Huyển Mộng Bước Đời

dongsongcu.wordpress.com

Thủy Lan Vy

Posted on June 19, 2025

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Ảnh minh hoạ

Khi Phước Tuy in vết xích sắt T54, Dân lính từ Bà Rịa lếch thếch bồng trống chạy ra Vũng Tàu. Từ Trại Lam Sơn, tôi cũng lên đường trên chiếc xe dodge, tới Vũng Tàu tôi dẫn mấy đứa em ra Bến Đình đón tàu hàng băng biển về Vàm Láng, tàu cặp bờ vào buổi chiều ngày 26 tháng 4,có khoảng gần trăm lính bị nhốt ngoài mõm đất theo leo bên bờ sông, vì là quê nhà nên tôi dễ nhận ra người quen đang đứng trên bờ nhìn xuống..Khoảng 6 giờ chiều, thiếu tá Sự ( Khóa 16 VB) quận trưởng quận Hòa Tân, đi xe jeep với 2 chú lính cận vệ ngừng xe trước bến cảng, Anh đứng nhìn một lượt nhóm người đang bị cô lập, anh nhận ra tôi dù không biết chính xác tôi là ai nhưng Anh biết tôi là con trong gia đình họ Nguyễn cũng ở gần nhà anh,Anh vẫy tay cho tôi lên bờ, hỏi thăm mọi việc, anh có ý cho tôi quá giang xe về Gò Công nhưng tôi từ chối vì còn mấy đứa em đi theo, tụi nó theo tôi từ KonTum, qua biết bao nhiêu khúc đường sinh tử, về tới đây nỡ nào tôi bỏ tụi nó bơ vơ.

Xe Quân cảnh do Thượng sĩ Hương, cũng là cựu học sinh Trung Học Gò Công, sau tôi một lớp, hướng dẫn đoàn xe GMC chỡ đám lính rã ngũ về phi trường L19, phi trường nằm cạnh trung tâm yễm trợ tiếp vận tỉnh, tôi bước vào trung tâm, tôi gặp rất nhiều người quen chào hỏi, kìa là Đại Úy Để ( Khóa 17 TĐ) là Trung Úy Dư (khóa 2 CTCT/ ĐL)…, vì lệnh giới nghiêm 24/24 tôi không dám về nhà vì ngại tầm súng của đám Nhân dân Tự vệ, mịt trời khói lửa không sao về đây té lổ chân trâu cũng phiền, thôi thì phơi sương ngoài phi trường cùng với mấy chú em thêm một đêm nữa …

Sáng ngày 29 tháng Tư, Trung sĩ Nhất Khâm dùng xe Honda chở tôi lên Sài Gòn trình diện, hai thầy trò với một cây cold lận lưng nhắm hướng Cầu Nổi trực chỉ, lên tới Cầu Ông Thìn khoảng 10 giờ sáng thì có lệnh giới nghiêm 24/24, thiết giáp đang đụng nặng với chính quy Bắc Việt từ hướng Long An qua, suốt đọan đường từ cầu Ông Thìn đến Cầu Nổi đông đúc đủ các loại xe đò miền Tây vì mấy ngày sau cùng, tuyến đường Long An bị gián đoạn, Sư Đoàn 22 và Sư Đoàn 7 đang đụng nặng với quân Bắc Việt. Xe đò từ miền Tây đều dùng ngả Mỹ Tho qua Gò Công lên Sài Gòn, vì nghẻn đường, dân chúng căn lều hai bên lộ, bày hàng mua bán, dù lệnh giới nghiêm 24/24 đã ban hành, thoạt mới nhìn thấy vui vui, nhưng có đi có đứng trên đoạn đường nầy mới thấy sau cảnh nhộn nhịp là những tấm lòng đang đau xé… tôi về tới Cầu Nổi,bến phà đóng cửa.Hai thầy trò sửa soạn tìm chỗ nghỉ trong nhà chờ đò, may mắn có một chiếc xe dân sự, trên xe có 2 người đàn ông,một người bước xuống xe vào trạm mượn máy liên lạc về tỉnh, chỉ vài phút sau một chiếc phà đặc biệt rời bến trên đó có tôi và thêm 1 chiếc xe chở hàng nhỏ của nghệ sĩ Tùng Lâm, cùng với chiếc xe nhà của hai vị nầy.. ( Lúc vô tù , ở trại Hà Tây, tôi chung buồng với Anh Tống, trưởng ty cảnh sát Long An, tôi mới biết người lái xe chiều hôm đó là Anh Tống và thiếu Tá Xuân ngồi bên cạnh).

Sáng ngày 30, đám lính trong nhà tôi (khoảng 20 tên) sang khu nhà thờ uống cà phê sáng, sang bàn billard cạnh bên làm vài cơ chờ mở đường…Tôi nhớ khoảng gần 11 giờ có một chú nhân dân tự vệ vào mời tất cả về nhà nghe radio… Mọi người đều ngạc nhiên không biết chuyện gì xãy ra…, sao lại mời nghe radio…

……………..

Thiếu Tá Sự, Chi khu trưởng quận Hòa Tân, lảnh thổ quận Hòa Tân, tỉnh Gò Công có hai ngõ chánh vào Tỉnh là cửa biển Vàm Láng và bắc Cầu Nổi; bên kia bờ Cầu Nổi thuộc quận Cần Đước, tỉnh Long An, bên kia biển Vàm Láng là Vũng Tàu, hàng ngày có tàu làm ăn qua lại giữa hai cửa biển nầy. Đài phát thanh Sài Gòn, Đài BBC, đài VOA…suốt ngày phát tin di tản…di tản…Tình hình nghiêm trọng lắm rồi, không biết đất nước sẽ đi về đâu, quân nhân thì nghe lệnh cấp trên mà di tản, còn dân chúng thì di tản theo quân nhân cho trọn tình quân dân cá nước…và Vũng Tàu đã tràn đầy …cá nước.Làn sóng người từ vùng I qua vùng II tới trung tâm vùng III, rất nhiều người muốn tìm đường xuống vùng IV, tin vào sự an toàn của vùng nầy.Họ ra Bến Đình băng biển về Vàm Láng Gò Công. Đơn vị nào còn cấp chỉ huy thì còn kỷ luật, đơn vị nào rã hàng thì lính tráng không còn muốn nghe lệnh ai nữa. Đời lính dạn dày gió sương, đã nguyện đem thân trai hiến dâng cho tổ quốc, họ đã biết bao lần vào sinh ra tử; họ là những người lính thiện chiến mà bây giờ bị bỏ rơi khi súng đạn vẫn còn mang bên người…Họ ấm ức, họ bất mãn; xin ai đừng làm điều gì trái ý họ lúc nầy…giờ nầy có ai biết đơn vị họ đang ở đâu? Giờ nầy có ai biết gia đình, cha mẹ, vợ con họ đang ở đâu? Thiếu Tá Sự trên xe jeep hết có mặt tại Cầu Nổi lại xuống Vàm Láng, Cầu Nổi đông nghẹt xe chờ hai bên bến bắc nhưng không hỗn loạn bằng Vàm Láng vì ít lính nhiều dân. Phía Vàm Láng thì đã có nhiều thuyền lớn nhỏ và ghe cá từ Vũng Tàu chạy qua, cặp bến cá đổ lên bờ không biết bao nhiêu là dân thường và quân nhân của nhiều binh chủng khác nhau, còn mang đầy đủ vũ khí, chuyện chết chóc xãy ra dễ dàng, cấp bậc cao nhất người ta nhìn thấy có Đại tá Lân, hình như là tỉnh trưởng Phước Tuy, nguyên trước kia là Tham mưu Trưởng sư đoàn Dù. Ông cúi đầu lặng lẽ đi theo đoàn người di tản tìm phương tiện về Gò Công. Xa bờ một khoảng có hai tàu sắt chỡ lữ đoàn I Dù gồm 3 tiểu đoàn 1,8,9 không vào bến bải cạn được nên phải thả neo ngoài xa…

Trung Úy Thăng, Phân Chi Khu trưởng Vàm Láng sợ có hỗn loạn, gọi máy xin chi khu tăng cường quân cảnh giữ trật tự. Nhưng chi khu làm gì có quân cảnh. Anh Sự báo lên tiểu khu thì được Đại Tá Lê, tiểu khu trưởng ra lệnh phải tước tất cả vũ khí và chỡ lính rã ngũ về tiểu khu. Đây là một lệnh rất khó cho những ai muốn thi hành lệnh nầy.

Chi khu Trưởng lên xe với mấy người cận vệ, theo sau xe jeep là chiếc GMC trực chỉ Vàm Láng; hương lộ nhỏ hẹp đi vào bến cá dày đặc những lính và dân. Anh Sự xuống xe đi bộ và tìm gặp được vài sĩ quan võ bị khóa đàn em. Anh không ra lệnh mà chỉ cố thuyết phục các sĩ quan trẻ nầy kêu gọi thuộc cấp buông súng rồi lên xe để được chỡ về tiểu khu.

Anh Sự trở lại xe thì được hiệu thính viên báo có Trung Tá Đỉnh, lữ đoàn trưởng nhảy dù muốn gặp anh trong máy. Ông Đỉnh đang ở tại văn phòng xã. Từ ngày ra trường tới bây giờ Anh Sự mới gặp lại Trung Tá Đỉnh khóa 15, Ông Đỉnh giới thiệu Trung Tá Hồng, Lữ đoàn phó và hai Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Ông Đỉnh nhờ anh Sự đưa đi gặp Đại Tá Lê (Tỉnh trưởng Gò Công). Trung Tá Hồng ở lại Vàm Láng với đơn vị. Lính Dù trên tàu cũng vào bờ thoải mái, ăn uống, chờ lệnh trong tinh thần kỷ luật rất cao…

Đại Tá Lê tiếp Trung Tá Đỉnh trong phòng làm việc và gọi máy báo tin cho tướng tư lệnh vùng IV Nguyễn Khoa Nam, Tướng Nam ra lệnh tử thủ thẳng cho ông Đỉnh và đặt lữ đoàn dước quyền chỉ huy của Đại tá Lê.

Anh Sự chở ông Đỉnh về lại chi khu Hòa Tân, cả hai đều im lặng, tiếng máy C25 sau xe báo cáo có cờ giải phóng xuất hiện xa xa ở mé rừng. Vừa tới cổng quận thì thấy một bầy chó rất đẹp, loại chó nhà giàu không biết của ai? Thấy Anh Sự xuống xe, thầy Bùi Giáng tĩnh bơ như đất nước không có chuyện gì xãy ra, kéo bầy chó lại gần anh Sự:

– Bữa nay thầy đem mấy con chó nầy giao thiếu tá nuôi nó, tụi nó khôn lắm, con nầy là sứ giả của Thích ca nè…con nầy là sứ giả của Jesus…con nầy là sứ giả của…Anh Sự vội vàng từ chối:

– Thầy ơi, tôi không thể nào tiếp Thầy trong ngày hôm nay, rồi Anh Sự móc tiền nhét vào túi nhà thơ bảo thầy tìm xe về Sài Gòn ngay lập tức vì ở đây nguy hiểm lắm, tình hình nặng nề lắm rồi…bữa khác hãy xuống chơi…Bữa khác trong lời hẹn cũng là mốc thời gian vô định. Cũng từ hôm đó, Anh Sự vĩnh viễn không còn gặp lại Ông Thầy Bùi Giáng kính mến lần nào nữa, Anh vừa quay lưng đi vào văn phòng thì hai chiếc xe của hai ông quận Cần Đước và Cần Giuộc ngừng lại hỏi

– Ê bộ toa tính ở lại chờ bàn giao hả…Nói xong hai xe tiếp tục chạy thẳng hướng Vàm Láng.

Gần 3 giờ trưa, một đoàn xe, trong đó có thấy đại tá Lê mặc áo giáp cùng vợ và cô con gái ngồi trên xe chạy ngang quận về hướng biển. Không còn biết phải làm gì nữa, Anh Sự vội vã tiễn vợ con ra xe về bên ngọai ở làng Tăng Hòa rồi cùng Ông Đỉnh ra Vàm Láng, nơi đơn vị Dù vẫn còn đang chờ thượng cấp.

Xã Vàm Láng là một xã sống bằng nghề đánh cá, họ có nhiều ghe tàu đủ khả năng đi đánh cá xa bờ, nên đã trở thành nơi hẹn cho những chuyến đi… dù không biết nơi đến là đâu…? Một mủ đỏ mang cái radio đang nghe lại cho Trung Tá Đỉnh. Bản tin đầu hàng của tướng Minh thường xuyên phát lại, vậy mà tới giờ nầy hai anh mới được nghe…mà vẫn không muốn tin… Ông Đỉnh đứng dựa vào đầu xe jeep, nước mắt ông chảy dài trên đôi má dạn dày phong sương, mắt Anh Sự cũng đỏ hoe, không phải chỉ có hai người khóc, mà còn nhiều, nhiều lắm, bao nhiêu là nước mắt nghẹn ngào, tức tửi. Họ khóc cho ai,? Cho tổ quốc? Cho Chánh Phủ?…hay cho đời mình? Họ khóc cho tất cả…!

Nén tiếng thở dài, Ông Đỉnh đứng thẳng người ngỏ lời với đồng đội thuộc cấp:

– …Chúng ta đã chiến đấu bao nhiêu năm dài để bão vệ miền Nam, bây giờ có lệnh đầu hàng…chúng ta không thể cải lệnh được. Anh em từ giờ phút nầy tự do quyết định cuộc đời mình, ai muốn về nhà, muốn đi đâu thì đi, riêng tôi…chắc sẽ đi Úc, anh em nào muốn đi theo thì đi…

Nói xong Ông cho tay vào túi móc ra một nắm tiền ném tung theo gió, tiền Việt Nam bay lả tả cuốn theo gió bụi bước đời…mà chẳng thấy ai buồn nhặt lấy. Một hình ảnh rất bi hùng cuối trang chiến sử…đầy máu và nước mắt!

Thành phần sĩ quan tiểu khu Gò Công tự tìm tàu thuyền mà đi, chỉ có gia đình Đại Tá Lê mới đến gần với tàu của đơn vị Dù. Lúc bấy giờ không biết có ai phóng tin bà Đỉnh từ Sài Gòn đã xuống tới Gò Công tìm chồng. Anh Đỉnh nói với Trung Tá Hồng và Anh Sự…

– Moi phải lên Gò Công đón bà xã xuống rồi sẽ đi..

Nhìn cảnh hỗn loạn tại bến cá, Thiếu tá Tây, Đại úy Để…và nhiều, nhiều nữa …trở lại Gò Công mặc cho cuộc đời đưa đẩy…Mọi người tự an ủi…thôi thì dù sao cũng hòa bình rồi, bên thắng cũng là người Việt với nhau…chắc không đến nỗi nào…

Trên chiếc tàu hàng loại cận duyên chỡ bộ chỉ huy lữ đoàn Dù bây giờ có thêm gia đình Đại Tá Lê, Thiếu Tá Sự với thằng em cận vệ, cùng vài sĩ quan chi khu kể cả nhân viên hành chánh như Phó Quận Thúy…Chiều xuống dần rồi tối hẵn. Chờ mà không thấy Trung Tá Đỉnh trở lại, Trung Tá Hồng quyết định cho nhổ neo, theo lời chỉ dẫn của Đại Tá Lê cứ cho tàu chạy thẳng ra hướng đông sẽ gặp tàu Mỹ?! Tàu chạy trong đêm tối, biển lặng yên, bầu trời đầy sao lấp lánh… nhưng giông bão hình như đang xé nát lòng người . Anh Sự ngồi bên cạnh người tài công cũng là chủ tàu, phụ quan sát theo vệt đèn pha để tàu tránh đụng vào các miệng đáy. Nhìn hướng Sài Gòn thấy khói lửa ngút cao, còn trước mặt vẫn là biển cả với một màu đen! Cũng phải vài tiếng sau mới nhìn thấy ánh đèn le lói từ xa và tàu cứ nhắm hướng đèn mà chạy tới, chạy cho tới khi sao mai lấp lánh mờ dần và mặt trời ló dạng…

Một chiếc tàu Mỹ khá lớn đang neo ở đây từ lúc nào rồi. Trên boong tàu có nhiều người bước lui tới, họ đứng tựa lan can tàu nhìn xuống, những xà lan chật kín người đang cặp hai bên hông tàu, người trên tàu nhìn xuống xà lan như tìm như kiếm người quen…. Tàu Dù tiến dần tới tàu Mỹ thì gặp phản ứng, Loa phóng thanh từ trên tàu kêu gọi người dưới tàu phải vứt bỏ vũ khí, trước khi cặp vào xà lan. Tàu Dù chạy quanh một vòng thì người trên tàu đã nhận ra quân bạn…Có tiếng bạn mủ đỏ từ trên tàu vọng xuống:

– Đại bàng ơi! Còn mấy đứa con của đại bàng đâu rồi. Mỹ không cho mang súng lên tàu nó đâu…

Anh Sự đề nghị với Anh Hồng kiếm tấm vải trắng viết 3 chữ SOS kéo lên và quăng súng xuống biển để cho nó biết mình muốn gì. Tàu mình nhỏ chắc không thể chạy xa được nữa, Anh Hồng cay đắng thở dài…

Thế là những thiên thần mủ đỏ của lữ đoàn I Dù một thời ngang dọc trên mọi chiến trường, hôm nay trên biển cả mênh mông đành phải giã từ vũ khí ở giờ thứ 25 của vận nước.

Ông Lê lên xà lan ngồi trên trụ sắt buộc tàu, khi mọi người lên hết xà lan, tàu không người điều khiển tự trôi lui theo giòng nước, dây buộc tàu vòng qua chân Ông Lê siết mạnh, tiếng xương gãy phát ra một âm thanh rợn người. Ông Lê thét lớn rồi ngất lịm. Biết có tai nạn, Tàu Mỹ ưu tiên nhận người bị thương, Phó Thúy cùng mấy người ngồi cạnh khiên Ông Lê cùng dẫn gia đình ông lên tàu. Chiếc tàu Mỹ nhổ neo… Ông Tỉnh Lê và Ông Quận Sự chia tay nhau từ đấy. Những xà lan đầy người được các tàu Mỹ khác lần lượt kéo người lên. và dòng xà lan từ Sài Gòn vẫn liên tục được kéo tới, cùng với biết bao nhiêu ghe thuyền mong manh khác cứ đổ ra biển …tìm con đường sống dù con đường ra đi đầy hiễm nguy, chưa nói đến giặc Cộng tàn nhẫn bắn xối xã vào những tàu nào chúng thấy được.

Con sông Bến Hải, đứng bên nầy bờ nhìn thấy bờ bên kia rõ ràng, vậy mà sau năm 54 đất nước đôi miền chia cách, Bắc Nam từ đấy biệt tin nhau. Bây giờ không phải là con sông mà là biển cả, sóng nước chập chùng xa cách nhau nửa vòng trái đất, ra đi bỏ quê hương đến xứ người xa lạ, biết làm sao sinh sống, người cùng giòng giống mà còn không yêu thương nhau, thì người dị chủng biết có chịu cưu mang mình không, rồi còn cha mẹ, anh chị, vợ con còn kẹt lại ở quê nhà, mình là cột trụ gia đình mà bỏ ra đi, con còn nhỏ, vợ chưa từng nếm gió trải sương làm sao nuôi con? Với lại kẻ chiến thắng cũng cùng chung huyết thống, gốc con cháu Lạc Long, nghe tin tức từ radio, chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam vẫn ra rả thông tin…Đánh người đi chứ ai đánh người trở lại…! Qua cơn lốc xoáy kinh hoàng, không phải tất cả đều bằng lòng với chuyến đi của mình. Có người…khá nhiều người đủ mọi thành phần trong xã hội, trong quân đội lẫn chánh quyền khi mà họ nhìn thấy, biết được chung quanh họ trên tàu, trên đảo…hầu hết người ta đi có mặt đông đủ vợ con gia đình, có cả người giúp việc, chị vú đi theo..Những người ở lại, có nhiều người đã gửi vợ con thân nhân đi trước để họ an tâm ở lại với chức vụ cho tới giờ chót.Họ nhìn lại mình với nỗi đau của tận cùng thân phận, xa vợ vắng con làm sao họ an tâm sống?, có ai muốn làm người chồng lỗi đạo với người vợ trẻ, có ai muốn chạy trốn bổn phận làm cha? Đây là những lý do đã khiến cho con tàu Việt Nam Thương Tín đem về cả 1500 người đã thoát ra đi mà không đi tiếp tục…

Khi nhìn thấy người trở về từ tàu Việt Nam Thương Tín, các anh em tù chung trại thường hay cười nhạo, đã ra đi mà còn nhớ cái còng nên trở lại, trở lại bằng con tàu Việt Nam Thương Tâm, thường thì những anh em trở về nầy đều nhẫn nhịn nuốt đắng cay, không nói dù một lời biện minh cho bước trở về…Ai có ở trong cảnh mới hiểu được người trong cảnh…

Tàu Việt Nam Thương Tín vào tới hải phận Vũng Tàu, sau khi gửi tín hiệu xin cặp bến, tàu nhận hiệu dừng lại.Có hai chiếc tàu nhỏ võ trang mang cờ mặt trận giải phóng của Việt Cộng chạy ra đón rước, súng đạn lên nòng trong tư thế chiến đấu, tất cả đoàn người lên hết trên boong tàu đứng đầy xung quanh lan can, nhìn xuống tàu VC với nét mặt đầy vẻ lo âu. Mấy cán bộ cao cấp, mang súng nhỏ lên tàu, tiếp xúc với thuyền trưởng hải quân Trung Tá Trần đình Trụ và đại diện đoàn người hồi hương là Trung Tá Trần Ngọc Thạch, chánh võ phòng của Tổng thống Trần Văn Hương, sau khi quan sát khắp mọi nơi, tên cán bộ VC đứng giữa boong tàu, an ủi bà con nên yên tâm, vì cách mạng chỉ đánh người chạy đi chứ không bao giờ đánh người trở lại. Khi hai tên cán bộ xuống tàu nhỏ thì tàu Việt Nam Thương Tín được lệnh trực chỉ Nha Trang, với sự hộ tống của hai tàu võ trang VC. Tàu cập bến Nha Trang, tất cả thuyền nhân lên bờ, và bị giam giữ rải rác nhiều nơi trong tình Nha Trang. Đây là thời gian từng người được gọi đi làm việc (Chữ của VC) và họ bị làm việc liên tục suốt mấy tháng trời, khai thế nào chúng vẫn bảo là chưa thành khẩn khai báo…

Anh em thuộc tỉnh Gò Công trở về trên tàu khá đông, ngoài binh sĩ, cán bộ xây dựng nông thôn, cảnh sát…trong hàng ngũ sĩ quan có các anh Thiếu Tá Sự, Đại Úy Phạm văn Mến, Đại Úy Bá, Trung Úy La Ngàn, Trung Úy Ngô Bứa, Trung Úy Minh Hiếu, trung úy Vàng, Trung Úy Bé, Phó quận Thúy…Sau đợt lấy cung, một số đàn bà trẻ con, dân sự được tha về sớm. các anh được coi là trong ban đại diện bị đưa về Chí Hòa, còn lại tất cả giải giao ra Xuân Phước… ra đây để mà học tập cải tạo hầu sớm tiến bộ trở thành người công dân… Cộng Sản.

Trại Xuân Phước trước đây là doanh trại của Lực Lượng Đặc Biệt, đã bị bỏ hoang từ ngày ngày Lực Lượng Đặc Biệt giải thể sau khi Mỹ rút. Trại nằm sâu trong rừng núi tỉnh Phú Yên.

Đoàn tù VNTT coi như là nhóm tiên phong xây dựng lại trại Xuân Phước từ hoang tàn trở nên vững chắc đủ tiêu chuẩn nhốt tù.

Anh Sự nằm cạnh anh Trần Hồng Đăng, trung sĩ nhất nhảy dù, Đăng hiền lành chân thật, anh được lòng bà con từ ngày còn trên đảo, anh hớt tóc không công cho bà con, đền trả công anh nhận lại từ bà con đủ thứ vật dụng, thức ăn thuốc hút…, những thứ mà trại cấp phát cho người trên đảo. Những điếu thuốc Mỹ anh Đăng mang về bây giờ được ngắt ra từng khúc nhỏ thay thế bi thuốc lào…hút nhã khói cho qua cơn ghiền.!

Sau một thời gian tạm coi là ổn định, trại cho phép tù viết thơ về thăm nhà…Lá thư gửi đi kéo theo chuổi thời gian trông ngóng tin nhà, biết bao nhiêu điều mà người tù rất muốn biết kể từ khi rời đất lênh đênh trên biền cho tới bây giờ…

Một buổi sáng Đăng được cán bộ trại gọi ra lên gặp giám thị trưởng…Tới trưa Đăng trở về buồng, dáng dấp trông như người mất hồn, nằm dài nhìn lên mái nhà bằng đôi mắt xa xôi…

Thấy tình cảnh của Đăng như vậy, Anh Sự hỏi thăm ..chuyện gì đã xãy ra…. Đăng ngồi dậy, tay với lấy ống điếu cày, thong thả nhồi vào nỏ một bi thuốc, mối đóm lửa kéo ro ro một hơi dài, ngước mặt thả khói lên trời, Đăng móc túi lấy ra một lá thư, mới nhận được từ tay cán bộ trưởng trại trao cho anh Sự.

Lá thư có dấu bưu điện Hà Nội, lá thư được viết khá dài nhưng chỉ có một câu ngắn đủ nói lên cơn huyển mộng của một trong nhiều bi kịch của cuộc chiến tương tàn trên quê hương Việt Nam. “Đăng con! Hòa bình lập lại đã lâu rồi, sao con không xin phép thủ trưởng về thăm mẹ…Vợ con vẫn chờ con, nay vợ con đã thăng quân hàm thiếu úy Công An”. Thì ra…

Cây cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải Từng ghi vết nhơ chia cắt đôi miền. Nay Cộng quân cưỡng chiếm miền Nam, cây cầu không còn gây khó dễ cho dân hai miền Nam Bắc lại qua, thì trước sau gì người mẹ của Đăng cũng thấu rõ định mệnh nào đã đeo đẳng người con trai từ ngày đem tuổi trẻ xẽ dọc Trường Sơn.Thì ra Đăng là một bộ đội trẻ xâm nhập vào Nam ở lứa tuổi 20. Trong một trận tấn công vào một đơn vị Mỹ ở miền Trung, Đăng bị trọng thương bất tỉnh tại chiến trường. Khi tỉnh lại, trong ánh đèn sáng rực mà Đăng chưa lần nào được trông thấy, nhìn băng bông trên người Đăng biết mình được đối phương cứu sống nhưng chưa biết mình đang nằm ở đâu? Rồi sẽ bị đối xữ như thế nào đây.? Sau thời gian được tận tình cứu chữa, Đăng bình phục, bệnh viện Mỹ chuyển giao Đăng qua chính quyền địa phương. Không chấp thuận cuộc sống tù binh Đăng chọn con đường cải danh hồi chánh. Lúc còn trên giường bệnh, Đăng cũng có ý muốn tìm về đơn vị cũ, nhưng bây giờ thì chịu ra hồi chánh, Đăng coi như tứ cố vô thân, còn trong tuổi động viên, Đăng tình nguyện nhập ngũ trong màu áo hoa rừng Nhảy Dù. Đăng có khả năng, sau nhiều lần bị thương, cũng như lập được nhiều chiến công, với một khoảng thời gian khá dài Đăng trở thành một hạ sĩ quan xuất sắc của đơn vị,.Tết Mậu Thân, Đăng có mặt trong trung đội tái chiếm đài phát thanh Sài Gòn, đơn vị xuất phát từ cầu Phan Thanh Giản, lần theo phố vào Nguyễn Bỉnh Khiêm, xuyên lần qua các dãy phố đến Phan Đình Phùng, trong lúc băng qua đường xung phong vào sân đài phát thanh Đăng bị trọng thương, nằm tổng y viện Cộng Hòa xuất viện lọai 2, Đăng không xin giải ngũ mà tiếp tục đời lính làm việc nhẹ tại hậu cứ, Anh làm lính hớt tóc, sau thành tài xế. Khi hiệp định Ba Lê ra đời Đăng được chỉ định làm tài xế cho phái đoàn quân sự liên họp bên kia, trong trại Davis nằm trong Tân Sơn Nhứt. Đăng tiếp tục kể, có lần tướng trưởng đoàn Bắc Việt thấy Đăng kéo thuốc lào, có hỏi xin một bi hút thử, kể tới đây Đăng cười kéo áo lên khoe những vết thẹo trên người.

– Đây là thẹo của đạn M16, đây là thẹo của AK47.

Vừa nhìn những vết thẹo Anh Sự cười cười:

– Vậy chú em mầy khỏe rồi mai mốt thả về đoàn tụ với mẹ, có vợ là thiếu úy Công an…..ấm đời trai Nghe Anh Sự nói, Đăng lắc đầu cười như …mếu:

– Thấy vậy mà không phải vậy đâu, em đã có vợ hai con trong Nam rồi, trước đây vợ con em ở trong trại gia binh Hoàng Hoa Thám, bây giờ không biết trôi dạt về đâu. Anh thấy đó, mình đã tới đảo rồi mà đành phải trở về, cũng vì thương vợ nhớ con, vì thương tụi nó quá nên em mới chấp nhận đau thương mà về, nếu không bây giờ đang đi trên miền nắng ấm…! Bây giờ thật khổ, không biết nói sao với mẹ với vợ đang mong chờ ngoài Bắc.

Một số sĩ quan từ cấp trung úy tới trung tá được chuyển ra Bắc trên mấy chiếc xa hàng bít bùng, chiếc còng đôi đã xác định họ là ai …! Đoàn xe chạy ngang qua hai con sông lịch sử, hai dòng sông phân ly mà người hai miền không ít người mong có ngày đi thăm nhìn cho tận mặt.

Anh Sự gở 13 cuốn lịch, về lại Gò Công… Đời người tù cải tạo vẫn tưởng tàn dần trong chế độ mới… Đâu có ai ngờ sau cơn mưa trời thực sự sáng, chương trình HO ra đời cứu vớt biết bao gia đình quân công đang ngụp lặn trong bể khổ về được miền đất hứa. Gia đình Anh Sự cũng nằm trong thành phần may mắn đó, trước khi rời bỏ quê hương ra đi, cũng giống như nhiều người khác, tìm về nơi chốn làm việc năm xưa nhìn lại cảnh cũ, Anh Sự nhẹ ngàng trên chiếc xe đạp ( Thời đó được gọi là Cúp điếc) anh xuống thăm gia đình người cận vệ, chú Tiếp đang sống tại Hòa Tân, Tiếp là hạ sĩ quan nên được về sớm, nói là sớm chứ cũng trên 3 năm, Tiếp cũng đang học Anh văn chờ đi Mỹ..Thầy trò gặp lại nhau hàn huyên tâm sự, kể cho nhau nghe những thay đổi trong bước đời.

… “Thằng Đăng có lần tưởng chết vì ăn trúng cóc độc, sau nầy nhiều bạn tù thấy nó áo quần bảnh bao. Thong dong trên chiếc Dream đời mới trên đường phố Sài Gòn…”

Vậy là Đăng đã đoàn tụ với vợ con ở Rạch Giá và chắc đã nhiều lần xin phép “Thủ Trưởng” ra Bắc thăm mẹ già…Cũng lại một bước đời huyển mộng.

Chia tay thuộc cấp cũ, Anh Sự trên đường về làm một vòng ngang qua doanh trại quận Hòa Tân cũ, Anh nhìn thấy mấy con gà đang bươi đất kiếm trùng dưới mấy bụi bắp chưa trổ cờ…Lòng anh như chùn xuống, bức tranh đời thay đổi quá nhanh, cảm khái vừa đạp xe vừa khe khẻ…

“Tạo hóa gây chi cuộc hý trường

Đến nay thắm thoát mấy tin sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Đền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Anh Sự ra đi mà lòng chưa được ổn lắm, vợ anh phải ở lại uống thuốc đi sau, vợ anh lặng lẽ tiễn cha con anh lên đường. Anh đốt nén nhang trước bàn thờ gia tiên từ giã Ông bà Cha Mẹ ra đi. Trước khi lên xe Anh tình cờ gặp lại Thầy Nguyễn Văn Ba nguyên giáo sư Trung Học Gò Công, coi như Thầy Ba là người duy nhất tiễn cha con Anh Sự lên đường..Một trang đời của một gia đình được lật qua…

Tôi ở trại Hà Tây có gặp Đại Tá Lân, sau mấy năm tù Ông bị bệnh mù mắt, ông có hỗn danh là Lân mù, Ông ở buồng 15 cạnh buồng 16 dành riêng cho sĩ quan cấp Đại Tá, Trong hai buồng nầy cũng có 2 vị Trung Tá cũng đều trong ngành Chiến Tranh Chính Trị là Ông Diên Nghị (Quân Đoàn IV) và Mười Hai (Cục Chính Huấn). Ông Lân rất vui vẽ yêu đời, ông được nhiều cảm tình của đám tù sĩ quan trẻ. Ông Lân không biết bây giờ ở đâu, Ông Đỉnh cũng đã tới miền đất tự do và hình như đang lâm bệnh, Trung Tá Hồng bỏ miền đất hứa về chiến khu với Hoàng Cơ Minh, để rồi xuôi tay nhắm mắt khi ước vọng chưa thành, thương cho một người chiến sĩ, luôn quyết đem thân đền ơn tổ quốc…

Thì ra cuộc đời như một cơn trường mộng, thấy đó rồi mất đó, điều mình làm thấy phải, người khác lại cho là sai…

Hằng năm sau tết ở đất tạm dung nầy, lòng tôi luôn thấy bùi ngùi… Những ngày thiêng liêng đối với người Việt thì mình lại sống xa quê, đâu biết Tết nhứt là gì, mùng một lên xe đi làm, làm sao lòng không khỏi rứt ray… cũng mùa Xuân, tôi hưởng Xuân cuối cùng trong đời lính tại KonTum, tám cái Eết trong lao tù Cộng Sản, hơn 15 cái Tết xa quê…

Một khoảng đời khá dài…Thương cho Việt Nam mình, cứ mãi chịu cảnh phân ly, cha con chồng vợ nhiều khi gặp rất nhiều hoàn cảnh éo le.. phủ phàng…Với tôi..chẳng qua là Huyển Mộng Bước Đời

Viết tại Kỳ Đà Động Mạnh Xuân 09

Thủy Lan Vy

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

53. Lê Yên

Trước cuộc chiến 1946, Lê Yên chỉ có một ca khúc được phổ biến tại Hà Hội lúc bấy giờ, đó là bản Bẽ Bàng. Gần đây, qua lời kể lại của nhạc sĩ Dzoãn Mẫn, người ta mới được biết, vào khoảng thời gian ấy, Lê Yên đã sáng tác khá nhiều rồi. Ít nhất Dzoãn Mẫn cũng cho biết thêm mấy bài khác của Lê Yên như: Vườn Xuân, Một Ngày Vui, Tiếng Sáo Trưa Hè, My Nương …

Có lẽ vì các ca khúc ấy của Lê Yên chỉ phổ biến hạn chế trong các bạn bè, nên thính giả gần như không được biết. Hỏi những người cao tuổi nhất hiện còn sống, các vị đều cho hay, chưa nghe bao giờ. Riêng bài Bẽ Bàng, rất nhiều người thuộc. Và cùng với Thu Trên Đảo Kinh Châu của Lê Thương, cả hai được coi là vài bài tình ca được viết sớm nhất trong âm nhạc của chúng ta. Đây là những ca khúc tuy ngắn, nhưng từ giai điệu đến ca từ đều có đủ cái chững chạc để có thể tồn tại được với thời gian. Ưu điểm của các nhạc sĩ được gọi chung là tiền chiến là họ đều viết nhạc rất Việt Nam, nghe là có thể nhận ra ngay. Lời ca của họ cũng vậy, luôn là những câu vững vàng, có ý nghĩa nhất định.

Bài Bẽ Bàng của Lê Yên có hai lời ca, được viết theo điệu luân vũ [3/ 4] chậm:

Tình duyên đôi ta bẽ bàng

Đành để muôn năm lỡ làng

Còn nói ái ân làm chi

Ngày vui xưa qua mất rồi

Lòng thương xưa phai hết rồi

Tình yêu xưa tan nát rồi

Còn oán trách nhau làm chi?

Xin đừng nhắc những lời

Êm đẹp ấy hết rồi

Sao không cùng chung sống trong yêu đương

Từ ngày còn được gần gũi bên nhau

Khiến phút ấy qua mất rồi còn đâu

Trong thời chiến tranh, không biết Lê Yên có bao nhiêu sáng tác, và viết về những gì. Những người yêu nhạc chỉ biết hai ca khúc, đều rất hay của ông, đó là các bài Nghệ Sĩ Hành Khúc Ca và bài Ngựa Phi Đường Xa.

Âm nhạc của chúng ta thường bị coi là buồn. Nghệ Sĩ Hành Khúc Ca của Lê Yên là một trong số những bài hát vui tươi, trong sáng hiếm hoi của chúng ta. Nghe ca khúc này, người ta luôn cảm thấy như được truyền

thêm sức sống và lòng yêu đời:

Xuân tươi xuân vui

Xuân đẹp trong ý thơ đẹp trong tiếng ca

Đẹp trong sắc muôn ngàn hoa

Xuân về, ta chào xuân khắp nơi

Chào xuân thắm tươi

Nắng xuân loáng in gương hồ

Bướm xuân giỡn nô trên bờ

Làn gió vi vu hoài

Làn sóng rung rinh hoài

Làm cho ta luôn khoan khoái

Với xuân tới ta vui cười

Cùng đón chào xuân

Xuân tươi xuân vui xuân đẹp …

Làm cho ta luôn luôn khoan khoái

Với xuân tới ta vui cười

Tới sau

Ngày tươi vui ấy đã qua

Thật không khác với giấc mơ

Ngồi nghĩ đến lúc ngây thơ

Lòng bâng khuâng ta sẽ tiếc thương

Cho bao nhiêu ngày vui đẹp

Chúng ta nhủ thầm

Ngày vui xưa nay đã mất qua bao lần

Lê Yên còn phổ nhạc nhiều thơ. Và sau ngày 30 tháng 4/75 người miền Nam được biết Lê Yên còn viết cả một cuốn sách về nghệ thuật phổ nhạc thơ có tên là “Kinh Nghiệm Phổ Thơ” được giới nhạc sĩ đánh giá cao vì “đã nêu ra nhiều thủ pháp mới, dựa vào ngôn ngữ âm nhạc truyền thống để việc phổ nhạc được lưu loát cả về phần nhạc lẫn phần lời, tránh được tình trạng đơn điệu trong giai điệu do quá lệ thuộc vào lời thơ, như nhiều anh em mắc phải” [Dzoãn Mẫn]. Ca khúc phố nhạc thơ được coi là thành công nhất của chính Lê Yên, theo Dzoãn Mẫn, là bài “Nhớ” thơ Thanh Hải. Nhưng hỏi các thính giả bình thường ngoài phố, cũng ít người biết. Có lẽ vì nó cũng chỉ được phổ biến trong giới chuyên môn? thích. Nói chung các ca khúc của Lê Yên, có bài nhiều người biết, bài ít người biết và người ta có thể thích hay không. Nhưng có một bài người ta dễ đồng ý với nhau kể như kiệt tác của Lê Yên đó là bài Ngựa Phi Đường Xa. Và, Ngựa Phi Đường Xa còn có thể coi như một trong những ca khúc hay nhất của chung nền âm nhạc Việt Nam nữa. Nói chung về các ca khúc Việt Nam, chúng ta có thể nhắc tới hai hiện tượng đặc biệt. Thứ nhất, không biết ngày xưa, quân đội của chúng ta có kỵ binh thật chăng? Nhưng hai từ “kỵ binh” gần đây dung để chỉ binh chủng “thiết giáp”. Vậy mà nghe Ngựa Phi Đường Xa người ta có cảm tưởng như thấy được tiếng vó câu dồn dập thực sự. Thứ hai là trường hợp Văn Cao với Không Quân Việt Nam. Khi Văn Cao sáng tác ca khúc ấy Việt Nam chưa có Không Quân. Không hiểu sao Văn Cao lại viết được những câu tưởng chừng như ông đang lướt trên chín tầng mây ngó xuống:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh

Khi nhìn qua khói những kinh thành tan

Đôi cánh tung hoành rợp trên mây xanh

Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng.

Ngần ấy thôi cũng đủ chứng tỏ họ là những tài năng lớn.

Người ta còn nhớ, lần đầu tiên khi Ban Hợp Ca Thăng Long từ Nam ra Bắc trình diễn, họ đã làm ngây ngất cả Hà Nội bằng nghệ thuật hợp ca khi ấy còn hoàn toàn mới mẻ của họ và, với bài Ngựa Phi Đường Xa của Lê Yên.

Sau đây là nguyên văn bài Ngựa Phi Đường Xa, như Ban Thăng Long trình bầy. Vì băng nhạc quá cũ nên có vài chữ nghe không rõ:

Ngựa phi ngựa phi đường xa

Tiến lên đường cát trắng trắng xóa

Tiến lên đường nắng cháy lóa loá

Cánh đồng lúa in sát chân trời mây

mây sương lam

Ngựa phi ngoài xa thật mau

Lúc nguy nàn ta yêu thương nhau

Giống Tiên Rồng hết sức phấn đấu

Nhìn mây nước

ta hát vang lừng trong nắng đào

Kìm từ từ

Ngọn đồi dốc trèo từ từ

Sát bên dòng suối chảy lừ đừ

Cờ tung gió bay đùa bay phất phới

Kìm từ từ

Rừng trầm gió ngàn vù vù

Vó câu dồn cát bụi mịt mù

Đường xa tắp vui bầy chim đón chờ

Ngựa phi trên lưng ngựa hung hăng

Trên cánh đồng mênh mông

Cất tiếng lên chúng ta cười vang

Ngựa phi trên lưng ngựa phi mau

Trong sương mờ đêm thâu

Lao mình trong nắng mưa dãi dầu

Ngựa phi ngựa phi đường xa

Ngựa phi ngựa phi đường xa …

Lê Yên đã mất tại Hà Nội, nhưng không rõ năm nào.

Ban Thăng Long hải ngoại

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

52. Lê Xuân Ái

Lê Xuân Ái thuộc lớp nhạc sĩ thứ nhất của chúng ta. Những người hát “Chinh Phụ Hoài Khúc” của ông với tư cách ca sĩ (Thương Huyền, Mai Khanh, Kim Tiêu) hay tài tử, hát chơi cho nhau nghe hay hát một mình, hiện nếu còn sống, ít nhất cũng phải ngoài 70 rồi. Đó là cái thời người ta gọi là “hát Tây, hát Tầu”. Hát Tây nghĩa là hát những bài hát Pháp, hát bằng tiếng Pháp [J’ ai deux amours chẳng hạn] còn hát Tầu là hát những bài hát Trung Quốc, được viết lời Việt [Hà Nhật Quân Tái Lai].

Ai viết lời Việt? Có thể là Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước và, [có nhiều khả năng hơn] người viết là Lê Thương. Vào thời ấy còn ai tung kiếm nơi sa trường nữa chăng? Nhưng người ta vẫn hát “Chinh Phụ Hoài Khúc”, hát để sống hết cái lãng mạn của mình. Bởi đó cũng là thời cực lãng mạn của thi ca Việt Nam. Cũng còn có thể vì người ta đã linh cảm cuộc chia lìa sắp sửa do cuộc chiến tranh gần kề [sẽ] gây ra. Dân tộc chúng ta có quá nhiều kinh nghiệm về sự bất trắc. Hòn Vọng Phu không chỉ là biểu tượng của sự mong đợi vô tận, mà hình như nó còn là dấu hiệu báo cho [đời sau biết], nếu người ta có phải chờ nhau đến hóa đá cũng chỉ là quay lại thuở ban đầu.

Chúng ta hiện cũng không biết tí gì về tiểu sử Lê Xuân Ái, ông sinh ở đâu, mất năm nào, có bao nhiêu tác phẩm.

Chinh Phụ Hoài Khúc

Chàng vì non sông

Tung kiếm nơi sa trường

Chờ ngày vinh quang

Duyên em lỡ làng

Nhìn bóng gió sương

Lòng thiếp vấn vương

Tìm bóng gió sương

Gió sương tan mờ theo chàng

Em thương cho chàng

Bao phen gối tuyết nằm sương

Em thương cho chàng

Khi mưa gió nơi sa trường

Tình cách quan san

Lời phú vóc đan [?]

Chờ sóng gió tan

Phút vinh quang nguyện dâng chàng

Bao thu đã tàn

Sao em vắng bóng tình quân

Thu rơi lá vàng em tha thiết mong tin chàng

Chàng ra đi cách xa muôn trùng

Xa trông chốn khuê phòng

Tin chàng vắng đưa

Sầu lớp lớp vấn vít tơ lòng em

Bao lời nhớ thương

Ngày nào chàng về cùng em

chung lời say đắm

Em dâng khúc ca tương phùng

Tình bướm luyến hoa

Lời gió thiết tha

Vườn yến hát ca có duyên em sầu bẽ bàng

Qua song rơi đều

Ngoài song mưa gió đến se lòng em

Thu rơi trong lòng mùa thương nhớ

vương trong lòng

Hoàng Oanh

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Chương 11.

Sáng sớm hôm ấy, hai chú cháu đến mấy làng quanh đó, chỗ bọn lính của chàng đóng. Người lính tâm phúc, anh sứt môi, ra đón ở dọc đường bảo chàng:

– Thưa chủ tướng, chủ tướng đến thật may quá, bọn lính mấy ngày nay được nghỉ ngơi, cơm rượu hả hê, bây giờ cơm no ấm cật, họ đang khao khát được tự do.

Vương hổ tướng nói:

– Chờ cho họ xong cơm nước buổi sáng, cho tập trung hết cả lại để lên đường đi về bản địa. Tối mai phải đi hết chặng đầu một nửa đường.

Mấy hôm ở chơi nhà anh Hai chàng đã suy nghĩ rất nhiều về việc lựa chọn địa điểm để làm căn cứ, sào huyệt, chàng có đem vấn đề đó ra thảo luận với anh Hai là người tinh khôn, thông thạo; cả hai anh em đồng ý mạn giáp ranh với tỉnh này, ruộng nương tốt nhất không đâu bằng, sẽ đặt làm căn cứ. Vả chăng địa điểm cách xa quê hương chàng, phòng xa lỡ ra lúc nguy biến không liên lụy đến anh em họ hàng, người đồng hương; lúc thất cơ chàng có thể về ẩn náu nơi quê nhà, việc vận tải tiền nong đường không cách trở xa xôi quá, ít nguy hiểm về sự bất trắc giữa đường. Ruộng vùng đó có tiếng phì nhiêu, dân cư ít khi bị đói kém. Ruộng có hai thứ, một nửa ở cao, một nửa ở thấp, xung quanh có núi non bao bọc, có nơi chắc chắn ẩn nấp. Miền đó có một con đường độc đạo, khách bộ hành vãng lai từ Nam lên Bắc, từ Bắc xuống Nam phải qua con đường đó, chàng có thể đặt thuế, lấy tiền mãi lộ vào khách qua đường. Vùng đó có hai ba tỉnh lớn, một đô thị, Vương hổ tướng không cần phải cứ trông vào bọn nông phu mà đánh thuế. Thóc lúa tốt nhất, họ cất rượu rất ngon, dân cư trù mật. Miền đó có đủ điều kiện thuận lợi, xong vấp phải một trở ngại, là ở đó có một thủ lãnh cai quản.

Muốn đạt được ý nguyện, Vương hổ tướng trước nhất phải làm sao trục xuất, diệt trừ tên thủ lãnh đó vì không có nơi nào dù dân có phong phú đến đâu cũng không thể cung phụng nổi hai thủ lãnh một lúc. Tên thủ lãnh này, người thế nào, binh lực có những gì, những điều cốt yếu Vương hổ tướng chưa rõ. Chàng chỉ nghe người ta gọi hắn là Tám Beo, vì hắn có dị tướng, trán hắt ra đằng sau, sọ đầu hắn giống như sọ Báo; hắn cai trị rất hà khắc, dân cư vùng đó chán ghét lắm.

Đến nơi ấy Vương hổ tướng phải thận trọng, kín đáo chứ không thể đường hoàng cờ mở, trống dong. Chàng phải dè dặt, khôn ngoan chia bộ đội ra nhiều toán nhỏ năm, ba người như bọn lính đào ngũ. Chàng và mấy người tâm phúc tìm một nơi trú ẩn ở trong núi để dò xét địa hình, địa vật. Chàng quyết tâm giao tranh với tên thủ lãnh và chiếm bằng được miền đó mà chàng tưởng như số chàng đã định, trời để dành phần cho. Chàng đem mưu kế ra áp dụng thi hành. Khi bọn lính đã cơm nước xong, anh nào cũng uống ít rượu cho ấm bụng vì buổi sáng sương còn giá lạnh, ở các thôn xóm kéo ra tập trung hết ngoài đường. Chàng cẩn thận xem xét tiền nong đã trả đầy đủ chưa, trước khi đi, chàng còn hỏi lại dân làng:

“Anh em bộ đội đến trọ nhà các ông các bà có điều gì thất thố không?”. Tất cả dân mấy làng đều đồng thanh nói: “Không có điều gì cả, chúng tôi mong ước bộ đội nào cũng được như bộ đội của quý ông”. Chàng rất đẹp lòng, ra lệnh rút khỏi các làng, tập trung lại một nơi xa, chàng khuyến dụ:

– Địa điểm chúng mình kéo đến ruộng nương tốt không đâu bằng, chúng mình phải giao tranh với một thủ lãnh quản trị ở đó. Miền đó có một thứ rượu tuyệt ngon, tôi chắc chưa bạn nào đã được nếm qua!

Bọn lính nghe thấy thế reo mừng, họ nhao nhao nói:

– Xin chủ tướng đưa chúng tôi lại miền ấy. Những nơi như thế chúng tôi vẫn khao khát ước mong!

Vương hổ tướng nhếch mép cười, một nụ cười nghiêm nghị, khắt khe:

– Các bạn đừng tưởng đâu lại có quá giản dị, dễ dàng thế được. Chúng ta cần phải rõ binh lực của đối phương thế nào, nếu đối phương đông người hơn bọn mình, mình phải tìm cách tỉa dần, mỗi một bạn đây phải là một trinh sát, để mắt xem xét, để tai nghe ngóng dò la. Phải giữ tuyệt đối bí mật, không để cho ai biết mục đích của ta đến đó, sơ hở một chút là hỏng việc. Tôi đi tiên phong xem xét địa hình, chỗ nào thuận tiện để tập trung quân lực; anh lính sứt môi đến ranh giới thì dừng lại, vào một xóm ở thung lũng Hòa An. Tôi nghe nói đầu xóm có một quán cơm, ngoài cửa có treo lủng lẳng một vò rượu. Anh sứt môi sẽ chờ các bạn ở đó; chỉ cho các bạn biết chỗ tôi lựa chọn để đóng quân. Bây giờ các bạn giải tán, chia từng toán nhỏ 3 người, 5 người, 7 người, nếu có ai hỏi các bạn đi đâu, bạn sẽ hỏi thăm bản doanh ông thủ lãnh Tám Beo ở đâu để xin tòng quân phục vụ dưới trướng. Tôi đưa cho mỗi bạn 3 đồng để làm tiền lộ phí cho đến khi chúng mình lại gặp nhau đoàn tụ. Nếu đến tai tôi, ai hà hiếp một lương dân, vô lễ với một đàn bà nào, tôi không cần tra xét, một người phạm tội tôi sẽ giết hai người để nghiêm quân lệnh.

Có một anh lính nói lớn:

– Thưa chủ tướng, thế chúng tôi không bao giờ được tự do làm gì tùy ý như nghề lính tráng của chúng tôi?

Hình minh họa from the Net

Vương hổ tướng trả lời:

– Khi nào tôi có lệnh cho phép thì mới được! Từ trước đến giờ các anh đã phải xông pha trận mạc chưa? Các  anh tưởng có khi tôi phải ân thưởng trước khi các anh lâm trận chiến công?

Anh chàng nêu câu hỏi im bặt, sợ lắm vì biết Vương hồ tướng thay đổi sắc khí nhanh lắm, sẵn sàng sử dụng thanh đoản kiếm, con người không thể nào lung lạc bằng lời nói bóng bẩy, một câu châm biếm không hợp thời. Nhựng ai cũng công nhận tính chàng rất cương trực, những tùy thuộc chàng như được cảm hóa, biết thế nào là hợp pháp hay không. Bọn lính của chàng tuy chưa phải vất vả giao phong trận mạc mà vẫn được nuôi nấng đàng hoàng đầy đủ, lương cuối tháng vẫn được trả phân minh sòng phẳng.

Vương hổ tướng lấy ở số tiền dự trữ phát cho bọn lính mỗi người ba đồng làm tiền lộ phí. Quân lính phân tán chia từng toán nhỏ, kéo đi. Chàng cưỡi con ngựa hồng, thằng Rỗ cưỡi lừa, anh sứt môi ngồi trên con la (chàng vừa mới mua ở xóm), cả ba lên đường về mạn Tây Bắc.

Khi Vương hổ tướng đến đầu địa hạt, chàng cho ngựa leo lên một ngôi cổ mộ lớn, ngồi trên lưng ngựa, chàng có thể nhìn bao quát được cả vùng. Thật là một phong cảnh tuyệt mỹ chàng chưa từng thấy. Trên những ngọn đồi rộng lớn, trùng điệp, lúa tiểu mạch cấy về mùa đông vừa nhô khỏi mặt đất xanh rì, dập dờn trước gió như làn sóng. Xa xa về phía Tây Bắc, những ngọn đồi cao dần thành một rặng núi lởm chởm, tua tủa huyền nhai, in trên nền trời trong vắt. Những xóm làng rải rác khắp nơi, nhà tuy bằng đất nhưng gọn ghẽ xinh xắn, nhiều mái vừa được lợp lại bằng rơm rạ, mùa gặt trong năm. Cũng có nhiều nhà gạch lợp ngói. Gần chỗ chàng đứng có mấy căn nhà, trước sân nhà nào cũng có cây rơm lớn, xa xa theo chiều gió đưa lại có tiếng gà cục tác, văng vẳng có tiếng nông phu véo von hát. Thật là một nơi trù mật, đất cát phì nhiêu, lòng chàng khắp khởi mừng thầm đã đến một nơi cảnh trí tuyệt mỹ. Với bộ nhung y, với con ngựa hồng, chàng không thể vào các xóm làng sợ gieo rắc hoang mang trong dân chúng. Chàng quan sát địa thế, vạch một lộ trình đi quanh co vào rặng núi tìm nơi trú ẩn, dò la thám thính quân lực đối phương. Chàng phải giữ hành tung tuyệt đối bí mật, không để cho một ai biết chàng đến vùng đó. Người ngựa đi suốt mấy giờ đồng hồ, quá trưa về chiều bọn này mới đến chân một ngọn núi cây cối um tùm rậm rạp.

Vương hổ tướng xuống ngựa bước lên bực đá leo lên ngọn núi. Hai tên thủ hạ dắt ngựa theo sau, vó câu khấp khểnh bước thấp bước cao, lộc cộc lên bực. Chàng lên cao, cây cỏ càng rậm rạp, có chỗ chằng chịt ngăn mất cả lối đi, những suối nước chảy róc rách ở các khe đá, cỏ mọc ngang đầu. Rêu phủ dầy các bực đá đi rất êm, không thấy có dấu vết chân người, ở giữa bực lờ mờ hình như có dấu vết chân một hai người qua lại. Khi mặt trời vừa lặn, bọn này leo lên hết bực thì đến một ngôi chùa cổ xây bằng đá khối dựa lưng vào vách núi vừa làm bức tường hậu của ngôi chùa. Am thanh cảnh vắng, cũ kỹ, đổ nát, cửa đóng kín mít. Vương hổ tướng đến ngôi chùa ghé sát tai vào cửa nghe ngóng bên trong động tĩnh ra sao. Không thấy có một tiếng động, chàng lấy chui roi da quất ngựa đập mạnh vào cửa;  không nghe thấy tiếng gì bên trong, chàng càng cáu càng đập mạnh. Một lúc lâu cánh cửa từ từ hé mở, ló ra một cái đầu ông sư trọc lóc, một khuôn mặt nhẫn thín, già cấc, da nhăn nheo. Vương hổ tướng nói lớn:

– Chúng ta tìm một nơi tạm trú đêm nay. Trong khung cảnh âm u tĩnh mịch, tiếng chàng nói oang oang rắn rỏi, cộc lốc. Nhà sư sẽ sàng mở thêm cánh cửa, nhỏ nhẻ nói:

– Bẩm … ngài không tìm thấy lữ quán, phòng trà hay sao? Chúng tôi đây có mấy người ở một nơi khổ hạnh, xa  lánh trần tục, ăn uống rất kham khổ, không có thịt cá, uống chỉ có nước lã thôi.

Thấy tướng mạo Vương hổ tướng nhà sư sợ quá, sau chiếc vạt áo dài che phù, hai đầu gối thi nhau run lên bần bật.

Vương hổ tướng đẩy cửa, bước vào qua mặt vị sư già, dõng dạc bảo bọn thủ hạ tùy tùng:

– Chỗ này rất hợp ý ta, ta tìm thấy đúng đây rồi.

Chàng xông xáo đi vào không một chút e dè kiêng nể các vị sư trụ trì ở đó. Chàng vào chính điện, có mấy pho tượng lâu ngày, lớp thiếp vàng đã tróc nhiều chỗ để hở cả cốt đất ra ngoài. Chàng không để ý nhìn lên Tam Bảo. Chàng xuống mấy căn nhà ngang chỗ ở của các vị sư, chọn một căn phòng

sạch sẽ nhất. Chàng cởi kiếm treo lên vách, trong khi đó các thủ hạ lục soát khắp chùa xem có gì ăn được uống được, họ tìm thấy có một ít gạo và một chiếc bắp cải.

Đêm đó, Vương hổ tướng nằm ở gường chưa ngủ, lắng tai nghe như có tiếng rì rầm ở chánh điện. Chàng dậy rón rén đi lên coi xem cái gì! Chàng thấy ở đó có 5 vị sư già với 2 chú tiểu (tiểu là con mấy nông phu ở trong xóm gửi lên hầu hạ trên chùa để tỏ lòng tri ân một việc cầu cúng gì đó). Tất cả bọn quỳ trước bàn thờ (có một pho tượng bụng phệ) họ tụng niệm, nhờ Phật lực gia hộ che chở. Một ngọn đuốc chập chờn trước gió, dưới ánh sáng huyền ảo của ngọn lửa, cả bọn đồng thanh tụng niệm. Vương hổ tướng đứng nấp một luc lâu xem và nghe họ tụng niệm. Chàng nhận ra vì có chàng mà họ cầu xin được che chở. Họ đồng thanh tụng:

– Cúi xin Phật Pháp từ bi gia hộ, vạn tội băng tiêu, trừ giải ách nguy cường hào đạo tặc.

Nghe họ kêu cầu như thế, Vương hổ tướng hét to, tiếng hét bất thần giữa đêm khuya làm các sư đang quỳ như điện giật đứng phắt cả dậy; lúng túng trong chiếc áo dài. Vị sư già nhất vị sư thủ hộ vật ngã sóng suột, tưởng chừng sắp được đi vãng sinh. Vương hổ tướng hét to:

– Tôi đến đây không làm hại gì các người, đồ xuẩn ngốc! Nhìn coi, khối tiền đây này. Làm sao mà sợ? Sợ cái gì?

Chàng vừa nói vừa cởi giây lưng cho mọi người xem túi tiền của chàng, các sư này thật ra chưa được thấy nhiều tiền như thế bao giờ. Chàng nói tiếp:

– Ta còn nhiều tiền nữa, ta chỉ cần một nơi tạm trú ít lâu, người ta xin tạm trú ở đền, ở chùa là thường, có gì lạ? Hở?

Trông thấy túi tiền của chàng, ai nấy vững dạ, nhìn nhau, xì xào nói:

– Chắc là một võ tướng nào đây hoặc lỡ tay giết lầm một người nào, hoặc không được chủ tướng lưu dụng phải ẩn tránh ít lâu. Những việc như thế chúng ta vẫn thường được nghe thấy luôn. Vương hổ tướng để cho bọn này muốn đoán thế nào thì đoán. Chàng khẽ nhếch mép cười, một nụ cười vô vị, mặt lạnh như tiền, chàng trở về phòng đi ngủ.

Ngày hôm sau, mới tang tảng sáng, Vương hổ tướng đã dậy ra đứng ở cổng chùa. Sáng hôm đó, sương mù dày đặc bao phủ các thung lũng, các ngọn núi; chàng đứng ở đó không ai có thể nom thấy được. Không khí mát lạnh buổi mai làm chàng sực nhớ chẳng còn bao lâu đã sang đông. Trước mùa đông tháng giá, có mưa tuyết, chàng có nhiều công việc phải giải quyết, tất cả thủ hạ trông cậy vào chàng: cơm ăn, chốn ở, quần áo mặc rét. Chàng quay trở vào chùa đi thẳng xuống bếp, anh lính tâm phúc và cháu chàng ngủ ở đó. Bọn này rúc vào ổ rơm, ngủ mê mệt, hơi thở anh lính phì phò qua chiếc môi sứt như người huýt còi. Chú tiểu đang nấu một chiếc nồi sắt kê trên mấy viên gạch, hơi bốc lên nghi ngút. Chợt nom thấy Vương hổ tướng, chú tiểu tìm đường lẩn tránh.

Vương hổ tướng không để ý đến chú tiểu, nắm tay anh lính tâm phúc lay mạnh gọi dậy, sai xuống núi lại quán cơm nếu bọn lính sáng có đến đó chăng. Anh sứt môi hãy còn ngái ngủ, hai tay dụi mắt, mồm ngáp dài, đứng dậy vươn vai mặc vội quần áo, lấy cái bát vục vào nồi cháo húp một bát cháo nóng rồi đi xuống núi. Ngắm sau lưng anh lính dáng điệu vạm vỡ, khỏe mạnh Vương hổ tướng nhìn theo hút bụng khen thầm anh này trung thành có nghĩa. Ngày hôm đó, Vương hổ tướng dự tính cho tập trung hết thủ hạ vào một nơi thanh vắng, hoạch định công tác, tuyển lựa những người tâm phúc làm thủ trợ để cùng mưu tính phương châm hoạt động. Chàng sẽ cất cử một số người vào các công tác khác; một bọn làm do thám, một bọn cho đi lục soát tìm kiếm thực phẩm, một số người đi hái củi, một số đảm nhiệm việc bếp nước thổi nấu, lại còn một số sửa chữa lau chùi võ khí. Mỗi người có một công tác riêng trong cuộc sống tập thể. Chàng lại nghĩ cần phải có một uy quyền nghiêm nghị, thưởng phạt công minh, tất cả bọn lính phải tuyệt đối phục tùng. Chàng nắm quyền sinh sát trong tay. Chàng lại còn dự định mỗi ngày phải để ra mấy giờ để  rèn luyện bọn người này lề lối tác chiến để khi hữu sự đượcthành thuộc sẵn. Chàng không dám phí phạm đạn dược trong lúc thao luyện. Chàng sẽ cố hết sức chỉ bảo cho bọn người này cách bày binh bố trận. Suốt cả ngày hôm đó chàng ở trên núi cố nén tâm chờ mãi đến sâm sẩm tối, có độ năm chục người lục tục kéo đến.

Ngày hôm sau thêm độ năm mươi tên nữa. Còn mấy người không thấy đến, bọn này chắc chắn đã đào tẩu. Không thấy họ đến, Vương hổ tướng có ý buồn tiếc; nhưng nỗi buồn tiếc của chàng không phải vì mấy anh lính mà chính ra chàng tiếc mất mấy khẩu súng tốt và mấy băng đạn.

Ngôi chùa đang thanh bình, tĩnh mịch, tự nhiên ở đâu kéo đến một bọn người ô hợp đóng đầy, mấy vị sư già sợ quá lo cuống cuồng không biết xử trí làm sao. Vương hổ tướng ủy lạo các vị sư đã nhiều lần, chàng bảo:

– Các ông cứ yên trí, tôi sẽ chu tất không để các ông thiệt; không việc gì phải lo sợ. Một vị sư già nhất, da thịt đã nhăn nheo, với một giọng yếu ớt, run run nói với chàng:

– Không phải chúng tôi sợ thiệt thòi mất mát gì đâu, chúng tôi cũng biết ngài phân minh không để chúng tôi thiệt hại, song ở đời cũng có những thứ không thể lấy tiền đền bù được. Ngôi chùa này ở một nơi tịch mịch cô quạnh. Chùa này được mệnh danh là An Tĩnh Tự. Bọn bần tăng chúng tôi muốn xa lánh cõi tục đến đây tu hành đã được bao nhiêu năm rồi, bây giờ thuộc hạ của Tướng Quân, một bọn còn ít tuổi, hung hãn, ham ăn thích uống làm mất cả an tĩnh, trai giới chốn thiền môn. Họ chen đẩy nhau lên cả chính điện, chỗ nào cũng khạc nhổ, đứng ngồi sỗ sàng trước các thánh tượng trang nghiêm, bất cứ chỗ nào cũng đổ nước, họ tục tằn, làm mất cả an tĩnh một nơi tôn kính.

Vương hổ tướng trả lời:

– Hay là thế này là lưỡng tiện: Các ông chịu khó hãy tạm lánh đi nơi khác đem theo cả tượng của các ông đi, chứ bảo tôi bắt nét thủ hạ của tôi thì khó lắm, lính tráng mà. Các ông khuân mấy pho tượng vào gian nhà trong, khuất đi, tôi sẽ ra lệnh cho họ không được bén mảng đến. Như thế là êm đẹp cả, có phải không?

Vị sư già nghĩ cũng không còn cách nào khác, bắt buộc phải nghe theo. Mấy ông sư hì hục khênh đi mấy pho tượng cả bệ, trừ ra có một pho lớn quá, các ông không dám khênh vì sợ lỡ tay rơi vỡ thì tội không biết để đâu cho hết. Vương hổ tướng và cả bọn kéo nhau lên ở cả trên chính điện. Các vị sư cẩn thận lấy vải phủ kín pho tượng để ngài không ngó thấy những việc tục tĩu của bọn lính.

Vương hổ tướng chọn lọc lấy ba người làm bộ hạ thủ túc: một anh lính sứt môi, một anh biệt hiệu là Diều Hâu, anh này có cái mũi kỳ lạ, đầu mũi quặp xuống cái mồm mỏng quẹt và trễ, còn một anh nữa bí danh “chọc tiết heo”. Anh chọc tiết heo người to béo, da hung hung đỏ, có cái mặt đặc sắc to và phẳng lỳ tưởng chừng như bà mụ lúc nặn cái mặt anh ta lại đem bào đi một lượt … Anh chàng này tính hay gây gổ, trước kia anh cũng làm nghề đồ tể, chọc tiết heo. Một lần cãi nhau với người hàng xóm, anh đã gây ra án mạng, giết chết người hàng xóm. Nhiều khi nghĩ lại, anh tỏ vẻ ăn năn, anh thường nói:

– Giá lúc đó tôi đang ăn cơm, tay cầm đôi đũa thì tôi cũng không giết hắn làm gì. Hắn lại cà khịa với tôi lúc tôi đang sả thịt, sẵn con dao ở tay nó bay lúc nào, tôi cũng không biết.

Anh giết người xong, anh trốn biệt để khỏi bị bắt bớ đem lên quan. Tuy tính nết anh tục tằn thô lỗ, nhưng lại có hoa tay, nhanh mắt. Ruồi đang bay anh chỉ lấy một chiếc đũa, anh chém đứt đôi hết con nọ đến con kia. Nhiều khi để giải trí tiêu khiển các bạn đồng ngũ lại nhờ anh dở cái trò chém ruồi ra mua vui. Họ thích lắm rộ lên cười và tấm tắc khen  biệt tài của anh. Cái thuật đâm, chọc tiết người anh cũng tài tình, nhanh tay nhanh mắt lắm.

Cả ba anh này rất quỷ quyệt, tuy không có một anh nào đọc hay viết được một chữ. Vả chăng cái nghề của bọn này cần gì phải học với hành, sách với vở, bọn họ cũng cho học là thừa, vô ích. Khi đã chọn được vài thủ hạ tay chân, Vương hổ tướng cho gọi cả vào buồng và bảo:

– Tôi coi ba anh là người thân tín nhất, các anh coi chừng bọn lính đứa nào tà tâm, bội phản hay bất tuân thượng lệnh, các anh nhớ khi tôi thành công, tôi sẽ ân thưởng cho các anh xứng đáng.

Chàng cho anh Diều Hâu và Chọc Tiết Heo ra ngoài, giữ anh Sứt môi ở lại và bảo:

– Tao cắt mày phải coi chừng cả hai thằng kia nữa, mày phải để ý xem hai đứa có thực tâm với tao không?

Rồi chàng lại gọi cả ba người đến trước mặt, dõng dạc bảo:

– Bất cứ ai, nếu ta nghi manh tâm làm phản, ta sẽ cho biết lưỡi gươm ta. Ta chém một nhát, chết không kịp ngáp.

Để an tâm chủ tướng, anh sứt môi đỡ lời:

– Xin chủ tướng an tâm, con xin tuyệt đối phục tòng.

Hai anh chàng kia cũng xin thề tỏ lòng trung kiên. Anh Diều hâu nói lớn hơn cả:

– Con không bao giờ quên chủ tướng đã kết nạp con và cất nhắc cho con.

Hắn nói thế, thâm tâm hắn ngụ ý hy vọng sau này. Ba anh đứng ngay ngắn, cúi gập đầu xuống kính cẩn chào chủ tướng tỏ lòng cung kính và trung kiên tuyệt đối. Vương hổ tướng kén trong bọn thuộc hạ, mấy người khôn ngoan, lanh lợi, xảo quyệt tung ra khắp vùng để dò la thám thính sào huyệt đối phương.

Chàng ra chỉ thị cho bọn này:

– Các ngươi phải cấp tốc cố gắng, khám phá bí mật đối  phương làm thế nào đến đầu mùa rét năm nay chúng ta đến chiếm cứ nơi đó. Các ngươi phải dò la quân lực, võ khí của tên Tám Beo, số thuộc hạ hắn kết nạp được bao nhiêu? Khi các ngươi có gặp bọn thuộc hạ của hắn các ngươi phải lựa lời đưa đẩy chuyện trò làm quen, dò xem ý tứ có trung thành với chủ tướng họ không, mình có thể mua chuộc kết nạp họ được không? Ta sẽ mua, kết nạp hết, ta trọng sinh mạng các ngươi hơn tiền bạc, ta không muốn phí phạm sinh mạng các ngươi nếu ta tìm được kẻ khác thay thế các ngươi.

Ba anh chàng được chỉ định đi do thám bèn cởi bỏ quân  trang chỉ còn mấy chiếc áo rách lót mình ở trong. Vương hổtướng cho họ ít tiền để mua mấy chiếc áo thường mặc ngoài.  Bọn này xuống núi, vào các làng, đến các hàng bán quần áocũ mua hết mấy xu mấy chiếc áo cũ rách của nông phu hay mấy người nghèo khó đem cầm, bỏ, không có tiền chuộc. Ăn mặc trá hình xong, ba anh này đi lang thang khắp vùng, họ la cà các quán cơm nhà trọ, các bàn đánh bạc, các cửa hàng, chỗ nào họ cũng để tai nghe ngóng. Đi dò la ít lâu họ trở về tường thuật công tác lên chủ tướng.

Vương hổ tướng được biết dân cư cả vùng chán ghét, ghê sợ Tám Beo, một anh đầu trộm đuôi cướp, côn đồ. Năm nào hắn cũng yêu sách dân cư nhiều quá chỉ còn thiếu chưa đến phá nhà, chiếm ruộng nương đất cát của dân, hắn viện lẽ mỗi năm số thuộc hạ kết nạp càng đông cần để bảo vệ an ninh dân chúng khỏi bị đạo tặc cướp bóc; dân chúng phải đóng góp thù lao hắn. Số lâu la thuộc hạ của hắn càng ngày càng đông thật: bọn vô lại ăn không ngồi rồi ở trong vùng, bọn phạm nhân lẩn tránh vào núi Lưỡng Long đến quy nạp ở dưới trướng Tám Beo, bọn trai tráng khỏe mạnh, sức vóc được đắc dụng, bọn yếu đuối ươn hèn cũng được thu nạp để phục vụ cho bọn cường tráng. Cũng có đàn bà đến xin nhập ngũ, bọn đàn bà gan dạ, chồng chết không đếm xỉa đến tiếng tăm dù tốt hay xấu. Lại cũng có cả đàn ông dẫn theo cả vợ đến xin nhập bọn. Mấy người đàn bà lạc lõng họ bắt được đem về làm thú tiêu khiển cho bọn đàn ông. Kể ra Tám Beo cũng giữ được an ninh trong vùng, bọn côn đồ đạo tặc không dám bén mảng quấy nhiễu. Tuy nhiên, dân chúng oán hận, căm hờn, họ khổ tâm phải cung phụng một tên đầu dọc  cường bạo. Nhưng dù muốn dù không, dân chúng vẫn phảichung lưng đấu cật đóng góp để được yên thân vì một tấc sắt trong tay không có. Xưa kia dân chúng có thể nổi lên chống chọi lại, họ dùng đinh ba, liềm, dao lớn dao nhỏ, hay một vật gì khả dĩ làm vũ khí tự vệ, bây giờ không thể được, mấy thứ vũ khí thô sơ chống đối làm sao được với súng ống làm ở ngoại quốc của bọn cường bạo. Gan dạ cũng không làm gì, uất hận cũng không làm gì, trước họng súng có tầm hoạt động xa và khốc liệt.

Khi Vương hổ tướng hỏi quân số Tám Beo có độ bao nhiêu, bọn do thám nhao nhao nói rất hồ đồ, có anh nghe phong thanh được năm trăm, có anh phỏng độ hai ba nghìn, lại có anh cả quyết đến hơn một vạn. Vương hổ tướng không sao biết rõ quân số đối phương nhưng có điều chắc chắn là họ có nhiều thủ hạ hơn mình. Về điểm này, chàng suy nghĩ rất nhiều, chàng tính cần phải dùng mưu trí, trận cuối cùng quyết phân thắng bại mới dùng đến súng, nếu làm thế nào không phải dùng đến súng càng hay. Chàng vừa suy nghĩ vừa nghe mấy anh lính nói huyên thuyên, chàng cũng hiểu, khi người ta không có học lúc nào hứng chí theo đà hay nói phóng đại. Anh lính có tính hay cười, anh này đã mệnh danh  chủ tướng là “Hắc Mi Hổ Tướng” cố dằn giọng cho thật to,huếch hoác nói:

– Như con, con chả biết sợ là cái gì, con đi thẳng một  mạch lên đến tỉnh, con lên tận Phủ, con thấy chỗ nào nói đến Tám Beo ai cũng ghê sợ. Hàng năm, cứ đến gần Tết, Tám Beo bắt bọn con buôn phải cống cho hắn một số tiền lớn, nếu không hắn đem bọn côn đồ phá tan tỉnh. Con gặp thằng cha bán bánh rán nhân thịt, thật quả con chưa được ăn bánh rán nào mà ngon đến thế bao giờ … Thưa chủ tướng ở đây họ nuôi  lợn béo lắm, họ xào nấu, phi tỏi thơm điếc mũi, giá bọn ôngcon mình lên đóng ở đấy thì hay quá … Con hỏi anh ta: “Thế sao quan không đem quân đánh tan tụi nó đi cho rồi lại cứ để cho tụi nó ngang nhiên hoành hành thế?”. Thằng cha bán bánh rán kể cũng hậu hĩ … nó thêm cho con một mẩu bánh vỡ, nó bảo con: “Lão Phủ, suốt ngày chúi đầu vào thuốc phiện, nhìn thấy bóng cũng sợ, nuôi được một anh tướng tiếc gì để trông nom bọn lính, thằng cha này chẳng biết trận mạc đánh nhau là cái cóc gì, vác khẩu súng không nổi … tính lại cục cằn, cáu kỉnh, chỉ chăm chăm làm đồ ăn món nhắm, còn muốn ra sao mặc kệ! Anh đã trông thấy bọn lính của lão Phủ chưa? Hắn ta nuôi bọn lính để bảo vệ cho hắn, lúc nào cũng dấm dúi tiền cho bọn này chỉ sợ tụi nó quay lại làm phản hay bỏ đi theo người khác. Hắn chỉ lấy tiền làm rẫy, tiêu tiền như rác. Hắn sợ Tám Beo ghê lắm, cứ mới nghe nói tên Tám Beo hắn đã hết vía rụng rời, run lên như cày sấy, chân tay bủn rủn, năm nào hắn cũng kiếm một cái lễ lớn đem cúng Tám Beo để cho nó đừng động chạm đến hắn!”. Anh chàng bán bánh nói xong thì cũng vừa lúc con nhai xong mấy chiếc bánh, con xem chừng giá có mua một chiếc bánh nữa, hắn cũng không thêm, con lảng sang nói chuyện với lão ăn mày ngồi ở xó tường đang bắt rận. Lão già này cũng vào tay lý sự, suốt đời sống về nghề hành khất trong tỉnh. Lối bắt rận của hắn cũng tài tình lắm, hắn cắn đánh soạt một cái, rận lớn, rận nhỏ chui ra hết, hắn cắn đôm đốp giòn tan. Thật quả hắn chuyên môn ăn rận, người lại béo tốt khỏe mạnh. Con lân la hỏi dò về lão Phủ, hắn bảo con nghe đâu năm nay lão Phủ cũng định liều, vì đã đến tai quan trên cho hắn dung túng một côn đồ ngang nhiên hoành hành quấy nhiễu.  Nhiều người thèm muốn địa vị hắn, muốn hất cẳng hắn, tốcáo hắn lên tận thượng tòa hắn ươn hèn, nhút nhát, không được tích sự gì. Nếu cha này bị cách chức thì có đến mười hai người tranh giành nhau, vì vùng này màu mỡ, miếng gan miếng tiết, kiếm chác được. Dân nghe nói những chuyện lôi thôi, có khi lão Phủ bị hất cẳng, họ bàn tán: “Bao nhiêu lâu nay bọn mình đã phải cung phụng thằng cáo già kể ra bây giờ hắn cũng không đục khoét lắm như khi mới đến, nếu có thằng cha nào mới háu ăn, vơ vét có khi còn khổ hơn thế này nữa”.

Vương hổ tướng để cho bọn thủ hạ tha hồ nói (tụi này chắc cho chàng chí lự cũng như họ) nghe thấy gì, trông thấy  gì kể ra vanh vách hết, thỉnh thoảng lại pha trò, ồ cả lên cười, anh nào cũng khấp khởi mừng thầm, họ tưởng chừng chàng cũng khoái nghe chuyện lắm. Đi công tác anh nào cũng được ăn uống đầy đủ, phè phỡn hoa cả mắt thấy xóm làng trù phú, đất cát phì nhiêu. Dân vùng đó bị một cổ hai  tròng, Tám Beo và lão Phủ như hai con đỉa lớn hút máu hút mủ, tuy thế mặc dầu vẫn sung túc, đủ ăn có phần dư dật, cũng nhờ đất cát phì nhiêu, hoa lợi nhiều. Chàng lẳng lặng nghe bọn thuộc hạ nói, nhiều câu vớ vẩn không bổ ích gìnhưng thỉnh thoảng cũng chọn lọc được những chi tiết cần thiết, khác nào người bới rơm nhặt thóc, chàng tinh quái ranh mãnh, bọn thuộc hạ còn kém xa.

Khi tụi lính vừa nói hết chàng nghĩ đến câu: “Lão Phủ chỉ lo bị hất cẳng”, về câu này chàng nghĩ lung lắm, chàng cho đó là tất cả bí quyết thành công trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm, lão già ốm yếu này sẽ là cái bàn đạp cho chàng để nắm trọn quyền hùng cứ cả vùng. Căn cứ vào lời của bọn lính do thám, Tám Beo cũng không có gì đáng ngại lắm như chàng dự tưởng. Chàng định cho một thám tử vào tận sào huyệt của chúng, xem rõ Tám Beo có bao nhiêu bộ hạ; thực lực của hắn thế nào.

Chàng đưa mắt nhìn một lượt bọn lính đang ngồi ăn cơm chiều, gặm một mẩu bánh khô, húp một bát cháo. Suy nghĩ một lúc lâu chưa biết chỉ định ai, chàng xem không có mặt nào khôn ngoan lanh lợi để giao phó cho đi công cán. Chàng sực nghĩ đến thằng Rỗ, thằng cháu vẫn đi theo hầu  chàng. Nghĩ thế, không nói năng gì, chàng thủng thẳng đi vào buồng, thằng Rỗ đang ăn, thấy chàng vào buồng vộivàng đứng dậy theo sau; nó có bổn phận chàng đi đâu nó phải tùy tùng theo sau. Vào trong buồng, chàng đóng cửa, đứng sát vào thằng bé, bảo:

– Tao sai mày một việc mày có đủ can đảm làm được không?

Thằng bé mồm hãy còn đầy cơm, vừa nhai vừa nói:

– Thì chú cứ nói đi, làm được hay không chú sẽ biết.

Vương hổ tướng thủng thẳng nói:

– Ừ tao cũng thử mày xem sao. Mày lấy một cái súng cao su thứ trẻ con vẫn đi bắn chim, mày đi lên ngọn núi Lưỡng Đỉnh, mày làm thế nào chiều tối mày có ở trên đó, làm như bị lạc quên mất lối về, sợ thú dữ, đến cửa sào huyệt của chúng, mày khóc rống lên. Tụi nó nghe tiếng khóc, mở cửa cho mày vào, mày nói là con một nông phu ở phía bên kia thung lũng, mải đi bắn chim, trời tối lúc nào không biết bị lạc, mày xin vào “chùa” ngủ trọ một đêm. Nếu tụi nó không cho vào, mày vật nài xin một người chỉ đường cho mày đi hết con đường quanh doanh trại của tụi nó, mày phải giương to đôi mắt để ý quan sát xem tụi nó có độ bao nhiêu người, bao nhiêu súng ống, thằng Tám Beo hình thù nó thế nào mày để ý xem xét dò la rồi về bảo tao. Liệu như thế có thể làm nổi được không? Vương hổ tướng giơng to hai con mắt đen lanh nhin thằng bé; mặt thằng nầy đang hồng hào, tái dần lại,  những nốt rỗ hiện rõ như những vết sẹo trên mặt, nó thở hổn hển nói với một giọng rất quả quyết:

– Có thể, cháu làm được.

Chàng nghiêm nét mặt, bảo:

– Tao chưa sai bảo mày việc gì bao giờ, cái tính phường chèo của mày may ra bây giờ tao dùng được việc. Nếu mày không khéo, tùy cơ ứng biến mà lỡ để lộ chân tướng, có làm sao là tại mày nghe không? Nhưng coi bản mặt ngu ngốc của mày mà mày cũng khéo giả vờ giả vịt, tao mới sai mày việc đó. Mày phải làm như một thằng bé ngớ ngẩn, ngu độn, mọi việc sẽ trôi hết. Nói dại, nếu tụi nó bắt, nó giết, mày có sợ chết không? Có câm được miệng không?

Mặt thằng bé đang tái xanh lại đỏ ửng dần, nó cố vươn  người cho cao thêm trong bộ quần áo thô kệch bằng vải bôngmàu chàm, với một giọng hùng dũng quả cảm, nó nói:

– Chủ tướng thử cho con đi một chuyến xem sao!

Nghe nói thế, chàng đẹp lòng, bảo:

– Thằng nầy kể cũng gan dạ. Đây là một cuộc thử thách nếu mày làm được trôi chảy, mày sẽ xứng đáng để tao thăng trật.

Nhìn thằng bé, chàng hơi nhếch mép cười, một người như chàng, tâm hồn cứng rắn ít khi bị kích thích rung động; giờ đây đứng trước thằng bé chàng thấy lòng bồi hồi cảm xúc, không phải vì lòng trắc ẩn, luyến ái với đứa cháu, kể ra chàng không ưa gì nó, chàng mơ màng ước vọng có một đứa con trai, đứa con của chàng không phải như thằng này mà một đứa trẻ: cường tráng, trung trực và nghiêm nghị.

Chàng cho thằng Rỗ cải trang làm một đứa trẻ nông phu quấn ở quanh mình chiếc khăn lớn, cho nó đôi giày cũ vì đường xa và trèo núi đá. Nó chặt cành cây lấy cái chạc làm một chiếc súng sao su. Nai nịt gọn gàng, nó rảo bước xuống núi đi khuất vào rặng cây.

Trong hai hôm thằng Rỗ ra đi chàng xếp đặt cắt cử bọn lính mỗi người mỗi việc, không để cho bọn này ăn không ngồi rồi sợ sinh biến. Chàng sai bọn lính tâm phúc vào các xóm mua thóc, mua thịt. Chàng cẩn thận cho đi từng bọn nhỏ, riêng biệt mỗi người mua một ít để tránh những con mắt tò mò, ngờ vực mua nấu ăn cho hàng trăm người. Thằng Rỗ đi được hai hôm, chiều hôm sau chàng ra ngoài cổng chùa, nhìn xuống bực thang núi ngóng xem nó đã về chưa? Trong thâm tâm, chàng lo cho số phận thằng bé, chàng tưởng chừng nó bị đánh đập, tra khảo không khéo chết mất. Trăng đã lên cao, chàng thấy lòng ăn năn, hối hận, nhìn về ngọn núi Lưỡng Đỉnh, chàng lẩm bẩm một mình:

“Biết thế mình sai một người lớn đi, lỡ có chết cũng không sao, dại quá lại sai thằng bé con anh mình. Nếu nó bị đánh đập tra khảo, thằng bé mà chết, mình sẽ xử trí với anh làm sao? Nhưng, nghĩ khó quá, việc này trừ người máu mủ than thích, không thể giao phó cho ai được”.

Bọn lính đi ngủ đã lâu, trăng đã lên quá ngọn núi, lơ lửng trên bầu trời, chàng vẫn thức, vẫn chờ, thằng bé vẫn biệt dạng chưa về. Đêm đã khuya, gió núi đã thấy lành lạnh, chàng quay gót trở về phòng. Chàng cảm thấy tâm hồn nặng trĩu, chàng thấy vắng vẻ mà cũng đáng tiếc, một thằng bé  tính nết vui vẻ, một thằng hề, không ai có thể tức giận nó được.

Về quá nửa đêm, chàng nằm ở giường vẫn thao thức chưa ngủ, chợt nghe như có ai gõ cửa rất khẽ, chàng vùng trở dậy đi ra. Khi chàng vừa nhắc toang chiếc cửa, thằng bé đã hiện ở trước mặt chàng. Nó có vẻ mệt nhọc lắm nhưng vẫn tươi cười. Nó khập khễnh bước thấp bước cao đi vào, ống quần bị rách toạc từ đùi trở xuống, những vết máu chảy xuống chân đã khô. Tuy thế nó vẫn tươi tỉnh, vẫn vui như  thường. Với một giọng đầy mệt nhọc, nó nói:

– Thưa chú, cháu đã về.

Vương hổ tướng bật buồn cười không nói gì, chàng xưa nay bao giờ cũng thế. Một lúc, thấy lòng vui vui, với một giọng cộc cằn, cộc lốc chàng hỏi:

– Đùi mày làm sao?

Thằng bé, nhẹ nhàng trả lời:

– Không sao ạ.

Vương hổ tướng lòng mừng quá, nói một câu pha trò (đời chàng ít khi nói bông đùa).

– Thế không phải beo cào mày hở?

Thằng bé nghe nói rộ lên cười, nó biết chú nó pha trò cười, nó ngồi xuống bực thềm chùa, nói:

– Không phải beo cào đâu chú ạ, cháu ngã vào bụi cây, đường đi rêu quá, ẩm ướt, trơn lắm. Cháu bị vướng vào bụi cây rách cả quần, toạc cả da, cháu đói quá chú ạ!

– Vào ăn uống xong rồi đi ngủ, mai kể chuyện tao nghe.

Chàng bảo thằng bé vào buồng, chàng gọi anh lính, tiếng hét to như sấm vang, đem cơm nước lại ngay cho thằng Rỗ. Nghe tiếng chàng, bọn lính lổm ngổm dậy hết, kéo cả ra  ngoài sân sáng trăng, ai cũng nóng muốn nghe thằng bé đido thám về kể chuyện. Chàng thấy thằng bé ăn uống đã no nê, coi bộ nó đang hứng chí, có vẻ vênh váo tự đắc, đi về trót lọt, được công được việc, chàng bảo:

– Thôi mày kể luôn chuyện đi, rồi hãy đi ngủ.

Thằng bé ngồi dưới bàn thờ, trước pho tượng phủ kín, nó nói:

– Cháu đi xa lắm, cháu đi mãi, leo lên tận đỉnh núi, cao có lẽ đến hai lần ở đây. Thưa chú, tụi nó ở tít mãi trên ngọn núi, một thung lũng tròn như miệng bát, cháu ước gì sau này giá chúng mình chiếm cứ được vùng này, kéo cả lên ở thì thú quá, ở đấy nhà cửa san sát như một cái làng nhỏ. Cháu

làm theo đúng như lời chú dặn. Xâm xẩm tối, cháu ở đấy, khập khà khập khễnh vừa đi, vừa khóc, cháu đem theo mấy con chim bị bắn chết ở dọc đường. Chú ạ, chim ở núi ấy, long màu sắc đẹp lạ. Có một con, lông ở lưng vàng ửng, óng ánh như vàng khối, cháu hãy còn giữ được, đẹp quá chú ạ …

Nó vừa nói vừa rút ở bọc ra con chim lông vàng nó giơ cao lủng lẳng ở tay. Vương hổ tướng nóng ruột muốn nghe nó tường thuật, chàng bực mình nghe chuyện trẻ con, chuyện con chim chết, nhưng chàng cũng cố nén lòng không cắt lời nó, thằng bé đang hứng thú kể chuyện.

Thằng bé đặt cẩn thận con chim lên bệ, cạnh nó, nhìn các anh lính đang chăm chú nghe nó nói; sau lưng nó, có một ngọn đuốc nhỏ, chàng cho đốt cắm ở bát hương trên bàn thờ.

Thằng bé lại tiếp tục kể chuyện:

– Thế rồi, tụi nó nghe thấy cháu gõ cửa, một thằng ở trong nhà chạy ra mở hé cửa dòm xem ai. Cháu van nài tụi nó:

– Các ông ơi! nhà tôi ở xa lắm, tôi lang thang đi chơi, mải bắt chim, đi xa quá, bây giờ trời tối, ở ngoài này tôi sợ thú  rừng. Các ông làm phúc cho tôi vào ngủ đỡ một đêm ở trong”chùa”.

Thế rồi cái thằng cha ra mở cửa lại đóng lại, chạy vào có lẽ nói với người nào trong nhà. Cháu ở ngoài cứ rên, khóc, cháu cố rặn, khóc thật to, thật thảm thiết. Nói đến đây, thằng bé ôm mặt, giả vờ hu hu khóc, rên rỉ, cả bọn cười, coi bộ cảm phục nó lắm, xì xào nói:

– Con bú dù! Thật thằng quỉ sứ rỗ mặt!

– Thế rồi, lúc họ cho cháu vào, cháu làm bộ ngơ ngác, tụi nó cho một miếng bánh, một bát cháo, ăn xong cháu làm bộ sợ quá, làm như hiểu chỗ ấy là chỗ nào, cháu lại kêu rống:

“Thôi tôi đi về, tôi sợ lắm, các ông kinh lắm, tôi sợ ông Tám Beo lắm!”, vừa nói cháu vừa chạy ra cửa. “Thôi, tôi cũng liều ra ngoài rừng đêm nay, cọp muốn ăn thịt thì ăn!”.

Tụi nó nghe cháu nói thế, rộ lên cười, thấy cháu ngơ ngơ ngác ngác, sợ hãi, tụi nó vỗ về bảo: “Oắt con, mày tưởng chừng ông ăn thịt mày hở? Nhặng xị cả lên, cho ngủ đây, mai cút về sớm”.

Một lúc sau, cháu không kêu khóc nữa giả vờ như đã quen quen, không sợ nữa. Tụi nó hỏi ở đâu đến,cháu kể đại tên một cái làng nghe lỏm được ở bên kia núi. Tụi nó hỏi có nghe dân cư bình phẩm tụi nó không? Cháu bảo nghe họ đồn ở đây toàn các vị hảo hán cả, vị tướng cai quản ở đây hình thù kinh dị lắm, đầu báo mình người, cháu bảo: “Tôi ước ao được xem ông Tám Beo, nhưng nghĩ thế, giá có nom thấy tôi đến chết khiếp”. Tụi nó nhìn cháu cười ồ cả lên, một thằng nói: “Vào đây, tao đưa mày đi xem ông Tám Beo”. Nó dắt cháu đến một cửa sổ, cháu đứng nấp ở xó tối nhìn vào gian phòng trong thắp đuốc, Tám Beo ngồi ở đó. Thằng này hình thù kỳ dị lắm chú ạ, dáng điệu nó như con beo, nó đang uống rượu với một mụ đàn bà. Con mụ này coi cũng dữ lắm, nhưng đẹp, hai đứa uống chung nhau một cái lọ sành, thằng cha uống trước con mụ uống sau.

Vương hổ tướng hỏi:

– Ở đấy tụi nó có độ bao nhiêu người, bao nhiêu súng?

– Úi chà! nhiều lắm, chú ạ, đông có lẽ gấp ba ở đây, gia đình, đầy tớ vô kể, đàn bà trẻ con, cũng nhiều, nó chạy đi  chạy lại lăng xăng, có nhiều đứa bằng cháu, cháu hỏi một thằng, bố nó đâu, nó bảo nó không biết, chúng nó không biết bố là ai, chỉ biết có mẹ. Cháu nghe lạ tai quá, tụi lính đứa nào cũng có súng, bọn đầy tớ có câu liêm, lưỡi liềm đoản đao và mấy thứ vũ khí cổ lỗ. Ở trên núi xung quanh sào huyệt của chúng có xếp những tảng đá lớn, tròn, phòng khi bị công hãm, tụi nó lăn đá xuống. Có một con đường nhỏ, độc đạo, rãi rác có lính gác. Khi cháu đi qua chỗ một anh lính gác, hắn nằm vật trên tảng đá ngủ mê mệt súng vứt một bên. Cháu đi sát bên cạnh nó, nó cũng không biết, nó ngáy to lắm, khẩu súng giá cháu phỗng đi cũng được nhưng cháu không dám, sợ tụi kia nó biết, nó đoán cháu đi dò la thám thính.

Chàng hỏi:

– Mày xem tụi lính có khoẻ mạnh cả không?

– Cũng khá, có thằng lớn, có thằng nhỏ. Cơm nước xong, chúng nó châu đầu vào nhau chuyện gẫu, không để ý đến cháu, cháu chơi với tụi trẻ, cháu để ý nghe tụi nó than phiền Tám Beo, tụi nó bảo nhau Tám Bao tham lam lắm, gấp năm vơ mười, bắt được gái đẹp, không chia sẻ cho ai, giữ chơi một mình, chơi chán chê cũng không buông thả cho người khác hưởng. Đáng lý cùng đồng bọn cả, có gì ngon lành phải chia đều cho anh em hưởng chung, nó tự cao tự đại mà bất quá nó xuất thân cũng là một anh bạch đinh, dân quèn chữ nghĩa mù tịt, kể anh em mình còn có người giỏi hơn nó nhiều.

Nghe câu đó, Vương hổ tướng, để ý suy nghĩ, thằng bé tiếp tục kể hết chuyện này sang chuyện khác, đã được ăn gì uống gì, ý nó muốn khoe khoang nó khôn ngoan tinh quái. Vương hổ tướng tai nghe, óc nghĩ khởi thảo kế hoạch, thằng bé kể đã hết chuyện, bây giờ nó chỉ lắp đi lắp lại mấy mẩu chuyện đã nói, cố moi trong óc còn sót chuyện gì thú vị để làm quà cho tụi lính, tụi này trố mắt, vểnh tai, thán phục thằng bé tài tình, hóm hỉnh.

Vương hổ tướng đứng dậy, ra lệnh thằng bé vào ngay nhà trong đi ngủ. Sáng đã trông rõ mặt người, bọn lính anh nào, việc nấy. Ngọn đuốc cháy đã gần tàn ngọn lửa chập chờn, yếu ớt trong ánh sáng bình minh.

Chàng đi thẳng vào gian phòng riêng, cho gọi bọn thủ hạ, tâm phúc, chàng nói: “Ta đã suy nghĩ, dự thảo kế hoạch có thể thực hiện được, không tốn một tên quân, một viên đạn, chúng mình cố tránh không nên giao phong, nếu giao phong với tụi nó là thất sách, quân số nó đông hơn mình gấp bội. Kế hoạch ta đem thi hành khác nào như người đánh rết.  Đánh dập đầu con rết, mấy hàng chân của nó sẽ bị tán loạn,mỗi chân một nơi, bất lực, vô hại. Bọn vô lại này ta đánh dập đầu thằng trùm, tụi lâu la sẽ bị tan rã.

Bọn lính hết sức kinh ngạc một việc quá ư táo bạo, trố mắt nhìn chủ tướng. Anh “chọc tiết heo” bô bô nói, giọng cục cằn, thô lỗ:

– Chủ tướng! nếu được thế thì hay lắm, nhưng làm sao bắt được con rết mà đòi đánh dập đầu nó?

Vương hổ tướng ung dung trả lời:

– Về điểm đó, ta đã nghĩ rồi, ta đã có phương pháp kế  hoạch hành động, các anh chỉ có phụ lực với ta để đem thựchiện. Chúng ta sẽ cải trang làm bọn anh hùng hảo hớn, chúng ta đến tìm lão Phủ và bảo với hắn bọn mình là giang hồ nghĩa hiệp, xin phục vụ dưới trướng, sung vào đội quân mật vụ, cảnh vệ, tình nguyện diệt trừ lũ Tám Beo. Hiện giờ hắn đang lo ngay ngáy địa vị hắn đang bị lung lay. Hắn sẽ hoan nghênh sự giải ách cứu nguy của bọn mình. Ta sẽ bày cho hắn dùng xảo kế nghị hòa với bọn vô lại, để tỏ tình than thiện mở đại yến cho mời Tám Beo và bọn thủ túc đến phó hội. Giữa bữa tiệc, lão Phủ chọn lúc nào cơ hội thuận tiện ra ám hiệu, giả vờ lỡ tay đánh rơi chén rượu, bọn mình nấp kín quanh đó nhẩy xổ vào tận diệt bọn cường bạo. Ta cho rải khắp tỉnh bọn lính để tỉa những bọn lâu la dư đảng của chúng, đứa nào không chịu quy thuận. Như thế, ta sẽ đánh dập đầu con rết, kế hoạch cũng không khó khăn gì lắm mà không thực hiện được.

Ba anh lính tâm phúc nghĩ như vậy cũng có lý, có cơ thành tựu, tỏ ý khâm phục, tán thành. Thầy trò còn bàn cãi thêm về mấy điểm thắc mắc về phương pháp hành động.

Vương hổ tướng cho bọn này ra và cho tập trung hết bọn thủ hạ ở gian chính điện. Chàng đề phòng cho mấy anh lính tâm phúc xem bọn sư có lảng vảng nghe ngóng gì không? Chàng  giải thích, vạch rõ, cho cả bọn thủ hạ hiểu chương trình hành động.

Bọn này nghe xong đồng thanh tán thưởng:

– Hoan hô! Hắc mi Hổ tướng!

– Hoan hô! Hắc mi Hổ tướng!

Đoạn ghi về họa sĩ Đinh Cường khi ngồi một mình trong Starbucks

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 26/06/2013

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

Họa sĩ Đinh Cường

Ở Montréal tìm không ra
chìm ngập cõi thâm u
những con đường đầy bóng lá
như Virginia như vùng Burke
có người-ngồi-cũ-kỹ
trầm mặc màu sắc lên men
tấm bố căng chùng những ý tưởng
thin thít nằm ngửa mình đón nhận
đường dao đặc biệt xẻ thịt cắt da
sơn dầu nặn ra trên palette
gió len cào thầm âm nghi hoặc
gửi tiếng còi tàu nghe vọng ở đâu xa
ở Bình Dương ở Đơn Dương?
Lăng Cô, Nam Ô, Nong, Truồi
hay vô tuốt xứ Huế
có Đại nội chiều vàng lẫn khuất
tiếng dương cầm xanh ẻo lã
từ trường Quốc gia âm nhạc
rót qua khuôn viên Cao đẳng Mỹ thuật
chen tiếng kèn đồng của một nhạc sinh
ngoài giờ vụng thổi bài Hạ Trắng
tựa đàn chim non réo bên vườn hoang

sau nhà là cánh rừng có bóng người mãi miết chạy bộ
như kẻ kiếm tìm thời gian đã đánh mất
những đóa Mẫu Đơn mới trồng
trông như chén kiểu thanh tao
ngọt chè đậu ngự thơm chè hạt sen
hay cơm với cá như mạ với con
đều chứa đựng được cả
mặt tiền ngoài kia có lối mòn băng qua chợ Giant
tất thảy xanh um phủ trùm
ngọc bích độ lượng màu khởi thủy
có phôi pha những gam quá khứ bạc lòng?
này nhân gian có nghe đời nghiêng

rồi sớm mai nào thẳng người xách nải chuối
mừng vì đã tránh được cơn giông [1]
tử thần ạ, tao không bằng lòng thế [2]
và trưa chiều nao mua chùm cherry cho con gái
kiếm chuyện mà đi nguôi cắc cớ bệnh tình
đưa đầu trần ôi “nước Mỹ mênh mông
quá rộng và quá buồn” [3]
những đoạn chú thích cần mẫn
hình thức chống cự mọi lãng quên
hay tân hình thức từ trái tim hối giục
ở Sáng Tạo Bắc Phong nói
chưa ai làm thơ về bè bạn nhiều như anh
bày rõ một tấm lòng nhân hậu
ừ thì trong Tự tình khúc
bạn anh cũng từng hát
“tôi như ngọn đèn từng đêm vơi cạn
lửa lên thắp một niềm riêng”
nói như Paul Klee
người danh họa anh thích
“tôi chỉ còn sống trong vùng kỉ niệm…”

cà phê Starbucks ở đây ráo hoảnh
bên kia biên giới uống đậm đà
khoảng sân mênh mông ít có xe đậu
làm kẻ lạc hậu vun quén khói thuốc trên tay
và lá reo và gió lùa cùng đôi ba con chim sẻ
đứng đợi người họa sĩ đọc xong tờ
Washington post đầu ngày
Sao, ra khu Eden làm tô xe lửa
hay ưa lang thang phố Georgetown trên DC?
DC có thể viết tắc từ Dạ Châu
tên cô con gái rượu dược sĩ của họa sĩ
thứ đốm sáng luôn ủ trong bóng tối
hay viên ngọc khoe sắc giữa màn đêm
chỉ đường tìm ra nơi giấu nỗi yên bình

vì chậm rãi bạn thân ưa đùa nghịch
sao ôn như nhà tu hành
pháp danh trịnh trọng Thích Từ Từ
ừ, cười hiền xác định chậm rãi
thành ngữ có câu dục tốc bất đạt, nhớ không

sống đây đôi khi tôi nhớ với quên
mỏi chân con đường Côte des neiges dốc đứng
cây lá chim chóc chốn này thưa vắng
đi dưới nắng mường tượng ra cổ tích
bức tranh phồn thịnh các gam xanh màu
nhốt chặt những thơ mộng hoàn chỉnh
giam cầm những ước mơ tỉ lệ vàng
bên dưới là chữ ký Đinh Cường quen thuộc

đôi khi ta phải nên chìm đắm vào hoang tưởng
đường về nhà sắp tới với vô thường
người họa sĩ hẳn đang ngồi nghe nhạc
từ độ chim thiêng hót lời mệnh bạc
từng giọt vô biên tôi chìm tiếng tăm…

Hồ Đình Nghiêm
24 tháng 6. Quebec’s National Day
Nguồn: Tác gửi thơ và ảnh



Đất nước

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 12/01/2015 

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

Nghe nói
đất nước không làm ra được
một cây đinh một con ốc vít

nghe “ngài” phó thủ tướng Đam nói
“nếu chúng ta không giáo dục
cho con cháu rưng rưng
khi hát quốc ca thì
đất nước không thể giàu mạnh”

lại nghe một “ngài” khác bảo
“nghề bán vé số có thu nhập cao”

rồi ông Hồng cục trưởng
cục bảo vệ thực vật cho hay
“khoai tây nhiễm độc của
Trung quốc vẫn an toàn”

ngứa miệng
chủ tịch nước Sang ho
“vấn đề chủ quyền
năm nay không xong thì năm tới
mười năm này không xong
thì mười năm sau”

rúng động
bàng hoàng
những viên đạn AK 47 khạc ra lửa
mang 12 người
đang sống chuyển sang từ trần
chẳng ai giáo dục cả
con cháu bọn thực dân
vẫn rưng rưng nhìn lá cờ
tam tài treo ngang nửa cột
báo chí có nhiều tờ
in trang bìa màu đen
niềm đau này quá lớn

họ nắm tay nhau
đứng giữa trời đêm lạnh
nước mắt lưng tròng
ngó xuống những cây viết
dồn từng ụ thấp cao
thắp sáng bằng vô vàn
những ánh nến vây bọc lung linh
cây viết là biểu tượng của tự do ngôn luận
của sáng tạo ngợi ca vẻ đẹp
và lên án cái xấu xa
giản dị thế
rưng rưng để hiểu thế

xin đất nước bớt nói lại
đất nước có sản xuất được cây viết nào không
đã hơn tháng ông Lập bị đất nước bắt
“xanh như đít nhái”
mặt đực như ngỗng ỉa” *
là nhân diện ai đeo?

đừng chia buồn nước Pháp
làm gì đất nước ạ
bởi nhân loại vẫn nghi ngờ
tính trung thực đất nước mang.

Hồ Đình Nghiêm

* chữ của nhà văn Nguyễn Quang Lập

Trần Huy Minh, trải nghiệm những hiện thực khác

vanviet.info

Claire Simon phỏng vấn

Trần Vũ chuyển ngữ

Gặp gỡ và trò chuyện 17 Tháng Mười, 2018

Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1979 tại Clamart, ngoại ô Paris, song thân Việt Nam, Trần Huy Minh trở về quê hương lần đầu rồi cho xuất bản tiểu thuyết La Princesse et le pêcheur (Công chúa và ngư phủ), nêu bật bi kịch của người Việt trong một xã hội tàn nhẫn mà lịch sử giẫm đạp không thương tiếc, trên nền truyện cổ tích dân gian. Công chúa và ngư phủ là một trong 3 tiểu thuyết bán chạy nhất trong năm 2007. Giải thưởng Prix Riviera, giải thưởng Tân truyện Prix Gironde Nouvelles Écritures, giải thưởng Prix Emmanuel Roblès, giải thưởng Ngũ châu lục Prix des Cinq Continents, giải thưởng Khám phá Tài năng Bourse de la Découverte de la Fondation Pierre de Monaco, vào chung khảo Giải Văn chương Toàn quốc cho tiểu thuyết đầu tay Prix Goncourt 2007… Trần Huy Minh hiện làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn (Magazine Littéraire), chủ biên chuyên đề Văn học Trung Hoa từ Khổng Tử đến Cao Hành Kiện, trong ban giám khảo tuyển chọn dự án phim truyện cho đài truyền hình ARTE France Cinéma, giữ mục chroniqueur cho nhiều tuần san, phụ trách chương trình tivi Lời của đêm (Mots de nuit). Tác phẩm thứ nhì: Le Lac né en une nuit et autres légendes du Vietnam (Mặt hồ sinh trong một đêm và những truyện kỳ khác của Việt Nam). [Trần Vũ]

Chưa bao giờ truyện cổ tích trống vắng chủ đích, hay không lột trần sự bất nhẫn. Qua nhân vật Nam, một thanh niên Việt tỵ nạn tại Pháp, cô gái kể chuyện tìm thấy hoàng tử của lòng mình. Họ kết bạn, gặp lại, tâm sự, tự tạo ra một lãnh địa bí mật. Nhưng điều gì đó trốn tránh những động tác tình yêu: Thanh niên điển trai xem thiếu nữ như em gái. Một thời gian sau, thiếu nữ theo cha mẹ về Việt Nam, lần trở về đầu tiên.

Hiện ra trước đôi mắt cô gái, sinh tại Pháp, được nuôi nấng, bảo dưỡng, tấm màn bấy lâu che kín đột ngột bị xé rách. Những bí mật lộ ra, những gặp gỡ phơi bày những thảm kịch mà người thân phải hứng chịu. Mà có thể Nam đã bỏ lại sau lưng… Công chúa và ngư phủ vẽ nên một Việt Nam đầy hiện thực, cấm san sẻ, một xứ sở vô hình mà Trần Huy Minh thụ tinh sự trinh trắng giả tạo, đầy gìn giữ, một xã hội che giấu nỗi buồn sâu thẳm. Tác giả thêm vào danh sách buồn bã, sự hiện diện của người bạn trai khó khăn tìm lại, chỉ vì Lịch sử đã giẫm lên đất nước này. Hay giản dị là thời gian. Bạo liệt hơn những câu chuyện cổ kể lại…

Giới thiệu của Nxb Actes Sud

Trao đổi với một tài năng văn chương

Chỉ vừa mới 27 tuổi, Trần Huy Minh giữ chức phó tổng biên tập nguyệt san Magazine Littéraire (Giai phẩm Văn). Sớm đắm say văn chương, cô viết những trang văn xuôi đầu tiên dưới mái trường trung học, trước khi lao vào nghiệp ký giả. Thiếu nữ mà hầu hết xem là niềm hy vọng trẻ đã quay trở về với tình yêu ban đầu: Cho xuất bản Công chúa và ngư phủ, một tiểu thuyết mang chính hình ảnh của tác giả: nhạy cảm, gây ngạc nhiên và thông minh…

Vóc dáng mảnh mai, váy đầm nhẹ nhàng với nụ cười trên môi, Trần Huy Minh tiếp chúng tôi trong phòng khách, ở một góc nhà có tủ sách bề thế. Cô giãi bày với đầy hào hứng, phân tích tinh diệu, vừa phơi trải lòng mình kín đáo trong một câu chuyện mà cô luân phiên sắm vai ký giả rồi nhà văn.

Claire Simon: Tập tiểu thuyết đầu tay này khá riêng tư và rất thành công, từ đâu xảy đến ý tưởng ‘‘nàng công chúa và chàng ngư phủ’’, và từ khi nào?

Trần Huy Minh: Nếu thao tác cú pháp đã chiếm của tôi một năm, mầm phôi tiểu thuyết đâm chồi vào những năm tôi hai mươi tuổi. Ý tưởng đến từ một mối tình đã diễn ra năm tôi tròn 15, qua một kỳ du ngoạn học ngoại ngữ, với một thanh niên từng là thuyền nhân. Tôi yêu anh, và rồi đánh mất anh; nhưng trong hoàn cảnh ít bi kịch hơn những gì tôi mô tả trong tiểu thuyết. Tôi bắt đầu viết về câu chuyện đã cứa lòng mình, khi ấy cấu trúc đã có sẵn, nhưng chưa nhiều tầng đọc tác phẩm, với khung gia đình làm nền chưa thật trầm trọng. Tuy vậy hầu hết phần số của những người trong gia đình đều có thật. Ông nội tôi và cụ cố đã thật sự bị thủ tiêu; chi tiết này quan trọng đối với tôi vì cần tái tạo chúng dưới góc độ thật. Ngược lại, những hoạt cảnh làm nên tình tiết giữa đôi tình nhân trẻ, là sản phẩm của trí tưởng, ngoại trừ chi tiết bấp bênh nhất: Cuộc gặp gỡ giữa tôi và Haruki Murakami.

Claire Simon: Có thể xem đây là tự truyện?

Trần Huy Minh: Với tôi, đây là cách nhìn lại tuổi dậy thì của mình. Michel Schneider tuyên bố phân tâm học không đủ sức chạm đến sự thật, nhưng cho một phiên bản khác hứng chịu được hiện thực, khả dĩ có thể chấp nhận.

Viết tự truyện, tôi nghĩ cũng là cách riêng tái tạo phiên bản về mối tình giữa mình và người thanh niên thuyền nhân, mà đối với tôi thời ấy, anh mang trong mình những nghi hoặc sâu thẳm nhất: Mối tương quan giữa con người với nguồn gốc, gia đình, và ký ức. Tình yêu không trọn của đôi tình nhân còn ném trả cả hai về quê hương Việt Nam mà một đã đánh mất, còn một không thể tìm thấy, vì cô gái chưa bao giờ đặt chân đến.

Nhìn một cách rộng hơn, tôi viết tiểu thuyết để tri ân Murakami, tri ân đặc biệt điều mà dân tộc Nhật gọi là ‘‘mono no aware’’, ‘‘nỗi đau thắt buồn bã của sự việc’’, nỗi đau biểu tỏ thứ tình cảm phủ kín lấy chúng ta khi cánh rừng thu trút lá, hay cái chết của một người thân sau một quãng đường dài… Tôi muốn Công chúa và ngư phủ khiến người đọc cảm thấy hoài niệm những gì từng hiện hữu mà đã mất.

Claire Simon: Cô gái kể chuyện gần như giao tiếp không mệt mỏi với văn chương và cảm phục sâu sắc các nhà văn, có phải cũng là trường hợp của chính tác giả? Khâm phục nhiều như vậy có cản trở khi phóng bút?

Trần Huy Minh: Khi bắt đầu đọc sách tôi chẳng hề nghĩ sẽ viết văn. Tôi chỉ muốn sống những hiện thực khác với thực tế mà tôi đang chứng kiến, mà tôi không thấy thỏa mãn. Rồi khi trở thành nỗi đam mê thực thụ, tôi đọc đến bịnh hoạn: ban đêm đến những giờ khuya khoắt nhất, trong lúc ăn, trong lúc đi đứng… Sau đó xảy đến ý nghĩ hãy làm một nhà văn, nhưng giữa ước mơ và toại nguyện, tưởng tượng mình đang làm tác giả tỷ giảo với những hệ lụy, còn hơn một chặng đường dài phải vượt qua…

Còn tùy thuộc vào tâm tính mình nữa, tôi có những người bạn tuy đọc nhiều vô cùng, nhưng lại tin họ không có điều gì đặc biệt để trình bày. Tôi, tôi ước ao từ rất lâu muốn biết mình có đủ khả năng xây dựng thành một tác phẩm, hoàn chỉnh những sự việc mà ngoài cuộc đời chỉ là những bản nháp vô giá trị. Tôi nghĩ chính sự khâm phục các nhà văn, sau cùng đã biến thành động cơ nhiều hơn một thắng hãm. Khi giúp tôi khám phá ý niệm của họ về thế giới, các nhà văn đã giúp tôi xây cất lấy thế giới của riêng mình.

Claire Simon: Cô còn chịu ảnh hưởng văn học nào khác, ngoài Haruki Murakami?

Trần Huy Minh: Murakami giữ vị trí quan trọng trong cuốn tiểu thuyết này, vì đối với tôi, nhà văn này gắn liền với tuổi trẻ, gắn liền với nhiệt huyết không thể cưỡng lại nhấc bổng mình lên khi mình còn niên thiếu, khi mình nghĩ thế giới đang mở ra cho mình, tất cả đều khả thể. Chuyến vi hành không khả dĩ và Phía nam biên giới phía tây mặt trời của Murakami, đối với tôi là hai tiểu thuyết hải đăng tỏa sáng cho tuổi trẻ. Năm tôi 20, tôi chuộng Fitzgerald ở khía cạnh lãng mạn, nhưng tất cả mọi người đều ưa Fitzgerald ở tuổi hai mươi! Về sau, tôi không nghĩ mình chịu ảnh hưởng một tác giả nào, tuy tôi đọc khá nhiều nhưng không tìm thấy đam mê tận cùng nào với một nhà văn. Từng đoạn văn hay những hình ảnh chiếm giật chỗ này, chỗ kia, đeo đuổi ám ảnh tôi đúng hơn. Như với Công chúa và ngư phủ chẳng hạn, tôi chứa trong đầu mình một cuốn sách mỏng, tưởng chừng không liên quan gì đến tiểu thuyết đang viết, cuốn Sự im lặng biển cả của Vercors. Chỉ vì Vercors sử dụng ẩn dụ này: ‘‘Biển thật yên tĩnh trên bề mặt, thật phẳng mượt, vậy mà đang diễn ra dưới lòng sâu cảnh ăn tươi nuốt sống giữa bầy thủy quái…’’ Khi viết, tôi mang ý niệm này, mà tôi muốn dùng một văn phong thật kềm hãm, tránh mọi xúc cảm, để càng làm bật ra thêm thảm kịch với những giằng xé ở vài nhân vật.

Claire Simon: Tập tiểu thuyết hình thành dần dần theo ngòi bút hay đã hoàn tất sẵn trong đầu tác giả?

Trần Huy Minh: Ngay cả khi chúng ta có một ý định khá rõ rệt về cấu trúc muốn áp dụng, có thể nêu bất kỳ lý lẽ nào, sẽ chẳng bao giờ diễn tiến như dự tính! Đã lên khung sườn khá nhiều chương, tôi nhận ra mình không bao giờ theo được dàn bài đã thiết lập trước. Tuy nhiên những gì tôi chủ đích, cuối cùng tôi đều có thể lồng vào được ở đoạn này, hay đoạn khác. Lúc hoàn tất, hầu như các tình tiết dự phóng biến mất nhiều hơn là chúng đã xuất hiện. Tôi dự trù rất nhiều hoạt cảnh khá ăn khớp trong đầu mình, nhưng khi viết ra lại gượng ép. Mà đáng lẽ chỉ nên ngầm gợi ý với độc giả là những cảnh ấy đã xảy ra. Do vậy, công việc lao động bản thảo còn là nghệ thuật sử dụng kiếm sắt quan trọng mà tác giả phải biết chặt đi những khúc thịt thừa của đứa con mình. Do cuốn sách không sinh ra một sớm chiều, nên tôi dùng lại các phiên bản cũ, cho phép nhiều giải pháp. Khởi hành trở lại trên cái nền của những văn bản cũ xưa, tạo ra sự hòa trộn giữa bản thể tôi ngày hôm qua với bản thể tôi bây giờ, khiến đôi khi khập khiễng, đôi khi thú vị.

Claire Simon: Cô đang làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn, chiếc cầu nối giữa ngành ký giả và ngành văn chương xây ra sao?

Trần Huy Minh: Điều mà trong nghề nhận ra trước tiên, là phải đào thải khá nhiều thói quen trong phong cách viết. Các ký giả thường xuyên lạm dụng một số công thức chuyển đoạn hầu viết nhanh. Hiển nhiên trong một cuốn sách, sự hợp lý nhất thời và sự hợp lý vĩnh cửu rất khác nhau. Cần rèn luyện nhiều mới có thể qua lại giữa hai bộ môn này, vừa gần, vừa rất xa. Đôi khi chúng tôi thấy như mình bị tâm thần… Khi chuyển thủ pháp ký giả sang thủ pháp văn chương, giống như chúng tôi đang làm một công việc trang hoàng bằng ngòi bút đột nhiên ngưng chữa lỗi mà phải chữa những thói tật. Do đã viết nhiều bản thảo trước đây, tôi không gặp nhiều vấn đề. Khó khăn nằm trong chính quan hệ giữa nhà văn với văn giới. Văn bản không được đọc cùng một cách, cho dù là những nhà văn yêu quý bạn, hay những nhà văn không ưa bạn chút nào.

Claire Simon: Vừa là nhà văn, vừa là ký giả, có thuận lợi hơn trong lĩnh vực truyền thông khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay?

Trần Huy Minh: Cho đến bây giờ, vị trí ký giả đã không giúp ích tôi nhiều. Ví dụ nhiều nhật trình năm nay, theo quy chế nghề nghiệp, quyết định không điểm tiểu thuyết do ký giả viết, nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc tuyển chọn, ngay cả khi rủi ro sẽ thành thiên vị thái quá trong chiều hướng ngược lại là có thật. Tất nhiên không có gì bi thảm. Trớ trêu là những người nhiệt tình hỗ trợ tôi lại là những người tôi không quen biết, hoặc quen biết mà ở ngoài giới phê bình-xuất bản-hội đoàn hay các hiệu sách.

Claire Simon: Dự tính tương lai của nhà văn?

Trần Huy Minh: Tôi vừa hoàn tất chương đầu của tiểu thuyết thứ nhì. Chủ đề hoàn toàn khác. Một câu chuyện phỉnh lừa tình yêu và nghệ thuật. Hiễn nhiên giảm tính chất tự truyện, tuy vẫn dựa trên các sự việc có thật: Một trò đánh tráo trong giới nhạc sư cổ điển từng làm trò cười cho dư luận. Nhà xuất bản Actes Sud cũng đã đề nghị tôi in tiếp theo một tập truyện cổ tích Việt Nam. Và tôi đã nhận lời.

Claire Simon thực hiện.

Trần Vũ chuyển ngữ từ bản Pháp văn “Vivre d’autres réalités” trên trang “Thời sự Văn học” của tuần san L’Événement (Sự kiện) số tháng 8-2007.

Văn học miền Nam 54-75 Phan Nhật Nam (kỳ 2)

Văn học Miền Nam 54-75 22 Tháng Tư, 2018

Gặp lại Phan Nhật Nam trên quốc lộ 1

Trần Vũ thực hiện

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.

Tôi gặp Phan Nhật Nam lần đầu tiên khi nhà văn từ chiến trường trở về Sàigòn năm 1973. Khi ấy tôi hãy còn là một độc giả thiếu nhi, khám phá anh đội nón đỏ, quân phục huyết dụ. Lần thứ nhì cách đây bốn năm tại Washington DC, Phan Nhật Nam mang giọng nói sôi nổi của một xứ Quảng hãy còn lửa cháy. Lần gặp thứ ba, trên trang giấy này, tôi quyết định hỏi tất cả những gì đã chất chứa trong đầu mình, từ buổi sáng tổng thống Thiệu tuyên bố Hòa Bình trên đài phát thanh, ký kết hiệp định ngừng bắn, cho đến bây giờ gần 34 năm sau bại trận, những câu hỏi vẫn bám lấy, không rời, từ buổi sáng 30 tháng 4 chứng kiến những người lính tháo vội vã nón sắt, áo giáp, vất tung thẻ bài, chạy vào hẻm chật. Buổi sáng của tuyệt vọng.

Buổi sáng 30 tháng 4 tương khắc với Mùa hè đỏ lửa, tương khắc với tính chất bi hùng trong ký Phan Nhật Nam. Lần gặp này, tôi muốn anh trả lời.

Trần Vũ: Tôi không còn nhớ rõ ngày tháng, thời gian, nhưng vẫn nhớ buổi sáng theo cha đến khách sạn Continental dự buổi ra mắt sách của Phan Nhật Nam. Dường như là một trong những buổi ra mắt sách đầu tiên ở miền Nam khi ấy. Buổi sáng đó tôi đã trông thấy anh lần đầu tiên. Kể từ hôm đó, những ngày sau, tôi sống với anh cho đến bây giờ. Đúng hơn, tôi sống với những người lính Cộng Hòa trong tác phẩm của anh đến tận bây giờ. Hôm đó, Phan Nhật Nam để lại ấn tượng lớn lao trong lòng thầy tôi, cha tôi đã tin vào anh, vào quân lực miền Nam. Ông chưa biết ông sẽ chết vì niềm tin này. Cha tôi mua bút ký của anh đem về, và tôi khám phá chiến tranh, thứ chiến tranh thực sự ở ngoài chiến trường trên những trang sách của anh. Anh còn nhớ gì ngày hôm ấy? Có phải anh cũng đã tin như vậy, chúng ta không thể bại trận? Tại sao anh ra mắt sách, vì muốn đánh thức Sàigòn ra khỏi giấc mơ hoa lệ phù phiếm, cảnh cáo chiến tranh đã gần kề ngay cửa ngõ thành phố, hay vì vinh quang của văn chương? Hay anh đã muốn ru ngủ chúng tôi, những người dân ở thị thành, hãy tiếp tục tin vào sức mạnh của quân lực đang bảo vệ an nguy của thủ đô?

Phan Nhật Nam: Chúng ta bắt đầu câu chuyện với tư thế bình đẳng, “Người Bạn – Bằng hữu – Ngang bằng nhau qua tất cả mọi khía cạnh”. Tôi không hề là “đàn anh” đối với bất cứ ai, cho dẫu lớn hơn hai-mươi, ba-mươi tuổi so với người đối thoại, giao tiếp. Năm 1965, giữ nhiệm vụ đại đội trưởng một đại đội lính nhảy dù, đứng trước hàng quân, tôi đã có lời thành thật: “Tôi nói gì các ông gắng nghe lời tôi, đừng đi phép về trễ, hành quân mang đủ cấp số đạn, lựu đạn… Còn các ông muốn chưởi tôi trong bụng thì cứ việc…” Vào buổi hành quân, lính trong tổ chỉ huy ăn gì, tôi ăn như họ, đêm đến quấn chiếc poncho ngủ trên ổ rơm bên cạnh mấy người lính mang máy truyền tin đủ là một điều an lành, hạnh phúc.. Mấy ông bạn đại đội trưởng cùng đơn vị đánh giá tôi: “Mầy không biết làm lính sợ, thiếu uy tín, tác phong chỉ huy…” Và quả thật tôi không muốn ai “sợ mình”; “Có uy tín chỉ huy hay không” cũng không là điều đáng quan tâm. Đối với “nghề quân đội” còn như thế, vậy việc văn chương tôi nào dám làm đàn anh, thần tượng “gây lòng tin” cho ai được. Ra mắt sách để dự mưu, tính chuyện nầy nọ làm gì.. Với ai? Chỉ vì người bạn vong niên, nhà văn Chu Tử Chu Văn Bình muốn làm chung một buổi giới thiệu Cơ sở văn hóa Đất Sống do ông và những người bạn cùng chủ trương, lo việc tổ chức. Và cũng là một điềm báo trước, đấy là buổi ra mắt sách đầu tiên và cuối cùng của miền Nam với “Tù Binh và Hòa Bình – Tình trạng (thật) của sau 30/4/1975”, trong đó có những câu khẳng định: “Khẩu hiệu ‘Sinh Bắc-Tử Nam’ không phải là một khẩu hiệu ‘kích động chiến thuật’ nhưng là một ‘chỉ đạo chiến lược’ để hoàn tất cuộc xích hóa Miền Nam… Trận chiến cuối cùng là giữa chúng ta với những sư đoàn bộ binh cộng sản Miền Bắc qua tấm đệm ‘Mặt-trận – Mặt trận giải phóng Miền Nam’… Hình như cả thế giới, một số đông cả thế giới không nhìn được âm mưu ghê tởm độc hại nầy – Nhưng cũng là một âm mưu rất rõ mặt.” (Tù Binh và Hòa Bình, nxb Hiện Đại, Sàigòn 1974; bản photocopy nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ 1976, trg 244). Còn nhiều nội dung có tính “tiên tri” rất chính xác (đối với hiện tại) khác nữa, v.v… Nhưng tôi không hề là “nhà văn”, giới văn nghệ, viết văn, làm báo của Sàigòn những năm ấy không xếp tôi vào hàng ngũ của họ. Họ có những sinh hoạt riêng, lính tráng chúng tôi không liên hệ. Ở hải ngoại nầy, hôm nay cũng vậy, dẫu chúng tôi từ lâu không mặc áo lính. Trước sau, tôi chỉ là một “Người Lính-Viết Văn” – Điều nầy, đã giãi bày thật tình trong những cuốn sách đầu tiên Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1… Nên chẳng phải hôm nay mà bốn-mươi năm trước (1968) khi bắt đầu cầm bút, tôi đã viết thành lời: “Chẳng có ai là thần tượng của tôi…” Nhưng bản thân không hề là kẻ cực đoan, vô chính phủ, nổi loạn không duyên cớ. Tôi là quân nhân chuyên nghiệp – Biết tuân lệnh và ra lệnh cho người khác – Chỉ số Chuyên nghiệp Quân sự 240.7, tức chỉ huy một đơn vị bộ binh tác chiến.

Ông cụ của bạn và bạn có “lòng tin” đối với chữ nghĩa của tôi như thế là tốt lành rồi. Tôi không đặt cho mình nhiệm vụ gì khác hơn là: Nói về Sự Thật mà không hiểu tại sao nhiều người (rất nhiều người) năng lực tri thức hơn tôi, chức vụ lớn hơn, bằng cấp cao hơn, kể cả lớn tuổi đời hơn nhưng họ không thấy ra… Ví dụ như vấn đề cộng sản – Cộng Sản Việt Nam – Đọc lại những báo Đối Diện, Trình Bày năm 1973, 1974 kia thì sẽ thấy… Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Nguyễn Văn Trung, các linh mục Nguyễn Viết Khai, Chân Tín, Ngọc Lan (trước 1975) viết, nói những gì… Tại sao có thể nhận định sai lầm và nông cạn như thế đối với cộng sản? Lẽ tất nhiên, tôi cũng chưa một lần viết xuống nửa chữ: Tổng thống anh minh Nguyễn… Tóm lại, tôi không tin vào “sức mạnh” của quân đội và chuyển giao lòng tin nầy cho ai, nhưng tôi tin vào “Lý Chính Nghĩa” cuộc chiến đấu chung của toàn Miền Nam – Dẫu hôm nay là ba-mươi ba năm sau ngày 30/4/1975 – Và khi nguyên lý cao thượng nầy bị chà đạp, vất bỏ, Người Miền Nam nói riêng, cả nước nói chung tiếp hiện thực qua lần vượt biên/ vượt biển/ vượt chết không hề có trong lịch sử cổ kim nhân loại. Có thể do từ tính xã kỷ tự nhiên của người quen chịu đựng Khổ Nạn, không một ai trong tập thể người lính nói về tình thế, cảnh huống của riêng mình (trong chung cuộc chiến đấu của Người Việt), tôi tự nguyện thực hiện phần hành “không được bù trừ nầy…” Đấy là giai đoạn của Dấu binh lửa, Dọc đường số 1, Dựa lưng nỗi chết, Mùa hè đỏ lửa… khi mới qua tuổi hai-mươi với tư thế người lính tác chiến thực thụ sau ngày ra trường Đà Lạt, tháng 11/1963.

Trần Vũ: Ở thời điểm ra mắt sách, tình hình chiến sự miền Nam có thật sáng sủa như đôi mắt tin tưởng của Phan Nhật Nam khi ấy? Tin tưởng vào hòa bình sắp đến, tin tưởng vào những cam kết của Nixon? Hay anh tự đánh lừa mình, đánh lừa chúng tôi, hay Phan Nhật Nam cũng bị Cục Tâm Lý Chiến lường gạt? Các tập bút ký ghi lại nhiều chiến thắng của Quân lực VNCH, mà ngay cả khi thất bại, như trong trận Đồng Xoài hay khi bị tràn ngập trên đồi Charlie, đều được mô tả dưới góc độ bi hùng. Nhưng anh không nhắc đến trận Ấp Bắc và không nói đến Hạ Lào.

Phan Nhật Nam: Bạn nhận định tôi hơi quá đáng và không chính xác. Tôi tin tưởng vào “Hòa bình sắp tới… Lời cam kết của Nixon..” như thế nào, ở đâu? Lẽ tất nhiên, thuở ấy (1973, 1974…) tôi không đủ chín chắn, kinh nghiệm, khôn ngoan (hơn chính mình) của hôm nay (khi đã qua tuổi 60) được đọc hồ sơ giải mật của bộ ngoại giao Mỹ, qua đó Kissinger đã nhân danh tổng thống Nixon, cam kết với Chu Ân Lai từ tháng 7/1971: Mỹ Không bao giờ trở lại Việt Nam. Năm tháng sau, tổng thống Mỹ mới gởi những thư cam kết đến ông Thiệu (!). Nhưng ít ra lúc ấy, tôi đã viết nên lời, đấy là: “Một Hòa Bình ngụy danh… Toàn thế giới đồng hân hoan chúc tụng trên bàn tiệc máu Việt Nam… Không một ai trong chúng ta xác định được Hoà Bình (luôn viết hoa) đã có. Vâng, Hòa Bình (vẫn viết hoa) chỉ tới với một văn kiện, trên bàn giấy an lành ở thủ đô Ba-lê, trong đáy cốc…” Viết như thế, gặp thẳng mặt người Việt Cộng tại bàn hội nghị nơi Tân Sơn Nhất, nghe tận tai những lời “Nếu một vị đại tá Thọ nào đấy của quý vị bị bắt ở mặt trận Nam Lào thì ‘có lẽ’ do quân đội Giải Phóng Lào bắt giữ… Chúng tôi sẽ liên lạc với Quân Giải Phóng Lào để thông báo đến quý vị trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc…” trong khi bản thân đã chụp được hình của đại tá Thọ (lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù, bị bắt ở mặt trận Hạ Lào, tháng 2/1971) trên đường giải ra Bắc trong tập báo Ảnh Việt Nam! Biết như thế, viết như thế làm sao mà tin được vào “hòa bình ─ Không đủ ‘gan lì’ để viết hoa được nữa” hở người bạn trẻ?

Còn Cục Tâm Lý Chiến là nơi đâu, tác động gì trong những nội dung tôi đã viết… Nếu có bước vào nơi chốn ấy vì đấy là tòa soạn báo Diều Hâu, nơi những huynh trưởng thân hữu, chiến hữu tập họp… Ít nhất, những người chỉ huy TC/CTCT/QL/VNCH (bao gồm Cục An Ninh Quân Đội) cũng có được sự dễ dàng nầy, chứ ở Hà Nội trước 1975, hay hiện nay nơi Sàigòn (đổi tên thành TP.HCM) thì đừng có hòng, tan thân ngay! Và không ai đem sinh mạng bản thân và gia đình để đánh đổi bởi một “sự (tự) lừa dối trong chữ nghĩa”… Hay bạn đã có ý nghĩ: Tôi “đã chọn lựa” ở lại Sàigòn sau 30/4/75 để (vô tình hay hữu ý) hiện thực “sự tự đánh lừa ‘một cách thành thật’ qua chữ nghĩa của mình” nên lâm vào thế kẹt do tự thân giăng ra? Không đâu. Tôi không đủ sức để liều lĩnh như thế với mạng sống của vợ con. Nhưng quả thật, tối 28 rạng 29/4/75 tôi có mặt và phụ trách việc đưa người lên phi cơ trong cơ quan DAO, nếu quyết tâm ra đi do ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân thì tôi đã lên trực thăng CH46 của TQLC Mỹ ra hạm đội 7… Sáng 29, tôi đứng trước Tử Sĩ Đường Không Quân, phi trường Tân Sơn Nhất, bên hông trại Trần Quý Mại (tiểu đoàn 8 Dù) nhìn lên trời, chụp hình chiếc phi cơ AC-119 Hỏa Long của trung úy Nguyễn Văn Thành (thiếu sinh quân “Thành mọi”) cháy trên trời xanh với chiếc dù của Thành mắc nơi cánh… Tôi vẫn có thể đi theo bộ tư lệnh Sư đoàn Dù ra bến tàu. Nhưng sự việc ở lại có một nguyên cớ quyết định sâu xa, kỳ lạ khác (hoàn toàn không có tính chính trị, giải thích bởi luận lý thông thường). Bạn đọc Crime et Châtiment, đoạn Raskolnikov giết xong mụ cầm đồ Alyona, chạy ra cầu sông Neva, nhớ lại “phút bất ngờ” ngày hôm trước khi anh ta qua Chợ Hàng Rơm nghe ra chi tiết, “cô em Lizaveta ‘sẽ vắng mặt’ ở phút giây ‘định mạng chết người ấy’” thì hiểu ra tình thế, tâm cảnh của tôi với những phản ứng “không thể nào lường, không thể giải thích” tại mỗi giây, phút của trước, sau 30/4/75. Nhưng tôi không hề “ân hận than trách” về quyết định chết người ấy. Cũng bởi bây giờ thì đã “thấm hiểu” ─ Tất cả đã được báo trước từ 1946 tự giấc mơ đầu đời (vẫn luôn nhớ/sống cùng hiện tại); trong Lời dẫn nhập của Dấu Binh Lửa, viết năm 1968: “…Những giấc mơ hôm nay thường dẫn đến chủ đề NƯỚC… Tôi bị ‘mắc kẹt trong nước’ của cống rãnh..’” hoặc hiện thực ngay trong tên họ: Phan Nhật Nam = Phạm Nhân Nan = Phạm Nan Nhất. Trung úy thực thụ từ tháng 6/1965 sau trận Đồng Xoài, đến 1975 mới được cấp bậc đại úy nhiệm chức thì làm gì phải đi tù đến 14 năm, chuyên ở phòng cấm cố tử hình! Giờ lại bị những kẻ bá vơ vô lại nào đó không một ngày chiến trận, không hề chịu một giờ, khắc tù tội, không một chút kinh nghiệm với cộng sản… nơi vùng Nam Cali, nước Mỹ qua những đài phát thanh, báo quảng cáo địa phương, trên hệ thống Net cáo buộc gán cho tiếng “cộng sản nằm vùng”! Như thế là thế nào… Nhưng cũng không hề gì, đã qua khỏi tuổi 60 thì mọi chuyện coi như “thuận nhĩ”. Tôi không theo cách ai khác hơn từ ông niên trưởng – nhà văn rất mực thuần lương – Doãn Quốc Sỹ, điển hình Kẻ Sĩ cuối cùng của thời mạt pháp nầy.  

Nhưng nếu cho “làm lại”, thì tôi cũng sẽ sống như thế/viết như thế. Nguyên tắc tình báo có “tính xác xuất” là: Giữa muôn ngàn nguồn tin – hai nguồn tin giống nhau, PHẢI là nguồn tin THẬT – Cũng thế, Chân-Thiện-Mỹ chỉ có MỘT. Tôi cũng sẽ viết lại trận Đồng Xoài (11/6/1965) của tiểu đoàn 7 Dù với hậu quả 14 sĩ quan từ tiểu đoàn trưởng đến trung đội trưởng tử trận, phần còn lại số bị thương, bị bắt làm tù binh. Năm đại đội trưởng còn lại mỗi đại úy Lê Văn Phát, đại đội trưởng 74. Tôi sống được là do “hên”, bị thương trước khi tiểu đoàn vào trận. Trận Tây Nguyên năm 1972 cũng sẽ viết lại chính xác hơn để kể về sức chiến đấu thần kỳ của lính nhảy dù Miền Nam. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù do Trần Công Hạnh (khóa 20 Đà Lạt) chỉ huy, một thân giữ vững cao điểm Delta đánh bật Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng, thành lập từ 1951, đơn vị nổi danh của bộ đội miền Bắc), dẫu trung đoàn nầy đã đánh vào đến bộ chỉ huy tiểu đoàn (30/3/1972), nhưng Hạnh quyết định gọi phi pháo đánh trùm lên căn cứ, cùng các đại đội trưởng tài trí dũng cảm tổ chức lại đội hình phản công. Hạnh cũng đã thực hiện tương tự một lần như thế ở mặt trận Hạ Lào, tháng 2/1971, khi đưa đơn vị rút ra khỏi Đồi 30 dẫu khi ấy chỉ mang cấp đại úy, chức vụ sĩ quan hành quân. Rút kinh nghiệm thất bại về trận đánh căn cứ Delta với tiểu đoàn 2, thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, tư lệnh mặt trận B3 điều động trung đoàn 64, tăng cường hai tiểu đoàn của trung đoàn 48, hiệp đồng đánh chiếm cao điểm Charlie do tiểu đoàn 11 Dù trấn giữ… Hệ thống trận địa quanh căn cứ Charlie mỗi cao độ chỉ do cấp đại đội với quân số cơ hữu dưới 100 người phải chống cự những đợt tấn công cấp trung đoàn cộng gồm 6 tiểu đoàn (mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội tác chiến) dưới quyền chỉ huy của Khuất Duy Tiến, trung đoàn trưởng trung đoàn 64 – đơn vị đánh trận Hạ Lào, từng đối mặt với lực lượng nhảy dù. Tương quan quân số trận đánh Charlie như thế là “1 chống 6”. Khi tấn công mỗi cứ điểm, tỷ lệ nầy tăng lên, 1 (đại đội ND) chống 8 (hai tiểu đoàn CS); hoặc 1 chống 12 (ba tiểu đoàn CS). Tất cả chi tiết chiến thuật nầy do thượng tướng Đặng Vũ Hiệp kể lại trong Ký ức Tây Nguyên, nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội 2002, trg 236-244. Trong Từ điển Bách khoa Quân sự, nxb QĐND, Hà Nội 2004, phần chiến sử năm 1972 của Sư đoàn 320 không được kể ra. Sáng 30 tháng 4, 1975 những người chiến đấu cuối cùng trên cầu Sàigòn không ai khác là những người lính của đơn vị đầu đời, tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919, do người bạn cùng khóa, trung tá Nguyễn Lô, danh hiệu truyền tin “Sông Lô” chỉ huy. Cùng lúc, khi Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, tôi đứng ở đường Lê Văn Duyệt trước trại Nguyễn Trung Hiếu, tiểu đoàn 1 Dù với Trần Công Hạnh, tiểu đoàn trưởng đơn vị vừa kể bên trên. Với những người, đơn vị kiên cường như thế, những người bạn dũng lược như thế, những người lính xã kỷ như thế… tôi có thể viết như thế nào khác.

Mùa hè 1965, mặt trận Tây Nguyên bùng vỡ, thiếu tá Schwarzkopf (đại tướng tư lệnh chiến dịch Bão Sa mạc tại Iraq 1991) cố vấn cạnh trung tá Ngô Quang Trưởng, tham mưu trưởng lữ đoàn Dù (đến cuối năm mới nâng cấp thành sư đoàn). Cấp bậc thiếu tá, nhiệm vụ cố vấn không phải phụ trách việc cứu trợ thương binh, nhưng ông đã cùng y tá tiểu đoàn 3 Dù dìu một thương binh ra khỏi trận địa pháo kích nơi trại Lực lượng đặc biệt Đức Cơ – hình do Peter Arnett (Associated Press) chụp. Arnett không phải là người ưu ái hỗ trợ cuộc chiến đấu của QLVNCH, thiếu tá cố vấn Schwarzkopf hẳn không thể căng thân đi cứu một người lính cấp hàng binh của một đơn vị kém cỏi, tầm thường. Phải thấy sức chiến đấu của lính nhảy dù Việt Nam ra sao mới hiểu được mối động lòng cảm phục từ người chiến hữu Đồng Minh trung trực kia vậy. Tôi tiếc đã không viết đầy đủ hơn, chi tiết hơn về những trận đánh nơi Miền Nam trước 1975 của những chiến hữu, đơn vị thiết thân.

Trận Ấp Bắc cuối 1962, đầu 1963 tôi chưa ra trường; trận Hạ Lào (2/1971), tôi chuyển đi làm sĩ quan văn phòng ở tiểu khu Bà Rịa (Phước Tuy). Chiến dịch nầy quá lớn nếu có trình bày cũng không thể viết dưới dạng bút ký – phải viết theo cách nghiên cứu, liệt kê tài liệu quân sự. Bernard Fall không thể viết Un coin d’enfer theo kỹ thuật lịch sử tiểu thuyết như La Quán Trung kể trận Xích Bích với Chu Du, Khổng Minh… nhưng sau nầy, cũng đã có Phan Hội Yên (tiểu đoàn 3 Dù) kể trận đánh Đồi 30, Phạm Văn Tiền (tiểu đoàn 2 TQLC) nói về lần triệt thoái tàn khốc khỏi căn cứ Delta của Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến VNCH trong trận chiến Hạ Lào. Hai người bạn nầy không phải là cây viết chuyên nghiệp, nhưng diễn tiến chiến trường họ viết ra chính xác và hay hơn bất cứ chuyện kể (về chiến trận) nào của người miền Bắc như Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh; Nguyễn Tri Huân, Tháng Ba 1975 Họ đã sống như thế… Văn phong và cách đặt tiêu đề thôi cũng thấy hơi hám của “Thép đã tôi thế đấy” của Liên-Xô. Tiểu thuyết Nga vĩ đại do đã dựng nên những nhân vật tiểu thuyết đặc trưng bởi Dostoievsky, Tolstoy chứ đâu từ anh trẻ tuổi Pavel làm cách mạng xã hội chủ nghĩa với chân trần đứng xúc tuyết. Tìm đâu ra trong chiến tranh miền Nam một du kích ở Quảng Ngãi chỉ với vũ khí tự chế bắn hạ máy bay trực thăng, đánh tan một đại đội bộ binh Mỹ như trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm? Và tìm đâu trong thực tế mà tiểu thuyết được quảng bá rùm beng của Bảo Ninh đã mô tả về “thằng giặc Mỹ xâm lược bạo tàn” sau hiệp định Paris 1973; “thằng ngụy dù” với chiếc nón đỏ mắc ở cầu vai khi đi hành quân! Người thường trực sống, chết nơi chiến trường (lại là chiến trường Việt Nam với máu xương của chính mình, đồng đội, đồng bào, kể cả đối phương cùng màu da, sắc tộc) đọc những nội dung tuyên truyền tầm phào nầy không khỏi đỏ mặt vì ngượng, thấy mình bị coi thường, đánh lừa bởi những kẻ ngây ngô, thô thiển. Lính biệt kích miền Nam hoạt động nhảy toán phải áp dụng một tiêu lệnh tối thượng: Tuyệt đối tránh đụng độ / Xóa sạch dấu tích, sinh hoạt / hiện diện… Thế thì làm sao lại đi hiếp dâm, cắt đầu vú, vạch nát cửa mình nữ bộ đội trên đường giây giao liên như trong Tiểu thuyết Vô đề Dương Thu Hương đã mô tả? Thế nên, vì không muốn phải mang lỗi viết dối nên tôi không viết về Ấp Bắc, Hạ Lào như đã sống – Chỉ có thể viết về những chiến trận nầy như đã đọc mà thôi nên đã viết tiểu luận quân sự Hạ Lào… Quá xa (2002). Trong tinh thần nầy, tôi cũng đã hoàn tất được một phần của tập Chiến sử (1954-1975) dự trù, nhưng phải bỏ dở…

Có một chi tiết về chiến tranh Việt Nam mà không một ai để ý viết ra, nói đến: Phía bộ đội cộng sản không hề bắt được một tù binh Mỹ thuộc quân chủng bộ binh, binh chủng thiết giáp, pháo binh (những đơn vị yểm trợ quân bộ chiến) chứ đừng nói TQLC, Nhảy dù, Lực lượng đặc biệt Mỹ – 519 cộng với 10 người bị bắt ở mặt trận Lào, người trả tại Hà Nội thuần là phi hành đoàn Mỹ và vài nhân viên phi hành các nước ngoài (Thái, Phi Luật Tân…) tháp tùng các phi vụ B52. Phía cộng sản nhận về: 26,508 người (danh sách tiên khởi; bổ túc lên 26,750 cuối tháng 3/1973); VNCH nhận: 5081. Những số liệu nầy do Tiểu ban Tù binh/Ban Liên hợp Quân sự/VNCH (bản thân cá nhân là thành viên trung ương mang danh số #41) đúc kết, thiết lập kế hoạch trao trả, và thực hiện trao trả khắp các địa điểm từ Năm Căn đến Hà Nội. (Tù binh và Hòa bình, trg 166-167)

Số hiệu cụ thể về tù binh mỗi bên đã chỉ cho thấy: Chiến tranh chống Mỹ là gì? Ở đâu? “Ai thắng Ai” trong mặt trận quân sự.               

Trần Vũ: Giống hầu hết các thiếu niên thành thị, tôi không biết miền Nam đang chiến tranh. Thủ đô Sàigòn với đường Nguyễn Du êm dịu, đường Duy Tân thơ mộng, đại lộ Nguyễn Huệ thênh thang, đại lộ Lê Lợi sầm uất, đánh lừa tôi là đất nước rất yên bình. Dạo đó tôi đã bắt đầu say mê chiến tranh, những trận đánh của Rommel, Hoth, Kesselring, Guderian, von Kleist, von Manstein của tủ sách Adolf Hitler của nhà xuất bản Sông Kiên, các hồi ký Thái Bình Dương của Saburo Sakai, Tameichi Hara… Phải đến Phan Nhật Nam, phải sau khi đọc Dọc đường số 1, Dấu binh lửa, Mùa hè đỏ lửa, tôi mới bất chợt khám phá chiến tranh ở Long Thành, ở Trảng Bom, ở Dầu Tiếng, ở đồn điền Xa Cam cách nơi mình sinh sống không đầy trăm cây số. Hơn một khám phá chiến tranh, tôi khám phá chân dung của người lính Cộng Hòa mà tôi thực sự tin vào những điều anh viết. Chân dung của người lính miền Nam, cao cả, bình lặng, bi tráng trên một đất nước điêu linh, trầm thống. Và người lính đó với 50 ký lô xương thịt, với tất cả bất công của cuộc chiến, cong oằn xuống dưới sức nặng của 35 ký đạn dược, chăn mùng mền, thực phẩm đã tồn tại như một phép lạ nhiệm mầu. Tôi chỉ lập lại những điều anh viết. Hôm nay, đã bại trận, anh còn tin vào những điều mình đã viết? Có thật nhiệm mầu, khi nhiệm mầu không xảy ra, đã chấm dứt. Anh có cường điệu, đã tô vẽ thái quá hình ảnh của người lính Cộng Hòa hay không? Và phẩm chất tác chiến của người lính Cộng Hòa có thật sự như anh viết trong bút ký? Tôi muốn một câu trả lời thật.

Phan Nhật Nam: Không điều gì phải cường điệu, hoặc nói quá nếu sự thật không phải là như thế, chỉ sợ không đủ tư cách, khả năng, bản lĩnh để nói về Sự Thật (dẫu đau lòng cay nghiệt) ấy mà thôi. Tôi không hề viết về “những anh lính hào hoa, viết thơ cho người yêu trên ba-lô, dưới ánh trăng, gắn hoa lên đầu nòng súng…” như cách mô tả trong văn chương, âm nhạc đại chúng miền Nam; hoặc “đường ra trận mùa nầy đẹp lắm.. Bác cùng chúng cháu hành quân..” của văn công ngoài Bắc. Tôi viết về hạ sĩ Toản mang máy truyền tin đại đội phải đào ngũ vì gia đình ngoài Trung lâm cùng cảnh tan tác; binh nhất Huệ tự tử khi đứng gác do buồn phiền chuyện người vợ… Nhưng chính những người lính gầy gò, khắc khổ, phải tình cảnh tội nghiệp kia của sáu tiểu đoàn nhảy dù đã đánh trận Đồi 1062, tại Thường Đức, Quảng Nam với cách thức cá nhân tác chiến, cắn từng bụi cỏ, bám đá núi để xông lên cận chiến chiếm mục tiêu đối phương cố thủ từ tháng 8/1974. Những mục tiêu được phòng thủ cực độ vững chắc với thân cây rừng đặt sâu trong lòng núi mà bom và pháo binh không thể phá hủy được. Đánh từ tháng 8 đến tháng 11, mất đi, chiếm lại từng thước đất, đã có lúc bị trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 CSBV dùng hỏa công thiêu đốt như trận đánh ngày 29/10/74. Chiếm lĩnh, kiểm soát được toàn bộ các cao độ 1235, 1062 quanh quận Thường Đức để rồi tháng 3-1975 được lệnh rời bỏ những vị trí đã đánh đổi bởi mạng sống của bao đồng đội, máu của bản thân… Lính rút ra quận Đại Lộc, cởi đôi giày, chiếc vớ kéo theo lớp da chân từ bao ngày bó chặt! Hãy nhớ, lính và sĩ quan những đơn vị tổng trừ bị (Dù, TQLC, Biệt Động); kể cả những sư đoàn diện địa như Sư đoàn 1 Bộ Binh (Trị-Thiên); các đại đội thám sát tỉnh… phần đông nếu không nói hầu hết là lính tình nguyện. Ở trường Thủ Đức, sĩ quan mãn khóa phải giành nhau chỗ về Nhảy dù, TQLC; sĩ quan thủ khoa các khóa 16, 18, 19, 20 Đà Lạt đồng chọn đơn vị tổng trừ bị. Phải thấy cảnh tượng đoàn xe GMC đậu ở Ngã Sáu Sàigòn (bùng binh tượng Phù Đổng thiên vương) trong suốt năm 1972 thay phiên nhau đưa sinh viên các phân khoa đại học Sàigòn tình nguyện nhập ngũ về Quân vụ Thị trấn (trại Lê Văn Duyệt); gia đình phần đông không được họ thông báo về quyết định tình nguyện nhận nhiệm vụ nguy nan của người lính ─ Nguy nan chết người chứ không như sách báo, thi ca, âm nhạc tô vẽ… Sĩ quan đại đội 94/Tiểu đoàn 9 Dù chỉ trong một đêm giao thừa Mậu Thân 68 đã đồng loạt tử trận tại tuyến chiến đấu nơi khu nhà thờ Tri Bưu Quảng Trị; đơn vị chỉ còn lại một chuẩn úy mới ra trường Thủ Đức do đi phép về tiền trạm đóng ở Huế ăn Tết, và trung úy Tâm đi phép Sàigòn cưới vợ. Chỉ có lính Sư đoàn 1 Bộ Binh mới có khả năng chiếm lại các căn cứ Bastogne, Checkmate mà Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trước đây phải rời bỏ vì không chịu nổi áp lực địch trong mùa hè 1972.      

Trước 1975, những người lính kể trên không một lời tán thán. Không một lần đòi được đền bù, báo ân. Và những giờ phút đầu tiên của ngày 30/4/1975, họ là những người bị bắn ngay trên giường bệnh viện Đỗ Vinh, bệnh viện 3 Dã Chiến Sàigòn nếu có lời chống cự, không di chuyển được do thương trận từ những ngày chiến trận tàn cuộc… Họ phải sống vì không còn khả năng tay, chân thực hiện lần tự sát; phải sống để chứng kiến con đi nhặt rác, chết vì đạp đinh nhiễm trùng sài uốn ván; vợ mang thân đi khách ở chợ Bà Chiểu bị công an bắt vào trại phục hồi nhân phẩm, chết do lây bệnh phong tình không chữa trị… Chữ “nhiệm mầu” nói sao cho đủ, đúng về trường hợp của mỗi Người Lính nầy (mà không là trường hợp cá biệt/nhưng là trường hợp tổng quát, chung nhất). Tôi cảm nhận, thấy ra rất rõ điều nầy từ ngày mới ra trường, sống cùng những “bác trung sĩ, hạ sĩ…” chung trung đội, đại đội; nhìn những đứa con, những người vợ của họ nơi trại gia binh. Suốt những tháng đầu năm 1968, trong chiến dịch dài hạn bảo vệ vòng đai Sàigòn, ở Nhị Bình, Gò Vấp, Gia Định, mỗi buổi sáng di chuyển ra khỏi chỗ đóng quân là đụng địch, đạp phải mìn bẫy… nhưng những người lính vẫn bước tới sau thoáng chớp mắt ưu tư, tiếng thở dài rất ngắn ghìm giữ lại. Miền Nam có được 21 năm tự do-dân chủ trên lưng những người lính nầy. Sau 30/4/1975, cả dân tộc (không phân biệt Nam-Bắc) đồng lâm cảnh cùng khốn vì không còn người lính Bảo quốc-An dân. Người Việt Nam biến thành loại tiện dân, phiêu bạt khắp cùng thế giới, nơi các trại tỵ nạn, giữa các đảo hoang vây quanh, dày xéo bởi hải tặc Thái, ngư phủ Mã Lai hung hiểm. Thế nên: Chữ “nhiệm mầu” sợ nói không đủ đối với trị giá, phẩm chất của Người Lính Miền Nam. Hơn thế nữa, bản thân họ và gia đình đồng lần lâm cảnh huống, chịu đựng chung thân phận bi thảm của mỗi người Việt. Họ gánh phần nặng nhất, đau thương nhất, trước tiên hơn bất cứ ai. Nhiệm Mầu – Mystère có âm hưởng tương tự với Misère – Cùng Khốn. Nói có đủ đâu hở Vũ!

Trần Vũ: Nhưng ở đâu ngày 30 tháng 4-1975, các “nhân vật” thật của anh, những nhân vật kiêu hùng đã làm chúng tôi say mê? Ở đâu “Mê Linh” Mễ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 Dù? Ở đâu “Lê Lợi tân thời” Lê Quang Lưỡng, con beo gấm của Nhảy dù? Ở đâu trung tá Nguyễn Văn Đỉnh người đã “bắt tay” An Lộc, thiếu tá Phạm Kim Bằng đã giữ Đồi Gió, Đồi Quốc Tuấn, “Robert Lửa” Nguyễn Xuân Phúc, niên trưởng của Khóa 18 Võ bị Quốc gia Đà Lạt? Và ở đâu những trung tá Bùi Quyền đã “đục” thành Quảng Trị, thiếu Tá Lô “Lọ rượu” đã phá chốt đèo Chu Pao… Tại sao tất cả biến mất? Tại sao tất cả tan hàng? Ở đâu những Long Phụng, Tố Quyên, Trọng Nhi, Minh Hiếu, những “Đích Thân”, những tiểu đoàn trưởng xuất sắc Nguyễn Chí Hiếu của tiểu đoàn 5, “Bắc Bình vương” Đoàn Thiện Tuyển của tiểu đoàn 8, những “đường sơn đại huynh” của pháo binh Dù và những chi đoàn chiến xa M-48 “hung nhất miền Trung” từng xuất hiện trong Mùa hè đỏ lửa của anh? Và cá nhân Phan Nhật Nam ở đâu, anh làm gì?

Phan Nhật Nam: Tất cả vẫn còn hiện diện đủ trong ngày 30 tháng 4, 1975 – Tất nhiên chỉ vắng mặt những người đã chết, tránh được sự nhục nhằn của lần sụp vỡ đầu hàng. Vậy chết chưa hẳn đã là điều đau thương, hứng chịu nghiệt ngã. Nhưng những người lính còn sống ấy có thể làm gì khi chính bản thân và đơn vị họ rơi vào chiếc bẫy sập giăng ra từ lần rút bỏ Tây Nguyên (15/3); Huế (24/3); Đà Nẵng (29/3); Nha Trang (30/3)… và cuối cùng, cửa ngỏ Đông-Bắc Sàigòn, Long Khánh (20/4). Chỉ riêng lần rút bỏ Tây Nguyên, chỉ còn 5 ngàn quân trong 20,000 quân nhân thuộc các đơn vị tiếp vận; 900 lính của 5 liên đoàn Biệt Động Quân về đến Tuy Hòa sau 10 ngày tái phối trí lực lượng! 75% lực lượng của Quân đoàn II gồm bộ binh, thiết giáp, chiến xa, truyền tin, công binh.. bị tiêu diệt trên 200 cây số đường di tản (Cao Văn Viên, The Final Collapse, trg 153-155). Riêng bản thân cá nhân khi (28/3) theo nhân viên cứu trợ đến tại trại tạm cư đèo Rù Rì nhận biết được số liệu có 60,000 dân của 200,000 người từ Tây Nguyên di tản về đồng bằng… 140,000 người kia nay sống chết nơi đâu? Dân và lính chết không phân biệt, người dân Huế-Thừa Thiên chết trên “pháp trường cát” Thuận An cùng lúc, cùng cảnh, cùng lần với lính Lữ đoàn 258 TQLC… Những người lính dựng cờ nơi Cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị trong ngày hè lẫm liệt 1972 nay trần trụi phơi thân dưới đạn pháo, trên sóng nước bãi biển Thuận An. Cũng tương tự như thế, những chốt nhỏ cấp bán tiểu đội của các tiểu đoàn 2, 5, 6 Dù hoàn toàn bất lực (như một điều tất nhiên) trước đợt tấn công của một quân đoàn gồm ba sư đoàn bộ binh nặng của Mặt Trận B3/CS từ Ban Mê Thuộc cùng ào xuống đồng bằng theo ngả đèo Khánh Dương. Bản thân mỗi người lính chiến đấu ở cấp tiểu đội, đại đội kia có thể làm được gì? Thậm chí cho tập trung được một lữ đoàn, như trường hợp Lữ đoàn 1 Dù dưới quyền chỉ huy của trung tá Nguyễn Văn Đỉnh, với lữ đoàn phó Lê Hồng, giữ được mặt trận Long Khánh vài ba ngày cuối cùng cũng phải rút lui theo lệnh của tổng thống Thiệu theo tỉnh lộ 2 về Phước Tuy… Sự cố ý xé bỏ (các đơn vị tổng trừ bị) nầy rất dễ nhận ra, nên sau nầy tại hải ngoại, tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh cuối cùng của sư đoàn Dù đã có bài viết “Tại sao Thiệu xé lẻ sư đoàn Dù… Sư đoàn Nhảy Dù, Ai còn. Ai mất…”, dẫu ông luôn là người lính thuần thành chứ không là giới sinh hoạt chính trị. Trận đèo Khánh Dương trong vài ngày ngắn ngủi (cuối tháng 3/75) vỡ tan Lữ đoàn 3 gồm các tiểu đoàn 2, 5, 6; Trận Phan Rang hai ngày 15, 16 tháng 4, Lữ đoàn 2 bị tràn ngập, lữ đoàn trưởng, đại tá Nguyễn Thu Lương bị bắt cùng với bộ tư lệnh tiền phương Quân khu III. Những ngày cuối cùng trước khi từ chức, ra nước ngoài, với chức vụ tổng thống, ông Thiệu quyết định việc điều động đến cấp tiểu đoàn bởi lo sợ một âm mưu đảo chính – Mối lo sợ về một mưu định rất có khả năng thực hiện bởi bất cứ một sĩ quan cấp chỉ huy nào.       

Triệu Tử Long có thể phò ấu chúa A Đẩu giữa rừng gươm giáo thời Tam Quốc, nhưng trung tá Nguyễn Lô với một tiểu đội lính còn lại làm sao ngăn cản đợt tấn công cuối cùng của chiến dịch HCM gồm 16 sư đoàn bộ binh cộng sản Bắc Việt, chưa kể lính chủ lực Miền, và du kích địa phương? Cuộc tổng tấn công được cả một khối cộng sản yểm trợ, và quốc hội Hoa Kỳ quyết liệt cắt giảm quân viện.

Nhưng dẫu có nhận được vài trăm triệu đô-la kia tất cả cũng đã là vô ích vì không phải đợi đến những ngày sau di tản triệt thoái cao nguyên (3/75) mới bày ra cơn hấp hối của Miền Nam mà đã nên thành hiện thực từ mặt trận im lặng nơi Dinh Độc Lập với một “ước tính chiến lược” qua phiên họp hai ngày 9, 10 tháng 12/1974: Sẽ không tăng viện cho Vùng II (Cao Nguyên), chỉ củng cố vòng phòng thủ Nam và Tây Sàigòn, hướng Tây Ninh (cách Sài gòn 100 cây số)… Viên gián điệp tình báo chiến lược nơi Dinh Độc Lập (một trong bốn người thân tín của ông Thiệu) khẩn cấp báo về Hà Nội ngày 20 – bản báo cáo tuyệt mật nầy văn phòng CIA ở Sàigòn bắt được nhưng họ “cũng cùng đành im lặng” vì nhân viên tình báo kia cũng làm việc cho họ. Chúng ta có thể suy diễn không sai lầm sau 33 năm mất nước: Chẳng lẽ người Mỹ lại trực tiếp bày vẽ cho cộng sản nên đánh ở đâu? Trận Phước Long sau đó (mở màn 13/12/1974 và kết thúc ngày 28) với sự im lặng “rất có ý nghĩa của người Mỹ” qua thực thi nghiêm chỉnh Tu chính án Case & Chuck “Cấm tất cả hoạt động quân sự của Mỹ vào Đông Dương” được ban thành đạo luật bởi Nixon từ tháng 12/1973. Toàn tỉnh Phước Long đồng loạt bị lấn chiếm dẫu bộ Tổng Tham Mưu đã gởi đến đó Liên đoàn 81 Biệt Cách – đơn vị dựng nên kỳ tích ở mặt trận An Lộc, 4/1972. Năm ấy, 1974 không còn một phi xuất B52 yểm trợ, cùng lần, hạm đội 7 bỏ vùng biển Việt Nam quay mũi hướng về Châu Phi. Hạm đội hùng mạnh nầy cũng đã khóa chặt toàn thể vũ khí, kho máy bay, hệ thống phóng ngư lôi trong lần vỡ trận Hoàng Sa, 1/1974. Người lính, bản thân mỗi người lính Miền Nam làm được điều gì khi đạn bắn đi phải đếm từng viên một.                      

Sau 30/4/75, 10 tiểu đoàn trưởng nhảy dù của 12 tiểu đoàn tác chiến có mặt tại trại tập trung, ba lữ đoàn trưởng đồng nhận án hơn mười năm tù mỗi người. Năm người vượt trại đầu tiên nơi miền Bắc (7/1976) có ba trung tá và một thiếu tá thuộc Sư đoàn Nhảy Dù – trung tá Nguyễn Lô, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù bình thản nói trước cột xử bắn: Tôi chịu trách nhiệm tất cả về việc trốn trại. Chúng tôi đã trình diện đi tù, chấp nhận cái chết là điều tất nhiên. Toàn trại ngồi chờ chứng kiến lần xử bắn đồng nghe rõ lời Sông Lô.

Tôi không hề cường điệu khi nói về những người bạn lính của mình – Họ vẫn giữ vững phần bền bỉ kiên cường trong phận số khắc nghiệt chung. Lẽ tất nhiên không phải tất cả đều ngang tầm kiệt liệt của Sông Lô – Nhưng có hề gì, ba-mươi ba năm sau 1975, hôm nay Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn hiện hữu. Ba Sọc Đỏ ấy tượng trưng cho Máu của Người Việt – có phần lớn máu người lính VNCH.             

Trần Vũ: Trưa 30 tháng 4, tôi hãy còn nhớ, sau khi tướng Dương Văn Minh đầu hàng, trong lòng tôi giận dỗi các anh vô cùng. Gia đình chúng tôi đã tin vào quân đội đến cùng, thầy tôi nhất quyết không di tản vì muốn sát cánh cùng quân đội. Mà như thầy nói, ai cũng chạy hết thì lấy ai giữ nước, nuôi quân đội? Chúng tôi buồn bã vô hạn. Tại sao các anh đầu hàng? Vì sao các anh tuân lệnh không một phản ứng? Tôi muốn biết vì sao người lính Cộng Hòa đầu hàng dễ dàng như vậy, trong một buổi trưa, trong vài giờ đồng hồ, không một chính biến, không một hành động sau cùng. Các anh đã kháng cự suốt hai mươi năm, mà sao không ai truất quyền Dương Văn Minh phút cuối cùng? Sao không lui về Cần Thơ, Phú Quốc kháng cự như Tưởng Giới Thạch đã lui về Đài Loan? Tôi muốn tin chính ước vọng hòa bình, ý thức nội chiến khiến các anh quyết định chấm dứt tương tàn, chấp nhận tù đày để đất nước thanh bình, nhưng rồi hòa bình không như mong muốn, thống nhất nhưng vẫn phân chia Nam – Bắc, phân chia giai cấp, phân chia Ngụy và Liệt sĩ, khiến các anh căm phẫn. Rất nhiều cựu sĩ quan miền Nam nói với tôi là họ ân hận đã buông súng. Nếu biết trước sau 30 tháng 4 sẽ như vậy, họ sẽ chiến đấu đến cùng, đến chết, không đầu hàng. Còn Phan Nhật Nam? Nếu bây giờ đi lại trên quốc lộ 1, cùng với Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù cũ của anh, đi đầu đại đội 72 mà anh từng làm đại đội trưởng, nhận lệnh buông súng, anh phản ứng ra sao?

Phan Nhật Nam: Bản thân tôi không cố ý làm ra điều văn vẻ, trầm tư để viết nên văn chương chữ nghĩa khi trả lời câu hỏi nầy… Nhưng chẳng cần đợi đến sáng 30 tháng Tư, 1975 mà tôi đã viết đủ trong “Ngày Thật chết với quê hương” – Cái Chết thật ra đã hiện diện với những báo trước rất cụ thể từ trận Đồng Xoài (6/1965); từ Mậu Thân (1968)… Hằng đêm từ đồi Căn Cứ Nguyễn Huệ (hậu cứ Lữ đoàn 2 Dù) nhìn ra Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa… Và gần nhất là đêm tối 15/3/1975 tại Pleiku khi Quân đoàn II bắt đầu lần rút bỏ cao nguyên; chiều 25/3 trên đèo Hải Vân (địa giới Thừa Thiên-Quảng Nam) khi Lữ đoàn 1 Dù bàn giao vị trí cho Tiểu đoàn 8 TQLC; trong ngày 30/3, khi toàn thành phố Nha Trang câm lắng xuống để nghe tiếng sóng đập vào bờ qua dãy xác chết lắt lay trên bãi cát… Toàn xác chết đàn bà con trẻ. Nhiếp ảnh viên Kevin Carter, người đoạt giải Pulitzer về phóng sự nạn đói ở Sudan, đã không thể sống nổi sau khi chụp cảnh đứa trẻ hấp hối trước con kên kên chờ móc ruột! Cũng tương tự như thế, những người lính, cụ thể bản thân với chính xác thân, mỗi giác quan với từng giờ, từng ngày suốt từ 13/3 cho đến 30 tháng 4… thấy ra một điều: Sống là một cái tội! Chết cũng là một sự vô ích… Trở lại sự kiện bản thân ở lại Sàigòn sau 30/4, có nhiều nguyên do khách quan, chủ quan, tích cực và tiêu cực… nhưng bao trùm tất cả là cảm ứng: Đi Mỹ hay ở lại (chết) ở Việt Nam tất cả cũng là vô ích – Hẳn nhiều người cũng có ý nghĩ nầy nhưng không nói ra lời đấy thôi… Cũng cần nói thêm một phản ứng có thật: Mong được chấm dứt chiến tranh với giá sinh mạng là bản thân mình thì cũng là điều đáng chấp nhận… Và tự an ủi khi ngồi trong toa chở súc vật trên chuyến tàu lên Yên Bái đêm 22/6/1976: Coi như đất nước thanh bình (được) đi chuyến tàu lên Miền Bắc! Nhưng tất cả cảm ứng “tự an ủi / tự thúc dục nầy” dần bị đổ nhào như gặp phải tình cảnh sáng mồng hai Tết Mậu Ngọ (1978) khi đi thu hoạch lúa ở ngọn đồi sau lưng Trại 10 (Yên Bái)… Người đàn ông dáng thanh lịch dẫu áo quần rách vá, vẻ hư hao, tiều tụy (cung cách của người Hà Nội trước 1954 rất dễ nhận) đi với cô con gái mặt đẹp như ngọc, đầu trần chân đất, quần rách lai tơi tả, sữa non con so thấm ướt ngực áo mỏng theo đoàn tù mót lúa rớt trong buổi sáng đầu xuân sương mù giá rét miền núi đất Bắc… Người đàn ông trầm giọng nói trong tiếng khóc bị nén: Các ông tội nặng lắm… Con tôi từ năm 1954 đến giờ không có được chén cơm trắng, cháu ngoại tôi từ ngày sinh chỉ uống nước cháo loãng pha muối cầm hơi… Mấy mươi năm chờ đợi các ông từ trong Nam ra với hy vọng được sống cho ra dạng người thế mà cớ sự lại như thế nầy đây! Bạn ta ơi Miền Nam không thể thắng được vì họa chung của cả dân tộc đã nên hình. Tôi không quá mê tín, nhưng ngày 28/3/75 khi đi trên đoạn đường Nha Trang-Cam Ranh dẫm lên cây số đường dài sâu bọ bung lên tự lòng đất nên đã hiểu ra điều: Cơn hấp hối, tận diệt quê hương đã thành sự thật! Bản thân người lính làm gì được? Họ lại là người chết trước tiên.   

Trần Vũ: Tất nhiên chúng ta không thể quay ngược quá khứ, nhưng tôi còn nhiều thắc mắc. Trong Tù binh và Hòa bình, Phan Nhật Nam viết về thân phận người tù sau giao tranh: Lồng ngực vạm vỡ, nở nang vì được nuôi dưỡng no đủ của tù binh Bắc Việt theo chính sách giam giữ ở Phú Quốc của VNCH; đối lại, gương mặt thất thần vì sợ hãi, trên thân thể xanh mướt của tù binh Nam Việt trao đổi ở Lộc Ninh. Đã chứng kiến tận mắt ở Ủy ban Liên hợp Quân sự 4 bên như thế, sao anh vẫn quyết định ra trình diện? Chẳng lẽ các sĩ quan miền Nam không tham khảo quân sử, không am tường Hồng quân? 90,000 tù binh Đức tại Stalingrad, duy nhất 5000 tìm lại quê quán. Từ 1946 đến 1954, Việt Minh trao trả 10,754 trên tổng số 36,979 tù binh quân đội Liên hiệp Pháp, chưa đến 29%, số còn lại biến mất, không bao giờ còn tin tức. Đó là những số liệu của Bernard Fall, trang 523 trong chương cuối cùng của tập Un coin d’enfer xuất bản năm 1968, mà bản dịch Điện Biên Phủ, Một góc địa ngục của Vũ Trấn Thủ, nxb Công An Nhân Dân đã cắt đi. Tôi muốn hiểu quyết định chấp nhận tập trung này, mà cho đến bây giờ đã ăn sâu quảng vào trong tâm khảm của khá đông những người tù cải tạo hãy còn uất ức.

Phan Nhật Nam: Câu trả lời câu trên coi như cũng có thể dùng trả lời cho câu hỏi nầy, nhưng thành thật ra thì phải nói như thế nầy: Thôi thì chấp nhận đi ở tù vài ba năm cho xong chuyện. Có gì cũng được ở lại trên đất nước mình, như quyết định có thật của Boris Pasternak. Đã sống, chiến đấu cạnh người Mỹ suốt cuộc chiến (Nhảy Dù VN là đơn vị đầu tiên phối hợp hành quân với các đơn vị Không Kỵ, Nhảy Dù Hoa Kỳ từ 1965), nếu không hiểu biết nhiều thì cũng có được vài nhận định khách quan thế nào là người Mỹ hay quân đội Mỹ. Từ 1973 lại ngồi chung với họ trong bàn hội nghị Ban Liên hợp Quân sự ở Tân Sơn Nhất. Nhưng bao trùm tất cả là “quan niệm”: Là Người Việt với nhau, “hy vọng” sau chiến thắng chung cuộc rồi, người cộng sản “Cộng sản Việt Nam” hẳn cũng không đến nỗi nào? Trời đất! Đã chứng kiến Mậu Thân, 1968 ở Huế nhưng sao lại “vô tư” đến vậy? Cũng như đã tự tay đào hệ thống giao thông hào sâu ba thước nơi những cồn cát lẩn khuất sâu trong trại Long Giao trước ngày chuyển ra Bắc (19/6/1976) với tư thế “hăng say lao động”! Đứng dưới giao thông hào nhìn lên chỉ thấy một khoảng trời thu nhỏ đúng là của mộ huyệt tập thể! Sau tháng 2/1979, cũng đào những giao thông hào như thế ở trại Lam Sơn, Thanh Hóa. Người cộng sản đông-tây có bao giờ gượng tay khi có những quyết định tương tự trong suốt thế kỷ 20. Nhưng người Do Thái không hề sợ khi bước vào lò hơi ngạt ở Auschwitz để chết… Sống trước đó đáng sợ hơn. Đau thương thay, dân tộc Việt hình như tê liệt, vô cảm trong cảnh sống nầy. Ngay hiện tại ở Hà Nội với những cao ốc hiện đại theo mẫu của Mỹ, đồng thời khí trời, sông, suối… đồng bị nhiễm độc. Tàu vỏ sắt của Nhật không dám ghé bến sông Đồng Nai. Không một người cầm bút nào nói nên thành lời cho đủ dẫu đang trong nước; hải ngoại là tất nhiên vì thiếu chất men từ đất, người quê nhà. Họa hoằn lắm mới có một người như Phạm Lưu Vũ ở Hà Nội viết chuyện Chị Cả Bống… Nhưng không đủ, chuyện của Phạm Lưu Vũ viết bằng tiếng Việt, chỉ là một truyện ngắn (quá ngắn so với bi kịch (đúng ra là thảm kịch) của chị Bống), lại bị tịch thu. Ở Sàigòn mấy người đọc.     

Nhưng bạn ơi, Thiên Chúa luôn có thật với Người – Tôi ngồi viết những trả lời nầy nơi đất Mỹ. Tại sao có thể như thế? Những ngày dài suốt thời gian từ 7/9/1981 đến 29/5/1988 tôi chỉ ao ước được đưa bàn tay ra khỏi khung cửa sổ nhà giam để xem gió mát như thế nào! Tôi thù hận ai đây? Mơ ước gì khi đã hiểu ra điều đơn giản cuối đời: Sự Thật lớn nhất là Cái Chết. En attendant Godot chăng? Không, con người chỉ chờ Cái Chết. Khác nhau chăng là chúng ta làm gì trong khi chờ lần chung kết kia.

Trần Vũ: 15 năm sau vượt biên tôi đi lại quốc lộ 1. Gần như để đối chất cảnh vật với những gì anh viết. Những địa danh, những thước đất hiện ra, lớp đất vàng khè chen giữa những bãi cát xám bên này dẫy Trường Sơn. Dọc quốc lộ từ Hải Lăng lên đến cầu Hiền Lương là những nghĩa trang liệt sĩ san sát. Vết tích chiến tranh chưa mất. Nhà thờ La Vang tan nát. Phố chính Quảng Trị lỗ chỗ đạn. Khu tập thể tiêu điều ở Thạch Hãn, Cồn Thiên, Cam Lộ… Tất cả ngập dưới cái nóng điên người. Tôi cảm được điều anh đã viết: Nỗi quặn đau dai dẳng không chấm dứt. Rồi tôi tự hỏi: Phan Nhật Nam làm gì trong suốt bao năm ấy, từ lúc ra tù, anh có đi lại quốc lộ 1 lần nào chưa? Trong Tù Binh và Hòa Bình anh đã đặt câu hỏi: Hòa bình nghĩ gì, làm gì? Tôi còn nhớ anh ngao ngán với cảnh áo hoa nón đỏ sẽ phải vào ty cảnh sát lãnh thằng ma cô có mụ tài-pán đỡ đầu… Hòa bình đến không giống như chúng ta chờ đón, nên tôi muốn biết anh nghĩ gì, sinh sống ra sao, trong một miền Nam đổi khác, sau khi đi tù về. Tôi muốn nghe anh kể về những ngày hậu chiến này.

Phan Nhật Nam: Sau 30 tháng 4, 1975 tôi đi dọc đường số 1 một lần. Lần độc nhất với đôi mắt khép lại để khỏi nhìn. Để đừng thấy. Tôi không nói quá – Lần trở về Nam ngày 29 tháng 5, 1988 sau mười-hai năm lưu đày đất Bắc. Tàu vào địa giới Miền Nam, qua Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, La Vang… lúc trời mờ sáng. Tôi biết rõ tàu đang chạy qua những chốn nào. Vốn người gốc Quảng Trị, năm 1966-1967 hành quân từ Thừa Thiên ra Quảng Trị, tôi dẫn quân đi dọc Phá Tam Giang không cần xem bản đồ. Tàu đến Huế sáng 30 tháng 5 – ngày Phật đản. Những năm trước 1968, ngày Phật đản ở Huế là một quốc lễ. Chợ Đông Ba không bán thịt; bún bò gánh chỉ nấu bún chay. Và đêm đến, trên sông Hương người Huế làm lễ Phóng đăng. Nhánh sông nhỏ dưới khu Gia Hội bồng bềnh giải ánh sáng lấp lánh trên nước như cảnh thần tiên. Mọi người nói giọng thấp xuống, nhỏ lại, chen tiếng niệm Phật A di đà Phật… Nam mô bổn sư… Những người hung tợn nhất xóm hóa ra hiền từ, nhân ái. Chỉ một đoạn đường mấy trăm thước của đường Trung Bộ (nơi tôi ra đời, sau 1954 đổi thành Tô Hiến Thành) có đến bốn chùa, và nhiều am, miếu. Chùa lớn, Diệu Đế; am Mã Ông Trạng. Sáng 30 tháng 5, 1988 qua ga Huế (nơi lần cuối đưa mẹ đi Sàigòn 1960, em Bé ghìm tiếng khóc, thân người gầy gò rung bần bật vì phải xa mẹ), loáng thoáng những người buôn đồ cũ chạy thất thanh giữa tiếng nạt nộ, xua đuổi của công an… En ơi… mấy en ơi… Có mền tù khôn… (không hiểu tại sao họ biết chúng tôi là đoàn tù cuối cùng trở về Nam). Một thoáng ngắn, tôi nhìn ra cửa sổ toa tàu, hướng núi Ngự Bình, nơi có phần mộ mẹ tôi và những người trong gia tộc. Lòng trống rốc. Mắt ráo hoảnh. Lúc tàu rời ga Nam Định tối hôm trước, tôi muốn được bật nên tiếng khóc nhưng khóc không nổi. Qua đèo Hải Vân, trong đầu loáng thoáng những câu thơ “Tôi về Hải Vân thân áo tù. Mười mấy năm dài nhục thấm dư. Nghe lạ đất trời lạnh vụng biển. Quê nhà còn không cơn mộng du…” Hiện thực rất chính xác, “tiên tri” của Mai Phương (Đỗ Ngọc Yến) viết trên báo Đại Dân Tộc, Sàigòn: “Người Nam Hà đầu tiên đến Miền Bắc, 4 tháng 3, 1973…”. Nay tôi là “một trong nhóm người Nam Hà cuối cùng rời miền Bắc từ trại Nam Hà”. Ngày 25 tháng 3, 1975 tôi đứng trên đèo nầy với trung tá Đỉnh chụp hình người mẹ quê chạy từ Quảng Trị vào Đà Nẵng với xác con nhỏ ủ dưới vạt áo dài (tấm hình về sau đăng báo Độc Lập).

Đến Đà Nẵng vào buổi trưa, tàu đổi toán phục vụ (toán người Nam)… Cán bộ áp tải tù ra lệnh đóng cửa sổ toa tầu vì“sợ dân phẫn nộ ném đá”… Tầu ngừng khá lâu để xoay đầu máy ra hướng Huế (tôi quen sinh hoạt nầy từ đầu năm 50, nhà các bạn thân chung trường, chung lớp đều quanh khu nhà ga nầy). Dưới sân ga có những tiếng hoan hô… “Hoan hô tướng Lê Minh Đảo… Hoan hô lính Việt Nam Cộng Hòa… Hoan hô… hoan hô…” Một người trong toán phục vụ có lẽ do thấy tôi tương đối trẻ so với những người trong đám tù, thấp giọng thân mật: “Chú cấp bậc gì mà giờ nầy mới về? Đại úy! Trời đất, đại úy người ta về từ mười năm trước. Mà đại úy đơn vị chi… Đại úy nhẩy dù… Vậy chú là nhà văn phan… Chú muốn ăn, uống chi… Con đem tới…” Tôi uống hết một két mười hai chai bia cho đến chiều tàu tới ga Hàm Tân. Được tháo cùm tay, bước xuống xiêu ngã trên sân ga, nhìn chung quanh chập chờn… Cây cao su của tiểu đoàn 7 Dù , lối lên Hố Nai, ngã ba Tân Hiệp, Biên Hòa… Rừng cao su đặc thù của miền Nam mà tôi ngắm nhìn mê mải ngây ngất từ toa xe lửa buổi đầu đời vào Sàigòn, 1957. Có người đi tới… Ở đây chúng tôi biết cậu về… Cậu nhớ tôi không… Tôi lắc đầu, phần vì hơi bia, phần mệt mỏi đường đi… Thật sự không còn sức. Tôi Đông đây… phan lạc giang đông. Tôi nhìn người bạn không cảm giác.

Với tâm cảnh như thế, ra tù 1989… Chỉ định cư trú về ở ấp Bình Nhâm, Lái Thiêu, Bình Dương, tôi dựng căn nhà tranh 4×4 thước giữa vườn cây măng cụt, nhà, đất do gia đình, bạn bè ở ngoài gởi về… Bạn lính, Mễ “Mê Linh”, Hải “khều” của tiểu đoàn 7; bạn văn, giới viết báo, Đỗ Ngọc Yến; có cả người chưa quen như vợ chồng bác sĩ Dzĩnh bên Canada… Hàng xóm không biết tôi là ai, do có những chiếc lu đựng nước mưa trước hiên nhà, họ đặt nên tên “Ông Út” hay “Út Lu”. Bạn bè không mấy ai, vì hầu hết đã ra đi, thỉnh thoảng hai người bạn niên trưởng, Như Phong và Doãn Quốc Sỹ (bên kia sông Sàigòn, vùng Thạnh Lộc, Nhị Bình, nơi chiến trường lớn của năm 1968) đi mobilette qua chơi. Tôi thường đi quanh quẩn trong vườn măng cho dù nửa đêm về sáng, nằm võng ngủ trước hiên nhà, chơi với các con trẻ nhà quê, dạy chúng học, đốt lửa trại, nấu chè đêm trung thu. Nếu phải về Sàigòn thì cũng lựa lúc ban chiều, trở lại Lái Thiêu vào buổi tối, qua cầu Ông Đụng, cầu Ba Thôn từ ngả xóm Mới đi lên (không đi ngả quốc lộ 1 qua Thanh Đa, Bình Triệu)… Sự lựa chọn nầy có chủ đích: Nơi nầy, tiểu đoàn 2 bị đụng trận. Nguyễn Ngọc Khiêm oằn người chết trên cán cứu thương do tôi kéo đi một đầu. Lái Thiêu lại là những ngày bình yên, dễ chịu nhất, mọi việc cần ở Sàigòn tôi nhờ gia đình thứ hai, Đằng Giao – Chu Vị Thủy giải quyết hộ… Cũng chỉ thấy vui đôi chút khi ngồi trên gác của căn nhà 104 Công Lý (tên cũ – không thể nào đọc nên tên mới “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” mà không khỏi chạnh lòng) trước thương xá Crystal Palace, chung quanh những tranh sơn mài của Đằng Giao. Từ nhà 104 ra Lê Lợi không đầy 100 thước nhưng rất nhiều lần tôi không muốn bước ra chốn kia. Có những thú vui, thói quen sinh hoạt của trước 1975 hoàn toàn bị mất hẳn. Từ những năm 50, tôi đã là khán giả của rạp chớp bóng Morin (Huế và Đà Nẵng); sau nầy, Mini Rex là nơi nghỉ ngơi thú vị mỗi buổi trưa khi ở Sàigòn. Sau 30 tháng 4, thói quen, thú vui nầy mất hẳn. Nay 15 năm ở Mỹ cũng không thể phục hoạt. Cứ nhớ thanh âm rền rĩ bài nhạc đệm… Giải phóng miền Nam… từ những phim ảnh của xưởng phim giải phóng người cứ nổi gai như sắp bị hành hình. Cứ thế, tôi sống từng ngày qua đi không mấy khó khăn so với hơn 8 năm trong bóng tối hầm giam chờ đem đi bắn. Thật ra cán bộ cộng sản chỉ cốt ý dọa, vì bắn cũng vô ích, mà không có cớ gì để bắn! Cho dù kết án tử hình một người tù cũng chẳng gì khó khăn. Lê Đức Thịnh, chung T4, trại Long Giao (1975-1976), chỉ trong một thư gởi lén cho vợ, viết lời khẳng khái “Anh không chịu bó tay” mà phải ra pháp trường do hai ông chấp pháp tên Giáp, tên Dần nào đó ngồi xử trong vòng 10 phút. Vụ xử bắn cốt ý hù dọa… Phải, chỉ để dọa đám tù đã chịu bó tay quy hàng, không hơn, không kém. Còn khi (đã) muốn bắn thì đem bắn ngay xong vất hàng rào bảo rằng trốn trại như lần giết những sĩ quan an ninh quân đội trước khi số tù còn lại của trại Long Giao chuyển ra Bắc (19/6/1976). Hoá ra câu nói sáng 30/4 khi ném giấy tờ tùy thân, thẻ sĩ quan, thẻ lĩnh lương xuống chiếc cống trước nhà sách Khai Trí“Coi như mình đã chết!” là lời xác định đầy đủ, chung kết. Với tâm trạng nầy tôi đi Mỹ… Tôi đi Mỹ cứ như hắt cặn nước. Tôi đi Mỹ nhẹ tênh vất điếu thuốc. Quê hương gầm gừ khinh miệt. Đất xa trọn chốn lưu đầy… Trần Mạnh Hảo khi tiễn ra phi trường (5/11/1993) có lời cảm khích: Thế nào ông cũng khóc khi ra khỏi nước! Thế nhưng tôi đã không biết phi cơ cất cánh lúc nào, ngủ ngay khi vừa ngồi xuống ghế trên máy bay. Nhìn đâu ra Sàigòn của Miền Nam khi toàn phi hành đoàn phát âm giọng Bắc vùng Thanh, Nghệ… Nghe ngang ngang, cứng cứng; thái độ khinh khỉnh, xấc xược (do biết chuyến bay thuần là người tỵ nạn đi diện H.O). Những năm đầu tiên ở Mỹ (1994-1996) tôi luôn ở trên đường xa như nhân vật trong phim Forrest Gump… Cứ nhắm đằng trước mà chạy. Chạy mãi cuối cùng anh ta đứng lại, quay về nhà đã bỏ đi từ khi người vợ lâm tử. Tôi chẳng chạy trốn điều gì, nhưng cũng có lúc tự hỏi: Anh lái được bao lâu? Anh lái đi đến đâu? Cuối cùng dòng hiu quạnh. Exit ra ngả sầu… Khi một mình ngồi nơi một Rest area nào đó trên đường 10 vạn dặm xuyên nước Mỹ, chiều mưa lớn ở Lousiana. Tôi làm thơ như cách người ta tập thể dục, tập khí công mỗi ngày. Làm Thơ bất cứ nơi đâu… Tôi đọc thơ ông… Tự thân trống vơ trống vốc… Nơi phi trường York, vừa rời Houston… Phi trường… Xuống. Không một ai. Chỉ tập thơ ấm trong lồng ngực… Tôi đọc Thơ Tuyển của Tô Thùy Yên trong tình cảnh như thế. Từ đó hiểu ra Bùi Giáng phải điên, Tam Ích phải tự tử (1972). Cũng hiểu ra tại sao Nguyễn Chí Thiện không thể làm thơ được nữa. Trước khi chết, bất cứ ai cũng gặp phải tình trạng “flash back” – nhưng nếu không chết được thì người ta sẽ sống thản nhiên với tất cả mọi hoàn cảnh. Sự Thật lớn nhất là Cái Chết. Không phải triết học như lời của Albert Camus đâu mà đấy là Lý (giản dị) của Nghĩa Sống/Chết, không cần phải lên đến Hy Mã Lạp Sơn tu cách các Đạt Ma mới hiểu ra. Người Việt ai cũng cảm nhận được một lần nhưng không viết và nói ra như bạn với tôi đang vấn đáp với nhau. Cứ như thế tôi ở Mỹ đến năm thứ mười-lăm, đi gần hết các tiểu bang, đất đai trên thế giới… Lên thấu Alaska, xuống tới Nam bán cầu. Bạn còn muốn hỏi gì nữa hay chăng?   

Trần Vũ: Câu chuyện đã khá dài, tuy tôi còn muốn hỏi thêm nhiều nữa, nhưng vẫn phải kết thúc. Trước khi chấm dứt, tôi muốn nhắc lại ảnh hưởng mà các tập bút ký chiến trường của anh đã để lại trong tôi. Chúng ám ảnh tôi đến mức tôi nóng ruột khoác lên người sự “nhiệm mầu” của người lính Cộng Hòa mà anh mô tả. Tuổi niên thiếu của tôi tràn ngập những buổi trưa của viên thiếu úy Nam trở về doanh trại, trải tấm nệm lên chiếc giường hai chân chưa dựng, lắng nghe tiếng kèn của người lính gác vang lên giữa xao xác vắng vẻ. Tôi không mê 7 năm ở lính của Nguyên Vũ, Y sĩ tiền tuyến của Trang Châu, Tiền đồn của Thế Uyên, Tử thủ căn cứ hỏa lực 30 Hạ Lào của Trương Duy Hy hay Vỏ đạn cho con trai đầu lòng của Nguyễn Đình Thiều, nhưng tôi ngã xấp mặt vào thế giới của Phan Nhật Nam. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao thời gian này tôi say mê anh như vậy. Thế giới của người lính ngồi trên sườn đồi uống bia không đá nhìn xuống con sông bốc mờ sương lam, của tân khóa sinh trong chuyến xe lửa đêm lên Đà Lạt lướt đi giữa rừng thông đầy mộng mị, của cả những bực dọc về Sàigòn dẹp biểu tình gác đường gác chợ như ăn mày hay tiếng khóc não lòng của người dân ngoài Trung trước mái nhà bị bắn sập… Tôi thuộc từng tên nhân vật, từng cấp bậc, từng thâm niên của từng người, thuộc cả tiếng chửi thề “chay me” thất vọng của viên hạ sĩ Miên đấm vỡ chiếc nón bài thơ khi máy bay rời Phú Bài, thuộc đôi mắt nhẫn nhục vô hình của trung úy Tạo, Tạo đen của 10 năm quân lao… Tôi cảm giác những trang bút ký của anh thời ấy giúp tôi sống với mọi người, cảm giác chúng truyền vào người mình nỗi đau của cả một miền đất nước, từ những tàn phá đến giận dữ. Sau này tôi vẫn đọc đi đọc lại Dọc đường số 1, Dấu binh lửa, Dựa lưng nỗi chết vì cảm giác thật mạnh đang sống với quê hương mình, trên từng thước đất, vào từng ngôi làng, “rờ” từng cái ấp. Có cái gì đó thật con người, cực kỳ cô độc lặng lẽ giữa sắt thép hỗn độn ầm vang trong thế giới của anh mà bây giờ phải đọc lại mới hiểu thấu hết tất cả những oan khiên của cuộc chiến vừa rồi.

Anh rất gần với Cột mốc 125 và Bão thép của Ernst Junger, ở khía cạnh tiếng nổ của bom đạn, nhưng trong tác phẩm của Junger không có dân chúng, không có những làng mạc với xác những đứa bé chết thâm tím, không có tiếng kêu nặng nhọc của dân lành cố sức đi theo người lính xuôi Nam… Trong ký Phan Nhật Nam, ngược lại, xã hội dân sự hiện diện thường trực trong chiến tranh. Sau này, sang Hoa Kỳ, anh mất đi khá nhiều tố chất con người trong các bài viết, chính vì anh nghiêng nhiều về quân sử, số liệu, ngày tháng, đơn vị, khiến phần tập thể lấn át phần cá nhân.

Trước Phan Nhật Nam, tôi nghiêng về phía Cộng Hòa theo truyền thống giáo dục gia đình, sau Dọc đường số 1, Dấu binh lửa, Mùa hè đỏ lửa, Tù binh và hòa bình tôi trở thành người quốc gia vĩnh viễn. Anh mang trách nhiệm này, đã “biến” tôi thành người quốc gia vì đã dẫn tôi đi qua những thước đất của quê hương ngập tràn tai ương. Đáng lẽ tôi không nên đọc anh để dễ dàng thỏa hiệp với thực tại bây giờ, phải không? Muộn mất rồi. Tôi đã theo anh đi dọc đường số 1. 

Phan Nhật Nam: Thật cảm động và rất hãnh diện khi biết có một người đọc, nhớ từng lời (do mình viết) như bạn đã tận ân tình đối với chữ nghĩa của tôi… Nhưng cũng có lần bà vợ tôi (yêu thương nhau từ 1964 chứ đâu phải mới chung sống ngày một ngày hai) nói ra lời chân thật (mà hẳn phải sau nhiều suy nghĩ vì bà ấy vốn kín đáo, nghiêm chỉnh): Sao ông cứ viết chuyện chiến tranh, tù tội như thế mãi… Bạn ơi, tôi trả lời sao đây? Tôi đi đâu nữa? Viết cái gì mới nữa? Tất cả đã thành sự. Chẳng cứ riêng tôi mà hầu như đối với tất cả những người cầm bút… Đây, lấy ví dụ, những “anh”, những “em” và những “tôi”… Bạn chỉ cho tôi xem trong ba cái cột trụ “tưởng như là quan trọng ghê gớm” kia có cái nào là “đáng để nói lên”? Bao nhiêu thế kỷ chữ nghĩa, văn chương người ta dùng đến độ đáng sợ cái tam giác (vô phương phá vỡ) ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn… học, đọc, viết mỗi ngày. Ở Minnesota, tôi là một trong những sinh viên già nhất trường. Cứ như Sisyphe thôi. Nhưng biết đâu trên đường lăn đá lên đỉnh núi hắn ta (bắt buộc) nhận ra mình (Là ai? Làm gì?) với tất cả hùng vĩ đơn độc riêng. Mở chiếc máy lên, ngồi xuống với bàn gõ là lòng bình an, vui vui… Tôi không hề có nguồn vui lớn. Nói rất thật lòng để chấm dứt. Bạn không muốn hỏi nữa, tôi cũng đã quá mệt. Cám ơn bạn đã đọc kỹ, đã hỏi thật. Thế là đủ vì nhận được phần thúc dục: Ít ra chữ nghĩa (mình viết nên) không đến nỗi vô ích. Một người không cũng đủ. Rất cảm ơn.

Trần Vũ thực hiện qua điện thư

Đăng lần đầu trên Hợp Lưu năm 2008

Sinh Nhật

baotreonline.com

Trần Vũ

January 29th, 2020

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

Như hầu hết các thiếu niên miền Nam trước 75, tôi ít biết đến Mặc Đỗ. Thế giới của ông trầm mặc hãy còn cách quá xa lứa tuổi thiếu nhi. Chúng tôi đọc duy nhất truyện dịch của ông và say mê Giờ Thứ 25 rồi Ngư ông và Biển cả. Với cá nhân tôi, thành tựu lớn nhất của Văn học miền Nam nằm trong phần dịch thuật. Các dịch giả xưa tài hoa và am tường Anh, Pháp, Hoa đã cống hiến cho tuổi trẻ trong Nam cả một vũ trụ. Biết bao chân trời đã mở ra với những tác phẩm dịch ấy. Phải sang đến Pháp giữa mùa Đông băng giá tôi mới biết đến sáng tác tiếng Việt của Mặc Đỗ. Văn của ông trầm trầm, không sáo ngữ, ít tĩnh từ, không dục tính, tất cả diễn ra trong ý nghĩ thầm lặng của nhân vật. Phải vô cùng kinh nghiệm trong lĩnh vực văn xuôi, chắc tay nghề, mới viết được như vậy vì gần như không có gì xảy ra trong truyện mà vẫn cuốn hút, đặc biệt đẫm không khí của một sự trống rỗng. Phải sống trong khu tam giác Austin, San Marcos, San Antonio của tiểu bang Texas mới cảm thấu hết sức vắng lặng của một dải đất buồn thiu lóa nắng. Không núi, không biển, không rừng rậm, không tiếng động… Là Sinh Nhật, một trong những truyện ngắn đầu tiên Mặc Đỗ viết trên đất lạ. [Trần Vũ]

Kỳ 1

Lũy viết cho Kim trong thư: “Có hai lý do giục Kim nên xuống đây chơi. Thứ nhất, anh muốn giới thiệu với Kim người đã có sáng kiến giúp anh sớm có thể xây dựng với Kim. Thứ hai, để bàn chuyện xây dựng Kim cần biết rõ trước đời sống, khung cảnh sống hiện tại của anh; những lời anh viết trong thư, xúc động của Kim khi đọc, dễ làm sai lạc sự phán đoán. Kim nên xuống đây trước khi chọn lựa giữa hiện tại đang có và tương lai sẽ xây dựng với anh. Quyết định do tình cảm có lẽ Kim đã có, nhưng anh nghĩ cũng còn một khía cạnh quan trọng liên hệ tới mọi chi tiết của đời sống hàng ngày”.

Kim đọc lại đoạn thư của Lũy rồi cười một mình. Lũy thật khéo bày vẽ! Lần thứ nhất Lũy thúc giục, Kim đã nghĩ: Nhớ, muốn gặp thì cứ bảo rằng nhớ là Kim tức khắc lo thu xếp, Lũy tưởng Kim không nao nức sao! Còn bày đặt lý do này nọ. Kim chỉ có một thắc mắc: Mối tình giữa hai người có chân thành hay không? Một khi đã thật bụng yêu nhau mọi hậu quả sẽ được chấp nhận hết, dù tốt dù xấu. Cả Lũy lẫn Kim có ai định trước được một ngày sẽ gặp nhau trên đất này, tại sao còn phải băn khoăn chuyện tương lai? Thiết tha yêu nhau, rồi cùng ra sức cố gắng, sau muốn ra sao cũng được. Ðó là triết lý đơn giản của Kim.


Tên thật là Đỗ Quang Bình, Mặc Đỗ là nhà văn, nhà báo, dịch giả và một trong những tên tuổi của Văn học Miền Nam trước 1975. Ông sinh năm 1915 tại Hà Nội, học luật nhưng không hành nghề mà chọn viết văn… Khởi đầu viết các truyện ngắn, kịch và dịch sách. Sau 1954 di cư vào Nam, cùng với Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, xuất bản sách của các thành viên trong nhóm. Ông cũng đã cùng với các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Tam Lang Vũ Đình Chí, nhà thơ Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu Lưu Đức Sinh sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam. Sau 1975 ông định cư ở Mỹ và từ trần ngày 20 tháng 9 năm 2015 tại Austin, tiểu bang Texas Hoa Kỳ.

Tác phẩm:

Bốn Mươi (1956), Siu Cô Nương (1958)

Tân Truyện I (1967)

Tân Truyện II (1973)

Trưa Trên Đảo San Hô (2011)

Truyện Ngắn (2014)

trừ Tân Truyện II (1973) của Nxb Văn, sách Mặc Đỗ đều do Nxb Quan Điểm in.

Dịch thuật:

Ngư Ông và Biển Cả / Ernest Hemingway (Quan Điểm 1956)

Con Người Hào Hoa / F.Scott Fitzgerald (Quan Điểm 1956)

Một Giấc Mơ / Vicki Baum (Cảo Thơm 1966)

Người Vợ Cô Đơn / Francois Mauriac (Cảo Thơm 1966)

Thời Nhỏ Trong Gia Đình/ Luvers / Boris Pasternak (Văn 1967)

Tâm Cảnh / André Maurois (Văn 1967)

Anh Môn / Alain-Fournier (Cảo Thơm 1968)

Vùng Đất Hoang Vu / Léon Tolstoi (Đất Sống 1973)

Giờ Thứ 25 / Virgil Georghiu (Đất Sống 1973)

[trích 40 Năm Hải Ngoại – Một Nén Hương Một Bông Hồng Cho Những Nhà văn Nhà Thơ Đã Khuất Núi – NhậtTiến]


Nhưng từ ý định đến thực hiện được ý định Kim đã mất hơn một tháng. Kim làm việc tại một xưởng hoa giả từ hơn hai tháng sau khi định cư. Nếu Kim là người ham có nhiều tiền, cân nhắc kỹ lợi và thiệt giữa những sở làm có thể kiếm được thì Kim đã không ở lâu tại xưởng này tới mười tám tháng. Sau gần bốn tháng chuyên một việc ngồi nắn những sợi dây kẽm đã cắt sẵn thành hình thù cành hoa – một công việc không nặng nhọc nhưng rất cực cho mấy ngón tay của Kim suốt ngày không ngừng uốn những đoạn thép cứng – Kim mới có cơ hội lộ được tài khéo, và tiến hai bước tới khu vực làm việc có giá nhất xưởng, nơi những bộ phận rời – cánh, lá và hoa – được ráp lại rồi xếp trong hộp có lót và phủ giấy lụa. Cùng làm việc tại đó với Kim có năm bà đã lớn tuổi, ai cũng đã làm với hãng cả chục năm. Bà nào cũng giấu kỹ sổ lương lãnh mỗi tháng, nhưng Kim không thấy thái độ thương bảo hoàng hơn vua của họ đối với hãng đủ chứng tỏ mức lương cao, vì coi bộ bà nào cũng thiếu tiêu, bữa trưa ở sở rất đạm bạc. Riêng phần Kim, với mười tám tháng làm việc đều đặn và ba lần lên lương, mỗi giờ làm việc của Kim mới được trả cao hơn số tối thiểu luật định có đúng năm mươi xu. Ở một thành phố lớn và sẵn những hiểu biết về may cắt Kim có thể, như nhiều bạn gái đồng cảnh khác, chịu khó kiếm một chân chuyên môn sửa lại quần áo may sẵn cho vừa với kích thước của từng khách hàng tại các tiệm lớn và được gấp ba số lương giờ hiện tại của Kim. Nhưng Kim đã ở lì tại xưởng hoa giả vì một lý do Kim cho rằng rất lớn, sở làm gần nhà, Kim đi bộ mỗi lần không đầy mười lăm phút, tránh được mọi phiền toái nếu ở xa phải di chuyển bằng bus hay một cách nào khác. Hơn nữa, bà chủ xưởng từ ngày biết được tài khéo và đức siêng năng của Kim đã thường có những cử chỉ săn sóc. Kim hiền và thơ ngây, không như những người làm công đòi hỏi chủ nhân nên săn sóc cụ thể qua tấm séc tiền lương mỗi nửa tháng. Kim đã cho những săn sóc không tốn tiền đó một cái giá tình cảm và không muốn thay đổi. Tháng trước, khi Lũy lần đầu giục xuống chơi, Kim đã dự định xin nghỉ một tuần. Mấy bà đồng sự nhao nhao phản đối, Kim cũng mặc. Nhưng Kim đã vui lòng đổi ý khi đích thân bà chủ giải thích cho biết hàng đang lúc phải sản xuất gấp cho kịp nhu cầu và khuyên Kim nên hoãn lại một tháng chờ qua mùa đã. Kim không nghĩ rằng đã xúc phạm tới mối tình đối với Lũy khi đặt quyền lợi của bà chủ hãng trên sự thúc giục của bạn, không ngớt dựa vào một lý do rất mơ hồ nhưng Kim thấy thấm thía lắm: còn ăn ở với nhau cả đời, lo gì.

Lũy cũng tin tưởng nơi sự lâu bền tương lai, nhưng không bớt ham hố với hiện tại. Sau lần viết thư đề nghị Kim xuống thăm nơi định cư của mình và Kim trả lời đồng ý, trong vòng hai tháng Lũy đã năm lần thúc giục. Lũy cảm thấy có quyền hối hả như vậy. Hai mươi tháng trước, hai người lần đầu gặp nhau ở trại tạm cư. Thời gian hơn một tháng ở trại đủ giúp hai người độc thân hiểu bụng nhau và cũng muốn tiến xa hơn tình bạn. Qua những dịp trao đổi tâm sự thường tỏ lộ sự cảm mến lẫn nhau cộng với một nhu cầu chung, tựa vai vào nhau cho thêm vững trước một tương lai quá nhiều mới lạ. Thái độ quyết tâm nhưng thận trọng của Kim đã kém bớt rất nhiều nỗi hối hả của Lũy. Do đó, Kim vẫn đi theo vợ chồng người chị họ và sự sắp đặt vô tình của tổ chức bảo trợ đã chia cách hai người tới trên một ngàn dặm. Hồi mới đến nơi định cư Lũy hầu như mỗi ngày viết thư cho Kim để than vãn vì xa cách và nỗi heo hút của thị trấn nhỏ. Những lời thư hồi âm của Kim đằm thắm nhưng bình tĩnh đã khiến Lũy từ bực tức ban đầu đổi qua quyết tâm chiều theo ý Kim, hãy mọc rễ tại chỗ rồi sẽ xây dựng sau. Sở năng về cơ khí của Lũy đạt được hồi tại ngũ đã giúp Lũy trở thành chuyên viên sửa xe hơi thành thạo sau hai khóa huấn luyện. Từ bốn năm tháng nay ông chủ trạm xăng kiêm xưởng sửa xe bên xa lộ ở cách thị trấn già nửa dặm đã gần như giao phó hẳn mọi công việc cho chàng phụ tá trẻ tuổi. Khách hàng cũng đòi hỏi được Lũy chăm sóc chiếc xe của mình thay vì ông chủ già chậm chạp và hay nói. Từ sáng tới tối Lũy hết chạy đi kéo xe hư lại lụi hụi sửa chữa. Ông chủ thành ra giữ vai trò trước kia của Lũy, chuyên một việc bơm xăng cho khách hàng. Nhờ lây thái độ thận trọng từng bước của Kim bây giờ Lũy đã bén rễ thật sự tại nơi định cư. Bắt chước Kim, và Lũy cũng muốn chọc lại Kim cho bõ với hơn một năm trường Kim bắt phải thận trọng chậm chạp, Lũy không rủ Kim xuống đây chung sống, còn bày đặt mời Kim hãy thử xuống chơi và xem xét đời sống mà Lũy sắp đặt cho Kim có hợp với Kim hay không. Bày đặt như vậy nhưng Kim chậm tới Lũy đã sốt ruột phải năm lần thúc giục trong vòng hai tháng.

Ngạc nhiên đến với Kim như một đụng chạm thật mạnh. Tên thị trấn nơi xe ghé cho Kim xuống vừa đọc thấy trên tấm bảng dựng bên đường thì xe đã đậu ở trạm. Trên hè trước của trạm có hai người đàn ông đứng dưới nắng chói chang. Kim ghé tới sát bên tấm kính cửa để ngó cho kỹ: Một ông Mỹ già cao lớn, áo sơ-mi kẻ ô vuông với chiếc nón rộng vành đặc biệt miền Nam và một người trẻ tuổi với bộ đồ thợ máy màu xanh và chiếc nón két đồng màu đội hất ngược ra sau gáy. Ý hẳn người trẻ tuổi nhận rõ gương mặt Kim kề sát tấm kính cửa bèn nở một miệng cười, khi đó Kim mới nhìn ra Lũy. Kim ngạc nhiên đến độ không kịp đáp lại miệng cười chào đón mừng rỡ của Lũy. Nhân viên trên xe phải nhắc Kim mới chợt nhớ và hối hả chuẩn bị để xuống.

Sáng sớm, khi lên máy bay, Kim đọc thấy ở phi trường ghi 22 độ đã tự nhủ rằng mình sắp đi vào mùa Xuân thật sự vì Lũy có cho biết trong thư nhiệt độ ở miền Nam lên tới 65. Từ mùa Ðông đột ngột bước sang mùa Xuân thật sự trong vòng có mấy tiếng đồng hồ đó là một thay đổi lý thú, đang háo hức chờ đợi. Chiều hôm qua từ sở làm đi bộ về nhà Kim thấy bao nhiêu cây cối bên đường đều trơ trụi lá trong không khí lạnh lẽo mùa Ðông. Sáng nay, khi ra tới công viên trước phi trường miền Nam, Kim đã tưởng như chói mắt trước những hàng cây táo nở hoa màu hồng rực rỡ. Tới trạm đáp xe bus Kim lại tần ngần đứng ngắm mãi mấy rặng lê hoa trắng, chen lẫn những gốc mộc lan trổ bông ửng một màu tím hồng. Dọc đường Kim không ngớt ngó ra bên ngoài để ngắm những cây sồi, cây du lộc non tưng bừng. Và tới đây, trên tay lề mề mang nào xách tay nào áo ngự hàn, trong khi nhân viên hãng xe lớn tiếng gọi nhận hành lý và Lũy hớn hở chạy tới đón, Kim còn bận ngơ ngác trong nắng ấm mong nhớ đã bao lâu, trước khung cảnh chung quanh tươi rói những thủy tiên, mẫu đơn, vạn thọ nhiều màu sắc.

Lũy phải nắm lấy hai vai Kim lắc mạnh, Kim mới bàng hoàng thốt một tiếng “Anh!”. Rồi vội tiếp để giải nét ngơ ngác trên mặt bạn: “Anh ơi! Em đang say… Say cảnh sắc miền Nam của anh. Em tưởng như mình là con bướm vừa ra khỏi kén. Trong sáng quá! Tưng bừng quá!”. Lũy vẫn không rời hai tay nắm vai Kim, đáp: “Ðây mới là mùa Xuân. Mấy tháng nữa em sẽ biết nắng ấm miền Nam như thế nào, những ngày oi nồng ở Sài-Gòn cũng chưa thấm!”. Kim không bắt lấy câu nói dè chừng của bạn, đẩy Lũy ra xa một chút để ngó từ đầu tới chân. Gần hai năm trời một mình trải qua hai mùa Ðông miền Bắc, Kim đã chịu được thì cái nóng miền Nam có ghê gớm đến đâu Kim chẳng ngại. Lũy chịu được thì Kim cũng chịu được, lo gì. Nhưng quả thật Lũy của Kim đã thay đổi hẳn sau thời gian xa cách. Kim soi mói từ đầu tới chân Lũy thấy chẳng còn chút gì trong hình ảnh chàng trai ở trại tạm cư. Từ phục sức tới điệu bộ Lũy đã lẫn vào đám đông mà Kim thường gặp. Với bộ đồ xanh lem vết dầu, cái nón kết hất ngược ra sau gáy, Kim thấy Lũy giống hệt những người thợ máy Kim trông thấy ở trạm xăng hay xưởng chữa xe. Kim gật đầu, nói ra ý nghĩ vừa qua trong trí. “Bằng lòng lắm!”

Lũy ngạc nhiên hỏi lại: “Bằng lòng lắm?” Kim đáp liền: “Vâng, em bảo trông thấy anh em bằng lòng lắm, và em cũng yên tâm nữa”. Lũy dẫn Kim tới trước mặt ông Mỹ già vẫn đứng đó đợi từ nãy với miệng cười không tắt: “Kim, fiancée của tôi, cô ấy bảo rằng tới nơi trông thấy tôi cô ấy bằng lòng lắm và cũng thấy yên tâm nữa”. Ông Mỹ già Ben được Lũy giới thiệu với Kim, ôm hôn Kim trên hai má rồi nói: “Ai ở đây cũng bằng lòng Lũy như cô, cô thấy yên tâm là đúng, cô có thể tin hai vai của Lũy có đủ sức vác gánh nặng cô trao cho Lũy”.

Ba người chia nhau mớ hành lý của Kim từ trạm đậu xe đi bộ lại quán xăng. Lũy nói với Kim: “Ðây là nơi làm việc của anh, ông bà chủ ở đây, còn anh ở mãi trong kia, thị trấn ở cách xa lộ chừng nửa dặm”. Bữa ăn trưa đã được chuẩn bị sẵn để đón Kim. Sau khi ôm hôn Kim, bà chủ Mary đẫy đà tươi tắn nói ra cảm tưởng đặc biệt của mình: “Tôi rất thích phụ nữ Việt-Nam, hầu hết bé nhỏ như búp bê, lọt thỏm trong vòng tay”. Rồi dắt Kim tới trước chiếc quầy vuông gắn liền với lò bếp kê giữa phòng. Bốn người quây quần trong căn bếp rộng kiêm phòng ăn thường ngày. Ngó qua một lượt những phụ tùng bày trên mặt quầy đã đoán ra món ăn trưa bà chủ dự tính đãi mình. Sống trên đất Mỹ đã gần hai năm, Kim chưa hề có dịp nào đủ can đảm thử nếm món ăn rất phổ thông này chỉ vì bản tính kín đáo nhỏ nhẹ. Cứ tưởng tượng hai mảnh bánh mì tròn to bằng nắm tay và chồng chất kẹp ở giữa những xà lách, đồ chua, nhiều cà tô mát, phô-mai, dưa chuột, với một, có khi hai, khoanh thịt bò bằm nướng nóng hổi, bấy nhiêu thứ kẹp lại mà phải cắn từng miếng sao cho đủ vị, cứ tưởng tượng Kim đã thấy ngán. Ngán không phải vì miếng ăn quá lớn mà bởi Kim không thể nghĩ rằng mình có thể há miệng đủ rộng để cắn một miếng và tưởng tượng phải há miệng như vậy chắc xấu lắm. Kim đưa mắt tinh quái ngó Lũy khi bà chủ cho biết hamburger là món Lũy rất thích, hầu như mỗi trưa Lũy đều tự tay làm lấy một cái hamburger thật bự.

Lũy mỉm cười đáp lại con mắt bạn trong khi Ben giới thiệu món ăn quốc túy: “Dự tính sống tại đây cô cần làm quen với món ăn này như Lũy. Nguồn gốc món thịt bò bằm ở mãi bên Bắc Âu từ trước thời Napoléon, sau lần xuống tới Ðông Ðức. Thủy thủ tàu buôn Ðức đưa tới New York và Louisiana vào khoảng đầu thế kỷ này. Lâu dần thành món ăn phổ thông của người Mỹ. Có hơn ba trăm kiểu ăn thịt bò bằm mang tên hải cảng Hamburg, kiểu ăn này phổ thông nhất.

Người Mỹ dễ chấp nhận những món ăn từ hải ngoại đưa tới, nhưng chế biến thành món Mỹ. Có nhiều người Mỹ ở Việt-Nam về rất thích món chả giò nhưng chả giò Việt-Nam bây giờ đang biến dạng, trở thành món egg-roll, giản dị hơn, rau sống không ăn kèm ở ngoài như kiểu Việt-Nam, mà chui vô trong, nhân bên trong cũng khác và khỏi cần nước chấm. Chả giò gốc Việt-Nam nhưng Mỹ hóa và bán ở tiệm Tàu, quán ăn Tàu ở đây có dọn món đó”. Ben vốn hay nói, mọi người khỏi cần chú ý, vừa nghe vừa lo sắp đặt cái hamburger của mình trên dĩa. Kim gần như hoảng kinh thấy Lũy giúp mình chồng chất đủ thứ bên dưới và bên trên khoanh thịt bò, đến khi úp nửa chiếc bánh mì lên cũng thành cái núi cao ngất! Lũy khẽ trấn an Kim: “Ðừng ngại, có đủ thứ mới ngon. Rồi em sẽ ăn quen, với lại ai cũng lo thưởng thức, chẳng bận tâm ngó cái big mouth của người khác đâu mà lo”.

Lũy đỡ lời Kim, nói với Greg: “Viết cho Kim tôi chưa đề cập đến sáng kiến đại lượng của ông. Tôi sẽ trình bày vấn đề với Kim, với những con số, tôi tin rằng sẽ thuyết phục được Kim cùng thực hiện sáng kiến của ông. Bây giờ tôi đưa Kim đi một vòng thị trấn. Bảy giờ chúng ta sẽ ăn bữa tối nhé?” “Ðồng ý, tôi phải vô bếp ngay mới kịp. Nấu một món đặc biệt miền Nam để đãi cô khách quý”.

Lũy đưa Kim đi vòng qua mé sau nhà qua khu vườn rộng đầy cây trái, mở cổng rào bước qua một cánh rừng thưa. Lũy nói với Kim: “Anh đưa Kim đi mua đường một chút nhưng thơ mộng hơn, cũng đỡ phải chào hỏi nhiều người khi qua khu phố da đen, Kim sẽ có đủ thì giờ để làm quen với họ. Vì Kim tới trễ nhằm đúng sinh nhật của ông Greg cho nên anh phải vội trình bày mọi chuyện cho Kim khỏi bỡ ngỡ. Như anh đã nói, và chắc Kim cũng đã nhận thấy trên gương mặt ông Greg, Greg là một người rất buồn, hoàn toàn cô độc. Greg có con cũng như không, còn khổ hơn không con vì biết chắc chúng đã bỏ rơi mình. Greg rất kín đáo nhưng Ben biết rõ hết. Từ ngày gặp Greg tỏ ra thương anh lắm, không một cử chỉ nào lộ liễu quá đáng nhưng anh biết Greg muốn coi anh như con, kín đáo lo tương lai cho anh. Tuy chẳng chờ đợi một tình thương như vậy anh cũng phải động lòng trước sự thành khẩn của một người già thiếu tình thương. Giải pháp giúp đỡ anh do Greg đề ra anh thấy chấp nhận được vì không đụng tới tự do cá nhân của anh. Chúng ta sẽ đem cố gắng và cần kiệm ra đánh đổi lòng tốt của Greg. Mọi chi tiết anh đã thu xếp xong với Ben. Bây giờ chỉ còn chờ em quyết định, chương trình lập nghiệp của anh có thành hay không là do em, có em anh mới cần sắp đặt lâu dài”.

Bước đi bên Lũy, bàn tay trái nắm cánh tay phải của Lũy, Kim lẳng lặng nghe. Nắng chiều vẫn chan hòa sáng khi hai người ra khỏi cánh rừng tới bên sông. Kim bóp mạnh cánh tay Lũy, nói: “Anh, cám ơn anh đã trình bày cặn kẽ cho em biết. Nhưng em có thể nói, em chẳng đòi một lời giãi bày nào của anh hết, cứ nguyên quyết định xuống đây hôm nay với anh đủ trả lời anh. Em yêu anh, em tin anh, nói vậy đã đủ chưa?”.

(còn tiếp 1 kỳ)

Trần Vũ đánh máy lại tháng 12-2019 từ bản in trong Tuyển tập Thơ Văn 90 Tác giả VN Hải ngoại 75-81 trang 235 đến 251, Nxb Văn Hữu 1982.

(*) Tranh minh họa của Loui Jover và bìa sách Folio.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Jun 2025

51. Lê Vy

Con Đường Vui, hình như cũng không cho biết bao nhiêu về Lê Vy.

Cùng với những Đoàn Lữ Nhạc của Đỗ Nhuận, Đi Với Tôi Tới Chân Trời Xa của Canh Thân, Nghệ Sĩ Hành Khúc Ca của Lê Yên, Con Đường Vui của Lê Vy được coi là một trong những ca khúc vui tươi trong sáng hiếm hoi của chung nền âm nhạc Việt Nam. Nhưng, nếu nghe kỹ ca khúc của Lê Vy, người ta sẽ thấy nó toát ra một vẻ gì đó không hoàn toàn vui, mặc dầu trong toàn bộ ca từ của bài hát không có một chữ nào buồn.

Có phải cũng giống như những chuyến đi của người Bô-ê-miên, tự nó mang sẵn nỗi buồn vô định? Có phải vì, ngay khi những người cùng hát với nhau ca khúc ấy trong một chuyến đi, có kẻ đã manh nha trong lòng ý tưởng bỏ cuộc?

Cho đến hiện nay, mọi người được biết rất ít về Lê Vy. Người ta không biết Lê Vy là tên thật của ông hay chỉ là bút hiệu. Ngoài bản Con Đường Vui ông còn sáng tác nào khác nữa không? Ngay cả Phạm Duy, người đã viết lời ca cho. Hay giản dị chỉ vì chính cái từ “Bô-ê-miên” trong lời ca của Phạm Duy đã làm nẩy sinh nỗi buồn ấy? Con Đường Vui của Lê Vy và Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng của Phạm Đình Chương cũng là những ca khúc đầu tiên của chúng ta được in ra với phần hòa âm soạn sẵn để hợp ca. Đã lâu lắm người ta không được nghe hát lại ca khúc này dù bằng một giọng hay nhiều giọng.

Nếu âm nhạc gợi nhiều kỷ niệm thì sự vắng tiếng của nó, nhiều khi cũng khiến người ta thắc mắc. Những nỗi thắc mắc khó có giải đáp. Một ca khúc nhỏ bé, nhưng nhiều khi chứa trong nó cả một quãng đời người ta đã trải qua, thậm chí một giai đoạn lịch sử, người sống, người chết …

Người ta buồn vì những gì mình đã quên đi. Người ta cũng buồn vì những gì bỗng nhiên nhớ lại.

Con Đường Vui

Nhạc: Lê Vy * Lời: Phạm Duy

Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió

Hồn như đám mây trắng lững lờ

Giang hồ không bờ không bến

Đẹp như kiếp Bô-ê-miên

Ánh dương lên

Một đoàn thanh niên

Giục nhau đi từ khi nắng sớm

Lúc gió chiều về trong tiếng tiêu

Bóng ai còn in trên đường dài

Đoàn người đi

Vượt rừng qua núi

Bước chân vui

Qua miền xa xôi

Kìa là đoàn người Việt Nam gieo thắm tươi

Đoàn ta vui bước trên đường mưa gió về

Còn nghe vang dư âm bao lời ca âu yếm

Đoàn ta tai lắng nghe hồn chinh chiến về

Đường xa đi cho quên bao thù xưa

Ban Tiếng Tơ Đồng