Anh hùng Richard Norden

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on July 23, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 Aug 2025

Richard Norden hy sinh khi còn rất trẻ. (Hình: thechronicle.com.au)

Gần 60 năm sau ngày bom đạn dội xuống rừng rậm Việt Nam, cái tên Richard Norden, một chàng trai mới 19 tuổi đến từ thị trấn nhỏ Gundagai, cuối cùng cũng được viết lên trang vàng lịch sử như một biểu tượng của lòng quả cảm.’

Ông vừa được truy tặng Victoria Cross (VC) (Huân Chương Chữ Thập Victoria) – phần thưởng quân sự cao quý nhất của Commonwealth. (Khối Thịnh Vượng Chung), vì những hành động anh hùng trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1968 tại chiến trường Việt Nam.

Trong một buổi lễ trang trọng tại Canberra, tấm huân chương ấy được trao cho góa phụ của ông – bà Robynn Norden, người đã âm thầm chờ đợi hơn nửa thế kỷ để công lý được thực thi cho người chồng đã khuất.

Năm 1968, giữa lúc chiến sự ở Việt Nam đang lên đến đỉnh điểm, Binh Nhì Richard Norden tham gia vào một chiến dịch quân sự cùng đồng đội thuộc lực lượng Úc. Trong một lần hành quân giữa rừng sâu, trung đội của ông bất ngờ rơi vào ổ phục kích của quân Bắc Việt. Trong cơn hoảng loạn và tiếng đạn xé toang không khí, những người lính trẻ đối mặt với hiểm nguy trước mắt và cái chết kề cận.

Giữa làn đạn không ngớt và sự hỗn loạn, khi tiểu đội trưởng và người trinh sát tiền phương bị thương nặng, Norden đã không chần chừ. Ông xông thẳng lên phía trước, bắn hạ một binh sĩ đối phương, sau đó nhanh chóng thu lấy vũ khí và tiêu diệt thêm một lính Bắc Việt khác. Bằng sự quả cảm không nghĩ đến tính mạng, ông đã cứu sống người chỉ huy tiểu đội là Joe Kelly.

Nhưng chưa dừng lại ở đó, ông còn dùng lựu đạn để dọn sạch khu vực, tìm lại thi thể của đồng đội thân thiết là Chris Nisbet, người đã hy sinh tại chỗ. Chính nhờ sự liều lĩnh ấy, thi thể của Nisbet được đưa về, để người vợ trẻ của ông, bà Barbara, có thể chôn cất chồng mình đàng hoàng.

Barbara và Chris Nisbet lấy nhau chỉ vài tuần trước khi ông lên đường ra trận. Lúc đó, bà đang mang thai đứa con đầu lòng. Khi nghe tin chồng hy sinh, điều duy nhất khiến bà an ủi được phần nào là biết rằng ông đã được đồng đội, đặc biệt là Richard Norden, đưa trở về.

“Tôi luôn yêu anh ấy, nhưng không thể hiểu nổi tại sao mọi thứ lại kết thúc như vậy,” bà Barbara chia sẻ trong nước mắt. “Nếu không có Dick (tên gọi thân mật của Richard Norden), tôi đã chẳng bao giờ có cơ hội nói lời từ biệt.”

Ngay sau chiến tranh, Richard Norden được trao tặng the Distinguished Conduct Medal (Huân Chương Dũng Cảm) – một danh hiệu đáng kính. Tuy nhiên, với nhiều người, nhất là những ai từng cận kề với cái chết bên ông, như cựu quân nhân Stan Barrett, thì chừng đó là chưa đủ. “Nếu không có Dick hôm đó, đã có nhiều người trong chúng tôi không còn trở về nhà nữa. Chúng tôi bị áp đảo cả về quân số lẫn hỏa lực, và hoàn toàn bị cô lập,” Barrett nhớ lại.

Ngay cả Sir Roden Cutler – Toàn quyền tiểu bang New South Wales khi đó, người từng nhận Distinguished Conduct Medal (DCM (Huân Chương Chiến Công Hạng Nhất), cũng cho rằng hành động của Norden xứng đáng với Victoria Cross. “Ngày nay, người ta phải làm gì nữa mới xứng đáng nhận Huân Chương VC?” ông từng đặt câu hỏi đầy chua xót.

Phải mất hơn năm thập niên, nhờ nỗ lực không ngừng của cựu chiến binh George Hulse – người đã kiên trì gõ cửa mọi cấp chính quyền, từ quân đội đến quốc hội, mà cuối cùng, sự công nhận cũng đã đến. Vào năm 2022, chính phủ Úc chính thức đề xuất truy tặng Norden tấm huân chương danh giá nhất.

Điều trớ trêu là Richard Norden không sống lâu để được thấy thành quả của lòng dũng cảm ấy. Sau khi trở về từ Việt Nam, ông gia nhập lực lượng Cảnh Sát Liên Bang Úc, tiếp tục phục vụ cộng đồng. Nhưng số phận nghiệt ngã đã không buông tha ông. Năm 1972, Richard Norden qua đời trong một tai nạn xe máy, khi mới chỉ 24 tuổi.

Tấm huân chương hôm nay được trao cho bà Robynn, người vợ góa đã sống với ký ức và sự mất mát suốt hơn nửa đời người. Trong buổi lễ, bà nghẹn ngào nhận lấy tấm huân chương, không phải chỉ cho chồng mình, mà cho tất cả những người lính đã chiến đấu, hy sinh và bị lãng quên.

Câu chuyện về Richard Norden không chỉ là một phần lịch sử được viết lại – nó còn là minh chứng rõ ràng cho lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội và sự hy sinh thầm lặng mà chiến tranh để lại. Dù huân chương đến muộn, nhưng nó là biểu tượng cho công lý, cho sự ghi nhận mà một người hùng thực sự xứng đáng.

Ở thị trấn nhỏ Gundagai, nơi Richard từng lớn lên, người dân giờ đây có thể tự hào nhắc đến ông như một người con kiệt xuất. Và ở khắp đất nước Úc, tên tuổi ông sẽ mãi được nhớ như một biểu tượng không bao giờ phai mờ của tình đồng đội và lòng quả cảm. Lòng dũng cảm không cần tiếng vỗ tay, nhưng luôn xứng đáng được ghi nhớ.”

Richard Norden – xin vĩnh biệt ông, một người anh hùng!

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 27 Aug 2025

Phần 3.

Chương 9.

Nhát gươm đao phủ.

Cái cằm đầy mỡ của bà cúi xuống, chạm tới ngực. Mặt bà đờ đẫn. Sau khi đã di “thanh tra” tại trung ương cũng như các địa phương, bà đã quá mệt mỏi! Chẳng ai muốn để ý tới người chủ tiệc đứng lên có mấy lời tạm biệt quan khách.

Không khí buổi tiệc thật căng thẳng. Bỗng một cơn gió lạnh thổi thốc qua lớp cửa kính lớn mở ngỏ. Các ngọn nến trên chúc đài cao bằng bạc tiếp theo nhau phụt tắt, khiến nến rớt vung vãi xuống bàn tiệc. Gió tiếp tục thổi, màn cửa mầu hồng lung bay lất phất, trông như những lá cờ đầu hàng. “Một điềm gở đấy”, tôi ngoảnh sang nói thầm vào tai ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng ngoại giao. Habib gật đầu như đồng ý.

Đó là quang cảnh bữa tiệc cuối cùng ở Dinh Độc Lập. Đầu tháng Ba, 1975, một phái đoàn Quốc hội Hoa kỳ đã tới viếng thăm Sài gòn để thẩm định tình hình trước khi quyết định có cấp thêm viện trợ hay không. Thành viên của phái đoàn lại hầu hết là những người đã có sẵn lập trường chống đối. Bà dân biểu Abzug là tiêu biểu. Trước khi phái đoàn rời Sài gòn, Tổng thống Thiệu mở tiệc khoản đãi. Nhân viên nghi lễ lại xếp cho bà ngồi ngay đối diện với tôi.

Hơn kém nửa tỷ đô la

Tình hình viện trợ từ 1967 đến 1970, lúc Hoa kỳ còn đang dấn thân sâu đậm ở chiến trường Viêt Nam, mỗi năm cuộc chiến đã tốn tới 25 tỷ đô la. Trong hai năm 1970 và 1971, chi phí mỗi năm giảm xuống còn 12 tỷ. Giờ đây, sau khi quân đội Mỹ đã triệt thoái, Viêt Nam Cộng Hòa phải một mình đảm nhiệm cuộc chiến, và với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó thì cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng nhớt tăng gấp bốn. Bởi vậy mãi lực thật của ngân khoản ấy chỉ là trên dưới 350 triệu, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-71. Tình hình viện trợ quân sự tài khoá 1975 rất rối ren, nhưng có thể tóm tắt như sau:

Mức ban đầu do Chính phủ Nixon đề nghị là 1,4 tỷ, tức bằng tài khoá 1974;

Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện do Nghị sĩ John Stennis (Mississipi) làm chủ tịch giảm còn một tỷ 126 triệu cho cả Đông Dương, phần cho miền Nam là một tỷ;

Trước khi từ chức, Tổng thống Nixon ký thành luật một mức tối đa cho Viêt Nam Cộng Hòa là một tỷ;

Sau khi Ford nhậm chức, Uỷ ban Chuẩn Chi Thượng Viện do Nghị sĩ John Mcclellan (Arkansas) làm chủ tịch, cắt xuống còn 700 triệu!

Để dễ so sánh, ta nên coi lại những chi tiêu và viện trợ quân sự những năm trước đó: Trong thời gian 1966-1970: Mỹ tiêu 25 tỷ đô la một năm.

Trong hai năm 1970-1971: tiêu 12 tỷ một năm (vì đang rút quân);

Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho Viêt Nam Cộng Hòa:

Tài khoá 1973: hai tỷ mốt (2,l tỷ)

Tài khoá 1974: một tỷ tư (l,4 tỷ)

Tài khoá 1975: bảy trăm triệu (0,7 tỷ)

Trong thời gian 1966-71, ngoài tiền bạc lại còn trên một nửa triệu quân đội Mỹ với trang bị tối tân, được yểm trợ bằng từng dàn phản lực siêu âm, mấy ngàn chiếc trực thăng đủ cỡ. Ngoài khơi, lại có Đệ thất hạm đội đi tuần đều đều. Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình và xem Viêt Nam Cộng Hòa phải xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng thống Thiệu mời Giáo sư Warren Nutter sang thăm. Ông là thày tôi lúc trước và là cựu Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình “Viêt Nam hoá”. Ông rất am hiểu đường đi nước bước của bộ Quốc phòng Mỹ và vấn đề quân viện. Nutter dự điểm tâm với ông Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23 tháng Tám tại Dinh Độc Lập. Tổng thống Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ: mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo”. Là người ủng hộ ông Thiệu từ lâu, Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành động của Quốc hội:

“Quốc hội Hoa kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tái Nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, trung tâm phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc”.

Nutter hứa khi về đến Washington sẽ cố gắng trình lên Tổng thống Ford tình trạng nguy ngập ở Viêt Nam. Ông than phiền: “Không có nhân vật cao cấp nào trong Chính phủ để ý đến vấn đề Viêt Nam nữa!” Câu nói của Nutter làm ông Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu.

Về tới Washington, Nutter viết phiếu trình lên John Marsh, một người bạn của ông hiện đang giữ chức cố vấn cho ông Ford, để kêu gọi ủng hộ Viêt Nam Cộng Hòa. Nutter nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt.

Nhưng nếu Hoa kỳ ngưng viện trợ thì sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter viết cho ông Mars và đưa cho tôi một bản sao:

“Tôi chưa thấy ông Thiệu và các tướng lãnh Viêt Nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất tinh thần nếu Bắc Việt liếp tục gây áp lực… Tôi tin rằng hành động của Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những xáo trộn chính trị và biểu tình trong vài tuần lễ gần đây (tại Sài gòn). Tình hình sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe doạ quân sự trước mắt…

Bỏ miền Nam Viêt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm sát chỉ vì hơn kém nửa tỷ đô la sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là xé nát lương tâm của Hoa kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa kỳ tuy còn mạnh mà đang yếu dần, trên chính trường quốc tế. Viện trợ quân sự bị cắt còn 700 triệu đô la (và đây chỉ là con số lý thuyết); viện trợ kinh tế thì xuống 400 triệu. Còn gì nữa mà nói đến cam với kết?

Washington trấn an.

Thế nhưng Washinglon lại trấn an. Mặc dù sự thật đã quá phũ phàng, ông Ford vẫn tiếp tục an ủi ông Thiệu. Lần này, thay vì viết thư, ông gửi một phái đoàn do Thứ trưởng quốc phòng Clements cầm đầu tới Sài gòn. Clements là một giám đốc công ty dầu hoả ở Texas, mới tham gia Chính phủ Ford, nổi tiếng là có tính cương trực và ủng hộ lập trường Viêt Nam.

Từ lâu Clements mang theo cái bộ tịch huênh hoang và tự tin của người hùng Texas, tính tình dễ dãi, bình dân, dễ được lòng người Việt. Trong một buổi họp, ông lại hứa với ông Thiệu là Chính phủ Hoa kỳ đang tìm mọi cách để viện trợ quân sự cho Viêt Nam: “Xin Tổng thống đừng lo. Chúng tôi đang tìm mọi cách thuyết phục Quốc hội. Tôi tin chắc rằng cuối cùng Quốc hội sẽ chấp thuận ngân khoản”.

Hoa kỳ cố gắng làm như không có chuyện gì xảy ra. Clements được cử sang trấn an ông Thiệu. Ông ta nói đến kế hoạch mới của Chính phủ để xin Quốc hội viện trợ thêm cho Viêt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Thiệu chăm chú nghe và gật đầu nhưng với vẻ mặt mà sau này một nhân viên trong phái đoàn Mỹ tại buổi họp đã mô tả là “bi quan sâu đậm”

1. Trong buổi họp chung trước khi trở về, phái đoàn Clements đã thảo luận “vấn đề thời gian tính” của quân viện và làm sao du di quỹ phát triển để đáp ứng nhu cầu hiện tại.

Mọi người bàn đến việc xin Quốc hội thêm 300 triệu đô la cho quân viện để phục hồi lại mức một tỷ như Tổng thống Nixon đã ký. Đại sứ Martin, luôn cố gắng trấn an ông Thiệu: “Cánh cửa viện trợ chưa đóng hẳn” và “ta phải khai thác hết mọi cách”.

Martin chế diễu những “tay đĩ điếm tiền bạc” (fìscal whores) ở Ngũ Giác Đài, kế toán lôi thôi, để Quốc hội đòi lại số tiền trội chi năm trước, bắt trừ vào tài khoá 1975 (như đã trình bày ở trên)

2. Ông hoan hô lời ông Clements hứa sẽ cố phục hồi số quân viện một tỷ, tức là tranh thủ xin tăng 300 triệu. Đại sứ Martin hết sức đồng ý.

300 triệu đô la: con số mầu nhiệm.

Kể từ đấy, số tiền 300 triệu đô la trở thành con số mầu nhiệm. Nó là một sự thử thách. Nếu được là còn hy vọng tiếp tục quân viện, và ngược lại là hết.

Đàng sau con số 300 triệu ấy là gì? Phần lớn chỉ để đáp ứng nhu cầu tối cần cho ngay thời điểm đó.

Phân chia số tiền 300 triệu đô la khẩn cấp:

Cho (triệu đô la)         Số tiền Tỷ lệ

Lục quân:        203      68%

Đạn dược, xăng nhớt  132      44%

Thuốc men      6          2%

Đồ phụ tùng    48        16%

Vật liệu khác   17        6%

Không quân:   91        30%

Các phi vụ       29        10%

Đạn dược        13        4%

Đồ phụ tùng    32        10%

Vật liệu khác   17        6%

Chi phí khác   6          2%

Vì giá cả vật liệu quốc phòng đã lên quá cao nên nếu có xin được số tiền này thì cũng chẳng mua được bao nhiêu.

Sau phái đoàn Clements, ông Thiệu muốn có dịp gặp thẳng Tổng thống Ford để cầu cứu và xem thái độ của ông ta ra sao, về khoản 300 triệu cũng như về khả năng tăng viện nếu bị tấn công. Ông bèn cử Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đi Washington mang theo một lá thư đề ngày 19 tháng Chín 1974. Ông Bắc vừa thay ông Lắm trong chức vụ Ngoại trưởng ngày tám tháng 11, 1973 (ông Lắm sang Quốc hội giữ chức Chủ tịch Thượng Viện). Ông Bắc có nhiều kinh nghiệm ở ngoại giao. Ông đã ở Washington trong chín tháng hồi 1956 dưới thời Tổng thống Eisenhower để nghiên cứu guồng máy chính quyền Hoa kỳ

3. Từng là Đại sứ ở London và là Cố vấn của phái đoàn Viêt Nam Cộng Hòa tại hoà đàm Paris hồi 1968 và 1972. Ông Kissinger đưa ông Bắc và Đại sứ Phượng vào gặp Tổng thống Ford ở toà Bạch Ốc. Buổi họp kéo dài chừng 30 phút. Ông Bắc trình lá thư của ông Thiệu và nói rõ từng điểm một và lá thư. Ông quả quyết với ông Ford rằng Viêt Nam Cộng Hòa sẽ nói chuyện với Bắc Việt nếu họ tôn trọng Hiệp định. Ông nhận định rằng tuy vụ Watergate là việc nội bộ của Hoa kỳ, nhưng thật ra nó đã ảnh hưởng đến dư luận quần chúng và tinh thần quân sĩ Viêt Nam không ít. Chính phủ Viêt Nam Cộng Hòa muốn biết chắc rằng việc thay đổi nhân sự trong Chính phủ Hoa kỳ không ảnh hưởng đến vấn đề viện trợ”.

Tổng thống Ford tỏ vẻ thân mật và không ngần ngại ca ngợi ông Kissinger trước mặt ông Bắc và ông Phượng. Ông Ford nói:

“Các ông có thể tin rằng chúng tôi bao giờ cũng hành động như một người bạn tốt và là cộng sự viên của Viêt Nam Cộng Hòa.”

 4. Buổi họp chuyển sang vấn đề tôn trọng bản Hiệp định và phương cách đôi phó với những vi phạm của Bắc Việt. Tuy ông Ford chỉ tỏ ý tiếp tục ủng hộ và tránh không nói tới cam kết về bất cứ một điều riêng biệt nào, Ngoại trưởng Bắc cũng đã hài lòng về lời tuyên bố tích cực của tân Tổng thống rằng Hoa kỳ sẽ là “cộng sự viên” của Viêt Nam Cộng Hòa. Ở Quốc hội, ông Bắc gặp nhiều chống đối và nghi kỵ hơn. Các nghị sĩ kêu gọi Viêt Nam Cộng Hòa phải thích nghi với Việt Cộng. Thượng nghị sĩ Adlai Stevenson đòi ông Thiệu phải từ chức, sau đó, nếu Bắc Việt tiếp tục gây hấn thì Hoa kỳ sẽ can thiệp”.

Ông Bắc trả lời: “Thưa thượng nghị sĩ, chúng tôi chỉ còn có một Chính phủ hợp hiến là một bằng chứng duy nhất tượng trưng cho sự hợp pháp và ổn định của Viêt Nam Cộng Hòa. Nếu bây giờ chúng tôi bỏ nó đi thì còn gì nữa?”

5. Về phía hành pháp thì vẫn còn nhiều hứa hẹn sẽ tiếp tục yểm trợ dù không được Quốc hội chấp thuận thì cuối cùng họ cũng sẽ tìm cách này hay cách khác để giúp. Khi ông Bắc tại Bộ Quốc phòng, Schlesinger nói: “Dù Quốc hội định sao đi chăng nữa thì tôi cũng đứng về phía các ông”. Bắc nhớ lại cách phát biểu khác thường của Schlesinger và cho rằng ông này sẽ ủng hộ Viêt Nam Cộng Hòa kêu gọi Quốc hội tăng viện. Bắc nói với Schlesinger: “Tôi tin vào lời hứa của ông Tổng trưởng, nhưng chúng tôi không hiểu rõ thủ tục phức tạp của Quốc hội về việc cung cấp ngân khoản ngoại viện. Tôi nghĩ rằng những lời hứa hẹn của Tổng thống đã được đưa ra trước lúc Quốc hội hạn chế quân viện cho Viêt Nam Cộng Hòa.

Hoa kỳ có nghĩa vụ long trọng với Viêt Nam Cộng Hòa kể từ lúc ký kết Hiệp định Paris”.

 6. Tuy đã phiền lòng vì không thể thuyết phục được ông Ford gặp ông Thiệu, ông Bắc đã lại một lần nữa nhận được những lời trấn an từ phía Hoa kỳ rằng: lập trường của Hoa kỳ về Viêt Nam Cộng Hòa không có gì thay đổi; và tân Tổng thống đã cam kết sẽ tìm mọi cách để thoả mãn nhu cầu viện trợ.

Dấu hiệu tránh né

Sau khi ông Bắc về được hơn một tháng, Tổng thống Ford liền viết thư phúc đáp thư Tổng thống Thiệu:

White House

Ngày 24 tháng 10, 1974

Thưa Tổng thống,

Tôi rất hân hạnh được gặp Ngoại trướng Bắc và nhận được lá thư của Ngài đề ngày 19 tháng Chín.

Chính sách của Hoa kỳ đối với Viêt Nam vẫn không có gì thay đổi dưới Chính phủ do tôi lãnh đạo. Chúng tôi tiếp tục ủng hộ những nỗ lực của quý Chính phủ để bảo vệ và phát triển nền độc lập và hạnh phúc của nhân dân Viêt Nam. Chúng tôi bao giờ cũng tin tưởng vào sự can đảm, quyết tâm và tài khéo léo của nhân dân và quân đội Viêt Nam Cộng Hòa.

Tôi hoàn toàn thông hiểu và chia sẻ mối quan tâm của Ngài về tình hình hiện tại ở Viêt Nam, nhất là việc Bắc Việt tiếp tục gây hấn. Tôi cũng biết được sự thiết yếu của viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa kỳ cho quý quốc lúc này. Tôi xin cam đoan rằng Chính phủ của tôi sẽ làm đủ mọi cách để có thể thoả mãn nhu cầu của Viêt Nam Cộng Hòa.

Mặc dù tôi muốn có dịp được gặp Ngài để thảo luận về những biện pháp duy trì hoà bình cho Viêt Nam, nhưng rất tiếc buổi họp không thể thực hiện trong lúc này vì những bận rộn và ràng buộc đã có từ trước của tôi. Nhưng tôi hy vọng sẽ được gặp Ngài trong tương lai.

Tôi đồng ý với Ngài rằng Chính phủ tôi phải làm sáng tỏ vấn đề là sẽ ủng hộ Chính phủ Ngài và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Nhưng tôi nghĩ rằng lời tuyên bố công khai của tôi ngày chín tháng 10, buổi họp của tôi với Ngoại trướng Bắc, và sự thăm viếng của Thứ trưởng quốc phòng Clements đều đã nói lên những cam kết của Hoa kỳ đối với Viêt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi đã thông báo đến các quốc gia quan tâm đến Viêt Nam biết rằng Hoa kỳ tiếp tục ủng hộ Viêt Nam Cộng Hòa và mong muốn thi hành đúng đắn Hiệp định Paris. Tôi muốn sẽ có nhiều dịp khác để bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với Ngài và cho nền hoà bình mà chúng ta đã cùng nhau xây dựng.

Hai quốc gia chúng ta cùng nhau trải qua rất nhiều khó khăn cả trong quá khứ lẫn tương lai. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ vượt qua được những khó khăn đó nếu chúng ta cùng nhau đối phó bằng sức mạnh và quyết tâm.

Kính chúc Ngài và nhân dân anh dũng miền Nam Viêt Nam được mọi sự tốt đẹp.

Trân trọng

Gerald R. Ford

Lần này, nhận được thư của Ford, ông Thiệu thấy thất vọng! Sao thay đổi nhanh thế? Chỉ có hai tháng rưỡi trước đó, ông tân Tổng thống đã mạnh dạn tái xác nhận những “cam kết trong quá khứ vẫn còn hiệu lực và sẽ được hoàn toàn tôn trọng trong nhiệm kỳ tới”, rồi vừa mới một tháng trước, ông đã trấn an ông Bắc, thế mà bây giờ lại đổi giọng, chỉ nói lơ mơ là ông “tin tưởng vào sự can đảm, quyết tâm, khéo léo của nhân dân và quân đội Viêt Nam Cộng Hòa”. Khi Tổng thống Mỹ nói với ngôn từ là “chúng tôi tin tưởng vào Chính phủ ông”, dù là nói với Viêt Nam (hay Iraq, Afghanistan hay Đại Hàn) thì rõ là đã có dấu hiệu Mỹ muốn tránh né rồi.

Ông Ford không muốn gặp ông Thiệu, viện cớ rằng đã có lời tuyên bố của ông ủng hộ Viêt Nam, đã tiếp ông Bắc và gửi thứ trưởng Clements sang Sài gòn, như thế là đủ nói lên những cam kết rồi.

Đằng sau quyết định rút Pleiku

Vào khoảng thời gian này, có lần sau khi họp với ông Thiệu về tình hình viện trợ, tôi ở lại một mình trong phòng họp (còn gọi là “Phòng Tình Hình”, ngay sát văn phòng ông) để ghi lại những điểm quan trọng. Trên bàn họp tôi thấy có một quyển sách mỏng, đóng bìa cứng, màu đỏ, rất đẹp, do ông mang vào.

Nhìn thoáng thấy trên bìa lại có hình ông, tưởng ông muốn cho tôi đọc quyển sách ai mới viết về ông, tôi mở ra xem. Vừa lật tờ bìa, tôi thấy ngay nó không phải là một cuốn sách mà là một tài liệu báo cáo do tướng Murray cùng với Bộ Tổng tham mưu trình lên. Tài liệu phân tích ảnh hưởng của các mức quân viện tới khả năng chiến đấu, phân chia theo từng quân, binh chủng. Tôi lướt qua và chỉ đọc vài trang cuối.

Phần kết luận được tóm tắt như sau:

– Nếu mức độ quân viện là 1,4 tỷ thì có thể giữ được tất cả những khu đông dân cư của cả bốn Vùng Chiến Thuật;

– Nếu là 1,1 tỷ thì Quân khu 1 phải bỏ;

– Nếu là 900 triệu thì khó lòng giữ được QK I và II, hoặc khó đương đầu với cuộc tổng tấn công của Bắc Việt;

– Nếu là 750 triệu thì chỉ có thể phòng thủ vài khu vực chọn lọc, và khó điều đình được với Bắc Việt;

– Nếu quân viện dưới 600 triệu thì Chính phủ Viêt Nam Cộng Hòa chỉ còn giữ được Sài gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.

Đó là năm tuyến phòng thủ tương đương với năm mức độ quân viện (xem biểu đồ).

Tướng Murray kết luận: “Ta có thể ví sự mất tiền xấp xỉ như bị mất đất vậy, (xem bảng). Sau đó, chính Tổng thống Thiệu còn đưa tài liệu này cho tôi đọc thêm. Và trong những buổi họp về viện trợ, ông hay nói tới câu: từng chiến lược cho từng mức viện trợ”.

Tuy lúc đó ông không cắt nghĩa rõ ràng, nhưng thỉnh thoảng ông mô tả chiến lược mới này bằng bốn tiếng dân dã “Đầu Bé Đít To” (Vùng I và Vùng II là đầu). Trong các buổi họp ông còn dùng ba chữ “Tái phối trí”.

Ngoài phân tích trên, theo nghiên cứu, tôi thấy còn có hai việc khác liên hệ tới kế hoạch này:

Thứ nhất, theo ông Martin tường thuật lại cho Quốc hội, thì ngày l tháng Tám, 1974, một nhóm bên phía Chính phủ Viêt Nam với sự cố vấn của một “viên sĩ quan về hưu lỗi lạc từ một quốc gia khác” được chỉ định để nghiên cứu về một kế hoạch thu hẹp lãnh thổ

7. Theo Frank Snepp, viên sĩ quan này là viên chuẩn tướng người Úc tên là Ted Sarong và ông đã làm việc với trung tướng Đặng văn Quang

8. Nhóm này đi tới kết luận là Viêt Nam nên bỏ Quân Khu I và 11 và tập trung lại để chỉ giữ một tuyến từ Tây Ninh tới Nha Trang.

Đại sứ Martin trình bày: kết luận này được dựa vào ba lý do:

Với tiềm năng còn lại, Viêt Nam Cộng Hòa không thể giữ được tất cả lãnh thổ;

Trong trường hợp Bắc Việt tổng tấn công, Viêt Nam không thể trông chờ Hoa kỳ đến giúp như hứa hẹn vào lúc ký Hiệp định đình chiến để mang tù binh về và những thay đổi về kinh tế, xã hội tại Miền Nam trong thập niên qua đã tạo nên một tiềm năng chính trị mới, và nếu khai thác khéo léo sẽ có thể giảm thiểu những nguy cơ chính trị của việc cắt đất

9. Thứ hai, theo ông Kissinger, vào tháng Hai, 1975, ông Robert Thompson (chuyên gia người Anh nổi tiếng về chiến thuật du kích từ lúc còn ở Malaysia) đã thăm viếng Viêt Nam, làm việc với các cấp chỉ huy quân sự và cố vấn cho họ. Khi về, ông báo cáo cho Tổng thống Ford rằng: “Nếu Hà Nội dứt khoát đến độ đem cả những sư đoàn trừ bị từ phía bắc vùng phi quân sự (DMZ) vào, thì quân đội Viêt Nam Cộng Hòa sẽ bị mất ít nhất là Sư đoàn Dù, Thuỷ quân lục chiến, và một tới ba sư đoàn khác, và sẽ sụp đổ. Chiến tranh sẽ kết thúc…

Tất cả vấn đề còn tuỳ thuộc vào sự thận trọng và sự phê chuẩn hiệ n còn đang được đắn đo ở Hà Nội…

Sự quyết định (của họ) còn tuỳ một phần vào Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ… Miền Nam đang sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, và nếu có được sự ủng hộ tối thiểu để khích lệ nhân dân của họ và để ngăn cản Hà Nội, giúp họ kiên trì dai dẳng đủ lâu, thì sẽ đi tới chỗ chấm dứt được sự can dự của Hoa kỳ. Thế nhưng, nếu không được yểm trợ, Miền Nam sẽ sụp đổ trước sự hổ thẹn muôn đời của Hoa kỳ”

10.Ngày bảy tháng Giêng, 1975, quân đội Bắc Việt tấn chiếm Phuớc Long. Trong Hồi ký của ông (1979), Tổng thống Ford bình luận: “Bắc Việt đã chiếm được một tỉnh đầu liên trong 15 năm chiến tranh…” ông quy trách việc tái phối trí cho việc Quốc hội Hoa kỳ đã giới hạn quyền hành của Tổng thống cũng như đã cắt giảm cả kinh viện lẫn quân viện cho Viêt Nam rồi đi tới một tình huống là đã “báo hiệu càng ngày càng rõ sẽ cắt đứt toàn bộ những yểm trợ” cho Miền Nam

11.Đây chỉ là đỗ lỗi cho nhau chứ vào thời điểm đó, rõ ràng là cả phía Hành pháp cũng đã muốn quay mặt đi. Sau khi mất Phước Long, Chính phủ Ford không có tuyên bố hay phản ứng gì, trái lại, còn giảm mức độ quan trọng của việc ấy

12.Tới lúc đếm từng viên đạn.

Sau khi mất Phước Long, ngày 24 và 25 tháng Giêng, 1975, ông Thiệu lại liên tiếp gửi hai bức thư cho ông Ford để kêu gọi Hoa kỳ gấp rút tăng thêm viện trợ quân sự, đặc biệt là ngân khoản 300 triệu. Chính Kissinger thuật lại trong cuốn Ending the Vietnam war

13. “Ông Thiệu cho việc đánh chiếm Phước Long “là một hành động vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris và nói tới “Cường độ tấn công mãnh liệt của quân đội Bắc Việt, yểm trợ bằng hoả lực và thiết giáp ồ ạt” Và ngược lại, “quân đội VNCH phải đếm từng viên đạn khi bắn để giữ được lâu hơn” Trong cả hai thư ông Thiệu có nhắc khéo để ông Ford biết rằng chính là do sự cam kết của Hoa kỳ là sẽ cung cấp viện trợ đầy đủ cho Viêt Nam Cộng Hòa mà ông đã ký Hiệp định Paris.

Theo Kissinger, hai bức thư này khiến ông Ford bác bỏ đề nghị của các viên chức toà Bạch Ốc trong việc chống đối sự 300 triệu bổ sung và quyết định cứ tiếp tục xin thêm. Lúc đó các nhân viên này, đặc biệt là Phụ Tá Báo chí Ron Nesser đang sửa soạn cho ông Ford ra ứng cử chức Tổng thống vào năm 1976. Ông Ford chưa bao giờ được bầu lên chức Phó hay chức Tổng thống. Đội ngũ của ông đã khuyến cáo ông “hãy đưa nước Mỹ ra khỏi Viêt Nam chứ đừng đưa vào”. Bởi vậy ông đã hành động như sau:

Ngày 28 tháng Giêng, Tổng thống Ford yêu cầu Quốc hội chuẩn chi 300 triệu, nhưng chối phắt trách nhiệm của nước Mỹ:

“Chúng tôi đã nói với họ (VNCH), thực ra là chúng ta sẽ không bảo vệ họ với sức mạnh của chúng ta, nhưng sẽ cung cấp phương tiện để họ tự bảo vệ theo như Hiệp định (Đình chiến). Nhân dân Viêt Nam đã hành động hiệu quả khi chấp nhận thách đố này”

14. Ngày 26 tháng Hai, 1975, Đại sứ Martin chuyển một bức thư nữa của ông Ford phúc đáp hai lá thư của ông Thiệu. Lời lẽ rất thận trọng mà chỉ nói chung chung và khuyến khích Miền Nam điều đình:

White House

Ngày 26 tháng Hai, 1975

Thưa Tổng thống,

“Các lá thư ân cần của Ngài đề ngày 24 và 25 tháng Giêng đến đúng vào lúc Viêt Nam đang ở trong tâm trí tôi…

“Tôi xin được chia sẻ mối quan tâm của Ngài về việc Bắc Việt không làm tròn nhiệm vụ tôn trọng những điều khoản cơ bản nhất của Hiệp đinh Paris và về mức gia tăng áp lực quân sự của Bắc Việt. Tôi xin Ngài an tâm là Chính phủ tôi sẽ tiếp tục thúc bách đòi thực thi Hiệp định ấy.

“Một lần nữa nhân dân và quân lực Miền Nam đang chứng tỏ một cách hữu hiệu quyết tâm chống lại các cuộc tấn công của Hà nội, bất chấp những giới hạn hiện nay về dạn dược và các tiếp liệu khác…

“Chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng việc thực thi Hiệp định Paris, cùng các cuộc điều đình trực tiếp giữa các phe phái Viêt Nam, là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu tại Viêt Nam…

Đang khi cầu cứu Hoa kỳ trợ giúp, ông Ford lại nói những lời lẽ đãi bôi: khen ngợi quân, dân Miền Nam, tin tưởng vào điều đình trực tiếp giữa hai bên. Nói như vậy là dấu hiệu mở đường cho ông Thiệu từ chức để ông Minh lên chức Tổng thống, vì như vậy mới có thể điều đình trực tiếp với Bắc Việt.

Con dao hai lưỡi.

Thư ông Ford tới Dinh Độc Lập hầu như cùng một lúc với cuộc “viếng thăm” của một phái đoàn Quốc hội. Để cứu xét vụ quân viện 300 triệu, Nghị sĩ Humphrey đề nghị và Tổng thống Ford đồng ý là nên có một phái đoàn gồm đại diện của cả hai Đảng sang Sài gòn để quan sát và tìm hiểu tại chỗ tình hình và nhu cầu của Viêt Nam Cộng Hòa. Chỉ một Nghị sĩ, ông Dewey Barlett (Oklahoma) và bảy Dân biểu đồng ý đi.

Lại một bất hạnh nữa: đa số là thành phần chống chiến tranh và rất ghét ông Thiệu. Đặc biệt là bà Bella Abzug, một trong các lãnh tụ phản chiến, là Paul Mccloskey, chống đối vai trò Mỹ ở Đông Dương từ lâu, và Donald Fraser, chủ tịch của nhóm “Những Người Mỹ tranh đấu cho Dân chủ”.

Cuộc viếng thăm là một con dao hai lưỡi đối với Miền Nam. Khi biết được thành phần phái đoàn là đã có báo động.

Nếu họ vui vẻ thì khi trở về sẽ ủng hộ quân viện. Ngược lại là hết. Toàn thể bộ máy Chính phủ, quân đội, cảnh sát họp hành liên miên để xem phải ứng xử thế nào. Nếu để họ tự do muốn đi đâu thì đi như yêu cầu thì rất nguy. Sài gòn đã mất bao buổi họp để bàn cãi lý do nên hay không. Nhưng vì tới lúc đã quá hí nên sau cùng phải chấp nhận mọi yêu sách.

Cả một chương trình linh động được sắp xếp. Và phái đoàn sẽ tự do làm gì thì làm, muốn gặp ai thì gặp, tuyên bố gì thì cứ việc tuyên bố. Kể cả tự do đi “thanh tra” những “cấm địa” như cơ sớ quân sự, khám Chí Hoà, “chuồng cọp Côn sơn”.

Ông Thiệu còn nghĩ tới cả khía cạnh con người. Sợ nhất là bà Abzug.

“Này anh Bắc, anh trông “seduisant” (có sức quyến rũ), anh nên săn sóc bà Abzug giùm tôi”, Tổng thống Thiệu nói với ông Bắc trong một buổi họp. Mọi người bật cười, bớt chút căng thẳng.

Vừa đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phái đoàn đã xé lẻ ra đi gặp đủ thành phần: chống đối, phe phản chiến, bà Ngô Bá Yhành, Huỳnh Tấn Mẫm, Cha Thanh và vào khám Chí Hoà phỏng vấn tù chính trị. Hầu hết các câu hỏi chỉ xoay chung quanh vài vấn đề: tham nhũng, lạm quyền của Chính phủ Thiệu cũng như bằng chứng là Miền Nam đã vi phạm Hiệp định đình chiến.

Trong một bữa cơm chiêu đãi do Thủ tướng Khiêm mời, bà Abzug công khai bày tỏ thái độ. Khi chủ nhân mời khách nâng ly rượu chúc mừng, bà ngồi yên, không động đậy gì.

Ông Bắc thấy vậy, cố gắng nói, cười, khen các nghiệp đoàn lao động Mỹ, đặc biệt là “Hội phụ nữ may vá” do bà đại diện. Cũng vô ích, “Mình hết đề tài nói chuyện cho bà ta vui lên”, ông phàn nàn.

Sau khi đi thăm viếng các địa phương, phái đoàn trở về Sài gòn họp với ông Thiệu để đúc kết lình hình. Tôi cùng tham dự để ghi chép và giúp ông Thiệu về Anh ngữ. Buổi họp đã trở thành một cuộc tra vấn hằn học? Dù đã đoán trước là bầu không khí sẽ không cởi mở, thân mật, nhưng tôi không ngờ nó lại trở nên thù nghịch đến thế. Không thấy bình luận gì về nhu cầu viện trợ mà chỉ hỏi tại sao đã mất bao nhiêu buổi họp vi phạm Hiệp định Paris: “Ông đã đặt điều kiện là Bắc Việt phải thi hành Hiệp định Paris”; “Ông đã đòi Bắc Việt rút quân như một điều kiện điều đình”; “Ông còn muốn quân viện, kinh viện mãi sao? Chừng bao lâu nữa?” v.v…

Tôi ghi lại từng chữ một câu phát biểu khiêu khích khác:

“Chúng tôi nghĩ rằng viện trợ Hoa kỳ sẽ tuỳ thuộc vào một số yếu tố, như việc thả tù binh chính trị, chống tham nhũng, việc thành lập một Lực lượng thứ Ba. Quý vị đã làm gì cho các vấn đề này? Chúng tôi rất quan tâm”.

Mặt bà Abzug đằng đằng sát khí. Bà dân biểu Fenwick thì tiếp tục phì phèo hút ống điếu. Rõ là ông Thiệu đang cố giữ vẻ mặt bình tĩnh. Hôm sau, ông điện thoại cho tôi từ sáng sớm.

“Mấy người phách lối này không có ngay đến cả một lịch sử tối thiểu đối với Đồng minh. Anh soạn cho tôi mấy câu để nói trong bữa tiếp tân chiều nay”.

Tôi hết sức lo ngại. Tin từ Ngũ Giác Đài cho hay cơ nguy là không còn hy vọng gì để lấy lại số 300 triệu đã mất, và như vậy đã đến mức cạn kiệt rồi. Bây giờ, ông Thiệu tuyệt vọng tới chỗ sẽ tỏ thái độ bất mãn với phái đoàn Quốc hội. Thật là nguy?

Một tỷ rưỡi đô la quân viện đi đâu?

Nghe tin tức bi đát về quân viện, các bạn đồng liêu của tôi thường hay bàn bạc với nhau lúc nghỉ giải lao trong các buổi họp Hội đồng Nội các vào mỗi sáng thứ tư: lý do thực tế nào đưa tới tình trạng này? Người thì cho là vì Quốc hội chán ghét chiến tranh, người thì cho là vì Mỹ bị kinh tế khó khăn (thất nghiệp và lạm phát cao) nên đã cắt viện trợ. Nhưng lý do được nhiều người đưa ra nhất là vì Mỹ cần dồn thêm quân viện cho Do Thái (Israel).

Nhìn lại lịch sử và phân tích kỹ tiến trình quân viện Mỹ cho các nước thì ta thấy lý do cuối cùng là đúng. Dù không thể chứng minh là đã có những sắp xếp để lấy quân viện dành cho Miền Nam để dồn cho Do Thái, ngày nay ta đã có thể chứng minh rõ ràng là: trong thực tế, ngân khoản 1,4 tỷ bị cắt của Viêt Nam đã nhảy qua Do Thái. Bảng sau đây là bằng chứng:

So sánh tiến trình quân viện Mỹ cho Viêt Nam và Do Thái:

Tài khoá          Viêt Nam        Do Thái

Tỷ đô la           Cho không      Cho không      Cho vay

1972/73           2,1       0,0       0,3

1973/74           1,4       0,0       0,3

1 974/75          0,7       1,5       1,0

Nguồn: Về viện trợ Mỹ cho Do Thái: đúc kết từ “Quân viện cho Do Thái” “Congression Rescarch Service, Library of Congress, Issue brief for Congress”, Updated October 17, 2002.

Như vậy, quân viện cho VNCH từ tài khoá 1972/73 là 2,1 tỷ đã bị cắt 1,4 tỷ còn 700 triệu cho tài khoá 1974/75.

Kết luận:

Quân viện “cho” Viêt Nam bị cắt đi 1,4 tỷ; và Quân viện “cho” Do Thái tăng 1,5 tỷ trong cùng năm.

Từ năm 1985, tất cả quân viện cho Do Thái đã thuộc loại “cho không” (như Viêt Nam trước đây), trung bình mỗi năm là một tỷ tám trăm triệu đô la.

Ông Stephens Jones, giáo sư tại Đại học San Francisco nhận xét: “Ngày nay tổng số viện trợ cho Do Thái mỗi năm tăng một phần ba ngân sách viện trợ Hoa kỳ cho toàn thế giới, dù dân số Do Thái không tới sáu triệu, tức là bằng 0,1% dân số toàn cầu”. Và dù Do Thái là nước giầu có thứ 16 trên thế giới (với lợi tức đồng niên mỗi đầu người là 14.000 đô la)

15. Đao phủ

Chiều mồng một tháng Ba, Dinh Độc lập mở tiệc khoản đãi các vị “quốc khách” vì hôm sau phái đoàn Quốc hội Mỹ lên đường ra về. Dù có tin đồn là một số khách sẽ làm reo không tham dự, nhưng tất cả đã đến đúng giờ. Tại bàn tiệc, nhân viên nghi lễ sắp xếp cho bà Abzug ngồi đối diện với tôi. Ngồi xuống rồi, mấy phút sau bà ta mới lấy cái mũ thật bự ra. Đã nghiên cứu trước về bà, tôi tìm đủ cách làm cho bà có thái độ tao nhã hơn. Nào là nói về đường Mott Street ở phố Tàu New York (bà thích ăn cơm Tàu), nào về những chuyến đi thăm Brucklyn (vùng phụ cận New York) nơi sinh trưởng của bà (người gốc Do Thái). Nhưng chẳng ăn thua gì. Bà ta cứ ngồi ăn, làm như không nghe tôi nói.

Sau vài ly rượu vang dường như để “lấy hứng”, ông Thiệu đứng lên đọc bài diễn từ vào lúc sắp kết thúc:

“Trong hai mươi năm qua, nhân dân Miền Nam đã được nghe đi nghe lại lời nói của năm vị Tổng thống Hoa kỳ thuộc cả lưỡng Đảng. Những lời đó đã được các vị dân biểu nước Mỹ liên tục ủng hộ, là Hoa kỳ quyết tâm cung ứng cho Viêt Nam Cộng Hòa đày đủ trợ giúp chừng nào họ còn sẵn sàng chống lại sự xâm lăng của Cộng sản để bảo vệ tự do của họ. Lời cam kết đó đã được nhắc lại một lần nữa trong dịp ký kết Hiệp định Paris. Vân đề giản dị chỉ như thế này: “Liệu những lời cam kết của Hoa kỳ có còn giá trị nào không?” Đó là thông điệp tôi muốn quý vị chuyển tới Đại hội thứ 94 của Quốc hội Hoa kỳ”.

Rồi dường như không kiềm chế nổi, ông đi ra ngoài bản văn đã soạn và tiếp:

“Tôi xin phép được ngợi khen những người bạn đích thực của chúng tôi đang hiện diện ở đây về sự khôn ngoan và tầm nhìn xa của họ. Tôi xin phép được nhắc lại ở đây ý nghĩa của một câu ngạn ngữ Viêt Nam: “Quà tặng đã quan trọng, nhưng cách tặng quà còn quan trọng hơn nhiều”.

Chắc bà Abzug không nghe thấy câu này vì bà dường như đã ngủ say sau mấy ngày ngược xuôi khắp nơi để đi tìm chứng cớ chống viện trợ.

Bữa tiệc hôm đó là bữa tiệc chót tại Dinh Độc Lập, bữa cuối cùng của ông Thiệu khoản đãi quan khách ngoại quốc của ông mười năm tại chức. Ta cũng có thể cho đó là một cử chỉ trang trọng của Miền Nam để đánh dấu hai mươi năm người Mỹ “bảo trợ” xứ này.

Từ sau bữa cơm tối hôm đó, bầu không khí ngột ngạt bao trùm Dinh Độc Lập từ đầu năm đã trở nên ảm đạm. Và những biến cố quan trọng đã đến liên lục như sau đây:

Phái đoàn Quốc hội Mỹ vừa rời Sài gòn, Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuộc hồi hai giờ sáng ngày 10 tháng Ba; Cùng ngày, Chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm trở về Sài gòn sau một chuyến đi Washington để vận động, nhân dịp kỷ niệm năm thứ hai của Hiệp định Paris (27-l-1973). Ông xác nhận lại là “không những chẳng còn hy vọng gì nữa đối với khoản 300 triệu bổ sung mà có thể sẽ không còn viện trợ quân sự nữa”;

Hôm sau, ngày 11 tháng Ba, Tổng thống Thiệu dứt khoát. Ông họp với Thủ tướng Khiêm, Đại tướng Viên và Trung Tướng Quang để thông báo quyết định tái phối trí:

“Với khả năng và lực lượng ta đang có”, ông nói, “chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng”.

16. Ngay sau đó, 13 tháng Ba, nhát gươm đao phủ đã hạ xuống: ban Lãnh đạo Đảng Dân chủ, cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện (họ lại là thành phần quyết định trong Quốc hội) bỏ phiếu với đại đa số: chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Miền Nam.

Hai ngày sau, 15 tháng Ba, Tư Lệnh Quân đoàn 11, Thiếu tướng Phạm Văn Phú và một số sĩ quan tham mưu bay về Nha Trang. Cùng hôm đó, vài đoàn quân xa lẻ tẻ rời Pleiku.

Họ đã là đoàn đi tiên phong của một cuộc hành trình gian khổ đến bên bờ vực thẳm.

——————————–

1          Phỏng vấn Morton Abramowitz, ngày 11 tháng 3, 1986.

2          Frank Snepp, Decent Interval, trang 107-124.

3          Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985. Ông Bắc kể lại rằng hồi đó, phần nhiều người Mỹ không ai biết Viêt Nam ở đâu.

4          Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.

5          Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.

6          Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.

7          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 539.

8          Frank Snepp, Decent Interval, trang 109-110.

9          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 538-539.

10        Henry Kissinger, Ending the Vietnam war, trang 511.

11        Gerald Ford, A time to heal, trang 250.

12        Xem Chương 10 về những lời tuyên bố của Tổng trưởng quốc phòng James Schlesinger.

13        Henry Kissinger, A World Restored, trang 508

14        Gerald Ford, A time to heal, trang 509?

15        Stephens Jones, “The Strategic Function of U. S. USAID to Israel”, in Washington Report on Middle East affair, trên mạng internet “wrmea.com” (xem U.S. USAID to Israel)

16        Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 129-132.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Aug 2025

25. Kim Tuấn

Nhà thơ Kim Tuấn, tên thật là Vĩnh Khuê, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1940 tại Huế.

Ông có thơ đăng trên nhiều tạp chí Văn nghệ ở Sài Gòn trước 1975. Hai bài thơ Anh Cho Em Mùa Xuân và Những Bước Chân Âm Thầm của ông, do Nguyễn Hiền và Y Vân phổ nhạc được rất nhiều người yêu thích.

Thơ Kim Tuấn giản dị mặc dầu ông có một tâm hồn lãng mạn. Dù có đẩy tưởng tượng đi rất xa lời thơ của ông vẫn có vẻ gì đó mộc mạc, chân thật. Thiên nhiên chiếm phần quan trong trong thơ Kim Tuấn. Ngay một bài thơ tình của ông người ta cũng thấy ông lấy cảnh để nói về tình nhiều hơn là nói thẳng với tình hay người tình:

Anh cho em mùa xuân

Nụ hoa vàng mới nở

Mùa đông dài nhung nhớ

Từng bước từng bước thầm

Mưa giữa mùa tháng năm

Tay đan sầu kỷ niệm

Gió rét về lạnh căm

Từng bước chân âm thầm

Anh yêu tình nở muộn

Chiều tím màu mến thương

Mắt biếc sầu lắng đọng

Đèn thắp mờ bóng đêm

Sau biến cố 1975, ở lại Sài Gòn, ông im tiếng một thời gian, rồi thỉnh thoảng người ta thấy ông cũng cho đăng một vài bài thơ trên các báo.

Năm 1994 ông cho xuất bản tập thơ Tạ Tình Phương Nam. Người ta tự hỏi, Kim Tuấn có gửi gấm tâm sự gì trong cái nhan của tập thơ đó chăng?

Để trực tiếp hiểu thơ của một người không gì hơn là đọc thơ của người ấy, đọc những phát biểu của chính người ấy về thơ:

“Nếu thơ là tiếng nói, thì nó chính là tiếng nói câm giữa cuộc đời thường. Có điều, thơ là tiếng nói lớn – bởi đó là tiếng nói sâu thẳm của tâm hồn.

Có lẽ, giữa cái thời quá nhiều tâm hồn bị đánh mất, giữa thời mà đồng tiền vẫn có hai mặt của nó, nhưng mặt trái đã chiếm ưu thế hơn mặt phải, và tự thân đã là sức hút, thì thơ nhất định rơi vào vị thế lạc lõng trong dòng sống.

Đã có lúc người ta coi người làm thơ là những kẻ điên, như người ta vẫn coi sự chân thật, nhân hậu là thứ ‘cù lần’. Người ta đã coi đồng loại là kẻ thù, coi sự lọc lừa là khôn ngoan và coi cái không như cái có. Giữa những lúc như thế, thơ vẫn sống, nó vẫn sống một đời nhân ái của nó, và dù lẻ loi, nó vẫn sống như đóa hoa vươn lên với ánh mặt trời. Âu đó mới chính là ‘cõi người ta’ như Nguyễn Du đã viết”.

Đó là những điều Kim Tuấn phát biểu về thơ gần đây. Ông biện bạch cho thơ. Ông tìm chỗ đứng cho thơ. Nhưng nhiều, rất nhiều những cái không phải là thơ vây bủa những điều ông nói, vây bủa cuộc sống, không còn chỗ cho thơ, dù là một chỗ lẻ loi hay nhỏ nhoi. Không phải Kim Tuấn không nhìn ra, không nhận ra điều đó. Nhưng hình như ông cho rằng những gì cần nói vẫn phải nói.

Và Kim Tuấn nói tiếp:

“Sao ta không nói với nhau một lời trong lúc này! Xin hãy quên đi những gian và dối trong cuộc sống, xin hãy quên đi những hệ lụy đã buộc ta lại như sợi dây oan nghiệt. Cuộc đời vẫn ngây thơ như thuở sơ sinh, nhưng cuộc sống thì không phải vậy. Thơ sẽ đứng về phía nào giữa cuộc đời và

cuộc sống? May sao trong cõi sống vẫn còn lại bầu trời. Thơ sẽ bay lên ở đó và thơ sẽ ngụ lại trong tim người, những trái tim còn để dành một khoảng cho thơ. Xin cám ơn những trái tim”.

Chúng ta hãy nghe tiếp tâm sự của Kim Tuấn: “Thật thì tôi cũng chán cảnh làm thơ lắm rồi! Dễ có gần 15 năm mà tôi chỉ còn làm được dăm bài thơ không ngoài tiếng nói của trái tin nói với trái tim. Thơ để làm gì giữa

những mưu toan của cuộc sống, thơ lạc loài như đứa con hoang. Bởi vậy nếu có dăm bài thơ trong mười lăm năm đó, chính là lúc tôi yêu thơ vô cùng, chính là lúc trái tim thơ tôi thúc bách tôi phải biến những lời phán truyền của nó thành con chữ. Xin bạn hiểu cho, tại sao lại chỉ có những bài thơ tình yêu”.

Những bài thơ tình ấy Kim Tuấn đã góp lại để in thành tập Tạ Tình Phương Nam. Không biết ở trong nước còn có bao nhiều người đọc thơ Kim Tuấn, đọc Tạ Tình Phương Nam. Ở chốn xa xôi này có người mới chỉ nghe nói về tập thơ ấy chưa kịp đọc, đã nghe tin ông vừa qua đời.

Những bài thơ phổ nhạc của ông thỉnh thoảng vẫn được hát ở đây, vẫn được nghe ở đây. Những người có trong tay mấy đĩa nhạc có các ca khúc của Y Vân và Kim Tuấn không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ rằng cả hai người nay cũng chẳng ai còn nữa. Xin trích dẫn sau đây ba bài thơ nhỏ của Kim Tuấn, do nhà thơ Viên Linh sưu tập được, cho đăng trên báo Khởi Hành.

Lặng Lẽ

Lặng lẽ chiếc lá vàng

Rơi trong chiều lặng lẽ

Lặng lẽ mưa đôi hàng

Lối em về xa vắng

Lặng lẽ cùng tơ nắng

Thầm buồn ci mơ phai

Lặng lẽ bước chân ai

Qua trong chiều lặng lẽ

Đoản Khúc Âm Thanh

Bởi tiếng đàn

Âm thấp, âm cao

Anh biết chọn âm nào

cho

nỗi khổ

Bởi tiếng hát

giọng oán, giọng than

Nên nức nở cung đàn

câu

vọng cổ

Mùa Hạ Trong Mưa

Tháng bẩy mùa hè em ra biển

Con sóng nhỏ vỗ lên bờ cát

Em có nghe con sóng gọi nhau về

Ở nơi này mưa nhỏ hạt trên cây

Tháng bẩy mùa hè

con ve hát quanh đây

Hãy hát giùm anh

những lời thương mến cũ

Em,

có bao giờ em nghe trong giấc ngủ

Con sóng miền xa gọi nắng

ở phương này

Tháng bẩy mùa hè

em lên cao nguyên

xin giữ giùm anh dù

sương mù che khuất núi

Xin giữ giùm anh dù

chỉ giây phút cuối

Nụ hoa hồng quên nở ngủ trên tay

Tháng bảy mùa hè mà nào em có hay

Buổi chiều trời mưa

mưa không còn tí nắng

Buổi chiều đạp xe

qua những đường phố vắng

Anh chỉ một mình với những cơn mưa

Lệ Thu

Elvis Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Aug 2025

24. Kiệt Tấn

Trước 1975 Kiệt Tấn mới chỉ có một tập thơ được xuất bản, đó là tập Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái Phá. Đó là thời gian cuộc chiến ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khốc liệt. Nên có thể nói, không chỉ riêng gì những điệp khúc tình yêu bị những tiếng trái phá lấn át. Cả tập thơ của Kiệt Tấn cũng gần như không gây nổi một sự chú ý nào. Người ta có quá nhiều việc phải lo lắng, không còn khoảnh khắc nào dành cho thơ. Và Kiệt Tấn đã phải chịu một sự thiệt thòi, oan uổng với tư cách là một tác giả: một tác giả không được đọc. Tập truyện ngắn Thương Nàng Bấy Nhiêu được nhà xuất bản Người Việt ấn hành lần đầu tiên vào năm 1988, nghĩa là sau biến cố 1975 hơn mười năm. Mười năm có đủ cho tâm hồn những người lưu lạc lắng đọng trở lại, để có một chỗ dành cho văn chương, nghệ thuật, dù người ta có được cái may mắn chạy thoát ra khỏi cái đất nước đã tơi bời vì chiến tranh lại đang điêu đứng vì cuộc đổi thay?

Thế nhưng mười năm sau cuộc di tản, những sáng tác đã được hình thành, đã được phổ biến. Sự kiện giống như những hình ảnh vỡ nát trên một mặt nước xao động đang tụ nhập trở lại. Và đó cũng là dấu hiệu của một cuộc tái sinh. Văn chương và nghệ thuật là những ngọn đèn trong đêm tối để những tâm hồn thất lạc có thể tìm thấy nhau. Người ta đọc sách, nghe nhạc để tìm lại mình, tìm lại người khác. Đó là thứ văn chương, âm nhạc ở trong nước không có. Thương Nàng Bấy Nhiêu của Kiệt Tấn được nhà xuất bản giới thiệu như là một tập truyện: rất tự truyện, rất dí dỏm, rất nhậy cảm, rất Kiệt Tấn. Thế giới truyện trong Thương Nàng Bấy Nhiêu của Kiệt Tấn không phải là phong tục miền Nam của chúng ta. Thế giới truyện của Kiệt Tấn, nói theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc mở ra một đề tài khác: tâm lý và triết lý.

Người ta có thể đọc, có thể nhìn những nhân vật của Kiệt Tấn dưới những lăng kính khác nhau. Nhưng điều thích thú trước hết là người ta bắt gặp một

con người, vừa sống vừa tự khám phá và thể hiện mình. Và cũng chính cái cá tính mạnh mẽ làm nên một con người, làm nên giá trị của tác phẩm.

Không có con người thì không thể có tác phẩm được. Ở trong nước người ta có lưu truyền một câu nói nửa đùa, nửa thật, nước ta có nhiều anh hùng đến nỗi cứ ra cửa là gặp anh hùng. Nhiều anh hùng nhưng thiếu những con người với cá tính, với tâm hồn. Người ta ăn nói giống nhau, suy nghĩ giống nhau. Cũng có thể người ta vẫn còn có cá tính nhưng phải giấu kín, cái bề ngoài phải như thế, phải giống nhau. Không giống nhau có thể là một tai họa. Cái mà người ta đề cao là phải làm sao đó cho triệu người như một.

Về tâm hồn thì như nhà văn Andrei Markine đã có lần viết:

“Có thể lâu lắm rồi tôi không được dùng từ đó. Quan niệm về tâm hồn đã bị từ bỏ ở Nga, thời kỳ xô viết. Tôi yêu từ tâm hồn, bởi vì nó thoát khỏi những nhãn hiệu mang tính xã hội, chuyên nghiệp, sắc tộc. Những nhãn hiệu chỉ được dùng vào mỗi một việc giản lược người khác thành một chức năng có ích cho mình, từ đó, có thể lợi dụng được”.

Mặc dầu Kiệt Tấn có đề cập tới các cặp ý niệm đối nghịch: tốt/xấu, thiện/ác, sạch/dơ, trên/dưới, đau/khoái, vui/khổ, nhưng có thể thu gọn trong một khuôn: tình yêu và dục vọng.

Tình yêu là gì thì hình như Kiệt Tấn không định nghĩa được, nhưng dục vọng thì rõ: Kiệt Tấn đã nhập cả hai thành một. Và gọi nó là nỗi đau và hạnh phúc. Truyện đầu và truyện cuối của tập sách đều được viện dẫn bằng bốn câu thơ của Nguyễn Bính.

Người ta có thể tìm thấy ảnh hưởng của Nguyễn Bính, của Phi Vân và cả Hoàng Hải Thủy trong các truyện của Kiệt Tấn. Nhưng cá tính của ông vẫn mạnh mẽ và vượt lên trên tất cả. Một cách ngắn gọn có thể gọi Thương Nàng Bấy Nhiêu là một bản tình ca, một khúc kim cổ giao duyên. Kim ở đây là nhạc rock. Cổ ở đây là vọng cổ. Bởi vì Kiệt Tấn đã dùng một giọng văn rặc miền Nam, không phải là người sinh trưởng ở miền Nam, không thể viết được. Cái tối tân và cái cải lương hòa hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, duyên dáng, những cái, những chỗ chõi, đều tạo nên những nụ cười.

Đọc Kiệt Tấn người ta có thể cười một mình hoài. Cứ tưởng tượng một gã si tình, không phải si tình một người mà là nhiều người, yêu lộn người yêu của kẻ khác, kể cả anh ruột mình, gã đem kể ra hết. Hắn học hết tiểu học,

hết trung học, hết đại học, song song với việc mê gái, mê đàn bà, sự hiểu biết của hắn tăng théo với việc học, nhưng việc mê gái thì hình như đã lên tới tột đỉnh ngay từ khi khởi sự.

Hắn kể hết mọi sự liên quan tới đàn bà mà hắn biết. Giọng si mê, cuồng nhiệt. Nhưng xen giữa những dòng chữ, đằng sau những dòng chữ, người đọc vẫn cảm nhận một nỗi buồn. Xin trích dẫn một đoạn ở trang 153, truyện Cho Thiếp Theo Cùng: “Nhà tôi ở từng mười lăm. Một đêm trăng sáng nọ

chàng mở cửa sổ bước ra ngoài không trung cỡi lên lưng con dơi đen bay tuốt lên cung Hằng Nga như chú cuội. Nếu tình cờ xẩy ra như vậy, tôi cũng sẽ không ngạc nhiên, tuy nhiên vẫn còn có một điều khiến cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là vì duyên cớ gì mà năm xưa nọ ở Hàng Xanh, chàng đã trần truồng ngồi khóc tỉ tê dưới ánh đèn nê ông giữa đêm hôm khuya khoắc”.

Kiệt Tấn là một trong số những nhà văn miền Nam trước 75, hiện sống ở hải ngoại, vẫn tiếp tục viết và được nhiều người đọc. Nụ Cười Tre Trúc là một tập truyện đầy đặn, không có lực không thể viết nổi. Dĩ nhiên người ta không tính giá trị của một tác phẩm qua chiều dày. Kiệt Tấn làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài. Ở đây thì người ta có thể dùng độ dài, độ ngắn để gọi tên tác phẩm của ông. Thực tế chỉ có một điều: người ta đọc văn ông.

Thơ của ông lẫn trong văn của ông. Xin trích dẫn một đoạn trong các trang 20-21 truyện Nụ Cười Tre Trúc:

“Nếu ngọc trai là ngọc của sò biển, nếu gạo thóc là ngọc của trời thì nước mắt là ngọc của má tôi. Cả đời má tôi buông nhả loài ngọc đó rất nhiều, cho bất cứ gì, cho bất cứ ai, vô tình hay cố ý, đến gõ cửa trái tim bà. Tôi thường ví trái tim bà là bồ lúa, mà mỗi hột là một mối thương tâm, một mối thương tâm rất gần với từ bi, khiến cho bà sa nước mắt ngùi ngùi vô số kể, suốt cuộc đời bà … Cả đời tôi chưa hề nghe tiếng ‘hy sinh’ thốt ra từ cửa miệng của bà. Bởi vậy, khi thấy má tôi khóc, đừng tưởng bà đau khổ, đừng tưởng bà đang nghĩ bụng mình hy sinh rút ruột cho con ăn, mình thức đêm thức hôm dầm sương dang nắng vì con cái. Khi sung sướng người ta cũng có thể chảy nước mắt lắm chớ, phải không? Vì vậy nước mắt của má tôi cũng rì rào như nụ cười tre trúc của bà: thương yêu, che chở, rộng

lượng”.

Trong ngôn ngữ của chúng ta có nụ cười nào là nụ cười tre trúc? Hay chỉ tới Kiệt Tấn mới có nụ cười mang tên ấy. Đoạn văn của Kiệt Tấn khiến người ta liên tưởng đến những câu thơ của nhà thơ da đen Langston Hughes nói về

những dòng sông cũ kỹ của quê hương mà ông bảo rằng “linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những dòng sông đó”. Kỷ niệm, tuổi thơ, tình thương yêu tuôn chẩy đằng sau, ở trong những dòng chữ.  Kiệt Tấn có lối viết người miền Nam gọi một cách nôm na là cà tửng. Theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc dí dỏm là cái đặc sắc của văn Kiệt Tấn.

Ông Nguyễn Hưng Quốc viết:

“Từ cách dùng chữ đến cách mô tả, cách kể chuyện của Kiệt Tấn dường như lúc nào cũng thấp thoáng một nụ cười tinh nghịch. Tinh nghịch một cách nhẹ nhàng và có duyên. Mà hình như đây cũng là đặc điểm chung của nhiều nhà ăn miền Nam khác. Các nhà văn miền Nam, ít nhất trên trang

sách, thường xuề xòa, dễ tính và vui tính. Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường … rồi Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Võ Kỳ Điền, Sơn Nam, không vui tính nhưng cũng dễ tính và xuề xòa. Chỉ có hai người cầm bút miền Nam thực sự nghiêm trọng: cặp vợ chồng Đông Hồ và Mộng Tuyết. Nhưng cả hai đều bị ảnh hưởng nặng nề của văn phong miền Bắc. Khi nghiêm trọng và trịnh trọng, họ phải giả giọng”.

Trong các truyện ngắn và cả tập truyện dài Lớp Lớp Phù Sa của mình, Kiệt Tấn dựng nhiều nhân vật khác nhau, từ những tay anh chị, các cô gái giang hồ, thầy pháp, tá điền, người em xóm học … tóc vàng, tóc đen, người Việt, người Tây, nhưng cuối cùng, ông cũng quay về với những truyện tình.

Và truyện tình của Kiết Tấn thì người ta phải đọc lấy, không thể trích dẫn. Vì hình như ông không trừ ra một giới hạn nào.

Nhận định về Kiệt Tấn, Thụy Khuê viết:

“Ngoài cái vẻ hóm hỉnh, đôi khi sống sượng, ngôn ngữ buông tuồng, đam mê đến cuồng nhiệt, ẩn một con người yếu đuối nhưng bao dung, một tâm hồn cô đơn đến bệnh hoạn. Người yêu của Kiệt Tấn trong ‘Thương Nàng Bấy Nhiêu’ phần lớn là những kẻ bơ vơ, những tâm hồn ngây thơ hay trụy lạc: ở ai chăng nữa, người đọc cũng tìm thấy cái khía cạnh băng trinh của tâm hồn. Viết về tình yêu, có rất nhiều người, nhưng về yêu thương, chỉ Kiệt Tấn đặc sắc”. Nguyễn Mộng Giác cho rằng mỗi người cầm bút chỉ sở

trường về một loại đề tài, một loại khung cảnh sống, một loại nhân vật. Rất ít người dám xông xáo vào nhiều lãnh vực, vì thấy trước sự thất bại.

Riêng Kiệt Tấn:

“ … viết về đủ đề tài, nhân vật, khung cảnh thay đổi, từ một cô gái quê cho tới một cô tình nhân bụi đời ở kinh đô ánh sáng, từ những kinh rạch bán khai chằng chịt ở quê hương cho đến cảnh đô hội nơi đất khách … ở đâu Kiệt Tấn cũng xông xáo thông thạo như một ‘thổ công’.

Vì sao vậy? Câu trả lời khá đơn giản, Kiệt Tấn đã sống hết mình, và viết hết mình. Khi sự chân thành đã đến độ giống như tự khỏa thân trước cuộc đời, thì cái Tâm Thành đó cộng với Tài Ba phải thành Nghệ Thuật. Kiệt Tấn đã thực hiện được lời của Dostoievsky khi văn hào Nga này nói: Tôi đã viết hết những điều mà thiên hạ chỉ dám nói có một nửa”.

Đó là những điều người khác nói về văn Kiệt Tấn. Chúng ta có thể đọc thêm thơ của Kiệt Tấn: Dòng Sông và Con Thuyền Hai Mươi Tuổi

Còn nhớ không

Những muỗng nước cá kho xin về

chan lên chén cơm khô

Này ăn đi con! ăn đi con!

này thôi nín nín mẹ ru

ầu ơ … gió mùa thu mẹ ru con ngủ … ờ ờ ờ …

Nhớ không?

năm canh dài … ờ ờ …

mẹ thức đủ năm canh … ầu ơ …

Nhớ gì không Gia

Lời ru bi thương đó

cùng từng bầy năm người mười người

cặp giữa hai thanh tre

trôi về chật lòng sông

Còn nhớ không Gia?

Những kẻ tật nguyền

không được quyền tật nguyền

bằng điện giựt bằng cẳng treo

bằng roi cá đuối

bằng muối ớt trên thương tích xót xa

Người câm bắt buộc phải trả lời

những tội phạm họ không bao giờ đủ

khả năng nghĩ tới

Người điếc bị đánh đơ xương sống

vì không nghe được người ta hỏi gì

người điên bị bắn bể bọng đái

vì không biết phải đứng lại

theo tiếng hô “Halte-là”

và hấp hối nằm đó rên la từ tám giờ

đêm cho đến mặt trời mọc

cơn điên không hề thuyên giảm

Còn nhớ không Gia?

Người cha được đặt làm loại bàn có lỗ

trên đó người ta luồn dây cột chặt

con mình đổ nước mũi vào họng

Nhớ không những khám nhỏ khám lớn

Những người mỗi tuần được lùa đi tắm một lần

trong ao bùn nước sâu đến bụng

bầy người trần truồng hôi hám

nhớp nhúa ồn ào như đàn vịt

những đứa nhỏ chạy đến [người lớn họ hết tin nhau] nhét vội

những khúc bánh mì những cặp lạp xưởng những chuối khô

bỏ lại chiếc khăn choàng

tắm chưa kịp đưa bàn tay chưa kịp nắm

đôi mắt chưa kịp ngó

giọt nước mắt chưa kịp rơi

bầy người gầy guộc xếp hàng trở về nhà giam cũ

Nhớ không Gia?

Họ trở về đó đêm đêm bó gối hồi hộp chờ chiếc

xe bít bùng đậu lại trước nhà giam

rồi từng loạt năm người mười người

được gọi tên

để đền mạng cho những tên sĩ quan da trắng

bị giết

Những tiếng súng dội lại

từ một cây cầu sập bỏ hoang

làm biết bao người

cha mẹ vợ con anh em nghe trong

đêm khuya rụng rời!

Còn nhớ không Gia?

Những thằng bạn nhỏ đã chết trong lúc chạy giặc

Những thằng đã rơi rụng cùng máy bay

Những thằng đã bể nát với trái mìn

Những thằng đã đánh mất đời mình trên bàn chông

Gia ơi mày nằm đó còn nhớ gì không?

Mày nhớ gì không trong lớp áo hành quân

bị đục lủng

Mày nhớ gì không?

trong đêm không bao giờ còn có ngày đó

Mày còn nhớ gì nhớ gì

dưới hàng bạch lạp hắt hiu cắm đều

khoảng từ đầu đến chân mày

Gia ơi mày làm sao nhớ gì với đạn đồng ngủ quên

trong ruột gan tim ngực

Nhớ gì không nhớ gì không hở Gia?

nhớ gì không

những đàn ông không có thì giờ để làm tình

những đàn bà không có thì giờ để cưu mang

những bào thai không có thì giờ để chào đời

những trẻ thơ không có thì giờ để nô giỡn

những thân thể non không có thì giờ để già nua

những kẻ bạc đầu không có thì giờ để

chu toàn cái chết

Nhớ gì không?

Còn nhớ gì không hở Gia?

con mắt chó trung thành rớt trên nền đất cứng

bà già cụt đầu lõa lồ bên bờ mương

đứa nhỏ chết cứng trên đỉnh vú xanh

những phát chày vồ những cơn lửa táp

người đàn bà rái cá bà mẹ xõa tóc điên

những kẻ tật nguyền bị tra tấn

những kẻ âm thầm gục dưới gầm cầu

những kẻ bị thủ tiêu trong rừng vắng

Nhớ lấy Gia!

nhớ lấy hết những bi thương đó

để mai kia

vào những đêm mùa hè thật vắng vẻ

mày kể lại cho giun dế nghe

chuyện con thuyền đứt neo

dật dờ trên dòng sông hai mươi tuổi

Gia ơi!

mày hãy tâm sự tuổi hai mươi của mày

với cỏ cây câm nín

giữa khuya bưng tối

đìu hiu của đêm hè

Thiếu Tướng William H. Seely III (gốc Việt), hồi hưu sau 36 năm phục vụ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on June 9, 2025

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và chiến lược tài nguyên Dwight D. Eisenhowe (ảnh của ndu.edu).

Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và Chiến lược Tài nguyên Dwight D. Eisenhower đã hồi hưu vào tháng 5 năm 2025, sau 36 năm phục vụ Thuỷ quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ. Một buổi lễ nghỉ hưu của ông đã được long trọng tổ chức tại Fort McNair ngày 23 tháng 5 năm 2025. Đại tướng Eric Smith, Tư lệnh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã trao tặng thư cảm ơn của Tổng thống Hoa Kỳ cho Thiếu tướng William Seely và trao tặng ông huy chương Navy Distinguished Service Medal. Thiếu tướng William H. Seely III, nguyên là Chỉ huy trưởng tình báo*, Bộ tư lệnh TQLC Hoa Kỳ và là Chỉ huy trưởng Trường Đại học Tham mưu liên quân (Joint Forces Staff College).

Thiếu tướng William H. Seely III là người Việt đầu tiên mang cấp tướng TQLC Hoa Kỳ và là 1 trong 6 vị tướng Hoa Kỳ gốc Việt. Các vị tướng Hoa Kỳ gốc Việt gồm có:

-Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc chiến lược Quốc phòng, Hội đồng an ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C.

-Phó Đề Đốc Hải Quân gốc Việt Tuấn Nguyễn, Tùy viên cao cấp Quốc phòng Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, Trung Quốc.

-Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021.

-Phó đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022.

-Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia, hồi hưu tháng 4 năm 2024.
-Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và Chiến lược Tài nguyên Dwight D. Eisenhowe, hồi hưu tháng 5 năm 2025.

Đại tướng Eric Smith, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, trao tặng thư cảm ơn của Tổng thống Hoa Kỳ cho Thiếu tướng William Seely trong buổi lễ nghỉ hưu của ông tại Fort McNair, ngày 23 tháng 5 năm 2025 (ảnh của Hạ sĩ Jeffery Stevens, dvidshub.net).

Thiếu Tướng William H. Seely III ra đời tại Sài Gòn, cha ông là người Hoa Kỳ, một nhà thầu làm việc tại phi trường Cam Ranh và Đà Nẵng, mẹ ông là người Việt ở Nha Trang. Mẹ ông sinh ông thiếu tháng, phải đưa vào Bệnh Viện 3 Dã Chiến Lục quân (Third Army Hospital), William H. Seely III được các Bác sĩ và Y tá Quân đội Hoa Kỳ trong khu chăm sóc đặc biệt chăm sóc. Cuối năm 1970, gia đình ông chuyển về Mỹ, ông lớn lên chơi baseball, football, và đô vật. Sau khi tốt nghiệp trường Trung học tư thục Wooster School ở Danbury, Connecticut, vào năm 1985.

Thiếu tướng William H. Seely III tốt nghiệp Cử nhân ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) – George Washington University năm 1989, mang cấp bậc Thiếu uý. Sau đó ông được thụ huấn nhiều khóa huấn luyện quân sự như: Căn bản quân sự tại Quantico, VA (1989); Căn bản sĩ quan Truyền tin tại Quantico, VA (1990); Nhảy dù lục quân (1991); Trường SCUBA Hải quân (1992); Trường SERS (1993); Khóa Sĩ quan tình báo MAGTF (1993); Khóa Sĩ quan huấn luyện chiến thuật và vũ khí WTI (1994); Khóa Sĩ quan tình báo Quân sự cao cấp Lục quân (1995); Hành quân thủy bộ (1995); Khóa viễn thám (1996); Khóa Chỉ huy và Tham mưu tại Trường cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu TQLC (2002); Chương trình hậu tình báo, DIA (2005); Chiến tranh Hải quân tại Trường cao đẳng hải chiến Hải quân (2010); Và khóa Sĩ quan kế hoạch cao cấp tại Trường Đại học TQLC (2014).

Thiếu tướng William H. Seely III đã từng phục vụ và giữ những chức vụ chỉ huy tại các đơn vị: Trung đội trưởng Truyền tin, Đại đội H&S, Tiểu đoàn 3 viễn thám (1990-1992); Sĩ quan ban 2, Tiểu đoàn 3 viễn thám TQLC (1992-1993); Sĩ quan ban 2 Liên đoàn 36 Không quân TQLC (1993-1995); Sĩ quan ban 2 Lực lượng đặc nhiệm TQLC Belleau Wood, Mogadishu Somalia (1994-1995); Sĩ quan ban 2, Đơn vị 11 viễn chinh TQLC (1996-2000); Đại đội trưởng Đại đội India, Tiểu đoàn yểm trợ quân báo TQLC (2000-2002); Phó phòng 2 Bộ tư lệnh TQLC Trung ương (2002-2003); Sĩ quan phòng 2 chống khủng bố Bộ tư lệnh Trung ương (2004-2005); Phụ tá Chỉ huy trưởng tình báo Bộ tư lệnh Trung ương (2005-2006); Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 viễn thám, Sư đoàn 3 TQLC (2006-2008); Chỉ huy trưởng tình báo liên kết và phát triễn tinh báo chiến trận-MCCDC (2010-2011); Chỉ huy trưởng Trường tình báo TQLC (2011-2013); Tham mưu trường, Bộ tư lệnh an ninh Không gian mạng TQLC Hoa Kỳ-U.S. Marine Corps Forces Cyberspace (2015); Trưởng phòng 2 thuộc Bộ tư lệnh các Lực lượng hỗn hợp bộ chiến tại Irag (J-2 Combined Joint Forces Land Component Command-Iraq)-Lực lương đặc nhiệm 82 Nhảy dù (2015-2016); Chỉ huy trưởng tình báo TQLC (2016-2017); Chỉ huy trưởng Truyền tin TQLC (2017-2019); Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm liên minh Quân sự Hoa Kỳ-Irag chống quân khủng bố ISIS tại Irag từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020; Chỉ huy trưởng trường Đại học Tham mưu Liên quân (Joint Forces Staff College) từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 8 năm 2021; Chỉ huy trưởng tình báo*, Bộ tư lệnh TQLC từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 3 năm 2023; Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và chiến lược tài nguyên Dwight D. Eisenhowe từ thang 5 năm 2023 đến tháng 4 năm 2025.

Thiếu tướng William H. Seely III đã từng thạm dự các chiến dịch và các cuộc hành quân quy mô như: UNITED SHIELD Mogadishu Somalia, USS Belleau Wood (1994-95); SOUTHERN WATCH/INTRINSIC ACTION/DESERT THUNDER Kuwait (1996-98); USS Essex/USS Tarawa, SAFE DEPARTURE Eritrea NEO (1998); USS Tarawa, STABILISE East Timor HAO (1999); USS Peleliu, ENDURING FREEDOM Bahrain and Kuwait (2002-03); IRAQI FREEDOM Iraq (2005, 2006-2007, 2008); INHERENT RESOLVE Iraq (2015-16) và Operation Inherent Resolve (CJTF-CIR) (2019-2020).

Đại tướng Eric Smith, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trao tặng Thiếu tướng William Seely huy chương Navy Distinguished Service Medal (ảnh của Hạ sĩ Jeffery Stevens, dvidshub.net).

Trong suốt 36 năm phục vụ TQLC, Thiếu tướng William H. Seely III được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Huy chương Defense Superior Service Medal with Oak Leaf Cluster; Huy chương Legion of Merit with Gold Star; 3 huy chương Bronze Star with two Gold Stars and “Combat V”; 2 huy chương Defense Meritorious Service Medal with two Oak Leaf Clusters; Huy chương Navy Distinguished Service Medal; Huy chương Meritorious Service Medal with Gold Star; Huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal with two Gold Stars; huy chương Navy and Marine Corps Achievement Medal; Và huy hiệu tuyên công the Combat Action Ribbon.

Theo các tài liệu tham khảo phối kiểm về Sĩ quan Quân đội Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá chuyển qua Ủy ban quân vụ thượng viên lưu trữ thì hiện nay có trên 111 Đại tá gốc Việt (không tính 56 vị đã hồi hưu và 2 vị đã qua đời) đang phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân/Không gian, TQLC và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ (USPH). Hy vọng sẽ có thêm Đại tá gốc Việt được vinh dự đề cử thăng cấp Chuẩn tướng/Phó đề đốc, và sẽ có Trung tướng gốc Việt trong quân đội Hoa Ký trong thời gian tới.

Chú thích: *Thiếu tướng William H. Seely III đã 2 lần đảm nhận chức Chỉ huy trưởng tình báo TQLC

Nguyễn Quân

Nguồn: hqmc.marines.mil; ndu.edu; navair.navy.mil; congress.gov; en.wikipedia.org; dvidshub.net; nguoi-viet.com; bienxua-Thiếu Tướng gốc Việt William H. Seely III, Chỉ Huy Trưởng Tình Báo, Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Rồi cũng qua đi

hung-viet.org

30 Tháng Ba 2018

Hoài-Ziang-Duy

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

Tưởng niệm Thiếu tướng Trần Bá Di mất ngày 23/3/2018

Mọi việc rồi cũng qua đi. Câu nói quen thuộc dặn lòng ở những lần chịu đựng trong hoàn cảnh khốn khó. Tất cả là những đổi thay, như mơ ước sẽ có một ngày tốt đẹp trở lại với đời sống chúng ta. Năm xưa nếu không mất nước, không gãy đổ tương lai, ắt hẳn không có đời sống lưu vong bây giờ.

Thời gian, moị sự rồi cũng qua đi. Đúng vậy, những bài hát, lời ca từ buổi đầu cấm đoán, giờ đây nó trở thành một sức sống trong giới trẻ, cho người thưởng ngoạn trong tình cảm gần gũi, cũ người mới ta. Âm nhạc miền Bắc đi vào Nam đầy sắc máu, bắn giết hận thù, không có tình yêu, không có tình tự dân tộc. Để rồi tự nó mất đi theo chiếc nón cối, đôi dép râu lỗi thời lạc hậu. Chủ nghĩa chuyên chính vô sản, được thay bằng cuộc sống hưởng thụ ở mỗi cá nhân từ tài sản nhân dân, đất đai chiếm được, đổ đầy vào túi. Họ có đầy bồ không đáy để rút kinh nghiệm, rút mãi rút hoài không bao giờ hết, rút cạn tài sản nhà nước, bạc tiền nhân dân làm của riêng, để rồi ung dung nhận khuyết điểm là một đặc ân thay phiên từng người. Tất cả những năm dài làm trật rồi sửa, cho thấy Cộng Sản lấy miền Nam bằng vũ lực nhưng không thể trị vì, không biết làm cho đất nước tốt hơn, bởi guồng máy lãnh đạo, những người không có khả năng, không có trình độ văn hoá phù hợp với chức vụ địa vị. Họ chỉ đóng vai trò của nhân vật trong vở kịch, tuồng hát, sân khấu chính trị.

Trong hoàn cảnh và tâm trạng chung cùng, chúng tôi có một quá khứ, có một trời dĩ vãng để ngậm ngùi ngó lại quãng đời qua, gần gũi ở nỗi buồn chung mất nước. Còn ở quê nhà sau bốn mươi năm, một thế hệ mới sống dưới chế độ Cộng sản, được rèn luyện trong khuôn khổ thể chế chính trị mù, không thể nói khác những qui định dưới áp bức, nhận chịu sự ban phát lâu ngày trở thành một điều hợp lý tự do cho mình, đâu biết gì khác biệt năm xưa, hay thế giới bên ngoài. Cho nên khó mà có sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau ở tuổi trẻ, cùng một thế hệ người Việt trong và ngoài nước.

Thật vậy, không khác gì chúng tôi đang sống trong đất nước tự do, tự do nhưng lòng đau khi thấy chính giới Hoa kỳ, sau khi bỏ rơi miền Nam, tiền đồn chống Cộng. Giờ đây lại tiếp sức nuôi dưỡng chế độ Cộng Sản. Có gì để tin tưởng cho tương lai Việt Nam? Có gì để tin tưởng những đồng minh năm cũ. Phải chăng chỉ có một ngày tức nước vở bờ. Lòng dân lòng người, thời thế đổi thay theo vòng xoay bất chiến tự nhiên thành. Khác gì có ai tin được, ngày nay trên thế giới, quốc gia Việt nam Cộng Hòa không còn.

Người lính năm xưa giờ đây không màng đến súng đạn. Đất nước Việt Nam không còn tên bay đạn lạc. Nhưng có điều không thể hiểu là từ buổi giao thời cho đến bây giờ. Hơn bốn mươi năm qua, nhà nước CS Việt Nam vẫn sợ, sợ người chung quanh trong và ngoài nước, sợ lấy bóng ma người lính, chế độ Việt nam Cộng Hoà. Dù rằng tất cả đã mất hết, già cỗi với tuổi đời thời gian. Cơ quan tuyên truyền lúc nào cũng dè chừng, coi tình trạng dân trí đòi hỏi nhân quyền, chống đối bất công ở xã hội là thành phần phản động chế độ cũ. Cho dù họ không lấy đâu ra, vẽ được hình tượng chế độ cũ như thế nào. Nó là sự ám ảnh, sợ hãi bằng cách qui trách để bắt bớ giam cầm. Họ sợ sự thật và ngay cả sự thật cũng không hiểu làm sao họ sợ, khi quyền lực đã gom về một mối đảng trên quốc gia trị.

Tôi đứng lại đây chốn nầy, như năm tháng qua đi dài cơn đứng đợi. Trời đã về chiều tựa vào đời sống tôi, cái tuổi phải nghỉ sau nhiều năm dài vất vả. Cái khoảng cách ở tuổi còn đi làm và tuổi về hưu, thấy vậy mà ngắn lắm, ngắn như thời gian còn lại để thấy mình không còn bao lâu ở một kiếp người. Cảm giác tất bật sáng đi tối về trước đây, giờ sống cho phần đời còn lại, mới thấm thiá nghiã tình một đời riêng, mới thấy sống gần, nhớ nhiều hơn quãng đời qua lặp lại.

Thiếu tướng Trần Bá Di

(1931-2018)

Tôi muốn nhắc đến tư lệnh sư đoàn 9 của tôi. Thiếu tướng Trần Bá Di, người đã bị giam cầm 17 năm sau ngày mất nước. Tôi gọi điện thoại thăm khi ông mới đến định cư. Mừng lắm, có người còn nhớ đến, là còn nghĩa tình. Ông đã dặn dò anh em, chỉ muốn gọi ông bằng anh Ba, như danh xưng trong gia đình. Tôi hiểu tâm trạng ông, một người tù lâu năm, chán chường trong nghịch cảnh, khi tất cả đã mất hết. Ông là tư lệnh sư đoàn đầu tiên ở vùng 4, chỉ huy tất cả các đơn vị tăng phái hành quân ngoài lảnh thổ, qua đất nước Kampuchia, năm 70-71. Hồi đó quân đội chúng ta không có quyền qua đất nước bạn, kể cả quân đội Hoa Kỳ. Lợi dung yếu điểm nầy Việt Cộng ở miền Nam hay Cộng Sản Bắc Việt lập căn cứ địa bên đất Miên, thường lui quân về khi bị truy kích. Một lần ở mặt trận Kiến Tường, ông đã ra lệnh miệng cho một tiểu đoàn, tiếp tục truy kích địch qua biên giới, khoảng một hai giờ thì rút về. Không ngờ tràn qua mật khu Ba Thu lần đó, gần hai ngàn súng đủ loại chưng bày trên giá cây trong căn nhà lá, không cần dấu diếm. Trước chiến lợi phẩm quá lớn với tình hình nầy, buộc lòng phải báo cáo về Bộ Tổng tham mưu để xin lệnh.

Có thể do tính cách chiến lược, Bộ Tổng Tham Mưu đã bật đèn xanh, đề ra kế hoạch hành quân qua đất Kampuchia yểm trợ cho chánh phủ Lonnol, đánh thẳng vào hậu cần địch. Tôi còn nhớ thời gian nầy (đầu tháng 5 năm 1970) thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh tư lệnh Quân đoàn 4 xuống thăm một tiểu đoàn, thuộc sư đoàn 9 đang hành quân ở Kiến Tường (bên phần lảnh thổ Việt Nam.) Khoảng nửa giờ sau, trực thăng đáp xuống bốc Thiếu tướng tư lệnh vùng. Phi cơ vừa cất lên quay đầu chuyển hướng, bất thần một trong hai trực thăng vỏ trang Mỹ, bay vòng trên không bắn dọn bãi, lượn xéo ngang và đụng vào trực thăng của tướng Thanh. Cả hai chiếc bốc cháy và rớt liền.Tất cả đều tử nạn, kể cả đại tá Cố Vấn Mỹ đi theo. Mọi chuyện chỉ xảy ra tích tắc trước mắt binh sĩ tiểu đoàn. Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh là vị tướng tài giỏi thanh liêm trong quân đội. Tên ông được đặt tên cho bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn 9 BB tại Vĩnh Long, và được sắc phong thần, tử vì nước.

Đối với tướng Di, ông là người tôi kính trọng trong đời quân ngủ. Lần đầu tiên ông biết đến tôi khi tôi cùng hai sĩ quan ban 3 viết bài về kinh nghiệm chiến trường nộp cho bộ tổng tham mưu.Thời đó VC thường xử dụng thế đánh chốt, rất mới mẽ. Sau khi bài chuyển về sư đoàn duyệt, tướng Di xuống trung đoàn, và hỏi Đại tá Cẩn, bài “Thế diệt chốt và cầm địch” của ai viết. Tôi được gọi trình diện Tư Lệnh. Ông nói bài nầy ngoài phần nộp về trên, sẽ giao cho trung tâm huấn luyện sư đoàn học tập. Thật ra cũng nhờ tôi có khả năng viết lách trước đây, cộng thêm kinh nghiệm bản thân ở chiến trường, nên được việc.

Ở trung đoàn 15, chúng tôi gọi tướng Di là Ông già trà đá, bởi vì cách ngày là ông xuống trung đoàn, qua trung tâm hành quân theo dõi tình hình, một lát ông sang phòng thuyết trình ngồi đó. Nhà bếp công vụ theo lệ thường, biết ý mang lên dĩa bắp nấu hay mấy củ khoai, cùng ly trà đá. Tướng Di không uống rượu hay nhậu nhẹt, hút thuốc. Khi cần tản thương gấp, ông cho mượn máy bay riêng của tư lệnh, (lấy bao vải ghế ngồi có gắn hai ngôi sao ra), sĩ quan trực đi bay bốc thương binh, sau đó cho lính rửa tàu trả lại. Thỉnh thoảng ông ăn cơm buổi trưa chung với sĩ quan trung đoàn.

Cho đến khi tôi trở lại đơn vị sau khóa học Quân Báo (sau tuần đó Đại tá Cẩn đổi đi), buổi trưa ông xuống trung đoàn như lệ thường. Ông hỏi thăm tôi về khóa học. Đêm hôm đó công điện sư đoàn đánh xuống, nội dung tham chiếu khẩu lệnh của thiếu tướng tư lệnh Sư đoàn, chỉ định tôi giử chức vụ trưởng ban 2 trung đoàn (thay thế sĩ quan đại úy vừa bàn giao tuần trước). Sáng hôm sau ông xuống cùng với trung tá Ninh, trưởng phòng Phòng 2 sư đoàn, chứng kiến bàn giao. Sự việc thật bất ngờ, vì không theo thủ tục hệ thống quân giai, đề nghị trình ký trước đây. Đối với tôi, vị trí nào cũng là chỗ làm việc như trước đây tôi đã làm. Hơn ai hết tôi biết mình không có phe đảng, tiền bạc lo liệu gì cả. Trước câu hỏi của Đại tá Lãm, phụ tá hành quân sư đoàn đang xử lý thường vụ trung đoàn trưởng. Thiếu tướng Di nói về tôi “Ông ấy làm được, tôi để ý ông ấy lâu rồi.” Sau đó ông bảo tôi vào phòng gặp riêng, và muốn tôi làm theo ý ông trong việc theo dõi mỗi đơn vị VC bằng một màu viết chì mở khác nhau, để biết thói quen di chuyển một tuần, một tháng.

Có điều phải nói là hầu như tất cả sĩ quan trung đoàn, đều không biết Ban 2 làm gì, cho đến ngày mất nước. Chỉ thấy hàng ngày tôi thuyết trình, rồi đi bay với trung đoàn trưởng, qua lại trung tâm hành quân thế thôi. Giờ đây chiến tranh không còn nữa, tôi muốn chia sẻ với bạn ít điều, trước đây do vấn đề bảo mật không cho phép, gây hiểu lầm trong tình anh em.

Công việc theo lệ thường mổi sớm tôi thuyết trình trước tiên về tình hình địch, tin tức độ mật A1, A2 từ Phòng 2 quân đoàn, sư đoàn, kế đến là phần ban 3 với kế hoạch hành quân từng tiểu đoàn, hay nếu có trực thăng vận cho một ngày. Thiếu tướng Di xuống trung đoàn thường hay gặp riêng tôi, để nghe báo cáo về tin mà tôi không thuyết trình. Thật ra, không mấy người để ý Ban 2 trung đoàn có một toán kỹ thuật thuộc phòng 7 Bộ Tổng tham mưu, nhưng mang phù hiệu sư đoàn 9, cả Biệt đội kỹ thuật (cấp đại đội) thì đặt ở Sư đoàn. (Xin đừng nhầm lẫn với biệt đội tác chiến điện tử, theo tiểu đoàn hành quân cài đặt sensor, thuộc phòng 3 Sư đoàn). Khi đổi vùng hành quân, có khi toán kỹ thuật có sẵn, có khi tôi phải đi với anh em nầy về Sư đoàn bạn, để chép tay cái code mở khoá, ngày giờ đơn vị địch lên máy chuyển lệnh, khoá mở đánh morse…

Trước đây, các đơn vị hành quân chúng ta thường dùng khoá KDC cấp phát để mã hoá chuyển tin, còn ở đây là bản chép tay. Ở Bộ chỉ huy hành quân trung đoàn, toán kỹ thuật nầy dựng lều riêng cách biệt, dựng ăngten riêng với trung tâm hành quân để trực máy bắt tin của địch. Chỗ làm việc nầy không ai được vào, kể cả trung đoàn trưởng (không thì tắt hệ thống, do qui định bảo mật). Nhân viên bắt được bản tin qua máy, mở xong chuyển tay qua (với bản đánh máy giấy màu vàng có hàng dãy lổ bấm tròn) cho trưởng ban Ban 2 để phán đoán uớc tính (toán kỹ thuật chỉ làm nhiệm vụ vậy thôi). Ở Ban 2 có đầy đủ tin tức, trận liệt đơn vị địch như ngày giờ xâm nhập, quân số, di chuyển từ đâu đến, đôi khi có cả hình C trưởng, D trưởng (tin nhật tu từ Ph 2 Bộ TTM theo hệ thống hàng dọc trong ngành). Tin từ toán kỹ thuật bắt được, tôi chỉ trình miệng với trung đoàn trưởng, không báo qua phòng 2 Sư đoàn, không qua hệ thống vô tuyến và đốt bỏ, không lưu hồ sơ.

Một ngày nghe tiếng pháo binh trung đoàn tác xạ, không ai bảo ai, đều trở vào Trung tâm hành quân, vì biết có tiểu đoàn chạm địch. Đại tá Diêu là người nóng lòng muốn biết về địch. Tôi qua lều bên vào ngồi với anh em, trong lúc máy vẫn mở nghe địch liên lạc điều quân (lúc trận đánh xảy ra địch nói bằng bạch văn), rồi trở qua trung tâm hành quân. Kết quả dĩ nhiên hoàn toàn thuận lợi khi chúng ta biết rỏ vị trí ý đồ của địch. Về phía bộ chỉ huy địch, họ cũng bắt được tần số truyền tin của mình, do cấp tiểu đoàn trên hệ thống máy bị lộ. Do vậy mà nhiều lần cả hai bên đều tung tin giả để gây rối kế hoạch lẫn nhau. Phán đoán đúng sai thiệt giả, hay dở tùy thuộc vào khả năng ước tính, phân tích của sỉ quan Ban 2 trung đoàn. Còn kế hoạch hành quân cho các tiểu đoàn mỗi ngày? Mỗi tối Ban 2 có nhiệm vụ trình riêng tình hình địch, với trung đoàn trưởng. Sau đó ông lệnh cho ban 3 vẽ phóng đồ hành quân để sáng hôm sau chuyển lệnh. Bản đồ, thì do Ban 2 cấp phát, đưa xuống trong hành quân từng tiểu đoàn, hay khi tiếp viện đổi vùng, giải toả, mặt trận nơi khác.

Vấn đề tình báo tác chiến, với kỹ thuật như đã nói, chỉ thiết lâp ở tất cả đơn vị trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh, phục vụ cho chiến trường. Các lữ đoàn thiết giáp, liên đoàn, phòng 2 tiểu khu, hoàn toàn không có phần hành chuyên môn nầy, kể cả các đơn vị khác ngành. Trong trường hợp bặt tin, do địch không lên máy liên lạc, chừng đó qua hệ thống sư đoàn, xin chụp không ảnh vùng hành quân để xác định. Những tiếng nổ ì ầm trên không nghe được, là lúc máy bay đang chụp, sĩ quan giải đoán không ảnh sẽ phân tích.

Nói chung tin tức tình báo, giải đoán chính xác phần lớn bảo vệ sự tổn thất, sinh mạng binh sĩ. Vai trò của trưởng ban 2 trung đoàn, giúp trung đoàn trưởng quyết định, gắn liền với chiến công đơn vị. Các vị tư lệnh sư đoàn 21, sư đoàn 7 nơi chúng tôi hành quân qua, đều rất quan tâm đến loại tin tức chúng tôi có được, so với tin tức sư đoàn bạn. Thật ra vấn đề chỉ giản dị là toán kỹ thuật có siêng năng mở máy trực hay không, chịu khó rà theo tần số khi địch thay đổi hay không, bởi công việc của toán nầy chỉ trực tiếp với một mình trưởng ban 2 trung đoàn, không ai kiểm soát, việc làm hoàn toàn biệt lập, chỉ liên lạc khi cần thiết. Nhiều lần ở nửa đêm, họ lay chân tôi dậy đưa bản tin, tôi qua gỏ cửa phòng ngủ trung đoàn trưởng, cho lệnh báo động, pháo binh trung đoàn bắn tức thời ở điểm chấm sẵn, kịp lúc báo động cho tiểu đoàn biết, địch sắp sửa tấn công, thì y như rằng mọi việc xảy ra trước năm, mười phút. Tôi có may mắn là toán kỹ thuật trực thuộc trung đoàn rất giỏi, và có tinh thần trách nhiệm.

Năm đầu ở trại cải tạo, quân đội Cộng Sản giam giữ chúng tôi là trung đoàn 95. Họ lên lớp và chửi pháo binh sư đoàn 9 thảm thiết. Ngồi đó không phải là dân pháo nghe cũng khó chịu. Nhưng tôi biết họ nói đúng. Cách tổ chức di chuyển pháo theo hành quân lưu động rất hay, khác với các sư đoàn cố định khu trách nhiệm. Thật ra sư đoàn bộ binh nào trang bị cũng giống nhau. Mỗi sư đoàn có 4 tiểu đoàn pháo binh, chia ra mỗi trung đoàn có một tiểu đoàn pháo binh 105 ly cơ hữu. Khi trung đoàn chúng tôi xuất phát hành quân, chỉ có một pháo đội kéo súng theo Bộ chỉ huy trung đoàn, đóng trên mặt lộ hay căn cứ. Số sĩ quan, binh sĩ pháo binh (thuộc tiểu đoàn pháo binh cơ hữu trung đoàn) được chuyển vận bằng trực thăng đưa người xuống, thay thế các vị trí súng pháo binh diện điạ thuộc quân khu, rồi bốc toán pháo binh đó đi, đổ đạn pháo xuống, điều chỉnh đạn dược trên giấy tờ sau. Nói cho dễ hiểu là hoán chuyển đổi người, chứ không đổi súng (tiểu đoàn pháo không cần kéo súng theo). Cho nên khi vào vùng hành quân, cấp tiểu đoàn trên phóng đồ hành quân, vòng tròn pháo yểm là mười khẩu pháo cho một tiểu đoàn, sẵn sàng tác xạ.

Thời gian sau, khi chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc thay thế. Ông chỉ thị cho các tiểu đoàn trưởng bộ binh, qui định nếu không đụng trận, gọi pháo binh bắn trên 500 quả thì bị phạt, còn khi đụng trận, gọi bắn dưới 500 quả cũng bị phạt. Tôi nghĩ sau nầy dù hạn chế đạn dược, nhưng tình hình cần giải quyết thì cũng không giới hạn. Bằng chứng cho thấy đến gần tháng 4 năm 75, thiếu tá Thảo tiểu đoàn trưởng 93 pháo binh, báo cáo xin ngưng tác xạ vì tất cả pháo súng bị nóng nòng, lý do đã bắn trên 100 ngàn quả. Đại tá Diêu lớn tiếng không muốn ngưng vì không tin, thiếu tá Thảo chứng minh 10 khẩu bắn một lượt hơn một giờ qua. Điều nầy cho thấy trung đoàn 95 Việt Cộng chửi rủa pháo binh sư đoàn 9 không sai, với mức độ pháo dập dữ dội họ đã chịu đựng.

Tôi ở tiểu đoàn, rồi trung đoàn 15, dưới nhiều thời kỳ trung đoàn trưởng. Mỗi ông để lại trong tôi tình cảm riêng biệt khác nhau. Với đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người tôi có nhiều kỹ niệm. Trung tá Anh là người hiền lành, quan tâm đến đời sống thuộc cấp gần bên. Trung tá Phan Thế Thường là người thân thiện dễ mến, vẫn liên lạc về sau với tôi khi ông đổi đi (rồi trở lại). Tiếc thay cho đến bây giờ hỏi thăm, không ai biết tin tức sống chết. Riêng với đại tá Khiêu Hữu Diêu, đi với ông tôi mới học khôn, tiếp xúc biết được nhiều chuyện dây mơ rể má trong quân đội, ông giao du liên lạc với nhiều sĩ quan đồng cấp. Cũng qua ông, tôi mới biết cái áo giáp nhảy dù thời quân đội Pháp như thế nào. Nó là một áo vải bố chia ra từng ngăn dọc, trong lót từng thanh thép dầy chống đạn. Ông từ Bộ tổng tham mưu đổi về Quân đoàn 4, rồi đến thay thế trung đoàn trưởng. Đa số các vị đại tá tỉnh trưởng, hay thuộc binh chủng nhảy dù trước đây là đàn em của ông, khi tôi đi với ông ghé qua các tỉnh. Ở vùng hành quân, khi thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tư lệnh sư đoàn 7BB xuống thăm trung đoàn. Trên trực thăng bước xuống lúc nào thiếu tướng Nam cũng chào trước với câu nói “kính Đại tá”. Đại tá Diêu kể tôi nghe, thời trước dạo ông còn làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 Nhảy Dù, lúc đó tướng Nam vừa đi học ở Mỹ về, lên đại úy, làm sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn dưới quyền ông. Dù sau nầy cấp bậc tướng Nam đi lên trước, nhưng gặp ông, tôi thấy tướng Nam vẫn chào kính giữ tình thầy trò. Có điều ở đại tá Diêu, có thể do mang cấp bậc đại tá quá thâm niên, lối cư xử của ông đối với các trung tá, đại tá, tư lệnh phó sư đoàn đơn vị bạn, đôi khi ông có thái độ dửng dưng. Đi theo ông họp hành chứng kiến, đôi lúc tôi thấy cũng ngượng, ngại mất lòng. Một lần, BCH đóng tại Phụng Hiệp, buổi trưa ông rủ tôi về Cần Thơ đến hội quán tỉnh trưởng ăn cơm Tây. Hôm đó chuẩn tướng Hưng SĐ 21 xuống thăm trung đoàn, nhưng Đại tá Diêu không có mặt. Sau đó tướng Hưng gởi công điện qui định, nếu trung đoàn trưởng đơn vị tăng phái, rời BCH phải thông báo cho Tư lệnh. Lần khác ở trung đoàn nhận điện thoại từ văn phòng đại tướng Cao văn Viên gọi xuống, muốn ông về gặp. Tư lệnh quân đoàn tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cho ông về Sài gòn 2 ngày. Trở xuống ông nói với tôi, tưởng làm Trưởng phòng 7 Bộ tổng tham mưu thì ông nhận, chứ chức Giám Đốc Nha kỹ thuật thì thôi, ông về chờ. Ông có dù che bao và nhất là sau nầy khi tướng Nam về làm tư lệnh Quân đoàn 4, con đường quả thật trơn tru theo ý ông muốn, dù rằng chỉ được một thời gian trước ngày mất nước. Qua ông tôi biết rất nhiều chuyện, trong đời quân đội trước sau. Tính tình đại tá Diêu đối với mọi cấp là vậy, nhưng với thiếu tướng Di, tôi thấy đại tá Diêu rất vị nể kính trọng, khi Thiếu tướng Di thường xuyên xuống trung đoàn.

Nhắc lại những trận đánh, nghĩ lại năm tháng qua, cho đến ngày tan hàng mất nước, làm sao không thấy đau lòng tủi nhục. Người đứng ngoài cuộc, tuổi trẻ lớn lên, thành phần phản chiến đổ lổi cho người lính VNCH. Họ đâu hiểu sự bỏ rơi, cắt viện trợ và hơn hết là sự quay lưng từ phía Hoa kỳ theo chiến lược thoả thuận giao miền Nam cho Trung Quốc. Trước tiên từ chiến thắng của miền Bắc, sau đó là từng bước một Hán hoá, lảnh thổ hai miền, như chúng ta đã thấy mấy mươi năm qua.

Chiến trận giờ đây đã lụn tàn, dấu tích không còn. Nhắc nhớ, chỉ như gíó thoảng chiều hôm, chúng ta chỉ là người công dân bình thường, trước sự đã rồi. Chỉ có điều, thỉnh thoảng đọc thấy những bài báo, sách vở thêu dệt, kể cả ta và địch, từ quan quân đến người cầm bút, tạo ra những hoàn cảnh nên thơ, lịch sự ở lòng tử tế cho phù hợp với nhân bản con người. Với những cường điệu quá lố được thêu dệt trong sáng tác. Không thể tin được chuyện kể bắt tù binh ở chiến trường buổi sáng, mà buổi trưa dẫn ra Huế ăn phở, chiều tối đưa đi coi xinê rồi thả địch về (kết thúc bài viết là hồi sau chiến tranh gặp lại). Hay những câu thơ đi hành quân mà bắn súng khơi khơi lên trời may rủi, chuyện ngồi uống rượu với anh bộ đội Bắc Việt, trong thi ca lúc nào rượu cũng được đề cập đến, kể cả khi đụng trận. Bài viết không trung thực chút nào trong cuộc chiến. Tác giả cho thấy tấm lòng nhân ái? Nhưng với tôi, người đọc sẽ cảm thấy quân đội miền Nam vô kỷ luật, không có tinh thần chiến đấu, phản chiến, bạc nhược. Không có cấp chỉ huy nào để người lính tự bắn chơi theo ý mình. Ở đâu quân đội nào cũng có kỷ luật, nhất là ở chiến trường, lại càng khắc khe nghiêm chỉnh hơn hết, chuyện tử sinh, tồn vong thắng bại chính ở tinh thần đồng đội, mệnh lệnh từ cấp chỉ huy. Sống chết còn hay mất, chỉ cần thời gian hai mươi phút đầu súng nổ, là biết mệnh số chung cuộc. Biết bao ngàn người lính, biết bao đơn vị chống trả hy sinh cho đến phút cuối cùng.

Hơn thế nữa, những sự thật nói ra cũng nhằm minh chứng cho sự hy sinh ở người nằm xuống, hay những thương binh tàn phế còn sống dở chết dở trên phần đất quê nhà. Chiến tranh nào cũng vậy, ngoài chết chóc ly tán gia đình, còn có những bất công đầy rẫy trước và sau cuộc chiến. Người thắng kẻ thua, bên nào cũng có thành phần thua thiệt. Kẻ thua thiệt trước tiên là những người lính bị loại ra khỏi vòng chiến, những thương binh với mức độ tàn phế vĩnh viễn. Không có gì đền bù cho một kiếp người khốn khổ, không có bù đấp nào trả lại hạnh phúc gia đình cho kiếp phế nhân, nhất là khi chiến tranh hai miền kết thúc. Thực tế cho thấy thành phần thương phế binh miền Nam, đời sống bị ngược đãi như thế nào.

Trước đây, cầm cuốn sách “Ông tướng sang sông” tôi gởi tặng, có lần tướng Di hỏi người gần bên. Tại sao phải là ông tướng sang sông? Giờ đây không chỉ riêng ông mà người nào cũng qua bến bờ. Trang sử đã lật qua, quá khứ một thời trôi theo sông nước, buông tay theo cuộc đời lưu lạc. Ông là người được đào tạo tốt, trước đây đã theo học khóa Bộ Binh cao cấp tại trường Fort Benning, Georgia hay trường Chỉ huy tham mưu Fort Leavenworth, Kansas Hoa Kỳ sau nầy (1965). Ở sư đoàn, ông tự học lái trực thăng với phi công bên ông, và tự học thêm văn hoá cho chính mình.

Nhìn ông đi bay, và cách ngày xuống các trung đoàn hành quân theo dõi, đủ thấy ông đặt nặng hoạt động hành quân hơn ngồi ở Sư đoàn. Tôi nhớ có lần Bộ Tư lệnh tiền phương sư đoàn đóng tại căn cứ Vĩnh Nhi (gần Cai Lậy) trên quốc lộ 4. Một đêm Việt Công đột nhập từ mặt phòng thủ của pháo binh. Địch tràn vào sát trung tâm hành quân, tướng Di ngủ lại tại đó khi bị tấn công. Trước đây căn cứ nầy do trung đoàn 15 thiết lập, tôi biết tất cả đều có bờ thành đất, do công binh ủi cao lên khỏi đầu. Mọi đường di chuyển hẹp từ nơi nầy sang nơi khác, đều nằm trong phạm vi rào kẻm gai. Cho nên khi địch tấn công dù có lọt vào trong, không có đường nào để đi ngoài con đường cố định dưới họng súng qua các lổ châu mai phòng thủ. Chính vì vậy, dù đã lọt vào địch cũng không xâm nhập vào trong được. Suốt đêm tới sáng đơn vị phòng thủ chỉ có một đại đội trinh sát đánh chiếm lại từng khu một. Do tư lệnh sư đoàn bị kẹt bên trong, nên lực lượng tiếp viện được nhanh chóng đưa đến. Bên ngoài quốc lộ, thiết đoàn kỵ binh từ Long Định xuống tiếp ứng. Ba giờ sáng, tiểu đoàn tôi tại Chi Lăng, được lệnh chuyển quân xuống Kiến Hoà chận đường rút của địch, ngang qua Bộ Tư lệnh sáng sớm, còn mù mịt khói súng.

Tôi nhớ năm đầu Xuân tại căn cứ hành quân chiến đoàn 15, trong phòng thuyết trình ông khui chai sâm banh chúc Tết đơn vị. Có tiếng nổ, rượu tràn. Cái nắp bần đậy kín bắn thẳng vào khung hình treo đầu tường. Có tiếng kính vở, rớt xuống đất. Khung hình tổng thống Nguyễn văn Thiệu rơi xuống, như báo hiệu điềm trời. Tất cả mọi người cười gượng, như không có chuyện gì ngoài chuyện họp mặt đầu năm. Gần cuối năm đó thiếu tướng Di cho hay sẽ đổi đi Quân đoàn 1 làm Tư lệnh Phó cho trung tướng Ngô Quang Trưởng. Trước ngày ra đi, (tuần cuối tháng 10 năm 1973), ông xuống BCH hành quân của chiến đoàn 15 đang đóng tại Long Mỹ (thuộc Chương Thiện) ngủ lại qua đêm, lúc đó trung đoàn trưởng, trung tá Anh. Đêm đó, trời mưa nhỏ có lựu đạn nổ tại chợ Long Mỹ. Trung tá Anh lệnh cho tôi ra trước xem xét, sau đó thiếu tướng Di và Trung tá Anh ra quan sát. Tưởng là vậy, nhưng chỉ hai ngày sau lệnh thay đổi, thiếu tướng Trần bá Di về làm tư lệnh phó cho tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh quân đoàn 4.

Thiếu tướng Trần Bá Di là người rất am tường chiến trường ở quân khu sình lầy, ông đã giữ mọi chức vụ từ trung đoàn trưởng, tỉnh trưởng, tham mưu trưởng quân đoàn, cho đến Tư lệnh sư đoàn 9 BB hơn bốn năm. Do thời gian lâu ở một đơn vị, ông xuống thường xuyên các nơi, nên ông biết rỏ khã năng từng người ông tin dùng. Ông không bị mua chuộc hay vị nể bởi những gởi gắm. Đó là trường hợp ở tôi, khi chuẩn tướng tham mưu trưởng quân đoàn muốn cho người thay tôi, lấy lý do tôi có lệnh phạt, thời gian tôi ở tiểu đoàn có lính đào ngũ (đơn vị chíến đấu nào mà không có lính đào ngũ). Thiếu tướng Di phê trên phiếu trình công văn gởi đến. “Tôi là Tư Lệnh Sư đoàn hay ông ấy tư lệnh?” Khoảng 6 tháng sau điệp khúc cũ lập lại, gởi đến trình lên lần nữa. Ông nói “Ngày nào tôi còn Tư Lệnh là ngày đó ông Lợi còn làm”. Cả hai lần, trung tá Ninh trưởng phòng 2 sư đoàn đều cho tôi hay. Thật sự tôi không hề biết chuyện tham mưu trưởng quân đoàn “có lòng quan tâm đến nội bộ đơn vị” xa như vậy. Với tôi Thiếu tướng Di chưa bao giờ nhắc đến chuyện nầy. Mọi việc coi như xếp lại, không có gì xảy ra.

Tôi không sống gần gũi bên tư lệnh, không có quan hệ riêng tư nào ở đời sống bên ngoài. Ông chỉ đến trung đoàn gặp tôi qua nhiệm vụ hành quân. Dù do ông cất nhắc ở chức vụ trưởng ban 2 trung đoàn (bước đi lên cho kế tiếp), một chức vụ chỉ huy không có tiền bạc gì đem lại cho bản thân, có chăng là có đại đội trinh sát trực thuộc, hàng tháng tôi phải báo cáo lên trên, về tình trạng tham chiến quân số, trang bị, hành quân. Công việc tiếp xúc là với địch quân ở chiến trường, đi bay với trung đoàn trưởng đổ quân, vẫn là chốn hành quân, đâu phải là chốn an thân thụ hưởng, tất cả đều là mệnh số nhận chịu. Nhưng cũng chính cớ sự xảy ra nầy, tôi hiểu được sự tranh giành chức phận, qua tiền bạc phe đảng, ở đâu cũng có. Tôi cảm thấy chán và nhìn lại đời sống bản thân, gia đình mình.

Với nghề cầm bút, ở đơn vị tôi không có sáng tác văn học gì phục vụ cho báo chí hay phát thanh của sư đoàn. Tôi chỉ có 3 lần ngồi bàn giấy bất đắc dĩ, do có người đề nghị. Lần thứ nhất tôi viết bài Thế Diêt Chốt và Cầm Địch (tôi ký tên, cấp bậc). Bài kế, Bình Long Anh Dũng (Đại tá Cẩn ký). Bài thứ 3, bài nầy là một tập dầy, trung đoàn trưởng cho nghỉ một tháng lên xuống (hành quân và hậu cứ) để tiếp xúc và tìm hiểu tài liệu các Ban ngành trung đoàn, để viết thành Huấn Thị Điều Hành Căn Bản cấp Trung Đoàn bộ binh (Đại tá Diêu ký) để nộp về Bộ Tổng Tham Mưu theo qui định.

Tôi là người ở đơn vị nầy từ ngày mới ra trường rồi đi lên, nhưng với tướng Di tôi nghĩ ông là con người tình cảm, nặng lòng với Sư đoàn 9 nhiều hơn các vị tư lệnh trước. Dịp tôi thực tập Không trợ 2, ở Trung tâm hành quân không quân và Quân đoàn. Tôi xin gặp ông trong văn phòng Tư lệnh phó Quân đoàn. Khi nghe tôi muốn xin thuyên chuyển. Ông than một câu nghe chí tình “Ông Gình đi rồi, giờ ông cũng đi nữa thì còn ai làm việc cho Trung đoàn”. Nghe ông nói lòng tôi thấy bồi hồi. Ông đã rời đi nhưng tấm lòng ông vẫn còn ở sư đoàn cũ, biết và nhớ đủ mọi người.

Qua rồi một thời năm cũ, đôi lúc một mình nhớ lại chuyện đời qua, bạn lính bạn tù, tình lính, tình người, trong tháng ngày còn lại nầy, lòng không khỏi xót thương ngậm ngùi. Những năm tháng nghĩa tình bên anh em sống chết, gian nguy cực khổ để rồi cuối cùng là những chung cùng mạt vận, theo phận số đất nước.

Bạn tôi cho hay, mới đi thăm tướng Di về, nghe nói ông đã yếu đi nhiều sau tai nạn xe, tuổi đời đã lớn (ông sinh năm 1931), chắc không đủ sức đi xa cho lần họp mặt. Tôi chợt nao lòng khi nghĩ đến chuyện năm nào, muốn nói một lời cảm ơn thầm lặng, chưa bao giờ nói, chuyện không mấy người biết. Cho dù hôm nay ông là Anh Ba trong gia đình thuộc cấp, nhưng với tôi ông vẫn là Thiếu tướng Tư Lệnh ngày nào.

Rồi khi mọi chuyện tàn phai, vật đổi sao dời, vẫn là giai đoạn của một thời để nhớ, một đời không quên.

Hoài Ziang Duy

(Còn Không Chốn Quay Về. xb 2017)

Rất gần mà cũng rất xa

hung-viet.org

Hoài-Ziang-Duy

11 Tháng Giêng 2012

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 Bộ binh

Ba mươi sáu năm qua, đây cũng là lần đầu tôi gặp lại gia đình đại tá Hồ ngọc Cẩn. Tôi không nghĩ có ngày nầy, cuộc đời quả thật những gì đến sẽ đến. Một ngày trước khi chúng tôi xuống Nam Cali theo hẹn, qua điện thoại nói chuyện đón tôi, anh Hiệp cho hay mấy ngày trước bổng dưng chị Cẩn gọi nói có anh em ở trung đoàn 15 xuống đây, thì rủ xuống nhà chị chơi.. Tôi nói lạ vậy, sao có sự trùng hợp, chị nhắc vừa đúng lúc thời gian tôi đến?

 Trước đây tôi chỉ tiếp xúc với chị một lần, khi đại tá Cẩn rủ tôi về dinh, lúc tôi ghé qua thăm ông ở tòa hành chánh Chương Thiện. Định cư ở Mỹ, tôi có hỏi thăm người bạn thường điện thoại với chị, nên có biết qua về tình hình trước sau. Rồi do việc làm, lo đời sống gia đình tôi vẫn chưa có cơ hội gặp lại. Về Đại tá Cẩn, cái chết của ông đối với tôi là một nỗi đau khi nghĩ đến, bởi ngoài chuyện thượng cấp chỉ huy trong quân đội, với ông tôi có một tình thương mến, điều nầy chính từ tình cảm ngược lại trong đối xử. Ông thường rủ tôi đi bay lúc đơn vị dưới đất chạm địch, và nhiều lần xuống luôn, ngủ qua đêm.Trong số sĩ quan hành quân, không biết sao ông thích chọn tôi đi chung ở những lần hung hiểm. Ông nhắc tôi “mầy coi tao làm sao thi làm vậy, cho quen đi để sau nầy đi bay một mình”

Lần nầy tôi xuống Cali, theo lời rủ rê để gặp lại anh em đơn vị. Đi xa cũng vì câu nói. “Ông xuống đây gặp một lần đi, tôi có chết cũng vui lòng, anh em có mấy người gặp rồi, chỉ còn có ông là chưa thôi”. Lúc nầy đây, sức khoẻ tôi không ổn, việc làm, đời sống kinh tế gia đình khó khăn, và một năm nầy không biết bao nhiêu là chuyện không may cứ đến. Nhưng câu nói qua điện thoại từ anh, làm tôi vương vấn mỗi khi nghĩ đến. Cái tình đồng đội năm cũ tưởng đã đi xa, nhưng nay lại thấy gần.

Mười giờ đêm, anh Hiệp đón tôi ở phi trường Los Angeles. Người tiểu đoàn trưởng của tôi năm xưa tóc giờ bạc trắng .Tôi nhận ra anh ở khuôn mặt, dù vóc dáng khác hơn trước. Bên anh một người đàn bà đi cùng. Tôi có hơi ngạc nhiên khi biết mười năm nay anh sống độc thân tại chỗ. Tôi hỏi nhỏ. Ai vậy?. Mười năm tình cũ mới quay về hôm qua, có xe tốt thì nhờ đi rước dùm. Tôi cũng quá quen với cuộc sống anh trước đây, không có cuộc sống vợ chồng chính thức, giờ chắc vẫn vậy. Lần sau cùng gặp Đại tá Cẩn và anh, ở khoảng thời gian giữa năm 74. Lúc bấy giờ anh làm quận trưởng Kiên Long, đang chờ chuyến bay trở lại quận. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, bởi là lần gặp tình huống dễ phiền lòng, khó xử cho tôi. Hôm đó sau chuyến bay sớm, giao bản đồ, phóng đồ cho các tiểu đoàn, chuyển vùng lãnh thổ hành quân, quay về phi trường Chương Thiện. Vừa xuống trực thăng, bên hướng trái sân bay, Đại tá Khiêu hữu Diêu trung đoàn trưởng 15 đang chờ sẵn, phiá bên phải, thiếu tá Hiệp, Đại tá Cẩn tỉnh trưởng gọi, ngoắc tôi tới. (Tôi biết tính Đại tá Diêu rất cao ngạo về thâm niên cấp bậc, nên không đứng chung). Một bên là thầy cũ thân tình, một bên là trung đoàn trưởng đương nhiệm (ông là trung đoàn trưởng thứ 3, khi tôi làm trưởng ban 2 trung đoàn). Tôi hơi phân vân, nhưng nhanh chóng bước lại hướng nầy báo cáo vắn tắt cho Đại tá Diêu, bước qua bên kia chào Đại tá Cẩn. Ông quay sang thiếu tá Hiệp “ Mầy cho tiền nó chưa?”. Một câu nói giản dị phóng khoáng nhà binh, cho tới bây giờ nghĩ lại tôi vẫn nhớ, nó hàm chứa cái tình thầy trò gần gũi trước đây. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Đại tá Cẩn. Cho đến bây giờ, ba mươi bảy năm qua, vẫn là hình ảnh đó. Một người đứng đón tôi hôm nay. Một người xác thân vĩnh biệt. Tự dưng lúc gặp, tôi lại có cảm giác nầy, để thấy lòng đau với nỗi xót xa, vận mệnh đổi đời.

 Ngày hôm sau, phải mất hơn một giờ đồng hồ lái xe, từ Fullerton, chỗ chúng tôi ở, để đến Stevenson Ranch..Chúng tôi gồm thiếu tá Mảnh tiểu đoàn trưởng 1/15, thiếu tá Hiệp tiểu đoàn trưởng 3/15 cùng cô bạn gái, và vợ chồng tôi. Anh Hiệp giới thiệu tôi từ Virginia xuống. Chị Cẩn vui vẻ gặp lại anh em ở trung đoàn 15, như ý chị muốn. Tôi gặp lại Nguyên, đứa con trai 12 tuổi ngày nào, bây giờ cũng đã có gia đình sự nghiệp, ổn định. Gặp lại chị, tôi nhận không ra. Thời đó chúng tôi ở hành quân (chị ở hậu cứ trung đoàn), thêm nữa thời gian mấy mươi năm qua rồi nên phải nhắc lại để cùng nhớ, như phần tôi là người rớt máy bay bị thương chung với đại tá Cẩn.  Bây giờ đây, bao cảnh tang thương dời đổi, đến với chị là đến với một tình thân gia đình, nghĩa cử thầy trò chung một đơn vị. Chị vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con. Trên bàn thờ bức ảnh Hồ ngọc Cẩn mang cấp bậc thiếu tá, (có lẻ tấm ảnh sót lại mang theo trên đường vượt biên, hương khói thờ đã lâu, nên để vậy?.) Hỏi chị, chị mới mang ra hình chụp lớn trong khung mang cấp bậc đại tá, (chị mới có sau nầy). Anh em chúng tôi bày mâm quả đặt trên bàn thờ. Gia đình chị là người công giáo. Nhưng không sao. Kể từ ngày vượt biên sang xứ người, trước ngày rước tro cốt chồng sang. Chị đi chùa làm công quả, cầu nguyện. Nhờ vậy, có lẽ do duyên lành, mấy năm sau, chính vị sư trụ trì ở chùa là người giúp mang hủ tro cốt đại tá sang Mỹ cho gia đình, trước tiên để ở chùa. Là người công giáo, nhưng tro cốt, hương hồn ông mấy năm qua, nghe câu kinh tiếng kệ, trước khi lần nữa được đặt yên xuống lòng đất. Kể từ cái ngày oan nghiệt theo vận nước. Tôi mới có dịp chào vĩnh biệt đại tá. Tôi bùi ngùi thắp nén nhang trước di ảnh Người, đã bao lâu rồi cảm giác như đè nặng. Hôm nay đây, trong không khí gia đình ông, lòng tôi thấy êm ấm khác thường.

Ngồi lại nghe chị nói mấy chuyện năm xưa, chúng tôi không khỏi đau lòng, nhất là những giờ phút cuối của gia đình chị. Chị kể từ lúc ông tử thủ cho đến giờ bị bắt, nghe chú lính cho hay, chị dẫn con lội bộ từ Chương Thiện xuống tới Long Mỹ đón xe về Thủ Đức. Rồi mấy chục năm nay sang xứ người, chị lặng lẽ bên gia đình không tham dự với đoàn thể, phong trào đấu tranh xướng danh, truy điệu lần nào về cái chết của chồng. Người đầu đàn tỉnh Chương Thiện, đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng không hàng, để rồi bị bắt, bị làm nhục, bị hành quyết. Chị lặng lẽ sống bình thường, như trước đây, khi còn ở địa vị, chị cũng bình thường với thân phận người đàn bà, người vợ.

Tôi có coi hai bức ảnh trên youtube, lúc đại tá Cẩn bị xử bắn. Từ một nhà thơ nữ đưa lên net để thiên hạ xác quyết hình nào là đại tá Cẩn. Một ảnh, thân hình người ốm yếu mặc áo trắng, quần dài đen. Tôi chắc chắn là không phải. Một ảnh thứ hai, đại tá Cẩn mặc áo bà ba đen, (gương mặt phảng phất giống), nhưng khuôn mặt to hơn, kế bên là một người bộ đội dùng súng colt trong tư thế bắn vào màng tang. Nhìn hình nầy, tôi tự hỏi, làm sao tin, vào thời điểm năm 75 đó, chưa có máy điện thoại cầm tay và ai là người có đủ can đảm đứng ra chụp làm tài liệu lưu trữ, dù là chụp lén. Điều không đáng tin nữa là anh chàng bộ đội nầy dáng dấp quần áo sạch sẽ , đầu cổ rất ư là trau chuốt đẹp trai (cái vụng về để dễ nhận biết, là tên lính VC nầy, giống tài tử xinê quá), là chuyện lạ ở thời điểm 75, tình trạng hỗn loạn lúc đó.

Khi đại tá Cẩn bị xử bắn ở sân vận động Cần thơ. Tôi cũng bị tập trung ở Cần Thơ. Sau cuộc hành quyết, viên chính uỷ có về tập họp (gọi là lên lớp) anh em chúng tôi lại. Tôi còn nhớ câu hắn nói “tên ác ôn nầy sau khi bị bắn ngã xuống, miệng vẫn còn chửi cách mạng, nên phải dùng lưởi lê đâm vào cổ mới chịu yên”. Như vậy là bắn với súng trường có khoảng cách. Nghe tin, tôi không khỏi bàng hoàng đau xót. Nhớ lại biết bao kỹ niệm thầy trò ngày nào còn gần gũi, trên chuyến bay đổ quân, hay những chiều mắc võng, ngủ lại qua đêm với tiểu đoàn trong vùng hành quân, nghe ông kể chuyện tình cảm đâu đó qua đường.

 Ngày ông bị xử bắn, ngày 14 tháng 8. Tôi chảy nước mắt một mình. Một ngày nắng ráo. Không phải như một nhà văn sống bên Pháp viết rằng, lúc đó, trời vần vũ bất chợt sấm chớp, rồi cơn mưa đổ xuống. Một đứa con gái nhào ra ôm xác kêu ba ơi, ba ơi..Tôi đọc mà thấy ngỡ ngàng, tiểu thuyết hóa từ sự vẽ vời tưởng tượng.

 Qua điện thoại sau nầy. Hỏi chị về bức ảnh, mấy sự việc nầy, chị biết không? Chị nói hình đó, trong phim họ dàn dựng làm phim DVD bán, có mời chị hôm ra mắt. Chị không có tham dự. Phần tôi, cho đến bây giờ tôi mới biết sự thể, chưa có dịp coi, nên không biết nôi dung thế nào. Hỏi chị. Chị nói họ dựng chuyện bậy bạ không đúng đâu vào đâu hết. Trong phim nói, chị suốt ngày chỉ lo đi cờ bạc, thằng Nguyên thì mướn người vú trông coi. Tôi hỏi. Chị không đồng ý sao không phản ứng, lên tiếng? Chị kể hồi trước một thân một mình, đâu có biết ai mà nhờ lên tiếng. Vậy rồi thôi, cho đến sau nầy, khi có một số người biết nơi mộ phần đại tá Cẩn ở vùng Cali nầy, đến liên lạc với chị để đứng ra tổ chức truy điệu, làm giỗ. Chị thẳng thừng từ chối. Chị sợ. Sợ gì? Chị sợ những người lợi dụng. Chị không có khả năng để đánh giá thật giả. Tất cả những gì đã qua, cho qua đi. Chị không muốn làm rình rang mọi sự mọi chuyện, dù ở đó người ta tuyên dương chồng chị là một người hùng. Chị nói hãy để linh hồn anh ấy được yên, mấy chục năm qua rồi. Cho nên khi đến gia đình, hay đến thăm mộ phần là đến với tính cách cá nhân, đến với tình cảm năm xưa là tốt nhất.

Nghe chị nói, nhìn gia đình chị. Bao cảnh truân chuyên. Mọi sự đã qua, thì thôi cứ để qua đi. Chúng ta ai cũng cần nhìn vào thực tại để sống, nhất là trên xứ người. Bây giờ chị cũng có tình thân chốn nầy để giúp chị , đó là nhóm anh em thiếu sinh quân thân tình với chồng chị.

 Hôm nay gặp lại chị. Anh em chúng tôi cũng gặp lại nhau. Anh Hiệp có kể chính Đại tá dùng trực thăng tản thương anh từ quận, chuyến bay cuối cùng hai ngày trước khi mất nước. Coi như chúng ta nợ nhau quá nhiều ở một thời áo trận. Tôi cũng mừng gặp lại Thức, bay từ Nebreska sang khi hay tin tôi xuống. Ba mươi sáu, ba mươi bảy năm qua rồi. Thức và tôi là hai thằng, một thời làm trung đội trưởng chung đại đội 1, lúc mới ra trường. (lúc bấy giờ anh Hiệp làm Đại đội trưởng Đại đội 3) Bao gian khổ hiểm nguy chửi đổng lên trời, khi mà trên tuyến đầu chỉ có hai thằng chịu trận. Bản thân tôi là người bị đì trong hiểm nguy sống chết, quan cũng biết, mà quân cũng thấy, để rồi tiểu đoàn trưởng cũng thấy. Tôi nhắc đến thiếu tá Trần văn Mỹ, tiểu đoàn trưởng 3/15, đã chỉ định tôi thay thế chức vụ Đại đội trưởng, trong lúc trận đánh đang diễn ra tại chiến trường Kampuchia (năm đầu vượt biên giới). Nghĩ lại, mà mến Thức ở chỗ Thức ra trường trước tôi mấy khóa, nhưng khi tôi coi đại đội, Thức vẫn vui vẻ không tị hiềm, sống chung trong tình bạn cho đến lúc thuyên chuyển đi giữa năm 72. Bây giờ đây gặp lại, cảm động sau bao năm tưởng không tìm nhau được. Nhìn bên ngoài so với tôi Thức trông trẻ hơn, thoãi mái hơn. Ai cũng trách tôi coi già quá. Qua một đêm anh em chung nhà chuyện vản. Buổi sáng chúng tôi ngồi bên nhau suốt cho đến lúc tôi từ giã. Thức cũng ra đi.

Trong số anh em chung cùng đơn vị. có lẽ tôi và anh Hiệp là hai người ở chung một tiểu đoàn, trung đoàn lâu nhất, tham dự đầy đủ các trận đánh, chiến thắng có, hoạn nạn có. Để rồi sau nầy tôi về trung đoàn rồi chuyển sang coi Quân Báo, anh về quận trưởng Kiên Long theo Đại tá Cẩn. Cuộc đời anh là một chuyện dài của người độc thân, còn đó mất đó. Tôi biết anh không có thời gian để nuôi dưỡng những mối tình ở thời điểm còn lặn lội hành quân. Hôn nhân, đời sống gia đình, nếu phải có chọn lựa thì thực tế trong chiến tranh, tình yêu có quá nhiều phiêu lưu, quá gần với vai trò làm goá phụ son trẻ. Người đàn bà bên anh tôi gặp tối nay. Chị là người hiền lành, anh chấp nối đưa sang và như anh nói mười năm tình cũ, cho có chút lãng mạn. Thật ra mười năm chị bỏ anh đi, sau năm năm sống chung. Ra đi rồi lại trở về. Nói không sợ mích lòng. Chị không thể yên phận với anh, khi bên chị còn có trách nhiệm với con mình, với cháu. ngoại. Chị bỏ đi hay trở về, để anh thử thời vận có phải chị về thật? Ở anh, hay ở những người tuổi đã về chiều, chúng ta không còn là chỗ dựa ở thực tế đời sống hiện tại. Ngày hôm nay không phải là ngày tháng cũ đứng lại, thì thôi mười năm tình cũ hay năm năm gần có sống thêm, thì coi như tình bạn khi vui nó đậu khi buồn nó bay. Phải nói lời cám ơn chị, buổi hôm đầu tôi xuống về khuya, buổi cơm anh chị dọn ra, cá kho mua ngoài tiệm, với rau đắng. Loại rau đắng, mà năm đầu bị tù cải tạo ở Chi Lăng, hái loại rau đắng đất, rau đắng biển mọc hoang, quanh miệng giếng, thứ nào cũng đắng dữ dôi. Không biết sao đêm nay dĩa rau đắng màu xanh tươi lại dễ ăn, món ăn nhà quê, cái tình chân thật đậm tình quê hương theo câu hát, như sống thật lòng. Lần nầy đây, lạ một điều, giống nhau ở chỗ. Là anh em tác chiến chung cùng đơn vị tựu lại, chúng tôi không nói chuyện trận đánh, chuyện chiến tranh trong quá khứ. Hôm nay ngồi lại, nói chuyện hôm nay, nỗi băn khoăn ở tuổi sẽ tới. Sống lại với một tình thân ngày nào, hôm nay biết đâu ngày mai có còn được gặp.

Nói chung, nếu đường đời không đứt đoạn đổi thay, chắc gì cái tình năm xưa còn vương vấn. Nếu không thua cuộc đổi đời, tướng tá, quan quân, đời sống bên ngoài việc ngồi lại gần nhau chắc khó có chung một bàn. Khi tất cả mất hết, danh vọng chỉ còn là phù phiếm, lạc lõng trên xứ người, cái tình đồng hương, dân tộc, cái chuyện năm xưa liếc mắt ngó qua, giờ đây lại thấy gần gũi. Mỗi khuôn mặt. mỗi thân phận nhận nghĩ khác nhau. Tâm trạng cũa người ngã ngựa tù đày, ở lại, chắc một điều là khác đi quan điểm sống với những người vượt thoát khi mất miền Nam. Sự lẫn lộn sống chung cùng trên một đát nước tự do, đường ai nấy đi, nhân cách ai nấy giữ, không có gì quan trọng ở danh xưng địa vị với người đối diện. Ở đã lâu, nhân vật nào rồi cũng như nhau. Cứ coi như là điều thanh thản, bình an trên một đất nước, như quê hương thứ hai, bởi không có một chọn lựa nào khác.

Trong những lần hội ngộ anh em, người cũ trước sau. Tôi nhớ căn nhà anh, căn nhà liền dãy dành cho người về hưu hưởng trợ cấp xã hội. Độc thân như anh, so với tôi anh có vẻ lạc quan hơn trong cuộc sống. Mọi sự anh đều tập trung tại chỗ. Chỗ nằm, chỗ bàn ăn, chỗ đọc sách, xem Tivi, chỗ tập thể dục, tất cả đều ở phòng ngoài với cửa kính có màn che. Đặc biệt được vén khéo, trống một góc như anh chàng Manager người Mỹ trắng trông coi dặn “Tôi biết ông ở một mình, khi nào không thấy ông vài hôm, tôi sẽ đến nhìn vào. Chỗ nầy là chỗ ông nằm tôi biết, và nhớ vén một góc màn cho tôi thấy, để biết ông còn hay mất..”

Nghe qua lời nói thật tình, tự dưng thấy chua xót cho thân phận con người. Những con người lẽ loi không có quê hương, trong đó có tôi, có anh, có anh em của một thời xa khuất. Giờ đây không biết đâu thực là nhà, ở tuổi xế chiều.

Tôi đi xa tưởng thảnh thơi. Khi về lại mang theo câu nói nặng lòng!

 HOÀI ZIANG DUY

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

Phần III.

Chương 8.

Năm của định mệnh.

Ngày 24 tháng Bảy 1974 là ngày quan trọng trong lịch sử Hoa kỳ: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng thống Nixon phải chuyển cho chánh án Sirica băng ghi 4 cuộc nói chuyện tại văn phòng toà Bạch Ốc. Những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate. Nó có đầy đủ chứng cớ nói lên một tình huống trái ngược hẳn với những lời giải trình trước đó của Nixon. Chỉ sáu ngày sau cuộc đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ, ông Nixon đã tuyên bố là mình không biết gì về vụ này. Thực ra là chính Nixon đã biết hết những hành động che dấu của các nhân viên thừa hành. Và như vậy, ông đã lừa dối nhân dân Mỹ kể từ lúc đó.Khi có phán quyết như thế thì nếu không từ chức, việc truất phế Tổng thống Nixon cũng chỉ còn là vấn đề thủ tục.Phán quyết của chánh án Sirica đã chấm dứt sự nghiệp chính trị của Tổng thống Nixon. Một cách trực tiếp, nó đã ảnh hưởng sâu xa đến sự tồn tại của Việt nam cộng hoà.

Ngày Song Bát

Trước 10 giờ sáng ngày thứ năm, mồng 8 tháng Tám 1974,

Phó Tổng thống Ford chủ toạ lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc hội cho gia đình của bảy người lính tử trận ở Việt nam tại Blair House, nhà khách của Tổng thống. Lễ nghi vừa xong, ông liền được tướng Alexander Haig, (sau này là Tổng Tư Lệnh NATO và Tổng trưởng ngoại giao Hoa kỳ). Chánh Văn phòng cho biết Tổng thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội bước qua đường Pennsylvania sang toà Bạch Ốc. Ford bước vào văn phòng, Nixon đứng lên bắt tay ông rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, Nixon trông vẫn còn căng thẳng nhưng ông tự kiềm chế. “Tôi đã quyết định từ chức”, ông nói với một giọng nghiêm nghị. Quyền lợi đất nước đòi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi”

1. Ngừng một giây lát, ông thêm: Jerry, tôi biết ông sẽ chấp chính tốt”.

“Thưa Tổng thống, Ngài biết là tôi hết sức buồn về tình huống này”, ông Ford trả lời, “Tôi ước gì nó đã không xảy ra như vậy nhưng tôi sẵn sàng và nghĩ rằng tôi đầy đủ khả năng gánh vác”.

“Tôi cũng đã biết ông như vậy”.

Nói qua loa về các vấn đề ngoại giao, rồi Nixon bắt sang chuyện Đông Dương. Ông Ford kể rằng ông Nixon đã trối trăn như sau: Tổng thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này”

2. Nixon nói thêm: “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông cũng phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho ông ta hoàn toàn tự do làm theo ý mình”. Đọc kỹ hồi ký của cả hai cựu Tổng thống Nixon và Ford, tôi đã không thấy ông Nixon dặn dò người kế vị mình điều gì liên hệ tới những cam kết của ông đối với Việt nam cộng hoà.

Sau hôm đó, Tổng thống Nixon lên truyền hình tuyên bố phó Tổng thống Ford lên kế vị. Thế là từ một Dân Biểu ở Hạ Nghị Viện, vừa mới được Nixon đưa lên làm Phó Tổng thống thay ông Spiro Agnew (phải từ chức vì bị tố cáo tham nhũng) vài tháng trước, bây giờ nhảy ngay lên ghế Tổng thống, không có bầu bán gì cả.

Tiếp tục khoán trắng cho Kissinger

Kinh nghiệm ông Ford chỉ là kinh nghiệm vận động trong Đảng Cộng hoà và tại Hạ Viện. Ít hiểu biết, ông đã khoán trắng công việc ngoại giao cho Kissinger. Khi Nixon còn làm Tổng thống, ông đã tạm để cho Kissinger sau khi lên chức bộ trưởng, vẫn giữ chức cũ là Cố vấn an ninh. Vì Toà Bạch Ốc đang bốc lửa sau vụ Watergate, Nixon chưa để ý tới vấn đề nhân sự.

Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho ông Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần tôi, tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông”.

“Thưa Ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với Ngài chứ không phải là Ngài cùng với tôi”, Kissinger trả lời

3. Vị tân Tổng thống mời Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức cùng một lúc: Ngoại trưởng và Cố vấn an ninh. Và như vậy, tuy đã có lời trối trăng của ông Nixon, ông Ford đã để ông này “hoàn toàn tự do làm theo ý mình”.

Tái xác nhận những cam kết.

Ngay buổi chiều ngày làm việc đầu tiên tại toà Bạch Ốc, tân Tổng thống đã gặp riêng Đại sứ Việt nam cộng hoà Trần Kim Phượng. Theo Kissinger thì trong buổi họp, “Tổng thống Ford đã đảm bảo với ông Phượng là ông quyết tâm về sự sống còn của Chính phủ Sài gòn và sẽ cố gắng hết sức để tăng viện trợ (cho Việt nam cộng hoà)”

4. Tuy đã tiên đoán là Tổng thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Chính phủ Sài gòn hết sức hoang mang. Gặp Tổng thống Thiệu ngay chiều hôm ông Nixon từ chức, tôi thấy ông không giấu nổi lo lắng. Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau, nhận được công điện do Đại sứ Phượng báo cáo từ Washington về buổi gặp gỡ Tổng thống Ford, ông Thiệu thấy phần nào yên tâm. Thế rồi, lại một dấu hiệu tích cực: hôm sau, Phó Đại sứ Hoa kỳ, ông W.J. Lehman tới dinh Độc Lập trao tận tay ông Thiệu một lá thư mật của tân Tổng thống. Lúc đó Đại sứ Martin còn ở Washinglon vận động viện trợ. Lá thư như sau:

Ngày 10 tháng Tám, 1974

Thưa Tổng thống,

“Khi tôi lên đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa kỳ, ý tưởng đầu tiên của tôi là nghĩ tới những cuộc tấn công tàn bạo mà quân đội quí quốc đã đẩy lui một cách can trường và quả cảm. Có lẽ tôi không cần phải thông báo cho Ngài rõ rằng chính sách ngoại giao của Hoa kỳ luôn luôn được dựa trên căn bản liên tục và sự ủng hộ của lưỡng đảng. Lúc này đây những tính chất đó lại càng rõ ràng hơn nữa và tất cả những cam kết mà nước tôi đã hứa hẹn với quí quốc trong quá khứ vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.

Những cam kết này của tôi lại đặc biệt thích ứng với Việt nam cộng hoà trong điều kiện hiện tại. Chúng ta đã cùng nhau đi trên con đường dài và đầy chông gai. Tôi đã nghe những tường trình của Đại sứ Martin về những tiến bộ đáng ghi nhận của quý quốc dưới sự lãnh đạo của Ngài. Kể từ lúc ký kết Hiệp định Paris, qua bản báo cáo của ông Đại sứ, tôi rất khích lệ sự quyết tâm của Ngài trong công cuộc cải tổ Chính phủ để sư dụng viện trợ Hoa kỳ và các quốc gia bạn khác một cách hữu hiệu hơn, ngõ hầu đem lại nền kinh tế tự túc cho Việt nam cộng hoà trong vài năm tới đây. Quân lực Việt nam cộng hoà với tinh thần cao và chiến đấu hữu hiệu sẽ là một bằng cớ hiển nhiên cho các nhà lãnh đạo Hà Nội phải nhận ra rằng đã đến lúc phải tham dự vào việc duy trì bản Hiệp định Paris và nghiêm chỉnh cộng tác với Ngài trong việc thi hành Hiệp định như ý muốn của Ngài.

Tôi biết rằng Ngài đang lo ngại về những bước đầu của Quốc hội trong việc chuẩn chi viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt nam cộng hoà. Thủ tục của Quốc hội chúng tôi phức tạp, rườm rà nhưng chưa phải là kết thúc. Tuy còn phải đợi một thời gian nữa, nhưng tôi muốn nói để ngài yên tâm rằng cuối cùng viện trợ sẽ được đầy đủ cả về quân sự lẫn kinh tế.

Trước thử thách quan trọng này, tôi nhờ đến sự giúp đỡ của Tiến sĩ Kissinger tham dự Chính phủ mới với tư cách Tổng trưởng ngoại giao như cũ. Cả Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Martin đều được tôi tín nhiệm hoàn toàn.

Trân trọng

Gerald R. Ford

Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Ít nhất, tân Tổng thống đã xác nhận lại những cam kết của Hoa kỳ đối với Việt nam cộng hoà. Lúc đó, tôi chưa biết gì đến những cam kết mật của Tổng thống Nixon. Tổng thống Ford vừa nói với Đại sứ Phượng về quyết tâm của ông, bây giờ chính ông Ford lại tái xác định tính chất liên tục của chính sách Hoa kỳ.

Mấy ngày sau khi nhận được thư của ông Ford, sau một buổi họp Hội đồng Tổng trưởng, ông Thiệu bảo tôi ở lại uống ly rượu nói chuyện thêm. Nhấm nháp ly Chivas Regal pha soda, ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, vì ông này quá mới mẻ đối với Việt nam. Ông hy vọng ông Ford, người được Nixon tiến cử, sẽ tiếp tục chính sách của vị tiền nhiệm. Tôi nói với ông Thiệu về cái thông lệ của Mỹ là một tân Tổng thống thường được Quốc hội dành cho một “tuần trăng mật” dài khoảng 100 ngày; đôi khi lâu hơn. Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân Tổng thống.

Để bắn tin cho Washington biết, trong cùng ngày, ông Thiệu cho bộ Ngoại giao công bố lập trường chính thức của Việt nam cộng hoà về việc ông Nixon từ chức, bình luận rằng vụ Watergate là “Vấn đề nội bộ của Hoa kỳ… Chính phủ Việt nam cộng hoà hoàn toàn tin tưởng vào Chính phủ và nhân dân Hoa kỳ sẽ tiếp tục đường lối ngoại giao đã được năm vị Tống thống Hoa kỳ theo đuổi và còn được cả lưỡng Đảng chấp thuận. Bởi vậy Việt nam cộng hoà tin tưởng Hoa kỳ sẽ tiếp tục cộng tác với Chính phủ và nhân dân VN để thực hiện hoà bình trên căn bản Hiệp định Paris”.

Lời lẽ rất là hợp lý và chặt chẽ, Tổng trưởng ngoại giao Vương Văn Bắc là một luật sư đã có tiếng.

Và bức thư trên, sau này tôi mới phát hiện ra là khi ông Ford ký để gửi cho ông Thiệu, thực sự chính ông cũng đã không biết tầm quan trọng của nó. Khi ông viết “những cam kết mà nước tôi đã hứa hẹn với quí quốc trong quá khứ nó vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi”, ông đâu biết tới thực chất những cam kết đó. Kissinger đã giấu đi hết (xem Chương sau). Ông Ford chắc chỉ nghĩ là mình chỉ nói tới hứa hẹn chung chung như tuyên bố ủng hộ Việt nam cộng hoà của các Tổng thống tiền nhiệm như Eisenhower, Johnson, Kennedy và Nixon.

Tại sao như vậy? Nhìn lại lịch sử để nhận xét những diễn biến hậu trường bang giao Việt-Mỹ từ lúc đó, tôi chỉ có thể kết luận rằng ông Kissinger đã muốn ông Ford trấn an phía Việt nam cộng hoà để khỏi kêu ca oán trách khi bị Quốc hội cắt xén viện trợ. Nếu ông Thiệu khiếu nại trên căn bản những mật ước thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Điều hay nhất cho Chính phủ Ford là làm sao giữ cho Sài gòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc Mỹ tháo chạy.

Sau khi cuốn Hồ sơ mật Dinh Độc Lập do tôi và J. Schecter viết, xuất bản năm 1986, ông Kissinger hết sức bất bình vì đã lộ ra hết. Vì có lẽ vì bức thư của ông Ford cũng đã được tiết lộ nên trong cuốn sách vừa viết năm 2003, “Ending the Vietnam war” Kissinger nói qua loa tới mật thư này, nhưng cũng chỉ nhắc tới đoạn nói về trấn an phía Việt nam cộng hoà về vấn đề quân viện. Ông viết là cùng một ngày, sau khi gặp Đại sứ Phượng, Tổng thống Ford đã gửi một thư cho Tổng thống Thiệu, trong đó có một câu do chính ông Ford viết thêm vào bản thảo như sau:

Thủ tục của Quốc hội chúng tôi phức tạp, rườm rà nhưng chưa phải là kết thúc. Tuy còn phải đợi một thời gian nữa, nhưng tôi muốn nói để ngài yên tâm rằng cuối cùng viện trợ sẽ được đầy đủ cả về quân sự lẫn kinh tế.

Kissinger bình luận:

“Lúc đó cả ông Ford lẫn tôi đều không biết rõ được sự sâu đậm và tầm mức của việc chống đối lại Quốc hội sau vụ Watergate. Vì nếu biết được như vậy thì chắc chắn bức thư đó (9/8/74) đã được hạ giọng xuống rồi”

5. Như vậy, kể cả trong cuốn sách mới nhất, tuyệt nhiên Kissinger vẫn không đả động gì đến đoạn văn quan trọng nhất của bức thư ngày 10 tháng Tám 1974 về việc chính Tổng thống Ford đã tái cam kết “những gì nước tôi đã hứa hẹn với quý quốc trong quá khứ”.

Báo động

Vào lúc đêm hôm đình chiến sau Hoà Đàm Paris (27 tháng Giêng 1973), sáu chiếc tàu chở đầy đạn dược đang thuận buồm xuôi gió trên Thái Bình Dương tiến vào hải phận Việt nam bỗng được lệnh quay trở về Hoa kỳ. Số đạn này là từ kho dự trữ cho Việt nam cộng hoà từ trước, nên kể như không bị ảnh hưởng do Hiệp định quy định. Vậy mà nó lại đã không tới nơi. Thế là 55.000 tấn đạn cần thiết cho quân lực Việt nam cộng hoà đã bị mất đi một cách bí mật. Đây là do áp dụng Hiệp định một cách máy móc hay là do một sắp xếp nào khác?

6. Bí mật này, do tướng John Murray (hiện cư ngụ tại Springfield, Virginia) tiết lộ, cho tới nay cũng ít ai hay. Murray lúc đó là người điều khiển cơ quan Quốc phòng Mỹ DAO ở Sài gòn.

Ngày 19 tháng 12, 1973, tướng Murray lại nhận được công điện từ Bộ Quốc phòng cho hay Quốc hội đã cắt nhiều viện trợ cho Đông Dương, ảnh hưởng đến tiếp liệu sáu tháng còn lại của tài khoá 1973/74. Tài khoá này chấm dứt ngày 30 tháng Sáu 1974. Bộ Quốc phòng cũng yêu cầu tướng Murray đề nghị những chương trình nào của Việt nam cộng hoà có thể cắt giảm để phù hợp với ngân khoản mới. Đồng thời, bộ Lục quân chẳng đợi Quốc hội hành động đã bắt đầu cắt ngân khoản điều hành và bảo trì cho Việt nam cộng hoà ngay trong tài khoá 1974. Chắc là họ muốn dùng ngân khoản ấy vào những mục tiêu khác. Lúc đó, việc tiếp liệu cho Do Thái đang là ưu tiên. Tài nguyên của Quốc phòng cần phải dồn về Trung Đông!

Khi tướng Munay nhận được tin, ông báo ngay cho Đại sứ Martin và yêu cầu ông chính thức thông báo cho phía Việt nam cộng hoà. Nhưng Martin không bằng lòng, bảo Murray phải giữ kín tin này, vì nó có thể gây ra nhiều xáo động về mặt chính trị”

7. Tuy nhiên, từ đầu tháng Giêng 1974, tướng Murray tiếp tục báo động cho phía Việt nam phải tiết kiệm đồ tiếp liệu, nhất là đạn dược. Ông họp với Bộ Tổng tham mưu (TTM) về vấn đề này. Dù không đi vào chi tiết, Murray cũng muốn cho phía Việt nam nhận thức được sự cắt giảm đã bắt đầu. Tướng Murray kể lại: “Từ trước đến nay, tôi vẫn nói với Bộ TTM là các ông sẽ được tiếp tế đầy đủ như chúng tôi đã hứa, và sẽ nhận được quân dụng theo linh thần một-đổi-một của Hiệp định Paris. Thật là khó cho ông. Từ trước đến nay, chẳng ai báo cho tôi hoặc Tổng thống Thiệu, hay Đại tướng Viên biết chuyện cắt ngân khoản cả. Tôi đã hứa rồi, bây giờ nói lại, thật là một sự đau lòng”.

Ngày 13 tháng Hai 1974, Đại tướng Cao Văn Viên ra lệnh hạn chế việc sử dụng vũ khí các loại. Vì từ lúc gởi đơn đặt hàng cho đến lúc nhận được phải mất khoảng bốn tháng.

Nguồn tiếp liệu thì đã bắt đầu cạn trước tháng Tư. Từ đó “hệ thống tiếp vận này không bao giờ hồi sinh được nữa” 8 . Đơn xin tiếp liệu từ các quân khu gởi về Tổng tham mưu càng ngày càng nhiều, gồm những thứ khan hiếm khẩn cấp như đạn dược, tiếp liệu quân y và ngân khoản thực phẩm cho binh sĩ. Người lính bộ binh thường vẫn mang sáu lựu đạn, bây giờ chỉ được phát có hai. Súng cối và trọng pháo bảo vệ tiền đồn chỉ được phát bốn quả đạn mỗi ngày và mọi cuộc pháo kích đều phải ngưng để tiết kiệm đạn dược. Nửa số xe thiết giáp bị nằm ụ, 200 phi cơ không cất cánh được. Trong cuốn The Final Collapse (Sự sụp đổ cuối cùng), Đại tướng Viên đã kết luận: “Trong những năm 1974-1975, người lính Việt nam cộng hoà ra trận mà lòng lo sợ rằng đạn không tiếp tế kịp và nếu bị thương thì việc tải thương cũng sẽ chậm trễ hơn. Thời vàng son tiếp liệu thừa thãi và trực thăng quân vận mau lẹ đã qua rồi… Việc cắt viện trợ quá nhiều và quá đột ngột đã triệt tiêu mọi cơ hội thành công và làm cho dân chúng cũng như quân đội miền Nam hốt hoảng, đồng thời khuyến khích Cộng sản gia tăng nhịp độ thanh toán miền Nam bằng võ lực”

9. Cái nhục của kẻ đi cầu xin.

Đến tháng 4-1974, tức là đúng một năm trước khi sụp đổ, tình hình tiếp liệu trở nên nguy ngập. Dù Đại sứ Martin cố trấn an. Ông Thiệu vô cùng lo lắng. Ông có đầy đủ thông tin từ tướng Murray, Bộ Tổng tham mưu và nhiều nguồn khác chứ đâu chỉ có nghe lời khích lệ từ phía ông Martin. Bề ngoài thì ông tỏ ra bình tĩnh và vẫn cứ tranh thủ vì đâu còn sự lựa chọn nào khác. Không nhẽ biết sắp bị cắt hết viện trợ thì buông xuôi. Bởi vậy, ông nhờ cậy Đại sứ Martin đồng thời yêu cầu các phái đoàn Quốc hội Việt nam cộng hoà sang cầu viện tại Washington. Mặt khác, ông có thái độ cởi mở hơn với báo chí Mỹ và cho phỏng vấn nhiều hơn. Cuối 1974 và đầu 1975, ông tiếp đón một số nghị sĩ, dân biểu Mỹ để yêu cầu họ khuyến cáo cho Quốc hội nương tay. Nhưng ông chỉ luôn luôn biện luận trên căn bản là hai nước đã chiến đấu với nhau trong hai mươi năm và đã có tới năm Tổng thống Mỹ ủng hộ Việt nam cộng hoà. Ông hoàn toàn không đả động tới những cam kết của Tổng thống Nixon để đổi lấy Hiệp định Paris.

Đầu tháng Năm 1974, Tổng thống Thiệu cử Đại tướng Viên đi Mỹ cầu viện. Ông mang theo một danh sách nhu cầu cấp bách về quân dụng cho Việt nam cộng hoà: trọng pháo 105 ly và 155 ly, đạn dược, dụng cụ truyền tin, và ngân khoản để duy trì khả năng chiến đấu. Tới Ngũ Giác Đài, Tướng Viên gặp Tướng Abrams, người thay tướng Westmoreland làm tư lệnh quân đội Mỹ lại Việt nam. Lúc đó ông đã lên chức Tham mưu trưởng Lục quân. Abrams cho biết vấn đề viện trợ khó khăn không do Ngũ Giác Đài mà là do Quốc hội. Sau đó ông vào gặp Tổng trưởng quốc phòng Schlesinger và trình bày nhu cầu của quân lực Cộng hoà trước ba mươi sĩ quan cao cấp, kể cả các tướng lãnh thuộc Bộ tham mưu Liên quân. Tất cả đều hứa hẹn hết sức ủng hộ. Schlesinger hứa sẽ giúp, nhưng giải thích rằng quyết định cuối cùng là do Quốc hội.

Lúc ông Viên còn đang ở Mỹ, Tổng thống Thiệu bảo chúng tôi sang Washington thẩm định tình hình viện trợ kinh tế và cũng để ý theo rõi vấn đề viện trợ quân sự. Trước khi đi, Đại sứ Martin dặn tôi cố xin gặp Nghị sĩ Kennedy, người lãnh đạo phong trào cắt xén viện trợ của Miền Nam. Vừa mới đây, ngày sáu tháng Năm 1974, Thượng Viện đã bỏ phiếu thuận 43-38 để kèm vào Chuẩn chi cho Ngân sách Bộ Quốc phòng một điều kiện gọi là “Tu chính Kennedy” (Kennedy Amendment). Như ta đã hay, khi ký một hợp đồng dài vài chục trang, nhiều khi chỉ vì ba chữ “với điều kiện” (subject to) được nhét vào một câu nào đó ở một trang khúc giữa chẳng hạn, là đã có thể làm vô hiệu hoá chữ ký. Ví dụ như mấy chữ “với điều kiện vợ tôi đồng ý” là có thể đổ cho vợ và huỷ hợp đồng dễ dàng. Tu chính án Kennedy chỉ thêm mấy chữ là cấm sử dụng Ngân sách riêng của Bộ Quốc phòng để chi tiêu tại, cho, hay nhân danh các quốc gia Đông Nam Á. Thế là xong! Đông Nam Á rất rộng: gồm cả Việt nam. Kennedy quan niệm là Nixon đã “thất bại trong việc thay đổi tính chất và mục đích của viện trợ và cả chính sách của Hoa kỳ đối với các nước Đông Dương”. Ông ta cho rằng viện trợ đã được dùng để kéo dài cuộc chiến. Theo Kennedy, “nếu không đặt trọng tâm vào việc thi hành những mục tiêu chính trị của thoả ước ngưng chiến… thì mục đích của những món tiền chi tiêu khổng lồ ở VN không phải là để… cứu nạn nhân chiến tranh, hay kiến thiết xứ sở mà chỉ là để mua thời gian cho Chính phủ Thiệu kéo dài chiến tranh”

10. Tuy có quen biết ông thời cùng là hội viên trong hội Sinh Viên Công giáo Newman lúc còn ở đại học Virginia, tôi miễn cưỡng phái đến năn nỉ ông này. Dù sao, tôi nghĩ vì tình bạn ông sẽ cho tôi chút thời giờ giải thích về nhu cầu viện trợ để xây dựng hoà bình tại Miền Nam, chứ không phải để “kéo dài chiến tranh”.

Ngày 15 tháng Năm, tôi tới văn phòng ông ở Thượng Viện. Phụ tá của ông là Jerry Tinker tiếp đón. Tuy có hẹn trước, nói rằng ông ta rất bận rộn. Gặp Kennedy được một chốc lát, tôi tóm tắt tình hình kinh tế, xã hội và quân sự tại Miền Nam, và yêu cầu ông đừng cắt viện trợ nữa. Ông bày tỏ thiện cảm, và nhắc lại vài kỷ niệm ở hội Sinh viên Công giáo lúc còn là sinh viên. Nói được mấy câu thì ông cứ nhìn đồng hồ và tỏ vẻ vội vàng. “Tôi phải đi họp ngay một phiên họp khác”. Thấy bí, tôi xin đi theo một quãng để trình bày thêm.

Khi rảo bước qua hành lang Thượng Viện, ông Kennedy lại cố đi nhanh, tôi phải theo cho kịp, vừa đi vừa trình bày. Tôi cảm thấy thân phận mình như một người đi cầu xin, lẽo đẽo đi theo một anh nhà giàu!

Tới gần phòng họp, ông dừng lại, ngồi dựa trên thềm cửa sổ rộng lớn, nói chuyện với tôi được vài phút. Nhưng nói gì thì nói, Kennedy vẫn không thay đổi. Ông bắt tay tạm biệt và bước vào phòng họp. Tôi uể oải xách cặp ra về.

Ngày 11 tháng Bảy, 1974, Kennedy đề nghị cắt viện trợ kinh tế cho Việt nam cộng hoà là 50%!

Khấu trừ trội chi

Sau Kennedy, chúng tôi tới bộ Quốc phòng gặp Eric Von Marbod, lúc đó là Đệ nhất Phó Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng về An ninh quốc tế! Ông này có rất nhiều kinh nghiệm về tiếp vận. Vì Tổng thống Thiệu muốn biết rõ về tình hình thực sự của quân viện, tôi yêu cầu ông cho biết những con số thực tế chứ không phải lý thuyết.

Tôi rất buồn phải nói thật với anh rằng mức quân viện đang tiêu cho Việt nam cộng hoà thực sự chỉ có 625 triệu, và có thể chỉ có 500 triệu”. Ông giải thích là dù Quốc hội có chấp nhận mức viện trợ hơn một tỷ thì phần còn lại cho Miền Nam cũng quá ít ỏi. Tôi bỡ ngỡ, “Đây này”, ông xé một tờ giấy trong cuốn sổ tay, viết vội xuống cho tôi coi. Và tôi ghi:

Quân Viện cho Việt nam, Lào (và Kampuchia): $1.126 triệu;

Phần Lào (và Kampuchia): $110 triệu; sau đó còn phải khấu trừ đã trội chi cho tài khoá trước: $266 triệu;

Mua máy bay F-5E: $125 triệu;

Còn lại $625 triệu.

Ông thêm, “số tiền thực sự dùng được có thể chỉ còn 500 triệu sau khi trừ ngân khoản chi phí cho cơ quan DAO Sài gòn”. Ông còn nói “ngân khoản đã được phân phối, chẳng còn làm gì khác được nữa.” Vào thời điểm đó, chưa có “chuẩn chi” cho ngân sách viện trợ dứt khoát cho Miền Nam, bộ Quốc phòng phải dựa vào một biện pháp gọi là “nghị quyết tiếp tục” (continuing resolution), một thủ tục vá víu để chi tiêu.

“Vì sao có vụ khấu trừ vào năm trước?” Tôi hỏi.

Ông cắt nghĩa là hiện trong nguồn tiếp liệu cho Việt nam cộng hoà, một số quân nhu đã được mua trong tài khoá 1974, nhưng bây giờ phải thanh toán. Đây là một sự việc quan trọng mà ít ai biết vì nó cắt nghĩa tại sao vấn đề tiếp liệu cho quân đội Việt nam cộng hoà đã trở nên quá khó khăn kể từ hè 1974. Chính Đại sứ Martin đã hết sức bực tức khi biết chuyện khấu trừ này vì cả ông cũng nghĩ là tiền năm nào thì tiêu cho năm đó chứ sao có thể tính vòng lại? Ông cho trục trặc này phần lớn là do kế toán nội bộ của Bộ Quốc phòng, gọi họ là những tay đĩ điếm tài chánh (fiscal whores). Ông nói, chính vì chuyện “kế toán” lôi thôi này mà tới gian đoạn chuẩn chi tại Quốc hội, quân viện cho tài khoá 1975 đã bị cắt giảm.

Thực ra tôi cho rằng lúc đó nhu cầu tiếp viện bên Trung Đông lên quá cao nên tồn kho quân dụng bị ảnh hưởng và đã có những xoay xở bớt số tiếp liệu cho Việt nam cộng hoà để còn dồn sang cho Do Thái.

Còn 125 triệu cho chương trình F-5E, tôi hỏi Marbod xem có thể du di sang những khoản như đạn dược, xăng nhớt không? Ông cho biết là không được vì mọi việc đã kế hoạch xong rồi. Năm 1973, quân viện là 2,2 tỷ, bây giờ trong thực tế còn có 500 triệu! Ấy là nếu Quốc hội chuẩn chi 1,126 tỷ.

Về tới Sài gòn, chúng tôi vội phúc trình lên Tổng thống. Chẳng có tin gì tích cực lại phải trình bày những con số tuyệt vọng do Von Marbod đưa ra! Tôi nói với ông Thiệu: như vậy thì trong thực tế, so sánh với mức trung bình của những năm 1971-1973 (điều chỉnh theo lạm phát), khả năng tác chiến của Việt nam cộng hoà bị giảm khoảng 60%! Nhận xét này cũng trùng hợp với ước tính của Bộ Tổng tham mưu về tình hình cuối năm 1974.

Sau này, trong tập hồi ký “Đại Thắng Mùa Xuân”, thượng tướng Văn Tiến Dũng của Hà Nội đã viết về động cơ thúc đẩy Bắc Việt lấy quyết định mở cuộc tổng tấn công Miền Nam: Mỹ đã giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sài gòn không thể thực hiện theo như ý muốn”. Đó là vì “hoả lực đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu”

11.Sau khi nghe tôi phúc trình, ông Thiệu lặng thinh, suy tư. Ông mím môi, chắp tay sau lưng bước ra khỏi phòng, lững thững đi về phía căn lầu riêng của gia đình ông. ánh mắt ông đăm chiêu, tư lự.

Bãi cát sa lầy

Ngày 16 tháng Tám, trong buổi họp cuối cùng với các tướng lãnh Việt nam trước khi về nước, tướng Murray lưu ý họ nên suy nghĩ cho kỹ về tình hình tiếp liệu khó khăn trong những tháng cuối năm 1974 và sang năm 1975. Ông khuyên họ nên thu gọn tuyến phòng thủ lại, tập trung quân đội và đạn dược để phòng thủ vùng đông dân cư dọc bờ biển.

Về tới Ngũ Giác Đài, ông nộp tường trình về tình hình Việt nam từ cuối 1972 (tức là trước Hiệp định Paris) tới lúc ông rời Sài gòn. Trong bản “Phúc trình về Việt nam, từ 12 tháng 1- 1972 tới 21 tháng Tám, 1974”, dài gần 250 trang, ông phân tích chi tiết tình hình quân nhu, quân cụ, đạn dược của tất cả các quân, binh chủng. Đưa ra đầy đủ số liệu, ông chứng minh tình trạng tiếp vận kiệt quệ thảm thương của Quân lực Việt nam cộng hoà. So sánh nó với khả năng của Quân lực Bắc Việt đang hoạt động tại Miền Nam, thì quả là một trời một vực.

“Tôi chắc chắn rằng điều tốt nhất mà một Tướng lãnh có thể làm được khi về hưu là nộp lại (cho Bộ Quốc phòng) cái đầu lưỡi của mình cùng với bộ quân phục, rồi sau đó thì xếp những ý kiến của mình vào một xó nhà”

12. Murray trích dẫn lời của vị tướng nổi danh Omar Bradley (1959) để bắt đầu bản Phúc trình. Ông hết sức chỉ trích Quốc hội đã cắt viện trợ và thẳng thắn phê bình những rắc rối khó khăn do chính Bộ Quốc phòng Mỹ gây ra. Nó đã gây ra cho Miền Nam và cho chính ông một sự bất ổn, không xác định được mức viện trợ từ tháng này qua tháng khác, cơ cấu viện trợ ràng buộc đi kèm theo viện trợ, đặc biệt là tài khoá 1974 và 1975. Tình trạng này gây bế tắc khó khăn về phương diện tiếp liệu, không biết thế nào mà đặt kế hoạch cho chiến trường, như là người mù chơi trò tháu cáy trên một sân mìn, đó là tình huống của tài khoá 1974. Và còn tiếp tục vào tài khoản 1975″, tướng Murray viết trong tập Phúc trình 13 . cũng như Đại sứ Martin, Murray nêu ảnh hưởng nặng nề của việc Bộ Quốc phòng khấu trừ trong tài khoá 1975 những số tiền đã tiêu vào tài khoá 1974, làm gián đoạn dòng tiếp liệu, rồi còn bao nhiêu tái thẩm định về giá cả vật liệu, nào tính thêm tiền, rồi trừ vào viện trợ, nào bàn định cắt giảm viện trợ, hết mức này tới mức khác.

Đã vậy khoảng thời gian tiếp vận từ lúc đặt hàng, vận chuyển qua đại dương, tới lúc cập bến phải tối thiểu là 120 ngày. Ấy là nếu Bộ Quốc phòng hợp tác mau lẹ. Nếu không, thì lại phải cộng thêm vào đó thời gian chậm trễ trong việc đáp ứng yêu cầu đặt hàng (back order). Vì thiếu sự phản ứng cấp thời của Bộ Quốc phòng Hoa kỳ, hậu quả là cuối năm 1974, Việt nam cộng hoà phải gánh chịu tình trạng “tiền”. Trong trường hợp khẩn cấp, dù còn tiền nhưng cũng chỉ là tiền chết. Murray đi tới kết luận:

“Một quân đội không thể đương đầu với đối phương được lâu nếu nó phải đứng trên bãi cát sa lầy (quick sand)”

14. Một buổi tối sau một ngày dài làm việc vào đầu hè 1974, ông Thiệu biểu lộ tâm tư:

“Thật khó mà tin được. Thoạt tiên ở Midway (họp với Nixon năm 1969), họ nói với tôi là Mỹ sẽ rút vài ngàn quân, nhưng còn duy trì nửa triệu quân chiến đấu ở Việt nam; sau đó, họ rút thêm quân, và nói sẽ trang bị cho quân đội Việt nam cộng hoà để đền bù sự triệt thoái này. Đến năm 1972, khi triệt thoái tiến nhanh hơn, họ nói với tôi “Đừng có lo, chúng tôi sẽ đóng lại một lực lượng nhỏ (residual force) là Mỹ sẽ tăng cường yểm trợ bằng không lực. Đến khi họ rút lui toàn bộ, cả lục quân lẫn không quân, họ hứa sẽ tăng viện trợ và tiếp tục duy trì sự có mặt của Đệ thất hạm đội cùng các căn cứ không quân ở Thái Lan để yểm trợ khi cần. Bây giờ, anh nói với tôi viện trợ Mỹ bị cắt 60 phần trăm. Vậy ta còn gì nữa?”

Tình hình viện trợ thì như vậy, nhưng như đã trình bày ở trên đây, đang lúc Việt nam cộng hoà lo lắng, thì khi vừa lúc đi lên chức Tổng thống thay ông Nixon, ông Gerald Ford lại vội vàng trấn an ông Thiệu (ngày mồng 10 tháng Tám)

“… Tôi biết rằng Ngài đang lo ngại… nhưng tôi muốn nói để Ngài yên tâm rằng, cuối cùng viện trợ sẽ được đầy đủ cả quân sự lẫn kinh tế”.

Phản lực cơ F-5E

Khi nghe ông Thiệu kể về những cam kết của Hoa kỳ theo những giai đoạn trong tiến trình rút quân khỏi Miền Nam, chúng tôi thấy ông căng thẳng quá, nhưng cũng không biết nói gì hơn. Tuy nhiên tôi nhớ ra còn 75 chiếc phi cơ F-5E nằm trong ngân khoản cũ như ông Marbod đã cho hay, nhưng chưa biết bao giờ mới giao cho Việt nam cộng hoà. Ông Thiệu ngạc nhiên về sự không chắc chắn này. Tôi đề nghị, và ông chấp thuận xúc tiến ngay việc này.

Trở lại Washington cuối tháng Bảy, 1974 theo dõi tình hình viện trợ và làm việc với cơ quan USAID để xin thêm ngân khoản nhập cảng và tái thiết, chúng tôi tới thủ đô Hoa kỳ giữa lúc chiến dịch buộc tội Nixon đang sôi nổi. Trời Washington nóng đến bốc hơi không kém gì ở Sài gòn. Ở Ngũ Giác Đài không khí làm việc khác hẳn với những lần trước tôi tới.

Dấu hiệu phức tạp hiện ra khá rõ ràng. Vụ Watergate đang chiếm hết thời giờ Quốc hội, còn đâu mà bàn đến viện trợ cho Việt nam cộng hoà. Ngân khoản viện trợ tạm thời phải dựa vào mức độ ngân sách của tài khoá năm trước, theo một thủ tục là “giải pháp tiếp nối” (Continuing Resolution) vì vậy không có gì chắc chắn cả. Trước khi về Sài gòn, tôi đến gặp Von Marbod về vụ 75 phi cơ F-5E. Ông giải thích là tiền còn trong ngân sách, nhưng hãng Northrop (ngày nay là Northrop Grumman) cần có thời gian sản xuất; sau đó các bộ phận sẽ được lắp ráp ở Phillippines rồi mới giao cho Sài gòn. “Cả Đài Loan và Iran đều xin F-5E. Họ có thể được ưu tiên hơn Việt nam cộng hoà”.

Ông cho biết ngoài ra lại còn khó khăn vì những giới hạn “một-đổi-một” của Hiệp định Paris. Máy bay F-5E (còn gọi là Tiger 2 được ra mắt tại Hawthorn, California tháng Tám, 1972. Nó tối tân hơn loại F-5 (còn gọi là “Freedom Fighter” hiện có của Việt nam cộng hoà: có khả năng thao diễn cao hơn, tầm bay dài hơn, cất cánh nhanh hơn, tốc độ nhanh hơn và sức chở nhiều hơn. Tôi nhờ Marbod giúp để gặp ông Thomas Jones, Chủ tịch hãng sản xuất máy bay Northrop. Marbod sắp xếp và đưa tôi tới hãng Northrop ở Century City, gần Los Angeles. Sau khi nghe giải thích rằng quân đội Việt nam cộng hoà đã bị tổn thất nặng nề vì thiếu không lực yểm trợ, ông Jones cho biết Northrop sản xuất máy bay đúng hạn kỳ nhưng vì có nhiều khách hàng, chúng tôi đã phải xét lại nhu cầu của các ông”. Theo như lời cố vấn của Marbod, tôi cố thuyết phục ông giao cho Việt nam cộng hoà ba phi đoàn (36 chiếc) trước Giáng Sinh 1974.

“Tại sao các ông cần trước Giáng Sinh?” ông Jones thắc mắc. “Chúng tôi ước đoán năm 1975 sẽ là năm gay go nên chúng tôi cần phương tiện chiến đấu”. Marbod dặn nên nói với ông ta rằng nếu cần, Tổng thống Thiệu sẽ yêu cầu bộ Quốc phòng Mỹ thanh toán sớm cho Northrop. Ông Jones tỏ vẻ thoải mái và hứa: “Tôi sẽ cố gắng giúp ông và quốc gia của ông”. Cuối năm đó, Không Quân Việt nam cộng hoà nhận được một số F-5E thay thế máy bay F-5 cũ.

Ông Jones gởi về biếu Tổng thống Thiệu một chiếc F-5E mẫu bằng plastic. Ông Thiệu rất thích chiếc máy bay mẫu và để nó ngay đằng sau bàn họp trong Phòng Tình Hình, cạnh chiếc điện thoại khẩn cấp đằng sau ghế ông (xem hình họp với phái đoàn Weyand).

Tin sét đánh

Ở mức quân viện như tài khoá 1972-73 là hai tỷ đô la một năm thì tới 1974-75, sau cú sốc dầu lửa, cũng chỉ còn mãi lực khoảng một tỷ hai, khó đủ phương tiện chống đối nếu có một cuộc tổng tấn công. Tới lúc Tổng thống Nixon từ chức, ông bắt buộc phải ký thành luật một mức tối đa ngân sách quân viện cho Việt nam cộng hoà tài khoá 1974-75 là một tỷ. Tính về mãi lực sau lạm phát thì quả là ít ỏi. Từ mức này, quân viện còn phải đi qua giai đoạn “chuẩn chi” tại Quốc hội nữa. Và từ lúc đó, Việt nam cộng hoà mong đợi từng giờ cho qua cái tình trạng bất ổn của chuẩn chi: hết Uỷ ban này tới Uỷ ban khác, hết Hạ Viện tới Thượng Viện, tối ngày đe cắt viện trợ. Mỗi lần mang ra bàn cãi là lại có những luận điệu chỉ trích, bêu xấu Chính phủ Miền Nam.

Cuối cùng thì mọi việc đã trở nên rõ ràng. Chỉ vài ngày sau khi Tống thống Ford viết bức thư ngày 10 tháng Tám 1974 cho ông Thiệu (khuyên ông đừng có lo vì tuy thủ tục tại Quốc hội rườm rà, nhưng “sau cùng sẽ được đầy đủ cả về quân viện lẫn kinh viện”) Uỷ ban Chuẩn Chi Thượng Viện đã cắt từ “mức chấp thuận” là một tỷ xuống còn 700 triệu. Đó là “mức chuẩn chi”. Thực là tin sét đánh cho Bộ Tổng tham mưu, vì nó thực sự phản ảnh một chiều hướng không thể đảo ngược được nữa về quân viện. Quốc hội hình như đã ly dị với tân lang thống trước khi tuần trăng mật bắt đầu. Niềm hy vọng khi nhận được thư đầu tiên của ông Ford đã tan biến như mây khói.

Ngoài chiến trường thì ở Vùng I, từ cuối hè, hai sư đoàn chính quy của Bắc Việt – Sư đoàn 304 và Sư đoàn 2 – đã hoạt động ở vùng đồi núi hai quận Đức Dục và Thường Đức phía Tây Nam Đà Nẵng. Tháng Chín, sư đoàn 324 lại tăng viện, chiếm trọn quận lỵ Thường Đức và vùng đồi núi cao phía Nam Thừa Thiên, phi trường Phú Bài khó có thể sử dụng để tiếp liệu cho Huế. Tướng Ngô Quang Trưởng cho Sư Đoàn 1 với sự tăng cường của Biệt động quân, phản công để lấy lại đất đai bị chiếm. Tuy nhiên, bao nhiêu kho đạn dự trữ tại Vùng 1 bắt đầu vơi và số binh sĩ tử thương bỗng nhiên vụt tăng: mùa Hè năm đó đã hiến thành một mùa Hè đỏ lửa thứ hai, trước một mùa Đông- Xuân đầy sôi động.

Tới cuối năm 1974 thì đạn dược và xăng nhớt gần cạn. Theo dự tính của Bộ Tổng tham mưu: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày

15. Đại tướng Cao Văn Viên kết luận rằng nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì: “số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng Sáu 1975, nếu không nhận được thêm viện trợ”. Trong thực tế, Miền Nam đã không nhận được thêm viện trợ. Và nội trong tháng 4-1975, Quốc hội đã biểu quyết bác đi hết: một đồng cũng không cho thêm (xem chương 9).

Như vậy, ta có thể đặt câu hỏi quan trọng về phương diện lịch sử, là: nếu như không có biến cố 30-4-1975 thì tới tháng Sáu, cho già lắm là tháng Tám hay tháng Chín, quân lực Việt nam cộng hoà sẽ lấy gì mà chiến đấu?

Đã đến lúc phải giải ngũ?

Mặt quân viện đã nát, mặt kinh viện càng thêm nát.

Nhóm “Indochina Resource Center” (Trung tâm tài nguyên Đông Dương) là một tổ chức phản chiến dẫn đầu chiến dịch cắt viện trợ cho Miền Nam. Họ hoạt động rất hữu hiệu, đi gặp từng phụ tá, từng thơ ký của các nghị sĩ, dân biểu, tham dự và theo dõi cuộc họp của tất cả các Uỷ ban liên hệ, từ Hạ Viện tới Thượng Viện. Và họ đã thành công.

Thoạt tiên Quốc hội bắt thay đổi ngân khoản viện trợ trong chương trình “Thực phẩm phụng sự hoà bình” (Food for Peace hay PL 480) từ “cho không” sang “cho vay”. Từ nay, số gạo viện trợ hàng năm sẽ hết là cho không mà phải hoàn lại như những món nợ. Tuy nhiên, vì là nợ dài hạn nên ngay lúc đó trở ngại này có tác động về tinh thần hơn là thực chất.

Tới bước thứ hai mới nguy. Vào đầu năm 1974, có tin dồn dập là Quốc hội Hoa kỳ sẽ đi tới việc cấm cả dùng viện trợ để tài trợ ngân sách Quốc phòng. Vài tháng sau thì tin đồn thành sự thực. Trước kia, 75% sự thiếu hụt ngân sách là do tài trợ bằng tiền của Quỹ đối giá (Counterpart Fund). Quỹ đối giá là một ngân khoản thu được khi tiền Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) được đổi ra bạc Việt nam. Thí dụ, một thương gia muốn nhập cảng bông gòn phải đem tiền Việt nam đến ngân hàng xin mua Mỹ kim mở tín dụng thư. Số tiền này được đưa vào Quỹ đối giá. Đến nay, không những viện trợ đã bị giảm, mà Quỹ đối giá lại không còn được dùng để chi tiêu cho quốc phòng nữa.

Khi cơ quan USAID cho biết tin này, khối Kinh tế- Tài chính vô cùng bối rối, nhưng mọi người đồng ý sẽ không phổ biến. Chính phủ phải nhờ đến các viên chức USAID có nhiều thiện cảm để giúp chuẩn bị áp dụng một cách lỏng lẻo và linh động khi luật này có hiệu lực, như một số tiệm buôn có thể phải giữ hai hay ba sổ sách khác nhau (một sổ cho sở thuế, một cho công ty và một cho cá nhân mình). Sau khi bàn bạc kỹ, chúng tôi tìm cách đi vòng và kết luận là sẽ làm ba ngân sách: Ngân sách quốc phòng, Ngân sách kinh tế, và Ngân sách nhân đạo:

– Ngân sách quốc phòng sẽ do thuế nội địa tài trợ;

– Ngân sách kinh tế do cả Quỹ đối giá và viện trợ thực phẩm lẫn các nguồn đi vay khác tài trợ;

– Ngân sách nhân đạo, căn bản là giúp đồng bào tỵ nạn (được ông Kennedy ủng hộ) sẽ do viện trợ nhân đạo của Mỹ tài trợ.

Chúng tôi biết mánh lới này cũng không bền vì trung tâm phản chiến kia sẽ phát giác và tìm cách chặn. Vả lại họ cũng dễ thành công vì sẽ nói “tiền trong kho, khó mà phân biệt được nó đến từ đâu”.

Tại Washington hồi 3:30 giờ chiều ngày 13 tháng Năm, khi tôi gặp ông Nooter (chứ không phải Nutter), một quan chức cao cấp ở USAID đặc trách về Việt nam, ông lưu ý ngay là:

“Rất nguy hiểm! Nếu theo đúng luật thì từ 31 tháng 12, 1974, Việt nam cộng hoà sẽ không còn được dùng Quỹ đối giá viện trợ nhập cảng để tài trợ bộ Quốc phòng”.

Nói trắng ra là không được dùng tiền từ Quỹ đối giá để trả lương cho quân đội nữa. Quân số Cộng hoà lúc đó là một triệu hai. Trong tình cảnh này, kể từ đầu 1975, cơ quan USAID đã nhắm mắt làm ngơ để Sài gòn không thi hành những giới hạn về kinh viện, tức là cứ tiếp tục lấy tiền ở Quỹ đối giá để tài trợ Ngân sách Quốc phòng. Nhưng như thế được bao nhiêu lâu? Chắc cũng chỉ dăm bảy tháng là bị bại lộ!

Ngoài ra ông Nooter còn lưu ý là có thể phải cần tới một luật sư để biện hộ (cũng chỉ là tạm thời) cho Việt nam cộng hoà trong trường hợp bị nhóm phản chiến phát giác và công kích.

Chưa xong, khi chúng tôi về tới Sài gòn, tướng Murray lại cho biết thêm: sau quyết định trên, Quốc hội còn đi thêm bước nữa: Từ ngày 31 tháng 12, 1974, VNCH sẽ không còn được dùng Quỹ đối giá của viện trợ nhập cảng dể trả lương cho cảnh sát nữa. Lực lượng cảnh sát lúc đó là 120.000 người.

Khi về hưu, tướng Murray bình luận về vụ này trong Phúc trình của ông: “Quốc hội thì cấm Cơ quan Viện Trợ USAID tài trợ cho lực lượng cảnh sát, ông Tổng Trướng Quốc phòng thì cấm luôn cả chúng tôi (Cơ quan quốc phòng DAO) tài trợ cho họ”. 16.

Phải báo cáo những tin tức bi đát này cho Tổng thống Thiệu là một trong những công việc khó khăn nhất đối với cá nhân chúng tôi trong quá trình làm việc với ông.

Nhìn vào viễn ảnh kinh tế, tài chính và quân sự Miền Nam cuối năm 1974 như nhìn vào chân trời tím. Những đám mây đen đặc đang ùn ùn kéo tới báo hiệu cho một cơn bão tố từ xa xa.

Và như vậy, ta có thể đặt thêm một câu hỏi khác: từ năm 1976 Việt nam cộng hoà sẽ lấy tiền đâu trả lương cho quân đội và cảnh sát? Sau 30 năm, tôi cũng chưa tìm ra được câu trả lời. Khi không còn tiền trả lương, chắc chỉ còn một giải pháp là giải ngũ?

Trên thực tế, năm 1974 đã là năm quyết định số mệnh cho Miền Nam Nam rồi vậy

——————————–

1          Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.

2          Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.

3          Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.

4          Henry Kissinger, Ending the Vietnam war, trang 494; Geald Gerald Ford, Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 137.

5          Henry Kissinger, Ending the Vietnam war, trang 495.

6          Phỏng vấn tướng Murray, ngày 10-5-1985, và ngày 12-2-1986.

7          Phỏng vấn tướng Murray, ngày 12-2-1986.

8          Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang 80.

9          Cao Văn Viên, The Final Collapse, trang 54-55.

10        Trích trong “Vietnam at the Balance”, Báo cáo đặc biệt của Uỷ ban chỉ đạo đảng Cộng Hoà, Hạ Nghị Viện Hoa kỳ, do James Cowin, trang 1-2.

11        Văn Tiến Dũng, Our great spring victory, trang 17-18.

12        John E. Murray, Vietnam Report (Báo cáo cho Bộ Quốc phòng về Việt nam), trang 62-63.

13        John E. Murray, Vietnam Report, trang 91.

14        John E. Murray, Vietnam Report, trang 55.

15        Cao Văn Viên, The Final Collapse, trang 92.

16        John E. Murray, Vietnam Report, trang 92.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

23. Huyền Vũ.

Các cơ quan truyền thông Việt ngữ hải ngoại vừa nhắc đi nhắc lại một tin buồn: ký giả Huyền Vũ đã qua đời, hưởng thọ 90 tuổi! Các bản tin còn cho biết một danh sách dài các con, cháu, chắt của ông … cứ nghe thôi, người ta cũng thấy “vui” cho ông. Không vui sao được, trên tay ông có “mùi thơm” của từng ấy đứa trẻ, dù từ nay, thế nào cũng có lúc có đứa hỏi bố mẹ, hỏi người lớn trong nhà, “Ông nội / ngoại đâu rồi, ông cố đâu rồi?”. Ông cố đi chơi, ông cố đi ngủ, ông đi về Việt Nam chẳng hạn. Ấy mỗi người, mỗi nhà, có một cách nói với trẻ về người vừa khuất đại khái như thế. Những câu hỏi, những câu trả lời, thường làm chảy nước mắt.

Nhà báo Phan Lạc Phúc trong một cuốn sách của mình [Tuyển Tập Tạp Ghi] cho rằng, ở miền Nam của chúng ta ngày trước, có hai ký giả thể thao: Thiệu Võ và Huyền Vũ. Thiệu Võ là người viết về thể thao hay nhất. Còn Huyền Vũ là “nhà báo nói” thể thao “kiệt hiệt” nhất. Kiệt hiệt, hai tiếng có lẽ đã được lấy từ một cuốn truyện kiếm hiệp nào đó, nhưng rất thích hợp để nói về Huyền Vũ. Đúng ra thì phải nói rằng, nó thích hợp với cái “thế giới” Huyền Vũ tạo ra bằng giọng nói của ông qua cách ông tường thuật các trận đá banh. Thật là “danh chấn giang hồ”. Đã có một thời người ta không thể nghĩ rằng, có một trận banh nào đó, nhất là các trận banh quốc tế, giải Quốc Khánh của chúng ta chẳng hạn, có Nam Dương, Thái Lan, Singapore, Mã Lai … tham dự, mà lại thiếu giọng tường thuật của Huyền Vũ đi kèm. Không phải ông chỉ tường thuật các trận banh, mà phải nói, ông tường thuật từng đường banh của các cầu thủ. Khán giả có mặt trên sân Cộng Hòa trực tiếp theo dõi các trận đấu không nói làm gì. Thính giả ở xa, chỉ ôm chiếc máy thu thanh nghe Huyền Vũ thôi, cũng hào hứng, cũng muốn nhẩy dựng lên, để mừng hay tiếc một đường banh, nhất là khi đó lại là đường banh của cầu thủ nhà trong một dịp “làm bàn” thành công hay bỏ lỡ. Hình như giọng nói của ông dính liền với đôi chân các cầu thủ, dính liền với trái banh, làm người “nghe” tưởng như mình cũng như người “xem”, thấy đầy đủ các tình huống, diễn biến, không thiếu một đường tơ kẽ tóc nào! “Kiệt hiệt” hai cái từ đặc sệt Tầu [Phan Lạc Phúc dùng] “và màng lưới hai bên vẫn còn trinh bạch” [một ví von nửa nôm na, nửa chữ nghĩa của Huyền Vũ] để nói rằng, chưa bên nào bị thua, bị đá “thủng lưới”, không biết có chính xác để dùng cho bóng đá chăng, nhưng nghe “thiệt đã”.

Trong cuốn hồi ký “Tôi Làm Ký Giả Thể Thao” xuất bản năm 1989, Huyền Vũ cho biết, trước khi bước vào nghề “báo nói” ông đã từng viết truyện đường rừng, truyện trinh thám cho nhà xuất bản Nam Việt của ông Đinh Xuân Hòa và các báo chí bán chạy khoảng đầu thập niên 50 như Sài Gòn Mới của ông Bút Trà và Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai.

Ông cũng đã từng được Tổng Cuộc Túc Cầu Nam Việt đề cử làm trọng tài quốc tế cùng một lượt với Trương Văn Ký. Sau ông quyết định bỏ nghề trọng tài để theo nghề báo, vì làm như thế, ông cho rằng “ngòi viết của mình sẽ vô tư hơn” và trong suốt hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam, ông đã làm mưa làm gió trên làn sóng điện của Đài Phát Thanh Quốc Gia với những cuộc trực tiếp truyền thanh các trận bóng đá của ông.

Nhân viên Đài Phát Thanh Sài Gòn khi ấy ai cũng còn nhớ cái bóng dáng [không cao, không thấp] chắc nịch của ông, vừa từ sân Cộng Hòa chạy thẳng về Đài trên chiếc Lambretta cũ kỹ, để làm luôn bản tin thể thao buổi tối. Ông đi đứng nhanh nhẹn, tươi cười với mọi người tình cờ gặp trên lối vào Đài, nói như “bắp rang” dù ứng khẩu hay đọc bản tin đã soạn sẵn.

Người ta cũng còn nhớ, trong giới thể thao lúc ấy, còn một người nữa có cái Lambretta cũ kỹ không thua gì Huyền Vũ là nhà vô địch bóng bàn Á Châu Mai Văn Hòa.

Điều ấy chứng tỏ cả hai ông, không ông nào giầu cả. Phải được coi Lê Văn Tiết “tiu” và Mai Văn Hòa đỡ banh, mới hiểu vì sao, chỉ đỡ không, Mai Văn Hòa đã làm cho các đối thủ sốt ruột, đánh ra ngoài và thua ông.

Banh dài, banh ngắn, banh xoáy, banh đập … Lê Văn Tiết đánh kiểu gì Mai Văn Hòa cũng đỡ được! Bởi vậy, khi được tin Mai Văn Hòa bị tai nạn xe, chết, trong một tòa báo nọ, đã có người nói đùa một câu, nhưng ngẫm lại thật đau đớn rằng “Đỡ gạt giỏi thế mà khi cuộc đời nó ‘tiu’ cho lại chẳng biết đường nào mà lần”. Mai Văn Hòa đã mang lại vinh dự cho người Việt Nam một thời. Không biết đến hôm nay, có ai còn nghĩ, còn giữ được chút di tích nào về “chiến công hiển hách”của ông, để dành cho con cháu mai sau có dịp hãnh diện? Ngay cả một tấm hình Mai Văn Hòa giờ đây, trừ các thân nhân của ông, không biết có ai có không? Bức hình Huyền Vũ được in kèm với bài viết của Phạm Trần đăng trên báo, thật là đẹp. Dù là sống trong thời đại khoa học như hiện nay, nhưng sống đến 90 tuổi cũng phải được coi là thọ rồi. Mai Văn Hòa mất trước 1975. Dù ai nấy đều rất tiếc thương ông [cho đến tận hôm nay đã có người Việt Nam nào khác đạt được thành tích như ông chưa nhỉ?], nhưng dầu sao, người ta vẫn thấy đó là một cái chết bình thường. Ai rồi cũng có một lần như vậy. Trước hay sau, sớm hay muộn hơn một chút thôi.

Cái chết của Huyền Vũ và những người như ông mất đi, sau khi miền Nam tan nát, khiến người ta có cảm tưởng từa tựa như những mảnh vỏ đã tróc khỏi phi thuyền khi nó đã bay ra ngoài quỹ đạo trái đất. Đúng vậy chăng? Hay chúng ta đã bị tin tức làm méo mó hết đầu óc?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Aug 2025

22. Huy Trâm.

Huy Trâm đã được biết đến  rất nhiều từ thập niên 50 ở trongnuớc. Ông sáng tác đều đặn và có lẽ cho đến nay, trong số các nhà văn của chúng ta ở hải ngoại nói  chung, Huy Trâm vẫn là một trong những người còn viết được đều đặn nhất. Chỉ riêng từ năm 1992, nghĩa là sau những năm ở tù cải tạo, qua được Hoa Kỳ, ông đã cho xuất bản 4 tập thơ, 2 tập truyện ngắn, 3 tập tiểu luận, phê bình [thơ] và 1 tập nhận định về âm nhạc. Giới thiệu tập truyện ngắn Thương Nhiều Nhớ Nhiều của Huy Trâm, nhà xuất bản Hương Văn viết:

“Đọc truyện của Huy Trâm chúng ta bắt gặp những nỗi niềm trăn trở có phần giống tâm trạng của mình trong đời ly hương.

Từ chuyện ông già học lái xe hơi đến chuyện xẩy ra trong ‘sốp’ may, trong ngân hàng Mỹ hay chuyện vợ chồng thôi nhau, ông đã viết một cách trung thực và sâu sắc về cảnh sống cùng những suy nghĩ thầm kín nơi những mảnh đời trôi giạt, sau cuộc biển dâu 1975″.

Gần đây, đọc những sách mới xuất bản, đọc những truyện ngắn, truyện dài đăng trên các tạp chí, đôi khi người ta ngỡ như mình không còn phân biệt được đó là những truyện dịch hay sáng tác. Từ cú pháp, từ ngữ đến bố cục và ngay cả nội dung câu chuyện, các nhân vật có hoàn toàn là người Việt Nam, chuyện Việt Nam chăng nữa, người đọc có thể nhận ra ngay, người viết không lớn lên từ Việt Nam. Không phải người viết muốn làm mới cách viết, mà đó là cách viết tự nhiên xuất phát từ môi trường sống, ngôn ngữ, văn hóa họ hấp thụ. Những vấn đề họ gặp phải, tự nó, khác với những gì đã có trước. Ngay cả cách thức các nhân vật ngày nay yêu nhau cũng đã khác xa với các nhân vât của Khái Hưng, Nhất Linh hay Võ Phiến, chẳng hạn. Ở đây chúng tôi chỉ muốn làm công việc ghi nhận chứ không phê bình hay đánh giá. Giữa cuộc đổi thay ấy, Huy Trâm là một trong những người cứ nhẩn nha làm công việc của mình. Hình như ông không màng tới tính mới/cũ trong cách viết của mình. Truyện của ông là những chuyện nhỏ nhặt xẩy ra hàng ngày trong đời sống, chuyện một người đi xin việc làm rồi bỏ việc ngay trong cái buổi xin được việc ấy chẳng hạn. Nỗi buồn trong các truyện của Huy Trâm không liên quan gì đến những vấn đề to lớn của triết học, chính trị hay tôn giáo …

Nhưng làm thế nào mgười ta thoát ra khỏi tất cả các vấn đề ấy? Trong truyện của Huy Trâm con người chịu đựng hết thẩy các ảnh hưởng ấy một cách tự nhiên tựa hồ những người lính trong chiến tranh, hiểu hay không hiểu những ý nghĩa cao xa của chính cuộc chiến ấy, người ta vẫn phải tham dự vào đó bằng chính đời sống và cái chết của mình.

Truyện ngắn Ngày Vui có thể coi như điển hình cho cách viết truyện của Huy Trâm. Bà Lương mở một cuộc tiếp tân tại nhà để ăn mừng cô con gái tên là Kristine đậu bác sĩ.

Ở trang 119 [TNNN] Huy Trâm viết:

“Kristine nhớ lại những gì đã xẩy ra giữa cha và mẹ khi bắt đầu qua Mỹ. Bà Lương khuyên chồng nên đi học lại. Ông đã từ chối viện cớ tuổi cao, trí cùn không thể học hành gì được nữa. Thế rồi vấn đề đi làm và kiếm sống cũng gây ra căng thẳng giữa hai vợ chồng. Bà Lương đến nhà một người quen may từ sáng đến tối, kiếm mỗi tháng ngót một ngàn đồng, trong lúc ông Lương không tìm đâu ra một việc thích hợp.

Đám anh em bên bà Lương nhìn ông như một người quê mùa, thất học. Những gì ông có trước kia, địa vị, kinh nghiệm kể như bỏ. Đây là xứ Mỹ, không tính quá khứ. Chỉ tính ngày hôm nay mà tính bằng đô la. Trớ trêu là đám anh em bên bà Lương lại có ảnh hưởng rất mạnh với bà. Điều này làm ông Luơng buồn. Ông biết mình thất thế, không kiếm ra tiền, nên bị coi thường, không nghe theo điều gì. Sau nhiều lần cãi cọ và tự ái bị va chạm,

ông Lương bèn nín thinh, không có ý kiến về việc nhà nữa. Ông nhường mọi quyền quyết định cho bà vợ để nhà cửa được yên.

Vì lỡ thời, lỡ vận và cô đơn, ông sống như người mất hồn. Ông hay đi lang thang trong các vườn hoa hay tìm đến những chỗ thật vắng lặng”.

Huy Trâm viết tiếp:

“Không ai biết được những u uẩn trong lòng ông Lương. Da một ngày một khô, tóc ngày một bạc, ông Lương bắt đầu suy sức. Kristine cũng biết, chính là nhờ vào những năm tù đầy của cha dưới chế độ cộng sản mà cả nhà qua được bên này. Nhưng một hôm có người nhắc đến sự kiện này, thì bà

mẹ Kristine vội nói: ‘Ôi chao! Chính vì ông ấy đi tù nên tôi mới sang trễ thế này. Đi vượt biên năm 79, 80 thì bây giờ đâu đến nỗi khổ. Ông Lương mất. Và theo cách nói của bà Lương thì bà chỉ hơi buồn là ông chồng mới qua Mỹ được vài năm, chưa được hưởng gì đã vội chết. Người ta đau dằng dai

năm sáu năm thì không sao, ông chỉ bị nóng gan cấp tính có hai ngày mà không cứu được”.

Qua Mỹ chồng không còn khả năng làm việc, một tay người đàn bà nai lưng nuôi con ăn học, thành đạt, quả thật là một điều đáng vui mừng, hãnh diện.

Nhưng nghĩ về người chồng như vậy, thì hình như niềm vui cũng không trọn, niềm hãnh diện cũng không vẹn. Nhưng trọn vẹn với ai đây? Có một điều gì đó nghẹn ngào trong tất cả các truyện ngắn của Huy Trâm, cái nỗi nghẹn ngào người ta thường phải chấp nhận khi nhìn thấy và biết rằng, không phải mọi chuyện ở đời đều suông sẻ.