vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 27 Aug 2025

24. Kiệt Tấn
Trước 1975 Kiệt Tấn mới chỉ có một tập thơ được xuất bản, đó là tập Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái Phá. Đó là thời gian cuộc chiến ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khốc liệt. Nên có thể nói, không chỉ riêng gì những điệp khúc tình yêu bị những tiếng trái phá lấn át. Cả tập thơ của Kiệt Tấn cũng gần như không gây nổi một sự chú ý nào. Người ta có quá nhiều việc phải lo lắng, không còn khoảnh khắc nào dành cho thơ. Và Kiệt Tấn đã phải chịu một sự thiệt thòi, oan uổng với tư cách là một tác giả: một tác giả không được đọc. Tập truyện ngắn Thương Nàng Bấy Nhiêu được nhà xuất bản Người Việt ấn hành lần đầu tiên vào năm 1988, nghĩa là sau biến cố 1975 hơn mười năm. Mười năm có đủ cho tâm hồn những người lưu lạc lắng đọng trở lại, để có một chỗ dành cho văn chương, nghệ thuật, dù người ta có được cái may mắn chạy thoát ra khỏi cái đất nước đã tơi bời vì chiến tranh lại đang điêu đứng vì cuộc đổi thay?
Thế nhưng mười năm sau cuộc di tản, những sáng tác đã được hình thành, đã được phổ biến. Sự kiện giống như những hình ảnh vỡ nát trên một mặt nước xao động đang tụ nhập trở lại. Và đó cũng là dấu hiệu của một cuộc tái sinh. Văn chương và nghệ thuật là những ngọn đèn trong đêm tối để những tâm hồn thất lạc có thể tìm thấy nhau. Người ta đọc sách, nghe nhạc để tìm lại mình, tìm lại người khác. Đó là thứ văn chương, âm nhạc ở trong nước không có. Thương Nàng Bấy Nhiêu của Kiệt Tấn được nhà xuất bản giới thiệu như là một tập truyện: rất tự truyện, rất dí dỏm, rất nhậy cảm, rất Kiệt Tấn. Thế giới truyện trong Thương Nàng Bấy Nhiêu của Kiệt Tấn không phải là phong tục miền Nam của chúng ta. Thế giới truyện của Kiệt Tấn, nói theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc mở ra một đề tài khác: tâm lý và triết lý.

Người ta có thể đọc, có thể nhìn những nhân vật của Kiệt Tấn dưới những lăng kính khác nhau. Nhưng điều thích thú trước hết là người ta bắt gặp một
con người, vừa sống vừa tự khám phá và thể hiện mình. Và cũng chính cái cá tính mạnh mẽ làm nên một con người, làm nên giá trị của tác phẩm.
Không có con người thì không thể có tác phẩm được. Ở trong nước người ta có lưu truyền một câu nói nửa đùa, nửa thật, nước ta có nhiều anh hùng đến nỗi cứ ra cửa là gặp anh hùng. Nhiều anh hùng nhưng thiếu những con người với cá tính, với tâm hồn. Người ta ăn nói giống nhau, suy nghĩ giống nhau. Cũng có thể người ta vẫn còn có cá tính nhưng phải giấu kín, cái bề ngoài phải như thế, phải giống nhau. Không giống nhau có thể là một tai họa. Cái mà người ta đề cao là phải làm sao đó cho triệu người như một.
Về tâm hồn thì như nhà văn Andrei Markine đã có lần viết:
“Có thể lâu lắm rồi tôi không được dùng từ đó. Quan niệm về tâm hồn đã bị từ bỏ ở Nga, thời kỳ xô viết. Tôi yêu từ tâm hồn, bởi vì nó thoát khỏi những nhãn hiệu mang tính xã hội, chuyên nghiệp, sắc tộc. Những nhãn hiệu chỉ được dùng vào mỗi một việc giản lược người khác thành một chức năng có ích cho mình, từ đó, có thể lợi dụng được”.
Mặc dầu Kiệt Tấn có đề cập tới các cặp ý niệm đối nghịch: tốt/xấu, thiện/ác, sạch/dơ, trên/dưới, đau/khoái, vui/khổ, nhưng có thể thu gọn trong một khuôn: tình yêu và dục vọng.
Tình yêu là gì thì hình như Kiệt Tấn không định nghĩa được, nhưng dục vọng thì rõ: Kiệt Tấn đã nhập cả hai thành một. Và gọi nó là nỗi đau và hạnh phúc. Truyện đầu và truyện cuối của tập sách đều được viện dẫn bằng bốn câu thơ của Nguyễn Bính.
Người ta có thể tìm thấy ảnh hưởng của Nguyễn Bính, của Phi Vân và cả Hoàng Hải Thủy trong các truyện của Kiệt Tấn. Nhưng cá tính của ông vẫn mạnh mẽ và vượt lên trên tất cả. Một cách ngắn gọn có thể gọi Thương Nàng Bấy Nhiêu là một bản tình ca, một khúc kim cổ giao duyên. Kim ở đây là nhạc rock. Cổ ở đây là vọng cổ. Bởi vì Kiệt Tấn đã dùng một giọng văn rặc miền Nam, không phải là người sinh trưởng ở miền Nam, không thể viết được. Cái tối tân và cái cải lương hòa hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, duyên dáng, những cái, những chỗ chõi, đều tạo nên những nụ cười.
Đọc Kiệt Tấn người ta có thể cười một mình hoài. Cứ tưởng tượng một gã si tình, không phải si tình một người mà là nhiều người, yêu lộn người yêu của kẻ khác, kể cả anh ruột mình, gã đem kể ra hết. Hắn học hết tiểu học,
hết trung học, hết đại học, song song với việc mê gái, mê đàn bà, sự hiểu biết của hắn tăng théo với việc học, nhưng việc mê gái thì hình như đã lên tới tột đỉnh ngay từ khi khởi sự.
Hắn kể hết mọi sự liên quan tới đàn bà mà hắn biết. Giọng si mê, cuồng nhiệt. Nhưng xen giữa những dòng chữ, đằng sau những dòng chữ, người đọc vẫn cảm nhận một nỗi buồn. Xin trích dẫn một đoạn ở trang 153, truyện Cho Thiếp Theo Cùng: “Nhà tôi ở từng mười lăm. Một đêm trăng sáng nọ
chàng mở cửa sổ bước ra ngoài không trung cỡi lên lưng con dơi đen bay tuốt lên cung Hằng Nga như chú cuội. Nếu tình cờ xẩy ra như vậy, tôi cũng sẽ không ngạc nhiên, tuy nhiên vẫn còn có một điều khiến cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là vì duyên cớ gì mà năm xưa nọ ở Hàng Xanh, chàng đã trần truồng ngồi khóc tỉ tê dưới ánh đèn nê ông giữa đêm hôm khuya khoắc”.
Kiệt Tấn là một trong số những nhà văn miền Nam trước 75, hiện sống ở hải ngoại, vẫn tiếp tục viết và được nhiều người đọc. Nụ Cười Tre Trúc là một tập truyện đầy đặn, không có lực không thể viết nổi. Dĩ nhiên người ta không tính giá trị của một tác phẩm qua chiều dày. Kiệt Tấn làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài. Ở đây thì người ta có thể dùng độ dài, độ ngắn để gọi tên tác phẩm của ông. Thực tế chỉ có một điều: người ta đọc văn ông.
Thơ của ông lẫn trong văn của ông. Xin trích dẫn một đoạn trong các trang 20-21 truyện Nụ Cười Tre Trúc:
“Nếu ngọc trai là ngọc của sò biển, nếu gạo thóc là ngọc của trời thì nước mắt là ngọc của má tôi. Cả đời má tôi buông nhả loài ngọc đó rất nhiều, cho bất cứ gì, cho bất cứ ai, vô tình hay cố ý, đến gõ cửa trái tim bà. Tôi thường ví trái tim bà là bồ lúa, mà mỗi hột là một mối thương tâm, một mối thương tâm rất gần với từ bi, khiến cho bà sa nước mắt ngùi ngùi vô số kể, suốt cuộc đời bà … Cả đời tôi chưa hề nghe tiếng ‘hy sinh’ thốt ra từ cửa miệng của bà. Bởi vậy, khi thấy má tôi khóc, đừng tưởng bà đau khổ, đừng tưởng bà đang nghĩ bụng mình hy sinh rút ruột cho con ăn, mình thức đêm thức hôm dầm sương dang nắng vì con cái. Khi sung sướng người ta cũng có thể chảy nước mắt lắm chớ, phải không? Vì vậy nước mắt của má tôi cũng rì rào như nụ cười tre trúc của bà: thương yêu, che chở, rộng
lượng”.
Trong ngôn ngữ của chúng ta có nụ cười nào là nụ cười tre trúc? Hay chỉ tới Kiệt Tấn mới có nụ cười mang tên ấy. Đoạn văn của Kiệt Tấn khiến người ta liên tưởng đến những câu thơ của nhà thơ da đen Langston Hughes nói về
những dòng sông cũ kỹ của quê hương mà ông bảo rằng “linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những dòng sông đó”. Kỷ niệm, tuổi thơ, tình thương yêu tuôn chẩy đằng sau, ở trong những dòng chữ. Kiệt Tấn có lối viết người miền Nam gọi một cách nôm na là cà tửng. Theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc dí dỏm là cái đặc sắc của văn Kiệt Tấn.
Ông Nguyễn Hưng Quốc viết:
“Từ cách dùng chữ đến cách mô tả, cách kể chuyện của Kiệt Tấn dường như lúc nào cũng thấp thoáng một nụ cười tinh nghịch. Tinh nghịch một cách nhẹ nhàng và có duyên. Mà hình như đây cũng là đặc điểm chung của nhiều nhà ăn miền Nam khác. Các nhà văn miền Nam, ít nhất trên trang
sách, thường xuề xòa, dễ tính và vui tính. Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường … rồi Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Võ Kỳ Điền, Sơn Nam, không vui tính nhưng cũng dễ tính và xuề xòa. Chỉ có hai người cầm bút miền Nam thực sự nghiêm trọng: cặp vợ chồng Đông Hồ và Mộng Tuyết. Nhưng cả hai đều bị ảnh hưởng nặng nề của văn phong miền Bắc. Khi nghiêm trọng và trịnh trọng, họ phải giả giọng”.
Trong các truyện ngắn và cả tập truyện dài Lớp Lớp Phù Sa của mình, Kiệt Tấn dựng nhiều nhân vật khác nhau, từ những tay anh chị, các cô gái giang hồ, thầy pháp, tá điền, người em xóm học … tóc vàng, tóc đen, người Việt, người Tây, nhưng cuối cùng, ông cũng quay về với những truyện tình.
Và truyện tình của Kiết Tấn thì người ta phải đọc lấy, không thể trích dẫn. Vì hình như ông không trừ ra một giới hạn nào.
Nhận định về Kiệt Tấn, Thụy Khuê viết:
“Ngoài cái vẻ hóm hỉnh, đôi khi sống sượng, ngôn ngữ buông tuồng, đam mê đến cuồng nhiệt, ẩn một con người yếu đuối nhưng bao dung, một tâm hồn cô đơn đến bệnh hoạn. Người yêu của Kiệt Tấn trong ‘Thương Nàng Bấy Nhiêu’ phần lớn là những kẻ bơ vơ, những tâm hồn ngây thơ hay trụy lạc: ở ai chăng nữa, người đọc cũng tìm thấy cái khía cạnh băng trinh của tâm hồn. Viết về tình yêu, có rất nhiều người, nhưng về yêu thương, chỉ Kiệt Tấn đặc sắc”. Nguyễn Mộng Giác cho rằng mỗi người cầm bút chỉ sở
trường về một loại đề tài, một loại khung cảnh sống, một loại nhân vật. Rất ít người dám xông xáo vào nhiều lãnh vực, vì thấy trước sự thất bại.
Riêng Kiệt Tấn:
“ … viết về đủ đề tài, nhân vật, khung cảnh thay đổi, từ một cô gái quê cho tới một cô tình nhân bụi đời ở kinh đô ánh sáng, từ những kinh rạch bán khai chằng chịt ở quê hương cho đến cảnh đô hội nơi đất khách … ở đâu Kiệt Tấn cũng xông xáo thông thạo như một ‘thổ công’.
Vì sao vậy? Câu trả lời khá đơn giản, Kiệt Tấn đã sống hết mình, và viết hết mình. Khi sự chân thành đã đến độ giống như tự khỏa thân trước cuộc đời, thì cái Tâm Thành đó cộng với Tài Ba phải thành Nghệ Thuật. Kiệt Tấn đã thực hiện được lời của Dostoievsky khi văn hào Nga này nói: Tôi đã viết hết những điều mà thiên hạ chỉ dám nói có một nửa”.
Đó là những điều người khác nói về văn Kiệt Tấn. Chúng ta có thể đọc thêm thơ của Kiệt Tấn: Dòng Sông và Con Thuyền Hai Mươi Tuổi
Còn nhớ không
Những muỗng nước cá kho xin về
chan lên chén cơm khô
Này ăn đi con! ăn đi con!
này thôi nín nín mẹ ru
ầu ơ … gió mùa thu mẹ ru con ngủ … ờ ờ ờ …
Nhớ không?
năm canh dài … ờ ờ …
mẹ thức đủ năm canh … ầu ơ …
Nhớ gì không Gia
Lời ru bi thương đó
cùng từng bầy năm người mười người
cặp giữa hai thanh tre
trôi về chật lòng sông
Còn nhớ không Gia?
Những kẻ tật nguyền
không được quyền tật nguyền
bằng điện giựt bằng cẳng treo
bằng roi cá đuối
bằng muối ớt trên thương tích xót xa
Người câm bắt buộc phải trả lời
những tội phạm họ không bao giờ đủ
khả năng nghĩ tới
Người điếc bị đánh đơ xương sống
vì không nghe được người ta hỏi gì
người điên bị bắn bể bọng đái
vì không biết phải đứng lại
theo tiếng hô “Halte-là”
và hấp hối nằm đó rên la từ tám giờ
đêm cho đến mặt trời mọc
cơn điên không hề thuyên giảm
Còn nhớ không Gia?
Người cha được đặt làm loại bàn có lỗ
trên đó người ta luồn dây cột chặt
con mình đổ nước mũi vào họng
Nhớ không những khám nhỏ khám lớn
Những người mỗi tuần được lùa đi tắm một lần
trong ao bùn nước sâu đến bụng
bầy người trần truồng hôi hám
nhớp nhúa ồn ào như đàn vịt
những đứa nhỏ chạy đến [người lớn họ hết tin nhau] nhét vội
những khúc bánh mì những cặp lạp xưởng những chuối khô
bỏ lại chiếc khăn choàng
tắm chưa kịp đưa bàn tay chưa kịp nắm
đôi mắt chưa kịp ngó
giọt nước mắt chưa kịp rơi
bầy người gầy guộc xếp hàng trở về nhà giam cũ
Nhớ không Gia?
Họ trở về đó đêm đêm bó gối hồi hộp chờ chiếc
xe bít bùng đậu lại trước nhà giam
rồi từng loạt năm người mười người
được gọi tên
để đền mạng cho những tên sĩ quan da trắng
bị giết
Những tiếng súng dội lại
từ một cây cầu sập bỏ hoang
làm biết bao người
cha mẹ vợ con anh em nghe trong
đêm khuya rụng rời!
Còn nhớ không Gia?
Những thằng bạn nhỏ đã chết trong lúc chạy giặc
Những thằng đã rơi rụng cùng máy bay
Những thằng đã bể nát với trái mìn
Những thằng đã đánh mất đời mình trên bàn chông
Gia ơi mày nằm đó còn nhớ gì không?
Mày nhớ gì không trong lớp áo hành quân
bị đục lủng
Mày nhớ gì không?
trong đêm không bao giờ còn có ngày đó
Mày còn nhớ gì nhớ gì
dưới hàng bạch lạp hắt hiu cắm đều
khoảng từ đầu đến chân mày
Gia ơi mày làm sao nhớ gì với đạn đồng ngủ quên
trong ruột gan tim ngực
Nhớ gì không nhớ gì không hở Gia?
nhớ gì không
những đàn ông không có thì giờ để làm tình
những đàn bà không có thì giờ để cưu mang
những bào thai không có thì giờ để chào đời
những trẻ thơ không có thì giờ để nô giỡn
những thân thể non không có thì giờ để già nua
những kẻ bạc đầu không có thì giờ để
chu toàn cái chết
Nhớ gì không?
Còn nhớ gì không hở Gia?
con mắt chó trung thành rớt trên nền đất cứng
bà già cụt đầu lõa lồ bên bờ mương
đứa nhỏ chết cứng trên đỉnh vú xanh
những phát chày vồ những cơn lửa táp
người đàn bà rái cá bà mẹ xõa tóc điên
những kẻ tật nguyền bị tra tấn
những kẻ âm thầm gục dưới gầm cầu
những kẻ bị thủ tiêu trong rừng vắng
Nhớ lấy Gia!
nhớ lấy hết những bi thương đó
để mai kia
vào những đêm mùa hè thật vắng vẻ
mày kể lại cho giun dế nghe
chuyện con thuyền đứt neo
dật dờ trên dòng sông hai mươi tuổi
Gia ơi!
mày hãy tâm sự tuổi hai mươi của mày
với cỏ cây câm nín
giữa khuya bưng tối
đìu hiu của đêm hè
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.