Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 31 Jul 2025

92. Trúc Phương.

Chúng ta có ba nhà soạn nhạc

gốc miền Nam, nghe nhạc chúng ta có thể nhận ra điều ấy, đó là: Nguyễn Mỹ Ca, Lam Phương và Trúc Phương. Nhạc của Nguyễn Mỹ Ca có vẻ như xuất phát từ một cây dương cầm, nhạc của Lam Phương có nguồn gốc từ chiếc ghi-ta phím lõm, còn nhạc của Trúc Phương là sản phẩm của một cây ghi-ta thùng. Trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta có một hiện tượng đáng ghi nhận khác nữa: có những bài hát gắn liền với tiếng hát và cả dáng dấp người hát, đồng thời nhắc nhở một quãng đời, một nơi chốn nào đó người ta từng sống.

Nhạc sĩ Trúc Phương

Ai đã từng sống ở Sài Gòn cuối thập niên 50, đã nghe nhạc Trúc Phương, hẳn không thể quên Nửa Đêm Ngoài Phố cùng tiếng hát và dáng dấp một thời người ta gọi là Liêu Trai của Thanh Thúy:

Buồn vào hồn không tên

Thức giấc nửa đêm

Nhớ chuyện xưa vào đời

Đường phố vắng đêm nao quen một người

Nửa đêm lạnh qua tim

Giữa đường phố hoa đèn

Có người mãi đi tìm

Một người không hẹn đến

Mà nuối tiếc …

Tiếc thay hoài công thôi

Phố đã vắng khuya rồi

Nếu âm hưởng của những câu vọng cổ vốn là cái duyên thầm trong nhạc Lam Phương thì chính lời ca của Trúc Phương làm nên [thêm] cái quyến rũ trong nhạc của ông. Riêng phần nhạc, phải nói cả Lam Phương lẫn Trúc

Phương đều có cá tính mạnh mẽ. Người ta có thể nghe và nhận ra nhạc của họ một cách dễ dàng, dù cả hai đều chịu ảnh hưởng cổ nhạc Nam phần.

Ảnh hưởng ấy trong nhạc Lam Phương hình như được chiếu sáng bằng ánh điện, ánh đèn sân khấu. Còn trong nhạc Trúc Phương dường như nó lại chỉ được soi rọi bằng ánh đèn dầu hay ánh trăng, nên tự nó toát ra vẻ u uẩn.

Trúc Phương viết lời ca sắc xảo:

Tôi ở miền xa

Trời quen đất lạ

Nhiều đông lắm hạ

Nối tiếp đi qua

Thiếu bóng đàn bà

Người không dám tới

Bèn viết cho tôi

Nhạc tình sao lắm lời

Xin xích lại một lần bên tôi

Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi

Đến với tôi, hãy đến với tôi

Đừng yêu lính bằng lời

Ca từ của Trúc Phương không có những chữ mới. Nhưng ông có cách diễn tả riêng, hợp nhất lời ca và giai điệu, tạo ra cái cõi nhạc riêng của ông, không lẫn với ai. Trong nghệ thuật, tạo ra được một cõi riêng như thế là một thành công lớn rồi. Trúc Phương, Lâm Tuyền, Y Vân … đều đã mất ở Việt Nam. Đã có một thời, sống ở trong nước, người ta sợ cả gặp nhau, vì không muốn nhìn thấy nhau trong cảnh quá đỗi tang thương. Đôi khi nghe tin ai đó chết, người ta có thể chảy nước mắt, nhưng cũng có phần mừng cho người đó không phải sống nữa.

Trúc Phương, Lâm Tuyền, sống ra sao trong những ngày cuối đời? Chúng ta không biết. Nhưng giả thử biết, chúng ta có thể làm gì cho họ?

Và giờ phút này đây, muốn gửi một đóa hoa tạ ơn tới họ, ta sẽ gửi về đâu?

Buồn Trong Kỷ Niệm

Đường vào tình yêu có trăm lần vui

có vạn lần buồn

Đôi khi nhầm lỡ

đánh mất ân tình cũ

Có đau chỉ thế,

Tiếc thương chỉ thế

Khi hai mơ ước đã không cùng

chung lối về

Mình vào đời nhau lúc môi còn non

tuổi mộng vừa tròn

Bông Hồng Tạ Ơn |407

Hương thơm làn tóc,

Nước mắt chưa lần khóc

Đến nay thì đã,

Đắng cay nhiều quá

Thơ ngây đi mất trong bước buồn,

giờ mới hay

Bao năm qua rồi còn nuối tiếc

Nghe lòng đầy giá buốt

Thương nhau rồi

Xa nhau rồi

Một lần dang dở ấy

Đêm lạnh vui với ai

Nụ cười ngày xưa chết trên bờ môi

héo mòn tuổi đời

Đi thêm một bước

Trót lỡ thêm một bước

Nếu ta còn nhớ

Mắt môi người cũ

Xin đem theo tiếng yêu

khi gọi anh với em

Thanh Thúy

Liên khúc Buồn trong kỷ niệm Thanh Thúy-Asia

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 22 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 31 Jul 2025

Kỳ 6

Không biết từ đâu, bác sĩ Năm Cà Dom xuất hiện, như một nhân vật trong truyện thần thoại.

Năm Cà Dom nói:

– Anh xem có giống quân thứ tư không?

Tôi nói:

– Quân thứ tư là quân gì?

Năm Cà Dom nói:

– Nhìn đó thì rõ, có ra cái thể thống gì hay không? Ấy vậy mà bảo là quân chiến thắng, đi giải phóng Miền Nam đó, giải cái con mẹ tôi chớ giải sao nổi mà giải, hả?

Tôi hỏi:

– Nãy giờ cậu ở đâu?

– Tôi mắc võng ngủ trong bụi cây chớ đâu. Tôi nghe các vị nói đủ thứ hết, nhung tôi không có lên tiếng làm chi, nhất là chống đối ông già lập trường mình nguy to. Tôi nói toàn chuyện đâm hơi không thôi mà! Ổng chỉnh mình có mà sói đầu!

Có lẽ Tấn thích thú vì cách ăn nói dí dỏm của Năm Cà Dom cho nên Tấn rề rà không thúc giục thiên hạ đi ngay.

Tấn hỏi:

– Hồi nãy anh nói quân thứ tư là quân gì anh?

Năm Cà Dom nhìn Tấn rồi nói:

– Cậu không biết có quân thứ tư đâu. Cỡ tuổi tôi với ông nhà văn này thì mới biết được cái thứ quân đó. Hồi kháng chiến chống Pháp kia, cái quân đó rất nổi tiếng nhất là ở chỗ nào có “phờ nờ” thì loại quân này thường xuất hiện.

Ông Chín gầm lên:

– Tôi không hiểu tại sao các cậu kháng chiến chín năm rồi, ra Bắc sống trong xã hội chủ nghĩa cả chục năm mà hở miệng ra toàn nói chuyện mất lập trường.

Năm Cà Dom cười khè khè:

– Nói chơi cho vui cái bụng, để cái chân nó bước theo, nếu để ủ rũ như cụ thì buồn lắm, bước đi không nổi đâu, mà rồi dễ sinh bịnh hoạn lắm.

Tôi chêm vào:

– Bác sĩ nói cái gì cũng kèm bệnh hoạn vào đó hết.

– Con người là sanh, lão, bệnh, tử mà. Chạy đường nào cho khỏi! ý mà quên chớ để tôi nói chuyện quân thứ tư cho cậu Tấn nghe nhé…

Năm Cà Dom đặng hắng lấy trớn rồi nói:

– Số là hồi kháng chiến chống Pháp thì ta có ba thứ quân. Một là chủ lực quân, hai là địa phương quân, ba là du kích quân.

– Còn quân thứ tư? Tấn sốt ruột hỏi. Quân thứ tư là quân gì anh?

Năm Cà Dom vui vẻ tiếp:

– Xin lỗi ông Chín, để cháu kể cho cậu bé này nghe chút xíu, vui chơi không có gì mất lập trường đâu!

Số là có một gia đình nọ có một cô con gái, một hôm có bộ đội tới đóng trong nhà. Ông già cô ta thấy mấy chú em khi chiều đùa giỡn với đứa con gái thì sinh nghi, cho nên nửa đêm ổng thức dậy thắp đèn giả đò đập muỗi. Ông ta đi vô buồng rọi mùng cô con gái thì thấy ngoài vách mùng thòi ra hai cặp chân. Ông ta lẳng lặng quay ra…

Ông Chín cau mày, nhưng không biết làm sao mà chặn câu chuyện của Năm Cà Dom lại được. Ông bèn lảng đi chỗ khác.

Năm Cà Dom thì cứ vui vẻ kể tiếp:

– Ông già thấy nguy to rồi, nhưng không lẽ làm gì bây giờ. Làm to ra thì đổ bể mất thanh danh bộ đội mà chằng hay ho gì cho con gái mình. Cho nên, dung hòa giữa sự tức giận và thanh danh con gái, ông già bèn gọi anh chỉ huy thức dậy, đốt đèn, châm trà mời anh ta, rồi cuộn thuốc hút chậm rãi từng hơi. Hút độ nửa điếu thuốc ông ta mới bèn quay sang anh chỉ huy và bắt đầu câu chuyện.

Năm Cà Dom cười:

– Chắc ông Chín ghét tôi lẩm. Nhưng mà ổng cũng biết câu chuyện đó mà.

Tấn nói:

– Hay thật! Ông già hay thật!

Năm Cà Dom nói:

– Tôi cũng phục lăn ông già!

Tấn nói:

– Thôi các ông mình chuẩn bị đi. Đường đi sắp tới toàn leo dốc và vắt.

Thu hỏi:

– Vắt gì anh?

– Con vắt nó đeo chân đeo tay nó cẩn nó hút máu mình chớ vắt gì? Nói rõ ràng hơn là nó là một loại đỉa sống trên khô và trên cành cây.

– Eo ôi! Sao kỳ vậy!

– Chớ nhỏ lớn chị không biết con vắt à?

– Không thấy bao giờ.

– Thì đại khái nó đeo có chùm, nó hút máu mình. Và khó bắt khó gỡ lắm. Tấn nói tiếp với mọi người: Bây giờ tôi xin phổ biến một việc đề chống vắt nhé, bà con mình có ai làm theo thì làm, không làm thì thôi. Tùy ý tôi không ép ai hết… Bây giờ chịu khó vô rừng chặt cái dây bồ hòn đâm ra cho nhuyễn. Bỏ vô một cái ống trúc rồi đổ vào đó một tí nước. Đi trên ớ đường này người nào cũng làm một cái ống trúc đựng bồ hòn như vậy, để trị vắt. Vắt nhiều lắm. Tôi nói thật đấy. Nó đeo có chùm chứ không phải đeo từng con như các ông các bà tiểu thư tưởng tượng đâu. Các bà các cô nào nghe nói vắt cũng nghĩ rằng nó sẽ đeo cắn từng con một và muốn bắt nó chỉ cần đưa hai ngón tay nắm nhéo lấy nó như một cử chỉ sang trọng vậy thôi. Tôi báo trước là không phải như vậy đấy Nó đeo cả chùm, nó đeo kín cả bàn chân, nó đeo tới cổ, trên đầu mà cắn đấy. Tôi nghe nói có một người. bị vắt cắn vào động mạch cổ mà ngủ quên, tới sáng máu ra nhiều quá, mệt ngất không dậy nổi chớ chẳng phải chơi đâu.

Tấn tiếp:

– Bây giờ các ông các bà đi chặt dây bồ hòn và ống nứa bào chế một món thuốc trị vắt như tôi vừa nói đó đi. Còn ai có nhiều kí-ninh thi gói kí-ninh vào cái mảnh vải, làm thành một cái bọc, cứ hễ vắt đeo thì chấm vào là nó rớt xuống ngay. Nhưng tôi biết không ai lấy kí-ninh mà thay bồ hòn chí nên lấy bồ hòn mà thay kí-ninh thôi. Tôi nói vậy, không có nghĩa dùng bồ hòn để trị vắt mà thôi, mà dùng bồ hòn để trị sốt rét cũng rất tốt. Người ta nói đắng như bồ hòn, thật là đúng vô cùng, tôi đã từng uống bồ hòn thay cho kí-ninh để cắt cơn sốt. Chao ôi, uống một hớp, đi tới mật xanh! Đắng hơn kí-ninh gấp một trăm lần.

Thu lắc đầu:

– Tôi nghe mà cũng ngán ngẩm tâm thần. Đường gì mà kỳ cục quá. Càng đi càng kỳ cục ra thêm.

Thế là đoàn người bắt đầu đi chặt dây bồ hòn. Con suối đã ở lại phía sau lưng, nhưng cái dốc núi lại dựng lên trước mặt.

Anh Khẩu đội trưởng tự nãy giờ vẫn ngồi sụp ở đó bây giờ mới tỉnh ra. Anh ta ngơ ngác.

Có lẽ anh ta đang đấu tranh tư tưởng xem nên đi cùng với đoàn hay quay trở lại khiêng cái nòng pháo.

Tội nghiệp, làm chỉ huy như anh ta cũng khó. Ở lại thì ở với ai, ai sẽ góp sức khiêng với anh ta, còn đi thì bỏ mất cái nòng pháo ấy hay sao? Không có ông nào giải quyết giúp anh ta.

Ông Chín biết rõ câu chuyện bèn lân la tới hỏi:.

– Đơn vị lớn của đồng chí ở đâu?

– Trung đoàn của cháu đã đi trước. Nghe nói bộ phận tiền tiêu bị biệt kích tiêu hao, có cả đồng chí Trung đoàn phó trong số hy sinh.

– Ở sau đồng chí, còn đơn vị nào thuộc trung đoàn của đồng chí nữa hay không?

– Dạ, đơn vị pháo của cháu là đơn vị đi sau cùng của Trung đoàn.

Ông Chín ngẫm nghĩ một chốc rồi nói:

– Đồng chí là người chịu trách nhiệm về cái nòng pháo đó và cả đơn vị của đồng chí trước cấp trên. Nếu đồng chí để đơn vị tan rã, mất vũ khí thì giai cấp vô sản thế giới sẽ thất vọng ngay vì có một cán bộ vô trách nhiệm như thế mà lại đứng trong đội ngũ tiền phong của giai cấp…

Tôi và Năm Cà Dom nháy nhau che miệng cười. Ông lập trường lại giở sách vô sản ra rồi. Giai cấp cái gì? Bắt con người ta è cổ ra khiêng thép khối như thế mà không cho cái gì đắp đầu gối hết cả mà cứ ngồi ở trong nhà rượu thịt đầy phè, cứ khen “chiến sĩ ta vai đồng chân sắt.”

Tôi nói với anh Khẩu đội trưởng:

– Anh cứ đi tới đi. Vô gặp trung đoàn rồi báo cáo. Chứ quân số hao hụt như thế làm sao di chuyển cái nòng pháo kia nổi? Mà anh ở lại, coi chừng mấy thằng đánh anh hôm qua, chúng gặp lại anh chúng thịt anh đấy nhé! Lũ ấy nhất định sẽ trở thành phỉ chớ không có trở về đơn vị nữa đâu.

Anh Khẩu đội trưởng lắng nghe cả ông Chín và tôi, nhưng có lẽ không có lý do nào làm cho anh đi tới bằng cái lý do tôi vừa nêu lên.Anh ta tàu bàu:

– Lính tráng gì khốn nạn thật!

Rồi Tấn dẫn đầu, cả đám người vừa nam phụ lão ấu vừa đau vừa mạnh lôi thôi lếch thếch đi theo sau. Vừa được ít bước thì đã đụng dốc.

Dốc gì dốc vậy chớ. Năm Cà Dom đã chửi thề ngay:

– … Tôi mà có phép gì tôi sẽ san bằng hết tất cả núi non này!

Một chốc lại nói.

– Tôi xin đổi cái dãy núi này với một lon gạo, ai có đổi không?

Tôi để cho Thu đi trước, tôi đi kế tiếp, Năm Cà Dom, ông già Noël và ông lão lập trường đi phía sau. Còn anh Khẩu đội trưởng lưỡng lự một chút rồi cũng đi theo luôn. Anh ta đi khặc khừ trông đến thương hại. Có lẽ anh ta không dứt khoát với “cái đuôi” là nòng pháo nặng nhọc ở phía sau và với cái “đầu lập trường” là ông Chín.

Tôi nghĩ vậy mà đúng thật. Tôi chú ý thấy ông Chín đi ít bước lại quay lại nhìn anh Khâu đội trưởng, như cật vấn:

– Anh đi như thế, bỏ cái nòng pháo lại cho ai?

Dốc càng ngày càng đứng sững lên. Thu đi rất khó nhọc vì trời mưa đường trơn mà lại phải trèo. Người đi trước đã bẻ quặt nhữngcây nứa bên đường xuống để làm tay vịn cho những kẻ đi sau bám đó mà trèo lên.

Tôi vừa đi vừa ngước cổ lên. Không thấy gì cả, ngoài cái đít ba lô của Thu.

Cái đít ba lô và cái lưng… của Thu nữa.

Lần nào tôi ngước lên thì mắt tôi cũng chạm vào hai cái đó. Tôi bảo:

– Cố gắng lên em.

Thu không nói không rằng. Bước đi nặng nhọc, day dứt. Sở dĩ tôi nói bước đi day dứt là vì tôi biết trong bụng Thu không vui. Nếu không có tôi kềm cặp nàng thì chắc nàng không đi tới. Nàng đã nhiều lần nói thật với tôi cái điều đó, không úp mở.

Con sông vừa vượt qua chiều hôm trước như một cái lằn mức tư tưởng của nàng. Nàng định tạm biệt tôi ở phía bờ Bắc. Dù hai đứa có yêu nhau thì đành hẹn nhau một cơ hội khác, có lẽ ở kiếp sau vậy. Còn trên đường đi này, yêu nhau là một cái tội, một cái khổ một cái nợ, cái nần, hay bất cứ là cái gì không phải là cái vui.

Vì yêu nhau thì phải phí sức, phí sức một cách tự nguyện, rồi lại còn phải phí sức vì những việc khác như mang đồ đạc giúp, dìu dắt nâng đỡ, v.v.

Nhưng Thu vượt qua bờ Nam của con sông vô danh đó là vì một trận bom tơi bời. Cả trạm lẫn khách đi đường đều phải tức tốc dời qua phía bên bờ Nam để ẩn náu. Vì thế Thu phải đi cùng với tôi. Sang bờ Nam, Thu lại cũng định nằm lại tạm biệt tôi lần nữa. Nhưng ở bờ Nam lại không có trạm, không có ai nhận Thu. Cho nên Thu lại phải đi vào với tôi vượt con suối ác nghiệt vừa rồi và bây giờ thì trở thành chú rùa leo núi trước mặt tôi đây.

Đấy, một con người “đi giải phóng miền Nam” với một tâm tư như thế đó, như thế đó mà lại đi giải phóng miền Nam!

Tôi nhìn cái gót chân của Thu ở ngay cái chót mũi của tôi. Trời, dốc đứng gì ác thế!

Anh giao liên đứng ở trên đầu chúng tôi quát xuống:

– Đi cho chắc, ngã một cái là rơi vào đầu người ở dưới đó nghe.

Tôi cũng biết điều đó, nhưng khi nghe Tấn nói thì tôi càng sợ hơn. Hãy tưởng tượng một người ở phía trên rơi xuống đầu mình với tất cả ba lô, đồ đạc, có khi cả súng. Rồi người ở dưới lại rơi xuống đầu người đi dưới nữa, thành ra hằng loạt người sẽ ngã! Một sự đồng loạt ngã!

Cái bàn chân của Thu cứ ở trước mũi tôi. Tôi nhìn cái bàn chân của nàng như một cái mục tiêu để nhắc chân tôi lên. Cái bàn chân thon thon nho nhỏ bị ràng trong nhũng sợi dây thun đen bó riết lại làm cho làn da nhăn nhúm đi. Cái bàn chân đặt trên chiếc đế cao su cũng đen và xùi xễ như nền tảng của sự đau khổ và của cái tương lai cũng đen ngòm như màu cao su đó. Cái mà đôi chân ngọc ngà của Thu phải đặt lên, phải bước lên, phải giẫm lên phải là cái nền nhung lụa, phải là gấm vóc, phải là trái tim của những chàng thanh niên say đắm nàng. Đôi bàn chân ấy là niềm tự hào của nàng, vì cái sự xinh xắn của chúng, vì cái tài hoa của chúng. Đôi bàn chân ấy đã đưa nàng bay lên như đôi cánh vỗ mênh mông trong nghệ thuật.

Thế mà giờ đây, đôi chân ấy lại bị bó riết trong những sợi cao su thô kệch, đặt trên cái đế cao su cứng và chẳng có nhiệm vụ gì hơn là giẫm trên những mô đất nhấp nhô, trèo leo trên những dãy đá tai mèo.

Đôi chân ấy chính là sự ước mơ cháy bỏng của tôi. Đôi bàn chân như hai cái búp non bay lượn lung linh trên sân khấu Hà Nội, trong sự hớn hở, chào đón của mọi người trong một giấc mơ ngắn ngủi và thú vị. Trong một cơn mưa mù mịt dầm dề, tôi đã làm chủ của đôi bàn chân ấy. Tôi ôm ấp chúng trong sự thỏa mãn hoàn toàn, vừa của tình yêu vừa của nghệ thuật.

Cho nên bây giờ trông thấy đôi bàn chân ấy trơ trọi ra trần trần bằng thịt xương trần tục và bị đọa đày khổ sở thì tôi đau xót khôn cùng.

Bất thần, tôi nắm chặt lấy cổ chân nàng, nắm thật chặt làm cho nàng kêu lên và dừng lại. Nàng quay lại nhìn xuống và nói:

– Em ngã bây giờ.

Tôi cười:

– Ngã đi! Ngã đi!

– Em ngã thì anh chết!

– Em cũng chết.

– Nhưng mà anh chết trước em.

– Em chỉ chết sau anh một tích tắc thôi.

– Như thế anh vẫn chết trước em.

Tôi cười. Tôi nói tiếng chết với nghĩa bình thường nhưng về sau tôi lại đâm ra dùng nó trong một cái nghĩa thứ hai. Có lẽ Thu không hiểu cho nền tôi nhắc đi nhắc lại cái tiếng chết. Tôi bảo:

– Thôi em đi lên đi rồi anh theo kẻo người ta giục.

Mà thật, ông Chín ở phía sau đã gầm lên:

– Đùa cái gì mà đùa giữa lúc này? Muốn hại mấy người đi sau hả?

Thu lại bướng lên. Tôi nói tiếp:

– Phải rồi, con gái thì bao giờ cũng chết sau con trai, phải không em?

– Vâng đúng như vậy, em chẳng bao giờ chịu chết trước anh.

– Nhưng nay mai anh sẽ có cách làm cho em cùng chết một lúc với anh hoặc chết trước anh cho mà xem.

– Không! Em nhất định không chết trước anh!

Tôi cười ý nhị, có lẽ giọng cười làm cho Thu sực nhớ ra rằng tôi dùng cái tiếng chết với ý nghĩa tân kỳ hơn.

Tôi nói:

– Em không nhớ có lần em chết trước anh à?

– Anh chỉ bịa…

– Anh không bịa. Em không nhớ cái lầ đó… ó… à?

Thu lặng thinh. Có lẽ Thu đã ngẫm ra cái nghĩa thứ hai mà tôi cố ý dùng một cách ý nhị. Thu lầm lũi đi, một chốc mới quay lại nhìn chăm chú vào mặt tôi và nói:

– Em ghét mặt anh lắm.

Tôi cười:

– Ừ thì ghét. Tôi vừa nói vừa nắm cái cổ chân nàng mà ghì xuống.

Nàng kêu lên:

– Ây chết! Em ngã…

– Ừ ngã xuống đây, ngã đi nào… Ơ kìa không dám ngã à?

Thu càu nhàu:

– Anh nghịch ghê cơ.

– Ừ anh nghịch lắm cơ.

Cái tiếng “nghịch” cũng lại là một tiếng chúng tôi hay dùng với nhau nhất là Thu hay dùng để cằn nhằn tôi trong những giây phút đặc biệt của nhau. Cho nên vừa dùng nó là Thu lại sợ tôi lạm dụng nên nàng lặng thinh không nói gì nữa.

Anh giao liên từ trên nói xuống:

– Cố lên! Còn một cái dốc nữa là tôi cho nghỉ xả hơi.

Tôi nghe ù ù như muốn vỡ màng tai, mồ hôi vã ra như tắm. Hai chân tôi như sắp rời ra khỏi thân mình. Hai sợi dây chằng háng như không còn sức co giãn để lôi hai chân tôi lên nữa.

Tôi bám từng nhánh cây, từng thân cây một, từng hòn đá, từng mô đất một, để ghì lấy mà câu cả cái khối nặng vừa thân thể vừa ba lô đồ đạc lên. Nhiều lúc tôi phải bò. Đúng là con vật đi bằng bốn chân của thời nguyên thủy. Con đường gieo neo, vất vả và hai bên lúc nào cũng có hố sâu vực thẳm. Tôi nghĩ. Cái gì cũng dẹp hết. Chỉ còn lại cái quê hương nhỏ bé riêng tư của mình. Chỉ còn lại cái mái nhà xưa cũ của mình, trong đó có hai mái tóc – ngày mình ra đi, hãy còn xanh, mà cho tới nay tôi cũng tưởng là vẫn còn xanh nhưng với thời gian những máí tóc ấy đã bạc ra từ lâu vì mong nhớ!

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 12 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 31 Jul 2025

Kỳ 5

Trưa rừng sau cơn mưa, lá cây chuyển động trong sự lặng lẽ âm thầm, những búp non nảy thêm ra. Nhựa cây chảy rạt rào trong thân cây.

Tôi cứ quên đi những luồng thán khí do cây thở ra và làm hại đến sức khỏe con người mà tôi cứ tưởng đây là cảnh rừng thơ mộng với các áng hương thơm lâng lâng sực nức lòng người.

Nhưng nghe câu chuyện càng rầu. Chuyện qua đã không hay ho chi. Còn chuyện sắp tới thì không như mình tưởng.

Hồi ở Hà Nội, tôi cứ tưởng tượng qua các bài báo bốc tếu tới trời. Tưởng về tới quê hương là toàn bầu trời xanh mát, xuồng ghe tấp nập, bộ đội hành quân bằng đò máy, v.v.

Tôi sực nhớ có một thằng nhiếp ảnh bất lương nói láo. Hẳn ta bịa tạc, dàn dựng đâu ra tấm ảnh một cô gái “co kéo” rất ngon lành chẳng thua đào hát bóng, vậy mà cô ta chống xuồng bằng cây sào rất dài, ở phía sau cô ta lố nhố xuồng ghe và người. Dưới bức ảnh để một câu nghe khoái chí tử:

“Đuổi giặc trên Đồng Tháp Mười trong sương sớm”

Ông vải ơi! Bây giờ tôi mới vỡ nhẽ ra. Giặc đi trực thăng mà ta đuổì bằng xuồng! Vác xuồng câu đặt trúm của Tháp Mười mà đuổi giặc đi trực thăng. Theo như cậu Tấn vừa nói thì trực thăng đâu phải là chuồn chuồn mà dễ xơi như vậy!

Vậy mà tấm ảnh đó được các báo tranh nhau đăng trang đầu xuân, và nhà nào cũng tìm cho bằng được để đem về treo cho con cháu xem cái sự đánh giặc đánh giã ở trong Nam!

Tôi quay lại hỏi Tấn:

– Thế rồi bọn mình làm sao mà đối phó?

– Cái gì chớ cái trực thăng mình không đối phó được anh ạ! Nó kỳ cục lắm. Để anh về trỏng rồi nếm mùi trực thăng, chứ bây tôi nói, ông già ổng bảo là tôi đánh giá địch quá cao.

Anh Khẩu đội trưởng gắt ầm lên làm đứt ngang câu chuyện của tôi và Tấn:

– Đâu, cậu nào trong Khẩu đội 2 đâu, tập họp! Mau lên!

Chẳng có ai nhúc nhích cả.

Anh Khẩu đội trưởng! Đó là một hình tượng ai trông thấy cũng thương tâm. Tôi không hiểu anh là người gì, là cái gì nữa cơ! Đầu thì băng bó, mặt mũi bơ phờ, tay chân thì trắng bợt ra, những đầu ngón tay ngón chân thì tím ngắt.

Anh chỉ còn mặc mỗi cái quần đùi. Anh vừa dưới nước trồi lên như từ dưới âm phủ hiện hiện về vậy.

Vâng, anh cũng khá lãm. Anh còn nhớ mình là Khẩu đội trưởng phải điều động cái nòng pháo lửa đi tới, đi cho thấu tới Miền Nam. Vì thế cho nên anh mới bị linh dưới quyền của anh tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết, có lẽ một trận tệ hại nhất trong đời làm chỉ huy của anh.

Anh ta đi lật mặt từng người lên mà xem và gọi và quát và… năn nỉ. Vâng, chỉ huy ở đâu chứ chỉ huy ở cái đường Trường Sơn này không có nghĩa lý cái chi, nếu không nói là nó không giống như chỉ huy ở các nơi khác. Vì sao? Chỉ huy là khoa học, là kỷ luật.

Nhưng ở đây thì chỉ có một vế thôi, nghĩa là chỉ bắt lính giữ kỷ luật… sắt Nhưng muốn cho nó giữ kỷ luật sắt thì ít ra phải cho nó ăn uống đầy đủ, ngủ nghê đẫy giấc, quần áo giày dép tươm tất, xe pháo đúng tiện nghi. Chứ còn một hạt muối không phát thêm cho nó, thép khối như thế kia, bảo nó khiêng nó vác làm sao? Mà lại đi dưới nước thay vì đi trên bộ, leo núi thay vì đi đường phẳng, pháo thì phải kéo bằng xe chứ chẳng có quân đội nào mà lại di chuyển pháo bằng vai, trừ ra những đạo binh hồi thế kỷ thứ 13 trở về trước.

Thế cho nên cấp chỉ huy như anh Khẩu đội trưởng này đây phải có hai “cây gậy chỉ huy” một cây đúc trong lò “cách mạng vô sản” hai là cây gậy làm bằng bông gòn có tẩm nước hoa, không phải dùng để quơ múa ra lệnh mà để dùng quét qua quét lại trên mũi của chiến sĩ.

Anh Khẩu đội trưởng đã dùng cây gậy sắt đối với lính anh ta hôm qua rồi. Cây gậy đó bị những ông thần đói quật lại gãy tan tành và chính vị chỉ huy cũng no đòn, suýt chết. Vì thế cho nên anh ta phải dùng tới cây gậy bằng bông gòn. Chứ sao? Thằng khôn ngoan là thằng phải biết xoay trở theo thời thế, nhân tâm. Cưỡng lại nó thì tan xác ngay thôi mà.

Anh Khẩu đội trưởng đi đến một anh đang ngồi trên rễ cây. Anh ta vỗ vai cậu lính:

– Đi cậu, trở lại tiếp một tay.

– Tiếp làm gì ạ?

– Khiêng pháo!

– Chặng này đâu phải phiên em!

– Cậu tên gì nào?

– Thủ tưởng quên cả tên em à?

– Ừ, ừ mày tên Tùng phải không?

– Em tên Tụng ạ. Trần Thế Tụng.

– À, cậu đã từng…

Cậu lính có tên Tụng cúi nhìn xuống đất. Cậu ta nói cái tên của cậu ta ra, như muốn nhắc lại cho anh chỉ huy nhớ một thành tích bất hảo của cậu ta.

Và có lẽ anh Khẩu đội trưởng đã nhớ lại rồi. Anh đã nhớ ra thằng Tụng là thằng gì rồi.

Hắn nhảy tàu nổi tiếng, và lúc nào cũng tìm cơ hội để quay. Hắn ta có cặp giò quấc và đôi mắt chim mèo. Có lẽ vì biết rõ thành tích của cậu lính này mà anh Khẩu đội trưởng không muốn tiếp tục năn nỉ nữa.

Anh ta quay sang một cậu có gương mặt bầu bĩnh dễ thương đang treo võng nằm vắt vẻo ở một hốc đá.

– Này, cậu tên là Thường phải không?

– Dạ vâng ạ.

– Cậu còn khỏe thì trở lại khiêng tiếp cái nòng pháo với tớ. Nó còn nằm đằng kia.

– Dạ em sốt quá, thủ trưởng.

– Tớ cũng đang sốt đây.

– Em đi không nổi ạ!

– Thế thì làm sao?

– Có mấy cậu kia còn khỏe lắm.

– Mấy cậu nào?

– Thủ trưởng bước quá vào cái bụi kia. Chúng nó đang ngồi dụm ở đó, nói chuyện râm ran.

Anh Khẩu đội trưởng hơi nóng mặt. Anh ta lại quơ cây gậy thứ nhất lên.

– Các cậu vô kỷ luật đến thế là cùng.

– Dạ, em đâu dám ạ!

– Các cậu coi chỉ huy của các cậu còn kém con b…

– Dạ không ạ, em không dám ạ!

– Chúng mày sẽ bị đưa ra tòa án quân sự.

– Dạ vâng ạ, em sợ lắm ạ!

– Đồ láo! Chúng mày là một lũ vô dụng!

– Dạ vâng, chúng em toàn một lũ vô dụng, ăn hại ăn bám cả cho nên bây giờ em không thích ăn bám nữa ạ?

– Mày đừng có lắm mồm!

– Em sốt quá. Thủ trưởng còn kí ninh không?

-Còn cái gì?

– Thủ tướng còn muối không?

– Đây này, còn cái này này. Anh Khẩu đội trưởng văng tục.

– Muối em chảy ra nước đổ hết cả rồi?

– Tao bây giờ chỉ còn trên răng dưới dế, chứ còn cái gì?

Nói xong, anh ta ngồi phệt xuống đất, không còn sức lực đứng để nới gì nữa.

Tôi bèn nhắc anh ta, như cậu lính nói lúc nãy:

– Anh nên đi lại gọi cái đám sau bụi cây kia. Mấy cậu đó trông còn khỏe.

Tôi nói vậy mà anh ta dựng người lên như nhớ lại một điều quý báu. Anh ta xăm xăm đi về phía bụi cây, chân rảo bước, cổ nghển cao nhìn, như đặt hết hy vọng vào cái đám người “còn khỏe” đó!

Tôi cũng hy vọng sao cho anh ta tìm được một số người giúp anh khiêng cái của nợ kia tới đây.

Tôi nghển cổ nhìn theo.

Anh Khẩu đội trưởng vừa đi tới thi đám người kia ù té chạy vứt tung cả đồ đạc và bỏ cả quần áo đang phơi ở đó.

Anh Khẩu đội trưởng nhặt những hòn đá và những mẩu củi mục vứt bừa theo, vừa ném vừa nghiến răng chửi ỏm tỏi:

– Con mẹ chúng mày, đồ quân… quân…

Quân gì, tôi cũng không nghe rõ, nhưng chắc chắn đó là “quân đội nhân dân” đồng đội của anh ta.

Anh Khẩu đội trưởng quay trở lại, mặt tái xanh tái ngắt, ngồi xuống bên võng tôi và thở như trâu cắt cổ.

Bây giờ tôi mới nom rõ thân hình anh ta. Những nốt thâm đen khắp người và những vết sẹo trên mặt, chân có những vết còn đỏ hỏn. Vết thương mới trên trán còn rỉ máu ra nhuộm ướt vành băng.

Để cho anh bớt mệt, tôi mới hỏi:

– Gì mà tụi nó chạy toán loạn vậy?

– Mẹ… mẹ… chúng nó!

– Sao? Cái gì?

– Lũ khốn kiếp! Mấy thằng nó đánh tôi hôm qua.

– Thế à?

– Tôi giết chúng nó chết cha! Anh ta nghiến răng ken két.Tôi rơi mất khẩu súng ngắn rồi. Nếu không tôi bắn chết hết. Chúng nó phản động.

– Thôi đồng chí ạ!

– Thôi sao được.

Tôi nói:

– Mình là cán bộ! Vui hưởng sau, cực chịu trước.

– Thì đồng chí coi tôi đây, tôi có còn ra cái thứ gì nữa hay không? Tôi là con người hay con vật?

Anh ta xông tới giật khẩu AK của ai treo trên cành lên đạn và chạy vút đi. Nhưng anh ta đã không tìm thấy lũ người. Họ vừa tẩu thoát.

Anh ta quay lại, ném khẩu AK vào bụi và nói:

– Lính tráng gì thế? Lính tráng gì đánh chỉ huy.

Tôi nói xụi lơ:

– Thì chúng nó đói, chúng nó khổ quá mà. Với lại theo như tôi đi gần họ tôi biết, họ cũng không muốn đi vào Nam. Đi vào Nam là tôi đây này, vì tôi ở trong đó, mồ mả tổ tiên tôi ở trong đó, còn họ, còn anh, chính anh nữa, anh cũng đâu có muốn đi, đi làm gì? Nhưng bị bắt đi thì phải đi cho nên gặp khổ thì muốn quay lại.

– Ừ quay thì quay, thiếu gì “bê quay” trên đường này. Nhưng sao lại đánh cấp chỉ huy?

Tôi sẵn trớn, nói luôn:

– Vì cấp chỉ huy đánh nó, có phải không?

– Ừ đúng tại tôi đánh chúng nó!

Anh Khẩu đội trưởng như vừa phát giác ra một vấn đề gì vô cùng quan trọng. Ừ tại anh ta đánh chúng nó. Cho nên chúng nó đánh lại, khổ quá mà còn bị đánh thì chúng đánh lại, điều đó rất dễ hiểu thôi.

Những người tù bị giam trong khám rất khổ, và bị mất hết tự do giữa bốn tấm vách tường, sinh mạng như treo chỉ mành mà còn dám đánh lại có khi giết chết cả cai ngục thay, huống gì ở đây, họ không phải là tù.

Anh Khẩu đội trưởng bỗng giơ hai cánh tay gầy guộc lên mà kêu thảm thiết:

– Trời ơi! Như vầy thì tôi làm sao chỉ huy? Làm sao tôi hành quân nốt con đường này được?

Anh ta đấm ngực thùm thụp, nhảy tưng bừng lên, hai mắt đỏ nọc hai hàm răng nhai ngấu nghiến như có vật gì trong mồm:

– Thế này thì tôi chết, tôi chết! Tôi nghỉ, tôi nghỉ!

Rồi anh ta ngồi thụp xuống như đôi chân anh ta bằng sáp bị hơ lửa.

Tôi thương anh ta quá.

Chiều hôm qua khi xô xát nhau giữa anh ta và mấy cậu lính, tôi có trông thấy rõ màn kịch đó từ đầu tới cuối, khi mấy cậu lính đánh anh ta rơi xuống suối thì tôi lấy làm thích thú xem như sự uất của chính mình lâu nay được trả thù, được thỏa mãn, thấy vui thích cùng với các cậu lính kia, nhưng giờ đây, tôi mới hiểu thêm lòng dạ anh ta và thương hại anh ta, tội nghiệp cho cái nô tính của anh ta.

Anh Khẩu đội trưởng bị kẹp giữa hai cái gọng kềm “lính” và “nhiệm vụ”. Lính kiệt sức không muốn đi, không khiêng nổi nòng pháo quá nặng, còn anh ta là chỉ huy lại bắt buộc chúng nó phải khiêng và phải đi đến nơi. Vì chúng không làm theo ý anh cho nên anh đã đánh đã bắn (dọa) chúng nó. Và chúng nó sẵn sàng đánh lại anh.

Anh ta khóc rưng rức.

Tôi không biết lấy lời gì để an ủi anh ta, mà cũng không biết có nên an ủi anh ta không? Để cho anh ta khóc, có khi vơi đi nỗi sầu.

Tôi quay sang cậu Tấn giao liên.

– Bao giờ thì đi tiếp hở cậu.

– Chờ cho họ tới đủ thì đi.

– Biết bao giờ họ mới tới đủ?

– Bao giờ thì bao, tôi biết làm sao bây giờ?

– Nhưng biết bao nhiêu thì đủ?

– Ba mươi hai người dân chánh và một khẩu đội pháo. Đó ông Khẩu đội trưởng đang ngồi khóc hu hu đó.

– Họ đã tới đây bao nhiêu rồi?

– Đó họ đang ngồi rải rác đó. Anh thử đếm giùm xem?

– Độ hai mươi người. Nhưng nếu họ không đến đủ thì sao?

– Tới giờ đi mà chưa đủ rồi sẽ hay?

– Bây giờ cũng đứng bóng rồi.

– Ờ nhỉ.

Anh giao liên có vẻ thản nhiên không tỏ một sự thương xót nào đối với ai, kể cả đối với anh Khẩu đội trưởng. Anh ta dửng dưng như một người xa lạ, hoàn toàn ngoại cuộc.

Tôi thấy vậy bèn hỏi:

– Cậu không có cách nào giúp cho anh Khẩu đội trưởng sao?

– Giúp gì được mà giúp.

– Thấy rầu quá. Đã khổ rồi, lại còn gặp những chuyện thế này, tôi đi hết muốn nổi.

– Tôi gặp những cái cảnh này đã chán mắt. Thú thật với anh tôi không thích bộ đội trên đường này một tí nào.

– Sao vậy?

– Vì họ ẩu quá, bết bát quá.

– Thì phải thông cảm với sức khỏe và hoàn cảnh của họ chớ.

– Ai không biết vậy, nhưng họ kỳ cục lắm!

– Ví dụ.

– Ví dụ như trạm tôi đang cấm không cho bắn thú rừng vì sợ lộ bí mật. Nhưng họ không tuân theo. Họ bắn tối ngày. Con gì họ cũng bắn. Thậm chí con chim bằng ngón chân cái họ cũng bắn bằng súng AK.

– Cậu có nói thêm cho họ không? Tội nghiệp họ cậu ạ?

– Tôi nói gian cho bà móc mắt tôi đi.

– Cậu thành kiến với họ quá! Đó là vài người lính thôi chớ!

– Nếu lính thì tôi không nói, còn chỉ huy thì anh biết sao không? Các ông trời có súng ngắn thì bắn cả cá lòng tong dưới suối. Bắn hai ba phát chỉ được mấy con cá bằng đầu đũa ăn thôi. Thế mà cũng bắn!

Tấn ngưng một chốc rồi tiếp:

– Họ bị nghẽn đường một tuần lễ, trạm tôi phải dời đi không dám ở chỗ cũ. Anh biết ở rừng mà dời chỗ ở cực nhọc biết bao nhiêu. Cồng kềnh đủ các thứ nồi niêu, tăng võng lôi thôi lếch thếch… Vậy mà bọn tôi có can thiệp là họ hăm bắn, hăm đánh.

Tấn ngưng câu chuyện và hỏi tôi:

– Mấy giờ rồi anh?

– Gần đúng trưa rồi! Tôi xắn tay áo lên xem đồng hồ tay.

Tấn nom sát vào mặt đồng hồ và kêu lên ngay:

– Ồ, đồng hồ Liên Sô đẹp quá nhỉ. Vầy mà người ta bảo đồng hồ Liên Sô như cái cối đá, không đeo được.

– Ai bảo?

– Những người ngoài Bắc về như anh.

– Họ nói hồi nào?

– Năm ngoái năm nay! Em cũng không hiểu sao, nhưng em tự ái quá!

Tôi cười:

– Thì họ nói đúng chứ sao! Tự ái cái gì?

– Anh nói sao?

– Đồng hồ Liên Sô là đúng như vậy chứ sao!

– Sao cái này lại đẹp thế này?

– Sao cậu biết cái này là đồng hồ Liên Sô?

– Ở ngoài Bắc về không đeo đồng hồ Liên Sô thì đeo đồng hồ gì anh?

Tôi lại cười:

– Vậy cậu có trông thấy cái đồng hồ Liên Sô nào không?

– Có thấy một cái.

– Cậu thấy thế nào, nói thiệt đi.

Thấy Tấn ngập ngừng, tôi nói:

– Sợ mất lập trường hả?

– Quả thật là không đẹp mấy.

– Không đẹp thì nói không đẹp, lại còn màu mè “không đẹp mấy” nữa.

Tấn lại hỏi tôi:

-Còn đây là đồng hồ gì đây anh?

– Thụy Sĩ “xách mách đâm ba nha” (Suisse made Printania). Nói đùa chứ đây là Movado.

– Hèn gì đẹp quá! Ở ngoài đó cũng xài đồng hồ của phe đế quốc nữa sao anh?

– Xài chớ sao không xài. Mình không chế được thì mình phải xài của đế quốc chớ. Nhất là đồng hồ thì phe mình đâu có ăn thua gì so với thằng Thụy Sĩ? Nhưng không phải chỉ trong lãnh vực đồng hồ mà thôi, còn nhiều món hàng khác mình cũng thua nó xa.

Bỏ mạng rồi! Tôi quên rằng ở bên tôi có cái cây lập trường đang nằm chình ình ra đó. Tôi vừa tốp câu chuyện lại thì cũng vừa lúc ông Chín ra miệng. Ông Chín đang nằm, ông ngồi dậy ngay. Ông xòe bàn tay ra dấu cho tôi ngưng câu chuyện. Ông Chín nói:

– Các cậu nên giữ lập trường một chút. Tại sao đồ của mình lại thua đồ của đế quốc?

Tôi bỏ lảng ông Khẩu đội trưởng đang khóc kia mà gay vào cuộc chiến đấu với ông lập trường. Tôi nói:

– Chuyện đó có gì mà mất lập trường ông cụ?

– Không mất lập trường à, khen phe đế quốc chê phe ta mà lại không mất lập trường à?

Tôi suýt bật cười. Tôi và Thu đã đụng với ông Chín nhiều trận trên cái chiến địa “lập trường” này nhiều rồi. Trốn máy bay ông cũng giở sách Các Mác ra mà lý luận, rồi xem đùi đàn bà, ông cũng cho là mất lập trường, bảo chân bộ đội như nhũng cái cọc màn, ông cũng cho là khinh rẻ quân đội cách mạng và những người nói như thế là mất phẩm chất, lần này khen đồng hồ Thụy Sĩ tốt hơn đồng hồ Liên Sô, có lẽ tội nặng hơn tất cả những trường hợp ở trên kia.

Tôi nói:

– Đây là vấn đề hàng hóa rất là hiển nhiên, có gì đâu mà mất lập trường.

– Đồng chí nói như vậy mà không ngượng mồm à?

– Theo như ông Chín cầm hai cái đồng hồ Wyler và Bobéda thì ông Chín dùng cái nào?

Ông Chín hơi ấp úng rồi đáp ngay:

– Nếu dùng thì tôi dùng cái Wyler.

– Đó? Sao ông Chín lại bảo rằng tôi mất lập trường?

– Tôi dùng đồng hồ Wyler nhưng tư tưởng của tôi lại khác đồng chí.

– Xin lỗi, ông Chín khác thế nào ạ?

– Khác là dù tôi đeo đồng hồ Wyler nhưng tư tưởng tôi vẫn cho là chiếc đồng hồ này là do sự bóc lột công nhân, bóc lột kỹ sư mà ra chớ không phải như trường hợp cái đồng hồ Bobéda.

– Khác thế nào ông Chín?

– Cái đồng hồ Bobéda là do sự toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, của công nhân, kỹ sư chung đúc lại thành và vì lý tưởng Cộng sản mà nó mang cái tên đó. Bobéda là ý nghĩa là thắng lợi đồng chí biết không?

Tôi hỏi tiếp:

– Vì toàn dân toàn ý phục vụ nhân dân và vì chủ nghĩa Cộng sản thì sao lại xấu hơn cái thằng đế quốc bóc lột công nhân và nó không vì cái gì cao siêu hết hở cụ?

Ông Chín chẳng ngờ tôi lại ngoan cố mà ví ông ta vào cái chân tường mà chính ông tự xây cho ông trong mọi cuộc tranh luận “lập trường”.

Ông Chín chới với, chưa tìm ra câu trả lời.

Cũng may lúc đó Tấn đứng dậy và bảo mọi người.

– Chuẩn bị hành quân!

Chao ôi, nghe tiếng hành quân, tôi ớn cả xương sống, ớn cho tôi và ớn cả cho Thu. Vì ngoài cái sự lê xác của tôi đi tôi còn phải nâng đỡ Thu nữa, một cái việc phải phung phí sức lực, nhưng chẳng có lợi lộc gì cho tôi hết, mà tôi phải làm.

Trời ơi! Con đường gì mà càng đi, càng thấy mình đi vào tử địa, vô cùng, đi vào tuyệt lộ. Nhưng mà vẫn phải đi tới, không thể đi lùi được. Tất cả mọi người nhốn nháo, kẻ thì lơ láo nhìn quanh kẻ thì cứ ngồi lỳ ra đó, cơ hồ như cái lệnh kia không tác động chút nào đến mình.

Chiếc bánh và người lính trận

Đoàn Xuân Thu

Posted on July 13, 2025 by dongsongcu

Kỷ niệm 50 năm Sài Gòn lọt vào tay Cộng Sản (1975-2025)

Đoàn Xuân Thu – 9 tháng 7, 2025

(Hình minh họa: ĐT)

Chiếc bánh nhỏ và người lính già: Một chuyện tình người giữa thời buổi bạc màu.

“Hẹn mai gặp lại.” Câu nói tưởng đơn giản, nhưng là cả một bài học nhân sinh: Giữa thời buổi lọc lừa, chỉ cần một chút tình người cũng đủ cứu một linh hồn.

Người lính già ấy không cần lời xưng tụng. Ông không cần biểu ngữ, không cần rải hoa đón chào. Điều ông cần là một chỗ đứng nhỏ trong trái tim người đời, để biết mình vẫn còn hiện hữu. Sáu năm trời, ông sống trong im lặng giữa những bận rộn của một nước Mỹ quay cuồng với điện thoại thông minh, xe tự lái và mạng xã hội, nơi mà nỗi buồn của một người cựu chiến binh không còn ai nghe nữa.

Có lẽ ông đã chết. Không phải vì đói. Mà vì không ai nhớ đến ông. Cho đến một ngày, cô thợ làm bánh trẻ tuổi ấy đã lặng lẽ bước qua đường, tay cầm một chiếc bánh mì mới ra lò, trao cho ông, và một câu: “Hẹn mai gặp lại.”

Câu đó không phải là một phép màu. Nhưng trong khoảnh khắc đó, nó là lý do duy nhất khiến ông dừng lại, chưa gieo mình khỏi cầu, chưa rút súng kê vào đầu trong bóng tối.

Có biết bao cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam đã rơi vào tình cảnh tương tự. Họ không chết vì chiến trận, mà chết vì bị quên lãng trong hòa bình. Bao nhiêu người mang vết thương vô hình trong tâm khảm, khó lành hơn cả cụt tay hay mù mắt. Những tiếng trực thăng đêm, tiếng nổ đì đùng, những người bạn ngã xuống ngay bên cạnh, tất cả vẫn nằm đó, trong trí nhớ không chịu nguôi.

Đáng lý họ phải được vinh danh như những người đã đứng lên vì lý tưởng chống cộng sản, bảo vệ một quốc gia tự do tên là Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng không. Khi nước Mỹ rút khỏi Sài Gòn, mọi thứ bị bôi đen là “cuộc chiến vô nghĩa.” Họ bị cười chê, bị xem là thất bại, là biểu tượng của một chính sách sai lầm.

Trong khi đó, kẻ chiến thắng chế độ Cộng sản miền Bắc lại tự phong mình là “giải phóng quân,” che giấu đi vô vàn tội ác sau lá cờ máu. Họ “giải phóng” bằng cách đày hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, trí thức miền Nam vào trại cải tạo. “Giải phóng” bằng cách bắt dân lên vùng kinh tế mới, để lại những khu phố ma trống rỗng. “Giải phóng” bằng việc biến cả một đất nước văn minh thành một trại lính, nơi mà lời ca tụng lãnh tụ quan trọng hơn cả bữa cơm no.

Và suốt nửa thế kỷ sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, họ vẫn không một lần nhận lỗi. Không một lời xin lỗi cho hàng triệu người đã chết trên Biển Đông, trong trại tù cải tạo, hoặc trong các cuộc thanh trừng chính trị bằng lý lịch địch ta.

Tệ hơn nữa, họ lại ra sức tuyên truyền trong nước và ngoài nước rằng: chiến thắng đó là chính nghĩa. Là “khúc khải hoàn ca” của dân tộc. Họ viết lại lịch sử, nhồi sọ cả một thế hệ rằng miền Nam là tay sai, là phản động, là cần bị tiêu diệt.

Nhưng sự thật không thể bị chôn vùi mãi mãi.

Và điều cảm động hơn cả là: ông không hề đơn độc.

Không phải tất cà mọi người đã bỏ quên ông.

Sự thật sống trong ký ức của những người như Emily, tuy không có mặt trên chiến trường, nhưng bằng tình thương vô vụ lợi, đã cứu lấy một mảnh hồn từng bị rách nát bởi chiến tranh. Sự thật sống trong ánh mắt cay xè của Thượng Sĩ Daniel Reid, khi ông ngồi giữa dàn lính danh dự, chậm rãi nhấp tách cà phê, nghe bản nhạc cưới vang lên trong lễ đường như một điệu khúc phục sinh cho chính đời mình.

Sự thật sống trong tiếng vỗ tay đứng dậy của những người có mặt hôm ấy, những người nhận ra rằng: dù có ai quên đi người lính, nhưng chúng ta thì không.

Năm mươi năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ, có những người Việt vẫn phải sống lưu vong, không phải vì hết yêu quê hương, mà vì quê hương không còn nhận ra họ. Có những người lính VNCH đã ngã xuống, không có mộ bia. Có những người còn sống thì nghèo túng, tật nguyền, bị gọi là “ngụy quân, ngụy quyền.”

Và trong khi đó, các thế hệ mới lớn lên tại Việt Nam thì chỉ được dạy rằng: Cộng sản là chân lý, là anh hùng, là vinh quang.

Chúng ta viết bài này không phải để khơi lại hận thù.

Chúng ta viết để không quên.

Để ghi nhớ rằng giữa một thế giới đầy dối trá, vẫn còn có Emily. Vẫn còn có những chiếc bánh mì âm thầm được trao đi như ánh lửa nhỏ trong đêm đen.

Và còn có những người lính như Daniel Reid – người đã từng chực ngã xuống, nhưng rồi lại đứng lên, chỉ vì ai đó nói với ông những tiếng giản dị: “Hẹn mai lại gặp.”

Chúng tôi không biết Emily hôm nay ra sao. Có thể cô đang ở một nơi yên ả nào đó, tiếp tục nướng bánh mỗi sáng. Có thể ông Daniel Reid đã rời thế giới này. Nhưng chắc chắn, cái khoảnh khắc giản dị giữa cô và ông sẽ sống mãi, như một chứng từ rằng: Tình người thật sự có thể cứu rỗi thế gian.

Và cũng là một lời nhắc: Tội ác chiến tranh của CS Bắc Việt không bao giờ nên được tôn vinh bằng diễu binh và biểu ngữ. Nó phải được họ ghi nhớ bằng nước mắt, sám hối ăn năn, và sự thật.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

91. Trọng Khương

Bây giờ ngồi kiểm điểm lại số nhạc sĩ sáng tác của chúng ta từ trước và cả sau 1954, chúng ta sẽ thấy chẳng còn lại bao nhiêu người. Nửa thế kỷ là một thời gian khá dài hay đời người ngắn ngủi? Các nhạc sĩ đã mất đi của chúng ta, người để lại những sự nghiệp đồ sộ, người chỉ đôi ba bài, thậm chí có người chỉ để lại một bài duy nhất. Nhưng tất cả đã đóng góp làm nên kho tàng âm nhạc Việt Nam hiện nay. Dĩ nhiên mỗi tác giả có một vị trí riêng đối với sự ngưỡng mộ trong lòng người nghe.

Xa mặt cách lòng.

Còn cái gì xa hơn cái chết? Người chết có bị bỏ quên cũng là chuyện thông thường. Song bỏ quên kho tàng chúng ta được thừa hưởng có phải chính chúng ta đánh mất kho tàng đó?

Bài hát Trọng Khương cho phổ biến tại Hà Nội trước 1954 là bài Ghen thơ Nguyễn Bính do ông phổ nhạc. Đây cũng là sáng tác đầu tay của Trọng Khương. Khi Trọng Khương chọn phổ nhạc bài Ghen thì thơ Nguyễn Bính cũng mới chỉ có hai bài Cô Hái Mơ và Cô Lái Đò do Phạm Duy và Nguyễn Đình Phúc soạn thành ca khúc.

Trọng Khương đã dùng nhịp điệu swing trẻ trung và còn mới lạ đối với nhạc Việt Nam lúc bấy giờ, nhưng rất thích hợp để phổ bài thơ của Nguyễn Bính.

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi

Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười

Những lúc có tôi và mắt chỉ

Nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai

Đừng hôn dù thấy bó hoa tươi

Đừng ôm gối chiếc đêm khi ngủ

Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Đây cũng là ca khúc làm người ta nhớ tới Ngọc Bảo, nhớ phố Huế, nhớ Hà Nội. Ngọc Bảo đã trình bầy rất thành công ca khúc này. Chất lãng mạn của bài thơ, giai điệu của bài hát, giọng ca, cái lạnh của những ngày cuối đông, tất cả làm nên một phần Hà Nội, một phần linh hồn Hà Nội. Cũng bằng bài hát thứ nhất này, Trọng Khương đã chứng tỏ ông có một tài năng riêng, tuy cùng nằm trong một dòng nhạc được gọi chung là tiền chiến, nhưng nhạc của Trọng Khương vẫn có những nét đặc thù, người nghe có thể nhận ra được: đó là cái tinh thần hào sảng, bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm của ông.

Trong khi những người khác đắm chìm trong thế giới mơ mộng, tình ái, Trọng Khương nói tới một tình yêu rộng lớn hơn, đó là tình yêu chính cuộc đời, dù hẳn cuộc đời không chỉ có những niềm hoan lạc, ngọt ngào.

Bánh xe quay nhanh nhanh

Chiếc thân xe rung rinh

Chìm trong làn cát trắng

Trọng Khương đã dùng nhịp điệu swing trẻ trung và còn mới lạ đối với nhạc Việt Nam lúc bấy giờ, nhưng rất thích hợp để phổ bài thơ của Nguyễn Bính.

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi

Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười

Những lúc có tôi và mắt chỉ

Nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai

Đừng hôn dù thấy bó hoa tươi

Đừng ôm gối chiếc đêm khi ngủ

Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Đây cũng là ca khúc làm người ta nhớ tới Ngọc Bảo, nhớ phố Huế, nhớ Hà Nội. Ngọc Bảo đã trình bầy rất thành công ca khúc này. Chất lãng mạn của bài thơ, giai điệu của bài hát, giọng ca, cái lạnh của những ngày cuối đông, tất cả làm nên một phần Hà Nội, một phần linh hồn Hà Nội.

Cũng bằng bài hát thứ nhất này, Trọng Khương đã chứng tỏ ông có một tài năng riêng, tuy cùng nằm trong một dòng nhạc được gọi chung là tiền chiến, nhưng nhạc của Trọng Khương vẫn có những nét đặc thù, người nghe có thể

nhận ra được: đó là cái tinh thần hào sảng, bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm của ông.

Trong khi những người khác đắm chìm trong thế giới mơ mộng, tình ái, Trọng Khương nói tới một tình yêu rộng lớn hơn, đó là tình yêu chính cuộc đời, dù hẳn cuộc đời không chỉ có những niềm hoan lạc, ngọt ngào.

Bánh xe quay nhanh nhanh

Chiếc thân xe rung rinh

Chìm trong làn cát trắng

Xe nhịp nhàng quay bánh lướt

Hồn ta mờ khuất trong mênh mông

Ta luyến lưu một kiếp giang hồ

Dù rằng cuộc sống vô bờ

Tim nồng tràn máu vô tư

A ha ha

Suối in hình chiếc xe tàng

Đêm nao đạp vỡ cây đàn

Giận đời nào ai mắt xanh …

Ý cũng như lời Trọng Khương dùng để viết Bánh Xe Lãng Tử không mới. Nhưng nhạc toát ra một vẻ nao nức, rộn ràng, như tuổi trẻ rạo rực trong máu, khiến cho ca khúc tự nó trở thành mới.

Trọng Khương mê những chuyến đi. Hay ít nhất ông thường thả mộng ước vào những chuyến đi. Nhạc của chúng ta có một số bài khiến người nghe hình dung ra nhịp vó ngựa đó là các bản Người Chinh Phu Về [Lê

Thương] Chiến Sĩ Anh Hùng {Văn Cao] Nhạc Đường Xa [Phạm Duy Nhượng] Ngựa Phi Đường Xa [Lê Yên] và Bánh xe Lãng Tử [Trọng Khương]. Mỗi bài toát ra một ý nghĩa riêng: nỗi ngậm ngùi của lịch sử, thúc giục chinh chiến, thảnh thơi du ngoạn, vui chính cái vui của cuộc rong ruổi, lên đường, thỏa mộng giang hồ …

Ca khúc Về Miền Nam Trọng Khương sáng tác nhân cuộc di cư năm 1954, trong hoàn cảnh đau đớn đất nước bị chia cắt, nhưng bài hát chất chứa một niềm vui tựa báo trước miền đất hứa.

Đi về miền Nam

Miền xanh tươi đất rộng

cùng chung cuộc sống

Xa vời Tháp Bút thân yêu

Tây hồ nước vẫn trong veo

Ta cười rũ áo xa nhau Hà Nội ơi!

Trừ các thân nhân của ông, có lẽ không ai biết rõ Trọng Khương có bao nhiêu ca khúc. Số bài ông đã cho phổ biến không nhiều, song tất cả đều là những tác phẩm có giá trị, đã trải qua thử thách của thời gian và được gần như tất cả

các ca sĩ danh tiếng của chúng ta đem trình diễn trên các sân khấu, các đài truyền thanh, truyền hình, thu thanh vào các băng, đĩa.

Có thể nói nhạc Trọng Khương đã trở nên quen thuộc đối với hầu hết các thính giả Việt Nam. Không những người ta thích mghe mà còn thuộc nhạc của ông nữa. Nhưng cũng còn một bài của Trọng Khương hình như bị rơi vào lãng quên, ít người hát và cho đến nay chưa thấy ai cho thu thanh là bài Lòng Cô Phụ, do Thanh Nam viết lời ca:

Chiều nay thu về trong nắng vàng

Chiều nay ta ngồi ôm tiếng đàn

Nhớ bao nhiêu tháng ngày trôi qua

Phí bao nhiêu tóc xanh đợi chờ

Hề thu ơi thu chiều thu nay

Còn nghe như ai thở than đây

Đừng làm lỡ tiếng đàn

Đừng làm héo gió ngàn

Đừng sầu thu với mùa lệ rơi …

Sau biến cố 75, người ta thấy Trọng Khương lang thang ở ngoài đường, quần áo nhầu nát, tóc tai bù rối, có vẻ cùng quẫn. Cùng quẫn là tình trạng chung của dân miền Nam lúc bấy giờ. Nhưng Trọng Khương có vẻ hơi khác thường. Gặp những người quen biết cũ, ông lúc tỏ ra vui mừng, vồ vập,

lúc dường như không nhận ra (hay làm ra thế?).

Để làm gì ư? Điều đó chỉ mình ông biết. Sau đó một thời gian không thấy ai nói còn gặp lại ông nữa. Rồi nghe tin ông mất. Ông mất ở đâu, bao giờ, cũng chẳng ai hay.

Đó là thời gian gần như mọi người tan tác, không biết gì về nhau nữa. Tin tức về người này người khác chỉ do tình cờ mà được biết. Đời sống buồn đến nỗi, đã có lúc người ta nghĩ, “chết cũng có may là không phải sống nữa”. Trọng Khương còn có một số sáng tác dành cho thiếu nhi. Đôi Guốc Mới là một trong loạt bài ấy. Ca sĩ Mai Hương nói rằng bà đã hát Đôi Guốc Mới từ ngày còn ở trong Ban Nhi Đồng, cho đến bây giờ còn thuộc và rất thích. Có cơ hội nào chúng ta sưu tập lại được đầy đủ tác phẩm của Trọng Khương và làm một buổi trình diễn để tạ ơn ông nhỉ?

Bánh Xe Lãng Tử

Bánh xe quay nhanh nhanh

Chiếc thân xe rung rinh

Chìm trong làn cát trắng

Xe nhịp nhàng quay bánh lướt

Hình xe mờ khuất trong mênh mông

Ta luyến lưu một liếp giang hồ

Dù rằng cuộc sống vô bờ

Tim nồng tràn máu vô tư

A! ha! ha!

Suối in hình chiếc xe tàng

Đem nao đập vỡ cây đàn

Giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh

Trên đường gian nan

Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ

tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng

Môi ai say sưa hé mây cung đàn

Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già

Sau khi men say lần mấy cung đàn

Hồn ta vụt lướt lên trời xanh lam

Tam ca áo trắng

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

90. Trịnh Văn Ngân

Trung Tâm Hoa Vàng ở Mỹ vừa cho ấn hành một tuyển tập nhạc của Trịnh Văn Ngân gồm 16 ca khúc.

Trịnh Văn Ngân nổi tiếng ngay từ khi ông cho phổ biến mấy ca khúc đầu tiên của ông từ giữa thập niên 50, đó là các bản Chiến Sĩ Của Lòng Em, Người Đưa Thư Đã Đi Qua, Đường Tơ Lưu Luyến, Trai Anh Dũng … Có một thời gần như mỗi ngày người ta đều có thể nghe thấy mấy ca khúc đó của Trịnh Văn Ngân được phát trên các đài phát thanh Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Pháp Á …

Nhạc của Trịnh Văn Ngân và của Anh Việt xuất hiện cùng một khoảng thời gian và cả hai lại cùng tung ra những ca khúc thúc đẩy lòng yêu nước.

Anh Việt viết trong Bến Cũ:

Biết đi sầu em mong

Nhưng ngàn dân đang ngóng

Chớ buồn khóc chi

Càng khổ người đi

Văn Sanh viết trong Người Kỵ Mã Trong Sương Chiều:

Lắng nghe tiếng chim hót trên cành

Thêm bâng khuâng khi xa cách

Nhưng mải trông đường ra biên cương

Và lẫn trong sương chiều bóng anh hùng

Trịnh Văn Ngân viết trong Chiến Sĩ Của Lòng Em:

Đôi tám em vừa đương lúc hé hoa tươi

Chỉ thắm rình se nhắn mối nhờ mai

Giàu khó sang hèn nào có dám chê ai

Nhưng tơ duyên em vẫn chưa ràng mối

Ai biết đâu lòng em vẫn ước mơ chi

Mộng hão huyền mơ vấn vương tình si

Bạc lắm tiền nhiều quyền quý với cao sang

Trong thâm tâm nào em đâu có màng

Khi nước nhà phút ngả nghiêng

Em mơ người trai anh dũng

Đem thân thế hiến giang san

Chí quật cường hiên ngang

Ra biên cương với chí quật cường hiên ngang và ngàn dân trông ngóng là để chống cộng sản. Nhưng chỉ mãi đến sau 1954 điều ấy mới được nói ra một cách minh bạch, qua một ca khúc của Thanh Châu:

Em có thương người thanh niên quốc gia

Sa trường vui trong tiếng ca

Xin bền duyên nơi quê nhà

Hẹn em đêm đêm khi sương mờ xuống

Ta chung xây mơ hình bóng

Hẹn ngày về thắm duyên tơ

Phải đến Thanh Châu vai trò của người chiến sĩ quốc gia [trong nhạc của chúng ta] mới được nói ra một cách rõ ràng, đích danh, còn trước đó cứ lờ mờ, tựa chính cái hình ảnh Người Ky Mã Trong Sương Chiều [của Văn Sanh] phi ngựa ra biên cương, nhưng không ai biết chàng ra đi để làm

gì. Chính cái điều phải nói, phải làm, không được nói cho rõ ấy, khiến cho các ca khúc của chúng ta một thời và ngay cả đến bây giờ, nghe lại, dường vẫn có một nỗi u uẩn không tan hết.

Hình như chúng ta đã không làm những việc phải làm. Hình như chúng ta không trả hết ơn những người chúng ta phải trả.

Hình như chúng ta phải chia sẻ một lỗi lầm, một lỗi lầm không thể sửa chữa được nữa. Trở lại với nhạc Trịnh Văn Ngân. Ông viết nhạc thoải mái, nhất là các bản viết theo nhịp slow fox, tuy nhẩy nhót nhưng vẫn giữ được nét Việt Nam.

Chiến Sĩ Của Lòng Em và Trai Anh Dũng phải được nghe qua giọng Tâm Vấn mới thấy hết được cái nhịp nẩy của từng mỗi khuôn nhạc. Người Đưa Thư Đã Đi Qua là một đề tài lạ trong nhạc của chúng ta nói chung khi ấy, tự nó gợi ra nhiều tưởng tượng, tạo thành một ‘scène’ kịch nhỏ.

Đây là một tình khúc thành công của Trịnh Văn Ngân:

Người đưa thư đã đi qua

Ta ngóng theo không ngừng

Người cứ đi, cứ đi, cứ lạnh lùng đi

Lần sau nhé

Nhớ mang cho ta một lá thư hồng

Kẻo tủi lòng ta hôm sớm trông mong

Mỗi ca khúc hay thường gợi lại trong ký ức của người nghe một giọng hát nào đó: Tâm Vấn, Khánh Ngọc, Kim Tước, Mai Hương … Riêng Người Đưa Thư Đã Đi Qua gợi nhớ tới nhiều giọng hát. Ai là người hát ca khúc này hay nhất nhỉ?

Nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân năm nay [2004] đã 84 tuổi, nhưng nhà xuất bản Hoa Vàng cho biết, ông vẫn còn nhanh nhẹn, minh mẫn. Hiện ông cư ngụ tại vùng Thung Lũng Hoa Vàng, Bắc Cali. Ông tính điềm đạm, ưa thích đời sống bình dị, vui thú với gia đình.

Chiến Sĩ Của Lòng Em

Đôi tám em vừa đương lúc hé hoa tươi

Chỉ thắm rình se nhắn mối nhờ mai

Giàu khó sang hèn nào có dám chê ai

Nhưng tơ duyên em vẫn chưa ràng mối

Ai biết đâu lòng em vẫn ước mơ chi

Mộng hão huyền mơ vẫn vô tình si

Bạc lắm tiền nhiều quyền quý với cao sang

Trong thâm tâm nào em đâu có màng

Khi nước nhà phút ngả nghiêng

Em mơ người trai anh dũng

Đem thân thế hiến giang san

Chí quật cường hiên ngang

Chiến sĩ của lòng em đắm đuôi ước mơ

Ở chiến trường xa giãi nắng dầm mưa

Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em

Trong khi vang ca say theo chiến thắng

Thúy Nga

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 12 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

Kỳ 4

Tôi và Thu đi hết quãng đường này đúng vừa lúc Thu mệt ngất lả người ra, không còn một chút sinh lực để bước thêm một bước.

Tôi biết là đến nơi rồi.

Tôi vọt lên bờ, đứng dang chân ra và khom người xuống đưa tay cho Thu, Thu đã đến mé bờ nhưng Thu chỉ còn sức để đưa tay lên cho tôi nắm lấy và ngã gục mặt vào hai mũi bàn chân tôi, như một sự buông trôi cả thể xác lẫn tâm hồn Thu cho tôi.

Tôi lấy hết sức lôi nàng lên khỏi nước và tôi buông nàng xuống đất nằm sóng soài ra đó không cần kể tới sự phải giữ gìn kín đáo cho một người con gái.

Ở đây không ai còn tâm trí và sức lực để nhìn để nghĩ về một tấm thân của một người con gái.

Thu nằm đây lăn lóc dưới đất, áo quần ướt đẫm, rách nhiều nơi, da nàng lộ ra nhiều mảnh trắng nhưng đâu có ai buồn nhìn.

Tôi lắc nhẹ Thu và bảo:

– Em ạ, đến nơi rồi!

Nhưng Thu vẫn nằm,, đôi mắt Thu nhắm nghiền, Thu không tỏ vẻ hay biết về những việc xảy ra chung quanh nàng.

Những anh bộ đội mặt mày xanh ngắt xanh ngơ cũng theo dấu chân của tôi, cố trườn lên bờ. Nhiều người nằm tại bờ suối đó, nhưng cũng có nhiều người cố vượt lên vài chục bước rồi nằm vật ra.

– Thu ạ!

Thu vẫn không đáp.

Quần áo dán sát vào thân người nàng, làm lộ hẳn những đường nét đáng yêu. Tôi lặng người đi giây lâu, không còn nhớ mình là ai, cũng không còn biết đây là đâu, mà chỉ thấy rằng mình đang đứng trước một cái gì đáng yêu đáng bảo vệ quá.

Tôi cúi xuống bế xốc Thu lên.

Nhưng để làm gì? Nhìn quanh quất tôi không biết làm gì. Mà cứ thấy rằng mình không thể để cho một con người như thế, nằm lăn lóc dưới đất.

Tôi ôm sát nàng vào ngực tôi như để sưởi ấm cho nàng. Trời ơi! Tôi yêu nàng, yêu cả những thói xấu và những sự bất mãn của nàng.Tôi biết rằng tôi yêu nàng vì tình yêu của tôi đối với nàng là động cơ mạnh nhất thúc đấy tôi đi tới, sau cái tình quê hương của tôi.

Nếu không có Thu thì có lẽ tôi buông trôi cuộc đời tôi, để cho nó cứ trôi dạt, và rồi tôi sẽ phải chấp nhận cái bãi biển, cái bến bờ nào mà sóng gió đưa tôi đến.

Tôi đặt Thu xuống và lấy võng mắc bừa lên rồi ẳm Thu đặt lên võng như lần trước qua khỏi con sông gì đó! Mà chính tôi cũng không biết tên.

Tôi lấy chăn – tấm chăn ướt – đắp cho Thu rồi lại ngồi bên đầu võng Thu, như một tên nô lệ canh giấc ngủ cho một nữ hoàng.

Những người lính lại lôi thôi lếch thếch đi qua.

Họ không còn là những chiến sĩ của quân đội Miền Bắc.

Họ là những cái bộ xương còn có thể di động trong vài hôm nữa, và chỉ cần một trận mưa nữa là những bộ xương ấy sẽ rã ra, rải rác khắp trên con đường vinh quang này như những cánh hoa vô giá, làm cho con đường giải phóng Miền Nam thêm hương thêm sắc.

Ông Chín và ông già Noël không biết làm sao mà rồi cũng tới nơi được. Trông họ còn bệ rạc, bi thảm hơn cả Thu. Ông Chín thì mắc võng nằm. Còn ông già Noël thì cứ trườn lên được trên bờ rồi lăn ra đất như một đống thịt vô tri.

Chập sau, thấy Thu hơi tỉnh người lại, tôi hỏi:

– Em thấy trong mình thế nào?

Thu lắc đầu. Đôi môi Thu khô ran như muốn nứt ra. Nước da của Thu vừa xanh vừa tái. Quần áo ướt đẫm. Tôi chú ý thấy dưới đít võng những giọt nước hồng hồng. Thì tôi biết Thu vẫn khó ở. Và có thể Thu ốm nặng vì cái trận lội suối này. Tôi ái ngại cho Thu vô cùng. Tôi muốn tìm ông bác sĩ Năm Cà Dom nhưng không thấy ông ta ở đâu.

Tôi biết Thu đang khóc. Có lẽ nếu tôi không hỏi cái câu lúc nãy, cứ để cho Thu nằm im, thì Thu không khóc, nhưng vì tôi hỏi câu đó cho nên Thu tủi thân.

Nước mắt Thu trào ra khóe mắt. Thì cũng như mọi người con gái khác hay mọi người khác khóc thôi, thế nhưng ở đây mỗi một giọt nước mắt chứa đựng rất nhiều nối niềm trong đó có sự tủi hận.

Tủi vì tấm thân của con người “đi làm cách mạng giải phóng Miền Nam” bị đối xử như con vật, con vật hy sinh (không biết để làm gì), hận vì trót nghe lời thiên hạ quá dễ dàng, tin chắc ba bó một giạ.

Riêng Thu, tôi nghĩ giọt nước mắt càng phức tạp hơn trong đó không khỏi có sự tiếc thương cái sắc đẹp tiêu tan của mình trên con đường này.

Gái Hà Nội khéo ăn, khéo mặc. Tôi đã từng biết điều đó. Mảnh vải thồ, họ cũng biến thành chiếc áo đẹp và duyên dáng. Một sợi tóc họ để lả lơi trước trán hay buông thả bên thái dương, cũng đều có ý thức chứ không “may rủi” bao giờ.

Bây giờ nằm ở đây, Thu làm sao khỏi chạnh lòng, tủi hận? Tôi cũng không biết cách nào giúp đỡ Thu, giữ gìn sức khỏe của nàng. Trong tôi và trong ba lô tôi, cũng như trong nàng và trong ba lô nàng không còn một vật gì khô sau mấy tiếng đồng hồ ngâm nước.

Còn gạo trong ruột tượng, chỉ vài nhúm thôi, nhưng gạo đâu còn là gạo. Nó rã mềm và nát ra như bột thối. Nhưng tôi cũng không dám bỏ. Vì dầu sao thì nó cũng là gạo. Có cái gì thay thế nó.

Tôi đi quơ củi gom lại và bất kể sự vi phạm kỷ luật đi đường, tôi nấu cho Thu một bát cháo với số gạo đó và nấu một bi đông nước sôi để cho Thu chuờm bụng.

Thu cứ kêu đau bụng luôn. Đáng lẽ những ngày khó ở đã chấm dứt rồi, nhưng vì bị ngoại cảnh ác nghiệt cho nên nó mới kéo dài và gây ra nhiều sự phức tạp cho Thu, mà chứng đau bụng liên miên là một.

Thu cầm lấy bi đông nước và áp vào bụng. Qua làn áo ướt hơi nóng truyền vào cơ thể nàng, làm cho gương mặt nàng tươi dần.

Rồi nàng húp chén cháo nấu với mớ gạo mục kia. Nàng càng tỉnh ra và nàng bắt đầu nói chuyện.

Nàng nói gì? Nàng nói toàn những chuyện bất mãn và những chuyện trái ngược lại mơ ước mà nàng xây đắp ở đầu đường.

Nàng nói:

– Em dè thế này, thì em đã không đi!

– Thôi em ạ! Tôi bảo. Em không nên nghĩ như vậy.

– Em đã quyết ở lại từ phía bên kia sông. Em không muốn đi từ sau cơn sốt đầu tiên kia anh ạ. Nhưng sở dĩ em còn gắng gượng đi tiếp là vì em muốn để thử xem sự đời nó có khác hơn không. Nhưng cho đến hôm nay là đúng một tháng mười tám ngày đi trên đường này rồi. Em nhận hai điều. Một là… càng ngày những sự vô lý càng nhiều thềm và càng cao độ. Nếu cuối cùng em có hy sinh thì đó là kết thúc sự vô lý. Hai là em không thể đi nổi nữa. Anh cũng biết rõ sức khỏe của em. Nhất là đôi chân của em. Ở trường ra, em coi trọng đôi chân hơn cả. Bởi vì múa ba-lê mà không có đôi chân khỏe và tế nhị thì lấy gì mà múa. Nhất là cái cổ chân. Bây giờ qua bao nhiêu lần sưng bao nhiêu lần trặc thì nó sượng ngắt rồi không như xưa nữa, còn mũi chân với những cái ngón chân tòe thì cũng hết nhạy rồi!

Thu nói tiếp:

– Anh thấy không? Nếu em cố mà đi cho khỏi mang tiếng thì em cũng chỉ đi được vài chặng nữa mà thôi. Rút cuộc những cố gắng hy sinh của em không đem lại cái gì cho ai cả.

Tôi ngồi lặng thinh.

Tôi không còn cách giải thích nào hay ho hơn mà ngược lại tôi thấy Thu nói đúng quá, đúng cho đến nỗi ngay cả những người chủ trương cuộc đi này cũng không thể cãi lại nổi.

Hơn nữa để chứng minh cho những lời nói vừa rồi của Thu, còn có ông Chín, ông già Ngũ, anh binh sĩ bị pháo đè gãy chân, anh Khấu đội trưởng bị đội viên đánh rớt xuống suối. Đó là những hiện tượng quá hùng hồn mà Thu đã trông thấy trước mắt để làm cơ sở cho những lời nói của Thu.

Đàng kia, cái võng cáng anh binh sĩ gãy chân vừa ló ra dưới nước. Bốn người khiêng ngập đến ngực, người nằm trên võng thì hai tay đeo chiếc đòn, cố ngóc đầu lên cho khỏi bị nước ngập.

Vừa đến bậc đá để trèo lên, người đi đầu nghển cổ lên quát: “Tiếp! Tiếp!” rồi đưa bàn tay xanh ngắt bám lấy một mỏm đá mà đứng đấy.

Cả đám binh sĩ ngồi chung quanh cũng nghển cổ lên nhìn trả lại. Không có cậu nào chạy đến tiếp cứu cho anh bạn kia.

Tôi bực mình quá, đứng dậy, lại quát:

– Các đồng chí ra lôi nó lên đùm một chút.

Một người nói:

– Thì đến nơi rồi, ráng lên tí nữa.

– Nó khiêng người bệnh mà. Tôi hạ giọng thiết yếu. Tội nghiệp nó.

– Tụi tôi cũng bệnh đây, có đứa nào khỏe đâu.

Thế thì hết chỗ nói rồi.

Không anh nào chịu đến tiếp lôi cái cáng lên cả.

Tôi đành phải đi làm việc đó. Tôi nắm tay của anh đi đầu và lôi tuột lên bờ. Cái cáng bị dốc ngược ra sau, hai anh khiêng phía sau bị sức nặng dồn xuống vai, té ngửa. Tôi nhanh tay chụp lấy anh bệnh binh lôi lên bờ như lôi một khúc gỗ. Nếu không có tôi anh ta sẽ rơi xuống nước và bị cuốn đi.

Anh bệnh binh nằm dưới đất, cách mé bờ vài tấc nhưng cũng không có ai ngó ngàng tới. Tất cả đều xem việc đó như không có ở trước mắt mình. Tôi chỉ làm đến đó thôi, rồi trở lại ngồi bên võng của Thu, đưa mắt nhìn.

Anh binh sĩ gãy chân bắt đầu kêu la thảm thiết, cũng vẫn cái giọng đêm qua, nhưng bây giờ thì đã khàn rồi.

“Ố làng nước ôi, ối cha mẹ ôi, chắc con hết trông thấy mặt thày mẹ rồi, ối… ối…”

Cái chân gãy của anh do bác sĩ Năm Cà Dỏm băng và cặp nẹp bằng những thanh nứa tươi hôm qua, nay đã sưng lên nước thấm vào băng chảy xuống ròng ròng. Anh để nó nằm ngay ra nó, có lẽ để cho mỗi người xem một chút chăng?

Bốn anh chàng hiệp sĩ khiêng anh ta cũng tìm chỗ mà nằm sải tay ra, không buồn ngó đến cái anh đồng chí này nữa. Họ tự xem như đã làm xong nhiệm vụ với anh này.

Anh giao liên tự nãy giờ ngôi êm rơ trên một tảng đá nhìn rõ mọi sự việc xảy ra, nhưng cũng không buồn mó tới. Đợi cho mọi người không còn để ý tới anh binh sĩ gãy chân nữa, anh ta mới đến gần. Anh ta nhìn nhìn một chốc rồi lắc đầu:

– Đau cái gì thì còn mong mỏi, chứ gãy chân thì hết phương rồi Làm sao mà đi? Chỗ đâu mà nằm? Đường này ai mà khiêng cho nổi? Ở đây đâu có bệnh viện!

Rồi anh quay trở lại tảng đá lúc nãy. Trên tảng đá có một mảng nắng. Anh ta đang căng cái áo phơi ở đó. Cũng trong mảng nắng đó có một mớ thuốc lá. Anh ta đang săn sóc mớ thuốc đó cho mau khô để hút lấy hơi ấm. Chốc chốc anh ta quay lại xốc xốc mớ thuốc lên. Rồi có lẽ không đủ kiên nhẫn chờ đợi cho mớ thuốc khô, anh ta bốc bỏ cả lên lòng bàn tay đưa lên miệng hà hơi. Tại anh ta sốt rưột chứ hà hơi thuốc đâu có khô nhanh hơn phơi nắng.

Thấy anh ta là bợm ghiền còn tôi thì, tuy không nghiện nhưng tôi có mua mấy gói thuốc Thăng Long bỏ trong ba lô với ý định là sẽ biếu cho mấy bạn thân ở Miền Nam để cho họ nếm mùi xã hội chủ nghĩa chơi.

Tuy định như vậy, nhưng cũng tùy cơ ứng biến. Tôi lấy ra một gói bọc trong hai ba lớp ni lông nhưng thuốc vẫn hơi i ỉ. Tôi xé bao thuốc, chỉ rút ra một điếu thôi. Tôi cầm điếu thuốc trên tay rồi đi đến tảng đá ngồi ngay xuống bên cạnh anh giao liên. Anh này hơi khó chịu vì cái cử chỉ đường đột của tôi, nhưng tôi chìa ngay điếu thuốc ra rước mắt anh ta và nói:

– Làm cái này này anh bạn.

Tức thời anh giao liên sáng mắt lên ngay. Anh nhìn sang tôi. Có lẽ anh muốn biết tôi là ai mà giờ phút này còn có ớ được cái món quí giá như vậy.

Tôi mời thân thiết:

– Làm điếu này đi đồng chí cho đỡ lạnh.

Anh giao liên cầm lấy điếu thuốc đưa lên mũi ngửi ngửi:

– Chà chà! Ngon dữ ha!

– Thăng Long hạng nhất ngoài đó đó, đồng chí!

Anh giao liên nâng điếu thuốc lên tận mắt rồi gật gù:

– À có chữ Thăng Long đây.

– Hút đi! Tôi vừa bảo vừa móc cái bật lửa ra.

Cái ruột bật lửa cũng bị ướt cho nên tôi phải vất vả và khéo léo lãm mới bật ra lửa.

Khói lên thơm ngát một vùng.

Mấy người nằm bên cạnh lơ mơ, bỗng nghển cố lên:

– Cha nào hút thuốc thơm ngon vậy

– Ở đây mà còn thuốc, cha chả là đế vương rồi!

Anh giao liên cứ bình tĩnh rít từng hơi vừa trang trọng vừa cẩn thận. Nét mặt anh ta có vẻ tập trung cao độ một tình cảm và ý nghĩ để thụ hưởng làn khói thơm tho ngon lành. Tôi có cảm tưởng là những nhọc mệt trong chặng đường vừa qua đã tan trong làn khói ấy.

Tôi lân la hỏi:

– Chặng đường sắp tới thế nào, đồng chí?

– Hết suối rồi.

Anh giao liên rít một hơi dài rồi phun khói ra một đợt ngắn còn bao nhiêu thì anh ta hít cả vào trong phổi. Anh ta gật gà gật gù cái đầu và nói tiếp:

– Nhưng chưa hết khổ.

– Khổ gì đồng chí?

– Hết suối thì tới núi.

– Núi thì tụi tôi cũng lội quá sá rồi.

– Nhưng núi ở đây khác núi ở ngoài đó.

– Khác làm sao đồng chí?

– Nó lầy lội khó đi lắm.

– Trời đất! Núi gì mà lầy lội?

Anh giao liên làm như không chú ý đến câu hỏi của tôi. Anh ta mải mê rít thuốc. Điếu thuốc đã cháy hết quá nửa rồi. Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu. Nửa điếu thuốc còn lại, nhựa ngon dồn lại ở đây, làm cho sợi thuốc săn lên và đậm đà hơn.

Anh giao liên tỏ ra rất sành. Anh ta không gạt cái tàn trắng ở đầu điếu thuốc, để cho nó bao bọc cái cục lửa giữ khói và giữ hơi ấm.

Anh trả lời:

– Để rồi đồng chí sẽ thấy. Lá mục từ đời Hồng Bàng tới bây giờ có ai mà cào hốt đi. Bây giờ con cháu đức Hùng Vương mới lội qua lần thứ nhất. Nó ngập đến ống chân. Đồng chí lội vào đấy rồi đồng chí có cảm tưởng là da thịt của đồng chí đã mục đi, hoặc là bị cái lớp lá mục đó cạp hết còn lại cái ống xương mà thôi.

– Đồng chí nói gì nghe ghê vậy?

– Tôi nói thiệt mà! Anh giao liên tiếp, nhưng chưa hết đâu, còn vắt nữa. Trời đất ông bà thánh thần ơi! Vắt như mạ rải trên ruộng vậy Rất tiếc rằng mình không ăn nó được, chứ nếu ăn được thì ở vùng này không lo cực ăn.

Tôi rùng mình. Chỉ hai cái chi tiết của anh giao liên vừa nêu lên đó cũng đã làm cho tôi hình dung ra chặng đường sắp tới.

Anh giao liên hãy còn trẻ, nhưng gương mặt đầy vẻ phong sương dáng người xơ xác quá. áo quần thì rách mướp.

Trong người anh không có cái gì quí giá cả, ngoài chiếc bai-on-nết của một khẩu súng cạc-bin. Vải mủ của anh dùng để che mưa thay áo mưa cũng rách nát.

Có lẽ vì có cảm tình với tôi và trông tôi nhiều tuổi hơn anh nên anh tự xưng tên và đôi lần xưng bằng em khi nói chuyện với tôi.

– Em tên là Tấn! Em công tác ở đây đã hai năm.

Tấn tiếp:

– Trên chặng đường này chỉ có em là công tác lâu nhất. Còn ai đổi đến đây cùng chỉ chịu đựng sáu tháng là cùng. Hoặc xin đổi, hoặc trốn mất. Anh xem đó, khúc đường này là toàn ngâm mình dưới nước. Một năm ít ra cũng tám tháng. Cứ cách một ngày lại ngâm nước một lần như thế. Mà mỗi lần ngâm ít ra cũng từ sáu đến tám tiếng đồng hồ. Da thịt nào chịu nổi. Từ dưới nước lên bờ, đâu có quần áo mà thay!

– Chặc! Khổ thế!

– Em cũng biết các anh đau lắm. Nhưng không còn cách nào khác.

– Sao không tìm con đường khác mà đi cho khỏe.

Tấn rít đến hơi thuốc cuối cùng. Hòn lửa đã cắn đôi môi Tấn, Tấn mới chịu phun nó ra. Tấn còn luyến tiếc nhìn theo cái đuôi thuốc không thề hút thêm hơi nào nữa và lơ mơ nói với tôi:

– Đường nào đâu mà dễ anh?

– Đường bộ chẳng hạn. Cho nó khô, khỏe hơn.

Tấn nói:

– Tôi đã lội nhẩm dấu cái vùng này. Tôi cũng đã nghĩ tới điều đó chứ không phải là không nghĩ, nhưng nếu bây giờ mà tôi dắt các anh đi đường bộ thì lập tức anh sẽ chửi tôi gấp trăm lần đi con đường này.

– Sao dữ vậy? Tôi lội rừng trèo núi cũng đã nhiều.

– Ừ tôi nghe nói các anh leo đồi “ngàn linh một” là cao nhất, nhưng ở ngoài đó chỉ có một cái đồi đó thôi và lại có đường để mà đi, còn vô đây không còn đường đất gì nữa cả. Nay lối này mai lối khác Đi mãi rồi nó thành đường ra.

– Sao cứ đổi đường như vậy cậu?

– Biệt kích người Thượng ghê lắm anh ạ!

Tôi rùng mình nhớ lại có lần một cậu đã kể cho tôi nghe về bọn này. Tấn tiếp:

– Nếu mình cứ đi mãi một con đường thì chết với nó ngay.

Chúng tôi ngồi lặng im. Tôi thì hoang mang còn Tấn thì đăm chiêu lo nghĩ. Một chốc Tấn nói:

– Các anh không thể đi đường bộ ở đây. Nếu tôi có dắt các đi thì trong các anh sẽ có người bị ngã chết hoặc không chịu đi. Tôi thấy trong đoàn đi kỳ này toàn thứ dữ nào phụ nữ phụ nang, nào ông già, nào nòng pháo, khiêng sao được. Đại khái những cái dốc leo lên mà nếu người ở trên ngã thì những người ở phía dưới cũng ngã theo, vì người đi dưới “cái mũi hôn cái gót chân người đi trên”. Không phải chỉ một quãng mà toàn bộ chặng đường này từ đầu chí cuối.

Anh Khấu đội trưởng đến.

Anh ta như con mèo ướt, giống như một vị chỉ huy đang đi tới tuyệt lộ cùng đồ.

Anh ta dáo dác có vẻ như tìm đám tàn quân của anh ta. Tôi đã học được cái thái độ lạnh nhạt của anh giao liên trước mọi sự đời. Hăng hái quá chỉ chuốc thêm tai họa, ở đâu chớ ở trên con này thì như thế đó.

Đột nhiên Tấn hỏi tôi:

– Anh đi tập kết như vậy là mười mấy năm?

– Mười năm. Cậu ra đây bao lâu rồi?

– Mới có hai năm thôi!

Tôi lại gặp một thanh niên Nam bộ ở đây nữa. Điều đó làm cho tôi ngạc nhiên. Tôi hỏi:

– Sao các cậu không ở trong đó, lại ra đây làm gì vậy?

– Thanh niên xung phong mà.

– Nhưng phải chọn vùng thích hợp chứ! Tôi coi cậu bị chanh nước phải không?

– Thì đúng quá rồi. Ma thiêng nước độc mà. Tấn tiếp, thì tôi cũng tưởng là đi vài tháng hoặc một năm là cùng, chớ ai dè nó dây dưa thế này. Hơn nữa tuổi trẻ ham cái lạ. Tôi nghe nói vùng này cảnh đẹp lắm. Muốn ra xem cho biết. Với lại nghe các anh về đông lắm. Súng ống rất dồi dào. Ra đây tiếp sức vận tải với các anh không ngờ ra đây thì gặp toàn chuyện thối chí, bây giờ muốn trở lại xứ mình, không có đường về.

Tôi ngồi lặng thinh mà nhìn cậu thanh niên. Đây lại cũng là một loại người hăng hái đi theo cách mạng như tôi thuở trước.

Tấn thở dài:

– Thiệt đúng là buông hình bắt bóng. Cuộc đời nó cứ đưa đẩy mình đi càng ngày càng xa quê hương mình, đi đến những nơi không biết đề làm gì và sẽ đi tới đâu nữa.

Tôi cười:

– Thì cũng như bọn tôi đây và cả bọn tập kết, hồi ra đi đâu có ngờ phải đi lâu dữ vậy. Hai năm trở thành mười năm, không chừng trở thành hai chục năm nữa là khác.

– Té ra… Té ra không có gì đúng cả.

– Ờ thì có thể! Cách mạng mà…

Ông Chín vọt miệng đáp:

– Mấy đồng chí nói vậy thành ra cách mạng nói láo hay sao? Nói vậy mà nghe được à?

– Đâu có phải tôi nói cách mạng nói láo, nhưng tôi cho rằng cách mạng không tiên đoán nổi nhiều vấn đề thành ra không đối phó được.

– Ví dụ? Ông Chín hớp một ngụm nước trong cái bi đông Mỹ nhìn tôi chòng chọc chờ đợi tôi không tìm ra câu trả lời.

Tôi cười và nói:

– Thì đó.

– Đó đâu? Cái gì? Hồi nào? Và có chứng ai? Nói thì phải có biện chứng.

Dường như ai động tới tim gan của ông. Nhưng tôi cũng không muốn khơi lên làm gì cái sự gàn dở của ông ta. Ông ta làm như ông là người thủ thành độc nhất của cách mạng, không có ông thì cách mạng bị phá lưới ngay vậy. Cho nên tôi chỉ cười giả lả:

– Nói cho vui vậy thôi mà ông Chín.

Tấn có lẽ cũng biết tính ông Chín, nên vội gạt ngang câu chuyện mà sang hướng khác. Tấn nói:

– Còn cái chuyện tình hình trong mình hiện nay tôi nói cho anh nghe. Em thì cũng lạc hậu lắm rồi, nhưng vừa có mấy anh từ trong đó ra hoặc em được thư nhà cho nên em biết được. Trong đó bây giờ nó đánh dữ lắm. Ở nhiều nơi cơ quan không có chỗ ở, ba-lô lúc nào cũng vác trên lưng.

– Tại sao vậy? Nghe nói vùng giải phóng bây giờ rộng hơn cả hồi đánh Pháp mà.

– Cái đó thì ở đâu không biết chứ còn ở Cà Mau, Bạc Liêu thì không thấy. Anh nên nhớ rằng bây giờ Mỹ đã nhảy vô bốn, năm trăm ngàn lính rồi, mà nó đánh mình không có đi bộ đi tàu như Tây hồi trước đâu.

-Vậy nó đi bằng cái gì?

– Đi bằng máy bay!

– Nó nhảy dù hả. Nhảy dù thì không đáng sợ.

– Nhảy dù thì ít, mà nhảy giò thì nhiều.

– Nhảy giò là gì?

Tấn cười và nói:

– Anh phải học sách tránh nhảy giò trước nhé, kẻo về trong kia bất cập rồi thì không né được đó.

– Ừ nói đi nghe thử.

– Đại khái là nó dùng trực thăng. Anh biết trực thăng không, một loại máy bay. Có nhiều người ở Bắc mới về khi nghe nói trực thăng thì bĩu môi! Ôi! Máy bay to bằng con chuồn chuồn! Đó là so sánh nó với phản lực, chớ nó là diều hâu mà mình là gà con anh ạ!

Ông Chín bao giờ cũng là thủ thành rất chăm chú trong khuôn gỗ, mắt của ông lom lom dòm trái bóng, để nhào ra cướp lấy trong chân đối thủ. Ông nói:

– Đó là đánh giá địch quá cao rồi!

– Dạ không phải vậy đây ông ngoại. Tấn vui vẻ đáp. Để con “tỏa” đầy đủ rồi ông ngoại xem con có đánh giá địch cao hay không?

Tấn tiếp:

– Con ví dụ mình đang hội nghị nhé ông ngoại, con ví dụ như thế, mấy chục người mình đang ngồi trong mái nhà bỗng nghe tiếng máy bay, người gác chạy vào báo. Ông ngoại xếp giấy tờ vào sắc-cốt chưa xong thì máy bay nó ào ào tới. Ló đầu ra xem thì máy bay nó ở ngay trên đầu mình rồi. Cánh quạt nó quạt tung cả nóc nhà rồi, chạy đi đâu? Chiếc trực thăng như một con diều hâu thò móng ra và xòe cánh ra chụp phủ lên đầu mình. Có phải mình trở thành một lũ gà con không ông ngoại?

Ông Chín ngồi há hốc mồm ra nhìn Tấn.

Tôi cũng lặng thinh. Không ai cãi được cái ý kiến gà con và diều hâu của Tấn nêu ra từ đầu. Tấn tiếp:

– Nhưng chưa hết đâu. Khi cuộc hành quân xảy ra thì chung quanh cây cỏ cũng không rảnh rang mà nhìn. Tất cả đều quằn quại trong những loạt đạn đại liên.

– Ở đâu bắn? Nó không sợ bắn lầm nhau à?

Tấn nói:

– Đâu lầm được. Lính chưa nhảy xuống là súng từ trên máy bay bắn xuống làm vòng đai chung quanh cuộc hành quân mà. Nghĩa là nó vây chặt, nếu mình nhát thì không chạy lọt ra được khỏi vòng vây. Và nếu ở trong vòng vây thì nó bắt sống.

Tôi nói:

– Nhưng ai bắt sống mới được chứ? Máy bay bắt sống thế nào được?

Tấn cười:

– A chết tôi chủ quan quá. Tôi quên rằng anh và ông Chín ở ngoài Bắc về chưa từng bị nhảy giò nên không biết việc đó ra làm sao. Nó như thế này. Không phải nó đi máy bay thôi đâu, mà trong ruột máy bay có lính hẳn hoi. Nó đáp xuống đất, lính nhảy xuống vừa chạy vừa bắn liền. Đấy anh coi chung quanh thì nó vây rồi, trong ruột lại có lính sục sạo và bắn như mưa bấc mình có khác nào như cá trong đăng trong lưới không? Cho nên lúc bị nhảy giò, người yếu bóng viá không dám chạy thoát ra khỏi vòng vây mà cứ ngồi trong hầm thì tội nghiệp lắm, cùng một lúc với lính đổ xuống đất, mấy chiếc trực thăng yểm trợ bắn vây chung quanh, lưới lửa dày đặc. Nếu có gan thì chạy liều, rủi ro thì gãy giò, may thì chạy thoát. Nếu nhát thì ngồi trong hầm, khi nghe tiếng súng vừa dứt loạt ló đầu ra định chạy đi thì lúc đó lính đã tới bên miệng hầm vẫy gọi, mình lóp ngóp chui ra.

Tấn tợp một hớp trà rồi tiếp:

– Đại khái một cuộc nhảy giò gồm có màn thứ nhất nó như vậy đó. Ông ngoại còn xí quách để chạy không? Như vậy mình có phải trở thành như lũ gà con không?

Ông Chín làm thinh.

Tôi thấy ông Chín hơi ngượng vì không làm sao vớt nổi cái khí thế mạng dưới lằn đạn trực thăng cho nên tôi đỡ cho ông khỏi ngượng.

– Vậy ở ngoài Bắc tôi nghe chiến thuật trực thăng vận bị bẻ gãy hết rồi mà? Bảo là mình muốn rủ nó tới rồi mình muốn diệt lúc nào cũng được mà!

– Ai nói?

– Thì có biết ai nói bây giờ. Nhưng đọc báo nghe đài thì thấy nói luôn. Nào chiến thuật “bủa lưới phóng lao”, nào “phượng hoàng vồ mồi”, v.v. tất cả đều chẳng ra chi. Ở ngoài Bắc nghe nói thì tụi tôi tưởng tượng chẳng khác nào Mỹ là một lũ ngớ ngẩn. Một lũ chim non cứ đâm đầu vào bẫy.

– Mấy thằng cha nhà báo nói dóc, có chiến thuật nào của nó mà bị phá sản đâu? Tôi biết mấy cha đó nghe một ít rồi tán ra, chẳng hiểu cái trực thăng nó ra làm sao cả. Nó gắn cả chục cây súng toàn đại liên trên đó chớ phải chơi sao mà muốn hạ thì hạ?

Tôi ngao ngán:

– Ai biết đâu, ở ngoài đó nghe vậy thì hay vậy và ai cũng định về xem một vài trận quân mình hạ trực thăng chơi, tôi còn nghe nói là cả trẻ con cũng có mưu kế bắt được trực thăng.

Tấn trề môi:

– Toàn những chuyện chổng cẳng lên trời dộng đầu xuống đất, chuyện nước lã khuấy nên hồ thôi! Để anh về tới trong đó rồi anh sẽ thấy trực thăng là cái gì mà mình “bẻ gãy” dễ dàng như vậy.

Tấn nói tiếp.

– Tôi nói thật với anh, nếu Mỹ bỏ cái trực thăng rồi mình mới khỏe.

Ông Chín thấy khó bề qui kết cho Tấn là mất lập trường và nhờ tôi mở lối ra, cho nên ông ta quay đi nấu nước không sân si nữa.

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 7 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

Kỳ 3

Bên kia, toán khiêng anh lính gãy chân đã bắt đầu khởi hành. Bệnh nhân nằm ngửa trên võng, cái ngực gần sát với cây đòn, vì chiếc võng mắc thật thẳng để tránh cho anh ta khỏi bị ngâm xuống nước càng ít càng tốt. Anh ta nằm, nhưng có lẽ không an tâm, cho nên anh ta đưa hai tay lên bám chiếc đòn đề phòng những người khiêng loạng choạng đong đưa.

Nhưng vừa bước xuống suối là những người khiêng đã ngấm đến cổ rồi, thành thử ra cả người anh bệnh binh cũng bị ngâm dưới nước. Anh ta cố ngóc lên để thở. Chẳng còn cách nào khác để cho anh ta thoải mái hơn.

Anh Khẩu đội trưởng lui cui cùng với những anh đội viên của anh ta tổ chức khiêng cái nòng pháo. Trông vừa chua chát vừa muốn bật cười.

Tổ chức chiến đấu gì kỳ cục vậy chứ? Người ta cứ ném tất cả vô đây và ở ngoài kia cứ tổ chức ăn mừng, hoan hô sự sáng suốt của đảng và cứ cười tít mắt lên mà tưởng như chiến thắng hiển hách đã ngửi thấy đến nơi rồi.

Họ có biết đâu những đơn vị nguyên lành của họ khi vô đến hang hùm nọc rắn này rồi, trở thành tàn quân trở thành thổ phỉ hung hãn chuyên đi cướp giật của đồng đội, thậm chí lột cả đồ đạc những người ốm mê man để làm hành trang sống lẩn lút trong rừng. Và cuối cùng để quay về quê cũ, họ có biết đâu những cậu thanh niên hăng tiết vịt cắt tay lấy máu viết huyết tâm thư dâng lên đảng đòi vào Nam chiến đấu giờ đây lại là những người chửi đảng to tiếng và độc ác hơn ai hết.

Còn lũ tôi đây thì không đánh ai, vì những người tôi muốn đánh thì không có ở quanh đây, nhưng tinh thần thì xuống thấp hơn ngọn cỏ.

– Ầm ầm ầm!

Những người khiêng anh bệnh binh trợt chân ngã hằng loạt. Cả anh bệnh binh và những người khiêng bị nước cuốn đi. Trên mặt nước chỉ còn trông thấy những cái đầu nhấp nhô và những cánh tay quơ lên tìm cái gì để bám.

Những người mạnh thì bơi vào bờ, còn anh bệnh binh bị nước đập tấp vào một cái nhánh của cây cổ thụ đã quay sang như chiếc cầu từ chiều hôm qua. Những người kia bò lên bờ lóp ngóp, kẻ ngồi người đứng, vuốt mặt lia lịa mà nhìn dòng suối. Kẻ mất ba lô người sút dép, mất nón, tuột áo, mất quần.

Họ không buồn tìm cách vớt anh bạn kia lên nữa. Nhưng cũng may, anh thương binh cứ nắm chắc nhánh cây và nhô hẳn đầu lên mà gào. Tiếng gào của anh ta vang dội vào vách đá, làm như ở đằng kia cũng có một người bị nạn và đang gào kêu cứu như anh!

– Bớ là… là… ông… nư… ức ơi!

Mồm anh ta hả to ra, bị nước vọt vào làm tiếng kêu của anh ta đứt quãng hoặc tắt ngấm đi.

Sự đau khổ đó làm động lòng bác sĩ Năm Cà Dom. Năm Cà Dom lại phóng xuống nước lần nữa, lôi anh thương binh lên bờ.

Sự bi thảm đã lên mức đó, tràn ngập cả trái tim tím bầm của tôi nhưng đây chưa phải là điểm cao nhất.

Từ dưới dòng, hai con người lần lần theo vách đá đi lên. Hai người này không dám lội ra xa bờ vì có lẽ họ sợ nước cuốn.

Bỗng tôi kêu lên:

– Ông Chín! Trời ơi ông Chín!

Tôi không trông thấy mặt mũi ông già nhưng tôi biết đó là ông Chín vì trên lưng trên đầu ông um tùm những nhánh cây. Cơ khổ ông già. Cứ hễ đi ra một bước là giắt lá cây đầy mình. Ông có ý thức che mắt địch nhưng ông lại không biết áp dụng địa hình cũng giống in như một kẻ bị lệ thuộc vào những công thức, những giáo điều mà họ chỉ biết nghe theo chớ không đời nào dám nghĩ khác đi đừng nói chi nghĩ ngược lại. Ông Chín đi qua rừng cây bị chất khai quang chết trụi không còn một cái lá xanh, ông vẫn giắt lá xanh, hay như bây giờ đây, lội giữa suối mà vẫn ngụy trang. Tên phi công nào đần độn nhất từ trên cao cũng nhận ra một mớ cây trôi lên, ngược dòng suối.

Ông Chín ngước mắt nhìn tôi. Mắt ông chỉ còn bằng hai hạt tiêu. Có lẽ ông nhận ra tôi, nên ông đưa tay vẫy vẫy. Tôi gặp ông Chín ở trạm ba, cách trạm làng Ho một trạm. Tôi qua mặt ông Chín rồi tôi sốt ông Chín lại vượt qua tôi. Chiều hôm qua chúng tôi lại gặp nhau trước khi vượt sông. Khi bắt đầu lao thân vào lòng suối thì tôi không còn thấy ông Chín đâu nữa.

Ông Chín đã lội tới chỗ tôi đứng. Tôi đưa tay lôi ông Chín lên và hỏi:

– Giao liên không giúp cho ông nữa à?

– Có biết nó đi đâu đâu!

– Thằng ác thật, nó bỏ ông già thế này.

Tôi nhìn ông Chín. Những nhánh lá vẫn còn dính trên người ông Chín như nhũng người bạn trung thành. Tôi đưa tay rút một nhánh vứt đi và bảo:

– Bỏ đi cụ ạ! Cho nó nhẹ! Lội dưới suối mà ngụy trang lá cây thế này cản nước lội mệt lắm.

Nhưng ông già giáo điều đã xua tay:

– Ấy chết! Đồng chí cứ giữ mãi cái lối khinh địch đó, không chịu bỏ. Tôi bảo cho đồng chí biết từ đây trở vô, lúc nào trên trời cũng có mắt của thằng địch nó dòm mình lom lom. Mình mà sơ hở một chút là bị nó ngay.

Tôi đã tranh luận về việc trốn máy bay với ông Chín không biết bao nhiêu lần. Ông Chín cũng bị thiên hạ phản đối không biết bao nhiêu lần, nhưng ông Chín vẫn chứng nào tật ấy nghĩa là khi ra đi thì y như một bụi cây rậm đang di động.

Tôi nhìn thấy da thịt ông Chín đã đóng rong, đầu ngón tay móp như trái táo khô, hai vành tai tím như tai người chết, còn mồm thì thở vừa ra hơi nước vừa chảy ra nước. Tôi biết ông Chín bết bát lắm rồi, nhưng tôi làm gì được trước một cụ già như thế?

Tôi bảo:

– Cụ ngồi xuống đi bồi dưởng sức khỏe một chút rồi đi.

– Thằng dắt đường đâu rồi?

– Nó vừa đi qua!

– Nó không chờ, thì biết đường nào mà đi?

– Cứ đi đại lại thôi, hễ còn thấy người bệnh treo võng dọc bờ suối thì đúng là đường đi.

-Thế hả?

Ở phía dưới dòng một người khác bạn đường của ông Chín lúc nãy đã đến ngay chỗ ông Chín đứng. Tay anh ta với lên nắm lấy ống chân của ông Chín làm cho ông giật mình, ông rút chân lên.

Anh bạn kia không còn chỗ bám, và rơi sụt xuống nước. Tôi nhanh tay chụp lấy tóc anh ta và kẻo xểnh anh ta lên bờ.

Trời ơi tôi đã vớt đúng một cái thây ma. Tôi đã tự dưng chuốc vào mình một cái tai họa…

Cái người tôi vừa kẻo lên là một cái xác không hồn. Hình như anh ta phải chết lúc này nhưng vì trông thấy chúng tôi ở đây như một cái đích rất gần, cho nên anh ta cố lần vách đá tới đây để mà trút hơi thở cuối cùng. Tôi gọi Năm Cà Dom:

-Về ngay đây!

– Gì nữa đó?

– Về ngay đây?

Năm Cà Dom vốn là một người tốt bụng, một bác sĩ còn có lương tâm, cho nên nghe tiếng kêu cứu của tôi thì nhảy ùm xuống nước bơi về ngay.

– Gì thế?

– Đây này, bác sĩ về mà giải quyết.

Năm Cà Dom nói ngay:

– Đánh gió, làm hô hấp nhân tạo ngay!

Rồi Năm móc túi ba lô lấy cù là, vạch lưng anh bệnh binh xoa, nắn bóp cạo lia lịa không hở tay. Rồi anh làm hô hấp nhân tạo. Chỉ trong vòng mười phút là anh ta cử động được ngay.

Năm nói:

– Anh này chưa có chết, nhưng vì ngâm mình dưới nước lâu nên bị vọp bẻ không đi được. Nếu anh không lôi nó lên nó bị nước cuốn tay chân cứng đờ không bơi được là uống nước chết đắm ngay.

Trên khoảng đất có mấy thước vuông của tôi như cái nền nhà bị nước ngập, có đủ các giới, các thành phần, các miền, đủ cả. Cái sự có mặt của anh bị vọp bẻ làm cho số người trở nên phong phú lên. Anh ta là lính.

Tôi mới nhận ra anh ta là cái anh chàng đi bằng hai cây gậy mà tôi và Thu gặp cách đây mấy trạm. Anh ta có chiếc khăn lông con treo ở quai nón dưới cắm lòng thòng như một bộ râu vĩ đại. Do đó, tôi và Thu gọi anh ta là ông già Noël.

Ông già Noël còn trẻ quá. Hôm nay tôi mới nhìn tận mặt ông ta. Ông ta chỉ là một học sinh. Không biết đau ốm thế nào mà đôi chân cứ đi cà lỉa, cho nên khác hơn mọi người, ông già Noël đi với hai chiếc gậy.

Bây giờ thì ông ta nằm đây trên tảng đá lạnh như nước đá, mà thịt ông ta cũng không ấm hơn nước đá, đang nhờ ông bác sĩ hảo tâm làm cho sống lại.

Tôi cũng không biết làm sao nữa. Tôi biết tôi không thể giúp ai, và chắc chắn không ai có thể giúp tôi. Mỗi một người tự xem cái bản thân mình là một cái nợ đối với mình.

Năm Cà Dom hảo:

-Thời đi thì đi.

– Ta đi đi…

Ông Chín cố mở đôi mắt hẹp khổ của ông ra mà nhìn chúng tôi ngạc nhiên về sự thúc giục của bác sĩ Năm Cà Dom. Có lẽ theo ông Chín thì người ta chỉ cớ thể đi tới đây thôi. Và nằm, và ngồi và ngủ tại đây để chờ Trung ương tới, đưa ra khỏi con suối ” tuyệt long lãnh” này, bằng tàu bay xe tăng, xe lội nước hay bằng phép Tiên phép Phật gì thì bằng, chứ còn như ông, một ông lão già năm mươi bốn tuổi, dù ai nói gì thì nói, ông không thể nào xem con đường này là con đường vinh quang cho được.

Bỗng ông Chín hắt hơi. Rồi ông Chín hắt hơi mấy cái nền. Ông Chín nhìn quanh quất rồi nói:

– Có mùi gì lạ vậy mấy chú?

– Mùi gì đâu ông Chín.

– Mấy chú không ngửi thấy à?

– Mùi thây ma chớ mùi gì nữa. – Năm Cà Dom vọt miệng đáp.- Ba cái thây ma kết súng thành tổ tam tam chế nằm chết thẳng cẳng trên võng bên kia gộp đá kia kìa.

Ông Chín ngạc nhiên, ông hỏi:

– Sao chết dữ vậy?

– Đói chết, bịnh chết chứ sao ông già!

Năm Cà Dom lại giục:

– Bởi vậy cho nên chúng mình phải rời khỏi khu vực này ngay. Chốc nữa nắng lèn, thây ma sẽ sình lên vỡ ra. Nước vàng nó chảy xuống suối mình ngâm mình dưới nước ghê lắm. Ngửi lấy cái không khí này vào người, bị dịch hạch dịch tả dịch… dịch đủ thứ dịch…

Năm Cà Dom nhìn chỗ nào cũng phát hiện ra bệnh, ớn quá. Nào gãy giò, nào nhiễm trùng, nào dịch hạch v.v… Bệnh nào cũng chẳng hiền cả.

Thật là buồn cười. Bây giờ kiểm điểm lại trên chặng đường này, chúng tôi cương quyết rời bỏ cái nền đá này là vì sợ bệnh dịch, chớ không phải vì nôn nóng đi vô giải phóng Miền Nam. Còn kiểm điểm lại động cơ thường trực của những người đi trên con đường này thì mỗi người một khác: tôi thì vì nhớ nhà quá mà xin về, Thu thì vì không biết gì nên xung phong đi, còn bác sĩ Năm Cà Dom về để làm cái nghề cũ là nuôi ngựa đua v.v… Thế nhưng những người lãnh đạo ngồi ngoài Hà Nội cứ rung đùi ngỡ rằng mình đã tận dụng, thậm chí lạm dụng, lợi dụng lòng yếu nước của mọi người để biến họ thành công cụ sống thực hiện những điều mong ước của họ một cách tốt đẹp, không ngờ rằng tất cả những người vượt Trường Sơn, không có trường hợp đặc biệt, đều oán trách, hận thù Trung ương Đảng.

Khi chiến tranh, có lẽ một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là phương tiện. Đối với một kẻ thù quá thừa thải phương tiện như Mỹ, thì có lẽ người lãnh đạo sáng suốt phải nghĩ tới việc đó trước khi xông vào đánh đá.

Tôi biết có những chiếc xe cút kít của hợp tác xã được cải tiến để chở phân bón lúa. Thế mà không biết do sáng kiến của ai, những chiếc xe ấy được đưa vào làng Ho để giúp cho pháo binh tải pháo!

Tôi không hiểu những nhà chiến thuật nào đã nghĩ ra cái sáng kiến vĩ đại đó.

Có phải chăng họ nghĩ rằng cái chiến trường mà bộ đội chánh quy của họ đang lao vào đánh nhau với Mỹ là một thứ hợp tác xã mà những xã viên bê trễ thối chí cũng dùng những chiếc xe cút kít này tải pháo trên những con đường bằng phẳng như ở làng quê?

Họ đã lạm dụng sức con người và lòng tin của con người đến mức độ xưa nay chưa từng có.

Họ bắt con người hy sinh quá mức.

Nếu có thể, tôi xin kết luận một câu: Nếu anh muốn làm chiến tranh, anh phải có đầy đủ phương tiện, nếu không, đừng làm!

3.

Ông Chín cứ kêu mãi về cái mùi hôi thối của thây ma:

– Sao kỳ cục vậy he! Sao kỳ cục vậy he?

Năm Cà Dom cười và hỏi:

– Vậy từ lúc đi vô nay tới bây giờ ông Chín chưa gặp ai chết dọc đường hay sao!

– Chưa! Chưa gặp người nào chết hết cả!

– Chưa gặp người chết, hay chưa gặp người chết mà không ai chôn?

– Cái nào cũng không gặp hết.

Năm Cà Dom cười:

– Tại ông không thấy, chứ thiếu gì!

Ông Chín nói:

– Tôi nghĩ rằng trên đường này mọi tổ chức đều chu đáo hết. Tôi không tưởng tượng được rằng có một người chết ở đây mà không có người chôn.

– Ông muốn xem không? Năm Cà Dom hỏi dồn tới.

Ông Chín bị hỏi bất ngờ, hơi lúng túng:

Năm Cà Dom nói tiếp:

– Tại ông Chín già yếu rồi, đi đến trạm là nằm nghỉ chứ không có hay tìm tòi xoi mói cho nên không gặp những trường hợp như vậy. Chứ ông Chín có nghĩ rằng có một người treo cổ chết trên đường này không?

– Ối thôi thôi đừng có nói nữa. Đó là trường hợp đặc biệt mà!

Năm Cà Dom cười:

– Chứ chẳng lẽ lại phổ biến?

Ông Chín nói:

– Theo tôi thì cái sự đó nằm trong phạm trù ngẫu nhiên chớ không phải là tất nhiên.

Năm Cà Dom cười:

– Nghĩa là sao ông Chín?

– Nghĩa là ít khi xảy ra, mà có xảy ra là cũng vì một sự bất ngờ nào đó chứ không phải là tất yếu phải xảy ra như vậy. Đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom vẫn lắc đầu một cách trêu chọc:

– Chưa hiểu, ông Chín ạ.

Ông Chín hơi cáu như ông đang đứng trước lũ học trò lóc cóc của ông mà giải đáp một bài toán cộng. Ông nói:

– Chú đi vô Nam mà chú không có được võ trang lý luận Mác làm sao mà chiến đấu được. – Rồi ông Chín kiên nhẫn giải thích những trường hợp mà Năm Cà Dom vừa trình bày.

– Trong duy vật biện chứng pháp có cả thảy là năm phạm trù và năm qui luật, đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom lại hỏi:

– Nhưng phạm trù là cái gì mới được chớ?

Ông Chín chẳng có ngờ cái thằng bác sĩ này lại hỏi câu đó. Ông lúng lúng:

– Phạm trù là phạm vi hoạt động, là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom nói:

– Vậy sao không gọi là phạm vi hoạt động, là cái vòng bao bọc việc xảy ra mà lại gọi là phạm trù chớ?

– Thì tại sách nó dạy là “phạm trù” thì mình học là phạm trù chớ gọi là “phạm vi” làm sao được?

– Thế gọi là châu vi có được không? Như châu vi hình chữ nhự, hình tam giác vậy đó, được không?

– Đâu có được đây là triết học chớ không phải toán học, đồng chí lẫn lộn rồi.

Năm Cà Dom nói tiếp, vừa nói vừa đưa tay vẽ một cái vòng chung quanh:

– Thế thì tôi hiểu rồi. Phạm trù là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra, ví dụ như cái nền ngập nước mà chúng ta đang đứng đây gồm có ông Chín, tôi, ông văn sĩ này, cô văn công và anh lính bị vọp bẻ đây là một phạm trù.

Ông Chín dậm chân:

– Không phả… ải!

– Vì nó cũng là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra. Cái sự việc đang xảy ra là tất cả mọi người đang nằm ngồi đứng và nói chuyện với nhau.

– Chậc! Sao đồng chí lại tầm thường hóa lý luận như vậy được. Đây là duy vật biện chứng pháp chớ đâu có phải cái chuyện lơ mơ xoàng xĩnh, lề mề như đồng chí ví dụ.

Năm Cà Dom cười ngất:

– Thế thì tôi cũng chưa hiểu phạm trù là cái gì hết.

Ông Chín rướn cổ sát vào mặt ông bác sĩ Năm Cà Dom:

– Phạm trù là phạm trù. Voi là voi! Hiểu chưa?

– Chưa hiểu!

– Chưa hiểu thì thôi. Mặc kệ đồng chí, tôi không biết!

Tôi đã từng bị ông Chín giải về Triết học Mác như bốc đất cục bỏ trên giấy cho nên tôi thất kinh hồn vía rồi. Tôi đã bị ông Chín khui cái mớ Triết học loam ngoam của ông ta để cãi nhau với tôi về một cuộc trốn máy bay, bây giờ lại nghe ông Chín giở nó ra để giải thích về những cái chết vô lý, tôi không giận gì ông ta, mà tôi chỉ buồn cười. Một lão già gần đất xa trời và lấm cẩm như vậy mà lại đi về Nam để “chiến đấu.”

Tôi bảo:

– Có đi thì đi, đi cho khỏi chỗ này nhanh lên.

Rồi tôi làm tên quân cảm tử đi tiền phong, tôi lội xuống suối, đi trước mọi người để làm gương sáng, làm đầu tàu, làm nòng cốt cho cái đám nam phụ lão ấu đang ngại ngùng, đang đứng trên cái nền ngập nước.

Năm Cà Dom bảo:

– Cô Thu đi đi.

Thu cắn răng lại, nhắm mắt lại mà đưa chân dò từng bước bước xuống nước. Cái thân hình ngọc ngà của Thu ngấm dần xuống nước.

Tôi không dám nhìn nữa.

Trên đường này tôi đã từng quay mặt đi trước nhiều thảm cảnh mà đây là một. Tôi không muốn trông thấy sự tương phản giữa cảnh trí và con người của Thu.

– Con người là vốn quý nhất.

Ai đã nói câu đó, ai đã in câu đó trên sách vở và đã cho nhồi vào đầu của hàng triệu người. Bây giờ ai đã đem cái vốn quý nhất đó ra mà dùng một cách trân trọng như thế này. Cô nữ diễn viên kia xuất hiện ở đây có phải chăng cũng là một trường hợp chứng minh điều đó?

Tôi nghe những lỗ chân lông của tôi hút nước vào trong cơ thể, cái cơ thể vốn sợ nước, vốn đã bã ra vì nước!

Tôi cố bước lên vài bước để lấy trớn, để quên đi cái sự giá lạnh nó đang ùn ùn vây phủ mình. Rồi tôi dừng lại để chờ Thu. Tôi đưa tay ra cho Thu nắm lấy. Tôi lôi Thu đi tới và ngoảnh lại nhìn. Ở hai bên bờ suối chưa có ai lội xuống hết. Anh Khẩu đội tưởng ngồi trên một hòn đá với mấy đội viên của anh ta, và cái nòng pháo vừa được lôi lên khỏi nước.

Nét sầu tiền kiếp, và sự man rợ của những thế kỷ man rợ đã in đậm nét trên gương mặt họ.

Năm Cà Dom đang đứng chống nạnh như một ông tướng.

Anh ta bảo:

– Đi trước đi? Tôi chấp hai ông bà đi nhanh lên, rồi tôi bắt kịp cho mà coi nghe!

Rồi Năm Cà Dom quay lại bảo ông Chín và ông già Noël:

– Ông và đồng chí này đi đi kẻo ở sau không còn ai hết. Rơi lại phát này là không còn ai vớt nữa đâu. Theo tôi thì giao liên trong chuyến tới nó không dùng con đường này nữa, nó chờ cho đến mùa nước cạn năm tới mới quay lại dùng con đường này.

Tôi nghe Năm Cà Dom giải thích mà ớn lòng.

Tôi và Thu dắt nhau đi tới. Tôi cố không nhìn khi đi qua chỗ anh binh sĩ gãy chân.

Nhưng tiếng kêu than của anh ta rền vang hai bên vách đá.

– Ối làng nước ơi! ôi cha mẹ ơi! Chắc con không trông thấy mặt cha mẹ rồi! Hồi ở nhà, cha mẹ bảo con trốn đi, đừng có đi Nam mà không thấy ngày về, bỏ cha bỏ mẹ, nhưng con không nghe, con định đi lập công dâng đảng. Ôi cha mẹ ơi, ối làng nước ơi, ối làng nước ôi cha mẹ ôi!

Vậy là anh ta cứ gọi bố mẹ, làng nước chứ không gọi cái gì thiêng liêng khác như ngày thường anh ta gọi.

Bất giác tôi quay nhìn anh ta. Thiệt là một hình hài làm cho tôi đau khổ suốt đời.

Anh binh sĩ không còn là người nữa, anh ta là một cái mớ giẻ rách, biết nói, một bộ xương, một con ngợm, một con quái vật, một cái gì, ai muốn đặt tên là gì cũng được trừ hai chữ “con người”.

Tôi nhắm mắt lại mà lội bươn qua, làm như cái cảnh tượng đó không có xảy ra trước mắt tôi, hoặc nó có trước mắt tôi mà không có dính ăn dính thua gì với tôi cả.

Đi ngang qua những người khiêng, tôi cố gượng hỏi:

– Sao các đồng chí không trở lại khiêng đồng chí kia?

– Đồng chí có giỏi thì khiêng. Một người trả lời.

– Đồng chí đó là đồng chí đồng đội của đồng chí mà?

– Tôi chẳng đồng gì với ai cả.

Một người khác trong đám tiếp:

– Không có gạo đồng chí ạ. Ba lô trôi, ruột tượng cũng tuột hết rồi. Lấy gì mà khiêng. Khi cái chân không bước nổi?

Tôi cũng biết vậy, nhưng sự thương tâm làm cho tương tri của bật lên tiếng nói.

Tôi bảo:

– Cái đó thì tùy.

Tôi quay lại nhìn phía sau. Ông Chín và ông già Noël đang đi theo chiến thuật cũ, nghĩa là lần vách đá mà đi. Còn Năm Cà Dom thở phì phì như trâu nước. Năm Cà Dom đã đi đến ngang tôi. Năm Cà Dom hỏi:

– Ba-lô đâu, đưa tôi quẩy đùm cho.

– Thôi được!

Tôi yếu sức quá, nhưng tôi sợ rủi Năm Cà Dom làm tụt mất có mà chết. Tôi bảo Thu đưa ba lô cho Năm mang giúp. Có lẽ cùng một ý nghĩ như tôi cho nên Thu cũng xin cảm ơn Năm. Năm trườn đi tới, tôi thấy mà thèm, nhưng không tài nào tôi như Năm được. Tôi như cái cục cơm nếp mắc mưa bây giờ đem ngâm xuống nước.

Tôi nhìn Thu, Thu như không còn hồn phách. gì nữa.

Tôi gắng gượng bảo Thu:

– Cố gắng lên em. Tới phía trước có chỗ nghỉ!

Dọc đường tôi đi, không biết còn có bao nhiêu thảm cảnh như thế nữa. Mà chính tôi và Thu đây cùng với cây cỏ chung quanh cũng là một thảm cảnh rồi, cực hình rồi.

Bây giờ tôi cũng không cần phải tả thêm cái con suối ác nghiệt này một nét nào nữa.

Sống chết bên nhau

hung-viet.org

12 Tháng Mười 2011

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

“Hài cốt người phi công tìm thấy là Trung Úy Nguyễn Văn Tạng và người phụ nữ cùng em bé là vợ con của y tá phi hành Nguyễn Chược (thuộc Phi Đoàn 257 Trực Thăng)?”

Theo lời kể của ông Nguyễn Minh Đệ, 55 tuổi, trưởng nam của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm, những năm trước đây, với nguồn tin máy bay trực thăng do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái bị bắn rớt tại Sa Huỳnh vào ngày 28 tháng 3, 1975 sau khi Đà Nẵng bị thất thủ, gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm đã đến vùng này để tìm kiếm nhưng không có kết quả. Thật ra địa điểm máy bay rơi là Sa Kỳ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Năm ngoái, có một thân nhân ở Đà Lạt cho biết ở Sa Kỳ năm 1975 người ta có chôn một ông tướng VNCH tên Điềm và chỗ này dân chúng tin tưởng rất linh thiêng, hay đến cầu xin và nhang khói, tuy vậy gia đình đã mất lòng tin vì đã cất công tìm kiếm nhiều lần.

Nhân có người em của Chuẩn Tướng Điềm ở Mỹ mới về thăm nhà và ông này đã thúc giục gia đình nên đi Sa Kỳ một lần để rõ thực hư. Khi đến nơi hỏi thì dân làng ai cũng biết ngôi mộ này, nằm trong một xóm nhỏ có tên là Lá Ngái.

Theo lời kể của dân làng thì đầu tháng 4 năm đó có rất nhiều xác người tấp vào bờ và dân làng đã chôn họ rải rác ven bờ biển, qua các trận bão lụt, bây giờ đã không còn dấu tích gì. Rất may mắn, sáu thi thể trong đó có Chuẩn Tướng Điềm, Đại Tá Võ Toàn nằm gần một hố bom, cao hơn mặt biển được dân làng mai táng vào đó, nên không hề bị ảnh hưởng bởi sóng gió. Vì sự linh thiêng của người chết mà dân trong vùng tin tưởng, nên khi gia đình đến nơi, người trong thôn đã chỉ nơi chính xác của ngôi mộ.

Khi công nhân khai quật nấm mộ đã bắt gặp hai đôi giầy trận đã mục nát. Một hài cốt nhỏ nhắn được gia đình nghi là của Chuẩn Tướng Điềm, còn thẻ bài mang rõ họ tên, và trong túi áo còn có một mảnh bùa. Cạnh bên là hài cốt của Đại Tá Võ Toàn, có thẻ bài và một chiếc nhẫn vàng trên lóng xương tay. Theo xác nhận của bà quả phụ Võ Toàn, hiện đang sống tại Việt Nam nói chuyện với chúng tôi qua điện thoại, đây là chiếc nhẫn đính hôn từ năm 1964, sau này tay của ông mập ra nên không thể nào cởi nhẫn ra được, do đó mà chiếc nhẫn mới còn.

Trong ngôi mộ này người ta còn tìm thấy hài cốt của một em bé, một phụ nữ, một thiếu úy (xác nhận nhờ cấp bậc trên cổ áo), một phi công (nhận ra nhờ bộ đồ bay). Hai quân nhân này không có giầy, và hài cốt của người phi công lớn hơn bình thường. Qua cuộc điện đàm với chúng tôi sau khi có tin nấm mộ được khai quật, cựu trung tá phi công Lê Ngọc Bình, hiện cư ngụ tại La Fayette, Louisana, cho rằng đây có thể là hài cốt của cố Trung Úy Nguyễn Văn Tạng, co-pilot của ông trong chuyến bay định mệnh này, và người đàn bà và đứa trẻ là gia đình của “y tá phi hành” Nguyễn Chược trong Phi Đoàn 257 Trực Thăng có nhiệm vụ “tản thương-tìm cứu” mà ông Lê Ngọc Bình là phi đoàn trưởng. Ông Nguyễn Chược đã gửi theo chuyến bay này người vợ và 4 đứa con nhỏ. Về những người khác đi trên chuyến bay ông không biết rõ.

Sống chết bên nhau

Trong thời gian có cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào, lúc Đại Tá Điềm (Khóa 4 Thủ Đức), chỉ huy Trung Đoàn I BB thì Trung Tá Võ Toàn (khóa 17 VBQG Đà Lạt) là tiểu đoàn trưởng TĐ 3/1. Năm 1973 lúc Chuẩn Tướng Điềm được giao trọng trách tư lệnh SĐ 1 thì Đại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Đoàn IBB. Tháng 3 năm 1975, Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và Nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân Đoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng các đơn vị phụ thuộc sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo quốc lộ 1 về Đà Nẵng. Trước sự tấn công của cộng sản và Duyên Đoàn 13 Hải Quân chịu trách nhiệm đưa quân qua sông bị khó khăn, không làm tròn trọng trách, nên cuối cùng Sư Đoàn 1 Bộ Binh tan rã tại đây, và chỉ khoảng vài nghìn quân nhân về được đến Đà Nẵng.

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ định làm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng để tái lập an ninh, và Đại Tá Võ Toàn tuy là phụ tá Quân Trấn Trưởng nhưng gần như ông đôn đốc mọi công chuyện. Định mệnh đã sắp xếp để cuối cùng hai chiến hữu của SĐ1BB, đã từng chiến đấu bên nhau cùng lên một máy bay trực thăng HU1H do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái từ căn cứ Non Nước bay về hướng Nam. Ngày 18 tháng 4 khi CS tiến vào Đà Nẵng. Trong cuộc phỏng vấn truyền hình của chúng tôi (và phóng viên quay phim Đăng Minh SBTN) tại nhà riêng của Cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình tại thành phố La Fayette vào tháng 10, 2007, ông Bình xác nhận là không biết có Đại Tá Toàn trên máy bay hay không, vì trong lúc hỗn loạn và quá đông người.

Cuối cùng khi khai quật nấm mồ, người thấy Chuẩn Tướng Điềm và Đại Tá Toàn nằm sát bên nhau.

Sau hơn 36 năm Đại Tá Võ Toàn đã về với gia đình tại Long Thành (Biên Hòa) và Chuẩn Tướng Điềm có mộ phần tại Bà Rịa (Phước Tuy). Hai người đều sinh trưởng ở Huế, chiến đấu nhiều năm cho mảnh đất quê hương, nhưng sau tháng 4, 1975, gia đình của hai tử sĩ này đều bị vùi dập, kỳ thị và xua đuổi phải đi dần về phương Nam tìm đất sống và đã “nhận nơi này làm quê hương.”

Huy Phương/Người Việt

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

89. Trịnh Hưng

Trong tuần lễ này những người yêu nhạc và một số thân hữu đã được

gặp lại nhạc sĩ Trịnh Hưng tại một Hội quán ở quận Cam và nghe một số ca sĩ

cả cũ lẫn mới hát nhạc Trịnh Hưng. Ngày tháng qua mau hay ba chục năm cũng là một khoảng thời gian khá dài, nên chàng nhạc sĩ tài hoa son trẻ mới ngày nào, nay đã là một lão trượng ngoài bảy mươi?

Trịnh Hưng viết nhạc không nhiều. Nhưng bài nào của ông khi tung ra đời cũng được yêu thích ngay. Các ca khúc của ông, nhạc cũng như lời, giản dị, trong sáng. Và chính vẻ giản dị, trong sáng, đã làm tăng thêm giá trị những ca khúc của ông. Ông tránh dùng giai điệu cũng như những từ ngữ cầu kỳ. Nghe nhạc Trịnh Hưng người ta có cảm tưởng như được hưởng một làn gió mát. Còn có thể nói, đó là những cơn gió bất chợt người ta bắt gặp giữa một cánh đồng, trên một quãng đường đầy rãy những kỷ niệm, mỗi vật nhìn thấy, mỗi tiếng động nghe thấy, đều hòa nhịp với nỗi yêu thương rào rạt trong lòng.

Các nhạc sĩ của chúng ta, hình như ai cũng có một bài dành cho quê hương. Nhạc hoài hương của chúng ta hầu hết đều buồn. Riêng Trịnh Hưng, ông có 5, 6 ca khúc cho phổ biến thì tất cả những bài hát ấy đều viết về quê hương và bài nào cũng phơi phới, đầy ắp niềm vui. Ông sáng tác theo cảm hứng của mình, chứ không thác lời nông dân để viết dân ca. Nhạc ông là những bản tình ca ngợi ca vẻ đẹp của quê hương. Từ “quê hương” ở đây có thể hiểu là đất nước. Vâng, Trịnh Hưng lấy quê hương để ca ngợi vẻ đẹp của cả đất nước. Cái tình yêu đối với quê hương miền Bắc của ông trong ca khúc “Tôi Yêu” dường không có sự khác biệt nào khi ông vào tới miền Nam, yêu miền Nam, và viết các bài Trăng Soi Duyên Lành, Lúa Mùa Duyên Thắm, Tiếng Ca Dân Lành.

Vẫn cái “hơi” nhạc ấy, những lời ca mộc mạc, đằm thắm tương tự. Gần đây, ca sĩ Ngọc Minh đã dùng bài Tôi Yêu của Trịnh Hưng để làm nhạc hiệu cho các chương trình quảng cáo của mình, nên gần như tuần nào người ta cũng được nghe ca khúc này vài ba lần. Rất nhiều người nói rằng, họ biết bài hát, thuộc bài hát, nhưng không biết là của ai. Người khác nói mình biết đó là tác phẩm của Trịnh Hưng nhưng chưa được thấy mặt ông bao giờ.

Đó là những người ở vào các lứa tuổi khác nhau. Người lớn tuổi nói các bài Tôi Yêu hay Lúa Mùa Duyên Thắm làm nhớ Sài Gòn, nhớ Việt Nam quá. Lứa tuổi 30 hẳn không biết những gì làm nên cái “nỗi nhớ” ấy . Họ yêu những bài hát đó như những tác phẩm nghệ thuật. Rồi từ đó mới lần hỏi để hiểu, để biết ra từng hình ảnh, từng mỗi tình cảm trong bài hát.

Những người quen biết cũ của Trịnh Hưng luôn nhớ tới nụ cười hóm hỉnh của ông, tới cái lớp nhạc nho nhỏ của ông ở đường Cao Thắng, nơi một số ca sĩ cũng như những người sáng tác nổi danh sau này, đã được đào tạo ở đó. Trịnh Hưng gần như không bao giờ xuất hiện ở những nơi công cộng với tư cách là một tác giả. Ông sống khiêm nhường, đối xử hòa nhã với tất cả mọi người và được mọi người yêu mến. Ngoài nhạc, Trịnh Hưng còn một cái tài nữa là vẽ “caricature”. Còn nhớ ngày ấy ông chỉ cầm bút nguệch ngoạc vài nét là có ngay một bức chân dung [giống hệt] ông Lê Khải Trạch, một người có rất nhiều giao tình với các văn nghệ sĩ đương thời.

Khi ấy LKT đang là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin. Sau biến cố 75 ông bị bắt rồi mất tích trong trại cải tạo.

Sau đây là nguyên văn bài Lối Về Xóm Nhỏ của Trịnh Hưng:

Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca

Ngọt bông lúa tình quê thêm đậm đà

Rạt rào bao niềm vui trong mái lá

Bờ dâu xanh cô lái hát êm êm

Tầm mai chín gửi anh dâng mẹ hiền

Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên

Có những chiều hôm

Trời nghiêng bóng xế đầu non

Nắng xuống làng thôn

Làm cho đôi má em thêm hồng

Lúa đã lên bông

Mắt già tươi sáng thôi chờ mong

Tiếng hò cô gái sông Cửu Long

Mơ rằng mai lúa lên đầy bông

Chiều hôm nay quay gót bước phiêu du

Về thôn xóm để vui chung ngày mùa

Đường về thôn quyện chân bên nhánh lúa

Vầng trăng nghiêng soi mái tóc em thơ

Vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò

Đường về thôn niềm vui dâng đây đó

Elvis Phương