Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 15 Jun 2025

Chương 3.

Tuy lão già đã chết rồi, đã được đào sâu chôn chặt, con cháu vẫn còn phải nhắc nhở đến, chưa thể quên ngay được, vì còn phải ba năm tang chế. Suốt một trăm ngày, kể từ hôm hạ huyệt, ba ông con trai phải đi giày trắng, ngoài bách nhật được phép đi giày vải xám, trai gái, dâu con không được dùng quần áo tơ lụa suốt ba năm cho đến ngày làm lễ trừ phục. Anh Cả đã lo liệu thuê may tang chế cho tất cả nhà, lớn, bé. Bây giờ quyền huynh thế phụ, khi nào ngồi cùng với các em, anh trịnh trọng ngồi trên, ăn nói dõng dạc, to tát; anh tuyên bố gì, hai em phải ngồi im để nghe, đặc biệt anh Hai mồm nhỏ môi cong, có vẻ khinh khỉnh tự đắc, khôn ngoan, lanh lợi hơn anh Cả. Còn mồ ma Vương Long, ông cụ tin cậy hơn, vị anh biết xếp đặt, suy tính công việc, chỉ có mình anh biết rõ nhà có bao nhiêu tá điền, biết ước lượng mỗi vụ lúa, thu hoạch được bao nhiêu. Chú Ba nghe anh Cả tuyên bố gì, chú làm như một người mới tập nghe hiệu lệnh, chỗ nào đáng để vào tai thì để, tuy chú ngồi đó mà tâm hồn ở đâu đâu, nhấp nhỏm ý chỉ muốn đi.

Tất cả ba anh em đều mong chóng đến ngày chia gia tài, cả ba đều đồng ý nhất định phải chia, anh nào trong thâm tâm cũng đã hoạch định sử dụng phần của mình. Anh Hai, chú Ba không muốn tất cả gia tư điền sản vào cả tay một người anh Cả nắm giữ, như thế các em còn bị lệ thuộc, chi phối. Ba anh em, ai cũng có ý thầm kín về phần của mình, anh Cả không hiểu về phần mình thế nào, liệu có đủ ăn, đủ tiêu trong nhà không? Có đủ cung phụng hai bà vợ và một lũ con không? Lại còn những thú riêng tây, thầm vụng, quen rồi khó chừa lắm. Anh Hai buôn bán thóc lúa đã thạo, quen nhiều bạn hàng, lại biết có tiền cho vay lãi, nên cũng nóng ruột về chia gia tài để khuếch trương thương mại. Còn chú Ba thì lạ quá, lầm lầm, lì lì, mặt mũi lúc nào cũng đăm đăm, chỉ nóng lòng, nóng ruột đi, không ai đoán được ý muốn đi đâu, phần gia tài làm gì? Chưa ai dám bén mảng thăm dò ý kiến. Trẻ nhất trong ba anh em, mà suốt cả nhà lại kiêng nể nhất, chú gọi ai một tiếng, ở đâu chạy lại cho mau, sai bảo gì răm rắp làm ngay, không như đối với anh Cả tuy lớn nhất trong nhà, ăn nói dõng dạc oai nghiêm mà họ lại lần khân coi thường.

Vương Long đã sống lâu nhất họ, cùng vai với hắn chẳng có ai, họa chăng còn sót một người anh em thúc bá đi lính đã lâu, gọi là đi lính chứ thực ra, nhập bọn vào một tụi lục lâm cướp bóc. Nghe nói chủ tướng đối xử cũng khá, đã lâu lắm không có tin tức sống chết thế nào! Ba anh em cũng nhẹ mình về khoản này và cầu đừng có ai nhắc đến làm gì, vậy suốt họ không còn ai nhiều tuổi, vai trên, theo tục lệ phải tìm trong lân bang, quen thuộc có người nào đạo mạo, có danh vọng mời lại làm chủ tọa, “trọng tài” buổi họp gia tộc để phân chia gia sản.

Một buổi chiều, mấy anh em ngồi chơi nói chuyện, bàn tán xem nên mời ai đến làm chủ tọa.

Anh Hai nói:

– Theo ý tôi, ngay gần đây có một người có thể tin cậy được, chẳng ai xa lạ, ông Lưu buôn thóc, ông thân của chị Cả nhà, nên mời ông ta, ông này có tiếng trung thực thẳng thắn mà nhà cũng khá giả, không còn sợ sách nhiễu.

Anh Cả nghe nói, ý không bằng lòng vì trái với tôn ti. Đúng ra anh mới là người có quyền phát biểu trước. Anh sầm mặt lại:

– Tôi phiền quá, tính chú hay lắp bắp, tôi định nói, chú tranh lời nói trước. Kể chú nói nghe cũng được, tôi cho mời ông cụ sinh ra mẹ các cháu, nhưng từ rày chú nhớ bao giờ tôi có hỏi, chú mới được nói, đừng có nói leo.

Nói xong anh Cả thở mạnh, cong đôi môi dày, nguýt dài. Anh Hai cắn chặt môi dưới cố nín cười.

Anh Cả ngoắt đầu sang phía chú Ba hỏi:

– Còn chú, ý thế nào?

Chú Ba ngước mắt nhìn, có vẻ hợm hợm, nói bâng quơ:

– Thế nào cũng được, đã định làm thì làm ngay đi.

Anh Cả đứng dậy, ý muốn thi hành ngay cho xong, nhưng anh đã đứng tuổi, làm gì mà vội quá thì hay cuống, cả đến khi đi nếu đi vội quá, chân tay cũng bị luống cuống. Mọi công việc được xếp đặt ổn thỏa, ông Lưu nhận lời sang làm trọng tài. Ông vẫn thường khen Vương Long khéo biết “tề gia”.

Ba anh em lại mời xung quańh hàng xóm những người có địa vị, cả mấy ông tai to mặt lớn trong tỉnh, vừa giàu, vừa có quyền thế. Tất cả họp ở gian phòng rộng nhất nhà Vương Long, phân ngôi thứ tự cao thấp, ngồi họp bàn hội nghị.

Ông lái thóc (ông Lưu) ngồi ghế chủ tọa bảo anh Hai trình tờ kê khai gia sản, ruộng vườn, đất cát, của chìm của nổi. Anh Hai đứng dậy, trịnh trọng trao tận tay anh Cả tờ khai, anh Cả kính cẩn đệ trình lên chủ tọa. Chủ tọa nghiêm nghị mở to tờ giấy trên bàn, đặt lên mũi cặp mục kỉnh gọng đồng lẩm bẩm đọc. Cử tọa ngồi im phăng phắc, chăm chú nhìn lên bàn hội đồng làm việc. Chủ tọa dọn giọng đọc lớn tờ khai gia sản. Toàn thể cử tọa, ai cũng sửng sốt vì Vương Long để lại một cơ nghiệp thật hùng vĩ, lớn nhỏ có hơn 800 thửa ruộng. Thật ít khi nghe thấy một người hay một họ có nhiều của cải đến thế. Ngoài ra, xưa kia có nhà họ Hoàng tiếng tăm lừng lẫy là giàu có, anh Hai biết rõ đã lâu, anh không ngạc nhiên, còn mọi người ai cũng kinh ngạc nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh.

Riêng có chú Ba là thản nhiên, không thấy đổi sắc diện. Chú không để ý, tâm hồn vẫn như ở đâu đâu, chỉ mong công việc cho chóng xong để rồi lại đi. Ngoài ruộng nương đất cát, lại còn hai ngôi nhà, một nếp nhà ở quê và một tòa nhà lớn ở tỉnh tậu khi xưa của nhà họ Hoàng. Giòng họ này bị sa sút, con cháu phiêu bạt. Nào nhà, nào ruộng, ấy là chưa kể những món tiền lớn cho vay, cho mượn rải rác khắp nơi, lại còn số vốn lớn buôn thóc, những bao tải bạc nén chôn, nghĩa là riêng số tiền mặt cũng đã quá nửa của chìm. Cái gia tài đồ sộ đó, trước khi đem ra chia cho ba người cần phải định đoạt, xếp đặt cho xong, cho ổn thỏa những món phần cấp dưỡng. Có mấy món nhỏ cấp dưỡng cho vài người tá điền (cựu bộc) duy có hai món lớn về phần của hai người nàng hầu của Vương Long. Liên xưa kia làm ở một phòng trà, nom cũng có mẽ, Vương Long thấy vừa mắt chuộc ra, cô ả cũng khéo biết chiều chuộng.

Vương Long chê bà vợ cả quê mùa cục mịch, nên ơ hờ bỏ lửng, không hỏi han đến. Hoa Lê chỉ là một nữ tỳ, Vương Long mua về để sớm hôm hầu hạ đấm bóp. Cả hai, ả Liên và Hoa Lê, không được đứng vào hàng thiếp (vợ lẽ) chỉ được xếp vào hạng nàng hầu, con ở. Đã là nàng hầu, nếu chẳng may ông chủ quá cố, mà hãy còn ít tuổi, có thể được đi kiếm chồng, không ai nói năng chê trách làm gì. Cảba anh em cũng hiểu nếu hai cô ả này không chịu đi, ở lại – mà họ có quyền ở lại – phải nuôi họ ăn, nuôi họ mặc, cho trọn đời mãn kiếp. Á Liên dĩ nhiên không thể nào tấp tễnh đi lấy chồng, vừa già vừa phục phịch, được ở lại có người phải nuôi báo cô là toại nguyện lắm rồi.

Khi chủ tọa đọc đến tên ả (ả ngồi ở ghế gần cửa) vội vàng nhỏm dậy, hai tay vịn vai hai con ở, lấy ống tay áo quệt nước mắt, nói với một giọng nghe đến bi ai não ruột:

– Ới quan ơi! Quan bỏ con quan đi đâu, con bơ vơ, con còn thiết gì, mơ tưởng gì đến ai, con biết đi đâu bây giờ, hỡi quan ơ ơ ơi (hu hu)!

Vừa nói vừa khóc, thổn thức nghẹn ngào trong họng:

– Ngần này tuổi đầu ăn được là bao, mặc được là bao, thỉnh thoảng nhấp một tí rượu, hút một điếu thuốc cho lòng đỡ trống trải cơ cực, ba ông con quý tử của quan cũng chẳng hẹp lượng gì với con.

Chủ tọa (ông lái Lưu) tính hiền hòa chất phác, tưởng ai cũng tốt cả, nhìn cô ả động lòng trắc ẩn, ái ngại không biết lai lịch gốc tích cô ả, chỉ biết ả là nàng hầu của ông bạn cố tri, chẳng may đã thất lộc.

Ông ôn tồn phủ dụ:

– Chị ăn nói nghe được, thiên hạ ai cũng biết cụ cố đây là người phúc hậu. Tôi quyết nghị:

– Cho phép chị ở đây, mỗi tháng cấp cho chị Hai mươi nén bạc, cho chị có đầy tớ riêng và mỗi năm cấp thêm vài súc vải.

Nàng cố lắng tai nghe, không bỏ sót một câu, một chữ, đưa mắt nhìn ba ông con trai Vương Long rồi thất thanh nàng nói lớn:

– Có hai chục nén thôi à! Thật con không đủ tiền quà, con ăn uống độ này kém quá, cơm nước sô pha không sao nuốt được.

Chủ tọa sửng sốt, rút đôi mục kỉnh đặt xuống bàn, nhìn thẳng vào ả, nghiêm nghị nói:

– Nhiều gia đình cũng giàu có, khá giả, vào trường hợp này, hạng như chị may lắm chỉ được một nửa chỗ tôi quyết nghị. Tôi xử thế là hậu lắm rồi.

Cô ả không còn biết nói thế nào, bù lu, bù loa khóc lóc kể lể:

– Ối trời ơi! Quan bỏ con quan đi đâu để con bơ vơ vất vưởng biết nương tựa trông cậy vào ai … hu hu!

Chị Cả đứng gần đó, nấp sau bức rèm, tức chịu không nổi, vạch rèm ra hiệu cho chồng, ý muốn bảo: trước mặt quan khách một chỗ trang nghiêm, không thể để nó lộng hành quá thế được. Liên khóc lóc, kể lể, thảm thiết ghê gớm quá làm anh Cả ngồi không yên, anh cố hết sức tránh không được, không muốn nhìn ả.

Anh đứng dậy, hướng về chủ tọa, nói lớn át tiếng ồn ào:

– Xin chủ tọa tăng thêm cho hắn ít nhiều.

Anh Hai nghe chướng quá, đứng dậy nói lớn:

– Nếu cần phải cho ả thêm xin rút ở phần anh Cả. Hai mươi nén quá rồi, thừa tiền đánh bạc.

Anh Hai nói thế vì Liên càng về già càng ham mê cờ bạc, mê quá nhiều khi quên cả ăn cả ngủ.

Chị Cả vô cùng phẫn uất giơ tay múa chân, ra hiệu cho chồng đừng có nghe, chị lầm bầm nói lớn:

– Có cấp dưỡng, thì cấp cho cô nhi quả phụ, hạng ấy là cái thớ gì mà cũng ỉ eo.

Buổi họp đang phẳng lặng, bỗng đột nhiên huyên náo ồn ào. Chủ tọa lúng túng chưa biết phân xử thế nào, đưa mắt nhìn khắp mặt cử tọa. Liên được thể càng làm hăng, ồn ào quá, mọi người ai cũng thấy khó chịu. Tình trạng đó có thể kéo dài chưa biết đến bao giờ, nếu chú Ba không cáu tiết đứng dậy đi lại mấy bước, nện đôi ủng da xuống nền gạch:

– Được rồi, xén vào phần của tôi, làm quái gì một tí tiền, thêm, bớt, nhiều, ít, chán lắm rồi, xin chấm dứt.

Hội nghị đang lâm vào bí nay đã tìm được lối thoát.

Chị Cả nói:

– Phải! Chú ấy chưa vợ, chưa con mới rộng rãi được chứ, chúng tôi còn một lũ con.

Anh Hai khẽ rung đùi, tủm tỉm cười, nghĩ thầm: “Thây kệ chẳng hơi đâu, mày ngốc thì mày thiệt”.

Chủ tọa thấy nhẹ cả người, ông thở mạnh, rút khăn tay lau mặt, ông này quen sống bình thản, nho phong, chưa hề tiếp xúc với những hạng như Liên.

Được thể, đáng lý ả còn om sòm lên nữa nếu ả không ngó thấy nét mặt cứng rắn của chú Ba, ả cũng khôn hồn rút lui không dám làm già quá. Á nín bặt, ngồi xuống ghế, đắc chí đã thắng lợi, cố giữ được một lúc nét mặt rầu rầu, rồi thản nhiên chẳng ngượng ngùng nhìn mọi người. Con ở đưa đĩa hạt dưa, ả thò tay bốc một nắm, cắn chắt. Tuy đã khá tuổi hai hàm răng ả còn chắc và trắng lắm. Bây giờ, ả thật là yên chí, ngồi cắn hạt dưa.

Thế là phần cấp dưỡng cho ả Liên được kết thúc.

Chủ tọa đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, cất giọng hỏi:

– Ai là nàng hầu thứ hai? Tôi thấy tên có ghi ở bản danh sách?

Nàng hầu thứ hai là Hoa Lê, chưa ai để ý có mặt ở hội nghị hay không. Ai cũng nhớn nhác nhìn ở trong phòng không thấy có ả. Mấy con ở lục tìm ở mấy căn phòng trong nhà cũng không thấy. Anh Cả đã quên không cho ai gọi ả đi họp, vội vàng cho người đi triệu cấp tốc cô ả. Trong khi chờ đợi mất một hai tiếng đồng hồ, cử tọa giải lao và đi bách bộ. Một lúc lâu Hoa Lê đến với con ở, đứng nơi ngưỡng cửa. Trong phòng đông người quá, nàng rụt rè, e lệ không dám vào. Chợt nhận thấy một người ăn mặc quân trang nàng quay phắt người, chạy ra sân. Chủ tọa phải thân hành ra ngoài sân để phủ dụ. Ông Lưu nhìn nàng với cặp mắt dịu dàng, hiền hòa, không ngó thẳng vào mặt, sợ nàng bẽn lẽn, thấy nàng còn ít tuổi, xanh xao, có nhan sắc, ông nói:

– Cô còn ít tuổi, không ai chê trách cô đâu mà ngại. Nhà người ta giàu có, thế nào phần cô cũng được một số tiền, nếu không ở vậy, đi lấy chồng, tùy ý không ai ngăn cản.

Nàng không ngờ được nghe những lời nhân đức, hiền hậu, tưởng họ cho gọi lại để khu trừ. Nàng trả lời, tỏ vẻ sợ sệt, hãi hùng:

– Thưa cụ, cháu không có nhà cửa gì cả, chẳng có ai họ hàng thân thích ngoài con bé nhỏ quan để lại. Bây giờ mẹ con cháu không biết đi vào đâu. Chúng cháu ăn uống dè xẻn, quần áo bằng vải bông, thô sơ, không làm gì bằng lụa, cháu không quấy nhiễu ai hết.

Chủ tọa trở về phòng họp. Ông ngạc nhiên, hỏi anh Cả:

– Nàng nói có một con bé con, vậy con bé ấy là thế nào?

– À! Một nghịch nhi, kể ra cũng là một em gái chúng tôi nhưng sinh không được đường hoàng, chính nghĩa; ông cụ, bà cụ chúng tôi không muốn để cho chết đói hay khổ cực, sống được ngày nào thì sống, cho nuôi nấng nên còn lại đến ngày nay. Ông thân tôi giao cho chị ta nuôi. Nếu không muốn lấy chồng, cho chị ta ít tiền để hai mẹ con nuôi nhau. Người cũng hiền lành không sợ phiền nhiễu, quấy quả.

Liên đột nhiên xen vào:

– Phải, nó làm gì cần phải tiền bạc cho lắm, nó là hạng con ăn con ở trong nhà này, cho nó ăn uống thế nào cũng được, quần áo vải bông là tốt lắm rồi.

Chú Ba nghe thấy quắc mắt nhìn Liên một vẻ kinh khủng, ả sợ quá mồm lẩm bẩm quay đầu nhìn chỗ khác.

Chú Ba nói:

– Con trẻ cũng như con già, hai phần bằng nhau. Tôi chia đều.

Liên cau mặt nhăn mày, bực bội, nhưng không dám nói to, lẩm bẩm:

– Vô lý, con già con trẻ bằng nhau, chính thị ấy là đầy tớ cũ của tôi.

Biết rằng con bé này lại sắp giở cái trò ầm ĩ, chủ tọa vội vàng tuyên bố:

– Tôi quyết nghị:

Cho nàng hầu thứ nhất, hai mươi nhăm nén bạc.

Cho nàng hầu thứ hai, hai mươi nén bạc.

Rồi quay về phía Hoa Lê, ông nói tiếp:

– Xong rồi, cô yên chí trở lại nhà, cô được phép làm gì tùy theo ý muốn. Mỗi tháng được trợ cấp hai mươi nén bạc để chi tiêu nhật dụng.

Hoa Lê sung sướng quá, cảm tạ chủ tọa, hội đồng. Lúc mới đến nàng sợ run lên không biết thế nào, bây giờ như được cất gánh nặng, lại được trở về ngôi nhà đất và đời sống bảo đảm.

Thế là mấy phần cấp dưỡng được dàn xếp ổn thỏa, hội đồng phê chuẩn và thông qua. Chủ tọa sửa soạn đem gia tài ruộng nương nhà cửa, tiền bạc chia làm bốn phần: anh Cả, trưởng gia đình, được hai phần, còn hai phần về hai em. Chú Ba, đột nhiên đứng dậy nói:

– Phần của tôi, xin miễn chia nhà và ruộng. Lúc nhỏ tôi đã ngấy lắm về ruộng, ông cụ thân tôi đã muốn tôi nhập tịch dân cày. Tôi độc thân, chưa vợ, tôi làm gì bằng nhà, bằng ruộng. Xin chia cho tiền thôi, nếu phần của tôi cũng phải có nhà và ruộng, xin hai anh mua giùm và xin trả tiền cho.

Hai người anh nghe lạ tai quá vì chưa từng có người nào đòi lấy phần gia tài bằng tiền cả. Tiền tiêu đi là hết chứ nhà cửa ruộng nương, còn di tích mãi mãi.

Anh Cả nghiêm nghị nói:

– Chú phải biết, ở trong thiên hạ, một người đàn ông đứng đắn, tử tế, không bao giờ ở độc thân suốt đời. Cha nay đã quy ẩn, trước sau chúng tôi phải lo liệu lấy vợ cho chú mà lẽ đương nhiên phải thế. Lúc đó chú cũng cần phải có nhà, có ruộng cho nền nếp.

Anh Hai tiếp lời, có vẻ thực tế hơn.

– Phần ruộng chia cho chú, chú muốn làm gì tùy ý, chúng tôi không khi nào mua lại. Đã có nhiều gia đình, anh em bất hòa vì thế, tiền tiêu cho hết, rồi trách móc oán thù cho là bị gạt gẫm nên không có ruộng nương đất cát. Nếu

chú bằng lòng, tôi sẽ đảm nhiệm số ruộng của chú, hàng năm thu hoạch được bao nhiêu tôi sẽ gởi cho. Chú đòi phần của chú bằng tiền cả, không sao nghe được.

Câu nói đanh thép đó cả cử tọa ai cũng công nhận là rất hợp lý. Tuy nhiên “ông quân nhân” vẫn còn lẩm bẩm:

– Nhưng tôi không thích nhà, ruộng, thì đã sao?

Không ai chú trọng câu chú nói, duy có chủ tọa, tò mò hỏi xoi mói:

– Cậu định làm gì cần lắm tiền thế?

“Ông quân nhân” trả lời, giọng cục cằn:

– Tôi cần bảo vệ một chủ nghĩa.

Câu đó không ai hiểu “ông” ấy định nói gì.

Chủ tọa, suy nghĩ, cân nhắc, một lúc rồi ra quyết nghị về các phần chia:

– Nếu, quả thực “chú” không muốn dự phần vào ngôi nhà lớn ở tỉnh, để cho “chú” căn nhà bằng đất cũ nát ở nhà quê (căn nhà này sự thực vô giá trị, chỉ tốn ít công lấy đất ở ruộng đắp lên).

Quyết nghị trù liệu một món tiền, giao cho hai anh giữ, để sau này cưới vợ cho chú. Ông cụ đã quá vãng, hai anh lớn phải đảm nhiệm, lo liệu về việc đó. Chàng quân nhân lẳng lặng ngồi yên, theo dõi hội đồng làm việc. Nhờ sự sáng suốt, cương trực của chủ tọa, mọi trở lực được dàn xếp, quân nhân được ổn thỏa, hợp pháp. Ba anh em con Vương Long mở tiệc khoản đãi hội đồng và tất cả mọi người hiện diện ở buổi họp. Một tiệc rượu thân mật, không phải yến ẩm liên hoan, chủ nhân không ăn mặc chải chuốt, lượt là, vì chưa đoạn tang.

Bao nhiêu đồng ruộng bát ngát, Vương Long đã suốt đời nai lưng tận tụy bồi đắp, nay phút chốc phân tán, tản nát cho lũ con lão, còn phần của lão, thu hẹp có một mảnh đất nhỏ, lão an nghỉ ngàn thu ở đó. Trên mảnh đất đó, con cháu lão vẫn có quyền tùy ý sử dụng, phần dưới mới thật là phần của lão, vĩnh viễn, bất khả xâm phạm, phần mà đất cùng thịt, xương, máu mủ lão hòa hợp cùng nhau. Cuộc phân chia vừa chấm dứt, người tráng sĩ và bốn lính tùy tùng đã sửa soạn quân trang lên đường về nơi xa xăm bí mật.

Anh Cả thấy sự vội vàng hấp tấp, kinh ngạc hỏi:

– Chú đi đâu mà vội vàng thế?

Người tráng sĩ đang buộc thanh đoản kiếm ở dây lưng, ngừng lại, nhìn người anh từ đầu đến chân, thấy một người tầm thường, nhu nhược, mặt béo phị, đôi môi dày, thân hình phục phịch, núng nính những thịt, hai bàn tay đàn bà mẫn mụi thịt nhẽo, móng tay dài. Tráng sĩ đưa mắt nhìn chỗ khác, trả lời đầy giọng khinh bỉ:

– Nếu không nói rõ vị tất đã hiểu, tôi chỉ cần nói là tôi phải khẩn cấp lên đường, trở lại nơi mà có hàng bao nhiêu người chờ tôi về để thi hành nhiệm vụ, những người sẵn sàng triệt để tuân theo mệnh lệnh của tôi.

Anh Cả xưa nay vẫn tự đắc tưởng chừng mình được kính nể, không nhận thấy sự khinh bỉ của em đối với mình, nghe nói chưa hiểu thế nào, lại hỏi:

– Thế lương của chú chắc khá lắm nhỉ?

Tráng sĩ trả lời cộc lốc:

– Cũng có khi nhiều, mà nhiều lúc không có một xu nào.

Không thể tưởng tượng được đi làm việc mà không được trả lương, anh Cả lại nói:

– Tôi mà đi lính như chú, đã đóng đến đội trưởng, đội triếc trông coi bao nhiêu người kể cũng khá, nếu làm với ông chủ tướng nào không trả lương, nhất định tôi chuồn sang làm cho ông khác, chứ đi làm mà không có lương, thật là phi lý.

Tráng sĩ đứng yên, không nói năng gì, trong đầu óc còn suy nghĩ xếp đặt để lên đường. Một ý nghĩ vừa vụt đến, tráng sĩ vội vàng chạy lại tìm anh Hai và căn dặn:

– Anh nhớ đừng quên, tháng tháng trả cho người nàng hầu thứ hai của cha, phần cấp dưỡng của nàng. Hàng tháng anh có gửi tiền cho tôi, anh nhớ khấu đi năm nén, là tiền tôi  cho thêm.

Anh Hai sửng sốt, không hiểu sao lại cho nhiều thế, trợn tròn mắt, hỏi:

– Sao lại phải cho lắm thế?

Tráng sĩ có vẻ hấp tấp vội vàng, trả lời cụt lủn:

– Người ta còn phải nuôi con, chớ sao!

Ý muốn nói nữa nhưng lại thôi, chàng nóng ruột, bốn tên lính đã đeo bọc lên vai, tề chỉnh chờ chàng ở sân. Chàng rảo bước ra đi với mấy tên lính, sung sướng như được cởi mở, thoát vòng kiểm tỏa của người cha già. Chàng, một tráng sĩ hiên ngang, chí muốn tung hoành, vùng vẫy, không chịu một sự chi phối, khuôn khổ, chật hẹp, gò bó. Tâm trạng hai người anh cũng chẳng kém gì em, cũng mong cho chóng thoát vòng cương tỏa của nghiêm đường, được sống một cuộc đời phóng khoáng.

Người anh Cả chờ chóng hết ba năm, đoạn tang, đặt bài vị cha lên bàn thờ cộng đồng cùng với các bài vị tổ tiên, trên gác xép ở gian phòng giữa nhà.

Suốt ba năm tang chế, Vương Long được thờ riêng biệt trong căn phòng bên. Các con tưởng chừng như hồn cha còn lẩn quất đâu đây, còn xét nét hành vi của các con. Người con trai lớn muốn được hoàn toàn tự do, ăn tiêu theo sở thích, nhưng chưa dám, bài vị cha còn đó, hồn cha còn đó, y phục còn sô gai, tang chế, mọi hoan lạc phải đình chỉ. Một người vô công rồi nghề như anh, trong óc mơ ước, tơ tưởng thú vui thầm lén, cha tuy đã chết, song hồn như hãy còn đủ uy lực để chế ngự anh.

Người con thứ hai đã vạch sẵn một chương trình hoạt động. Anh muốn “đẩy” một số lớn ruộng, phần của anh, lấy tiền để khuếch trương thương mại ngũ cốc. Chí anh muốn lấy lại mấy thị trường của ông Lưu. Ông này đã già, con trai. theo nghiệp bút nghiên không muốn nối chí cha về thương trường. Anh định mở mang buôn bán lớn, dùng ghe thuyền chở lúa ở vùng anh đến bán ở các vùng xa. Anh hãy còn khan tang trên đầu, phải thủ hiếu chưa thể hiện những mộng lớn anh phải cố nén tâm chờ. Anh chưa bộc lộ ý kiến đó cho ai biết, có một lần ngồi rỗi, anh hỏi anh Cả:

– Khi mãn tang, anh đã tính số ruộng thế nào chưa? Nên bán hay nên để?

Câu trả lời của người anh Cả phát lộ chân tướng một người vô tư lự:

– Thật ra, tôi chưa nghĩ đến vấn đề đó, tôi thiết tưởng tôi cần phải giữ lại một phần lớn số ruộng để đủ ăn đủ tiêu trong gia đình tôi. Tôi không làm lụng, buôn bán gì, mà trời cho cũng có tuổi, không muốn tham vác bôn ba.

Anh Hai nói:

– Ruộng đất thật là cả một vấn đề nhiêu khê, vất vả. Nếu ý anh muốn làm điền chủ, muốn có miếng ăn, phải tự mình thân chinh coi sóc các tá điền, phải tự mình đi cân thóc lấy, lại còn bao nhiêu công việc nặng nhọc nữa. Khi xưa, còn cha, tôi đảm đương lo liệu hết, bây giờ tôi không thể trông nom giúp anh được vì tôi còn có công việc riêng của tôi. Phần ruộng của tôi, tôi sẽ bán hết, chỉ giữ lại mấy miếng tốt, tiền tôi cho đặt lãi nặng, rồi anh xem, anh và tôi ai mau giàu hơn ai?

Anh Cả nghe thích quá, hợp ý anh, anh rất cần tiền, anh nói khẽ:

– Được rồi, để tôi xem có lẽ tôi cũng cần phải bán một số lớn ruộng, tiền tôi cho đặt lãi cùng với chú.

– Được rồi chúng ta sẽ thảo luận sau.

Chẳng ai bảo ai, hai anh em, khi nào nói đến bán ruộng là hạ thấp giọng, nói khe khẽ, tưởng chừng như hồn cha già còn nghe thấy. Hai người cố kiên nhẫn chờ, ngày qua tháng lụn, mong cho chóng hết ba năm. Ả Liên cũng sốt ruột cằn nhằn ba năm sao mà lâu thế! ‘Theo gia pháp tục lệ, ả không được ăn mặc chải chuốt lượt là, phải đeo mấy bộ áo vải bông thô kệch, không được đi lại nhà chúng bạn ăn uống tiêu khiển, có khi phải thầm lén vụng trộm. Tuổi đã nhiều, bây giờ ả thường đi lại giao lưu với năm, sáu bà già, nhà cửa nom cũng đàng hoàng ra vẻ, mấy bà lão thường đi song loan tới nhà nhau, cờ bạc, rượu chè.

Theo thói thường, chủ đánh bạc được hay không nô tỳ theo hầu có bổng, nên con nô tỳ của Liên phỉnh phờ, xui giục ả vào cuộc đỏ đen. Duy chỉ có Hoa Lê thản nhiên, không có vẻ gì vội vàng, hấp tấp, chờ mong. Không ai để ý đến nàng, âm thầm lặng lẽ, nàng ra khóc ở mộ Vương Long.

Hai anh em cố nén tâm chờ, mong cho chóng hết ba năm (mọi kế hoạch dự tính phải tạm hoãn thi hành). Trong thời gian chờ đợi, hai gia đình, vợ chồng con cái ở chung một ngôi nhà lớn. Sự chung đụng không phải là một việc dễ dàng, bọn đàn bà khích bác, thù ghét nhau. Hai chị em dâu hục hặc lẫn nhau, thành bọn đàn ông cũng rất bực mình khó chịu. Đàn bà có điều gì tức tối, bất mãn, không bao giờ để bụng, tỉ tê kể lể hết cho chồng nghe.

Chị Cả, hậm hực, một hôm nói với chồng:

– Thật lạ quá, từ ngày tôi bước chân về làm dâu nhà này, đáng lý họ phải biết kính nể tôi, họ lại coi thường, coi khinh tôi. Còn mồ ma ông cụ, tôi cố cắn răng nhịn nhục. Ông cụ người thô lỗ ngu xuẩn, tôi thật xấu hổ với lũ con tôi, nó thấy ông nội nó là hạng người thế nào. Tôi cũng cố chịu đựng biết làm thế nào, vì ông cụ là cha có quyền. Ông cụ đã chết, bây giờ anh có biết con vợ thằng Hai nó đối xử với tôi như thế nào không? Thằng chồng nó vừa ngu vừa mù chữ, anh lớn nhất trong nhà, anh phải biết xếp đặt thế nào cho có tôn ti, thể thống chứ? Càng ngày nó càng coi tôi không ra mùi mẽ gì, cái con mụ nhà quê, thô lỗ, tục tĩu.

Anh Cả thở dài, cố nhịn, anh hỏi.

– Con ấy nó nói gì?

Chị Cả trả lời, giọng đành hanh:

– Có phải nó nói gì tôi đâu, nhưng khi nào nó nói gì, hai môi nó mấp máy, còn tiếng thì chết ở trong cổ họng, chỉ thấy cái điệu bộ nó cũng đủ phát ghét. Tôi vào gian nhà phòng nào mà có gặp nó ở đấy, nó vờ như đang dở bận việc gì, nó không thèm đứng dậy hay nhường chỗ cho tôi, mặt đỏ tía tai,

nó nói oang oang, không sao chịu nổi, thấy nó đi ngang mặt cũng đã đủ tởm rồi.

Anh Cả nói:

– Thật vô lý, tôi không thể lại bảo thằng chồng nó: vợ mày làm sao lúc nào cũng mặt đỏ tía tai, nói năng oang oang, làm mẹ lũ con tao không sao chịu nổi, không thể để vợ mày như thế mãi được.

Anh vừa nói, vừa lắc đầu, tay sờ dây lưng tìm cái điếu hút thuốc. Anh nghĩ câu nói của anh dí dỏm, anh nhếch miệng cười. Chị Cả không thuộc vào hạng đàn bà ăn nói liến láu nhanh trí khôn, biết đối đáp. Chị thâm thù em dâu là vì mụ này tuy quê mùa, ăn nói cục mịch nhưng chết cây gãy cành.

Chị Cả người tỉnh thành nói dõng dạc, chậm chạp, phong độ của người trên, chị nhà quê giương mắt nhìn trừng trừng nói một câu bâng quơ bóng gió làm chị Cả xấu hổ không biết đối đáp lại. Bọn đầy tớ nô tỳ đứng quanh đó, nghe thấy ngoảnh mặt cười rúc rích. Nên khi nghe chồng nói, chị tưởng chừng như anh chồng cũng chế nhạo, soi bói chị, thấy anh chồng ngồi yên trong chiếc ghế bằng song, tủm tỉm cười, chị hầm hầm tức quá, bắc chiếc ghế gỗ đứng phắt lên trên, hai mắt lim dim, đôi môi chúm lại chị nói:

– Tôi biết mà, tôi biết ông khinh rẻ tôi lắm mà. Từ ngày ông rước con đĩ ấy về đây, ông khinh bạc tôi mà. Tôi chỉ muốn chăm lo lễ bái, muốn đi đâu tu quách cho yên chuyện, tôi chưa bỏ nhà ra đi cũng vì một lũ con. Cái nhà này ông xem trước kia nó thế nào, bây giờ tôi sửa sang thu xếp lại nó thế nào? Vô ơn, vô ơn.

Nói xong chị lấy ống tay áo quệt nước mắt, đi thẳng vào trong buồng. Một lát sau, anh Cả nghe tiếng chị tụng kinh ở trong buồng vọng ra. Chị Cả khi đã đứng tuổi, chị thường giao du với các sư, vãi, chị chăm chỉ lễ bái, tụng kinh rất lâu, các ni cô năng lui tới, thuyết pháp cho chị. Lần này cũng như mọi lần khác khi nào tức giận điều gì, chị tụng kinh thật to. Anh Cả nghe thấy chị tụng niệm, buồn quá, anh thở dài, hai tay ôm đầu, vì từ ngày anh lấy con bé ấy đem về nhà, chị vẫn không bằng lòng, không nguôi cơn giận. Con bé này xinh xắn, ngây thơ, anh đi chơi tình cờ thấy ở trước nhà một gia đình nghèo khổ, con bé ngồi trên chiếc chõng tre, cạnh chậu nước đang giặt giũ quần áo rách; con bé dễ coi quá, anh lượn đi lượn lại, hai ba lần để ý nhìn, rồi anh lui tới nhà con bé nhiều lần. Cha con nhỏ cũng mừng đã gả bán cho một người giàu, lại có danh vọng, anh trả cho người cha con bé món tiền kha khá. Con bé còn dại dột, ngớ ngẩn quá, bây giờ anh biết rõ tâm tính nó, anh cũng tự lấy làm lạ sao lại đi mua một con bé ngớ ngẩn, lúc nào cũng lấm lét sợ bà Cả. Con bé chưa có bản sắc cá tính. Nhiều lần anh bảo nó, đêm vào ngủ trong buồng anh, nó cúi đầu lẩm bẩm:

– Nhưng bà có bằng lòng cho phép đêm nay chưa?

Có lần anh thấy nó độn quá, ngốc quá, anh phát cáu, thề lần sau anh sẽ tìm một con khôn ngoan, tai quái, không phải sợ vợ cả quá lố. Đàn bà hầu hết là thế cả. Nhưng nhiều khi anh thở dài nghĩ có lẽ thế này lại hơn, cửa nhà được êm thấm. Con bé này sợ chị Cả ghê lắm, tuyệt đối phục tòng, bà này lại gần, nó cúi đầu không dám nhìn thẳng. Tuy thế mà vẫn chưa vừa lòng bà Cả, lúc nào cũng ỉ eo trách chồng đi rước vợ lẽ về, nếu cần phải lấy vợ lẽ, lấy ai chứ đi rước của nợ ấy làm gì. Anh Cả làm thinh, cố nhịn vợ cho êm thấm cửa nhà.

Anh thấy con bé mặt mũi trắng trẻo hay hay, anh thích lắm, anh xót xa khi thấy vợ anh mắng mỏ, đay nghiến nó. Anh nghĩ phải đến dùng mưu mẹo xảo kế mới có thể gần gũi con bé được.

Khi thấy con bé sợ sệt không dám lại gần anh, anh bảo:

– Không ngại gì, cứ đến, bà ấy hôm nay đang cáu kỉnh, tao cũng sợ lắm không dám đến gần.

Thực ra chị Cả “lửa lòng” đã tắt, thời kỳ sinh nở bận mọn đã qua, sung sướng được “sạch sẽ” thảnh thơi, chiến thuật của anh là ban ngày anh và con bé hết sức chiều chuộng không làm trái ý, phật lòng chị Cả, ban đêm con bé yên chí lại với anh. Thật là một xảo kế lưỡng lợi, lưỡng toàn, không xảy ra ỷ eo xô xát ầm ĩ cửa nhà. Song còn chuyện xích mích với bà em dâu, dàn xếp quả thật khó quá.

Một hôm vợ anh Hai lại bảo chồng:

– Tôi thậm ghét cái con mặt trắng lột lột, anh làm thế nào mà ngăn hẳn nhà ra chứ tôi không thích chung đụng kẻo có ngày tôi nói nó không ra gì, bêu xấu bêu hổ cho mà coi. Nó tưởng nó ghê gớm lắm, mỗi lần gặp nó, hay nó đi đâu về, dễ thường tôi phải chắp tay vái dài. Bất quá nó cũng như tôi hơn gì tôi, tôi không khốn nạn như nó, cả cái thằng chồng nó béo chương, béo nứt. Anh thì anh, làm gì nhau?

Dầu sao, vợ chồng anh Hai cũng ý hợp tâm đầu. Anh người nhỏ bé, nước da vàng vàng, ít nói, vạm vỡ, hồng hào, tính nết cương trực, anh còn quý vì chị tinh quái, đảm, công việc trong nhà xếp đặt giỏi, mà hà tằn hà tiện, biết tiêu pha chắt bóp.

Bố chị là một dân cày, chị không quen sống đài các trưởng giả. Bây giờ giá chị đua đòi cũng được, nhiều người khác thì đã thế, nhưng chị vẫn giữ mực sống hồn nhiên như trước. Chị ăn uống xềnh xoàng, sô pha, mặc quần áo vải, không chuộng lượt là, nhưng phải một tật là hay nói, hay trò chuyện cả với người ăn người ở, chị cho như ngang hàng với chị. Chị Cả thấy thế, khó chịu quá. Có một việc, làm chướng tai gai mắt nhất chị Cả, làm chị khích nộ là con em dâu quần áo lôi thôi, lốc thốc, đi lếch thếch khắp nơi, khắp xóm, giày dép cũ kỹ vẹt gót, đầu bù, tóc rối, bế con bạ chỗ nào cũng vạch vú cho con bú. Vú để thỗn thện, thật đúng một mụ nhà quê.

Chuyện cô vợ anh Hai cho con bú đã xảy ra một cuộc xô xát kịch liệt, sự bất hòa giữa hai anh em và rút cục cũng phải tìm cách dàn xếp cho ổn thỏa, êm ấm. Có một hôm, nhân ngày đản sinh một vị thần linh có đền thờ trong tỉnh, bà Cả “lịch sự đài các” đi hành hương. Bà vừa ra cổng lớn để lên kiệu võng, chợt thấy vợ anh Hai, một mụ “nhà quê” ngồi ở thềm cửa đang cho con bú, vú để thỗn thện mà đang mặc cả mua con cá để làm cơm chiều.

Bà thấy sỗ sàng quá, không ra thể thống gì, bà tức quá, nhịn không nổi, bà nói:

– Thật là nhục cho gia phong, chị không biết ngượng ngùng, xấu hổ là thế nào à? Đến con ở tôi cũng không thể để cho nó làm quá thế được.

Bà ăn nói chậm chạp khoan thai, không sao đọ kịp với lời “mụ nhà quê”, chị này sấn sổ lại, nói:

– Còn ai lạ gì trẻ nhỏ nó phải bú mớm, có con cho bú thì làm sao? Tôi cho bú cả hai bên làm gì mà xấu hổ, làm gì mà hại đến gia phong hở?

Đáng lẽ, mụ gài khuy áo, mụ lại khiêu khích, vạch nốt vú nữa, đổi vú cho con bú. Mụ nói oang oang, họ kéo đông lại xem; mấy người đàn bà đang làm bếp, nghe thấy ồn ào cũng tất tưởi chạy ra, vừa đi vừa chùi tay. Bọn nhà quê đi chợ ngang, đặt gánh xuống, quây lại xem thích lắm. Bà “trưởng giả đài các” thấy họ xúm đông quá, những bọn mặt rám nắng, tầm thường, không chịu nổi, bà rút lui. Không đi lễ nữa, bà cho kiệu võng về, bà rảo bước trở vào căn phòng riêng của bà. Mụ “nhà quê” chưa từng nghe ai nói việc cho con bú là lỗ mãng, mụ vẫn thấy người ta cho con bú, có cần phải kén chọn chỗ nào nên, chỗ nào không nên, trẻ con nó khóc, biết nó khóc cái gì, chỉ biết cho nó ngậm vú để nó nín đừng khóc. Nghĩ thế chị cho là đúng lý nên càng làm già, chị bêu xấu bà cả, nghe rất vui tai, cả bọn đứng xem cười ầm lên, vui như đi xem chèo, xem hội. Có một con nô tỳ của bà Cả đứng đó, được chứng kiến tấn hài kịch, vội chạy đi “tâu” hết cho chủ.

 – Thưa bà, chị ấy bêu xấu bà ghê quá, bảo bà phách lối hợm hĩnh, bắt nạt ông con kinh quá, ông con không dám bén mảng với vợ bé, bà có cho phép mới dám gần mà bà lại còn  hẹn giờ! Thiên hạ xúm đông xúm đỏ lại nghe, họ reo ầm lên cười.

Nghe con ở nói thế, bà Cả tái mặt, nằm vật xuống chiếc ghế ở cạnh bàn. Con ở lại chạy đi nghe, một lúc nó chạy về, thở hồn hển như đứt hơi, cấp báo:

– Bây giờ chị ta đang bảo bà chỉ lo chuyện sư mô, chẳng trông nom gì đến con cái. Tụi sư cũng ghê lắm, không khéo nó quyến rũ bà.

Nghe thấy câu sỉ nhục quá quắt, bà Cả nhổm phắt trở dậy sai con ở lập tức ra gọi người gác cổng vào. Anh gác cổng là một anh nhà quê, cục mịch, trước làm ruộng cho Vương Long, bây giờ già nua, không có con cái, Vương Long thương người có nghĩa, nuôi để gác cổng. Anh đến lấm lét, sợ sệt, thấy bà cả, cúi đầu vái dài. Bà cả dõng dạc oai nghiêm bảo:

– Quan ra trà thất không có nhà, ông Hai cũng đi vắng, hiện ở ngoài cổng có sự lôi thôi, lộn xộn, tôi tạm thi hành nhiệm vụ. Tôi không muốn họ xúm đông trước cửa nhà, tôi cho phép anh đóng hết các cửa ngoài đường lại. Nếu bà Hai không chịu vào, đứng ở ngoài đường, thây kệ bà ấy, nếu có hỏi ai bảo anh đóng cửa, thì bảo là tôi ra lệnh cho anh, anh phải tuân theo. Lão bộc, không nói năng gì, cúi đầu chào đi ra thi hành đúng như lời bà chủ.

Mụ nhà quê vẫn đứng nói léo xéo, kể xấu bà cả, bọn người đứng xem thích chí, cười rầm rầm, mụ không biết sau lưng mụ các cánh cửa từ từ đóng hết. Đóng xong, lão bộc hé hai cánh cửa cái, chõ mồm nói giọng khàn khàn:

– Này … bà!

Mụ ngoảnh cổ lại thấy cửa đóng hết, vội vàng đẩy cửa bước vào, vẫn tay ôm con cho bú, mụ mắng lão bộc:

– Ai bảo mày được đóng cửa, đồ chó già.

Lão bộc khúm núm trả lời:

– Bà Cả bảo con đóng hết các cổng lại, bà không muốn họ xúm đông trước cửa nhà. Con cũng đã nói trước bà biết mà!

– Thế cửa này là cửa nhà mụ ấy hở? Nhà này là nhà tao, mày định để tao ở ngoài đường ngoài ngõ à?

Mụ nhà quê la thét om sòm, sấn sổ chạy vào buồng chị Cả. Bà này cũng đã biết trước, đã cẩn thận đóng hết các cửa gài then, ngồi yên chí, trong buồng tụng kinh. Mụ nhà quê tha hồ đập cửa, gào thét, không sao mở được chỉ nghe tiếng bà cả rầm rì ở trong buồng. Đêm hôm ấy, hai anh em được nghe vợ rỉ tai kể lể, mỗi chị nói một khác.Sáng hôm sau, hai anh em ra trà thất, nhìn nhau mặt buồn thiu. Anh Hai cố gượng cười bảo anh Cả:

– Chỉ tại bọn đàn bà làm cho anh em mình bất hòa, mà lúc này, huynh đệ huých tường, chí không nên. Tôi thiết nghĩ bây giờ nên ngăn nhà ra. Anh ở mấy gian phòng hiện đang ở, anh giữ lấy cổng chính trông ra phố. Tôi ở mấy gian phòng bên, tôi cho mở cửa thông sang phố bên. Có làm như thế họa chăng mới ở được. Nếu chú Ba về, chú ở phòng hiện thờ cha, mà sau này con Liên chết đi chú ở cả mấy gian ấy nữa.

Suốt đêm hôm trước, anh Cả được vợ kể đi kể lại, đầu cua tai nheo câu chuyện, lại còn ray rứt, đay nghiến, anh thề từ rày trở đi, anh không thể ngọt nhạt, việc gì cũng bỏ qua. Anh là trưởng gia đình, anh phải cứng rắn, phải nghiêm khắc, không thể để một con em dâu lăng loàn, lăng mạ vợ anh.

Nên khi anh Hai bàn về việc ngăn nhà, anh nhớ đêm hôm trước, bị ray rứt đay nghiến khổ quá, bèn trả lời giọng tức tối hậm hực:

– Con vợ chú quá lắm, lăng loàn quá, chú không biết nó lăng mạ, sỉ nhục mẹ các cháu trước mặt những bọn tầm thường thế nào ư? Thôi đừng nên nói nữa. Chú biết điều phải cho nó một trận; tôi bảo chú phải cho nó một trận nên than mới được.

Anh Hai nhấp nháy hai con mắt tí hin, anh nói để lấy lòng anh Cả:

– Anh và tôi, bọn đàn ông chúng mình, ai cũng biết đàn bà là thế nào, hạng gọi là khá nhất cũng ngu xuẩn ngờ nghệch nữa là. Bọn mình không nên để tai nghe họ, dính dáng vào công việc đàn bà. Đàn ông chúng mình còn hiểu

biết, dễ chịu hơn. Tôi cũng biết con vợ tôi tính nết rồ dại, quê mùa, anh nói lại với chị hộ tôi là tôi nói thế, và tôi gởi lời xin lỗi chị cho nhà tôi. Xin lỗi có mất gì đâu? Tôi nghĩ nên để bọn đàn bà, con nít ở riêng ra, nhà nào nhà ấy, có công việc gì anh em mình ra tiệm trà bàn luận, về nhà mỗi người riêng biệt một căn.

Anh Cả nói: – Nhưng … nhưng …

Anh Cả nghĩ ngợi chậm chạp, không mau trí lanh lẹ như anh Hai.

Anh Hai thoáng ý hiểu ngay, anh Cả còn lúng túng chưa biết nghĩ cách nào để cho chị Cả hả giận, anh Hai mau miệng mớm lời. Anh về bảo với chị ấy thế này:

– Tôi phải thẳng tay trị vợ chồng thằng Hai mới được, tôi ngăn chỗ chúng nó ở lại, thế là yên chí, chúng nó không còn sang quấy nhiễu lếu láo được.

Anh Cả, hợp ý, cười ha hả xát hai bàn tay chuối mắn với nhau. Anh nói:

– Chú cho xây ngay đi chớ!

– Được, để tôi gọi thợ nề lại ngay ngày hôm nay.

Chị Cả, chị Hai đều vừa ý, hỉ hả, kế đó hay đến nỗi người nào cũng tưởng mình đắc thắng, đối thủ bị lép vế. Hai anh em lại càng thân mật hơn xưa, anh nào cũng tự đắc mình khéo biết khu xử hiểu tâm lý đàn bà. Bây giờ họ yên chí, chờ ngày đoạn tang hẹn nhau ngày ra tiệm trà để bàn tính việc bán ruộng. Thấm thoắt, ngày tháng qua ba năm đã hết, họ giở niên lịch ra chọn ngày nào hợp để làm lễ trừ phục. Vợ chồng anh Cả bàn soạn, tính toán, sắp đủ nghi thức.

Theo tục lệ trong miền, suốt họ, những ai đã phải chịu tang, được mời đến ăn mặc tử tế, quần áo lượt là, gấm vóc, đàn bà được mặc áo đỏ phủ ngoài áo sô gai, đi ra cả ngoài đường qua cổng chính, ở đó đã xếp những đống giấy tiền lớn, giấy vàng, giấy bạc, các vị sư ở đó châm lửa hóa vàng. Trước ánh lửa chập chờn, họ cởi bỏ hết áo sô gai. Thế là xong lễ trừ phục, tất cả lại trở vào nhà, chuyện trò vui vẻ mừng những ngày tang tóc, buồn thảm đã qua; tất cả lần lượt, đến lễ trước bài vị Vương Long mới làm (bài vị cũ đã đem hóa) họ bày rượu thịt ra cúng.

Bài vị mới này để thờ vĩnh viễn, lồng trong một cái giá nhỏ, hai thứ làm bằng gỗ tốt. Thuê đóng xong, họ sơn then rất kỹ, các con nhờ một vị danh nho trong tỉnh, đề trong lòng bài vị tên và duệ hiệu của vong. Anh Cả kính cẩn hai tay nâng chiếc bài vị (con cái, họ hàng lũ lượt theo sau) đem đặt lên bàn thờ cao, ở đó đã có hai chiếc bài vị nữa của hai dân cày, cha và ông nội Vương Long.

Ba ông này lúc sinh thời cũng không ngờ khi chết lại có những bài vị đẹp đẽ như những đại phú gia. Họ tưởng bài vị của họ bất quá là một mảnh giấy trắng, con sẽ nhờ người nào võ vẽ biết dăm ba chữ, viết tên vào rồi đem dán lên vách căn nhà ở quê rồi lâu ngày rách nát ra từng mảnh. Khi Vương Long được ở ngôi nhà trên tỉnh, đã thuê thợ làm hai chiếc bài vị cho cha và ông nội hắn, làm như các tiền nhân của hắn lúc sống đã ở cả trên tỉnh trong ngôi nhà đó. Không có ai biết hồn phách các vị ấy có ở trong bài vị hay ở đâu?

Con cái Vương Long đặt bài vị cha vào đó, đóng cửa bàn thờ lại, đi ra trong lòng thư thái nhẹ nhàng.

Mọi công việc về Vương Long thế là hoàn tất, bây giờ tha hồ tiệc tùng, phè phỡn hoan lạc. Thật đúng lúc làm cỗ bàn, khoản đãi khách khứa.

Liên (nàng hầu thứ nhất của Vương Long) vừa già, vừa phục phịch to béo, mặc một chiếc áo sa tanh hoa to, màu lam nhạt. Tất cả ai cũng biết ả, nên không ai để ý, bình phẩm sự ăn mặc lố lăng của ả. Họ ăn uống vui vẻ, nô cười, anh Cả tính thích có những cuộc hội họp, cỗ bàn, ăn uống, anh hỉ hả lắm, luôn mồm mời:

– Xin mời uống cạn chén; thật cạn chén.

Hôm ấy, anh uống nhiều, mặt đỏ ửng, hai mắt đỏ ngầu. Vợ anh ngồi phòng bên với khách đàn bà, nghe nói anh sắp say, vội cho con ở chạy lại bảo:

– Lúc khác không sao, hôm nay đừng uống nhiều say quá không tiện.

Anh hiểu ý, cầm chừng không dám uống nữa. Anh Hai cũng vui vẻ lắm, nhưng anh không để ý mấy về khách khứa cỗ bàn, anh thừa dịp nói chuyện mảnh với mấy người khách, thăm dò xem có muốn mua ruộng của anh

không? Anh phao lên phần ruộng của anh toàn là thượng đẳng điền, anh muốn bán để làm việc khác. Hai anh em đều vui vẻ, hân hoan, ông già từ đây thật là người thiên cổ, chiếc dây vô hình ràng buộc hai người phải tùy thuộc vào ông đến đây thật đứt hẳn. Duy chỉ có một người hôm ấy vắng mặt ở bữa tiệc, đó là Hoa Lê.

Nàng đã cho người lại cáo lỗi, nói thác là con bé con của nàng không được khỏe. Vì suốt trong họ không ai để ý dến nàng, có hay không cũng được, nên anh Cả chấp thuận, bảo nếu con bé đau, miễn cho không đến cũng được. Cũng duy có nàng hôm đó chưa chịu “trừ phục” vẫn giữ nguyên áo tang, giày tang khăn tang, mà nàng cũng không cởi bỏ những đồ tang cho con nhỏ. Trong khi ở ngôi nhà trên tỉnh, mọi người đang chè chén, cỗ bàn vui vẻ, nô cười, nàng lại quay về công việc riêng biệt, thích thú của nàng. Nàng nắm tay con dắt ra cánh đồng, đến ngôi mộ Vương Long, hai mẹ con ngồi xệp xuống đất. Con bé yên chí có mẹ ở đó, tung tăng chơi đùa, nàng phóng tầm mắt ngắm nhìn đồng ruộng mênh mông, bát ngát. Này những thửa ruộng xanh dờn, cái dọc cái ngang, liên chỉ cho tận đến chân trời xa tít. Đó đây, xa xa vài nét xanh sẫm, cử động, đó là mấy bác nông phu đang cấy lúa. Nhớ lại xưa kia Vương Long cũng làm ăn vất vả như thế, cũng cặm cụi như thế. Hồi tưởng lại khi Vương Long về già, kể cho nàng nghe những chuyện trồng trọt, gặt hái, những chuyện trước khi có nàng ra đời, giảng cho nàng nghe miếng đất này nên cày bừa thế nào thửa ruộng kia nên trồng trọt làm sao.

Thế là một ngày trôi qua, một ngày họ hàng con cái Vương Long no say vui sướng, một ngày nàng ngắm nhìn đồng ruộng hồi tưởng lại những năm đã qua. Hôm đó, chú Ba không về, chú ở nơi xa xăm, góc biển chân trời, đang lo toan công việc của chú.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply