Thái Thanh, Người Mà Ai Cũng Mắc Nợ

ongvove.wordpress.com

Đỗ Tiến Đức

Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

Post by Sơn râu 29 Aug 2025

Ca sĩ Thái Thanh

Sáng chủ nhật 1 tháng 12, 2002 vợ chồng Nguyễn Đắc Điều và vợ chồng tôi đã tới thăm chị Thái Thanh ở thành phố Garden Grove. Anh Điều là cựu chủ tịch Tổng Hội Cựu Sinh viên Quốc Gia Hành chánh, tức là đồng môn với tôi.

Buổi thăm nhau tuy diễn ra bình thường, nhưng cũng có ý đến cảm ơn chị, chả là hồi tháng 10, hai gia đinh chúng tôi tổ chức sinh nhật chung ở một nhà hàng, chị Thái Thanh đã tới dự và đã lên sân khấu trình bầy nhiều ca khúc để mừng chúng tôi.

Người nữ ca sĩ từng được vinh tặng là tiếng hát vượt thời gian và không gian này hiện sống trong một căn phòng của một chung cư dành cho người cao niên.

Căn phòng vừa đủ kê một chiếc giường ngủ, một bàn ăn nhỏ, và nơi tiếp khách cũng chỉ có chỗ cho hai ba người. Chị đã thiết trí căn phòng thật đơn sơ với bộ máy hát nhỏ, bình hoa, những tấm hình kỷ niệm, trên tường là những tranh và tượng Phật, giấy của chùa cấp chứng nhận chị đã qui y. Tôi nhìn tấm thân chị, nay đã còm cõi kiểu mình hạc vóc mai, mái tóc đã bạc phơ, chợt nghe chị nói: “Mình tạo cho căn phòng này thành một nơi chốn để thiền, để nghỉ ngơi, để tu Phật…”.

Tôi hỏi: Các cháu có đến thăm chị thường không? Chị trả lời: Có. Thứ bẩy nào thì các cháu cũng tới chở tôi về nhà hoặc đưa tôi đi chơi nơi này nơi nọ. Còn chủ nhật thì tôi đi chơi với các bạn của tôi…”. Tôi để ý thấy chị nói mà vẫn như hát, giọng của chị vẫn trong, vẫn khoẻ, vẫn đầy âm thanh như ngày nào. Và cái dáng của chị khi nói, khi cười, đều mang nét quen thuộc của người anh ruột là Nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tôi nói điều này với chị thì chị cũng gật đầu trả lời :

– Vâng, nhiều người nói Thái Thanh giống anh Hoài Bắc. Mà Thái Thanh cũng ảnh hưởng anh ấy nhiều lắm đó”.

Quả thế, nhìn Thái Thanh tôi bồi hồi tưởng nhớ Hoài Bắc. Hồi vợ chồng Hoài Bắc bỏ khu Little Saigon lên Los Angeles là thời chúng tôi gần nhau hàng ngày. Lúc đó vợ chồng tôi mở xưởng may, anh Hoài Bắc chở chị tới đó làm việc rồi tạt qua nhà tôi ngồi tâm sự chuyện đời, chuyện văn nghệ. Rồi có những chiều tối, Hoài Bắc gọi điện thoại sang nhà anh, cách nhau chừng mười phút xe, thưởng thức món cháo cá do chị nấu. Thoáng đấy, hình ảnh, tiếng nói còn đây mà bạn tôi đã thành người thiên cổ.

Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh

Tôi hỏi: Hoài Bắc nổi tiếng với bản nhạc Đôi Mắt Người Sơn Tây phổ thơ của Quang Dũng, vậy gia đình chị có biết Sơn Tây không?

Thái Thanh: Sơn Tây là quê ngoại thôi. Quê nội ở làng Bạch Mai Hà Nội.

– Chị có bao giờ sống ở Sơn Tây không?

– Chỉ có vài dịp nghỉ hè thì về chơi thôi.

Tôi tò mò hỏi tiếp:

– Chị có ba chị em là chị Thái Hằng, anh Hoài Bắc và chị. Cả ba đều nổi tiếng về âm nhạc. Vậy ông cụ hay bà cụ hay cả hai đã “di truyền” dòng máu văn nghệ này?

Thái Thanh: Vâng ba người mà anh vừa nói là cùng mẹ ruột. Ông cụ tôi còn bà trưởng, tức là mẹ trên của chúng tôi, thì có anh Phạm Đình Sỹ và anh Hoài Trung.

Khi bà trên mất rồi thì ông bố tôi mới cưới mẹ tôi. Như thế không thể gọi là bà hai được. Nói đúng ra thì cả bố tôi và mẹ tôi đều chơi đàn cổ như đàn tranh, đàn bầu, nhị, sáo… Cụ ông chơi những thứ đàn đó còn cụ bà thì chơi tỳ bà. Mẹ tôi giỏi về nhạc lắm. Tôi nhớ ngày xưa tôi có được nghe cụ hát ả đào thật tuyệt.

Hát ả đào ngày xưa khác với thời bây giờ nhiều. Thời xưa nó là một thú chơi rất văn học nghệ thuật. Các bạn của bố tôi mỗi khi làm được những bài thơ hay là tới đưa cho cụ hát, rồi mọi người ngồi thưởng thức..

Nguyễn Đắc Điều hỏi: Chị đi hát trong hoàn cảnh nào?

Thái Thanh: Tôi hát trong cái hoàn cảnh anh Phạm Đình Chương chơi đàn với bạn của anh ấy là ông Nguyễn Cao Kỳ. Hồi nhỏ ở Hà Nội, ông Kỳ thường hay đến nhà tôi đánh đàn. Hai ông ấy là bạn học với nhau, chơi thân nhau lắm. Rồi tới một ngày không biết nổi hứng sao đó, anh Chương lôi tôi ra dạy cho tôi hát và hai ông ấy đệm đàn. Lúc đó tôi còn bé lắm, đâu chừng mới mười tuổi.

Nguyễn Đắc Điều: Ai đặt cho chị là Thái Thanh?

Thái Thanh: Tôi nhớ tên của tôi do các cụ đặt cho là Phạm Thị Băng Thanh. Còn chữ Thái là hình như lấy từ tên chị tôi. Chị là Thái Hằng thì em phải là Thái Thanh chứ.

Nguyễn Đắc Điều: Tại sao anh Phạm Đình Chương lại lấy tên là Hoài Bắc?

Thái Thanh: À, hình như lúc ấy chúng tôi ở Sài Gòn rồi, chúng tôi lập ban văn nghệ đi trình diễn nên các anh lấy tên là Hoài Bắc, Hoài Trung, ý nói là nhớ miền Bắc, nhớ miền Trung thôi.

Tôi hỏi xen vào: Hình như trước khi vào Sài gòn, chị có trình diễn văn nghệ cùng với Phạm Duy ở những vùng thuộc quyền Việt Minh kiểm soát?

Thái Thanh: Có. Tôi đi hát là cũng do các anh ấy lôi đi. Bây giờ tôi già rồi, không còn nhớ nhiều. Anh đọc hồi ký của Phạm Duy là thấy đó. Hồi đó đến giờ, Phạm Duy vừa làm việc vừa ghi chép lại nên chuyện anh ấy viết là đúng đấy.

Hỏi : Nhưng sự kiện quan trọng này thì chắc chị còn nhớ, là lần đầu chị lên sân khấu, chị bao nhiêu tuổi?

Thái Thanh: Độ 12 tuổi.

Hỏi: 12 tuổi đã hát trước công chúng, thế chị có run sợ không?

Thái Thanh: Cái lần đầu tôi lên sân khấu không phải tôi lên một mình mà lên hát chung với các anh các chị tôi. Chúng tôi trình bầy một bản đồng ca. Như thế tôi cũng bớt sợ phần nào. Chứ nếu mà mình lên sân khấu một mình, lúc mình nhỏ bé như thế chắc là mình sợ lắm chứ nhỉ. Điều tôi còn nhớ rõ, khá rõ là cái xúc cảm khi hát, anh ạ. Có lẽ là “gene” âm nhạc của mẹ tôi trong người nên tôi lúc đó tuy còn nhỏ xíu nhưng tôi đã biết xúc động từ lời ca cho tới dòng nhạc. Cái cảm xúc đó nó còn trong tôi cho tới bây giờ đấy. Khi đứng trước khán giả hát, mà quí vị thấy tôi hát hay, đó là vì tâm hồn tôi nhập vào bài hát rồi. Tôi yêu âm nhạc. Tôi yêu âm nhạc ghê gớm lắm.

Hỏi : Lần đầu chị hát là hát ở đâu?

Thái Thanh: Ngoài vùng kháng chiến.

Hỏi: Hát ngoài trời?

Thái Thanh: Vâng. Hát ở ngoài trời. Sân khấu được dựng lên để hát cho dân làng nghe ấy mà.

Nguyễn Đắc Điều: Tôi có một người bạn quê ở Thái Bình bây giờ còn nhớ là hồi đó ban văn nghệ của chị có về hát quê của anh ấy.

Thái Thanh: Thế hả… Bây giờ tôi không còn nhớ nữa.

Nguyễn Đắc Điều: Năm nào thì chị bỏ vùng Việt Minh về Hà Nội?

Thái Thanh: Tôi không nhớ rõ. Nhưng chúng tôi chỉ ở Hà Nội một thời gian ngắn rồi vào Sài gòn.

Nguyễn Đắc Điều: Có phải vì sợ Việt Minh trả thù nên các anh chị phải bỏ Hà Nội vào Sài gòn?

Thái Thanh: Tôi không biết vì lúc đó còn nhỏ quá, với lại lâu quá rồi. Tôi chỉ nhớ là lúc ấy vào Sài gòn là để hát cho đài phát thanh Pháp Á. Đài này mời ông Phạm Duy. Ông ấy sáng tác bản Về Miền Trung, hát trên đài Pháp Á, được thính giả thích quá. Ông ấy vào rồi kéo tụi này đi luôn.

Nguyễn Đắc Điều: Ban Thăng Long ra đời vào lúc này?

Thái Thanh: Đúng rồi. Vì sống ở Sài gòn nên nhớ Hà Nội, tức Thăng Long ấy mà.

Nguyễn Đắc Điều: Bản nhạc mà chị hát đầu tiên trên đài Pháp Á tên là gì?

Thái Thanh: Có lẽ là bài Về Miền Trung đấy.

Tôi hỏi: Chị sống ở Sài gòn từ thuở thanh xuân như thế thì chị gặp anh Lê Quỳnh ở đâu?

Thái Thanh: Chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn. Tôi gặp bố các cháu vào lúc ông ấy đi đóng cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống”. Lúc đó tôi đã là ca sĩ khá nổi tiếng rồi. Khi mà ông ấy cho người tới mai mối thì gia đình tôi mới trả lời tôi rằng, ông ấy là tài tử xi nê nổi tiếng, còn con thì hát nổi tiếng, bố mẹ cho con lấy đấy.

Tôi hỏi tiếp: Chị còn nhớ những kỷ niệm thuở ban đầu với anh Lê Quỳnh không?

Thái Thanh: Tôi nhớ đã gặp bố các cháu lần đầu vào dịp trình diễn văn nghệ vào dịp tết ở những rạp trước giờ chiếu phim. Gọi là phụ diễn nhưng có khí kéo cả giờ đấy. Anh Lê Quỳnh ở trong ban văn nghệ. Ông ấy hát hay lắm. Hát hay lắm. Chỉ có điều là ông ấy không đi hát thôi. Ông ấy lại đóng phim giỏi. Ông ấy đóng kịch thì tuyệt vời. Đó là trời sinh ra ông ấy để ông ấy đứng trên sân khấu chứ không phải ở dưới này đâu. Thì trong một buổi diễn chung như vậy, chúng tôi gặp nhau. Và chúng tôi mê nhau.

Hỏi: Chị nói là “chúng tôi mê nhau”, như vậy thì ai tỏ tình trước?

Thái Thanh: Việt Nam mình thì cứ coi là đàn ông tỏ tình trước đi. Đàn bà có muốn lắm cũng để trong lòng thôi.

Hỏi: Bao lâu sao thì anh chị thành hôn?

Thái Thanh: Có lẽ vài năm. Sau đám hỏi mới tới đám cưới…

Hỏi: Khi lấy chồng là một tài tử điện ảnh, chị có ý nghĩ muốn trở thành diễn viên điện ảnh không?

Thái Thanh: Sao cái điều đó tôi lại chưa bao giờ nghĩ đến đấy. Mà anh Lê Quỳnh cũng không bao giờ hỏi là tôi có muốn đóng phim không nữa.

Ban hợp ca Thăng Long, hàng sau: Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung; hàng trước: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Tôi với anh Lê Quỳnh là bạn từ khi tôi về trông coi Nha Điện Ảnh ở đường Thi Sách Sài gòn. Lê Quỳnh là đại úy quân đội được biệt phái sang đây vì anh đã nổi tiếng trong giới điện ảnh từ khi anh đóng cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên với anh, tôi hỏi anh đang phụ trách công việc gì thi anh buồn bã trả lời, anh được cử trông coi Nhân Dân Tự Vệ trong cơ quan. Không ai mời anh đóng phim, dù là phim tuyên truyền chống cộng. Anh nói với tôi, anh ao ước được trở thành đạo diễn điện ảnh. Tôi hứa sẽ cho anh cơ hội để thử thách nếu anh kiếm được một truyện phim nào đặc sắc. Lê Quỳnh tỏ vẻ rất vui mừng. Vài tuần sau, anh trình tôi bản truyện phim “Giã Từ Bóng Tối”. Đọc xong, tôi cấp cho Lê Quỳnh sự vụ lệnh lên Đà Lạt, ở tại Hotel Palace hai tuần lễ để viết phân cảnh kỹ thuật. Đây là cuốn phim 35 ly trắng đen dài một tiếng rưỡi đồng hồ, do Nha Điện Ảnh sản xuất và phát hành.

Vào năm 1968, khi xẩy ra biến cố Tết Mậu Thân, Lê Quỳnh đã được ông Nguyễn Văn Liêm, chủ hãng Liêm Film mời đạo diễn cuốn phim màu, ngắn độ dưới nửa giờ, tên là “Hậu Quả Của Sự Thành Công”. Phim do nữ tài tử Xuân Dung đóng vai chánh, quay tại Sài gòn lúc vừa im tiếng súng nhưng những cảnh đổ nát, chết chóc vẫn còn nguyên. Chủ đề của cuốn phim nói rằng cộng sản miền Bắc đã lợi dụng lòng nhân đạo và tính hiếu hoà truyền thống của người miền Nam để lường gạt chẳng hạn cộng sản bỏ vũ khí vào quan tài trong một đám ma giả để lọt qua các vọng gác, mang vô Sài gòn. Vì thế, cho dù cộng sản thành công là xâm nhập được vào thủ đô, nhưng hậu quả là dân chúng kinh tởm cộng sản. Cuốn phim này được gửi sang Đài Loan in rửa, nhưng không hiểu vì lẽ gì sau này không thấy chiếu. Tôi có hỏi Lê Quỳnh điều này nhưng Lê Quỳnh cũng không biết. Còn ông Nguyễn Văn Liêm đã chết ở Sài gòn ít năm sau khi thành phố này bị cộng sản cai trị.

Tôi nghe tiếng Nguyễn Đắc Điều hỏi Thái Thanh:

– Chị và anh Quỳnh ở với nhau bao nhiêu năm?

Thái Thanh: Mười mấy năm. Hình như lúc Ý Lan được 8 tuổi thì chúng tôi thôi nhau.

Hỏi: Anh chị được mấy cháu tất cả?

Thái Thanh: 5. Gần như năm một. Có khi ba năm hai. Ý Lan là con đầu. Tới Lê Xuân Việt, con trai. Rồi Lê Thị Quỳnh Giao tức là Quỳnh Hương, vì trùng tên với ca sĩ Quỳnh Dao nên đi hát cháu lấy tên là Quỳnh Hương. Thứ tư là Lê Thị Thanh Loan. Út là cháu Lê Đại.

Nguyễn Đắc Điều: Bây giờ có cháu Ý Lan và Quỳnh Hương theo nghề của mẹ?

Thái Thanh: Vâng. Cháu Thanh Loan cũng có lên sân khấu đấy. Cháu đã xuất hiện trong cuốn băng của cả gia đình nhưng sau ít hát vì không được khoẻ.

Nguyễn Đắc Điều: Chị có “truyền nghề” cho các cô ấy không?

Thái Thanh Nói đến truyền nghề thì tôi nghĩ là tôi đã truyền từ trong bụng rồi, chứ không chờ các cháu lớn lên mới gọi ra để chỉ dạy con phải hát thế này, còn phải trình diễn thế nọ đâu. Tôi nghĩ khi các cháu nằm trong bụng tôi, các cháu đã nghe mẹ hát rồi…

Nguyễn Đắc Điều: Ngoài các con, chị còn cháu cũng đi hát nữa.

Thái Thanh: Vâng, con gái của Ý Lan là Mai Linh đang được coi là ca sĩ trẻ đầy triển vọng. Cháu hát nhạc Việt đã hay mà nhạc ngoại quốc cũng xuất sắc lắm. Khi xuống thuyền vượt biên, cháu mới một tuổi, nay đã đang học năm thứ nhất của chương trình Bác sĩ Y Khoa.

Nguyễn Đắc Điều: Chúng tôi có nghe cháu học giỏi.

Thái Thanh: Cảm ơn anh. Hôm trước tôi có nói với anh về cháu Lê Xuân Việt rồi phải không? Cháu chưa lấy vợ vì mê học cho xong cái Doctor về Electronic Engineer mới lấy vợ. Khi lấy vợ rồi được bốn con thì lại quyết định bỏ nghề điện tử, theo học bác sĩ y khoa. Bây giờ cháu đang làm ở nhà thương dưới San Diego. Còn cháu Lê Đại đã học xong 4 năm đại học về âm nhạc, nhưng khi ra trường lại đi làm về computer và website. Cháu chơi keyboard và piano nhuyễn lắm.

Nguyễn Đắc Điều: Có ai sáng tác nhạc không chị?

Thái Thanh: Lê Đại có sáng tác một số ca khúc, những bài ca ngăn ngắn…

Nguyễn Đắc Điều: Chị đã sống một đời với nghiệp cầm ca, không làm nghề gì khác, vậy thì cuộc sống của chị có khá không?

Thái Thanh: Về vật chất ấy à? Anh hỏi cái ấy đúng đấy. Khi mà mình được người thưởng thức yêu mến mình thì đương nhiên là mình phải kiếm được nhiều tiền rồi. Nhưng mà, tôi có năm con nhỏ phải nuôi vì anh Lê Quỳnh đã có vợ có con phải nuôi, nên số tiền anh Lê Quỳnh gửi cho tôi để phụ nuôi các cháu cũng hạn chế thôi. Anh Lê Quỳnh có với Thái Thanh năm cháu, với cô Trúc bốn cháu, tổng cộng là chín.

Nguyễn Đắc Điều: Những ca sĩ, kịch sĩ thường ngại mang bầu vì trở ngại cho việc trình diễn. Sao chị lại đông con vậy?

Thái Thanh nở nụ cười duyên dáng, ánh mắt ngước lên rồi nhìn vào mấy tấm hình của chị treo trên tường, trong đó có tấm hình bán thân của chị thời còn thật trẻ, một tấm hình người mẹ quây quần với năm đứa con, mà tôi không thể nhận ra người mẹ đó là Thái Thanh. Giọng nói của chị như gió thoảng:

– Thời xưa, chả là người mình ai cũng thích sinh nhiều con. Nhiều con là phúc là đức mà. Cho nên các ông bà nội, ông bà ngoại đều khuyến khích mình để các cụ có nhiều cháu bồng bế… Mình vừa thích có nhiều con, vừa chiều các cụ, thế là mình đẻ liên tiếp thôi. Mỗi lần mang bầu, mình phải sinh con đàng hoàng rồi mới lên sân khấu trở lại.

Tôi hỏi Thái Thanh: “Chị có để người làm bế con tới hậu trường khi chị đi hát không?” thì Thái Thanh lắc đầu ngay:

– Không. Mình nuôi con cẩn thận lắm. Mình không cho người làm cho các cháu uống thuốc bao giờ đâu. Có những đêm đi hát, một hai giờ sáng mới về tới nhà, người mình đã mệt lắm rồi, buồn ngủ đến mắt mở không ra nữa, thế nhưng mà mình phải vào phòng các cháu xem các cháu ngủ ra làm sao. Đứa nào đau thì mình lấy thuốc, dỗ cho con uống, rồi ôm con, rồi hun hít, nựng nó, bù đắp tình thương cho nó, với lại mình cũng thèm khát hơi hướm của các con lúc phải xa chúng nó chứ. Có lần, đang ngồi chờ trình diễn, mình nhớ con đang đau ở nhà, thế là nước mắt mình tuôn ra. Các bạn hỏi thăm, mình nói là tại các ông hút thuốc nhiều quá, khói làm cay mắt…

Nguyễn Đắc Điều: Chị với Lê Quỳnh là một cặp vợ chồng nghệ sĩ xứng đôi vừa lứa quá, vậy mà nguyên nhân vào khiến phải chia tay nhau?

Thái Thanh: Tôi cho là cái cuộc sống của một cặp vợ chồng nói chung là nó có vui có buồn, có cái nọ có cái kia, có cái hạp có cái không hạp. Người ta vẫn sống với nhau vì là có con với nhau. Các cụ ngày xưa dạy dỗ con cháu là có con thì không được bỏ nhau nữa đấy nhé. Thế nhưng, đến một lúc nào… Tôi là người đạo Phật nên tôi hiểu được một điều là cái duyên nợ một khi đã hết thì dù vẫn còn thương yêu nhau, vẫn biết xa nhau là các con nó khổ, thế nhưng mà ông Trời đã sinh ra con người chỉ có duyên, có nợ nhau bấy nhiêu thôi là hết. Khi mà cái duyên cái nợ đã hết thì tự nhiên cái không hạp nhiều hơn cái hạp. Điều mà tôi rất mừng để nói với các anh là khi chúng tôi không còn ở với nhau nữa, nhưng cả hai vẫn chăm nom con cái cho đến khi anh Lê Quỳnh có cô Trúc và có con.

Nguyễn Đắc Điều: Chị có giao thiệp với vợ chồng anh Lê Quỳnh chứ?

Thái Thanh: Vâng. Chúng tôi gặp gỡ nhau thường chứ. Chúng tôi rất thân nhau. Cô Trúc và anh Quỳnh khi các cháu còn nhỏ vẫn mang gửi tôi trông nom hộ đấy. Gọi là gửi “Me già”. “Me già cho tụi tôi đi xi nê vài tiếng rồi tụi tôi quay lại lãnh cháu về”.

Nguyễn Đắc Điều: Vậy thì chị Trúc dễ thương quá.

Thái Thanh: Rất là dễ thương. Trúc trước làm chiêu đãi viên hàng không Việt Nam nên bặt thiệp, khôn khéo lắm. Mấy năm gần đây bố các cháu bị bệnh, may có cô ấy chăm sóc thay thế chúng tôi. Có lần anh Lê Quỳnh nói với tôi là “Mẹ có biết người nào trên thế gian này mê tiếng hát của Mẹ nhất không?”. Tôi trả lời: “Mẹ biết là có nhiều khán giả mê mẹ hát lắm, nhưng đâu biết ai mê nhất ai mê nhì”. Thì Lê Quỳnh nói với giọng hãnh diện: “Cô Trúc mê mẹ nhất”. Sau này chính cô Trúc cũng nói là mê tiếng hát Thái Thanh từ hồi còn nhỏ. Cô ấy kém tôi khá nhiều tuổi. Cho đến giờ, hễ cô ấy có món gì ngon là cũng đem cho tôi. Cái đó tôi thấy là phải là người hiểu biết, phải là người có lòng lắm mới làm được, nhỉ?

Chị Trúc quả là một phụ nữ rất dễ thương như Thái Thanh nói. Tôi đã được gặp chị nhiều lần trong những dịp giới điện ảnh của chúng tôi ở Nam California có dịp gặp gỡ nhau. Lê Quỳnh bị tai biến mạch máu não, đi lại khó khăn, nói năng khó khăn, nhưng lúc nào cũng có chị Trúc ở bên. Chị nhẫn nhục săn sóc anh mọi việc. Chị nở nụ cười dịu dàng khi anh gắt gỏng bực bội vì hiểu tâm lý người bệnh và vì tấm tình thương yêu chồng của chị quá lớn. Anh em chúng tôi chưa ai nghe một lời than nào từ miệng chị về những khổ cực mà chị phải chịu đựng.

Không khí trong căn phòng buổi sáng chủ nhật thật im lặng. Tôi nhìn Thái Thanh, mái tóc bạc, thân thể còm cõi, quần áo giản dị, trong một khung cảnh giản dị. Thật không thể ngờ có ngày tôi được nhìn một nữ nghệ sĩ lớn khi họ chưa trang điểm xong và chưa ra khỏi nhà. Trước đây, mỗi lần đi quay phim ở xa Sài gòn, các nữ nghệ sĩ tên tuổi thường đòi có phòng riêng, hoặc thuê khách sạn chứ không ở chung với đoàn. Các cô sẽ không gặp ai, dù là đạo diễn, khi mà mặt không còn phấn, môi không còn son, mắt không còn những nét chì màu và lông nheo giả.

Tiếng anh Nguyễn Đắc Điều hỏi tiếp chị Thái Thanh: Sau khi chính thức ly dị với anh Lê Quỳnh rồi, cuộc sống tình cảm của chị ra sao?

Thái Thanh: Khi mà tôi với anh Lê Quỳnh chia tay thì tôi còn trẻ lắm. Như thế các anh hiểu là có nhiều người đàn ông theo đuổi tôi…

Nguyễn Đắc Điều: Vậy chị chấm ai?

Thái Thanh: Đôi ba người… Gọi là bạn… Bạn trai… Nhà ai nấy ở mà. Đi chơi với nhau thì có chứ lấy làm chồng thì không.

– Tôi có nghe dư luận về chị và nhà văn Mai Thảo.

– Vâng. Tôi với anh Mai Thảo thân lắm.

– Hai người có liên hệ tình cảm gì không?

Thái Thanh: Có liên hệ tình cảm. Nhưng khi mà tôi còn ở với chồng… và dù bỏ chồng rồi thì… anh Mai Thảo anh ấy rất quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi, tôi cổ lỗ sĩ lắm, các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau. Cho nên tôi và anh Mai Thảo không có ăn ở với nhau.

– Cuốn tiểu thuyết Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo, có phải anh ấy muốn nói về chị?

Thái Thanh: Tôi không biết, hay là anh ấy viết…

Hỏi: Chị có đọc cuốn sách ấy không?

Thái Thanh: Tôi là người đọc sách đọc báo nhiều nhưng giờ tôi không nhớ cuốn sách ấy câu chuyện nó như thế nào…

Hỏi: Chị nghĩ thế nào về anh Mai Thảo?

Thái Thanh: Vâng, tôi quý lắm. Tôi có cái đặc biệt là, ở với chồng, rồi không ở với chồng, tôi rất quý chồng. Chơi với bạn, như với anh Mai Thảo và vài người bạn dù sau này không chơi nữa, cũng vẫn quý nhau. Có lẽ những người đáng quý tôi đều được gặp.

Tôi chuyển đề tài để ra khỏi những ngày tháng mà chị muốn giữ riêng cho chị. Tôi hỏi chị sau khi miền Nam sụp đổ, chị có đi hát không thì chị trả lời rất nhanh: “Không. Chắc chắn là không”.

Hỏi: Việt cộng nó có đến mời chị hát không?

Thái Thanh: Có. Họ có mời vào đoàn hát này đoàn hát nọ nhưng tôi từ chối. Mà phải từ chối khéo chứ lôi thôi là nó đưa mình vào tù ngay. Tôi nói với họ rằng tôi chưa thể đi hát lúc này vì các con tôi chúng nó đã di tản nên tôi nhớ con lắm.

Nguyễn Đắc Điều: Vậy mà nó để yên cho chị?

Thái Thanh: Thì à… tôi không biết cái kiểu để yên và không để yên của người cộng sản như thế nào nhưng mà tôi chỉ biết tôi ở nhà của mẹ tôi ở tầng lầu trên cùng bỗng tự dưng không có nước máy lên nữa. Tôi đi hỏi thì họ trả lời là: “Nước yếu”. Tôi nói: “Tại sao thời không có cộng sản thì nước lại mạnh?”. Nói thì nói chứ từ đó là tôi phải đi xách nước lên hai ba lầu rã cả cánh tay đấy. Lúc đó tôi cũng năm mươi tuổi rồi chứ trẻ gì đâu. Nói là xách dưới nhà nhưng thật ra là xách nước từ bên kia đường, rồi leo bao nhiêu là bậc thang nên đổ toẹt hết cả. Lúc bấy giờ tôi buồn lắm. Tôi tự an ủi mình rằng mình buồn khổ là vì mình không có nước.

Ban hợp ca Thăng Long, hàng sau: Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung; hàng trước: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Tôi với anh Lê Quỳnh là bạn từ khi tôi về trông coi Nha Điện Ảnh ở đường Thi Sách Sài gòn. Lê Quỳnh là đại úy quân đội được biệt phái sang đây vì anh đã nổi tiếng trong giới điện ảnh từ khi anh đóng cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên với anh, tôi hỏi anh đang phụ trách công việc gì thi anh buồn bã trả lời, anh được cử trông coi Nhân Dân Tự Vệ trong cơ quan. Không ai mời anh đóng phim, dù là phim tuyên truyền chống cộng. Anh nói với tôi, anh ao ước được trở thành đạo diễn điện ảnh. Tôi hứa sẽ cho anh cơ hội để thử thách nếu anh kiếm được một truyện phim nào đặc sắc. Lê Quỳnh tỏ vẻ rất vui mừng. Vài tuần sau, anh trình tôi bản truyện phim “Giã Từ Bóng Tối”. Đọc xong, tôi cấp cho Lê Quỳnh sự vụ lệnh lên Đà Lạt, ở tại Hotel Palace hai tuần lễ để viết phân cảnh kỹ thuật. Đây là cuốn phim 35 ly trắng đen dài một tiếng rưỡi đồng hồ, do Nha Điện Ảnh sản xuất và phát hành.

Vào năm 1968, khi xẩy ra biến cố Tết Mậu Thân, Lê Quỳnh đã được ông Nguyễn Văn Liêm, chủ hãng Liêm Film mời đạo diễn cuốn phim màu, ngắn độ dưới nửa giờ, tên là “Hậu Quả Của Sự Thành Công”. Phim do nữ tài tử Xuân Dung đóng vai chánh, quay tại Sài gòn lúc vừa im tiếng súng nhưng những cảnh đổ nát, chết chóc vẫn còn nguyên. Chủ đề của cuốn phim nói rằng cộng sản miền Bắc đã lợi dụng lòng nhân đạo và tính hiếu hoà truyền thống của người miền Nam để lường gạt chẳng hạn cộng sản bỏ vũ khí vào quan tài trong một đám ma giả để lọt qua các vọng gác, mang vô Sài gòn. Vì thế, cho dù cộng sản thành công là xâm nhập được vào thủ đô, nhưng hậu quả là dân chúng kinh tởm cộng sản. Cuốn phim này được gửi sang Đài Loan in rửa, nhưng không hiểu vì lẽ gì sau này không thấy chiếu. Tôi có hỏi Lê Quỳnh điều này nhưng Lê Quỳnh cũng không biết. Còn ông Nguyễn Văn Liêm đã chết ở Sài gòn ít năm sau khi thành phố này bị cộng sản cai trị.

Tôi nghe tiếng Nguyễn Đắc Điều hỏi Thái Thanh:

– Chị và anh Quỳnh ở với nhau bao nhiêu năm?

Thái Thanh: Mười mấy năm. Hình như lúc Ý Lan được 8 tuổi thì chúng tôi thôi nhau.

Hỏi: Anh chị được mấy cháu tất cả?

Thái Thanh: 5. Gần như năm một. Có khi ba năm hai. Ý Lan là con đầu. Tới Lê Xuân Việt, con trai. Rồi Lê Thị Quỳnh Giao tức là Quỳnh Hương, vì trùng tên với ca sĩ Quỳnh Dao nên đi hát cháu lấy tên là Quỳnh Hương. Thứ tư là Lê Thị Thanh Loan. Út là cháu Lê Đại.

Nguyễn Đắc Điều: Bây giờ có cháu Ý Lan và Quỳnh Hương theo nghề của mẹ?

Thái Thanh: Vâng. Cháu Thanh Loan cũng có lên sân khấu đấy. Cháu đã xuất hiện trong cuốn băng của cả gia đình nhưng sau ít hát vì không được khoẻ.

Nguyễn Đắc Điều: Chị có “truyền nghề” cho các cô ấy không?

Thái Thanh Nói đến truyền nghề thì tôi nghĩ là tôi đã truyền từ trong bụng rồi, chứ không chờ các cháu lớn lên mới gọi ra để chỉ dạy con phải hát thế này, còn phải trình diễn thế nọ đâu. Tôi nghĩ khi các cháu nằm trong bụng tôi, các cháu đã nghe mẹ hát rồi…

Nguyễn Đắc Điều: Ngoài các con, chị còn cháu cũng đi hát nữa.

Thái Thanh: Vâng, con gái của Ý Lan là Mai Linh đang được coi là ca sĩ trẻ đầy triển vọng. Cháu hát nhạc Việt đã hay mà nhạc ngoại quốc cũng xuất sắc lắm. Khi xuống thuyền vượt biên, cháu mới một tuổi, nay đã đang học năm thứ nhất của chương trình Bác sĩ Y Khoa.

Nguyễn Đắc Điều: Chúng tôi có nghe cháu học giỏi.

Thái Thanh: Cảm ơn anh. Hôm trước tôi có nói với anh về cháu Lê Xuân Việt rồi phải không? Cháu chưa lấy vợ vì mê học cho xong cái Doctor về Electronic Engineer mới lấy vợ. Khi lấy vợ rồi được bốn con thì lại quyết định bỏ nghề điện tử, theo học bác sĩ y khoa. Bây giờ cháu đang làm ở nhà thương dưới San Diego. Còn cháu Lê Đại đã học xong 4 năm đại học về âm nhạc, nhưng khi ra trường lại đi làm về computer và website. Cháu chơi keyboard và piano nhuyễn lắm.

Nguyễn Đắc Điều: Có ai sáng tác nhạc không chị?

Thái Thanh: Lê Đại có sáng tác một số ca khúc, những bài ca ngăn ngắn…

Nguyễn Đắc Điều: Chị đã sống một đời với nghiệp cầm ca, không làm nghề gì khác, vậy thì cuộc sống của chị có khá không?

Thái Thanh: Về vật chất ấy à? Anh hỏi cái ấy đúng đấy. Khi mà mình được người thưởng thức yêu mến mình thì đương nhiên là mình phải kiếm được nhiều tiền rồi. Nhưng mà, tôi có năm con nhỏ phải nuôi vì anh Lê Quỳnh đã có vợ có con phải nuôi, nên số tiền anh Lê Quỳnh gửi cho tôi để phụ nuôi các cháu cũng hạn chế thôi. Anh Lê Quỳnh có với Thái Thanh năm cháu, với cô Trúc bốn cháu, tổng cộng là chín.

Nguyễn Đắc Điều: Những ca sĩ, kịch sĩ thường ngại mang bầu vì trở ngại cho việc trình diễn. Sao chị lại đông con vậy?

Thái Thanh nở nụ cười duyên dáng, ánh mắt ngước lên rồi nhìn vào mấy tấm hình của chị treo trên tường, trong đó có tấm hình bán thân của chị thời còn thật trẻ, một tấm hình người mẹ quây quần với năm đứa con, mà tôi không thể nhận ra người mẹ đó là Thái Thanh. Giọng nói của chị như gió thoảng:

– Thời xưa, chả là người mình ai cũng thích sinh nhiều con. Nhiều con là phúc là đức mà. Cho nên các ông bà nội, ông bà ngoại đều khuyến khích mình để các cụ có nhiều cháu bồng bế… Mình vừa thích có nhiều con, vừa chiều các cụ, thế là mình đẻ liên tiếp thôi. Mỗi lần mang bầu, mình phải sinh con đàng hoàng rồi mới lên sân khấu trở lại.

Tôi hỏi Thái Thanh: “Chị có để người làm bế con tới hậu trường khi chị đi hát không?” thì Thái Thanh lắc đầu ngay:

– Không. Mình nuôi con cẩn thận lắm. Mình không cho người làm cho các cháu uống thuốc bao giờ đâu. Có những đêm đi hát, một hai giờ sáng mới về tới nhà, người mình đã mệt lắm rồi, buồn ngủ đến mắt mở không ra nữa, thế nhưng mà mình phải vào phòng các cháu xem các cháu ngủ ra làm sao. Đứa nào đau thì mình lấy thuốc, dỗ cho con uống, rồi ôm con, rồi hun hít, nựng nó, bù đắp tình thương cho nó, với lại mình cũng thèm khát hơi hướm của các con lúc phải xa chúng nó chứ. Có lần, đang ngồi chờ trình diễn, mình nhớ con đang đau ở nhà, thế là nước mắt mình tuôn ra. Các bạn hỏi thăm, mình nói là tại các ông hút thuốc nhiều quá, khói làm cay mắt…

Nguyễn Đắc Điều: Chị với Lê Quỳnh là một cặp vợ chồng nghệ sĩ xứng đôi vừa lứa quá, vậy mà nguyên nhân vào khiến phải chia tay nhau?

Thái Thanh: Tôi cho là cái cuộc sống của một cặp vợ chồng nói chung là nó có vui có buồn, có cái nọ có cái kia, có cái hạp có cái không hạp. Người ta vẫn sống với nhau vì là có con với nhau. Các cụ ngày xưa dạy dỗ con cháu là có con thì không được bỏ nhau nữa đấy nhé. Thế nhưng, đến một lúc nào… Tôi là người đạo Phật nên tôi hiểu được một điều là cái duyên nợ một khi đã hết thì dù vẫn còn thương yêu nhau, vẫn biết xa nhau là các con nó khổ, thế nhưng mà ông Trời đã sinh ra con người chỉ có duyên, có nợ nhau bấy nhiêu thôi là hết. Khi mà cái duyên cái nợ đã hết thì tự nhiên cái không hạp nhiều hơn cái hạp. Điều mà tôi rất mừng để nói với các anh là khi chúng tôi không còn ở với nhau nữa, nhưng cả hai vẫn chăm nom con cái cho đến khi anh Lê Quỳnh có cô Trúc và có con.

Nguyễn Đắc Điều: Chị có giao thiệp với vợ chồng anh Lê Quỳnh chứ?

Thái Thanh: Vâng. Chúng tôi gặp gỡ nhau thường chứ. Chúng tôi rất thân nhau. Cô Trúc và anh Quỳnh khi các cháu còn nhỏ vẫn mang gửi tôi trông nom hộ đấy. Gọi là gửi “Me già”. “Me già cho tụi tôi đi xi nê vài tiếng rồi tụi tôi quay lại lãnh cháu về”.

Nguyễn Đắc Điều: Vậy thì chị Trúc dễ thương quá.

Thái Thanh: Rất là dễ thương. Trúc trước làm chiêu đãi viên hàng không Việt Nam nên bặt thiệp, khôn khéo lắm. Mấy năm gần đây bố các cháu bị bệnh, may có cô ấy chăm sóc thay thế chúng tôi. Có lần anh Lê Quỳnh nói với tôi là “Mẹ có biết người nào trên thế gian này mê tiếng hát của Mẹ nhất không?”. Tôi trả lời: “Mẹ biết là có nhiều khán giả mê mẹ hát lắm, nhưng đâu biết ai mê nhất ai mê nhì”. Thì Lê Quỳnh nói với giọng hãnh diện: “Cô Trúc mê mẹ nhất”. Sau này chính cô Trúc cũng nói là mê tiếng hát Thái Thanh từ hồi còn nhỏ. Cô ấy kém tôi khá nhiều tuổi. Cho đến giờ, hễ cô ấy có món gì ngon là cũng đem cho tôi. Cái đó tôi thấy là phải là người hiểu biết, phải là người có lòng lắm mới làm được, nhỉ?

Chị Trúc quả là một phụ nữ rất dễ thương như Thái Thanh nói. Tôi đã được gặp chị nhiều lần trong những dịp giới điện ảnh của chúng tôi ở Nam California có dịp gặp gỡ nhau. Lê Quỳnh bị tai biến mạch máu não, đi lại khó khăn, nói năng khó khăn, nhưng lúc nào cũng có chị Trúc ở bên. Chị nhẫn nhục săn sóc anh mọi việc. Chị nở nụ cười dịu dàng khi anh gắt gỏng bực bội vì hiểu tâm lý người bệnh và vì tấm tình thương yêu chồng của chị quá lớn. Anh em chúng tôi chưa ai nghe một lời than nào từ miệng chị về những khổ cực mà chị phải chịu đựng.

Không khí trong căn phòng buổi sáng chủ nhật thật im lặng. Tôi nhìn Thái Thanh, mái tóc bạc, thân thể còm cõi, quần áo giản dị, trong một khung cảnh giản dị. Thật không thể ngờ có ngày tôi được nhìn một nữ nghệ sĩ lớn khi họ chưa trang điểm xong và chưa ra khỏi nhà. Trước đây, mỗi lần đi quay phim ở xa Sài gòn, các nữ nghệ sĩ tên tuổi thường đòi có phòng riêng, hoặc thuê khách sạn chứ không ở chung với đoàn. Các cô sẽ không gặp ai, dù là đạo diễn, khi mà mặt không còn phấn, môi không còn son, mắt không còn những nét chì màu và lông nheo giả.

Tiếng anh Nguyễn Đắc Điều hỏi tiếp chị Thái Thanh: Sau khi chính thức ly dị với anh Lê Quỳnh rồi, cuộc sống tình cảm của chị ra sao?

Thái Thanh: Khi mà tôi với anh Lê Quỳnh chia tay thì tôi còn trẻ lắm. Như thế các anh hiểu là có nhiều người đàn ông theo đuổi tôi…

Nguyễn Đắc Điều: Vậy chị chấm ai?

Thái Thanh: Đôi ba người… Gọi là bạn… Bạn trai… Nhà ai nấy ở mà. Đi chơi với nhau thì có chứ lấy làm chồng thì không.

– Tôi có nghe dư luận về chị và nhà văn Mai Thảo.

– Vâng. Tôi với anh Mai Thảo thân lắm.

– Hai người có liên hệ tình cảm gì không?

Thái Thanh: Có liên hệ tình cảm. Nhưng khi mà tôi còn ở với chồng… và dù bỏ chồng rồi thì… anh Mai Thảo anh ấy rất quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi, tôi cổ lỗ sĩ lắm, các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau. Cho nên tôi và anh Mai Thảo không có ăn ở với nhau.

– Cuốn tiểu thuyết Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo, có phải anh ấy muốn nói về chị?

Thái Thanh: Tôi không biết, hay là anh ấy viết…

Hỏi: Chị có đọc cuốn sách ấy không?

Thái Thanh: Tôi là người đọc sách đọc báo nhiều nhưng giờ tôi không nhớ cuốn sách ấy câu chuyện nó như thế nào…

Hỏi: Chị nghĩ thế nào về anh Mai Thảo?

Thái Thanh: Vâng, tôi quý lắm. Tôi có cái đặc biệt là, ở với chồng, rồi không ở với chồng, tôi rất quý chồng. Chơi với bạn, như với anh Mai Thảo và vài người bạn dù sau này không chơi nữa, cũng vẫn quý nhau. Có lẽ những người đáng quý tôi đều được gặp.

Tôi chuyển đề tài để ra khỏi những ngày tháng mà chị muốn giữ riêng cho chị. Tôi hỏi chị sau khi miền Nam sụp đổ, chị có đi hát không thì chị trả lời rất nhanh: “Không. Chắc chắn là không”.

Hỏi: Việt cộng nó có đến mời chị hát không?

Thái Thanh: Có. Họ có mời vào đoàn hát này đoàn hát nọ nhưng tôi từ chối. Mà phải từ chối khéo chứ lôi thôi là nó đưa mình vào tù ngay. Tôi nói với họ rằng tôi chưa thể đi hát lúc này vì các con tôi chúng nó đã di tản nên tôi nhớ con lắm.

Nguyễn Đắc Điều: Vậy mà nó để yên cho chị?

Thái Thanh: Thì à… tôi không biết cái kiểu để yên và không để yên của người cộng sản như thế nào nhưng mà tôi chỉ biết tôi ở nhà của mẹ tôi ở tầng lầu trên cùng bỗng tự dưng không có nước máy lên nữa. Tôi đi hỏi thì họ trả lời là: “Nước yếu”. Tôi nói: “Tại sao thời không có cộng sản thì nước lại mạnh?”. Nói thì nói chứ từ đó là tôi phải đi xách nước lên hai ba lầu rã cả cánh tay đấy. Lúc đó tôi cũng năm mươi tuổi rồi chứ trẻ gì đâu. Nói là xách dưới nhà nhưng thật ra là xách nước từ bên kia đường, rồi leo bao nhiêu là bậc thang nên đổ toẹt hết cả. Lúc bấy giờ tôi buồn lắm. Tôi tự an ủi mình rằng mình buồn khổ là vì mình không có nước.

Hỏi : Chị có buôn bán làm ăn gì để kiếm sống không?

Thái Thanh: Anh hỏi về “Kinh tế” đó hả? Thì tôi đã có trời thương. Ngày xưa, thời mà Việt cộng chưa vào, đi hát có tiền, mình hay sắm xoàn đeo. Nên tháng này hết tiền ăn thì mình “ra” một cái nhẫn. Mà cứ mỗi lần “ra” một cái nhẫn mình cứ tưởng rằng ăn được lâu lắm mới phải bán cái nhẫn khác. Sự thực không phải như thế đâu… Rất là nhanh. Lại phải bán cái nhẫn nữa… Rồi thì các đồ dùng trong nhà như ti vi. Khi mà Việt cộng chưa vào, mỗi phòng mình để một cái. Cứ bán đồ mà ăn cho đến lúc cháu trai đầu lòng là Lê Xuân Việt, di tản với bố hồi 1975, cháu đi làm lấy tiền gửi về cho mẹ.

Phạm Đình Chương – Thái Thanh

Tôi ngắt lời chị Thái Thanh: “Hồi ở đảo Bidong bên Mã Lai, anh Hoài Bắc có nói với tôi là anh ấy được chị cho vàng để đóng tiền tàu vượt biên”. Chị hơi nhăn trán suy nghĩ rồi gật gật:

– Có. Có. Tôi có đưa cho anh ấy một cái nhẫn. Mình nói “anh cầm cái nhẫn này”…

Hỏi : Sao chị không vượt biên cùng chuyến với vợ chồng Hoài Bắc?

Thái Thanh: Tại tôi còn phải trông mẹ tôi.

Tôi hỏi: Chị nghĩ gì về chế độ cộng sản?

Thái Thanh: Tôi là một nghệ sĩ, tôi không có sự suy nghĩ như một người làm chính trị. Nhưng mà tôi chỉ hiểu có một điều là tôi không thích hợp được với chế độ cộng sản. Thái độ này của tôi một phần lớn là tôi nhìn vào những anh đi học tập cải tạo. Những người cộng sản đã đối xử với những anh em cải tạo phải nói là quá dã man.

Câu chuyện làm tôi nhớ lại hồi chúng tôi vượt biên, mỗi người một hoàn cảnh nhưng cùng trôi dạt vào đảo Bidong ở miền Bắc Mã Lai. Tôi tới sớm, vào thời đảo chưa có cơ sở gì cả. Con tàu chở gia đình tôi mang số hiệu TC 2763, xuất phát từ Bến Tre, theo diện người Hoa, tới đảo ngày 16 tháng 10 năm 1978.

Ngày đầu tiên ở đảo, chúng tôi ngủ ngay ngoài bãi biển, dưới gốc những cây dừa cao lêu đêu, mang trên ngọn chùm trái vừa xanh vừa khô. Buổi tối, nước biển dâng cao, quét gần tới nơi chúng tôi nằm. Những ngày sau, chúng tôi theo bước những người tới trước, phát quang một khoảnh đất nhỏ, chặt cây rừng làm túp lều đụt mưa trú nắng. Dần đần, tàu vượt biên tới hòn đảo hoang không tới hai cây số vuông này ngày một nhiều, nâng số dân tỵ nạn có lúc lên tới 35,000 người chen chúc nhau và sống chung với ruồi. Giới văn nghệ sĩ tới đây có ca sĩ Thanh Tuyền, Kim Tuyến, Băng Châu, Hùng Cường, Nguyễn Đức Quang, nhà văn Trần Hoài Thư, nhà báo Duy Sinh, nhà báo Nguyễn Ang Ca…

Một hôm chúng tôi nghe tin Hoài Bắc tới. Nguyễn Đức Quang và tôi vội đi kiếm. Theo sự chỉ dẫn, hai chúng tôi đã tìm thấy Hoài Bắc trong một túp lều ny lông nhỏ xíu. Những ngày đói khát trên biển khiến Hoài Bắc đã gầy ốm còn thêm xương xẩu, râu ria lởm chởm trông còn thua cả lúc ông Gandhi tuyệt thực chống đế quốc Anh. Thấy một cô gái trẻ đẹp bên Hoài Bắc, chúng tôi cứ tưởng con gái anh nên gọi bằng cô ấy bằng “cháu” và thấy Hoài Bắc không nói gì thì lại càng yên chí là con của anh ấy thật. Mãi cả tháng sau, tình cờ nghe cô gái gọi Hoài Bắc bằng “anh”, chúng tôi mới tự hiểu rằng, cô Liên trẻ đẹp ấy là bà Hoài Bắc.

Nghe Hoài Bắc nói hai vợ chồng anh không có quần áo, tôi đã tặng anh một chiếc quần. Sau này anh cho biết chị Liên đã cắt chiếc quần này làm hai. Phần trên thì chị mặc, còn hai ống thì chị may túm lại thành một chiếc quần khác cho anh. Khi tôi có danh sách rời đảo đi Mỹ, Hoài Bắc nhờ tôi đi mượn cho anh ít tiền. Tôi đã kiếm cho anh một cây vàng. Mấy tháng sau, anh chị tới Mỹ, tạm trú ở nhà anh Hoài Trung ở thành phố Pasadena, tôi đã được điện thoại anh gọi. Và khi vợ chồng tôi tới thăm, anh Hoài Bắc đã có một cây vàng đưa cho tôi.

Tôi chợt nghe tiếng Nguyễn Đắc Điều say mê hỏi chuyện Thái Thanh: “Thưa chị, Phạm Duy có ảnh hưởng như thế nào với tiếng hát của chị?”. Ánh mắt Thái Thanh như bừng sáng lên, giọng chị reo vui những âm thanh như tiếng của những hòn bi rơi trên sân gạch bát tràng thời thơ ấu: “Có những lần anh Phạm Duy mới sáng tác được hai ba câu của một bài ca đã gọi tôi: “Em, em Thanh, hát thử cho anh nghe cái câu này”. Thế thì có nghĩa là bài của ông Phạm Duy chưa xong, Thái Thanh đã hát rồi.

Nguyễn Đắc Điều: Như vậy là…

Thái Thanh: Vâng tôi hiểu ý các anh. Tôi không nghĩ là anh Phạm Duy sửa đổi nhạc của anh ấy vì tiếng hát của tôi đâu. Tôi chỉ nghĩ là có nhạc Phạm Duy thì có tiếng hát Thái Thanh như thế này và có tiếng hát Thái Thanh như thế này thì nhạc Phạm Duy mới…

Nguyễn Đắc Điều đỡ lời :… mới bay lên cao hơn.

Tôi hỏi: Chị có nhớ ai là người đặt ra câu “Tiếng hát Thái Thanh vượt thời gian”?

Thái Thanh: Một nhà sản xuất băng nhạc ở Sài gòn thời trước, anh ạ. Họ thâu tiếng hát của tôi nguyên một cái tape rồi họ nói với tôi: “Chị Thái Thanh, tôi muốn quảng cáo cuốn tape này với câu Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian, có được không, thì tôi trả lời tùy ý ông bà.

– Thì đúng là tiếng hát Thái Thanh vượt thời gian thật.

Thái Thanh: Thưa anh là thế này, tôi hát từ năm 16 tuổi, bây giờ tôi gần bẩy mươi mà vẫn hát, nghĩa là hát cả cuộc đời rồi. Nếu tôi cứ hát mà ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi thì không có tiếng hát vượt thời gian đâu. Nhưng tôi biết khán giả yêu mến tiếng hát của tôi. Tôi được yêu như vậy, được yêu từ thập niên 1950, rồi 1960, tới nay cũng vẫn được yêu, phải không anh?

Nguyễn Đắc Điều: Tôi nhớ tổ chức Ủy ban Cứu Nguy Người Vượt Biển mới đây đã tặng chị tấm plaque ghi rằng “Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian và không gian”.

Thái Thanh cười: Vâng, ý nói là tôi vượt không gian từ Việt Nam sang Mỹ để tiếp tục hát cho đồng bào nghe..

Nguyễn Đắc Điều: Hiện ở hải ngoại, người ta vẫn bán băng có những bài hát của chị. Chị có được các nhà sản xuất hỏi trước hay được trả tiền không?

Thái Thanh: Không. Thứ nhất là tôi không sản xuất băng nhạc, dù là giọng ca của tôi. Thứ hai là những bài hát ấy là tôi đã lãnh thù lao của những nhà sản xuất trước đây rồi. Mình làm ca sĩ, khi thâu xong bài hát, họ trả đủ thù lao là mình không còn có quyền gì với bài hát đó nữa.

Hỏi: Chị có nhớ đã thâu băng thâu dĩa bao nhiều bài nhạc không?

Thái Thanh: Không thể nào nhớ được. Chỉ biết là nhiều lắm. Nói chung là bao nhiêu bài của Phạm Duy, của Phạm Đình Chương, hai ông anh có bao nhiêu bài thì cô em này hát hết.

Hỏi: Chị có thể cho biết chị thích loại nhạc nào nhất?

Thái Thanh: Mười bài “Đạo Ca” của Phạm Duy.

– Phạm Duy còn mười bài “Tục Ca”.

– Không, tôi không hát mười bài này.

– Chị nghĩ thế nào về Tục Ca?

Thái Thanh nhún vai cười: Tôi có nghe anh Phạm Duy hát cho nghe vài lần nhưng mà tôi không hát. Tục là không có hát.

– Còn Tâm Ca, Dân Ca… nữa. Chị thấy Phạm Duy thành công ở loại nhạc nào?

Thái Thanh: Mấy loại nhạc ấy, cả Tình Ca nữa, Phạm Duy đều thành công cả. Nhạc của ông ấy loại nào ra loại ấy mới tài chứ. Nhưng giờ thì tôi thích nhất là Đạo Ca.

Thái Thanh bước tới chiếc máy, bật lên. Băng Đạo Ca đã có sẵn, bung ra gian phòng êm ả những nốt nhạc thanh thoát. Giọng Thái Thanh vút lên như tiếng chuông ngân từ một ngôi chùa cổ nơi rừng núi, rồi bay theo gió, quyện vào những làn khói trong buổi chiều tà.. Thái Thanh ngồi nghe giọng mình hát mà cũng như say như đắm. Tôi hiểu rằng những âm thanh của giọng ca Thái Thanh với mười bài Đạo Ca này đã ru chị ngủ trong những đêm đơn côi chợt nhớ ánh đèn sân khấu, và trong những lúc ngồi một mình trong căn phòng hẹp này mà nhớ những bước viễn du rộn rã những tràng pháo tay khen ngợi.

Hết một bài ca, chị tắt máy, trở lại bàn ngồi bên chúng tôi.

Tôi hỏi chị: “Đời ca hát đã để lại cho chị nhiều kỷ niệm lắm nhỉ?”. Chị gật đầu : Vâng, tất nhiên rồi. Nửa thế kỷ mà qua đi nhanh chóng quá, phải không các anh. Tôi còn nhớ ngày nào, hồi ở hậu phương, mới mười mấy tuổi đầu, được các anh các chị cho lên sân khấu trong một buổi trình diễn ngoài trời. Nay thì chị Thái Hằng mất rồi. Anh Hoài Bắc mất rồi. Anh Hoài Trung cũng mất rồi… Anh em chúng tôi đi trình diễn chung với nhau, vui lắm anh. Chỉ buồn là đêm hát nào mà gặp trời mưa lớn, khán giả không tới đông…

Nguyễn Đắc Điều : Tôi được biết chị lần đầu tiên ở Hà Nội khi đi xem Đoàn Gió Nam của chị từ Sài Gòn ra hát. Đoàn Gió Nam hát ba buổi, tôi tuy còn bé nhưng cũng đi xem cả ba buổi…

Thái Thanh: Anh làm tôi nhớ lại hồi đó. Ngoài Ban Hợp ca Thăng Long, đoàn còn có nhiều anh em nghệ sĩ khác như anh Trần Văn Trạch. Anh Trạch trình diễn hài hước, làm trò được khán giả ái mộ lắm. Sau này chúng tôi làm gì thì anh ấy cũng hợp tác cả. Thành ra khi nghe tin anh ấy mất, chúng tôi xúc động lắm… Chắc các anh còn nhớ báo chí lúc đó có viết là trước khi anh Trạch nhắm mắt, anh ấy có tiết lộ là anh ấy thương tôi lắm, nhưng anh ấy giữ kín trong lòng…

Nguyễn Đắc Điều: Nhưng chị có biết là anh ấy thương chị không?

Thái Thanh: Dạ… anh ấy không nói với tôi chuyện ấy. Đến lúc anh ấy mất thì báo chí mới loan tin là anh ấy nói như thế. Anh ấy là một người kín đáo. Nên bây giờ các anh hỏi tôi vào cái thời chúng tôi làm việc chung, tôi có biết anh Trạch thương tôi không thì tôi phải trả lời là tôi không biết. Con người đó thật là kín đáo và tự trọng. Anh ấy không có nói thẳng ra…

Nguyễn Đắc Điều: Thế sau khi nghe được tâm sự của anh Trạch, chị nghĩ thế nào?

Thái Thanh: Tôi rớt nước mắt chứ. Là vì ngoài chuyện biết người ấy thương mình, anh ấy còn là bạn thân, một đồng nghiệp nữa… Tôi rất quí trọng anh ấy. Khi trình diễn những màn diễu tôi nghĩ đâu có người nào bằng anh Trạch. Anh ấy đã đi nhiều nước trình diễn, nói được nhiều thứ tiếng. Anh ấy có kiến thức và có tài lắm… nên khán giả rất là thích.

Nguyễn Đắc Điều hỏi: Thưa chị, khi chị sang đây thì cái không khí trình diễn ở hải ngoại và ở trong nước, nó khác nhau thế nào?

Thái Thanh: Có khác nhau anh ạ. Khán giả hải ngoại là những người đã bỏ quê hương, đang thương nhớ họ hàng đất nước, nên lúc hát hay rớt nước mắt lắm, anh ạ. Từ trên sân khấu tôi nhìn xuống, cũng khán giả đồng bào tóc đen như thế này, và cũng bài hát này, hồi ở quê nhà mình đã hát cho khán giả nghe, bây giờ sang đất Mỹ, khán giả ngồi nghe tôi hát cũng hay khóc nữa. Xúc động lắm.

Tôi hỏi: Xin trở lại chuyện cũ, chị nghĩ thế nào về nền âm nhạc của cộng sản?

Thái Thanh: Tôi không để ý đến âm nhạc và ngay cả ca sĩ của họ là vì tôi không thích cộng sản nên tôi không thèm ngó tới cái âm nhạc của họ, không thích ca sĩ, không thích sách báo, bài viết, văn thơ của cộng sản. Như anh đã biết đấy, cái gì cũng viết về đảng về Bác, chưa đọc đã biết, chưa nghe đã biết, thì đọc thì nghe làm quái gì.

– Hồi ở bên nhà, chị có nghe đài phát thanh, xem truyền hình cộng sản không?

Thái Thanh: Không. Khi sang đây, có bà bạn đưa cho tôi băng nhạc tiền chiến do Lê Dung hát, nói rằng: “Cô này hát có vẻ bắt chước chị lắm, có vẻ giống Thái Thanh lắm, chị xem thử xem thế nào?”. Người thì nói thế này, người thì nói thế kia. Nhưng nhìn chung thì nhiều người hải ngoại lại thích mua băng của ca sĩ trong nước, rồi khen ca sĩ trong nước. Nhưng có người lại nói với tôi: “Ôi dào, chỉ mới nghe thì thấy là lạ, chứ nghe nhiều thì ai cũng thấy là ca sĩ trong nước không bằng ca sĩ hải ngoại đâu.

Tôi hỏi chị Thái Thanh: “Trong cuộc đời ca hát của chị, chị từng hát trên sân khấu, trong phòng thu âm, trong phòng thu hình, nơi nào khiến chị cảm hứng nhất?”

Thái Thanh trả lời không suy nghĩ: Mỗi nơi cái cảm hứng nó đều như nhau hết, anh ạ. Hát ở trong phòng thu thì khán giả của tôi không nhìn thấy tôi, chỉ nghe thấy tiếng hát của tôi, nhưng tôi cũng có cảm tưởng tôi nhìn thấy khán giả đang vui vẻ hay đang trầm lặng theo bài hát của tôi. Vì thế tôi cũng hát như đang đứng trên sân khấu vậy. Chỉ khác là khi hát trong phòng thu, tôi thường nhắm mắt mà hát cho thật tập trung, kiểu thần giao cách cảm. Còn khi hát ở sân khấu, mình nhìn thấy khán giả mà, nên mình diễn tả bằng tay, bằng cử điệu và bằng mắt bằng miệng nữa… Nhưng cảm giác thì mạnh như nhau.

Hỏi: Chị có giọng ca thiên phú, nhưng chắc là chị cũng phải có bí quyết gì để giữ gìn chứ?

Thái Thanh cười: Nhiều người hỏi tôi câu đó đấy, các anh ạ. Họ hỏi tôi làm cách nào để giọng tôi hay lâu như vậy. Tôi trả lời là tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chỉ vì yêu khán giả thôi. Vì yêu khán giả quá nên mỗi lần hát là mình phải tâm niệm mình cố hát hay cho những người yêu mình vừa lòng, để giữ được lòng yêu mến đó. Muốn giữ được giọng nên tôi không uống rượu, rất là không thích uống rượu từ trước chứ không phải bây giờ vì tôi tu đâu. Điều kiện để tu là không được uống rượu, điều đó đối với tôi chẳng có khó khăn gì.

Tôi nhớ hình như ca sĩ Khánh Ly, có lần người ta hỏi cô là Thái Thanh ăn kiêng cữ thế nào mà chị hát hay thế. Cô Khánh Ly cô ấy mới chọc người ta. Cô ấy bảo: Tôi ở gần Thái Thanh, tôi thấy buổi ăn sáng, bà ấy không nhai đâu, bà ấy nuốt. Cơm tẻ hay xôi gì cũng không nhai. Nuốt để cho nó sạch trong cổ họng. Thế là có cô tin lời Khánh Ly, về ăn cũng không nhai, cứ nuốt thôi. Nuốt một ít lâu rồi hỏi: Tôi đã nuốt, không nhai cơm, mà sao giọng tôi chưa hay? Khánh Ly trả lời: Cứ nuốt nữa đi….

Nguyễn Đắc Điều hỏi: Anh Phạm Duy có giúp gì cho giọng hát của chị không?

Thái Thanh: Người luyện tôi hát là anh Hoài Bắc. Anh ấy mua sách báo âm nhạc của Pháp bầy bán ở Sài gòn hoặc đặt mua từ Paris, nói với tôi: “Em ạ, em muốn hát hay thì em phải đọc sách này, và anh sẽ chỉ dạy cho em. Nếu em hát có phương pháp như trong sách thì em còn hát hay hơn thế nữa chứ không phải chỉ thế này thôi đâu. Anh tôi dạy tôi từ nốt nhạc đồ rê mi fa sol la si đô.. Vừa học vừa hát. Sau đó anh tôi lại nói: “Em hát được thì em phải viết được. Tôi hỏi : Thế anh nói em hát được thì viết được là như thế nào? Anh ấy bảo, ví như bài Do majeur thế thì em hát “Phố núi cao…” nhé thì em hát đồ, mi, mi đồ, đồ mi sol sol đồ đồ đồ mi sol, sol fa fa fa fa sol đồ… Em phải tập như thế. Cái đó nó luyện luôn giọng và nó làm cho mình học được luôn… Thành ra từ đó, tôi hát cái gì là tôi viết ra… Vì vậy bây giờ tôi mới dậy hát mười mấy năm nay. Mình phải có trình độ của mình thế nào chứ.

Hỏi: Chị dậy hát đã nhiều năm nhưng có đào tạo được ca sĩ nào không?

Thái Thanh: Khi tôi quyết định mở lớp dạy hát, ban đầu tôi chỉ nghĩ là chỉ có những học trò nhỏ tuổi. Nhưng sự thực không phải vậy. Lớp học của tôi người lớn nhiều hơn, và có cả những người già nữa đấy. Người già nhiều lắm. Bác sĩ và bà bác sĩ, luật sư và bà luật sư… Thành ra học hát không phải để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp đâu mà để tạo một thú chơi tao nhã, lành mạnh với nhau. Những người này gặp nhau rồi mở ra cái gọi là “chiêu hiền quán” đông tới mấy chục người, vui lắm. Họ mở ra những cuộc thi hát nữa…

Câu chuyện dạy ca hát cho những người bạn khiến Thái Thanh luôn luôn cười thật sảng khoái. Tôi khen bàn tay chị đẹp, chị giơ bàn tay ra trước mặt, xoay qua xoay lại như tự tán thưởng làn da trắng mát và săn cứng như miếng thạch. Chị nói : “Nhiều người khen bàn tay tôi đẹp”. Tôi hỏi: “Ban nãy chị nói chị đã bẩy chục?” Thái Thanh gật đầu: “Vâng. Tôi sinh năm 1934 tức tuổi Tuất mà”.

Hỏi : Chị sanh ban ngày hay ban đêm?

Thái Thanh: Buổi sáng anh ạ.

Hỏi : Chị có tin tử vi không?

Thái Thanh: Rất tin tử vi. Nhưng phải gặp được ông thầy giỏi mới trúng.

Nguyễn Đắc Điều: Chị thấy tử vi trúng với cuộc đời chị?

Thái Thanh: Trúng nhiều lắm.

Nghe chị Thái Thanh nói thế, tôi tính hỏi chị vậy thì tử vi nói những ngày về già của chị ra sao thì Nguyễn Đắc Điều đã lên tiếng trước: “Đồng ý với chị là phải luyện giọng, nhưng giọng chị là thiên phú, thiên tài…”.

Thái Thanh: Trời Phật lúc nào cũng cho tất cả mọi người cái tài chứ không phải cho một mình Thái Thanh đâu. Khi con người từ lòng mẹ chui ra, ai mà không oe oe, phải không anh? Vấn đề là khi có cái thiên tài đó trong mình rồi thì mình phải phát triển và bảo vệ cái thiên tài đó ra làm sao chứ. Tức là phải tập luyện. Tức là mình phải yêu cái thiên tài đang nằm sẵn trong bản thân mình. Đúng không? Tôi suy nghĩ như vậy đó.

Thấy đã ngồi quá lâu, hai chúng tôi hỏi nhiều chuyện nên tôi tính kết thúc buổi thăm viếng bằng câu hỏi : “Chị đã được nhiều thế hệ người Việt yêu mến, vậy chị nghĩ thế nào về khán giả của chị?”. Thái Thanh trầm ngâm một lát rồi chậm rãi :

– Tôi đã nghe nhiều người nghe tôi hát xong thì hỏi Thái Thanh yêu cái gì nhất trong đời Thái Thanh. Tôi trả lời là tôi yêu âm nhạc. Rõ ràng là phải yêu âm nhạc lắm thì tôi mới hát cả cuộc đời tôi chứ, phải không. Thế nhưng khán giả còn hỏi thêm: Vậy thì ngoài âm nhạc, Thái Thanh yêu cái gì nữa? Tôi trả lời rằng, cái này tôi đã có trong tôi từ lâu nhưng ngày nay thì nó đã lớn rồi, để tôi có thể nói là tôi yêu cuộc sống tu hành. Với tuổi này thì tu hành đối với tôi quan trọng nhất. Tôi vẫn suy nghĩ một điều, không biết có đúng không, là chúng ta phải gõ thì cánh cửa mới mở. Phải có cầu nguyện, phải xin thì bên trong cửa mới cho chúng ta. Thành ra, khi tôi giác ngộ điều đó, tôi hay ngồi trước tượng Phật, và tôi cầu xin. Nhưng tôi không cầu xin cho riêng tôi đâu. Tôi không cầu xin cái gì cho tôi cả. Tôi cầu xin cho tất cả chúng sinh được mọi điều may mắn, được hưởng thanh bình, nhất là không có chiến tranh, không có cảnh chém giết nhau.

Tôi khen chị và khuyên chị nên giữ gìn sức khoẻ, thì chị trả lời: “Cái thân thể của mình nó ảnh hưởng vào đầu óc của mình nên phải tập luyện cho thân thể khoẻ mạnh chứ. Dạo này tôi thích ăn cơm chay…”. Tôi hỏi tiếp:

– Chị có tính về quê hương không?

Thái Thanh ngậm ngùi:

– Quê hương, nơi mình sinh ra, rồi là nơi chứng kiến từng bước đi đầu đời của mình thì ai chẳng muốn về. Nhưng sau năm 1975, tôi dù ở Sài gòn cũng chưa một lần về miền Bắc, và nay, ở Mỹ, tôi chưa bao giờ tính chuyện về Việt Nam. Gia đình của tôi đã ở đây hết. Ông bà, bố mẹ thì mất cả rồi. Ở Việt Nam mình không còn ai để phải về cả…

Câu nói của chị Thái Thanh ám ảnh chúng tôi trên đoạn đường về. Tôi biết khi chúng tôi từ biệt thì người nữ ca sĩ ở tuổi xế chiều này sẽ ngồi một mình trước pho tượng Phật. Có thể chị sẽ mở cuốn băng Mười Bài Đạo Ca. Và cầu nguyện.

Ban nãy chị tâm sự rằng chị luôn luôn cầu nguyện cho mọi người trước khi cầu nguyện cho bản thân chị. Ôi cao cả thay tấm lòng của người nghệ sĩ tài hoa ấy.

Đời tôi đã mang nợ chị quá nhiều, vì tiếng hát của chị đã ảnh hưởng vào tâm tư tình cảm tôi khi tôi đang bước trên đường tình cũng như lúc tôi ngồi bó gối trong chiếc xe tù của cộng sản chuyển trại, chợt nghe đâu đó giọng hát ngọt ngào của chị. Món nợ ấy chưa trả nay lại chồng thêm một món nợ mới mà tôi vừa phát giác, đó là lời cầu nguyện của chị cho mọi người trong đó có tôi, được sống thanh bình, hạnh phúc.

Đỗ Tiến Đức

Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 29 Aug 2025

Phần 3.

Chương 11

Che dấu Quốc hội, nhân dân Hoa kỳ

Sau bao nhiêu thủ đoạn của Kissinger, vào lúc sắp hạ màn, lại thêm một chuyện khó hiểu: nhân dân Hoa kỳ không được nghe những lời cầu cứu của nhân dân Miền Nam, vì đã không có dấu vết gì là hai lá thư của Quốc hội VNCH cầu cứu Quốc hội Hoa kỳ đã tới nơi!

Và như vậy, chẳng những Quốc hội Hoa kỳ đã bị hoả mù hoàn toàn, không hay biết gì đến những cam kết của Tổng thống Nixon, Ford, họ lại không có cơ hội dù chỉ là để nghe lời cuối cùng do đại diện hai mươi triệu nhân dân Miền Nam cầu cứu.

Trong cuộc họp ngày 22 tháng 3 tại Dinh Độc Lập với Chủ tịch Thượng Viện, ông Trần Văn Lắm, và Chủ tịch Hạ Viện, ông Nguyễn Bá Cẩn, Ngoại trưởng Bắc và tôi, sau khi nghe Tổng thống Thiệu giải thích vấn gọn về tình hình và những việc phải làm, ông Lắm đề nghị là Quốc hội Việt Nam  phải lên tiếng cầu cứu nhân dân Hoa kỳ qua Quốc hội Mỹ. ông Thiệu rất đồng ý: “Nhân dân Hoa kỳ phải có cơ hội nghe mình nói sự thật. Vấn đề là dưới hình thức nào?”

Sau khi bàn bạc mọi khía cạnh, ông Lắm đi tới kết luận là Quốc hội VNCH nên viết ba tối hậu thư cầu cứu Mỹ: một cho Tổng thống Ford, một cho ông Nelson Rockefeller, Chủ tịch Thượng Viện (vì ông ta là Phó Tổng thống, nên theo hiến pháp, cũng là Chủ tịch Thượng Viện), và một cho ông Carl Albert, Chủ tịch Hạ Viện.

Là người bình thường rất điềm đạm, vui vẻ, ân cần, ít để lộ xúc cảm riêng tư, ông Lắm hôm ấy cũng hết sức xúc động. Ông vừa đi Washington cầu viện tại Quốc hội Mỹ về được vài tuần và đã báo cáo dứt khoát là không những sẽ không có khoản 300 triệu mà cả quân viện cũng có thể bị cắt.

Ông kể lại những gì ông đã được nghe vào lúc Hoà Đàm Paris sắp kết thúc. Vì ông là người sẽ phải ký vào Hiệp định cùng với Henry Kissinger, Kissinger đã cố thuyết phục ông. Trong lúc chỉ có hai người ngồi họp, một cách trịnh trọng ông Kissinger đã lặp đi lặp lại với ông Lắm “những cam kết hết sức chặt chẽ”. Ông phàn nàn: “Không thể tưởng tượng được! Làm sao một đại cường quốc như Hoa kỳ mà lại có thể xử sự như vậy?”. Rồi bằng giọng xúc động, và nghiêm nghị, ông kể ra năm điều cam kết Kissinger đã nói riêng với ông, trước khi ông đại diện VNCH ký vào bản Hiệp định:

thứ nhất, Kissinger đã nói với tôi rằng mười lăm ngày sau khi ký kết thoả ước, Bắc Việt sẽ ngưng xâm nhập miền Nam từ ngả Lào, như vậy là chấm dứt được việc tăng cường lực lượng của chúng tại miền Nam. Vậy mà khoản này đã bị vi phạm trắng trợn, một cách có hệ thống;

thứ hai, ông ta đã bảo đảm rằng Nga Xô và Trung Cộng sẽ dùng ảnh hưởng của họ để bắt Bắc Việt phải tôn trọng Hiệp định;

thứ ba, ông ta thề sống, thề chết là nếu Hiệp định bị vi phạm, Hoa kỳ sẽ đáp ứng quyết liệt, với toàn lực chống Bắc Việt;

thứ tư, khi thảo luận riêng tư, Kissinger đã hứa Hoa kỳ sẽ thi hành việc thay thế quân cụ theo tiêu chuẩn một-đổi-một như Hiệp định cho phép. Cũng theo hứa hẹn đó, Kissinger nói Hoa kỳ sẽ cung ứng quân viện đầy đủ để VNCH tự vệ, sử dụng quyền tự quyết và;

thứ năm, Kissinger nhắc lại Tổng thống Nixon đã cam kết sẽ viện trợ kinh tế đầy đủ để tái thiết”. Hiệp định Paris, như Kissinger đã thường nói với tôi và phái đoàn VNCH tại Paris, trong nhiều dịp, “Chỉ là một mảnh giấy; điều đáng kể là quyền lực của vị Tổng Thống Hoa Kỳ làm hậu thuẫn cho nó”.

Thấy ông Lắm tiết lộ như vậy tôi thầm nghĩ lại sao ngay tại buổi họp giữa Ngoại trưởng Lắm và Cố vấn Kissinger, lại không có những bước tiếp theo? Thường là sau các buổi họp quan trọng, có tính cách thương thuyết thì bắt buộc phải có Bản Ghi Nhớ. Bản này ghi lại những điểm chính, hai bên cùng ký tắt vào để làm bằng chứng, lưu vào hồ sơ. Giá như Ngoại trưởng Lắm có được một Bản Ghi Nhớ (tháng 1, 1973) giữa ông và Kissinger như vậy thì trong những chuyến đi cầu viện tại Washington năm 1974 và 1975 (với tư cách là Chủ tịch Thượng Viện VNCH) ông đã có được những lý do chính đáng để tiến bộ.

Quốc hội VNCH cầu cứu Tổng Thống Hoa Kỳ

Giờ đây thì đã muộn, nhưng năm điểm cam kết Ngoại trưởng Lắm đưa ra đã được dùng làm nội dung chủ yếu của bức thư duy nhất trong lịch sử do Quốc hội VNCH gửi cho Tổng Thống Hoa Kỳ. Lời lẽ thống thiết, bức thư còn dựa trên căn bản tình nghĩa của một Đồng minh đã cùng chiến đấu với Hoa kỳ trong hai thập niên. Thêm vào đó, nó còn viện dẫn tính cách quốc tế của Hiệp định Paris: là đã được một Hội nghị quốc tế (tiếp theo Hiệp định) xác nhận giá trị của nó.

Về điểm này, suy nghĩ lại, tôi thấy hai ông Nixon-Kissinger rất khôn. Thay vì yêu cầu Quốc hội Mỹ phê chuẩn Hiệp định Paris và như vậy có tính cách ràng buộc đối với Mỹ, họ lại tổ chức một Hội nghị Quốc tế (có Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tới dự) để xác nhận “tính cách quốc tế” của nó. Như vậy là Hiệp định đã có giá trị với quốc tế, VNCH cứ an tâm.

Lá thư gửi Tổng thống Ford như sau:

Việt Nam  Cộng Hòa

Thượng Viện

Sài gòn, Ngày 24 tháng 3, 1975

Kính gửi

Tổng thống Gerald Ford

Toà Bạch Cung

Thưa Tổng thống:

Đại diện cho Lưỡng Viện Quốc hội nước Việt Nam  Cộng Hòa, chúng tôi mạnh bạo viết cho Ngài thay mặt hai mươi triệu nhân dân Miền Nam, kể cả trên một nửa triệu người di cư mới đây vì những tấn công của Bắc Việt.

Chúng tôi cũng đang viết cho Ngài với tư cách là một Đồng minh vì cuộc chiến này đã được khởi sự, kéo dài và nuôi dưỡng – không phải do Hoa kỳ hay Miền Nam VN- đã ràng buộc vận mệnh của hai nước chúng ta trong hai thập niên vừa qua.

“Chúng ta đã cùng nhau chấp nhận thử thách của cuộc chiến, nên giờ đây cũng chỉ là chuyện dĩ nhiên mà chúng ta cố gắng giải quyết vấn đề cùng với nhau. Cùng nhau chúng ta đã tới hoà đàm Paris, và cùng nhau chúng ta đã ký kết bản Hiệp định đình chiến vãn hồi hoà bình tại Việt Nam …

“Hiệp định này đã được một Hội nghị quốc tế minh định rõ ràng những bảo đảm của tất cả các cường quốc về giá trị pháp lý của nó, bằng một Đạo luật quốc tế.

Vì tin tưởng vào đó mà chúng tôi, ngành Lập pháp của VNCH đã thúc đẩy Tổng thống chúng tôi ký kết Hiệp định Paris, giúp mang lại kết thúc danh dự cho việc can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa kỳ vào Việt Nam …

Vào thời điểm đó, chúng tôi đã được Hoa kỳ cam kết rằng… (đoạn này trong lá thư đã liệt kê năm điểm như ông Lắm đã trình bày ở trên)

“Bởi vậy, giờ đây với tính cách khẩn cấp… chúng tôi trân trọng yêu cầu Ngài thi hành bất cứ biện pháp nào cần thiết để:

1. Vãn hồi tình trạng ban đầu của Hiệp định Paris, đó là đẩy lui lực lượng Cộng sản trở lại những địa điểm của họ như vào ngày 27 tháng 1, 1973;

2. Cung cấp cho chúng tôi những phương tiện khẩn cấp để đẩy lui cuộc tấn công hiện nay.

“Để kết thúc, chúng tôi xin cảm ơn Ngài về những yểm trợ mạnh mẽ Ngài đã dành cho cuộc đấu tranh chung của chúng ta.

“Kính chúc Ngài luôn luôn thành công trong khi thi hành những trách nhiệm lớn lao của Ngài.

Trân trọng,

Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch Hạ Viện VNCH

Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện VNCH

Cầu cứu Quốc hội Hoa kỳ

Ngày hôm sau, cả hai Chủ tịch Thượng và Hạ Viện VNCH gửi thư cho lưỡng Viện Quốc hội Hoa kỳ. Lá thư được gửi qua ngả ngoại giao: từ Toà đại sứ Mỹ ở Sài gòn về Bộ Ngoại giao. Nội dung như sau:

Việt Nam Cộng Hòa

Thượng Viện

Sài gòn, ngày 25 tháng 3, 1975

Kính gửi

Ngài Nelson Rockefeller

Chủ tịch Thượng Viện Hoa kỳ

Washington D.C.

Hai tháng trước đây, chúng tôi đã có dịp được đề cập tới Ngài về hậu quả trầm trọng của việc cắt quá nhiều quân viện trong cuộc chiến đâu với kẻ thù chung của cả hai quốc gia…

“Trong hai thập niên qua, Hoa kỳ đã thuyết phục nhân dân Miền Nam, bằng lời nói và bằng việc làm, để họ đứng lên đương đầu với Cộng sản. Vì tin tưởng vào Hoa kỳ, họ đã đặt cả mạng sống của họ và của gia đình họ vào sự chân thành về những hứa hẹn của Hoa kỳ. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa rằng Cộng sản sẽ không tha thứ cho nhân dân chúng tôi vì đã chọn lựa đứng về phe Thế giới tự do…

“Vì vậy trong giờ phút nguy nan này, chúng tôi thấy cần phải lên tiếng một lần nữa để khiếu nại tới Quốc hội và Chính phủ Hoa kỳ để xin tôn trọng những cam kết với một Đồng minh.

“Chúng tôi xin long trọng nhắc lại nơi đây những gì Hoa kỳ đã hứa hẹn với chúng tôi vào lúc ký Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1, 1973 để mang được trên năm trăm tù binh về Mỹ.

(liệt kê năm điểm như ông Lắm trình bày ở trên đây)

Trước sự tấn công trực tiếp vào nền tảng của Hiệp định Paris cũng như vào căn bản của những hứa hẹn (liên hệ), và vào những cam kết của bốn Tổng Thống Hoa Kỳ, chúng tôi long trọng cầu cứu mong Ngài và Chánh phủ Hoa kỳ có những hành động tức khắc và mạnh mẽ để phục hồi Hiệp định Paris như đã ký kết ngày 27 tháng 1, 1973, đó là:

1. Đẩy lui quân đội Bắc Việt trở lại vị trí của họ như lúc ký Hiệp định; và

2. Kịp thời tiếp liệu cho chúng tôi tất cả những phương tiện cần thiết để tái lập cán cân lực lượng, cũng như để chúng tôi tự bảo vệ…

Thưa Ngài Chủ tịch, chúng tôi sẽ rất biết ơn để yêu cầu Ngài thông báo nội dung của bức thư này cho các quý vị nghị sĩ tại Thượng Viện Hoa kỳ.

Trân trọng,

Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch Hạ Viện VNCH

Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện VNCH

Và thư thứ hai, cùng một nội dung, được gửi cho Chủ tịch Hạ Viện, ông Carl Albert.

Trước văn bản cuối cùng như trên, một bản thảo đã được chuyển sang để ông Thiệu thêm ý kiến. Ông phê vào bản thảo (bằng bút chì) mấy điểm phản ảnh những gì ông suy nghĩ. Ông phê bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh những ý như sau:

– hậu quả của thiếu quân viện và tăng cường của CS: cán cân lực lượng cho thấy về khả năng lưu động và hoả lực, chỉ còn 40%;

– phải tái phối trí trước viễn ảnh Quốc hội không viện trợ nữa;

– phải phối trí không phải là bại trận, vì không thiếu ý chí chiến đấu,

+ Quảng Đức (dấu + có nghĩa là “tích cực”)”.

Ta có thể giải thích mấy điểm này như sau:

Điểm thứ nhất và thứ ba: ông biện hộ cho thất bại trên chiến trường;

Điểm thứ nhất và thứ hai cho ta thấy động lực làm ông đi tới quyết định “tái phối trí” (rút Pleiku);

Điểm thứ tư: Ông muốn nói tới chiến thắng ở Quảng Đức. Chứng tỏ Miền Nam không thiếu ý chí chiến đấu.

Chờ đợi Washington phản ứng

Chính phủ và Quốc hội VNCH chờ đợi từng giây phút tin tức về những lời cầu cứu cuối cùng của cả Hành pháp lẫn Lập pháp.

Ngày mồng 2 tháng 4, sau khi Đà Nẵng đã thất thủ, Tổng trưởng quốc phòng James Schlesinger (lúc đó chưa được xem những thư mật tôi nhờ Von Marbod chuyển cho ông) trong một cuộc họp báo, vẫn còn nói “tương đối ít có đánh nhau lớn” tại Việt Nam . Schlesinger đã muốn giảm thiểu tầm quan trọng của cuộc khủng hoảng. Thực ra ông đã tin rằng sau khi mất Đà Nẵng thì chuyện đã xong rồi, và mối quan tâm lớn của Hoa kỳ chỉ còn là làm sao di tản an toàn số 6000 người. Trước khi Weyand đi Sài gòn, Schlesinger đã dặn dò: Fred, nên thận trọng. Đừng hứa hẹn quá nhiều. Đừng để mình bị vướng vào cái quan niệm rằng mình sẽ đảo ngược ngọn triều. Triều nước đang xuống gần hết rồi”

1. Nói cách khác, Schlesinger và Morton Abramovitz, Phó Tổng trưởng quốc phòng đặc trách An ninh quốc tế đều tin rằng chiều hướng của cuộc chiến đã hoàn toàn bất lợi cho VNCH, và chẳng còn cách nào đảo ngược nó được nữa.

Ngày 5 tháng 4 thì đến lượt Kissinger. Mười ngày sau khi Tổng thống và Quốc hội VNCH cầu cứu, Kissinger họp báo về chuyện công tác của tướng Weyand. Ông hoàn toàn không nói gì tới bốn bức thư khẩn mà chỉ biện hộ cho việc cứu xét số tiền viện trợ quân sự 722 triệu do Weyand đề nghị. Thực ra, chỉ là một hành động chiến lược: Kissinger thừa biết Quốc hội sẽ khước từ khoản này, nhưng cứ đưa ra để còn đặt trách nhiệm cho Quốc hội về việc mất miền Nam.

Ngoài ra còn mục đích khác, mục đích phối lộ”, đó là để trấn an Miền Nam, giúp cho việc rút ra cho an toàn (xem Chương 13)

2. Ngày 6 tháng 4, trên chương trình truyền hình hàng tuần “Đối diện với Quốc dân” (“Face the Nation”), Schlesinger lại tuyên bố: “Thật rõ ràng là chữ đại tấn công là chữ có lẽ nên được để trong ngoặc kép. Những gì đã xảy ra chỉ là một sự suy sụp một phần nào của lực lượng Nam VN; vì thế đã rất ít có đánh nhau lớn kể từ trận đánh Ban Mê Thuộc, và chính trận này cũng đã là một ngoại lệ”.

Khi nghe vậy, tướng Homer Smith, Trưởng Phòng Tuỳ viên quốc phòng tại Sài gòn, bực mình đến độ ông đã đánh điện về Washington phủ nhận quan điểm của Schlesinger.

Smith nói: “Trái lại, hiện thời đang có đánh nhau lớn dọc theo vùng duyên hải và tại những khu vực chân đồi từ phía Nam Phú Bài cho tới Khánh Dương tại tỉnh Khánh Hoà”. Ông liệt kê những mặt trận đang diễn ra lúc đó rồi kết luận: “Trân trọng đề nghị Tham mưu trưởng Liên quân cho ông Tổng trưởng học thuộc những sự kiện này để (ông ta) có thể trình bày cho dân chúng Mỹ biết một cách chính xác những gì đã xảy ra. Hiện nay quả đang có diễn tiến một cuộc “đại tấn công”

3.Tổng trưởng quốc phòng giác ngộ

Ngày hôm sau, Von Marbod từ Palm Spring về Washington với tướng Weyand, đã tới ngay văn phòng Schlesinger để đưa cho Schlesinger xem mấy bức thư của Tổng thống Nixon.

Đọc xong, ông đã hết sức ngạc nhiên! Nhất là sau khi mới đây, không biết vì áp lực hay sao mà ông lại như cố tình giảm bớt cường độ khủng hoảng tại Miền Nam. Bất chợt, ông mới biết là chính ông Ford cũng đã bị hoả mù. Là Tổng trưởng quốc phòng của một Đại cường quốc, ông cảm thấy phần nào cũng có mặc cảm vì chính ông cũng đã bị bưng bít. Sau này ông đã bình luận: “Tôi tin rằng Tổng thống Ford đã bị lừa bịp về những lá thư này…”

 4. Dù là đã quá muộn, ông muốn Quốc hội Hoa kỳ phải biết việc này. Là viên chức cao cấp bên hành pháp, ông không thế trực tiếp thông báo cho Quốc hội. Vì vậy, ông đi qua ngả liên lạc cá nhân. Schlesinger khá thân cận với Thượng nghị sĩ Jackson và thường liên lạc với phụ tá của ông ta là Richard Perle.

Quốc hội và nhân dân Mỹ không hay biết?

Ngày 8 tháng Tư, tại Washington, Thượng nghị sĩ Henry Jackson (Dân chủ, Washington) công khai tố cáo đã có “những thoả ước mật” giữa Hoa kỳ và Việt Nam. Jackson nói ông đã được nguồn tin đáng tin cậy cho biết rằng “những thoả ước ấy bây giờ được tiết lộ là chính ngay cả Tổng thống cũng chỉ mới được nghe nói về chúng mấy hôm gần đây thôi”.

Đáp ứng lời tố cáo của Jackson, chính quyển Ford công khai phủ nhận là đã không hề có một mật ước nào hết. Toà Bạch Ốc bối rối, họp bàn cách đối phó. Phụ tá Báo chí Ron Nessen viết lại trong Hồi ký (1978):

Sau những cuộc bàn bạc rất lâu giữa các ông Ford, Kissinger, Scowcroft, Rumsfeld và tôi, tôi được phép xác nhận là Tổng thống Nixon và Tổng thống Thiệu có trao đổi thư tín riêng, nhưng phải nói là: những lời tuyên bố công khai hồi đó đã phản ảnh nội dung những liên lạc riêng tư ấy rồi”.

5. Henry Kissinger không chịu bình luận trực tiếp, nhưng cho phép một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao nhắc cho báo chí biết về một lời tuyên bố trước kia của ông ta nói rằng Hoa kỳ “không có cam kết theo luật pháp” nào hết và những nghĩa vụ của Hoa kỳ chỉ là “cam kết tinh thần”. Giới báo chí xôn xao về lời tố cáo của Jackson, nhưng không một ai đưa ra được việc trao đổi thư tín riêng với ông Thiệu.

Tuần báo TIME số ngày 21 tháng 4 còn làm ngay một nghiên cứu về “Ghi chép về những hứa hẹn đối với Sài gòn” (Records on Promises to Saigon”) và cũng chẳng tìm được gì đúng như những lời tố cáo của Jackson. Bài này trích một cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp định Paris.

Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đã được thoả thuận (với Miền Nam) không?

Kissinger: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.

Đúng là mánh khoé, quanh co: chỉ có “thư tín” thôi chứ đâu có sự “hiểu ngầm, thông cảm nào” (xem chương 2 về trường hợp Kissinger trả lời quanh co cho Bob Haldeman, Phụ tá Nixon).

Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện cũng yêu cầu Toà Bạch Ốc cho xem những thư tín Nixon – Thiệu, nhưng ông Ford phản đối. Ông viết cho Uỷ ban:

“Tôi đã duyệt lại hồ sơ liên lạc ngoại giao riêng tư. Vì lẽ chính sách và ý định chứa đựng trong các sự trao đổi này đã được công bố rồi, cho nên không có một điều bí mật nào phải dấu diếm Quốc hội hay dân chúng Mỹ cả”

6. Trong hồ sơ của Hội đồng an ninh Quốc gia, theo Nessen, tìm thấy có bẩy lá thư Nixon viết cho ông Thiệu. Vậy thì những lá thư kia (riêng của ông Nixon, chưa kể thư ông Ford) đã chạy đi đâu? Sau này Nessen mới thú nhận: “Thực ra, những lời đảm bảo riêng tư của Nixon hứa với Thiệu đã đi xa hơn những lời tuyên bố yểm trợ (Việt Nam) hồi ấy”

7. Là người đã từng chống chiến tranh từ ngày còn là phóng viên hãng NBC tại Việt Nam  (ông lấy vợ Việt Nam ), bây giờ ở địa vị quyền hành, Nessen không muốn ông thầy mình vướng mắc thêm vào Việt Nam  nữa. Ngoài Kissinger, có lẽ ông là người được ông Ford tin dùng nhiều nhất. Để trả lời những câu hỏi về vấn đề Tổng thống Ford có cam kết gì với VNCH hay không, Nessen công nhận là ông Ford có viết thư riêng cho ông Thiệu, nhưng lại không chịu nhắc gì tới lá thư đề ngày 9 tháng 2, 1974, một ngày sau khi nhậm chức, trong đó, Tổng thống Ford đã tái xác nhận những lời cam kết giữa Hoa kỳ và VNCH (của Nixon trước kia), và hứa rằng nó sẽ được “hoàn toàn tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi”.

Trong cuộc phỏng vấn với chúng tôi mười năm sau, ông Ford kể lại rằng hồi đó “tôi có biết qua loa về sự trao đổi thư từ giữa Nixon và Thiệu, nhưng tôi đã không được đọc hết”

8. Sau đó, ông viết tặng tôi một cuốn “Hồi ký” của ông: “To Greg Hung, with warmest best wishes” (Tặng ông Hưng với những cầu chúc nồng nàn và tốt đẹp nhất; tên Công giáo của tôi là Gregory).

Một nghĩa cử trông cho đẹp

Lúc trở về Washington, Ford mới quyết định xem phải đối phó như thế nào với bản phúc trình của Weyand. Ông sắp ra trước Quốc hội để phúc trình về “tình trạng thế giới”. Đó là dịp ông dự định sẽ xin thêm 722 triệu đô la quân viện bổ túc cho VNCH như tướng Weyand đề nghị. Cả Kissinger lẫn Nessen đều khuyên ông Ford hãy tránh né đi, đừng xin thêm quân viện nữa. Nhưng có lẽ vì đã được đọc mấy lá thư của Tổng thống Nixon viết cho ông Thiệu, nên Tổng thống Ford không nghe lời cố vấn của hai ông này. Ông Ford ghi lại trong hồi ký:

“Henry Kissinger đã hối thúc tôi phải nói với dân chúng Mỹ rằng Quốc hội Mỹ phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình hình tan rã tại Đông Nam Á. Quả thế, Henry đã thảo một bài diễn văn thuộc loại “cháy nhà bình chân như vại” (go down with the flag flying) để cho tôi đọc. Trực giác bảo cho tôi đó không phải là đường lối đúng cho lúc này”

9. Vì Ford đã tiết lộ ra như vậy, Kissinger bào chữa mới đây trong cuốn Chấm dứt chiến tranh VN (2003) rằng ông đã nói với ông Ford:

“Tim tôi đang rỏ máu khi phải nói điều này – nhưng có thể Ngài phải bỏ vấn đề Việt Nam  ra đàng sau lưng để đất nước không bị xâu xé thêm nữa…” Nhưng ông Ford không muốn nghe vì như ông nói: “Nó đi ngược bản chất của tôi”

Sau tất cả những hành động gian dối và tàn nhẫn đối với Việt Nam  chúng ta có thể tin được là tim ông Kissinger “đang rỏ máu” hay không?

Ngày 9 tháng 4, ngày trước khi ông Ford ra Quốc hội, Kissinger còn đem lời Ron Nessen (người mà Ford rất tin tưởng) ra để khuyên ông Ford: “Tổng thống phải lãnh đạo đưa nước Mỹ ra khỏi Việt Nam  chứ chớ có đưa vào nữa”.

Buổi tối cùng ngày, một bức điện do Đại sứ Phượng đánh từ Washington nhận định rất bi quan về tình hình của khoản tiền mà Ford sắp đưa ra. Mọi người lo lắng đợi xem Ford nói thế nào với Quốc hội. Liệu ông có nói ra hết sự thật cho Quốc hội không? Liệu ông có công bố bức thư ông Thiệu, của Quốc hội VNCH nhân danh hai mươi triệu dân? Hoàn toàn không.

Mới đầu, Ford giải thích chính xác những hành động của Hoa Kỳ:

Vì luật pháp, ta tự ngăn cấm ta sử dụng khả năng bắt buộc phải tôn trọng Hiệp định (đình chiến), như vậy cho Bắc Việt cái đảm bảo là họ có thể vi phạm Hiệp định ấy mà không bị trừng phạt;

Kế đó, ta đã giảm viện trợ kinh tế và vũ khí cho miền Nam Việt Nam;

“Sau hết, ta đã ra dấu hiệu cho biết càng ngày ta càng miễn cưỡng không muốn hỗ trợ dân tộc ấy nữa, trong lúc họ đang tranh đấu để tồn tại”.

Bình luận như vậy rồi, ông đưa ra hai giải pháp lựa chọn:

“Hoặc là Hoa kỳ có thể không làm gì hết, hoặc: tôi có thể yêu cầu Quốc hội thẩm quyền để bắt phải tôn trọng Hiệp định Paris bằng cách sử dụng quân đội, xe tăng, máy bay, và trọng pháo của ta, để đẩy chiến tranh về phía bên địch”.

Nói xong, ông đặt ra hai giải pháp khác “hạn hẹp hơn”: hoặc giữ chặt lấy yêu cầu hồi tháng Giêng xin 300 triệu đô la bổ túc, hoặc tăng số yêu cầu viện trợ quân sự và nhân đạo khẩn cấp. Ông lập luận rằng: tăng viện sẽ có thể làm cho Miền Nam chặn đứng và đẩy lui được cuộc xâm lăng đang tràn tới, ổn định tình hình quân sự, đem lại cơ hội hoà giải chính trị qua đường lối thương thuyết giữa Bắc và Nam Việt, và, nếu như tình trạng tồi tệ nhất xảy ra, ít nhất cũng di tản được trong vòng trật tự kiều dân và một số những người Miền Nam bị nguy hiểm tới chỗ an toàn”

10. Sau cùng ông yêu cầu Quốc hội chấp thuận ngân khoản 722 triệu.

Nhưng dù có xin thêm quân viện, đây có thể cũng chỉ là một hành động chiếu lệ, vì sau khi yêu cầu, ông Ford lại ấn định một hạn chót để cho Quốc hội phải quyết định. Hạn chót đó là ngày 10 tháng 4, 1975, tức là chỉ còn có 10 ngày. Người ta có cảm tưởng là ông Ford vừa đưa ra thỉnh cầu về quân viện, vừa mở đường cho Quốc hội từ chối. Ngoài ra ông còn nói tới di tản.

Thực vậy, công khai thì xin thêm viện trợ trước Quốc hội, nhưng trong hậu trường thì lại khác. Sau những bài diễn văn của Tổng thống, thường thường Toà Bạch Ốc có những thuyết trình” (briefing), giải thích riêng cho báo chí về lập trường của Tổng thống. Dịp này, không biết báo chí đã được hướng dẫn như thế nào mà tờ tuần báo TIME (số ngày 21/4) đã bình luận: “Những biện hộ công khai và những thuyết trình tuy riêng tư nhưng là chính thức, đã đặt ra những câu hỏi (làm cho chúng tôi) hoang mang: có phải thực sự ông Ford đã yêu cầu viện trợ nhưng chẳng mong gì Quốc hội sẽ chấp thuận, hoặc là ông cho rằng quân viện sẽ còn giúp được gì để ổn định tình hình quân sự tồi tệ ở Miền Nam? Nếu ông nghĩ như vậy (còn giúp được) thì có phải là những thuyết trình sau hậu trường của nhân viên ông đã đánh bại mục tiêu của ông rồi phải không?

11. Tổng thống Ford đã đặt hoàn toàn trách nhiệm trên vai Quốc hội. Tờ TIME đặt câu hỏi: “Hay là ông Ford đã dựng Quốc hội lên như một bung xung để rồi đổ lỗi cho Quốc hội vì không cấp quân viện nên Miền Nam sụp đổ?

12. Ben Scowcroft, Phụ tá Tổng thống Ford, đã có câu trả lời rõ ràng trong cuộc phỏng vấn với chúng tôi mười năm sau:

“Thực ra, không một ai trong chúng tôi tin rằng sẽ xin Quốc hội được khoản tiền ấy (722 triệu đô la). Việc xin như vậy chỉ là cách làm cho chúng tôi trông có vẻ như vẫn còn thật lòng về tất cả những cố gắng này. Chúng tôi chỉ quan tâm đến cách rút đi và giải kết mà thôi”

13. Và Phillip Habib, Phụ tá Ngoại trưởng, đặc trách về Đông Nam Á -Thái Bình Dương cũng nói là hồi đó ông họp với các nghị sỹ Quốc hội để thúc giục họ chấp thuận chi viện “để rồi “nếu miền Nam có thất bại thì sẽ không phải vì lý do là ta đã không cung cấp cho họ quân viện” 14 . Sau này, Tổng trưởng Schlesinger bình luận:

“Hồi đó, tôi vô cùng sửng sốt khi được xem những lá thư đó. Tôi đã thật sự bối rối, nhất là vì chính quyền hồi đó đang muốn tung ra chiến dịch tìm cách đổ lỗi cho Quốc hội về sự bại trận tại miền Nam Việt Nam “

15.Trong giờ phút nguy kịch như vậy, mà Tổng thống Ford chỉ bàn tới vấn đề Miền Nam trong khuôn khổ một bài diễn văn về “Tình trạng an ninh thế giới” rất dài bao gồm đủ mọi đề tài kể cả chuyện viếng thăm sắp tới của Hoàng đế Nhật Bản, đạo luật ngoại thương 1974, chính sách hoà hoãn với Nga Sô, đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược, vấn đề năng lượng, và những tài nguyên vùng đại dương. Trong điện văn do Đại sứ Phượng đánh về ngày 11 tháng 4 có viện dẫn lời Dân biểu Holt “tóm gọn là ông Ford đã không thành công trong việc thuyết phục cho Miền Nam”

Tệ hại hơn nữa: ông Ford tuy có đọc cho Quốc hội nghe một lá thư cầu cứu của quyền Tổng thống Kampuchia, nhưng tuyệt đối không đả động gì đến toàn bộ bốn văn thư cầu cứu của VNCH.

Dinh Độc Lập bối rối, rất lo ngại về việc im lặng này. Tới lúc đó thì mọi người đã tự tìm ra câu trả lời. Để cho bầu không khí bớt căng thẳng, tôi nói đùa chua chát với Chủ tịch Lắm: “Lần sau, cụ nên đích thân mang thư tới Quốc hội Mỹ thì có lẽ chắc ăn hơn”. Ông Lắm không thay đổi nét mặt.

Như vậy là toàn bộ những văn kiện, cam kết trao đổi miệng, liên hệ tới sự sống còn của VNCH đã bị dấu nhẹm đi hết. Trước hết là 27 mật thư của Tổng thống Nixon gửi Tống thống Thiệu từ 1972 tới 1973; sau đó là: Những cam kết bằng miệng, do ông Kissinger thoả thuận với Ngoại trưởng Lắm lúc ký Hiệp định Paris hồi tháng 1, 1973;

Rồi 4 bức thư của ông Ford trấn an ông Thiệu, từ hè 1974 tới cuối tháng 3, 1975;

Tới bức thư cầu cứu của ông Thiệu gửi ông Ford ngày 25 tháng 3, 1975;

Thư Quốc hội VNCH gửi Tổng Thống Hoa Kỳ ngày 24 tháng 3, 1975; và

Hai thư Quốc hội VNCH gửi Thượng Viện và Hạ Viện Hoa kỳ ngày 25 tháng 3, 1975.

Dây là những văn kiện lịch sử quan trọng giữa VNCH và Hoa kỳ chứ đâu phải giữa những cá nhân Nguyễn Văn Thiệu với Richard Nixon; hay giữa Trần Văn Lắm với Nelson Rockefeller, và giữa Nguyễn Bá Cẩn với Carl Albert?

Trước khi sụp đổ, những lời cầu cứu sau cùng của đại diện dân cử Miền Nam cũng không được nhân dân Hoa kỳ nghe tới, ta có thể khẳng định chắc chắn được như vậy, vì nếu hai lá thư của ông Lắm và ông Cẩn đã được thông báo cho các Nghị sĩ, dân biểu, như phía VNCH yêu cầu, thì chắc chắn là các cơ quan truyền thông đã biết và đăng rầm rộ, bình luận sôi nổi. Ít nhất là lương tâm của Hoa kỳ cũng được đánh động phần nào.

Trong tất cả Hồi ký của các ông Ford và Kissinger, kể cả của ông Kissinger mới xuất bản năm 2003, cũng chỉ thấy in bức thư của ông Sirik Matak, cựu Thủ tướng Kampuchia gửi Đại sứ Dan (ngày 12 tháng 4, 1975). Ông Matak là người nghe lời khuyến dụ, đã đảo chính Cựu Hoàng Sihanouk năm 1970. Vào giờ Kampuchia bại trận, ông là người đã chấp nhận ở lại và từ chối đề nghị của Mỹ giúp di tản. Sau đây là lá thư ông Matak viết tay và bằng tiếng Pháp cho Đại sứ Dan:

16.Thưa Ngài Đại sứ và bạn thân mến,

Riêng với cá nhân Ngài và đặc biệt với xứ sở yêu dấu của Ngài, không bao giờ, dù chỉ một giây lát, tôi đã dám tin rằng, các Ngài nỡ lòng nào cam tâm bỏ rơi một dân tộc đã chọn đứng về phía tự do. Các Ngài đã nhẫn tâm từ bỏ, không bảo vệ chúng tôi, trong khi chúng tôi đang trong tình thế thúc thủ chịu trận.

Các Ngài đang ra đi, tôi xin cầu chúc Ngài và đất nước Ngài sẽ tìm thấy hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng, hãy ghi nhờ kỹ điều này, rằng nếu tôi có chết ở dây, trên mảnh đất này và tại quê hương yêu dấu của tôi, thì đó là chuyện bình thường, vì tất cả chúng ta đều được sinh ra thì rồi cũng phải chết.

“Tôi chỉ ân hận là đã phạm một sai lầm lớn khi đặt lòng ti tuyệt đối vào quý Ngài”

Sirik Matak

Chính sách bất công của Kissinger-Nixon đối với Kampuchia lại là chuyện khác và đã được tác giả William Shawcross bàn đến trong cuốn Sideshow – Kissinger, Nixon and the Destruction of Cambodia” (Simon and Schuster, 1979). Những hành động vô nhân, thiếu đạo đức mà ông đã hành xử đối với một số quốc gia khác thì mới đây đã được phanh phui trong cuốn “Xét xử Henry Kissinger” (The Trial of Henry Kissinger) do tác giả Christopher Hitchens xuất bản năm 2001.

Kissinger hoàn toàn phủ nhận

Tại một buổi điều trần trước Uỷ ban chuẩn chi Hạ Viện, được hỏi rằng khi ký kết Hiệp định Paris, những gì đã được cam kết với VNCH, Kissinger đã chối phắt đi: những cam kết với VNCH đều có trong văn bản công khai rằng nếu miền Nam cho phép chúng ta triệt thoái quân đội và do đó, có thể đưa cả tù binh Mỹ về, nếu họ chấp nhận những điều khoản của Hiệp định Paris, thì dưới những điều kiện đó (…) chính quyền Hoa kỳ sẽ yểm trợ, và chúng tôi tin rằng Quốc hội cũng sẽ đồng ý một mức độ viện trợ kinh tế đầy đủ”

17. Kissinger nói rằng Hoa kỳ chỉ hứa một mức viện trợ kinh tế đầy đủ mà thôi. Và về sự kiện ông lập luận rằng “những cam kết với VNCH đều có trong văn bản công khai”, bạn đọc có thể tự mình so sánh nó với một số văn kiện đã được trích dẫn trong cuốn sách này.

Chuyện lạ là vào giờ chót của VNCH, những văn kiện đó phải đi qua tay người này tới người kia rồi mới tới tay lãnh đạo tối cao của Hành pháp. Sau đó mới được rỉ tai sang cho ngành Lập pháp hay biết. Tổng trưởng Schlesinger rất bất mãn khi biết rằng tôi đã phải nhờ cậy một người bạn là Von Marbod để chuyển mấy bức thư của Tổng thống Nixon qua tướng Weyand, rồi mới tới tay ông; và Weyand cũng đã phải dùng mưu mô để đưa được thư cho Tổng thống Ford đọc. Schlesinger bình luận liếp:

“… dĩ nhiên là, như có Chúa làm chứng, Quốc hội cũng đã có trách nhiệm về việc này. Nhưng có điều chắc chắn là những luận điệu đâm sau lưng như vậy thì không có ích lợi gì cho quốc gia, nhất là khi mấy lá thư đó đang được chuyền tay… Chứng thư này ít nhất đã chứng tỏ rằng Quốc hội đã không được thông báo đầy đủ về bản chất những lời cam kết của Hoa Kỳ sau khi quân đội (Mỹ) đã rút khỏi Miền Nam Việt Nam.

Quốc hội không hề hay biết chút gì về mấy lá thư khi họ bắt đầu chạy làng khỏi Việt Nam vào mùa hè 1973″

18. (“I found them quite shocking at the time. I was really disturbed by them, because the admimstration wals in a period of launching an attempt to blame the defeat in South Vietnam on the Congress, which Lord knows. had its responsibilities. But it’s sure as hell wasn’t going to help the country if we had a great stab-in-the-back argument, particularly given the fact that the letters were floating around, which showed that, to say the least, the Congress had noi been fully informed with regard to the nature of our com mitments after the departure of our forces from South Vietnam. Congress knew nothing of these letters, when it started bugging out of Vietnam in the summer of 1973”)

Ngày tôi ra sách, cuốn “Palace File” (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập), ông Schlesinger đã có mặt. Đứng bên một người bạn tôi là anh Chu Xuân Viên, cựu tuỳ viên Lục quân VNCH, Washington. Ông còn phàn nàn: “Giá như tôi có những tài liệu này năm 1973 thì chắc tình hình viện trợ đã khác rồi”.

Về tình hình viện trợ và cán cân lực lượng sau 1973, chính tướng Murray, Chỉ Huy Trưởng Phòng Tuỳ Viên Quân Sự Mỹ (DAO) đã nhận xét: sau khi rút hết lục quân, rút hết yểm trợ của không lực và hải pháo đi, Mỹ lại chỉ bắt đầu yểm trợ Miền Nam tương đương bằng 2% tổng số tiền đã dùng cho quân đội Mỹ. Đang khi đó, 189 tiểu đoàn của VNCH phải đương đầu với 330 tiểu đoàn (110 trung đoàn) của Bắc Việt. Ông kết luận: “Ta nên nhớ Napoleon đã từng nói: “Thượng Đế đứng về phe nào có các tiểu đoàn lớn nhất, mạnh nhất”. Và đúng như vậy, vào thời điểm đó, Thượng Đế đã đứng về phe cộng sản; quân họ đông hơn, mạnh hơn. Và đó là lý do tại sao thua trận”

19. Còn về phần Kissinger, sau khi mọi việc đã kết thúc, vào đầu năm 1980, ông viết cho Tổng thống Thiệu một thư riêng có đoạn sau (xem Phụ Lục D). Thư này được gửi khi tạp chí Der Spiegel (ở bên Đức) đăng tải một cuộc phỏng vấn với ông Thiệu, đặc biệt là về những nhận xét của Kissinger về Việt Nam  trong cuốn hồi ký “White House Years” (Những năm ở Bạch Cung):

Thưa Tổng thống,

“Tôi vừa mới được đọc bài phỏng vấn Ngài dành cho tờ Der Spiegel. Tôi có thể hiểu được sự cay đắng của Ngài, và quả thực còn thông cảm được với sự cay đắng ấy…

“Cuốn sách của tôi đã không ngớt ca ngợi sự can đảm, tư cách đứng đắn, và công nhận rằng, trong thực chất, Ngài đã đúng…

“Tôi vẫn còn tin rằng cán cân lực lượng được phản ảnh trong Hiệp định Paris vẫn có thể duy trì được, nếu như vụ Watergate đã không tiêu diệt đi cái khả năng của chúng tôi nhằm giành được (sự chấp thuận) của Quốc hội viện trợ đầy đủ cho Miền Nam Việt Nam trong năm 1973 và 1974.

Giá như năm 1972 chúng tôi đã biết được những gì sẽ xảy ra cho Hoa kỳ thì chúng tôi đã không tiến hành như chúng tôi đã làm…

“Tôi đồng ý với Ngài rằng những điều khoản của (Hiệp định) ngưng chiến đã là khắc nghiệt…

Nếu thư Tổng thống Nixon và tôi có ý định phản bội Ngài thì chúng tôi đã có thể làm điều đó vào năm 1969…

Tôi không trông đợi sẽ thuyết phục được Ngài. Ít nhất tôi có thể cố gắng xin Ngài tin tưởng ở lòng hối hận và kinh trọng vẫn còn của tôi”.

“Với những lời chúc tốt đẹp nhất.

(ký) Henry Kissinger

Độc giả đọc chương 13 (đoạn cuối) xem Kissinger đã “ca ngợi” ông Thiệu và đặc tính của con người Việt Nam như thế nào trong cuốn sách ông viết.

——————————–

1          Phỏng vấn Morlon Abromavitz, 26-1-1986.

2          Xem ghi chú 12, 13 và 14 của chương này.

3          William E. Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang 172.

4          Phỏng vấn Tổng trưởng Schlesinger, ngày 27-1 1-1985.

5          Ron Nessen, It sure looks different from the inside, 106.

6          Ron Nessen, It sure looks different from the inside, 106

7          Ron Nessen, It sure looks different from the inside, 106

8          Phỏng vấn Gerald Ford, 10-2-1986.

9          Gerald Ford, A time to heal, trang 253-254.

10        New York Times, 11-4-1975, trang 10.

11        Tạp chí TIME, ngày 21 tháng 4, 1975, trang 6-8.

12        Tạp chí TIME, ngày 21 tháng 4, 1975, trang 6-8.

13        Phỏng vấn Brent Scowcroft 5-3-1986. Xem N.T. Hưng and J. Schecter. The Palace File, p. 309.

14        Phỏng vấn Philip C. Habib, 30-12-1985.

15        Phỏng vấn Tổng trưởng Schlesinger, 27-11-1985.

16        Henry Kissinger, Ending the Vietnam war, trang 529-530.

17        N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 337-338.

18        N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 307-308.

19        N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 358.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 29 Aug 2025

29. Lê Thiệp

Vào thời kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam sắp chấm dứt, hội nghị bốn bên được mở tại Paris, rồi thu nhỏ thành các cuộc cãi vã giữa hai phái đoàn quân sự VNCH và MTGPMN ở trại David Tân Sơn Nhất, Lê Thiệp đang làm việc cho nhật báo Chính Luận và được biết đến như một phóng viên trẻ, năng nổ

với những bài phóng sự chiến trường và tường thuật các buổi họp ở trại David. Tình hình Việt Nam càng ngày càng thu hút các ký giả, đại diện các hãng truyền thông khắp thế giới đến làm việc, nên các phóng viên của chúng ta lúc bấy giờ cũng bắt buộc phải có một trình độ chuyên môn nào đó mới hành nghề được.

Đó cũng là lúc chúng ta có một lớp phóng viên mới như Vũ Ánh, Dương Phục, Nguyễn Mạnh Tiến, Lê Thiệp … Để làm một phóng sự, họ có thể phải nhẩy dù xuống những mặt trận đang đỏ lửa, ở trong hầm những đồn, trại đang bị vây hãm, và điều ấy có nghĩa là họ có thể mất mạng bất cứ lúc nào, để có được những tin tức xác thực. Không biết bao nhiêu các phóng viên, ký giả quốc tế đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.

Sở dĩ Lê Thiệp cũng như Vũ Ánh, Dương Phục, Nguyễn Mạnh Tiến, được đọc, được chú ý, vì, tuy cũng là một bài tường thuật, một cái tin được loan đi, nhưng họ vẫn cho thấy cái nhìn riêng của mình đối với những sự việc xẩy ra, khiến người đọc có thể biết thêm một chút gì đó ở ngoài, ở đằng sau những bản tin, những phóng sự. Điều này cũng hệt như việc cùng chụp hình một góc phố nhưng người ta vẫn có thể cho ra những bức ảnh khác nhau: kỹ thuật, nghệ thuật, góc nhìn, chi tiết v.v … và nhất là bức ảnh còn có thể phản ánh một phần tâm hồn của người chụp nữa.

Thời gian qua mau hay người ta chóng già mà trong buổi phát hành cuốn Chân Ướt Chân Ráo vừa được tổ chức tại trụ sở nhật báo Người Việt tại quận Cam mới đây, chàng trai trẻ Lê Thiệp mái tóc đã không còn một sợi xanh bên cạnh những cái đầu cũng đã bạc trắng của Đỗ Ngọc Yến, của Uyên Thao.

Nếu chỉ viết phóng sự mà mau già đến thế, chắc không ai dám theo đuổi nghề làm báo nữa! Chân Ướt Chân Ráo vẫn cho thấy một Lê Thiệp ngoài cái sắc xảo của một nhà báo còn có thêm cái trầm tĩnh của tuổi tác, cái ưu tư của một nhà văn, cách nhìn nhận sự việc, chọn lọc chữ nghĩa để viết v.v …

Trong đoản văn Chân Ướt Chân Ráo tác giả vừa lấy làm nhan vừa lấy làm tựa cho cuốn sách, Lê Thiệp viết:

“Quả thật không lúc nào trong cuộc sống lưu vong những suy nghĩ, những cái nhìn lại không vướng mắc vào quá khứ Việt Nam.

Những bữa ăn trong gia đình dù nói chuyện trời, chuyện đất, chuyện con cái học hành, chuyện nhà cửa, chuyện ‘bill’, rồi cuối cùng cũng lại chuyện Việt Nam. Bằng hữu anh em những lúc trà dư tửu hậu, những lúc tính cái này cái nọ, kết cục thế nào cũng đá chuyện Việt Nam vào.

Cái quá khứ không thể cắt bỏ và cái hiện tại lưu vong không thể phủ nhận, hai thực tại đó quấn lấy nhau và vây bổ những suy nghĩ, những cái nhìn. Cho dù ngồi ăn giữa những người bản xứ da trắng, da đen, tâm sự đời, bàn về chính trị hay bất cứ đề tài nào, sao vẫn thấy mình như lạc lõng, như kẻ đứng bên lề. Cũng làm việc như họ, cùng sinh hoạt với họ, nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại là rút ngay vào cái ốc đảo của Việt Nam, là những băn khoăn về bạn bè anh em ở nửa bên kia địa cầu, là cái nhức nhối không phải chỉ là quá khứ mà là một hiện tại đang nhọc nhằn kéo dài ở đâu đó, Sài Gòn, Hà Nội”.

Có vẻ như cuộc chiến tranh kéo dài non một phần tư thế kỷ chưa đủ bi thảm, nên khi cuộc chiến chấm dứt, đất nước chúng ta còn phải chịu thêm một cuộc bi thảm nối dài nữa. Đó là những trại tập trung, những nhà tù, những cuộc vượt biên bằng đường biển, đường bộ, số người chết không

thua gì số người chết trong suốt cuộc chiến! Chân Ướt Chân Ráo của Lê Thiệp bắt đầu bằng một cuộc chuẩn bị vượt biên, đến những mảnh đời lưu lạc nơi xứ người, những giây phút tưởng nhớ lại quá khứ, những địa danh như Kim Mã, Phùng, rồi nhà thơ Quang Dũng, ‘đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm tạch tạch sè [tiểu tư sản] đặc sệt, từ đứa trẻ quê mùa ở Sơn Tây đến người đàn ông Sài Gòn rồi Việt kiều Mỹ, bàn về rượu vang, cà-vạt, thay vì những trái ổi xanh, ổi trâu, ổi mỡ, người ta nghe ra một sự trôi giạt, mỗi dòng chữ như một cố gắng trở về nhưng không được. Những chuyến trở lại Việt Nam hiện nay đã có thể gọi là những chuyến trở về được chưa? Những chuyến trở về không trọn ấy, giải nghĩa sự quẩn quanh Lê Thiệp gọi là nói chuyện trời chuyện đất, chuyện gì rồi rút cục cũng lại đá chuyện Việt Nam vào.

Qua cuốn sách, người đọc được biết thêm về một vài nhân vật như nhà báo Từ Chung, chính trị gia kiêm nhà báo Đặng Văn Sung cùng các cộng sự viên của tờ nhật báo Chính Luận, tờ báo đã được thực hiện như thế nào mỗi ngày, trước khi đến tay độc giả.

Các bài Lê Thiệp viết về họa sĩ Ngọc Dũng, nhà báo Thái Linh, Thu Thèm Rượu và nhất là đoản văn bàn về Sư Triệt Học, bàn về thơ Tỳ Bà Hành chứng tỏ mgười viết còn có một tâm hồn thơ nữa. Một điều đáng ghi nhận là, trong hầu hết các tác phẩm của chúng ta được xuất bản trong những năm gần đây, các nhân vật hình như đều là những người có thật. Các nhân vật hư cấu như Dũng/Loan hay Lộc/Mai của Nhất Linh, của Khái Hưng không còn nữa. Thúy Kiều, Kim Trọng không còn nữa. Hay nói cách khác, không có một nhân vật tiểu thuyết tưởng tượng nào tồn tại trong trí nhớ của người đọc. Đó là một hiện tượng. Hiện tượng đó có lẽ cần được các nhà chuyên môn nghiên cứu và giải thích. Nhưng trước hết, đó có phải là một bước ngoặt của tiểu thuyết Việt Nam chăng?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 29 Aug 2025

28. Lê Đình Điểu

Lê Đình Điểu sinh năm 1939 tại làng Ngọc Hà, ngoại thành Hà Nội. Như thế, khi di cư vào Nam sau hiệp định Geneve, Lê Đình Điểu mới có 15 tuổi. Ông lớn lên, học hành thành đạt hoàn toàn ở miền Nam. Tuy tốt nghiệp sư phạm [Anh văn] nhưng Lê Đình Điểu chỉ đi dạy học một thời gian ngắn. Ông bỏ nhiều công sức vào các sinh hoạt xã hội. Ông cũng tham gia chính quyền và từng giữ chức vụ phụ tá Tổng Trưởng Dân Vận [Đệ Nhị Cộng Hòa].

Năm 1967 Lê Đình Điểu tốt nghiệp về khoa Báo Chí Viện Báo Chí Quốc Tế tại Kuala Lumpur, Mã Lai. Báo chí cũng là nghề ông theo đuổi từ khi ra khỏi nước năm 1983, cho đến khi qua đời. Ông từng làm chủ bút nhật báo Người Việt, đồng sáng lập và làm chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21, giám đốc đài phát thanh VNCR. Ngay khi còn đang làm việc tại Bộ Dân Vận ông đã cùng một lúc soạn và phiên dịch nhiều sách về báo chí, chứng tỏ ông đã nghiêng về ngành sinh hoạt này nhiều hơn là chính trị.

Hai cuốn Kỹ Thuật Tòa Soạn và Ký Giả Chuyên Nghiệp do ông phiên dịch là những tài liệu quý giá đối với những ai muốn theo đuổi nghề làm báo.

Ngoài ra ông cũng là một trong ba tác giả hợp soạn cuốn Hướng Dẫn Sinh Hoạt Thanh Niên do CPS xuất bản năm 1967.

Ông cũng là một trong những người sáng lập Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường và chính ông đã đặt tên tắt là CPS, mà sau đó, Bộ Giáo Dục đã sáp nhập vào chương trình Sinh Hoạt Học Đường của Bộ. Thân nhân và các bằng hữu của Lê Đình Điểu vừa thâu thập tài liệu và cho xuất bản cuốn “Tuyển Tập Lê Đình Điểu”, gồm một số những bài thơ ông làm từ khi còn là học sinh, sinh viên, những ngày nằm bệnh bạn bè thăm hỏi, xướng họa, những bài Lê Đình Điểu viết trong những năm ông làm báo và truyền thanh. Tóm lại Lê Đình Điểu là một người năng nổ.

Gần như ông không ở yên lúc nào. Ông dạy học, làm thơ [ký tên Y Dịch], dịch sách, làm chính trị, truyền thông, hướng dẫn sinh hoạt thanh niên, huấn luyện phóng viên, ký giả vào nghề làm báo. Nhưng theo thân nhân cùng các bằng hữu của ông thì “những hoạt động trong các tổ chức và chương trình sinh

hoạt thanh niên có tính chất tự nguyện mới biểu lộ hết tinh thần và lý tưởng của Lê Đình Điểu. Tinh thần tự nguyện, tin tưởng ở khả năng tự rèn luyện và tự phát triển của giới trẻ khi được sống và phục vụ trong bầu không khí tự do, đó là niềm tin lớn trong cuộc đời ông. Với niềm tin đó, mọi hoạt động của ông trong ngành giáo dục, truyền thông, công quyền và xã hội công dân đều nhắm mục đích phục vụ xã hội để xây dựng đất nước Việt Nam”.

Trong đời sống hàng ngày, cứ đọc những lời nói được ghi chép lại, những bài viết của các người quen biết, bạn bè gần xa, nói về Lê Đình Điểu, người ta đủ thấy ông rất được những người chung quanh yêu mến. Ông đối xử hòa nhã với tất cả mọi người và nhất là không bao giờ tỏ ra bi quan dù trong hoàn cảnh nào. Tất cả những người quen biết ông, đều nhận được từ ông, cái tinh thần vui tươi, khỏe mạnh ấy. Nhưng nói về một nhà báo, một nhà tư tưởng không gì bằng trích dẫn chính những gì người ấy viết ra. Sau đây là bài viết của Lê Đình Điểu, được ông đặt dưới tiêu đề Đối Thoại Với Quá Khứ:

“Sử là cuộc đối thoại của ngày hôm nay với ngày hôm qua để làm hướng đi cho ngày mai. Sử học đang trên đường chứng tỏ là một khoa học – có người gọi đó là một môn khoa học ‘nhân văn’. Khốn thay, chính khoa học tự nhiên cũng chưa dám tự khẳng định mức chính xác, đầy đủ và khách quan tuyệt đối và vĩnh cửu. Có người đã nói không gì vững chắc bằng khoa học nhưng cũng không gì bấp bênh bằng khoa học’. Sự vững chắc giúp người ta tin tưởng để thực hiện những công trình. Sự bấp bênh lại giúp người ta tiến bộ.

Đối thoại phải chăng là dấu hiệu của bấp bênh – còn cãi qua cãi lại thì có gì vững chắc? Nếu vậy, thì đối thoại cũng là dấu hiệu của tiến bộ.

Đối thoại với quá khứ không có nghĩa là quay lưng lại  với hiện tại và tương lai, để đắm say với cái đã qua.Đối thoại với quá khứ – hay nghiên cứu lịch sử – phải mang ý nghĩa đặt quá khứ vào vị trí trước mặt để trong lúc ‘ngày hôm nay’ nói chuyện với ‘ngày hôm qua’ thì chân trời ‘ngày mai’ cũng hiện ra phía trước”.

Người ta có thể nhận ra trong đoạn văn ngắn ngủi ấy của Lê Đình Điểu dáng dấp của một nhà thơ, một nhà báo và một nhà giáo dục nữa. Nói về Lê Đình Điểu, Đỗ Quý Toàn người hiện kế vị Lê Đình Điểu trong chức vụ chủ bút báo Người Việt, viết:

“Sống 60 năm trên đời, để lại trong lòng mọi người hình ảnh một con người bình an, nhân hậu, 60 năm đã là sống đầy đủ. Người biết sống thì mỗi phút giây sống cũng là đầy đủ. Anh Lê Đình Điểu ra đi, hình ảnh cuộc đời anh là món quà anh còn để lại mà bạn bè sẽ còn lưu giữ mãi, chị Dung và các con anh sẽ còn lưu giữ mãi.

Cám ơn, Lê Đình Điểu”.

Xuất xứ và nguyên văn bài thơ Khúc Thụy Du của Du Tử Lê

ongvove.wordpress.com

Du Tử Lê

R.I.P 1942 – 2019

Post by Sơn râu 28 Aug 2025

Nhiều người biết Khúc Thụy Du nhờ một đoạn ngắn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Cái đoạn ngắn này gây ngộ nhận đó là một bài thơ tình. Sự thực đó mà một bài thơ dài gắn liền với chiến dịch Mậu Thân đẫm máu. Bài thơ viết về thân phận con người trong chiến tranh. Những kẻ chưa ngửi thấy mùi máu của chiến tranh mới hung hăng hiếu chiến, thích lấy máu người khác tô thắm vòng nguyệt quế chiến công của mình.

Ngoài Bắc Việt chắc chắn không có loại thơ như thế này. Nếu có thì nhà thơ đã chết ngay sau khi bài thơ ra đời chứ không thể sống đến 77 tuổi!

Bài viết của Du Tử Lê.

Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu. Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.

Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TQLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.

Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện… Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.

Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ…

Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối… khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.

Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.

Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.

Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…

Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.

Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!

Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/3 nửa bài thơ.

Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)

Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quả rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…

Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?

Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.

Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).

Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.

Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…

Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:

“Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”

Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau. Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.

Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…

Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…

(1-30-2010.)

Du Tử Lê

Bài thơ KHÚC THỤY DU nguyên thủy:

1.

như con chim bói cá

trên cọc nhọn trăm năm

tôi tìm đời đánh mất

trong vũng nước cuộc đời

như con chim bói cá

tôi thường ngừng cánh bay

ngước nhìn lên huyệt lộ

bầy quạ rỉa xác người

(của tươi đời nhượng lại)

bữa ăn nào ngon hơn

làm sao tôi nói được

như con chim bói cá

tôi lặn sâu trong bùn

hoài công tìm ý nghĩa

cho cảnh tình hôm nay

trên xác người chưa rữa

trên thịt người chưa tan

trên cánh tay chó gặm

trên chiếc đầu lợn tha

tôi sống như người mù

tôi sống như người điên

tôi làm chim bói cá

lặn tìm vuông đời mình

trên mặt đất nhiên lặng

không tăm nào sủi lên

đời sống như thân nấm

mỗi ngày một lùn đi

tâm hồn ta cọc lại

ai làm người như tôi?

2.

mịn màng như nỗi chết

hoang đường như tuổi thơ

chưa một lần hé nở

trên ngọn cờ không bay

đôi mắt nàng không khép

bàn tay nàng không thưa

lọn tóc nàng đêm tối

khư khư ôm tình dài

ngực tôi đầy nắng lửa

hãy nói về cuộc đời

tôi còn gì để sống

hãy nói về cuộc đời

khi tôi không còn nữa

sẽ mang được những gì

về bên kia thế giới

thụy ơi và thụy ơi

tôi làm ma không đầu

tôi làm ma không bụng

tôi chỉ còn đôi chân

hay chỉ còn đôi tay

sờ soạng tìm thi thể

quờ quạng tìm trái tim

lẫn tan cùng vỏ đạn

dính văng cùng mảnh bom

thụy ơi và thụy ơi

đừng bao giờ em hỏi

vì sao mình yêu nhau

vì sao môi anh nóng

vì sao tay anh lạnh

vì sao thân anh rung

vì sao chân không vững

vì sao anh van em

hãy cho anh được thở

bằng ngực em rũ buồn

hãy cho anh được ôm

em, ngang bằng sự chết

tình yêu như ngọn dao

anh đâm mình, lút cán

thụy ơi và thụy ơi

không còn gì có nghĩa

ngoài tình anh tình em

đã ướt đầm thân thể

anh ru anh ngủ mùi

đợi một giờ linh hiển

(3-68)

Du Tử Lê

Mỗi ngày một huyền thoại: Lê Văn Tiết “Kỳ quan của bóng bàn thế giới”

bongbanduyhung.com

TLQ Thanh Niên

Posted on Aug 15, 2014
Post by Sơn râu 28 Aug 2025

Ông Lê Văn Tiết (trái)

Gặp lại tay vợt Lê Văn Tiết, người từng được báo chí thế giới tôn vinh là “kỳ quan của bóng bàn thế giới” tại nhà riêng số 187 Nguyễn Sơn, Q.Tân Phú (TP.HCM), ở tuổi 76, nhưng ông vẫn còn rất khỏe mạnh và nhanh nhẹn.

Để có được điều này, ông cho biết nhờ tập luyện thể thao hằng ngày. Nhưng điều gây bất ngờ nhất là hiện tại ông vẫn còn đứng dạy bóng bàn cho các tay vợt phong trào, các cơ quan, xí nghiệp và có cả tay vợt năng khiếu của TP.HCM. Thường thì ông dạy ở Trung tâm thể dục thể thao Tân Thới Hòa trên đường Lũy Bán Bích vào những buổi tối. Trước đây ông cũng có dạy tại câu lạc bộ bóng bàn của Nhà thi đấu Phú Thọ. Tuy nhiên do di chuyển khá xa nên hiện giờ ông ít nhận dạy ở đây hơn. “Số tiền thù lao không phải là quá lớn, chỉ đủ để đổ xăng và uống nước. Nhưng có lẽ cuộc sống của tôi không thể xa môn bóng bàn này được. Tôi nhận dạy chỉ vì niềm đam mê và giúp những người yêu thích môn bóng bàn nắm được các kỹ, chiến thuật căn bản. Bên cạnh đó cũng giúp cho tôi có thêm sức khỏe”, ông Tiết tâm sự.

Tay vợt lừng lẫy một thời thập niên 50, 60 của thế kỷ trước – Ảnh: Tư liệu

Chiến tích thành huyền thoại

Có thể nói, ở thập niên 1950, Lê Văn Tiết cùng các danh thủ như Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược, Trần Văn Liễu… đã đưa bóng bàn Việt Nam lên đỉnh cao nhất và khiến các tay vợt thế giới thời ấy phải nể phục. Khi được hỏi trận đấu nào làm ông nhớ nhất trong sự nghiệp của mình, ông trả lời ngay: “Đó chính là trận thắng nhà đương kim vô địch thế giới người Nhật Bản Toshiaki Tanaka tại Á vận hội năm 1958 để cùng đội tuyển Việt Nam đoạt chức vô địch đồng đội”. Tại giải đấu ngay trên đất Nhật Bản và khi đó đội tuyển chủ nhà đang là đội thống trị làng bóng bàn thế giới, đêm 27.5.1958, ông Tiết đã cùng với những “siêu sao” của bóng bàn Việt Nam là Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược gây “chấn động” khiến cả nước Nhật phải sửng sốt khi đội tuyển bóng bàn đương kim vô địch thế giới của họ bị đội Việt Nam đánh bại với tỷ số 5/3 ở trận chung kết. Hoàng thái tử Nhật Bản cũng đã lẳng lặng ra về ngay sau đó. Sau trận đấu, tờ Nhật báo Đông Kinh viết: “Trong lịch sử thể thao Nhật, có hai biến cố làm chúng ta đau lòng nhất là việc để đoàn Việt Nam đoạt huy chương vàng bóng bàn đồng đội nam ngay tại Asiad lần 3 – Tokyo 1958 và võ sĩ người Hà Lan Auton Geenik đoạt chức vô địch judo thế giới”.

Trước trận đấu, giới chuyên môn đều cho rằng chiếc huy chương vàng khó thoát khỏi tay đội chủ nhà. Vì trước đó một năm, tại giải vô địch bóng bàn thế giới 1957 diễn ra ở Thụy Điển, đội Nhật Bản đã đánh bại đội Việt Nam với Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Được và Huỳnh Văn Ngọc trong đội hình với tỷ số 5-3. Chính vì thế, Liên đoàn Bóng bàn Nhật Bản lúc đó rất tự tin khi mời hoàng thái tử Nhật đến xem và để trao huy chương cho đội thắng trận. Cùng với hai trận thắng của Mai Văn Hòa, một chiến thắng của Trần Cảnh Được, Lê Văn Tiết cũng đã góp công với trận thắng trước tay vợt vô địch thế giới Toshiaki Tanaka với tỷ số 21/19, 21/18 và tay vợt này đã chạy đến ôm mẹ mà khóc. Sau đó ông cũng thắng luôn Sunoda 21/6, 21/11 và chỉ chịu thua trước tay vợt cựu vô địch thế giới Ichiro Ogimura (cựu Chủ tịch Liên đoàn Bóng bàn thế giới) 11/21, 16/21. Đây có lẽ là một chiến tích tạo ra một huyền thoại của làng bóng bàn Việt Nam mà không biết đến bao giờ mới có thể lập lại được.

Không chỉ vậy, một năm sau, ngoài chiếc huy chương đồng giải vô địch bóng bàn quốc tế tại Dortmund (Đức), ông còn giành thêm chức vô địch đơn nam giải bóng bàn Pháp mở rộng (giải đấu nổi tiếng nhất thế giới lúc bấy giờ) sau khi trở thành người Việt Nam đầu tiên đánh bại tay vợt số 1 thời bấy giờ là Teruo Murakami (vô địch Nhật Bản) trong trận chung kết khi vừa tròn 20 tuổi. Đây thật sự là một trận đấu không thể nào quên trong sự nghiệp của ông Tiết. Bởi sau khi bị dẫn trước hai ván đầu tiên, ông đã có cuộc “lội ngược dòng” thành công để thắng lại với tỷ số 3-2. Kể lại trận đấu dường như đã in sâu trong ký ức này với ánh mắt rạng ngời hạnh phúc, ông nói: “Tôi đã có sự khởi đầu không tốt vì đánh hỏng khá nhiều và bị Murakami thắng liền hai ván với tỷ số 21/17, 21/15. Dù bối rối nhưng trong thời gian nghỉ của hai ván tôi đã tự nhủ là phải tấn công liên tục để “mở đường máu” và chiến thuật này đã giúp tôi thắng lại hai ván liền 21/16, 21/12. Ở ván đấu quyết định mới thật sự kịch tính khi Murakami liên tục dẫn trước tôi 5/0 rồi 10/5. Nhưng tôi đã kiên trì gỡ hòa 10/10 để rồi thắng luôn với tỷ số 21/17”. Chính nhờ vào những thành tích này, ông Tiết đã được xếp hạng 6 thế giới vào năm 1959, còn danh thủ Mai Văn Hòa xếp hạng 12. Ngoài hai chức vô địch đáng nhớ trên, ông còn cùng đồng đội ba lần đoạt huy chương vàng SEAP Games (tiền thân của SEA Games) vào những năm 1961, 1965 và 1967. Ông Tiết đã được giới báo chí quốc tế lúc bấy giờ gọi là “kỳ quan bóng bàn thế giới”. Bởi ông là một trong những người khai sinh ra lối đánh phản công độc nhất vô nhị.

“Bóng bàn Việt Nam đã đứng lại quá lâu”

Trong số 7 người con của ông Tiết, Lê Ngọc Phương Lan, Lê Ngọc Phương Thảo, Lê Ngọc Phương Trang đã từng có các thành tích ở giải trong nước vào những năm 1990. Một người con khác của ông là Lê Trung Thành đoạt giải vô địch thiếu niên toàn quốc năm 1987, nhưng không ai đủ duyên nợ để theo đuổi nghiệp của ông. Nói về những hậu duệ ngày nay, ông ngậm ngùi tâm sự: “Bây giờ, các em có điều kiện tập luyện và thi đấu tốt hơn thời chúng tôi rất nhiều. Nhưng sau những ngày vang bóng, bóng bàn Việt Nam đã đứng lại quá lâu. Để trở lại những thành tích đó dù vẫn biết rằng rất khó, nhưng không lẽ lại chịu bó tay. Tôi chỉ mong sao lãnh đạo của ngành thể dục thể thao có sự quan tâm, đầu tư tốt và có những huấn luyện viên tâm huyết để bóng bàn nước ta có thể trở lại thời kỳ vàng son”. 

Giờ đây, ngoài những giờ quây quần bên con cháu và làm “gia sư” bóng bàn, ông Tiết còn dành thời gian để viết sách. Và sau nhiều năm khó khăn trong việc xuất bản, cuối cùng quyển sách nói về kỹ thuật bóng bàn, cách thức tổ chức thi đấucùng những bài báo viết về thời vang bóng của bóng bàn Việt Nam trước năm 1975 Lê Văn Tiết giúp bạn hoàn thiện kỹ năng bóng bàn cũng được ra đời vào tháng 2.2006. Hiện ông đang ấp ủ để cho ra đời một quyển sách khác với nội dung kể về chi tiết các trận đấu hay và những chiến thắng quan trọng trong quá khứ với mong muốn kể lại cho các con cháu những chiến tích của đàn anh.

T.L.Q

Theo Thanh Niên

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 28 Aug 2025

Phần 3.

Chương 10.

Lúc tuyệt vọng

“Hiện nay tình hình ở Miền Nam VN có vẻ như là Bắc Việt có thể sẽ không mở một cuộc tấn công ồ ạt, toàn quốc… mấy tháng sắp tới, chắc là ta sẽ thấy một số cao điểm về phía Bắc Việt, chứ lúc này thì tôi không thấy có thể xảy ra một cuộc tấn công lớn, toàn quốc, với mức độ như hồi năm 1972”

1. Đó là lời tuyên bố của Tổng trưởng quốc phòng James Schlesinger ngày 14 tháng Giêng, 1975 sau khi Phước Long thất thủ. Như thế thì rõ ràng là ông đã cố ý giảm nhẹ tầm mức quan trọng việc mất đi của một tỉnh đầu tiên trong suốt 15 năm chiến tranh.

Trái với điều nhiều người lầm tưởng, Sài gòn và Washington không hề ngạc nhiên khi cuộc tấn công mùa Xuân 1975 xảy ra. Tin tức tình báo cũng như đánh giá về khả năng này được thông báo đầy đủ cho phía Hoa Kỳ từ cuối năm 1974 qua nhiều ngả.

Ngày sáu tháng 12, 1974, một phiên họp mật tại Dinh Độc lập về tình hình quân sự đã đi đến kết luận là năm 1975 sẽ mở một cuộc tổng tấn công với mức độ 1972, đi tới cao điểm vào tháng 10, 1975 lúc có bầu cử Tổng thống ở Việt nam, rồi kéo dài tới 1976 là năm bầu cử tại Hoa Kỳ. Sau đó, ông Thiệu đã liên tục nói trước với ông Martin về khả năng này. Bộ Tổng tham mưu thì thông báo qua tướng Homer Smith, chỉ huy cơ quan Quốc phòng Mỹ DAO ở Sài gòn (thay tướng John Murray). Tướng Trần Văn Đôn, lúc đó là Phó Thủ tướng cũng đã qua Mỹ gặp Thứ trưởng quốc phòng William Clements để nói về nguy cơ sắp tới.

“Đừng lo, sẽ không có tấn công đâu; vả lại, chúng tôi còn đây cơ mà”, ông Clements trấn an

2. Khi tướng Murray mãn nhiệm, ông cũng đã báo cáo chi tiết về quân số, khí giới, tiếp vận hùng hậu của quân đội Bắc Việt tại miền Nam. Ông đã cảnh giác Ngũ Giác Đài về cuộc chiến khốc liệt sẽ xảy ra trong năm 1975. Thấy phía Hoa Kỳ không có phản ứng gì về vụ Phước Long, lại còn giảm nhẹ tầm quan trọng, ông Thiệu viết thêm lại bức thư đề ngày 24 và 25 tháng Giêng, 1975 để nói rõ ràng về nguy cơ sắp tới và yêu cầu thêm quân viện. Ngày 26 tháng hai, khi cuộc triệt thoái thê thảm từ Pleiku còn chưa kết húc, ông Ford trả lời. Nhưng lần này ông chỉ nói chung chung, kiểu đãi bôi cho xong chuyện (xem Chương 9).

Sau lệnh rút Pleiku.

Ngày 20 tháng Ba, chúng tôi nhận được một cú điện thoại vào sáu giờ sáng. “Anh đến gặp tôi lúc tám giờ được không?Rồi ăn sáng luôn thể”, tiếng ông Thiệu từ bên kia đầu giây nói. Sớm như thế này là chắc có gì gấp đây? Tôi nghĩ. Tới nơi tôi thấy một bàn ăn nhỏ kê sát cửa sổ trên hành lang lầu ba, địa điểm ông cho rằng không bị CIA nghe lén. Chuyện gì bàn ở văn phòng ông hay phòng họp là hay bị nghe lén. Có lần một người bạn Mỹ ở Toà đại sứ kể vài chuyện tiếu lâm tôi đã nghe chính ông Thiệu nói cho vui trong lúc uống cà phê giải lao. “Sao ông biết hay vậy?” tôi hỏi ông ta. “Chúng tôi biết hết”, ông không ngần ngại trả lời.

Khi người giúp việc rời xa bàn, ông Thiệu nghiêm giọng nói: “Tôi nghĩ rằng nội một vài ngày tới, tình hình sẽ trầm trọng hết sức mau lẹ”. Rồi ông nói qua cho tôi hay tình hình mặt trận: năm trong bảy sư đoàn trừ bị Bắc Việt đã vào tới Miền Nam. Như vậy tổng cộng là 19 sư đoàn trang bị đầy đủ với gần một ngàn xe tăng và trọng pháo. Hôm qua xe tăng Bắc Việt đã vượt sông Thạch Hãn đánh chiếm Quảng Trị và bắt đầu pháo kích Huế. Ông không nói gì tới vụ rút Pleiku và những cuộc họp mới đây với Thủ tướng Khiêm, Đại tướng. Trung tướng Quang, Trung tướng Trưởng, và Thiếu tướng Phú. Lúc tôi bắt đầu ăn tô phở thì ông lấy bút ra viết trên l trang giấy. Dường như là để thuyết phục chính bản thân mình, ông viết xuống:

– Quyền lợi quốc gia;

– Quyền lợi cá nhân;

– Địa vị chính trị.

Tôi hiểu ngay là ông đang làm một tính toán để đi tới một hành động nào đó.

Sát cạnh bốn chữ “quyền lợi quốc gia”, ông viết xuống số 1;

Cạnh mấy chữ “quyền lợi cá nhân” ông phê chữ Ø (chữ Ø “phi” có nghĩa là “không”);

Cạnh mấy chữ “Địa vị chính trị” cũng chữ Ø.

Viết xong mấy hàng trên, ông nhìn đi nhìn lại mấy chữ vừa mới viết. Tôi không biết ông đang tính toán chuyện gì. Lúc đó đã bắt đầu có những chống đối mạnh mẽ đối với cá nhân ông từ nhiều phía kể cả tại Quốc hội. Ông im bặt vài phút, sau đó nhìn tôi và nói: “Sự sống còn của quốc gia đòi mình phải xả láng, vì thế mình phải đặt với Hoa Kỳ câu hỏi “oui ou non” (có hay không) buộc họ phải dứt khoát còn muốn giúp hay không?

Mình không thể chờ lâu hơn được nữa. Rồi đây sẽ quá muộn. Giả thử không còn một lý do nào khác ngoài sự sống còn của quốc gia, lúc này tôi sẽ phải làm gì để Hoa Kỳ không thể dùng cái lập luận là “sự đã rồi” để lấy cớ mà bảo tôi rằng “Sorry, ít is too late to intervene…” (Rất tiếc, đã quá muộn để can thiệp)”.

Trước đó tôi có được ông cho xem một vài thư của Nixon và Ford. Lúc này đã đến lúc tuyệt vọng, chắc là một trong những điều ông đang tính toán và muốn hỏi ý kiến tôi xem nên sử dụng nó như thế nào. Tôi liền nắm lấy cơ hội và đề nghị ông nên công bố ngay mấy bức thư mật, bằng cách này hay cách khác. Tôi trình bày là nếu có một vài chính trị gia quay quắt thì người dân Mỹ trung bình lại là người lương thiện, đặt cao giá trị của công bằng, công lý. Và vì vậy, ông phải tranh thủ thẳng với nhân dân Hoa Kỳ, qua đầu ông Ford. Nếu dùng nó trong một kế hoạch vận động viện trợ cho hợp lý, kèm theo những vận động (lobby) qua báo chí, các đài truyền hình, phỏng vấn, họp báo v.v… thì có thể lấy ngay được phần nào phản ứng thuận lợi của nhân dân Mỹ, và vì thế Quốc hội sẽ có thái độ thuận lợi hơn về vấn đề viện trợ. Tôi đề nghị nên mua giờ phát sóng của một hệ thống truyền hình Mỹ để ông trực tiếp nói chuyện với nhân dân Hoa Kỳ, trình bày những đổi chác hậu trường của ông với Tổng thống Nixon. Lúc đó, tôi nghĩ tới đài truyền hình ABC vì có quen biết ông Frank Mariano của đài này.

Thế nhưng, ông chưa muốn thôi bảo mật những thư tín của Tổng thống Mỹ. “Tôi không muốn người Mỹ có pretext (cái cớ) để trỏ ngón tay vào mặt tôi”. Tuy nhiên ông bàn tới việc định gửi một thông điệp SOS (cấp cứu) tới ông Ford, yêu cầu can thiệp và yểm trợ. “Tôi vẫn cho là ông Ford còn có thể làm được một cái gì nếu như ông ta thực sự hiểu rõ tình hình”. Khi tôi tỏ vẻ dè dặt, ông nói: “Vấn đề là mình có quyền đòi nợ. Tôi chỉ có thể đòi ông trả nợ thôi. Trách nhiệm là của ông ta”.

Hai ngày sau, ngày 22 tháng Ba, 1975, Tổng thống Thiệu triệu tập một buổi họp với Chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm và Chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn. Ông Bắc và tôi cũng tham dự. Ông Thiệu đặt câu hỏi là “Chúng ta đã tới cái lúc cạn tàu ráo máng giữa ta với Hoa Kỳ chưa? Bây giờ có phải là lúc la lối om xòm lên chưa?” Đa số đều đồng ý rằng đã đến lúc phải dùng đến phương sách cuối cùng này: Miền Nam không nên công khai buộc tội Hoa Kỳ nhưng trong từng buổi tiếp xúc riêng phải cố thúc bách viện trợ, phải đòi gắt gao để sau này người Mỹ sẽ không thể nói được là đã quá muộn, viện trợ cũng chẳng ích gì. “Còn đối với nhân dân Mỹ thì sao”, ông Thiệu tiếp tục, “Có cách nào nói được với họ không? Chính cá nhân tôi hay là cấp lãnh đạo Quốc hội phải giải thích cho nhân dân Mỹ?”

Ngoại trưởng Bắc đề nghị: “Nên làm kín đáo, không nên công khai. Mình đâu muốn bị buộc tội là can thiệp vào nội bộ Hoa Kỳ”.

Tới đây, Tổng thống Thiệu nói thêm rằng hồi sáng, Đại sứ Martin có đến thăm và khuyên ông nên “vận động âm thầm với Tổng thống Ford”. Martin thêm rằng bây giờ là lúc Quốc hội Mỹ sắp nghỉ lễ Phục Sinh, cho nên có yêu cầu viện trợ cũng không được cứu xét. Bởi vậy: “Từ bây giờ tới lúc đó (sau Phục Sinh), mình sẽ âm thầm làm việc với nhau”.

Trấn an lần cuối.

Đang khi ông Thiệu cân nhắc xem nên làm gì thì Đại sứ Phượng từ Washington lại chuyển đạt một lá thư của ông Ford gửi cho ông Thiệu. Lá thư tới Sài gòn ngày 23 tháng Ba. Đó là liên lạc trực tiếp cuối cùng của Tổng thống Hoa Kỳ với Miền Nam. Chắc là ông Ford muốn nâng tinh thần ông Thiệu. Và làm như vậy chỉ hơn ba tuần trước khi có lệnh “yêu cầu Đại sứ (Martin) xúc liến cho nhanh việc di tản những công dân Mỹ ra khỏi Việt nam” (xem Chương 14).

Nhìn lại lịch sử, tôi nghĩ rằng có thể bức thư cuối cùng này chỉ nhằm trấn an ông Thiệu để ông khỏi la lối lên. Được gửi bằng mật mã từ Mỹ và giải mã ở Sài gòn, thư đọc như sau:

White House

Ngày 22 tháng Ba, 1975

Thưa Tổng thống,

Cuộc tấn công hiện nay của Bắc Việt chống lại quý quốc thật vô cùng xáo trộn khiến riêng cá nhân tôi lo âu. Theo quan điểm của tôi, thì cuộc tấn công của Hà Nội tượng trưng cho một sự việc không kém gì sự huỷ bỏ Hiệp định Paris bằng vũ lực.

“Biến chuyển này mang theo không hậu quả nghiêm trọng nhất cho cả hai dân tộc chúng ta. Đối với Ngài và nhân dân Ngài thì dây là lúc hy sinh lớn nhất, nó sẽ quyết đinh chính số phận quí quốc. Tôi tin tưởng rằng dưới quyền lãnh đạo của Ngài, quân lực và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục công cuộc bảo vệ kiên trì chống lại vụ xâm lược mới này. Tôi cũng tin tưởng chắc chắn rằng nếu có được sự yểm trợ bổ túc từ bên ngoài vào thì quý quốc sẽ thắng thế trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết của mình.

“Riêng đối với Hoa Kỳ thì vấn đề cũng không kém phần cấp bách.

“Khi hành động như thế này, Hà Nội đang tìm cách huỷ diệt tất cả những gì mà chúng ta đã chiến đấu để thành đạt, với phí tổn vô cùng to lớn, suốt mười năm qua!

Sự quyết tâm của Hoa Kỳ để yểm trợ một người bạn đang bị các lực lượng (Bắc Việt) với vũ khí hùng mạnh tấn công, hoàn toàn vi phạm một thoả ước quốc tế (đã được ký kết) long trọng, là một điều hết sức cần thiết.

“Riêng tôi, tôi quyết tâm rằng Hoa Kỳ sẽ đứng vững sau lưng Việt Nam Cộng Hòa trong giờ phút tối quan trọng này. Với mục đích tôn trọng những bổn phận của Hoa Kỳ trong tình thế này, tôi đang theo dõi những biến chuyển với chủ tâm cao độ nhất và đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn của tôi về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép. Về việc cung ứng viện trợ quân sự đầy đủ cho quân đội Ngài, xin Ngài yên tâm là tôi sẽ cố tâm nỗ lực để thoả mãn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường.

Trước khi chấm dứt, tôi xin được nhắc lại một lần nữa lòng cảm phục liên tục của tôi đối với quyết tâm của Ngài và đối với sức bền bỉ và sự anh dũng của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa”.

Kính thư,

(ký) Gerald R. Ford

Tổng thống Thiệu gạch dưới nhiều đoạn: “Quyết tâm của Hoa Kỳ ủng hộ một người bạn”, “Mỹ sẽ đứng vững sau VNCH trong giờ phút tối quan trọng này”, “tôn trọng những bổn phận của Hoa Kỳ trong tình thế này”, và “tôi sẽ cố tìm mọi nỗ lực để thoả mãn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường”. Thế nhưng, dù là nói tới “quyết tâm ủng hộ” này kia, người thảo bức thư đã khôn khéo gài vào mấy chữ: “(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép”.

Ông Thiệu chỉ thị cho tôi gấp rút soạn một lá thư gửi Tổng thống Ford. Ông ghi xuống những điểm chính để tôi viết lại bằng tiếng Anh. Trong bản dự thảo lần đầu, tôi mô tả chi tiết về tình hình suy sụp nhanh chóng tại Miền Nam, vì vào lúc đó trước công luận, trong các giới chức ở Washington không ai chỉ rằng tình hình đã nguy ngập.

Hồ sơ mật lệnh Độc Lập.

Trong lúc tôi đang soạn thư thì Đại tá Đức, một sĩ quan tuỳ viên của Tổng thống Thiệu tới nhà và mang theo một phong bì lớn ngoại khổ, nặng, cồng kềnh và dán kín. Bên trong phong bì là một tập giấy rời đựng trong bìa đen: đó là tập Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, gồm tất cả những thư tín trao đổi giữa VNCH và HK trong thời gian trên ba năm qua. Tôi được chỉ thị của Tổng thống là dùng tập hồ sơ này để soạn thảo lá thư cho ông.

Trước đó ít lâu, vào đầu tháng ba, tôi đã có dịp được coi phó bản của một vài lá thư lẻ tẻ, nhưng chưa bao giờ được đọc toàn bộ tập hồ sơ, gồm các thư của Tổng thống Nixon, Tổng thống Ford, và hàng chục lá thư của Tổng thống Thiệu, xếp theo thứ tự thời gian.

Thức khuya để đọc hết tập hồ sơ đó, điều làm tôi chú ý trước hết là đọc thấy những ngôn từ có thể nói là “tàn bạo”.

Trước đấy, trong cương vị một giáo sư đại học, tôi cứ tưởng là lãnh đạo các cường quốc luôn luôn có những ngôn từ ngoại giao, nhẹ nhàng. Nếu cần đe doạ, thì sẽ dùng một thứ ngôn từ gián tiếp nào đó, chứ đâu có “nói toạc móng heo”. Đọc tập hồ sơ xong tôi mới học được bài học chính trị khá phũ phàng ở hậu trường!

Điều làm tôi ngạc nhiên thứ hai là thấy rõ sự chặt chẽ và và quan trọng của những bảo đảm mà Tổng thống Nixon đã đưa ra để đổi chác với VNCH. So sánh nó với những gì đã và đang xảy ra, tôi thấy rõ sự gian trá và bội ước. Điều này thật khác xa những kinh nghiệm trong bao nhiêu năm của bản thân tôi sinh hoạt trong xã hội Mỹ (từ 1958). Qua lối sống hằng ngày trong giao tế, mua bán, người Mỹ nói chung là rất lương thiện, xòng phẳng. Từ khi còn ở đại học, tôi thấy sinh viên Mỹ thường không nói dối, hoặc là “cóp” bài hay gian lận trong lúc thi. Thí dụ như ở Đại Học Virgina, có một truyền thống gọi là “hệ thống danh dự”, (Honor System): thỉnh thoảng giáo sư cho sinh viên mang bài thi về nhà làm. Quan sát anh bạn Mỹ cùng phòng, cũng như nhiều sinh viên khác, tôi thấy ít khi nào họ mở sách ra xem hay làm bài chung với nhau. Khi đi mua đồ đạc đem về dùng, mấy hôm sau nếu thấy không tốt hay không vừa ý, vẫn có thể mang trả lại, hoặc đổi cái mới. Đa số người Mỹ thường không lạm dụng lề thói này.

Một suy nghĩ khác trong tâm trí tôi lúc đó là về phong cách làm việc không được hữu hiệu về phía VNCH. Nhẽ ra, sau Hiệp định Paris, tất cả những văn kiện hậu trường bang giao Việt – Mỹ đã phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, bàn bạc, rồi đưa ra những phương thức hành động cho thích hợp. Giá như Chính phủ Sài gòn khai thác hồ sơ này vào năm 1973 thì còn có hy vọng phần nào. Vào thời điểm đó, sau khi Tổng thống Nixon đã rút hết quân và mang được tù binh về, Quốc hội Mỹ vẫn còn đôi chút thiện cảm với Miền Nam 3 . Đằng này, chỉ có một cuộc họp vài ngày tại San Clemente giữa hai Tổng thống (tháng 4, 1973) và sau đó chỉ có một “thông cáo” nói tới việc Hoa Kỳ sẽ tiếp tục yểm trợ Miền Nam, chung chung như vậy thôi. Tổng thống Thiệu đã không bàn định gì thêm với Hội đồng Tổng trưởng cũng như chia sẻ với Quốc hội. Tại Quốc hội, năm 1974, ông Trần Văn Lắm là Chủ tịch Thượng Viện. Lúc trước ông là Tổng trưởng ngoại giao, và là người ký Hiệp định Paris, như vậy ông đã biết đầy đủ về những tài liệu này. Với chức vị mới của ông bên lập pháp, ông đã có thể liên lạc thẳng với Quốc hội Hoa Kỳ để đưa ra vấn đề, dù có thể bị Kissinger chống đối.

Năm 1973 và 1974, đôi khi Eric Von Marbod có hỏi tôi là có những bằng chứng nào về việc ông Nixon hay Kissinger hứa hẹn gì với Tổng thống Thiệu không? Marbod đã muốn có dữ kiện để đưa cho cấp trên của mình là Schlesinger. Ông này có thể dùng nó khi lên Quốc hội điều trần về viện trợ. Sau ngày sụp đổ, có lần tôi hỏi Tổng thống Thiệu về việc này thì ông trả lời: “Nếu họ (Chính phủ Nixon, Ford) muốn giúp mình thì tự họ phải thông báo cho Quốc hội hội biết; nếu mình tiết lộ, họ sẽ vin vào đó mà nói mình bội ước”. Phía Hoa Kỳ đã luôn luôn dặn ông phải giữ bí mật mọi trao đổi văn bản (ngay lúc Kissinger đưa bản thảo Hiệp định Paris cho ông Thiệu hồi tháng 10, 1972, ông ta còn dặn là “Phải giữ hết sức bí mật”, nhưng ông Thiệu đã trả lời thẳng là “ít nhất tôi cũng phải đưa cho Hội đồng an ninh xem”).

Khiếu nại tới lương tâm Hoa Kỳ.

Trong bản dự thảo thư gửi cho Tổng thống Ford, thoạt đầu tôi mô tả chi tiết về tình hình suy sụp nhanh chóng ngoài mặt trận, vì tại Washington lúc ấy, Tổng trưởng quốc phòng đang nói là không có một khủng hoảng quân sự nào ở Việt nam! Trong khoảng thời gian soạn thảo lá thư, thì mặt trận đã suy sụp nhanh chóng. Một bản thảo vừa viết xong, tình thế đã lại thay đổi, khiến nó trở thành lỗi thời. Nhịp biến chuyển của thời gian có thể trông thấy ngay trước mắt.

Sau khi nhận được thư Tổng thống Ford viết ngày 22 tháng 3, ông Thiệu quyết định nói mạnh, đòi Mỹ yểm trợ bằng quân sự. Ông chỉ thị cho tôi “đừng báo cáo chi tiết về tình hình, mà cũng đừng nói gì tới xin quân viện 300 triệu đô la nữa”. Buổi chiều ngày 24 tháng 3, bản thảo chót được trình cho ông, có đoạn mở đầu: “Thưa Tổng thống, lúc lá thư này tới tay Ngài, thành phố Huế có lẽ đã bị bỏ ngỏ, và rất có thể chính Sài gòn cũng đang bị đe doạ”.

Sáng hôm sau, Huế bị bỏ ngỏ thật. Ông Thiệu xoá câu mở đầu gạc đi những câu dài dòng. Đọc bản thảo, ông chữa và viết lại yêu cầu can thiệp bằng quân sự và tăng quân viện.

Nguyên văn cuối cùng như sau:

Ngày 25 tháng 3, 1975

Kính gửi Tổng thống Gerald Ford

Toà Bạch Cung

Thưa Tổng thống,

Xin cảm ơn Ngài về bức thư đề ngày 22 tháng 3, 1975 của Ngài.

Trong lúc tôi viết bức thư này cho Ngài thì tình hình quân sự tại Nam Việt nam đang hết sức khẩn trương, và cứ mỗi giờ qua lại càng trầm trọng hơn.

Sự bất quân bình trong cán cân lực lượng của hai bên đã nghiêng hẳn về phía quân Bắc Việt, cũng như những lợi điểm chiến lược mà chúng thu thập được trong hai năm qua, đã đưa tới tình trạng khủng hoảng hiện nay, nhất là tại Vùng 1 và Vùng 2 Chiến thuật, như Ngài hẳn đã biết. Những áp lực nặng nề đang đè xuống tất cả phần còn lại của lãnh thổ quốc gia. Chúng tôi, và chính Sài gòn cũng đang bị đe doạ.

Bởi vậy, nếu không có những biện pháp cực mạnh và mau chóng về phía Ngài để tái lập sự quân bình lực lượng thì chúng tôi sẽ khó mà ngăn chặn sự tiến quân của các lực lượng Cộng sản, để giữ vững phòng tuyến hầu đẩy lui lực lượng xâm lăng.

Ý đồ của Hà Nội là dùng Hiệp định Paris đê thôn tính miền Nam bằng quân sự thì chúng tôi đã biết rõ ngay từ lúc còn đang thương thảo Hiệp định này.

Chắc Ngài còn nhớ chúng tôi đã ký (Hiệp định ấy) không phải vì chúng tôi ngây thơ tin ở thiện chí của kẻ thù, mà chỉ vì chúng tôi đã tin tưởng vào lời cam kết long trọng của Hoa Kỳ là sẽ bảo vệ hoà bình tại Việt nam.. Theo những lời cam kết vững chắc lúc ấy, chúng tôi đã được hứa hẹn là Hoa Kỳ sẽ trả đũa thực lòng và mãnh liệt khi có bất cứ vi phạm Hiệp định nào của đối phương.

Chúng tôi coi những lời cam kết đó là bảo đảm quan trọng nhất cho Hiệp định đình chiến.

Chúng tôi tin vào cam kết đó là tối quan trọng cho sự sống còn của chúng tôi.

Thưa Tổng thống,

“Trong giờ phút hết sức khẩn trương này, lúc mà sinh mệnh của miền Nam đang lâm nguy và hoà bình đang bị đe doạ nghiêm trọng tôi xin long trọng yêu cầu Ngài thi hành hai biện pháp cần thiết sau đây:

Ra lệnh cho phi cơ B-52 can thiệp trong một thời gian ngắn nhưng mãnh liệt xuống những nơi tập trung quân và căn cứ hậu cần của địch trong lãnh thổ Miền Nam Việt nam, và cung ứng khẩn cấp cho chúng tôi những phương tiện cần thiết để ngăn chặn và đẩy lui cuộc tấn công.

“Chỉ có hai hành động này mới có thể chặn đứng được kẻ thù khỏi xé nát những mảnh giấy còn lại của Hiệp định Paris.

Thưa Tổng thống,

“Một lần nữa, tôi muốn kêu gọi Ngài, kêu gọi đến uy tín của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, và nhất là khiếu nại tới lương tâm của nhân dân Hoa Kỳ.

Tôi đã rất phấn khởi khi thấy vào lúc mới nhiệm chức Tổng thống, chính Ngài đã mau chóng tái xác nhận những bảo đảm cũng như tiếp tục chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ (đối với Việt nam) và minh định hiệu lực của những cam kết hiện hữu. Tôi tri ân Ngài về việc Ngài (đã nói, rằng sẽ) quyết tâm tôn trọng hoàn toàn những cam kết đó trong nhiệm kỳ của Ngài. Như Ngài đã nhận định thật đúng, những bảo đẩm này đặc biệt thích hợp với (trường hợp) Việt Nam Cộng Hòa.

Nhiều thế hệ quốc dân Việt nam sau này được sống trong tự do không bị Bắc Việt thống trị sẽ mang ơn về những hành động kịp thời của Ngài và lòng kiên trì của dân tộc Hoa Kỳ vĩ đại.

Trân trọng,

Nguyễn Văn Thiệu         

Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa

Sau khi ông Thiệu chữa xong, tôi sang phòng Đại Tá Cầm, chánh Văn phòng của Tổng thống, và dặn ông cho đánh máy ngay rồi mời Đại sứ Mỹ sang trao càng sớm càng hay. Tôi vừa ra khỏi phòng Đại tá Cầm mới nhớ là đã quên chưa cám ơn ông Ford về lá thư ngày 22 tháng 3. Có lẽ là vì nó chẳng có gì đáng nhớ. Nhưng tôi vội quay lại, ghi vào bản thảo và dặn ông Cầm thêm câu cám ơn cho lịch sự. (tôi viết: add “Thanh you for your letter of March 22nd”). Lúc dó Đại sứ Martin đã đi Mỹ vận động vào giờ chót. Phó Đại sứ Wolfgang Lehmann sang nhận thư. Ông Thiệu nói chuyện sơ với ông Lehmann và trao cho ông xem bức thư cầu cứu cuối cùng của VNCH.

Lehmann nói vài câu qua loa giải thích sự vắng mặt của Đại sứ Martin. Bằng một giọng như nghẹn ngào, ông hứa “Tôi sẽ chuyển ngay thư này”. Ông vội về Toà đại sứ và bằng một đường giây đặc biệt, đã điện về Washington ngay sau đó.

Một chút ân tình

Nhận được thư ông Thiệu, Tổng thống Ford không hồi âm nhưng làm một nghĩa cử tượng trưng cho một chút ân tình. Trong Hồi ký (1979) ông viết lại rằng:

“Chiều ngày 25 tháng 3 (ngày 26 giờ Sài gòn), tôi họp với các ông Kissinger, Scowcroft, Martin và tướng Weyand, Tham mưu trưởng Lục quân. Mọi người đều biết là tình hình Miền Nam rất trầm trọng nhưng không ai biết nó nguy kịch như thế nào. Tôi yêu cầu ông Weyand bay sang Sài gòn sớm nhất có thể, ở đó độ một tuần rồi mang về một báo cáo đầy đủ”.

Biết rằng “Chẳng ai biết nó nguy kịch như thế nào”, Tổng thống Ford hoàn toàn không đả động gì đến những cầu cứu khẩn thiết của Tổng thống và Chủ tịch Quốc hội VNCH (xem Chương sau). Ông Martin vừa ở Sài gòn trở về Washington sau khi họp nhiều lần với ông Thiệu, cũng như đã có đầy đủ tin tức chiến trường do Polgar cung cấp, và đã báo cáo chi tiết cho Kissinger và Ford.

Ngày 27 tháng 3, Von Marbod gọi cho tôi từ Ngũ Giác Đài thông báo là ông sẽ cùng đi với tướng Weyand. Tôi rất mừng, vì lúc đó đã bắt đầu nghi ngờ về sự hiểu biết của ông Ford.

Nhận rõ bản tính hay nghi ngờ của ông Thiệu, tôi dựa vào đó nói lên mối quan tâm của tôi trước khi phái đoàn Weyand tới Sài gòn.

Làm sao để đi vòng?

Tôi muốn ông Thiệu biết việc tôi dự định làm để đi vòng sau lưng ông Kissinger. Từ mùa hè 1974, ông Thiệu có dặn là khi nào tôi chủ động muốn gặp ông thì cứ đưa cho Đại tá Cầm một phiếu nhỏ, ghi vấn đề muốn bàn và mức độ gấp hay không gấp. Nếu ghi số 1 là gặp ngay, càng sớm càng tốt; số 2. nội trong 3-4 ngày; số 3: nội trong tuần. Hôm đó tôi chỉ ghi: “Vấn đề quan trọng” và về độ khẩn, tôi ghi hai lần số 1. Tôi nói với Đại tá Cầm sắp xếp cho tôi gặp ông vào buổi sáng vì biết bản tính ông hay cởi mở, đón nhận những ý kiến mới vào sớm mai.

Vừa gặp, tôi đã đi thẳng vào vấn đề và nói tới nghi vấn của tôi (việc chính ông Ford cũng không biết rõ những chuyện giữa Nixon với ông.

“Sao anh lại nghĩ vậy? Làm sao mà một Tổng thống lại không biết đến sự việc đó? Ông ta vừa lập lại “những cam kết của Hoa Kỳ với tôi”, ông Thiệu ngạc nhiên hỏi tôi.

“Ấy chính điểm đó mà tôi mới nghi”.

Trước khi để ông hỏi “tại sao anh nghi”, tôi nói tiếp “Có lẽ Kissinger đã bưng bít, không trình ông ta”.

Thế là đã trúng. Ông Thiệu luôn nghi ngờ là Kissinger trước kia đã không tường trình đầy đủ mọi khía cạnh về Hoà Đàm Paris cho Tổng thống Nixon. Ông tỏ vẻ đăm chiêu, mắt chớp chớp. Được đà, tôi nói thêm: “Tôi đề nghị Tổng thống cho phép tôi tìm cách gửi những thư của ông Nixon tới ông Ford”.

Ông Thiệu không nói gì, lại càng nhìn tôi chăm chú. “Bây giờ mình đã tuyệt vọng, không còn cái phao nào mà bám nữa”, tôi cố gắng thuyết phục. Dường như bị một nỗi chua xót đang dày vò, ông không nói gì thêm, ngả lưng vào ghế, nhìn lên trần nhà, cau mày, suy tư. Tôi đứng dậy, “Thôi tôi về để Tổng thống làm việc”.

Rời bàn ăn tôi đi về phía cầu thang. Vừa đi được mấy bước, bỗng ông Thiệu gọi giật lại: “Anh Hưng”, tôi quay lại. Ông dặn với: “Làm gì thì làm, nhưng phải hết sức thận trọng đừng để Mỹ có cớ đổ tội cho là mình bội tín”. Tôi hiểu ngay là ông đã đồng ý, nhưng như thường lệ, ông không ra lệnh rõ ràng.

“Tổng thống đừng ngại, có gì cứ đổ cho tôi”. Ông hấp tấp đi xuống văn phòng.

Tới Sài gòn, ông Von Marbod gọi cho tôi ngay. Tôi mời ông tới nhà dùng cơm ngay chiều hôm đó. Rất mong tin tức xem Washington phản ứng thế nào về lời cầu cứu, tôi muốn dò xem trước khi phái đoàn Weyand lên đường, ông Ford có bình luận gì không? “Tổng thống Ford gửi Weyand sang để trấn an và xem các anh cần giúp gì”, ông nói. Sau vài ly bia “33” mà ông rất ưa thích, tôi hỏi thẳng xem có phải tướng Weyand sang Sài gòn là để đáp ứng lá thư cầu cứu của Tổng thống Thiệu vừa gửi không? “Tổng thống Thiệu hả, hồi nào?” Marbod hỏi giật. Té ra ông và cả phái đoàn Weyand không hay biết gì cả. Tôi tóm tắt nội dung lá thư, và nhấn mạnh là lời cầu cứu SOS được dựa trên căn bản những hứa hẹn mật để bảo đảm hoà bình và cung cấp đầy đủ viện trợ. “Ai hứa?” Marbod tò mò hỏi. Khi tôi nói rõ ra là đã có những cam kết của chính ông Nixon viết trên giấy trắng mực đen gởi cho ông Thiệu, Marbod hết sức hồ nghi. “Anh nói gì vậy? Tổng thống Nixon thực sự có hứa hẹn à, hứa gì? bao giờ, bao giờ?” Ông hỏi dồn dập.

Trước khi đi xa hơn, tôi hỏi ông ta xem vai trò của Tướng Weyand có quan trọng không. Ông cho biết là rất quan trọng và khi về Washington thì Weyand sẽ báo cáo thẳng cho Ford (sau khi báo cáo theo hệ thống cho Tổng trưởng quốc phòng). Tôi mở cặp, đưa cho Marbod coi một vài lá thư của Tổng thống Nixon.”Thật là khó tin. Tại sao các anh lại dấu những tài liệu này đi?”

“Ông có nghĩ là Tổng thống Ford biết đến những lá thư này không?” tôi hỏi lại.

“Tôi không biết. Tôi không đoán được”, Marbod trả lời. “Tôi phải về ngay để gặp tướng Weyand”, ông nói và yêu cầu tôi cho ông mang theo mấy lá thư. “Liệu ông có thể chuyển giúp mấy thư này tới tay Tổng thống Ford qua ngả tướng Weyand được không?” tôi hỏi.

“Lẽ dĩ nhiên tôi có thể lo việc này được. Nếu biết sớm hơn, chúng tôi đã có thể giúp cho VNCH nhiều hơn”.

Thật khó cho tôi giải thích là chính mình cũng chỉ vừa mới biết hồ sơ mật này. Để cho cẩn thận, tôi nhờ Marbod về trao đổi với tướng Weyand liệu xem ông ta có sẵn lòng làm việc này không đã. Bởi vậy tôi đề nghị là trước hết, tôi chỉ ghi mấy nét chính trong vài lá thư cho Weyand đọc xem ra sao?

Vài hôm sau, Marbod trở lại. “Weyand rất đỗi ngạc nhiên về những bức thư này”, ông nói. “Weyand cũng đồng ý là có lẽ Tổng thống Ford không biết gì thật! Trước khi lên đường ông ta đã họp mật với Tổng thống và hoàn toàn không thấy đả động gì đến cả” Marbod nhấn mạnh: “Anh phải đưa thư cho tôi ngay, tướng Weyand sẽ tìm cách đưa riêng cho ông Ford”

4. Ngày 3 tháng 4, trước khi về Washington, phái đoàn đoàn tới Dinh Độc Lập họp với phía VNCH. Đêm hôm trước, ông Thiệu bảo tôi soạn một bản tóm tắt những đoạn quan trọng trong mấy lá thư để ông khôn khéo sử dụng một cách bóng gió với Weyand. Tôi trình bày là ông khỏi phải nói vì tôi đã làm việc đó rồi. “Anh gặp ông ta hồi nào?” Ông Thiệu ngạc nhiên hỏi. “Tôi không gặp chính ông ấy, nhưng nhờ một người thân tín trao dùm. Weyand rất ngạc nhiên và cũng nghĩ rằng chính ông Ford cũng không biết đến chuyện này”. Bây giờ thì ông Thiệu đã hoàn toàn tin là Kissinger bưng bít. “Vấn đề này rất tế nhị, người bạn tôi và tướng Weyand sẽ tuỳ cơ ứng biến”, tôi nói, rồi nhắc lại: “Tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc này. Nếu bị tiết lộ và Kissinger phản kháng, Tổng thống cứ đổ hết cho tôi”.

Tổng thống Ford xúc động

Đang trên đường bay về Washington để báo cáo, trước hết cho Tổng trưởng quốc phòng theo hệ thống, thì Weyand được lệnh đổi hướng bay thẳng tới Palm Springs (Nevada) để phúc trình cho hai ông Ford và Kissinger tại đó. Weyand muốn đưa mấy bức thư cho ông Tổng thống, nhưng làm sao mà đưa riêng được? Weyand thừa biết rằng nếu Kissinger biết chuyện này thì chắc chắn ông ta sẽ chặn lại, hoặc là sẽ sửa soạn tinh thần ông Ford. Kissinger có biệt tài về hùng biện. Nếu ông muốn chuẩn bị ông Ford trước thì rất dễ dàng. Chỉ cần đưa ra một cách giải thích nghe rất hợp lý thí dụ như: “đâu có gì quan trọng; những lời tuyên bố công khai hồi đó cũng đã giống như vậy rồi” là ông Ford tin ngay, vì ông Ford đâu có theo dõi gì. Câu nói này cũng chính là luận điệu Kissinger đã đưa ra để biện hộ lúc về sau này.

Biết như vậy nên Weyand đã cố sắp xếp để gặp riêng ông Ford ngày 5 tháng 4 được năm phút trước khi họp với Kissinger “Đọc mấy thư này, ông Ford đã xúc động”, Marbod kể lại. Và có lẽ là vì thấy quá bất nhẫn, nên ông đã thay lòng đổi dạ, có quyết định cứu thêm số người di tản và xin thêm quân viện cho Miền Nam dù đã quá muộn (xem Chương sau).

Weyand, von Marbod gặp Ford và Kissinger trong phòng ngủ ngôi biệt thự nghỉ hè của ông Ford. Weyand trao cho Ford bản phúc trình về tình hình tại Miền Nam và đề nghị những biện pháp yểm trợ, đặc biệt là tăng 722 triệu quân viện cấp thời. Trong bản tóm lược về báo cáo chi tiết, Weyand viết:

“Tình hình quân sự hiện nay đang nguy ngập… Chính phủ Việt nam đang gần kề sự thật bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên, Miền Nam đang làm kế hoạch tiếp tục chống giữ với những tài nguyên còn lại của họ và, nếu được một thời gian để lấy lại sức, họ sẽ xây dựng lại được những khả năng của họ tới mức mà sự yểm trợ vật chất của Hoa Kỳ sẽ cho phép. Tôi tin rằng chúng ta thiếu họ món nợ yểm trợ đó…

“Chúng ta đã giơ tay ra cho nhân dân Miền Nam Việt nam và họ đã nắm lấy. Giờ đây, họ đang cần đến bàn tay giúp đỡ ấy nhiều hơn bao giờ hết…

“Uy tín của Hoa Kỳ, trong cương vị một nước Đồng minh, hiện đang bị thử thách tại Việt nam. Để giữ vững được uy tín đó, ta phải làm một nỗ lực tối đa để yểm trợ nhân dân miền Nam Việt nam trong lúc này.

“Bản phân tích chi tiết hơn được trình bày trong phúc trình đính kèm.

Kính trình

(ký) Fred C. Weyand

Trong phần chính của bản phúc trình, Weyand đã biện hộ cho một ngân khoản quân viện khẩn cấp là 722 triệu cho Miền Nam. Vào thời điểm đó, ông Ford đang bắt đầu sửa soạn ra tranh cử chức Tổng thống năm sau. Phần nào, ông ta bị mặc cảm là chưa hề bao giờ được dân chúng Mỹ bầu lên địa vị tối cao của Hành pháp. Từ một dân biểu ở Hạ Viện, ông dược Nixon cất nhắc lên làm Phó Tổng thống, vào hè 1974 (khi ông Phó Tổng thống Agnew từ chức). Sau đó, ông nhảy vọt lên chức Tổng thống khi Nixon ra đi.

Và bộ hạ của ông Ford ở Bạch Ốc đang cố vấn ông: “hãy đưa nước Mỹ ra khỏi Việt nam chứ chớ có đưa vào nữa!”

——————————–

1          Trích dẫn cuộc họp báo của Tổng trưởng quốc phòng Schlesinger, 14-l-1975, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

2          Phỏng vấn Trần Văn Đôn, 10-4-1985.

3          Về điểm này, ông Graham Martin đã xác nhận với tác giả rằng theo ông, Quốc hội còn khá nhiều thiện cảm với Miền Nam sau khi mang được tù binh và rút được quân về.

4          Gerald Ford, A time to heal, trang 250-251.

5          Henry Kissinger. Ending the Vietnam war, trang 536.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

27. Lâm Chương.

Truyện và Những Đoản Văn là tác phẩm đầu tay của Lâm Chương chưa được xuất bản. Nhưng tên ông đã trở nên quen thuộc đối với độc giả các tạp chí ở hải ngoại trong nhiều năm gần đây. Người ta nhớ đến ông như một người thông minh, sắc sảo, nhưng cũng là người có óc khôi hài. Những người có năng khiếu khôi hài thường đều là những người thông minh và có từ tâm. Người ta có thể thấy cả hai điều ấy trong từng dòng những gì Lâm Chương viết ra, dù đó có là những chuyện đắng cay, ai oán hay phê bình gay gắt. Kể từ sau biến cố 1975, người ta đã được đọc, nhan nhản những chuyện hàng ngày trong đời sống “xã hội chủ nghĩa”, trong các trại cải tạo, chuyện đói rét, nhục nhã … nhưng hình như vẫn chưa hết. Cứ mỗi người trải qua, kể lại,

người ta lại thấy thêm những điều làm cho có thể cười, khóc. Cười, khóc và xót thương cho đất nước, cho dân tộc, cho bản thân. Lâm Chương kể lại vài cảnh trong trại học tập như sau:

“Một bữa đẹp trời có anh vác ba lô lững thững đi ra cổng trại. Lính gác giữ lại, hỏi: “Anh đi đâu?”

Anh trả lời rất tự nhiên: ‘Nhớ nhà quá, muốn về thăm vợ con vài bữa rồi trở lại học tiếp’. ‘Đứng chờ đấy. Tôi sẽ hỏi ý kiến cấp trên Năm phút sau, một toán vệ binh xách súng rầm rập chạy tới đưa ‘anh nhớ nhà’ vào conex .. Anh tên Thông. Trước kia anh là đại úy làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu. Gần đây tính khí biến đổi bất thường, nhiều người bảo anh bị chứng tâm thần”

Trại trưởng thì lại tuyên bố:

“Tập thể các anh bị Mỹ Ngụy đào tạo làm tay sai, thành người mất nhân tính”. [tr. 170]

Một bà mẹ, dẫn thằng con vốn là thiếu uý chế độ cũ lên Long Giao, giao cho cán bộ, bảo:

“Con tôi dại dột bỏ học nửa chừng. Tôi dẫn nó trở lại, xin các ông tha thứ và dậy dỗ nó nên người có ích cho nhân dân”.

Cán bộ an ninh lễ phép: “Bác là người sáng suốt thông hiểu đường lối cách mạng. Chúng tôi ghi nhận công lao của bác đã tiếp tay với chúng tôi đưa những người lầm đường lạc lối về đây học tập tốt”.

“Cám ơn các ông. Tôi tin tưởng cách mạng. Tương lai con tôi xin gửi vào cách mạng”. [tr. 171] Người con trai ấy, chàng thiếu úy ấy, sau khi mẹ về, đã bi đưa thẳng vào nhốt trong conex. Cho đến một đêm chàng được đánh thức dậy để chuyển trại, cùng với mấy người khác, quy định là “khi di chuyển phải yên lặng”.

Và họ đã yên lặng đi đến chỗ chết. Vì họ đã bị bắn ở dọc đường, trong cái góc tối tăm của một khu đồn điền nào đó, vùi chung trong một cái hố đã được đào sắn. Lâm Chương viết tiếp [ở trang 175] như sau:

“Trên đường về, trăng khuya mờ đục, lạnh tanh. Lúc ngang qua khu gò mả, người mang súng dài nói nhỏ với người bên cạnh: ‘Có thằng chưa chết hẳn, mày ạ.’ ‘Đã cho thêm một phát vào đầu, bố nó cũng không sống nổi.’

‘Không phải thằng đó. Thằng nằm giữa cơ.’

‘Sao?’

‘Lúc tao nắm chân kéo đi, còn nghe hắn thở ò è như người bị suyễn nặng’.

‘Thế rồi sao?’.

‘Ném luôn xuống hố, chứ sao nữa?’

‘Cũng xong thôi’.

Ai đã trải qua các trại cải tạo [thường, không ai ở một trại từ đầu cho đến lúc được tha ra] đều biết, mỗi trại có một cách quản chế khác nhau. Nói chung, trại nào cũng có những “ngón riêng” của cán bộ, tù đã nếm thử sẽ nhớ đời. Ai bị nhốt ở đâu thì biết đấy.

Vậy thôi. Cái đời sống Lâm Chương kể lại trong cuốn sách của ông là một đời sống nát bấy. Chống đỡ cho sự suy sụp chính là những nụ cười Lâm Chương còn giữ được. Cười thì cười, nhưng đọc ông người ta vẫn luôn có cảm thấy rờn rợn vì bị cái buồn lấn áp.

Giang, bạn cũ của nhân vật xưng tôi trong truyện ngắn “Lỗi Tại Tôi Mọi Đàng”, dựng lều, căng bạt bán cà phê. Chồng Giang vượt biên sang Mỹ, nghe đâu đã có vợ khác. Nhân vật ‘tôi’ đi học tập về, thất thế, vợ cũng đã cắt đứt mọi liên hệ.

Hai người quen biết cũ gặp lại nhau như hai cái bóng. Chàng giúp nàng dọn quán, chất lên một chiếc xe kéo. Ở trang 119, Lâm Chương viết:

“Đến nhà, Giang bảo: ‘Để nguyên như thế. Cho cả chiếc xe vào nhà. Mai lại đem đi.’ Tôi đứng tần ngần. Nửa muốn nán lại, nửa muốn về. Giang đến gần tôi hỏi nhỏ: ‘Có ai chờ anh ở nhà không’.

Tôi nói: ‘Không’

Giang nói như nói thầm: ‘Thế thì nghỉ lại đây với em.’

Tôi quàng vai Giang.

Giang vùng ra: ‘Cho em đi tắm.’

Tôi ra đứng ngoài sân, nghe tiếng giội nước sau hè. Tôi hình dung ra thân thể nở nang của người đàn bà một con, da thịt trắng ngần loang loáng nước dưới trăng. Tôi háo hức đợi chờ. Lúc sau, tôi bước vào nhà. Giang mặc áo cánh mỏng, đang lúi húi khơi lại ngọn đèn. Tôi ôm ghì lấy Giang. Giang nói: ‘Từ từ anh …’

Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn, dìu Giang đến chiếc giường nơi có ánh trăng mờ mờ xuyên qua đầu hồi. Tôi ôm Giang vuốt ve, hôn hít. Giang thở dồn dập. Tôi cũng thở dồn dập. Bao nhiêu rạo rực dục tình dồn nén trong mười năm trời bỗng tuôn ra tháo đổ khi chưa kịp cởi áo quần. Tôi xấu hổ cố giấu Giang. Tôi lặng đi một lúc, rồi tiếp tục vuốt ve hôn hít mong mau chóng hâm nóng lại tình dục. Nhưng bất ngờ Giang sờ tay xuống dưới, đụng phải vật mềm nhũn. Giang kêu lên nho nhỏ: ‘Em biết tại sao Minh bỏ anh rồi’.

Tôi hốt hoảng kêu: ‘Không phải thế đâu’

Giang vùng dậy, thắp đèn: ‘Em xin lỗi. Khuya lắm rồi, anh về đi’.

Quả thật, có điều gì đó giống như sự khuya muộn, sự hiểu nhầm, và có cả những sự thật, trong những gì Lâm Chương viết ra. Và, tất cả làm thành một nỗi buồn khó quên trong lòng người đọc.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 Aug 2025

26. Lãng Nhân

Trong bài tựa viết cho cuốn  Trước Đèn của Lãng Nhân, tái bản năm 1964 tại Sài Gòn, nhà văn Vũ Bằng còn phải gọi Lãng Nhân là nhà văn lớp trước. Như thế, có thể coi Lãng Nhân Phùng Tất Đắc thuộc lớp nhà văn, nhà báo đầu tiên của chúng ta. Được biết, năm 1930, Hoàng Tích Chu từ Pháp về, đã cho ra đời tờ Đông Tây với mục đích cải cách nền báo chí Việt Nam đã quá chậm tiến. Lãng Nhân đã tham gia thực hiện tờ báo này với tư cách chủ bút. Năm đó ông mới 23 tuổi. Sau đấy, chính ông còn có lúc đứng ra làm giám đốc cho hai tờ báo viết bằng Pháp ngữ là Le Cri de Hanoi và Fléchettes.

Các tác phẩm chính của Lãng Nhân gồm có: Trước Đèn, Chuyện Vô Lý, Chơi Chữ, Giai Thoại Làng Nho, Chuyện Cà Kê … và các tập tiểu truyện danh nhân như: Khổng Tử, Tư Mã Quang, Vương An Thạch, Nguyễn Thái Học, Tôn Thất Thuyết v.v … Trước Đèn tuy là tác phẩm đầu tay nhưng phản ánh gần như đầy đủ phong cách làm việc của ông về văn chương chữ nghĩa, những ưu tư của ông về mọi vấn đề trong cuộc sống.  Cái nhan Trước Đèn của ông gợi trước tiên đến việc đọc sách. Và, về việc này, ông viết:

“Đọc sách đối với nhà nho, không phải chỉ là thú tiêu nhàn tao nhã, mà còn là một tác dụng thiêng liêng: tìm cách cảm thông với người thiên cổ.

Người thiên cổ đã để lại trong thư tịch một túi khôn uyên áo, hay một tấm lòng cảm thương, túi khôn mong giúp ích cho đời sau, tấm lòng mong bộc bạch với người sau …”.

Chúng ta đều sống trong thời gian, đã có bao nhiêu định nghĩa về thời gian và nhất là đã có bao nhiêu người tự định nghĩa cho mình và hiểu thời gian là cái gì nhỉ?

Bàn về điều này Lãng Nhân viết:

“Ai chế ra đồng hồ thực đã có công hình dung được thời gian, nhưng có ngờ chăng là đã chuốc cho người đời bao nhiêu lo lắng! Hai chiếc kim nhọn hoắt, lúc nào cũng đon đả đua nhau thái nhỏ đời ta ra làm trăm ngàn mảnh vụn. Mỗi tiếng tích tắc nghe như tiếng nhấm, gặm, thủng thẳng, lạnh lẽo, tựa hồ điềm nhiên nhắc vào tai ta rằng: đây là một giây, một phút của đời đã tách ra và rơi mất vào khoảng không vô tận”. Có những vấn đề hết sức mật thiết với mọi người, mọi thời đại, người ta đã bàn cãi rất nhiều, nhưng không dễ gì đồng ý với nhau thế nào là ý nghĩa đích thực của tình ái hay hôn nhân chẳng hạn. Sau đây là ý kiến của nhà văn Lãng Nhân, về vấn đề được nêu trên, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, phải nhắc lại điều đó để thấy rõ những suy nghĩ [còn có thể coi là] rất hiện đại của ông:

“Ái tình là một lòng dục: đứng vào phương diện sinh lý, ái tình không ngoài sự cần dùng của nhục thể. Đã là cần dùng, thế tất phải làm cho thoả mãn. Nhưng thỏa mãn thế nào cho có vẻ mỹ quan, đấy là dấu loài người cao hơn vạn vật, cũng lại là cách làm cho ái tình nhoi lên đến cõi thơ mộng, vượt hẳn ra ngoài cái tục tằn của mọi loài?”.

Ông cũng quan niệm hôn nhân chỉ là đơn thuốc của luân lý để chữa bệnh cho xã hội, mà luân lý cũng như thầy lang đều không dám quyết đoán, không dám thẳng tay điều trị. Ông nói thẳng những sự thật nhiều khi người khác có thể cũng biết nhưng không dám nói hay chỉ nói ra một nửa. Bàn về Tự do, Bình đẳng, Bác ái, ông viết:

“Tự do, Bình đẳng, Bác ái, ba điều tốt đẹp trên thế gian. Tốt đẹp vì cả ba cùng chỉ có ở trong lý tưởng, nhờ cái ánh sáng rực rỡ của lý tưởng rọi vào, nên mới lập loè sắc hào quang. Thực ra, bác ái là yêu mình trước đã, rồi sẽ yêu đến người. Lắm kẻ yêu mình còn chưa xong, trách gì không yêu được người. Bình đẳng trong đời họa chỉ có hai lúc: lúc lọt lòng ra, lúc thác đi. Ai cũng do một nơi mà đến, ai cũng về một nơi bị gậy cân đai đất một hòn”.

Đọc Lãng Nhân, nhà phê bình Tạ Tỵ đưa ra nhận xét:

“Lãng Nhân đã phí rất nhiều hơi sức và thời gian với sách vở. Đọc cả một xe sách để chỉ lấy về phần mình vài suy nghĩ rồi từ suy nghĩ đó Lãng Nhân sửa soạn cho sự nghiệp văn chương của mình những bước đi riêng trong khung cảnh đặc biệt của ‘nước An-Nam’ đang bị ngoại bang và phong

kiến tiếp tay bóc lột, áp bức. Do đó, lời văn và tư tưởng gói ghém trong mỗi dòng, mỗi chữ đều toát ra nỗi giận hờn, muốn khóc mà không được, muốn kêu gào nào biết có ai nghe? Vì biết rõ hoàn cảnh và mục tiêu cần đạt tới như một kẻ phiếm du trong khu vườn cấm, tìm cách mở đường cho kẻ đi sau”.

Họ đã đến và chết vì tự do

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on August 14, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 Aug 2025

Ký giả chiến trường Sean Flynn và Dana Stone. (Hình: tác giả cung cấp)

Tờ mờ sáng, sương rừng còn đọng trên tàu lá chuối, hai thanh niên mắt xanh mũi lõ, một người tóc vàng hoe như lúa mì của Mỹ, một người đeo băng-đô đầu rằn ri kiểu mấy anh thợ săn ở Texas, lom khom theo sát cánh lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Không súng, không lựu đạn, chỉ mỗi cái máy quay phim 16 ly treo trễ nải trên cổ. Họ không phải lính. Họ là ký giả chiến trường. Tên họ: Sean Flynn và Dana Stone.

Sean Flynn, con trai tài tử điện ảnh nổi tiếng Errol Flynn, chẳng thiếu gì danh vọng, tiền bạc và viễn ảnh một đời sống an nhàn ở California. Dana Stone, xuất thân từ Nebraska, đáng lẽ có thể chọn sống đời chăn bò hay quay phim đám cưới, nhưng cả hai, vào cuối thập niên 60, lại chọn dấn thân vào miền đất mà thế giới phương Tây lúc bấy giờ chỉ nghe tới qua bản tin BBC: Việt Nam – vùng chiến tuyến chưa từng ngưng tiếng súng.

Họ đến không phải để tìm cảm hứng nghệ thuật. Họ đến để kể lại câu chuyện của tự do, câu chuyện mà chính người Việt đôi khi cũng quên mất phải kể bằng lòng biết ơn.

Thời ấy, có một thế hệ lính Mỹ tuổi mười tám, đôi mươi, chưa hôn ai bao giờ, đã phải hôn đất Việt lần cuối. Có người ngã xuống ở Huế Tết Mậu Thân, có ngưỡi ờ Khe Sanh. Họ không biết rành tiếng Việt. Họ chẳng hiểu bánh tét với bánh chưng khác nhau ra sao. Nhưng họ hiểu một điều giản dị: có những nơi người Việt bị giết chỉ vì không chịu mất tụ do, phải sống trong xích xiềng CS.

Và Sean Flynn và Dana Stone quyết không để điều ấy tiếp diễn ở cái nơi gọi là Miền Nam Việt Nam.

Cũng chính vì lẽ đó, Sean Flynn và Dana Stone, không thuộc biên chế quân đội, không lãnh lương lính, vẫn can đảm băng rừng vượt suối, bám sát từng đợt hành quân, ghi lại hình ảnh máu và nước mắt, truyền về thế giới một thông điệp mà cả trăm bản tin thời sự ngày nay không thể sánh bằng: “Tự do, nếu không được bảo vệ, sẽ tan biến như khói pháo.”

Flynn không giống cha mình, một Errol Flynn huyền thoại của điện ảnh Hoa Kỳ, vì anh không diễn. Anh sống thật với ống kính. Có lần, khi được hỏi tại sao không chọn làm tài tử như cha, Sean trả lời: “Người ta diễn vai anh hùng trên màn ảnh. Tôi muốn ở cạnh những anh hùng ngoài đời.”

Và rồi, một ngày tháng Tư năm 1970, Sean Flynn và Dana Stone mất tích tại vùng Kampong Cham, Campuchia, nơi mà bóng ma cộng sản đã bắt đầu phủ bóng bằng những vụ hành quyết lén lút. Tới giờ, người ta vẫn không tìm ra xác họ. Có lời đồn họ bị Khmer Đỏ bắt. Có người bảo họ bị thủ tiêu vì dám ghi hình sự thật. Nhưng lý do nào thì cũng không thay đổi được một điều: họ chết vì dám đến gần nơi người khác bỏ chạy. Họ biến mất khi đang cố gắng ghi lại cho hậu thế một lát cắt thật của chiến tranh.

Người Sài Gòn trước 1975 có thể cãi nhau đủ chuyện: cúp điện, kẹt xe, giá gạo lên xuống như tàu lượn. Nhưng có một điều ít ai bàn cãi: lòng biết ơn với đồng minh Hoa Kỳ, đặc biệt là những người lính và ký giả đã bỏ xác nơi đất khách, mà không đòi hỏi điều gì ngoài chính nghĩa.

Ai cũng biết nước Mỹ có những tính toán địa chính trị, nhưng không phải người lính nào cũng đến vì chính sách đó. Rất nhiều anh lính, từ Oklahoma, Minnesota tới Hawaii, đến Việt Nam với một hoài bão duy nhất: bảo vệ một quốc gia nhỏ bé thoát khỏi bóng tối cộng sản.

Và có người, như Sean Flynn, không cần cầm súng cũng đã chiến đấu cho lý tưởng ấy bằng ngòi viết, bằng ống kính, bằng đôi chân lội bùn và bằng cái mạng sống bị đe dọa từng giờ.

Có người châm biếm, bảo “tụi Mỹ tới là vì dầu hỏa hay quyền lợi.’ Xin lỗi, miền Nam không có nhiều dầu như các nước Trung Đông, miền Nam chỉ có lúa. Và quyền lợi nào nằm trong cái xác người lính Mỹ tử trận được phủ cờ, gửi về dưới đất mẹ Pennsylvania?

Không ai khờ dại mà liều mạng ở nơi xa xôi cách quê nhà nửa vòng trái đất, nếu không có một niềm tin mạnh hơn cả bản thân mình.

Tại sao ta nhắc lại chuyện này? Vì ngày nay, giữa những bản tin “định hướng dư luận” và thói quen lãng quên lịch sử, người ta dễ quên mất rằng: có một thời, người ngoại quốc đã đổ máu trên quê hương ta – không phải để chiếm đóng, mà để gìn giữ tự do.

Chúng ta từng chứng kiến những người Mỹ còn rât trẻ Mỹ, gò lưng gùi thương binh, đưa trẻ con Miền Nam tới bệnh viện hoặc lội ruộng hành quân, không mong được nhớ tên. Và ta nợ họ một lời tri ân vượt hơn mọi bài diễn văn ngoại giao.

Flynn mất tích, Stone cũng vậy. Nhưng bóng dáng họ, nụ cười toả nắng trong rừng rậm, giọng nói lơ lớ nhưng đầy cảm tình, vẫn hiện về qua từng bức ảnh đen trắng, như một minh chứng rằng: tự do có cái giá của nó, và đôi khi, cái giá đó được trả bởi máu người không cùng chủng tộc, màu da.

Chúng ta thường kể lại câu chuyện chiến tranh bằng nước mắt của chính mình. Nhưng hôm nay, thử một lần kể lại bằng nước mắt của người khác, của những bà mẹ Mỹ nhận xác con trong hòm kẽm cò chì, của những cô gái trẻ chưa kịp lấy chồng đã thành góa phụ vì chàng trai chọn đi Việt Nam thay vì học đại học.

Sean Flynn, ký giả trẻ tuổi, không viết báo bằng mực mà bằng máu, là một trong những biểu tượng ấy. Và hôm nay, tàn cuộc chiến đã 50 năm. Đất nước Việt Nam vẫn sống đời nô lệ CS. Nhưng xin hãy nhớ rằng tự do không phải xin mà có. Tự do không phải là món quà. Nó là thứ phải giành giật, phải giữ gìn, đôi khi bởi chính những người không có bổn phận, nhưng lại có lòng can đảm. Tự do phải được xiển dương. Xin đừng để máu người yêu tự do đổ trên quê mình một cách vô nghĩa.

(Melbourne)

Nguồn: https://saigonnhonews.com/thoi-su/hoa-ky/ho-da-den-va-chet-vi-tu-do/