Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

50. Lê Uyên Phương

Như nhiều người chắc cũng đã biết, Lê Uyên Phương là hai cái tên chứ không phải một: Lê Uyên và Phương. Nhạc của Phương như dấu tích một quãng đời đã qua của ông và nữ ca sĩ Lê Uyên. Nhưng đó là chuyện riêng của hai người. Chúng ta hãy nghe nhạc của ông như những tác phẩm nghệ thuật thuần túy thôi.

Ngay từ những bài hát đầu tiên, khi Lê Uyên Phương từ Đà Lạt “xuống núi” về Sài Gòn, trình diễn đêm nhạc đầu tiên và sau đó, chương trình Nhạc Chủ Đề của đài phát thanh Sài Gòn giới thiệu với thính giả, trong một buổi phát thanh dành riêng cho ông, nhạc của Lê Uyên Phương đã được yêu mến ngay.

Cùng thời gian ấy, chúng ta có một lớp nhạc sĩ trẻ, nay đã trở thành những người danh tiếng cả: Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên … Những ca khúc đầu tay của Lê Uyên Phương, hiện vẫn còn được các ca sĩ đem trình diễn ở khắp nơi. Có một điều đặc biệt trong nhạc tình cũng như thơ tình là, người ta khó phân biệt sự thật với tưởng tượng, đau khổ và hạnh phúc. Bởi vì, những nỗi sầu tình ai oán nhất, lắm khi lại là “phía bên kia của hạnh phúc”. Nhưng cái vui buồn trong những tình khúc của Lê Uyên Phương có vẻ gần với thực tế hơn, da thịt hơn:

Đưa em xuống phố trưa nay

Đang còn nhức mỏi đôi vai

Âm điệu của ông như được rút ra từ những nỗi khắc khoải hiện tại. Hiện tại là cuộc tình. Và cuộc tình là những gì đang sống, đang được cảm nhận từng giây phút, là chính đời sống và những gì vây quanh. Trong nhạc tình, trong thơ tình, ngoài những nỗi đau thương có thật, đôi khi chúng ta có cảm tưởng người ta còn đau những nỗi đau sắp sửa, buồn cái buồn chưa đến nữa.

Sắp sửa lòng ta để lạnh lùng [Xuân Diệu]

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

[Hàn Mặc Tử]

Hiện tại hình như không bao giờ đủ đối với những người tình. Người ta luôn muốn nhân hạnh phúc lên gấp đôi và biến đau khổ thành lũy thừa. Lê Uyên Phương không nói như thế. Nhưng tựu trung ông cũng không nói gì khác thế. Ông muốn ôm lấy hiện tại, nhưng đôi tay quá ngắn ông nối dài bằng nhạc. Hạnh phúc mong manh phải vây bọc bằng thơ. Và hát là một cách gọi tên, một cách nhắc nhở với mình rằng đó là những điều có thật để nó đừng biến mất. Ca khúc của Lê Uyên Phương hình như bài nào cũng được viết bằng những dây đàn căng thẳng và kết thúc bằng một tiếng thở dài. Đó là lúc tơ đã chùng, lòng đã mỏi, phải so lại, phải dỗ dành, phải bắt đầu lại, không phải từ chỗ bắt đầu mà từ chỗ dở dang.

Nỗi vui trong nhạc Lê Uyên Phương phơi mở, nhưng cái buồn trong nhạc của ông bao giờ cũng được giấu đi một nửa. Khi nỗi căng thắt trong lòng, cuộc tình đã bớt độ trói buộc, nhạc của Lê Uyên Phương nghe dường cũng giãn ra. Ông không kêu bằng nhạc nữa mà muốn biến nỗi đau thành tác phẩm, thì người ta cũng nghe ra sự loãng nhạt trong nhạc của ông. Ở đây không phải chuyện hay hay dở. Nó chỉ không còn phản ánh một cơn đau triền miên nữa. Giữa những ca khúc đầu tay của ông, người ta vẫn nghe ra một cơn đau nối dài. Tập Khi Loài Thú Xa Nhau, như một quãng ngắt bình yên. Nó báo trước một thời nghỉ ngơi của tâm hồn. Nó cũng cho thấy một giai đoạn sáng tác khác của tác giả. Người ta có thể thêu dệt hàng trăm điều về một tác giả!

Nhưng tiểu sử của một tác giả, chính là tác phẩm của ông ta [hay bà ta]. Kỳ dư chỉ là những chú thích. Biến cố 1975 không chỉ ảnh hưởng đến một mình Lê Uyên Phương, mà hình như nó biến hết thẩy chúng ta thành những người khác. Khác với chính ta trước thời điểm này, từ cách suy nghĩ đến cách sống. Rõ ràng là trong tác phẩm của cả những người còn ở trong nước hay đã ra khỏi, đều đã thay đổi. Số lượng tác phẩm được sáng tác từ 1975 đến giờ không phải là ít. Và lịch sử tiếp tục có những đòi hỏi, không biết chúng ta nên quên hay nhớ kỹ hơn nữa mọi chuyện, để có thể sống được với nhau?

Cho Lần Cuối

Giờ này còn gần nhau

Gần thắm thiết trong mối sầu

Gần bối rối biên giới từ lòng đau

Giờ này còn cầm tay

Cầm chắc mối duyên bẽ bàng

Cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng

Cầm giá buốt thương đau

Ngày mai ta không còn thấy nhau

Bàn tay năm ngón suông đan vào nhau

hẹn sau

Bàn tay năm ngón suông đan vào nhau

mộng mau

Ngoài trời mưa, mưa hoài

Gió mưa nặng nề

Người ngồi nghe xa cách

Đá xanh ôi mỏi mòn

Lệ ngập ngừng bờ my

Giọt nước mắt lăn nỗi buồn

Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông

Giờ này còn nhìn nhau

Nhìn đắm đuối như suối bền

Nhìn suốt kiếp như chết mòn

Nhìn hấp hối thương đau

Ngày mai ta không còn thấy nhau

Lê Uyên Phương

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

Chương 10.

Suốt bảy đêm bảy ngày, Vương hổ tướng ở chơi ngôi nhà trên tỉnh, các anh hết sức chiều chuộng, khoản đãi chàng như một vị thượng khách. Anh Cả lưu chàng bốn ngày đêm ở nhà anh, tiếp đãi cực kỳ nồng hậu cốt vừa lòng đẹp ý ông em. Anh không còn biết nghĩ bày ra món gì đặc biệt long trọng để thù tiếp em cho xứng đáng. Ngoài mấy món sở trường, sở thích của anh, tối nào anh cũng mời chàng lại chơi các phòng trà, ở đấy có bọn kỹ nữ ca hát và đàn tỳ bà, ngoài ra, anh mời chàng đi coi hát bội.

Nhưng thực ra mấy món đó chủ thích hơn là khách, vì Vương hổ tướng là một anh chàng lạ lùng kỳ cục. Ăn, chàng cũng chỉ ăn cho đỡ đói, uống, chàng cũng chỉ uống cho đỡ khát, rồi ngồi yên xem người khác ăn, uống.

Tuy chàng theo anh lại các cao lâu tửu quán, phòng trà, chỗ truy hoan của khách yêu hoa, chàng không thấy cảm khích, người cứng nhắc, thanh đoản kiếm đáng lẽ tháo ra để ở nhà, lúc nào cũng khư khư đeo bên mình, chàng nhìn các bông hoa lơi lả với cặp mắt lãnh đạm, tẻ ngắt. Không phải chàng bất mãn, không vừa ý điều gì, nhưng chàng không thấy có gì là cảm xúc; đối với con mắt khắc nghiệt của chàng, cả vườn bông, không bông nào hơn bông nào cả thanh lẫn sắc.

Các ả thấy chàng trẻ trung tướng mạo uy nghi, ả nào cũng cố trổ sắc khoe tài để may ra có diễm phúc được lọt vào mắt xanh. Các ả lả lơi mơn trớn, bàn tay xinh xắn vuốt ve chàng, ỏn ẻn, nũng nịu, đưa mắt tống tình. Nhưng tâm hồn rắn như sắt, chàng ngồi thản nhiên, coi bọn này cùng vào một loại, cặp môi chàng coi lại còn khắc nghiệt hơn lúc thường.

Khi nói với bọn kỹ nữ, đáng lý tìm lời dịu dàng, ủy mị, chàng nói rắn rỏi phũ phàng:

– Tôi nghe chị hát bài này như gà cục tác.

Có một lần, một ả người nhỏ nhắn, xinh xắn, môi thoa son hình trái tim, hai mắt nhìn chàng đưa tình, hát một bài du dương. Chàng ngắt câu hát nói lớn: “Thôi, thôi, nghe mãi nhàm tai lắm!”. Chàng đứng dậy ra về, anh Cả cũng phải đi theo, anh tức quá phải bỏ dở cuộc vui hứng thú nhất. Vương hổ tướng hấp thụ của mẹ tính ít nói, có cần gì lắm mới nói, mà đã nói là nói thực không cần lựa lời cho ý nhị mềm mỏng, nên khi chàng mấp máy môi là người ta có ý sợ.

Đối với ai chàng cũng nói sự thật một cách phũ phàng, không cần giấu giếm, che đậy, hay lựa lời bóng bẩy xa gần. Một hôm chị Cả đến nói với chàng, dùng miệng lưỡi đưa đẩy, ý chị cốt xin chàng để ý trông nom cất nhắc cho con trai thứ của chị đi theo chàng. Lúc đó vào quá trưa, chị vào phòng khách, Vương hổ tướng đang ngồi uống trà, anh Cả ngồi bàn bên uống rượu. Chị rón rén lại nhẹ nhàng ý tứ, mắt nhìn xuống, vào đến trong phòng, chị khẽ nghiêng mình chào, mồm mấp máy, mắt vẫn nhìn xuống. Anh Cả nom thấy chị vội vàng lấy tay vuốt mặt, rót nhanh một bát nước trà nóng, anh làm như anh đang ngồi thưởng trà chứ không phải uống rượu.

Chị đi loạng choạng, dáng điệu khó khăn vì đôi chân bó nhỏ bé; đến chiếc ghế thấp chị ngồi xuống. Vương hổ tướng đứng dậy mời chị lên ngồi ghế cao. Mấy ngày rày, có nhiều chuyện bực tức, phiền muộn chị cố nén lòng, lấy giọng nhẹ nhàng uyển chuyển nói với chàng:

– Cám ơn chú, thôi tôi ngồi đây cũng được. Tôi biết địa vị của tôi là một tiện thiếp yếu hèn. Ông ấy cũng tử tế, còn biết nghĩ lại cho tôi ở đây là quá rồi, bây giờ ông ấy thiếu gì người mặt hoa da phấn, trẻ đẹp, xứng đáng.

Nói xong chị liếc mắt nhìn anh Cả, anh này toát mồ hôi, ấp úng lẩm bẩm:

– Ô kìa! Lạ chửa, tôi có gì …

Anh ngồi yên, cố nghĩ xem gần đây anh có làm cái gì quá đáng, đặc biệt không hay ai ngứa mồm hót láo để anh bực mình. Thực ra, chỉ có hôm đi ăn tiệc, anh được biết một kỹ nữ trẻ, đẹp lắm. Anh đã tìm, biết chỗ nó ở, thỉnh thoảng anh cũng cố lui tới nhà nó. Ý anh muốn chuộc nó ra, mỗi tháng cấp cho ít tiền, đem giấu một chỗ nào thật kín làm cảnh. Nhưng mà mới nghĩ thế thôi chưa thực hiện được. Công việc mua bán chưa xong vì mẹ con bé, mụ già ấy ghê lắm, chưa bằng lòng giá tiền, còn định làm cao. Chuyện chưa có gì mà vợ anh đã biết được ư? Anh lấy ống tay áo lau mồ hôi, ngoảnh mặt đi chỗ khác uống nước.

Lần này chị Cả không nghĩ đến nói móc máy chồng nữa, chị lảng sang chuyện khác, chị nghĩ sao nói vậy không suy xét, cân nhắc:

– Tôi cũng tự biết, tôi là một người đàn bà thấp hèn, không đáng kể song tôi mạn phép lại có lời cám ơn chú đã trông nom, săn sóc thằng con trai thứ của tôi đi theo chú. Tôi cũng biết một người như chú cũng chẳng thèm tôi cám ơn, song tôi cũng phải lại có lời với chú cho phải phép, tuy tôi đang bị bao nhiêu phiền não, ưu sầu làm tôi héo hắt ruột gan.

Chị nói xong lại đưa mắt nhìn chồng. Anh này thấy bực bội khó chịu quá, anh gãi đầu gãi tai, mồ hôi ướt đầm, nhìn lơ láo vợ, anh không hiểu chị lại đây định kể tội gì anh để tố khổ anh. Người anh đẫy đà, to béo, chưa có chuyện gì mồ hôi đã ướt áo.

Chị lại tiếp lời:

– Tôi xin gửi lên chú lời cảm tạ chân thành của tôi. Còn thằng cháu, duy có thằng ấy đáng được chú trông nom, săn sóc, cháu này ngoan nhất nhà, cháu khá nhất, nhờ trời phú cho cháu cũng thông minh đĩnh ngộ. Tôi nói thế chắc có người bảo mẹ bao giờ chả khen con hay con đẹp, nhưng thực tình tôi và nhà tôi đã cân nhắc, gửi chú dạy dỗ thằng bé khá nhất nhà. Nghe chị nói, nét mặt chàng thản nhiên, lạnh ngắt, hai mắt chàng trừng nhìn chị. Ai nói gì với chàng, chàng có tính nhìn thẳng vào mặt người ta, vẻ nhìn lạ lùng, không ai biết chàng có để tai nghe không, có hiểu không, rồi đến lúc chàng trả lời lại hết sức mạnh bạo phũ phàng:

– Nếu quả như lời chị nói, tôi nghĩ buồn cho anh chị. Tôi chưa từng thấy thằng bé nào lại yếu đuối ươn hèn như nó, cái mật của nó có lẽ không to hơn mật một con gà nhỏ. Tôi lạ quá, sao anh chị không gửi tôi thằng lớn. Thằng ấy còn ra của, tôi có thể rèn tập uốn nắn, sau này còn nên trò trống.

Thằng thứ hai, chỉ giỏi là lúc nào cũng sụt sịt khóc sướt mướt. Nó không hiểu gì, không có chí lự, không tài nào có thể uốn nắn được. Cả hai thằng của hai anh gửi cho tôi đoảng cả. Thằng bé con chị thì ẻo lả, nhút nhát, tôi tưởng chừng như óc của nó tan cả ra nước mắt, còn thằng kia tuy sức lực, khỏe mạnh có thể làm việc nặng nhọc được nhưng vô ý thức, lúc nào cũng hềnh hệch cười như một thằng hề, mà một thằng hề thì còn làm gì được nên to tát. Tôi cũng buồn lúc này tôi không có một đứa con trai lớn.

Không ai có thể đoán chị Cả nghe bài diễn thuyết đó nghĩ thế nào, định trả lời ra sao? Anh Cả mặt đỏ tía tai, người anh run lên, anh chưa từng thấy ai lại nói với vợ anh phũ phàng quá như thế. Anh toan mở miệng nói một câu chua chát, anh chưa kịp nói thì thằng lớn con anh, đứng nấp sau rèm nghe trộm, nhảy xổ ra nói:

– Má ơi! Má cho con đi, con muốn đi theo chú con!

Nó đứng giữa phòng, ra vẻ một thiếu niên tuấn tú, lơ láo nhìn hết người này người khác, nóng ruột chờ sự ưng thuận của cha mẹ. Nó mặc một chiếc áo màu lam sẫm, màu long công, màu này các ông thủ lãnh trẻ tuổi ưng nhất, chân đi giày da đóng ở ngoại quốc, ngón tay đeo chiếc nhẫn ngọc thạch, tóc cắt theo kiểu mới nhất, chải bóng bằng một thứ dầu thơm. Cũng như bọn trẻ con nhà giàu có, nước da nó xanh xao, không được hồng hào, vì không phải cày sâu cuốc bẫm, dãi nắng dầm mưa, bàn tay mềm mại như tay đàn bà.

Tuy nước da xanh xao, ăn mặc lòe loẹt, nhưng bộ mặt quắc thước, hai con mắt sáng và lanh. Giáng điệu nó mạnh dạn cứng cỏi không như kiểu thanh niên hồi đó ủy mị dịu dàng.

Chị Cả nghe con nói, chị hét ầm lên:

– Thật là cả một sự vô lý, điên rồ. Mày phải hiểu mày là con cả, sau này bố mày chết, mày là trưởng gia đình. Làm sao tao lại có thể để mày ra trận mạc, đi đánh nhau, để người ta giết chết à? Mày thử xem tao và bố mày có tiếc gì mày không? Tao cho mày học hết các trường ở tỉnh, thuê bao nhiêu ông đồ dạy dỗ mày lại còn chiều mày cho mày xuống ăn học một trường miền Nam. Tao có điên đâu cho mày đi đánh nhau hở?

Chị quay nhìn chồng chỉ thấy anh này ngồi yên, đầu lắc lư, chị nói: có lẽ ông để một mình tôi lo cả cái gánh này nữa chắc?

Anh Cả thủng thẳng nói:

– Má mày nói phải lắm. Tao xem má mày nói câu gì cũng chí lý. Tao đồng ý với má mày không cho mày tự ý muốn làm gì cũng được.

Anh chàng thanh niên, tuy gần tuổi đầu, nghe bố mẹ nó nói thế, dậm chân xuống đất thình thình, kêu khóc om sòm, chạy ra định đập đầu vào cánh cửa, vừa khóc vừa nói:

– Tôi uống thuốc độc tự tử chết cho rồi, cái gì cũng bị áp chế, mất hết tự do!

Vợ chồng anh Cả thấy thế sợ quá, cuống quít, chị Cả chạy ra cửa kêu ầm thằng ở lên ngay có việc cần. Thằng ở tất tưởi chạy lên, chị bảo:

– Dắt cậu đi chơi, dỗ dành cậu, mày làm thế nào cho cậu đừng hờn dỗi nữa.

Anh Cả vội vàng rút ở bao lưng ra một nắm tiền dúi cho thằng bé và bảo:

– Cầm lấy, thích gì thì mua, hay đi đánh bạc tùy ý.

Lúc đầu, chàng thanh niên hất tay cha ra không lấy tiền, thằng bé ở hết sức dỗ dành, van lơn, cậu mới cầm lấy tiền, làm như việc bất đắc dĩ lắm, nắm lấy tiền vứt tung ra nhà, kêu khóc ầm ĩ đòi đi theo chú. Thằng nhỏ cố sức dỗ dành, dìu cậu ra ngoài rủ đi chơi.

Chị Cả buồn quá, gieo mình xuống chiếc ghế, thở dài, lẩm bẩm:

– Thằng này bướng bỉnh quá … ý thế nào là muốn được như thế … khó chiều khó dạy quá, bằng mấy thằng kia.

Vương hổ tướng đứng lặng yên, xem tấn hài kịch gia đình. Chàng nói:

– Tuy thế, cũng còn có thể dạy dỗ được; thằng này còn có ý lực, chứ thằng kia đầu óc rỗng tuếch không có gì. Tôi có thể cho nó vào khuôn phép được, nó bướng bỉnh, mè nheo là do không biết uốn nắn dạy dỗ.

Chị Cả tức lắm, chị nghe nói con chị mất dậy chị chối tai không muốn nghe nữa. Chị bệ vệ, đứng dậy xin kiếu, chị nói:

– Thôi tôi để hai anh em ông nói chuyện …

Nói xong chị đi thẳng vào trong nhà.

Vương hổ tướng đăm đăm nhìn anh, vừa có vẻ thương hại vừa khinh bỉ. Hai người ngồi im không trao đổi một lời, anh Cả lại rót rượu uống, lần này anh uống không thấy hương vị rượu, mặt anh buồn thiu. Thường anh có tính nói

năng hồn nhiên không suy xét cân nhắc, lần này mới thấy anh có vẻ trầm ngâm tư lự. Anh thở dài nói:

– Nghĩ lạ thật, đàn bà khi còn ít tuổi, tính nết mềm mỏng, dễ bảo, ngoan đáo để, thế mà càng về già tính nết càng thay đổi khác hẳn, hay hờn hay dỗi, soi bói cắn dứt như người mất trí, anh chồng lắm lúc đến khổ, có thể hóa điên

hóa dại. Lắm lúc tôi đã thề không có dính dáng, đụng chạm đến đàn bà, con vợ lớn học con vợ bé, con vợ bé bắt chước con vợ lớn, thôi cùng một duộc cả (nói đến đây anh ngước mắt nhìn em, như có vẻ thèm muốn địa vị ông em lắm). Chú phải biết, thế là chú sướng hơn tôi nhiều lắm, không bị trói buộc, vợ cũng không, đất cũng không. Tôi một cổ hai tròng. Tôi phải trông nom nắm ruộng ông cụ để lại; mà không trông nom không lấy gì mà ăn, bọn tá điền mình ở thế nào cũng chưa vừa lòng, lúc nào họ cũng kiếm cách xoay xở mình. Còn anh quản gia, có ai nghe nói bao giờ có anh quản gia thật thà không? (anh nói, hai môi cứ phễu ra, anh thở dài thườn  thượt). Kể chú thế mà sướng thật, chẳng có mụ vợ nào cắnrứt hoạnh họe, chẳng có ruộng đất mà những lo cũng đủ ốm xác.

Vương hổ tướng láy lại với giọng giễu cợt:

– Tôi chịu không dám lơ mơ với một mụ nào.

Chàng ở nhà anh Cả thế là hết bốn hôm, bây giờ chàng sang ở chơi nhà anh Hai. Bước chân vào nhà anh Hai, chàng nhận thấy không khí bên này khác hẳn nhà anh Cả. Ở đây cảm như có sinh lực hoạt động, vui vẻ, mặc dầu lũ trẻ quấy khóc cãi nhau chí chóe. Tất cả sự ồn ào, náo nhiệt, sinh lực hình như tập trung, kết hợp vào cả cô vợ nhà quê, và từ ở đó phát huy ra tất cả nhà. Một mụ nhà quê to mồm nhất, hoạt động nhất, tiếng nói của chị oang oang, vang dội khắp nhà. Lũ con chị cãi nhau, tranh nhau ăn; mỗi ngày đến 20 lần chị nắm đầu đứa này cốc vào đầu đứa kia, hay chị lấy tay cốc vào đầu chúng nó. Ống tay áo của chị lúc nào cũng xắn cao đến khuỷu, đứa nào kêu khóc, có khi chị tát đánh bốp lũ trẻ tha hồ inh ỏi cho đến tối mịt. Mấy đứa ở, con nào cũng to mồm không kém gì chủ mấy, lại thích đùa với lũ trẻ, đứa trẻ nào đi ngang, con ở bế xốc nó vào lòng hôn hít cho đến khi nó khóc thét mới buông ra. Tuy chị rất hà tiện, nhưng những lúc có hàng quà rong đi qua, có đứa nào lại xin chị một xu hoặc mua một thỏi kẹo, một bát chè nóng, một tấm mía hay quà gì khác, chị cũng cố moi ở trong người lấy ra một xu cho con. Trong cái gia đình ồn ào, náo nhiệt, anh Hai vẫn thản nhiên, không cho thế là ầm ĩ khó chịu. Anh thủng thẳng đi đi lại lại, tính toán công việc của mình, anh mến vợ con anh; vợ con anh hợp tính anh. Vợ chồng, con cái anh sống trong bầu không khí hòa hợp, tương đắc.

Mấy hôm ở nhà anh Hai, Vương hổ tướng gác một bên những mưu vọng cao xa, chàng cảm thấy ở đấy có một cái gì nó hợp với tâm tính chàng. Bọn lính của chàng ở yên một chỗ, tha hồ phè phỡn rượu thịt. Bây giờ chàng mới hiểu tại sao thằng Rỗ lại vui vẻ tươi cười còn thằng con anh Cả ươn hèn nhút nhát; chàng nhận thấy giữa vợ chồng anh Hai có một bầu hòa khí tương đắc, tương thân, lũ con có vẻ tự do sung sướng, tuy chẳng có ai săn sóc, tắm rửa, chỉ biết ban ngày cho ăn tối lặn mặt trời cho đi ngủ. Tất cả lũ trẻ hớn hở vui tươi, nhìn bọn trẻ chàng thấy có một cảm giác lạ, vui vui trong lòng. Có một đứa độ năm sáu tuổi, chàng thích nhất thằng bé này, mũm mĩm kháu khỉnh, chàng đùa với nó, hoặc xòe bàn tay, hay cầm một xu đưa cho nó, thằng bé đang cười, nhìn chàng sầm mặt lại, đút tay vào mồm, lắc đầu chạy. Thấy nó chạy, không lấy tiền chàng cho như một người lớn, chàng cảm thấy nao nao buồn song cũng cố gượng cười để giấu kín nỗi lòng.

Vương hổ tướng ở chơi nhà hai anh chờ cho hết bảy ngày; những lúc thư thái càng liên miên suy nghĩ, chàng thấy hai anh con cái đầy đàn, còn chàng vẫn chưa vợ chưa con. Từ khi lớn lên, lần đầu tiên chàng ở chơi những gia đình có lắm đàn bà, con gái, vợ lớn, vợ nhỏ hai anh, con sen, con ở, những con nữ tỳ trẻ đẹp, lăng xăng chạy ra chạy vào. Ý tưởng phụ nhân đột nhập, lởn vởn trong tâm trí chàng. Một  thân hình mảnh dẻ, kiều diễm, khêu gợi đang mải làm gì,xoay lưng về chàng; nom thấy, chàng liên tưởng đến Hoa Lê khi xưa cũng ở ngôi nhà này, năm chàng còn ít tuổi. Chàng có một cảm giác là lạ, êm ái, tâm hồn rạo rực. Khi người con gái quay người lại, chàng ngó thấy mặt, tâm hồn chàng thác loạn như xưa kia. Thực ra trong tuổi hoa niên, khi thấy một giai nhân kiều diễm, tâm hồn chàng cũng dạt dào lai láng, ý  chí cũng bị kích thích nhưng chàng biết chặn đứng ngay dục vọng, quay nghĩ sang chuyện khác.

Trong khi nhàn rỗi, tâm hồn bị ngoại cảnh kích thích,  chàng thấy bồn chồn nóng ruột. Một buổi quá trưa, chàng cóý nghĩ muốn lại chơi chào Liên, xưa kia chỗ Liên ở chàng vẫn thường gặp Hoa Lê ở đó. Ý chàng muốn nhìn lại mấy gian nhà cũ nếp xưa. Chàng lại sau khi đã cho thằng ở đến nhà Liên báo trước. Cùng với mấy bà bạn già ngồi quay xung quanh chiếc bàn, đang đánh bài, thấy chàng đến, Liên vội vàng đứng dậy đón tiếp. Chàng đứng một lát, đưa mắt nhìn hết gian phòng chàng nghĩ dại đã đến vì những hình ảnh cũ lại hiện trước mắt, chàng thấy một cảm giác khó chịu, bồn chồn muốn đi ra ngay. Liên thấy chàng có vẻ tư lự, đon đả chào mời:

– Cậu hãy ngồi chơi một chút đã nào. Tôi vừa làm mứt gừng hãy còn để trong thạp, à còn có cả mứt ngó sen, mấy thứ đó chắc các cậu thích lắm!

Liên nắm tay chàng, sằng sặc cười, hai mắt híp lại. Cử chỉ đó, chàng thấy ghét quá, đứng đờ người, sẽ nghiêng đầu chào quay ra. Đến ngoài đường còn nghe mấy mụ già quay vào đánh bài, sát phạt nhau, khúc khích cười.

Chàng rảo bước đi, những hình ảnh xưa càng hiện rõ trong ký ức, làm tâm thần xáo động, chàng tự nhủ cho phấn khởi chàng sẽ tạo cuộc đời ở nơi xa xăm, xa tránh chốn này. Chàng ra viếng mộ cha cho phải đạo làm con rồi chàng lên đường, đi thật xa không muốn nhìn cảnh cũ, vết xưa.

Sáng sớm hôm sau, chàng bảo anh Hai:

– Tôi về chơi nhà thấm thoắt được sáu hôm rồi. Hôm nay tôi đi thăm mộ cha thắp vài nén hương rồi còn phải lo công việc chứ để bọn lính ăn không ngồi rồi lâu ngày, tụi chúng sinh lười, sinh nản chí, bọn tôi phải đi một đoạn đường dài lắm. Thế nào anh có gì thắc mắc về những món tiền anh gửi cho tôi không?

Anh Hai trả lời:

– Chả có gì thắc mắc, tôi với chú đã thỏa thuận thế nào thì tháng tháng tôi gửi cho chú thế.

Vương hổ tướng vội vàng cướp lời:

– Anh cứ yên chí, thế nào một ngày kia tôi cũng trả anh hết những số tiền anh cho tôi vay! Bây giờ tôi đi thăm mộ.

Anh bảo hai thằng bé sửa soạn sẵn sàng, đừng có ăn no quá, đừng có uống rượu say quá. Tang tảng sáng mai, tôi cất quân lên đường.

Nói xong chàng bước ra cửa, nghĩ bực mình quá lại phải cho thằng bé con anh Cả đi, không biết từ chối thế nào cho tiện, cho đứa này đi không cho đứa kia, bên khinh bên trọng. Chàng đem theo một thẻ hương, rảo bước đi tảo mộ cha.

Khi xưa cùng sống chung một nhà, hai cha con chàng là hai tâm hồn, hai chí hướng đối lập, hai thái cực, cha thì muốn con nối chí cha sống về đồng ruộng, con tuy còn nhỏ tuổi đã có tư tưởng dị đồng, rất ghét đồng ruộng. Càng đi gần lại căn nhà đất, chàng càng thấy tâm hồn rạo rực căm hờn, tuy căn nhà đó, chàng đã ở lúc thiếu thời. Hồi đó, chàng cho nơi ấy như một ngục thất giam hãm chàng bao giờ mới được thoát ly, vùng vẫy? Chàng không đi gần về phía căn nhà đất, chàng đi ngang một rặng cây vòng qua một gò đất ở đấy có mấy ngôi mộ họ hàng.

Chàng rảo bước, khi tới gần mộ thoáng nghe văng vẳng có tiếng thổn thức, nghẹn ngào như ai khóc. Chàng nghĩ sao lại có ai đến mộ cha chàng mà khóc, chắc chắn không phải Liên, vì Liên còn đang mải đánh bài. Chàng rón rén lại gần, nấp sau bụi cây, nhìn qua khe lá. Một quang cảnh lạ lùng, chàng chưa từng thấy , hiện trước mặt chàng. Hoa Lê ngồi ở bãi cỏ, gục đầu vào mộ cha chàng nức nở khóc, nàng tưởng chỗ ấy vắng vẻ, chỉ có mình nàng, chung quanh không có ai, nàng khóc thỏa thích không ai ngăn cấm dỗ dành. Ngồi gần nàng là em gái chàng, đã bao nhiêu năm nay chàng chưa gặp mặt. Tóc con bé đã bạc gần hết, sắc diện tàn úa, da nhăn nheo. Con bé ngồi sưởi dưới ánh nắng thu, nghịch một mảnh vải đỏ gấp vào mở ra rồi lại gập vào, thấy màu đỏ miếng vải tươi hẳn lên dưới ánh nắng, thích chí tủm tỉm cười. Con bé ngồi chơi ngoan ngoãn, như đứa trẻ thích cái gì, người ta đã chiều cho được vừa ý. Ngồi cạnh đó, một thằng bé tàn phế, có bướu. Mặt thằng này nom rầu rĩ buồn thảm, hai môi chum lại sắp khóc, nó thấy Hoa Lê khóc nó thương cũng muốn khóc theo.

Vương hổ tướng đứng đờ người, hết sức ngạc nhiên, chàng nghe Hoa Lê vừa khóc vừa kể lể, như tiếng than tiếng khóc từ đáy lòng nàng thốt ra. Trước quang cảnh đó, chàng không thể nén nỗi lòng, bao nhiêu sự căm hờn đối với cha chàng khi xưa bừng bừng đột khởi. Thẻ hương rơi khỏi tay, chàng quay người rảo bước đi nhanh vừa đi vừa thở mạnh như để dập tắt hận lòng. Chàng đi thật nhanh, trong trí óc đinh ninh nhất quyết phải tránh thật xa nơi này, cảnh vật này, người đàn bà mà chàng vừa tình cờ lại gặp, bao trí não để lo toan tạo thành sự nghiệp. Dưới ánh nắng thu tươi sáng, vạn vật khoe tươi nhưng chàng không cảm thấy sắc thái phồn diễm của tạo vật.

Tang tảng sáng hôm sau chàng đã tề chỉnh ngồi trên lưng con ngựa hồng. Trời buổi sáng gió rét, con ngựa hí vang, bốn vó lộp cộp trên đường gạch ngoài phố. Thằng Rỗ ngủ dậy đã cơm nước no nê, cưỡi con lừa; hai chú cháu lại gọi cửa nhà anh Cả để đón thằng bé kia. Đi gần đến nơi thấy một thằng ở trong nhà hốt hoảng chạy ra kêu ầm:

 – Nguy quá !… Nhà này vận đen quá!

Nó kêu rối rít, chạy về phía quanh đó.

Vương hổ tướng thấy nóng ruột, bực mình hét to:

– Vận đen đỏ gì, có phải vận đen là trời đã sáng rõ mà ta vẫn chưa kéo quân đi phải không?

Thằng bé ở chạy đi không thấy quay lại, chàng rủa ầm, bảo thằng Rỗ:

– Thằng anh em mày thật là của tội, của nợ! Chạy vào bảo nó phải ra ngay, nếu không thì thôi để tao đi cho được việc!

Thằng Rỗ tụt xuống lưng lừa chạy thẳng vào trong nhà. Chàng thủng thẳng xuống ngựa, giao dây cương cho anh gác cổng. Chàng đi được vài bước, thằng Rỗ đã chạy ra, người nó thất sắc, trắng nhợt như thây ma, thở hồn hển như vừa chạy một vòng quanh tỉnh. Nó ấp úng nói như đứt hơi, thở hồng hộc:

– Thôi không bao giờ nó đi nữa … Nó thắt cổ tự tử chết rồi!

Vương hổ tướng thét to:

– Thằng bú dù mày nói cái gì?

Nói rồi chàng nhảy một bước vào nhà anh Cả.

Một cảnh tượng vô cùng huyên náo hỗn loạn, đàn ông, đàn bà, gia đinh đầy tớ, con ở, con hầu, xúm đông xúm đỏ quanh cái gì ở sân. Tiếng đàn bà mẹ thằng bé la thét khóc lóc om sòm át cả tiếng xì xào bàn tán của đám đông. Chàng rẽ đám người đứng xem, vào thấy anh Cả mặt vàng như nghệ, khóc lóc thảm thiết, ngồi cạnh thi hài của con. Dưới ánh sáng bình minh, thằng bé nằm sóng sượt giữa sân, đầu gối vào tay cha nó. Thằng này đêm vừa rồi lấy dây lưng thắt cổ treo lên xà nhà tự tử. Nó ngủ cùng với anh nó, thằng anh lúc chiều uống rượu say, ngủ mê mệt không hay biết, mãi đến sáng bừng mắt dậy thấy cái gì treo lủng lẳng giữa nhà. Lúc đầu nó tưởng ai phơi quần áo giữa nhà, khi lại gần nó thấy là em nó đã tử tự, tri hô lên đánh thức cả nhà dậy.

Có đến 20 người đứng đó, nhao nhao kể chuyện. Vương hổ tướng tai nghe, mắt nhìn thi hài thằng bé, chàng vô cùng khích động, nỗi lòng bi ai trắc ẩn tràn ngập tâm hồn chàng, đối với thằng bé khi sinh thời nó, tấm lòng đó chàng tuyệt nhiên không có. Nghĩ tội nghiệp, thằng bé người mảnh khảnh, loắt choắt, yếu đuối, giờ đây là một cái xác không hồn. Anh Cả ngửng đầu lên thấy chàng, vừa khóc vừa nói:

– Tôi không ngờ đâu thằng con tôi lại thế này trời ơi! Đáng lẽ hôm nay nó theo chú lên đường, nó lại đi tự tử chết. Chắc là mày hành hạ nó quá lắm thế nào nó mới liều chết để khỏi phải đi theo mày! Nếu không phải là em tao thì thế nào tao cũng … tao cũng …

Vương hổ tướng nói với một giọng ngọt ngào:

– Không phải thế đâu anh ơi, em không hành hạ gì nó. Anh xem em phải sắm cho nó một con lừa trong khi bao nhiêu người nhiều tuổi hơn nó phải đi chân không. Thật em cũng không ngờ nó gan dạ đến thế, dám tự tử quyên sinh. Nếu em biết nó có can trường không sợ chết, em có thể huấn luyện nó làm nên sự nghiệp.

Chàng đứng một lúc nhìn thi hài thằng cháu. Đột nhiên thấy huyên náo rầm rầm, thằng ở sai đi lúc sáng, trở về đem theo ông thầy địa lý, mấy ông thầy cúng với thanh la, não bạt vì đây là một cái chết bất đắc kỳ tử, nên phải mời mấy vị này lại để làm lễ phục hồn, tống thần. Nhân lúc lộn xộn, Vương hổ tướng lẩn vào trong nhà.

Khi đã làm xong đủ bổn phận người em đối với anh trong cơn gia biến, chàng lên ngựa ra đi. Ngồi trên mình ngựa cảm thấy lòng buồn rười rượi, chàng chưa từng thấy bao giờ lòng lại buồn đến thế. Cố trấn tĩnh, vấn lương tâm, chàng có hành hạ nó đâu, có đánh đập nó đâu mà ai cũng ngờ oan nó bị ngược đãi, khổ sở đến nỗi phải tự tử. Chàng nghĩ chẳng qua ông trời đã xếp đặt từ trước, chẳng ai tránh khỏi số trời. Mệnh hệ con người ta do ở Hoàng thiên định đoạt. Chàng nghĩ thế cho khuây nỗi lòng, cho quên hình ảnh

xác thằng bé trắng bệch nằm sóng sượt, gối đầu vào tay cha nó, chàng nghĩ:

“Thực ra có con vị tất đã là hạnh phúc”.

Suy luận lý lẽ chàng thấy mạnh dạn, hăng hái, âu yếm bảo thằng Rỗ:

– Cháu ơi, quãng đường hôm nay xa lắm, chú cháu ta phải gắng sức mới được!

Cứ chưa thông

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 09/07/2013 

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

Tác giả và Lê Thiệp, người ló đầu phía sau là Nguyễn Kỳ Phong

Tôi có hộp giấy cứng.
Mua đôi giày ấm chân không nỡ lòng bỏ nó vào thùng rác tái sinh.
Giày dành cho người ưa chạy việt dã,
tôi loanh quanh những lối thưa cây,
thủng thẳng năm này tháng nọ trong lòng phố hạn hẹp.
Giày đã mòn rách mà hộp còn thi gan cùng tuế nguyệt,
nó thế cuốn album,
giam giữ giùm tôi xao xác những hình ảnh xướt trầy.

Có nỗi bồi hồi lai vãng khi mó tay mở nắp,
một cái gì lay nhẹ mơ hồ khi ngó lại quá khứ đóng khung.
Ấm áp, mùa đông bên ngoài nhưng trong hộp giấy là những mặt trời
nhỏ.
Tựa lá mùa thu oằn thân tháng chín nhưng mở nắp ra có mùa xuân lùi lại vừa cựa mình ra bông.

Ảnh màu có cái đã bạc sắc, ảnh trắng đen có hình nhìn không nhớ người đứng quàng vai.
Nắng đâm thân, hình như nắng quái chốn lạ.
Tuyết chôn chân, hừ đích thị Canada.
Bạn bốn phương tự dưng sao quen biết?
Người tên tuổi khi không (ốt dột) đứng cùng mình?
Ai cũng cười (hổ ngươi) y như định luật,
chẳng đợi phó nhòm hô hoán một hai ba.

Có lắm lúc ngại ngần giả bộ quên
Sợ mó tay chạm thô nhám sự thật
Anh ấy mới gọi mà chừ tắt tiếng
Ôn nọ vừa than nhức chưn biết khi mô đi được
Nay lại xăm xăm cứng người mà xuôi tay
Đau răng mà chết?
Nha sĩ làm sao tường tận
Chết là không còn sống, giản dị vậy thôi.

Trong hộp tôi chứa loạn hình bóng
Đếm lui đếm tới kẻ quy thiên
Nhiều hơn người ngác ngơ ở lại
Qua đời đông
Vất dúm đứa đợi bên sông
Tôi húp cháo lú chưa
Mà chẳng thông ý nghĩa
Ngoài hộp giày in chữ
New Balance.

Nhớ lời cô dạy hồi tiểu học
Làm điều lành thì bỏ vào lon hột đậu trắng
Lỡ phạm đạo đức thì hạt đỗ đen, chớ quên.
Tôi nay làm đứa bất nhân, nhỉ?
Mãi rêu rao toàn chuyện chẳng lành
Niệm tình tha thứ ưa hiện diện trong cáo phó
Cực chẳng đã tên mình nằm với cuộc phân ưu.

Xin thanh thản tựa mây trôi, người nhé.

Hồ Đình Nghiêm

Những Khoảng Sương Mù

Tuyển tập Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

Kính tặng các bạn tù H.O.

Hồi mới sang Mỹ có lúc tôi làm nghề tống thơ văn, là người đưa thư, giao hồ sơ, giấy tờ từ chỗ này sang chỗ khác, Mỹ gọi nghề này là “courier”, một trong những nghề hạng bét, lương thấp (cỡ $5.25 thời điểm 1992+ thêm mấy xu cho một mile), vất vả (mỗi ngày chạy trung bình 150 miles). Job này chỉ có part time, vì không ai có thể chịu nỗi lái xe liên tục mỗi ngày tám tiếng, không có xe nào chịu đựng nỗi thời gian và đoạn đường dài như thế. Chỉ có dân cùng đường mới nhận công việc này. Tôi là thứ “courier” nhà băng, nghĩa là phải chạy sớm giao giấy tờ từ nhà băng này sang nhà băng kia, để nhân viên có thể sắp xếp, sẵn sàng mở cửa lúc 9 hay 10 giờ sáng. Nhà ở Westminster, tôi phải dậy lúc 4 giờ sáng, lên nhận bao bì để bắt đầu “round” của tôi xuất phát từ hãng chính đặt trụ sở tại đường Mac Arthur, Irvine, lúc 5:00 giờ sáng. Trong vòng bốn tiếng rưỡi đồng hồ, tôi phải sử dụng hầu hết xa lộ trong Quận Cam và Los, ghé tám thành phố Orange, Montebello, Commerce, Whittier, Los Angeles, La Habra, Yorba Linda và Garden Grove, về lại Irvine lúc 9:30 sáng.

Về mùa đông, lúc năm giờ sáng thời tiết rất lạnh và ngoài trời hãy còn tối lắm. Khổ nhất là những khoảng đường sương mù trong buổi sớm mà tôi thường gặp nhất là trên đoạn đường 405 South gần phi trường John Wayne, nó chỉ kéo dài khoảng ba miles nhưng phải đi mất gần nửa giờ đồng hồ. Sương mù lúc ấy dầy đặc đến nỗi chúng ta không thấy gì trong khoảng mười thước trước mặt. Nếu đứng lại là chấp nhận xe đằng sau sẽ húc vào mình, mà lái đi thì không khác gì bịt mắt quờ quạng trong bóng tối. Trường hợp ấy, gần như phải lái chậm, mắt mở to căng thẳng nhìn kỹ xuống mặt đường kẻo xe lấn qua lane khác hay thúc vào đít xe trước. Trên xa lộ cũng không thể nào tấp vào lề để chờ sương tan hay lái vào exit để mong một chỗ sáng sủa hơn, sương mù y như rừng rậm không có lối ra hay biển mênh mông không thấy bến bờ.

Ôi! Cuộc đời của tôi hay của những người bạn thiếu may mắn đã có bao nhiêu lần phải gặp những khoảng sương mù như thế? Hồi mới làm người tị nạn sang Mỹ, hết trợ cấp, việc làm khó kiếm, nhất là đối với những tên già không già mà trẻ không trẻ, thầy lỡ thầy mà thợ lỡ thợ như tôi, lấy đâu ra một công việc vài ba đồng mà lo nhà, lo xe, lo cơm, lo áo. Nếu nằm nhà thì chẳng khác gì cái xe đứng lại trên xa lộ trong trời sương mù, đành phải chạy chầm chậm và mong mỏi cái thời sương mù ấy sớm chấm dứt. Trong cái khoảng sương mù ấy, tôi đã phải bỏ Cali ra đi về miền Đông giá lạnh để tìm một việc làm đắp đổi, chờ lúc trời quang, mây tạnh mới trở về đây.

Trừ những người tốt số, đời của mỗi người có lẽ đều có một khoảng sương mù như thế. Thời gian tù tội, thất nghiệp, phá sản, ly dị, trầm uất … Những người lính giữ nước cũng không mong cuộc đời sáng sủa, trôi chảy, cái khoảng sương mù là quãng đời trong trại tập trung sau khi tan hàng, buông súng. Đôi khi, lòng chúng ta nhen nhúm lên một ngọn lửa hy vọng rằng “có lẽ ta đâu mãi thế này”, để rồi cuối cùng cũng ra khỏi cái khoảng sương mù đó để bước tới một vùng quang đãng nắng ấm. Trong những khoảng sương mù, ráng giữ cho lòng kiên nhẫn, bình tĩnh, tự tin và giữ con đường đi thẳng. Trong tình thế này, chúng ta không bao giờ có thể quay trở lại con đường cũ hay vùng bỏ chạy ra khỏi con đường chúng ta đang phải đi. Muốn ra khỏi những khoảng sương mù, chúng ta chỉ còn một lối đi tới và phải luôn luôn giữ con đường thẳng, dù có hết sức nóng lòng, chúng ta cũng không thể đi hay chạy nhanh lên.

Hồi mà những đợt đồng bào tỵ nạn mới sang đây, không làm sao tránh khỏi những khó khăn gặp phải thuở ban đầu, có người đưa ra hình ảnh một chuyến xe đò ngày xưa mà chúng ta thường gặp ở quê nhà. Đó là những chuyến xe không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, có người phải đứng, có người phải đu sau bậc cửa lên xuống, lớp trong lớp ngoài. Nhưng chuyến xe chạy qua một vài đoạn đường dài, có kẻ lên người xuống, chúng ta thoạt đầu phải đu ngoài cửa xe, nhưng cuối cùng ai cũng có được một chỗ ngồi trong xe, và chúng ta cũng có một chỗ ngồi như thế.

Hồi mới sang đây, chúng ta đầy lòng lo sợ, không biết rồi mai đây, xứ lạ quê người, sống làm sao đây. Cha mẹ thì không còn trẻ, con cái chưa lớn lên, tất cả đều tạm bợ, chưa có gì ổn định cho cuộc sống. Bây giờ sau bao nhiêu năm, như qua cái khỏang sương mù ấy, như qua cái đoạn đường mà chúng ta phải đeo bên cửa chiếc xe đò ấy, chúng ta thấy gì?

Có người trở thành giàu có, thành công trên đất Mỹ vì chúng ta cũng biết rằng đây là “đất cơ hội”, có gia đình con cái chiếm những học vị cao, hãnh diện đi vào dòng chính của nước Mỹ. Nếu chúng ta đã không giàu có, con cái chúng ta cũng chỉ đỗ đạt làng nhàng, có công việc làm vừa phải, thì chúng ta giờ đây cũng chẳng có gì phải lo lắng gì cho cuộc sống hôm nay. Đó là cuộc sông ổn định trên xứ người. Đó là chúng ta đã đi qua những khoảng sương mù ấy, như ngày trước trong câu chuyện tôi kể hầu các bạn ở trên, tôi đã dọ dẫm, lần mò đi trong đám sương mù dày đặc ấy để tôi cũng như các bạn, chúng ta đã có thể tiếp tục chạy trên xa lộ sáng hôm nay với một tốc độ khá cao, mà không còn phải lo sợ, buồn phiền gì nữa.

Nhìn Lại Quê Hương

hung-viet.org

02 Tháng Năm 2012

Thơ Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

* Ba Mươi Tháng Tư Một Nghìn Chín Trăm bảy Lăm.

“Em ra đi nơi này vẫn thế!”

Thành phố xưa cửa đóng then gài

Những ánh đèn trong đêm vụt tắt

Tên tù trong ngó đám tù ngoài.

Những thằng ngu làm thầy hoạnh họe

Những anh khôn nhẫn nhục cúi đầu.

Những gì là thiên đường Cộng Sản

Vẫn chỉ là sáo vẹt dăm câu.

Chị hốt rác vào ngồi quốc hội

Anh cu li được gọi anh hùng

Bánh vẽ đảng dành cho mọi giới

Giàu sang riêng để đảng tiêu dùng.

Phải đập phá những gì tồn tại

Hãy vẽ tô những thứ mơ hồ

Áo cơm dân chỉ là thứ yếu

Quyền năng ta mới phải lo âu.

Phải dấy căm thù lên như sóng

Hãy quên đi sự thật đói nghèo

Ta đã giỏi quen dùng súng đạn

Đảng làm, dân chúng phải nghe theo.

Phải làm Saigon bằng Hà Nội

Phải đưa thành thị xuống nông thôn

Phải bỏ phi thuyền đi dép lốp

Tối tăm có đuốc đảng soi đường.

“Em ra đi nơi này vẫn thế!”

Em thơ tôi móc rác vệ đường

Mẹ tôi dựng nhà trên nghĩa địa

Cô giáo tôi bán kẹo sân trường.

Những chiêu bài ấm no, hạnh phúc

Những danh từ độc lập, tự do

Hơn một triệu người đành bỏ nước

Trại tù gần tiếp trại tù xa.

* Thời Mở Cửa.

Phải giàu bằng phá rừng bán đất

Phải buôn ngay mọi thứ cần buôn

Từ tượng đồng, mộ bia, lăng miếu

Đến xác thân em bé đứng đường.

Thời mở cửa lầu cao đèn sáng

Che mặt trời, sông rạch âm u

Kẻ xu thời tiền rừng bạc biển

Đứa dân đen khổ đến bao giờ ?

Hãy triệt tiêu danh từ đạo lý

Hãy cân đo sao để có tiền

Thời thượng ta giàu nhờ vô đạo

Phúc nhà đảng tịch được ngồi trên.

Chúng giàu lên vốn nhờ băng đảng

Người nghĩa nhân vẫn giữ phận nghèo

Thời nay tìm đâu ra liêm sỉ

Khôn ngoan tìm lối đảng ta theo

Đâu béo bở đảng viên có mặt

Nơi nghèo hèn có mặt dân đen

Gươm thần cũng không sao chém hết

Bọn mọt sâu có chức có quyền.

Đảng hiện thân chỉ là băng đảng

Dân lại hoàn vẫn lũ lê dân

Hết nô lệ sao còn nô lệ

Tham ô, bốc lột cả trăm lần.

Đứa quyền chức ê hề rượu thịt

Dân đói meo ăn miếng xương rồng.

Nuốt đắng cay vào theo tủi nhục

Nỗi niềm này đảng biết cho không ?

Ai được gọi là người tử tế

Không xác xơ cũng chịu tù đày

Ôi lạ lẫm danh từ quân tử

Kiếm đâu ra trên nước non này.

Thêm những người tìm đường bỏ nước

Bán sức người hay bán xác thân

Có nghĩa là cuộc đời đen tối

Phải ra đi để hy vọng một lần.

Thương cho con rồng Việt Nam tội nghiệp

Đói cơm lại khóa miệng, cùm chân

Nhởn nhơ béo bở bầy ruồi nhặng

Đất nước đau thương cát bụi lầm.

Đã nằm xuống này cha, này mẹ

Đổi bao nhiêu gian khổ, tù đày

Đâu để cho bây giờ đất nước

Rơi vào vòng tăm tối hôm nay.

Quê hương bây giờ lúc nhìn lại

Giá băng không ấm nỗi nụ cười

Người ngoài, mang nỗi buồn vong quốc

Người trong với ngày tháng ngậm ngùi.

Huy Phương

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH

hung-viet.org

28 Tháng Bảy 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

(Nhân Đại Nhạc Hội “Cám Ơn anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ 8 sắp tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 3 Tháng Tám, tại sân vận động trường Bolsa Grande, Garden Grove, Nam California).

Ở đây chúng tôi không hề muốn nhắc lại những điều ân nghĩa mà ai cũng ý thức được, có thể làm phiền lòng một đôi người, trong khi với lòng hảo tâm, từ bi hoặc bác ái, hầu hết đồng bào hải ngoại đã làm rất nhiều việc giúp đỡ thiện nguyện cho những người kém may mắn hơn mình hiện đang sống ở quê nhà. Hiện nay ở hải ngoại có rất nhiều tổ chức thường trực quyên góp tiền để đem về giúp Việt Nam. Từ chuyện nhỏ như mổ mắt vá môi, chuyện người cùi, bệnh tật hay già yếu, chuyện chén cơm cho người già, bát cháo giúp người đau ốm, cho đến những chuyện khá quy mô “đỡ tay” cho nhà nước cộng sản như xây trường, làm đường, phát học bổng… Không làm thì không ngồi yên trước thảm cảnh nghèo đói, bệnh tật của bà con ruột thịt, mà làm cũng thấy nhiều điều phi lý. Trong khi ngoài nước, chúng ta gom góp từng chục bạc, thì ở trong nước hàng triệu đô la chui vào túi tham nhũng, đục khoét, với những trò cá độ, tẩu tán tài sản hay với lối ăn chơi huy hoắc từ các thành phố lớn cho đến cả nông thôn của các cán bộ, đảng viên cộng sản.

Một phụ nữ an ủi một thương binh VNCH tại phi trường Phú Bài, trong lúc chờ máy bay đưa về bệnh viện Đà Nẵng hồi Tháng Tư, 1972. (Hình minh họa: Ennio Iacobucci/AFP/Getty Images)

Ở trong địa hạt nào, đường lối của cộng sản cũng tán thưởng và giúp đỡ những tổ chức này, vì chúng ta đã làm những việc “đỡ tay đỡ chân” cho chính quyền để họ còn rảnh tay lo nhiều việc, trong đó còn lo việc đàn áp quần chúng đòi hỏi tự do, công lý. Cũng có những đoàn cứu trợ phải qua chính quyền, nhưng cũng có những đoàn cứu trợ được thong thả đi sâu vào các nơi hẻo lánh xa xôi, xoa dịu được nỗi đói nghèo thì quần chúng càng ngày càng bớt bất mãn. Duy chỉ có một vùng cấm địa mà cộng sản vẫn canh chừng là địa hạt các thương phế binh VNCH của chúng ta. Mỗi khi có một tổ chức đứng ra tụ tập anh em thương binh để phát quà, khi vui thì công an lơ là cho gặp gỡ, khi nghi ngờ, cảnh giác thì “ngăn đường cấm chợ.”

Chúng ta không thể nào đem tiền về tập họp các thương binh VNCH lại và công khai phát tiền cho họ, ngoại trừ dưới danh nghĩa cứu trợ chung chung, trong đó có những người thương tật của cả hai bên như chúng ta vẫn thường thấy trên màn ảnh truyền hình.

Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của hàng ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.

Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên trăm nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một trăm nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.

Mỗi năm chúng ta đi du lịch, tiêu pha vào các dịp lễ Tết, quà cáp cho bạn bè, con cháu, làm việc phước thiện, mỗi gia đình tiêu pha, con số ít khiêm nhường phải lên đến con số nghìn (đô la). Xin quý vị rủ lòng thương mỗi gia đình “bảo trợ” cho một thương binh, như anh em bà con, nhà thờ, nhà chùa, cơ quan thiện nguyện đã từng bảo trợ cho chúng ta đến đây và sinh tồn trên mảnh đất này, con cái chúng ta được học hành, sống no ấm, hạnh phúc.

Mỗi năm chúng ta chỉ cần giúp từ $100 đến $200 với khả năng của người bảo trợ và tùy những khó khăn của người thương binh. Các gia đình bảo trợ sẽ có một gia đình để thăm viếng, thăm hỏi và giúp đỡ và thương binh sẽ có một nơi nương tựa, đặt niềm tin vào cuối cuộc đời của họ. Việc bảo trợ này không bị ràng buộc với bất cứ một sự cam kết nào, mà chỉ do tấm lòng thương yêu tự nguyện của chúng ta.

Chúng ta có thể chọn một thương binh ở gần địa phương có bà con, gia đình của chúng ta trú ngụ để có thể xác tín về sự nghèo đói, sinh hoạt hay hoàn cảnh của người thương binh này, cũng như theo những thương tật đặc biệt mà chúng ta muốn lưu tâm giúp đỡ. Nếu có dịp đi Việt Nam, chúng ta có thể thăm viếng, quan sát đời sống của gia đình thương binh này để tạo thêm tình thương và tin cậy, như vậy việc giúp đỡ của chúng ta trở nên có nhiều ý nghĩa hơn.

Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH tại Nam California hiện nay đang giữ hàng chục nghìn hồ sơ có hình ảnh thương tật và giấy tờ chứng minh để trao cho gia đình quý vị. Trong hoàn cảnh hiện nay, thương binh chỉ được nhận một gia đình bảo trợ, nhưng một gia đình có thể bảo trợ cho hai hay ba hồ sơ thương binh tùy theo khả năng và tấm lòng của mình. Ngoài ra các anh chị em làm việc chung trong mỗi “đơn vị” như xưởng may, tiệm nail hay hãng xưởng cũng có thể chung nhau mỗi năm, một người $5, $10… một cách dễ dàng để bảo trợ cho một thương binh, chúng ta chia sẻ với nhau niềm vui bác ái ấy, đó hạnh phúc khi ban một ân huệ, hay một niềm vui cho người khốn khó, khổ đau hơn mình.

Hiện nay, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH cho biết rất ít hồ sơ thương binh được nhận bảo trợ, vì nhận bảo trợ có trách nhiệm và khó khăn, mất thời giờ hơn là gửi đến các cơ quan giúp thương binh một hay hai trăm đồng bạc. Trước hết chúng tôi mạn phép kêu gọi mỗi thành viên thiện nguyện đang làm việc giúp cho hội, chúng ta mỗi người bảo trợ cho một hồ sơ thương binh, cho đến lúc họ qua đời, nếu chúng ta qua đời, hy vọng con cái chúng ta sẽ tiếp tục công việc ấy. Bằng một tấm lòng nghĩ về người lính năm xưa, những gia đình của chúng ta, lớn hay nhỏ, sẽ bắt đầu bảo trợ cho một vài hồ sơ thương binh, dù chỉ là một hạt muối bỏ biển, trong một đại dương nghèo đói, khổ đau của Việt Nam và nhất là các thương binh VNCH bất hạnh của chúng ta.

Đừng đánh giá sai thiện chí của tuổi trẻ mà chúng ta không dám vận động lớp tuổi này. Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, người đã tích cực đem lại thành quả của 7 lần tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” với số thu gần $4 triệu chỉ vì muốn làm “một viên thuốc giảm đau cho nỗi thống khổ của thương binh VNCH.” Cũng như anh Lý Vĩnh Phong, từng là chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, cho rằng, “Tuổi trẻ Việt Nam không bao giờ quên cái gì của các thương phế binh VNCH ‘đã mất’ để cho người Việt hải ngoại chúng ta có những ‘cái được’ hôm nay.”

Có những việc làm minh bạch công khai và cần thiết như những lần đài SBTN, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH, các hội đoàn cựu quân nhân Nam và Bắc California đứng ra tổ chức các buổi đại nhạc hội ngoài trời để gây quỹ giúp thương binh, vẫn bị đánh phá, xuyên tạc. Xin những người có tấm lòng vững tin vì hiện nay có bao nhiêu thương binh VNCH đang còn hướng về quý vị, ý nghĩa hơn những đồng đô la nhân ái, chính là chúng ta đã gửi cho anh em thương binh những niềm tin.

Dù trong hoàn cảnh thất trận, “tan đàn xẻ nghé,” nhiệm vụ không hoàn thành, người lính VNCH vẫn hãnh diện là người lính chiến đấu cho tổ quốc, mà mỗi người dân miền Nam phải ghi nhớ, trong khi cả nước bắt đầu nhận ra chân dung đích thực của những anh hùng.

Huy Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

49. Lê Trực

Không biết Lê Trực thực sự viết bao nhiêu ca khúc. Nhưng phần lớn người ta cũng chỉ được nghe và biết một ca khúc duy nhất của ông đó là bài Tiếng Còi Trong Sương Đêm.

Theo nhà báo Đỗ Ngọc Yến có vài lý do khiến các nhạc sĩ miền Nam của chúng ta sáng tác được ít là vì họ không có cơ hội tiếp xúc với nhau. Vào thời ấy, ở miền Nam chưa có những phòng trà, hội quán, nơi người ta có thể gặp gỡ, trò chuyện, hát cho nhau nghe, và người nọ gợi hứng cho người kia. Lý do thứ hai, cũng là lý do chính, là họ bị … chết trong chiến tranh. Thật không còn lý do nào buồn thảm hơn. Nhìn lại thời “kháng chiến Nam bộ” quả thật người ta thấy rất nhiều người: Nguyễn Mỹ Ca (Dạ Khúc, Tiếng Dân Cày), Hiếu Nghĩa (Chàng Đi Theo Nước, Ông Lái Đò) Võ Hòa Thanh (Tình Nước) rồi Lê Trực đều chết trong những ngày cuộc chiến khởi sự.

Âm điệu của bài hát còn gợi cho người ta nhớ lại những giọng hát quen thuộc của các đài phát thanh Sài Gòn, Pháp Á một thời như: Ngọc Hà, Trong Nghĩa, Trần Văn Trach, Văn Thiệt vv … Có những bài hát người ta có cảm tưởng phải hát bằng tiếng Nam mới toát ra được hết chất của nó, Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực là những bài như thế.

Khi ấy chiến tranh đang lan tràn trên đất nước, Sài Gòn đối với đại đa số người Hà Nội còn là một vùng đất xa lạ. Mặc dầu người ta đều biết rõ đó là một phần của tổ quốc. Chính những bài hát như Ông Lái Đò của Hiếu Nghĩa, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực nghe thấy ở Hà Nội qua các làn sóng điện, mà người ta nhận ra sự gần gụi thật sự trong ý nghĩa đất nước đang cùng phải chịu chung một tai họa, nuôi chung những hy vọng …

Những chuyến tầu như thế rồi sẽ đưa người ta cùng đến chỗ tổ quốc kêu gọi dù người ta khởi hành từ đâu.

Tiếng Còi Trong Sương Đêm

Bến nước gió rét đò thưa khách sang

Lau xanh ven sông mờ run bóng trăng

Đêm nay không gian chìm trong giá băng

Con đò sang ngang …

Kể lúc vắng bóng người chinh chiến xưa

Đã … [?] giữa gió mùa thu thổi đưa

Đêm nay đông sang mà tin vẫn chưa …

Đưa đò về xưa

Mà đoàn hùng binh âm thầm

xông pha gió sương

Hồi còi còn vang như hòa lẫn theo

người lái đò ru

Tiếng còi trong sương đêm

Tiếng còi trong sương đêm theo gió đưa ôi buồn

Nghe vi vu oán than

Thôi toán quân đi rồi, thôi toán quân đi rồi

Hơ hờ hơ … hơ hơ hơ đi rồi

Con ơi lòng mẹ ủ ê

Thương cho chồng mấy dặm sơn khê

Khi ra đi có hứa thu nay về

Mà hôm nay lá thu đã rơi tràn

Rồi mùa đông qua luôn

Mỏi mòn trong đau buồn

Hò hơ hớ … hò hơ hớ …

Tiếng còi trong sương đêm

Tiếng còi trong sương đêm theo gió đưa ôi buồn

Nghe vi vu oán than

Thôi khóc chi đau lòng

Con cứ an giấc nồng

Ho hờ hơ … hơ hơ hơ bên lòng … hơ hờ hơ …

Thanh Thúy

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

48. Lê Trọng Nguyễn

Lê Trọng Nguyễn chỉ xuất hiện trong sinh hoạt âm nhạc tại miền Nam (VN) sau 1954. Lê Trọng Nguyễn sáng tác không nhiều. Nhưng ông vẫn được coi là

một trong những tác giả quan trọng của nhạc Việt Nam trong hai thập niên 50-70. Ca khúc đầu tiên của ông được phổ biến, bài Nắng Chiều, đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Người ta có thể nghe thấy ca khúc này được phát trên sóng của các đài phát thanh khắp miền Nam, trên sân khấu các rạp hát và cả trong các vũ trường. Và hình như, chính tại các vũ trường, bài hát đã được các du khách, các ca sĩ ngoại quốc, mang ra khỏi Việt Nam và nó đã được hát tại Đài Loan, Phi Luật Tân, Nhật bản …

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều

Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa

Khi đến cuối thôn chân bước không hồn

Nhớ sao là nhớ đến người ngày xưa

Đây là bản tình ca thuần túy. Nhưng nghe ca khúc này, người ta, có lẽ chỉ những người Việt Nam, sống ở miền Nam những năm ca khúc mới được phổ biến ấy, mới cảm nhận ra được nỗi buồn thảm, tan nát của chiến tranh, đã chia đôi đất nước và còn đang cắt lìa thêm từng mảnh những phần còn lại. Người ta từ một chốn bơ vơ nào đó (trong tưởng tượng và trên thực tế) tìm về lại một nơi yên bình, quê hương chẳng hạn, lại chỉ gặp một cõi bơ vơ khác:

Nay anh về qua sân nắng

Trạnh nhớ câu thề tim tái tê

Chẳng biết bây giờ

Người em gái duyên ghé về đâu

Nay anh về nương dâu úa

Giọng hát câu hò thôi hết đưa

Hình bóng yêu kiều kề hoa tím

Biết đâu mà tìm

Nắng Chiều có đủ ba vẻ đẹp: giai điệu, nhịp điệu và ca từ. Nhưng cũng là bài hát duy nhất Lê Trọng Nguyễn viết theo cách thức giản dị, các nhạc sĩ của chúng ta thường dung khi ấy, mặc dù nó vẫn mang nhiều cá tính của ông. Những ca khúc Lê Trọng Nguyễn cho ra đời sau đó, ông đã viết khác hẳn. Nó mở ra cái cõi riêng của ông. Người ta có thể nghe và nhận ra nhạc của ông. Nó có thể gợi nhớ tới cái không khí lãng mạn, trang trọng của nhạc bán cổ điển Tây phương, nhưng nó hoàn toàn là sản phẩm của Lê Trọng Nguyễn, xuất phát từ tâm hồn ông.

Ca từ của Lê Trọng Nguyễn khẳng định điều đó. Ông có cảm hứng riêng. Chỉ những âm điệu ấy, lời ca ấy, mới giải bầy được những gì ông muốn nói.

Còn gì nữa

Tuổi vàng qua mất rồi

Mà ôi đau thương theo mãi không thôi

Thân xác héo mòn đời ta lạnh trống

Đôi mắt tiên nâu chờ ta giữa trời sao

Còn gì nữa

Bầu trời rạn nứt rồi

Mà ôi tâm tư đen tối chơi vơi

Đâm nát phím ngà người yêu tàn phá

Chờ qua năm tháng rủ ấm trần gian

Em ánh sao đẹp sao cuối trời đi về đâu

Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu

Tìm em không gian hồ đổ vỡ

theo tinh cầu bay

Hằng đêm gối sách mơ trăng sao

Lê Trọng Nguyễn đã dùng những quãng cách người nghe không đoán trước được, tạo những âm cấp bất ngờ trong dòng nhạc của ông, khấp khểnh, gập ghềnh … Chỉ khi được lập lại người ta mới nhận thấy sự xuôi chảy, dạt dào

của nó. Lời ca của ông trong các bản Sao Đêm hay Chiều Bên Giáo Đường tuy không có từ nào mới, nhưng qua cách xử dụng của ông, gói ghém những hình ảnh, ý nghĩa ông muốn, của riêng ông, nên tự nó, các từ trở thành có một vẻ gì đó tinh khôi.

Cũng có người cho rằng Lê Trọng Nguyễn viết lời ca “gò” quá. Nhưng có bài thơ nào không do kỳ công chọn chữ  của tác giả? Vấn đề là nó có kết hợp hài hòa với nhau làmnên tác phẩm không?

Hằng đêm gối sách mơ trăng sao

Những câu (thơ) như thế không thể hoàn toàn do sự tình cờ đem lại. Lời ca của Lê Trọng Nguyễn lóng lánh một vẻ đẹp riêng, đồng thời, mở ra cái cõi riêng của ông. Trong nghệ thuật tạo ra được cái cõi riêng như thế là một điều hết sức quan trọng, đồng nghĩa với tài năng và sự thành công:

Vội vàng hái

Cả trời sao chín mọng

Mà ôi Thiên Thai sao tóc mây vương

Lạc bước, thiếu tài mà ôi nhạc lôi, rượu cuốn

Người xa mãi tìm dấu ngàn phương

Trong âm nhạc của chúng ta có hai người dùng chữ “tài” để viết lời ca. Người thứ nhất là Dương Thiệu Tước trong bài Tiếng Xưa:

Hoàng hôn nhớ nhung vì đâu

Thắm đôi dòng châu

Tiếc thay ‘tài’ sao đành lỡ làng

Chữ ‘tài này của Dương Thiệu Tước nhiều ca sĩ đã hát thành ‘tại’ (Tiếc thay tại sao đành lỡ làng). Thiết tưởng hát sai như thế giảm cái hay của nguyên tác đi rất nhiều. Người thứ hai là Lê Trọng Nguyễn trong bài Sao Đêm:

Lạc bước, thiếu tài, nhạc lôi, rượu cuốn

Gò hay không gò cũng chỉ một mình Lê Trọng Nguyễn viết được những lời ca như thế. Nếu có điều gì đáng tiếc trong nhạc Lê Trọng Nguyễn, có lẽ là, cũng giống như nhạc Vũ Thành, nhạc của ông không dễ hát. Và ngoại trừ Nắng Chiều, các ca khúc khác của ông, không dùng để khiêu vũ được.

Nắng Chiều

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều

Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa

Khi đến cuối thôn chân bước không hồn

Nhớ sao là nhớ đến người ngày xưa

Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy

Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh

Anh nhớ bước em khi nắng qua thềm

Má em màu ngà tóc thề nhẹ rung

Nay anh về qua sân nắng

Chạnh nhớ câu thề tim tái tê

Chẳng biết bây giờ người em gái

Duyên ghé về đâu

Nay anh về nương dâu úa

Giọng hát câu hò thôi hết đưa

Hình dáng yêu kiều kề hoa tím

Biết đâu mà tìm

Anh nhớ xót xa dưới tre La Ngà

Gợn buồn nhìn anh em nói mến anh

Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi

Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi

Nắng chiều – Jimmy Thái Nhựt

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 21 Jun 2025

Chương 9.

Suốt ba hôm liền Vương hổ tướng, cho phép bọn lính ăn uống thỏa thích, mấy vò rượu lớn uống đến cạn. Đã bao nhiêu tháng nay bây gờ mới được mấy ngày no say, ngủ cho thật chán mắt. Khi bọn này ngủ dậy thấy người khỏe mạnh, sung sức, chân tay ngứa ngáy chỉ muốn đấm, đá. Vương hổ tướng đã sống chung với bọn này mấy năm liền, đã hiểu tâm tính họ, biết sử dụng cho đúng chỗ, bọn mạnh khỏe, bọn tầm thường, bọn ngu độn. Chàng biết khai thác sở năng bọn này, bề ngoài làm như cho phóng túng tự do, bề trong biết chế ngự họ. Khi chàng thấy bọn này bắt đầu bướng bỉnh, gây gổ, không có gì đáng kể cũng cãi vã nhau, cũng dọa nạt đấm đá nhau, khi chàng biết bọn này có nhiều anh đang lơ mơ nghĩ đến gái, đang ước mong được thỏa mãn nhục dục, chàng  nghĩ đã đến lúc cho bọn này một việc gì cực nhọc, tháo mồ hôi.

Chàng nhảy lên lưng con rùa đá, khoanh tay trước ngực, nói lớn:

– Chiều nay khi mặt trời đã lặn dưới chân núi, anh em sửa soạn lên đường để về bản địa của chúng ta.

Anh em chú ý – Ai còn mơ tưởng quay về với lão tướng già, để ăn ngủ, ngủ ăn, ta cho phép rút lui ta không them giết. Nhưng khi đã lên đường mà còn trái lời thề, ta sẽ cho nếm lưỡi kiếm của ta.

Nói vừa dứt lời, đánh vút một cái, chàng rút lưỡi kiếm, sáng lóe như chớp nhoáng trên mây, chỉ vào mặt bọn người đứng dưới sân. Bọn lính kinh hoảng quá, ngã chúi vào nhau.

Vương hổ tướng đứng yên xem động tĩnh ra sao. Trong bọn lính, có năm anh đã già, nhìn nhau như thông cảm, lại đưa mắt nhìn lưỡi kiếm sáng quắc, chàng vẫn cầm lăm lăm trong tay, năm anh này không nói một câu, lủi thủi xuống núi. Vương hổ tướng nhìn theo, vung kiếm hỏi:

– Còn ai nữa không?

Một bầu không khí nặng nề đè trĩu bọn người, không ai nhúc nhích. Thình lình có một cái bóng mảnh khảnh, lom khom chui ra, ý muốn nhập bọn với năm anh lính già. Đó là con anh Cả, Vương hổ tướng nhận ra, thét lớn:

– Đồ xuẩn ngốc, cha mày đã giao cho tao, mày không có phép …

Nguốn: Internet

Tra kiếm vào vỏ, và đầy giọng khinh bỉ, chàng nói:

– Lưỡi kiếm tao không thèm dính máu nhợt nhạt, tao phải cho mày một trận đòn, như thường người ta đánh tụi con nít.

Chờ thằng bé lui về chỗ, đầu nó lúc nào cũng cúi gằm, chàng nói tiếp:

– Anh em phải để ý, trông nom gìn giữ súng ống, giày buộc chặt vào chân, nai nịt gọn gàng, đêm nay đi chặng đầu, xa lắm. Qua cánh đồng ruộng, đêm đi ngày nghỉ, để tránh những con mắt tò mò. Khi đi qua địa hạt của một thủ lãnh nào, ta sẽ nói tên hắn cho biết, có ai hỏi bọn mình là bọn nào, anh em sẽ trả lời chúng tôi là bọn lang thang tìm đến chủ tướng bạn để nhập bọn với các bạn.

Lúc khởi hành, mặt trời đã lặn, nhưng còn sáng, mới nhá nhem tối, bầu trời lấp lánh đầy sao, không có trăng, bọn người nai nịt gọn gàng, lưng đeo túi dết, súng xách ở tay. Những khẩu súng dư, chàng giao cho bọn tâm phúc, bọn người chàng có thể tin cẩn được, vì ở trong bộ đội có nhiều người chàng chưa hiểu rõ bụng dạ họ, mất một người chàng không tiếc bằng mất một khẩu súng, anh nào có ngựa cầm cương dắt.

Xuống đến chân núi, trước khi lên đường nhắm phương Bắc thẳng tiến, chàng nói với một giọng rất đanh thép:

– Trong lúc đi đường, nếu không có phép của tôi, không một ai có thể dừng bước đứng lại. Từ giờ đến sáng không nghỉ chỗ nào lâu. Sáng mai, tôi sẽ chọn một làng xã nào, anh em nghỉ ngơi ăn uống, tôi sẽ trả tiền.

Nói buông lời, chàng nhảy lên mình ngựa, con ngựa chàng cưỡi màu lông đỏ sẫm, xương to, bờm dài và xoăn, giống ngựa Mông Cổ khỏe lắm, đi đường trường không biết mệt. Con tuấn mã lúc này thật hợp thời đắc dụng vì chàng còn mang trong người những món tiền lớn, nặng. Còn tiền và các quí vật chàng không đem theo hết ở người được, chàng giao cho một anh lính tâm phúc và vài anh lính chàng không biết rõ tâm địa lắm, phòng xa nhỡ rủi ro anh nào chuồn mất thì cũng chỉ mất một số ít không hại cho cả đoàn.

Ngựa tuy khỏe, song chàng cũng không cho đi nhanh, chàng  cho đi khoan thai bước một. Từ tâm, chàng cho ngựa đichậm vì cả bọn chỉ có một số ít có ngựa, còn đi chân không để họ theo kịp đỡ vất vả. Đi kèm hai bên chàng là hai thằng cháu, chàng đã sắm cho tụi này hai con lừa ngắn chân, cả bọn có ba mươi người đi ngựa, chàng để một nửa đi trước, một nửa đi sau, bọn người chân không đi giữa. Đêm hôm, khuya khoắt lặng lẽ, đoàn người tiến bước, lúc nghỉ lúc đi, tùy theo hiệu lệnh của chàng. Bọn người vui vẻ, rong ruổi trên đường không ai ta thán, phàn nàn, họ đặt hết hy vọng cào chàng. Chàng cũng vui vẻ đẹp lòng, tự nhủ nếu bọn này ngoan ngoãn, phục tòng chàng sẽ ở lại đầy đặn tử tế, khi nào công thành, danh toại, chàng sẽ ân thưởng cất nhắc bọn này trước tiên.

Ngồi trên mình ngựa, nhìn xuống đám người, chàng nghĩ bọn này tùy thuộc của ta, trông cậy vào ta, khác nào lũ trẻ nhỏ trông vào người nào có bổn phận chăn nuôi dìu dắt. Nghĩ thế, động lòng trắc ẩn, tuy là một võ tướng có cương nghị, nhưng một đôi khi tâm hồn cũng rung động tê tái. Có một vài nơi, chàng cho nghỉ chân lâu hơn, để bọn người nằm ngả lưng trên bãi cỏ, hoặc dưới gốc cây đỗ tùng, thứ cây người ta thường trồng quanh mả. Đi như thế đã được 20 đêm, ban ngày chọn một làng xóm để nghỉ chân, dưỡng sức. Trước khi đến một địa điểm nào, chàng đã cho đi dò hỏi xem địa hạt đó thuộc về ông thủ lãnh nào quản trị. Có ai hỏi chàng, bọn này là bọn nào,

chàng đã tiên liệu, sẵn sàng có câu trả lời. Đến làng nào, dân ở đó nom thấy đã hoảng sợ, ta thán, rên siết, họ bảo nhau không biết tụi này đến ở đây, bao giờ mới đi, vơ vét ăn uống ra sao, đàn bà con gái những ai sẽ là vật hy sinh?

Mấy ngày đầu Vương hổ tướng say sưa với những mộng lớn chí cao, nên chàng đối với bọn tùy thuộc rất nghiêm khắc, chặt chẽ.

Tính lãnh đạm với đàn bà con gái của chàng cũng lạ thật, thấy ai có máu mê về việc đó, chàng cũng ghét, cũng bừng bừng nổi giận.

Đứng trước bọn lính, chàng dõng dạc tuyên bố:

– Chúng ta đây không phải là bọn ăn cướp đường, không phải bọn thảo khấu, tôi không cầm đầu một bọn vô lại côn đồ. Chí tôi quyết theo con đường chính đạo đi đến vinh quang thắng lợi, võ khí của chúng ta để dùng vào việc chính nghĩa, chúng ta dùng những phương tiện, kế hoạch đường hoàng, minh bạch, chủ trương ta không phải đi khoét đục, hãm hiếp lương dân. Anh em cần thứ gì, cứ việc mua đường hoàng, tôi trả tiền, cuối tháng sẽ được trả lương chu tất. Tôi nghiêm cấm, tuyệt đối không được đụng chạm đến đàn bà con gái trừ ra trường hợp họ bằng lòng hay vì nghề nghiệp

rước khách kiếm tiền. Anh em có việc gì cần phải hỏi, phải nói mới được tiếp xúc với họ. Anh em lại nên đề phòng những bọn lả lơi, mơn trớn, bọn này phần nhiều có bệnh tật, sẽ truyền bệnh lan tràn cho kẻ khác.

Nếu có người nào nói đến tai tôi, có ai xúc phạm đến một người đàn bà, hãm hiếp một người con gái, tôi thẳng tay trừng trị, tôi giết ngay không cần tra xét hỏi han.

Vương hổ tướng nghiêm nghị, ra huấn lệnh cho các thuộc hạ, cách cư xử đứng đắn đối với lương dân .Cả bọn lắng tai để ý nghe, suy nghĩ. Họ coi cặp mắt long lanh, sắc sảo của chàng, họ hiểu chàng tuy tâm địa tốt song nếu cần đến, chàng không ngần ngại giết người không sờn tay. Bọn trẻ tuổi gật gù, lẩm bẩm, tán thành ý kiến của Vương chủ. Họ coi chàng là vị anh hùng, họ vẫn thường gọi chàng là một mãnh hổ lông mày đen, rậm. Lúc đi, lúc ngủ, cả bọn răm rắp, triệt để tuân theo hiệu lệnh của chàng, anh nào có nghĩ gì khác cũng chỉ dám nghĩ thầm trong bụng.

Vì nhiều lý do, chàng muốn đóng trại, lập bản doanh ở gần quê nhà được gần gũi họ hàng, được thu huê lợi tại chỗ chờ đến khi đặt được cơ sở vững vàng, thu được thuế má của dân trong hạt, tránh những sự bất trắc, rủi ro, ở xa tiền nong sai người về lấy có khi bị cưỡng đoạt giữa đường. Hoặc giả, nói phòng xa, nếu chẳng may, thất cơ thất thế, số trời không cho, chàng có thể nương náu ở quê hương, nhà đã sẵn có của, có thể dung thân. Vì thế, chàng không ngần ngại kéo quân về quê nhà, gần các anh.

Đi còn một đêm nữa đến tỉnh, buổi chiều hôm đó, chàng đã bực mình với bọn thủ hạ. Chiều hôm đó, chàng ra lệnh lên đường, chặng cuối cùng. Bọn người này cằn nhằn, uể oải, lần chần, chàng nghe bọn họ ta thán, có anh nói:

– Ở đời còn nhiều cái khoái hơn danh giá, tôi thử hỏi, ta lẽo đẽo theo thằng cha dữ như cọp, hợm hĩnh này để làm gì?

Một anh khác nói:

– Tôi tưởng đi ngủ bây giờ là khoái nhất, đi mãi rạc cả chân, ăn uống lại chẳng có gì, ngán lắm.

Nói đúng ra, bọn lính này mệt mỏi thật. Bọn họ không chịu quen vất vả, đã bao nhiêu năm, lão tướng cũ có biểu họ làm gì đâu, chỉ có việc ăn với ngủ. Lão tướng có bệnh lười lây sang cả bọn thủ hạ. Vương hổ tướng cũng biết bọn này chí lự thấp kém, ngu xuẩn, chàng bực mình là đi gần đến nơi còn giở chứng, than phiền. Chàng quên không nghĩ chàng trở về quê hương lại càng được thưởng thức món bánh nướng, lại được ngửi mùi tỏi phi, mấy món này bọn thuộc hạ của chàng, là dân tứ xứ, có biết đâu mà mong chóng về để hưởng. Bọn người nằm ngổn ngang dưới gốc cây đỗ tùng. Một anh tâm phúc lại gần chàng nói khẽ: “Bây giờ cũng nên tìm chỗ nào cho họ nghỉ ngơi vài ba ngày, cho họ ăn uống rượu thịt, phát cho họ ít tiền thưởng”.

Vương hổ tướng đứng phắt dậy nói lớn:

– Anh chỉ cho tôi thằng nào lần chần, tôi cho nó một phát đạn vào lưng.

Chàng tâm phúc, anh lính sứt môi, kéo chàng ra chỗ vắng, ghé vào tai bảo:

– Chủ tướng chớ nên nói thế, chớ nên nóng quá có khi hỏng việc. Lũ này, tuy vậy tính nết nông nổi như trẻ con, khéo lựa ý họ một chút, họ sẽ nghe theo ngay, nên cho họ một bữa no say, một vò rượu, một ít tiền thưởng. Tụi này dễ xử lắm, vui đấy, buồn đấy, họ có hiểu gì đâu, có biết trông xa hiểu rộng đâu, được ngày nào hay ngày ấy thôi.

Vương hổ tướng nghe anh lính sứt môi nói có lý lắm, thủng thẳng đi lại gần bọn thuộc hạ. Anh nào dáng điệu cũng mỏi mệt, im phăng phắc, không thấy xôn xao chuyện trò, nằm ngổn ngang dưới gốc cây đỗ tùng. Chàng cất giọng

nói, ôn tồn, thân mật:

– Anh em ạ, chúng ta đi thế mà đã đến gần tỉnh rồi, sắp tới làng sinh quán của tôi, ở đó tôi thuộc hết đường ngang ngõ tắt. Anh em cũng tận lực, đi suốt bao nhiêu ngày, chắc là người mỏi mệt lắm. Tôi nể tình, thông cảm nỗi khó nhọc của anh em và đã nghĩ đền bù lại sự cố tận tâm của anh em. Ý tôi .muốn đưa anh em về nghỉ ngơi ở mấy làng quanh làng sinh quán tôi, vì tôi không muốn phiền nhiễu dân làng tôi. Tôi sẽ nhờ mua cho vài con bò, vài con heo, vịt quay, ngỗng quay, anh em nghỉ ngơi, ăn uống cho lại sức; à, ở làng tôi, họ cất được thứ rượu quý lắm, nước trong, uống say mà ngon. Tôi

lại gia thưởng anh em mỗi người ba đồng để tiêu xài. Nghe mấy lời chủ dụ ngọt ngào, bọn lính sướng quá, như chiếc lò xo ngồi nhổm cả dậy, vác súng lên vai, đi suốt đêm hôm đó, tang tảng sáng hôm sau đã đến tỉnh. Chàng chọn bốn làng liền nhau, gần làng của chàng, đóng quân hạ trại. Chàng không bắt nạt dân, hống hách, cho quân kéo bừa vào chiếm đóng các nhà như thói thường thủ đoạn của các ông thủ lãnh.

Tang tảng sáng, vào lúc các nhà trong xóm nhóm lửa thổi cơm sáng, chàng thân chinh đi đến từng làng, mời vị hương trưởng lại nói chuyện:

– Tôi trả bằng tiền những thứ gì tôi cần dùng cho thuộc hạ của tôi. Tôi tuyệt đối nghiêm cấm họ không được xâm phạm tài sản của đồng bào, đụng chạm hỗn xuộc với đàn bà con gái. Ông vui lòng nhận cho 25 người ở quý xã.

Tuy chàng ăn nói lịch sự, lễ độ, bọn kỳ cựu trong làng cũng có ý ngại lắm, vì họ đã bị các ông thủ lãnh nào cũng hứa hẹn trả tiền, rồi rút cục chẳng được một xu nào. Họ nhìn chàng có vẻ ngờ ngợ, họ bàn tán rồi nói với chàng xin đặt cho ít tiền cọc để làm tin.

Theo lời yêu cầu, chàng giao tiền cọc, đưa cho các vị hương trưởng.

Trước khi cho bọn lính vào ở các nhà trong làng, chàng nói:

– Xin anh em nhớ cho dân làng này quen thuộc cha tôi khi xưa, anh em đến đóng ở đây chính là nơi quê quán của tôi. Các anh em cần lấy gì xin trả tiền phân minh, nếu ai mà có chuyện gì không hay với một người đàn bà nào, tôi sẽ giết chết.

Thấy chàng cương quyết, sắt đá, bọn người thề to không ai dám làm gì trái với ý chàng. Lúc mới đến, dân làng sợ hãi ngờ vực, bây giờ thấy tiền nong trả sòng phẳng, cử chỉ bọn lính lịch sự, họ vui vẻ tươi cười.

Chàng nhìn hai thằng cháu, vui vẻ chuyện trò, vì chúng cũng sung sướng được về nơi quê hương.

– Cho hai cháu về thăm nhà, hôm nay chắc cả nhà mừng lắm. Tao cũng cần nghỉ và cho bọn lính nghỉ để dưỡng sức.

Chàng cưỡi ngựa, hai đứa cháu cưỡi hai con lừa, đi qua căn nhà đất, nhưng chàng có ý đi tận ngoài xa. Ba chú cháu đến tỉnh, bước chân vào nhà.

Thằng con anh Cả, mấy tháng nay, hôm nay mới thấy nó cười, mừng quá chạy thẳng vào trong nhà.

Người Con Gái Phú Hòa

dongsongcu.wordpress.com

Phạm tín an Ninh

Posted on July 8, 2024
Post by Sơn râu 20 Jun 2025

Cố Tr.úy Phùng…khi còn SVSQ

Ôi những con đường đến tự đâu Một lần gặp gỡ ngã tư nào Rồi trong vô hạn chia lìa miết Có cuốn theo mình bụi của nhau? (Tô Thùy Yên) – Khi ra khỏi quân trường, cầm tờ sự vụ lệnh lên trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi cứ ngỡ là suốt đời binh nghiệp của mình sẽ gắn liền với rừng núi cao nguyên. Nhưng không ngờ tiểu đoàn của tôi được chọn làm đơn vị trừ bị cho quân đoàn, nên nhiều khi buổi sáng còn ở trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều lại có mặt ở bờ biển Bình Tuy, Cam Ranh, Phan Thiết.

Một ngày cuối năm 1966, sau 2 tháng đánh đấm ở Bình Định,Phú Yên, đơn vị tôi cùng 1 chi đoàn thiết quân vận tăng phái, được tàu hải quân bỏ xuống bờ biển Nha Trang. Trong đám lính phong trần, có lẽ tôi là thằng mừng vui nhất, không phải đang từ một vùng lửa đạn được đổi đến thành phố biển an bình, nhưng vì bất ngờ được trở lại quê hương, nơi còn rất nhiều dấu vết tuổi thơ. Cuộc hành quân mang tên “Hải Âu” này, với tôi nó còn là một “định mệnh”, khi cả đơn vị tôi đổ quân xuống thị trấn Ninh Hòa lúc 2 giờ sáng. Bởi chính lần này cuộc đời tôi cột chặt với vùng đất có “con sông Dinh chảy qua Cầu Sắt” này.

Hơn 3 tuần trong mật khu Đá Bàn, chúng tôi xuống Phú Gia nhận lương thực rồi kéo qua Tân Hưng, Trường Lộc và cuối cùng về nghỉ dưỡng quân 2 tuần tại Phú Hòa, một làng quê an bình và trù phú như cái tên gọi.

Tôi tìm địa hình thích hợp để bố trí quân, và chọn khu vườn sau một ngôi nhà lớn nằm trên vị trí khá cao bên con hương lộ, để xin được đặt ban chỉ huy đại đội.

Bà chủ nhà đón tôi bằng một nụ cười phúc hậu của một bà mẹ thương con. Bà vui vẻ cho phép chúng tôi được xử dụng cái hiên nhà rộng rãi và thoáng mát làm “bản doanh”. Cần bất cứ thứ gì bà sẵn lòng giúp. Ông chủ cũng là một người nặng tấm lòng, hỏi han từng người lính. Ông Bà xem chúng tôi như con cháu trong nhà, hơn nữa thấy lính tráng khổ cực, Ông Bà thương. Bọn tôi ai nấy cũng cảm động trước tấm lòng nhân hậu của Ông Bà, nhưng theo lệnh trên, không cho phép ở trong nhà dân mà chỉ xin được ở ngoài vườn.

2 ngày sau, thứ bảy, tôi mới phát hiện nhiều đìều thú vị. Đúng là ở hiền gặp lành, Ông Bà có đến 5, 6 cô con gái, mà cô nào cũng xinh đẹp, hiền thục và học hành giỏi. Nghe nói 3 cô chị thì đã đi làm hay đi học ở Nha Trang, chỉ về thăm nhà vào cuối tuần, còn mấy cô em thì đang học ở trường trung học quận lỵ. Hỏi ra thì hầu hết các cô nương này tôi chưa gặp nhưng đã nghe danh từ lúc tôi còn đi học ở Nha Trang…

Là 1 tiểu đoàn lưu động, nên hầu hết lính tráng đều rất trẻ. 3 thằng đại đội trưởng cũng là 3 thằng thiếu úy sữa. Thằng nào cũng vừa rời ghế nhà trường mới vài ba năm. Trong số này có Trần Công Lâm, cùng khóa với tôi và Đặng Trung Đức, khóa 19 VBĐL.

Dù sao tôi cũng là dân Khánh Hòa, nên lúc nào cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Hơn nữa tôi cũng vừa mới làm quen với một cô trước Sân Vận Động, nên phải nằm lòng lời dạy của người xưa “ăn cây nào rào cây nấy”. Trong 3 thằng, Đặng Trung Đức là hào hoa nhất. Đại đội của Đức đóng trên Gò Quít, nhưng lúc nào chàng ta cũng có mặt trong ban chỉ huy đại đội… của tôi.Đức có tài nói chuyện, hơn nữa anh thường tâm sự về hoàn cảnh con một của bà mẹ già sống góa bụa trên xứ sương mù Đà Lạt, từ lúc Đức mới lên 5 nên càng được bà chủ nhà động lòng thương. Không biết là trong mấy cô con gái lớn, Đức đã trồng cây si cô nào,(và cũng chẳng biết có cô nào dành một ngăn nhỏ trong trái tim cho anh không), nhưng mà thấy chàng ta yêu đời lắm,miệng lúc nào cũnghát líu lo những bản tình ca.

Chưa được 2 tuần thì đơn vị nhận lệnh di chuyển khẩn cấp vào phi trưòng Nha Trang để được bốc lên tiếp viện cho chiến trường Quảng Đức. Chia tay, chúng tôi ai cũng mang theo lưu luyến trong lòng. Nhưng chắc chắn Đức là thằng buồn nhất, vì chưa kịp nói một lời tỏ tình, và cũng kể từ hôm nay, ngoài vóc dáng bà mẹ già cô độc ở quê nhà, chàng ta còn mang theo bóng hình một người con gái Phú Hòa vào nơi gió cát.

Tình hình chiến sự ngày càng sôi động, đơn vị tôi lại tiếp tục nay đây mai đó. Chiến cuộc làm cho thời gian ngắn lại và mộng mơ của những thằng lính cũng sớm nở tối tàn. Rời khỏi Ninh Hòa, đơn vị của tôi chưa có lần trở lại. Mãi đến đầu năm 1970, khi toàn bộ trung đoàn trên đường di chuyển từ Sông Mao (Phan Thiết) lên An Khê, thương tình tôi, ông trung đoàn trưởng cho đoàn quân dừng lại nghỉ chân dọc theo cải lộ tuyến Đại Hàn 2 tiếng đồng hồ, để tôi ghé lại thăm bà vợ vừa mới sinh đứa con gái thứ ba. Đặng Trung Đức chạy theo tôi, rồi hỏi đường lên Phú Hòa, nhưng chỉ gặp được bà mẹ chủ nhà phúc hậu năm nào. Các cô con gái, hầu hết đã theo chồng hoặc đang có người yêu ở đâu đó.

Mùa hè năm sau, (lúc này tôi đã được điều về làm ở bộ chỉ huy Chiến đoàn, bản doanh tại Sông Mao), sau khi hoàn tất chuyến bay đổ quân cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào một mật khu nằm giữa ranh giới Bình Thuận – Lâm Đồng, tôi trở về nhà trong khu cư xá. Bà vợ Ninh Hòa vừa dắt con vào thăm. Bước vào nhà, thấy vợ tôi đang nói chuyện với 2 người khách. Một sĩ quan trẻ, bô trai và một cô gái đẹp dịu hiền có nụ cười rất xinh, mà tôi có cảm giác quen quen. Bà xã giới thiệu bạn đồng hương, tôi mới biết hai người là một đôi uyên ương tuyệt vời, họ vừa mới đính hôn. Điều làm tôi ngạc nhiên, cô gái chính là cô em, một trong mấy người đẹp Phú Hòa mà tôi đã được bà mẹ phúc hậu cho phép đóng quân trong vườn nhà 6 năm về trước. Một trùng hợp lý thú: hôn phu của cô, người sĩ quan vừa mới tốt nghiệp khóa 24 từ trường Võ Bị Đà Lạt lại đuợc bổ nhiệm về tiểu đoàn Thần Ưng, mà tiểu đoàn trưởng chính là anh bạn của tôi đã cùng đóng quân ở làng Phú Hòa thuở trước: Đặng Trung Đức.

Gặp nhau, chưa kịp tâm tình, thì vội vã chia tay. Một đơn vị chạm địch, tôi lại phải bay lên bao vùng.

Hôm sau, tôi xách xe chạy lên gặp Đặng Trung Đức. Tiểu Đoàn Thần Ưng của Đức là 1 đơn vị đánh đấm có tiếng, đang ứng chiến tại bản doanh, làm lực lượng trừ bị cho cuộc hành quân. Tôi hỏi Đức về Phùng, người sĩ quan Võ Bị mới bổ sung về đơn vị Đức,và bảo Đức mời anh đến Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn uống nước. Hai người cùng xuất thân từ mái trường Đà Lạt, nên họ rất trân trọng cái tình huynh đệ. Tôi hỏi Phùng về vị hôn thê, Phùng cho biết là cô đã về lại Cam Ranh, nơi cô làm việc, từ sáng sớm. Đức ngồi nghe nói chuyện, quay sang hỏi tôi:

– Toa bà con với Phùng à?

Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại Đức:

– Bạn có biết bà xã tương lai của Phùng là ai không?

Chàng ta tròn mắt, đứng phắt lên đập vào vai Phùng, khi nghe tôi bảo người con gái ấy là một trong mấy cô em của người đẹp Phú Hòa mà chàng ta đã từng mang trong tim bóng hình một dạo.

Điều duy nhất mà Đức và tôi có thể giúp Phùng, là hết lòng trong tình huynh đệ,chỉ vẽ những kinh nghiệm máu xương của 1 người lính chiến trường.Một sĩ quan Võ Bị như Phùng, chắc chắn anh cũng không yêu cầu chúng tôi điều gì. Hơn nữa, qui chế của Sư Đoàn từ lúc vị Tư Lệnh danh tiếng Trương Quang Ân, dành cho một sĩ quan Võ Bị mới tốt nghiệp là phải giữ một chức vụ tác chiến tối thiểu là 4 năm.

Đầu mùa hè 1972, chiến truờng cao nguyên sôi động, BTL Sư Đoàn 22 BB bị tràn ngập tại Tân Cảnh, vị Tư Lệnh hy sinh sau khi từ chối rời căn cứ bằng trực thăng của Mỹ. Trung đoàn tôi có lệnh di chuyển khẩn cấp toàn bộ lên Kontum. Đến Pleiku thì được tin thành phố Kontum đang trong nguy khốn. Đường bộ lên Kontum bị chốt dày đặt ở cao điểm Chư Pao,phi trường bị pháo kích nặng nề, phi cơ không đáp được. Cuối cùng đơn vị tôi được lệnh không vận liên tục bằng C130 vào ban đêm. Khi vào không phận Kontum, phi cơ tắt hết đèn, đảo mấy vòng, đáp thật nhanh,trút chúng tôi xuống cuối phi đạo rồi vội vàng bay lên trong bóng đêm mịt mùng.

Đơn vị tôi đã giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa. Chiến thắng ngày ấy dù vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả 1 cái giá không nhỏ. 3 thằng thiếu úy nhóc con, đóng quân ở Phú Hòa lúc trước, 2 thằng đã nằm xuống: Trần Công Lâm và Đặng Trung Đức, còn tôi thì bị thương nặng phải tản thương về quân y viện Pleiku. (Có lẽ cô gái Phú Hòa năm xưa không ngờ rằng, có một người lính vừa mang theo vào lòng đất bóng dáng của mình, mà có một thời chàng ta đã yêu trộm nhớ thầm trong một lần dừng quân ngắn ngủi).

Mất 2 người bạn chí thân, 2 chiến hữu can trường, tôi cảm thấy thật buồn và ngao ngán chiến tranh. Vết thương chưa kịp lành, tôi trở lại đơn vị. Một cái tin làm tôi xúc động đến lặng người. Thiếu úy Phùng, người sĩ quan Võ Bị hiền hậu, đẹp trai vừa mới hào hùng ngã xuống, để dang dở một cuộc tình tưởng chừng đẹp nhất Phú Hòa. Nghe đồng đội của anh kể lại, trước khi nhắm mắt anh lấy hết tàn hơi thì thào gọi tên người vợ sắp cưới của mình. Tôi mơ hồ nghe tiếng gió mưa, dông bão trên ngôi nhà có khu vườn tôi đã đóng quân ngày trước.

Chiến tranh bao giờ cũng mang theo tai họa và để lại phía sau bao nhiêu điều bi thảm. Nhưng rồi khi cuộc chiến kết thúc lại càng bi thảm hơn:sau tháng 4/75, bao nhiêu người tù đày, chia ly, khốn cùng, bỏ quê lưu lạc.

Dường như sau một lần mất mát lớn lao quá người ta dễ quên đi những nỗi buồn, những đau đớn cũ. Nhưng nếu trong bất chợt, có điều gì gợi lên nỗi nhớ, ký ức sẽ mang mọi thứ trở về thật nhanh, làm lòng người ta bâng khuâng ghê lắm.

Đầu năm 2003, như những con chim di xứ gọi bầy, một nhóm bạn Ninh Hòa của bà xã tôi, có cùng tấm lòng tha thiết với quê nhà, với bạn cũ trường xưa, ngồi lại thành lập trang web Đồng Hương Ninh Hòa. Trong số những cánh chim “hải âu” đáng quý này, có 1 người là chàng rể út Phú Hòa. Dù chưa một lần gặp nhau, nhưng anh đã cho tôi thật nhiều cảm kích. Qua mỗi lần tâm tình, anh đã gợi lại trong tôi lãng đãng một hình ảnh Phú Hòa dễ thương thuở trước.

Bây giờ Phú Hòa ngàn trùng xa cách. Những người đẹp Phú Hòa xưa giờ đã lưu lạc bốn phương trời. Chỉ có bà mẹ từ tâm, phúc hậu, vừa vĩnh viễn nằm lại trên quê nhà, bên cạnh chồng, trong gió nội hương đồng, pha lẫn dư âm tiếng vui đùa của mấy cô con gái dễ thương trong những ngày mới lớn, cùng biết bao hình ảnh đẹp đẽ của một thời Phú Hòa hưng thịnh.

Tôi miên man nhớ lại một thời xưa, cúi đầu tưởng nhớ người quá cố, và cầu mong những người Phú Hòa xưa được tròn hạnh phúc, cho dù có giây phút nào đó hồi tưởng về một chút quá khứ thật mờ mịt xa xưa.

Phạm Tín An Ninh