Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

Chương 7.

Thế là một công cuộc kỳ khôi được khơi mào đắp móng, hồn Vương Long có khôn thiêng, vui thú nơi nao về mà dựng dậy cái xác chôn vùi dưới đất. Sinh thời, hắn ghét cay ghét đắng trận mạc, đánh nhau lính tráng mà bây giờ bao nhiêu ruộng đất vun xới bằng mồ hôi nước mắt của hắn đem bán đi

để dùng vào việc đó. Nhưng, hỡi ôi! Ngàn thu vĩnh biệt, nắm xương tàn vẫn

trơ trơ nằm yên đó, trên trần thế không còn ai có thể nắm tay lũ con, cản lại, không cho làm những chuyện kỳ khôi, vô lý, họa chăng chỉ sót có Hoa Lê là người độc nhất trung thành nối chí Vương Long nhưng nàng có hay biết gì về công việc của các con hắn. Hai người con trai lớn Vương Long có phần kính nể nàng vì tấm lòng chung thủy của nàng đối với cha hắn. Họ cố giữ kín không cho nàng hay biết mưu mô hoạt động của họ.

Khi về đến nhà, anh Hai rủ anh Cả ra phòng trà, ở đấy kín đáo dễ nói chuyện không sợ ai biết. Lần này họ chọn một chỗ ngồi rất kín ở tận góc tường, ngồi ở đó nếu có ai đến gần cũng biết ngay. Hai đầu châu vào nhau, họ thì thào, nói bóng bẩy, gióng một, vì vẫn sợ tai vách mạch rừng. Anh Hai kể qua mưu mô của thằng Ba, anh đã biết chỗ ở, và công việc của em. Anh càng nghĩ sâu nghĩ nông, càng thấy mưu đồ của em khó lòng mà thành tựu được. Trái lại anh Cả nghe chuyện mê cả người, đối với anh có gì là khó mà không thành, anh nghe chuyện anh Hai kể thấy nóng ran cả người; anh chàng to béo, chí lự bồng bột, tầm thường, tưởng chừng chẳng bao lâu, mình sẽ đóng vai Vương huynh.

Anh không đọc sách mấy, tính thích xem tuồng, anh coi nhiều vở tuồng cổ diễn những tích quái đản, phi thường đã có bao nhiêu người xuất thân áo vải, nhờ có võ nghệ cao cường, mưu chí lập nên vương nghiệp hiển hách, anh tưởng như anh đã là anh ruột vua mà lại là anh Cả …

Mắt anh sáng ngời, anh thì thào giọng khàn khàn:

– Tôi vẫn thường nói thằng ấy tịnh tướng khác người lắm. Chính tôi đã bảo ông cụ khi xưa đừng cho nó làm ruộng, phải nuôi ông đồ trong nhà cho nó học. Lúc đó nhà mình nghèo thế mà cũng cố nuôi ông đồ như những nhà đại phú. Chắc nó cũng không quên chính thằng anh Cả này (anh vỗ ngực) đã tận tâm săn sóc cho nó ăn học. Không có tôi ấy à, thì suốt đời chỉ làm anh dân cày, ông cụ có hiểu, có nghĩ gì đâu.

Nói xong anh đưa mắt nhìn xuống, lấy tay vuốt chiếc bụng phệ, phủ ngoài chiếc áo sa tanh. Anh lại nghĩ đến thằng con thứ của anh, nếu nhà mình bộc phát nó sẽ làm đến khai quốc công thần chứ chơi ư? Thằng chú làm vua chẳng phong cho thằng cháu thì phong cho ai? Những chuyện như thế, sách vở chép đầy rẫy mà tuồng vẫn diễn luôn. Anh Hai càng nghĩ ngắn dài, càng thấy lạ quá, thật là kỳ khôi, hi hữu, khó lòng lắm.

Nhưng anh xem ý anh Cả thích quá, tưởng chừng làm vua đến nơi, anh sinh lòng đố ky, lòng tham lam che lấp cả ý chí, khôn ngoan, anh nghĩ:

– Mình cũng nên để ý, khôn mới được. Biết đâu chuyện mình cho là hoang đường mà lại là sự thật. Cho là mười phần nó mới thành được một đi, mình cũng dính máu ăn phần. Mình đừng nên lảng xa quá. Anh cất giọng nói to:

– Được rồi, phần tiền nong tôi sẽ lo liệu cho chú ấy không có tiền đố anh chàng giở trò gì ra được. Tôi cố cung phụng cho đến khi chú có cơ sở, nhưng đào đâu ra mà có mãi, thật tôi cũng chưa biết nghĩ làm sao đây. Mình mới gọi là mát mặt chứ so với các tay cự phú mình thấm tháp vào đâu.

Vài tháng đầu bán ruộng đất của chú ấy còn được nhưng rồi đến cùng bán cả ruộng của anh của tôi đi; và ngộ hết cả, mà chú ấy vẫn chưa thành thì anh nghĩ sao?

Anh Cả vội cướp lời:

– Được, được, có tôi, có tôi.

Anh nghĩ mình là anh Cả, phải cố giúp cho thằng em mới được chứ! Hai người đứng dậy, rảo bước ra khỏi tiệm, lòng dục vọng tham lam làm mờ tối cả mắt.

Anh Hai nói:

– Đi ra thăm ruộng một lần nữa đi, lần này nhất định là bán. Hôm chia gia tài, chú Ba đã tuyên bố trước hội đồng, chỉ cần tiền không thích ruộng nương. Nhưng theo đề nghị của hội đồng, số ruộng phải chia đều, nên họ để cho chú một thửa ruộng lớn ở tận xa, mãi ngoài tỉnh. Thửa ruộng này hiện cho một tá điền đứng trưng canh, người tá điền này vào hạng có máu mặt. Hai anh em nhà họ Vương dạm đoạn mại cho người tá điền thửa ruộng đó. Sự mua bán đã dàn xếp ổn thỏa. Hai anh đã cẩn thận, khi đến thửa ruộng đó, lúc đi cũng như lúc về, tránh không đi ngang chỗ Hoa Lê ở.

Hoa Lê không hay biết một tý gì về việc bán ruộng. Anh Hai là một người quỷ quyệt, xảo trá, khi nào anh lại nhà Hoa Lê đem tiền cấp dưỡng cho nàng, anh không nói hở một câu nào, lộ một ý gì khác, để Hoa Lê có thể ngờ vực, đoán ra được. Theo lời “chú Ba” dặn tháng đầu anh đem cho nàng hai mươi lăm đồng. Với một giọng rất mềm mại dịu dàng, nàng nói:

– Năm đồng này là thế nào? Tôi chỉ biết phần tôi được ấn định hai chục, mà thực ra tôi cũng không làm gì hết nếu không có con bé nhỏ. Năm đồng này tôi không thấy nói đến.

Anh Hai trả lời:

– Thì cứ cầm lấy, năm đồng này là của chú Ba đưa thêm.

Hoa Lê nghe thế, hai tay nàng run run, đếm nhanh lấy năm đồng gạt sang một bên, để số tiền hai chục sang một bên. Nàng sợ quá, tưởng như năm đồng tiền này nó đốt cháy tay nàng, nàng nói:

– Tôi không lấy, tôi không cần thêm nếm gì cả, tôi chỉ lấy đủ số của tôi thôi.

Lúc đầu anh Hai còn ép nàng cấm lấy năm đồng, sau anh nghĩ lại ngay, anh đã mạo hiểm bỏ bao nhiêu tiền cho “Ông Tướng” ấy, nay chạy ngược chạy xuôi, lo công, lo việc cho ông ấy chẳng được một xu công nào, mà chuyện “mưu bá đồ vương” của “ông” ấy rất có thể công cốc, xôi hỏng bỏng không.

Nghĩ thế anh nhặt nhanh lấy năm đồng, bỏ cẩn thận vào túi thủng thẳng nói:

– Ừ thế cũng phải, Liên hơn một chút, hắn là chị, để tôi giảng cho chú nó hiểu.

Thấy nàng có vẻ khẳng khái, anh cũng không nói cho nàng biết cái nhà  nàng đang ở là phần của chú Ba, cả ba anh em đã đồng ý để nàng ở nuôi con. Anh bước ra thẳng không nói thêm một câu nào. Hoa Lê không đi lại, giao du với mấy gia đình ở ngôi nhà  lớn trên tỉnh, trừ ra tình cờ, một đôi khi có công việc gì mới giáp mặt. Thỉnh thoảng nàng cũng có thấy anh Cả ra thăm đồng. Về mùa xuân, làm bổn phận của một điền chủ, anh ra đồng đo mạ cho tá điền. Gọi là đi đo mạ, thực ra anh cho thằng ở đi theo để đo mạ, anh chỉ đứng làm vì, dáng điệu hợm hĩnh, kiêu ngạo.

Hoặc anh ra thăm đồng vào mùa lúa chín sắp được gặt, để thực mục ước lượng đích xác số thóc thu hoạch, bọn tá điền man trá, bao giờ họ cũng tìm cách bớt xén, tạ sự lúa kém, lúa lép vì mưa nhiều mưa ít. Mỗi năm anh ra thăm đồng một vài lần, lần nào coi anh cũng vất vả quá, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại, nóng bức, cáu kỉnh, tưởng chừng như công việc nặng nhọc lắm.

Hoa Lê nhỡ có gặp anh ở ngoài đồng, nàng nghiêng mình lễ phép chào, cố hết sức tránh không muốn nói năng gì. Anh Cả bây giờ người đẫy đà, có khác ý, anh có lối nhìn trộm đàn bà, rất bất chính. Nàng vẫn thấy anh Cả lui tới ra thăm đồng, anh Hai săn sóc ruộng đất của anh và của chú Ba, nàng không thấy có gì khác lạ, không ngờ có sự gì thay đổi, mà cũng không ai nói chuyện cho nàng biết. Nói chuyện với nàng cũng khó, tụi trẻ nhỏ, nàng còn vồn vã chuyện trò, còn thấy ai nàng cũng có ý lẩn tránh, tính nàng nết na, dịu dàng ai cũng có ý kính nể. Nàng không giao du bè bạn với ai, trừ có mấy bà vãi chùa. Gần chỗ nàng ở có một ngôi chùa nhỏ xây bằng gạch xám, xung quanh có hàng liễu xanh. Mấy bà vãi lại chơi nhà nàng, nàng đón tiếp niềm nở, họ đến dạy nàng Phật Pháp. Khi họ về, nàng ngồi trầm ngâm suy nghĩ cố học kinh kệ, cầu cho hồn Vương Long mau được giải thoát. Cứ như thế này, nàng không thể nào biết về việc bán ruộng đất, nếu trong năm ấy anh tá điền ở gần chỗ nàng không tậu một mảnh ruộng, và anh Cả ra thăm đồng về mùa lúa chín, thằng con anh, thằng bướu không lẽo đẽo theo anh ở tận xa, anh không biết. Thằng Bướu là một thằng nhỏ lạ nhất, mặt mũi, hình dung nó khác hẳn anh chị em nó. Người ta nói mẹ nó bị cúm lúc đẻ nó nên da dẻ nó không được hồng hào, mặt mũi không dễ coi như những đứa trẻ khác. Có người lại bảo, lúc có chửa nó mẹ ốm đau quặt quẹo vì đẻ nhiều, vì hình thù nó xấu xí, mẹ nó ghét, giao nó cho con nô tỳ nuôi, con ở này cũng không ưa, mà nó còn căm thù thằng bé, vì tại thằng này mà người ta bắt mất con nó, đặt điều bảo thằng bé tuy còn trứng nước mà hai con mắt nó nom quái dị lắm. Nó còn ghét thằng bé là khi cho nó bú nó hay cắn vú.

Image from the Net collected by Sơn râu

Có một lần, con nô tỳ ngồi ở ngoài sân, dưới gốc cây ẵm thằng bé cho bú, bỗng nhiên con ở kêu thất thanh, buông phịch thằng bé xuống sân gạch. Nghe thấy tiếng lêu, tưởng là đổ vỡ cái gì, người nhà chạy lại xem, con bé ở kêu thằng bé cắn chảy máu, nó đưa vú xem thì có rớm máu thật. Từ ngày đó thằng bé mang tật có cái bướu sau lưng. Hình như sự phát dục thân thể  thằng bé tập trung ở cả cái bướu, mỗi ngày mỗi lớn.

Tất cả nhà, cả cha mẹ nó, không gọi tên nó mà gọi là thằng Bướu. Vì có thân hình quái dị, xấu xí, cha mẹ lại đông con, nên thằng bé không được trông nom săn sóc, không được đi học như những đứa trẻ khác. Ngay từ thuở nhỏ, đã bắt nó phải lẩn tránh không được dàn mặt với mọi người, trẻ con chế nhạo nó khổ sở về cái tật ở sau lưng. Nó lang thang ngoài  phố hay tha thẩn đi chơi ở cánh đồng xa, thất thểu đeo cái bướu sau lưng. Có một hôm về mùa gặt, cha nó đi thăm đồng, nó đi theo, nhưng đi cách xa nên cha nó không biết nó ở phía sau. Nó biết những hôm cha nó đi thăm đồng, hay bực tức cáu kỉnh lắm. Đến căn nhà đất, cha nó đi thẳng, nó đứng dừng lại xem ai ngồi ở cửa. Đó là đứa con gái của Vương Long, con bé quen lệ ra cửa ngồi sưởi nắng. Bây giờ thân hình nó như một người đàn bà, bằng người gần bốn mươi tuổi đầu đã điểm một vài sợi tóc bạc. Tuy nhiên nó vẫn có điệu bộ một đứa trẻ nhỏ, nó ngồi chơi nghịch xoắn cái đuôi tóc, mặt thì nhăn nhở. Thấy nó, thằng Bướu lạ quá vì chưa biết nó bao giờ. Nó tinh quái, đứng trêu con bé, làm trái ý nó, mặt nhăn nhở, rồi còn lấy hai ngón tay xát mạnh vào nhau kêu cắc cắc ngay dưới mũi con bé, con này sợ quá kêu thất thanh. Hoa Lê nghe tiếng kêu, vội vàng ở trong nhà chạy ra, thằng Bướu thấy nàng, nó thất thểu chạy trốn, đứng nấp sau bụi tre dòm sang, y như một con dã thú, Hoa Lê thấy nó, nàng nở một nụ cười, một nụ cười dịu dàng nhưng đượm một vẻ buồn, rút ở bọc lấy một chiếc bánh ngọt, nàng lúc nào cũng dắt dẫn trong người vài chiếc bánh để dỗ dành con bé, khi nó bướng bỉnh không chịu nghe lời. Nàng cầm chiếc bánh giơ cho thằng Bướu, thằng này trước còn sợ sệt, sau mon men lại gần, giật lấy cho luôn vào mồm.

Ăn bánh xong, thằng bé thành quen, nó không sợ sệt như lúc trước. Nàng cho nó ngồi cạnh nàng trên chiếc ghế ở ngoài cửa. Không ngồi được như mọi người, nó như nằm bò trên chiếc ghế, vì vướng cái bướu lớn sau lưng. Hai mắt nó, coi ủ rũ buồn thảm. Người nó loắt choắt bé quá, nàng chưa nhận ra được nó là trẻ con hay người lớn. Lấy cánh tay quàng vào người nó, với một giọng dịu dàng, từ bi trắc ẩn, nàng nói:

– Em có phải là con ông Cả không? Tôi cũng nghe nói ông Cả có một người con như em?

Thằng bé nghe hỏi, nó vùng đứng dậy, lắc đầu. Nàng dỗ dành, cho nó chiếc bánh nữa, rồi lại hỏi:

– Coi mồm em giống hệt mồm ông nội, đã mất rồi, mộ ở dưới gốc cây chà đà. Thỉnh thoảng em lại chơi đây chị cho em ăn bánh.

Lần đầu tiên, thằng Bướu mới nghe thấy có người muốn mời nó lại chơi, đoái hoài đến nó. Tuy là con một người giàu có, nhưng nó bị ruồng rẫy, anh chị em nó, không muốn nhìn mặt, mẹ nó cũng ơ hờ ghét bỏ, tụi đầy tớ bao giờ cũng cho nó ăn thừa, ăn sau cả nhà.

Nhìn nàng với cặp mắt buồn thảm, ảo não, hai môi nó tự nhiên rung rung, rồi òa lên khóc nức nở. Nó vừa nói vừa khóc:

– Tôi không muốn bà làm tôi khóc … Tôi không hiểu tại sao tôi khóc.

Hoa Lê tìm lời dịu dàng, dỗ nó, nàng lấy cánh tay quàng vào lưng nó, vuốt ve. Thằng Bướu lần đầu tiên, được nghe tiếng nói hiền hậu dịu dàng, cảm thấy sự trìu mến nó im không khóc nữa. Nàng tránh không hỏi, không nói gì để nó tủi phận cực lòng. Trước con mắt từ bi, bác ái của nàng, cái bướu hình như biến đâu mất, lưng nó thẳng thắn ngay ngắn như những đứa trẻ khác.

Suốt ngày, nó tha thẩn muốn đi đâu tùy ý, cả nhà không ai nhắc nhở đến nó bao giờ.

Từ hôm đó, thằng Bướu hay lại căn nhà đất, hàng ngày lui tới, nó quen, nó mến, như thiết tha đặt cả tâm hồn vào Hoa Lê. Nàng khéo lắm, làm như cần đến nó để giúp đỡ nàng trông nom con bé. Nó chưa từng được ai cầu cạnh nhờ nó làm một việc gì. Nó trở nên hiền lành, ngoan ngoãn, dần dần với thời gian, tính tình được cải hóa. Nếu không có thằng này, nàng không bao giờ biết ruộng nương đất cát đang đem bán. Thằng bé cũng không biết những câu chuyện bí mật, cha chú nó định giấu nàng, nó lại đem đi nói. Nó nghĩ gì nói thế, nói hết chuyện này đến chuyện khác. Một hôm nó nói:

– Tôi có anh đi lính, rồi có lẽ làm to lắm. Ngày nào chú Ba tôi lên làm đại tướng, anh tôi được đi theo hầu để chuyên về nghề võ. Có khi chú tôi làm vua, anh tôi sẽ làm đại tướng, tôi thấy mẹ tôi nói chuyện thế.

Hôm nó nói chuyện đó, Hoa Lê bắc ghế ngồi chơi ngoài cửa. Nghe nó kể chuyện, nàng đưa mắt nhìn ra cánh đồng, thản nhiên nói:

– Chú của em làm lớn nhỉ? Nhưng ý chị muốn làm gì thì làm, chứ làm lính ác lắm, bất nhân lắm.

Thằng bé nói to có vẻ khoe khoang:

– Chú tôi làm đại tướng cơ mà, ai mà thèm làm lính. Làm to lắm, oai lắm cả nhà tôi sẽ có quyền cao chức trọng. Tháng nào cha tôi và chú Hai cũng gửi bao nhiêu tiền cho chú tôi để lo toan, sắp đặt công việc. Có một anh lính coi ghê lắm, sứt môi, về lấy tiền đem đi. Tiền đó có mất đi đâu, sau lại lấy về được, tôi thấy cha tôi bảo với mẹ tôi thế.

Hoa Lê nghe nói có ý ngờ ngợ, nhưng nàng làm như không để ý mấy, coi như tò mò ngồi rỗi nói chuyện chơi:

– Thế tiền ấy ở đâu ra? Hay chú Hai lấy tiền buôn thóc cho vay chứ gì?

Thằng bé ngây thơ, trả lời có ý tự đắc, biết rõ chuyện:

– Không phải! Không phải! Tiền bán ruộng bán đất chính mắt tôi thấy những tá điền đem từng tay nải tiền lại, đổ xuống bàn ở trong buồng cha tôi, tiền óng ánh như sao sa. Tôi đứng nấp một chỗ được xem hết, ở nhà không ai thèm để ý đến tôi.

Nghe đến đó, nàng đứng phắt dậy, thằng Bướu lấy làm lạ vì xưa nay nàng làm gì cũng khoan thai dịu dàng. Nàng nói giọng mềm mại, tự nhiên:

– Tôi vừa sực nhớ, có chút việc phải đi, em ở nhà chơi với con bé nhé. Tôi không chắc ai coi nhà hơn là em đấy.

Thằng Bướu hãnh diện có người nhờ cậy nó làm giúp hộ, nó nói gì hồi nãy nó quên hết, nó đứng lần thần nắm vạt áo con bé. Hoa Lê sửa soạn ra đi. Nàng khoác chiếc áo tối màu, đi thẳng ra ngoài cánh đồng. Nàng thương hại đứa trẻ, đi được vài bước, ngoảnh lại nhìn chúng, nàng thấy lòng đỡ trống trải, cố hé một nụ cười, nụ cười héo hắt, man mác buồn. Nàng âu yếm nhìn hai đứa nhỏ, vì chỉ có hai đứa này nàng cảm thấy tâm hồn xúc động thấm thía yêu thương.

Nàng rảo bước đi, lòng nàng đang hun đúc một sự phẫn nộ thầm kín, nó cuồn cuộn như đốt cháy tâm can nàng, sự phẫn nộ thầm kín, phải có lối thoát, được dập tắt, chứ để chứa chất trong lòng nàng chịu không nổi. Nàng cần phải gặp hai anh em nhà họ Vương, hỏi họ đã làm gì về ruộng nương đất cát hưởng của cha để lại, mà theo di huấn phải gìn giữ cho thế hệ con cháu về sau.

Nàng thoăn thoắt rảo bước trên đường ruộng nhỏ quanh co vắng bóng người, lác đác xa xa có bóng mấy nông phu trong bộ quần áo xanh sẫm đang lom khom làm đồng. Thấy mấy người nông phu đó, nước mắt nàng tự nhiên ràn rụa, mấy ngày rày nàng hay khóc mà dễ khóc lắm. Nàng sực nhớ đến Vương Long khi xưa cũng hay đi những đường ruộng này, suốt đời tận tụy hy sinh với đồng ruộng, đến nỗi có khi cúi xuống nhặt một nắm đất mân mê trong tay, không bao giờ để cho một thửa ruộng cấy rẽ hay trưng canh quá một năm. Thế mà ngày nay vừa chết đi, các con đang tâm

đem bán sang tay người khác. Đối với Hoa Lê, Vương Long tuy đã chết, nhưng chưa phải chết hẳn, hồn vẫn còn, vẫn lang thang phảng phất ở cánh đồng, mà cũng có biết ruộng của mình, các con đang đem đi bán. Ngày cũng như đêm, mỗi lần có một luồng gió mát tạt vào mặt nàng, hay ngoài đồng có cơn gió lốc, những người khác có ý sợ vì thấy gió lạ, Hoa Lê cho đó là u hồn những kẻ quá vãng lẩn quất đâu đây.

Mỗi lần như thế, nàng ngẩng mặt tủm tỉm cười, trong trí óc nàng nghĩ biết đâu chẳng phải vong hồn Vương Long người mà nàng quý hơn cha, còn cha nàng đã đem nàng đi bán.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay hồn về.

Với quan niệm đó, Vương Long tuy đã chết, hồn vẫn còn tồn tại trên trần thế, nàng mạnh bạo rảo bước qua cánh đồng lúa. Năm năm liền được mùa, năm nay lúa tốt quá, xanh rờn, bông lúa nặng trĩu, óng ả, dập dờn trước gió như làn sóng nhẹ trên biển cả. Nàng đi, men theo bờ ruộng, chợt có một cơn gió nhẹ, mấy bông lúa ngẩng lên như một bàn tay vô hình nào đang vuốt ve. Nàng ngừng bước, tủm tỉm cười, chờ cho qua hết cơn gió mới lại đi.

Nàng đến cổng tỉnh, ở đấy có những hàng bán hoa quả, rau cỏ, nàng cứ cúi đầu bước thẳng không muốn nhìn ai. Nàng người gầy còm, già hơn trước, mặc một chiếc áo tối màu, không phấn, không son, nàng cũng như mọi người khác nên không ai để ý đến nàng. Nếu có ai nhìn nàng lúc đó, nước da xanh xao, nét mặt hồn nhiên không ngờ ở trong tâm can nàng đang ngùn ngụt, tiềm tàng một cơn phẫn uất, tuy nàng đi không ngẩng đầu nhưng nàng dũng cảm khác thường. Khi đến cổng nhà trên tỉnh, nàng đi thẳng vào không đánh tiếng cho ai biết. Anh già gác cổng ngồi ở thềm cửa ngủ gà ngủ gật, đầu lắc lư há hốc chiếc mồm móm chỉ còn sót lại có ba chiếc răng, thấy có tiếng động, vội mở mắt, thấy nàng lại lắc lư đầu lim dim ngủ. Nàng định tâm đi thẳng vào nhà người anh Cả, tuy nàng rất ghét, nhưng anh chàng này còn có lương tâm, biết thức ngộ, chứ anh Hai chỉ biết có tham lam, biển lận. Nàng biết anh Cả, dù sao hắn cũng còn khá, tuy tính nết rất tầm thường, chất phác, nhưng một đôi khi cũng hào hiệp nếu việc gì chàng không phải bận tâm khó  nhọc.

Nàng ghét nhất là cặp mắt tí hin, lạnh ngắt như tiền của anh Hai. Qua mấy cái sân, đến sân trong, nàng thấy con nô tỳ lần thần đứng đó, con bé này người cũng xinh xắn, lẻn ra đứng ở sân để tống tình một thằng hầu trai trẻ.

Nàng bảo con nô tỳ, giọng lịch sự nhã nhặn:

– Em vào thưa với bà, có tôi lại chơi, tôi muốn gặp bà có chút việc.

Từ ngày Vương Long chết, chị Cả xem ý hợp tính hợp nết với Hoa Lê, chị mến nàng lắm, nàng ăn nói nhã nhặn lịch sự, mềm mỏng không như ả Liên nói năng xô bồ cục cần, lỗ mãng. Trong những ngày gần đây, có công việc gì, giỗ chạp, họp mặt đông đủ, chị vẫn thường chuyện trò riêng với nàng.

Đã có lần chị nói với nàng:

– Tôi xem tất cả ở đây, chỉ có tính tôi hợp với tính bà. Tâm trí chúng mình cao nhã, thanh lịch không như bọn kia.

Chị lại bảo Hoa Lê:

– Thỉnh thoảng mời cô lại chơi, chị em nói chuyện cho vui, nghe nói có các vị tăng ni thuyết pháp, lại chơi nói chuyện cho tôi biết với. Thật suốt cả giòng họ nhà này chỉ có tôi với cô còn biết tu tỉnh nương nhờ dưới bóng Từ Bi.

Chị nói thế vì chị nghe họ mách chị các ni cô vẫn hằng lui tới, đàm đạo Phật Pháp ở nhà nàng. Cũng vì thế mà ngày hôm đó, Hoa Lê muốn cởi mở nỗi lòng u uất với chị.

Một lát con bé ở ra, mắt còn ngơ ngác nhìn xem thằng nô bộc còn đứng đó không. Nó nói:

– Bà con bảo mời bà vào chơi trong nhà, ở phòng khách bà con đang lên khóa lễ, tụng nốt biến kinh.

Hoa Lê bước vào phòng khách ngồi ở chiếc ghế bên. Hôm đó anh Cả ngủ trưa, vì đêm qua dự tiệc ở một khách sạn đẹp, lớn nhất tỉnh. Bữa tiệc long trọng lắm, uống toàn rượu quý, mỗi vị tân khách lại kèm một ca kỹ trẻ đẹp đứng cạnh chuốc rượu, ca hát, khách muốn hôn hít, cấu véo tùy ý. Anh Cả ăn uống thả cửa, rượu bí tỷ, con bồi tửu trẻ và đẹp lắm, cỡ độ 17 tuổi, nhưng nó thạo lắm, cách ăn mặc, đối đáp, người ta có cảm tưởng con này đã tiếp xúc với đàn ông được đến 10 năm rồi. Anh uống say quá đến nỗi sáng hôm

sau hãy còn sặc sụa hơi men quên hết không còn nhớ gì bữa tiệc hôm qua. Anh lững thững bước ra khỏi phòng ngủ, mắt nhắm mắt mở tủm tỉm cười, vừa ngáp vừa vươn vai, mắt anh như mờ không thấy ai ở trong phòng.

Thật ra sáng hôm đó anh còn cay mắt, còn ngái ngủ, anh nghĩ vẫn còn thấy khoái quá, khi con bé nó luồn cái bàn tay mềm nhũn vào trong áo anh nó cù ở cổ anh, anh nghĩ anh phải đi dò xem ai mời nó lại, nó ở nhà hồng lâu nào, và xem con bé sự thể thế nào …

Anh ngáp to, giơ hai cánh tay quá đầu vươn vai, rung rung hai cái cho tỉnh ngủ. Anh thủng thẳng, uể oải bước vào phòng khách, mặc bộ quần áo ngủ bằng lụa, chân xỏ đôi giày bằng lụa. Đột nhiên anh chớp chớp mắt, thấy Hoa Lê ở trong phòng khách. Phải đúng Hoa Lê nàng mặc chiếc áo tối màu coi nàng như một cái bóng, nàng run run vì thấy con người phàm tục nàng ghê tởm quá.

Thấy Hoa Lê đứng đó, chàng lạ quá, đang giơ tay vươn vai, anh bỏ phịch tay xuống, giương to cặp mắt nhìn nàng. Anh lúng túng, ngượng ngùng quá, đằng hắng ho vài tiếng, hỏi nàng:

– Tôi cứ tưởng không có ai ở đây, mà chả ai bảo cho biết, thế nhà tôi đã biết bà lại chơi chưa?

Nàng sẽ nghiêng đầu trả lời:

– Đã, tôi đã bảo lên nói với bà rồi.

Nàng nghĩ, có lẽ nên nói ngay cho hắn biết mục đích của ta đến đây.

Không như những lúc khác, nàng nói rất nhanh, những lời nói, ý nghĩ như xô đẩy trên môi nàng:

– Tôi lại đây muốn nói cho ông rõ. Tôi buồn quá, tôi rất phiền, quan có di huấn lại, ruộng đất không được bán. Bây giờ hai ông mưu mô đem bán cả đi. Tôi biết, ông đang bán mà …

Hoa Lê mặt đỏ tía tai, nàng giận quá, thổn thức khóc. Nàng cắn chặt môi, ngước mắt nhìn người con cả Vương Long.

Nàng thấy cả một súc thịt khả ố, khả bỉ, nàng không buồn nhìn. Áo không cài khuy, để hở cái cổ béo ngậy, vàng nghệnh, thịt kéo sệ ở dưới hai mắt, môi nhợt nhạt dày tám tấc …

Anh thấy nàng nhìn trừng trừng, anh luống cuống, anh quay người cài khuy áo, nghiêng đầu qua vai anh nói:

-Họ bịa đặt, đâu có chuyện lạ, bà như người mê ngủ.

Hoa Lê trả lời rất hùng hồn, mạnh dạn, chưa ai thấy nàng hăng hái như lúc này:

– Không! Tôi chả mê muội tị nào, có người kể hết cho tôi biết mà (nàng không nói rõ người nào bảo nàng, sợ thằng Bướu phải đòn). Từ nay tôi không nhận các ông là con của quan. Các ông đã ngỗ ngược trái lời di huấn. Tuy tôi yếu đuối, hèn kém nhưng tôi cũng nói cho ông biết: Tai ương ông phải gánh, thế nào cũng có việc báo oán, ông đừng tưởng quan chết là hết rồi đâu nhé. Hồn vẫn còn không xa đâu, vẫn phảng phất, lang thang ở ngoài đồng ruộng. Thế sự phục thù, lúc đó trắng mắt ra. Nàng nói với một giọng khác thường, hai mắt giương trừng trừng, nghiêm nghị, nàng hạ thấp giọng, nhẹ nhàng như một làn gió lạnh làm anh Cả bủn rủn cả người. Anh tuy thân hình to lớn nhưng nhát gan lắm, hơi một tí là sợ. Đố ai bảo được anh, đêm đi một mình ở bãi tha ma, anh đã được nghe hàng nghìn chuyện ma quỷ. Bề ngoài anh cười nhưng trong thâm tâm, anh tin và sợ lắm.

Khi nghe Hoa Lê nói, anh vội chống chế:

– Chỉ bán có một ít thôi, có một ít ruộng của chú Ba. Chú cần tiền mà chú đi lính có thiết gì ruộng với nương. Tôi cam đoan thôi không bán nữa.

Nghe thế, Hoa Lê mở mồm định nói, nhưng chưa nói được câu nào thì chị Cả vào. Hôm ấy chị không được vui, vì đêm qua mãi khuya chồng chị mới về mà say quá, đi không nổi, cả đêm mê, lảm nhảm nói chuyện con thổ tả nào không biết gặp nó ở đâu. Chị thấy chồng đứng đó, chị nguýt dài, anh chàng cố tủm tỉm cười, anh cố làm như không có chuyện gì, anh liếc mắt nhìn trộm, anh thấy nhẹ cả người, may quá đã có vợ tiếp Hoa Lê. Anh yên chí, việc bán chác cả vợ anh cũng biết, không phải riêng mình anh.

Anh làm như người cẩn thận sốt sắng, anh sờ ấm tích trà, ngoảnh bảo vợ:

– Này! Má sắp nhỏ này, ấm trà còn nóng. Sáng chưa ăn gì, tôi ra tiệm trà uống nước, để hai bà nói chuyện, đàn ông chúng tôi chẳng biết gì mà đứng nghe. Vợ anh làm thinh, không buồn nói một câu. Anh ngượng quá, cười nhạt, nghiêng đầu chào, rảo bước đi ra, đi vội quá rung rinh cả một khối thịt.

Trong khi anh chàng còn đó, chị không nói qua một câu nào, ngồi thẳng đờ trên ghế, chờ cho đi khỏi chị mới ngả lưng vào thành ghế. Chị là một người nền nếp, mặc chiếc áo sa tanh màu xanh nhạt, đầu tóc chải gọn gàng tuy lúc đó mặt trời chưa đứng bóng, không như nhiều bà, nhiều cô giờ này còn uể oải trên giường, ngủ chưa buồn dậy, nằm trên giường thò tay với chén nước trà súc miệng.

Khi chồng bước ra khỏi phòng khách, chị Cả thở dài nói:

– Không ai có thể tưởng tượng được đời tôi khổ đến chừng nào, vớ phải anh chàng này. Tôi đã hy sinh thân tôi cho hắn, tôi không hé răng than phiền vì duyên số ràng buộc tôi đã sinh được với hắn ba mụn con trai, tôi cố nhẫn nhục dĩ chí hắn đi lấy một con nào về, một con bé chỉ đáng làm con ở cho tôi. Nhưng lối lăng, cử chỉ của hắn quá sức tầm thường. Nói xong chị lại thở dài. Hoa Lê thấy chị buồn thật chứ không phải làm ra thế, nàng nói để giải khuây:

– Ai cũng biết bà là một hiền phụ, các ni cô vẫn thường  nhắc nhở khen bà, bà sáng ý, kinh kệ học chóng thuộc hơn nhiều người mới nhập đạo quy y.

Chị Cả nghe nói thế, nét mặt đang rầu rầu bỗng tươi hẳn lên, vồn vã hỏi:

– Thật à? Các ni cô nói thế ư?

Chị kể những kinh sách nào chị thường tụng niệm, mỗi ngày chị lên khóa lễ mấy lần, chị lại ngỏ ý muốn ăn trường trai. Chị nói con người ta lúc sống phải biết lo tu tỉnh, sau này quá vãng hồn được mát mẻ, giải thoát, hoặc được về Tây phương, hoặc sa vào địa ngục, Thiện, Ác có nhân quả hết.

Chị nói nhiều, nhưng Hoa Lê không để tai nghe hết, lòng nàng còn canh cánh không biết anh chàng nói hồi nãy có đúng không? Anh hứa anh không bán ruộng có thật không? Ngồi một lúc, nàng nóng ruột, muốn nói về chuyện ruộng đất, nàng chờ chị Cả yên không nói, uống xong chén nước, nàng đứng dậy nói rất mềm mại dịu dàng:

– Thưa bà, những công việc của ông làm có nói chuyện bà rõ không? Bà nên nhắc nhở ông, theo di huấn của ông cụ, phải bảo toàn di sản, không được bán ruộng đất. Ông cụ nai lưng tận tụy muốn cơ nghiệp được truyền lại cho hàng trăm thế hệ con cháu sau này. Thật rất không nên, mới có một đời

này, ông cụ vừa mới mất, đã lo bán ruộng. Xin bà để tâm nhắc nhở cho ông nhà rõ.

Thực ra chị Cả cũng không biết đích xác về việc bán ruộng, nhưng chị làm như thông thạo lắm, chị nói bằng giọng quả quyết:

– Xin bà đừng quan tâm, không khi nào tôi để cho nhà tôi làm điều gì không phải. Kể ra cũng có bán, nhưng đó là một thửa ruộng ở mãi xa, phần của chú Ba, hắn muốn làm tướng làm tá gì, có ý muốn cả nhà được danh giá, hắn đi lính có thiết gì đến ruộng nương.

Hoa Lê nghe chị nói phù hợp vào lời nói hồi nãy của anh Cả, nàng vững dạ, yên chí có lẽ đúng. Nàng xin cáo từ, nỗi  phẫn uất cũng vơi phần nào. Nàng khẽ nghiêng mình chàobái biệt, vẻ dịu dàng đầm ấm của nàng làm chị Cả cũng thấy nhẹ nhàng, khoan khoái.

Hoa Lê lại trở về căn nhà đất. Anh Cả ra tiệm trà, tình cờ gặp anh Hai, ăn cơm trưa ở đó, anh lệch bệch lại ngồi phịch xuống chiếc ghế bành ở cạnh bàn. Anh Hai ngồi đó có một mình, nét mặt buồn thiu. Anh Cả nói:

– Làm gì, dù mình cố giữ đến đâu, tụi đàn bà họ cũng tọc mạch khám phá ra được. Mà ở nhà tôi đàn bà có nhiều gì cho cam. Sáng hôm nay, người thiếp ba của cha lại ì èo, nghe đồn tụi mình bán ruộng, mè nheo bắt mình phải hứa không được bán nữa.

Anh Hai nghe nói, trừng trừng nhìn anh Cả, với cái mặt mỏng quẹt, nhẵn thín, anh nhếch mép cười và nói:

– Nói thế anh sợ cái gì? Để cho nó nói, anh cũng biết ở nhà có ai đếm xỉa đến nó không? Nó có quyền hành gì không? Anh đừng quan tâm hễ nói việc ruộng, anh lảng nóichuyện khác, anh muốn nói gì tùy ý, anh đừng đả động

ruộng nương, để cho nó biết nó có quyền thế gì ở nhà này. Tôi tưởng nó mãn nguyện lắm thì phải, có người cấp cho ăn, có nhà cho ở, còn muốn gì nữa?

Nói đến đây, người tửu bảo đem giấy tính tiền lại, anh Hai liếc nhìn mảnh giấy, tính nhẩm so vào giấy, đúng, anh móc túi lấy tiền, giải từng đồng trên mặt bàn, vẫn còn ngờ ngợ con số cộng có sai tí nào không?

Anh đứng dậy khẽ nghiêng đầu chào, ra khỏi tiệm.

Tuy nghe em nói thế, anh Cả vẫn còn băn khoăn. Anh nghĩ cũng hơi e sợ, Hoa Lê nói ông cụ tuy đã chết, nhưng hồn vẫn còn vất vưởng, quanh quẩn gần đây. Càng nghĩ kỹ, anh cảm thấy rờn rợn thế nào. Anh gọi tửu bảo làm một đĩa cua xào thật ngon, nhắm rượu để quên nỗi thắc mắc lo ngại.

Lập xuân

litviet.net

Hồ Đình Nghiêm

15 Tháng Tám 2009

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

Gióng quê làng Xơ, gia phả ba đời đều làm quan to, cơ ngơi tuy không đồ sộ nhưng tiếng tăm vang dội một vùng. Gióng lớn lên gặp lúc vận nước rối ren, binh đao loan lạc trổi cùng khắp, lòng nguội lạnh chán ngán chuyện công danh, lơ là và xa lánh việc đèn sách. Gia đình thấy thế không cho đó là chuyện buồn. Cha Gióng lập ngôn: Dòng sông có đoạn trong đoạn đục, giòng họ này vinh hiển đến ngang ta đã là mừng, còn đòi chi hơn! Để giải tỏa nỗi thắc mắc trong lòng mẹ Gióng, đêm khuya ông thì thầm bên chăn gối: Bạn ta có người am tường thuật tướng số, chiếu theo sách vở mà nói thằng Gióng tướng ngũ đoản, mai hậu có quới nhân phù hộ. Thời bây giờ đã đổi, sách thánh hiền dạy e chẳng đáp ứng được tình hình, chớ nên ép uổng hắn làm con mọt sách mà chi. Ta chủ trương dĩ hoà vi quý, không nên tạo ra sự gay cấn. Đời vô thường, còn vui ngày nào mừng cho ngày đó. Mẹ Gióng nghe đến chữ quới nhân phù hộ thì thở phào, mừng cho Gióng tới sáu bảy và riêng mình cũng an tâm được ba bốn phần:

-Ông nói vậy xem ra là kẻ thức thời, sau này chớ có vu oan đặt điều: Con hư tại Mạ!

Khác với tính di truyền trong giòng họ, máu của Gióng lại đậm đặc chất nghệ sĩ. Bẩm sinh có hoa tay lại ưa nhìn sự vật qua một lăng kính khác, dần dà Gióng chú tâm vào con đường nghệ thuật tạo hình. Mê mẫn và đắm say. Thao thức năm canh, sáng ra người thẩn thờ như đã ký thác linh hồn vào một thế giới khác. Tranh Gióng vẽ bày ra một cõi miền kỳ lạ, như ma thuật. Đứng ngắm tranh, kẻ chân tu liền hụt hẫng, trào máu sân si ưa đi làm cách mạng. Ngược lại, đứa lập chiến công bạc màu áo trận lại đưa tay sờ vào ót mình tự gẫm: Ta thật bất hiếu, chẳng hề phụng dưỡng song thân lấy một ngày, bỏ nhà đi lên Trường sơn cong lưng vác ngà voi. Chẳng lẽ ta đã vắt kiệt tuổi xanh để đổi lấy hư danh. Huyễn mộng, phù phiếm!

Theo cùng với sự nổi tiếng, Gióng đâm giao du nhiều. Tuy vậy chỉ kết bạn với ba thứ sĩ thôi: Thi sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ. Những sĩ khác Gióng đều khinh thường: Chăm chỉ cần cù thì ắt có ngày thành đạt. Đặc tính ấy là của loài kiến loài ong. Bọn ta đây ví như ve sầu, góp cho đời một khúc hoan ca và bằng lòng với sự yểu mệnh mình tự chọn. Mà thật, những kẻ nổi tiếng chớ nên sống lâu!

Lời Gióng nói đụng chạm tới nhiều đứa. Sự thật thường mất lòng. Gióng vui vì vuông chiếu chỉ còn lại một nhúm bạn, những kẻ ngồi hàn huyên với Gióng giờ này hẳn chúng nó đã xem lời Gióng là thuận nhĩ. Những cuộc rượu thay nhau đãi đằng suốt đêm. Thi sĩ thì rung đùi phun xuống chiếu bài thơ không niêm luật mới sáng tác. Nhạc sĩ thì gầm mặt vào đàn guitar cất giọng chếnh choáng mà khan giọng một khúc tình ca đa phần là hoang tưởng. Văn sĩ ngồi xếp bằng đạo mạo kể chuyện tục… và khi tất cả chẳng có gì để làm, mọi con mắt đều chú mục vào mấy tấm tranh của Gióng bày biện chật vách. Ngắm nghiá, thưởng ngoạn, quan sát và cuối cùng đòi giải thích. Gióng vẫn cái giọng ngạo mạn muôn thuở mà rằng: Ai cũng muốn tìm hiểu hội họa, vậy thì cớ gì họ lại không thử tìm hiểu tiếng chim hót. Tại sao người ta lại đi yêu một bông hoa, mê mệt một buổi tối tròn trăng… những cái làm người ta bỡ ngỡ mà họ chẳng cần thắc mắc tìm hiểu gì ráo.

Cả bọn ngồi ngậm câm sau lời Gióng. Chúng không hề biết xuất xứ câu nói đó là của sư tổ bồ đề Picasso bên trời Tây phương cực lạc. Trong đám ngồi vây quanh Gióng có một người nữ, thi sĩ, bút hiệu Đỏ Mỏ. Thân thể gầy mỏng, diện mạo u tối, nhan sắc tàn phai. Nói tóm cô ta không phải là thứ để cho Gióng dợn lòng ngắm nghía. Cuộc rượu nào cũng có Đỏ Mỏ và thị luôn xông xáo đảm nhận chức chị nuôi. Công bằng mà nói, cái ả xuất thân là một em bé giao liên ấy khá mát tay khi làm đồ nhắm. Mặn miệng, dễ bắt rượu cay. Đỏ Mỏ đưa ra câu hỏi:

– Trong đời sống, điều gì khiến anh sợ hãi nhất.

Gióng đáp:

– Nhất thời ta không thể có ngay câu trả lời ổn thỏa, nhưng phút giây này, giờ đây, điều khiến ta sợ hãi nhất là bị thương tật ở bàn tay phải. Ta sợ tật nguyền, sợ không còn được sáng tạo, mất khả năng tung hoành trước tấm bố để tự do vẽ rồng vẽ rắn.

Tiệc rượu gần tàn, Đỏ Mỏ đứng dậy thu vén dần chén bát:

– Nếu có kẻ yêu cầu anh vẽ cho người nhà họ một bức chân dung thì anh nghĩ sao?

Đang nhai một miếng lòng lợn. Gióng suýt phun ra chiếu cái độ dai trường kỳ tựa ruột xe đạp ấy.

– Chậc, xin hãy gượm đã. Em nào dám coi thường anh. Cũng tùy thuộc vào đối tượng, phải không nào?

– Thi sĩ Đỏ Mỏ muốn có một bức để in sau tập thơ chăng?

– Hổng dám đâu… Xưa rồi Diễm!

Đỏ Mỏ lấy bình thủy nước sôi chế vào ấm trà. Hương hoa nhài phảng phất. Gióng nheo mắt ngó, thị có một gương mặt làm khó họa sĩ, căn bệnh sốt rét làm thị uống rượu không hề biết đỏ mặt, nghe kể chuyện tục tiũ cũng thế, thủy chung chỉ một màu nghệ. Gióng thử lục soạn trí nhớ về một bài thơ nổi nhất của Đỏ Mỏ nhưng hoài công. Bút hiệu dễ gây ấn tượng nhưng thơ thẩn lại trốn chui vào bóng tối.

– Em muốn ta vẽ chân dung ai? Gióng cố làm vẻ tự nhiên.

– Thầy Tử. Anh biết không?

Gióng đăm chiêu. Dĩ nhiên là Gióng biết. Ổng bạn cùng thời với bố Gióng. Từ quan, ở ẩn, truyền đạt kiến thức mình có cho bọn đầu xanh, giúp kẻ nghèo khó, tiếng thơm truyền xa. Chẳng muốn giao thiệp băng đảng phe phái, mong kẻ thế lực không tìm ra cớ bức hại mình.

– Thầy Tử mới chết. Gia đình kiếm không ra một tấm ảnh để thờ phượng. Nhờ vã anh là vì thế.

Gióng giật mình. Ổng đã chết. Nhân sinh thất thập cổ lai hy. Hề, câu ấy thật chí lý!

– Cớ sao cô lại có được quan hệ với ổng?

– Mậu thân bọn em bị càng, cơ sở bị bứng gốc, trong bước đường cùng may nhờ gặp được Thầy Tử ra tay cứu vớt. Sự cố ấy em có đưa vào trong bài thơ năm chữ, thơ như vầy…

– Bài ấy ta đã đọc qua, xin chớ diễn ngâm làm chi cho nhọc sức.

Đêm tàn, Gióng đi xiêu đổ về nhà thưa hết mọi chuyện cùng cha. Ông không ngạc nhiên, ông đã nghe hung tin. Nhìn Gióng, ông nói chậm rãi:

– Giúp người bao giờ cũng là chuyện nên làm. Thầy Tử là người đáng để hậu thế noi gương. Ổng chẳng phải là lãnh tụ thì chuyện vẽ chân dung e không gặp khó khăn. Nếu trong lòng không mấy hứng thú thì vẽ xong chớ có ký tên vào là được.

Gióng không cho đó là cao kiến:

– Mình không phải là hạng tiểu nhân cớ sao lại sợ bút sa gà chết. Dù cho tranh vẽ không ưng ý, nhưng hoàn thành nó rồi thì buộc lòng phải ký tên vô. Chớ nên toan tính lươn lẹo ba chuyện nhỏ nhặt ấy.

Cha của Gióng quay lưng, thổi tắt ngọn đèn dầu. Ông thầm lo, khẩu khí của Gióng có thể bức hại đời hắn dễ như chơi. Chế độ này tuồng như dị ứng với những kẻ ngay thẳng. Cái chết đột ngột của Thầy Tử cũng nói lên được ít nhiều, sao Gióng không sáng mắt sáng lòng? Lưng thẳng, chẳng biết lòn cúi thì sớm muộn cũng đón đầu tai ương. Dân quanh vùng này bao giờ cũng vỗ ngực là thức thời, cơ hội chủ nghĩa, biết sợ mới trường tồn. Ngẫm lại, điên khùng gì đóng vai quân tử? Gióng thật dại dột!

Sớm mai, gà vừa cất tiếng gáy Gióng đã cụ bị hành trang ra bến sông xuôi đò về làng Ầm. Sông Lá Liễu dâng dầy khói sương. Đò lướt trôi, êm ả. Có khi xẻ rách những đoạn âm u không nhìn rõ mặt nước. Trên đò chở khẳm bọn quá giang, có đứa ngồi gần Gióng thò tay xuống sông vốc nước lên rửa mặt.

– Kỳ lạ thật. Sương mai gai lạnh nhưng nước sông lại ấm. Thiệt là sảng khoái!

Nói xong, kẻ đó lại nhoài người ra, gục mặt xuống nước xem chừng thích thú. Khi ngẫng đầu lên, tóc ướt nhẹp vung vãi những gịot lạnh bám rơi trên da thịt Gióng.

– Cẩn thận. Đừng vì sảng khoái riêng mình mà gieo bực bội tới cho kẻ khác. Chúng ta đang sống trong thời đại làm chủ tập thể, mình vì mọi người.

– Ủa, ai như họa sĩ Gióng?

Gióng nhìn đứa ngồi gần. Sương tan, bình minh bôi một nhát màu ửng hồng cuối chân trời, cắt lên gương mặt kẻ kia một viền sáng. Điều đó mảy may chẳng giúp Gióng trong việc nhận diện.

– Không nhìn ra nhau mà lại hơn. Kẻ ấy nói. Chúng ta tuy không cùng hội nhưng đang cùng thuyền. Một vài giọt nước sơ ý bám vào cớ sao lại xúi lòng người đâm bực tức?

– Ấy là bạn không biết đó thôi. Con sông này nuôi sống cả binh đoàn chị em ta, kỹ nữ vẫn ngồi dạng chân tẩy uế đại tiện tiểu tiện xuống đây. Giang mai, hoa liễu, lậu mủ, sida vi trùng rơi rớt cả ổ. Ta lấy làm ái ngại khi nhìn bạn gục đầu xuống chỗ dơ bẩn ấy.

– Than ôi! Ta cũng lấy làm tiếc cho cái sở học của họa sĩ. Bản chất của sông nước là luân lưu, là cách mạng, không ngừng hoá thân; là vươn mình tới phiá trước. Nó chuyển động không ngừng chứ nào phải như vũng nước đọng trong ao tù túng?

Gióng làm thinh, thấy nhạt mồm chẳng buồn nói năng. Ngồi cúi mặt mà vấn một điếu thuốc to, châm lửa. Tự nói thầm: Ta hút xong điếu này thì đò ắt sẽ tới làng Ầm. Và mai hậu, tuyệt không nên chuyện trò với kẻ lạ mặt. Bổn phận của dân dã là phải biết nhìn ra kẻ nổi tiếng để khúm núm thưa gửi. Hà cớ gì bắt người có vai vế lại đoái hoài ngó xuống đám dân ngu khu đen?

Nhà Thầy Tử chẳng lấy gì làm lớn, tuy nhiên vườn tược đàng sau thì mênh mông như một khu rừng. Khách viếng tử thi đứng nối hàng từ tam cấp ra tới ngoài bình phong nằm trên cái bể cạn nuôi cá vàng. Gióng không ưa nhìn cảnh tang ma ủ dột mặc dù màu xám luôn chiếm mảng lớn trong hầu hết các họa phẩm của Gióng. Một người mặc đồ tang trắng thấy Gióng đứng tần ngần liền tách đám đông bước ra nghênh đón. Nghe xong thiện ý của Gióng, người ấy mừng rỡ vô hạn, tính xô giạt đám đông dọn đường cho Gióng ưu tiên bước vào nhưng Gióng xua tay:

– Thủng thẳng, chuyện vẽ vời không nên dùng thì giờ đốc thúc một bên lưng. Làm nghệ thuật hãy xem sự thong dong là cần thiết.

– Nhưng mà đường xa tới đây, xin họa sĩ vào nhà dùng tạm chút quà sáng gọi là điểm tâm dằn bụng.

– Gióng này không ưa khách sáo, xin chớ miễn cưỡng. Nếu được phiền huynh dẫn cho đi ngoạn cảnh vườn sau, có gì trở ngại chăng?

– Dạ không. Hoàn toàn không.

Người mặc đồ đại tang thần sắc tuy chẳng được tươi tỉnh nhưng Gióng nhìn ra sự sốt sắng có ở đó. Trời sang mùa, heo may len vào trú ẩn dưới lùm cây, dâng lên hương mùi ngai ngái. Đất ẩm, rêu xanh, lá mục rữa, mùi hoa nồng, mọi thứ quyện vào nhau, đậm đặc tới độ choáng váng khi hít vào. Bên thân một cội mai già tuổi, có dựng trồng tấm bảng gỗ, hàng chữ khắc nét nông trên đó có đoạn chẳng còn liền lạc.

– Chữ gì vậy? Gióng hỏi.

– Thưa, đó là câu đối. Thư sơn hữu lộ hành thiên lý, học hải vô nhai độc vạn giả. Có nghĩa là: Núi sách sẵn đường ngàn dặm bước, bể học không bờ vạn nhà theo.

– Nét chữ của Thầy Tử?

– Thưa phải.

– Ta không lĩnh hội hết cái thâm sâu của chữ hán, tuy nhiên hai câu này cần phải trịnh trọng viết lại trên một tấm bảng mới.

Người mặc đồ tang dừng bước, đặt để tia mắt trên mặt Gióng, án chừng muốn khám phá điều ẩn khuất. Cuối cùng cười lên, tiếng khô khan:

– Thưa, đã muộn mất rồi.

– Muộn?

– Trong xã hội, vào một thời điểm nào đó, người ta đâm trọng vọng kẻ vô học. Họ đố kỵ kẻ có ăn học, xem chúng là thành phần cứng đầu nguy hiểm. Cô lập và tìm cách loại trừ đi. Oái ăm là chúng ta đang ở trong tình huống cay nghiệt kia. Cho nên câu đối này xét ra đã lạc hậu mất rồi.

– Chuyện thật khó tin!

– Thưa phải. Sự đảo lộn làm nực cười.

Gióng bần thần, dậm cẳng ngước mặt dòm trời giây lâu, mặt lộ vẻ chán ngán. Có nhiều đoạn vải trắng bay trong vườn, vướng viú thân cành, tựa những cánh diều đứt dây tự cao xanh rơi xuống. Đọc ra nỗi thắc mắc thầm lặng của Gióng, người đi bên giải thích:

– Chính tay tôi buộc vào đó. Trong giòng họ nhà tôi có tục lệ là khi chủ nhà mất đi con cháu phải thắt khăn tang cho những cây già tuổi trong vườn.

– Vì sao vậy cà?

– Vì sợ cây buồn nhớ, sinh bệnh rồi héo úa đi theo chủ nhân.

Gióng choáng váng trước lời phân giải. Ai bảo cỏ cây vô tình quả là một lầm lẫn lớn, khó thứ tha. Người ấy thêm:

– Mỗi nơi có một tập tục riêng. Dân sống vùng cao thì nghe đâu khi gia trưởng qua đời, hôm động quan lúc thúc theo sau đoàn người đưa đám còn có cả chó mèo gà vịt dáo dác kêu vang rân, trông cực kỳ thảm thiết.

Gióng bùi ngùi:

– Chốn ấy là nơi nào? Ta ước ao khi về già sẽ tìm ra chỗ ấy mà mai danh ẩn tích. Đẹp đẽ thay cho cái hình ảnh mà huynh vừa vẽ ra. Đời thường chốn này đã nhiễm độc, hết thuốc chữa!

Gióng than van, biểu lộ ít nhiều thành thật, chua chát. Đi ba bước, bất chợt Gióng nhìn thấy một thân cây trơn láng lùn mập. Hình dáng kỳ lạ, đứng lẻ loi và nó đặc biệt không mang khăn tang. Ở nơi chia nhánh, cái nạng cây ấy lồ lộ gồ ghề hình thù bộ phận sinh dục của người nữ. Sinh động, sống thực còn hơn cả một tác phẩm phù điêu. Sương sớm còn đọng hạt thập thò nơi đường khe. Ướt át, gợi cảm.

Lén quan sát gương mặt người vận đồ tang chế, Gióng bắt gặp nét sầu muộn của một kẻ đang chịu cảnh bất hạnh, thủy chung không đổi sắc. Giọng vẫn trầm lắng:

– Khu vườn này phải đợi những hôm có trăng mới phát huy hết nét diễm ảo tiềm ẩn của nó. Có những sự vật mà ta chỉ trông thấy khi đêm về.

Ma qủy chăng? Gióng hỏi thầm, cảm thấy mỏi chân, liền quay bước.

Mất hai ngày lưu lại Tử gia trang, Gióng mới hoàn tất bức chân dung màu nước. Mọi người sững sờ, xuýt xoa khi Gióng buông bút. Có kẻ dụi mắt rồi đổ thân xuống mà sụp lạy không ngưng. Thần khí trên gương mặt ấy thật rạng ngời. Gióng đã xuất thần khi ngó qua tử thi rồi phóng bút mang sự sống tới, đặt trên vuông giấy trắng, đóng khung khuôn mặt một Thầy Tử nhân hậu, hồng hào, phương phi.

Người vẫn thường cùng Gióng đi bách bộ trong vườn bước lại gần khum tay:

– Tiếng đồn quả không ngoa. Xin họa sĩ đứng yên cho tôi thế mặt cha mà vái lạy ba lần để trả công ơn.

– Đừng, chớ làm vậy mà tổn thọ. Xưa nay người ta vẫn vái lạy thưa bẩm với bác sĩ kỹ sư chớ ai lại đi làm chuyện trái khuấy như huynh. Giai cấp của ta thật không xứng để nhận.

Gióng lách mình đi nhưng kẻ ấy đã bấu chặt chéo áo:

– Tôi nói điều không phải thì xin họa sĩ niệm tình bỏ qua…

– Được, cứ tự nhiên. Gióng này không phải là đứa hẹp bụng.

– Tôi muốn biết lai lịch cái triện son ấy, có được không?

– Đẹp. Phải thế chăng? Một người bạn cũ thậm xưng là hán rộng khắc cho. Chỗ thân tình ra giá chỉ hai triệu.

– Than ôi!

– Chuyện gì thế?

– Đứa ấy là phường tiểu nhân. Khi giao du, họa sĩ nên cẩn trọng. Giờ đây, lòng người thật nham hiểm, hơn cả rắn rít.

Gióng bất bình, bụng sôi lên, tính tìm lời thoá mạ nhưng người run rẩy, á khẩu trong giây lát.

– Chữ hán nó có cái nguy hại riêng. Thêm thắt vài nét hoặc viết thiếu một hai vạch thì ý nghĩa biến đổi ngay. Cái triện son này lâm vào vấn nạn thiếu sót không hay nọ.

– Trong lãnh vực hội họa bố cục là điều quan trọng. Người ta có quyền giản lược, nhổ tỉa râu ria cốt cho cái đẹp được hiển lộng.

– Phụng sự thẩm mỹ hay tôn thờ vật gì đến mù quáng là chuyện không nên. Dấu triện đóng lên tuy đẹp thật nhưng không khéo làm trò cười cho bậc thức giả. Tự cổ chí kim chẳng có ai lấy bút hiệu là Cục cứt cả…

Gióng đỏ mặt sượng sùng, rồi tái đi như gà bị cắt tiết. Tê buốt, chết điếng những giác quan.

– Nếu họa sĩ cho phép tôi sẽ dùng bút đỏ sửa lại cho đúng danh xưng, được thế con cháu nhà này mới dám mang tranh treo vào chỗ thờ phụng. Bằng không thì…

– Bằng không thì chối từ vất bỏ công trình của ta? Thôi, việc ta làm xem như đã xong, mọi chuyện tiểu tiết khác người trong nhà tùy nghi hành sử.

Gióng vác túi đồ nghề bỏ đi, lòng buồn bực không bút mực nào tả xiết. Ra tới bờ sông hậm hực ném mạnh tay cái triện xuống nước. Ông lái đò lấy làm hiếu kỳ:

– Vật ấy chắc nặng, sóng đồng tâm mãi loang rộng ra?

– Cái viên đá xanh nhỏ bé ấy giá hai triệu đồng. Nhẹ mà nặng. Ngươi rành chữ Tàu không, mấy nét này có phải nghĩa của nó là cục cứt không?

Gióng thọc tay xuống nước cho ướt ngón trỏ rồi viết loăng quăng lên sàn gỗ. Những con giun chóng bay hơi.

– Một cục cứt đáng giá hai triệu đồng tiền Việt nam dân chủ cọng hòa.

Ông lái đò giả đui mù câm điếc, và thực thi nghiêm chỉnh chính sách ba không: Không thấy, không nghe, không biết. Thằng dở hơi này từ phương nào tới mà ăn nói bạt mạng chẳng nể nang cái lỗ tai mọc ra trên vách?

Về đến nhà, Gióng chưa biết tìm cớ giải khuây thì Đỏ Mỏ xuất hiện. Trong xắc cốt đeo chéo người thị có chai rượu nếp óc ách nằm đè trên tập vở viết nham nhở những câu thơ đầu Ngô mình Sở.

– Thật là đẹp ý ta. Em tượng trưng cho niềm vui mà ta đang ngóng đợi. Trong muôn một, có khi nhìn em ta phát hiện cái cốt cách cộng sản đáng yêu của em.

– Đừng cho em đi máy bay lên thẳng, tội nghiệp.

– Ta đang buồn cảnh thế thái nhân tình, hãy rót rượu ra rồi ta sẽ vẽ tặng em một bức chân dung. Trước: Ta khuây khỏa. Sau: Em có được một kỷ vật qúy giá.

– Thật hả đồng chí Gióng? Hôm nay là ngày gì mà xẩy ra biến cố trọng đại này, mà thắng lợi đột xuất làm đứng tim.

Gióng nhìn cúc áo trên không cài của Đỏ Mỏ, lòng xao xuyến nhớ lại cái nhánh cây dị thường trong vườn Thầy Tử. Tợp một hớp rượu. Ngọt lịm, nóng bừng. Tay Gióng bắt đầu run. Đầu óc vần vũ với duy một hình ảnh: Chiếm đoạt, phủ đè.

– Trong lúc ta sửa soạn đồ nghề, em hãy tranh thủ trút bỏ xiêm y.

– Việc gì vậy cà?

– Ở rừng rú quá lâu nên em đâm lú lấp chăng? Đã từng nghe qua tranh khỏa thân chưa?

– Thôi, kỳ cục… Chưa bao giờ em cởi đồ trước mặt người khác, kể cả chồng em. Có đồi trụy không anh?

Chịu không nổi, Gióng ném cốc rượu xuống đất:

– Vậy thì Gióng này đành phải khẩn trương ra tay cởi hộ cho vậy.

Đỏ Mỏ chưa có phản ứng, thân thể đã bị trói cứng trong đôi vòng tay Gióng. Một luồng nhiệt chạy dọc sống lưng, từ ót xuôi xuống bàn tọa. Và Đỏ Mỏ chỉ biết nhắm mắt, xuội lơ tứ chi nằm ngửa ra giữa chiếu. Gióng to, khỏe, hăm hở; tương phản với hình bóng người chồng mặt xanh nanh vàng của Đỏ Mỏ. Đăng ký kết hôn đã gần ba năm, hai người vẫn chưa có được một mụn con. Đỏ Mỏ chờ đợi nhưng anh ta chẳng hề là người gieo rắc tin vui tới. Đỏ Mỏ luôn hạn hán trong khi người chồng chỉ là cơn mưa bụi phất phơ, thứ mưa không ướt đất. Thật hổ thẹn!

– Hãy nhẹ tay, em chẳng muốn về nhà với sự tả tơi như vừa đánh ghen. Tem phiếu tháng này chưa có, vải vóc thì cơ quan còn ngâm chưa chịu phân phối. Nghèo tất! Em chỉ giàu có một thứ mà mấy ai hay!

– Ta hay, ta biết. Nhìn ánh mắt dợn sóng của em thì giác ngộ đi tìm bến mê ngay. Để ta dốc lòng san sẻ cùng em sự thiếu thốn bấy lâu.

Đỏ Mỏ rên lên. Người không ngớt co giật. Cơ thể đột nhiên ẩm ướt không ngờ.

– Đừng nghe anh.

– Chuyện gì?

– Đừng vội bỏ cuộc ngang xương.

– Gióng này chẳng phải là kẻ để người khác coi thường. Trong mọi lãnh vực. Xin em nhớ cho.

– Ôi chao, em gần thấy thiên đường rồi. Độc lập tự do hạnh phúc làm sao so bì với một chữ sướng? Bởi sướng cụ thể.

Người Gióng xuất hạn đầm đìa. Lưng Gióng vằn vện từng đường máu bầm như mới cạo gió xong. Những ngón tay Đỏ Mỏ chẳng ngớt cào, bấu, bám, viú, xoa, bóp, bẹo, ngắt, chà, xát, vuốt lên vuốt xuống.

– Trời đất ơi! Anh Gióng ơi! Phù đổng thiên vương của em ơi!

– Trong cuộc mây mưa, kêu than như vậy mới phải.

Gióng nói, hào hển; rồi vật mình xuống chiếu, thở dốc. Đỏ Mỏ nằm bên, tóc tai rối bời, hiện nguyên hình một mụ đàn bà gầy dơ xương, vú chảy nhão, da tóp teo, vàng như sáp ong. Hình ảnh thiếu nữ xuân thì khỏa thân e ấp đứng vịn nhánh cây trong vườn lạ thoáng vụt mất. Đầu Gióng nặng nề, hiện thực và mộng ảo nằm đè lên nhau, vật lộn, nhập nhòa khó phân biệt.

– Hãy đọc lên một bài thơ tình do chính tay em làm.

– Thơ phú gì giờ này. Chốn ấy hang hùm đã mó tay mất rồi. Còn chi để nói?

– Em lo ngại điều gì chăng?

– Không. Còn anh?

– Việc chúng ta làm, ngày hôm nay, thế nào cũng bị vỡ lỡ…

– Có sao đâu? Khi ấy thì chia tay, đường ai nấy đi, xem nhau như người dưng. Tình nghĩa gì, phải không? Anh thiếu đàn bà còn em thì cần chút cường dương cho cân bằng trạng thái tâm sinh lý. Chúng ta như nhật nguyệt bổ sung nhau để sự sống tuần hoàn. Giản dị có thế thôi. Và thực tế.

– Em nói chí phải.

– Một tuần mình lập lại trò chơi hai lần. Thứ Tư và thứ Bảy. Anh nghĩ sao?

– Chân lý đó không hề thay đổi.

– Bậy nà. Có kinh nguyệt thì tự dưng sẽ đổi thay. Và mình phải biết linh động co giãn cái thời khóa biểu ấy… Này, em có mang thì anh tính làm răng đây?

– Em mang thì tự em đẻ tự em nuôi, sao lại cắc cớ đè Gióng này mà hỏi.

– Cũng đúng, tại em tự nguyện. Đứa nhỏ ấy mà sinh ra vuông tròn, ngày sau thế nào cũng làm sếp sòng bọn văn nghệ sĩ hai miền.

– Sao em lại ôm ấp cao vọng?

– Mẹ có chất thơ. Máu bố có cái ngông của một họa sĩ nổi tiếng. Tinh lọc hai thứ ấy đủ để em có cơ sở mà lộng ngôn.

– Muốn làm sếp sòng phải biết tráo trở, thủ đoạn, nói trắng làm đen. Gióng này tuyệt không có thứ máu ấy ở trong người.

Gióng co rút thân mình, nằm nghiêng không ngó Đỏ Mỏ vận lại áo quần.

– Nói cho sướng mồm thế thôi, đéo có hiện thực. Thôi, em về nhé, muộn mẹ nó cả rồi.

Gióng làm thinh, vờ ngủ, miệng chóp chép như đang nuốt nước giải. Lát sau, vùng ngồi dậy khi tiếng xe đạp Phượng hoàng cọc cạch mang Đỏ Mỏ đi xa.Đợi chiều xuống, Gióng đạp xe qua phiá tả ngạn. Vào nội thành, ghé quán Bạch tuyết kêu ly rượu thuốc, ngó mông về lầu Ngọ môn đang khuất dạng hình thù trong hoàng hôn đen đúa. Lau lách mọc rậm bên hông quán rả rích tiếng dế kêu. Quán mà thắp sáng tất cả những bóng đèn thì thế nào cũng bắt gặp vài trự bạn tấp vô. Quả nhiên, muỗi đốt ngứa hai nốt đỏ ở bắp chân thì Đấu cũng vừa thắng xe, cột khoá ngay bên bàn. Đấu là nhà văn, ca tụng tất cả những ông tai to mặt lớn nên tiếng tăm lừng lẫy. Dáng đi tất bật chân không chạm đất tựa kẻ biết môn khinh công. Đấu ôm mộng một ngày nào đó hắn sẽ biết đằng vân giá vũ, chí ít cũng bay sang Liên xô, tham quan sự tình đất nước đàn anh vĩ đại; thèm được mó tay mân mê nhúm tóc vàng sợi nhỏ biết bao! Hắn thêm thắt.

– Chuyện lạ! Cớ gì bữa nay sinh độc ẩm, mà lại sớm sủa chưa từng thấy? Nhà văn sửa giọng. Gióng hoa tay:

– Ngồi xuống đi. Mua một tin tức thì giá cả ra sao?

– Tùy loại tin. Như thể đem xẻ thịt một con cầy thì có bộ phận đắt tiền, có nơi gần như cho không, miễn phí.

-Nhất thời chưa có tiền trả thì mang tranh ra ứng trước, có đặng không?

– Không. Tiền là tiền. Tranh là tranh. Hai thứ ấy khác nhau tự cơ bản.

– Chẳng có chút vị tình? Không luôn một lý do tình cảm?

– Ấy. Đã nói tới chuyện mua bán, đã đâm đầu vào tiêu đề tiền bạc sao còn mang tình cảm dây dưa vào? Xem nào, thằng bán rượu này tuy trong dạ có thù ghét tôi đi chăng nữa thì hai cốc rượu của chúng ta đây cũng đều đồng dạng đồng phẩm đồng lượng đồng giá. Làm ăn, nguyên tắc đầu tiên cũng như cuối cùng là phải biết chí công vô tư.

Gióng kêu một diã đồ nhắm, cho cả hai. Thò đũa lựa xong miếng thịt vừa ý, Đấu hỏi:

– Tầm cỡ quan trọng của nguồn tin ra sao?

– Tầm thường. Ta chỉ muốn biết thằng điêu khắc gia chuyên làm khuôn dấu giả với lại khắc triện đấy, bây giờ nó trôi giạt phương nao?

– Bữa nhậu này ông cân một mình có được không? Được thì ta sẽ loan tin.

– Trong túi ta còn đúng nửa triệu, nếu thiếu ta sẽ cầm thế chiếc xe này lại. Dư sức qua cầu, văn sĩ cứ ăn nhậu thoải mái.

– Sảng khoái. Sảng khoái! Cuộc đời vẫn đẹp thay… Em ra đi nơi này vẫn thế…

Không cần kê khai lý lịch, tự thân Đấu đã rêu rao thầm: Ta, cốt cáng bần cố nông cha truyền con nối chính chuyên suốt đời. Khi ngồi trên ghế, Đấu có cái tư thế lạ thường, chẳng giống ai. Cái thế ngồi coi thường và chối bỏ con số Bốn ngàn năm văn hiến. Ngồi như vậy và vỗ tay kêu thêm rượu. Bởi, rượu có vào lời mới ra:

– Thằng ấy bây giờ ngất ngưỡng ở huyện Chín Gối. Móc ngoặc với dân có máu mặt trong tập đoàn buôn trầm và gỗ qúy. Thế lực nghiêng trời lệch đất, khó bề lay chuyển.

– Huyện Chín Gối?

– Phải. Dùng quốc lộ, đi ngược bắc, hướng tây, bắt gặp cánh rừng trọc, chốn ấy trên bản đồ gọi là Chín Gối. Biết câu rừng vàng biển bạc không? Tám cây số đường chim bay là rừng rậm gỗ tốt, giờ này khai quang trọc lóc thì trong túi thằng đó có bao nhiêu lạng vàng nhỉ? Mình là nhà văn, thậm dốt chuyện tính toán!

– Sao biết nó làm chuyện phá nước hại dân mà ai nấy đều ngồi khoanh tay?

– Bởi vì đấy chẳng phải là chuyện lạ. Chuyện lẻ tẻ.

– Thế nào mới gọi là chuyện lớn?

– Ô hay cái anh này! Chuyện nhớn là chuyện có thằng buồn đời bèn nổi hứng đi rãi truyền đơn. Chuyện trong văn chương tôi viết ra, lãnh đạo họ soi thấy có điều mờ ám. Chuyện ông vẽ chân dung đồng chí Phi đen cát trô tận bên trời Cu ba mà trên họ phán là nom giống hệt cửa mình của chị em phụ nữ.

– Thôi, không nói chuyện với ông nữa. Ngày hôm nay tu như vậy là mấy chai rồi?

Đấu cười rộng miệng: Ta cũng đi thôi, chán những thằng nhát như mày rồi.

Không còn ai, Gióng ngoắc chủ quán lại gần:

– Kể từ bây giờ, những bức tranh ký tên Gióng treo trong quán này thuộc về tay ông quản lý.

Rốn, chủ quán, ngạc nhiên vô hạn. Bàn tay ngón to quen việc đao thớt không ngớt xoa mãi miết hàm râu quai nón đậm đen, chừng như tính toan, cảnh tỉnh. Vốn ưa thù tiếp, chén chú chén anh với đám văn nghệ sĩ, lại có máu ưa sưu tập tranh, Rốn luôn mở rộng lòng chân thật mà săn đón Gióng. Tuy vậy, lời Gióng vừa nói chẳng phải là phần thưởng khích lệ nhằm trao gửi cho một tấm lòng thành. Rốn ngó Gióng, ném thử viên cuội dò đường:

– Sứa rồi chăng? Nếu thật sự xỉn, tiểu đệ đóng quán lấy xe dream đưa đại ca về lại hàn xá.

– Bậy. Chớ vội chê bai, đợi ta nói tiếp những câu sau rồi hãy luận bàn chuyện say tỉnh.

– Rốn xin nghiêng mình lắng nghe.

– Tranh ta treo đây dư luận có lên tiếng ong ve nào không?

– Đa phần tấm tắc, ngưỡng mộ. Cách đây non tháng có đám lưu dân Việt kiều hồi hộp dừng chân, một cô con gái ngoại hình điệu bộ cực kỳ tư bản đưa ra lời bình: Treo đây thật phí, tranh này mang về bày ở Cưụ kim sơn mới trả công xứng đáng cho kẻ lao động ra thành quả nghệ thuật này. Một đứa hỏi: You nghĩ là bao nhiêu? Không dưới ngàn đô. Cô gái dứt khoát.

Rốn dứt lời, đứng yên hứng đỡ cánh tay Gióng vừa khoát lên vai.

– Vậy mà giờ đây chủ quán Bạch tuyết sẽ tiếp thu toàn bộ thứ văn hoá phẩm ấy.

– Đệ lùng bùng cả hai lỗ tai. Rốn này làm sao có được hồng phúc căn tu đến dường ấy? Nguồn cơn nào? Nguyên cớ chi?

– Ta nghe nói trước đây đệ từng hùng cứ một bến xe đò. Nay tuy rửa tay gát kiếm nhưng thế nào dân đi lại trong giang hồ cũng còn đôi phần nể phục.

– Không dám. Sóng sau xô sóng trước, quy luật ấy là lẽ tự nhiên. Hiểu được điều ấy nên Rốn này lặng lẽ rút lui. Cái hỗn danh Hôi nước mắm mà dân anh chị đặt cho Rốn không chắc giờ này có kẻ còn nhớ tới. Rõ là đại ca có điều nan giải?

– Phải, ta muốn xin tí huyết thằng trưởng phòng văn hoá thông tin huyện Chín Gối.

– Giản dị có thế?

– Chỉ ngần ấy thôi.

– Cấp độ tàn phế?

– Xem nào. Hắn mang nợ nhiều người, để khỏi trốn chạy, ta nên cho hắn ngồi xe lăn chăng?

– Tuỳ huynh trưởng. Rốn này chỉ xin năm ngày để hành sự.

– Rốn mà tròn lời giúp ta chuyến này thật đúng là ta có biệt nhãn nhìn người. Sau này, đợi ngày tốt trời chúng ta tắm táp sạch sẽ, bày hương đèn hoa trái làm lễ kết giao huynh đệ, tình thâm như thủ túc.

– Lời Gióng đại ca nói, đệ xin một lòng nghe theo. Láo làm chó.

Gióng hân hoan đạp xe ra về, dạ thảnh thơi không mảy may tiếc nuối về số phận những bức tranh. Ngang công viên tối đen, Gióng xuống xe lựa chỗ khuất lấp mà đứng tiểu tiện. Rùng mình làm một trộ rõ lâu, xè xè trong thanh vắng. Rảy chưa khô vòi nước, nhác trông lên có đứa lù lù chợt hiện ra. Hai thằng, rồi ba thằng. Êm ả, bất ngờ như ma quỷ làm trò trêu ngươi.

– Họa sĩ Gióng, có phải không?

Gióng không trả lời, kéo quần lên, thắt dây lưng, hít một hơi sâu cho tỉnh táo. Có tiếng mở nắp bật quẹt Zippo kêu dòn dã. Cóc. Ngọn lửa nổi tiếng phực cháy trong mọi tình huống ấy soi lung linh gương mặt Gióng. Một gương mặt hoảng hốt, tỉnh rượu, căng thẳng.

– Muốn gì? Tiền, hay chiếc xe đạp hiệu Pờ-rô này?

Cả ba đứa đều câm lặng. Chúng còn rất trẻ, đáng tuổi con cháu Gióng. Ngọn lửa vụt tắt, bóng tối lại ngự trị. Hai đứa bốn tay kẹp người Gióng vào giữa, trói cứng. Chúng chẳng lộ vẻ vội vã, như trần gian này hoang vắng, đã chẳng còn ai. Gióng nghĩ tới phương thức cầu cứu thông dụng: La hét thật lớn. Trễ mất rồi, thằng đứng trước mặt Gióng vừa cạy miệng Gióng ra, nhét giẻ vào mồm. Hắn hát thủng thẳng bài nhạc rẻ tiền, giọng ngô nghê: Nếu là họa sĩ anh sẽ vẽ em… Tay em mười ngón thiên thần… Hát chưa xong, ra hiệu cho đồng bọn vật Gióng xuống cỏ.

– Chơi gì đây? Cắt chim hay sao?

– Không. Có một bận khứa lão tuyên bố, giữa cuộc đời này cái nó hãi nhất là bị tàn phế đôi bàn tay. Cho nên hôm nay… Đứa ấy ngừng nói, lôi từ xắc cốt ra một chai lít đựng nước óc ách. Gióng nhớ Đỏ Mỏ, nhớ hình dạng cái túi đeo chéo người, nhớ thể tích chai rượu nếp và nhớ cuộc truy hoang ban chiều.

– Chuẩn bị tinh thần nhé, ông thánh. Thứ dung dịch quái đản này người ta đặt tên mỹ miều cho nó là A-xít đấy.

Thần trí Gióng hoang mang. Tim phèo phổi Gióng trồi lên trụt xuống, đảo ngược. Thở không ra hơi. Và Gióng ngất đi khi giọt cường toan đầu tiên từ chai lít nghiêng đổ xuống đôi tay bị trói chặt.

– Địt mẹ mày, cẩn thận kẻo cháy xém vào người tao.

Gióng nghe mơ hồ tiếng cười. Đôi mắt cay, võng mô Gióng thu hình một vuông màu trắng xóa, tựa ngồi chiêm nghiệm trước tấm bố trinh nguyên.

– Tiếc gì cái khăn mù xoa dơ bẩn ấy mà mày lôi ra khỏi mồm nó?

– Tại tớ không muốn để lại dấu vết tại hiện trường. Chỉ thế thôi. Đó là nguyên tắc sơ đẳng.

Những bước chân bỏ đi xa, lát sau có tiếng rú ga của động cơ xe gắn máy nhiều phân khối. Gióng nhìn trời cao, thăm thẳm trên đó những vì tinh tú vẫn chớp nháy đùa cợt. Ở tấm màn nhung huyền ảo kia chợt có một ngôi sao vừa vụt tắt. Gióng lẩm bẩm: Lý nào đó chính là bổn mạng của Gióng này? Hãy nhớ lấy số phận bữa rày mà mai sau đốt hương tưởng niệm đôi bàn tay chết. Hôm nay là ngày nhị thập tháng ba năm Tân tỵ, nhằm đúng tiết lập Xuân.

(trích tập truyện Mùi Hương Trên Đồi. Văn Mới, California, 2005)

Giá trị Mỹ

doithoaionline.wordpress.com

bông lau

Posted on 06/04/2025 by Doi Thoai

ThuyMyRFI

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

Các chính khách Mỹ đã phản bội đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, dẫn đến cái chết đau thương của một chính thể dân chủ. Nhưng những người Mỹ có lương tâm, nhân ái hào hiệp và yêu lý tưởng tự do còn rất nhiều.

Họ là biểu tượng của giá trị Mỹ có từ thời lập quốc cách đây mấy trăm năm, khi cha ông họ cũng trốn chạy từ những vùng đất bất hạnh khắp nơi trên thế giới. Để thành lập một quê hương thứ hai có tự do dân chủ cho đến bây giờ. Quê hương yêu quý này có tượng Nữ Thần Tự Do, là biểu tượng ánh đuốc soi sáng lý tưởng và giá trị Mỹ.

Khi bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, người Mỹ không buộc phải cứu vớt người tị nạn Việt Nam ở thời điểm 30 tháng 4 năm 1975 và sau đó là những thuyền nhân “boat people” sau năm 1975. Nhưng vì trách nhiệm, lòng hào hiệp, và nhân đạo.

Họ không phải mở rộng vòng tay để đón nhận những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trong chương trình HO, nhưng trách nhiệm và lòng thủy chung vẫn còn đối với những người đã từng chiến đấu bên nhau vì lý tưởng tự do.

Khi Sài Gòn thất thủ, một viên Thiếu tá Không quân Việt Nam Cộng Hòa lái một chiếc máy bay quan sát L19 nhỏ, chở vợ và năm đứa con bay vòng quanh chiếc hàng không mẫu hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ ở Biển Đông. Viên Thiếu tá phi công này chưa bao giờ đáp máy bay trên hàng không mẫu hạm bao giờ.

Hạm trưởng tàu sân bay lo sợ chiếc L19 sẽ gây ra tai nạn, khi đáp xuống sân đáp đã chất đầy trực thăng đủ loại của Việt Nam Cộng Hòa đã đáp trước đó. Nhưng một quyết định nhanh chóng của Hạm trưởng mà không cần xin phép cấp trên, là quăng xuống biển mười mấy chiếc trực thăng đáng giá mấy chục triệu đô la để có chỗ cho chiếc L19 đáp. Để cứu mạng một gia đình 7 người, vì nó quý giá hơn mấy chục triệu đô la. Lòng hào hiệp đó là giá trị Mỹ.

Trong một đơn vị Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa do Đại Úy Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Có một Đại úy Cố vấn Mỹ tên Norman Schwarzkopf. Trong một trận giao tranh ác liệt với Vi Xi làm nhiều binh sĩ Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa thương vong. Schwarzkopf gọi máy bay trực thăng Mỹ đến để chở xác chết lính Nhảy dù người Việt về hậu cứ.

Một phi công Mỹ lái trực thăng UH1 từ chối chở xác chết lính Việt Nam và chửi thề “Tao sẽ không chở mấy cục c*t trên máy bay” có lẽ sợ bị dơ vì máu me.  Đại úy Norman Schwarzkopf nhảy lên đứng trên càng trực thăng bên hông phòng lái rút súng Colt45 và quát viên phi công Mỹ. Nếu mày không chở tao sẽ bắn nát óc mày.

Theo luật chiến trường thì sĩ quan cố vấn có quyền ra lịnh cho phi công Mỹ. Đại úy Norman Schwarzkopf đã thể hiện tình chiến hữu thủy chung với binh sĩ đồng minh của mình. Đó là giá trị Mỹ. Và Đại úy Norman Schwarzkopf trở thành một danh tướng của Quân lực Hoa Kỳ. Xạ thủ đã đọc cuốn sách của ông viết “It Doesn’t Take a Hero”.

Những người tị nạn Việt Nam hãy nhớ lấy tại sao Hoa Kỳ mở rộng vòng tay đón nhận mình. Xin đừng bao giờ quên giá trị cao quý của quê hương thứ hai này.

BÔNG LAU 05.04.2025

Bò cuồng

dongsongcu.wordpress.com

Bông Lau

Posted on February 19, 2025

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

NTSB (National Transportation Safety Board) vừa họp báo công bố một số chi tiết điều tra liên quan đến tai nạn ngày 29 tháng 01, khi một chiếc trực

người trên hai chiếc máy bay tử nạn.

Đúng như tui đã phân tích trước đây. NTSB cho rằng phi công chiếc Black Hawk có thể đã gây ra tai nạn vì đã không nghe rõ lịnh của đài kiểm soát không lưu của phi trường Ronald Reagan National Airport. Phi công Black Hawk còn sai lầm là bay cao hơn cao độ đã ấn định cho trực thăng là 200 bộ.

NTSB cho biết khi đài không lưu ra lịnh chiếc trực thăng phải bay phía sau chiếc American Airlines, thì cùng lúc phi công Black Hawk bấm nút máy vô tuyến để nói, nên đã không nghe lời nói của nhân viên đài không lưu.

Xạ thủ xin giải thích thêm là khi liên lạc vô tuyến, thì phi công phải đợi khi tần số im lặng mọi người nói xong thì mình mới bấm nút phát thanh tiếng nói của mình. Vì khi người khác đang nói chuyện mà mình bấm máy nói thì mình sẽ không nghe người kia nói gì.

Ngoài ra trước đó 2 phút, phi công Black Hawk có thể đã không nghe cuộc đàm thoại vô tuyến, khi đài không lưu ra lịnh chiếc máy bay hàng không đổi vị trí, thay vì đáp phi đạo số 33 mà phải đáp ở phi đạo số 1, vì đêm hôm đó gió ngang ở phi đạo 33 rất mạnh.

Theo NTSB, phi công Black Hawk còn có thể lầm lẫn chiếc American Airlines với một chiếc máy bay hàng không khác vừa mới cất cánh ở phi trường Ronald Reagan National Airport.

Như tui đã nhận định trước đây phi công Black Hawk chỉ có 500 giờ kinh nghiệm bay, nên quá non nớt để bén mảng đến không phận của phi trường quốc tế có không lưu nườm nườm máy bay lên xuống. Giống như một người nhà quê sống nơi chỉ có lèo tèo vài chiếc xe qua lại, nay phải vào thành phố New York nên lúng túng quờ quạng gây tai nạn. Phi công Black Hawk thường được huấn luyện bay hành quân sử dụng tần số quân đội riêng, và không căng thẳng nhiều quy luật phức tạp như hành lang không lưu dân sự.

Đêm hôm đó phi công Black Hawk đang thực tập bay đêm, đeo máy hồng ngoại tuyến nên có thể mắt chưa quen điều tiết để thấy rõ cảnh vật bên ngoài, và giàn phi cụ lập lòe những con số cao độ và ký hiệu trước mặt. Một phần phải đối thoại lắng nghe phi công huấn luyện viên đang ngồi bên cạnh.

Phòng lái trực thăng Black Hawk không phải là một bầu kiếng nên khó nhìn thấy chung quanh. Mái che phòng lái Black Hawk có thể đã che khuất tầm nhìn ra phía trước của phi công, vì khi bay trực thăng phải ngỏng đuôi và chúi mũi để bay tới. Trong phòng lái trực thăng rất ồn, nhứt là khi mở cửa, nên phi công rất khó nghe điện đàm vô tuyến, chớ không như phòng lái máy bay hàng không kín mít tiếng động bên ngoài hỏng lọt vào.

Nực cười là ngày 31 tháng 01 xạ thủ viết bài phân tích tai nạn này. Trong phần cuối có nói Tổng thống Donald Trump trong một cuộc họp báo, đã dùng tai nạn thương tâm này để lên án cơ quan hàng không Liên Bang FAA là thiếu khả năng vì hợp chủng da màu. Một cách lên án gián tiếp FAA gây ra tai nạn. Ổng chỉ nói đúng khi cho rằng chiếc Black Hawk đã bay cao hơn ấn định, nhưng ông Trump đã sai khi muốn đổ thừa cho FAA, và dùng cơ quan này làm vật tế thần để giải thể các cơ quan Liên Bang.

Vì đã viết đụng chạm đến ngài Trump nên một đám bò cuồng ngu dốt hỗn láo bu lại. Có nhiều bò cuồng vào Facebook tui trưng ra bằng cớ là nữ phi công trực thăng Black Hawk là một Đại úy đã chuyển giới tính nên rất căm thù ông Trump. Theo các bò cuồng thuyết âm mưu thì có lẽ nữ Đại úy chuyển giới tính vì căm thù ngài Trump, nên đã lái chiếc Black Hawk đâm sầm vào chiếc American Airlines để tự sát như khủng bố Al-Qaeda chăng?

Hỏng phải bò cuồng đông lúc nhúc ở Mỹ và Việt Nam. Mà còn có ở Trung Đông nữa. Trong thời gian tui còn ở Trung Đông thì một anh Trung sĩ Lục quân Mỹ tui quen thân, có phận sự đưa đón và làm các thủ tục hồi hương cho xạ thủ. Anh ta thành thật tin rằng chiếc Black Hawk đâm sầm vào chiếc American Airlines, vì phi công Black Hawk có liên hệ với vương quốc Saudi gì đó và biết chiếc American Airlines có chở những người Nga quan trọng nên cố tình ám sát.

Nghe xong tui ráng nín cười và nghiêm chọng hỏi ảnh lấy tin tức đó ở đâu. Thì anh Trung sĩ Mỹ cho biết tin ấy từ TikTok.

BÔNG LAU 15.02.2025

Hội ngộ

dongsongcu.wordpress.com

Bông Lau

Posted on June 17, 2025

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

Facebook có một số điều tiêu cực như bị một số con bò đủ loại nhảy vào nhà mình phát ngôn hỗn láo, làm mất công phải bắt từng con nhốt vào nông trại nuôi động vật hoang dã. Nhưng cũng có nhiều điều tích cực.

Đầu tiên là viết lách giải trí để xả stress. Nhứt là những ngày đồn trú ở Trung Đông rất căng thẳng và cô đơn nên mình dùng Facebook để giải tỏa các áp lực đó. Cám ơn những người bạn cố tri đã kiên nhẫn đọc những bài hồi ký tào lao ha ha.

Trong các bài xạ thủ viết còn là nơi gặp gỡ quen biết và hẹn hò giữa những người bạn cùng lý tưởng và nỗi đam mê. Cũng là nơi mọi người học hỏi kiến thức và kinh nghiệm lẫn nhau.

Mình hay đăng các hình ảnh của miền Nam ngày xưa và của miền Bắc thời tiền chiến nữa, để các bậc tiền bối trong cộng đồng Facebook giúp giải thích nếp sống, văn hóa truyền thống cho hậu sinh nào muốn tìm hiểu.

Mới đây xạ thủ đăng một tấm hình của một nữ cảnh sát viên Việt Nam Cộng Hòa tìm thấy trong mạng xã hội của một số cựu chiến binh Mỹ. Không ngờ tấm hình đen trắng này được trên 4.000 người bấm like trong một thời gian ngắn và trên 140 người chia sẻ trên trang Facebook của họ.

Sự kiên không ngừng lại ở đó. Người nữ cảnh sát viên khả ái năm xưa đã thấy được hình và bài viết rất ngắn về bà. Nên đã vào trò chuyện vui vẻ với các bạn Facebook. Giống như những người thân của một xã hội nhân bản nối kết lại với nhau.

Bà có tên Facebook là Oanh Hunt, năm nay đã 80 tuổi. Bà gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 19 tuổi ở một đơn vị Tâm Lý Chiến của Tiểu khu Quảng Trị, và đã đi khắp nhiều chiến trường. Năm 1967 bà chuyển qua ngành Cảnh Sát Quốc Gia. Và hiện sống ở Tiểu Bang Texas Hoa Kỳ.

Chúc mừng người nữ Cảnh Sát và nữ quân nhân Tâm Lý Chiến của miền Nam ngày xưa đã bình yên đến được bến bờ tự do. Cám ơn bà đã đóng góp tuổi trẻ của mình cho công cuộc chiến đấu vì lý tưởng tự do cho miền Nam thân yêu.

BÔNG LAU 13.06.2025

Cung Buồn Cho Một Cánh Chim

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Phúc An Sơn

Posted on June 17, 2025

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

Phi Công F-5 Không Lực VNCH Trần Văn Lương

Trung Úy Phi Công Trần Văn Lương sinh năm 1944. Anh say mê bay bổng, thích mạo hiểm. Anh tình nguyện vào Không Quân năm 1969 rồi trở thành Pilot phản lực cơ A 37. Năm 1971, anh chuyển sang lái F5. Ngày 9 tháng 7 năm 1974, một phi tuần 3 phản lực cơ chiến đấu F5, trong đó có phi công Trần Văn Lương thực hiện phi vụ oanh kích quân CS để yểm trợ lực lượng bộ binh tại mặt trận Tây Ninh. Chiếc F5 của Lương đã bị trúng đạn phòng không của địch bắn rớt.

Sau đó, vào ngày 15/7/1974, chị nhận được thư báo của BTL/SĐ3 Không Quân do Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính ký cho biết: “Trong 1 phi vụ hành quân,Trung Úy Trần Văn Lương đã mất tích tại tọa độ XT 140 745, vào ngày 9/7/1974 lúc 12 giờ 15…”

Khi Lương mất tích, con trai của Anh mới được 20 ngày, và người vợ trẻ chỉ mới vừa tròn 22 tuổi. Từ đó, theo vận nước nổi trôi, chị Hoa ôm nỗi đau buồn bất tận, thương con, ngóng chồng mòn mỏi…

Đột nhiên, vào cuối năm 1976, qua bưu điện, chị nhận được thư của Lương cho biết Anh hiện đang bị CS giam ở trại giam Yên Bái, Bắc Việt. Chị tức tốc cố gắng dò hỏi để xin phép được đi thăm chồng nhưng bọn phỉ quyền Hà Nội hèn hạ không cho phép.

Mãi đến đầu năm 1979, chị Hoa mới được họ chấp thuận. Lúc này Lương đã chuyển về trại giam Đô Lương, Hà Tĩnh. Mùa Xuân năm 1979, chị Hoa dẫn theo con trai là Trần Thanh Vũ, 5 tuổi, đi thăm chồng, và thăm cha.

Gặp chồng tại trại tù Đô Lương, chị ngạc nhiên khi thấy sức khỏe của chồng đã quá yếu! Anh không đi nổi, phải có cán binh CS của trại tù cõng Anh ra nơi thăm nuôi. Thân hình anh gầy tọp, mắt bên phải của Anh băng kín, mặt Anh bị sưng, và biến đổi khác thường. Anh cho biết Anh bị bệnh viêm mũi nặng, phát tác trên mắt và bệnh hành khiến Anh bị nhức đầu triền miên.

Vì quá xúc cảm nên trong gần một giờ thăm viếng, chị không nói được một lời nào mà chỉ biết khóc. Phút cuối của cuộc thăm nuôi, Lương ôm chặt hai mẹ con chị vào lòng và an ủi: “Em giữ gìn sức khỏe và cố gắng nuôi con!”

Chị Hoa trở về Sài Gòn tìm kiếm mua thuốc trụ sinh, hai tháng sau Chị trở lại Hà Tĩnh thăm và đưa thuốc cho chồng. Kỳ thăm nuôi lần thứ hai theo Chị Hoa thì tình trạng sức khỏe của Lương còn tệ hơn kỳ trước.

Khoảng tháng 10/1979, trong lúc Chị Hoa đang làm việc, có một người nào đó đã để lại tại nhà Chị một bức thư, trong đó ghi vắn tắt tin Anh Trần Văn Lương đã từ trần tại trại tù lao động khổ sai của cộng phỉ K1, trại 3 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, Bắc Việt, vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 15/8/1979, kèm theo một bản nhạc mang tên “Cung Buồn Cho Một Cánh Chim”, thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy.

Năm 1982, Chị Hoa và cháu Trần Thanh Vũ vượt biển tìm tự do. Chị đến Tân Gia Ba, và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Cháu Vũ đã có gia đình sau khi tốt nghiệp Cao Học Hóa Học và đang làm việc tại San José.

Tôi hỏi Chị Hoa có thể cho tôi coi bản nhạc ấy được không? Chị đồng ý. Trở vào phòng riêng, khi ra, Chị cầm một bao thư lớn đựng giấy tờ, hình ảnh riêng của gia đình. Chị đưa cho tôi tờ giấy cỡ 8 ½ x 11 được gập làm 8, trong đó với những hàng chữ viết chì ghi lại bài “Cung Buồn Cho Một Cánh Chim”.

Tôi không thấy ghi nhạc và lời sáng tác năm nào, nhưng có thể vào thời điểm trước khi Lương vĩnh viễn từ giã các bạn tù tại trại giam ở Hà Tĩnh. Người phổ nhạc tức nhạc sĩ Văn Thùy chắc cũng là bạn tù của Trung Úy Lương.

Tôi thấy Chị nâng niu bản nhạc như một di sản trân quý duy nhất của Lương để lại. Tôi đề nghị Chị Hoa hát cho tôi nghe. Bằng giọng trong vắt nhẹ nhàng và truyền cảm, không cần nhìn bản nhạc, Chị trình bày bản

“Cung Buồn Cho Một Cánh Chim”

Thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy. Buồn, chầm chậm với các lời:

1. Người tìm vào đời đôi cánh chim bay

Phi đạo hẹn hò mở lối tung bay

Đường mây vút xa dâng đầy trong mắt ai

Ngày vui vẫn hẹn đợi chờ hòa khúc hát tương lai.

2. Người tình học trò đôi mắt như sao

Mơ vùng trời hồng gửi giấc chiêm bao

Ngày vui ái ân không dài như ước mơ

Tình trong nét mực ngọc ngà, buồn khóe mắt ngây thơ.

ĐK1: Rồi một chiều thu mây mờ che kín non xanh

Người vợ hiền mơ bé thơ nào đâu thấy mặt anh

Trời buồn lộng gió, gió âm thầm đưa lá xa cành

Trời còn in mây, tình người còn đây, cớ sao người yên giấc mơ say.

ĐK2: Người lặng tìm về hương khói mong manh

Xin một lời buồn để hát cho anh

Ngàn mây vẫn xanh như chờ mong dáng anh

Và đôi mắt buồn học trò đậm vết long lanh

Xếp đôi cánh bằng, ngàn thu an giấc cho anh.

Người Anh Hùng Không Quân Trần Văn Lương đã gãy cánh trong cô đơn tại 1 góc rừng nào đó gần trại tù Đô Lương, thật giản dị: Không thân nhân, không bằng hữu, không lễ nghi quân cách, không tuyên dương, truy thăng, truy tặng, không hồi kèn vĩnh biệt, không tiếng súng tiễn đưa và không có cả hòm gỗ với quốc kỳ VNCH!!!!

Bài viết như một lời tri ân đối với tất cả những Người Lính Quân Lực VNCH đã anh dũng hy sinh xương máu cho chúng ta, con cháu chúng ta được sống và cho Miền Nam Việt Nam thương yêu được tồn tại trên hai thập niên.

Nguyễn Phúc An Sơn

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

43. Lê Hữu Mục

Cái đẹp của Huế không chỉ mê hoặc những người sinh trưởng ở Huế mà còn làm cho du khách, ai đã có dịp qua Huế, ở lại Huế một đôi ngày, một thời gian, khi rời bỏ Huế, xa Huế, không khỏi cảm thấy quyến luyến, tiếc nhớ. Sông núi, chùa miễu, thành quách, lăng tẩm, quá khứ và hiện tại dường trộn lẫn.

Người ta cảm nhận một cái buồn đến chĩu lòng. Nỗi buồn ấy xui người ta nhớ người, nhớ Huế … Nhớ rồi yêu. Ôi cái tình yêu như gió thoảng ấy có thể gắn với bất cứ khuôn mặt nào người ta nhìn thấy, bắt gặp trên đường, một nụ cười, một ánh mắt, một tà áo, một vành nón che nghiêng, một giọng nói, thứ tình tình cờ như con bướm chợt đậu lại trên một bông hoa mà thành.

Hoa tưởng tượng.

Bướm tưởng tượng.

Tình cũng tưởng tượng.

Thế nhưng có tình nào lại không bắt đầu bằng tưởng tượng?

Trời mưa ở Huế sao buồn thế

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Hàng xóm có người con gái lẻ

Ý chừng duyên nợ với nhau đây

[Nguyễn Bính]

Người ta yêu Huế như yêu thơ. Sinh ra ở một thành phố như thế thì người ta phải trở thành giai nhân hay tài tử thôi. Lạc vào thành phố như thế người ta không thể ra khỏi mà không làm sao cả.

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Vì thế, người ta cũng không ngạc nhiên thấy thơ và nhạc viết về Huế rất nhiều. Và đã nhắc tới những ca khúc nói về Huế người ta không thể không nói tới “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục. Những bài hát hay nhất về Huế hầu như đều dựa trên một cung điệu nào đó của vùng song Hương núi Ngự.

Riêng “Hẹn Một ngày Về” có sắc thái riêng vì hoàn toàn là sáng tác của Lê Hữu Mục. Nếu nó có làm liên tưởng tới đến một âm hưởng nào khác thì đó là [một chút] nhạc bán cổ điển Tây phương, chứ không phải nhạc dân gian hay nhạc cung đình Huế.

Những nốt láy được lặp đi lặp lại ở cuối mỗi câu cho người nghe cảm tưởng cảnh trời mây, thành quách, sông núi Huế. Sông trôi không hết niềm vui, xóa bỏ không hết nỗi buồn. Sông như tấm gương cho Huế soi lấy nhan sắc. Tấm

gương ấy có lúc bị mây che khuất rồi mở lại. Huế cũng có những con đường “đi dăm phút lại quay về chốn cũ”. Tình nhắc nhở hoài như thế không sâu cũng thành sâu.

Được biết Lê Hữu Mục dạy tại Đại Học Văn Khoa Huế. Ông sống ở Huế, yêu Huế. Không hiểu sao ông chỉ một lần nói đến Huế như thế rồi thôi? Nhưng hỏi như thế mà chi? Hãy nghe lại “Mưa Rơi” của Ung Lang, nghe lại “Hẹn

Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục, nghe qua giọng Hà Thanh, qua giọng Quỳnh Giao. Chỉ những người sinh ở Huế mới hát ra hết được cái “chất Huế” tiềm ẩn trong các ca khúc đó. Những người khác hát cũng hay. Nhưng lại cũng hay theo một cách khác.

Hẹn Một Ngày Về

Về đây trong hoa lá

Hỡi cánh chim giang hồ

Về đây trong hương sắc

Thắm tươi say mơ

Huế lờ lững dòng Hương

Năm tháng còn vương

Lời ai mong chờ

Huế trong tiếng dịu êm

Cô lái bên sông

Còn vang lời thơ

Tình xưa không vỡ bao giờ

Mùa xưa còn thơm ngàn gió

Chiều hè về trong sương khói mong manh

Chờ người về trong hương thu trong xanh

Về đây trong hoa lá

Hỡi cánh chim giang hồ

Về đây trong hương sắc

Thắm tươi say mơ

Huế lờ lững dòng Hương

Năm tháng còn vương

Lời ai mong chờ

Huế trong tiếng dịu êm

Cô lái bên song

Còn vang lời thơ

Mùa hương hẹn đến khi về

Lòng xanh còn in trời Huế

Trầm trầm thuyền đem thương nhớ

qua sông

Chập chùng trời mây bay trong

mênh mông

Từ đây xa sông bến

Thuyền lướt theo trăng ngà

Trời đầy sương lạnh lẽo

Có ai bơ vơ

Gỡ tay vướng mà đi

Sông nước biệt ly

Người xa kinh kỳ ·

Giữa sương khói ngàn khơi

Đăm đắm trông ai cầu mong ngày vui

Quỳnh Giao

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

42. Lê Hoàng Long

Người ta bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó. Đọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca.

Dù đau lòng, xé ruột nhưng vẫn là tình ca. Bởi chúng ta hiểu rõ một điều, ở đâu tình ca biến mất, ở đó con người nhìn nhau không ra người nữa. Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa.

Để trả lời câu hỏi liên quan tới chuyện viết lách, một nhà văn nói rằng, đó là công việc ông làm được khá nhất trong những công việc của mình. Phải nhìn thấy Lê Hoàng Long đạp chiếc xe mini dọc ngã ba Ông Tạ gió thổi bụi mù, lúc chiều nhá nhem không còn đủ ánh sáng để đổ bóng xuống đường, phố xá chen chúc xe cộ và người qua lại, trong giỏ xe gác một chiếc hộp vĩ cầm cũ kỹ được cột lại bằng hai sợi dây thung, ông đi dạy đàn hay từ chỗ dạy trở về nhà, mái tóc bạc phơ phủ kín hai vai, mới thấy cái mà người ta gọi là “làm được khá nhất” trong đời mình để lại cho đời đáng quý biết ngần nào.

Một đời học nhạc, một đời chơi nhạc, dạy nhạc, sáng tác, cuối cùng chỉ để lại có một tác phẩm duy nhất, đó không phải là điều chúng ta nên lắng nghe sao?

Một bài hát? Một tác phẩm trọn vẹn? Người xưa đã có lúc than thở:

“Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu”

Ba năm mới làm được hai câu thơ.

Mỗi lần ngâm lên hai hàng nước mắt lại chẩy ra.

Vậy sáng tác một ca khúc cần bao nhiêu thời gian? Và làm xong rồi người ta được gì nhỉ? Nếu các nghệ sĩ không trả lời được câu hỏi ấy và ngừng sáng tác, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là tác phẩm cả.

Gợi Giấc Mơ Xưa

Ngày mai lênh đênh trên sông Hương

Theo gió mơ hồ hồn về đâu

Sóng sầu dâng theo bao năm tháng

Ngóng về đường lối cũ tìm em

Thương em thì thương rất nhiều

Mà duyên kiếp lỡ làng rồi

Xa em lòng anh muốn nói bao lời

Gió vương lả lơi

Hình bóng đã quá xa mờ dần theo thời gian

Kiếp sau xin chắp lời thề

cùng sánh bước lang thang

Em ơi tình duyên lỡ làng rồi

Còn đâu nữa mà chờ

Anh đi lòng vương vấn lời thề

Nhớ kiếp sau chờ nhau

Tha hương lòng luôn nhớ ngày nào

Cùng tắm nắng vườn đào

Gió xuân sang anh buồn vì vắng bóng người yêu

II

Rồi mai khi anh xa kinh đô

Em khóc cho tàn một mùa thơ

Nhớ người em nương theo cơn gió

Ru hồn về dĩ vãng mộng mơ

Thương em thì thương rất nhiều

Mà ván đã đóng thuyền rồi

Đa đoan trời kia cắt cánh lìa cành

Khiến chim lìa đôi

Chiều xuống mưa gió tiêu điều

gieo trên dòng Hương

Tháng năm chưa xóa niềm sầu

vì dứt khúc tơ vương

Em ơi đời đã lỡ hẹn thề

Thì đâu có ngày về

Xa em đời anh tắt nụ cười

Héo hắt đôi làn môi

Đêm đêm đèn le lói một mình

Ngồi ôm giấc mộng tình

Kiếp sau đôi tim hòa

Chào đón ánh bình minh

Không phải vì người thấy hoa đẹp mà hoa nở. Nở là việc của hoa. Cho là xấu hay đẹp và dùng hoa làm gì là việc của người. Một tác phẩm nghệ thuật cũng có ý nghĩa tương tự chăng?

Lệ Thu

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 18 Jun 2025

Chương 6.

Ngày xuất hành đã được ấn định, anh Hai nhắc anh Cả:

– Bác sửa soạn cho cháu đi, tôi sắp sửa cho thằng bên này rồi. Mai, tang tảng sáng, tôi dẫn hai đứa đến một tỉnh miền Nam chỗ chú nó ở. Tôi giao hai đứa cho chú nó muốn làm gì tùy ý.

Hôm ấy anh Cả ngồi rỗi, gọi thằng con lại, anh ngắmxem “cậu hai” có kham được nghề võ biền không? Nghe tiếng gọi, thằng bé vội vàng chạy lại, đứng trước mặt cha. Một đứa con trai, hình thù bé nhỏ, ẽo ợt, không có mẽ, nhút nhát, hơi một tí giật thót người, hai tay lúc nào cũng run run, lòng bàn tay ướt nhơn nhớt. Đứng trước mặt cha nó e lệ, sợ sệt, hai tay xun xoe xoắn lấy nhau, cúi gầm mặt, thỉnh thoảng ngửng đầu thật nhanh, liếc trộm rồi lại cúi gầm.

Anh Cả liếc mắt nhìn nó, lần đầu tiên nó đứng một mình, không có lũ trẻ xúm quanh mà cũng lần đầu tiên anh để ý biết rõ nó, anh nói:

– Giá mày là thằng lớn, thằng lớn là mày mới phải. Thằng kia nó còn có mẽ, ra hồn, có hy vọng một ngày kia làm ông tướng. Tao coi mày ngán quá, không biết liệu có leo nổi lên được con ngựa mà cưỡi không?

Nghe thấy cha nói, nó khiếp đảm, run bắn người vội vàng quỳ xuống đất, hai tay chắp lại, nó van lơn:

– Con nghe nói đi lính con sợ quá, con chỉ thích làm thầy đồ, con thích đọc sách. Con xin cho con ở nhà với mẹ con. Con không đòi đi học đâu con học lấy ở nhà cũng được. Con không dám quấy nhiễu gì xin cha tha cho đừng bắt con làm lính.

Về chuyện gửi thằng bé này cho chú nó, anh đã thề không nói hở cho ai biết hết, không biết làm sao anh cố giữ kín, mà câu chuyện vỡ tung ai cũng biết. Thực ra anh không giữ kín được việc gì. Khi nào anh nghĩ ngợi, mưu tính việc gì, anh thở phì phà phì phèo, thở ngắn thở dài, mồm lẩm bẩm, cứ nom cái điệu bộ anh là đoán biết hết bí mật tâm tư của anh. Anh đã nguyện nhất định không nói cho ai biết câu chuyện cho thằng bé đi theo chú nó, thế rồi anh đi bảo thằng bé lớn, đêm anh lại sang tai cô vợ lẽ, rồi anh lại đi nói với vợ cả, bắt buộc chị này phải đồng ý với anh. Anh tán dóc thế nào mà chị vợ yên chí cậu con trai ngày một ngày hai đeo lon đại tướng. Chị thích lắm song chị cũng biết thân hình bộ dạng con chị khó lòng làm đại tướng!

Thằng bé lớn láu lỉnh, nó làm ra bộ ngớ ngẩn, lù đù, nó biết nhiều cái mà không ai ngờ tưởng, nó trêu chọc chế nhạo thằng nhỏ:

– Tao biết hạng mày họ chỉ cho làm lính có biết không, làm lính để hầu ông chú hung tàn.

Thằng nhỏ tính nhát lắm, thấy cắt tiết gà cũng chạy thật xa, nôn mật xanh mật vàng. Nó không ăn được thịt vì dạ dày bé quá, tiêu không nổi. Nghe thằng lớn nói thế, nó khiếp đảm tinh thần, nó không biết nghĩ làm sao, lo quá, suốt đêm không ngủ được, lúc nào cũng nơm nớp sợ có ai gọi đến tên mình. Khi mới nghe bố nói, nó run bắn người, vội quỳ xuống năn nỉ. Thấy con quỳ xuống, thảm thiết van lơn, anh phát cáu, anh là một hạng người đầu óc rắn chắc như đầu lừa. Khi anh có quyền thịnh nộ, anh hét ầm dẫm chân xuống đất thình thình:

– Không phải nói lôi thôi, mày phải đi, một dịp may tao không bỏ lỡ được. Thằng bên kia cũng đi, đi sung sướng chứ làm sao? Giá tao bằng tuổi mày, có dịp may thế thì sướng biết mấy. Ngày xưa bằng tuổi mày, không có việc gì, ông bắt tao xuống miền Nam, tao cũng phải xuống, tao đã ở đó ít lâu sau bà mất, ông mới lại cho tao về. Tao không dám trái ý cha mẹ bao giờ, tao tiếc lúc tao trẻ không có dịp may như mày, có ông chú có địa vị, nấp vào đó sau này được thế kia thế khác. Nói xong anh ngồi thừ người, thở dài thườn thượt, anh nghĩ giá thủa bé mình lại có cơ hội may như thế này, bây giờ oai biết mấy. Anh hình dung một ông đại tướng, mặc chiếc áo khuy đồng to sáng lóe, chễm chệ cưỡi con ngựa chiến. Mình, thân hình, mặt mũi to lớn, đóng đại tướng thì đúng quá. Anh nghĩ rồi thở dài, ngoảnh lại nhìn con:

– Ý tao muốn cho một đứa khác hơn mày nhưng không có đứa nào vào tuổi mày. Thằng lớn, nhất định không ra khỏi nhà được, nó sẽ là kế tự tao sau này. Bây giờ ở nhà, trên có tao rồi đến nó. Thằng em mày lại có tật, có bướu ở lưng, còn thằng nữa bé quá còn phải ẵm phải bế, duy còn mày, nhất định là phải đi, khóc vô ích.

Nói xong anh đi thẳng vào buồng, không muốn để thằng bé mè nheo. Thằng bé con anh Hai tính nết lại khác hẳn, vui vẻ, lém lỉnh, đùa nghịch suốt ngày.

Năm được ba tuổi nó lên đậu mùa, bây giờ mặt nó lỗ chỗ, nên tất cả mọi người, cả cha mẹ nó, ai cũng gọi là thằng rỗ.

Cha nó gọi lại, bảo:

– Xếp mấy cái quần áo của mày, gói lại sáng mai tao đưa xuống Nam, giao cho chú mày, cho làm lính.

Mới nghe có thế, nó sướng quá, tung tăng, nhảy múa. Tính thằng này hay thích cái gì mới lạ, nó mà được coi cái gì lạ nó đi khoe khắp nhà, khắp xóm.

Mẹ nó, lúc đó đứng ở cửa bếp đang mải quấy một soong gì trên bếp lò, mới thoáng nghe có cậu “Đi xuống Nam” vội ngửng đầu nói lớn:

– Bố con bàn định xuống Nam, làm gì? Lại đem tiền đi tiêu nhảm!

Anh chồng cố hết sức giảng giải, chị vợ vừa nghe tay vừa quấy cái soong, hai mắt mải nhìn không chớp, con bé ở ngồi gần đó đang mổ gà. Chị chỉ lo con bé này, có thể lắm, giấu bớt đi ít gan hay buồng trứng non. Thật ra chị nghe thủng có mấy câu:

“Kể ra cho nó đi cũng hay! Nhưng tôi vẫn chưa hiểu, chú Ba nó viết thơ cam đoan thằng bé sau này sẽ khá, có địa vị cao sang. Nhà mình có thằng rỗ lớn có thể cho đi được, còn mấy đứa kia bé quá. Bên anh Cả cũng cho một đứa đi”.

– Ừ, nếu chú ấy có thể lo lũ trẻ nhớn có danh có giá hẳn hoi, tôi cho hết tụi nó đi. Chẳng kẻo sau này con cả bên kia lại không dài mồm khoe con chị làm tướng, làm tá. Thằng rỗ cho đi được, thằng này hóm lắm. Việc buôn bán, mấy đứa bé lớn lên cũng vừa.

Sáng sớm hôm sau, anh Hai dắt hai đứa đi. Đứa nào cũng đem theo quần áo hành lý. Thằng con anh Cả tính cầu kỳ, cẩn thận xếp quần áo vào một cái tráp bọc da. Tuy mắt hãy còn đỏ ngầu vì khóc, nó cũng cố chờ, để ý xem thằng ở xách cái tráp có cẩn thận không hay lại xách ngược, quần áo,

sách vở đổ lổng chổng cả ở trong. Thằng con anh Hai không có sách vở gì, chỉ có mấy cái quần áo, gói vào khăn xanh đeo ở vai, vừa đi vừa chạy, thấy cái gì cũng kêu, cũng nói ầm đường. Hôm ấy là một ngày đầu xuân, trời mát mẻ. Mới sáng, phố xá đã đông đúc, nhà quê lũ lượt gánh rau cỏ, hoa quả lên

bán, người mua kẻ bán đầy đường. Từ thủa mới đẻ đến giờ, lần này nó mới được đi xa. Sáng dậy mẹ nó đã làm cho một món ăn lót lòng, no nê vừa ý lắm. Nó sướng quá, vui thích quá. Thằng kia đi thủng thẳng, bệ vệ. Nó đi, đầu cúi gầm chẳng buồn nhìn thằng bạn đồng hành, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm đôi môi xám xịt, nó làm như thể môi nó khô lắm. Anh Hai cùng đi với hai đứa trẻ. Vừa đi vừa suy nghĩ công việc của anh, anh không phải người chăm nom săn sóc, để ý đến con trẻ. Đi một lúc lâu đến cửa Bắc, thấy có những thứ xe chở than củi cho thuê, anh mặc cả một chiếc, được giá, trả tiền, cả ba lên xe ngồi.

Thằng con anh Cả vừa xấu hổ, vừa bực mình, chú nó tham rẻ nên thuê cái xe khổ. Chú nó tưởng cái xe này cho hai thằng nhỏ ngồi là tốt lắm rồi, nên mới thuê cái xe thổ tả ngồi cùng với tụi khố rách áo ôm sặc sụa mùi tanh mùi tỏi, quần áo gớm chết, đến một đời không giặt giũ. Nó mặc chiếc áo vóc lam lại phải chịu ngồi chung ở đó. Nghĩ như thế nhưng không dám mở mồm than phiền, sợ chú nó nhiếc mắng. Nó lặng thinh, ngồi yên để cái tráp da ở giữa nó ngồi một bên, một thằng bé nhà quê nào ngồi một bên. Mặt nó buồn thỉu buồn thiu, nhìn thằng bé ở xách tráp đứng ở dưới xe sắp trở về. Nó buồn quá chẳng nói năng, dặn dò gì thằng ở. Hai bố con anh Hai, tươi tỉnh vui vẻ lắm. Sáng nay, rửa mặt xong, anh chọn chiếc áo vải bông, anh nghĩ nên mặc thế này, nếu mặc sang, thằng Ba nó tưởng giàu lắm.

Còn thằng rỗ, áo vóc, áo lụa không có, chỉ có vài chiếc áo vải bông mẹ nó khâu to mi, may rộng thùng thình còn hòng nó lớn.

Anh Hai giương mắt nhìn thằng cháu, anh bảo:

– Đi xe cả ngày, không nên mặc áo đẹp quá, thế này, cháu nên cởi áo ngoài ra, gấp lại cất vào tráp, mặc áo cánh trong cũng được rồi. Mặc thế đỡ hại quần áo, cháu ạ.

Thằng bé con lẩm bẩm nói khẽ:

– Tôi còn nhiều cái đẹp bằng vạn, cái này đồ bỏ, vẫn mặc thường ở nhà. Tuy lẩm bẩm thế song không dám trái ý chú, nó đứng dậy cởi áo, xếp gấp vào tráp. Hôm ấy, ngồi xe suốt ngày anh Hai được dịp ngắm phong cảnh đồng ruộng, phố phường, chỗ nào cũng gật gù khen đẹp khen tốt. Thằng con thấy cái gì đẹp, lạ là reo cùng đường. Đến chỗ nào xe đỗ, có hàng quà bánh, thằng con đòi ăn, bố hà tiện nhất định không mua. Còn thằng kia mặt tư lự, lo lắm, thấy tim như hơi đau đau vì xe đi nhanh quá, tựa đầu vào cái tráp không nói một câu và không ăn một tí gì.

Hai hôm sau đi đường thủy trên một chiếc tàu nhỏ, đông nghẹt người, tàu chạy qua biển. Sáng sớm hôm thứ tư tàu cập bến, một tỉnh miền Nam chỗ chú Ba đóng, ở dưới tàu bước lên bờ, bọn này đứng cả vào một chỗ, anh Hai gọi hai chiếc xe kéo, một chiếc cho hai thằng nhỏ, anh ngồi một chiếc. Người phu xe kéo hai thằng nhỏ càu nhàu phải kéo một thành hai; anh bảo cứ kể hai mãi, anh thử coi có phải hai thằng bé con không, một thằng xanh lướt như tàu lá, nhẹ bổng, đi tàu đi xe lại bị xuống cân. Mặc cả đi mặc cả lại, cò kè, anh phải chịu trả thêm cho một ít, anh nghĩ vẫn còn lợi hơn thuê một chiếc xe nữa. Hai người phu xe cắm đầu chạy, anh Hai đã dặn họ rõ tên phố và tên căn nhà.

Đến nơi, hai chiếc xe ngừng lại, anh Hai ngồi trên xe, móc hầu bao lấy một mảnh giấy, so chữ ở mảnh giấy và chữ ở trên tường nhà có đúng không, anh thấy hai bên đúng cả, bảo xe đỗ.

Xuống xe, bảo hai thằng nhỏ xuống, anh còn kỳ kèo với hai phu xe từ bến tàu đến đây có một tí đường, anh nhất định bớt tiền không chịu trả đủ, anh xách một đầu cái tráp, hai đứa xách một đầu, đi vào căn nhà, phải bước qua bực gạch có hai con sấu đá. Anh không để ý, ở cạnh con sấu đá có một anh lính bồng súng đứng gác cổng.

Anh lính hét to:

– Đứng lại. Các chú tưởng vào đây như vào nhà các chú hở?

Nói xong, anh nhắc khẩu súng ở vai đặt đánh rầm xuống nền gạch.

Mặt anh lính nom hung hăng dữ tợn quá, cả bọn này trông thấy hết hồn hết vía. Thằng con anh Cả run nẩy người, thằng rỗ đứng yên, không dám cười nói nhăn nhở, nó chưa từng đứng gần họng súng bao giờ. Anh Hai vội vàng móc ở hầu bao lá thơ, vừa đưa cho anh lính vừa nói:

– Thưa, cả ba chúng tôi, tên có ghi ở trong giấy này.

Anh lính gác mù chữ, vội kêu anh lính khác lại. Anh này lại gần ngắm bọn này từ đầu đến chân, vừa nghe anh Hai giải thích, anh giật lấy lá thơ, anh lính sau này cũng mù chữ, liếc mắt nhìn lại bọn này, xách thơ đi thẳng vào. Một lúc, anh lính trở ra, lấy ngón tay ngoắc ra hiệu cho vào, và nói:

– Được. Người nhà ngài đại đội trưởng, cho vào.

Đi theo anh lính dẫn đầu, bọn này xách tráp vào, bước qua bực gạch có con sấu đá, anh lính gác cổng vẫn gờm gờm, nghi ngờ không biết có thực đúng không? Đi qua đến mười cái sân, cái nào cũng đầy nhóc những lính, bọn này ăn, bọn kia uống, có anh cởi trần trùng trục ngồi phơi nắng bắt rận, có anh nằm ngủ ngáy khò khò. Mấy người đi đến một ngôi nhà trong cùng, gian chính giữa là văn phòng của ngài Đại đội trưởng.

Vương hổ tướng đang ngồi ở bàn giấy, mặc bộ binh phục đẹp lắm bằng một thứ vải ngoại hóa, màu lá cây xanh sẫm, những chiếc khuy đồng to, bóng loáng có khắc chữ nổi. Trông thấy người nhà, ngài đứng dậy kêu lính đem

rượu và dọn bàn ăn. Đứng dậy lại gần anh, nghiêng mình chào; anh Hai vội

vàng đáp lễ và bảo hai đứa trẻ chắp tay chào chú. Thi lễ xong cả bọn phân theo cấp bực an tọa. Anh Hai ngồi chính giữa, cạnh anh là Vương hổ tướng, hai đứa trẻ ngồi hai bên. Người lính hầu đem rượu tới rót vào cốc bày trên bàn trước mặt. Vương hổ tướng đưa mắt nhìn hai thằng nhỏ, cất giọng cục cằn rắn rỏi:

– Thằng này da dẻ khỏe mạnh, nhưng mặt rỗ chằng rỗ chịt liệu có tinh khôn không? Coi như thằng hề, ở đây tôi ghét nhất bông lơn, chớt nhả, ở đây phải nghiêm. Thằng ấy con anh phải không. Tôi coi thằng này hao hao giống mẹ nó. Còn thằng kia, anh Cả chỉ gửi có thằng này thôi à? Nghe nói đến mình, thằng bé con anh Cả người đã xanh, lại tái thêm, nó cúi gằm đầu xuống, một giọt mồ hôi đọng ở môi trên, nó lén chùi, mặt tuy cúi nhưng thỉnh thoảng vẫn ngước mắt nhìn trộm.

Ngài Đại đội trưởng nhìn hai đứa trừng trừng, con mắt dữ quá, ngó phát sợ. Thằng rỗ xưa nay vui vẻ tự nhiên lắm, ngó thấy cũng khiếp đảm tinh thần, nó không biết đưa mắt nhìn đi đâu, hay có thể nào mà độn thổ, nó ngó bên này, ngó bên kia, hai chân lắc lư, không còn biết làm gì, cắn móng tay.

Anh Hai hiểu ý, nói có ý khẩn nài, xin lỗi:

– Chú ạ! Quả thực chỉ có hai đứa này là lớn, ở nhà, tôi và anh Cả vẫn lo lắm không biết chú có rộng lòng thương kết nạp cho không? Thằng con lớn anh Cả, hiềm một nỗi lại là con kế tự, thằng thứ ba có tật, có bướu ở lưng. Thằng Rỗ là con đầu lòng của tôi, em nó thì bé quá. Thực ra chỉ có hai đứa

này khả trợ cho đi theo hầu chú.

Ngài Đại đội trưởng ngắm nhìn cháu, truyền cho tên lính hầu dẫn hai thằng này sang phòng bên, lấy cơm cho chúng ăn, mà khi nào có lệnh mới được cho chúng vào. Thằng con anh Cả chưa chịu đứng dậy đưa mắt nhìn

anh Hai, ý cầu khẩn, van lơn.

Vương hổ tướng thét lên:

– Làm sao chưa đi? Còn chờ gì?

Thằng bé lắp mãi mới nói được một câu.

– Thưa … Thưa … cháu còn cái … tr … áp … tráp …

Vương hổ tướng nhìn thấy ở xó cửa có cái tráp da, nói với giọng mỉa mai, khinh bỉ:

– Cho đem vào, bao nhiêu quần áo xếp lại để một chỗ. Mặc quần áo khác, quần áo lính. Ra trận mạc, phải gọn ghẽ không mặc lùng thùng được.

Thằng nhỏ mặt đang tái xanh bỗng đỏ ửng như gấc chín, lủi thủi ôm tráp theo anh lính sang phòng bên. Vương hổ tướng ngồi yên một lúc lâu, không nói năng gì, con nhà võ ít nói, vụng, không biết xã giao phù phiếm.

Anh Hai khơi mào, hỏi:

– Chú có cái gì mà nghĩ ngợi lung thế, hay là về chuyện hai thằng nhỏ?

– Không phải, tôi nghĩ nhiều người vào trạc tuổi tôi đã có con trai lớn. Coi thật sướng mắt.

Anh Hai tủm tỉm cười nói:

– Giá chú chịu lấy vợ sớm, chú kém gì ai. Tất cả nhà chẳng biết chú ở đâu, trước thầy cũng định lo vợ cho chú nhưng biết chú ở đâu mà gọi về. Bây giờ tôi và anh Cả sẵn lòng giúp chú, tiền nong đã sắp sẵn rồi, cái đó không đáng

kể.

Vương hổ tướng gạt ngay vấn đề vợ con, anh nói:

– Xin anh đừng lấy làm lạ, tính tôi không thích đàn bà, mà cũng lạ thật, tôi không quen biết một người đàn bà nào bao giờ.

Nói đến đây anh ngừng lại, người lính bưng mâm cơm vào. Hai anh em ngồi im không nói gì nữa. Cơm nước xong, mâm bàn đã dọn, khay nước trà đem lên. Anh Hai muốn hỏi em định làm gì hai đứa trẻ và tiền, anh chưa tìm được câu hỏi có văn vẻ. Vương hổ tướng đã cất lời nói trước:

– Anh em mình ruột thịt, có lẽ hiểu biết nhau hơn, vậy tôi nói thật ý định của tôi và nhờ anh vui lòng giúp hộ nhé.

Anh Hai nhấp một ngụm trà, trả lời rất khôn ngoan, dịu dàng:

– Được, chú cứ tin ở tôi, anh em mình cả mà. Nhưng tôi muốn biết rõ công việc của chú thế nào mới biết đường giúp chú chứ!

Vương hổ tướng nghiêng đầu về phía trước, những ý nghĩ, tư tưởng cuồn cuộn như thác đổ qua lời nói, hơi thở như gió nóng đốt tai anh Hai:

– Ở đây tôi có độ hơn một trăm tên, toàn là tâm phúc cả, bọn họ chán ghét lão tướng già. Tôi cũng ngán hắn lắm. Tôi muốn tránh cho xứ mình không lọt vào tay hạng quái quỷ đó. Tụi lính ở đây toàn là bọn có thể tin cậy được, một đêm gần đây tôi sẽ ra lệnh cho kéo đi hết nhắm hướng Bắc thẳng tiến. Phải về mạn Bắc, núi non hiểm trở, chúng tôi tiến thật xa, tìm địa điểm, lập thế trận, nếu quân lão già đuổi theo. Nhưng tôi chắc lão già không thể làm gì được, hắn già lắm, hắn chỉ chăm lo có ba việc: ăn, uống và gái. Bọn lính của hắn, tên nào khá nhất, khỏe mạnh ở cả đây rồi. Tụi này không phải dân miền Nam, họ là người tứ xứ, dữ tợn và gan dạ.

Anh Hai vốn là một người thân hình nhỏ nhắn, hiền lành, chất phác, một anh lái thóc. Anh cũng có nghe, một đôi khi nói đến trận mạc, đánh nhau, xưa kia lúc anh hãy còn bé, đã có một lần lính đến đóng đầy nhà ông già anh. Thực ra anh chưa hiểu chiến tranh là thế nào, bắt đầu thế nào mà lúc hết thế nào? Anh chỉ biết rõ là chiến tranh ở gần vùng nào, giá thóc ở vùng ấy tự nhiên cao vọt lên. Khi lính tráng, trận mạc kéo đi xa, giá thóc sụt hẳn xuống. Anh chỉ quan niệm chiến tranh có thế, bây giờ chiến tranh lại chính người nhà mình khởi xướng thì lợi biết mấy. Anh nghe xong há hốc mồm nhỏ xíu của anh, giương to đôi mắt tý hin, anh thì thào nói:

– Như thế chú định bảo tôi giúp chú thế nào, tôi hiền lành có biết đánh đấm ai bao giờ.

Vương hổ tướng nói, hai hàm răng rít lại nghe ken két như sắt cọ vào sắt:

– Làm cái đó, tôi cần rất nhiều tiền, tất cả phần gia tài của tôi, lại còn phải vay thêm của anh, lãi nhẹ thôi, cho đến khi tôi lập được căn cứ.

Anh Hai nín thở, khẽ hỏi:

– Thế chú có gì làm bảo đảm?

Image from the Net collected by Sơn râu

– Anh cho tôi vay tất cả tiền anh hiện có và tất cả hoa màu ruộng đất của anh, đem cho tôi vay hết cho đến ngày tôi lập được một đạo quân hùng mạnh, tôi đặt đại bản doanh ở một địa điểm nào ở phương Bắc. Tôi sẽ cai quản cả một khu vực rộng lớn, khi đã có căn cứ sào huyệt vững chắc, tôi sẽ

bành trướng bờ cõi, đem quân chinh phạt, uy quyền mỗi ngày mỗi lớn, thế lực mỗi ngày một mạnh.

Nói đến đây chàng ngừng lại, cặp mắt lim dim, trong trí óc hiện lên một ngày mai huy hoàng chói lọi, một cõi biên thùy rộng lớn nghênh ngang.

Anh Hai ngồi yên chờ nghe nốt câu chuyện ra sao, thấy ngừng lâu quá, anh vội hỏi:

– Thế rồi, thế nào nữa đến bao giờ …

Vương hổ tướng như vừa sực tỉnh giấc mộng, nghe hỏi vội trả lời, tiếng nói hùng dũng, như sấm sét vũ bão:

– Đánh mãi, đánh tận cùng cho đến một ngày, trong nước, không còn ai lớn hơn tôi nữa.

– Thế lúc đó chú sẽ làm chức gì?

– Làm gì cũng được, tùy ý tôi.

Mày tằm dựng ngược, chàng đập mạnh tay xuống bàn đánh rầm, làm anh Hai ngồi đó giật nẩy người. Hai mắt giương to, trừng trừng nhìn thẳng vào mặt anh, anh Hai ngồi yên không dám nói năng hỏi han gì.

Thật là lần đầu tiên trong đời anh, anh mới được nghe chuyện lạ lùng kinh khủng quá sức tưởng tượng của anh, không bao giờ, không có thể nào anh nghĩ đến, một việc tày trời ấy.

Mộng tưởng của anh là cuối ngày ngồi tính sổ xem lỗ lãi thế nào, cố làm sao buôn bán mỗi ngày phát đạt, tiến hơn. Anh ngắm nhìn em, thân hình to lớn, mặt rắn như sành mắt long sòng sọc như mắt cọp, lông mày rậm rì, tua tủa

như hàng cờ nhỏ cắm trên mắt.

Tuy nhiên, anh thấy em tướng mạo uy nghi lẫm liệt, anh cũng mừng thầm may ra có phận nhờ, nhưng anh thật tình sợ quá, không dám hé răng, bàn ngang nói dọc sợ lỡ lời. Con người quả cảm, hiên ngang dũng mãnh phát lộ ở hai con mắt nhìn phát sợ.

Dù sao anh vẫn cẩn thận, trước hoàn cảnh nào, trong trường hợp nào anh cũng cố giữ được tính đó. Ho vài tiếng, nhẹ nhàng, anh hỏi:

– Thế công việc của chú, nhờ trời thành công, liệu như tôi, và tất cả nhà ta, có được hưởng gì không nhỉ?

Vương hổ tướng, đưa mắt nhìn vào thực tế, trang nghiêm trả lời:

– Anh tưởng khi tôi đã đạt chí nguyện, đến chỗ tột bực cao sang, tôi quên họ hàng, anh em ruột thịt sao? Các anh là anh ruột tôi, con các anh chẳng phải là cháu ruột tôi ư? Cổ kim chưa từng nghe nói một người được hiển hách, cả họ lại không được nhờ sao? Anh thử nghĩ sau này anh là thế nào,

anh là anh ruột … vua!

Nói xong đưa mắt nhìn thẳng anh.

Anh Hai nghe nói, anh ngờ ngợ tưởng như chuyện thần thoại kỳ khôi.

Anh trở về thực tế.

– Phần gia tài của chú, bán được bao nhiêu tôi sẽ gửi. Còn tiền vay, tôi cố hết sức có bao nhiêu sẽ đưa chú vay, nếu quả thực như lời chú nói làm nên thế kia thế khác. Thiên hạ cũng nhiều người có chí lớn, dọc ngang tung hoành sau rốt cuộc cũng chẳng nên cơm cháo gì. Được rồi, chú cứ yên chí,

thể nào ít nhất sẽ nhận được phần gia tài của chú.

Một tia sáng lóe qua mắt Vương hổ tướng. Chàng ngồi phịch xuống ghế, cắn chặt môi rít răng nói:

– Tôi biết … anh khôn ngoan ghê lắm!

Giọng nói lạnh buốt mà sắc như dao bén anh Hai nghe hết hồn vội vàng nói chữa:

– Chú tính, tôi còn một lũ con dại, mẹ các cháu hãy còn trẻ mà sòn sòn mắn quá, tôi cũng phải lo cho lũ cháu, chú chưa lập gia đình chưa rõ bao nhiêu người trông cả vào một người; vấn đề ăn mặc, mỗi năm mỗi tốn mà càng ngày càng đắt đỏ.

Vương hổ tướng ngoảnh mặt nhún vai, nói giọng vô tư lự, vô gia đình.

– Cái đó tôi không cần biết đến. Anh để tai nghe, tháng tháng tôi sai một người tâm phúc, có tín nhiệm, thằng sứt môi, để anh dễ nhận ra ngay, anh có bao nhiêu tiền giao cho hắn. Về bán ngay lập tức, ruộng đất của tôi. Mỗi tháng tôi cần vào khoảng một ngàn nén.

Anh Hai như người nghẹt thở, rụng rời:

– Một ngàn nén, chú làm gì tiêu nhiều thế?

– Tôi phải nuôi hàng trăm người, lại còn quân trang, võ khí. Muốn tăng cường quân đội cần phải có súng, phải mua, nếu chưa có chiến lợi phẩm.

Chàng nói nhanh lắm. Thình lình, nổi cơn phong ba, nói như gầm thét, đập mạnh tay xuống bàn:

– Anh không có quyền lục vấn lôi thôi. Tôi biết công việc của tôi phải làm, phải cần tiền cho đến một ngày lập được vương nghiệp. Lúc đó tôi đánh thuế dân, tùy ý tôi. Hiện giờ cần phải có tiền, anh cố giúp tôi sẽ được trọng thưởng. Nếu anh trái lời, cưỡng ý tôi, xin anh đừng oán, tôi có thể quên

ngay tình cốt nhục!

Nói xong chàng chõ mặt vào mặt anh Hai, anh này thấy cặp mắt dữ quá, với cặp lông mày rậm rì anh toát mồ hôi húng hắng ho vài tiếng, nói:

– Vâng! Vâng!Tôi xin tuân ý, anh em mình, huyết nhục chi tình mà … thế chú định bao giờ gửi tiền?

– Khi nào bán xong ruộng đất, chứ bao giờ!

Anh Hai choáng váng cả người, vừa nghĩ vừa nói:

– Mùa lúa, vài tháng nữa mới gặtđược.

Vương hổ tướng nói:

– Nghĩa là phải chờ đến lúc đó mới có tiền phải không?

Thế bây giờ anh có thể bán tạm cái gì trước, rồi chờ đến mùa lúa chín! Anh Hai thấy cơ sự như thế, không dám trái ý ông em kỳ quặc, mà dữ như cọp. Anh cũng lo cho tính mạng mình, nghĩ dù sao cũng phải bán ruộng đất chứ không xong, anh đứng dậy xin cáo từ:

– Vì việc của chú cấp bách, tôi phải trở về ngay tính toán công việc ra sao, thu hoạch gặt hái, đồng tiền tiêu chóng hết lắm. Tôi cũng cần thu xếp với bọn nông phu ở nhà, ruộng bán đi, họ làm bằng gì?

Anh cố làm sao bước chân ra khỏi hang hùm, xung quanh những người mặt dữ như beo, như cọp, súng ống gươm dáo ngổn ngang. Trước khi từ giã, anh dòm sang phòng bên có hai thằng nhỏ ở đó, thấy hai thằng ngồi trước một cái bàn trên bày những món ăn, những món ăn thừa mà Vương hổ tướng vừa thết anh hồi nãy. Con anh đang và cơm, ăn uống ngon lành lắm. Cậu con anh Cả, tính kiêu kỳ, không thích cơm thừa canh cặn, nhấp nháp làm vì.

Anh bâng khuâng nhớ hai đứa trẻ quá, nhất là thằng con anh, anh nghĩ không biết hay hay dở đem tống hai đứa  trẻ vào chốn này. Nhưng sự đã rồi, còn biết làm sao. Nhìn hai đứa trẻ lòng buồn rười rượi, anh dặn lại:

– Thôi tao đi về nhé, hai đứa ở lại đây với chú mày. Liệu mà ăn ở nhé, coi chừng đừng có trái ý, chú mày dữ tợn và nóng nảy lắm. Hai đứa chịu thương chịu khó chú mày bảo gì theo thế, may ra sau này sẽ được nên người. Số của chú mày có địa vị cao sang lắm đấy!

Nói xong anh quay phắt người đi ra, không muốn nhìn con, nhìn cháu, nghĩ nhớ và thương quá, lòng dạ nao nao.

Anh lại nghĩ cho khuây:

– Tụi trẻ ít khi có một cơ hội tốt như thế này. Chắc chúng nó chẳng đến nỗi làm binh nhì, thế nào chú nó cũng cho một cấp bực kha khá và có khi hơn nữa nếu chú nó công thành danh toại. Anh nghĩ cũng nên cố giúp em, vả chăng con mình cũng ở đây, mà biết đâu sau này cũng có phận nhờ.

Thằng con anh Cả thấy chú sắp đi, òa lên khóc, khóc thét, anh Hai vội vàng rảo bước đi ra. Đi qua mấy cái sân còn nghe tiếng khóc, ra đến cổng có hai con sấu đá mới bặt tiếng khóc. Thật hú vía! Ra khỏi nơi hang hùm.

Cơ cấu tuỳ hứng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 23/04/2016 
Post by Sơn râu 17 Jun 2025

Chó giữ nhà chồm ra sủa
Nhe nanh trắng nhọn những hai hàm
Gia chủ khoan thai cười nụ nhỏ:
Ngó rứa chớ không có răng mô
Cứ tỉnh queo đừng sợ, hỉ!
Tổ cha mi răng ưa doạ người hiền
Chó vẫy đuôi liếm lưỡi nằm nín khe

Cá chết dạt trắng cả bờ bãi
Về kho tộ nấu canh chua vô tư đời thường
Bộ trưởng nói no star where
Hàng Trung quốc bán tràn đìa ngoài chợ
Ta khẳng định chuyện an toàn thực phẩm
Ngay rau rác biết ngâm tẩm độc hại
Ăn vào rồi có chết thằng Tây nào đâu

Không răng mô chỉ thấy sao vàng nhiều vãi
Ngắc ngư vô bệnh viện nêm cứng như hộp cá mòi
Đời trôi hiu quạnh bên ngoài cửa
Màn trời chiếu đất thiếu phong bì
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi.

Nếu trước đây tôi công tác
trong đội cảnh sát cơ động như nó
giờ này buồn tình tôi mài dao bén
vui tay chém chết bốn người
Quan toà phán ný nịch anh này nhân thân tốt
chế độ ta đâu nỡ để ảnh chịu án tử hình.

Nếu tớ kiếm ra 22 triệu đồng nhỉ
tranh thủ bay về bển một chuyến
để được vinh danh Trí Thức Việt Nam
sách xưa bảo: Có tiền mua tiên cũng được
và thằng Mao chủ tiệm cũng đã ngôn:
Trí thức không bằng một cục phân.

Rãnh rỗi sinh nông nỗi dệt ước mơ
chứ thực bụng cũng tường mười mươi:
Nếu cứt bán được tiền
những đứa nghèo sẽ không có lỗ đít.

Cho tôi nói chuyện thơm tho lần cuối
Phải tốn bao nhiêu triệu đồng
để mua chức danh thằng người tử tế
Mình cũng chui ra từ trăm trứng vỡ
xin đừng gạt khúc ruột ngàn dặm này nha

Về mua danh phận cực đỉnh
thì việc trước tiên mày nên câm mồm đi
cạnh khoé láo lếu ông đón ngay phi trường
ông cho nhập kho
ăn cá chết mút mùa lệ thuỷ, nhớ?

Hồ Đình Nghiêm