nghiêng sang một bên như sắp ngã. Ông chợt đứng bật dậy, loạng choạng! Tôi hốt hoảng, nắm lấy tay bà bóp nhẹ như ra hiệu bà đừng nói nữa và ngó sang ông. Bà vội quay qua ông cựu binh, rồi nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay ông kéo ông ngồi xuống, thủ thỉ:
– Are you OK, honey? (Anh yêu, anh bình thường chứ?)
Nghe tiếng bà, gương mặt ông giản ra, một đổi sau từ từ hồng lên rồi dịu lại dần. Tôi thở phào nhẹ nhõm và để cho bầu không khí bớt nặng nề nên tôi không dám hỏi tiếp mà quay sang đề tài khác vui vẻ hơn:
– Did you have any Vietnamese girlfriend there? (Ông có bất kỳ người bạn gái Việt Nam nào ở đó lúc ấy không?)
Ông lại ngước mặt, nhướng mắt to lên, không hiểu. Bà thì thào vào tai ông. Người chiến binh già chợt giãy nãy, lắc đầu quầy quậy, gương mặt mắc cỡ của ông trông rất buồn cười:
– No, no! (Không, không!)
Nhìn bà cười, ánh mắt ngó ông trìu mến, tôi tin lời bà nói ngày xưa bà thương ông là thật. Còn chuyện tại sao bà lại thương một người bịnh tật thì tôi không biết vì như chính bà đã thú nhận bà còn không biết thì sao tôi biết được? Chuyện tình yêu thì có những cái không lý giải được?
Đột nhiên ông hỏi bà gì đó mà tôi không nghe được vì giọng ông nhỏ và lắp bắp quá. Bà đưa mắt nhìn tôi và nói với ông những gì tôi vừa thuật với bà. Nghe xong ông chép miệng. Bất chợt ông giơ bàn tay trái ra nắm chặt lấy tay tôi nói:
– I am really sorry to let you be in a hard situation! (Tôi thành thật xin lỗi đã để anh lâm cảnh ngặt nghèo!)
Cổ họng tôi nghẹn lại trước lời lẽ chân thành bất ngờ của ông mà không nói nên lời, mãi vài phút sau tôi mới bừng tỉnh đứng dậy vịn vai ông:
– Thank you for your service to my country, sir! (Thưa ông, xin cám ơn sự phục vụ của ông cho đất nước tôi!)
Ông bỗng thò tay vào túi quần móc ra một vật đưa tôi nhưng tay ông run run làm nó rơi xuống đất lăn dài. Tội vội vã chạy theo lượm nó lên đưa lại ông. Ông khoát tay từ chối bảo:
– I give it to you! (Tặng anh!)
Tấm huy chương “Purple Heart” của người cựu chiến binh HK (hình do TG cung cấp)
Nhìn xuống tối thấy đó là một vật to tròn bằng đồng, lớn gấp đôi đồng bạc thường với hai chữ “Purple Heart” ở trên, chính giữa có hình một người da đỏ bên dưới có chữ “Medal” và các ngôi sao viền quanh. Lật ra mặt sau tôi thấy có thêm chữ “Combat Wounded” khiến tôi sửng sốt, bởi đó là huân chương danh giá của Hoa Kỳ dành cho những người bị thương trong chiến tranh. Sao bây giờ ông lại cho tôi?
Tôi lắc đầu:
– No, it’s yours! (Không, cái này là của ông!)
Vợ ông cũng ngạc nhiên, đứng lên bước lại gần ông, cúi xuống hỏi:
– You give it to him, don’t you? (Anh cho anh ta, phải không?) Ông gật đầu.
– But why do you want to give it to me? It’s yours, sir. (Nhưng tại sao ông lại muốn cho tôi? Nó là của ông mà, thưa ông.)
– It is not true. I keep the true medal at home. This one is only a gift but I want to give it to you from my heart! (Nó không phải là cái thật. Tôi giữ cái huân chương thật ở nhà. Cái này chỉ là quà nhưng tôi muốn biếu nó cho anh bằng tấm lòng của tôi!)
Tôi xúc động đứng lặng người không biết nói gì. Vợ ông đẩy tay tôi đang cầm cái huân chương trở lại gật đầu cười nhẹ:
– Keep it! (Hãy giữ đi!)
Lúc ông bà rời đi, tôi ngó theo cái dáng xiêu vẹo, nghiêng ngả bước khập khiễng không vững của ông với cây gậy mà cảm khái thở dài, lòng bùi ngùi bâng khuâng, thương cho người thương phế binh vì đất nước tôi mà tàn tật mang theo di chứng bên mình cả đời, kẻ khác lại bỏ mạng. Còn nỗi buồn nào hơn?
Nhờ họ hy sinh mà bây giờ chúng ta mới có tự do, sống yên bình hạnh phúc. Memorial Day thật sự là một ngày lễ vô cùng quan trọng, đầy ý nghĩa! Chúng ta phải nhớ ơn họ!
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế. Sau đây, xin mời đọc một truyện ngắn tiêu biểu của tác giả.
* * *
Chuyện quái lạ sau đây, xảy ra cho người bạn của tôi khiến tôi cứ thắc mắc mãi. Có phải chết là hết hay là còn linh hồn? Nếu còn thì thế nào là siêu thoát, thế nào là oan hồn, uổng tử? Ma, quỉ là gì? Thời đại khoa học mà lại có người bị chết vì bị con quỉ hút hết tinh lực? Giống như chuyện Liêu Trai. Làm sao mà tin được!
Tôi với hắn quen nhau trên đảo Galang, Nam Dương, nơi đón nhạn những người vượt biên bằng thuyền sau khi cộng sản vào Sài Gòn năm bảy lăm. Qua Mỹ, cùng về tiểu bang Virginia, thỉnh thoảng gặp nhau thường rủ vô tiệm cà phê, chuyện trò. Hắn và tôi đều độc thân nên sống thoải mái, chẳng hề bận tâm chuyện nhà cửa, điện nước, vợ con. Thế rồi hơn cả năm không gặp hắn, tôi gọi điện thoại, chủ nhà trọ bảo hắn đã dọn đi nơi khác rồi.
Bỗng một hôm, tình cờ tôi gặp lại hắn ngoài chợ. Người hắn ốm nhom, da xanh như tàu lá, đi không vững nhưng đôi mắt còn linh động, miệng vẫn tươi cười. Tôi hỏi.
– Lối rày sao trông mầy xanh xao quá! Có bịnh hoạn gì không? Đi bác sĩ chưa?
– Chả bịnh gì cả. Không hiểu sao? Đi bác sĩ khám bịnh, thử máu, chụp hình. Chụp từ đầu đến chân. Tim, gan, phèo, phổi đều được khám xét rất kỹ. Vẫn bình thường.
– Thế thì phải có chuyện gì xảy ra cho mầy? Hay là gặp em nào, “đêm bảy ngày ba” mầy mới ra nông nổi nầy.
– Mầy đoán có phần đúng, nhưng không phải em nào làm tao xanh xao mà là một bức tranh.
– Tôi kinh ngạc.
– Tại sao một bức tranh lại có thể làm mầy suy sụp đến nguy hiểm như vậy được?
– Chuyện dài dòng lắm, đây là địa chỉ của tao, chủ nhật tới, đến tao, chỉ cho mầy bức tranh, tao kể chuyện mầy mới hiểu được.
Chủ nhật sau, tôi đến. Hắn thuê phòng dưới một tầng hầm (basement), trong phòng có treo một bức tranh thiếu nữ khỏa thân. Tôi chưa hề thấy một bức tranh tuyệt vời đến như thế. Cô gái trong tranh đẹp lồ lộ, nhưng là vẻ đẹp tinh khiết, từ đôi mắt ngây thơ đến mái tóc đen tuyền xỏa trên vai, nhất là thân thể, chân tay, làn da… đều sáng, mịn như đúc bằng ngọc bích. Cô giống như nàng tiên, cùng các bạn xuống chơi trần thế, vừa tắm suối xong, bước lên bờ một cách hồn nhiên, vô tư tưởng chừng như thế gian không có người phàm tục.
Thấy tôi cứ đứng ngẩn ngơ trước bức tranh, hắn đi nấu nước trà rồi bắt tôi ngồi xuống để nghe hắn kể.
*
Câu chuyện bắt đầu từ Việt Nam, cách đây khá lâu, khi tao còn học trường Phan Chu Trinh, Đà Nẳng. Thời trung học thì mầy cũng biết, yêu ai thì cứ yêu, không cần biết đối tượng có yêu lại hay không. Được yêu lại thì gọi là yêu nhau. Bị từ chối thì gọi là yêu đơn phương. Tao yêu đơn phương.
Năm đó tao học đệ nhị, em học đệ ngũ. Con gái đệ ngũ như hoa hồng hé nở, cô nào cũng đẹp, cũng duyên dáng. Em là con chiên Công Giáo, sáng chủ nhật đi lễ nhà thờ, tao cũng dậy sớm, ăn mặc chỉnh tề, ôm quyển tự điển to tướng, trông giống quyển thánh kinh, dĩ nhiên đã bao cái bìa, đi chen vào với gia đình em, mục đích để được đi cạnh em mà không ai quan tâm vì tưởng tao cũng là bổn đạo. Bố em là công chức Tòa Thị Chính, nơi khác đến làm việc chứ không phải người địa phương. Ông ta ốm, thấp, mặt mũi nhăn nhó, khó chịu. Tao sợ ông ta lắm vì mặc cảm yêu con gái ông ta. Thường thì thấy tao, em mỉm cười chào một cách yên lặng. Khi đến nhà thờ, tao loanh quanh đâu đó rồi quay về, vì tao đâu phải giáo dân.
Nhà em ở đầu con hẻm, nhà tao ở trong hẻm nên tối nào, đang học bài, nhớ em, tao đi qua lại trước nhà em vài lần. Tao còn làm thơ yêu em, trước khi gửi bài thơ đăng báo, tao đều gửi đến em kèm với lá thư tình. Tao gửi trực tiếp đến phòng học của em chứ không qua bưu điện. Số là một buổi tối, đi ngang nhà em, tao thấy có ánh sáng hắt ra từ một căn phòng. Nhà em có vườn rộng, buổi tối đóng cửa sớm. Tao bước lên hiên nhà em, cúi xuống nhìn qua cửa lá sách, thấy em đang học bài. Thế là từ đó, tao đến với lá thư, tao ngắm trộm em một lúc trước khi chuồi lá thư qua khe cửa. Em không biết được, nhưng sáng hôm sau, mở cửa, em sẽ thấy lá thư.
Em được thư tao nhưng không thấy phản ứng gì, gặp tao em không nhìn chỉ mím cười. Như thế thì mầy cũng hiểu là em không yêu tao, tuy có hãnh diện được tao si mê. Tao yêu em gần ba năm mà tình trạng vẫn không thay đổi. Cho đến năm tao thi xong tú tài hai, chuẩn bị vào Sài Gòn học đại học, tao mới viết một lá thư thật dài, toàn những lời si mê em. Nào là dù phương trời góc biển, tao cũng không quên em, dù sau nầy khi em không còn trẻ đẹp nữa, nếu em rủ lòng, tao sẵn sàng quì dưới chân em, làm một tên nô lệ. Cuối thư, tao xin em, trả lời cho tao vài chữ, để mắng chửi tao cũng được, miễn sao tao có bút tích của em, làm “hành trang lên đường!” Tao còn thêm một câu “Ý định xin Bình Minh một tấm hình có phải là không tưởng, là viễn vông chăng?” Góc lá thư tao ghi địa chỉ người bà con ở Sài Gòn mà tao sẽ vào trọ học. Tối đó, tao mang lá thư đến nhà em. Tưởng nghỉ hè, em đi ngủ sớm, không ngờ đến nơi, thấy đèn phòng em vẫn còn sáng, nhưng nhìn qua khe cửa lá sách, tao không thấy em. Tao đi vòng qua phía sau vườn thì phát giác phòng em còn một cửa sổ nữa. Cửa sổ nầy hé mở nhưng không có thềm nhà nên rất cao. Vì muốn nhìn em lần cuối trước khi đi xa nên tao leo lên một cây nhỏ bên cửa sổ, cố nhìn vào bên trong tìm em. Cây nầy thấp nhưng rất dẻo, tao đứng trên cành nhỏ mà không gãy. Vì sợ gây tiếng động, tao leo nhẹ như một con mèo.
Tao thấy được em, nhưng mầy biết em đang làm gì không? Nói, ắt mầy không tin, lúc đó chính tao cũng không tin ở mắt mình nữa. Em đang khỏa thân, nghĩa là không mặc áo quần gì cả. Tao nhớ rất rõ, bấy giờ, chân tay tao, cả người tao run bần bật như lên cơn sốt rét, khiến cành cây cũng rung theo, tiếng lá nghe xào xạc. Tim tao đập thình thịch, như vang dội khắp nơi. Cũng may em không để ý, vả lại tao ở trong bóng tối, em không thể nào thấy được hai con mắt tao núp sau cánh cửa. Em đứng cách tao khoảng vài mét, đèn điện sáng trưng nên hầu như tao nhìn thấy rõ từng sợi tơ mịn trên thân thể em. Ngực em nhỏ nhưng dựng đứng lên, bụng em thon, đùi em tròn…Tao không ngờ thân thể con gái hấp dẫn, tuyệt vời đến như thế. Từ lúc yêu em tao chỉ mới biết mái tóc em, dáng em đi, là những gì đẹp nhất, đến khi chiêm ngưỡng thân thể của em, từ đầu cho đến chân, tao như bị em lấy mất linh hồn. Em cứ đứng trước gương soi xoay người, nghiêng mình… giống như trình diễn thời trang nhưng lại không có áo quần gì cả! Cho đến bây giờ, em vẫn còn như trước mắt, tao nhớ suốt đời và ước mơ suốt đời, với em. Tao không biết mình chiêm ngưỡng thân thể em trong bao lâu, nhưng khi em tắt đèn đi ngủ thì hai tay tao mỏi rã rời, và lũ muỗi, chưa hề gặp được một người tử tế đến độ cho hút máu thoải mái mà không cục cựa. Khi vào đến Sài Gòn, mặt mũi, chân tay tao vẫn còn những chỗ ngứa đến mưng mủ. Trước khi ra về, tao để lá thư của tao chỗ cửa sổ. Không hiểu em sẽ nghĩ gì khi biết tao nhìn thấy thân thể em?
– Nhưng mầy có biết vì sao em lại thoát y, uốn éo trước gương soi cả buổi không? Có phải em bị một chứng bịnh nào đó về tâm sinh lý, bịnh phô bày chẳng hạn, nghĩa là em muốn được mầy ngắm thân thể em, thì em mới khoái cảm, vì biết mầy thường đến nhìn trộm em qua cửa sổ?
– Tao biết chắc là tâm lý em bình thường nhưng nguyên nhân em thoát y, cho đến bây giờ, tao vẫn không tìm ra. Để tao kể tiếp. Khi vào đến Sài Gòn độ một tuần, tao đã được thư em, tuy không ghi địa chỉ người gửi. Tao hồi hộp mở phong bì ra. Chẳng có gì cả! Tao thất vọng, nhưng nhìn kỹ, trong góc phong bì có một tấm ảnh nhỏ của em, thứ ảnh học trò thường dán trên thẻ học sinh, nhỏ cỡ lóng tay cái. Hình em tóc ngang vai, nhìn thẳng, ngây thơ, hiền lành. Đó, tấm ảnh tao dán ở góc bức tranh kia kìa. Mầy thấy hình vẽ và ảnh chụp đúng là một người, phải không? Sau ảnh em có ghi mấy giòng chữ li ti “Bình Minh báo cho anh một tin vui và một tin buồn. Tin vui là Bình Minh đã yêu một người. Tin buồn là người Bình Minh yêu không phải là anh.” Tao chẳng cần biết em yêu ai, miễn có ảnh em là tao vui rồi. Chỉ cần ngắm ảnh bán thân tí xíu của em tao có thể tưởng tượng được toàn thể thân thể em, để mà ham muốn, thèm thuồng em. Vả lại khi em chịu cho ảnh lại viết mấy chữ, chứng tỏ em không ghét tao, có thể có cảm tình với tao nhưng ít hơn người em yêu. Biết đâu, khi em bị tình phụ, tao có nhiều may mắn được làm người kế tiếp. Tình yêu học trò, khó có chuyện thành vợ chồng nên tao có quyền hi vọng. Hết niên học ở Sài Gòn, tao về Đà Nẳng nghỉ hè, mục đích thăm em. Nhưng về đến nơi thì được tin em đã chết. Nhà em đã đổi chủ, gia đình em đã dọn đi nơi nào không rõ. Người ta đồn rằng em thất tình tự tử, người thì cho rằng em bị bịnh thình lình mà chết. Tao có tìm đến thăm mộ em, thắp nhang và khấn rằng “Bình Minh có linh thiêng xin linh hồn em cho anh gặp. Anh chỉ yêu một mình em thôi. Anh sẽ không yêu ai cả, không lấy vợ…” Có lẽ vì quá mơ tưởng em nên tối đó tao chiêm bao thấy em Bình Minh đến đứng cạnh giường tao, nhìn tao mỉm cười rồi quay bước ra khỏi cửa. Từ đó tao không mơ thấy em nữa, mãi đến sau nầy…khi tao có bức tranh treo kia kìa. Mầy thấy dung nhan em ra sao? Có đáng để tao si mê em không?
Tôi nhìn kỹ và nói.
– Đúng là hai tấm hình là của một người, rất đẹp, nhưng người vẽ mới là tài hoa.
– Họa sĩ danh tiếng mà mầy!
– Nhưng làm sao mầy có bức tranh nầy? Có điều lạ là chuyện mầy kể xảy ra trước năm bảy lăm, mà bức tranh nầy, họa sĩ La Hy ký tên và đề năm chín mươi, nghĩa là họa sĩ vẽ bức tranh sau khi em Bình Minh của mầy chết đã hơn mười mấy năm. Không lẽ em Bình Minh của mầy còn sống?
– Điều chắc chắn là em Bình Minh đã chết.
– Vậy thì mầy thử kể lai lịch bức tranh nầy tao nghe. Ông họa sĩ La Hy thì tao có biết tiếng. Mầy mua bao nhiêu, khi nào? Hay là mầy ăn cắp?
– Không mua mà cũng chẳng ăn cắp. Thực ra tao cũng định ăn cắp, vì bức tranh giá trị như thế, tao không đủ tiền mua, mà chắc gì ông họa sĩ muốn bán cho một thằng chẳng ra gì như tao.
– Mầy cứ kể lai lịch bức tranh nầy và nguyên nhân nào khiến mầy xanh xao, gầy còm đến như thế?
– Đừng sốt ruột! Đầu đuôi câu chuyện như thế nầy. Khi qua đến xứ Mỹ, lúc rảnh rỗi tao có làm thơ đăng báo. Thơ tao chẳng hay ho gì, nhưng bạn thơ thường tìm đến nhau, tụ tập trò chuyện. Thế rồi cả bọn đề nghị ra một tập thơ nhiều tác giả. Nhiệm vụ tao là đến nhờ họa sĩ La Hy cái tranh bìa tập thơ. Tao chưa hề biết ông ta, chỉ giở điện thoại niên giám và gọi xin đến gặp về cái tranh bìa. Đúng hẹn, tao đến. Khi vào nhà ông thì tao muốn ngộp vì tranh. Chỗ nào cũng treo đầy tranh. Thấy tao thích tranh, ông chỉ lối cho tao lên phòng trưng bày tranh của ông rồi bỏ đó cho tao được tự do. Trước đây, khi còn ở Sài Gòn, tao đã có dịp xem tranh ông triển lãm, nhưng chưa bao giờ thấy nhiều tranh đến như thế. Bức nào cũng đẹp. Tao như bị thôi miên, như mộng du, cứ lẩn thẩn từ bức tranh nầy đến bức khác. Lúc gần đến cuối phòng, tao giật mình khi chợt thấy bức họa khỏa thân nầy. Đó là hình vẽ em Bình Minh, thần tượng của tao. Tao đứng ngắm hình em, mê mẩn tâm thần. Tao bỗng có ý mua bức tranh, nhưng nghĩ lại, chắc gì tao có đủ tiền để mua. Mua tranh chứ đâu phải như ở Việt Nam đi chợ mua cá mà trả giá. Cũng làm gì có chuyện mua trả góp như mua nhà, mua xe! Nhưng tao nhất định phải có bức tranh em Bình Minh. Trong trí tao bỗng nảy ra ý định ăn cắp. Lúc đó ông họa sĩ đã xuống dưới nhà. Tao nhìn quanh, thấy phòng đó có cửa kính mở ra sau vườn, giống như bất cứ nhà nào ở xứ Mỹ nầy. Đó là loại cửa đẩy. Tao kéo cái chốt gài, đẩy lùi cửa, một chút thôi, như thế cái chốt hở ra chứ không gài vào cái ngàm, coi như cửa không khóa, người ở ngoài có thể mở dễ dàng. Mục đích, sau nầy, khi cả nhà ông đi vắng, tao sẽ vào cửa sau và ăn trộm bức tranh. Tao quay xuống phòng khách, suýt soa khen tranh ông nhưng không hề đề cập đến bức họa khỏa thân em Bình Minh.
Tôi chận lại.
– Sao mầy không hỏi người trong tranh là ai? Có phải em Bình Minh hay là người nào khác? Nhất là cái năm mà ông ký tên ở góc bức tranh, cách ngày em Bình Minh của mầy chết cả mười mấy năm.
– Tao còn ngứa miệng, tò mò gấp mấy lần mầy, nhưng tao giữ lại kịp. Nếu tao hỏi mà chỉ mấy hôm sau, bức tranh biến mất thì ông ta biết ngay tao là thằng ăn trộm. Thế nên tao chỉ nói chuyện với ông ta về cái tranh bìa tập thơ mà thôi. Ông hẹn tao tuần sau đến lấy. Bức tranh cứ ám ảnh tao mãi. Dạo đó vào cuối mùa Thu, trời hay mưa. Tao dự định đậu xe một nơi xa, mặc áo mưa trùm kín, không ai nhận diện được, nhất là vào lúc khuya, mọi người rút cả vào trong nhà, ngủ kỹ, rất thuận tiện cho tao ra tay. Âm mưu chưa thực hiện được thì đã đến ngày tao đến nhận cái tranh bìa tập thơ. Hôm đó là sáng Chủ Nhật, hình như mọi người trong nhà đều tụ tập ở phòng khách. Sau vài thủ tục trao đổi, tao lấy cái tranh bìa rồi cáo từ, nhưng ông ta giữ lại “Anh chờ tôi một phút, tôi có món quà tặng anh” Xong ông ta vào phòng tranh, lúc trở ra ông mang theo bức họa khỏa thân của em Bình Minh. Tao vừa kinh ngạc vừa xấu hổ. Tao nghĩ là nhà ông có máy thu hình, lần trước đã thấy tao đứng nhìn say sưa bức tranh rồi lại gỡ cái chốt cửa kiếng ra. Thế là rõ ràng tao muốn ăn trộm. Cho nên tao thối thác ngay “Tôi thích bức tranh nầy lắm, nhưng trị giá của nó không phải là nhỏ, tôi không đủ sức mua, vả lại phòng trọ của tôi chật hẹp, không xứng để treo, thỉnh thoảng cho phép tôi đến ngắm là thỏa mãn lắm rồi” Ông ta bảo “Bức tranh nầy tôi không có ý định bán, tôi giữ trong nhà hoặc tặng cho anh mà thôi, và anh là người duy nhất được cái hân hạnh đó. Bà xã tôi đây cũng đồng ý như thế” Tao lấy làm quái lạ, trước giờ tao chỉ gặp ông họa sĩ là lần thứ hai, cũng không hề biết người nào khác trong gia đình ông, vậy mà lúc đó, mọi người nhìn tao với cặp mắt thân thiện chứ không mỉa mai như tao nghĩ. Vợ ông họa sĩ để tựa bức tranh vào tường, đứng nhìn với vẻ thân ái, rồi chị trịnh trọng trao cho tao. Cả nhà đứng lên, không phải tiễn tao mà tiễn bức tranh một cách lưu luyến. Tao chỉ biết nói cám ơn rồi mang bức tranh đi ngay, sợ ông ta đổi ý, đòi lại. Tao đặt bức tranh ở ghế bên cạnh, vừa lái xe vừa ngắm hình em Bình Minh cho đã con mắt. Đột nhiên tao kinh ngạc. Mầy nhìn kỹ xem, em Bình Minh nhìn thăng, không cười. Vậy mà lúc đó tao thấy rõ ràng, em đang liếc nhìn tao, miệng hé mở như đang cười với tao.
Tôi kêu lên.
– Thôi, chết mầy rồi, bức tranh nầy có hồn ma. Ông ta muốn tống khứ cái hồn ma trong tranh nầy cho mầy đó!
– Mầy suy luận giống tao, những gì tao kể tiếp theo đây mới xác nhận điều đó, chứ bấy giờ tao nghĩ rằng mắt mình nhìn lầm, vì khi quay nhìn lần nữa thì bức tranh không còn gì lạ, tao chỉ thắc mắc tại sao ông họa sĩ cho bức tranh mà không nói lý do?
Hắn đứng dậy đi thắp một cây nhang, cắm lên cái ly thủy tinh đựng gạo, coi như là cái bình nhang. Căn phòng hắn mướn, dưới tầng hầm, không có cửa sổ, không khí lạnh lẽo lại thêm mùi nhang trầm nên thâm u, ma quái khiến tôi tưởng như hồn ma cô gái trong tranh đang lắng nghe chúng tôi chuyện trò.
– Tao đem tấm ảnh học trò em Bình Minh tặng ngày trước ra so sánh. Đúng là em! Chả lẽ em còn sống? Ngày xưa, chính mắt tao thấy mộ bia em ghi rõ ngày sinh, ngày chết.
Tôi lại ngắt lời hắn.
– Nếu mầy xác nhận hình trong tranh là em Bình Minh của mầy thì sau gần hai mươi năm em phải khác, phải già hơn. Đây là tranh một cô gái độ mười tám tuổi, vẽ năm chín mươi, nên tao nghĩ người trong tranh là con gái em Bình Minh của mầy. Giả thiết như thế nầy. Năm đó em tằng tịu rồi có bầu với người yêu, là người mà em đã cho mầy biết trong thư. Rồi người yêu chạy làng. Em bán cái, bảo rằng đó là con của mầy, mấy bài thơ mầy tặng em là chứng cớ, rồi em chết, có thể vì bịnh, có thể vì thất vọng, xấu hổ. Biết đâu hiện nay ông họa sĩ đang nuôi cô bé đó.
Hắn cười.
– Tao không nghĩ câu chuyện lại rắc rối, ly kì như tiểu thuyết tình cảm hay tuồng cải lương. Nó đơn giản hơn nhiều. Cái ly kì là ở những gì tao sắp kể sau đây. Tao nghĩ, dù có giả thiết nào đi nữa thì em Bình Minh cũng thật sự chết rồi, và bức tranh đó là hình vẽ em nên chiều đó tao ghé tiệm chạp phô mua nhang đèn, hoa quả về đặt trước hình em, coi như thờ cúng em. Tao treo bức tranh lên, tối đó nằm nhìn tranh và nhớ lại buổi tối năm nào, tao leo cửa sổ và ngắm thân thể hấp dẫn của em. Tao khấn thầm, đúng hơn là như đọc câu thần chú “Em Bình Minh, hãy hiện ra! Hãy hiện ra!” mục đích nói vơ vẩn cho vui thôi. Rồi tao cảm thấy buồn ngủ. Lúc đó chưa khuya lắm, đèn ngủ trong phòng vẫn còn sáng. Hai mắt tao ríu lại, nửa tỉnh nửa mơ…Tao bỗng thấy như bức tranh đang trôi đi, đúng hơn là em Bình Minh từ trong tranh hiện ra, bay lơ lửng về phía tao. Tao tỉnh ngủ hẳn, muốn ngồi dậy, nhưng chân tay tao không cử động được. Tao nghe rõ tiếng xe chạy ngoài đường vừa thấy rõ em Bình Minh yên lặng đến nằm cạnh tao. Tao thấy chúng tao ôm nhau, tao đè lên em… Thế rồi tao ngủ thiếp đi.
Tôi nhận xét.
– Tuổi trung niên như mầy, như tao mà không có vợ thì chuyện sinh lý đòi hỏi đến độ nằm mơ là chuyện thường, nhất là cứ nhìn một bức họa khỏa thân trong một đêm vắng thì chuyện quần lót vẽ “đảo Hải Nam” tức là dấu vết của sự sung sức thải ra, là đương nhiên.
– Lúc đầu tao cũng nghĩ như mầy nên tao rất cảnh giác, tối đến, tao cố tỉnh ngủ để xem có thật em hiện ra không? Ấy vậy mà đến một lúc, tự nhiên mắt tao ríu lại, nhưng thần trí vẫn tỉnh. Tao thấy rõ ràng em từ trong tranh hiện ra. Em trong tranh lớn dần, từ từ rời khỏi khung, như bay về phía tao. Tao cố gắng kêu lên, cố vẫy vùng, nhưng biết rằng mình không cử động được. Điều đáng ngạc nhiên là những lần sau nầy em hành động như một cô gái điếm chuyên nghiệp. Trí óc sáng suốt của tao nhận biết em đang làm gì. Em hôn hít, vuốt ve tao. Nhất là lúc em cúi gập người xuống, phủ phục dưới bụng tao. Tao bị kích thích đến run rẩy, tê dại chân tay. Rồi tao cảm thấy tất cả tinh lực của tao, cùng với sự khoái cảm tột độ, cuồn cuộn tuôn trào vào miệng em. Giống như đứa bé mút bình sữa vậy. Tao quằn quại…rồi thiếp đi. Chỉ vài tuần sau là người tao khô kiệt như mầy thấy đây. Tao đâm sợ hãi, ban ngày, tao lật cho bức tranh úp mặt vô tường, nhưng đêm đến, tao không tự chủ được, lại trở bức tranh ra, lại mong đợi em, giống như có một ma lực xúi biểu tao thèm em, nhớ em. Để rồi em lại hiện ra. Chính tao biết rõ tình hình rất nguy ngập nhưng tao không có cách nào thoát khỏi tay em! Mầy có ý kiến gì không?
Thật tâm thì tôi không thể tin nỗi chuyện ma quái xảy ra trong thời phi thuyền liên hành tinh. Bên dưới những diễn biến tôi nghe được phải có sự thật nào đó mà chưa tìm ra? Cho nên tôi bảo hắn.
– Theo tao thì phải đến ông họa sĩ La Hy hỏi rõ người trong tranh, hỏi rõ nguyên nhân ông ta cho mầy bức tranh, hỏi xem ông ta có thấy gì lạ từ bức tranh đó không? Lúc đó mới có giải pháp khả dĩ. Tốt nhất là mầy đem trả bức tranh cho ông ta là yên chuyện.
– Tao cũng đã nghĩ như mầy. Nhiều lần tao đem bức tranh đi trả, nhưng hễ bỏ bức tranh lên xe, lái đi, là tao như người mất hồn, không hiểu mình đang làm gì, đi đâu đây! Cứ lơ mơ như say rượu. Tay lái như có người khác điều khiển vì tao giữ chặt cách mấy, tay lái vẫn bị giật qua trái, qua phải như giận dữ, nóng nảy. Nhiều lần xe tao đi vào đường cấm, có khi suýt tung xe người khác cho đến lúc phải quay xe về, tao mới tỉnh người. Hay là mầy với tao thử đến ông họa sĩ xem sao? Để tao gọi ông ta, xin đến gặp ngay bây giờ.
Hắn gọi điện thoại rồi bảo tôi rằng ông ta vui vẻ mời đến. Thế rồi chúng tôi đến nhà họa sĩ La Hy. Trong lúc trà nước, chúng tôi chưa lên tiếng thì ông đã cười bảo hắn.
– Tôi biết ngay làm gì anh cũng thắc mắc về chuyện tự nhiên lại tặng anh bức họa khỏa thân. Ngay bản thân tôi cũng có vài thắc mắc cần anh giải thích. Việc tặng anh bức tranh là do chính người trong tranh, đúng hơn là hồn một người chết hiện ra bảo như thế. Không phải trực tiếp bảo tôi đâu!
Chúng tôi càng ngạc nhiên nên đề nghị ông kể rõ lai lịch bức tranh cũng như người trong tranh, lý do ông ta tặng tranh. Ông yên lặng một lúc, đăm chiêu như cố nhớ lại câu chuyện cho rõ ràng, chính xác.
Chuyện xảy ra khá lâu, cách đây cũng gần vài mươi năm. Tôi tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật, về dạy vẽ ở Huế. Mùa hè năm đó tôi nghỉ hè tại nhà người chị ở Đà Nẳng. Vợ chồng chị tôi đều là giáo sư trung học, chưa có con. Nhà chị tôi có lầu, tôi ở một phòng riêng trên lầu, phía sau có ban công. Buổi sáng tôi thường ra ban công uống cà phê, vẽ vời linh tinh. Một hôm, đứng trên ban công, nhìn qua vườn hàng xóm, tôi thấy một cô gái đang hái hoa, có lẽ để cắm trong nhà. Tôi yên lặng nhìn cô. Một lát, vô tình nhìn lên, cô thấy tôi và cười rất tự nhiên “Chào anh!” “Chào cô bé! hôm nay không đi học sao?” “Nghỉ hè mà!” Thế rồi cô thành người hàng xóm của tôi. Tôi thường xuống thang lầu lộ thiên sau nhà, đứng bên nầy hàng rào, chuyện trò với cô. Một hôm tôi đem xuống tặng cô một bức tranh tôi vẽ cô. Cô ngạc nhiên, sao không có hình mà tôi lại vẽ giống cô? Thế rồi cô xin được lên phòng xem tranh. Tôi vạch cho cô một lối đi băng qua hàng rào, lên phòng tranh của tôi trên lầu. Sau đó tôi nhờ cô ngồi làm mẫu để tôi vẽ. Được bức nào tôi đều tặng cả cho cô. Cô đẹp tự nhiên. Tuổi cô như hoa hé nở, đầy sức sống, đầy tình yêu và tự tin. Đối với tôi, cô chỉ là người bạn nhỏ. Tuy chúng tôi thân mật và cô rất tin cẩn tôi mỗi khi gặp nhau trong phòng tranh nhưng tôi vẫn cẩn thận tránh đụng chạm và lời nói khác ý gì. Một lần tôi đề nghị cô làm mẫu khỏa thân, cô đồng ý ngay. Mỗi buổi sáng cô lên phòng tôi, cởi áo quần ra ngồi làm mẫu độ nửa giờ. Tôi hoàn toàn nhìn cô bằng đôi mắt nghệ thuật. Thân hình cô rất đẹp, không phải vì khêu gợi mà ở vẻ thanh tân, trong trắng. Thật khó nói! Giống như một viên ngọc đã được hóa công trau chuốt. Trong sáng, không một vết vẫn đục! Chân tay cô, thân thể cô là một sự hài hòa những đường nét tuyệt vời. Da cô mịn như cánh hoa hồng. Tôi như cảm nhận được mùi thơm trinh nữ từ người cô tỏa ra, thanh tao, nhẹ nhàng như hương trà, hương hoa. Thần trí tôi bay bỗng, say sưa theo từng nét cọ, từng mảng màu. Từ đó đến nay tôi chưa hề có lại giây phút rung động đến xuất thần như khi vẽ cô ta, và cũng chưa lần nào tôi vẽ đẹp đến như thế.
Bạn tôi liếc nhìn tôi. Thì ra hắn được ngắm em Bình Minh khỏa thân là trong thời gian em ngồi làm mẫu. Em uốn éo, nghiêng ngó trong gương soi là tìm cách thế sao cho họa sĩ vẽ đẹp nhất. Ông họa sĩ trầm ngâm một lúc rồi kể tiếp.
– Bức tranh vẽ xong, tôi lên khung và trao cho cô “Anh tặng em để làm kỷ niệm. Đây là bức tranh mà anh vừa ý nhất trong các tranh vẽ về em” Cô lộ vẻ sung sướng “Anh gói kỹ giùm em, thỉnh thoảng em sẽ mở ra để ngắm. Ba em thấy được, giết em chết. Để khi em lớn lên, không ở với gia đình nữa, em sẽ treo trong phòng em”.
Hai hôm sau, cô lên phòng tôi, thấy tôi đang dọn dẹp các bức tranh, dụng cụ, cô hỏi “Anh hết nghỉ hè rồi sao?” Tôi nói “Còn chứ, nhưng anh phải về Huế cưới vợ. Giá như anh cưới vợ ở Đà Nẳng, anh sẽ mời em, nhưng Huế xa quá!” Cô không nói gì nhưng mặt cô tái nhợt. Cô yên lặng xuống cầu thang ra về, nhưng mới vài bước, cô đã lảo đảo ngã ngồi xuống. Tôi vội đến đỡ cô lên, dìu đến ghế ngồi. Đó là lần duy nhất tôi chạm đến người cô. Tôi nghĩ rằng cô bị trúng gió nên đi tìm cho cô lọ dầu, nhưng khi quay lại, cô đã đi rồi. Tôi ra sân thượng, nhìn xuống, thấy cô vẫn còn phải vịn vách tường vào nhà. Tôi về Huế, tháng sau thì cưới vợ. Vợ chồng người chị tôi ở Đà Nẳng ra dự đám cưới có mang cho tôi một gói lớn, đó là những bức tranh tôi đã vẽ về cô và đã tặng cô. Chị tôi bảo “Con nhỏ hàng xóm gửi trả lại mấy bức tranh” Vì bận việc tôi không lưu ý đến. Sau ngày đám cưới chúng tôi đi Nha Trang rồi Đa Lạt, Vũng Tàu hưởng tuần trăng mật. Có điều lạ là thỉnh thoảng nhà tôi nằm mơ thấy một cô gái đến bảo “Chị thật là may mắn, hạnh phúc!” Giấc mộng cứ lặp lại nhiều lần như thế. Tôi hỏi nhà tôi “Em có từng gặp, có quen ai giống người em thấy trong mơ không? Cô ta vui hay buồn?” “Cô ta không lộ vẻ vui hay buồn. Cô gái rất lạ, em chưa hề gặp ngoài đời bao giờ”
Sau tuần trăng mật, về lại Huế, nhớ lại mấy bức tranh cô gái ở Đà Nẳng, tôi mở ra định treo lên thì thấy ở bức tranh khỏa thân có miếng giấy nhỏ, ghi giòng chữ “Em buồn quá anh ơi! Có lẽ em không sống nổi!” Tôi nghĩ rằng cô học hành, thi cử sao đó hoặc vì mấy bức tranh nầy, cha mẹ cô bắt gặp, la mắng khiến cô buồn rầu chăng, nên tôi không quan tâm lắm. Khi nhà tôi lên phòng vẽ, thấy mấy bức tranh đó cứ đứng nhìn mãi “Hình như em có gặp cô nầy ở đâu?” “Đây là cô học trò ở Đà Nẳng, em đã gặp cô ta ở đó chăng?” “Em chưa nhớ ra nhưng thấy quen quen” Mấy hôm sau, nửa khuya, nhà tôi đánh thức tôi dậy “Cô gái em thường nằm mơ thấy là cô trong mấy bức tranh anh vẽ. Vừa rồi, em lại mơ thấy cô ta, tỉnh dậy, em nhớ ra ngay, có lẽ đó là hồn ma cô ta” Tôi cười bảo “Cô ta còn sống nhăn ở Đà Nẳng, hôm nào vào Đà Nẳng, anh giới thiệu cô ta để em xác nhận có đúng là người em nằm mơ không?”.
Tháng sau, vào Đà Nẳng, chúng tôi hỏi thăm thì chị tôi bảo “Cô hàng xóm bịnh, chết rồi” Nhà tôi có ý nghi ngờ về tình cảm, liên hệ giữa tôi và cô ta. Tôi kể hết mọi chuyện và xác nhận rằng tôi chỉ xem cô như em gái và cô ta cũng không lộ tỏ cảm tình đặc biệt gì với tôi cả. Nhà tôi nghĩ rằng, có lẽ cô gái yêu thầm tôi nên khi nghe tin tôi lấy vợ, cô ta thất vọng, nghĩ quẫn nên tự tử chăng? Chúng tôi có tìm đến thăm mộ cô ta. Nhà tôi ghi nhận ngày sinh, ngày mất của cô, đến chùa xin lễ cầu siêu cho cô. Sau nầy hễ đến ngày cô mất nhà tôi thường đến chùa với lễ vật, cúng kiếng, cầu siêu cho cô rất tươm tất. Tôi không hề nằm mơ thấy cô ta nên tôi không tin có chuyện hồn ma, bóng quế, nhưng nhà tôi thì tin lắm.
Sau năm bảy lăm, đổi đời, chúng tôi dự định vượt biên, nhưng khi có ai đến rủ, nhà tôi đều thắp nhang, khấn xin cô về báo cho biết có nên đi hay không? Nếu không nằm mộng thì từ chối. Cho đến một hôm, nhà tôi mơ thấy cô hiện ra cười bảo “Nên đi đi!” Nhà tôi không hiểu ý gì, bất ngờ, đến trưa thì có một người không quen lắm đến rủ vượt biên, chúng tôi nhận lời. Chuyến đi thật liều lĩnh, tưởng như đun đầu cho công an bắt. Chúng tôi xuống Cần Thơ đi ăn cưới, một đám cưới thật, ngay cạnh đồn công an xã, trước chợ. Gần tối, chúng tôi xuống thuyền nhỏ. Mấy cậu công an trẻ, ăn cưới say sưa còn nói đùa “Đến nơi nhớ đánh điện về nghe! Qua đến Mỹ thì gửi về một thùng quà!” Nhà tôi cứ khấn thầm xin cô ta phù hộ. Chuyến đi vừa nguy hiểm vừa như đùa lại trót lọt một cách không thể ngờ được!
Qua đến Mỹ, nhà tôi lập một bàn thờ nhỏ, giỗ chạp tươm tất như với người thân thích, lại còn đến chùa xin lễ cầu siêu nữa. Lần trước, tự nhiên nhà tôi lại mơ thấy cô ta hiện ra bảo “Sáng mai, đưa hình em cho anh ấy đem đi!” Chúng tôi không hiểu gì cả, nhưng suy đoán rằng, sáng mai sẽ có người đến mua tranh và chắc chắn sẽ hỏi mua bức tranh vẽ về cô ta. Nhưng cả ngày hôm đó chỉ có anh đến xin cái tranh bìa cho tập thơ mà thôi. Lần trước, khi anh đến xem tranh, trong lúc anh ở trong phòng tranh thì nhà tôi bất ngờ đi vào, thấy anh đứng ngắm hình vẽ cô ta say mê đến độ có người lên mà anh cũng không biết! Chúng tôi đoán anh và cô ta phải có liên hệ gì đây, nhưng vì tế nhị nên không hỏi.
Tôi ngắt lời ông ta.
– Nghe anh kể thì chuyện xảy ra trước năm bảy lăm, sao bức tranh lại ký tên năm chín mươi?
– Khi vượt biên, chúng tôi bỏ lại toàn bộ những họa phẩm, là những gì chúng tôi quí nhất. Sang đến Mỹ, để tỏ lòng nhớ ơn cô ta trong vụ vượt biên, nhà tôi bảo tôi nên vẽ lại bức tranh về cô ta, vừa để tưởng niệm vừa như để thờ, vì thế bức tranh mới ký năm chín mươi. Khi vẽ hình cô, tuy bao nhiêu năm rồi mà tôi còn nhớ y nguyên trong đầu hình ảnh cô. Nhớ rõ từng sợi tơ, sợi tóc, từng làn da, từng hơi thở, hương thơm của cô… Bàn tay tôi như có một sức rung động lạ kỳ, như lên cơ bút, như xuất thần. Thế là chỉ trong một ngày tôi đã hoàn tất bức tranh đó, tuy không đẹp bằng bức tranh trước, nhưng rất giống.
Bạn tôi hỏi.
– Có phải cô ta tên Bình Minh không?
Họa sĩ La Hy ngạc nhiên.
– Đúng là tên Bình Minh, nhưng sao anh biết? Chúng tôi đoán không lầm, phải có mối liên hệ giữa cô ta và anh nên mới có vụ cô ta bảo tặng bức tranh cho anh. Anh có thể cho tôi biết chút ít về chuyện đó không?
Bạn tôi chỉ sơ lược rằng thời đi học ở Đà Nẳng, hắn yêu cô ta, có tỏ tình nhưng cô không đáp lại, nên khi thấy bức tranh hắn nhận ra cô ta ngay. Tuyệt đối hắn không nói gì đến chuyện hắn được ngắm cô khỏa thân hay nằm mơ thấy cô ta. Ông họa sĩ có vẻ thông cảm và hình như tin rằng những lần cô Bình Minh hiện ra trong giấc mộng của vợ ông là có thật. Ông bảo.
– Tôi nghĩ rằng linh hồn cô Bình Minh vẫn còn vươn vấn cõi đời vì một lý do nào đó.
Chuyện trò đến đấy chúng tôi cáo từ. Tôi khuyên bạn tôi nên lấy tấm hình chụp kiểu học trò của cô Bình Minh sang lớn lên rồi đem vào chùa xin thờ ở đấy. Trước hết xin chùa một lễ cầu siêu.
Thông thường, ở xứ Mỹ vì bận rộn sinh kế nên người chết dù bất cứ ngày nào cũng đều làm lễ cầu siêu, làm tuần, giỗ chạp… ở chùa vào ngày Chủ Nhật, là ngày nghỉ, cho nên vào ngày đó, ít nhất cũng năm, bảy gia đình, gồm vài ba chục người đến xin lễ cầu siêu cho thân nhân. Thật tâm tôi không tin chuyện ma quỉ, nhưng hôm đó lại có chuyện khiến tôi thêm tò mò. Số là sau lễ cầu siêu, chúng tôi chuẩn bị ra về thì nhà sư đến gọi riêng thằng bạn tôi ra sau hậu liêu, tôi cũng đi theo. Đấy là vị sư già, trên bảy mươi nhưng còn tráng kiện, sáng suốt, tính tình vui vẻ. Chúng tôi vào một căn phòng, có lẽ là phòng ăn hay tiếp khách gì đấy, gồm một dãy bàn và ghế dài, có bình trà, vài tờ báo. Vừa ngồi xuống, nhà sư đã bảo bạn tôi.
– Trông khí sắc anh không được tốt lắm, hình như anh đang bị một oan hồn, uổng tử theo quấy nhiễu, ám hại anh.
Tôi nói ngay.
– Có lẽ thầy thấy hắn ốm yếu xanh xao chứ gì?
Nhà sư cười.
– Nếu vậy thì tất cả những người đau ốm nằm bịnh viện đều bị tôi bảo rằng ma ám. Không phải vậy đâu! Tôi nhìn cái thần khí của anh ta chứ không phải vẻ xanh xao, ốm yếu bề ngoài. Có những người ốm trơ xương mà vẫn sống mãi, lại có người mập mạnh, hồng hào bỗng lăn ra chết.
Tôi vẫn không chịu.
– Thời đại khoa học không gian mà thầy. Tôi chẳng thấy ma quỉ bao giờ.
Nhà sư vẫn cười.
– Ma quỉ là vô hình, nhìn bằng mắt thường làm sao thấy được.
Nhà sư chỉ một tờ báo trên bàn.
– Nếu tôi nói theo quan niệm nhà Phật thì các anh không tin. Đây là tờ báo Công Giáo “Việt Catholic News” đưa tin. Cha Gabriele Amorth, linh mục trừ quỉ chính thức của giáo phận Rôma đã xác nhận là Đức Giáo Hoàng đã trừ quỉ cho một cô gái ở thành phố Monza, Ý Đại Lợi.
Tôi lại hỏi móc.
– Biết đâu đó là người bị bịnh tâm thần.
– Anh nói cũng có lý. Nhưng đây là cô gái khi bị quỉ nhập, đến hai toán cảnh sát mà vẫn không kềm chế được cô. Nhưng bịnh tâm thần sao Đức Giáo Hoàng chỉ trị một lần là hết bịnh ngay?
Bạn tôi nãy giờ chỉ ngồi nghe, hắn phân vân.
– Người chết, thật có linh hồn không thầy? Linh hồn có biết vui buồn, thương yêu, thù ghét gì không thầy?
– Nếu nói có thì các anh bảo tôi đã chết đâu mà biết, mà nói không thì tôi cũng chẳng vào tu hành ở đây làm gì. Tôi có cách nầy để các anh thử, nếu không có tác dụng thì các anh cứ bảo tôi nói chuyện mơ hồ, ngược lại, có hiệu quả thì xin mời các anh đến đây, chúng ta cùng tu tập. Bây giờ các anh ngồi chờ tôi một phút, có trà đây, xin mời!
Nói xong, nhà sư vào trong, một lát trở ra nói với bạn tôi.
– Đây là các lá bùa, đây là mấy câu thần chú. Anh dán trước cửa một lá, đầu giường nằm một lá, dưới chân giường một lá còn một lá anh để trong túi áo. Khi dán bùa anh đọc câu thần chú nầy. Tôi tin rằng con quỉ kia sợ oai Phật, sẽ không đến quấy phá anh nữa. Khi đọc thần chú anh nhớ khấn thêm rằng xin mời oan hồn đến chùa để nghe kinh Phật, sẽ được siêu thoát. Tôi bảo là oan hồn uổng tử cũng chưa đúng, nó là con quỉ. Nếu không làm theo tôi chỉ dẫn, anh sẽ khó thoát tay nó. Hại anh xong, nó đi tìm người khác.
Tôi hỏi.
– Tại sao nó chọn thằng bạn tôi mà không chọn người khác?
– Nó không từ một ai cả. Nhưng thường thì tùy theo cái nghiệp chướng của mỗi người. Tôi nghĩ rằng oan hồn theo ám ảnh anh đang mang một ức uất gì đấy, cũng có thể là vì những ham muốn chưa được thỏa mãn. Ham muốn tích lũy từ khi còn sống, mãnh liệt đến độ trở thành một sức mạnh thực sự có thể tác động được đến con người. Tôi đưa mấy lá bùa và câu thần chú là lấy uy danh của Phật, cấm nó không được hại anh đồng thời chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện cho oan hồn đó đến chùa nghe kinh Phật, nhờ hồng ân Đức Phật độ trì cho được siêu thoát đến một cảnh giới khác.
Thấy trời đã về chiều, chúng tôi cáo từ nhà sư, ra về. Tôi theo hắn về nhà để xem hắn dán mấy lá bùa, đọc thần chú và khấn đúng như lời dặn.
Vì sốt ruột, ngay hôm sau tôi đã gọi, hỏi hắn có nằm mơ thấy em Bình Minh hiện về không? Hắn bảo không. Tôi khuyên hắn nên ra tiệm thuốc bắc, mua mấy thang về sắc uống rồi đi bác sĩ khám lại xem sao. Tôi dự định tuần sau sẽ ghé thăm, xem hắn có khá hơn không, nhưng ngay tuần đó, công ty tôi làm việc lại dời xuống tiểu bang Florida, tôi phải đi theo. Tôi thường gọi điện thoại hỏi thăm, cho hắn địa chỉ, dặn lấy cái nghỉ phép xuống với tôi, tắm biển, phơi nắng. Nhưng ít lâu sau, tôi gọi hắn thì chủ nhà bảo rằng hắn đã dọn đi nơi nào không rõ. Thực ra hắn chỉ là bạn thân thôi, chứ chẳng phải anh em ruột thịt gì mà tôi phải bận tâm, vả lại, chuyện ma quỉ đó đã như giải quyết xong, cho nên tôi không còn nhớ đến hắn nữa.
Thế rồi khoảng một tháng sau đó, tôi nhận được thư hắn, tôi thấy có gì bất thường! Tại sao không gọi điện thoại mà lại viết thư? Đến khi đọc lá thư, tôi mới hiểu rõ những gì đã xảy ra.
“N. thân mến,
“Lá thư nầy đến tay mầy thì tao không còn trên cõi đời nầy nữa. Đơn giản là tao dặn chủ nhà trọ của tao chỉ gửi thư sau khi tao đã chết. Tao muốn thế! Tao không có bà con, thân thích, chỉ có mầy là bạn, nhưng tao cũng không muốn mầy bận tâm vì tao, thân xác tao sẽ được hỏa thiêu, nắm tro tàn được gửi vào chùa. Thế là xong một kiếp người. Phải không mầy? Mục đích chính lá thư nầy là tao muốn tặng mầy bức tranh vẽ em Bình Minh thay vì gửi trả lại cho ông họa sĩ La Hy. Tao biết mầy thích bức tranh vì giá trị nghệ thuật của nó, vì tranh đẹp chứ không phải vì vẽ hình em. Mầy cứ yên tâm, em Bình Minh sẽ không hiện ra với mầy đâu. Những gì tao viết sau đây chứng minh rằng linh hồn em không còn nương náu trong bức tranh nữa.
“Sau một tuần, kể từ ngày mầy về miền Nam nắng ấm làm việc, vẫn chẳng có gì xảy ra từ bức tranh. Mỗi tối, tao vẫn nằm ngắm hình em rồi đi ngủ, dù tao có thử nói câu “Em Bình Minh, hãy hiện ra!” mà vẫn không thấy em đâu! Tao ngủ yên lành, bình thường, sức khỏe tao khá hơn. Tao nghĩ rằng em Bình Minh đã được siêu thoát hoặc đã được Đức Phật giữ lại trong chùa, nghe kinh kệ cho nhẹ bớt nghiệp chướng, oan khiên. Đôi lúc tao cảm thấy thương xót em. Trước kia nếu em đáp lại tình tao thì đâu đến nổi em phải chịu nhiều đau khổ, thất vọng đến quyên sinh. Đến chết rồi mà hồn vẫn còn vương vấn, lưu luyến người mình yêu, không thể rời được cõi trần! Và tao tưởng tượng đến một cảnh giới u u, minh minh, chỉ có một mình em, bơ vơ, cô độc. Không nói được với ai, không tiếp xúc được với ai! Em có buồn không? Có oán hận không? Oán hận ai bây giờ! Nhưng tao vẫn tự hỏi, vì sao em theo ám ảnh tao? Em muốn gì ở tao? Hay tao chỉ là nạn nhân đầu tiên, sau đó là những nạn nhân khác? Hay em cần tinh lực của tao để trở nên một con quỉ nhiều quyền phép hơn, dữ tợn hơn, không ai trị được nó?
“Dù sao thì mầy cũng như tao, đều cho rằng linh hồn em Bình Minh đã siêu thoát rồi nên mới không còn quấy rầy tao nữa. Vì tin như thế nên tao đã phạm một sai lầm chết người. Số là chủ nhà tao thuê phòng dự định bán nhà, tao phải tìm chỗ trọ khác. Chỗ trọ mới là một căn phòng, sạch sẽ, có lối đi riêng, đầy đủ tiện nghi. Trong phòng đã có sẵn một cái giường mới, rất rộng, tao thích lắm, nên bỏ giường cũ ra thùng rác trước khi dời phòng. Mầy biết sai lầm gì không? Tao không đem theo những lá bùa mà nhà sư đã cho, đến khi trở lại thì chủ nhà đã cạo bỏ lá bùa chỗ cửa ra vào. Lá bùa trong túi áo, máy giặt làm nát rồi! Ngay hôm đầu mới dọn đến, tao chưa treo bức tranh lên, vậy mà tối đó em hiện ra. Lại vẫn những cách thức như em áp dụng với tao trước đây. Tao cũng lại bị em làm tê mê đến ngây ngất, lịm đi. Hôm sau, hoảng quá, tao chạy ngay đến chùa cầu cứu, nhưng vị sư trụ trì đã đi hành hương bên Tích Lan, tháng sau mới về. Tao tìm đủ cách, ban ngày tao ngủ, ban đêm tao uống cà phê, cố mở to mắt, vậy mà hễ chạng vạng là tao lại như người mất hồn, nhớ em, mong em. Tao vừa sợ em, vừa thèm em một cách kỳ lạ. Nhất là cái cảm giác như là em đang ở cạnh tao khiến tao hoàn toàn mất tự chủ. Người tao, vừa phục hồi sức khỏe chưa được bao lâu, nay trở lại tình trạng như lần trước mầy đã gặp, e còn tệ hơn nữa, chỉ mới một tuần mà chủ nhà đã vội gọi xe cứu thương đưa tao vào bịnh viện. Cũng may tao còn bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ, nên nếu chết đi tao sẽ có chút tiền để chủ nhà lo cho tao. Tao đang viết thư cho mầy ở bịnh viện. Tình trạng tao kỳ lạ đến nỗi các bác sĩ khắp nơi xúm lại, khám nghiệm, nghiên cứu, thiếu điều muốn xẻ tao ra từng mảnh để tìm tòi, nhưng chẳng ai đưa ra một nhận xét, phương dược nào chính xác cả! Em Bình Minh mỗi tối vẫn đè tao ra mà hành sự. Có lẽ bây giờ em không cần phải nương náu trong bức tranh nữa. Em đã đủ năng lực để tự mình hiện hữu, đến độ các cô y tá, khi nghe tao ú ơ, la hét lúc nằm mơ thấy với em, các cô cố đánh thức tao, nhưng cả chục phút sau, em mới chịu buông tao ra để tao tỉnh dậy. Mỗi ngày tao đều gọi điện thoại đến chùa, hy vọng nhà sư về kịp cứu tao nhưng đến hôm nay, khi tao cảm thấy mình như ngọn đèn cạn dầu mà vẫn chưa thấy tăm hơi nhà sư. Tao không hiểu chính tao! Tâm lý tao thật lạ thường. Ban ngày tao sợ chết, nhưng tối đến, tao lại mong cho sớm được cùng em Bình Minh ra đi. Có một điều, khi tỉnh táo, tao vẫn thắc mắc, khi chết, linh hồn đi về đâu? Mà thật có linh hồn không? Hay bịnh tao chỉ là một thứ bịnh về tâm thần, về ảo giác? Một bịnh điên mới, giống như bịnh bò điên? Nhưng bịnh bò điên, nghe nói bộ óc bị hủy hoại, mủn ra như sình, còn tao thì có gì lạ đâu? Các bác sĩ đều nói thế!
“Tao cố viết thật nhiều cho mầy có đủ dữ kiện về bịnh của tao, cả dữ kiện về bức tranh em Bình Minh nữa, nhưng tao mệt quá! Bây giờ tao tạm dừng bút, nhưng không chấm dứt ý định sẽ nói với mầy. Nếu có linh hồn thật, tao sẽ hiện về cho mầy rõ, về cái cõi u minh mà người chết sẽ đến đấy. Ít ra, hễ mầy thấy trong mơ, vẻ mặt tao vui, là cõi chết không tệ lắm, hoặc ngược lại. Chúc mầy ở lại dương gian vui vẻ. Không lâu đâu, chúng ta sẽ gặp nhau. Mọi người đều đối diện với cái chết, phải không mầy? Thân mến. Bạn mầy”
*
Tôi đọc thư thằng bạn tôi mà lòng vẫn nghi ngờ. Phải có bí mật gì đây? Chuyện ma quỉ! Làm sao tin được?
Giả thiết mạnh mẽ nhất là thằng bạn tôi mắc bịnh nan y. Bịnh Aids chẳng hạn, có thế hắn mới chết nhanh đến như vậy. Người Á Đông xem chuyện tình dục như một bí mật, nên kín đáo. Vì chuyện đó mà mang bịnh là một điều nhục nhã. Và hắn xấu hổ nên mới bịa ra một chuyện ma. Biết đâu ông họa sĩ La Hy vì tình bạn, nên cùng hắn nghĩ ra những chuyện gay cấn, lâm ly để cứu danh dự cho hắn? Dù sao thì hôm lên chỗ hắn trọ, tôi cũng được chủ nhà trao cho bức tranh đúng như lời hắn dặn dò trước khi từ giã cõi trần.
Tối đó chủ nhà cho tôi ngủ tạm trong phòng thằng bạn quá cố của tôi một đêm. Tôi chẳng hề thấy ma quỉ bao giờ, mà dù thấy tôi cũng không sợ. Ma là gì? Cùng lắm cũng chỉ là cái bóng mờ ảo nào đó, nếu mình sợ là tự mình hại mình chứ ma quỉ làm gì được mình! Thế nên tối đó tôi treo bức tranh vẽ hình em Bình Minh của thằng bạn tôi trên tường, vừa ngắm vừa lầm bầm nói “Hai đứa bây, sống khôn thác thiêng, hãy hiện ra cho tao thấy, trong mơ cũng được, để xác nhận là khi chết, con người còn có linh hồn” Tôi nói đùa thôi, thực tâm tôi đang ngắm bức tranh và nghĩ đến nghệ thuật, đến tài hoa của người họa sĩ.
Tôi say sưa ngắm bức tranh, quên cả chuyện ma quỉ, cho đến khi tôi cảm thấy buồn ngủ, mắt tôi ríu lại… Bỗng nhiên tôi có cảm tưởng như bức tranh bị sút đinh, từ từ ngã xuống. Và cô Bình Minh chuồi ra khỏi khung hình, lớn dần lên. Cô trườn lên người tôi, tóc cô xỏa ra, hai tay choàng lấy tôi, như con bạch tuộc phủ lấy con mồi. Người cô lạnh ngắt, cái lạnh ghê rợn của một thây ma. Tôi cố la lên cầu cứu, mà miệng tôi cứng đơ. Tôi biết mình đang vùng vẫy, nhưng thật sự, chân tay tôi tê liệt…Và cái khoái lạc khủng khiếp khi cô gập người lại, cúi xuống dưới bụng tôi, hút lấy tinh lực của tôi, đúng y như thằng bạn tôi đã kể.
Ngay sáng hôm sau, tôi đem bức tranh trả lại họa sĩ La Hy. Dọc đường, lái xe, tôi có cảm thấy choáng váng, không tự chủ được, nhưng tôi tỉnh trí kịp. Tôi kể hết mọi chuyện, hoạ sĩ La Hy cười, cho rằng tôi nhiều tưởng tượng. Ông bảo.
– Chuyện của bạn anh, thật khó kiểm chứng! Riêng chuyện của anh, tôi nghĩ rằng, cơ thể cô gái lạnh ngắt anh thấy trong mơ chỉ là do thời tiết ở Virginia, ban đêm nhiệt độ xuống rất nhanh, khi ngủ, anh đã không đắp mền, chính cái lạnh tạo thành giấc mơ.
Hiện nay họa sĩ La Hy vẫn còn giữ bức tranh đó. Ông không bán. Ai muốn xem, xin mời đến.
Image from the Net collected and edited by Sơn râu
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, “phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.” Sau đây, thêm một truyện ngắn của tác giả.
* * *
Đây là một chuyện ma, gần như thật, nhưng tôi phải viết sao cho vui, cho bớt rùng rợn, để quí bà khỏi mất ngủ vì sợ hồn ma mấy cô bồ quá cố của chồng mình về lôi chân, đuổi ra khỏi giường.
Vợ chồng tôi có hai cô con gái. Chúng tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm rồi lập gia đình. Tuy nhà hai đứa nó không xa chúng tôi lắm, nhưng chỉ chủ nhật, ngày lễ, chúng mới bồng cháu về thăm ông bà ngoại. Vợ tôi cứ than nhớ cháu, rồi bực mình gây gổ với tôi. Ngày nào cũng đem hình các cháu ra ngắm. Hình nào “dễ thương hết sức” thì bắt tôi đi mua khung hình về, bỏ vô, treo lên tường. Rồi đi lòng vòng ngắm cháu trên tường như người ta xem triển lãm tranh, miệng nở nụ cười hạnh phúc, miệng lầu bầu chửi “Tổ cha cái thằng… dễ ghét!” rồi bấm điện thoại gọi con, hỏi thăm các cháu.
Các con tôi bị quấy rầy mà không dám than phiền. Tôi biết thế mới gợi ý vợ tôi, tìm một cô, cho mướn phòng, buồn tình thì cứ nói chuyện với cô ta. Con gái tôi giới thiệu một cô bạn học. Cô nầy lớn tuổi hơn các con tôi, vừa đi học vừa đi làm, kiếm tiền giúp gia đình bên Việt Nam, nên cứ ạch đụi mãi mà chưa tốt nghiệp. Nhà tôi, phía sau có một phòng rộng, có lối đi riêng nên cô ta rất thích. Nhờ có cô sinh viên nầy mà tôi đỡ bị bà vợ bắt nghe chuyện nhớ cháu. Khi cô sinh viên đến trọ, bà nấu nướng món ngon vật lạ tặng cô ta, coi như trả công đã tốn thì giờ lắng nghe chuyện cháu ngoại của bà.
Khoảng vài năm sau, cô sinh viên tốt nghiệp đại học, đã nộp đơn đến các công ty để xin việc làm. Vợ tôi, xem cô sinh viên như con, nên nấu mấy món làm tiệc mừng tốt nghiệp cho cô ta rồi gọi vợ chồng hai cô con gái đem cháu về tham dự. Trong không khí gia đình vui vẻ, vợ tôi lại lên chương trình kiếm chồng cho cô sinh viên “Theo như ngày xưa, “Đại đăng khoa” rồi phải “Tiểu đăng khoa”, nghĩa là thi đậu xong là phải lập gia đình”. Cô sinh viên đỏ mặt vì mắc cỡ nhưng cũng nói “Ai mà thèm lấy cháu, cô ơi!”. Hai cô con gái tôi cũng hăng hái tham dự vào một trong bốn cái ngu của thiên hạ (Làm mai, lãnh nợ, gát cu, cầm chầu). Mấy mẹ con hùa nhau khuyên bảo “Khi đi làm, hàng ngày đến sở, chỉ gặp toàn các ông có gia đình cả, ít có dịp hội hè, họp mặt để gặp các bạn trai độc thân. Chi bằng ráng kiếm trước một ông chồng cho chắc ăn. Để lâu thành gái già!” Bữa đó, ai cũng bị ép uống chút rượu, ngà ngà say, nên cô sinh viên cũng bạo dạn nói “Nhờ cô với hai chị kiếm giùm.”
Vợ tôi chợt nhớ ra là tôi có một cậu “bạn cà phê” vong niên. Anh ta gần bốn mươi tuổi, đã tốt nghiệp đại học, có việc làm đàng hoàng. Sáng chủ nhật nào cũng lái xe đến đón tôi đi ăn điểm tâm rồi ra tiệm cà phê Starbucks ngồi trò chuyện. Tính tôi ham vui, đôi khi anh ta đưa tôi đến các tiệm cà phê của bọn trẻ, tiếng nhạc với tiếng cãi cọ, cười đùa nghe điếc tai mà tôi vẫn chịu đựng được. Có điều lạ là, bọn thanh niên thích bàn chuyện đàn bà, con gái nhưng anh bạn trẻ của tôi chỉ ngồi nghe chứ không quan tâm. Ngay cả khi cô bưng cà phê, vừa đẹp vừa hấp dẫn, mặc áo quần “xuyên bang” (mỏng) đứng gần, mà anh ta cũng chẳng thèm nhìn. Đôi khi, cô ta như tựa cái bụng vào vai anh ta, anh ta né tránh.
Tôi đưa ra nhận xét đó với vợ tôi và lưu ý rằng, nếu giới thiệu anh chàng bất bình thường nầy cho cô sinh viên, sau nầy rủi có chuyện gì không hay, cô ta ắt sẽ phiền trách gia đình tôi. Vợ tôi vẫn khăng khăng “Ông không thích thì để mẹ con tôi lo. Bữa nào ông mời hắn đến đây ăn cơm, tôi đứng ra giới thiệu cho hai đứa làm quen. Con nhỏ đẹp đẽ, nết na, thằng nào không ưng?”
Vậy là tôi phải mời anh chàng dị ứng với phái nữ đó đến dự bữa cơm gia đình. Được sắp xếp ngồi bên cạnh người đẹp mà không thấy anh ta hăng hái trong việc chinh phục cô gái, tuy có hỏi chuyện, có bỏ thức ăn vào chén cho cô ta, nhưng rõ ràng chỉ làm bổn phận bình thường. Cô gái thì vẫn giữ kẽ, không tỏ vẻ gì đặc biệt. Xong bữa ăn, chờ cho cô sinh viên về phòng, vợ tôi và hai cô con gái giữ anh chàng kia lại và bắt đầu đặt những câu hỏi.
Anh ta và gia đình tôi cũng ở chỗ thân tình, vợ tôi chẳng khách sáo gì nên câu hỏi có hơi sỗ sàng “Anh thấy người đẹp lúc nãy ra sao mà coi bộ lơ là?” Anh chàng chỉ cười “Dạ, cô Mai cũng đẹp lại hiền lành.” Vợ tôi bắt đầu ca tụng cô sinh viên đủ điều “Nó ở đây với chúng tôi mấy năm nay mà không hề thấy bạn trai, không hề chưng diện. Đi học, đi làm về là phụ với tôi nấu nướng, dọn dẹp như gia đình của nó. Nó mà trang điểm vô thì phải biết. Đẹp lắm! Ai mà được nó làm vợ thì sướng như tiên. Bây giờ nó lại tốt nghiệp đại học, sắp sửa đi làm, lương hướng đâu có thua ai… Ủa! Sao anh lại cười? Bộ tôi nói không đúng sao? Hay anh chê nó?” “Dạ, cháu đâu có chê cô ta, nhưng cháu có lý do riêng. Cháu không có ý định lập gia đình nên không dám nghĩ đến cô Mai”.
Vợ tôi khựng lại, vợ chồng hai đứa con gái tôi, tuy ngồi xa, đang dõng tai lên nghe lén, cũng thở dài thất vọng. Mọi người nghĩ, có lẽ anh ta không bình thường về sinh lý. Chuyện đó không nên đề cập đến vì kỳ cục, đáng mắc cỡ. Tuy thế, vợ tôi cũng kể lại cho cô Mai nghe chuyện làm mai thất bại, nhưng lại kết luận “Nó khen con đẹp, hiền giỏi giang đủ thứ, nhưng có lẽ nó “lại cái” hay sao đó nên coi bộ lơ là. Để cô điều tra thêm mới biết tại sao” Cô gái giẫy nẩy lên “Cô làm vậy kỳ lắm! Làm như con mê anh ta, bắt cô phải dụ dỗ anh ta cho con.”
Thế là bao nhiêu hăng hái, thiện chí của vợ tôi xẹp xuống như bong bóng xì hơi. Tôi nói với vợ tôi “Bọn nhỏ bây giờ chịu nhau thì tự động tìm đến, bàn tính, giao hẹn với nhau như người ta mua bán hàng hóa vậy, không như thời xưa đâu. Bà làm nghề mai mối, lỗi thời rồi.” Vợ tôi vẫn còn tức “Ông biết gì về thằng đó không? Mấy năm đi uống cà phê với nó, có nghe nó nói gì về bịnh hoạn, hay dị tật gì trong thân thể nó không?” Tôi cự ngay “Tôi có phải bác sĩ đâu mà đi hỏi chuyện sinh lý của người ta! Tôi chỉ biết là nó không hề để ý đến đàn bà, con gái nên tôi lưu ý bà, đừng làm chuyện tào lao mà thêm phiền.” Vợ tôi vùng vằng “Để đó, tôi phải điều tra cho ra, tại sao con Mai đẹp như vậy mà không chịu? Tôi thấy, hình như nó có nhìn con Mai, nhưng nhìn trộm, kiểu như ông nhìn gái mà sợ tôi bắt gặp.” Tôi tức cười “Bà đừng đem tôi ra mà suy luận. Bà phải phân biệt cái nhìn của tôi với người khác. Tôi nhìn người đẹp vì nghệ thuật, vì vẻ đẹp nhưng không ham muốn. Thằng đó mà nhìn con Mai giống như tôi thì coi như bỏ đi rồi, đừng bao giờ nghĩ tới chuyện mai mối mà bị con Mai trách móc sau nay.” Vợ tôi tự nhiên nổi xùng “Xí! Ông mà nghệ thuật. Nghệ thuật gì ở chỗ ngực, chỗ đùi người ta? Không có tôi, ông đi tới trời.” Hễ thình lình nổi ghen, vợ tôi thường lôi những chuyện “xưa rích” ra đay nghiến. Tôi không thèm cãi lại, chỉ hỏi “Bây giờ nói chuyện tôi nhìn gái hay chuyện làm mai?” Bả không thèm nhìn tôi “Ông muốn nói chuyện gì tôi cũng nói được. Đừng làm bộ vô tội… Tôi muốn hỏi ông. Thằng đó có thích con trai không? Nó có cập kè với thằng “bê đê” (lại cái) nào không?” “Tôi thấy nó cũng bình thường chứ chẳng cập với thằng “bê đê” nào cả.” “Vậy thì tuần tới lại mời nó đến nhà mình ăn cơm, để tôi biết chắc nó có nhìn trộm con Mai thật không?” “Bà muốn thì tự làm lấy, coi như tôi không tham dự vào chuyện mai mối của bà.” Đàn bà tinh mắt hơn đàn ông, tôi để ý mới thấy.
Bữa cơm sau đó, anh ta quả có nhìn trộm con nhỏ Mai. Cái nhìn đầy nam tính nhưng lại có vẻ lén lút, như sợ ai bắt gặp. Cả đến việc anh ta chuyện trò hay bỏ thức ăn cho con nhỏ cũng lấm lét, như vụng trộm, mặc dù anh ta biết, gia đình tôi mời đến ăn cơm là để anh ta tán tỉnh con nhỏ Mai. Lẽ ra, nếu anh ta thích thì cứ mạnh dạn, công khai tỏ tình với người đẹp. Tại sao phải lén lút? Có uẩn khúc gì đây? Tuy nghĩ vậy nhưng vợ chồng tôi làm như không biết, cuối tuần vẫn mời cơm và sắp xếp cho hai cô cậu ngồi gần nhau. Ít lâu sau vợ tôi quyết hỏi anh ta cho ra lẽ.
Một buổi chiều thứ bảy, trong nhà chỉ có vợ chồng tôi và anh chàng dị ứng với đàn bà đó. Vợ tôi tính nóng lại xem anh ta như em cháu nên hỏi ngay “Anh thấy con nhỏ Mai ra sao? Có ưng không? Tôi làm mai cho.” Anh ta có vẻ lúng túng “Thú thật, cháu để ý cô Mai từ lâu, nhưng cháu đã lỡ hứa là sẽ không bao giờ lấy vợ, nên cháu không dám tiến xa hơn. Ngay đến chuyện nhìn đàn bà con gái cháu cũng không dám”. Vợ tôi kinh ngạc và nổi xùng “Ai cấm anh lấy vợ? Ai cấm anh nhìn đàn bà con gái? Người nào có quyền gì mà cấm chuyện lạ đời đó? Đến ông tổng thống Mỹ cũng không có quyền đó. Anh nói tôi nghe. Ai cấm? Hay anh có bịnh gì nên bác sĩ cấm anh? Hay anh lại cái?” Tưởng mắc cỡ vì bị nói là “lại cái”, nhưng anh ta chỉ cười “Đúng ra không phải là người nào cấm mà là lời nguyền của cháu với vong linh một cô gái. Cháu đã hứa với vong linh cô ta là, suốt đời, cháu sẽ không lấy vợ.”
Tôi không muốn rây vô chuyện mai mối phiền phức nên ngồi uống trà ở bàn ăn. Khi nghe hai tiếng “vong linh”, vợ tôi biết là chuyện ma nên hơi ngán, bèn bảo tôi “Ông qua đây tiếp chuyện, tôi đi nấu miếng nước”. Đàn bà, trẻ con, càng sợ chuyện ma, càng muốn nghe. Biết vậy nên tôi bưng tách trà qua xa lông và nói với anh ta “Khi hứa với người đã khuất thì phải giữ lời, vì với người còn sống mình có thể giải thích được chứ với ma thì nói ai nghe?!” Vợ tôi cự ngay “Ông phải để cho anh ta kể hết sự việc xem sao, chưa chi đã bàn ra”.
Anh ta cúi xuống, dùng tay vạch mái tóc để lộ một vết sẹo dài cỡ nửa tấc. Vết sẹo như một cái rãnh nhỏ, một lớp da mỏng che xương sọ trắng xám giữa đám tóc đen và cứng như rễ tre. Vợ tôi đến nhìn, rồi ngồi xuống, hóng chuyện.
“Cháu bị chúng chém. Tưởng chết rồi, không ngờ vẫn còn sống được.” Vợ tôi sốt ruột “Ai chém anh? Vì sao chúng chém?” Anh ta uống chén trà rồi mới thong thả nói “Sau bảy lăm (1975), cháu học xong trung học nhưng không được vào đại học vì lý lịch. Ba cháu, là sĩ quan Cộng Hòa, đi tù cải tạo. Vợ cháu cũng có cha đi tù. Hai gia đình quen thân nhau từ trước, đều ở trong trại gia binh. Năm bảy lăm, mọi người đều bị đuổi ra khỏi trại gia binh. Gia đình cháu phải về quê ngoại ở Mỹ Tho. Hai gia đình gom góp tiền vàng cho hai đứa cháu vượt biên. Bữa đó tổ chức tiệc cưới, mời chính quyền xã, ấp, nhất là công an địa phương đến nhậu nhẹt say mềm. Chúng cháu làm như đi rước dâu, đến khuya, đám rước thay vì về nhà trai lại chạy thẳng ra cửa biển. Như vậy, chúng cháu chưa gần gũi nhau bao giờ. Thuyền lênh đênh trên biển được năm ngày thì gặp hải tặc Thái Lan. Chúng chém đàn ông, con nít rồi bắt đàn bà con gái qua thuyền chúng. Cháu nhào đến cứu vợ cháu thì bị chém vào đầu, ngã gục. Hôm sau tỉnh dậy, trong thuyền chỉ còn xác chết với mấy người bị thương nặng. Theo lời kể lại thì vợ cháu thấy cháu bị chúng chém chết, bèn vùng vẫy và nhảy xuống biển tự tử. Lúc đó, cháu tin rằng mình cũng sắp chết vì thuyền bị bọn hải tặc húc, tràn nước, sắp chìm, nên cháu khấn với vong hồn vợ cháu “Em sống khôn thác thiêng, xin chờ anh. Anh bị thương nặng, thuyền sẽ chìm, anh sẽ chết. Hai linh hồn mình sẽ được bên nhau mãi mãi. Nếu còn sống, anh thề không lấy vợ, sẽ ở vậy thờ em cho đến ngày anh chết, sẽ được gặp em”. Không ngờ, vừa lúc có một thương thuyền đi ngang qua, nhìn thấy, bèn cứu lên tàu. Không ai hiểu sao, với vết thương nặng như vậy mà cháu sống sót được? Cháu qua Mỹ, cố gắng học, kiếm việc làm để gửi tiền về Việt Nam cứu giúp hai gia đình.” Vợ tôi hỏi “Từ đó đến nay, anh có bao giờ thấy vợ anh hiện hồn về không?” “Dạ không! Nhưng cháu tin rằng, vong linh vợ cháu lúc nào cũng ở bên cháu. Cháu lập một cái trang nhỏ làm bàn thờ, để di ảnh vợ cháu lên, mỗi ngày đều thắp nhang. Đi làm về, cháu ghé tiệm cơm, mua thức ăn về, đặt lên trang thờ, cúng vợ cháu, sau đó, dọn xuống, mời vợ cháu cùng ăn. Đi đâu, làm gì, cháu cũng kể cho hồn vợ cháu nghe.”
Vợ tôi tưởng như hồn cô gái cũng ngồi trong phòng, nên ngồi sát vào tôi, coi bộ cũng ngán nhưng vẫn hỏi “Có bao giờ anh thử làm quen, chuyện trò thân mật với một cô gái nào đó chưa? Nếu hồn vợ anh còn ở bên anh, sẽ tìm cách để anh hiểu là cô ta không bằng lòng. Cô ta sẽ hiện hồn cho anh thấy chẳng hạn. Anh thử lần nào chưa?” “Thực tâm, cháu không muốn làm vong linh vợ cháu buồn tội nghiệp. Cái chết của vợ cháu quá đau thương nên dù có cảm tình với cô nào cháu cũng ngại. Cứ tưởng tượng, cháu đang thân mật với cô nào đó, linh hồn vợ cháu đứng bên cạnh, mặt buồn xo vì bất lực, không có cách nào cho cháu hiểu là cô ấy buồn lắm…” Tôi lên tiếng “Anh nên nghĩ rằng, linh hồn vợ anh buồn vì thương yêu anh mà không có cách nào phục vụ, săn sóc, an ủi anh, nhất là những khi anh đau ốm. Cô ấy biết rõ, anh cần một người thay cho cô ấy lo cho anh. Anh không thể sống độc thân mãi được. Theo tôi, chết là hết, nếu còn thì đã siêu thoát hoặc đi đầu thai kiếp khác rồi. Anh phải lấy vợ, sinh con, thương yêu gia đình nhưng vẫn tưởng nhớ, thờ phụng, giỗ quải chu đáo cô vợ trước là đủ bổn phận với người quá cố rồi.”
Vợ tôi tưởng có chuyện ma hiện hình nên sợ, đến khi nghe kể thì chẳng có ma quái gì, lại nghe tôi bàn tính hợp ý, nên thúc hối “Chết là hết. Anh để ý con Mai thì nên tiến tới, đừng để nó xin được việc làm, đi xa thì “xôi hỏng bỏng không”. Không có cô nào hoàn hảo như con Mai. Tôi bảo đảm với anh, sau nầy cưới về, có gì không bằng lòng nó thì cứ lôi tôi ra mà mắng vốn.” Anh ta có vẻ xiêu lòng.
Chúng tôi bàn tính, đưa ra một chương trình giúp anh ta tiến đến với cô sinh viên Mai. Trước hết, anh ta về khấn với linh hồn cô vợ, nếu không bằng lòng thì cho biết, hoặc trong giấc mơ hoặc một hiện tượng nào đó, ngược lại thì sẽ không có chuyện gì xảy ra, rồi thì hai người, anh ta với cô Mai sẽ gặp nhau, tìm hiểu, nếu hợp ý thì tiến hành lễ cưới. Trước khi ra về, anh ta dặn chúng tôi là đừng cho cô Mai biết gì về chuyện riêng (ma) đó của anh ta.
Tối đó, chờ cô Mai về, vợ tôi lò dò vô phòng cô ta, tỉ tê, to nhỏ cả buổi rồi lên bảo tôi “Xong rồi! Để hai anh chị làm thân với nhau, mình khỏi phải làm phiền chúng nó nữa.” Tuy nói vậy chứ vợ tôi vẫn cứ tò mò hỏi chừng cô sinh viên, tình hình ra sao? Thì ra họ đã hẹn nhau đi ăn tiệm, đi shopping, xem phim… Cô gái đã có việc làm, anh chàng kia thì đã mua nhà từ lâu nên chuyện sống chung của hai người không thấy trở ngại nào.
Khoảng ba tháng sau, cả hai báo cho chúng tôi biết, họ sẽ làm đám cưới và nhờ chúng tôi việc thực hiện các nghi lễ truyền thống như lễ hỏi, lễ cưới. Về tiệc cưới thì có nhiều bạn học giúp tổ chức, sắp xếp. Mọi việc, chúng lo hết… Vì cha mẹ của cô dâu, chú rể đều còn ở bên Việt Nam nên phải nhờ tôi thay mặt cho nhà gái, một gia đình khác đại diện nhà trai.
Tối đó, tiệc cưới chấm dứt lúc mười hai giờ khuya, chúng tôi không quen thức khuya nên về đến nhà là lăn ra ngủ vùi. Khoảng hai giờ sáng, chuông điện thoại reo, vợ tôi bắt lên nghe “Cô đây! Sao? Muốn về đây hả? Bây giờ con đang ở đâu? Để cô nói chú mở cửa đón con. Năm phút nữa hả? Được. Bye con!” Vợ tôi bảo “Ra mở cửa đón con Mai. Không hiểu có chuyện gì mà nó bỏ chồng về đây?” Tôi lầu bầu “Làm mai thì phải ráng mà lãnh!”
Tôi vừa mở cửa thì xe cô Mai cũng vừa ngừng trước sân. Cô ta chạy ào vô nhà, không kịp tắt máy xe. Tôi ra tắt máy xe, vào nghe xem chuyện gì đã xảy ra? Thấy cô ta ôm vợ tôi cứng ngắc, không nói tiếng nào, người run cầm cập. Vợ tôi cũng đâm hoảng, hỏi dồn dập “Có chuyện gì vậy?” Hỏi hoài mà chỉ nghe cô ta vừa thở vừa lí nhí trong miệng, chẳng hiểu gì cả!
Một lúc sau cô mới nói rõ “Ảnh nuôi ma trong nhà!” Vợ tôi nghe thế co rúm người lại “Ma nào? Ông ra đóng cửa lại mau. Coi chừng nó theo vô nhà. Con thấy con ma như thế nào?” “Con không biết! Con ma đàn bà. Ghê quá! Nó nắm chân con lôi ra khỏi giường.”
Hai người đàn bà tự mình làm cho mình khiếp sợ thêm, cứ vơ tay tìm cái mền. Tôi thấy buồn cười nhưng cũng giúp đắp kín mít hai người trong mền, chỉ để lộ hai cái đầu để tiện nghe họ đối đáp. Vợ tôi thì thào “Ông ra thắp nhang trên bàn thờ, khấn vái cho con ma đi ra.” Tôi dọa “Thắp nhang, chúng ngửi mùi thơm, kéo vào thêm đông vui. Muốn thắp thì thắp!” Vợ tôi nạt “Người ta đã sợ muốn chết còn nhát nữa! Ông đi nấu miếng nước, pha trà cho nó uống tỉnh trí.”
Tôi đi pha trà, thêm cho mỗi người một viên thuốc chống dị ứng (làm cho buồn ngủ). Một lúc sau, cả hai đã chìm vào giấc ngủ. Tôi ra xa lông nằm, gọi điện thoại đến chàng rể “Có chuyện gì mà cô dâu bỏ về đây vậy?” “Cháu không rõ. Vừa tắt đèn thì cô ấy bắt mở đèn vì cô bảo thấy có người trong phòng. Mở đèn một lát, cô vừa thiu thiu ngủ thì bỗng vùng dậy bảo “Anh nuôi ma trong nhà!” rồi chộp lấy chìa khóa xe, tung cửa chạy ra ngoài, lái xe đi. Nhưng cháu có thấy ma quái gì đâu?” “Anh có dẹp cái trang thờ vợ trước của anh chưa?” “Cháu đem di ảnh vợ cháu cùng với lư hương, chân đèn vào closet (ngăn treo áo quần). Trang thờ trống trơn.” “Tôi nghĩ, anh nên thiết lâp lại trang thờ. để di ảnh người đã khuất cùng với đồ thờ lên cùng với lễ vật, sau đó anh thử khấn xin vong hồn người quá cố thông cảm cho anh mà bớt giận hờn, đừng phá cô Mai nữa.” “Cháu định bán ngôi nhà nầy, nhưng chưa biết thờ di ảnh vợ cháu ở đâu? Vì nếu thờ nơi tụi cháu ở thì cô ta sẽ quấy phá Mai, không yên đâu!” “Chỉ còn cách là đến chùa xin mấy lễ cầu siêu rồi thờ luôn cô ta trong chùa để vong hồn được nghe kinh kệ, sớm siêu thoát. Tạm thời, đừng liên lạc với cô Mai, coi như chấm dứt để vong hồn cô ta khỏi ghen tương mà có thể làm hại cô Mai”.
Sáng hôm sau, tôi trấn an cô Mai “Có lẽ cô nghe người ta kể chuyện ma nên bị ám ảnh chứ thời nầy làm gì có ma.” Cô Mai vẫn chưa hết sợ “Tối hôm qua, cháu thấy rõ ràng một người đàn bà từ trong “closet” đi ra, đến cạnh giường chỗ chồng cháu nằm. Cháu tưởng ăn trộm, bắt chồng cháu mở đèn, thì chẳng thấy gì cả. Cháu nghi là nhà có ma nên sợ quá, trùm mền kín mít, ôm chồng cháu ngủ. Mới thiu thiu thì cháu thấy lạnh ở cổ chân. Cháu nghĩ mình để chân ngoài mền, nên co chân lại, không ngờ, chân cháu như có ai giữ lại bằng hai bàn tay lạnh ngắt, không co lại được. Cháu nhìn xuống thì thấy lờ mờ người đàn bà lúc nãy đang cúi xuống như cố lôi cháu ra khỏi giường. Cháu co chân kia, đạp cho bà ta một đạp rồi vùng dậy, lái xe về đây.” Lúc đó là ban ngày mà vợ tôi cũng rút chân lên ghế. Đã sợ mà còn hỏi thêm “Con thấy con ma ra sao?” “Nó chỉ lờ mờ, nhưng cháu biết đó là một người đàn bà, tóc rủ trước trán, che không thấy mặt, hai cánh tay với mấy ngón tay chỉ còn xương, giống như hình chụp quang tuyến (X ray). Trước giờ cháu chưa hề thấy ma, cháu cũng không sợ ma, nhưng bây giờ cháu biết chắc là nhà đó có ma.” Tôi đề nghị, cô Mai đừng liên lạc với chồng cho đến khi nào chuyện ma đó giải quyết xong. Mấy hôm sau tôi gọi cho chàng rể thì được anh ta kể lại như sau “Cháu theo lời chú, thiết lập lại trang thờ cùng với lễ vật, rồi cháu lên nhang, đèn và khấn rằng, tuy cháu vẫn thương yêu cô ta (người vợ quá cố), nhưng âm dương cách trở, chỉ có thể gặp nhau sau khi cháu giả từ cuộc sống trên thế gian nầy để về với cô ta. Hiện tại, cháu không thể sống một mình mãi vì sau nầy, khi lớn tuổi, bịnh hoạn, già yếu không ai săn sóc, mong cô ta thông cảm để cháu có một người bạn gái bên cạnh. Cháu nghĩ rằng, vợ cháu, thân xác đã tan rã nơi đáy biển, trong cõi u minh lạnh lẽo, chỉ còn cháu là nơi để linh hồn vợ cháu nương tựa tìm hơi ấm của tình vợ chồng. Nay có một người thứ ba chen vào, vợ cháu sẽ đau đớn, buồn rầu lắm. Cháu ôm di ảnh vợ cháu mà khóc, và khấn rằng. Nếu không muốn cháu lấy vợ thì báo mộng cho cháu biết. Nếu không báo mộng thì coi như bằng lòng…” Tôi bảo “Dù cô ta có cho anh lấy vợ nhưng không có nghĩa là cô ta không ghen, không thù hận người chiếm đoạt tình cảm của chồng mình.” “Cháu nghĩ, khi một người đã chết rồi, linh hồn không thể ghen tương được nữa.” “Tôi nghe người ta nói. Những người chết oan, chết thình lình, tức là bất đắc kỳ tử, thần thức không chịu rằng mình đã chết, không chịu đi đầu thai, lúc nào cũng tìm về với người thân. Cô vợ quá cố của anh, càng yêu anh khi còn sinh tiền thì lúc chết, linh hồn càng quấn quit bên anh, càng đau khổ, càng ghen tương, thù hận. Nó không để yên cho con nhỏ Mai sống với anh đâu. Nó chỉ cần nhác ma vài lần là con nhỏ Mai bỏ chạy ngay.” “Chú nói có lẽ đúng. Khi cháu khấn đến đấy thì bỗng nhiên mấy cây nhang cháy bùng lên. Cháu thắp đợt nhang khác, nó cũng cháy bùng đến tận gốc. Cháu nghĩ nhang không được tốt, nên không thắp nhang nữa. Rồi thì đến lượt cây đèn cầy. Cháu vừa quay lưng là một cây đèn cầy bị tắt. Cháu thay cây khác, cũng vừa quay đi thì đèn tắt. Lần sau, cháu thắp đèn lên, vờ quay đi nhưng nhìn vào chiếc gương soi treo trên vách, thì thấy ngọn đèn như bị hai ngón tay vô hình bóp cái tim đèn, khiến nó dẹp lại, tắt ngấm chứ không như bị gió thổi, ngọn lửa phải nằm rạp xuống trước khi tắt. Hôm sau, cháu đến chùa, kể hết mọi sự cho vị sư trụ trì, thầy dạy rằng “Nhang cháy bùng, cháy cả chân nhang, thì gọi là “hóa hình nhang”, là có sự giao cảm giữa hai giới âm dương. Một ngọn đèn bị tắt thì cứ nam tả, nữ hữu, theo đó mà biết người nam hay nữ sẽ bị hồn ma theo ám hại. Cái vong nầy là trinh nữ, là oan hồn uổng tử, đã thành quỷ, nên lộng hành, phải nhờ oai linh Phật Tổ, khuyến dụ nó chịu về chùa, rồi phải cúng giải oan cho nó trong bốn mươi chín ngày sau đó nó mới chịu qui phục Tam Bảo, nghe kinh kệ mà chuyển nghiệp lành, vãng sanh tịnh độ. Hồn ma thường rất sợ ánh sáng và tiếng động mạnh như tiếng pháo nổ, súng nổ. Vậy nên, khi đem di ảnh của cái vong nầy từ nhà về chùa phải đốt một trái pháo, giống như ở Việt Nam, khi di quan (khiêng quan tài ra khỏi nhà), người mình thường đốt pháo hoặc đập mạnh một cái nồi, niêu gì đó cho hồn bạch (hồn người chết) ra khỏi nhà cùng với quan tài. Hôm lễ đưa vong, thầy và các Phật tử hộ niệm sẽ đến giúp. Nhớ đem theo di ảnh của nó. Di ảnh thay cho thần chủ (bài vị) là nơi vong linh nó ẩn náu”. Tôi khuyên anh ta không nên liên lạc với cô Mai trong một thời gian, khi nào xong lễ giải oan, yên ổn, hãy tính sau.
*
Chúng tôi ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, gần thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington DC). Mỗi năm, đến lễ quốc khánh Hoa Kỳ (July 4), buổi tối có đốt pháo bông, gia đình chúng tôi, gồm con, cháu, sau nầy có cô Mai, sinh viên ở trọ, kéo nhau lên thủ đô, gần cây bút chì để xem đốt pháo.
Quốc khánh năm nay, vợ tôi gõ cửa, rủ cô Mai cùng đi, thì cô không có trong phòng. Gọi điện thoại cầm tay, điện thoại đã đóng, gọi cho chồng cô, điện thoại cũng đóng. Khi mở phòng cô Mai, mới biết, tất cả những gì của cô đã dọn sạch, chỉ thấy một mãnh giấy nhỏ có giòng chữ “Vợ chồng cháu sẽ gửi thư cho cô sau.” Cả hai đã bí mật, lặng lẽ dọn đi nơi khác, có lẽ sợ hồn ma cô gái kia đi theo.
Hai tháng sau, chúng tôi nhận được một lá thư, không ghi tên, không địa chỉ người gửi, dấu nhật ấn bưu điện cho thấy thư được gửi từ một thành phố rất xa. Chỉ vỏn vẹn mấy giòng:
“Tụi cháu không dùng tên cũ trong giao tiếp với bạn bè, không gọi nhau tên thật. Hôm quốc khánh, hai đứa cháu đi hai chiếc xe riêng, lấy bột màu bôi khắp mặt mũi, chân tay, đến chỗ cây bút chì trên Washington DC, ngồi hai nơi cách xa nhau, chờ đốt pháo bông. Khi ánh chớp và tiếng pháo nổ rộ lên (thầy trụ trì nói. “Nó” có theo chồng cháu đến đó mà nghe pháo nổ, ánh sáng xanh đỏ khắp nơi, ắt phải hoảng kinh bỏ chạy), nhân dịp đó chồng cháu lái xe chạy trước, cháu chạy sau. Tụi cháu đi suốt đêm. Xa lắm… Vì đã xin việc từ trước nên cuộc sống tụi cháu không có gì trở ngại. Từ hôm đó đến nay cháu không còn bị quấy rầy nữa. Cầu mong Phật tổ từ bi, cứu độ cho “chị ấy” hiểu thấu lẽ vô thường, không còn đau khổ, lưu luyến cõi trần mà siêu thoát vào cõi hư vô. Vợ chồng cháu rất cám ơn cô chú. Chúc cô chú sức khỏe”.
Đọc xong thư, tôi đưa cho vợ tôi đọc. Bả đọc mấy giòng đầu đã co chân lên ghế, đến cuối thư thì mặt mày xanh lét, vội vất lá thư đi. Tôi dọa “Con ma đó không theo được với thằng kia nên “tạm trú” ở đây. Nó đang đọc chung thư với bà đó. Để tôi đến chùa, mời thầy trụ trì đến “tiếp dẫn” nó về chùa.”
Tôi đi lấy chìa khóa xe để đi chùa. Mọi khi đi đâu, tôi phải chờ nửa tiếng để vợ tôi trang điểm. Nay thì chả phải trang điểm, ăn diện, vừa nghe tôi nói, bả đã phóc ra xe trước tôi, ngồi chờ mà mắt láo liêng, dòm chừng sau xe, tìm xem “nó” có “quá giang” ở ghế sau không? Tôi cười thầm, hỏi với giọng khiêu khích “Từ nay có còn đòi ngủ riêng hay vẫn tiếp tục ngủ chung với tôi?”.
Nói xong tôi mới biết mình hớ! Nguyên nhân như thế nầy. Mỗi khi gây lộn với tôi, vợ tôi đòi ngủ riêng, tôi mừng trong bụng, chỉ cầu cho bả “nói là làm”, nhưng tôi phải giả bộ đau khổ, lo lắng. Bả khoái lắm, thỉnh thoảng lại đem vụ “ngủ riêng” ra để đàn áp tôi. Bây giờ tôi trót dọa, trong nhà có con ma đó thì, tối vô giường, thay vì xô tôi ra như mọi khi, bả sẽ ôm tôi cứng ngắc, như thời mới cưới nhau. Con là nợ, vợ là oan gia. Tôi già rồi, gần chết rồi mà vẫn bị cái oan gia đó “ôm cứng ngắc!”.
Khổ sở thế đó, nên, xin quí độc giả thân mến, nếu thương tôi thì xin cho tôi một thời kinh “Cầu Siêu” cho tôi sớm được phiêu diêu miền cực lạc. A Di Đà Phật!
Không biết tự bao giờ, người ta cứ luôn luôn muốn biết những chi tiết về đời tư của một tác giả. Để làm gì? Có lẽ vì tò mò nhiều hơn là để có thêm điều kiện hiểu rõ tác phẩm, như người ta vẫn thường nói.
Mười chín năm ở nhờ nhà vợ tất nhiên phải có ảnh hưởng đến tinh thần Nguyễn Du. Thế nhưng câu thơ nào của Nguyễn Du chứng tỏ điều ấy? Chúng ta biết gì về Lâm Tuyền? Trừ những người than của ông, bằng hữu của ông, gần như chúng ta chẳng biết tí gì về ông cả. Những người thường lui tới các vũ trường nơi Lâm Tuyền chơi nhạc trong nhiều năm, hẳn cũng đã có những dịp trò chuyện với ông, uống với ông vài ly rượu, mời hay nhận từ ông một hai điếu thuốc chẳng hạn, có thể gọi là biết ông chăng?
Những người làm việc cho Đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn nhiều năm, trước 75, đều nói chưa bao giờ thấy Lâm Tuyền tới Đài. Mặc dầu, chắc chắn các nhạc sĩ cộng tác với Đài, có nhiều người là bạn ông, quen biết ông. Và nhất là, Đài phát thanh là nơi, các nhạc phẩm của ông được phát đi hàng ngày. Thập niên 50, khi chưa xẩy ra hiệp định Genève, là khoảng thời gian chúng ta có thêm rất nhiều những nhạc sĩ tài ba, sau những Lê Thương, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước … như Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Khánh, Hùng Lân, Nguyễn Văn Quỳ, Tu My, Hoàng Giác, Nguyễn Hiền, Tạ Tấn ở Hà Nội. Văn Giảng [Thông Đạt], Ngô Ganh, Nguyễn Hữu Ba, Châu Kỳ, Ung Lang tại Huế. Trần Văn Lý, Võ Đức Thu, Anh Việt, Lâm Tuyền tại Sài Gòn.
Image from the Net collected by Sơn râu
Lâm Tuyền đã nới rộng cái thế giới tình ca của chúng ta lúc bấy giờ:
Anh không giữ trong tay một kho tàng
hay một danh vọng nào cả
Anh chỉ giữ có hình ảnh một buổi chiều
Khi nắng vàng nhuộm mái tóc em
Mấy câu thơ xuôi ấy của Dạ Chung [Hoàng Vĩnh Lộc] người ta đọc được trên đầu bản Hình Ảnh Một Buổi Chiều, một bài hát của Lâm Tuyền do chính Dạ Chung viết lời ca. Vào thời điểm đó, thi sĩ của chúng ta còn ít người làm thơ xuôi và ca khúc thì người ta còn nói nhiều đến những mắt huyền và môi thắm. Hầu hết các ca khúc của Lâm Tuyền đều do Dạ Chung viết lời ca, đồng thời đem trình diễn. Những ai có dịp nghe các đài phát thanh Pháp Á và Sài Gòn xưa, chắc vẫn chưa thể quên giọng hát trầm ấm, thiết tha của Dạ Chung.
Dạ Chung hát như một thi sĩ đọc thơ của mình. Và, chúng ta có thể nói, chính Dạ Chung đã góp phần nới rộng và làm mới thêm nhạc Lâm Tuyền (cũng là nhạc Việt Nam một thời) bởi cái không gian bát ngát luôn đầy ắp trong những ca khúc của Lâm Tuyền như: Khúc Nhạc Ly Hương, Tơ Sầu, Tiếng Thời Gian, Trở Về Dĩ Vãng … Nhạc của Lâm Tuyền, dù chỉ là những bản tình ca chăng nữa, lúc nào tưởng chừng như cũng rào rạt biển khơi, lồng lộng gió trời. Nghe nhạc Lâm Tuyền, người ta không có cái cảm tưởng thường thấy khi nghe tình ca thời ấy – không gian được thu vén vào một người – mà từ một người được mở rộng ra không gian và thời tiết.
Tình trong nhạc Lâm Tuyền không êm ả. Hình như ông chỉ buộc với tình bằng một sợi giây kiểu như Đỗ Phủ: Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Còn cả tâm hồn hay con thuyền lẻ loi lúc nào cũng muốn nương gió ra khơi. Và ra khơi chỉ là ước muốn đượctrở về quê xưa thêm bao tình thương [Khúc Nhạc Ly Hương]. Có vẻ như tình ca của chúng ta một thời chỉ có hai cách diễn tả. Một là người ta nói về tình như một con ong say mật. Hai là người ta lấy cái cao rộng của trời đất để bầy tỏ cái mênh mông không thể nói hết của tình mình.
Có thể nói Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ và Tiếng Thời Gian của Lâm Tuyền là những ca khúc có tính cách đổi mới cho lối viết nhạc Việt Nam thập niên 50- 60. Cấu trúc âm thanh đã khác đi nhiều và có lẽ âm điệu của nó đã kêu gọi tới một cách viết lời ca khác hơn, một ngôn ngữ mới hơn. Chính vì dùng được nhiều tiếng nói hàng ngày để viết thành bài hát, nên người Pháp gọi lời ca là Paroles [lời nói] và ở một mặt khác làm như thế, người ta đã văn chương hóa được tiếng nói thông thường và làm cho toàn thể ngôn ngữ mang một vẻ quý giá hơn.
Nhưng chúng ta hãy trở lại với Lâm Tuyền. Trong đời sống cũng như trong âm nhạc nhiều khi có những hiện tượng khó hiểu. Chẳng hạn, một vài tác giả, tự nhiên tác phẩm của họ không thấy được trình diễn nữa. Thảng hoặc có được đem trình diễn cũng không còn gây sự chú ý, mặc dù, so với các tác giả khác, tác phẩm khác đương thời, không thua sút về bất cứ phương diện nào, ấy là chưa kể còn có thể vượt trội nữa.
Lâm Tuyền là một trường hợp điển hình. Người ta có thể nói, nhạc Lâm Tuyền vẫn được hát đấy chứ. Điều đó đúng. Nhưng so với số lượng băng nhạc, đĩa nhạc, hiện lưu hành ở hải ngoại này, so với các tác giả khác thì số tác phẩm của ông được đem hát rõ ràng là không tương xứng.
Vì sao? Thật khó giải thích. Vì không thể nói nhạc của ông lỗi thời. Ngay cả những tác giả trẻ nhất của chúng ta hiện tại cũng không thể nói với ông như vậy được. Hiện tượng chỉ có thể giải thích như là, Lâm Tuyền đã phải chịu một sự bất công. Hai mươi mấy năm Sài Gòn đổi thay, chúng ta không biết Lâm Tuyền [và những ai nữa?] sống như thế nào. Rồi ông chết chúng ta cũng chẳng biết ông chết ra sao? Chúng ta có thờ ơ quá chăng? Hay không ai còn đủ thì giờ nghĩ đến người khác nữa? Không tình yêu nào có thể nẩy nở hay tồn tại trong sự lạnh nhạt. Nghệ thuật cũng vậy.
Nếu chúng ta đánh mất khả năng yêu, khả năng thuởng thức, xã hội sẽ không có được những tác phẩm giá trị nữa, đồng thời cũng không còn nhân tài nữa.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.