Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 31 Aug 2025

Phần 3.

Chương 13.

“Sao chúng không chết phức cho rồi!”

Trong vòng hai tuần lễ kể từ ngày mất Ban Mê Thuộc hôm 11 tháng Ba, truyền hình Mỹ hằng ngày chiếu cảnh rút lui từ Tây nguyên về Phú Yên trên quốc lộ 7B, cảnh tắc nghẽn thê thảm ở đèo Cheo Reo, tới tình trạng hỗn loạn ở Đà Nẵng. Liên tiếp, hết cứ địa này tới cứ địa khác.

Washington không có dấu hiệu gì tỏ ra lo ngại. Tổng thống Ford vẫn chỉ thị sắp xếp cho ông đi nghỉ lễ Phục Sinh ở Palm Spring (tiểu bang Nevada). Năm nay, vì chiến sự đang sôi bỏng nhiều nhân viên toà Bạch Ốc đã can ông đừng đi, nhưng ông không nghe. Trước khi đi, ông quyết định gửi tướng Frederick C. Weyand sang Sài gòn ngày 28 tháng Ba để thẩm định tình hình. Weyand là Tham mưu trưởng lục quân và từng là Tư lệnh Quân đội Hoa kỳ ở Việt Nam trước đây.

Vào thời điểm đó, chỉ một người dân bình thường xem tin tức trên đài cũng đủ biết là tình hình Việt Nam đang đi vào giai đoạn quyết liệt. Thế mà Tổng thống Hoa kỳ lại viết trong Hồi ký của ông (năm 1979) rằng: “Ai cũng biết là vấn đề Việt Nam nghiêm trọng, nhưng xem ra chẳng ai hiểu rõ nó nguy ngập đến chừng nào”.

Trên máy bay Air Force One đi Palm Springs, ông Ford từ trên ca-bin xuống gặp đoàn tuỳ tùng, trong đó có ông Rumsfeld, Đổng lý Văn phòng Tổng thống (bây giờ là Tổng trưởng quốc phòng), ông Lan Greenspan, Thống đốc Ngân hàng Liên bang, và ông Ron Nessen, Phụ tá Báo chí. Đang khi họ trò chuyện, có nhân viên phi hành đoàn tới đưa cho Nesse một phong bì màu vàng do chuyên viên truyền tin trên máy bay chuyển. Trong phong bì là một điện tín: “Đà Nẵng đã thất thủ”. Nessen đưa cho ông Ford và mấy người kia đọc. Ford lắc đầu! Mọi người không ai nói gì, hoàn toàn im lặng [1]. Tuần cuối tháng Ba, thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn. Từng làn sóng người tràn về từ Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi làm cho dân số từ 600 ngàn vọt lên một triệu rưởi, gần gập ba lần. Đường phố ứ đọng, tắc nghẽn, cướp giật, súng ống bắn bừa bãi.

Lời nguyền rủa

Đà Nẵng thất thủ vào đúng chủ nhật Lễ Phục Sinh, ngày 30 tháng Ba. Ở nhà thờ tin lành Lutheran quận Arlington (tiểu bang Virginia), Tổng trưởng quốc phòng James Schlesinger đã “rơi lệ”. Hôm đó, phó Giám đốc CIA, tướng Vernon Walters có nói với ông rằng Đại sứ Việt Nam ở Washington (ông Trần Kim Phượng) vừa tuyên bố: “Màn đêm dài đã phủ xuống đầu chúng tôi, và bình minh sẽ không còn hé rạng nữa?”

Schlesinger ngậm ngùi. Ông thuật lại với chúng tôi khi phỏng vấn ông vào hè năm 1985: “Tôi nghĩ đến lời của cố Thủ tướng Anh, Winston Churchill, khi ông mô tả nước Pháp bại trận trong Đại chiến II. Cả hai đều cùng một thảm cảnh dẫu không lớn lao như nhau. Tôi không trách người Việt Nam đã đặt hy vọng vào Hoa kỳ. Tôi chia xẻ nỗi đau thương với họ”.

Sau khi thị sát chiến trường và họp với phía Việt Nam, tướng Weyand trở về báo cáo cho Tổng trưởng quốc phòng.

Ngày 5-4-1975, đang khi bay về Washington, thì ông được lệnh đổi hướng bay thẳng về Palm Springs phúc trình cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger. Nghe thuyết trình của Weyand xong, Kissinger đi họp báo, có Ron Nessen, Phụ tá báo chí Tổng thống cùng đi theo. Trên đường tới Trung tâm báo chí, Nessen kể lại lời Kissinger nguyền rủa:

“Sao chúng không chết phứt cho rồi?” Ông ta rên lên trong xe, “Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài “. (Why don’t these people die fast?” He moaned in the car. “The worst thing that could happen would be for them to linger on”) [2].

Câu nói buột miệng ra, bất chợt, trong những lúc vô ý lại thường phản ảnh sự thật hơn là những lời tuyên bố khôn ngoan về chính sách, những bài diễn văn hùng hồn, những câu trả lời đắn đo đối với báo chí hay lời văn chải chuốt trong hồi ký.

Năm 1979, có lần tôi đang nói chuyện với một anh bạn Mỹ về chiến tranh Do Thái, Iran. Lúc bàn tới Việt Nam, tự nhiên anh nói: “Vì sao ông Kissinger ông ấy tàn nhẫn quá nhỉ?” “Sao anh nói vậy?” tôi hỏi. “Ủa, anh chưa đọc sách của Ron Nessen à?” Tôi vội đi tìm cuốn hồi ký tựa đề “Đàng sau hậu trường thì thật là khác” (It sure looks different from the inside).

Suy cho kỹ, ta thấy câu nói mà Nessen đã nghe được nó giải thích nhiều sự việc xảy ra cho miền Nam. Đặc biệt là nó giúp trả lời phần nào câu hỏi: Tại sao Miền Nam đã mất lẹ như vậy?

Có ba điểm chiến lược trong tâm trí của Henry Kissinger:

– Chắc chắn là Hoa kỳ phải dứt khoát rút hết, bỏ rơi Miền Nam;

– Chỉ cần một khoảng thời gian coi cho được, từ lúc Mỹ rút đi tới lúc sụp đổ;

– Khi sụp đổ thì nên tiến hành cho lẹ; vì nếu cứ sống vật vờ mãi là kẹt cho Mỹ.

Lập trường Kissinger từ 1967

Sau khi mọi việc kết thúc, Kissinger quy trách việc mất miền Nam cho vụ Watergate.

Lịch sử sẽ phán xét phân minh những chính sách và lịch trình sắp xếp của Kissinger. Tuy nhiên, ngay bây giờ ta cũng đã có thể khẳng định được rằng trước Watergate, trước cả khi ông Nixon lên làm Tổng thống, Kissinger cũng đã chẳng tin tưởng gì là miền Nam có thể cứu vãn được. Vậy chỉ cần rút làm sao mà không bị mất mặt với quốc tế là xong. Mang nửa triệu quân vào mà lại thua thì không ổn. Là người ưa viện dẫn lịch sử, có lần ông nói đến kinh nghiệm của Pháp khi bị sa lầy ở thuộc địa Algeria, sau chiến tranh Đông Dương:

“Ông de Gaulle đã làm được cái gì cho nước Pháp ở Algeria? Ông ta đã muốn bỏ nước này một cách nào đó để cuộc triệt thoái được coi như là do một chính sách (chứ không phải là bắt buộc phải bỏ), giúp cho Pháp còn giữ được phần nào phẩm giá của mình… Đó là thành quả lớn lao của ông, chứ không phải kết quả thật sự của cuộc chiến như thế nào…”

3.1967

Giải pháp “Mỹ đơn phương rút ra khỏi miền Nam” là tư tưởng Kissinger đã nuôi dưỡng từ lâu. Ngay từ 1967 khi mới bắt đầu tiếp cận vấn đề Việt Nam với tư cách là một tư vấn không chính thức của Chính phủ Johnson, ông đã bí mật liên hệ với Hà Nội qua trung gian của hai người Pháp là ông Herbert Marcovich và Raymond Aubrac. Hai người là chỗ quen biết với Hồ Chí Minh từ 1946 lúc ông Hồ đi họp Hội nghị Fontainebleau [4]. Lập trường của Kissinger là chiến tranh Việt Nam chỉ có thể giải quyết bằng giải pháp “một thời gian coi cho được” (a decent interval).

Tác giả David Landau, người nghiên cứu chiến lược của Kissinger đã viết lại trong cuốn “Kissinger: Sử dụng quyền lực (Kissinger: The Use of power), như sau:

“Kissinger cho rằng giải pháp duy nhất của Hoa kỳ năm 1967 là dùng chính sách “một khoảng thời gian coi cho được”. Nói cho đơn giản hơn, chính sách đó nghĩa là sự sụp đổ của Chính phủ miền Nam – điều ông cho là rất có thể xảy ra nếu không phải là bắ buộc sẽ xảy ra – phải được trì hoãn trong một thời gian kể từ lúc Hoa kỳ triệt thoái để Washington khỏi bị chỉ trích là đã không bảo vệ Đồng minh của mình.

Như vậy, điều quan trọng chính yếu của cuộc chiến vấn đề phe nào sẽ cai trị miền Nam – thực ra chỉ là một điểm không đáng để ý. Điều quan trọng không phải là có nên hay không nên triệt thoái mà là triệt thoái như thế nào và bao giờ”

5.1968

Năm 1968, khi chiến tranh đang leo thang mạnh, Tổng thống Johnson chán nản, quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ hai. Lúc đó, Kissinger đang làm tư vấn cho ông Rockefeller, Thống đốc tiểu bang New York, để ông này ra tranh cử với ông Nixon trong chức ứng cử viên Tổng thống của đảng Cộng Hòa. Kissinger cho rằng nếu có một giải pháp mới cho chiến tranh Việt Nam thì chắc Rockefeller sẽ được đảng lựa chọn. Vài tuần trước khi tháp tùng ông thầy đi họp đảng tại Miami vào tháng 8, ông đã soạn ra một đề nghị về Việt Nam đăng tải trên cả một trang quảng cáo của tờ New York Times. Giải pháp đó gồm bốn điểm:

Mỹ đơn phương rút 75.000 quân;

Thiết lập một Lực lượng quốc tế giám sát hoà bình;

Sau đó, Mỹ rút hết; rồi để cho hai phía Việt Nam hoà hợp hoà giải với nhau.

75.000 quân chỉ là bước đầu để tạo ra một hướng đi.

1969-1970

Ngày 20 tháng Giêng, 1969, ông Nixon nhậm chức Tổng thống và dọn vào Toà Bạch Ốc. Kissinger chính thức trở nên Cố vấn an ninh.

Ngày bốn tháng Tám, 1969 ông bắt đầu đàm phán sau hậu trường với Bắc Việt. Phiên họp đầu tiên giữa Kissinger, Xuân Thuỷ và Mai Văn Bộ được tổ chức ở căn nhà Jean Sainteny tại phố sang trọng Rue de Rivoli. Mật đàm kéo dài được trên ba năm.

Đang khi thương thuyết với Bắc Việt về việc rút quân, Mỹ tiếp tục rút, ngày càng mau. Từ mức cao nhất là 537.000 người lính vào đúng lúc bắt đầu mật đàm, Mỹ đã rút 312.000 chỉ còn 225.000 vào tháng Bảy, 1971.

1971

Như vậy là đã rút được trên nửa số quân rồi, nhưng cũng mất hai năm. Làm sao rút hết số còn lại cho nhanh hơn?

Kissinger liền cầu cứu sự giúp đỡ của Trung Cộng.

Hai mươi bảy năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, tờ báo New York Times ngày 28 tháng Hai, 2002 vừa tiết lộ chuyện động trời: ngay từ cuối hè 1971, Kissinger đã nói cho Trung Cộng biết lập trường thực sự của Hoa kỳ về vấn đề rút quân.

Trong một bài tựa đề “Tài liệu (vừa có) đã đối chọi với Kissinger về chuyến viếng thăm trung quốc của ông năm 1971”, Ký giả Elaine Sciolino cho biết nội dung tài liệu mới được giải mật do National Security Archive đưa ra gồm có biên bản cuộc họp ngày chín tháng Bảy, 1971 giữa Kissinger và Chu Ân Lai.

Trong buổi họp, chính Kissinger đã cho Chu biết chi tiết về sự thay đổi cơ bản của chính sách Hoa kỳ đối với Đài Loan, để đổi lấy sự ủng hộ của Trung Quốc hầu giúp chấm dứt chiến tranh  Việt Nam. Ông ta nói với ông Chu: “Dù có thương thuyết hay không thương thuyết với Bắc Việt đi nữa, rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân – một cách đơn phương”. [6].

“Rút càng nhanh bị lật đổ càng lẹ”

Khi Stanley Karnow, nhà sử học về Việt Nam, được hỏi về tin này, ông nói: “Không còn nghi ngờ gì nữa là từ lúc tuyển chọn ứng cử viên vòng sơ bộ (của đảng Cộng Hòa) hồi tháng Ba, 1968, lập trường (của Nixon) vẫn luôn luôn là “hoà bình và danh dự”. Vậy mà khi đến Trung Quốc, Kissinger lại nói “Kế hoạch của chúng tôi là sẽ rút đơn phương”.

“Đơn phương” là điểm chính, và đây là điều mới lạ đối với tôi” – ông Karnow kết luận [7].

Rõ hơn nữa, cũng theo tài liệu mới này, Kissinger còn nói với Chu Ân Lai:

“Lập trường của chúng tôi là sẽ không duy trì bất cứ Chính phủ nào ở miền Nam cả, và nếu như Chính phủ miền Nam không được nhiều người ưa chuộng như Ngài nghĩ, thì khi quân đội chúng tôi rút đi càng nhanh, nó sẽ bị lật đổ càng lẹ. Và nếu nó bị lật đổ sau khi chúng tôi rút, chúng tôi cũng sẽ không can thiệp nữa” 8 .

1972

Một năm sau đó, đến tháng Bảy, 1972, Mỹ đã rút hầu như toàn bộ quân đội ra khỏi Miền Nam. Số quân còn lại chỉ còn 45.000. Sắp xong rồi, chỉ cần làm sao cho bước cuối cùng được trôi chảy. Đó là làm thế nào để có một Hiệp định đình chiến là tốt đẹp nhất.

Tại những cuộc mật đàm, Kissinger đã nhượng bộ hoàn toàn về vấn đề này: Mỹ sẽ rút đi hết và quân dội Bắc Việt ở lại Miền Nam [9].

Ngày 10 tháng 10, ông sang Sài gòn làm áp lực bắt phải chấp nhận giải pháp đình chiến “da beo”: ai ở đâu cứ ở đó.

Ngày 26 tháng 10, Kissinger gây chấn động khi tuyên bố “Hoà bình đang trong tầm tay” (Peace is at hand).

1973

Kissinger đã thành công trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam nội trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Nixon như ông muốn. Chỉ chậm có hai ngày: ngày 20 tháng Giêng năm 1973, Nixon chấp chánh nhiệm kỳ hai, và ngày 23 tháng Giêng, Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ ký tắt vào bản Hiệp định. Hiệp định Paris ký xong, ông Nixon lên truyền hình tuyên bố: với tất cả đồng bào đang nghe tôi… lòng kiên trì của đồng bào ủng hộ lập trường đòi cho bằng được một hoà bình với danh dự đã giúp thực hiện được hoà bình với danh dự” [10]. Báo cáo về thành tựu ngoại giao cho Quốc hội năm ấy, Nixon viết: “Thật là cần thiết để ta đi tới giải pháp mang lại một khuôn khổ cho miền Nam VN được thực thi quyền tự quyết của mình” [11].

Còn Kissinger: “Chúng tôi đã quyết tâm làm hết sức có thể để giúp cho Sài gòn được phát triển trong an ninh và thịnh vượng, và để họ có thể trường tồn trong bất cứ cuộc đấu tranh chính trị nào” [12].

“Một khoảng thời gian coi cho được”

Như trường hợp Charles de Gaulle giải quyết vấn đề Algeria, thì Kissinger cho rằng ông đã giữ được thể diện cho Mỹ: “có đủ cả rồi, cả Hoà bình, cả Danh dự”. Thế là xong, không cần để ý tới kết quả ra sao. Sau ngày miền Nam sụp đổ, nhiều người đã đặt câu hỏi về vấn đề “Một khoảng thời gian coi cho coi được” trong lịch trình của Kissinger. Trong tập hồi ký dài viết lại 1979 với tựa đề “Những năm tại Toà Bạch Ốc” (The White House years), ông đã dành tới hơn một phần ba (492 trang) để giải thích những khó khăn và thành quả của ông về Việt Nam. Ông viết rằng Việt Nam đã cho ông một cơ hội để đền ơn cho quốc gia đã cứu gia đình ông (khỏi bàn tay của Hitler): “Tôi nhìn thấy vai trò của tôi là giúp cho quốc gia đã nhận tôi làm con nuôi”. Về giải pháp hoà bình cho Việt Nam do ông mang lại, ông quả quyết: “Chúng tôi đã đi tìm không phải chỉ một khoảng thời gian trước khi sụp đổ, nhưng một nền hoà bình lâu dài và danh dự” [13].

Đó là luận điệu cho công luận và cho lịch sử. Bên trong hậu trường thì lại khác.

Ta hãy nghe ông John Ehrlichman, Đổng lý Văn phòng của Tổng thống Nixon thuật lại trong cuốn hồi ký “Nhân chứng của quyền lực: Những năm thời Nixon” (Witness to Power, The Nixon’ Years)

Ngày 24 tháng Giêng, 1973, chỉ một ngày sau khi Kissinger ký vào bản Hiệp định và về tới Washington, Ehrlichman gặp ông ở trước phòng Lincoln trong Bạch Cung, có hỏi: “Theo ông, miền Nam VN có thể còn tồn tại được bao lâu nữa?”

“Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn thì được một năm rưỡi,” Kissinger đáp lại [14].

Ehrlichman viết thêm: “Sau này, khi xem đoạn phim trực thăng đến bốc những người Mỹ hoảng hốt trên nóc toà đại sứ Mỹ ở Sài gòn lúc quân đội Bắc Việt đang tiến gần, tôi nhớ lại ước tính có tính cách cay độc (cynical) nhưng chính xác của ông Kissinger”. Ehrlichman bình luận: “Trong hồi ký của mình, Kissinger đã viết là sau khi ký tắt vào bản Hiệp định Paris “Tôi thấy bình an trong lòng, chẳng vui cũng chẳng buồn”; nhưng tôi (Ehrlichman) tự hỏi làm sao ông ta có thể nghĩ như vậy được?”

Bàn về chiến lược của Kissinger, hai anh em phóng viên nổi tiếng Marvin Kalb và Bernard Kalb là những người đã theo sát ông bao nhiêu năm, đã tiết lộ:

“Ông ta tin rằng điều tối đa có thể cứu vãn được cho việc dính líu của Mỹ vào Việt Nam là “một khoảng thời gian coi cho được”, từ lúc Mỹ rút quân đi và khả năng Cộng sản thôn tính miền Nam. Dù trong khả năng tốt nhất cho Việt Nam, không gì có thể bảo đảm được quá ba tới bốn năm” [15].

Người tiên tri

“Một khoảng thời gian coi cho được” đã bắt đầu từ khi Mỹ rút hết quân ra khỏi Miền Nam.

Quân đội Mỹ gọi ngày 29 tháng Ba, 1973 là ngày “X cộng 60” (X plus 60), nghĩa là ngày thứ 60 kể từ khi đình chiến. Đó là hạn chót để Nixon rút hết quân ra khỏi Việt Nam. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, một toán lính Mỹ khoảng 50 người đứng nghiêm chỉnh làm lễ chào cờ. Từ ống loa, một sĩ quan đọc nhật lệnh: “Bộ Tư lệnh Yểm Trợ Quân Sự Việt Nam (MACV) từ giờ phút này đã hết hoạt động, và sứ mệnh cũng như chức năng đã được chỉ định lại”. Một vệ binh tiến lên, mang lá cờ MACV với huy hiệu một thanh gươm quay ngược lên. Nhìn Đại sứ Bunker và tướng Weyand, tư lệnh cuối cùng của Hoa kỳ, anh ta cẩn thận cuốn lá cờ lại, để gọn vào một cái bao trông như bao đựng đồ đánh gôn, đưa lên máy bay. Phi cơ cất cánh hay vút ra Biển Đông. Toán lính đó là những người cuối cùng của đoàn quân trên một nửa triệu tham chiến ở Việt Nam. Số còn lại, 159 người chỉ là để gác toà đại sứ và 50 nhân viên văn phòng Tuỳ viên quốc phòng DAO 16 . Cùng lúc đó, 67 tù binh Mỹ, nhóm cuối cùng của tổng số 595 tud binh được chở từ sân bay Nội Bài, Hà Nội tới phi trường quân sự Mỹ Clark Field ở Phillippines.

“Một khoảng thời gian coi được” đã bắt đầu từ hôm đó, ngày 19 tháng Ba, 1973.

Và đúng hai năm sau, cũng ngày 29 tháng Ba, 1975, quân đội Bắc Việt tiến vào Đà Nẵng. Trên thực tế một khoảng thời gian coi được đã kết thúc. Như vậy ngoài tài ba lỗi lạc, Kissinger còn là một nhà tiên tri!

Đổ hết cho Watergate

“Nếu không có sự sụp đổ của quyền hành pháp vì vụ Watergate, tôi tin rằng chúng ta có thể thành công”. Kissinger bào chữa [17].

Trong cuốn “Kết thúc chiến tranh Việt Nam” (Ending the Vietnam war). Kissinger tiếp tục cho rằng Watergate đã làm ông Nixon suy yếu, không còn sức mạnh để ép buộc việc thực thi Hiệp định Paris nữa. Hơn nữa vì quyền lực hành pháp không còn mạnh nên Quốc hội đã cắt giảm viện trợ cho Miền Nam [18].

Hai lý do Watergate và Quốc hội cắt viện trợ chắc chắn đã là hai yếu tố quyết định. Tuy nhiên, rõ ràng là lập trường bỏ rơi Miền Nam thì ông đã có trước cả Watergate. Rồi sau Watergate, lại sao khi thấy Quốc hội bắt đầu cắt viện trợ, cả ông lẫn Nixon đã không biện hộ cho Miền Nam trên căn bản những cam kết? Tới lúc gần sụp đổ, Kissinger lại còn chối đi là chẳng có cam kết bí mật nào cả.

Ngoài ra Kissinger còn đem một lý do khác để giải thích việc Quốc hội Mỹ cắt quân viện. Đó là vì họ đã bị “ảo tưởng về hoà bình” (illusion of peace). Có hoà bình và danh dự rồi đâu có cần thêm quân viện. Nhưng ai là người mang lại ảo tưởng của “hoà bình và danh dự?”

Chắc chắn rằng dù Kissinger có giải thích kiểu nào đi nữa, các sử gia sẽ còn nghiên cứu về lâu về dài tiến trình của giải pháp Việt Nam. Cho đến nay, có những vấn đề về đệ nhất, đệ nhị thế chiến cũng còn đang được mổ xẻ. Chiến tranh Việt Nam là một mảng đen tối trong lịch sử nước Mỹ.

Lúc quyền lực mạnh nhất

Hiệp định Paris được ký kết vào lúc ông Nixon mạnh nhất, lúc nhiều quyền lực nhất. Nhân dân Hoa kỳ hoan nghênh thành quả lớn lao của ông trong việc phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Cộng và Nga Xô. Chúng tôi còn nhớ buổi sáng ngày 18 tháng Hai, 1972 đã hồi hộp đón chờ lúc Nixon tới đất Trung Cộng. Cảnh phi cơ Air Force One đáp xuống phi trường Bắc Kinh vào một ngày mùa đông giá lạnh sao thấy bí ẩn đến thế”. Hầu như huyền thoại.

Rồi tới những cuộc họp thượng đỉnh ở Moscow làm hoà dịu quan hệ (détente) giữa Mỹ và Nga, đi tới Hiệp ước tái giảm vũ khí chiến lược SALT. Cuối cùng là giải quyết chiến tranh Việt Nam. Tranh cử cho nhiệm kỳ hai, Nixon đại thắng (xem (Chương l). Từ Âu sang Á, tiếng tăm ông lừng lẫy. Khi đăng quang nhiệm kỳ hai vào ngày 20 tháng Giêng, 1973, Tổng thống Nixon đã lên tới tuyệt đỉnh danh vọng.

Hiệp định Paris được ký vào chính lúc này (hai ngày sau khi Nixon đăng quang), lức là vào lúc quyền hành của vị Tổng thống ở đỉnh cao nhất. Trong thực tế, Hoa kỳ là một trong hai tác giả chính của Hiệp định Hoa kỳ ký kết, sau đó lại tổ chức một hội nghị quốc tế để xác định giá trị của nó. Trong điều kiện như vậy mà một Hiệp định cũng đã không duy trì được thì khi Hoa kỳ ký kết những Hiệp định khác, sự bền vững của chúng sẽ ra sao? Thật lạ lùng: trong các văn thư (như trích dẫn ở trongChương 3 và 4) trước khi ký kết, cũng như những tuyên bố sau đó, Nixon-Kissinger đã giải thích nhiều lần rằng Hiệp định Paris sẽ giúp Miền Nam tồn tại như thế nào, thế mà ở hậu trường, như đã trích dẫn trên đây, khi vừa ký xong, Kissinger đã nói với Haldeman là “nếu may mắn thì Miền Nam sẽ tồn tại được một năm rưỡi”. Như vậy, làm sao ông có thể đổ hết cho Watergate đã làm cho Nixon suy yếu nên không giúp cho Miền Nam được nữa? Nixon chỉ bất đầu có dấu hiệu dính dấp tới vụ Watergate vào tháng 4-1973. Sáu tháng sau đó, vào tháng 10-1973, ông còn đủ mạnh để lập một cầu không vận tiếp cứu cho Do Thái, quy mô hơn cả cầu không vận tiếp cứu Berlin.

Thời gian sau, tuy Nixon có lo lắng bối rối thật, nhưng vẫn còn nhiều quyền lực. Ông chỉ yếu đi từ 1974 và tới Hè năm đó thì mới thực sự tê liệt.

Rồi tới Tổng thống Ford, đâu có dính líu gì đến Watergate mà cũng để cho Quốc hội cắt gần hết viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa?

Sụp đổ vì yếu kém

Ngoài Watergate, Kissinger còn sử dụng một lý luận rất tinh vi khác. Tuy rằng không bao giờ đặt vấn đề một cách rõ ràng, có hệ thống, nhưng bằng cách đánh giá thấp con người Việt Nam, ông gián tiếp biện minh cho những hành động của mình.

Hơn một tháng sau ngày miền Nam sụp đổ, trong một buổi nói chuyện tại Hiệp Hội Nhật Bản ở New York (16-8-1975), Kissinger bình luận về cuộc chiến Việt Nam: thất bại là vì miền Nam thiếu ý chí chiến đấu: “Những cố gắng từ bên ngoài vào cũng chỉ có thể là bổ túc chứ không thể tạo ra được những cố gắng và ý chí chiến đấu cho người trong nước” [19].

Thật đúng là chỉ có thể bổ túc thôi. Nhưng có chiến tranh nào mà Mỹ đã nhúng tay vào với tầm mức như ở Việt Nam rồi đến khi kết thúc lại đơn phương rút đi? Và rút nhanh như vậy?

Rồi cắt hết viện trợ? Ở Âu châu, sau khi thắng trận trong Thế Chiến Hai, Mỹ đóng quân lại, và còn kéo dài tới ngày nay. Chương trình Marshall được thiết lập để tái thiết Âu châu.

Lại còn chiến tranh Triều Tiên. Nó đã kết thúc từ 1952 mà cho tới bây giờ, vẫn còn 50 ngàn lính đóng ở vĩ tuyến 38.

Coi thường người Việt Nam là tâm trạng thường xuyên của Kissinger. Trong một bữa ăn trưa với các phóng viên các báo TIME Và FORTUNE ngày 29 tháng Chín, 1972, ông nhận xét:

“Vấn đề của chúng ta với người Việt Nam là bên nào cũng cho là mình đang thắng; và khoan hồng chẳng hề là đức tính của họ…”

“Người Việt Nam là một giống người khó tính, bướng bỉnh, và đa nghi” [20].

Nói về sự bướng bỉnh, có lần ông Thiệu kể lại một chuyện buồn cười. Sau khi làm đủ trò để giúp Nixon thắng cử tháng 11 năm 1968, Kissinger đi họp với tân Tổng thống lần đầu tiên ở đảo Midway vào tháng Sáu, 1969. Lúc đầu, ông Thiệu được thông báo rằng vì là chủ nhà nên Nixon sẽ tới trước để tiễn ông tại phi trường. Nhưng khi ông tới nơi, máy bay Nixon còn cách xa Midway tới 15 phút. Lúc ông bước vào phòng họp thì thấy bốn cái ghế đã được xếp sẵn cho hai Tổng thống và hai phụ tá (Henry Kissinger và Nguyễn Phú Đức). Cái ghế thứ tư cao hơn và chỗ dựa lưng lớn hơn, dành cho Nixon. Ông Thiệu vừa buồn cười vừa tức. Không nói gì, ông lẳng lặng đi sang phòng ăn bên cạnh, xách một cái ghế cùng chiều cao, bê xuống rồi ngồi đối diện với Nixon. Sự sắp xếp này giống như một cảnh trong phim của Chaplin, “Nhà đại độc tài” (The Great Dictator): Hitler ngồi trên một ghế cao nhìn xuống Mussolini ngồi ghế thấp hơn. Ông Thiệu nói: “Sau này tôi được một người bạn Mỹ kể lại là Kissinger đã chẳng bao giờ “tin rằng Thiệu là con người như vậy”.

Đọc kỹ tập hồi ký Kissinger viết năm 1979, ta thấy ý nghĩ của Kissinger về đặc tính người Việt không lấy gì làm khách quan. Ông đã bộc lộ ra ở nhiều chỗ. Nơi đây chúng tôi chỉ ghi lại một số trang để độc giả nghiên cứu thêm.

Viết về những tranh cãi giữa mình với ông Thiệu lúc hoà đàm Paris, Kissinger đã phê phán (để tiện tra cứu, tôi ghi ngay số trang của cuốn hồi ký “The White House years” sau mỗi câu Kissinger viết):

“Phương pháp của ông ta thật là đúng Việt Nam một cách đáng ghét.”(trang 1034);

“Sự đa nghi không lành mạnh của ông ta là một đặc tính quá tinh tuý của người Việt Nam”. (trang 1034);

“Và ông Thiệu đã làm cho chúng tôi bối rối hơn nữa bằng cách áp dụng thủ đoạn lảng tránh mà người Việt Nam thường dành cho người ngoài”. (1322);

“Láo xược là áo giáp của kẻ yếu; nó là một phương cách đem lại can đảm khi phải đối diện với sự hoảng sợ của chính mình. Nhưng bây giờ tôi mới thấy rõ điều này hơn trước kia. Hồi tháng Chín 1972, phía Việt Nam – Đồng minh của chúng ta – đã làm tôi uất ức bằng lối người Việt Nam thường dùng để hành hạ đối thủ to con hơn họ”. (1327);

“Ông Thiệu chẳng bao giờ bàn cãi về quan niệm. Thay vào đó, ông ta đấu tranh theo đúng cung cách Việt Nam: gián tiếp, quanh co, bằng phương pháp làm cho đối phương mệt nhoài hơn là làm sáng tỏ công việc, luôn luôn châm chích mà không đi thẳng vào vấn đề – cái phương pháp mà qua bao nhiêu thế kỷ, người Việt Nam đã dùng để bẻ gẫy tinh thần ngoại bang trước khi đánh bại đối phương ở một trong những trận tấn công anh hùng của họ”. (1368);

“Thế nhưng, chẳng người Việt Nam nào, cả Bắc lẫn Nam, tin rằng tự tín, tin tưởng, hay tình bạn là điều quyết định. Họ đã sống thoát được ngoại bang qua bao nhiêu thế kỷ không phải là do tin tường mà là do vận dụng mánh khoé”. (1368).

Sau khi cuốn hồi ký của Kissinger được xuất bản (1979), một tạp chí Đức, tờ Der Spiegel có phỏng vấn ông Thiệu (ngày 1-12-1979).

Der Spiegel: “Ông Kissinger sau cùng đã cảm thấy rằng sự giận dữ một cách bất lực (impotent rage) là cái mà người Việt Nam luôn luôn dùng để hành hạ đối phương mạnh hơn mình”, ông trả lời thế nào về những nhận xét trong Hồi ký Kissinger?”

Ông Thiệu: “Tôi không muốn trả lời ông ta. Tôi cũng không muốn bình luận về ông. Ông ta có thể bình luận về tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi chỉ muốn bàn đến cái gì thực sự đã xảy ra giữa Hoa kỳ và Miền NamViệt Nam”.

Der Spiegel: “Ông có cho ông ta lý do gì để bình luận với một giọng xúc phạm như vậy không?”

Ông Thiệu: “Có thể là ông ta đã ngạc nhiên phải đối địch với những người thông minh và có khả năng. Có thể là từ mặc cảm tự tôn”.

Chỉ trích cá nhân ông Thiệu (và con người Việt Nam) như vậy mà năm năm sau sụp đổ, Kissinger còn có thể viết cho rằng: “Cuốn sách của tôi đã không ngớt ca ngợi sự can đảm, tư tưởng đúng đắn, và công nhận rằng, trong thực chất, Ngài đã đúng” (xem cuối chương 13 và Phụ lục D).

Kết thúc phải cho mau lẹ

Chỉ có chiến lược “kết thúc cho mau lẹ” mới giải thích được câu hỏi then chốt: tại sao tất cả những cam kết mật giữa Tổng thống Nixon và Tổng thống Thiệu đã được giấu thật kỹ. Kể cả những viên chức có trách nhiệm trực tiếp về Việt Nam như các Tổng trưởng ngoại giao, quốc phòng thời Nixon và thời Ford cũng không ai biết gì. Đến chính Tổng thống Ford cũng bị bưng bít. Phải kín như vậy thì tới lúc kết thúc mới làm thật nhanh được, hết bàn cãi.

Vì nếu không kết thúc cho mau lẹ là rất kẹt! Đơn giản mà nói: ví như ta đi xem kịch, nếu lới lúc hạ màn mà giây kéo màn lại bị rối thì tình trạng sẽ như thế nào? Tất nhiên người kéo màn sẽ cứ phải loay hoay, kịch sĩ diễn xong rồi mà chưa lui vào được, sân khấu lộn xộn, màn mới làm sao mà trình diễn? Chủ rạp sẽ mất uy tín.

Năm 1975 là năm Kissinger có lịch trình mới, ưu tiên mới. Lại là năm Tổng thống Ford sửa soạn ra ứng cử Tổng thống năm 1976. Lịch mới của ông gồm nhiều công tác khẩn trương:

– Với Nga Xô: thực hiện cho được chính sách détente (hoà dịu);

– Với Trung Quốc: mở rộng quan hệ ngoại giao để có thế mạnh với Nga Xô;

– Với Âu châu: quay lại với quan niệm của Jean Monnet tạo dựng lên một “tam giác vàng” gồm Tây Âu, Mỹ và Canada;

– Với Nhật: tái lập quan hệ tốt đẹp đã mất từ khi Mỹ bắt tay Trung Cộng năm 1971 và việc phá giá đồng đô la năm 1972; và

– Rất khẩn trương là việc dàn xếp với hai phe Do Thái- A Rập để vãn hồi hoà bình.

Với vậy như ông đã nguyền rủa, “điều tệ hại nhất có thể xảy ra là bọn chúng cứ sống dai dẳng hoài”. Và có kéo dài thêm lại càng kẹt, mà cũng chẳng được gì. Kissinger đã phán xét trong hồi ký: “Biết ơn những điều người khác làm cho mình thật không phải là đặc tính của người Việt Nam”. (trang 1338).

Ngày 17-4-1975, ông gửi mật điện hối thúc Đại sứ Martin: “Hãy ra đi cho mau, và ngay lập tức”

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 31 Aug 2025

33. Mai Ninh

Như lời giới thiệu của nhà xuất bản ở bìa sau cuốn sách, Mai Ninh là một nữ tác giả, đã du học tại Pháp từ năm 18 tuổi, định cư và làm việc khoa học tại vùng Normandie, trên 30 năm nay.

Mai Ninh chỉ vừa xuất hiện trên các tạp chí văn học ở hải ngoại ít năm gần đây. Nhưng những truyện ngắn của Mai Ninh đã gây ngạc nhiên và xúc động trong nhiều giới độc giả, đặc biệt là các độc giả trẻ. Hòa Âm Trong Vùng Sâu Khuất được nhiều người coi như một hòa điệu giữa tài hoa, kiến thức, tư duy và tình yêu đam mê.

10 truyện ngắn trong tập là những thăm dò vào phần khuất thẳm nhất của tâm thức để khai mở tự do, tìm kiếm hạnh phúc cho sự sống vẫn đầy khát khao, đau đớn giữa người với người. Riêng tác giả, đã bầy tỏ quan niệm viết, quan niệm sáng tác của mình, như sau:

“Lời nói thường gặp giới hạn, trong khi lòng trải của hàng chữ dễ mở rộng lẫn đào sâu. Qua mặt chữ, tôi cảm va chạm được vào phần ẩn của con người nhiều hơn là tiếng nói. Cảm nhận ấy là khởi điểm một con đường dẫn tìm một không gian khác, mới và mở, để thoát ra những quẩn quanh tâm thức. Thực sự, chúng nào có gì hệ trọng, những quẩn quanh này? Nhưng cứ thế nên con người mãi bị giam hãm trong vòng vây của chính mình.

Nói, cần có người nghe, chẳng lẽ nói một mình, và lời vừa thốt khỏi bờ môi thì gió đã cuốn bay. Còn viết, hãy cứ viết đi, nếu không người đọc thì giữ đấy, có biến đi đâu? Sau cùng, nếu phần lớn các hành động của con người đều do tình yêu dẫn dắt và chi phối, thì viết, cũng vì lẽ ấy”. Như thế, đã rõ ràng cho cả câu hỏi lẫn câu trả lời: vì sao viết và viết cho ai.

“Mây Một Ngày”, truyện đầu của cuốn sách, có lẽ là một trong những truyện đồng tính luyến ái, được viết một cách tự nhiên nhất trong văn chương của chúng ta. Người đọc, mới đầu, tưởng mình đang theo dõi một truyện tình bình thường xẩy ra giữa hai nhân vật nam/nữ. Cho đến khi biết ra đó là hai nhân vật nữ cả, người ta mới cảm thấy, hình như, không có một sự khác biệt nào, ranh giới nào, giữa những cuộc tình bình thường và những cuộc tình đồng giới tính. Càng ngày những truyện như thế càng thấy xuất hiện nhiều hơn trên sách báo của chúng ta ở hải ngoại. Một cái ‘mode’ của văn chương hay một đời sống có thật? Có thể nó có thật đã từ lâu, chỉ đến nay, mới được công khai hóa. Nói chung, đối với phần lớn độc giả, truyện ấy vẫn còn là chuyện lạ.

Nhưng cứ lưu lạc mãi ở các xứ người này, người ta tập được thói quen, đồng hóa những cái lạ vào những cái mình không biết. Đó là chuyện mình không biết. Nay thấy thì biết. Vậy thôi. Không có gì đáng gọi là lạ nữa.

Chỉ có điều, đôi lúc người ta cũng phải tự hỏi, không biết những truyện như thế, có liên quan gì đến tình hình đất nước? Trong chiến tranh, các nhân vật tiểu thuyết của chúng ta đã trải qua một thời kỳ cô đơn, hết sức cô đơn.

Nhưng hình như đó là sự cô đơn người đọc và các nhân vật có thể chia sẻ với nhau. Cái cô đơn của các nhân vật trong các truyện của chúng ta hôm nay, có vẻ biến họ thành những ốc đảo khép kín. Người đọc dường chỉ nhìn thấy những cảnh tượng từ các chuyến xe chạy qua. Người ta đọc với một nỗi buồn. Không phải nỗi buồn của những người gặp gỡ rồi chia xa mà là nỗi buồn biết chắc sẽ không gặp lại nữa.

Họ không có dáng dấp của những Mai/Lộc của Khái Hưng, Loan/Dũng của Nhất Linh, những nhân vật, đến nay, đọc, người ta có thấy xa lạ chăng nữa, vẫn là cái xa lạ của những người được gặp lại, có thể mỉm cười vẫy chào chia tay.

Nói cách khác, đó là nỗi buồn nẩy sinh từ một chút tình. Nỗi buồn của một số các nhân vật tiểu thuyết của chúng ta hiện tại, điển hình là những nhân vật của Mai Ninh, Trần Thị Ngh, đối với người đọc là, chúng không tạo ra, hay đúng hơn, không muốn chấp nhận một sự lưu luyến nào cả.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 31 Aug 2025

32. Lý Hoàng Phong.

Đối với các độc giả trẻ, nhất là những người vừa trưởng thành tại hải ngoại kể từ sau biến cố 30/4/1975, cái tên Lý Hoàng Phong có thể xa lạ. Nhưng chính ông là một trong những người đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành nền văn học miền Nam trong hai thập niên 1955-1975. Lớp độc giả trẻ không nghe nói đến ông, bởi vì, phần lớn các sáng tác của ông trước đây, thường được đăng tản mạn trên các tạp chí, chưa kịp in thành sách. Sau biến cố 1975, ông hoàn toàn giữ im lặng.

Chính quyền mới không nhắc đến ông, cũng không bắt ông đi cải tạo, một điều chính ông vẫn thường nói là “không hiểu tại sao?”. Vào giữa cái cơn gió tanh mưa máu ấy, phải nói rằng, được bỏ quên như thế, là một điều may mắn. Lý Hoàng Phong được hưởng sự may mắn này cho đến lúc qua đời.

Ông mất hôm 12 tháng 12 năm 2002, ở tuổi gần tám mươi. Nhớ lại, em ruột ông, thi sĩ Quách Thoại, mất cách đây khoảng hơn bốn chục năm, chắc chưa bằng nửa tuổi ông bây giờ.

Lý Hoàng Phong nói: “Thật may cho nó!”.  Điều Lý Hoàng Phong muốn nói ở đây là Quách Thoại đã không phải trải qua những ngày sau 30/4/75, một điều ông cho rằng, còn tệ hơn cả cái chết. Lý Hoàng Phong chỉ có một tập truyện được in thành sách, đó là cuốn “Người Giết Người”. Nhưng những truyện ngắn của ông được đặng trên các tạp chí trước đó được nhiều người thích hơn, nhất là truyện “Con Sông” đăng trên tạp chí Sáng Tạo.

Cùng với một số truyện ngắn khác của Dương Nghiễm Mậu, Thảo Trường, Phạm Nguyên Vũ, của chính Mai Thảo người chủ biên tạp chí Sáng Tạo, của Thanh Tâm Tuyền, của Tô Thùy Yên, truyện của Lý Hoàng Phong đã chinh phục được lòng tin của người đọc vào một nền văn học mới đang hình thành tại miền Nam. Văn ông giản dị, xúc tích. Nội dung truyện của ông gần gũi với đời sống thật, cái vui, buồn, sự bi thảm, hạnh phúc, nói một cách ngắn gọn, tất cả những gì làm nên ý nghĩa cuộc sống, người ta cảm nhận được, trong văn ông, khi đọc ông, không cần phải có một sự cố gắng nào, nó đến tự nhiên như người ta sống, gặp người này người khác, sự xúc động nẩy sinh tùy theo hoàn cảnh. Giây phút trước tình. ở trong tình hay đã ra khỏi tình, cái đầy ắp thay thế cái rỗng không hay ngược lại, hết thẩy đều là những gì có sẵn, không phải điều thêm bớt. Người ta rợn người không biết mình đang nhìn thấy vẻ đẹp của đời sống hay chỉ đang nhìn thấy những cái đã mất đi. Cái đẹp, cái mất, cái còn, có cùng một lúc với đời sống và cái chết.

Lý Hoàng Phong từng là thư ký tòa soạn cho các tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, nguyệt san Quê Hương nơi tập trung nhiều nhà trí thức, khoa bảng, phản ánh đường lối, chính sách và ảnh hưởng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa một thời. Ngoài ra Lý Hoàng Phong còn đứng chủ trương tờ Văn Nghệ, đã cùng với các tạp chí văn nghệ khác như Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn, cống hiến cho người đọc nhiều sáng tác của các tác giả cũ cũng như mới. Một đời hoạt động như thế, sau 1975, bỗng rơi chìm vào lặng lẽ. Không phải chỉ một mình Lý Hoàng Phong, tất cả các văn nghệ sĩ ở miền Nam, sau biến cố 1975, đều ở trong một tình trạng chung như vậy. Người ta bị xóa bỏ và tự xóa bỏ, như một cách công khai chứng tỏ không muốn hiện hữu trong một xã hội như thế. Người ta không viết nữa. Và, đối với một nhà văn, không viết nữa đồng nghĩa với cái chết. Lý Hoàng Phong đã chọn cái chết ấy trước khi cái chết thể xác đến với ông gần đây.

Bao nhiêu nhà văn của miền Nam, còn ở lại miền Nam, đã im tiếng cho đến bây giờ? Lứa tuổi ba, bốn mươi khi ấy nay đã sáu, bẩy mươi, cuộc xóa bỏ như thế, trong ý nghĩa nào cũng đã xong. Những người ở tù, ra khỏi tù, rồi ra khỏi nước, những người còn ở lại, những người không đi được, những người “cùng một lứa bên trời lận đận”, bây giờ có còn cũng chẳng còn bao lâu nữa. Nhà thơ Tô Thùy Yên vừa đây có nói đến hiện tượng “giải hoặc” trong đời sống. Theo ông, tới tuổi ngoài sáu mươi, con người, nhất là người làm thơ, tự thấy mình không còn những ảo tưởng, ước mơ, như ở những năm tháng mà thời gian chưa là một ám ảnh khốc liệt. Mà một khi không còn hy vọng hay ảo tưởng nữa thì đó là cái chết của sáng tạo, của thi ca. Ông tự thấy những năm tháng qua đi trong đời như những cánh hoa, chúng dần dần tàn héo để rồi cuối cùng chỉ còn lại cái cuống khô. Bài tưởng niệm Lý Hoàng Phong ngắn ngủi này, tình cờ đã đôi ba lần nhắc tới cái chết: người chết, thơ chết, và những ngày sống tệ hơn cái chết. Một nhà văn trải qua ba mươi năm, khi chết không để lại một dòng chữ nào, ông không có gì để nói hay “có nói cũng không cùng” nên ông giữ sự im lặng? Những gì ông trải qua, mọi người chúng ta đều trải qua, có cần thiết phải nhắc nhở không? Cũng có thể vì trí nhớ ông đã mòn mỏi. Những người quen biết ông kể rằng, những năm sau cùng ông đã lẫn nhiều. Có những điều ông cứ nói đi nói lại. Trong một câu chuyện, muốn nhắc đến một người nào đó, ông quên cả tên, quên cả điều định đem ra hỏi. Những người quanh ông cũng không hơn gì. Họ nhìn nhau qua khói cũng những chén trà. Nhưng chính ông lại nhớ câu thơ của Nguyễn Khuyến: “Tuổi già hạt lệ như sương” đọc cho mọi người nghe rồi cười móm mém. Lý Hoàng Phong, xa xôi, bằng hữu của anh không về đưa anh được.

Xin chúc anh yên nghỉ.

Văn Hải Ngoại Sau 1975

vandoanviet.wordpress.com

Nguyễn Bá Trạc

Post by Sơn râu 30 Aug 2025

Kỳ 71

Nguyễn Bá Trạc sinh năm 1943 tại Huế, tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, du học Hoa Kỳ năm 1974, hiện định cư tại Hoa Kỳ.
Tác phẩm đã xuất bản:

Ngọn Cỏ Bồng,
Chuyện Một Người Di Cư Nhức Ðầu Vừa Phải,
Nước Mắt Trước Cơn Mưa
  (dịch từ nguyên tác Tears Before the Rain của Larry Engelmann).

Con ngựa trắng

Một trăm đô chẵn mang đi
Ông mua những gì ông tính chẳng ra?
Thoạt đầu hai xấp vải xoa
Mỗi nhà một xấp, sáu yards bốn quần
Hai mươi đồng một tá Bông Lan
Bảy đồng một bộ giây đàn ni lông
Mười lăm đồng cái áo vải bông
Hai pounds bột ngọt, chẵn một trăm đồng, ông ơi.

Đối với nước Mỹ kỷ luật và ngăn nắp, ông Nguyễn không phải là một công dân tốt. Thuế má không sòng phẳng. Đến kỳ hạn không khai. Lương khoán chưa trừ thuế, lãnh được đồng nào tiêu hết đồng ấy. Gửi đồ về Việt nam thì hồ hởi, mà đến hạn đóng thuế là hết tiền, ù lì cả ba năm nay.

Đối với ngân hàng, ông Nguyễn không phải là một thân chủ được ưa chuộng. Theo thói quen chi tiêu ở Mỹ, ông cũng có một trương mục, một tập chi phiếu, nhưng không chịu giữ kế toán, dù việc ấy chỉ đòi hỏi có hai phép tính cộng trừ đơn giản. Ông đều đặn bị phạt vì cứ lầm lẫn ký những tấm chi phiếu nhiều hơn số tiền ông có. Tên ông bị ghi trong các cuốn sách, nằm trong cái máy điện toán nêu rõ những người có tín chỉ xấu. Những người bị ghi tên trong ấy là những người thiếu tín nhiệm. Không nên cho vay tiền. Không được mua chịu. Ngân hàng lễ phép gửi thư đến xin lỗi, không nhận ông làm thân chủ.
Đối với sở lái xe và nhân viên Cảnh sát, ông Nguyễn là một người ẩu tả. Trong vòng ba năm, trên bốn mươi tấm giấy phạt lưu thông. Bằng lái xe bị rút hai lần. Số tiền chậm đóng phạt đến kỳ hạn tự động tăng lên gấp đôi, gấp ba trong máy điện toán, thành những con số quá lớn. Sự vi phạm lặp đi lặp lại chừng ấy chuyện: Vượt đèn đỏ. Không chịu dừng ở bảng Stop. Chạy quá nhanh hay quá chậm trên xa lộ.

Tại sao ông ta cứ lôi thôi như vậy?

Nói cho ngay, ông Nguyễn không có gì gọi là tác phong chống xã hội. Ông chưa bao giờ can án. Sức khỏe thể chất tương đối tốt. Sức khỏe tinh thần không đến nỗi đáng than phiền. Khi có gì vui, biết là vui. Có gì buồn biết là buồn. Ấy là lẽ thường tình. Lửa cháy bỏ tay vào không đau, không phỏng, thì đó mới là chuyện đáng ngạc nhiên. Còn đối với một người Việt Nam xa lìa gia đình, bạn bè xứ sở, một mình với bao âu lo, nhớ nhung, phiền muộn… trí óc chìm đắm vào những biến cố, những câu hỏi, những duyệt xét… Nghĩ cho kỹ, quả đấy là chuyện thường tình.

Buổi sáng: đánh răng, súc miệng. Đi làm. Trưa ăn. Chiều về ăn. Tối đi ngủ. Cuối tuần loanh quanh chợ búa mua bán nhặt nhạnh vải đen, thuốc tây, kem Bông Lan, giây đàn, bột ngọt, chờ đầy thùng là gửi về nhà cho cha mẹ, anh em, vợ con bán lấy tiền mua thực phẩm. Thời khóa biểu không lấy gì bận rộn, nhưng lúc nào cũng kể là bận rộn. Tại sao?
Ông Nguyễn đâu có sống một nơi? Ông sống một lúc đến hai không gian: Hồn ở xứ Mỹ mà vía luẩn quẩn chạy đi, chạy về tận xứ sở bên kia quả đất. Đang ngồi trong sở làm đầy những máy móc và bóng đèn néon, thoắt một cái, lang thang trong một con hẻm với những tàng cây trứng cá ở Sài Gòn. Không những vậy, cùng một lúc ông sống với hai thời gian: Hiện tại và quá khứ. Lui tới vẩn vơ hoài mấy chục năm xưa. Có khi lui tuốt về cái lớp học tại một ngôi chùa Hà Nội đọc ê a bài vỡ lòng cùng với những đứa bạn đau mắt hột, chốc đầu. Thoắt một cái, đứng nhởn nhơ trong Đại Học Xá huýt sáo, chải đầu, ăn mặc đẹp đẽ sửa soạn đi dạo phố Sài Gòn.

Không gian, thời gian cứ vụt qua vụt lại lộn xộn đủ hết ngày.

Trái đất, trong thời đại xa xưa kể ra rộng lớn kinh khủng. Đi một vòng quả đất thực là một công trình vĩ đại. Vác lều chõng từ Hà Nội vô Huế đi thi phải mất ba tháng ròng. Dẫu vậy, cái gì chẳng thay đổi? Máy bay, phi thuyền làm cho quả đất thu nhỏ lại. Vệ tinh bay ra ngoài không gian chụp ảnh, quả đất còn bằng quả cam. Chế độ quân chủ, phong kiến đã lỗi thời. Nếu bây giờ giống Hỏa Tinh đến tấn công địa cầu thì mâu thuẫn Tư Bản Cộng Sản cũng trở thành lỗi thời luôn.

Nhưng dù cho không gian có theo tiến bộ mới mà thu hẹp lại như vậy… và vận tốc của ý nghĩ có nhanh cách mấy… cũng không giúp cho ông Nguyễn đang ngồi lái xe vẩn vơ thả hồn về căn nhà cũ cùng với đàn con ở khu Bàn Cờ, vụt một cái, phải thắng xe cho kịp cái đèn đỏ bật lên ở Mỹ.

Thường là không kịp.

Cho nên vận tốc ý nghĩ vẫn kể là chậm. Không gian vẫn lớn. Và ông Nguyễn vẫn thường xuyên bị xe Cảnh sát ào ào đuổi theo hú còi bật đèn pha sáng rực chặn lại vì những chuyện lôi thôi cũ rích: Vượt đèn đỏ. Không dừng bảng Stop. Lái xe quá nhanh hay quá chậm trên xa lộ.

Trời đất xứ Mỹ đang ngả sang một màu trắng xóa.

Dãy núi xanh đã chuyển qua xám bạc, đỉnh núi lởm chởm tuyết. Chiều tối buông xuống rất mau. Người ta sắm sửa ăn mừng lễ Giáng Sinh, nhưng trong lòng ông Nguyễn vẫn chưa ngưng nghỉ giữa quá khứ hiện tại, bên này và bên kia trái đất.
Sự lộn xộn về không gian thời gian có những cái phiền hà hơn ba tấm giấy phạt, mấy tín chỉ ngân hàng.

Trong những giờ phút cô quạnh, trí nhớ dẫn người ta trở về sục sạo tận cùng những hang hốc ở bên kia trái đất lúc người ta mới sinh ra đời, lúc người ta chưa sinh ra đời, từ những biến động lịch sử được viết rất kỹ hoặc rất sơ sài cẩu thả mà bây giờ người ta mới đủ thì giờ đặt nhiều dấu hỏi.

Nó đưa người ta trở về những vùng Thượng du, Trung du nghe tiếng gà Lạng Sơn eo óc gáy, mặc dầu người ta chưa đặt chân đến đấy bao giờ. Nó lơ đãng như chuyến đò trên sông Hương chậm rãi rời bến Thừa Phủ một đêm trăng, đi ngược lên vùng Thiên Mụ, Quan Thánh, hốt nhiên đưa tay vờn xuống nước, nắm phải chéo áo của những ông vua triều Nguyễn đã rước binh đội Tây phương về tận Việt Nam. Hay lủi thủi trong một đêm Hè… Hay là đi mò mẫm bắt mấy con ve sầu ở đường ga Hàng Cỏ… Hay là nhìn những ông lính Ma Rốc của quân đội Liên Hiệp Pháp… Hay là nhìn những cây gạo nở ra nụ hoa đỏ và tơ trời bay vướng vít thuở ấu thơ.

Đối với ông Nguyễn, trí nhớ và óc phân tích có làm cho ông phiền phức, bởi vì, nếu trí nhớ và óc phân tích dắt về những hạnh phúc cũ thì trái tim hiện tại đau nhói. Còn nghĩ đến những cái buồn bã cũ thì trái tim mới cũng vẫn cứ đau đớn như thường.

Trí nhớ là một con ngựa chạy mơ hồ mà khó cản. Hễ nó muốn đi đâu, nó đi. Nó trở về tận Đà Lạt phóng dong dả trên những ngọn đồi xanh vào một buổi chiều màu nắng nhẹ hều như mây khói. Lúc bấy giờ ông chỉ muốn bà nắm tay ông dắt nhau dạo chơi trong cái nắng nhẹ hều ấy. Nó chạy lui, chạy tới, soải mình phi điên cuồng trong cõi thời gian, không gian xa lơ xa lắc. Nó đưa ông về ngôi trường xưa. Nó đưa ông đến thăm những người bạn cũ. Những nấm mồ của mấy triệu người đã chết. Những thân thuộc trong Nam ngoài Bắc sau mấy cơn khóc lóc phân ly. Những người tù. Những người ngồi bó gối trong trại cải tạo. Những đàn ông, đàn bà, trẻ con chết chìm trên biển cả. Bom đạn, mìn chông, hầm bẫy. Súng Nga, súng Mỹ, súng Nhật, súng Tiệp. Vó ngựa Mông Cổ. Gươm dao mã tấu của người Tàu đủ các triều đại.

Ông ngồi chống tay ở sở làm nghe tiếng chuông điện thoại reo không muốn nhấc lên. Ông nhìn ra cửa sổ thấy mùa đông thứ mười đã trở về. Trí nhớ khắc khoải duyệt xét từ bản thân đến mỗi người yêu dấu. Mỗi người quen biết. Tất cả những người trong một xứ sở thân yêu nơi ông sinh ra đời vào một mùa nước lụt, ba năm sau có hàng triệu người chết đói và trong mấy ngàn năm, tai ương gần như không bao giờ dứt.

Trí nhớ và óc phân tích đưa ông về khắp các hang hốc tối tăm ẩm mốc từ lúc người Pháp mới đến Việt Nam với chiến thuyền, những khẩu đại bác, những đôi giày bốt. Những mảng tường thành bị bắn sụp. Những anh hùng Việt Nam điềm tĩnh uống thuốc độc hoặc ngồi lặng lẽ tự cấu ruột mà chết. Trí nhớ đưa ông về những mùa Giáng Sinh. Những vụ cấm đạo Gia Tô. Những vụ bắt giết giáo sĩ. Những người truyền giáo. Những người đầu tiên theo đạo bị xem là nhịp cầu cộng tác với binh đội Âu Châu mở màn cho cuộc xâm chiếm, đô hộ Việt Nam và lịch sử… Lịch sử và chính trị, tất cả những cái nhức nhối ám ảnh mỗi người Việt Nam bất cứ ở đâu khắp trên mặt đất này.

Mùa Giáng Sinh mà trí nhớ phải khắc khoải với các băn khoăn có màu sắc chính trị thì thiệt là một điều không phải. Bởi những mâu thuẫn nào cũng trôi qua. Bởi những người Công giáo ngày nay không phải là những người theo đạo “Hoa Lan” mấy trăm năm trước. Bởi những trang sách ấy đã lật qua.

Bởi Giáng Sinh là một mùa vui vẻ yêu thương.

Bây giờ là mùa Giáng Sinh.

Các con đường trong thành phố đang treo đèn kết hoa. Các cửa sổ có gắn giây điện và những bóng đèn tí hon xanh đỏ đầy màu sắc. Nhà nào cũng sửa soạn một cây thông xinh xắn đặt ngay trong phòng khách. Người Mỹ vui vẻ trang trọng đón chờ lễ Giáng Sinh như người Việt Nam ăn Tết Nguyên Đán bằng tất cả tâm hồn.

Khí trời mỏng manh, trong trẻo. Không gian rung lên những âm thanh nhẹ nhàng như tiếng chuông bạc mang ông Nguyễn chập chờn trở lại 25 năm xưa. Lúc bấy giờ, các cô gái mặc áo trắng đứng xếp hàng ở nhà thờ Đà Nẵng hát bài “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”.

Ông Nguyễn êm ả nhớ đến cô con gái đầu tiên. Cô gái có nụ cười tươi như hoa mai, ngọt như hoa lan, đã tặng ông một xấp vải may áo sơ mi vào mùa Giáng Sinh. Cảm giác ấy thật hồi hộp cho cậu con trai mười bảy tuổi. Ông hồi tưởng cái khung gỗ và tấm ảnh bà Thánh Thérèse mà cô gái kèm theo gói quà, dúi vào tay ông lúc tan học.

Bây giờ, trái tim đã cũ quá, khô quá, để có thể rung động lãng mạn và thánh thiện như hai mươi lăm năm trước.

Dẫu vậy, con ngựa trong trí nhớ vẫn chạy về mùa Giáng Sinh trong thành phố xưa, thong thả trao lại cho ông tất cả những chi tiết bé nhỏ như là: Ông về ấp úng nói chuyện ấy với bà mẹ. Mẹ bảo: “Rứa thì con cũng phải mua cho nó một món quà.” Bà mẹ mở cái kim băng ở túi áo cánh đưa cho ông ba tờ giấy năm đồng. Ông đạp xe đi khắp phố tìm kiếm mà không biết mua gì cho một cô con gái. Mua cái gì? Một đôi dép nhung màu đỏ. Nhỏ hơn chân ông, nhưng vẫn to gấp rưỡi chân cô gái.

Đêm Giáng Sinh hôm ấy, khi những hồi chuông đổ dòn dã, cô ta mặc áo dài trắng, đi đôi dép nhung đỏ rộng quá khổ, tay vân vê cái khăn mù xoa trắng. Cùng với các cô gái khác cũng mặc áo dài trắng, họ đứng thẳng hàng trên bục gỗ bên ngoài nhà thờ, ngước mắt nhìn lên, cất tiếng hát bay khỏi vùng trời thành phố.

Vào lúc ấy, ông nghĩ, tất cả mọi linh hồn đều xếp hàng im thật im, lắng nghe tiếng hát tỏa ra, cất lên, thấm vào sâu thẳm. Những tiếng ngân nga, dịu dàng, vui mừng như tiếng chuông đong đưa, lúc lắc trong không gian của những ngày xưa cũ.

Đêm Thánh xa vời đêm Thánh xưa
Một vùng thanh vắng đứng như mơ
Một người áo trắng quàng khăn trắng
Linh hồn vô nhiễm hát nên thơ

Người áo trắng quàng khăn trắng với linh hồn vô nhiễm không phải là một vị Thánh. Cô theo cha mẹ dọn đi Nha Trang, không bao giờ họ còn gặp lại. Nhưng mãi mãi, bao giờ cô cũng là một linh hồn vô nhiễm.

Sự hiểu biết của ông Nguyễn về các Thánh Thần đạo Gia Tô quả thật mù mờ… Trừ bà Thánh Thérèse trong tấm ảnh mà cô gái đã tặng hồi Trung học, tất cả sự hiểu biết của ông về đạo Gia Tô cũng mù mờ như vậy. Cuốn Thánh Kinh thỉnh thoảng mang ra đọc, ông chỉ nhớ có một đoạn thơ mộng:

– “Kìa con chim ngoài trời không phải gieo hạt trồng lúa mà cha ta cũng lo cho nó có đồ ăn đầy đủ, kìa hoa huệ ngoài đồng nội không phải se chỉ dệt vải mà cha ta cho những bộ áo quần xinh tươi, đến Vua Salomon cũng không sánh kịp…”

Dạo ở Hà Nội lúc còn bé, đi ngang nhà thờ lớn, ông thường đứng nhìn người ta bày bán các tấm hình in tận bên Ý. Lúc bấy giờ, kỹ thuật ấn loát ở Việt Nam hãy còn thô sơ. Tấm ảnh Thiên Thần bay lơ lửng. Chàng chăn chiên mịn màng đẹp đẽ. Các bà Thánh với vòng hào quang kim nhũ. Tấm gương màu rực rỡ. Kiến trúc Gothique và bài thánh ca tạo ra các cảm giác cao cả. Những điều ấy cho đến nay vẫn còn đưa ông tìm đến những ngôi nhà thờ trong suốt mấy chục Giáng Sinh trôi qua.

Trí nhớ, một con ngựa màu trắng cất thẳng đầu chạy trên cánh đồng lúa vàng, băng qua những đồi cỏ xanh, về một vùng tuyết lạnh nhìn lên bầu trời đong đưa những tiếng chuông bạc. Tiếng chuông ấy rung lên hoài mỗi mùa Giáng Sinh. Nói cho đúng lý ra, trí nhớ nên dừng lại đây, bên cạnh cô con gái mặc áo trắng, đi đôi dép đỏ rộng quá khổ. Cô đứng với các bạn, mãi mãi nhìn lên trời cất tiếng hát cho một nhân loại hòa bình thân ái. Bình an cho người dưới thế. Tiếng hát như vậy bao giờ cũng đẹp đẽ. Dẫu cho người Hồi Giáo, người Phật Giáo, người Ấn Độ Giáo, hoặc ngay cả người Hỏa Tinh xuống địa cầu nghe thấy cũng phải biết lòng mình êm ả, vì ai chẳng yêu mến những điều như vậy.
Và khi người ta lẩn thẩn nghĩ đến những cái êm ả đẹp đẽ mà lỡ quên đi, không dừng kịp thời ở bảng Stop, ở đèn đỏ, không giữ kế toán trương mục… thì việc hồ sơ lái xe, tín chỉ ngân hàng xấu hay tốt, xét ra chỉ… đáng yêu chứ không phải là đáng trách.

NGUYỄN BÁ TRẠC

(Trích Ngọn Cỏ Bồng)

Tài liệu của saimonthidan.com

Ông Khó Tính

Bạn tôi, ông Khó Tính. Lúc còn ở Sài Gòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nửa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào, chửi thề những câu tục tĩu.
Chửi đủ thứ chuyện. Chửi trời bất nhân, chửi người bất nghĩa, chửi cộng sản bạo tàn, chửi bọn tự xưng Quốc gia là đám Việt gian dốt nát. Thiên hạ sau lưng xì xào nói này nói nọ. Nghe đến tai, ông chỉ cười khẩy.
Thân hình mập mạp, mặt khó đăm đăm, nhưng tâm địa dễ thương cảm. Nhìn xác trẻ chết banh vì bom đạn, ông thường chảy nước mắt mà khóc.
Tính tình cổ quái, hay thích kết giao với những tay giang hồ dị khách, đêm đêm nắm tay nhau lên tận nhà thờ Ba Chuông ăn thịt chó. Rượu say ngất ngưỡng, gối đầu vào chai lăn kềnh ra mà ngủ.
Trong đám đi lại có một anh mỗi lần rượu vào là thơ ra. Giọng ngâm khàn khàn như vịt đực. Bài thơ đắc ý chỉ có mấy câu cụt ngủn:
Trước mặt là Cộng Sản
Sau lưng là kẻ thù
Ngập ngừng tôi đứng giữa
Giật mình nghe tiếng hô…

Sau này anh được cộng sản cho đi học tập. Nghe nói học mãi vẫn không khá. Vẫn giật mình mỗi lần nghe tiếng hô, và vẫn cất giọng khàn khàn ngâm bài thơ cụt ngủn.
Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch tiến sát cửa dinh Độc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi giạt đến Mỹ. Đất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu. Sớm đi hái trái, tối đóng đồ hộp, sau rốt mày mò theo nghề điện tử làm kế sinh nhai độ nhật.
Từ ngày xa nhà, tính tình lại còn khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Đứa đi quyền, đứa dang chân xuống tấn. Người bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt Sử. Đứa nào không thuộc thì co giò mà đá, hàng xóm gọi cảnh sát đến còng tay dẫn đi.
Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê người gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn nạn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng, không kiêng nể gì nữa.
Bạn bè tan tác, chỉ còn một hai người bạn cũ may gặp lại nơi đất khách. Bạn lái xe đi du lịch về khen phong cảnh xứ này đẹp. Ông Khó Tính lừ mắt bảo: “Cái gì mà anh chẳng cho là đẹp?” Mùa thu lá vàng bay lả tả, bạn khoái chí ngâm nga: “Rừng phong thu đã nhuộm mùi quan san”. Ông hằn học nói: “Đây là lá Mapple chứ đâu phải lá phong chó gì đâu mà anh gọi là rừng phong?”
Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tàu. Bạn khen núi, ông bỉu môi: “Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Đại Lãnh?”
Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ: “Bọn Đông Dương ta khối đứa bị bệnh tâm thần” có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn.
Khi vườn sau, khi sân trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu, khi chè chuyên năm bẩy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu. Hai người quan hệ mật thiết: tiết canh, chả cá, mời mọc qua lại ăn nhậu chuyện trò và thường xuyên chửi đổng.
Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang. Bạn thân ái mời ông Khó Tính đến. Nước đun sủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm.
Được đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:
“Trà uống được không?”
Ông Khó Tính:
“Cũng được, nhưng thua Đỗ Hữu.”
Bạn cười giòn:
“Bố ơi, chính hiệu trà Đỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”
Ông Khó Tính:
“Thảo nào. Có điều cái nước máy chát quá!”
Bạn chồm lên:
“Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đấy, không phải nước máy đâu.”
Ông Khó Tính tuột giày gãi nách ngáp:
“Nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm!”
Chuyện ông Khó Tính chê nước Mỹ chẳng bao lâu được truyền tụng, các ông độc thân vui tính la cà tiệm cơm tiệm phở kể lại cười rúc rich. Người ta thêm thắt về đủ mọi thứ chuyện làm ông Khó Tính càng thêm bực bội.
Nhưng, ít ai biết chuyện ông Khó Tính còn bực mình đến cả hình hài của ông:
…..Giận mình mang nặng hình hài
Chẳng bằng mây trắng về bay lưng trời…

Tài liệu của saimonthidan.com

Nguyễn Bá Trạc

Một chút Việt Nam

vandoanviet.wordpress.com

Trần Doãn Nho

(Trong tập truyện “Vết xước đầu đời”, 1995, tác giả nhuận sắc 2018)

Post by Sơn râu 30 Aug 2025

Trần Doãn Nho, bút hiệu, sử dụng khi sáng tác; Trần Hữu Thục, tên thật, sử dụng khi viết tiểu luận. Sinh trưởng tại Huế. Theo học đại học Huế và Sài Gòn, tốt nghiệp ngành Triết.

Trước 1975, dạy học: Phụ khảo Triết Đại Học Văn Khoa Huế; đi lính: sĩ quan quân đội VNCH; viết: cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn: Văn, Tân Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Khởi Hành, Đối Diện.

Sau 1975, ở tù đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Công Lập Thành Phố Worcester, bang Massachusetts.

Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 và các tạp chí mạng: Da Màu, Gió-O, Talawas, Diễn Đàn Thế Kỷ, Diễn Đàn Forum, Bauxite Việt Nam, Văn Việt. Đã xuất bản 8 tác phẩm: 2 tập truyện ngắn (Vết xước đầu đời, Căn phòng thao thức), 1 tập ký và tùy bút (Loanh quanh những nẻo đường), 1 tạp bút (Từ ảo đến thực), 1 truyện dài (Dặm trường), 3 tập biên khảo văn học (Viết và Đọc, Tác giả tác phẩm và sự kiện, Ẩn dụ cuộc phiêu lưu của chữ); Bút ký Một đêm (One Night) trong tập Loanh quanh những nẻo đường được dịch đăng ở tạp chí văn học Meanjin, Melbourne University, số 2, 2015, dịch giả: Tôn Thất Quỳnh Du.
Hiện đã hưu trí, cư ngụ tại Dallas, bang Texas.

Image by Sơn râu (Lái Thiêu-Việt Nam )

Đêm rồi, Hưng ngủ muộn, vì cố gắng làm xong mấy bài homework cho tuần sau. Anh muốn có một chủ nhật hoàn toàn không bận bịu. Nửa đêm, mưa bên ngoài, cơn mưa nhỏ, gió mang theo những hạt mưa tạt vào qua khoảng hở của cánh cửa sổ quên kéo xuống. Anh lười biếng nằm im, để vậy, lắng nghe tiếng mưa rơi êm, tiếng cửa gương lay động lách tách. Trong giấc ngủ chờn vờn, trí tưởng anh bay về những vùng trời xa xôi, nửa thực nửa hư. Mưa sa, bão táp, lụt lội, ghe đò bập bềnh sóng nước bên hiên nhà. Chợ búa bồi hồi mùa nước lũ. Đám con trai, con gái xắn quần cao lội nước. Thời gian không đầu không đuôi, kéo dài ra vô tận. Cứ thế, anh nằm, anh đứng, anh ngồi, anh chơi, chậm chạp và lười biếng. Với những mộng tưởng xa vời. Mộng hãy là mộng, chẳng cần phải thành sự thực. Cứ thế …

Thức dậy sớm, làm vệ sinh xong, Hưng đứng tựa cửa sổ nhìn ra. Chúa nhật đã ở bên ngoài với bãi đậu xe ngân hàng trần trụi, phơi ra những ô, những lằn vạch, những mũi tên vô hồn. Đường phố vắng xe, tĩnh lặng nằm yên, y như thể đang say sưa ngủ giấc ngủ ngày. Chúa nhật, thời gian dịu đi, hiền lành, đáng yêu như con mèo nhỏ gối đầu trên chiếc dép ở góc phòng, lim dim ngủ để anh mặc tình sờ mó, vuốt ve, sở hữu. Suốt tuần, nó giục anh chạy, nó ném anh vào dòng sống phiêu linh không bến không bờ, nó chiếm lấy anh, sử dụng anh như một tên nô lệ. Bây giờ, ở đây, lúc này, anh có cảm giác cầm được nó và thả ra từng chút, từng chút. Rất tùy nghi.

Định pha một cốc cà phê, rồi chuẩn bị một tô mì ăn liền với đầy đủ gia vị, thịt thà (mà ngày thường không kịp làm), nhưng thấy bình cà phê sạch nhẵn, anh tự nhủ, thôi thì hãy tới tiệm Mỹ nhâm nhi một cốc cho khỏe. Anh thay áo quần, “lốc” cửa, ra đi. Khác với khu ngân hàng ở bên kia đường, khu chung cư anh ở, ngày chúa nhật ồn ào hơn thường lệ. Đám trẻ con đen, trắng, nâu, vàng chạy nhảy, la hét. Các cánh cửa phòng vốn đóng im ỉm giờ mở toang. Đi qua các căn phòng dân Nam Mỹ, chàng nghe phảng phất cái mùi đặc biệt mà dân Việt Nam ở đây vẫn gọi là mùi “xì” với vẻ mỉa mai. Chữ “xì” bắt nguồn từ chữ ‘Spanish”, dân nói tiếng Tây Ban Nha. Người Việt xem những ai không phải Mỹ chính gốc đều là “xì” và xem thường, thậm chí khinh bỉ họ. Kể ra thì khinh bỉ sắc dân khác cũng là một cách thế tự vệ trong một xứ đa chủng như thế này, anh nghiệm như thế.

Đúng lúc anh bấm nút đóng cửa thang máy, thì một cô gái chạy bổ vào, giọng Mỹ sõi:

– Xin lỗi, cho tôi vào với, tôi có chuyện gấp.

Anh đưa tay chận cánh cửa tự động. Cô gái lách vào qua một khoảng nhỏ còn lại vừa đủ cho thân hình nhỏ nhắn của cô. Cô gái thở gấp, nhìn anh:

– Cám ơn, cám ơn.

“Không có gì”, anh nói theo quán tính, nhìn vào khuôn mặt cô và ngạc nhiên thấy đó là một người châu Á. Cô nói tiếng Anh hay thật, nếu không nhìn mà chỉ nghe, chắc anh vẫn cho cô nàng là dân Mỹ thứ thiệt. Cô mặc cái váy xòe dài màu hồng nhạt, điểm những bông hoa tím nhỏ, áo T-shirt màu đỏ tươi, trước ngực có hàng chữ “Take back the night” nằm trong một ô tròn màu đen. Thắt lưng to bản. Tóc bới cao đuôi ngựa. Phần tóc phía trán được đánh thành hai tua nhỏ kiểu con nít, thả xuống hai bên má, trông thật ngô nghĩnh, y như kiểu tóc của loại dân Nam Mỹ nào đó. Cô còn trẻ lắm. Việt Nam, Tàu, Singapore, Nhật hay Lào? Cô đứng yên, nhưng lộ vẻ bồn chồn. Khi thang máy dừng hẳn, cô phóng ra trước, chạy đi. Anh nhìn theo cho đến khi bóng cô khuất sau góc phố, lòng bâng khuâng tự hỏi chẳng biết cô nàng đến từ đâu, đến thăm ai hay mới đến thuê phòng trọ.

Anh đi uống cà phê, đi giặt, đi chợ. Khi trở về, vừa đậu xe xong, anh chợt thấy bóng chiếc áo đỏ thấp thoáng trong lối đi chính vào khu chung cư. Như có một sức hút, anh rảo bước theo với hy vọng sẽ gặp cô nàng. Quả không bỏ công, anh đến đúng lúc thang máy vừa xuống. Cửa mở. Cô gái nhìn anh cười và ra dấu cho anh vào trước. Anh lịch sự nhường lại.

Khi thang máy từ từ chạy lên, anh định hỏi thì cô nàng lại bắt chuyện trước:

– Ông ở đây?

– Vâng.

– Tầng mấy?

– Tầng năm. Còn cô, cô đến thăm ai?

– Không, tôi cũng ở đây, tầng bảy.

– Thế à, vậy mà tôi không hề gặp cô lần nào ở đây. Chắc cô mới đến.

– Vâng. Chừng hai tháng.

Hai tháng. Cũng khá lâu, sao anh không hề gặp? Tò mò muốn hỏi thêm vài câu nữa, nhưng thang máy đã dừng ở tầng năm, tiếc thật. Khi anh chào từ giã, bước ra cửa thì cô gái cũng bước theo. Anh ngạc nhiên, dừng lại nhìn:

– Cô ở tầng bảy kia mà, sao không đi tiếp?

– Không, tôi muốn hỏi ông một việc. Ông người Tàu hay người Nhật?

– Cô đoán thử.

– Chắc là người Hồng Kông?

– Sai, Việt Nam.

Cô gái ồ lên một tiếng, tia mắt rực sáng, đột ngột dang hai tay ra như muốn ôm lấy anh, nhưng kịp buông xuống. Cô hạ thấp giọng, nói bằng tiếng Việt:

– Tôi cũng là người Việt.

Anh cười:

– Thế thì tôi đoán không sai. Tôi cũng ngờ ngợ cô là người Việt từ khi gặp cô hồi sáng.

– Ngờ ngợ? Tôi không hiểu.

– Ngờ ngợ là phỏng chừng, đoán chừng, là guess.

Cô cười:

– Tôi kém tiếng Việt lắm.

– Cô nói sành đấy chứ, à … nói giỏi đấy chứ.

Cô đứng ngẫm nghĩ một lát, rồi nói, giọng ngập ngừng:

– Gặp được anh là người Việt, tôi … vui lắm. tôi muốn nhờ … Xin lỗi, nói thế này có hơi, hơi … bất ngờ, anh thông cảm. Có thể nào, tôi ghé thăm anh được không? Không phải bây giờ mà … mà một lúc nào đó … khi anh không bận …

Anh ngạc nhiên nghe cô đổi từ “ông” sang “anh”:

– Đến thăm tôi, ờ, ờ … tất nhiên là được. Nhưng … có việc gì không cô?

– Cũng chẳng có việc gì, tôi chỉ muốn có bạn … cho vui.

– Nhưng … nhưng khi nào cô đến?

– Tôi không biết. Khi nào đến, tôi sẽ gọi điên thoại báo cho anh. Mà … mà anh không có gì phiền chứ? Lúc nào thì anh có nhà?

– Chúa nhật, còn ngày thường, tôi chỉ rảnh một chút buổi trưa và sau tám giờ tối.

Cô gái vội vã quay đi. Chợt nhớ ra điều gì, cô dừng lại:

– Vội quá, tôi quên hỏi. Anh có thể cho tôi số điện thoại và số phòng anh không?

Anh ghi số điện thoại và số phòng trên một mảnh giấy nhỏ đưa cho cô. Cô vừa quay gót, anh gọi giật:

– Này, cô, tôi chưa có số điện thoại cô.

Cô quay lại, đến gần anh, nói nhỏ:

– Tôi xin lỗi. Điện thoại tôi gọi ra thì được, nhưng không gọi vào được. Anh thông cảm. Cảm ơn anh.

Nói xong, cô quay người lại, đi bộ về phía cầu thang, lên lầu.

Hưng trở về phòng, lòng ngờ ngờ vực vực, không yên. Gặp bất ngờ. Quen bất ngờ. Thêm một cái hẹn bất ngờ. Đã thế, lại hẹn gặp ngay tại phòng mình. Cô ta là ai? Điếm? Dân bụi đời, băng đảng? Gái bất mãn gia đình, trốn nhà ra đi? Nhưng nhớ lại dáng dấp, cử chỉ của cô gái không có vẻ gì bất thường, thậm chí, rất là gái nhà lành. Nghĩ thế, anh cảm thấy yên tâm. Và vui. Một niềm vui thật mới.

Từ ngày qua Mỹ, sống tách khỏi gia đình, tự lập, anh như kẻ chạy đua với thời gian, tìm cách thích nghi càng nhanh càng tốt với xã hội mới, nơi mọi thứ mọi điều đều đầy thách đố, đòi hỏi sự phấn đấu. Không buồn. Chẳng vui. Luôn luôn bận rộn. Bây giờ, tự dưng quen một cô gái, tự dưng lại được hẹn hò khiến anh cảm thấy phấn chấn, một nỗi phấn chấn rất thanh niên bấy lâu bị dồn nén bỗng có dịp tràn ra, dạt dào. Bừng bừng. Sôi sục. Thế là, suốt cả tuần, hễ xong việc là anh về nhà. Hễ nghe điện thoại reo là có bận việc gì, anh cũng chạy vội đến bốc máy ngay. Mong mãi vẫn không nghe điện thoại của cô gái, sốt ruột, anh lên tầng bảy, đi dọc theo hành lang, mong được tình cờ gặp cô nàng đâu đó. Chẳng có ai. Hành lang lúc nào cũng vắng tanh. Các cửa phòng đóng im ỉm. Anh có cảm giác như thế giới không có mặt ở đây trong suốt những ngày làm việc. Cô nàng ở phòng nào nhỉ? Nỗi đợi chờ vu vơ khiến nhịp sống bình thường anh bị chao đảo. Anh cố ý kéo dài những giây phút thư giãn, cố ý giảm bớt những bận bịu, cố ý về sớm và tìm cách đi muộn. Thời gian giãn ra, chậm chạp, bứt rứt và buồn nản. Anh bần thần sống trong cơn mộng tưởng hoang đường.

*

Mãi đến tối thứ bảy, cô gái mới điện thoại cho anh. Cô nói một hơi, tiếng Anh chen lẫn tiếng Việt:

– May quá, anh có ở nhà. Hôm trước, muốn ghé anh, nhưng tìm không ra mảnh giấy anh cho hôm trước. Tôi mới tìm lại được hồi trưa nay trong đống sách vở. Tôi tên Miên Tâm. Gặp được người Việt Nam ở đây tôi rất vui.Tôi rất ít khi có dịp đi ra ngoài. Chắc anh bận lắm phải không? Chiều mai, anh có rảnh không, tôi sẽ ghé xuống anh, khoảng hai giờ đến ba giờ. Anh cứ để cửa vậy, tôi vào, khỏi ra đón. À, số phòng anh là 508 phải không … Tôi sẽ xuống. Nhớ để cửa, đừng đóng. Từ hai đến ba giờ chiều mai.

Nói xong, không đợi anh trả lời, cô đã cúp máy. Anh gác điện thoại, thở phào nhẹ nhõm. Thế là anh đã có một hẹn hò. Ngày chúa nhật sẽ được lấp đầy. Anh sẽ được bận bịu, sẽ có thêm những điều mới mẻ. Thế giới chán ngắt của anh với những màu sắc vụn rời, chắp vá sẽ được điểm xuyết thêm màu tím hay màu hồng của một bông hoa nhỏ. Anh cảm thấy hân hoan, phơi phới. Đầu óc anh đột nhiên đầy những ấn tượng về cô gái. Đôi môi đỏ chót, nốt ruồi chênh chếch bên cánh mũi, đôi bông tai to tròn đu đưa, ngực thấp nhỏ, nụ cười thân thiện, dáng đi hấp tấp, giọng nói tiếng Việt chen lẫn tiếng Anh với những âm nhấn rất Mỹ. À, mà lạ thật, cô gái này đâu có gì đặc biệt, sao lại làm anh xao xuyến như thế! Anh đã từng có bạn gái, đã từng yêu, từng hò hẹn. Thế thì tại sao lại bâng khuâng vô cớ như thế này! Đã khuya. Anh nằm xuống sàn nhà, chập chờn trôi vào giấc ngủ, chiếc áo tràn vào nhuộm đỏ giấc mơ.

Hôm sau, Hưng thức dậy sớm dọn dẹp phòng ốc. Căn phòng nhỏ tạm bợ đột nhiên ấm cúng và tràn đầy ý nghĩa. Ăn trưa xong, Hưng bồn chồn nghe ngóng, lòng thấp thỏm nghi hoặc không yên. Ấy thế mà cô gái đến thật, như một món quà tặng bất ngờ. Quá hai giờ, Hưng nghe bước chân ngoài hành lang. Tiếng gõ cửa thật nhẹ. Cánh cửa nhè nhẹ di động. Cô gái ghé đầu vào, nhìn quanh. Thấy anh, cô cười, nhanh nhẹn lách vào, khép cửa lại. Anh đứng dậy chào, mời cô ngồi. Cô gái nhìn anh:

– Phòng hơi hẹp, anh há.

Anh cưòi:

– Sinh viên nghèo mà cô.

Nàng bước lui, bước tới ngắm nghía mấy bức tranh cũ mua ở yardsale, cầm lên mấy cuốn sách học, nhìn qua rồi để xuống, bước đến cửa sổ, kéo lên, nhìn ra ngoài. Cô nàng tò mò nhỉ, anh nghĩ . Anh yên lặng, vòng tay nhìn nàng, cố đoán xem cô ta thuộc loại người nào. Hôm nay, cô mặc một bộ đồ lụa nhạt, có thêu những nhánh hoa hồng ở hai tà trước. Cổ đeo dây chuyền màu vàng, tóc xõa xuống hai vai. Cô ngồi xuống, nhìn anh, giọng trở nên thân mật:

– Em tên Miên Tâm. Còn anh?

– Hưng.

– Gia đình anh cũng ở đây?

– Vùng này, nhưng “town” khác.

– Vượt biên hay bảo lãnh?

– H.O.

Nàng cười:

– Cũng H.O. Đi đâu em cũng gặp H.O. (*)

– Cô đi đâu mà nhiều thế?

– Em ở nhiều bang lắm. Ở miền Nam có, ở vùng giữa có, giờ lại lên miền Bắc. Em “move” lung tung.

– Để làm gì?

– Đi chơi, đi làm ăn. Mỹ mà, tự do. Còn anh, có đi đâu chưa?

Hưng cười:

– Tôi mới qua, lu bu đủ thứ, đâu có điều kiện để đi. Phải vừa đi học, vừa đi làm.

– Anh học gì?

– Computer.

Cô gái nhìn ra ngoài, qua khung cửa sổ:

– Nghe nói vùng này, mùa đông lạnh lắm. Sao anh không về các bang miền Nam nắng ấm, ở gì đây mà chịu tuyết suốt mùa đông.

Anh cười:

– Lúc mới qua cũng ngán. Nhưng hai mùa tuyết rồi, đâu có sao. Cô uống cà phê nhé?

Cô nhìn lên:

– Em không thích cà phê. Anh có bia không?

Anh hỏi, giọng ngạc nhiên:

– Cô uống bia được à?

– Sao lại không! Một hai chai thôi. Anh ngồi đi, em tự lấy cũng được.

Cô gái đứng dậy, đến tủ lạnh, mở cửa. Nàng nói:

– Budweiser. Không có Heineken. Em khoái Heineken. Nhưng Budweiser cũng OK.

Cô lấy một lon đến ngồi ở bàn, khui uống, tự nhiên, thành thật, ngon lành. Nhìn cung cách cô, anh hãi. Nàng hỏi:

– Anh không uống?

– Tôi ít khi uống bia ban ngày. Uống vào mặt đỏ gay, kỳ lắm. Chỉ thỉnh thoảng uống một lon trước khi đi ngủ. Cô vẫn uống thường như thế à?

– Không thường lắm. Nhưng giờ này, ngồi ở đây, tự nhiên em thích một chút gì đăng đắng. Uống nước ngọt hoài, chán lắm.

Cô gác chân lên chiếc ghế thấp đặt kế bàn học. Những móng chân sơn đỏ chót, cắt tỉa cẩn thận. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, móng để dài, cũng sơn đỏ. Bộ đồ lụa trơn láng, mỏng mảnh, thêu hoa cầu kỳ khiến anh nghĩ đến những bà chủ tiệm vàng hay tiệm mỹ phẩm thường thấy ở các đường phố bên Việt Nam. Chỉ thiếu cái nét phương phi, bệ vệ. Dáng cô mảnh khảnh, khuôn mặt nhỏ, đôi lông mày hơi xếch, trông ngổ ngáo khi ngước nhìn lên. Khi im lặng trầm ngâm, khuôn mặt cô như tối hẳn đi nhưng lúc cười, trở nên đôn hậu, chơn chất. Anh có cảm giác như khi im lặng và khi cười, cô có hai khuôn mặt hoàn toàn khác nhau. Hẳn cô nàng có một cuộc sống thoải mái lắm, anh nghĩ. Ít ra thì cô nàng cũng không phải lao động vất vả trong các hãng xưởng như anh.

Anh hỏi:

– Cô không đi làm?

– Có, nhưng thỉnh thoảng.

– Part-time à?

– Không hẳn thế.

Cô trả lời ngắn gọn, bằng một thứ tiếng Việt khá chuẩn xác. Tiếng Anh hay, tiếng Việt nàng cũng khá. Anh hỏi:

– Cô sang Mỹ lâu chưa?

– Từ khi em tám tuổi.

– Hèn gì!

– Cô gái ngước mắt lên:

– “Hèn gì”? Em không hiểu

Anh giải thích:

– That’s why…cô nói tiếng Anh như … Mỹ. Qua Mỹ mà lớn tuổi như tôi học chậm lắm.

– Anh mà lớn gì! Trẻ măng à, trẻ hơn cả … Garcia … à quên, anh trẻ, … trẻ lắm.

Không để ý đến lời khen, anh hỏi:

– Cô vượt biên à?

– Vâng.

– Với gia đình?

– Không, một mình em.

Anh sửng sốt:

– Tám tuổi sao cô đi một mình?

Cô gái trầm ngâm một chút rồi trả lời:

– Cha mẹ em gửi em cho một người quen.

À, ra thế! Trước đây, anh không hình dung nỗi tại sao người ta có thể gửi đứa con mới mấy tuổi đầu của mình trên những chuyến vượt biên vô cùng nguy hiểm như thế. Có khác gì bỏ con. Dần dà về sau, anh hiểu. Người ta không còn chọn lựa nào khác. Cuộc sống lúc đó đen tối quá, gia đình chỉ còn một cách: đánh cuộc với định mệnh bằng cách gửi con đi. Một đánh cuộc đau đớn. Hơn thế nữa, một đầu tư.

Miên Tâm cúi xuống bàn xoay xoay lon bia, khuôn mặt chùng xuống. Vẻ già dặn toát ra không giấu kín được hết đường nét ngây thơ loáng thoáng đâu đó. Cái vui lẫn quất trong cái buồn. Cô còn trẻ quá, trẻ và nhỏ. Tự nhiên, anh cảm thấy ngậm ngùi với hình ảnh một cô bé còn măng sữa, đã phải trải qua hết tuổi thơ của mình trong một hoàn cảnh lạc loài, cô đơn, xa lạ. Đó là cái giá phải trả cho ước mơ lớn của hai đấng sinh thành. Họ có toại nguyện không? Anh nhìn cô, hỏi:

– Ba mẹ cô vẫn còn sống?

– Vâng.

– Vẫn ở Việt Nam?

– Vâng.

– Cô không bảo lãnh qua à?

Nàng thở dài:

– Qua làm gì cho thêm khổ.

Lại kêu khổ, lạ thật! Chẳng khác gì cách nói của cha mẹ anh, hở cái là than thở. Những là qua Mỹ phải cày ngày cày đêm, con thì hư, Mỹ thì đểu, tình người không có, vân vân và vân vân.

Cô đứng dậy, đi quanh phòng, ngắm nghía, sờ mó mọi thứ. Đến ngăn có sách báo Việt Nam, cô lôi ra một tờ tạp chí, mang đến bàn, lật từng trang xem. Hưng chăm chú nhìn. Anh hỏi:

– Cô thích đọc báo Việt Nam không?

Cô ngẩng nhìn lên:

– Thích. Nhưng … nhưng mà, em không biết đọc tiếng Việt.

Cô gái nhìn đồng hồ trong lúc vẫn lật tới lật lui tờ báo tiếng Việt. Anh hỏi:

– Ai dạy cô nói tiếng Việt?

Cô nhìn anh:

– Không ai dạy cả. Chỉ bắt chước. Bắt chước người này người nọ, nhưng nhiều nhất là bắt chước phim bộ.

– Hèn gì!

Anh trầm ngâm nghĩ ngợi, chợt nhớ đến những lần anh than phiền với ba mẹ anh về việc mấy đứa em nhỏ của anh xem riết phim Hồng Kông, chẳng mấy khi chịu xem phim Mỹ. Anh bảo cứ xem phim nói tiếng Việt mãi thì bao giờ chúng biết tiếng Anh để theo kịp người ta. Anh chợt bật cười. Cô gái hỏi:

– Anh cười em?

– Không, tôi cười tôi. Nghe cô nói, tôi chợt thấy mình sai. Tôi vẫn cho rằng trẻ con mà xem phim bộ Hồng Kông là hư, không ngờ chính nó lại giúp người ta trau dồi tiếng Việt một cách hữu hiệu.

– Hữu hiệu?

– Là tốt, hay, là good.

Cô gái lại xem đồng hồ, vẻ bồn chồn. Uống cạn, tay cô cầm cái lon không bóp lên bóp xuống, nhìn anh, ngập ngừng:

– Em phải về. Em muốn nhờ anh một chuyện.

Chắc bắt đầu ra chiêu đây, anh nhủ thầm. Để thử xem.

Giọng cô chợt nghe thành khẩn:

– Em muốn học tiếng Việt. Anh có thể giúp em được không?

Anh chưng hửng. Anh không thể nghĩ ra một loại đề nghị như vậy. Anh cười:

– Tôi vẫn tưởng cô cần tôi việc gì ghê gớm lắm.

Không đoán được lời nói đùa của anh, cô gái tiếp:

– Thú thật với anh, điều làm em đau khổ nhất là em không đọc được thư nhà và cũng không viết được thư về nhà.

Lời thú nhận bất ngờ giúp anh chợt hiểu một cách sâu sắc nỗi buồn của cô gái. Những giới hạn về ngôn ngữ khiến cô bị cắt lìa khỏi nguồn cội. Cô có thể nói tiếng Việt, cũng như anh có thể nói tiếng Anh, nhưng thiếu hẳn sự gắn bó giữa những âm, những chữ với cuộc đời. Cô nàng đầy những kỷ niệm Mỹ, nhưng không cảm thấy mình là người Mỹ. Cô muốn mình là người Việt Nam, nhưng thiếu hẳn một quá khứ Việt Nam. Tự dưng, anh nhìn thấy một Miên Tâm khác đi. Anh hỏi:

– Cô còn nhớ gì về Việt Nam không?

– Không. Lúc đi, em còn nhỏ.

– Quê cô ở đâu?

– Kien Hoa hay Kien Phong, em không nhớ rõ.

– Cô về thăm ba mẹ chưa?

– Chưa. Em định sẽ về, nhưng chỉ khi nào em đọc và viết được tiếng Việt.

Cô gái lại xem đồng hồ, nhấp nhỏm trên ghế ngồi:

– Thôi, đến lúc em phải về. Em có việc bận. Anh liệu có thể giúp em được không? Yes hay No.

Anh phân vân:

– Giúp thì dễ dàng. Có điều, thì giờ tôi eo hẹp lắm. Như cô biết, tôi vừa đi học, vừa đi làm …

– Em biết. Anh suy nghĩ, em sẽ gọi lại anh tối nay. Dù thế nào, anh cũng rán giúp em. Hy vọng là anh sẽ nói “Yes”.

Cô đứng dậy, giọng dứt khoát:

– Em về!

Nói xong, cô rời phòng ngay, dáng hấp tấp. Anh đóng cửa lại, im lặng cảm nhận chút hơi hướm của cô gái như còn thoang thoảng đâu đây.

*

Hưng đồng ý dạy tiếng Việt cho Miên Tâm. Dù đôi lúc anh hoài nghi ý định thực sự của cô gái, nhưng trong thâm tâm, anh tin rằng cô thực tình đối với anh. Anh rút bớt những giờ nghỉ ngơi và đi chơi với bạn bè để chỉ dẫn cho cô gái. Chỉ phiền một nỗi: giờ giấc cô rất tùy tiện. Khi anh rảnh thì cô không xuống. Khi đang bận thì cô đòi xuống. Đôi lúc, đang học nửa chừng, cô đột ngột bỏ về. Anh bực. Biết thế, cô năn nỉ anh thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt của cô. Cô nhắc đi nhắc lại nhiều lần: my special circumstance!

Hoàn cảnh đặc biệt! Bây giờ thì dù không hoàn cảnh đặc biệt đi nữa, anh cũng chìều theo ý cô. Làm sao mà từ chối cho được. Anh bị cô hớp hồn rồi! Thời khóa biểu không cần nữa. Lúc cô muốn đến, cô gọi. Anh rảnh, anh dạy. Không thì thôi. Lúc nào cô muốn đến anh cũng cố thu vén bài vở, công việc để dạy nàng. Điều duy nhất làm anh khó hiểu là điện thoại cô không gọi vào được. Hỏi tại sao cô làm vậy, cô chỉ nói gọn lỏn, “Em thích thế.” Đã thế, cô còn yêu cầu anh đừng bao giờ tìm cô, dù chỗ cô ở hay bất cứ ở đâu. Có lần, nghe cô nhắc mãi lời yêu cầu đó, anh bực mình nói: “Em cần anh, em tìm. Còn anh, anh có việc gì mà phải tìm em nào?”  Cô bịt miệng anh lại: “Đủ rồi, đừng nói thêm gì nữa.”

Cô cư xử tự nhiên như một người tình lâu ngày. Thỉnh thoảng, anh cầm tay cô. Thỉnh thoảng, anh thở vào tai cô. Thỉnh thoảng, cô vịn vai anh. Có lúc cô mệt mỏi nằm vật xuống chiếc giường đơn nhỏ bé của anh. Có điều, mọi cử chỉ của cô đối với anh dường như luôn luôn vừa đủ, để không quá xa cách, mà cũng không quá thân mật. Riêng anh, anh vừa dạy cô học, tỉ mỉ, kiên nhẫn, đầy thiện chí, lại vừa vật vã tranh đấu với bản thân. Đôi trai gái trẻ trong một căn phòng nhỏ ấm cúng, thân tình, mời gọi, thế mà cái biên giới mỏng mảnh nằm giữa vẫn còn. Chỉ cần anh cúi sát thêm vào đôi vai cô. Chỉ cần vòng tay anh khép lại thêm. Chỉ cần cô ngả đầu thêm vào vai anh. Chỉ cần cô nằm yên trên giường thêm. Thêm một tí nữa, một tí nữa thôi, tất cả sẽ bị phá vỡ. Ban đêm nằm ngủ, trằn trọc với mùi hương hoa phảng phất, với những ý nghĩ vẩn vơ, với sự thúc dục của một cơ thể đang hồi sung mãn, anh định vượt qua mọi giới hạn ngày hôm sau. Nhưng lạ thật, anh yếu bóng vía, vẫn không làm được, vẫn đứng yên bên này lằn ranh.

Có lần, tập đánh vần xong một đoạn báo, cô nằm xuống giường nhắm mắt, áo quần hớ hênh, để lộ khoảng bụng trắng ngần. Tự nhủ đó là một tín hiệu mời gọi tích cực, anh lân la đến ngồi xuống gần một bên, tay anh bóp cánh tay cô lần lên phía vai, đầu cúi xuống chiếc ngực phập phồng. Anh cúi xuống, cúi xuống, trái tim anh đập thình thịch trong lồng ngực như muốn vỡ tung. Đúng lúc đó, cô mở mắt, tay đỡ nhẹ đầu anh, rồi ngồi dậy mỉm cười, bước đến bàn tiếp tục đánh vần.

Không mấy khi cô đề cập đến đời sống của cô hiện tại. Anh có hỏi han chuyện này, chuyện nọ, cô chỉ cười buồn, khuôn mặt như chùng xuống, tối đi. Gần cô, thay vì hiểu rõ hơn, anh lại thấy cô nàng bí ẩn và khó hiểu thêm. Càng ngày cô càng thu mình vào trong cái vỏ bọc. Càng ngày càng tự nhiên nhưng nghiêm trang, đứng đắn hơn. Anh sốt ruột muốn chấm dứt kiểu thầy trò bất đắc dĩ này. Các buổi học dần dần đâm ra đơn điệu, lạnh lùng. Hưng thấy chán nản. Những ý tưởng háo hức ban đầu cơ hồ như tan biến. Một hôm, cô điện thoại báo sẽ xuống, anh lạnh lùng:

– Anh mệt.

– Anh đau à?

– Không, mệt.

Anh gác máy đột ngột. Một lát, nghe tiếng gõ cửa, anh uể oải đứng dậy mở cửa. Miên Tâm xuất hiện trong cái “rốp” ngủ, bên ngoài thêm chiếc áo khoác. Cô nhìn anh chăm chú:

– Anh đau hay giận em?

Anh trả lời hờ hững:

– Anh nói rồi. Mệt!

– Anh không muốn em vào à?

– Anh muốn nằm nghỉ một lát.

Khuôn mặt cô đột nhiên tối lại, đôi mắt nhìn xuống, tay vân vê tà áo khoác. Cô bước đến gần anh, đưa tay đặt lên vai anh, cười buồn:

– Thì thôi, em về.

Cô quay ra, khép nhẹ cửa phòng. Anh nhìn theo, muốn gọi một tiếng, nhưng lại thôi.

*

Lần học kế, Miên Tâm không đến, cũng không gọi. Anh tự nhủ thôi thế là xong. Chấm dứt là vừa. Anh cũng đã có lòng với cô lắm rồi. Vả lại, anh bận bịu quá. Thì giờ anh dành cho cô, thực ra là cắt xén từ cuộc sống tất bật của anh. Để đổi lấy được gì? Chẳng có gì.

Nhưng hai ba ngày sau, đột nhiên anh thấy trống rỗng. Anh ngờ rằng mình mệt thật. Không phải. Ngẫm nghĩ một hồi, anh mới chợt nhận ra một cách sâu sắc rằng, tất cả chỉ vì thiếu tiếng gọi của Miên Tâm, thiếu bóng của cô. Những giờ rảnh rỗi chợt vô duyên lạ lùng. Có cô, có hơi thở, nụ cười, bước chân, tiếng mở cửa, tiếng đánh vần, dáng nằm dài trên nệm, mùi hương phấn. Có cô, anh quá bận bịu. Vắng cô, anh thấy giờ giấc thừa ra, dằng dặc. Anh đã khước từ, đã đuổi cô, đã mệt mỏi, chán nản. Anh tham lam, ích kỷ. Thiện chí lúc đầu của anh đã biến thành một thứ ham muốn khác. Anh muốn ôm cô, hôn cô, anh muốn, anh muốn…

Nhiều lần, anh ngồi bật dậy, mở cửa, leo lên tầng bảy, bước dọc theo hành lang. Các cửa phòng đóng kín. Anh chẳng biết cô ở đâu. Anh quả tệ thật. Cô lầu bảy, anh lầu năm. Chỉ có mấy phút đi bộ. Thế mà chẳng biết tìm cô ở đâu, khi cần. Chán nản, anh vào thang máy, xuống tầng một, vẩn vơ đứng nhìn con đường, bãi đậu xe, khu ngân hàng tấp nập. Mùa thu, lá rụng đầy. Gió thổi rào rào, dồn những đám lá vàng lại từng chòm rồi đẩy chúng tung ra khắp nơi. Anh buồn bã trở về phòng nằm xuống, bâng khuâng nhớ tiếc bồi hồi. Anh mong tiếng reo điện thoại. Anh mong cô đến.

Chừng một tuần sau, Miên Tâm gọi:

– Thế nào, hết giận chưa anh?

Anh hấp tấp:

– Có giận gì đâu. Em xuống liền chứ?

Giọng nàng ngập ngừng:

– Chưa được …

– Giờ anh đang rảnh. Em xuống nhé?

– Không … Mà này, anh nghỉ làm một bữa được không?

– Để làm gì?

– Anh đưa em đi chơi, được không?

Anh ngạc nhiên:

– Đi chơi?

– Thì đi chơi. Đi ra ngoài chơi cho vui. OK?

– Ờ … ờ, tất nhiên là OK. Em xuống đây rồi cùng đi hay sao?

– Hiện em không ở nhà. Anh đến đón em ở góc đường Queen và King, Family Health Hospital. Lúc hai giờ. OK? Em mặc áo màu đỏ. Như lần đầu gặp nhau.

– OK.

Anh mừng quýnh.

*

Anh đến chỗ hẹn đúng hai giờ. Một lát sau, anh thấy chiếc áo đỏ xuất hiện trong sân Family Health Hospital. Đúng là Miên Tâm. Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô đẩy chiếc xe chở trẻ con. Đến bên xe, cô cười chào rồi lẳng lặng mở cửa sau, xếp gọn chiếc xe lại, mang xe và một đứa bé nằm trong đó lên xe anh. Anh tắt máy, quay lui nhìn. Đứa bé khoảng một, hai tuổi, tóc hoe, lăn quăn, da nâu phơn phớt. Không đợi hỏi, Miên Tâm nói ngay:

– Con em.

Con em! Anh giật thót mình, sửng sốt nhìn chăm cô, không chớp mắt. Cô cúi xuống đắp chiếc chăn nhỏ lên ngực, lấy bình sữa đút nuốm vào miệng đứa bé, âu yếm và thành thạo. Đứa bé vừa bú vừa cựa quậy, mắt nhìn láo liêng. Anh có cảm giác ngộp thở, muốn hỏi một câu, nhưng không thốt lên được. Phải vài ba phút sau, anh mới lên tiếng, giọng run run:

– Con em! Em không đùa chứ. Trai hay gái vậy?

– Gái.

– Mấy tuổi rồi?

– Mười bốn tháng.

Anh im lặng. Cô cũng im lặng. Một lát, cô gài seat-belt cho đứa bé, giục:

– Thôi đi, anh.

Anh nhìn cô, bối rối không biết phải xử sự thế nào.

– Đi đâu? Anh hỏi, giọng khô khốc.

Cô nhìn ra ngoài cửa xe:

– Một nơi nào ngoài thành phố. Em muốn tâm sự đôi điều với anh.

Anh muốn từ chối, đi về. Nhưng nghĩ lui nghĩ tới thấy không ổn, anh gài số, lái xe đi. Anh chạy vòng vèo bất định, đầu óc lang bang với những ý nghĩ không đâu. Cảm giác muộn phiền, tấm tức cấu xé trong lòng. Miên Tâm ngồi bất động, mặt nhìn thẳng phía trước. Ra khỏi thành phố, anh hỏi:

– Đi đâu?

– Tùy anh, em chẳng biết chỗ nào ở vùng này cả.

6.

Anh lái về hướng Green Hill. Đó là một công viên lớn ở ngoại ô, nằm kế bìa rừng. Chung quanh là những ngọn đồi nhỏ và khu rừng thưa. Mùa thu, các thứ lá đổi màu khiến tất cả trở thành một rừng màu sắc trông như hoa nở mùa xuân. Lá tím, lá vàng, lá đỏ, lá nâu, lá hồng …Mỗi lá là một bông hoa. Gió từ phương Bắc ào về từng đợt, len lỏi qua các khu rừng, khua động không gian bằng một thứ âm thanh rào rào bất tận, dấy lên trong lòng người cảm giác u hoài, mênh mang khó tả. Lá rụng từng đợt. Lá phủ kín bãi cỏ, mặt đất. Thỉnh thoảng, gió thổi tới, rồi như chạm phải một bức tường cản đâu đó, xoay ngược trở lại cuốn thốc từng khối lá trên mặt đất bay tung tóe lên các cành cây rồi la đà rơi xuống.

Anh đậu xe, mở cửa đứng nhìn sững các khu rừng. Gió phơn phớt lạnh. Bầu trời thấp hẳn, tưởng chừng như chạm phải các ngọn cây qua một lớp mây màu tro nhạt phủ kín. Anh chợt nhớ câu thơ của Nguyễn Du: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.” “Màu quan san” là màu gì anh không hiểu, nhưng âm thanh của chữ đọc lên, gợi ra một cái gì bâng khuâng, man mác. Và anh chợt thâm cảm hết ý nghĩa của chữ “rừng”. Rừng là nhiều, nhiều quá, bất tận. Mùa thu đậm nét bởi rừng cây đổi màu. Không, rừng lá. Đúng ra, phải nói là rừng hoa, muôn màu muôn vẻ. Ấy thế mà, tháng sau, có thể là vài tuần sau, lá sẽ rụng. Rụng sạch. Biến mất. Y như thể chưa bao giờ có lá, để lại những cành cây trơ trụi, chơ vơ hứng chịu mùa đông tuyết giá.

Miên Tâm đụng khẽ vào vai anh. Anh quay lại, thấy cô run rẩy sau chiếc áo khoác. Anh nói bâng quơ:

– Gió nhiều quá.

Anh nhìn vào xe. Đứa bé đã ngủ say, hồn nhiên. Con nàng đó sao! Nhìn, anh thấy khó chịu.

– Ngủ rồi à? Nhanh thế.

– Vâng. Nó dễ tính lắm.

– Không ẵm theo sao?

– Sao mà ẵm được. Gió lạnh thế này mà. Nó vẫn quen ngủ thế, hai ba tiếng đồng hồ mới thức dậy. Để nó đó, ta đi chơi một lát đi anh.

– Đâu có được, không thể để trẻ em trong xe một mình.

– Đâu có sao, mình đi quanh quanh đây thôi. À, sao anh không mặc áo khoác. Một lát lạnh, cảm chết! Anh có mang theo không?

– Không.

– Thôi được, khoác chung với em.

Cô mở rộng áo, khoác một nửa lên vai anh, cầm tay, giục:

– Thôi đi.

Anh im lặng, thọc hai tay vào túi quần, bước đi. Hai người đi qua một bãi cỏ rộng có những cụm hoa hồng trồng cách quãng đều đặn. Lá từ trong rừng bay ra, vần vũ quanh hai người, đuổi nhau trên những ngọn cỏ. Đi ngang bức tượng đặt chính giữa khu công viên, cô hỏi:

– Em thấy có hai chữ Việt Nam, phải không anh?

– Ừ, đài kỷ niệm các chiến binh Mỹ trong tiểu bang đã chết ở Việt Nam.

Miên Tâm bùi ngùi:

– Ở đây yên lành thế, lại sang Việt Nam mà chết!

Anh bật cười:

– Còn mình đang ở Việt Nam thì lại tới đây mà sống.

Đến một cái hồ nằm gần chính giữa khu công viên, anh dẫn cô lên chiếc cầu nhỏ nối với cụm kiến trúc ở giữa hồ. Chính giữa là ngôi nhà có mái ngói cong cong, chung quanh là các tảng đá lớn, vài khóm hoa, một tượng phụ nữ khỏa thân. Loáng thoáng có đôi ba nét đông phương ẩn khuất đâu đó. Hồ rộng, bờ nước tiếp giáp với các ngọn đồi và rừng ở xa xa. Nước trong vắt, lặng lờ. Anh và Miên Tâm ngồi ở chiếc ghế khuất sau một tảng đá lớn, tránh gió. Anh gỡ áo khoác ra, nhìn cô, đổi cách xưng hô:

– Cô kể chuyện đi.

Cô choàng áo trùm kín hai vai, hai tay thu vào lớp áo trước ngực, ngước nhìn anh:

– Em xin lỗi đã không nói trước với anh là em đã có chồng.

Đã biết từ nãy giờ, nhưng khi nghe nàng nói hai chữ “có chồng”, anh cảm thấy khó chịu. Anh hỏi, không giấu vẻ mỉa mai:

– Lại là chồng ngoại quốc, Mỹ hay “Spanish” vậy?

– Anh ấy người Honduras.

– Vẫn còn ở với cô chứ?

– Vâng, tụi em vẫn ở với nhau.

– Nghĩa là thời gian vừa qua, khi cô xuống gọi là học với tôi, anh ta ở đó với cô, tầng bảy.

– Vâng.

– Trời!

Chữ “vâng” của cô làm anh ngột thở. Nghĩ lại những lần hai người ở chung trong phòng, anh rùng mình. Anh nhìn cô, gằn giọng:

– Cô liều lĩnh thật. Cô muốn hại tôi. Lỡ ra anh ta biết thì có phải là họa cho tôi không?

Miên Tâm cúi đầu:

– Em biết. Nhưng em với anh đâu có làm gì không tốt.

– Ừ, thì đúng là không có gì! Nhưng ai mà tin được. Nếu thằng chồng cô mà biết thì … thì … tốt hay không tốt, anh ta cũng …

Anh ngừng lại, không dám nói tiếp. Miên Tâm im lặng, nét mặt bần thần. Một lát, cô phân bua:

– Không phải em liều. Em chỉ xuống anh khi nào anh ấy đi làm. Nhưng … nhưng mà, nghĩ lại, đúng là liều thật. Nhưng biết làm sao được. Em thích học tiếng Việt. Em thích chơi người Việt. Em thích …

Anh nhìn thẳng vào mắt cô:

– Thiếu gì người Việt ở Mỹ. Vậy trước đây hai người ở đâu?

– Thú thật với anh, anh ấy không muốn cho em tiếp xúc với người Việt. Anh ấy sợ … sợ … mất em.

Anh hỏi:

– Ghen à?

– Vâng, anh ấy ghen với người Việt, vì cho rằng nếu em quan hệ nhiều với người Việt Nam, em sẽ bỏ anh ấy.

Anh gục gặc đầu tỏ ý hiểu. Nàng tiếp:

– Mấy năm rồi, từ khi lấy nhau, anh ấy cứ đem em đi loanh quanh, hết bang này đến bang khác, vừa để tìm việc làm, vừa để em không có cơ hội quen biết thân mật với người Việt.

Nhớ đến những lúc Miên Tâm nói vòng vo khi trả lời những câu hỏi của anh, anh ngớ ra, chép miệng:

– À, ra thế. Đúng là special circumstance, hoàn cảnh đặc biệt.

Cô cúi đầu, rút tay ra khỏi ngực, vân vê tà áo. Một cử chỉ rất là Việt Nam, anh nghĩ. Cô vẫn thường ăn nói, cử động tự nhiên như con gái Mỹ, nhưng giờ này, trông có hơi khác. Ngượng nghịu, e ấp như một buổi hẹn hò đầu đời. Anh hỏi:

– Cô yêu anh ta?

– Không, em không yêu.

– Không yêu sao lại lấy nhau, lại có con. Bị cưỡng ép?

– Không.

Cô chợt thổn thức:

– Em nói rồi, em cô đơn. Hồi đó, chẳng có ai ngoài anh ấy đến với em …

Cô lấy giấy chậm đôi mắt, đứng dậy, bước quanh, rồi trở lại. Cô nhìn anh, khuôn mặt bình tĩnh lại:

– Em sang đây lúc mới tám tuổi, như anh biết. Lúc đầu, em ở chung với gia đình mà cha mẹ em gửi em theo, rồi sau ở chung với một người bà con xa. Không ai tử tế với em cả. Họ chỉ muốn lợi dụng em. Họ ăn bớt tiền trợ cấp. Họ dọa nạt em. Họ bắt em làm việc. Nhiều lần, em trốn đi nhưng không biết ở đâu, đành phải về lại với những người mà em hết sức căm ghét.

Cô ngừng nói, đôi mắt nhìn xa như cố hình dung lại những gì trong quá khứ. Một lát, cô tiếp:

– Ở trong trường, em không có bạn. Em là người Á châu duy nhất. Bọn học sinh trong trường chẳng cần biết em là ai, chúng chỉ gọi em là Asian và khinh ghét em ra mặt. Chỉ có Garcia là đến với em, giúp đỡ em.

– Garcia?

– Vâng, Garcia là chồng em.

Cô gỡ mấy ngọn lá rơi vướng trên tóc, ném ra xa. Anh hỏi:

– Anh ta yêu cô lắm?

Miên Tâm cười gượng:

– Hình như thế.

Anh có cảm giác bực tức:

– Hình như? Đến giờ mà cô vẫn ỡm ờ với tôi. Hai người yêu nhau, lấy nhau, có con với nhau. Anh ta đi đâu, cô theo đó. Vậy cô tìm đến tôi để làm gì? Chỉ có một câu trả lời: cô muốn hại tôi.

Miên Tâm bối rối nhìn anh, nét mặt tràn đầy ân hận. Cô cầm tay anh, bấm nhẹ vào lòng bàn tay, nói:

– Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người Việt Nam nào cả.

Khuôn mặt cô trở nên u ám:

– Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời, không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết yêu. Có ai đâu để em yêu!

Anh hỏi:

– Garcia yêu cô thế, sao cô bảo không có ai?

Cô nhìn vào mắt anh:

– Vâng, Garcia yêu. Nhưng nói anh đừng cười, Garcia rất kém tiếng Anh, vì khi qua Mỹ, đã lớn. Tụi em trò chuyện với nhau rất ít, vì Garcia không hiểu hết những gì em nói. Tụi em chỉ trao đổi vài ba câu thông thường trong đời sống hàng ngày, chứ chẳng có tâm sự gì được với nhau. Em nghĩ gì, thích gì, Garcia chẳng hề biết. Tụi em ở với nhau như hai con thú …

Anh ngạc nhiên với cách dùng chữ khác thường của Miên Tâm:

– Hai con thú. Tôi không hiểu.

– Vâng, hai con thú. Chỉ có ăn, ngủ, nói chuyện trời mưa trời nắng vu vơ. Còn cái kiểu yêu của Garcia, em muốn nói, cái kiểu make love của Garcia … ghê quá!

– Ghê quá?

Cô quay mặt đi. Hưng nhắc lại câu hỏi. Cô ấp úng:

– Ghê quá là dữ dội … là … Garcia đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là … dày vò em, bắt em chiều … đủ kiểu. Em sợ …

Cô ôm mặt. Đột nhiên, anh thấy Miên Tâm nhỏ bé, tội nghiệp quá. Anh hỏi, giọng nhẹ nhàng:

– Sao cô không bỏ đi?

– Đâu có dễ. Anh ấy ghen dữ dội. Nhiều lần, anh ấy dọa giết em nếu em bỏ anh ấy. Anh ấy khóa số điện thoại, không muốn cho ai gọi vào với em. Em như người tù.

Anh rùng mình, nhớ lại cảnh Miên Tâm và anh ở với nhau trong căn phòng chỉ cách chỗ anh ta có hai tầng lầu. Nếu anh ta biết được, chắc cả hai không khỏi bị anh ta cho ăn đạn. Nghĩ đến đó, anh nổi da gà. Anh đứng dậy, lồng ngực ngột ngạt, vươn vai, cố hít một hơi dài, nhìn quanh. Nếu anh ta đột nhiên xuất hiện đâu đây, anh chạy đâu cho thoát. Miên Tâm đứng dậy theo, bước đến bên anh. Anh tránh xa, nghiêm nét mặt:

– Đủ rồi. Tôi đưa mẹ con cô về.

Cô ngước mắt nhìn anh:

– Còn sớm mà.

Anh gằn giọng:

– Cô còn muốn đẩy tôi vào tình cảnh kỳ quặc, nguy hiểm như thế này à?

– Cái gì nguy hiểm?

– Chồng cô chứ ai vào đây nữa.

Cô chợt hiểu nỗi sợ hãi của Hưng. Cô nói:

– Anh ấy đi New Hampshire rồi.

– Ai mà biết anh ta ở đâu. Vấn đề là tôi đã chở vợ anh ta đi chơi.

– Em biết chắc. Anh ấy đang ở New Hampshire.

Anh quay đi, không nói gì. Miên Tâm im lặng bước theo, cô nắm tay anh:

– Gió lạnh, Hưng à.

Nàng gọi tên anh, đằm thắm lạ lùng. Anh muốn rút tay ra, nhưng cuối cùng để yên. Anh rùng mình. Cơn gió tốc mạnh về phía anh. Miên Tâm xoay chiếc áo về một hướng, che kín hai người. Lá đổ rào rào chung quanh. Dưới tấm áo, cô ôm vai anh, nép vào ngực anh, nhỏ bé. Hưng nghe hơi thở cô ấm áp một bên. Hai người im lặng bước đi. Công viên chiều vắng ngắt. Mọi người có lẽ ở đâu trong các nhà máy, công sở. Chỉ đôi ba kẻ vô công rỗi nghề, bỏ học như anh, hoặc bỏ chồng như nàng lang thang ở đây.

Đến xe, mở cửa, anh thấy đứa bé vẫn còn nằm yên, ngủ ngon lành. Giờ nhìn nó, anh thấy tội nghiệp. Chẳng biết lớn lên, nó sẽ phải qua những nỗi bất hạnh nào.

Trên đường về, cả hai đều im lặng, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng. Trả hai mẹ con trước cổng Family Health Center, anh phóng xe rời xa như chạy trốn.

*

Như để bù lại số thì giờ đã phung phí một cách vô ích với Miên Tâm, Hưng lao đầu vào việc học và việc làm. Anh không ân hận, không phiền trách, nhưng cảm thấy như có cái gì hụt hẫng, có cái gì như chợt mấy đi, mất hẳn. Cô ta có lẽ vẫn còn ở tầng bảy, có lẽ hàng ngày vẫn đi vào thang máy, vẫn thỉnh thoảng mặc chiếc áo đỏ, nhưng anh có cảm tưởng như cô đã đi xa, đã rờì bỏ nơi này. Anh mở cửa phòng, bước vào thang máy, chẳng hề ngoái nhìn lui. Cô chỉ còn là một kỷ niệm nhỏ trong đời anh, một vết mực chợt vương trên tờ giấy trắng. Thỉnh thoảng anh tự hỏi có thể nào cô còn gọi điện thoại cho anh? Mấy chữ Việt Nam anh dạy nàng có còn nhớ? Một tuần, hai tuần, ba tuần trôi qua kể từ ngày anh chở mẹ con nàng đi Green Hill.

Một hôm, đúng vào lúc anh không mong chờ gì cả, thì Miên Tâm gọi. Lúc ấy, đã khuya. Đang thiu thiu gần ngủ, anh ngồi bật dậy bắt điện thoại. Tiếng cô hấp tấp:

– Anh vẫn còn đó. Em xuống bây giờ được không?

Anh cương quyết:

– Không. Xin để cho tôi yên. Đừng quấy phá tôi nữa.

Giọng cô gấp rút qua tiếng thở hổn hển:

– Anh ấy đi rồi. Em muốn gặp anh một lần, trước khi … trước khi …

Anh hỏi vội:

– Trước khi gì?

– Trước khi em đi.

Anh giật mình:

– Đi? Đi luôn?

– Vâng, anh Hưng à. Không còn thì giờ nữa, em xuống nhé?

Cô gác máy. Anh bâng khuâng giữ chiếc điện thoại trên tay, chẳng biết có nên mở cửa cho cô ta vào hay không. Nhưng rồi, anh bỏ điện thoại xuống, dứng dậy, bật đèn. Tiếng chân đã nghe loáng thoáng. Anh bước đến cầm nắm cửa, lòng trù trừ không dứt khoát. Gõ cửa. Anh vặn chốt cửa, lòng hồi hộp. Cô lách vào, nhìn anh cười buồn:

– Tưởng anh không mở.

Cô bước đến ngồi trên giường anh. Anh gài cửa cẩn thận, ngồi cạnh bàn, nhìn. Cô mặc “rốp” ngủ màu xanh, hớ hênh, tóc dài xõa đầy hai vai và một phần khuôn mặt nhỏ nhắn. Hai tay cô vòng trước ngực, bất động, buồn bã. Anh muốn nói một câu trách móc, than phiền nào đó, nhưng không được. Một lát, cô ngẩng lên nhìn anh:

– Em đi, trong vài giờ nữa. Chẳng biết có còn gặp lại anh nữa không …

Anh hỏi:

– Chồng em đâu?

Cô bật cười, nụ cười khô, gượng gạo:

– Anh đừng lo, Garcia không có mặt ở đây. Garcia đến hãng lo thu xếp một số công việc gì đó. Em chẳng muốn đem thêm rắc rối đến cho anh đâu. Nhưng …

Giọng cô nghe khác đi:

– Nhưng … em buồn quá. Em sắp xa anh.

Cô nhìn anh chới với:

– Anh đến với em đi …

Hai tay cô dang ra, nước mắt long lanh. Anh bần thần đứng dậy, im lặng bước đến bên cô. Cô víu cổ anh xuống, ôm chặt lấy anh, đầu gục vào ngực anh, nức nở. Nước mắt thấm vào da anh, lành lạnh. Cô ngẩng đầu lên, tay níu hai vai anh:

– Hôn em đi.

Anh chưa kịp phản ứng gì thì cô đã vật anh xuống giường, hôn tới tấp. Cô cắn. Cô rờ rẫm. Hơi thở cô nóng hổi. Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt cô tràn trề trên người. Những nụ hôn và những ngón tay. Cô thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn, run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần như tuột hẳn xuống. Cô nàng thực quá quắc, anh nghĩ.

Một lát, chừng như thấy anh thụ động quá, cô ngừng lại, hỏi anh qua hơi thở gấp:

– Anh không thích em?

Anh không trả lời, xoay người ôm chặt lấy cô. Cô đưa hai tay giữ lấy đầu anh, thì thào:

– Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp. Em muốn … em muốn … một chút mùi … mùi Việt Nam. Em muốn … enjoy a little taste of Vietnamese … Một chút hương … Việt Nam, một chút … một chút …

Hưng không để cho cô nói nữa. Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi. Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.

Và rồi tất cả lắng xuống. Hai người nằm lặng lẽ nghe hơi thở của nhau.

Chợt nhìn đồng hồ, Miên Tâm ngồi dậy. Cô mặc vội áo quần, kéo anh dậy, hôn nhẹ lên má anh, nói:

– Cảm ơn anh. Em phải về. Bye bye.

Cô bước đi, dứt khoát. Khi đến cửa, cô dừng lại, nhìn lui:

– Em không có gì đáng trách chứ?

Cô mở cửa bước ra. Tiếng chân cô xa dần.

Hưng nhìn xuống thân thể mình, ngẩn ngơ. Và chợt nhớ ra, anh chưa kịp nói gì với Miên Tâm cả.

Trần Doãn Nho

(Trong tập truyện “Vết xước đầu đời”, 1995, tác giả nhuận sắc 2018)

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 30 Aug 2025

Phần 3.

Chương 12.

Hãy giúp chúng tôi

Một ân huệ cuối cùng.

Trước bài diễn văn của Tổng thống Ford ngày 10 tháng 4, 1975 tại Quốc hội, ông Thiệu đã có ý định là ngay chiều cùng ngày sẽ lên đài truyền hình nói chuyện với nhân dân và bình luận về những lời Ford phát biểu ủng hộ VNCH.

Thế nhưng ông không tìm được một điểm nào tích cực trong bài diễn văn của ông Ford. Tệ hơn nữa, Tổng thống Ford đã đòi Quốc hội phải làm một hành động nào đó về đề nghị viện trợ “không muộn hơn ngày 19 tháng 4”. Trong buổi họp để phân tích bài này, ông Thiệu hỏi tại sao ông Ford lại tự trói mình vào một thời hạn chót như vậy? Quốc hội mà bác đi, là hết.

Ông bảo tôi theo dõi. Tôi hỏi ông Martin về lý do này, nhưng ông ta cũng chỉ nói lơ mơ rằng “ngày 19-4 chỉ là ngày đưa ra cho Quốc hội hành động, không có gì là quan trọng”.

Buổi chiều ngày 11 tháng 4, 1975, một bức điện khác do Đại sứ Phượng ở Washington đánh về thông báo “phản ứng mau lẹ và tiêu cực” của cấp lãnh đạo Quốc hội đối với ngay cả thỉnh cầu viện trợ khẩn cấp 722 triệu. Hôm sau, tờ New York Times đăng tải lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ Jackson: “Yêu cầu ấy chết rồi. Không một ai trong phe mà tôi biết sẽ ủng hộ nó”

1. Ông Thiệu đang lưỡng lự chưa biết phải nói gì với đồng bào bây giờ, thì Đại sứ Martin vẫn cố gắng nâng đỡ tinh thần, tình nguyện gợi ý những điều để ông đưa vào bài diễn văn trên đài truyền hình. Những điểm này có thể kể như sau:

Nhân dân Việt nam nồng nhiệt hoan nghênh những lời nói đầy cảm thông của Tổng thống Ford;

Kêu gọi quân lực Việt nam hãy tiếp tục chiến đấu bảo vệ xứ sở một cách anh dũng và can trường;

VNCH sẵn sàng thảo luận, và thi hành tức thì giải pháp chính trị mà Hiệp định Paris đòi hỏi;

Yêu cầu phía bên kia cùng ngồi xuống đàm phán để thực thi những điều khoản chính trị của Hiệp định Paris, v.v…”.

Hết viện trợ, xoay xở đi vay

Đọc xong, ông Thiệu không để ý tới những gợi ý, mớm lời của ông Martin, và quyết định không đọc diễn văn trên đài truyền hình nữa. Ông lại càng băn khoăn về hạn chót mà Ford đưa ra. Thấy chẳng còn làm gì được nữa, ông quyết định khai thác một “kế hoạch đi vay”.

Kế hoạch đi vay đã được nghiên cứu từ hè 1974. Vào lúc liên hệ giữa Sài gòn và Washinglon mỗi lúc một bi đát hơn, ông Thiệu có bàn với Đại sứ Martin về việc yêu cầu Quốc hội cấp một ngân khoản cuối cùng cho Miền Nam. Ông Martin hết sức đồng ý và bắt đầu vận động. Ngoài ra, ông Thiệu còn cho nghiên cứu thêm một giải pháp phòng hờ, một “Kế hoạch vay viện trợ” (USAID loan plan). Ông coi kế hoạch này như một ân huệ cuối cùng của Hoa kỳ đối với VNCH. Có lúc ông nói: “Bây giờ Việt nam đã thành một tình nhân già, sắp bị bỏ rơi rồi”.

Mọi hy vọng xin thêm viện trợ đã tan biến, Tổng thống Thiệu muốn đưa ra một đề nghị yêu cầu vay để Quốc hội có thể cứu xét, và trong khi đó, sẽ hoãn biểu quyết cắt viện trợ vào ngày 19 tháng 4. Vào thời điểm này, Ngoại trưởng Bắc lại đang thương thuyết về khoản tiền của Vương Quốc Saudi Arabia đã hứa cho vay.

Theo kế hoạch này, VNCH sẽ đề nghị với Quốc hội Hoa kỳ cho vay một khoản tiền, được bảo đảm bằng lợi tức dầu lửa sắp khai thác ở ngoài khơi. Nếu được áp dụng, kế hoạch sẽ có thể chống đỡ được phần nào luận điệu “Viện trợ thì như thùng không đáy”. Về phía VNCH, ông Thiệu tin rằng vụ vay tiền lần chót sẽ bó buộc quân đội, Chính phủ lẫn nhân dân phải đối diện với thực trạng của một vận hội cuối cùng. Nó cũng sẽ giúp ích cho việc thiết kế quân sự, vì Bộ Tổng tham mưu có thể dựa vào những mức độ cũng như cơ cấu chắc chắn của viện trợ. Kế hoạch này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian chờ đợi đáng sợ và những bất ổn ghê gớm, có khi hàng mấy tháng, hay cả năm trời của tiến trình từ đề nghị tới chấp thuận, rồi tới chuẩn chi, tới tháo khoán. Những cuộc thảo luận về viện trợ trong ngành Lập pháp Hoa kỳ qua bao nhiêu tiểu ban, thường quá lâu quá phức tạp, lại còn gây bất ổn về tinh thần.

Trong mấy tháng đầu 1975, ông Thiệu trắc nghiệm ý niệm vay mượn này với một số nhà Lập pháp Hoa kỳ qua thăm Sài gòn, thì thấy phản ứng có chiều thuận lợi. Nếu lập luận trên căn bản chỉ cần một khoản tiền khiêm nhượng để tiến tới tự túc, tự cường trong mấy năm thì có hy vọng hơn là tiếp tục xin viện trợ.

Một cơ hội chót.

Nhiều lần ông Thiệu đã nói tới việc chuyển từ chiến tranh kiểu Mỹ sang “chiến tranh kiểu nhà nghèo”. Phía Mỹ có vẻ thích cái ý kiến này.

Cuối tháng 2, 1975 Thượng nghị sĩ Sam Nunn (Dân chủ, Georgia), một nhân vật có nhiều uy tín và là thành viên của Uỷ ban Quân Vụ Thượng Viện, khi gặp ông Thiệu (tôi cùng tham dự) đã có phản ứng tích cực. Ông Nunn còn đưa ý kiến này ra trong một bài xã luận của tờ Washington Post, lập luận rằng Hoa kỳ cần phải giúp Miền Nam để có được một thời gian chuyển tiếp vì:

Thời gian chuyển tiếp hết sức cần thiết bởi lẽ ta đã khuyến khích miền Nam Việt nam tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu Mỹ với trang bị tinh vi và tiếp liệu ồ ạt. Họ cần có thời gian để biến cải quân lực phòng thủ xứ sở theo kiểu của họ…”

2. Trở về Washington để vận động viện trợ cho VNCH, Đại sứ Martin đã cố gắng đưa ra lập luận “cơ hội chót” để thu phục sự hỗ trợ của các giới cho kế hoạch của VNCH. Ông đã đề nghị ý kiến này với Tổng thống Ford, Kissinger và báo chí Mỹ. Trong một bữa ăn trưa với các chủ bút của tờ Washington Post, Martin đề cập đến việc “chiêu hàng” ý kiến này. Ý kiến được ủng hộ và bài xã luận phản ảnh lập trường của tờ báo quan trọng này kêu gọi “một quyết định vững chắc và cuối cùng giúp Sài gòn thêm ba năm nữa rồi hãy chấp nhận những kết quả, bất luận thế nào”.

Hồi 1972 giữa lúc quân đội Hoa kỳ đang triệt thoái, hay 1973 sau Hiệp định Paris nếu như VNCH đã vận dụng giải pháp xin vay như trên thì khả năng thành công đã cao hơn. Đây lại là một sơ hở khác nữa.

Ngày mồng 5 tháng 3, 1975, ý niệm đi vay được bàn luận trong một phiên họp giữa ông Thiệu với dân biểu Steven Symms (Cộng hoà, Idaho) và Đại sứ Martin. Tôi cùng tham dự. Ông Symms là một trong số rất ít dân biểu còn để ý tới Miền Nam. Ông đã đáp ứng tích cực: “Nếu đào thấy dầu hoả, liệu Ngài có sẵn sàng trả lại, thí dụ như mười phần trăm số tiền chuẩn chi đó không?” Ông Symms hỏi. “Tiềm năng dầu hoả ngoài khơi Việt nam rất tốt; Hoa kỳ có thể lấy đó làm thế chân”, ông Thiệu đáp.

Để chứng thực sự cam kết của mình, ông Thiệu hứa sẽ yêu cầu Quốc hội VNCH biểu quyết cam kết lấy dầu hoả khai thác được trong tương lai làm khoản thế chân cho tín dụng.

Hồi đó, giới chuyên viên của VNCH ước tính lợi tức tương lai từ dầu hoả ngoài khơi mang lại sẽ vào khoảng một tý đô la mỗi năm, căn cứ vào những kết luận kỹ thuật, tài chính và kinh tế của dự án “tiền khả thi” của các công ty khoan dầu (hiện nay Việt nam đang xuất cảng trên 3 tỷ đô la một năm).

Ông Vua hảo tâm.

Sau bài diễn văn của Tổng thống Ford, ông Thiệu ra chỉ thị cho tân thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn thành lập một “nội cácchiến tranh” với tính chất đoàn kết dân tộc bao gồm các lãnh tụ đối lập, tôn giáo và lao động. Lúc đó, ông muốn trao nhiều quyền cho nội các này với những nhân vật mới. Ông Cẩn được bổ nhiệm thay thế Thủ tướng Khiêm ngày 5 tháng 4.

Ông Cẩn trước đó là chủ tịch Hạ Viện, là người miền Nam, trung thành với ông Thiệu, nổi danh là người thanh liêm, hiền lành. Ông Cẩn mời tôi ở lại làm việc trong Chính phủ mới.

Ngày 14 tháng 4, tân Thủ tướng trình diện nội các lên Tổng thống. Trong suốt buổi lễ, ông Thiệu tỏ ra căng thẳng, vẻ mặt xanh xao, dường như những biến cố vừa qua đã tiêu hao hết nghị lực của ông. Cộng sản đã tiến gần đến Phan Rang, nơi sinh trưởng của ông.

Thông thường, lễ trình diện nội các như vậy phải chấm dứt bằng một bữa tiệc do Tổng thống khoản đãi. Nhưng lần này, không khí nặng nề và ông Thiệu quay về văn phòng ngay sau buổi lễ. Ông có dặn tôi là vô gặp ông sau đó.

Vừa vào phòng, ông Thiệu đưa tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 do Ngoại trưởng Bắc gởi từ London về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi London. Chuyến đi của ông có mục đích xin quốc vương Haled Crown, vừa kế vị vua Faisal, đồng ý cho VNCH vay tiền như phụ vương của ông đã hứa trước khi bị hạ sát (xem Chương 7):

London, Ngày 14 tháng 4, 1975

Công tác tôi đi Saudi Arabia đã được kết thúc thành công. Tôi được tiệp kiến Vua Haled Crown, Hoàng tử Rahed và Hoàng tử Abdullah (cũng là Thủ tướng đệ nhứt và đệ nhị Phó Thủ tướng. Tất cả, đặc biệt là vua Haled đã cho tôi những bảo đảm vững chắc việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho VNCH. Tôi đã thảo luận kỹ càng với Hoàng tử Rudal Faisal (Bộ trưởng ngoại giao), Hoàng tử Massoud (Thứ trướng Ngoại giao), và ông Amant (Tổng Trướng Dầu lửa, và Tài Chánh).

Về viện trợ sắp tới, tôi đã cung cấp cho Chính phủ Saudi một bản giác thư trình bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và tình hình tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được Chính phủ Saudi cứu xét sớm… “

Thật là một niềm yên ủi trong lúc gian truân. Tuy chưa thể thi hành được ngày một ngày hai, nhưng ít nhất cũng còn có người từ tâm “Samantan” muốn ra tay cứu vớt.

Đem cả vàng ra thế chấp

Ông Thiệu biết rằng việc thương thuyết mượn tiền của Saudi phải cần có thời gian ít ra cũng ba, bốn tháng. Bởi vậy, cần phải xúc tiến ngay kế hoạch “vay viện trợ” và dùng ngân khoản của Saudi làm tiền thế chân.

Trong công điện, ông Bắc đề nghị là cho ông sang Washington vài hôm để thẩm định tình hình. Nhân cơ hội này, ông Thiệu chỉ thị cho tôi: “Vậy anh nên đi ngay Washington để làm việc với ông Bắc”. Ông phê vào công điện:

“Vậy là ông Bắc, ông Hưng và ông Phượng có thể sẽ là 1 trio (bộ ba) để lo vấn đề viện trợ tại Mỹ trong tuần lễ crucial (quyết định) này. Nếu vậy thì Thủ tướng cho ông Hưng đi, là cho cả ông Bắc qua Washington”.

Ông bảo tôi thảo gấp một lá thư gởi cho Tổng thống Ford đề nghị vay 3 tỷ trong 3 năm, chia ra mỗi năm 1 tỷ. Ông hy vọng rằng, ngay trước mắt, đề nghị này có thể trì hoãn được việc Quốc hội bỏ phiếu “chống viện trợ” vào ngày 19 tháng 4 theo kế hoạch, nếu tại Washington tôi dò xét thấy có triển vọng về khoản vay thì sẽ đánh điện về ngay để ông Thiệu ký lá thư và trao cho Đại sứ Martin.

Về khoản thế chấp, nếu Quốc hội đồng ý cứu xét và bắt đầu bàn cãi, VNCH sẽ đưa ra làm bảo đảm, “thế chân” bằng những tài nguyên sau:

– Tiềm năng dầu lửa;

– Tiềm năng xuất cảng gạo;

– Khoản tiền của vua Haled hứa cho vay; và Số vàng dự trữ của Ngân hàng Quốc Gia.

Số vàng dự trữ lúc đó còn 16 tấn, trị giá khoảng 120 triệu (theo giá vàng lúc đó) 3 . Đại sứ Martin đã sắp xếp giúp để chuyển ra ngoại quốc, vừa cho an toàn, vừa để làm thế chấp cho một khoản vay mua đạn được. Sau này, ông Martin trình bày về dự trữ vàng với Quốc hội Hoa kỳ (ngày 27 tháng 1, 1976) như sau: “Những sắp xếp tạm thời để được thực hiện để chuyển số dự trữ vàng (của VNCH) sang Ngân hàng Bank of International Settlement (BIS) ở Basel Thuỵ sĩ đã có thể làm thế chấp cho một khoản vay mua đạn dược bên Âu châu. Khi tin này lộ ra thì đã không còn cách nào chở vàng đi bằng hàng không thương mại được nữa. Bởi vậy có những sắp xếp (tiếp theo) để chuyển nó sang tài khoản (của VNCH) tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York (Federal Reserve Bank of New York). Chẳng may, đang khi có sự chậm trễ về phía Hoa kỳ trong việc tìm nguồn bảo hiểm cho việc chuyên chở số vàng trên, thì ông Thiệu đã ra đi. Ông Phó Thủ tướng và Tổng trưởng tài chính đã không xin được phép của tân Tổng thống kịp đưa số vàng này đi”

4. Về tới văn phòng, tôi cùng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng soạn lá thư theo như những điểm ông Thiệu dặn. Điều quan trọng là tránh không nói tới tình hình quá tuyệt vọng, và xác định VNCH vẫn còn ý chí chiến đấu. Ngân khoản cho vay sẽ có bảo đảm, và được coi như ân huệ cuối cùng của Hoa kỳ đối với Miền Nam:

Thưa Tổng thống,

“Những biến cố gần đây đã làm tình hình miền Nam Việt nam nghiêm trọng bội phần. Mặc dù chúng tôi đã rút về một phòng tuyên khả dĩ có thể phòng thủ cả về quân sự lẫn kinh tế, chúng tôi vẫn phải đương đầu với đối phương đang gia tăng quân số và võ khí tối tân. Trong khi Cộng sản đang tập trung ở ngay trước ngưỡng cửa của vùng châu thổ miền Nam, quân dân VNCH đã sẵn sàng và chuẩn bị mang toàn lực chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ và tự do.

“Muốn làm được như vậy, chúng tôi rất cần phương tiện để chiến đấu, nhất là vũ khí và đạn dược.

Vì vậy chúng tôi nhiệt liệt cám tạ nỗ lực của Ngài đang kêu gọi Quốc hội Hoa kỳ cấp thêm viện trợ quân sự cho VNCH. Tuy nhiên, viện trợ quân sự đã trở thành một vấn đề khó khăn của Chính phủ Hoa kỳ như công luận và có thể bị Quốc hội bác bỏ. Sự kiện này sẽ có ảnh hướng khốc hại đến tinh thần quân sĩ của chúng tôi trước trận chiến lịch sử. Chúng tôi không muốn việc này xảy ra.

Chúng tôi ghi ơn tất cả những hy sinh xương máu và vật chất của nhân dân Hoa kỳ trong quá khứ để bảo vệ miền Nam Việt nam tự do. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với các nhà lập pháp khi họ phải đương đầu vấn đề những vấn đề chính trị và những mối quan hệ của họ trong khi cứu xét viện trợ quân sự cho VNCH. Trong trường hợp bất khả kháng, chúng tôi xin trình Ngài một giải pháp khác như sau đây.

“Tôi trân trọng thỉnh cầu Ngài kêu gọi Quốc hội cho VNCH vay dài hạn 3 tỷ đô la, chia làm ba năm, lãi suất do Quốc hội ấn định, và xin triển hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hoả và canh nông của VNCH sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này. Món nợ giúp chúng tôi chống xâm lăng và cho chúng tôi cơ hội để tồn tại như một quốc gia tự do.

“Chúng tôi kêu gọi lương tri và lòng trắc ẩn của nhân dân Hoa kỳ hãy nghĩ đến một quốc gia Đồng minh trung thành trong hai mươi năm sóng gió vừa qua, một dân tộc đã chịu rất nhiều hy sinh thống khổ để dành một cõi sống tự do. Một dân tộc như vậy rất đáng được thiện cảm và giúp đỡ.

Trong giờ phút khẩn cấp này, tôi xin Ngài kêu gọi Quốc hội Hoa kỳ hãy cứu xét ngay lời yêu cầu của VNCH. Đây là một hành động cuối cùng của chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa kỳ với tư cách là một Đồng minh.

Trân trọng

(kt) Nguyễn Văn Thiệu

Sau khi tôi lên đường đi Washington, ông Thiệu mời Đại sứ Martin vào Dinh Độc Lập để nhờ ông yểm trợ cho công tác chuyến đi. Ông Martin thông cảm và đánh điện ngay cho Kissinger: “Tôi báo cáo để Ngoại trưởng biết rằng ông Thiệu đề nghị nếu việc xin thêm 722 triệu quân viện có thể bị Quốc hội bác bỏ, ta nên tìm cách hoãn ngày bỏ phiếu lại. Mặc dầu ông Thiệu không muốn nói ra nhưng rõ ràng rằng cả ông ta lẫn tất cả mọi người khác đều không biết rồi sự việc sẽ ra sao, (nếu Quốc hội bỏ phiếu chống)?”

Tôi được một số bạn đồng liêu ra phi trường tiễn biệt. Lúc đó là 1 giờ 30 trưa ngày thứ tư 15 tháng 4. Các bạn bè từ biệt tới dưới chân chiếc Boeing 747 của hãng Paris American. Tôi cảm thấy vô cùng bối rối, lòng buồn man mác. Tuy rằng “còn nước thì còn tát”, nhưng nghĩ tới cái cảnh đất nước phải lệ thuộc, cái cảnh ăn nhờ ở đậu, tôi thấy nó chua xót làm sao?

Máy bay đáp xuống phi trường San Francisco sáng sớm ngày 16 tháng 4 (tôi 16 tháng 4, giờ Sài gòn). Trong khi đợi máy bay đi Washington, tôi mua một chiếc radio nhỏ để nghe tin tức. Sau 20 phút oang oang nhạc Elvis Presley và Linda Ronstadt, đến ngay bản tường trình về buổi họp của Tổng thống Ford với Hội các Nhà Báo Hoa kỳ. Hết sức hồi hộp, tôi lắng nghe: “Tôi nghĩ rằng Nga Xô đã giữ những cam kết của họ. Rất tiếc là ta đã không làm như vậy. Tôi không nghĩ ta có thể trách Nga Xô hay Trung Cộng về vụ này. Nếu chúng ta giữ những hứa hẹn của chúng ta đối với Đồng minh thì tôi nghĩ thảm hoạ này đã không xảy ra”.

Thế là ông Ford vẫn phàn nàn đãi bôi cho xong chuyện.

Mấy hôm trước, Von Marbod có cho tôi hay là khi Tướng Weyand trao cho ông xem mấy bức mật thư, ông đã “rất cảm động” Nhưng bây giờ thì dù có cảm động, Ford cũng chỉ đánh võ miệng. Khi bị nhà báo vặn hỏi về tính chất của những cam kết của Hoa kỳ, ông Ford không ngần ngại trả lời thẳng thừng rằng đó chỉ là những “cam kết về tinh thần chứ không phải pháp lý”. Thực là ông ta đã lập lại hệt những lời của Kissinger.

Sắp ra tranh cử chức Tổng thống, ông chỉ muốn cho mọi chuyện yên ổn, không có gì sóng gió.

Những thế hệ người Việt nam và Mỹ mai sau chắc sẽ còn phái thẩm định lại lập luận này của ông Kissinger. Đây là những cam kết tinh thần hay pháp lý? Và nếu không phải là pháp lý thì nó có giá trị nào khác ngoài ý nghĩa tinh thần hay không? Tuy Quốc hội có quyền “khuyến nghị là ưng thuận”, vẫn chỉ có Tổng thống được quyền đại diện nước Mỹ về địa hạt ngoại giao. Nếu lời cam kết của Tổng thống không có giá trị gì thì làm sao các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới có thể tin tưởng được vào nền ngoại giao Hoa kỳ?

Trở lại bản tin tôi nghe tại phi trường San Francisco. Sau khi loan tin về cuộc họp báo của ông Ford, có tin về cuộc di tản. Bản tin cho hay Hoa kỳ chỉ có thể cứu được 50.000 người tỵ nạn Việt nam, trong khi chờ đợi Quốc hội cho nhập cảnh khoan hồng hơn. Mệt mỏi sau một chuyến bay dài, tôi bồi hồi lên máy bay về Washington. Nơi đây tôi đã sinh sống bao nhiêu năm khi còn giảng dạy tại Đại Học Trinity, Howard, và sau đó làm việc tại Quỹ Tiền Tệ Quốc tế. So sánh với Paris và New York, tôi thấy nó là một thành phố tương đối buồn, không có gì nhộn nhịp cho lắm. Vậy mà lúc này hình ảnh Washington đã trở nên huyền bí, và hãi hùng đối với tôi.

Và Quốc hội Hoa kỳ, lại là một nơi quen thuộc. Riêng đối với cá nhân tôi, Quốc hội đã có một hành động ưu ái trong quá khứ. Hai mươi năm trước đó, trong “Khoá họp Quốc hội thứ 89”, Thượng Viện đã có cả một Dự Luật (A Bill) để tôi được quyền thường trú tại nước Mỹ: Dự luật số S. 1110, ngày 10 tháng 2, 1965. Thế nhưng bây giờ sao tôi lại e ngại về Quốc hội đến thế? Trên đường tới nơi, vừa trông thấy cái mái vòng cung khổng lồ trên đồi Capitol là tôi đã thấy chán chường! Các ông nghị ở đó đang phủi tay hoàn toàn đối với Miền Nam Việt nam.

Vừa tới Washington, tôi đã liên lạc ngay với một người mà tôi có nhiều sự quen biết trên Quốc hội lại vừa có lòng từ tâm. Đó là Mục sư Edward Elson, vị Tuyên uý tại Thượng Viện Hoa kỳ. Mỗi khi có vấn đề tinh thần nan giải, các nghị sĩ thường tìm lới ông để xin lời cố vấn. Tôi nhờ ông giúp đỡ bản tin với Quốc hội về việc VNCH muốn vay, thay vì xin cấp viện trợ, và đó là một yêu cầu cuối cùng của một Đồng minh. Điều cần ngay lúc đó là Quốc hội đừng biểu quyết “không” vào ngày 19 tháng 4. Ông Elson hứa sẽ làm hết sức tìm mọi cách để giúp đỡ, nhưng ông cũng cho hay có thể là quá muộn

Trong khi chờ đợi câu trả lời để đánh điện về cho Tổng thống Thiệu, tôi gặp anh bạn Lê Văn để sắp xếp một cuộc phỏng vấn trên đài Tiếng Nói Hoa kỳ (VOA) về việc Chính phủ VNCH vẫn “còn nước còn tát” và đang có kế hoạch vay viện trợ.

Sáng ngày 18 tháng 4, vừa lúc sửa soạn phát thanh thì Lê Văn đưa cho tôi bản tin các hãng thông tấn đánh đi cho hay:

“Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện vừa bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho VNCH? Uỷ ban bang giao quốc tế cũng vừa chấp thuận dự luật cho quyền Tổng thống Ford sử dụng quân đội Hoa kỳ để di tản người Mỹ ra khỏi Việt nam”.

Thế là xong.

Thật là dễ dàng cho phía hành pháp Hoa kỳ để họ có thể lập luận được rằng: chúng tôi chỉ chấp nhận bản án do Quốc hội đã đưa ra. Ngoại trưởng Kissinger tuyên bố:

“Cuộc bàn cãi về Việt nam nay đã chấm dứt. Ngành hành pháp Hoa kỳ đã chấp nhận bản án của Quốc hội, không hiềm thù, không biện minh và cũng không kháng cáo”.

Ngắn gọn là như vậy.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Aug 2025

31. Lưu Trọng Lư

Trong những ngày gần đây, độc giả ở trong cũng như ngoài nước, đã được đọc nhiều hồi ký của các nhân vật tên tuổi, nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ được xuất bản toàn tập. Hiện tượng có vẻ như là, một giai đoạn lich sử sắp qua hẳn, và một lớp người đã nghĩ đến việc tính sổ đời mình. Thường thường người ta đọc hồi ký để mong biết một số sự thật. Những sự thật liên quan tới cá nhân người viết, đến những tác phẩm của người ấy và đến cả lich sử nữa. Bởi vì, nếu đã được coi là các tác giả, các nhân vật chính trị, thì hiển nhiên, những người ấy phải ảnh hưởng tới đời sống và cả lịch sử nữa Đọc hồi ký của một nhân vật đã từng giữ một vai trò nào đó trong chính quyền thời kỳ chiến tranh vừa qua chẳng hạn, hiển nhiên người ta muốn được người viết hé mở cho biết ít nhiều những gì xẩy ra trong hậu trường chính trị, những nhân vật nào đó hay chính tác giả đã làm gì, đã ứng phó với hoàn cảnh như thế nào, đã phạm phải những sai lầm nào, hoặc giả nghĩ đúng, làm đúng nhừng không xoay nổi vận thế, vì lý do này hay khác, dẫn đến chỗ mất nước. Nếu hồi ký là của một nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ hay trí thức nổi tiếng, người ta cũng muốn biết người ấy đã thành đạt, thất bại, hay trôi giạt thế nào trong những biến cố của lịch sử, hoặc giả, người ấy nhìn quãng đời vừa qua như thế nào, và cái nhìn ấy có giúp cho người ta hiểu rõ thêm số phận đen tối của mình và của cả dân tộc trong cùng hoàn cảnh chăng?

Suy nghĩ như vậy, nhưng ai cũng biết rằng, nội dung của các cuốn sách hoàn toàn tùy thuộc ý định và lương tâm của các tác giả. Người ta viết cuốn sách với mục đích gì? Liệu người viết có thành thật chăng?

Và nhất là, làm thế nào người ta có thể kiểm chứng những điều người viết viết ra là sự thực hay bịa đặt? Dư luận chung cho rằng, đọc các cuốn hồi ký xuất bản trong mấy chục năm qua, hình như người ta đã biết được những điều không muốn biết nhiều hơn những điều muốn biết.

Lưu Trọng Lư là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của chúng ta thời tiền chiến. Ông tham gia kháng chiến từ thời chống Pháp và cho tới hiện tại vẫn sống ở Việt Nam. Lưu Trọng Lư vừa cho xuất bản tập hồi ký của ông lấy tên là Nửa Đêm Sực Tỉnh.

Sách do nhà xuất bản Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành. Cầm cuốn sách trong tay, người đọc nào hẳn cũng muốn biết, trong dòng cuồng lưu của lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, ông đã sống như thế nào? Các cuộc gặp gỡ của ông với các văn nghệ sĩ bằng hữu, quen biết ra sao? Họ cũng như ông làm việc thế nào? Ông đóng vai trò gì trong guồng máy của Đảng?

Tập hồi ký của Lưu Trọng Lư được mở đầu bằng bốn câu thơ của ông:

Em đâu rồi? Tìm em nỏ thấy

Bên cây chợt rộn tiếng em đàn

Ô hay nửa giấc! Đêm sực tỉnh

Nhớ buổi trăng lên, bóng xích gần …

Trong trên ba trăm trang giấy chữ nhỏ, Lưu Trọng Lư đã kể lại từ những ngày thơ ấu của mình ở Huế đến những ngày ra Hà Nội học, trở về Thanh Hóa dạy học, lấy vợ, vợ chết, vác ba lô theo kháng chiến … Nhiều nhân vật đã được nhắc tới trong cuốn sách: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Thái Can, Phạm Hầu, Thế Lữ, Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Trương Tửu, Huy Cận, Hoài Thanh v.v … Nhưng đó chỉ là những khuôn mặt được kể lại trong các cuộc gặp gỡ tại các tiệm hút, nhà hát cô đầu, các bữa rượu, ít liên quan tới công việc.

Một cách ngắn gọn Nửa Đêm Chợt Tỉnh chỉ là một cuộc hồi tưởng các chuyện tình xẩy ra trong đời Lưu Trọng Lư. Về chủ nghĩa cộng sản, Lưu Trọng Lư viết trong trang 49 như sau:

“Tôi chưa bao giờ đọc một quyển sách, một trang sách nào của các ngài thủy tổ cộng sản cả. Ông Mao Trạch Đông tôi còn tưởng là một ông quân phiệt như kiểu Phùng Ngọc Tường, Trương Trác Lâm v.v … mà tôi được đọc trên báo Thực Nghiệp hay Trung Bắc Tân Văn”

Về thơ của mình Lưu Trọng Lư cho biết:

“Trong đời, có được một câu thơ nào, hình như đều do cuộc đời gợi ý cho”.

Mấy câu thơ nổi tiếng của ông:

Ai bảo em là giai nhân

Cho đời anh đau khổ

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

Cho vương vấn nợ thi nhân

Lưu Trọng Lư cho biết, ông đã viết cho một người con gái tên Cúc từ Huế ra Hà Nội học. Cửa sổ phòng trọ của hai người đối diện nhau. Người con gái ấy chính là điêu khắc gia Điềm Phùng Thị nổi tiếng sau này.

Nhưng ba phần tư cuốn sách Lưu Trọng Lư đã dành để nói về nhân vật nữ tên Mừng, người vợ thứ hai của ông, sau khi người vợ thứ nhất của ông mất. Chúng ta có hai thi sĩ viết hồi ký bằng thứ văn nửa văn nửa thơ là Vũ Hoàng Chương và Lưu Trọng Lư. Lưu Trọng Lư nói rằng thơ ông do cuộc đời cho. Sự thực có lẽ phải nói ông khoác thơ lên cuộc đời, chính xác hơn, ông khoác thơ lên tất cả những người đàn bà ông gặp, ông yêu.

Trang 143 Lưu Trọng Lư viết về cái đêm hạnh phúc của ông như sau:

“Đêm đó là đêm 19/1/1944 cái đêm mà tôi gọi là đêm động phòng của chúng tôi. Của hai con người yêu nhau mà chẳng bao giờ biết những ‘lễ hỏi’, ‘lễ cưới’ ở trên đời. Đêm ấy, gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới cửa Thuận. Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi”.

Vâng, đọc hồi ký của Lưu Trọng Lư là chỉ để nghe ông kể về những chuyện tình tương tự của ông. Tại sao chúng ta lại chờ đợi ở ông những chuyện khác? Và tại sao ông lại phải kể những chuyện khác nếu ông không thích nhỉ?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Aug 2025

30. Lê Xuyên

Lê Xuyên thuộc thế hệ các nhà văn Việt Nam nổi tiếng sau 1954 tại miền Nam.

Cái chết của ông là một mất mát lớn đối với văn học của chúng ta, nhất là mảng văn học miền Nam. Chúng ta có nhiều nhà văn xử dụng tiếng Nam để viết văn như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam … mỗi người một sắc thái riêng, và đều xử dụng tiếng Nam một cách nhuần nhuyễn, tuyệt vời. Nhưng đọc ai trong số những nhà văn ấy, người đọc đôi lúc vẫn có cảm tưởng đó là một thứ ngôn ngữ đã được trau chuốt, nghĩa là đã có sự can thiệp của tri thức.

Cái tiếng Nam Lê Xuyên xử dụng để viết văn hình như được chuyển thẳng từ đời sống vào. Nó còn nguyên cái chất nửa phèn/nửa ngọt. Nó nồng hương vị cỏ cây hoang dã. Nó ngùn ngụt dục vọng, thứ dục vọng tự nhiên của sinh tồn, trời/đất.

Chỉ cần đọc một đoạn ngắn trong “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên đủ để người ta nhận ra điều đó. Tư Cầu mười bảy tuổi, Phấn mười sáu. Hai đứa ở chòi,

chăn vịt giữa đồng hoang. Lê Xuyên viết:

“Tư Cầu chống xuồng vừa tới nơi đã nghe tiếng Phấn hỏi vọng từ phía sau chòi:

– Anh Tư hả anh Tư?

– Ừa, thì tao chứ còn ai nữa! Sao đèn đuốc gì mà không có, tối om vậy nè?

– Vậy mà cũng hỏi! Bộ anh quên đem đèn rọi mù u qua rồi hả?

Nhớ lại hồi nãy Phấn có hỏi mượn dầu lửa để đốt đèn.

Tư Cầu bắt tức cười vì nó quên lú đi mất để Phấn phải hỏi vặn vẹo như vậy.

– Có chớ sao quên! Mà mày làm gì lục đục ở đằng sau đó Phấn?

– Tắm chớ làm gì mà hỏi! Đốt rọi lên đi anh Tư … Chứ bộ đứng như trời trồng đó hả!”

Trong cái bóng tranh tối tranh sáng của con rọi mù u, cái câu “tắm chớ làm gì” của con nhỏ nghe dễ sợ!

Lê Xuyên cũng được coi là một trong những nhà văn viết đối thoại hay nhất của chúng ta. Đối thoại của ông vừa có sức bật của những trái banh đánh đi/dội lại, vừa có cái giản dị, kỳ ảo của những tấm gương nhỏ, nếu biết cách soi, người ta có thể nhìn thấy nhiều thứ phản ánh ở đằng sau, ở bên trong.

Sức hấp dẫn của các trang sách của Lê Xuyên nằm trong các đối thoại của ông, trở thành một thứ duyên ngầm. Bằng hữu và những người đã có dịp làm việc chung với Lê Xuyên đều cùng có chung một nhận xét, ông là người trung thực, không để ý đến bề ngoài, lúc nào cũng ăn mặc xuề xòa. Từng làm tổng thư ký cho nhiều tờ báo lớn, nhưng ông luôn đối xử nhã nhặn với tất cả mọi người, không làm ra cách biệt ngay đối với những người thuộc quyền. Trong buổi lễ tưởng niệm ông, do nhật báo Người Việt tổ chức tại Quận Cam, sau khi ông qua đời, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo như Nguyễn Mộng Giác, Viên Linh, Thảo Trường, Võ Long Triều, Vũ Ánh, đã lên tiếng ca ngợi các tác phẩm và nhân cách của Lê Xuyên trong đời sống. Và, cứ như nhận xét có tính cách chuyên môn của chính các nhà văn, nhà thơ này thì, riêng các tiểu thuyết của Lê Xuyên, còn hứa hẹn có nhiều người đọc hơn nữa, nhiều khám phá hơn nữa.

Sau biến cố 75, Lê Xuyên cũng bị liệt vào hàng ngũ “biệt kích văn hóa” và bị cộng sản nhốt tù 7 năm. Được tha ra khỏi tù, ông làm đủ mọi nghề không tên để kiếm sống, và, công việc cuối cùng ông làm được nhiều năm, cho tới lúc chết là ngồi bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Kim, Chợ Lớn.

Ông không viết văn nữa, như một cách bầy tỏ thái độ đối với nhà cầm quyền. Trong một điều kiện thời tiết nào đó, chỉ những thứ cây nào đấy mọc được. Vài người quen biết cũ của ông, có người đã viết trở lại, đề nghị ông “viết chui” viết giấu tên, chắc chắn đời sống sẽ khá hơn, đỡ vất vả hơn, nhưng ông đã nhất quyết từ chối, và tiếp tục thu tấm thân còm cõi với chiếc mũ phở sau quầy thuốc lá … “bữa nào cũng đói cả”, như thư của các nhà văn Nguyễn Thụy Long, Văn Quang ở trong nước cho biết. Từ khi ra khỏi tù, Lê Xuyên sống không hộ khẩu, không được cấp bất cứ một thứ giấy tờ hộ thân gì, khi chết phải nhờ những người sống lâu năm trong xóm làm chứng mới xin được giấy khai tử để mang thiêu.

Như thế, nói Lê Xuyên hưởng thọ 77 tuổi là một cách nói theo thói quen, văn chương chữ nghĩa. Chứ sự thực, có thể coi như Lê Xuyên đã không còn nữa kể từ sau ngày 30 tháng 4, 1975.

Thật vậy, đối với một nhà văn, cái chết phải được kể từ lúc người ấy không còn viết nữa. Lê Xuyên đã ngừng viết, thực sự ngừng viết, kể từ ngày 30 tháng Tư ai oán đó. Những ngày còn lại của ông, từ đó cho đến 09 giờ tối ngày 02 tháng 03, 2004, không thể gọi là những ngày ông “hưởng thọ” được. Thực sự thì phải gọi là một cuộc chịu đựng. Ông đã phải chịu đựng cuộc sống gần ba mươi năm sau cùng của đời mình. Ông không được cấp ngay cả những giấy tờ chứng minh là một người Việt Nam! Những người còn ở lại miền Nam sau ngày 30 tháng Tư 1975, hẳn biết rõ trong hoàn cảnh như thế, đời sống hàng ngày của cá nhân ông, của gia đình ông, khó khăn biết chừng nào!

Tại sao Lê Xuyên bị đối xử như vậy? Có phải vì ông là tác giả những cuốn: Chú Tư Cầu, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương, Kinh Cầu Muống, Vùng Bão Lửa, Nguyệt Đồng Xoài? Ông đã tự xóa bỏ mình trước khi chết.

Trong mấy tấm hình Lê Xuyên, được gửi từ trong nước ra, có tấm ông chụp một mình với chiếc mũ phở và nụ cười thật tươi dưới bộ râu trắng như cước, và một tấm chụp chung với hai nhà văn Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, để đầu trần, vẻ mặt xa vắng nhiều hơn nghiêm túc, chắc là trong một buổi thăm hỏi nhau gì đó, người ta không biết hình ảnh nào hợp với cái chết của ông? Để hai cái hình gần nhau người ta có cảm tưởng như ông cười cợt chính mình.

Sói cụt đuôi

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on February 24th, 2024

Post by Sơn râu 29 Aug 2025

Tranh Hồ Đắc Vũ

Cơn bão tuyết cuối mùa ào ào ngoài kia đã dịu xuống từ trưa. Bây giờ, gió hú lên, lộng qua cánh rừng khô dưới chân núi Knight Point, thổi tung đám tuyết dọc 2 bờ lạch đổ dồn về phía rừng thông, phủ ngập căn nhà gỗ của Jake. Căn nhà chỉ còn thấy một phần của cửa sổ và cái ống khói bằng thiếc nhô lên khỏi mái, ngập dưới lớp tuyết dày.

Jake lấy miếng bánh mì cuối cùng, quay một vòng dĩa, vét sạch lớp sốt cà với nhúm thịt chồn bằm sót lại, ngốn một miếng lớn, uống sạch ly vodka, khà một tiếng, đứng dậy. Anh mặc chiếc áo lông trừu, xỏ đôi giày ống cao tới gối, lấy cái cào tuyết bên góc nhà, bước tới, mở cửa. Jake đẩy cái cào vài lần, đã thông lớp tuyết ra bên ngoài. Bên ngoài, vài tia nắng yếu ớt, lấp lánh trên mặt tuyết phủ trên những cành khô dọc chân núi. Jake nhìn qua ống kính, vết chân chồn, cáo đã lưa thưa trên mặt, gần bờ lạch, nhiều dấu chân nai đuôi trắng giẫm nát đám cỏ xanh mới ngoi lên từ tuyết đang tan rả rích.

Jake lầm bầm.

– Vậy là có mồi rồi.

Jake chạy tới một gốc cây, cào tuyết dồn thành một lớp cao 30 in, anh ngồi xuống, đục cái lỗ tròn, đủ đưa nòng súng ra ngoài và có thể nhìn thấy khu rừng khô, bờ lạch.

– Đùng!

Con nai đuôi trắng đang uống nước, gục xuống bên lạch, Jake đi tới, đeo súng lên vai, kéo con nai tới sát gốc cây. Anh lấy thịt chồn sấy trong bao, cắt thành vài miếng nhỏ, làm ngụm rượu Vodka cho bữa trưa.

Buổi chiều đã bắt đầu, nắng chỉ còn lại những chùm sáng yếu ớt trên mặt tuyết đang tan, gió nổi từng cơn, bụi trắng bay mù mịt trên khu rừng khô.

Jake siết chặt sợi dây dù quanh 2 chân con nai, anh băng qua lớp tuyết dày, kéo nó ra xe. Vừa tới bìa rừng, Jake khựng lại khi nghe mấy tiếng sói cắn nhau, anh rút khẩu Browning cầm tay, kéo xác con nai tới sát xe, băng qua lớp tuyết ngập gần tới gối, cúi đầu tránh đám bụi trắng tung trong cơn gió,

– Haouuu! Haouuu! Haouuu! Gâu! Gâu! Gâu.

Lần này thì rõ ràng là tiếng của con ó, cắn nhau với sói, Jake nghĩ rằng có chuyện xảy ra, anh chạy núp sau gốc cây.

Giữa rừng cây khô trên khoảng tuyết trống, một con sói đen, lông dựng đứng đang thủ thế trước con ó trắng nằm im trên mặt tuyết, cánh đập yếu ớt, loang lớp máu đỏ. Con sói bắt đầu những bước ngắn, vòng quanh ó trắng, nó bỗng rùn người xuống, chồm lên cao, đưa 2 chân chụp mạnh xuống đầu con ó, con ó nhảy qua, bung 2 cánh đưa lên đỡ ngón đòn hạ thủ, rồi nó quạt mạnh 2 cánh xuống, tuyết văng như bụi mù, lợi dụng lúc sói không thấy, nó phóng nhanh chiếc mỏ nhọn, cứng như thép vô đầu con sói, sói lẹ làng lắc đầu tránh đòn, ó đen lại cong người, nhảy tưng lên, co 2 chân đầy móng đạp vô đầu sói.

– Quác! Quác

Nhưng con sói đã có 2 chân trước, đưa lên, đập vô con ó, nó té lăn xuống tuyết, chiếc cánh đập mạnh mấy cái, xụi xuống, chết.

Jake đưa súng.

– Đùng!

Con sói văng lên rớt xuống,

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Nó đau đớn lăn lộn, tru thảm thiết, chạy vô rừng, để một đường máu dài, Jake chạy nhanh tới.

Một cái đuôi sói đầy máu, nằm trên mặt tuyết.

3 tháng sau, Tối hôm đó, đang chuẩn bị cho chuyến săn 2 ngày với người bạn, Jake nghe tiếng sói tru gần nhà, anh lấy đèn, lận khẩu Browning, đẩy cửa bước ra ngoài, nhiều vết chân sói sát ngay hàng rào, Jake rút súng, rọi đèn ra xa. Bóng đen một con sói, 2 đốm mắt đỏ ẩn hiện, đứng im, nhìn anh từ phía bìa rừng

Jake nổ súng.

Đốm đỏ biến mất.

Jake mở thùng xe, lôi xuống chiếc bao tải, đựng 8 con chồn, kết quả của chuyến săn 2 ngày với bạn. Vừa kéo vô tới cổng, Jake khựng lại. Cánh cổng gỗ bung ra, nằm nghiêng trên mặt tuyết, vết chân sói đầy chung quanh. Jake rút súng, cẩn thận bước vô nhà, mở cửa. Chiếc bàn ăn lật xuống sàn, 4 ghế lăn lóc, cây đèn đứng bằng gỗ, gãy làm đôi, mặt ghế dài bị cào nát, lớp bông bung lên, bay khắp phòng.

Tuần sau, tại bar “Chồn xám”. Jake đang ngồi với mấy người bạn.

– Tao không hiểu … Không khi nào sói tấn công vô nhà… Mẹ! Tại sao sói lại phá nhà tao?

– Đói quá! Tìm đồ ăn.

Người bạn nói, Jake lắc đầu.

– 2 miếng thịt nai xông khói treo trong bếp còn nguyên… Chắc chắn không phải đói!

Jake ra khỏi bar, anh ghé tiệm tạp hóa bán mấy bộ da chồn, mua ít đạn, đồ hộp.

Ánh sáng cuối ngày vừa khuất sau khu rừng khô bên núi, đêm tới thật nhanh, Jake đang chạy ngang bãi tuyết gần nhà, bỗng anh thắng gấp, lấy súng, lên đạn. Trước đầu xe một quãng xa, là xác con nai nhỏ nằm ngang đường. Jake rút khẩu Browning, bước tới, con nai nhỏ đã chết, nhiều vết cắn trên người đã đông máu, jake nhìn chung quanh, anh kéo xác con nai, bỏ lên thùng xe.

– Rầm!

Một bóng đen to lớn húc vô mình, Jake bật ngửa, té ra sau, khẩu browning rớt xuống, anh chồm tới lượm khẩu súng.

– Rầm!

Lần này thì Jake bị húc mạnh hơn, văng vô thân xe, anh lăn một vòng, đưa khẩu súng.

– Đùng!

– Quấuuu!

Jake nhận ra tiếng rú của sói, anh nhảy vô xe, mở máy, tống ga, đèn sáng mạnh.

Trước đầu xe, không xa lắm, là một con sói đen lớn, đang co bàn chân liếm vết máu nhỏ giọt, đôi mắt đỏ trừng trừng nhìn Jake. Anh chĩa súng, con sói phóng nhanh về hướng rừng khô.

Bây giờ thì Jake biết rằng có một con sói lớn phá nhà và đang muốn hạ thủ anh.

Đề phòng sói, Jake kéo chiếc đèn đứng lớn, xài bình ga, để ngoài hiên nhà, có thể thấy rõ trước hiên, sân và ngoài hàng rào vào ban đêm

Bar “Chồn xám”, tối thứ 7.

Jake.

– Cả 3 tháng nay, không thấy con sói lớn xuất hiện.

Người bạn.

– Nó thấy xơi cha không dễ, Mẹ! Cha già rồi, thịt dai nhách … Nên bỏ cuộc.

Mọi người cười.

– Chuyện là… Mày có biết tại sao nó thù mày?

Đứng trong quầy, rót ly rượu cho Jake, Bob hỏi.

– Nhớ lại coi mày có bắn chết cha mẹ nó không?

– Tao không săn sói… Không bao giờ!

Người bạn khác vỗ vai Jake.

– Đôi khi săn bắn, cha vô tình lạc đạn trúng … Nên nó thù!

Jake.

– Tao là dân đi rừng, săn bắn, tao biết chắc là không một con thú nào thù oán mình nếu chẳng may vô tình đạn lạc… Núi rừng, thú dữ cũng có quy luật sống của nó!

Đến lúc ngà say, Jake ra xe về nhà.

Đã cuối tháng 3. Tuyết tan, tối nay trời ấm lại, trăng tròn, sáng trắng, khu rừng khô đã nhú lá con, bãi tuyết bắt đầu lòi cỏ xanh.

Jake về tới nhà, anh mang bao lương thực vô bếp, đốt cây đèn gas trước thềm. Đã 1 giờ sáng, Jake nhìn một vòng bãi tuyết, khu rừng khô chạy tới con lạch nhỏ. Núi rừng bình yên, im lặng, anh nghe những tiếng nước vỗ bờ từ con lạch, tiếng gió rung rinh những cành khô ngoài bìa rừng …

Bỗng.

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Tiếng sói tru dài, lồng lộng cả khu rừng ngoài xa, dưới ánh trăng sáng lạnh, một con sói đen rất lớn, đang đi tới, anh phóng vô nhà, khóa cửa, chụp khẩu Winchester, tắt đèn, hé cửa sổ, nhìn ra.

Con sói quá lớn, cỡ con bò, không có đuôi, đi qua đi lại trước cổng, cào chân trên lớp đất vừa tan tuyết, đưa 2 đốm mắt đỏ ngầu nhìn anh.

Đúng là con sói cụt đuôi! Anh nhớ lại.

“Jake đưa súng.

– Đùng!

Con sói văng lên rớt xuống,

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Nó đau đớn lăn lộn, tru thảm thiết, chạy vô rừng, để một đường máu dài, Jake bước nhanh tới.

Con sói lớn, chính là con sói đã bị anh bắn rớt đuôi ngày nào.

Rừng xanh có quy luật của nó. Với thú rừng, mất đuôi có nghĩa là “Mất thớ” không còn dũng khí đối với bầy đàn, nên con sói mất đuôi, đổ hết cái thù vô Jake, nó phải hạ thủ Jake, kẻ đã làm cho nó trở thành con sói bị khinh thường.

Nên, tối nay, con sói cụt đuôi muốn chơi cú chót, thanh toán cái thằng người đã làm nó “Mất thớ”.

Sói cụt, đổi hướng, vòng ra xa, khuất vùng ánh sáng vàng của chiếc đèn gas. Nó tru những tiếng dài.

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Từ trong bóng đêm, con sói cụt phóng nhanh tới.

– Đùng!

Phát súng cày một đường dài trên mặt tuyết, sát chân con sói, nó không nao núng, vẫn hùng hổ chạy tới.

– Đùng!

Con sói cụt hất tung cánh cổng gỗ, nhào vô thềm.

– Rầm!

Nó tông mạnh cửa, Jake bước tới, kéo chiếc bàn ăn tấn ngay cửa, lùi lại núp sau cửa ngang, sát bếp. Anh ớn lạnh khi thấy sức mạnh và cái liều lĩnh của con sói cụt. Vì thường thì loài sói chỉ tấn công ngoài khoảng trống, không bao giờ tấn công vô nhà. Đúng là con sói cụt đang chơi trò thí mạng với anh.

Cú húc quá mạnh của con sói, làm ánh đèn gas lắc lư trước thềm, con sói cụt biến mất. Jake đứng dậy, định bước tới cửa sổ quan sát, thì.

– Rầm!

Con sói lại húc vô cửa, lần này quá mạnh, căn nhà gỗ rung lên, ly chén trên kệ rớt bể, ngổn ngang dưới sàn.

– Rầm!

Lại một cú húc, bóng đèn chớp tắt, chiếc bàn nghiêng ngửa, cánh cửa hé khoảng trống, Jake bắn một phát vô lớp lông đen ngay khe hở.

– Waoooouuuu!

Tiếng tru lay động núi rừng, con sói cụt trúng đạn, nó chạy ra hàng rào, căn nhà gỗ im lặng, bóng đèn điện lắc qua lại, tiếng giày của Jake bước kèn kẹt trên sàn, Jake lấy hộp đạn trên kệ, nạp 5 viên vô khẩu Winchester. anh ghé nhìn qua ô cửa sổ, ánh đèn gas chập chờn một khoảng sáng từ thềm nhà ra tới cánh cổng đã bung nát, sát bờ rào là chiếc jeep của anh đang đậu. Chung quanh tối đen, núi rừng như nghẹt thở, im lặng trước cơn thịnh nộ của con sói cụt đuôi.

“Tao muốn thí mạng tối nay để rửa cái nhục nhã cụt đuôi “Mất thớ” mà thằng người dã man kia đang mang lại cho tao …”

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Con sói cụt tru lớn, lao như con bò mộng vô cánh cửa.

– Rầm!

Căn nhà gỗ rung rinh, cánh cửa bung ra, văng vô bếp.

– Rầm!

Tấm vách ngăn bếp sụm xuống.

– Rầm! Rầm!

Sói cụt húc tung cửa bếp, tường phía sau ngã theo, gió khuya lạnh ngắt ùa vô, mấy cây củi đang ngún trên bếp bùng cháy.

Con sói to lớn như bò bỗng khựng lại, ngước đầu, tru một tiếng dài, như “Tự sướng” cho sự tàn phá của mình, rồi cúi đầu, nhìn khắp nơi, mũi khịt khịt đánh hơi…

“Ủa? Cái thằng người oan gia đâu rồi? Sao không nghe mùi, không dấu vết gì!

Sói cụt điên lên! Nó đưa chân hất tung những cây củi đang bốc cháy trong bếp, lửa văng khắp nơi, căn nhà gỗ bắt đầu bén lửa.

Con sói quỷ quyệt cẩn thận, bước chậm ra hiên nhà, nhìn phải, nhìn trái! Mẹ! cái thằng oan gia đâu? Thằng hèn… Mày trốn sói cụt rồi sao? Mày sợ con sói “Mất thớ” này à?

Sói cụt, bước xuống khoảng sân nhỏ đầy cỏ xanh đang lú lên từ những đám tuyết, nó bước gần tới cây đèn gas. Vòng sáng của đèn gas hiện ra cái bóng đen của con sói to lớn … Nó ngước đầu.

– Haouuu! Haouuu! Haouuu!

Tiếng tru chiến thắng vang dội cả núi rừng …

– Đùng!

Phát súng đúng ngay chiếc đèn gas ngoài hiên nhà.

– Ầm!

Sức nổ của chiếc đèn gas quá mạnh, thổi căn nhà gỗ đang bốc cháy văng ra từng mảnh như pháo bông trong đêm tối.

Jake từ trong xe nhảy xuống, anh cầm khẩu Winchester, cẩn thận bước vô nhà.

Sát bên những mảnh sắt của cây đèn gas cong vẹo, con sói cụt đuôi nằm sấp, chết ngắt.

Nhưng lần này, nó cụt luôn khúc đầu!

HĐV

Người chết… còn sống!

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

August 15th, 2025

Post by Sơn râu 29 Aug 2025

Nhận thư

Những ngôi nhà gỗ tụ lại thành một vòng tròn mờ ảo trong lớp sương mù dày đặc, nằm tuốt trên đỉnh đồi. Cây cỏ vẫn còn lạnh cóng dưới ánh nắng chói chang của đầu mùa hè. Nông dân trong những ruộng thẩu vẫn co ro cào cỏ dại dưới lớp áo lông cừu dày cộm, dài tới gối. Faheem, trung đội trưởng tác chiến của lực lượng Taliban trừ bị đang dọn cỏ dại dưới những gốc cây thẩu trong mảnh ruộng nhỏ của hai vợ chồng. Anh để cái cào xuống, vặn mình, lưng kêu cái rắc. Faheem nhón chân mấy cái cho bớt mỏi. Vác cái cào, về nhà.

– Em vừa nhận thư phát riêng!

Chị Sakina, vợ của Faheem đưa cái phong bì màu vàng đất, loại xử dụng trong quân đội, cho chồng.

Faheem nhìn phong bì.

“Bộ tư lệnh quân đội Taliban, Maza-I-sharif, Ban tài chính, phòng trợ cấp tử tuất…

– Chuyện lạ! Phòng trợ cấp tử tuất gởi thư cho em…

Faheem nói với vợ. Anh xé cái phong bì. Lấy ra tờ giấy.

“Phòng trợ cấp quân đội Taliban gởi số tiền trợ cấp tử tuất: Chi phiếu 1500 AFN (20 đô.) cho chị Sakina, vợ của ông Faheen. Là chiến binh trung đội trưởng của Taliban. Đã tử trận trong chiến đấu tại Taleqan vào Ngày 25-5- 2015.”

– Vậy là họ đã cắt tiền lương của anh và bắt đầu gởi trợ cấp tử tuất hàng tháng!

Faheem ngồi xuống giường, nói với vợ.

Chị Sakina chống nạnh, cười.

– Ha! Vậy là anh bị hưởng số tiền trợ cấp tử trận quá ít ỏi!… Bằng một nửa tiền lương…

Chị vỗ vai chồng.

– …Làm sao sống?

– Đây là một nhầm lẫn tai hại!… Ngày mai anh sẽ tới phòng chỉ huy Taliban ở quận Kulabi khiếu nại.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Khiếu nại

Sáng mai.

Faheem gõ cửa phòng chỉ huy Taliban.

– Vô đi!

Anh lính trẻ ngồi ở bàn, cầm khẩu Ak, ngoắc tay… Anh ta nhìn Faheem từ đầu tới chân, mặt mày nghiêm trọng như gặp gián điệp Mỹ

– Ở đây chỉ làm việc với lính Taliban… Anh là…

– Sĩ quan trừ bị Taliban.

Faheem trả lời.

– Sao không mặc quân phục khi tới đây?

– Một năm tôi làm lính có 6 tháng!… Bữa nay chưa làm lính… Nên không mặc quân phục!

Anh lính trẻ nghiêm mặt.

– Anh đi ra! Ở đây không làm việc với người không mặc quân phục!

– Nhưng…

– Anh trở lại với quân phục chỉnh tề…

Anh lính chồm tới nói nhỏ với Faheem.

– … Quà cáp đáng giá, và tiền khi muốn khiếu nại! Nhớ chưa?

Faheem ấp úng.

– Tôi đã đi đường núi 3 tiếng để tới đây…

Anh lính cắt lời Faheem, đưa khẩu súng Ak, chỉ ra cửa.

– Yêu cầu đi ra!

Vậy là Faheem hậm hực lội 3 tiếng đường núi về nhà.

– Không được gì hết! Thằng lính khó khăn quá!

Anh nói với vợ.

– Còn phải đem tiền hoặc quà đáng giá khi muốn gặp khiếu nại!

– Vậy là sẽ mất cha nó món tiền… Biết lấy lại được tiền lương hay không!

Chị Sakina cằn nhằn.

Khiếu nại ở quận

5 giờ sáng mai. Ánh mặt trời vừa hừng sáng vẫn chưa làm tan được lớp sương mù vây quanh làng Masjid. Faheem đang thở ra khói trong căn nhà gỗ lạnh ngắt. Anh nhét ba lát thịt dê sấy vô miếng bánh mì dẹp, cuộn lại, bỏ trong túi vải. Faheem mặt cái áo lông cừu, đội nón, lội đường núi lần nữa, để tới văn phòng chỉ huy Taliban ở quận Kulabi.

Tới nơi thì văn phòng chưa mở cửa.

– Văn phòng mấy giờ mở cửa?

Anh hỏi một người qua đường.

Người đàn ông nhún vai.

– Tùy vô cô vợ của anh ta!…

– Vợ của anh nào?

– …Vợ của anh lính Taliban giữ chìa khóa cửa!

Mặt Faheem ngớ ra.

Anh kia nói.

– … Bữa nào vợ anh ta vui vẻ thì anh mở cửa lúc 8 giờ sáng… Còn bữa nào chị nổi giận, chửi bới thì anh ta mở cửa lúc 12 giờ, hoặc không biết khi nào… Từ sáng tới chiều!

– Vậy bữa nay thì sao?

Anh kia cười.

– Anh cầu Ala cho chị vợ anh ta vui vẻ!

Vậy là Faheem ngồi dựa lưng vô tường, trước văn phòng. Đợi.

Faheem đang ngủ ngon.

– Dậy! Mở cửa rồi

Anh hồi nãy đi trở lại, vỗ vai Faheem.

– Cám ơn!

Faheem vô văn phòng. Anh lính trẻ nhìn từ chân tới đầu.

– Ở đây chỉ làm việc với Taliban… Anh là…

– Sĩ quan trừ bị Taliban.

Faheem trả lời.

– Sao không mặc quân phục khi tới đây?

– Có!

Faheem tuột cái áo da cừu. Lòi ra bộ quân phục của Taliban.

– Được chưa?

Anh Taliban hỏi nhỏ.

– Quà?

Faheem lấy trong túi vải 5 gói thuốc lá Malboro đưa cho anh ta.

Anh lính bỏ vô hộc bàn.

– Ủa? Quà này cho đại úy!

– Ông ta không hút thuốc… Cái này cho tôi!

Anh Taliban nói tỉnh bơ

– Tới đây làm gì?

– Khiếu nại!… Tôi cần gặp đại úy!

Anh kéo hộc bàn.

– Bỏ tiền “Khiếu nại” vô đây!

Faheem gãi đầu.

– Bao nhiêu?

– 350 đồng (5 đô)

Faheem bỏ tiền vô hộc.

Anh ta đứng dậy, cầm theo khẩu Ak, bước vô phòng trong. Một phút, anh bước ra.

– Đại úy đang ngủ.

Faheem ngồi xuống ghế dài. Đợi.

Faheem ngáp, mắt lim dim ngủ gật. Trong phòng có tiếng leng keng.

Anh lính tới cửa nhìn vô.

– Đợi! Đại úy đang uống cà phê!

Faheem vừa gục xuống ngủ thì có tiếng kêu trong phòng.

– Vô!

– Anh vô đi!

Anh Taliban nói.

Ông đại úy tóc bạc ngồi hút thuốc sau bàn.

– Anh gặp tôi có chuyện gì?

– Dạ! Tôi khiếu nại về…

Faheem kể về chuyện cái thư và chi phiếu của phòng trợ cấp quân đội Taliban gởi cho vợ anh.

Ông đại úy cắt ngang.

– Vậy là anh mất tiền lương, vợ anh được nhận tiền trợ cấp tử tuất của anh?

– Dạ đúng!

Ông đại úy tiếp.

– … Có nghĩa là anh đã tử trận trong chiến đấu tại Taleqan?

– Dạ! theo như họ nói!

– Nhưng anh vẫn còn sống ngờ ngờ trước mặt tôi!

– Dạ! Chính xác!

Ông đại úy suy nghĩ, gõ ngón tay trên bàn.

– Cộc!… Cộc!… Cộc!

– Tôi sẽ không giúp được gì!…

Ông đại úy nói.

– … Vì không thuộc quyền hạn của tôi! Ngày mai. Tôi sẽ báo cho bộ chỉ huy ở Mazar-I-sharif biết!

Ông thân mật vỗ vai Faheem.

– Tôi biết anh mà! Giấy tờ sai thôi… Hay là anh tới ngay bộ tư lệnh Taliban ở Mazar-I-sharif khiếu nại cho lẹ!

Faheem lội 3 cây số đường núi về nhà.

Vợ anh rú lên!

– Mẹ cha! Mất tiền, mất quà…

Chị đưa hai tay lên trời.

– Bọn lừa! Anh không làm được gì hết!

– Anh phải tới ngay bộ tư lệnh Taliban ở Mazar-I-sharif khiếu nại! Sẽ được thôi!

“Mong cho bộ tư lệnh Taliban ở Mazar-I-sharif giải quyết việc trả lại tiền lương, cắt tiền tử của mình.” Faheem lầm bầm.

Khiếu nại ở tỉnh

Faheem dậy rất sớm. Lúc buổi tối chưa gặp buổi sáng, lúc đoạn đường núi còn lạnh như băng. Anh trả 10 đồng, đi xe lừa của người quen tới Kulabi. Từ đây anh đi xe đò liên tỉnh qua thành phố Mazar-I-sharif tốn thêm190 đồng.  Faheem đi loanh quanh, hỏi thăm đường. Nhờ những người tốt bụng chỉ. Anh tới được bộ tư lệnh Taliban ở Mazar-I-sharif lúc 12 giờ trưa.

– Xin lỗi!…

Anh lính Taliban trong quân phục đen đưa cây Ak ngang ngực, lễ phép nói.

– Anh không được vô văn phòng… Vì đang là giờ ăn trưa!

Cũng như anh lính Taliban ở thị trấn Kulabi. Anh ta đưa khẩu súng Ak, chỉ ra cửa.

– Anh ra ngoài! 2 giờ vô!

Đúng 2 giờ, Faheem vô văn phòng.

– Anh tới lấy số.

Anh lính Taliban chỉ vô hộp nhựa, có cuộn giấy in số. Anh lấy số 10. Cho dù trong căn phòng chờ rộng thênh thang của bộ tư lệnh Taliban chỉ có 3 người. Faheem, ông già tóc bạc mặc quân phục Taliban với nhiều huy chương và bà già cụt chân, mặt áo y tá quân đội, ngồi xe lăn.

Chừng 10 phút.

Một anh lính Taliban đẩy cánh cửa sắt. Ló đầu ra.

– Bà Noor!

Bà già lăn xe vô cửa.

Chừng 10 phút. Có tiếng la từ trong phòng. Cửa mở. Chiếc xe lăn bị đẩy mạnh ra khỏi cửa. Bà già to tiếng.

– Đồ chó sói! Tụi cướp đất, cướp nhà! Quỷ sẽ bắt mầy! Tao mà không cụt chân là tao đá vô mặt mày!

Anh lính Taliban đẩy bà ra ngoài.

– Số 2!

Ông già tóc bạc mặc quân phục với nhiều huy chương đứng dậy, vô cửa.

10 phút sau.

– Đi ra!

Tiếng la lớn từ trong phòng.

Cũng như bà già, ông tóc bạc bị đẩy ra khỏi cửa.

– Đồ chó sói! Tụi mầy cướp tiền trợ cấp của tao!… Đái trên huy chương của tao! Ăn trên thương tật của tao! Ala sẽ thiêu sống tụi mầy!

Cửa đóng mạnh.

Ông già ném mấy cái huy chương vô cửa, lủi thủi bước ra.

Anh lính Taliban đứng dậy.

– Đại tá mệt. Nghỉ 1 giờ!

Faheem ra ngoài, ngồi xuống thềm nhà ăn miếng bánh mì đã mang theo, đợi thêm một tiếng.

“Sao thấy chuyện khiếu nại này có vẻ khó khăn quá!”

Faheem vừa nhai bánh mì, vừa nghĩ.

“Bà kia là thương binh, khiếu nại đất, nhà, không được! Ông già khiếu nại tiền trợ cấp thương tật cũng không được… Vậy thì chuyện khiếu nại tiền lương của mình cũng chưa chắc gì được! Hay là khỏi khiếu nại! Ăn tiền tử cũng được rồi! Mẹ! Khiếu nại lỡ mất luôn tiền tử thì chết!”

Faheem lùng bùng trong đầu vì chuyện tiền lương, tiền tử.

– Vô đi!

Anh lính Taliban chỉ Faheem.

Cửa mở, Faheem bước vô phòng. Đại Tá to con, bụng phệ, mặc quân phục đen, ngồi hút xì gà trên ghế da.

– Anh cần gì?

Faheem lắp bắp.

– Dạ!… Khiếu… khiếu nại!

– Rầm!

Ông đại tá đập bàn.

– Khiếu nại! Mẹ! Mầy không có chuyện gì khác hơn sao? Sao ai cũng vô đây khiếu nại! Hết chiến tranh rồi! Hòa bình rồi!… Lo làm việc mà sống!… Mầy khiếu cái gì?

– Dạ!… Con là sĩ quan Taliban trừ bị… Con đang được trả lương hằng tháng…

Ông đại tá cắt ngang.

– Đang ăn lương thì khiếu khiếc cái gì? Hả!

Faheem run.

– Dạ không!… Con đang ăn lương, thì họ cắt!…

– Tại sao cắt!

– Dạ! Con không biết!… Dạ! Họ đã cắt lương và trả tiền trợ cấp tử tuất cho con…

– Trợ cấp tử tuất cũng là tiền… Có tiền là được rồi! Tại sao khiếu nại?

– Dạ!… Họ báo rằng. Con ăn tiền tử vì đã tử trận trong chiến đấu tại Taleqan. Ngày 25-5-2015, hai tháng trước đây!

Ông đại tá khoanh tay.

– Tất nhiên… Ăn tiền tử thì phải chết!

Faheem cố nói rõ ràng.

– Nhưng … Con…. Còn…. Sống! Đang đứng trước mặt ông!

Ông đại tá xoa hàm râu

– Ờ!

– Và họ đã cắt tiền lương của con!

– Ờ!

– … Mà tiền lương thì nhiều gấp ba lần tiền trợ cấp tử tuất.

– Ờ!

– Xin ông điều chỉnh lại giùm con!

Ông đại tá lặng thinh, quay ghế vô tường, phà khói xì gà thơm lựng. Faheem ngồi lo lắng nhìn cái lưng ghế.

Cái ghế quay lại từ từ. Ông đại tá đứng lên. Tay cầm điếu xì gà.

– Faheem! Đất nước mới hòa bình! Đã nghèo khổ vì bao năm chiến tranh…

– Dạ!

– … Nên đang xây dựng lại! Nên cần rất nhiều tiền! Lính trừ bị như anh chỉ ngồi chơi ăn tiền của chính phủ, một năm anh đi lính có 6 tháng… Không đánh đấm, không bắn giết… Không nguy hiểm gì tới bản thân!…

– Dạ!

Ông đại tá bước tới gần, nhìn vô mặt Faheem.

– Nếu lỡ bị cắt lương! Thì cũng hợp lý, vì chính phủ đang thiếu tiền… Nhưng anh được bù lại bằng tiền trợ cấp tử tuất! Tuy ít hơn…  Nhưng cũng còn hơn không!

Ông đại tá quay đi, bập hơi xì gà, nhả khói.

Faheem rên.

– Nhưng con còn sống… Chưa chết! Thì tại sao ăn tiền tử? Thiệt thòi cho con quá.

– Chính phủ làm vậy, để tiết kiệm tiền… dành tiền xây dựng đất nước!

– Nhưng con thiếu tiền để sống! Xin ông đừng cho con “Chết”.

– Rầm!

Ông đại tá đập bàn. La lớn.

–  Có còn hơn không! Anh vẫn còn được chút tiền…

Ông chỉ tay vô mặt Faheem.

– … Nên tiếp tục “Chết” để ăn tiền trợ cấp tử tuất! Không điều chỉnh gì hết!…

Ông đại tá la.

– Đi ra!

Thất bại

Faheem bước lẹ, anh đi thẳng ra đường.

– Mustafa!

Ông đại tá gọi.

Anh lính Taliban bước vô phòng.

– Anh tới phòng tài chính, nói thư ký chuyển tất cả số tiền lương của những người lính Taliban bị khai tử, vô trương mục của vợ tôi gấp!

9 giờ tối. Faheem về tới nhà. Anh ngồi xuống ghế uống ly nước lạnh. Vợ anh trong bếp bước ra hỏi.

– Sao? Điều chỉnh vụ tiền lương xong chưa?

Anh chán nản nói.

– Không xong!… Không được gì hết!

Anh ném cái ly vô vách.

– Crack!

Những mảnh chai bay tung tóe

– Mẹ!…  Anh còn sống… Mà coi như đã chết!

HĐV