Người bạn học và Ông Thầy cũ

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 20 Jun 2025

Đơn vị tôi, dù đã tạo được những chiến thắng lẫy lừng trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, để có một “Kontum Kiêu Hùng” và giữ vững được Tây Nguyên, nhưng có chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu xương chiến sĩ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến tranh leo thang, ngày một khốc liệt, đơn vị cần được khẩn cấp bổ sung quân số, từ cấp đại đội trưởng cho đến khinh binh. Số lượng sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp ở các quân trường không đủ, nên Bộ TTM phải ban hành kế hoạch “đôn quân”, đưa những quân nhân phục vụ lâu năm từ các tiểu khu, các quân trường, trung tâm huấn luyện, ra bổ sung cho các đơn vị tác chiến đang thiếu hụt quân số.

Tháng 5-1973. Thời gian này tôi đang đảm trách một phần hành tại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Trong lần đơn vị tiếp nhận một số khá đông sĩ quan và hạ sĩ quan, tôi bất ngờ nhận ra trong số những người đang xếp hàng trình diện ông Trung Đoàn Trưởng có một người bạn học khá thân và một vị giáo sư thời trung học ngày xưa. Thằng bạn mang cấp bậc đại úy – tôi đã biết từ trước, nhưng điều đặc biệt làm tôi ngạc nhiên là ông thầy chỉ mang cấp bậc trung sĩ nhất. Thoáng có một chút ngờ vực, tôi bước tới gần ông hơn để chắc chắn là trí nhớ của mình không tệ lắm.

Chờ thủ tục trình diện xong và sau khi ông Trung Đoàn Trưởng dặn dò vài điều cần thiết, tôi chạy đến ôm chầm lấy người bạn và kéo đến gặp ông thầy còn đang đứng ngơ ngác trong hàng. Thằng bạn không nhớ ông thầy, có lẽ nó chỉ học với ông một vài tháng ngắn ngủi. Và dường như ông thầy cũng chưa nhận ra tôi, nên vội đứng nghiêm đưa tay lên chào. Tôi kéo cả hai người vào một căn hầm lớn được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nơi tôi đang làm việc.

Đỗ Bê, bạn tôi, quê ở trên Thành – Diên Khánh.  Học cùng lớp với tôi những năm đệ nhất cấp bên trường Văn Hóa.  Lớn hơn tôi một tuổi, đẹp trai, tính tình hiền lành và rất hiếu học. Bê và người bạn cùng quê, anh Phan Ái Minh, cũng là bà con họ hàng, thuê một căn nhà nhỏ ở sau khu đình Phương Sài trọ học. Tôi thường đến đây chơi với Bê, nên sau này cũng trở nên thân thiết với Minh. Sau khi đỗ trung học, Bê và tôi cùng vào đệ tam trường Võ Tánh. Bê học Ban A còn tôi Ban C. Phan Ái Minh thì học ở đây từ trước và trên bọn tôi một lớp. Sau này, cả ba thằng đều đi lính.  Phan Ái Minh vào Khóa 20 trường Võ Bị Đà Lạt, còn Bê và tôi vào Thủ Đức.  Minh nhập học Võ Bị trước một năm nhưng ra trường sau tôi sáu tháng. Ra trường Minh được bổ sung về cùng trung đoàn với tôi, nhưng khác tiểu đoàn. Một tháng sau, khi tôi còn đang hành quân trên Lâm Đồng thì nghe Minh tử trận ở Lạc An. Hai đứa đã hẹn nhau trong hệ thống vô tuyến, để rồi vĩnh viễn không bao giờ gặp lại.

Đỗ Bê vào Thủ Đức sau tôi một khóa. Ra trường được bổ sung về làm huấn luyện viên tại Trung Tấm Huấn Luyện Lam Sơn – Dục Mỹ. Sau đó, tôi chỉ gặp Bê một lần duy nhất vào cuối năm 1970, khi bạn tìm đến thăm tôi đang nằm điều trị vết thương tại Quân y Viện Nguyễn Huệ, mang cho tôi ít đồ dùng, một xâu nem Ninh Hòa và mấy lon bia. Bê dìu tôi ra chiếc ghế đá phía sân sau, vừa uống bia vừa nghe tôi kể chuyện chiến trường. Thấy tôi hành quân vất vả, bị thương mấy lần, nó an ủi, bảo là số nó nhiều may mắn hơn tôi.

Thầy tôi, giáo sư Hồ Đắc Huế, là ông thầy đầu tiên khi tôi bắt đầu bậc trung học. Năm 1958 tôi thi rớt vào lớp đệ thất trường công lậpVõ Tánh. Ngôi trường nổi tiếng vùng duyên hải miền Trung. Buồn và xấu hổ với đám bạn bè cùng quê, nhất là hối hận vì đã làm cha tôi thất vọng. Thời ấy ở quê tôi chưa có trường trung học nào. Chưa biết phải làm gì thì một buổi chiều, sau khi đi làm về, cha tôi cho biết có một giáo sư từ trường trung học Bồ Đề Nha Trang ra Vạn Giã, quê tôi, mở trung học tư (cũng mang tên Bồ Đề), nhưng trước khi niên học bắt đầu vào mùa thu, ông sẽ mở một khóa Hè đặc biệt dành cho các học sinh trung học. Điều đặc biệt bất ngờ hơn, cha tôi bảo là thời gian đầu ông sẽ trọ ở nhà tôi, vì chưa tìm được nhà để thuê. Ông tên Huế và cũng là người gốc Huế, bà con họ hàng với người bạn thân của cha tôi ở Nha Trang, cũng là một ông thầy giáo gốc Huế khác. Chính ông giới thiệu thầy và nhờ cha tôi giúp.

Không biết là thầy có những bằng cấp gì, nhưng ông dạy rất nhiều môn, từ Việt Văn, Pháp Văn đến Toán, Lý Hóa. Môn nào thầy dạy cũng hay, đặc biệt thầy nói tiếng Pháp nghe cứ như Tây. Sau này tôi mới biết là thầy từng du học ở Pháp. Nghe tiếng của thầy, học trò kéo đến học rất đông. Học phí thấp. Biết đứa nào nhà nghèo thầy chỉ lấy tượng trưng.

Thầy khá đẹp trai, mái tóc bồng bềnh và đôi mắt thật buồn. Trông thầy có dáng dấp một nghệ sĩ hơn là ông thầy giáo. Có hai điều giống cha tôi là thầy rất thích đánh cờ tướng và hút thuốc liên tục. Dường như lúc nào tôi cũng thấy có điếu thuốc trên tay thầy. Và cả hai người đều hút Bastos xanh. Cứ mỗi lần tôi đi mua thuốc cho cha tôi thì thầy nhờ mua thêm cho thầy mấy gói. Cha tôi dành cho thầy căn phòng lớn nhất trong nhà, có cửa ra vườn sau. Khu vườn nhỏ chỉ trồng mấy cây cam và một vòm hoa giấy. Có lẽ lúc ấy tôi còn con nít, nên thầy chỉ thường ngồi đánh cờ và tâm tình với cha tôi. Nhưng buổi tối, những lúc thầy ngồi đàn hát phía sau vườn, tôi được thầy gọi cho ngồi nghe và bảo tôi “chấm điểm những bài hát của thầy”. Thầy hát rất hay những bài do chính thầy sáng tác, hoặc phổ từ những bài thơ của thầy.  Hầu hết là những bản nhạc buồn. Giọng trầm và tha thiết. Thầy nhìn vào xa xăm và hát như là đang trút tâm sự cùng ai đó chứ không phải cho tôi nghe. Ban đầu tôi cứ tưởng tôi là thính giả duy nhất của thầy, nhưng sau này tôi mới bất ngờ khám phá một điều, có một người đàn bà trẻ thường xuất hiện sau vườn nhà tôi, phía bên kia hàng rào dâm bụt, trong những đêm thầy ngồi đàn hát.

Không biết là vì đẹp trai hay hát hay, mà thầy đã làm xiêu lòng người góa phụ trẻ có nhan sắc. Tôi biết chắc điều này, vì bà đã “hối lộ” tôi mấy lần để đưa cho thầy mấy bài thơ, và dặn dò tôi không được cho ai biết, kể cả cha tôi. Nghe nói bà là vợ của một ông cán sự Nông Lâm Súc làm việc ở Hiệp Hội Nông Dân, bị tử nạn giao thông trên Đèo Cả, chỉ sau một tháng làm đám cưới.  Bà là cô giáo dạy trường huyện, ở xa tới, hình như là Phan Rang hay Đà Lạt gì đó, thuê nhà phía sau nhà tôi. Thỉnh thoảng tôi thấy có mấy ông thầy giáo trẻ đồng nghiệp và cả mấy ông Hiến Binh mũ đỏ lai vãng trước nhà bà.

Một hôm thầy đột ngột dọn ra khỏi nhà tôi, sau khi nói chuyện với ba tôi. Thầy sang tá túc bên hông chùa, nằm ngay phía sau trường Bồ Đề, lúc ấy chỉ có ba phòng học. Cha tôi ngạc nhiên, vì trước đây thầy cho biết thầy ăn mặn và sống hơi phóng túng, ngại làm phiền nhà chùa nên mới đến trọ ở nhà tôi. Sau khi tôi tiết lộ chuyện những bài thơ của người đàn bà trẻ phía sau nhà, cha tôi tròn mắt rồi gật đầu bảo có lẽ đó chính là lý do thầy dọn đi. Trong những lúc tâm tình, thầy thường nói với cha tôi, thầy rất sợ đàn bà.

Mãn khóa Hè, thầy ghé lại nhà tôi, thăm và cám ơn cha tôi. Thầy khen tôi học khá, đề nghị nên cho tôi học đệ lục thay vì đệ thất. Hơn nữa tuổi tôi cũng hơi cao. Cuối cùng trước khi chia tay, thầy cho biết là sẽ rời quê tôi về lại Nha Trang, và có thầy Trần Đức Trang, một vị giáo sư lớn tuổi, có kinh nghiệm về tổ chức và hành chánh, ra thay thế thầy để thành lập và làm hiệu trưởng trường Bồ Đề Vạn Ninh, nhưng không phải bắt đầu từ niên khóa này mà phải chờ đến niên khóa tới, vì các thủ tục chưa hoàn tất kịp. Do đó, tôi phải khăn gói vào Nha Trang. Và theo sự khuyến khích của thầy, thay vì bắt đầu lớp đệ thất, tôi vào học lớp đệ lục trường Văn Hóa, ngôi trường tư thục mới mở ở đầu đường Quốc Lộ 1, gần nhà chú tôi, nơi tôi trọ học.

Bẵng một thời gian hơn hai năm tôi không gặp thầy, mặc dù nhiều lần lên trường Bồ Đề Nha Trang hỏi thăm thầy, nhưng không ai biết. Có người bảo thầy đã về Huế, có người lại bảo đang dạy ở Sài Gòn.  Bỗng một hôm tôi bất ngờ thấy thầy xuất hiện trong văn phòng trường Văn Hóa, nơi tôi đang theo học. Gặp lại nhau, thầy trò mừng lắm. Thầy bảo từ Sài Gòn mới về lại Nha Trang và sẽ dạy môn Sử Địa cho các lớp đệ tứ và đệ nhị, thay cho thầy Nguyễn Mậu, vừa đắc cử vào Hạ Nghị Viện. Tôi nhảy cỡn lên vui mừng, vì tôi đang học lớp đệ tứ, sẽ được học với thầy. Thầy chỉ cho tôi đường đến nhà thầy và bảo cuối tuần ghé lại chơi. Thầy thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm lớn, phía trước trường đi xuống Rộc Rau Muống. Ngôi nhà khá xinh xắn, khang trang. Khu vườn nhỏ phía sau trồng đầy hoa cúc và một hàng rào phủ kín hoa tigôn.

Một ngày cuối tuần tôi đến thăm thầy, bất ngờ gặp một chị bạn cùng lớp đang ngồi đánh cờ tướng với thầy. Chị bạn mới vào học năm đệ tứ, cũng gốc Huế, là một người con gái đẹp, nhưng lúc nào cũng u buồn, nhất là đôi mắt. Chị có vẻ lớn tuổi hơn bọn tôi. Trong lớp thường ngồi im lặng, không thân thiết và đùa giỡn với bất cứ ai, kể cả nữ sinh, nhưng ai cũng quý chị. Tôi ngồi xem ba ván cờ. Không biết thầy có nhường hay không nhưng chị bạn tôi thắng cả ba bàn. Lần đầu tiên tôi biết có một người con gái giỏi cờ tướng như vậy. Và cũng lần đầu tiên tôi thấy được nụ cười của chị. Lần sau đến thăm thầy, tôi lại gặp chị, đang ngồi hát cho thầy đệm đàn. Khung cảnh thật lãng mạn. Hết bản nhạc, thầy đứng lên treo cây đàn trên vách, đi lấy thêm một cái tách nhỏ, mời tôi cùng ngồi uống trà. Loại trà Huế có mùi thơm rất đặc biệt. Trông hai người khá tâm đắc. Tôi ái ngại khi phải xen vào cái không khí yên ả và tình tự của hai người, nên viện nhiều lý do để không đến thăm thầy nữa.

Khoảng hơn một tháng sau, chị bạn nghỉ học. Chúng tôi đọc trên báo mới biết chị vừa đóng vai chính một cuốn phim khá nổi tiếng.  Nghe nói, khi thực hiện bộ phim này, ông đạo diễn Lê Hoàng Hoa không tìm được tài tử nào thich hợp để thủ vai chính. Một hôm ghé lại Nha Trang, lang thang một mình trên bãi biển, bất chợt ông bắt gặp ánh mắt u buồn của một cô con gái đang ngồi một mình nhìn về cõi xa xăm, tĩnh lặng và đẹp như một bức tượng, không hề biết có ông đang đứng thật gần.  Ông lặng yên khá lâu rồi xin phép được nói chuyện. Cô con gái lưỡng lự, gật đầu. Ông đạo diễn đã tìm được một người lý tưởng để thủ vai chính cho cuốn phim đắc ý của mình.  Cuốn phim nói về một cuộc tình buồn, có nhiều cảnh đóng ở Nha Trang.  Ông đạo diễn muốn thực hiện một bộ phim để kỷ niệm nơi ông đã sinh ra, mặc dù sau đó ông đã sống những ngày tuổi thơ và lớn lên ở Huế.

Bộ phim đã làm cho khán giả tốn nhiều nước mắt, qua khuôn mặt xinh xắn và đôi mắt u buồn rất thật của cô gái Huế thủ vai chính.  Bộ phim thu nhiều lợi nhuận cho đạo diễn và nhà sản xuất.  Nhưng người thủ vai chính không bao giờ còn xuất hiện.  Cô đã uống thuốc độc quyên sinh.  Hôm đám tang, thầy Huế dẫn cả lớp đệ tứ chúng tôi theo sau quan tài tiễn đưa chị về cõi vô cùng.  Đám tang thật buồn.  Thầy Huế mang kính đen, nhưng tôi có cảm giác phía trong đôi kính ấy đong đầy nước mắt.  Báo chí có đề cập đến cái chết của chị, người “tài tử” bất đắc dĩ rất tuyệt vời này, nhưng không ai biết chính xác lý do vì sao chị phải tìm cái chết, ngoài những tin đồn.

Một lần nữa, thầy bỗng dưng biến mất.  Không ai gặp thầy ở Nha Trang.  Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Bá Mậu, chuyên dạy Pháp văn, phải tạm thời thay thầy, dạy môn Sử Địa lớp tôi để kịp kỳ thi trung học.  Và cũng từ hôm ấy tôi không biết tin tức gì về thầy Huế, và trong lòng cứ mãi băn khoăn bao điều không hiểu được, về thầy.

Hôm nay, ở một nơi chẳng một ai muốn hẹn, tôi bất ngờ gặp thầy.  Thầy lại mang đến cho tôi thêm một điều khó hiểu: tại sao thầy chỉ là trung sĩ 1?  Tôi khui hộp bánh trong khẩu phần lương khô (Ration C) và làm ba ly cà phê “dã chiến” mời thầy Huế và bạn Đỗ Bê uống mừng cuộc trùng phùng.  Nghe thầy cứ gọi thưa chúng tôi bằng cấp bậc, tôi ôm vai thầy:

–  Bất cứ trong hoàn cảnh nào, hai thằng chúng em cũng luôn là học trò của thầy.  Xin thầy cứ gọi chúng em là em như thưở nào, chỉ ngoại trừ khi phải đứng trước hàng quân.  Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng này, em rất thèm được nghe có người gọi mình là em.

Thầy nở nụ cười rồi lưỡng lự gật đầu.  Lâu lắm gặp lại nhau, có bao nhiêu điều muốn hỏi, nhưng thấy ánh mắt lo lắng của hai người khi nhìn ra khung cảnh đổ nát chung quanh còn ngổn ngang các xác xe tăng bị cháy, tôi chỉ hỏi thăm sức khỏe và gia đình.  Điều thắc mắc nhất là cái lon trung sĩ 1 của thầy, nhưng việc này khá tế nhị nên tôi cũng không dám hỏi.  Thầy bảo thầy thuộc quân số Tiểu khu Tuyên Đức hơn năm năm nay nhưng may mắn được nằm trong toán phụ trách trông coi các biệt điện của Vua Bảo Đại để lại ở Đà Lạt.  Có lệnh đôn quân, cần 20 hạ sĩ quan bổ sung gấp cho Sư Đoàn 23, tất cả hạ sĩ quan đều phải bắt thăm.  Ông là một trong số 20 người “không may mắn” đó.  Tôi bảo sẽ cố gắng giúp hai người bằng tất cả khả năng của mình.  Thầy Huế thì dễ dàng hơn để xin sắp xếp vào một ban tham mưu nào đó ở Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, còn bạn Đỗ Bê với cấp bậc Đại úy, rất khó, hơn nữa theo lệnh ông Tư Lệnh Sư Đoàn, phải bổ sung tất cả sĩ quan cho các tiểu đoàn tác chiến, mặc dù Bê chưa có một kinh nghiệm chiến trường nào.

Tôi nhớ tới khả năng làm thơ, soạn nhạc và đàn hát của thầy Huế ngày xưa, nên đi gặp anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT xin anh nhận thầy về làm việc với anh.  Tôi cũng giới thiệu với anh, ông là thầy cũ rất đáng kính của tôi thời trung học.  Nể tình quen biết, anh Thiếu tá theo tôi đến Ban Quân số, xin nhận Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế về Khối CTCT.  Thầy nắm tay tôi ái ngại, bảo là không muốn làm phiền tôi, và cũng không muốn người chỉ huy nghĩ là thầy nhờ tôi gởi gấm.  Tôi ôm vai thầy bảo là khả năng của thầy rất xứng đáng để làm việc ở Khối CTCT.  Sau này, thầy cho biết là anh Thiếu Tá Trưởng Khối đối xử rất tốt với thầy.  Tôi không nhận thầy về làm việc với tôi, vì muốn tránh gây sự khó chịu cho thầy và cả cho tôi.

Người bạn Đỗ Bê thì được bổ sung về Tiểu Đoàn 1.  Tôi gặp ông Trung Đoàn Trưởng trình bày trường hợp Đỗ Bê, là bạn học và từ khi ra trường Thủ Đức, anh chưa giữ chức vụ tác chiến bao giờ nên đề nghị không đưa Bê ra làm đại đội trưởng tác chiến, mà nắm đại đội chỉ huy của Tiểu Đoàn 1, đang khiếm khuyết, để có thời gian làm quen với chiến trận.

Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 là Thiếu Tá Phan Văn Khánh, từ binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt (giải tán) mới thuyên chuyển về.  Anh Khánh tốt nghiệp Khóa 12 VBĐL, nhưng vì phục vụ trong Liên Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, thời chính phủ Ngô Đình Diệm, dưới quyền Đại tá Lê Quang Tung, nên sau ngày 1.11.63, anh bị đám tướng tá đảo chánh bắt giam, và sau này còn gặp nhiều rắc rối.  Khi mới về Trung Đoàn, anh tạm thời ở Bộ Chỉ Huy, chưa được giữ chức vụ gì.  Biết anh là một niên trưởng, rất tư cách, lại có gia đình ở Nha Trang, nên tôi rất kính trọng và thân thiết. Tôi giới thiệu Bê với anh và nhờ anh giúp đỡ, chỉ vẽ cho Bê thời gian đầu ở đơn vị tác chiến.  Chỉ hai tháng sau, anh Khánh cho biết Bê rất tư cách, sớm thích nghi, can đảm và có khả năng lãnh đạo chỉ huy, nên anh đã đề nghị đưa Bê lên làm tiểu đoàn phó thay cho người tiền nhiệm vừa bị trọng thương vì đạn pháo kích của địch.  Hơn nữa, so với các đại đội trưởng, Bê có cấp bậc thâm niên nhất.  Sau cuộc hành quân, khi Tiểu Đoàn về dưỡng quân tại khu Phương Hòa, bên bờ sông Dakbla, tôi ghé lại thăm Bê, mừng và khen nó.  Tôi mời anh Khánh và Bê ra tiệm Thiên Nam Phúc ăn thịt rừng uống rượu.

Thầy Huế được đề cử làm Trưởng Ban Văn Nghệ kiêm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến.  Trong hoàn cảnh này, thầy có vẻ tạm hài lòng với công việc.  Tôi thường đến thăm và đón thầy đi uống cà phê mỗi khi có dịp về phố Kontum.  Trong tâm tình, tôi được biết thầy vẫn còn độc thân, và sau khi rời khỏi Nha Trang thầy về Sài Gòn, dạy một vài trường trung học tư và một số giờ Pháp Văn ở Đại Học Vạn Hạnh.

Nhắc tới chị bạn cùng lớp xinh đẹp có đôi mắt u buồn, đóng vai chính bộ phim nổi tiếng của ông đạo diễn Lê Hoàng Hoa lúc trước, tôi hỏi thầy:

–  Có phải chị ấy là người yêu của thầy và vì sao chị lại quyên sinh trong lúc cuộc đời đang đẹp?

Thầy cúi xuống, trầm ngâm giây lát rồi lắc đầu:

–  Tội nghiệp, cô ấy là một người con gái đặc biệt, tài hoa và rất đáng yêu, nhưng ông trời lại bất công, bắt cô chết sớm.  Cô có hoàn cảnh buồn và bị đau tim nên không muốn sống! Đặc biệt cô rất giống người con gái tôi đã từng yêu.  Phải nói là từng say mê mới đúng!

Khi ngẩng đầu lên, thầy lấy cặp kiếng cận ra và lau nước mắt.  Tôi hỏi thêm:

–  Có phải vì vậy mà thầy không lấy vợ?  Thầy rất nghệ sĩ và đào hoa, em tin là có nhiều cô con gái yêu thầy.

Bỗng tôi khựng lại, khi thấy thầy lắc đầu:

–  Tôi chỉ có một người yêu, người con gái mà tôi từng say mê đó!  Nhưng khi tôi học bên Pháp thì cô ấy bỏ tôi đi lấy chồng.

Và đột nhiên thầy hỏi lại tôi:

–  Em có biết cô ấy lấy ai không?

Tôi im lặng. Thầy bảo:

–  Cô lấy em trai tôi.  Chính vì vậy mà sau khi ở Pháp về, sau lần dự đám cưới em tôi, tôi không bao giờ trở về Huế nữa.

Tôi khá bất ngờ, câu chuyện gợi cho tôi sự tò mò:

–  Chắc thầy buồn và trách cô ấy lắm?

–  Buồn, đương nhiên, nhưng trách thì không.  Vì lỗi tất cả là ở tôi.  Giữa cô ấy và đi du học, tôi đã chọn du học.  Tôi chấp nhận trả giá cho sự ích kỷ và ngu xuẩn ấy của mình, không ngờ cái giá lại quá đắt.  Còn em tôi, không biết nhiều về tình cảm mà tôi đã dành cho nàng, vì lúc ấy tôi muốn giấu ba tôi, ông rất nghiêm khắc và lúc nào cũng muốn tôi phải tập trung vào việc học.

–  Vì cái giá ấy mà thầy không bao giờ lấy vợ?

Ông im lặng một lúc rồi lắc đầu:

–  Hồi ấy tính như vậy, nhưng rồi cuối cùng có lẽ tôi cũng sẽ lấy vợ.  Lần này lại là một người khổ vì tôi.  Tôi không thể ích kỷ và ngu xuẩn thêm một lần nữa.  Người con gái, à quên, người đàn bà đó có thể em còn nhớ.

Định nói thêm điều gì nữa đó, nhưng ông khựng lại:

–  Nhưng thôi, tôi đã từng có một kinh nghiệm khá đau đớn, nên chuyện gì chưa xảy ra, không thể nói trước được.

Tôi thầm nghĩ, hóa ra cuộc đời ông thầy này có quá nhiều chuyện kỳ lạ.  Tôi lại nhớ tới cấp bậc trung sĩ 1 của ông, nhưng rồi không dám hỏi.  Nhiều lần tôi nghĩ, có thể ông sinh hoạt trong nhóm sinh viên Phật tử Ấn Quang ở Trường Vạn Hạnh, có tiếng thân Cộng, chống chính phủ, nên gặp rắc rối?  Tôi đã có gặp anh Trưởng Ban 1 (Quân Số) để xin được xem qua hồ sơ quân bạ của ông, trong đó chắc chắn có ghi rõ mọi lý do.  Nhưng hồ sơ của thầy gởi theo đường Quân Bưu, chưa đến.  Tôi đang chờ.

Bất ngờ, Thiếu Tá Phan Văn Khánh được điều động sang một trung đoàn khác để giữ chức vụ trung đoàn phó.  Bạn tôi, Đại úy Đỗ Bê, tiểu đoàn phó của anh, được chỉ định xử lý thường vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1.  Trong một chuyến bay tiếp tế, tôi đáp xuống bộ chỉ huy tiểu đoàn chỉ để kịp bắt tay khen và tặng một chai Black and White mừng nó lên chức.

Hai tuần sau, trong một cuộc chạm súng với một tiểu đoàn địch, Tiểu Đoàn 1 của Bê được hai trực thăng võ trang của Phi Đoàn Lạc Long 229 yểm trợ, đã tạo một chiến thắng vẻ vang.  Đánh tan đơn vị địch, tịch thu trên 60 vũ khí đủ loại và bắt sống 8 tù binh.  Ngay sau khi trận chiến vừa kết thúc, Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn đáp xuống vị trí ngợi khen đơn vị, gắn cho Bê anh dũng bội tinh với nhành dương liễu và cho làm Quyền Tiểu Đoàn trưởng.  Tôi gọi máy chúc mừng và bảo:

– Bắc Bình ơi! “Con bò tứ” (lon thiếu tá) đang ở trước mặt mày đó!

Khoảng hai tháng sau, tin tức tình báo cho biết, có một sư đoàn Cộng quân từ miền Bắc mới xâm nhập, đang có mặt ở Pleiku, gần biên giới Miên- Việt.Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn dự đoán Pleiku, nơi đặc bản doanh Bộ Tư Lệnh QĐ II, sẽ là mục tiêu tấn công qui mô của địch. Trung Đoàn chúng tôi được điều động xuống Pleiku, trách nhiệm phòng thủ trên tuyến vòng đai cách tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 km hướng tây nam. Bộ Chỉ Huy chúng tôi đóng tại Căn Cứ 801, nằm phía tây QL 14 khoảng 10 km, và cách Hàm Rồng cũng khoảng hơn 10 km đường chim bay. Tiểu đoàn 1 của Bê hành quân tảo thanh bên ngoài, cách căn cứ chừng 5 cây số về hướng biên giới. Một hôm, khoảng 10 giờ sáng, trong một cuộc tao ngộ chiến với một lực lượng địch, Bê bị hứng trọn một quả B-40, tử thương tại chỗ. Xác Bê được đưa thẳng về QYV Pleiku.

Tôi thẩn thờ khi nghe tin Bê chết. Chết một cách bất ngờ và tức tưởi. Trên chiến trường, nhiều cấp chỉ huy từng tạo nên bao chiến thắng hiển hách nhưng cuối cùng lại chết vì một viên đạn vô tình, không đáng. Tôi theo trực thăng CNC của ông Trung Đoàn Trưởng bay đến QYV. Thân xác Bê đầy những vết thương đang còn bê bết máu. Đôi mắt chưa khép hẳn.

Tôi vuốt mắt Bê mà nước mắt tôi đổ xuống, đầm đìa.  Điều cuối cùng tôi có thể làm được cho Bê, là xin phương tiện để sớm đưa Bê về nguyên quán.  Tôi hình dung đến vùng quê Gò Cam, Diên Khánh hiền hòa, ngôi nhà mái ngói đỏ và những người trong gia đình Bê mà tôi bao lần đến đó, gặp gỡ.  Tôi cũng nhớ tới Phan Ái Minh người anh em ở chung nhà trọ học với Bê lúc xưa, cũng là bạn thân của tôi sau này, một con người tài hoa, đã hy sinh chỉ hơn một tháng sau ngày tốt nghiệp từ Trường Võ Bị.  Trong không khí yên lặng của khu nhà xác bệnh viện, tôi mơ hồ như bên tai đang văng vẳng bài truy điệu của chính vị Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị vang tiếng một thời: “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu.”

Tôi tìm thầy Huế báo tin Đỗ Bê tử trận.  Ông tròn mắt rồi bật khóc.  Hôm nghe tin có phi cơ chở quan tài của Bê về Nha Trang, thầy xin theo tôi và anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT ra phi trường để chào tiễn Bê lần cuối.  Trước khi đi, tôi hỏi thầy có muốn “hộ tống” quan tài Bê về Nha Trang cùng với anh sĩ quan CTCT của Tiểu Đoàn 1, tôi sẽ xin phép cho thầy.  Thầy vui mừng gật đầu, nhưng thoáng một chút ái ngại.  Tôi vỗ vai thầy, bảo yên chí, tôi sẽ xin anh Trưởng Khối CTCT và anh Trưởng Ban 1 làm sự vụ lệnh cho thầy thêm một tuần để thầy ghé về Đà Lạt thăm nhà.

Thêm một người bạn nữa ra đi. Cũng ở Tiểu Đoàn này, trước đây một năm, tôi đã mất Đặng Trung Đức, Khóa 19 VB, một người bạn thân quý như anh em kể từ ngày hai đứa mới ra trường, cùng làm trung đội trưởng cho một anh trung úy Khóa 16 VB rất tài ba. Đức là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc, đã lập nhiều chiến công hiển hách trong Mùa Hè 1972. Và cũng chỉ mới 8 tháng trước, Trần Công Lâm, thằng bạn thân thiết cùng khóa Thủ Đức, cùng trung đội SVSQ với tôi, (nó giường trên tôi giường dưới), đã bỏ mình trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú, khi đang nắm Tiểu Đoàn 3. Dẫu biết trong chiến tranh, sinh tử là lẽ thường tình, nhất là thời gian này, chiến trường thật thảm khốc, con số thương vong rất lớn, nhưng chứng kiến những cái chết trẻ của bạn mình, lòng đau đớn tựa hồ như có trăm ngàn vết chém.

Quá thời gian 15 ngày trong sự vụ lệnh, vẫn chưa thấy thầy Huế trở lại đơn vị.  Anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT và cả anh Trưởng Ban 1 hỏi tôi mấy lần, như là một lời nhắc nhở, bởi chính tôi là người xin phép cho thầy.  Tôi bồn chồn lo lắng.  Chẳng lẽ thầy đào ngũ vì thấy quá khổ sở và nguy hiểm, nhất là bị ám ảnh cái chết của Đỗ Bê, người học trò cũ cùng đến trình diện đơn vị một lúc với thầy?  Tôi không tin là thầy đã phụ lòng tốt của mình, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh chết chóc này, điều gì cũng có thể xảy ra.

Đã đến hạn phải báo cáo đào ngũ Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế.  Được anh Trưởng Ban 1 cho biết và hỏi ý kiến, tôi năn nỉ xin anh chờ thêm hai tuần nữa.  Cuối cùng thầy tôi vẫn bặt vô âm tín.

Một tuần, sau khi báo cáo đào ngũ và lệnh truy nã đã gởi đi, bỗng một hôm anh Trưởng Ban 1 cho tôi biết, có người đàn bà tìm đến hậu trạm Trung Đoàn (tại Hàm Rồng), đưa giấy chứng nhận của Cảnh Sát, cho biết là Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế đã bị Việt Cộng giết chết trên đường trở về đơn vị.  Tôi lái xe xuống hậu trạm, chờ cho bà làm thủ tục xong, tôi đến mời bà về Ban Xã Hội (nơi bà tạm nghỉ) để xin phép được nói chuyện.

Gặp bà, tôi sửng sốt.  Vì dù có thay đổi ít nhiều với thời gian, và trên đầu quấn chiếc khăn tang, nhưng tôi vẫn nhận ra bà chính là cô giáo, người góa phụ trẻ, từng có thời thuê nhà ngay sau nhà tôi, và đã nhờ tôi đưa mấy bài thơ cho thầy Huế phổ nhạc, nhưng đọc qua tôi biết đó là lời tâm sự bà muốn tỏ cùng thầy.

Bà cho biết, vì không tìm được phương tiện quân sự khác, khi sự vụ lệnh đã hết hạn, nên thầy rất nôn nóng, quyết định đi xe đò qua ngõ Nha Trang – Quy Nhơn.  Xe bị một đám Việt Cộng giả dạng lính mình, chặn ngay phía dưới Sông Pha.  Bọn họ lục soát xem giấy tờ, cướp hết tư trang vàng bạc của hành khách, bắt vào rừng một số đàn ông và bắn chết ba người, trong đó có thầy.

Sau khi nhận ra tôi, bà tỏ ra thân tình, gần gũi hơn, và có lẽ tôi là người để bà có thể trút hết tâm tư đang đè nặng trong lòng.  Bà đổi cách xưng hô:

–  Chị là bạn và cũng có thể nói là vợ chưa cưới của thầy Huế.  Chị lên đây với giấy ủy quyền của bà cụ, mẹ anh ấy.  Bẵng đi một thời gian rất lâu, từ dạo nghe tiếng đàn và giọng hát của thầy ở sau vườn nhà em, chị gặp lại thầy ở Đà Lạt, quê của chị và nơi làm việc của thầy.

–  Em không hiểu tại sao thầy không là sĩ quan mà chỉ mang trung sĩ?  Em thắc mắc điều này mà chưa dám hỏi thầy – Tôi hỏi chị.

–  Thầy có tâm sự việc này với chị.  Sở dĩ thầy không khai bằng cấp là để khỏi phải vào Thủ Đức.  Thầy muốn tránh gặp mặt vợ chồng người em trai, người làm đám cưới với cô nữ sinh Đồng Khánh mà không hề biết là ông anh mình hết lòng yêu trước ngày đi du học.  Chú em vào Thủ Đức và khi ra trường được giữ lại làm huấn luyện viên.  Cô vợ thì xin được công việc trong một ngân hàng ở Sài Gòn, nhưng nhờ vốn của cha mẹ cho, nên sang lại và làm chủ một câu lạc bộ ngay trong trường Sĩ quanThủ Đức.  Thầy Huế không hề trách em mình, nhưng chú em đã buồn và khổ tâm vô cùng khi biết đươc điều này.  Thầy Huế muốn tránh gặp mặt vợ chồng chú em trai vì không muốn gây khó chịu cho cô chú ấy và cả cho thầy.  Sau đó, có một thời gian ông gần như mất trí khi biết được tin cả hai vợ chồng chú em bị VC giết chết trong Tết Mậu Thân cùng với ông cụ.  Trước Tết chú em nghỉ phép dắt vợ về thăm gia đình ở Huế.  Riêng thầy, tìm mọi cách xin hoãn được một thời gian, đầu năm 1967 thầy vào Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra trường may mắn được chọn về Tiểu khu Tuyên Đức.  Nhờ một người học trò cũ là một Phó Đốc Sự quen thân với ông tỉnh trưởng giúp đỡ, thầy được bổ sung vào toán “quản gia” cho mấy cái biệt điện của Vua Bảo Đại để lại.  Công việc nhàn nhã, rất ít khi phải mặc quân phục, nên rất ít người biết chức vụ hay cấp bậc của thầy.  Thầy xin dạy thêm ở một vài trường tại Đà Lạt, nên tiền bạc cũng không thiếu.  Anh mãn nguyện với công việc và rất mê Đà Lạt, nên không có ý định thay đổi, cho đến khi phải bắt thăm và ra Sư Đoàn 23 này.

Tôi hỏi lại bà:

–  Sao người học trò làm Phó Đốc Sự không giúp, giữ thầy lại.

–  Cả ông tỉnh trưởng và ông Phó Đốc Sự cũng đã thuyên chuyển đi trước đó lâu rồi.

Tôi hỏi sang chuyện khác:

–  Gia đình cha mẹ thầy vẫn còn ở Huế, và thầy được chôn cất ở đâu?

–  Tết Mậu Thân, ông cụ và hai vợ chồng chú em bị giết.  Thầy còn hai cô em gái và cậu em trai út, tất cả đều đã lập gia đình.  Bà cụ không muốn ở chung với dâu rể, thấy thầy sống một mình tội nghiệp, nên dọn vào Đà Lạt ở với trưởng nam.  Chị vẫn thường xuyên đến phụ giúp bà.  Từ ngày anh Huế đổi ra Kontum, chị dọn về ở chung với bà, bây giờ bà đã khá già.  Khi sống thầy rất yêu Đà Lạt, nên chị xin phép bà cụ an táng anh ở Đà Lạt.  Dù chưa chính thức kết hôn, nhưng chị xem anh ấy đã là chồng mình.  Thêm một lần nữa chị để tang chồng, mặc dù chị chỉ có một mối tình duy nhất trong đời, với anh ấy.  Người chồng trước lớn hơn chị nhiều tuổi, chị lấy cho vui lòng mẹ chị.  Khi ấy chị còn nhỏ quá, chưa biết tình yêu là gì và cũng chưa làm chủ được mình.  Khi ông ấy chết vì một tai nạn, chị thấy tội nghiệp cho ông và cũng tội nghiệp cho chị.

Tôi mời chị dùng một bữa cơm chiều ở một cái quán“dã chiến” phía trước, do vợ của một anh lính tài xế Biệt Động Quân làm chủ. Tôi khoe ở đó có món cá kho tộ và canh chua nấu với lá giang tuyệt lắm, nhưng chị bảo đã nhận lời dùng cơm và ở lại đêm với các cô nữ quân nhân bên Ban Xã Hội.

Sáng hôm sau, tôi mời chị, anh Thiếu tá Trưởng Khối CTCT và cô Trung úy Trưởng ban Xã Hội đi ăn sáng.  Phòng Không Trợ cho biết, có một phi đội trực thăng của Phi Đoàn Thần Tượng 215 hoán đổi, sắp trở về lại căn cứ Nha Trang, chúng tôi đưa chị lại bãi đáp, giới thiệu với anh phi công trưởng hợp đoàn, để xin cho chị được tháp tùng.

Vẫy tay chào tiễn chị, trong lòng tôi dấy lên bao nỗi ngậm ngùi.  Một người bạn rồi một ông thầy ra đi.  Nhanh quá.  Tôi nhớ đã từng hứa giúp họ hết lòng, nhưng quyền hạn và khả năng của mình quá hạn hẹp mà chiến tranh thì lại khốc liệt, tàn nhẫn vô cùng!  Và những cuộc tình trong thời chiến tranh cũng sôi nổi, buồn, và ngắn ngủi như đời một người lính chiến.

 Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 Jun 2025

47. Lê Trạch Lựu

Khi Tiếng Hát Lênh Đênh của Lương Ngọc Châu và Tử Phác được hát ở Hà Nội, thì cùng một lúc, ở đấy, người ta cũng được nghe Khúc Nhạc Chiều Mơ của Ngọc Bích, Trách Người Đi của Đan Trường, Tiếc Thu của Hoàng Dương, Em Tôi của Lê Trạch Lựu.

Lương Ngọc Châu và Lê Trạch Lựu có một điểm giống nhau, họ đều học nhạc và bắt đầu sáng tác tại Việt Nam, sau đó đi Pháp, rồi không thấy đâu nữa.

Thực ra, sau Em Tôi, Lê Trạch Lựu còn một sáng tác nữa đã được các ca sĩ đem hát trên các đài phát thanh, cũng rất hay, nhưng hình như nó đã bị cái bóng của Em Tôi che khuất, nên ít người biết, và cũng chưa thấy một ca sĩ nào tìm hát lại, đó là bài:

Nhớ

Rừng thu ấp hơi sương

Say ru lòng người nhớ tới quê hương

Đàn vương bao nhớ thương

Sầu vương mắt ai bóng hình thôn vắng

Đời say gió muôn phương

Tôi mơ thời gian

Chiều tắm ánh nắng tàn        

Dần khuất bóng xóm làng

Diều khoan thai sáo ngàn

Cùng than van tâm tình cô lái xinh

Nhớ ngày xưa khi tôi ra đi

Nước mắt em tôi thầm ướt trên mi chia ly

Nhớ nhung còn nhắn

Đôi khi còn thắm câu thơ năm xưa

Xa vắng bao ngày tháng

Mùa thu lướt êm êm

Tôi nghe hồn người thức giấc cô miên

Tìm đâu thấy bóng em

Đàn tôi nhớ nhung một thời trinh trắng

Rừng mang bó hoa tang

Nơi đây thầm ru

Thầm nhớ tới dáng người

Làn môi hương phai rồi

Đời đã vắng tiếng cười

Hồn nhớ tới dáng người yêu áo xanh

Tình ca được viết nhiều nhất vào giai đoạn được gọi chung là “nhạc tiền chiến” của chúng ta. Nhưng đây không phải là thời người ta hạnh phúc. Trái lại nữa là đằng khác. Chiến tranh đã lấy đi mọi thứ. Tình ca không còn chỉ là những lời tỏ tình, mà cùng một lúc, người ta còn bầy tỏ cả lòng yêu đời, tiếc đời, phản ứng trước những tang thương, đe dọa, người ta không làm gì được. Còn có thể coi là những lời minh oan vô tội trước trời đất nữa.

Em Tôi

Em tôi ưa đứng

Nhìn trời xanh xanh

Mang theo đôi mắt

Buồn vương giấc mơ

Vu vơ đắm đuối

Theo ngàn áng mây

Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng

Buồn vương man mác

Theo lời gió reo lời thơ

Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc

Bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng

cho lời thơ

Giờ này em hát ru chiều mơ

Bao giờ tôi về gần em

Cùng đếm này trăng này sao chia nhé em

Trăng sao dâng ý thơ

Mây bay khắp trời

Thuyền tình lung linh trong khói sương lam

Ngày về xa quá người ơi

Em yêu tiếng sáo

Dập dìu bên trăng

Đêm đêm u tối

Về đây thắp sao

Dư âm tiếng hát

Vương buồn mắt nhung

Tôi xin gió biếc ca ngợi màu suối tóc

Đừng quên em nhé môi còn thắm

duyên còn xanh

Đèn trăng phô sắc huy hoàng

hơn màu nắng

Cho anh rót thắm đem về

nhớ nhung lời thơ

Đường đời anh muốn em còn mơ

Sĩ Phú

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 Jun 2025

46. Lê Thương

Nhạc sĩ Lê Thương đã qua đời ở tuổi 82, tại Sài Gòn. Ông qua đời thanh thản, trong lúc người ta còn đang do dự trong việc cho phổ biến, dù là hạn chế, các tác phẩm của ông. Phổ biến hạn chế nghĩa là, cho phép trình diễn một số tác phẩm của ông ở vài tụ điểm ca nhạc, chứ không phải trên các phương tiện truyền thông công cộng. Cũng không hề có thông báo chính thức nào xác nhận điều ấy, như trước đó, người ta ra lệnh cấm lưu hành toàn bộ tác phẩm của các tác giả ở miền Nam, trong đó có Lê Thương. Lê Thương là một trong những đỉnh cao nhất của dãy Trường Sơn âm nhạc Việt Nam. Có thể nói, ông đã đem vinh dự cho tất cả chúng ta. Nếu có một người ngoại quốc nào đó, muốn hỏi về âm nhạc Việt Nam, hẳn chúng ta sẽ phải kể đến tên ông.

Ba bài Hòn Vọng Phu của Lê Thương là một bức tranh hoành tráng, có đủ màu sắc thơ mộng và bi hùng của lịch sử. Và càng ngày càng có vẻ như giá trị của nó đã được bồi đắp thêm. Hai bài Ai Xuôi Vạn Lý và Người Chinh Phu Về tức Hòn Vọng Phu II & III hơi khó hát. Bài Hòn Vọng Phu I gần như đã trở thành dân ca. Chúng ta không biết rõ, ở các nước khác mọi việc diễn ra như thế nào, nhưng ở Việt Nam, khi một bản nhạc được phổ biến, thấy có những dị bản, thì đó là dấu hiệu đích thực nó đã xâm nhập được vào đám đông.

Dị bản là những lời ca dân gian đặt ra theo điệu nhạc. Nó không nhất thiết là một hình thức xưng tụng bản nhạc, nhiều khi còn có ý nghĩa ngược lại nữa.

Riêng đối với bản Hòn Vọng Phu của Lê Thương, dị bản rất nhiều. Nhưng nó giống như những con suối, con nước, chảy quanh một chân núi không làm hao mòn ngọn núi, không làm giảm giá trị tác phẩm. Điều người ta có thể nhận thấy ngay khi nghe nhạc Lê Thương là, ông không chỉ hiểu biết sâu xa về âm nhạc, ông còn rất am tường về lịch sử và văn chương nữa.

Lịch sử của chúng ta bắt đầu từ một huyền thoại. Huyền thoại ấy, cho đến nay, hình như vẫn còn bao trùm trên song núi. Nhạc Lê Thương thấm đẫm nguồn gốc này. Mẹ Việt Nam là một biểu tượng nhiều nhạc sĩ đã nói đến. Nhưng nối liền được người với đất, đất với núi non, núi non với sông biển, trong nhạc, như một bầu khí, người ta vẫn thấy rõ nhất trong nhạc Lê Thương.

Tổ quốc được hình thành trong một cơn đau. Cơn đau còn kéo dài. Anh hùng được sản sinh trong cơn đau ấy. Lịch sử của chúng ta khốn khó, nhưng chúng ta tồn tại được nhờ cái đẹp. Đẹp trong hành động, đẹp trong suy nghĩ và đẹp trong cách đối xử với nhau. Ra khỏi truyền thống ấy là chúng ta đứng trước nguy cơ mất còn. Bao giờ cũng vậy. Hòn Vọng Phu là biểu tượng cao nhất của huyền thoại, vì đã được cụ thể hóa bằng pho tượng. Nhưng pho tượng ấy vẫn chứa đầy huyền thoại. Cỏ hoa đã khuyên nàng thôi đợi, hãy quay về đừng để xuân tàn. Nhưng nàng vẫn đợi cho đến khi hóa đá. Để hoàn tất huyền thoại. Hình như Lê Thương không có ý muốn làm triết lý trong ca khúc của ông. Chính cái đẹp chứa trong ca khúc ấy, khiến người ta tìm ra ý nghĩa của nó và cũng chính là ý nghĩa của đời sống mình. Cách đây vài năm, ở Việt Nam, nhiều người hết sức sửng sốt khi thấy báo chí loan tin, những người phá núi lấy đá nung vôi và làm vật liệu xây dựng, đã phá hủy pho tượng Hòn Vọng Phu. Được hỏi khi xẩy ra chuyện này, Lê Thương chỉ nói: “Được bao nhiêu lợi mà người ta nỡ làm như vậy?”.

Nhưng đó là chuyện khác. Chúng ta hãy trở lại với nhạc Lê Thương. Ngoài bộ ba Hòn Vọng Phu và nhạc cảnh Trên Sông Dương Tử, ông còn viết rất nhiều ca khúc nữa như: Người Chơi Độc Huyền, Bà Tư Bán Hàng (Lòng Mẹ Việt Nam) Hoa Thủy Tiên …

Nói tới nhạc Lê Thương người ta cũng không thể không nói tới những bài hát ông viết cho thiếu nhi như các bản:

Thằng Cuội

Tuổi Thơ

Ông Ninh, Ông Nang v.v … Khi trở lại với tuổi thơ nhạc của ông trong vắt, từ lời ca đến giai điệu. Đêm trung thu của trẻ em Việt Nam sẽ thiếu đi nhiều vẻ tết, nếu chúng ta không được nghe bài Thằng Cuội của Lê Thương. Bức tượng thiên nhiên Hòn Vọng Phu có thể bị người ta phá bỏ. Nhưng chắc rằng nó sẽ tồn tại mãi trong nhạc Lê Thương. Lần đầu tiên trong nhạc Việt Nam tiếng vó ngựa đã được ghi lại một cách tuyệt vời trong ca khúc Người Chinh Phu Về.

Image from the Net collected by Sơn râu

Tuyệt vời vì nó còn mang ý nghĩa một cuộc trở về, một cuộc hồi sinh. Tuyết sương đã khoen rũa đời. Núi đá đã kinh hoàng. Đứa con như một niềm hy vọng. Nó cũng là tương lai. Lịch sử của chúng ta đã có biết bao nhiêu mối tình đớn đau như thế, có bao nhiêu người đã hóa đá, bao nhiêu người nhỏ bé hơn, mong manh hơn, không thể hóa thành gì cả, chỉ là những linh vong.

Lịch sử của chúng ta, đọc lại mà xem, đúng là một cuộc hợp tan, nồi da nấu thịt kéo dài. Nhưng khi khốn cùng và khẩn thiết, sẽ có những người vươn vai cao ngang tầm lịch sử như Phù Đổng, để đối phó với hoàn cảnh. Cần thì có Hai bà Trưng có thể đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng còn hiện tại của chúng ta ra sao? Những nhạc sĩ ở vào lứa tuổi Lê Thương còn được những ai? Bao nhiêu người đã tự vùi rập mình trong những nỗi đau biết ngỏ cùng ai nơi cố hương.

Có những người Thất thập vô gia vạn lý thân, chỉ mong một ngày nằm xuống, được nằm xuống trên mảnh đất của cái cố hương ấy. Có những người cười cợt trên tất cả nhưng nỗi đau này. Có những người, đến nay, chẳng còn nghe được cả tiếng cười lẫn tiếng khóc, dù ở đâu chăng nữa, như Dương Thiệu

Tước, Thẩm Oánh, Vũ Thành chẳng hạn. Không biết ở nơi an nghỉ cuối cùng của Lê Thương, còn có bao nhiêu người đến viếng thăm ông?

Bông hồng tạ ơn những người đã viết nhạc và hát cho chúng ta nghe, chúng ta muốn gửi tặng tới ông hôm nay, cũng còn mang ý nghĩa một niềm mơ ước, chúng ta sẽ có dịp trở về đất nước, tự tay mỗi người, đã từ lâu nghe nhạc ông,

hát nhạc của ông, đặt trên mộ ông nữa.

Image from the Net collected by Sơn râu

Hoa Thủy Tiên

Một ngàn năm trước

Trong đời Trần, Nam quốc

Có cô công chúa lòa

Suốt đời chỉ nuôi nấng hoa

Trời làm năm đó

Sau một chiều giông tố

Các hoa trên gác lầu

Phải một cơn đớn đau

Nàng Bạch Mẫu Đơn

Phiêu bạt mất con

Khấn xin công chúa lòa

Đền nụ con cho bà

Lòng nàng công chúa

Thương người và hoa quá

Đến đêm kêu khấn trời

Xin đền nụ hoa đã rơi

Nàng bày trên gác

Ước chừng mười tô nước

Khấn xin ba tháng ròng

Nhưng trời chỉ cho nước trong

Ngày tháng chóng qua

Thu hè đã xa

Cuối đông năm đó trời

Cho nàng Thủy Tiên xuống đời

Nằm chìm trong nước

Đang chờ thời gian lướt

Thấy cô công chúa lòa

Cô nàng Thủy Tiên tiến ra

Trình bày trên bát

Ba lòng vàng thơm ngát

Khiến cho đôi mắt lòa

Của nàng Thủy Tiên sáng ra

Nàng mở mắt xong

Trông vào tô nước trong

Thấy xuân năm đó trời

Cho nàng Thủy Tiên xuống đời

Khánh Ly

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 20 Jun 2025

Chương 8.

Đã hai ba lần, Vương hổ tướng ủy cho một người tâm phúc, anh lính sứt môi, đi lấy tiền, lần nào đi cũng có tiền đem về.

Anh lính mặc bộ quần áo cũ nát, vải xanh, chân đi đất hay đôi hài xảo bện bằng rơm. Tiền anh cuốn gọn vào miếng vải xanh, phủ quần áo rách ở ngoài, một chiếc gói nhỏ đeo ở lưng. Một người ăn mặc tiều tụy như thế đi đường, không ai có thể ngờ lại có những cuốn bạc lớn, nếu ai có tò mò để ý, người đó tuy đeo có một bọc nhỏ, mà xem có vẻ nặng nhọc, vất vả lắm, mồ hôi ướt đầm nhỏ giọt trên mặt. Chẳng ai thèm để ý đến người đó làm gì, quần áo lem luốc, mặt mũi tầm thường, như trăm nghìn người đi đường. Mà dù có ai để ý nhận xét cũng chỉ thấy người đó có chiếc môi sứt để thò ra ngoài dưới mũi hai chiếc răng cửa lớn.

Với cách phục sức trá hình như thế, người tâm phúc đã tải về cho chủ, một cách chắc chắn, không hề suy suyển, những món tiền lớn. Khi Vương hổ tướng dự bị được số tiền kha khá, đem cất giấu dưới mái nhà, để sau này có thể tự túc được trong ba tháng.

Hắn ngầm tính ngày khởi sự. Hắn sẽ ra ám hiệu và cho mật lệnh bọn tâm phúc tay chân, chuẩn bị sẵn sàng có thể rút ngay cùng một lúc với hắn. Một ngày, sau mùa gặt hái, mạn Bắc gió rét đã dịu, một đêm muộn trăng, lơ lửng, léo lắt, trên bầu trời một lưỡi liềm nhỏ, bọn người tâm phúc của hắn lặng lẽ rút dần ra khỏi trại, bỏ lại lão tướng già bấy lâu phục vụ. Trong một đêm khuya tối tăm, tịch mịch, hàng trăm người âm thầm rút đi.

Không một tiếng động, họ ngủ dậy sẵn sàng cuốn tròn chiếc chăn buộc đeo sau lưng, xách súng ra đi. Người nào không có súng thì lấy trộm súng của bạn đồng ngũ nằm cạnh. Nhưng lấy trộm được súng cũng khó lắm vì theo luật trong binh ngũ súng là một vật tùy thân, đi ngủ súng phải để dưới giường, nằm đè lên trên. Phương pháp này được triệt để thi hành, vì súng là một bảo vật, một khẩu súng có thể đổi được một đống tiền. Nhiều anh đã ăn cắp súng đi bán, vì thua bạc nhiều quá, vì lâu không có lương, lại vào  những năm không có trận mạc, cướp bóc kiếm chác được gì,  anh lính đánh mất súng là phạm tội kỷ luật rất nặng. Súngphải mua ở ngoại quốc, những nước xa xôi diệu vợi lắm.

Đêm hôm đó bọn người lẩn rút ra, cố đem theo càng nhiều súng càng hay, nhưng cả bọn xách thêm ra ngoài, độ chừng 20 khẩu, không lấy được nhiều vì bọn lính lúc ngủ cũng đã đề phòng cẩn thận súng của họ. Được thêm 20 khẩu cũng quý lắm vì thêm được 20 tay súng. Họ đã ước hội tập họp ở trong một tiểu cốc trên ngọn núi, cách xa trạm tám cây số. Ở đó có một ngôi đền nhỏ vắng vẻ, có một lão thầy tu tính hơi tàng tàng nương náu ở đó.

Ngôi đền tuy nhỏ bé, song tạm đặt làm căn cứ, Vương hổ tướng đã cho xếp đặt chu đáo mọi thứ ở trong đền. Mấy ngày trước hôm khởi sự, chàng đã sai một tên lính tâm phúc và một thằng cháu, thằng Rỗ, tải lên trên những vò rượu, mấy con heo sống, gà vịt, và ba bò mộng, nhốt hết cả vào một căn buồng nhỏ ở trong đền, xưa kia của một thầy tu. Chàng đã sai đi mua những thứ đó của dân quê quanh vùng; một người lương thiện, cương trực như chàng, mua bán phân minh, tiền nong sòng phẳng, không như lối bọn quân phiệt thường làm, đi cướp không của đám dân nghèo. Chàng giao tiền cho người tâm phúc đem trả đúng giá, xua các giống vật lên ngọn núi, cắt thằng Rỗ ở đấy trông coi. Người lính tâm phúc còn tải lên trên đền ở đỉnh núi ba chiếc vạc sắt lớn. Người đó đi làm ba chuyến, đội từng chiếc vạt một lên đầu để dễ leo núi. Họ lấy mấy viên gạch của ngôi đền đổ nát, để bắc bếp. Thế là tạm đủ, không mua gì thêm, không đem gì lên nữa, vì Vương hổ tướng đã tính chỗ đó không nên nấn ná ở lâu, phải mau tiến về phía Bắc, tránh tầm hoạt động của lão chủ tướng.

Tiến về mạn Bắc, chàng cũng tránh không nên tiến gần đô thị vì sợ va chạm với quân chính phủ. Đạo quân của chính phủ vẫn đi tuần tiễu để diệt trừ các thủ lãnh quân phiệt, mà chính Vương hổ tướng cũng có cao vọng làm một thủ lãnh.  Tuy vậy Vương hổ tướng không quan tâm về cả hai vấnđề đó. Lão chủ tướng dù có phẫn nộ cũng chỉ nhất thời mà thôi. Còn bên chính phủ, quốc gia đang ở vào thời kỳ hỗn loạn. Vương triều vừa sụp đổ, chính thể mới chưa có, trộm cướp nổi lên như ong, các thủ lãnh quân phiệt sát phạt lẫn nhau không có uy lực nào ngăn cản nổi.

Đêm đó, một đêm tối trời, không trăng, không sao, Vương hổ tướng đã đặt chân lên ngôi đền trên ngọn núi.Cùng đến với chàng là thằng bé xanh xao con anh Cả. Nhiều lúc chàng băn khoăn, khó nghĩ không hiểu một thằng

bé ốm yếu, hèn nhát đến ở chỗ này để làm gì? Chàng có thể dùng nó để làm được việc gì không? Thằng Rỗ sung sướng về cuộc phiêu lưu mạo hiểm, sai bảo công việc gì nó vui vẻ làm ngay. Trái lại thằng kia lẩn lút, trốn chỗ nào kín khỏi ai thấy. Đêm đó, Vương hổ tướng thét to gọi nó đi theo; nghe tiếng gọi, không biết nó ở đâu đã chui ra, đứng ngay sau lưng chú nó, run bần bật.

Chàng rọi đuốc thấy thằng bé mồ hôi ướt như tắm, với giọng đầy khinh bỉ chàng nói:

– Mày không làm gì mà cũng mồ hôi ướt thế à?

Không cần nghe nó giải thích lý do, chàng rảo ra khỏi trại, lao mình vào bóng tối, thằng bé ngập ngừng, ì ạch theo sau.

Leo lên ngọn núi, đến con đường mòn thẳng vào đền, chàng dừng lại trên một tảng đá, cho thằng nhỏ vào trước để phụ việc cơm nước. Đứng đó, chàng đón bọn lính, xem những ai đến, những người đã hứa hẹn đi theo chàng. Bọn người lục tục kéo đến, bọn hai, bọn tám, bọn mười, chàng hớn hở tíu tít gọi.

– À! Kìa mày đã đến.

Rồi quay về tất cả bọn đông, hân hoan chàng nói:

– Các quý bạn, có mặt đông đủ cả, tốt quá!

Mỗi lần nghe tiếng chân trèo lên bực đá con đường vào đền, chàng thổi to ngọn đuốc cầm ở tay, rọi xem rõ mặt những ai đến, anh nào khá anh nào xoàng. Khi đếm được một trăm tên, đông đủ những người tâm phúc, chàng truyền đem hết bò, lợn, gà, vịt ra giết thịt. Bọn người ùa vào làm, mỗi người mỗi việc sung sướng hả hê vì đã lâu chưa biết mùi thịt. Bọn đi đốt lò, bắc chảo, bọn đi xách nước ở một cái suối gần đó, bọn vật bò, bọn chọc tiết heo, làm lông, mổ, cả từng miếng lớn; gà vịt, làm lông xong, mổ bỏ ruột, gan luộc vào những cành tươi chặt ở những cây quanh đền, đem nướng cả con ở bếp lửa. Nấu nướng xong, tiệc được dọn ra sân đá trước đền, một cái sân lâu ngày, cỏ dại mọc chen vào khe đá, nên nhiều hòn đã rạn nứt, ở giữa sân có một chiếc đỉnh lớn bằng sắt cao hơn đầu người, để lâu ngày nắng mưa nên đã rỉ nát. Lúc đó đã sáng, mặt trời lên cao, gió lạnh núi đá vi vút càng làm bọn người đói thêm. Bọn lính xúm quanh cười nói sung sướng, ở giữa bày những món ăn nóng hổi, hơi bốc nghi ngút.

Tất cả ăn uống hả hê, sung sướng, ai cũng mừng thầm từ đây mở một kỷ nguyên mới, với ông chủ tướng trẻ trung anh hùng sẽ đưa bọn họ tới nhiều nơi mới mẻ xa lạ, sẽ được ăn uống ê hề, gái chơi thả cửa, cái gì cũng sẵn, cũng nhiều, một người có tình cảm ai cũng thích, cũng cần.

Ăn chút ít cho đỡ đói, rồi lại còn ăn nữa, người ta bắt đầu mở nắp các vò rượu, ai đem bát lại được đổ đầy rượu, bọn người, cười nói tha hồ chén chú chén anh,mời nhau, chuốc cho nhau và đồng thanh xưng tụng Tân chủ.

Nấp sau bụi tre rậm rạp, lão thầy tu dòm sang phía sân, lão sợ quá, lẩm bẩm một mình, cho là một lũ ma đói, quỷ khát ở đâu hiện đến. Lão mở to cặp mắt dòm sang, thấy thèm quá, họ ăn uống ngon lành, xé những súc thịt to còn nóng hổi. Song không dám lại gần, không dám ló mặt, lão không hiểu tụi quỷ sứ này ở đâu đến đây, một cái đồi âm u, cô quạnh, lão ở đây đã được ba mươi năm, cấy một mảnh ruộng nhỏ để sinh sống. Lão đứng yên xem họ ăn uống, một anh lính ăn chán chê, rượu say khướt, vứt ra xa một cái xương đùi bò, rơi ngay gần chỗ lão đứng. Lão già khe khẽ, thò tay với lấy miếng xương, lão gặm, lão mút ngon quá, đã bao nhiêu năm nay không được ăn thịt, quên cả hương vị của thịt. Lão gặm mãi, thấy ngon quá, tuy nhiên lão cũng hiểu một kẻ tu hành phạm giới là đắc tội.

Khi bọn người đã no say, trên mặt sân ngổn ngang bừa bãi những xương xẩu đồ thừa của bữa tiệc, Vương hổ tướng chồm đứng dậy, nhanh nhẹn nhảy lên đứng trên con rùa ở góc sân dưới gốc cây đỗ tùng. Đó là một cổ mộ, con rùa xưa kia đội một chiếc bia lớn, khắc chữ tán dương công huân của kẻ nằm trong mộ. Cây đỗ tùng lúc mọc lớn, vươn mình, đánh đổ tấm bia vỡ làm hai mảnh còn nằm trơ dưới gốc cây, chữ ở bia, mưa nắng lâu ngày nay đã mờ hết. Cây đỗ tùng theo đà lớn mãi.

Đứng trên mai rùa, chàng nhìn được bao quát tất cả bọn người đứng ở dưới sân. Lúc bấy giờ chàng có một dáng điệu hiên ngang, lẫm liệt, một tay nắm chuôi thanh đoản kiếm đeo bên mình, một chân gác lên đầu con rùa, đôi lông mày đen, rậm, cặp mắt sáng quắc sắc xảo, chàng nghĩ bọn người kia, từ nay là của mình, thuộc quyền mình, phục tùng mình, chí tung hoành bao lâu ấp ủ nay đã thành, chàng thấy tâm hồn rung động, ruột gan nở nang, thân thể chàng tưởng chừng như có thể bị phá tung, chàng nghĩ:

– Bọn người kia từ nay là quyền sở hữu của ta, họ tuyên thệ theo ta, giờ của ta đã điểm.

Với một giọng dũng cảm, lanh lảnh như tiếng chuông vang dội trên ngọn đồi âm u, trong ngôi đền hiu quạnh, chàng dõng dạc nói với bọn thuộc hạ:

“Hỡi chư huynh.

“Chư huynh có biết tôi đây là ai không? Tôi đây cũng là một người, một nông dân như các chư huynh. Cha tôi là một dân cày, tôi đây là người của đồng ruộng. Nhưng tôi đã có một tâm hồn, một chí hướng khác, tôi bỏ nhà bỏ quê hương ra đi khi còn nhỏ, theo đoàn quân cách mạng nấp dưới bóng

cờ lão chủ tướng. Lúc đầu tôi mơ vọng một cuộc chinh phạt chính nghĩa, chống một chế độ thối nát, lão chủ tướng cũng tuyên bố xác nhận là đúng thế. “Nhưng hắn đã ca khúc khải hoàn thế nào, hắn bây giờ đã thế nào, chắc chư huynh đã rõ, chí nam nhi quật cường tôi không thể luồn cúi phục vụ một con người như hắn.

Image from the Net collected by Sơn râu

Xét vì cuộc cách mạng mà hắn tự nhận làm thủ lãnh không đem lại kết quả như chúng ta mong đợi, xét vì thời buổi này đang lúc nhiễu nhương, đâm chém lẫn nhau vì cá nhân, vì tư lợi, thiên chức của tôi là kết nạp các bạn có tâm huyết, có khí phách đã từng phục vụ lão chủ tướng, bị bạc đãi, tiền lương không có, tôi cầm đầu dìu dắt anh em tự tạo lấy một chỗ đứng phù hợp với bản năng, tâm chí của mình. Tôi không cần nói chư huynh cũng rõ, chưa có những vị cầm quyền có đức độ cai trị dân như cha đối với con. Dân bị lầm than, rên xiết, toàn chuyện hà khắc ác nghiệt. Xưa kia cách đây năm trăm năm, đã từng có những hôn quân, ác chúa, sau nhờ có những anh hùng, hào hiệp ra tay khử bạo trừ tàn.

“Giờ đây chúng ta theo vết các tiền nhân nghĩa hiệp, các chư huynh phải tuyệt đối phục tòng mệnh lệnh của tôi, tôi  đưa đi đâu, chư huynh phải triệt để tuân theo. Chúng taquyết đồng sinh đồng tử”.

Chàng đứng trên lưng rùa, giọng nói hùng hồn, mãnh  liệt, lúc mau, lúc khoan, những luồng nhỡn tuyến của chàngrọi khắp bọn người ngồi trên sân đá, đối diện với chàng, đôi lông mày lúc nhíu lại, lúc giương lên như hàng cờ bay tung trước gió, chiếu sáng, tô điểm những ý chí biểu lộ trên gương

mặt. Chàng vừa dứt lời, bọn thủ hạ đứng cả dậy, đồng thanh hô lớn:

– Chúng tôi quyết xin thề!

– Hoan hô chủ tướng!

– Chủ tướng vạn, vạn tuế!

Có một anh mạnh dạn hơn cả bọn, nói lớn:

– Chủ tướng có cặp lông mày nom dữ như mãnh hổ.

Quả thực chàng có dáng điệu một con mãnh thú, người chàng thon và cao, cử động nhẹ nhàng, uyển chuyển, khuôn mặt trái xoan, cằm nhọn, đôi lưỡng quyền cao và gồ, cặp mắt sáng và dữ, lúc nào cũng như có vẻ gờm gờm, đôi lông mày dài, đen, nằm vắt ngang như phủ kín mắt nên khi nào đôi mày nhíu lại như con ác thú, lim dim mắt rình mò trong hang, khi giương lên, như mãnh thú lao mình vồ mồi.

Mọi người ồ lên cười, tiếng cười nghe rùng rợn, cả bọn nhao nhao lên nói:

– Ha ha chủ tướng là một mãnh hổ hắc mi.

Lão già thầy tu, kinh ngạc quá, lão không hiểu một tí gì về những lời hoan hô của bầy thú đứng đầy ngoài sân trước đền. Sự thật ở núi quanh đền vẫn có cọp lảng vảng rình mò. Lão nghe tiếng xôn xao, ồn ào lão sợ quá, nhìn chỗ bụi rậm quanh chỗ lão đứng nấp, lão chạy thẳng đến sau đền vào căn

buồng nhỏ của lão, gài chặt then cửa, lên giường nằm, kéo chiếc chăn rách mướp trùm kín lên đầu, lão khóc, lão rên, vô cùng hối hận đã trót phạm giới ăn thịt nên gặp phải tai ương.

Vương hổ tướng cũng tinh quái, thận trọng như một con cọp già, chàng biết cuộc mạo hiểm của chàng vừa chớm khởi,  chàng phải cẩn thận, đề phòng những sự bất trắc bất ngờ cóthể xảy đến. Chàng cho bọn lính đi ngủ để hả hơi men. Chàng chọn ba tên lính tâm phúc láu lỉnh khôn ngoan quỷ quyệt cho cải trang, chàng bảo một tên cởi bỏ áo, chỉ giữ lại chiếc quần cũ nát, lấy bùn trát vào người cho bẩn thỉu, nhem nhuốc, cải trang làm hành khất, lang thang đi ăn xin ác làng lân cận chỗ lão tướng già đóng.

Tên này có nhiệm vụ, dò xét binh tình xem lão tướng có đem quân tróc nã chàng không? Hai tên nữa chàng truyền cho ra chợ tìm hàng bán quần áo cũ mua hai bộ quần áo nông dân. Khi đã cải trang, mua lấy mỗi người một đôi

thúng, đòn gánh, buôn ít hàng lặt vặt, quảy đi bán, chủ tâm nghe ngóng xem lão tướng động tĩnh thế nào, đối phó ra sao khi bọn quân tinh nhuệ của hắn đã bỏ hắn. Ở đầu đường vào đền, chàng giao anh lính sứt môi đứng gác. Nhiệm vụ anh này phải luôn luôn để ý xem xung quanh chân núi có thấy động tĩnh gì không, nếu có gì khác lạ phải lập tức cho người vào phi báo.

Công việc được cắt cử xong xuôi, bọn lính hãy còn ngủ ngon giấc, chàng đem bút giấy ra ghi chép. Chàng ghi hiện có bao nhiêu người, có bao nhiêu súng ống đạn dược, quân trang có những gì, tình trạng giày dép của bọn lính ra sao, liệu có thể dùng được trong một chuyến đi xa không?

Khi bọn người ngủ dậy, chàng cho xếp hàng diễu qua trước mặt, chàng tính ngoài hai thằng nhỏ, có tất cả 108 người mạnh khỏe, chưa có người nào già quá, vài anh đau yếu xoàng, người bệnh đau mắt, ghẻ lở, những thứ đó ai cũng có thể có, không đáng kể. Bọn người diễu chậm chạp trước mặt chàng, cả bọn đều sửng sốt, thấy chàng cầm giấy, chữ viết chi chít ở trong. Bọn lính này hết sức khâm phục chàng, vì chàng không những giỏi về cầm quân, bày binh bố trận, lại còn biết cầm bút viết, giấy trắng mực đen, chàng lại đọc được, hiểu nghĩa từng chữ. Chàng thật văn võ toàn tài!

Chàng tính, hiện có tất cả 122 khẩu súng, bì đạn anh nào cũng đầy nhóc.

Ngoài ra chàng còn dự trữ được 18 thùng đạn, chàng đã lấy trộm được ở trong kho của lão tướng già. Kho này chỉ có chàng có quyền ra vào. Chàng đã lấy trộm dần từng thùng một, sai một anh lính tâm phúc đem lên ngôi đền, để sau bức tượng Phật. Ở chỗ pho tượng, mái đền không bị dột nát mà

pho tượng cũng che nắng mưa hắt vào, cửa đền mở toang, cửa ngõ hỏng cả. Quần áo bọn lính, chàng đã tính, mỗi anh chỉ có một bộ mặc ở người, cũng vừa đủ cho đến khi có gió bấc anh nào cũng có một chiếc chăn đắp tối đi ngủ.

Tính phác qua những sự hiện hữu, chàng rất vui lòng. Lương thực còn đủ ăn trong ba ngày nữa. Chàng tính cần phải nhổ trại trong một đêm gần đây để tiến về phía Bắc. Dù cho chàng không ghét vùng này, chàng cũng không thể dung thân ở đây được. Đã đến mười năm nay lão già không nhúc nhích đi đâu, sống bám vào đám dân đen, thuế má đánh quá nặng, nhiều khi họ đóng không nổi. Lương của chàng là do lão già bóp nặn dân để trả cho chàng. Tình cảnh dân ở đây đã xơ xác chàng phải tìm những miền phong phú hơn.

Chàng cũng không có ý định giao tranh với lão già này vì dân vùng này kiệt quệ quá rồi. Ý chàng muốn lên mạn Bắc, gần quê hương chàng. Tiến về phía tây bắc dãy núi non hiểm tuấn, dù chàng có bị truy nã cũng có chỗ dung thân, miền núi non trùng điệp, dân cư còn bán khai, chính bọn thủ lãnh chiến tranh ít khi đặt chân tới, trừ ra thất cơ phải đến để ẩn náu, dùng chính sách cường đồ.

Chàng đã vạch một con đường, cứ thế theo, mạnh bạo tiến, cương quyết đạt đến đích, tên chàng sẽ vang dội trong  nước, chàng không đặt mực độ, giới hạn cho chí nguyện, cao siêu hùng vĩ của chàng. Ba anh lính cho đi dò la thám thính lần lượt trở về. Anh thứ nhất báo cáo: đâu đâu họ cũng xôn xao bàn tán, họ cho cái tổ ong cũ bây giờ chia làm hai tổ. Dân đã bị hút đến xương tủy, bây giờ làm sao cung phụng nổi hai tổ ong một lúc.

Anh chàng “cải trang làm ăn mày” trở về báo cáo: Tôi rình mò ngay quanh trại cũ chỗ mình ở trước, tôi lấy bùn và phân bò trát đầy mặt, đầy người, không ai có thể nhận được tôi, tôi lài nhài xin bố thí, để ý xem xét nghe ngóng. Cả trại rối loạn, lão già la hét om sòm, hắn lia lịa ra lệnh, hết lệnh nọ đến lệnh kia rồi lại hủy bỏ liền. Hắn nói gì nhiều lắm, mặt đỏ tía tai, phùng mang, trợn mép. Tôi mon men lại gần nghe rõ hắn nói: “Tao không ngờ thằng quỷ sứ, lông mày sâu róm lại dám chơi xỏ tao thế này. Thế mà ai

cũng bảo tụi dân miền bắc thực thà, tử tế lắm. Tao muốn đâm cho nó một nhát mới hả giận. Quân ăn cướp, con thằng ăn cướp. Hắn thét lên hai ba câu ra lệnh cho bọn lính của hắn sửa soạn vũ khí, phải truy nã, giao tranh với bọn mình”.

Nói đến đây tên “ăn mày hóa trang” này im không nói nữa, nhăn nhở cười. Anh chàng này hay có tính chớt nhả, pha trò hề. Hắn đứng yên rồi lại nói tiếp, lần này hắn nói to tát, hùng dũng, tưởng chừng như có việc gì nguy biến sắp xảy đến: “Thế rồi lão tướng cứ hô quân, bọn lính cứ đứng trơ, không ai nhúc nhích”. Nghe xong, Vương hổ tướng khẽ nhếch mép cười, chàng hiểu không có gì đáng quan tâm. Bọn lính của hắn, đến một năm nay, không anh nào được một xu lương. Chúng có ở lại với hắn là vì không phải làm gì mà có người nuôi ăn một ngày hai bữa. Nếu bắt họ xách súng đi đánh nhau, họ bắt phải trả lương họ đã, lão già làm gì có tiền mà lấy tiền đâu ra trả. Thế là ngày một ngày hai bầu máu nóng sôi sùng sục của hắn sẽ nguôi dần. Hắn sẽ chép miệng, nhún vai, quay về với lũ vợ, bọn lính lại ra sưởi nắng, ngủ rồi ăn, ăn xong rồi lại ngủ.

Nghĩ thế Vương hổ tướng, thấy không có gì đáng lo ngại  về phía lão tướng già, chàng ngoảnh đầu nhìn về phương Bắc.

Huy Phương: trên sân ga cuối đường tàu

26 Tháng Năm 2021

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

Để thay lời tựa cho tuyển tập 80 “Ga Cuối Đường Tàu” trình làng vào tháng 4/2018, nhà văn Huy Phương đã gởi đến bạn bè, độc giả bốn phương những lời tâm huyết:
“Nếu cuộc đời là những chuyến tàu thì cuối cùng, chúng ta ai cũng có một nhà ga để xuống, có điều sớm hay trễ mà thôi. Và đến một tuổi, một lúc nào đó, chúng ta phải nghĩ là đã đến lúc sắp xuống tàu. Vì vậy tác phẩm này, hôm nay đến tay bạn đọc, được xem như là một nhà ga cuối, cuộn chỉ thời gian đã kéo gần hết, quỹ thời gian chẳng còn được bao nhiêu!”

Tuyển tập 80 này ra đời, khi anh Huy Phương vừa qua tuổi 80 và cũng vừa trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Một hôm tôi đến thăm anh tại bệnh viện Kaiser ở Irvine. Sau một cuộc giải phẫu nhiều giờ, anh nằm bất động, nhưng khi mở mắt nhìn tôi, anh nở nửa nụ cười, khoe là “tớ vừa mới từ cõi âm trở lại, cứ tưởng lần này là đi đứt rồi!” Tôi đùa “mái tóc trắng của anh vẫn bồng bềnh, anh còn đẹp lão, sức mấy mà mấy bà cho anh đi, hơn nữa anh bỏ đi thì lấy ai thay anh để viết tiếp tạp ghi đây!” Anh nhoẻn miệng cười méo mó.

Tuần sau đó, trước khi trở lại Bắc Âu, tôi gọi thăm và chia tay anh. Anh cho biết đang tiếp tục điều trị và tịnh dưỡng tại nhà. Nghe giọng nói, biết anh còn yếu, đang mệt lắm, nhưng tôi không mấy lo âu, bởi tin chắc là một người khí khái, có nhiều nghị lực và sống chí tình với bè bạn như anh, không dễ gì mà “đi đứt” được.

Hai tuần sau, khi đang ở NaUy, thấy anh xuất hiện trên chương trình “Quê Nhà Quê Người” với cô cháu Ngọc Lan, dù vóc dáng có hao gầy, nhưng thần thái và giọng nói vẫn phong độ như ngày nào. Tôi mừng cho anh và cả cho tôi. Từ lâu, chúng tôi khá thân tình, xem nhau như anh em.

Bẵng đi một thời gian, anh bận rộn chuyện dọn nhà. Lâu nay vẫn ở nhà thuê, giờ nghe nói anh chị và vợ chồng cô con gái mua được ngôi nhà khá mới, rộng rãi khang trang trong một khu yên tĩnh. Được anh báo tin kèm theo địa chỉ mới, tôi mừng cho anh chị và hứa sẽ ghé lại thăm và mừng “tân gia”. Nhưng rồi con Coronavirus đến nhanh hơn chiếc xe Honda Accord đời 2003 cũ kỹ của tôi. Cả California có lệnh “mang khẩu trang và giản cách xã hội.” Không đi đâu được, cả ngày phải ở trong nhà, quá ngột ngạt với không khí dịch bệnh và chính trị rối ren của nước Mỹ, tôi rất thèm một chút không khí yên ả ở xứ Bắc Âu, quê hương thứ hai của tôi, nên đã mua và đổi vé máy bay đến mấy lần mà vẫn không về được. Bỗng một buổi trưa, nghe tiếng điện thoại reo, đầu giây bên kia là giọng “rất Huế” của anh Võ Ý, người anh cả của Phi Đoàn Bắc Đẩu ở Pleiku, từng bao vùng, gọi khu trục yểm trợ cho đơn vị tôi trong suốt mùa Hè 1972 ngập đầy khói lửa. Anh cũng là bạn thân, cùng Khóa 17 VB với nhà văn Song Vũ, ông anh trung đoàn trưởng nỗi danh “thao lược, dễ thương” của chúng tôi ngày ấy:

– Moa và Huy Phương đang ở quán “Huế Ơi” đây. Nhớ chạy ra liền nghe. Huy Phương muốn gặp toa.
Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: Tình trạng Covid dầu sôi lửa bỏng như thế này mà hai ông anh gốc Huế còn dám đi tìm dư hương xứ Huế? Chưa kịp tìm ra câu trả lời thì nghe tiếng anh Huy Phương:

– Ê! Nhớ chạy ra gấp nghe! Lần này mà không gặp thì xem như không bao giờ còn gặp nữa đó!
Giọng nói trầm và yếu ớt này, cho tôi biết không phải là đùa. Tôi hỏi lại:

– Ông anh nói cái gì mà nghe “khẩn trương” quá vậy? Đã sợ Covid mà còn hẹn nhau ra quán.

– Covid mà nhằm nhò gì. Moa bị ung thư tái phát, di căn rồi. Bác sĩ bó tay, bảo về nhà nghỉ ngơi. Toa có nhớ cách nay mấy năm, toa có đến thăm moa ở Kaiser không, lần ấy giải phẩu thành công, tưởng chết đi sống lại, nhưng không ngờ nó trở lại. Thời gian của moa chỉ còn vài tháng, mà cũng có thể vài ngày nữa thôi!
Tôi thoáng lo âu và cảm động, muốn chạy ra gặp anh ngay, nhưng vì phải trông hai đứa cháu ngoại nhỏ đang học online, nên đành phải nói lời xin lỗi, mà trong lòng thấy ưu tư, áy náy.

 Không gặp nhau, nhưng anh đã nhờ anh Võ Ý chuyển đến biếu tôi “Tuyển Tập Huy Phương”. Đọc lời đề tặng và cả trong lời tựa “Gởi đến bạn như một lời chia tay”, lòng tôi chùng xuống, bâng khuâng:

“Theo luật đời, ở tuổi ngoài 80, chúng tôi đi vào những giai đoạn già yếu, bệnh tật, và mang theo một chứng bệnh nan y, chắc cũng phải đến lúc xuống tàu, giã từ đời sống. Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,” xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Mấy tuần sau, anh Võ Ý gọi báo tin: anh Huy Phương giờ yếu lắm, và rủ tôi đi thăm cùng với anh và anh Phan Nhật Nam. Anh sẽ ghé đón. Rất tiếc, khi ấy tôi đang ở trên nhà cô con gái út, khá xa Little Saigon, nên chỉ nhờ anh Võ Ý chuyển lời thăm, và hẹn sẽ gặp anh Huy Phương khi về lại Little Saigon.

Tuần trước, về lại nhà, tôi cùng anh Trần Huy Bích đến thăm anh. Biết anh mệt và có một số bạn bè thân tình thăm viếng, nên tôi gởi tin nhắn đến điện thoại của chị Huy Phương, xin chị chọn một thời điểm thích hợp.
11 giờ 30 trưa hôm sau, chúng tôi đến. Ngôi nhà của anh chị nằm trong một khu thật yên tĩnh ở thành phố Anaheim. Tôi bấm chuông với một chút lo âu, chuẩn bị tâm trạng trước những tình huống không vui, nhưng chị Huy Phương mở cửa đón chúng tôi với một nụ cười, vồn vã, làm chúng tôi thấy tự nhiên hơn. Anh Huy Phương từ trong phòng bước ra, tay phải chống một cây gậy. Vẫn mái tóc bạc trắng như tuyết bồng bềnh, với một nụ cười thân thiện cố hữu, nhưng vóc dáng anh trông tiều tụy, nếu không nói là da bọc lấy xương. Bắt tay anh, nở nụ cười, mà lòng dạ xốn xang, thấy thương và tội nghiệp anh.

Từ bên trái là giáo sư Trần Huy Bích, nhà văn Huy Phương, nhà văn Phạm Tín An Ninh trưa ngày 29 tháng 4, 2021, tại Anaheim, Nam California. (Nguồn: Huy Phương Facebook)
Tôi cảm động hơn khi anh kéo tay bảo hai anh em tôi đến ngồi bên cạnh anh, chung cái ghế sofa để nói chuyện cho vui, vì chẳng còn có nhiều dịp được ngồi bên nhau nữa. Anh cho biết chẳng ăn gì, chỉ uống đúng 3 ly sữa mỗi ngày, cùng với mớ thuốc men do bệnh viện cấp. Tôi và anh Bích nhắc lại vài kỷ niệm xưa, đặc biệt mấy lần gặp anh chị tại Oslo- NaUy, khi anh chị sang đây thăm vợ chồng người bạn thân, là giáo chức đồng nghiệp cùng anh dạy ở trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, trước khi anh nhập ngũ. Tôi đùa, bảo lúc ấy ông thầy Lê Nghiêm Kính (*) đẹp trai, chắc cũng từng làm khổ bao nhiêu cô học trò Quảng Trị. Mấy hôm nay có cô nào xin phép bà chị đến thăm anh Huy Phương? Cả anh chị cùng cười.
Anh bình thản kể chuyện đã chuẩn bị tất cả cho việc hậu sự. Đã viết cả Cáo Phó và dặn dò vợ con để anh ra đi trong bình thản. Thấy anh vui, tôi bảo “Năm nay anh đã 84, thuộc hàng đại thọ rồi. Em cũng chỉ mong sống đến như vậy là phúc đức trời cho rồi. Từng là lính chiến, bị tù đày rồi vượt biển mà không chết, bây giờ sắp tuổi 80 em thấy được hưởng bonus của ông trời, nên đã mãn nguyện lắm rồi.” Anh Trần Huy Bích tiếp lời: “Anh em mình bây giờ đang xếp hàng, kẻ trước người sau. Mai mốt rồi cũng sớm gặp lại nhau thôi.”

Tôi bỗng nhớ tới bài thơ “Chúc Thư” của anh Huy Phương viết đã khá lâu, tôi rất tâm đắc:

(Bài thơ khá dài, xin trích đoạn)


Tôi người lính già ở xa tổ quốc

Xa chiến trường lưu lạc tới đây

Nơi quê người sương pha tuyết đổ

Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.

…..

Không phải chỉ chịu ơn người đã chết

Tôi như còn mang món nợ nước non.

Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở

Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp

Có vui chi nhìn người lính chết già

Hổ thẹn đã không tròn ơn nước

Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.

Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc

Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi

….

Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ

Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.

Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển

Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương

Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu

Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.

Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ

Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa

Hãy rải hoa trên con đường thấm máu

Phút lui binh phải gãy súng buông cờ.
Anh là huynh trưởng của tôi, sau khi tốt nghiệp Khóa 16 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, anh đã phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến cho đến ngày phải tan hàng, vào tù theo vận nước. Trong binh nghiệp, anh cầm bút nhiều hơn cầm súng. Tôi đã buông súng, nhưng anh thì chưa hề buông bút. Anh là một trong những người lính chiến đấu bằng ngòi bút cho đến giây phút cuối cùng, đã để lại cho đời, cho chiến hữu, bạn bè cùng thế hệ con cháu những “chiến tích” rất đáng được trân trọng, tự hào, như anh đã viết trong lời tưa cho Tuyển Tập cuối cùng:

Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,” xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Khi nhận được tuyển tập “Ga Cuối Đường Tàu” và đọc những dòng tâm tình của anh, tôi liên tưởng tới lời xưa của cụ Phan Bội Châu:
“Con chim sắp chết hót tiếng bi thương,

Con người sắp chết nói lời tâm huyết”
Cụ Phan Bội Châu viết lời này trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư năm 1903. Mãi ba mươi bảy năm sau (1940), Cụ mới qua đời tại Bến Ngự trong cảnh bị giam lỏng.
Ông anh xứ Huế của tôi vừa bị định mệnh lên án treo. Anh có được ân xá và diên trì sự sống một thời gian dài như Cụ Phan? Trong viễn ảnh Phật giáo mà anh là một tín đồ, tiếng gọi về ngay hay lệnh hoãn không nhất thiết là tốt hay xấu, chỉ là duyên nghiệp trong luật tử sinh chung. Và việc ở hay đi nào có gì quan trọng, nếu người ta sống xứng đáng và yêu thương tới giờ phút cuối cùng.
Tôi tin anh Huy Phương đã quan niệm và hằng sống theo chí hướng ấy.

Thấy anh đã thấm mệt, chúng tôi xin cáo từ. Anh kéo chúng tôi ngồi sát lại anh hơn, ôm vai hai chúng tôi, bảo cô con gái chụp mấy tấm hình kỷ niệm. Thấy anh cố gắng nở nụ cười, chúng tôi cũng cười theo. Anh viết tặng anh Trần Huy Bích tuyển tập cuối cùng của anh. Nét chữ run run. Anh Bích nhận món quà với nhiều cảm xúc. Chúng tôi cám ơn chị và cháu mà không biết chia sẻ một lời nào, ôm anh thật chặt trước khi bước ra cửa, trong lòng lẫn lộn những nỗi niềm, khó tả.

Xin cầu chúc anh, dù ở hay đi, vẫn luôn nở những nụ cười, thanh thản, mãn nguyện. Hẹn gặp lại anh ở sân ga cuối đường tàu.

(10 tháng 5 năm 2021)
Phạm Tín An Ninh
(*) Lê Nghiêm Kính là tên thật của Nhà văn Huy Phương

Giai Nhân Tự Cổ

baovecovang2012.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh

Posted on April 15, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

(viết tặng những giai nhân trường Nữ, và để tưởng nhớ một người…)

“O sinh ra tận mô ngoài Huế

Hà cớ gì trôi dạt tới Nha Trang

Để một “thằng Võ Tánh” phải lang thang

Đem cây si trồng trước sân trường Nữ”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Nhờ bài thơ với bốn câu mở đầu không đâu vào đâu này, tôi bất ngờ nhận được điện thư của một người có tên Van Loubet từ một nơi nào đó gởi ngợi khen và hỏi tôi có phải là cậu bé nhà quê ngày xưa vào Nha Trang, có thời trọ học ở một con hẻm lớn trên đường Phương Sài. Tôi khá ngạc nhiên, vì bài thơ tôi viết vội chỉ để gởi đăng trên Đặc San Võ Tánh Nữ Trung Học Nha Trang, nhân dịp đại hội cựu học sinh hai ngôi trường này tổ chức tại Houston hơn hai năm trước đó, mùa hè năm 2005; và cái tên người gởi, Van Loubet rất xa lạ, có thể chỉ là một nick- name, không phải tên thật. Thấy một số chi tiết trên mẫu điện thư ghi bằng tiếng Pháp, tôi tò mò, tìm hiểu cái họ Loubet, được biết đó là họ của ông Émile Loubet, thủ tướng thứ 45 của nước Pháp và sau đó trở thành tổng thống (năm 1906)! Tôi giật mình, làm sao tôi có thể quen biết với một người thuộc “danh gia vọng tộc” tận bên trời Tây?

Hồi âm và hồi họp đợi chờ. Mãi đến hai hôm sau, nhận được thư trả lời, tôi mới vỡ lẽ, nhưng rồi lại có thêm nhiều điều ngạc nhiên khác. Người viết thư cho tôi là chị Bích Vân, bà chị cả của “O Huế” trong bài thơ tôi viết. Chị sang Pháp vào những ngày Sài Gòn trong cơn hấp hối, và bảy năm sau, lập gia đình với một người Pháp có dòng họ với ông tổng thống từ năm 1906 này. Chị cho tôi biết đã vô tình đọc được bài thơ “O Huế Ngày Xưa” của tôi trên diễn đàn của trường Đồng Khánh, mà chị là một thành viên. Trước khi chuyển vào trường Võ Tánh-Nha Trang, chị vốn là một nữ sinh Đồng Khánh. Sau đó chị thử vào Google gõ tên tôi thì tìm ra cả trang Web, có cả địa chỉ email của tôi trong đó. Chị còn bảo, sở dĩ chị đoán ra tôi một phần là do nội dung bài thơ, phần khác chính là nhờ cái tên của tôi đã làm chị dễ nhớ. Điện thư chị viết khá dài, lại không có dấu nên khó đọc, nhiều chữ phải đoán mò. Tôi cố đọc đi đọc lại vài lần mong tìm xem có tín hiệu nào về “O Huế” của tôi, nhưng hoàn toàn không thấy. Phía dưới email, chị cho số điện thoại và dặn tôi gọi cho chị vào cuối tuần, khoảng sau bốn giờ chiều thứ bảy, để chị em tâm sự nhiều hơn.

Còn ba ngày nữa mới đến thứ bảy, nhưng ba ngày với tôi bây giờ có cảm giác còn dài hơn ba tháng!

Ký ức đưa tôi quay trở về một thời xa lắm, khi thành phố Nha Trang đang mở ra cho tôi cả một bầu trời xanh bao la trước mặt. Năm lớp đệ tứ, tôi đang trọ học ở nhà ông chú, nằm góc đường Lê Lợi – Hoàng Tử Cảnh. Ngôi nhà nằm ở một vị trí không thích hợp và cũng không đủ rộng cho việc kinh doanh, nên phải bán đi để xây một ngôi nhà lớn hơn tại khu đất mới. Chú tôi phải thuê tạm một căn phố gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái ở đầu đường Độc Lập để làm văn phòng, rất bất tiện cho tôi trong việc ăn ở học hành. Tôi phải dọn lên ở tạm nhà một người bạn thân của ba tôi, chú Thân Trọng Lý, trên một con hẻm lớn ở đường Phương Sài, Phường Củi. Hẻm khá rộng, hầu hết nhà cửa đều rất khang trang, yên tĩnh.

Khoảng hai tuần sau, một gia đình dọn đến thuê ngôi nhà lớn nhất ở cuối con hẻm. Nhà có bảy người, ông bà chủ, bốn người con và một chị giúp việc. Bà chị đầu, hai cậu con trai trạc tuổi tôi rồi đến cô gái út. Ông bố là trung úy ngành Quân Cụ, từ xa thuyên chuyển đến làm Chỉ huy phó trại Quân Cụ, nằm góc đường Phương Sài – Trần Quý Cáp. Trông tướng mạo oai phong nhưng ông rất hiền từ. Cả hai ông bà rất mộ đạo Phật, ngày rằm nào cũng đi lễ chùa. Gia đình gốc Huế, nhờ vậy, chỉ sau một thời gian, ông bố trở thành bạn đồng hương, đồng đạo với chú Thân Trọng Lý, chủ nhà của tôi, một sĩ quan cơ khí Không quân, và cũng là một Phật tử thuần thành. Vợ chú đã qua đời từ mấy năm trước, để lại cho chú một đứa con trai khoảng 6, 7 tuổi. Chú Lý có họ Thân Trọng, một tộc họ nổi tiếng ở Huế, nhưng lại được chôn nhau cắt rốn tại Vạn Giã, quê tôi. Bởi thân phụ của chú từ Huế đến Vạn Giã làm ngành Hỏa Xa cho Pháp khi còn trai trẻ, lấy vợ rồi lập nghiệp ở đây luôn. Gia đình này nổi tiếng giàu có nhất ở quê tôi lúc ấy. Cùng ở quê vào trọ học với tôi có hai chị em, chị Thân Thị Hảo và anh Thân Trọng Sỹ, cháu ruột, con ông anh cả của chú Lý, học ở Võ Tánh, trước tôi mấy lớp.

Tình bạn gốc Huế của hai ông chủ nhà đã bắc một nhịp cầu khá thênh thang cho anh Thân Trọng Sỹ và tôi dễ dàng làm thân với bốn đứa con của ông trung úy. Hai cậu con trai khá hiền lành và hai cô con gái cô nào cũng thùy mị, xinh đẹp. Sau đó chị cả Bích Vân vào học đệ nhị trường Võ Tánh, cùng lớp với anh Sỹ, còn cô út Bích Hà học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học vừa mới mở. Hải và Sơn, hai anh con trai lại học bên trường bán công Lê Quí Đôn. Anh Sỹ may mắn được học cùng lớp, nên ngày càng thân thiết với cô chị, còn tôi thì “phải lòng” cô em, bởi giọng nói “rất Huế” nhỏ nhẹ dễ thương, đôi mắt nai tơ hiền lành và nhất là mái tóc thề bay bay trong gió mỗi lần chúng tôi đạp xe song song trên một đoạn đường dài trước khi rẽ về hai hướng để đến trường mỗi đứa.

“Tôi phải lòng O, khi O còn đệ lục

Nón trắng, áo dài – trắng cả mùa thu

O đạp xe đi hồn nhiên quá đỗi

Cuốn hồn tôi theo vào cõi sa mù”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Đều là Phật tử, nhưng anh Sỹ và tôi hiếm khi đi chùa. Vậy mà từ ngày có gia đình Bích Hà, bọn tôi không bỏ sót ngày rằm nào. Ông bố thường chở chú Lý cùng vợ và hai cô gái đến chùa bằng xe Jeep, còn anh Sỹ, tôi và hai anh con trai thì đèo nhau trên hai chiếc xe đạp, chạy theo con đường tắt qua hướng Mả Vòng. Chú Lý quen biết từ lâu với Thầy Trụ trì Chùa Hải Đức, nên tất cả chúng tôi thường đi lễ ở chùa này, hơn nữa ở đây không đông đảo như bên chùa Tỉnh Hội, chỉ cách đó vài trăm thước. Khi lạy Phật, bọn nhỏ thường quỳ sau mấy người lớn. Tôi thường quỳ bên cạnh Bích Hà. Không biết nàng lâm râm khấn nguyện điều gì, còn tôi thì chỉ xin đức Phật cho hai đứa được gần mãi bên nhau. Và dường như từ nhỏ đến giờ, tôi chưa từng cầu xin đấng linh thiêng nào một cách thành tâm như thế.

Khoảng sáu tháng sau, chú tôi đã xây xong ngôi nhà mới ở đầu đường QL 1, nằm bên ngã tư Trần Quý Cáp, cạnh Ty Thông Tin. Ông đến nói chuyện với chú Lý để đón tôi về, nhưng tôi năn nỉ quá nên được cho ở lại đến cuối niên học. Sau này, mặc dù về ở nhà chú, nhưng sáng nào, tôi cũng đạp xe theo đường Trần Quý Cáp và đợi ở góc đường Phương Sài, trước sân phòng mạch của Bác sĩ Nguyễn Văn Tý để chờ Bích Hà, rồi chúng tôi cùng đạp xe song song trên những con đường Gia Long, qua Ngã Sáu Nhà Thờ, đến Lê Thánh Tôn. “Hộ tống” nàng đến trường Nữ, tôi mới rẽ sang đường khác để đến trường tôi. Đặc biệt, những ngày trời mưa lớn, Bích Hà không đạp xe mà nhờ anh Hải chở đi. Lúc ấy tôi phải năn nỉ “lấy lòng” thằng bạn, ông anh rất hiền lành của Bích Hà, cho tôi thay nó chở nàng ở phía sau. Đạp xe dưới trời mưa gió lạnh mà tôi thấy cả người ấm lên và mong sao con đường cứ dài thêm ra mãi.

“Cũng tại vì O mà tôi biết yêu

Tập viết thư tình từ năm đệ tứ

Đọc thư tôi làm sao O hiểu

Cái nghĩa yêu đương mù mịt quá chừng”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Anh Sỹ và chị Bích Vân sau khi đậu Tú Tài 2, đều chuyển vào Sài Gòn học tiếp. Và cuộc tình của hai người cũng kết thúc sớm, sau khi chị Bích Vân được sang Pháp du học. Tôi có cảm giác họ chỉ là hai người bạn thân chứ không hẳn là đôi tình nhân. Mặc dù tôi biết anh Sỹ rất mê chị Bích Vân, nhưng tính tình hoàn toàn khác nhau. Anh Sỹ lúc nào cũng đùa cợt, vui vẻ hồn nhiên, còn chị Bích Vân thì trầm lặng và sâu sắc.

Khi tôi vừa thi đỗ Tú Tài 1, Ba tôi từ quê nhân có việc gia tộc, cần gặp chú tôi bàn bạc, nên đã vào Nha Trang khao mừng và đón tôi về quê nghỉ hè với ông luôn. Khi ấy Bích Hà cũng vừa thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp. Có thể lúc này cả hai đứa tự xem mình đã là người lớn… hơn một chút. Trước khi về quê nghỉ hè, tôi rủ Bích Hà đi ăn kem ở một tiệm bên cạnh rạp ciné Tân Tiến. Tôi tặng một cây bút màu xanh khá đẹp, có khắc đậm bốn chữ “Hoàng Thị Bích Hà”. Lần đầu tiên trong đời nắm tay một người con gái mà lòng thấy lâng lâng, man mác buồn. Bởi “chỉ mới nắm tay em hôm nay mà đã nghĩ đến chia xa ngày mai.” Lúc nói lời chia tay, cô bé không nhìn tôi, cúi xuống, giọt nước mắt tình yêu đầu đời của tôi rơi xuống hai bàn tay nàng. Đọc trong sách, thấy người ta thường nói đến giọt nước mắt hạnh phúc, nhưng với tôi thì dường như đó lại là dấu hiệu của chia ly. Về quê chưa được hai tuần, tôi nhận thư của Bích Hà, bảo gia đình sẽ phải chuyển vào Cần Thơ, vì ông bố được thăng cấp lên đại úy và không hợp cung cách làm việc của vị chỉ huy trưởng, vả lại ông rất thích miền Tây sông nước, nên xin thuyên chuyển về đây, giữ một chức vụ cao hơn. Cả nhà sẽ di chuyển trong mùa hè này, bằng phi cơ quân sự, nhưng chưa biết ngày nào, có thể còn khá lâu vì ba cô phải chờ người đến thay thế. Tôi viết thư, hứa nhất định sẽ trở lại Nha Trang để tiễn Hà và gia đình. Nhưng rồi tôi đã không có cơ hội để thực hiện được lời hứa này. Một hôm nhận được lá thư khác của Bích Hà, bảo là gia đình đã đi Cần Thơ, vì bất ngờ, nên cô bé không hề biết trước. Khi tôi đọc được những dòng chữ xinh xắn quen thuộc này, thì Bích Hà đã rời khỏi Nha Trang hơn một tuần rồi! Bỗng dưng tôi thấy cả đất trời và mọi thứ chung quanh mình trở nên trống rỗng. Chỉ còn có nỗi buồn đầy ắp trong lòng. Không ngờ chuyện tập tễnh yêu đương cứ tưởng chỉ là ngây ngô vụng dại, vậy mà đã làm trái tim tôi nhói đau như thế. Mất mẹ từ nhỏ, nên tôi rất gần gũi thân thiết với Ba tôi. Bất cứ điều gì tôi cũng tâm sự, kể lể với ông, có khó khăn gì tôi đều tìm đến ông để được nghe ông giải thích, chỉ dạy tận tình, nhưng lần này khi thấy tôi buồn, không còn đàn địch ca hát líu lo như mọi ngày, ông dò hỏi, tôi chỉ vờ nhoẻn miệng cười, lảng sang chuyện khác. Chẳng lẽ tôi lại ngu ngơ khai với ông rằng, thằng con yêu quí của ông còn đang học hành, chưa kịp lớn mà đã biết si tình? Vả lại, chính cả tôi cũng đang bâng khuâng không biết đó có phải thực sự là tình yêu hay không nữa!

Sau mùa hè, khi niên khóa mới sắp khai giảng, tôi khăn gói trở lại Nha Trang, nhưng không còn cái háo hức của những năm tựu trường trước đó. Thành phố biển xinh đẹp này với tôi bỗng dưng chẳng còn chút thơ mộng nào nữa. Tôi đạp xe lên nhà chú Thân Trọng Lý và vội vã chạy sang nhìn ngôi nhà của Bích Hà. Bây giờ đã có chủ mới, nhưng tôi vẫn cố ý kiếm tìm bởi cảm giác bóng dáng Bích Hà vẫn còn thấp thoáng quanh đây, và tai tôi phảng phất dư âm giọng nói rất Huế của nàng.

Tôi bắt đầu năm học mới với tâm trạng buồn và đầu óc mang mang như thế!

Lớp Đệ Nhất C của tôi khai giảng đúng vào những ngày biến động của chính trường miền Nam với liên tiếp những cuộc bãi khóa, biểu tình chống chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng bù lại có thêm nhiều khuôn mặt mới, đa số là những giai nhân đến từ các trường Pháp và một số trường tư thục sau khi đã đậu Bac 1 hay Tú Tài 1. Lúc ấy Trường Nữ Trung Học Nha Trang vừa mới thành lập, chưa có các lớp đệ nhất, nên các nữ sinh “được” tiếp tục ở lại học chung với đám “ma quỷ” bọn tôi.

Thời ấy, nếu bên các lớp Đệ Nhất A, Nhất B có những tên tuổi đình đám, nổi bật như Trần Xuân Hoa, Nguyễn Thị Danh, Tôn Nữ Ngọc Hà, Thu “Mỹ Kim”, Phạm Phong Nhã…, thì bên Nhất C của bọn tôi vang lừng với nhiều cái tên khác: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Tỷ Muội, Túy Ngọc, Bạch Lan, Như Bá…Bọn tôi cũng hãnh diện khi cùng lớp với mình có quá nhiều người đẹp, nhưng như ông bà ta thường nói “ Bụt nhà không thiêng”, hơn nữa khi bằng tuổi nhau, đám con gái có khuynh hướng nhìn lên, chứ chẳng mấy cô chịu nhìn ngang, nhìn dọc, nên đa phần là hoa đã có chủ, vì vậy hầu hết đám con trai bọn tôi đều đem cây si trồng bên trường Nữ, tìm đối tượng ở một vài lớp nhỏ hơn mình.

Thời ấy, nữ sinh bên Trường Nữ Trung Học, có lẽ nhờ qui tụ từ khắp bốn phương nên hầu hết đều là những đóa hoa ngát hương, muôn màu muôn vẻ, làm khốn khổ trái tim của biết bao anh hùng hào kiệt, đặc biệt những chàng Sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân hào hoa từ khắp nơi tập họp về đây để sẵn sàng quỳ gối trước một giai nhân trường Nữ, xin rước những “cánh hoa biển” hay “cánh sao trời” về dinh để tự giam hãm cuộc đời mình.

Có rất nhiều cái tên vẫn luôn đi mãi cùng năm tháng. Riêng tôi chỉ biết (trong hạn hẹp) một vài người: Mỵ Cơ, Hồng Nữ, Xuân Thùy, Quỳnh Như Ý, Trung Thu, Bích Khuê, Như Ý (Thanh Cần), Lệ Son, Mỵ Hảo…Trong số những giai nhân này có mấy nàng từng làm cho vài thằng bạn của tôi đã phải điêu đứng, khốn khổ đến tự hủy hoại cả một đời. Riêng tôi, chỉ có duy nhất mỗi hình bóng cô nữ sinh gốc Huế vừa mới giã biệt ngôi trường Nữ này, dù rất kín đáo, thầm lặng, không có tên trong số những giai nhân ấy, nhưng đã đủ choáng ngợp tâm hồn tôi, đã cho tôi cái cảm giác thế nào là “chết ở trong lòng một ít” của ông nhà thơ Xuân Diệu, mà khi ấy tôi rất mê thơ của ông..

Bây giờ Sài Gòn – Cần Thơ trở nên xa cách muôn trùng, Bích Hà và tôi chỉ liên lạc nhau qua thư từ, và cũng chỉ dám nói đôi điều đùa cợt vu vơ, vì sợ ba, măng (mẹ) nàng kiểm soát. Ông bà không phải là người quá nghiêm khắc, nhưng tất nhiên lúc nào cũng mong cô con gái út chăm chỉ học hành theo chân bà chị cả Bích Vân.

Khi vào Sài gòn học thêm, tôi có rủ anh Sỹ đi Cần Thơ một chuyến nhân dịp Tết Nguyên Đán. Ông bà cụ và cả nhà Bích Hà vui mừng đón tiếp chúng tôi. Khi ấy chị Bích Vân còn ở bên Pháp. Ở đây chỉ có hai hôm, nên bọn tôi không có nhiều thì giờ riêng tư. Buổi tối cuối cùng, ông bà cụ bảo các con đưa bọn tôi đi bộ ra bến Ninh Kiều hóng gió và nhìn dòng sông Cần Thơ buổi tối lung linh dưới ánh đèn. Trên đường về, tôi kéo tay Bích Hà đi lùi lại phía sau, và bất ngờ hôn nhẹ lên má nàng. Đó cũng là nụ hôn đầu đời của tôi.

Tôi nhập ngũ khi Bích Hà vừa vào Đại Học Văn Khoa. Ra trường, tôi được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động, hành quân liên tục khắp Vùng 2 Chiến Thuật. Có khi buổi sáng còn ở Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều đã có mặt ở Tuy Hòa, Phan Thiết. Có điều, đi đâu và lúc nào tôi cũng luôn mang theo bóng dáng của Bích Hà. Sau mỗi cuộc hành quân tôi đều viết thư, nhưng hộp thư KBC lại nằm ở hậu cứ tận Ban Mê Thuột, nên ba, bốn tháng ông thượng sĩ già bưu tín viên mới có phương tiện mang thư ra đơn vị một lần. Sự liên lạc ngày một nhạt dần. Sau đó không còn nhận được lá thư nào nữa của Bích Hà. Tôi hình dung Bích Hà bây giờ không còn là cô học trò bé bỏng của trường Nữ ngày xưa nữa, đã qua rồi cái thời mộng mơ, yêu đương khờ khạo. Một năm sau, tôi bị trọng thương ở chân trái, trong một trận đánh phản phục kích ở ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, phải nằm nhà thương gần ba tháng. Rất may là không bị cưa chân. Những ngày nằm treo cái chân băng bột cứng đơ lên thành giường, nghe những đồng đội thương binh bên cạnh rên xiết, tôi càng nhận ra mình chỉ là một thằng lính mạt hạng, năm tháng chỉ còn biết có đồng đội, súng đạn, chiến trường và ranh giới giữa sống-chết còn mong manh hơn sợi tóc, thì đâu có dám mơ gì đến chuyện tương lai hay công hầu khanh tướng. Tôi cố quên dần rồi mất hẳn liên lạc với Bích Hà.

Sau tháng 4/75, trong những tháng năm bị tù tội từ Nam ra Bắc, tôi chỉ còn biết chút cảm giác của hạnh phúc khi mơ màng tìm về quá khứ, hình dung lại thành phố Nha Trang xưa, thời tôi mới lớn, những ngày cắp sách đến trường với từng khuôn mặt bạn bè vô tư trong sáng, nhìn đất trời và mọi người ai nấy cũng hiền hậu dễ thương. Và từ trong ký ức ấy, hình ảnh của Bích Hà lúc nào cũng hiện lên đậm nét. Tôi nghĩ Bích Hà đã lấy chồng và thầm cầu mong cho “O Huế” của tôi sẽ luôn có tròn hạnh phúc. Một cô con gái xinh đẹp, hiền lành phúc hậu như Bích Hà phải xứng đáng để được ông Trời dành cho vòng tay nâng niu, che chở, yêu thương.

Hết chiến tranh ta lạc mất nhau

O cùng ai đó bước qua cầu?

Tôi bất ngờ thành người bại trận

Bước vô tù theo cuộc biển dâu

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Từ khi đọc được email của chị Bích Vân, tôi nao nức đợi chờ, mong sớm đến chiều thứ bảy để gọi cho chị. Giọng nói của chị vẫn không hề thay đổi, cho dù đã hơn 45 năm tôi mới có dịp nghe lại giọng nói nầy của chị. Ấm áp, thân tình, làm tôi nhớ tới giọng nói của Bích Hà. Tôi thường trêu “cái giọng Huế của bồ làm khổ tôi rồi, bồ nói mà sao cứ như ru hồn người ta!”

Bỗng tôi bàng hoàng khi chị im lặng một vài giây, rồi xuống giọng như muốn nói nhỏ với riêng tôi “Bích Hà đã không còn trên cõi đời này nữa! Bài thơ em viết chị đã đọc trước bàn thờ cho nó nghe trong ngày giỗ thứ 37 của Bích Hà, đêm Giáng sinh tuần trước”

“O Huế” của tôi đã lẳng lặng bỏ đi, chỉ sau một cơn nhồi máu cơ tim. Bích Hà bất ngờ rời khỏi trần gian nhiều đớn đau phiền muộn này đúng vào đêm Giáng Sinh năm 1970, chỉ sáu tháng sau khi tu nghiệp một năm từ Tân Tây Lan trở về và dạy Anh văn cho một Trung Tâm Việt Mỹ. Hải, anh trai lớn của Bích Hà, người bạn hiền lành tốt bụng của tôi ngày ấy, sau này trở thành sĩ quan Pháo Binh và đã tử trận (mất xác) vào khoảng tháng 4 năm 1972 trong một trận chiến đẫm máu tại khu vực Cần Lê, gần An Lộc. Liên tiếp hai năm phải chịu hai cái tang con, mẹ của Bích Hà gần như kiệt sức, Bà cũng đã ra đi vào đầu năm 1975, sau một thời gian dài nằm trên giường bệnh, đúng vào lúc tình hình chiến sự ở miền Nam trở nên tồi tệ nhất. Điều ước mong một lần trở về Huế, thăm lại quê hương, mồ mả mẹ cha, gia tộc, cuối cùng ông bà cũng không thực hiện được.

Nhờ giữ một chức vụ khá lớn trong Banque Nationale De Paris (BNP), ngân hàng lớn nhất của Pháp tại Sài Gòn lúc ấy, nên trước ngày 30 tháng 4/75 chị Bích Vân đưa được ông cụ và Sơn, anh trai kế của Bích Hà sang Pháp. Ông cụ đã về hưu từ đầu năm 1970. Cũng kể từ đó ông bà dọn nhà về sống ở Sài Gòn. Khi đến Pháp ông đã khá lớn tuổi, cộng thêm nỗi buồn mất vợ, hai con và mất cả quê hương, ông trở nên trầm cảm, mất dần trí nhớ, rồi qua đời không lâu sau đó. Sơn thì kết hôn với cô bạn cũ, vượt biên cùng gia đình sang Úc, nên chàng ta cũng đã chọn Úc là quê hương cuối của đời mình. Riêng chị Bích Vân, lúc còn ở Sài Gòn, cũng vì hai cái tang em và gánh nặng phải lo toan cho bệnh tình của mẹ, tuổi già của cha, chị đã không lập gia đình. Mãi sau này, khi sang Pháp được bảy năm, chị mới kết hôn với một người Pháp, là bạn cũ của chị khi hai người cùng theo học ở Hautes Etudes Commerciales (HEC) Paris, từ những năm đầu thập niên 1960. Anh ta đã ly dị với người vợ trước và có một cô con gái.

Tối hôm ấy, khi được nói chuyện khá lâu với chị Bích Vân qua điện thoại, nghe tâm tình của chị, tôi có cảm giác những mất mát lớn lao của chị cũng là nỗi mất mát, đau đớn của chính tôi. Tôi trách ông Trời sao nỡ bất công với những con người phúc hậu dễ thương như ông bà cụ, như bạn Hải, và nhất là “O Huế” của tôi xưa.

Tôi đốt ba nén nhang, mở cửa bước ra balcon. NaUy đang mùa đông, tuyết rơi trắng xóa, trời đất và cả trong lòng tôi cũng ngập đầy băng giá. Hướng về phương Đông, tôi cầu nguyện và cám ơn Bích Hà đã để lại trong tôi hình bóng đẹp đẽ cùng giọng Huế dễ thương nhất của nàng.

☆

Mùa Hè năm 2009, vợ chồng đứa con trai lớn mua vé rủ chúng tôi cùng đi tour năm ngày sang Nice, một thành phố biển nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp. Tôi hăm hở nhận lời, mặc dù tôi đã từng đến đây vài lần rồi, nhưng vì biết chị Bích Vân đang sống ở đây, và tôi mong muốn có cơ hội được gặp lại chị. Chị rất vui mừng khi nghe tôi gọi, báo cho chị biết là chúng tôi đang có mặt tại Nice, và chỉ còn ở đây ba hôm nữa. Chị hỏi tên khách sạn chúng tôi ở và bảo là mười giờ sáng ngày mai anh chị sẽ lái xe đến đón. Nhà chị ở không xa lắm, khoảng một tiếng đồng hồ lái xe. Bà xã và đám con cháu tiếc nếu phải bỏ một tour du thuyền đến Monaco, nên chỉ có mình tôi nhận lời.

Anh chị ở trong ngôi nhà cổ, khá rộng. Đặc biệt anh chồng nói được tiếng Việt, dù không thạo lắm. Tóc của chị đã hoa râm, nhưng vẫn còn nguyên mái tóc thề ngày trước, khuôn mặt vẫn đầy đặn hồng hào và cả dáng dấp của chị vẫn phảng phất nét xinh đẹp, thanh lịch một thời. Sau khi ăn trưa bằng món bún bò Huế do chính chị nấu sẵn, tôi theo chị lên tầng trên. Nguyên một căn phòng lớn dùng để thờ Phật, nơi chị tụng kinh niệm Phật mỗi ngày, và một bàn thờ phía sau dành cho những người thân quá cố. Thoáng nhìn bốn tấm ảnh phóng lớn có cùng một kiểu khung trên bàn thờ, tôi nhận ra Bích Hà. Vẫn khuôn mặt khả ái, đôi mắt hiền từ ngày nào, đặc biệt với cái miệng rất duyên. Tôi xin phép thắp mấy nén hương. Đứng trước bàn thờ, lâm râm vài lời trong niềm xúc động. Nhìn thật lâu vào đôi mắt của Bích Hà, tôi có cảm giác như nàng đang nhìn tôi mỉm cười, tai tôi văng vẳng một giọng Huế rất dễ thương, quen thuộc một thời.

Trước khi đưa tôi về lại khách sạn, chị Bích Vân nhắc tới anh Thân Trọng Sỹ. Tôi cho biết là sau khi tốt nghiệp ở trường Luật, anh Sỹ được thực tập tại văn phòng một vị luật sư lớn tuổi, cũng là cậu họ của anh, nhưng chỉ một thời gian sau thì anh bị động viên vào Thủ Đức. Anh được chọn về phục vụ trong Ngành Quân Pháp. Lương ba cọc ba đồng và đời sống quân ngũ dường như không thích hợp, nên sau đó anh thi vào Khóa 1 Tham Vụ Ngân Hàng và ra làm Phó Giám Đốc, rồi sau đó là Giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Châu Đốc cho đến ngày mất nước. Anh vượt biển khi tôi còn đang ở trong tù, Được tàu Nhật vớt nên phải sang Nhật định cư một thời gian, rồi chán nản quá nên anh xin sang Mỹ. Trải qua nhiều khó khăn mới được Cơ quan Di Trú Mỹ chấp nhận. Hiện anh sống ở San Jose. Có điều, không biết có phải thất tình ai đó mà anh không chịu lấy vợ. Mãi một lần về Việt Nam thăm gia đình, bị bà già la quá, hối phải lập gia đình để bà có cháu nội mà an lòng nhắm mắt. Sau đó, khi xuống Châu Đốc tìm thăm lại những nhân viên ngân hàng cũ của mình, anh làm đám cưới luôn với cô thư ký ngày xưa, vẫn ở vậy chưa chồng. Nghe nói lúc trước dường như hai người từng đã có tình ý với nhau. Lúc đám cưới anh đã trên năm mươi, nhưng may mắn hai vợ chồng có được một cháu trai. Cha già con mọn. Mỗi lần nói chuyện với tôi anh cứ than “lỡ nay mai tao đi sớm thì không biết ai lo cho thằng bé.” Nhưng chị vợ là người hiền hậu đảm đang, và bây giờ cháu cũng vừa lên High School rồi!

Để làm vơi đi không khí buồn bã, tôi trêu chị:

–Ngày xưa chị đẹp quá chừng. Em nghĩ là anh Sỹ si tình, chắc đã hứa cả một đời tôn thờ hình bóng chị. Sau ngày chị đi du học, anh ấy bắt đầu sống bất cần đời. Chị có nghĩ vì vậy mà anh ấy không chịu lấy vợ không?

Chị nở một nụ cười thật tươi. Lắc đầu.

☆

Khi tôi ngồi viết lại những dòng này thì chị Bích Vân đã không còn trên cõi đời này nữa. Chị không có con, anh chồng tốt bụng thì cũng đã khá già, nhưng còn có đứa con gái riêng lo lắng cho anh. Tôi hình dung đến cái bàn thờ, có di ảnh Bích Hà trên đó. Không biết bây giờ ra sao, có ai thắp cho nàng một nén hương mỗi ngày và gõ cho nàng một hồi chuông vào tối những ngày rằm. Riêng tôi, nén hương đặc biệt ấy vẫn được đốt cháy mãi trong lòng mình.

Anh Thân Trọng Sỹ thì cũng vừa ra đi năm ngoái, sau một thời gian dài bị tai biến mạch máu não, và sống cả một cuộc đời vô ưu, thanh bạch. Anh mất âm thầm trong mùa dịch Covid-19, nên tang lễ chỉ tổ chức rất hạn hẹp trong gia đình. Tôi lại thêm một lần nữa nợ anh. Không có mặt để xin lỗi anh nhiều điều, và tiễn anh rời xa nhân thế. Anh ra đi bỏ lại người vợ hiền và đứa con mới chập chững vào đời. Anh cũng bỏ lại biết bao kỷ niệm buồn vui của hai anh em tôi, một thời đẹp đẽ nhất của Nha Trang. Cầu nguyện hồn anh được thanh thản, và ở một nơi xa xăm nào đó, nếu có dịp ngó lại trần gian này, xin anh vẫn nở nụ cười bao dung vui vẻ như ngày nào, cho dù thế gian này đã không mấy sòng phẳng với chính anh.

Cuối cùng, cũng sẽ đến lượt tôi. Rồi tất cả sẽ gặp lại nhau ở một thế giới khác, bình yên, không còn chiến tranh, hận thù, khổ đau, chia lìa mà chỉ còn có tình yêu thương miên viễn.

Phạm Tín An Ninh

(mùa tựu trường trong dịch Covid 19 – 2021)

Từ Free Đến… Tag Sale, Garage Sale, Garden Sale!

vvnm.vietbao.com

Chính Vũ

25/11/2019

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

Image from the Net collected by Sơn râu

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

***

Người Việt mới qua Mỹ, hoặc sống ở Mỹ, thường hay ngạc nhiên khi một buổi sáng đi trên đường, bắt gặp trên vĩa hè, hoặc trước hiên một căn nhà, người ta bày ra những bộ bàn ghế, cái tủ, nệm, áo quần… thậm chí là cái lò vi sóng, cái tivi, Computer… cũ với tờ giấy ghi  chữ “ Free”, có nghĩa là những đồ cũ… đã bỏ ra (hầu hết, còn tốt, sử dụng được) ai cần, hay thiếu có thể “tự do” tới lấy mang về mà không cần phải hỏi qua gia chủ?

Đây có lẽ là thói quen rất lâu đời của những gia đình người Mỹ bản xứ, mỗi khi thay mới các vật dụng hay đồ dùng sử dụng trong nhà, thay vì “bỏ đi” thì người ta lại có ý muốn “san sẻ” cho những người thiếu thốn hay cần dùng theo phương châm… tự nhiên, mang, lấy về dùng. Phải chăng đây cũng là một nghĩa cử mang tính nhân văn của hai từ “chia sẻ”, mà không làm người nhận phải bận tâm suy nghĩ hay mặc cảm “mang ơn” vì của… giữa đàng, ai xin ai lấy cũng tự nhiên? Và có lẽ, chủ nhân của các đồ dùng ấy, cũng chẳng ai màng sự chia sẻ, hay “vật cho” cần lấy một tiếng cảm ơn hay một cử chỉ chịu ơn của người nhận. Bố thí, mà không phải “bố thí”, của cho nhưng chẳng hề hàm ý cho, tặng. Cứ để ngoài đường ai cần dùng thì cứ thế mang về, nếu không thì những người làm công tác vệ sinh, cũng phải nhọc công thu gom chất lên xe đổ rác để mang đi… tiêu hủy!

Cũng là một cách “Thi ân bất cầu báo” theo cái đạo của những người phương Đông xưa nhưng chẳng cần phải ra mặt vì… tiện cả đôi đường, kẻ muốn…bỏ đi hay đổi mới đồ dùng và kẻ thiếu hay cần thì cứ lấy dùng. Hai bên đều vui và có lợi!

Cũng từ cái sự tự do, free này, lại nảy sinh ra một cái nghề… mới, mà phần lớn là những người Việt, cũng có một số người Mễ, người da đen. Đó là nghề… chạy chiếc xe tải nhỏ, loanh quanh các khu phố, tìm lựa trong đám các đồ “Free” ấy, những vật dụng, máy móc hư cũ, đem về gia công sửa chữa lại, sơn phết lau chùi và… bán lại cho những ai cần dùng, cũng kiếm được đồng ra, đồng vào, khỏi phải lao động cực nhọc, căng thẳng trong các hãng xưỡng, hay cũng kiếm thêm chút thu nhập cho gia đình và cuộc sống, lại hoàn toàn tự do, thoải mái.

Bên cạnh việc… cho free các đồ dùng, vật dụng cũ, thì có nhiều gia đình, do cần sắp xếp lại nhà kho, dư dôi nhiều đồ dùng cũ, hay thay đổi nhà cửa, hoặc cần move sang một chỗ ở khác, thậm chí là… phá sản, cần bán đi hết những vật dụng trong gia đình, người ta không thể “free” quá nhiều vật dụng, đồ dùng mà cần… bán để thu hồi lại một số tiền, trang trãi cho việc mua sắm, di chuyển hay công nợ, thế là có hình thức… Tag sale, Garage sale, Garden sale v.v…vào những ngày cuối tuần thứ bảy và Chủ nhật.Tag sale, Garage sale, Garden sale… dịch ra tiếng Việt, không phải là “bán nhãn”, “ bán nhà để xe” hay “ bán vườn” v.v… mà là nếu bạn để đồ dùng, vật dụng cũ ra bán ở trước nhà, bên hàng hiên thì gọi là “Tag sale” thông thường thì ở các khu vực nhà cũ, không có garage để xe, như ở vùng Đông Bắc nước Mỹ, nhà hầu hết đều có basement ( hầm nhà), nên không làm nhà để xe, nên thường sử dụng từ “Tag sale”? Nếu bày bán đồ dùng, vật dụng ở nhà để xe thì gọi là “Garage sale”, tương tự, nếu ông chủ nhà bày bán ở khu vườn nhà thì gọi là “Garden sale”…

Ở Mỹ, trừ những khu thương mại, còn khu vực nhà ở thì tuyệt đối không có hàng quán nào được phép mở bán hay kinh doanh bất cứ thứ gì, khác hẵn với quê hương xứ sở xa lắc, xa lơ của người Việt, nơi nào càng đông dân cư, nhà ở, thì càng tranh thủ mở quán nhậu, quán cà phê, hay chí ít, các quầy chạp phô, tạp hóa ở trước nhà, hay bày cái chợ chồm hỗm cũng kiếm được tiền rau cháo mỗi ngày!

Chính vì lẽ không thể lẫn lộn hàng quán với nhà ở như vậy, nên việc tổ chức bán Tag sale, Garage sale hay Garden sale… cần phải xin phép và khi được cấp giấy phép mua bán mới được phép tổ chức, và cũng chỉ được phép bán trong hai ngày thứ bảy và Chủ nhật, do vậy, khi người chủ nhà, cầm được tờ giấy phép bán Tag sale, hay Garage sale thì cần phải PR, quảng cáo ngay, để nhiều người biết mà tìm đến mua.

Thông thường việc quảng cáo cũng rất đơn giản, chủ nhà chỉ cần mươi tờ giấy bìa cứng, trên đó có ghi dòng chữ lớn như “Tag sale” hay “Garage Sale”, phía dưới ghi địa chỉ thời gian tổ chức bán và cái… “mũi tên” chỉ hướng đến nơi bán và dán ở các ngã ba, ngã tư dẫn đến địa chỉ nhà, nơi bày bán và… yên chí ngồi chờ tới ngày bán, khách sẽ đến mua…

Song việc đứng hay ngồi bán Tag sale hay Garage sale cũng không hề… đơn giản như trí… tưởng tượng của mọi người. Như đã viết ở trên, Tag sale và Garage Sale, là bày bán đồ dùng, vật dụng cũ, từ thượng vàng đến hạ cám: Áo quần, giày, dép, mũ mão, đến máy giặt, máy sấy, máy lạnh, máy cắt cỏ… cho đến tranh ảnh, sách vở, va ly, cặp, túi sách, thậm chí cả đồ trang sức từ giả cho đến thật, rồi lu hủ, bình lọ, chén bát v.v và v.v…

Các đồ dùng, vật dụng, thì tùy vào gia chủ, có đồ xưa, cũ từ hồi não hồi nao, cho đến thời hiện tại, có đồ dùng cũ cần thay mới, có đồ dùng là vật kỷ niệm, thậm chí là đồ dùng của người… đã khuất, còn để lại! Với từng ấy đồ dùng, phải trình bày và để sao cho có thứ tự, lớp lang ở ngoài hiên nhà, chái nhà, hay phải để trong khu vườn là cả một sự tính toán, xếp đặt… kỳ công, của gia chủ, người bán. Cho nên, vấn đề khí hậu, thời tiết là hết sức quan trọng, gặp hôm thời tiết xấu, tuyết rơi, hay có một cơn mưa thì chỉ có từ mếu đến khóc, lại phải dọn dẹp, thậm chí chẳng có ma nào đến… ngó hay tìm mua, thì quả là điều xui xẻo!

Garage sale thì đơn giản hơn, vì chỉ cần dọn dẹp cái garage cho có chỗ trồng, rồi bày biện đồ cần bán ra là xong, không sợ mưa gió hay trời tuyết, song thời tiết xấu sẽ không có khách tìm đến để mua, cũng là điều nan giải, bởi thường giấy phép cho “bán hàng” chỉ gói gọn trong 2 ngày cuối tuần. Hết hạn phải xin phép lại, tốn công lại mất thời gian vô ích.

Người tìm mua Tag Sale, Garage sale, Garden sale là những ai? Họ đa phần là dân… nghèo? Ít tiền, cần mua những thứ mình thiếu, mình cần, song trong số họ cũng không ít người… có tiền, nhưng muốn tiết kiệm, sử dụng những đồ vật dụng cũ nhưng có giá trị, và cũng không thiếu những người thích sưu tầm đồ cũ, đồ cổ… Có người may mắn còn mua được những bức tranh cũ có giá trị hay chiếc đồng hồ Thụy Sĩ có niên hiệu trước thế chiến lần thứ I, người viết bài, do tò mò, và cũng hứng thú với việc sưu tầm các lọ độc bình, các ấm trà cổ, cũng đã may mắn mua được vài thứ đồ khá ưng ý có từ thời nhà Thanh, hay các thời vua chúa của Châu Âu để làm… kỷ vật, hay tặng bạn bè cùng sở thích!

Thực ra, ở nước Mỹ, không những chỉ có Tag sale, Garage sale hay Garden sale là có bán những đồ dùng, vật dụng cũ đã qua sử dụng mà còn có hệ thống cửa hàng Good Will, chuyên bán áo quần cũ, mà người Việt Nam khi còn ở quê nhà hay gọi là hàng…Sida! Ngoài quần áo cũ, các cửa hàng này cũng bán thêm rất nhiều đồ dùng cũ khác như vali, mắt kiếng, đồng hồ, hộp quẹt Zipo và những thứ linh tinh khác, hên xui cũng có thể kiếm, sưu tầm mua được những đồ dùng cũ có giá trị! Trước đây, khi hàng hóa còn mắc mỏ, khó khăn, nhiều người Việt, thường vào đây mua đồ dùng để mang về nước… biếu tặng bạn bè, người quen! Nay thì ít thấy.

Trở lại việc đứng bán Tag sale, Garage sale… người bán cần phải kiên trì và luôn vui vẻ, chào mời nhiệt tình mỗi khi thấy một người khách xuất hiện, dù là người đi ngang qua, hay tò mò muốn ghé lại… dòm ngó một chút cũng phải…”helo hoặc…Hi nhiệt tình” và mời mua vài món hàng mà mình chưng bán. Phần nhiều những món hàng đều có giá trị không cao, chỉ từ 1, 2 cho đến chừng 100 USD, người mua, dù là Mỹ, Ta hay Mễ… cũng đều biết… trả giá như các bà nội trợ sành điệu ở… chợ Bến Thành. Ví dụ món hàng, người bán kêu giá $5, người mua có thể trả giá… xuống từ $1 trở lên đến khi “thuận mua, vừa bán” đôi bên đều hài lòng thì tiền trao, cháo múc, vui vẻ cả hai!

Bán hàng Tag sale, Garage sale cũng như việc… kiếm bạc cắc, “của đổ hốt lại” nhiều khi đứng bán rã rời cả ngày trời chỉ thu vào được chừng vài ba chục đô, có khi… xui, cả ngày chẳng bán được đồng nào, còn phải tốn công thu dọn, song dường như đây cũng là một nếp văn hóa hay một thói quen của người bản xứ một khi muốn, dọn dẹp nhà cửa, kho bãi hay phải move đi nơi khác, nhân tiện… giải quyết bớt những đồ dùng cũ, dư thừa trong gia đình mà chưa đến nỗi phải đem ra lề đường, trước cổng nhà, gắn bảng hiệu “Free”.

Một ngày đẹp trời cuối tuần, bạn muốn biết cảm giác của mình ra sao, cứ thử chạy xe tà tà, theo hướng chỉ của mũi tên trên những tấm bảng đề “Tag sale” hay “Garage sale” và ghé vào để thử lựa chọn một món đồ, cam đoan bạn sẽ cũng cảm thấy… thư giãn và là lạ, vui trong ngày…

Chính Vũ

Di Dân Nga Trên Nước Mỹ

vvnm.vietbao.com

06/06/2025

Trương Ngọc Anh

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

 TG-Trương-Ngọc-Anh-trong-lễ-trao-giải-VVNM-2002

Ngọc Anh là tác giả Viết Về Nước Mỹ ngay từ năm đầu tiên. Sau vụ khủng bố tấn công làm sụp đổ tháp đôi ở New York, cô viết bài “Tiểu Hợp Chủng Quốc” kể chuyện sở làm, một công ty chủ nhân người Ả Rập Hồi Giáo, nhưng hàng trăm nhân viên đủ gốc Á Âu, Do Thái… sống với nhau hoà thuận. Bài viết được trao tặng giải thưởng danh dự năm 2002. Bài viết sau đây tiếp tục ghi lại một hình ảnh đẹp của người di dân – một người Nga sống trên nước Mỹ.

***

Trải qua bao thời gian, những người bạn cũ rời xa, những người bạn mới xuất hiện, nhiều khuôn mặt đến, rồi đi, như nước chảy qua cầu. Vậy mà có một khuôn mặt đặc biệt, ở lại rất lâu trong góc trái tim tôi, một nhỏ bạn thật đặc biệt. Đặc biệt, là vì nó là… người Nga.

Tôi đã từng có ác cảm với dân tộc Nga, từ những ngày trước năm 1975, là năm đổi đời, đổi hướng tương lai của đa số dân tỵ nạn cộng sản. Ác cảm là vì, giống dân từ một quốc gia xa lạ và rất xa trên bản đồ trái đất, đầu tiên tạo ra chế độ Cộng sản, lại đầu độc cả thế giới qua cái chủ nghĩa Cộng sản ác nhân thất đức.

Niềm ác cảm đó còn gia tăng trọng lượng khi tôi, một nhân viên lâu năm trong nghề, lại bị chủ ra lịnh dạy nghề cho nó!

Trời đất quỉ thần ơi!Hãng càng ngày càng sa sút, mất từ từ những khách hàng lâu năm quen thuộc, vì chính sách “toàn cầu hóa”. Chẳng những mất khách hàng, mất số lượng bán hàng quan trọng, mà thậm chí nguy là nhân viên càng ngày càng bị thu gọn lại. Nhiều người phải ra đi để hãng bớt chi phí, tiếp tục thắt lưng buộc bụng kéo dài thoi thóp, cho tới chừng nào tình thế khá hơn. Vậy là bao nhiêu là tin đồn trong hãng, người nầy sẽ ra đi, người kia sẽ mất việc.

Những nhân viên có số lương kha khá trong hãng lo lắng, trong đó có tui.

Nó là nhân viên mới. Nay ông chủ hãng biểu tui phải dạy nghề cho nó, chắc là để nay mai nó sẽ thế chân tui trong phòng kế toán, lương ít hơn, mà vẫn có thể làm việc giống như tui, “nhứt cử lưỡng tiện” cho chủ hãng.

Ngày đầu tiên bà sếp tui giới thiệu, ngó nó đã thấy phát nực rồi! Mặt nó trắng xác, đúng là giống dân bạch chủng. Mái tóc cắt cao kiểu demi-garçon, cái miệng không nhếch nổi một nụ cười khi được giới thiệu. Ngay lập tức ác cảm dâng lên, người đâu lạnh lùng, y chang mấy nhân vật người Nga trên phim ảnh loại gián điệp.

Nó ngó tui lạnh lùng, tui ngó nó còn lạnh hơn nước đá cục. Nó được cái bàn ngồi ngay bên cạnh tui trong phòng kế toán, bực thì thôi! Mấy ngày đầu tiên tui đì nó, bắt nó “file” hằng đống giấy tờ, chỉ cần dạy chút (chỉ chút xíu lấy lệ) xếp hồ sơ khách hàng theo mẫu tự ABC. Nó cần mẫn làm mọi chuyện tui sai bảo, nhưng ngậm câm, mặt lạnh càng khó ưa!

Được đâu một tuần lễ hai đứa nhìn nhau mà chẳng thấy nhau đó, một hôm, tự nhiên nó nói tên tui giống tên của nó. Tui ngạc nhiên, nói, tên tui là Anh, còn tên nó là Anna, làm sao giống. Nó mím miệng cười, nói phát âm hơi giống, nhưng ở nước nó không có tên Anh hay Anne, nên nó thấy gọi tui là Anna nghe dễ thương hơn. Mèn, tên tui hỏng phải cứ đổi thì đổi, hử?!

Có một buổi chiều tan sở, tui vừa ra cửa thì thấy nó chạy lại, nắm tay tui, đưa tới trước mặt một người đàn ông vóc dáng to lớn, mặc đồ lớn trang trọng đang đứng chờ, giới thiệu:

– Đây là ba tôi.

Rồi xây qua ba nó, nó nói liền:

– Ba ơi, đây là bạn con, cũng có tên giống con đó Ba.

Ông già đưa tay bắt tay tôi, cười thật hiền lành, và hơi ngạc nhiên, tui mới chợt nhớ ra là nó vừa nói tui là bạn nó, nở nụ cười đầu tiên với tui. Sao nó cười đẹp và mặt nó sáng rỡ vậy ta, đâu mất rồi nét lạnh lùng lần đầu tiên tui gặp nó.

Tui đang kể cho các bạn về một người bạn cũ, một nhỏ bạn thật bình thường, và có lẽ câu chuyện về nó cũng không có gì đặc sắc hết, ngoài việc nó là người Nga, một giống dân tôi ghét cay ghét đắng, vì nó là người Nga Cộng sản, một chế độ theo tôi rất là vô nhân bản.

Hồi còn học Trung Học, tôi biết rất sơ sài về thế giới Cộng sản, nhất là nước Nga. Dân tộc Nga, một dân tộc hiếu chiến, một chế độ tàn nhẫn không có tình người như trong cuốn sách “Bác sĩ Zhivago” mà tôi từng đọc say mê, được coi phim trên màn ảnh đại vĩ tuyến nữa. Từ sau ngày nó giới thiệu tui với ba nó, bằng lời nói thắt chặt tình bạn là hai đứa có cùng một tên giống nhau, coi như hai đứa tui đã quen nhau. Thiệt tình, giống gì mà giống!

Trước lúc chính thức “quen nhau”, vào giờ ăn trưa, tui vẫn thường ngồi tại chỗ, qua bữa một mình hộp cơm đơn sơ; vừa ăn vừa vặn máy cassette nghe nho nhỏ vài bản nhạc Việt.

Hôm đó, nó rủ tui cùng ngồi bàn ăn trưa với nó. Tui cũng ừ, xách túi đồ ăn ra bàn ăn chung. Thức ăn trưa nó đem theo, không đơn giản như của tui mà kèm theo món chánh có hai, ba món phụ, ngó hấp dẫn.

Thoạt tiên nó mời tui món gỏi chua bắp cải và cà-rốt. Nó nói ở xứ nó rau cải quý lắm. Món nầy dòn dòn, chua chua, ăn rất bắt cơm, lại gần gũi món đồ chua của mình. Tình thân từ từ đi xa hơn qua những món ăn mời nhau vào mỗi buổi cơm trưa. Vậy là tui lại phải bắt đầu đem nhiều món hơn, để mời nó trả lễ, thay vì chỉ một món mặn gì đó, để dưới đáy hộp, rồi dằn cơm trắng ở trên, hâm ăn gọn gàng như nào giờ. Ngày nào nó cũng đem theo một hộp cải chua đó, nhiều đủ hai đứa ăn, dòn rụm, ngon quá. Nó nói làm dễ ợt, chỉ cần cho chút muối, trộn lên với cải bắp và cà- rốt, đậy kín, sau hai, ba ngày cải lên men chua là ăn được. Cải chua nầy ăn với đủ thứ món ăn khác. Mình cũng có món cải chua nhưng đâu có ăn mỗi ngày như nó.

Một lần, nó đem theo cho tui nguyên dĩa món lưỡi bò chiên dòn, áo qua một lớp bột. Nó dạy tui cách làm món nầy, cũng công phu. Lưỡi bò luộc chín, lột bỏ lớp da bên ngoài, rồi cắt vừa miếng, lăn qua một áo trứng, một áo bột, rồi chiên dòn lên. Ui chu choa, ngon đặc biệt.

Lần khác, nó đem cho tui ăn món trứng gà chiên mỏng dính, rồi cuộn lại thành ống, khi cuộn rắc phô-mai lên, trứng còn nóng, phô-mai chảy ra, vừa thơm mùi trứng vừa béo béo vị phô-mai.

Hay trứng cuộn thịt dăm-bông cũng ngon. Tui hỏi nó ai làm, vì mấy món nầy vừa làm vừa cuộn mà. Nó nói nó chiên trứng, ba nó cuộn. Gia đình nó sống chung trong một căn chung cư vùng Los Angeles. Có lần nó đem cánh gà chiên mời tui ăn. Tui lọng cọng với đôi đũa, thì nó cười ha hả, nói rằng:

– Ở xứ tôi con gì có cánh là khi ăn mình phải dùng tay nắm chặt, không thôi nó bay.

Lần đó tui cũng cười ha hả với nó, và thấy sao nó đẹp quá. Khi cười, mặt nó hồng hào lên, hàm răng rất trắng và đều, đôi mắt nó to tròn, long lanh, ấm áp, mất hết vẻ lạnh lùng của lần đầu tiên gặp nó, mà tui từng ghét cay ghét đắng.

Một lần, vừa ngồi xuống ghế sửa soạn ăn trưa, bỗng nhiên nó đỏ mặt, đỏ cánh mũi, rồi bật khóc ngon lành làm tui lúng túng, không biết làm sao mà dỗ, vì nó nói tiếng Mỹ hơi khó nghe.

Phải chờ một lát cho dịu cơn xúc động, nó mới ấp úng kể cho tui nghe là hôm qua nó gây lộn với chồng nó một trận tưng bừng. Hỏi ra, tưởng gì, thì ra chồng nó khoét lỗ đeo bông tai.

Nó tức tưởi nói đàn ông mà đeo bông tai như đàn bà, giống ba tụi “du đãng”. Thời trang lúc đó vừa mới ra mốt đàn ông con trai đeo bông tai đó. Tui cười, nói đâu có gì lớn chuyện mà you khóc dữ thần?!

Từ đó nó kể thêm nhiều chuyện nhà. Nó nói nó là con một, mà là con gái, nên nó muốn giữ lại họ của ba nó bằng cách không đổi họ khi lấy chồng.

Rồi tới khi tụi nó có con, lại cũng là con gái, nên nó muốn con gái của nó theo họ mẹ. Tui thấy mắc cười, như vậy là nó ăn hiếp chồng nó quá cỡ, còn tức tưởi mấy chuyện nhỏ nhít nầy. Con gái của nó mới 11 tuổi thôi, như vậy nó trẻ hơn tui nhiều lắm. Tui coi nó như em tui.

*

Qua những lời kể chuyện của nó về đời sống ở Nga, lần hồi “bức màn sắt” được kéo ra, để tui nhìn thấy rõ ràng nếp sống của người dân Nga dưới chế độ Cộng sản. Trời đất ơi, té ra từ nhỏ tới lớn, tui đã được sống thoải mái, tự do, đầy đủ hơn nó quá nhiều, dù sống ở xứ đang có chiến tranh.

Nó kể, năm nó mang bầu, nhà nó ở trong một căn phòng nhỏ xíu, tận trên lầu tám, mà chung cư nầy không có thang máy. Thử hình dung một bà bầu ngày nào cũng phải lên xuống tám tầng lầu để đi mấy hợp tác xã (HTX) mua thức ăn, cực kể gì. Chồng nó phải đi làm nên mấy chuyện nầy nó phải làm hết. Phương tiện giao thông chỉ là đi bộ, và đi xe buýt hay xe điện, có chiếc xe đạp là giàu lắm.

Tui nghe nó kể, ngó xuống hai bắp đùi thô kệch của nó, thấy thương. Khuôn mặt nó rất thanh tú dễ nhìn, so với đôi chân bự thù lu đó thiệt tình không xứng chút nào. Nó nói, không phải tới HTX là mua được đủ món đâu. Mỗi HTX chỉ bán ít món cần thiết mà thôi, như HTX nầy chỉ có bột, muốn mua thịt, cá, hay sữa thì phải tới những HTX khác.

Nó kể có lần, lúc mang bầu, nó thèm ăn cá. Trời ơi, mua được một con cá phải đi cả ngày, lội bộ lẫn trèo xe buýt, rồi còn lên tám tầng thang lầu mới về tới nhà, cực không kể xiết. Cá thì tanh rình hết tươi mà vẫn ăn vì đang cơn thèm. Còn rau cải thì mỗi năm vào khoảng tháng Tám, là tháng ấm áp nhứt, chính phủ sẽ cho dân chúng đi gặt hái, ở khoảnh vườn nào đó. Mỗi gia đình sẽ tự mình đào bới, thu thập từng củ khoai, từng củ cà-rốt, bắp cải…, rồi mang về nhà, tự lo liệu làm sao để số lương thực đó có thể để dành ăn suốt năm. Tui khó hình dung nỗi cơ cực đó khi cũng trong cùng thời gian, ở Sài Gòn chúng tôi mua thịt cá, rau cải hằng ngày ở chợ, tươi ngon quanh năm. Dĩ nhiên là gặt hái như vậy thì không phải trả tiền, nhưng nó nói chẳng thà có tiền, rồi dùng tiền mà mua thì đỡ khổ hơn nhiều lắm.

Đời sống sao mà quá đổi cơ cực!

Mà nó kể, đời sống như vậy cũng không được yên ổn đâu. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị bọn công an bắt, sợ hàng xóm “ăng ten”, rất dễ dàng bị bỏ tù cải tạo nếu ăn nói không cẩn thận… Chắc tại vậy mà người dân Nga không tỏ bày tình cảm trên nét mặt, thành thói quen lạnh lùng với người chung quanh, vì họ luôn thủ thế.

Có lần tui hỏi nó sao không để tóc dài dài, sao mấy người dân xứ nó, đàn bà con gái toàn cắt tóc tém? Nó nói tại ở nước nó, tất cả thanh niên, thiếu nữ đều phải học quân sự từ cấp trung học, phải cắt tóc như vậy, nên quen, để tóc dài lại thấy khó chịu. Nó còn nói với tui tất cả mấy người bạn gái của nó khi qua Mỹ sống đều gia nhập quân đội hết, vì lý do có việc làm liền, có tiền sống, và dễ dàng hơn vì đã được huấn luyện trước rồi.

Tui hỏi sao nó không đi lính như bạn bè, nó nói nó ghét chiến tranh lắm, đã thoát khỏi còn chui đầu vô lính làm gì, từ từ cũng kiếm được việc làm mà. Tui thấy nó thiệt hiền lành, ghét chiến tranh thì giống tui rồi.

Tánh nó mít ướt lắm, hở cái là mặt mũi đỏ ửng lên, rồi nước mắt nước mũi cứ vậy tuôn ra, cứ như là thèm khóc. Lâu lâu bị bà sếp bên phòng chủ sự rầy rà là buổi trưa nó khóc với tui liền.

Ngày nào giờ ăn trưa nó cũng kể chuyện cho tui nghe, ngay cả những chuyện trong nhà như buồn phiền chồng, con, v.v… Tui thấy nó giỏi quá, nhứt là chuyện bếp núc, gì nó cũng làm được, nhiều món ăn rất ngon. Món trứng cá muối, món rau cải trộn, nó nói nó cũng biết làm bơ, phô-mai tại nhà, phải biến chế tất cả các loại rau cải để cả nhà có đồ ăn, phải làm bánh mì, mứt cho cả nhà, bây giờ đi chợ gì cũng có sẵn, quá tiện.

Còn quần áo thì sao? Giặt tay đó, trong phòng nào cũng có cái ống dẫn sưởi thông qua, máng quần áo trên ống đó cho khô. Nó còn kể xứ nó là xứ tin đồn, ngày nào cũng có tin đồn, cứ một đồn lên thành mười, tùy theo chính phủ tung tin ra. Chẳng hạn như không có đủ trứng gà cho dân chúng ăn, thì chính phủ tung tin trong trứng có chất độc, không có thịt thì tung tin thịt nhiễm trùng, ăn vô là chết, Mỹ đầu độc… 

Nó kể, phong tục xứ nó khi con gái tới tuổi lấy chồng, mấy bà mẹ sẽ thăm viếng nhau để chấm điểm những món ăn ngon. Tài nội trợ của cô gái sẽ được lựa chọn cho con trai họ, đặc biệt là vài món súp ăn kèm bánh mì và kem chua. Sao giống người mình quá, con gái thì phải biết nấu ăn ngon mới là vợ hiền dâu thảo.

*

Hôm đó, vừa ngồi vô bàn ăn là nó líu lo không kịp thở:

– Trời ơi, một rừng quần áo, không thể tưởng tượng được.

– Từ từ mà nói.

Tui chận lại.

– Quần áo con nít đó, trời ơi, một rừng quần áo may sẵn…

Vừa nói nó vừa đưa hai cánh tay mở rộng.

– Tôi chưa từng nhìn thấy, quần áo con nít, đẹp lắm, may sẵn áo đầm, quần dài quần ngắn, đồ lót nón vớ đan len… Ở xứ tôi mỗi lần cần thì phải lội bộ ra HTX mua vải, hay mấy cuộn chỉ len, rồi cặm cụi cắt may, đan vá… để có được một cái áo, cái quần cho con nít.

Hỏi ra cô nàng được bạn mời sinh nhật em bé, mới có dịp đi mua và được nhìn thấy cả một rừng quần áo con nít may sẵn, mừng tới ngẩn ngơ phải khoe với cô bạn Việt Nam.

Nhìn nó hào hứng, vui quá với khám phá mới mẻ nầy của nó mà thương nó quá trời. Chuyện quần áo con nít hay người lớn may sẵn bên Việt Nam mình từ thuở xửa xưa, thời má tui, đã có rồi, mà con nhỏ người Nga nầy mới biết sau khi rời bỏ thiên đường Cộng sản. Đời sống sau “bức màn sắt” giờ thì tui đã tỏ tường, tội nghiệp dân tộc đó gì đâu. Nào có ai ngờ đàng sau cái vẻ lạnh lùng, khó gần gũi đó, chứa cả một tâm hồn ngây thơ, một tình cảm mãnh liệt, đã từng bị đè nén và che giấu vì sống trong một chế độ đàn áp con người.

Nó kể hồi vượt biên giới để trốn đi qua nước Mỹ, lúc ngồi trên xe lửa chạy vô thành phố Nữu Ước, vợ chồng con cái và ba má nó rất sợ, kéo màn cửa sổ kín mít vì sợ bị người Mỹ ném đá vào xe lửa như họ đã từng bị tuyên truyền về sự thù ghét của người Mỹ đối với người Nga, nhưng thật sự không hề xẩy ra.

Nó nói cuộc sống bây giờ của gia đình nó ở Mỹ là ở thiên đàng.

Sau ngày bức tường Bá Linh bị dân Đức đập xuống, dân nước Nga được “cộng hưởng”, từ từ bớt khổ. Chồng nó bỏ làm ở xí nghiệp mà ra ngoài thị trường “buôn lậu”. Nó nói chỉ có cách đó cả nhà mới có thức ăn để sống, vì đời sống trước đó quá khổ. Nó gọi là “black market”, tui thiệt tình cũng không hỏi rõ, chỉ nhớ đại khái nó nói là mua gì đó, rồi bán lại kiếm lời như vải vóc, thuốc lá, v.v… Nó nói thời đó không ai là không làm “black market”, để khỏi đói. Nghe giống Việt Nam thời bao cấp.

*

Rồi một hôm, cũng giờ ăn trưa, nó bỗng nhiên òa khóc, rồi ôm tui, nói nó phải từ giã tui, vì bạn nó vừa kiếm cho nó một việc làm trong nhà băng.

Tui buồn quá, vì nó và tui chỉ mới làm việc chung thời gian quá ngắn ngủi. Tui chỉ vừa kịp dạy nó chút xíu tay nghề thôi. Coi nó như em gái, tui cũng mừng cho nó tìm được chỗ làm khác, có vẻ chắc chắn hơn chỗ làm nầy.

Từ ngày có cô bạn người Nga, tui cảm thấy cuộc sống của mình trong chế độ tự do từ lúc sống bên Việt Nam thời Cộng Hòa trước năm 1975 cho tới khoảng thời gian sống ở Mỹ, quá sung sướng, quá tự do, và quá đầy đủ.

Bạn tôi đó, không có gì nổi bật, chỉ là một phụ nữ bình thường sống cơ cực sau bức màn sắt, đã được mở cánh cửa tự do, cho tui tự nhìn thấy mình nên bỏ bớt những thành kiến về dân tộc, để cởi mở hơn, bớt xét đoán hơn; chuyện gì cũng có mặt phải, mặt trái, như đồng xu.

Đã lâu lắm rồi tui không có liên lạc với nó, nhưng nét đặc biệt có một không hai của nó làm tui nhớ hoài, nhỏ bạn cùng tên với tui, Anna. Những ngày cuối năm trời lành lạnh, tự nhiên tui thèm món súp béo béo mà nó từng đem đãi tui. Tui nghĩ giờ chắc nó đã hết ngạc nhiên với những phồn thịnh của xứ Mỹ và đã hòa đồng cùng dân bản xứ, nội cỏ thiên đường.

Trương Ngọc Anh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

45. Lê Mộng Nguyên

Một người vừa về thăm Việt Nam, trở lại Mỹ, có mua một món quà làm kỷ niệm, đó là một tuyển tập gồm 100 ca khúc được gọi là tiền chiến, của gần như đầy đủ các tác giả ở cả hai miền Bắc và Nam.

Đã gọi là nhạc tiền chiến thì không có bài nào mới cả. Hầu hết những ca khúc được tuyển chọn và in chung trong một tập đó, có thể nói, nếu đã là người yêu nhạc, thích nghe nhạc, ai cũng biết hay thuộc cả. Lần dở những trang sách, người ta không khỏi cảm thấy một nỗi vui buồn lẫn lộn. Đây là những tác phẩm một thời đã hoàn toàn bị cấm, bị phân biệt. Nay được in chung, phổ biến lại, có phải là một dấu hiệu của sự thay đổi? Và, thay đổi tới mức nào đây, ra sao đây?

Quá nửa các tác giả có tác phẩm trích dẫn đã không còn nữa. Cũng có người còn nhưng tác phẩm lại không thấy có trong tập sách. Sự thiếu vắng ấy là tình cờ hay cũng là một lựa chọn?

Một trong những bài hát có thể coi là điển hình một thời nhạc lãng mạn của chúng ta, được in trong tập sách là bài “Trăng Mờ Bên Suối” của Lê Mộng Nguyên. Nhớ lại những ngày chiến tranh lan tràn, sắp tới lúc hiệp định Genève được ký kết, cả đất nước dường lênh đênh chưa biết rồi sẽ trôi giạt về đâu, cũng là lúc người ta được nghe trên khắp các đài phát thanh Hà Nội, Huế, Pháp Á, Sài Gòn … bài Trăng Mờ Bên Suối qua giọng hát của hầu hết các danh ca của chúng ta thời bấy giờ: Tâm Vấn, Minh Đỗ, Ngọc Bảo, Minh Trang, Ngọc Hà, Minh Diệu, Mạnh Phát, Anh Ngọc, vv …

Nhạc như một nỗi khát khao tìm về một nơi yên ấm mà thực tế lúc nào cũng như bị đe dọa lấy mất. Cái chốn hạnh phúc có thể nương náu ấy dường như chỉ còn là, chỉ tồn tại trong mơ ước.

Mộng bền năm xưa

Chỉ là mơ qua

[Phạm Duy]

Lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi

Hoa tàn tình tan trong không gian

[Đoàn Chẩn & Từ Linh]

Đưa chân dừng bước bên cầu

Giã từ mấy câu

[Tô Vũ]

Nhớ những tiếng hát say sưa êm đềm

Tuy vắng xa nhưng lòng còn xao xuyến

[Ngọc Bích]

Văn Cao cũng nhắc tới một cuộc hẹn hò “xây nhà bên suối”. Nhạc của chúng ta “một thuở” có một vẻ gì đó giống như những bài kinh cầu nguyện hạnh phúc. Bìa sau của “Tuyển Tập 100 Ca Khúc Tiền Chiến” người ta cho in lại một bức tranh của Tô Ngọc Vân. Giữa Tô Ngọc Vân và thế hệ Lê Mộng Nguyên cũng có một khoảng cách thời gian khá dài. Nhưng người ta có cảm tưởng, người đàn bà, người con gái, trong “Trăng Mờ Bên Suối” nếu hiện hữu, sẽ có khuôn mặt, vẻ đẹp của người trong tranh Tô Ngọc Vân.

Lê Mộng Nguyên viết khá nhiều nhạc, trong đó có nhiều ca khúc hay. Nhưng ca khúc được nhiều người biết và yêu thích nhất của ông vẫn là bài

Trăng Mờ Bên Suối

Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối

Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu

Một đêm thiết tha rồi đây xa cách

Rồi đây hai ngả biết tới phương nào

Mịt mùng ngàn thâu suối mơ trầm lắng

Lòng buồn từ ly nhớ nhung chiều vắng

Người ơi nhớ khúc nhạc lòng đêm ấy

Ngàn đời vang nhắc bên suối trăng tà

Suối mơ! Lời hẹn ước bên bờ suối xưa

Nhớ chăng?

Người phương xa trong khói điêu tàn

Suối ơi! Vờn theo bóng trăng vàng ngày xanh

Nào những lúc trên thuyền

say sưa nhìn trăng vừa lên

Ai hay chia lìa

Sương gió biên thùy

Hiu hắt người đi sa trường xa

Một ngày xa nhau xóa bao hình bóng

Trời bầy chia ly chi cho lòng héo

Giờ đây cách xa người quên hay nhớ

Tình xưa còn đó trăng nước mong chờ

Lệ Thu

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Jun 2025

44. Lê Hựu Hà

Lê Hựu Hà cùng với những Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang, Elvis Phương, Billy Shane, Đức Huy, Nguyễn Trung Cang, Pat Lâm, các ban nhạc Blues Stars, The Dreammers, một thời, đã tạo nên phong trào được gọi là Nhạc Trẻ tại Sài Gòn. Vào thời gian ấy, ca nhạc sĩ của chúng ta ở Sài Gòn hoạt động gần như tại hai địa bàn khác nhau: một tại các đài phát thanh, truyền hình và một tại các vũ trường, phòng trà hay các câu lạc bộ [clubs] của quân đội đồng minh (Mỹ, Đại Hàn ..) Nói gần như vì vẫn có những người làm việc tại cả hai nơi. Thường ca nhạc sĩ trình diễn tại các phòng trà, clubs Mỹ, được trả lương rất cao, quy chế thù lao của nhà nước (khi ấy) không trả được. Nhưng hát trên các đài phát thanh, truyền hình, có cái lợi là tầm ảnh hưởng lớn hơn. Tuy nhiên, chính nhóm nhạc trẻ lại là những người đã tổ chức được các buổi trình diễn tại các vận động trường có cả năm bảy chục ngàn khán giả tham dự, một việc chưa hề có trước đó.

Khán giả của các buổi trình diễn này hầu hết thuộc giới trẻ. Điều ấy chứng tỏ lớp trẻ khi ấy đã có một sự thay đổi trong quan niệm sống, trong sự thuởng ngoạn nghệ thuật, đặc biệt là về âm nhạc.

Quả thật lối viết nhạc, quan niện sống, cách biểu hiện tình cảm, ngôn ngữ họ dùng để viết lời ca, đã có nhiều khác biệt so với các ca khúc được gọi chung là ‘nhạc tiền chiến’ của các nhạc sĩ lớp trước.

Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên

Tôi muốn sống như loài hoa hiền

Tôi muốn làm một thứ cỏ cây

Vui trong gió và không ưu phiền

Tôi muốn mọi người biết thương nhau

Không oán ghét không gây hận sầu

Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau

Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu

Em có thấy hoa kia mới nở

Trong giây phút xinh đẹp tuyệt vời

Nhưng hạnh phúc thoáng qua mất rồi

Giờ đâu còn tìm được nét vui

Tôi muốn thành loài thú đi hoang

Tôi muốn sống như loài chim ngàn

Tôi muốn cười vào những khoe khoang

Tôi muốn khóc thương đời điêu tàn

Nhóm được mệnh danh là nhạc trẻ này, nói chung, thiên về trình diễn nhiều hơn. Xen vào các sáng tác, họ viết lời ca các ca khúc ngoại quốc để hát. Ba người trong nhóm sáng tác được nhiều hơn cả là Đức Huy, Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang. Ngoài ca khúc ‘Tôi Muốn’, hai bài hát khác của Lê Hựu

Hà được giới trẻ truyền tụng và hiện còn luôn được các ca sĩ cả trong lẫn ngoài nước đem trình diễn là các bài ‘Hãy yêu hư chưa yêu lần nào’ và ‘Vào Hạ’.

Vào Hạ là sáng tác mới nhất của Lê Hựu Hà sau 1975 người ta được biết. Không biết từ sau 1975 Lê Hựu Hà viết được bao nhiêu ca khúc, nhưng chỉ thấy có bài này được phổ biến. Theo tài liệu của Trường Kỳ thì Lê Hựu Hà viết ‘Vào Hạ’ trong một dịp di biểu diễn ở Hải Phòng. Lê Hựu Hà nói: “Nếu có dịp ra Hải Phòng vào mùa hè, bạn sẽ cảm nhận được cái đẹp ở cuộc đời vào mùa hạ. Trời xanh, hoa phượng đỏ còn tôi thì cứ lang thang và nghĩ rằng:

cuộc đời có thể có nhiều điều làm chúng ta không hài lòng, nhưng cuộc đời cũng có những cái để vui, thì tại sao lại cứ phải u uẩn và than trách?”. Phát biểu ấy phản ánh phần nào quan niệm sáng tác của ông.

Chúng ta có nhiều ca khúc ca ngợi vẻ đẹp chói chang, rực rỡ của mùa hè, có thể kể:

Hè Về của Hùng Lân

Khúc Ca Mùa Hè của Canh Thân

Vui Cảnh Mua Hè của Hoàng Trọng & Hoàng Dương

Mùa Hoa Phượng của Lê Đô & Văn Hạnh

Chiều Hè của Thẩm Oánh

Nay chúng ta có thêm vào danh sách Vào Hạ của Lê Hựu Hà. Nghe ca khúc này, đôi lúc, người ta có cảm tưởng như cái rạo rực của mùa hè, năng lượng mặt trời làm tang thêm lượng hồng huyết cầu, tất cả oà vỡ trong một niềm vui

được sống (dù trong đời sống ấy vẫn có lời khuyên nhủ hãy vứt hết nổi buồn)

Vào Hạ

Trời nhẹ dần lên cao

Hồn tôi dường như bóng chim

Vờn đôi cánh mềm lặng lẽ

Kiếm chốn nao bình yên

Và dòng sông xanh kia

Nằm im như không muốn trôi

Phơi màu áo rêu

Vỗ về đánh giấc trưa nghỉ ngơi

Ta rong chơi phiêu lãng cuối trời

Đời bọt bèo phù du kiếp người

Dù qua bao nhiêu đắng cay vẫn cười

Và đời còn mùa hạ tươi vui

Và lòng còn nhiều điều nuốn nói

Hãy thắp sáng tâm hồn

Cháy lên trong tim mỗi người

Những yêu thương cho cuộc đời

Mùa hạ ơi!

Tình phơi phới

Bạn ơi xin hãy vứt hết nỗi buồn

Xoá tan đi bao đêm trường

Bước ung dung trong cuộc đời

Hạ ơi!

Rì rào ngọn heo may thở than

Qua muôn khóm cây

Chợt nghe hững hờ mùa hạ

Lướt thướt qua tầm tay

Kìa vầng mây lang thang

Tìm bạn đời không dối gian

Để cùng nhỏ to câu chuyện

Nắng mưa trần gian

Elvis Phương